Xem ngày trước
BẢN TIN TỔNG HỢP
Xem ngày kế tiếp

Ngày 31 tháng 05 năm 2017
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
TIÊU ĐIỂM
QUẢN LÝ
NHÂN SỰ MỚI
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
KINH TẾ
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
NHÌN RA THẾ GIỚI

CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật năm 2016 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2017.
Phó Thủ tướng yêu cầu trong phạm vi thẩm quyền, trách nhiệm được giao, các bộ, cơ quan ngang bộ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quán triệt Kết luận số 01-KL/TW ngày 4/4/2016 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
Các bộ, ngành cần thực hiện tốt công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, bố trí biên chế phù hợp với công tác pháp chế và công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; xây dựng và tin học hóa cơ sở dữ liệu; bảo đảm kinh phí cho công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản theo đúng quy định của pháp luật.
Đồng thời thực hiện nghiêm túc các quy định pháp luật về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; kịp thời xử lý hoặc kiến nghị xử lý theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật; công bố, cập nhật đầy đủ, kịp thời, chính xác kết quả rà soát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật.
Báo cáo kịp thời, đầy đủ công tác nêu trên và kết quả xử lý các sai phạm trong quá trình tham mưu soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật; rà soát, công bố danh mục văn bản hết hiệu lực, ngưng hiệu lực theo quy định của pháp luật.
Phó Thủ tướng giao Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan rà soát, đánh giá việc thực hiện các quy định về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật để đề xuất sửa đổi cho phù hợp với các quy định của pháp luật.
Bộ Tư pháp tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật và những sai phạm trong công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương. (Hải Quan 30/5) đầu trang(
Bộ Công Thương vừa ban hành Thông tư số 07/2017/TT- BCT quy định cửa khẩu nhập khẩu đối với một số mặt hàng phân bón.
Theo đó, Thông tư nêu rõ: Các loại phân bón được nhập khẩu qua cửa khẩu quốc tế và cửa khẩu chính gồm “Urê, có hoặc không ở trong dung dịch nước” và “Phân khoáng hoặc phân hóa học có chứa ba nguyên tố là nitơ, phospho và kali”.
Bên cạnh đó, theo Thông tư việc nhập khẩu qua cửa khẩu phụ, lối mở các loại phân bón nêu trên được phép thực hiện sau khi được Ủy ban nhân dân tỉnh cho phép trên cơ sở trao đổi thống nhất với Bộ Công Thương.
Thông tư 07/2017/TT-BCT bãi bỏ Thông tư số 35/2014/TT-BCT ngày 15/10/2014 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định việc áp dụng chế độ cấp Giấy phép nhập khẩu tự động đối với một số mặt hàng phân bón. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 13/7/2017.
Được biết, trong tháng 5/2017, lượng phân bón các loại nhập khẩu về nội địa đạt 427.000 tấn, trị giá 119 triệu USD, nâng lượng phân bón nhập khẩu trong 5 tháng đầu năm lên 2,01 triệu tấn, với giá trị 547 triệu USD. Như vậy, khối lượng và giá trị phân bón nhập khẩu đã tăng lần lượt gần 32% và hơn 24% so với cùng kỳ năm 2016.
Trong đó, tăng mạnh nhất là nhập khẩu phân ure với khối lượng nhập khẩu ước đạt 230.000 tấn, trị giá 60 triệu USD, tăng lần lượt hơn 22% và hơn 32% so với cùng kỳ năm 2016. (Thời Báo Tài Chính Việt Nam 29/5) đầu trang(
Bộ Xây dựng vừa ban hành Thông tư về quản lý chất thải rắn xây dựng. Thông tư này quy định chi tiết về việc phân loại, thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn xây dựng (CTRXD) được quy định tại Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu.
Theo Thông tư, CTRXD phải được phân loại ngay tại nơi phát sinh theo quy định tại Khoản 1 Điều 50 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP thành các loại sau đây: 1- Chất thải rắn có khả năng tái chế được; 2- Chất thải rắn có thể được tái sử dụng ngay trên công trường hoặc tái sử dụng ở các công trường xây dựng khác; 3- Chất thải không tái chế, tái sử dụng được và phải đem đi chôn lấp; 4- Chất thải nguy hại được phân loại riêng và quản lý theo quy định tại Nghị định số 38/2015/NĐ-CP và các văn bản pháp luật hướng dẫn về quản lý chất thải nguy hại.
CTRXD sau khi phân loại không được để lẫn với các chất thải khác và phải được lưu giữ riêng theo quy định. Trong trường hợp CTRXD thông thường có lẫn với chất thải nguy hại thì phải thực hiện việc phân tách phần chất thải nguy hại. Nếu không thể tách được thì toàn bộ hỗn hợp phải được quản lý như chất thải nguy hại.
Theo Thông tư, CTRXD phải được thu gom, vận chuyển đến điểm tập kết, trạm trung chuyển và cơ sở xử lý được đầu tư xây dựng theo quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc cơ sở tái chế, công trình khác để tái chế, tái sử dụng.
Việc vận chuyển phải theo thời gian và lộ trình về tuyến đường, an toàn giao thông và tuân thủ các quy định của cơ quan có thẩm quyền về phân luồng giao thông tại địa phương. Các phương tiện vận chuyển CTRXD phải là phương tiện bảo đảm các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật và an toàn, đã được kiểm định và được các cơ quan chức năng cấp phép lưu hành theo quy định. Trong quá trình vận chuyển, phương tiện vận chuyển phải đảm bảo không làm rò rỉ, rơi vãi chất thải, gây phát tán bụi, mùi.
Trong trường hợp chủ nguồn thải tự vận chuyển CTRXD thì phải tuân thủ các quy định trên.
Theo Thông tư, cơ sở xử lý CTRXD phải được đầu tư xây dựng theo quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Khuyến khích việc xử lý CTRXD tại nơi phát sinh với quy trình, công nghệ phù hợp, đảm bảo các yêu cầu về an toàn, môi trường.
Công nghệ xử lý chất thải rắn xây dựng gồm: 1- Nghiền, sàng; 2- Sản xuất vật liệu xây dựng; 3- Chôn lấp; 4- Các công nghệ khác.
Công nghệ xử lý CTRXD phải phù hợp với quy mô, công suất và điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương, đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ môi trường và hiệu quả kinh tế xã hội. Việc lựa chọn chủ đầu tư xây dựng cơ sở xử lý CTRXD phải tuân thủ quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng và các quy định của pháp luật hiện hành có liên quan. (Báo Chính Phủ 30/5) đầu trang(
Tại Nghị định số 67/2017/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí, Chính phủ quy định xử phạt hành vi vi phạm quy định về hoạt động kinh doanh, sản xuất, nhập khẩu khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) đến 160 triệu đồng.
Cụ thể, phạt tiền từ 1 - 2 triệu đồng đối với hành vi không thực hiện việc niêm yết giá theo quy định; phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng đối với hành vi không treo biển hiệu, biểu tượng của thương nhân kinh doanh LNG đầu mối hoặc có treo nhưng biển hiệu không ghi đầy đủ rõ ràng theo quy định của pháp luật.
Chính phủ cũng quy định phạt tiền từ 20 - 40 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: Không thông báo cho cơ quan có thẩm quyền khi điều chỉnh giá bán các loại khí nơi có hệ thống phân phối của thương nhân đang hoạt động; không thông báo cho khách hàng khi điều chỉnh giá bán LNG; phạt tiền từ 40 - 60 triệu đồng đối với hành vi không quy định thống nhất giá bán LNG trong hệ thống phân phối thuộc thương nhân quản lý hoặc quy định giá không phù hợp với thị trường.
Mức phạt tiền từ 60 - 100 triệu đồng áp dụng đối với một trong các hành vi vi phạm: Ký hợp đồng với thương nhân kinh doanh LNG đầu mối khác không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định; bán LNG không theo hợp đồng cho thương nhân kinh doanh LNG khác hoặc khách hàng công nghiệp; không bảo đảm duy trì mức dự trữ lưu thông LNG tối thiểu cho hệ thống phân phối thuộc mình quản lý theo quy định.
Đối với hành vi cho thuê kho chứa LNG, cảng xuất nhập, giao nhận LNG, phương tiện vận chuyển LNG với thương nhân kinh doanh LNG khác không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định bị phạt tiền từ 100 - 140 triệu đồng.
Chính phủ quy định phạt hành vi vi phạm quy định về sản xuất, chế biến LNG từ 100 - 160 triệu đồng.
Mức phạt được quy định như sau: Phạt tiền từ 100 - 140 triệu đồng đối với hành vi cho thuê kho chứa LNG, cảng xuất nhập, giao nhận LNG, phương tiện vận chuyển LNG với thương nhân kinh doanh LNG khác không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định. Hành vi không có phương án kiểm tra an toàn đối với máy, thiết bị, dây chuyền công nghệ để phát hiện và kịp thời khắc phục các dấu hiệu không bảo đảm an toàn trong quá trình sản xuất, chế biến LNG bị phạt tiền từ 140 - 160 triệu đồng.
Ngoài ra, Nghị định quy định phạt tiền từ 120 - 160 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: Xuất khẩu, nhập khẩu LNG khi không có Giấy chứng nhận đủ điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu LNG hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu LNG đã hết thời hạn hiệu lực hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu LNG đã bị tước, bị thu hồi; sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu LNG bị tẩy xóa, sửa chữa hoặc giả mạo; cho thuê, cho mượn hoặc thuê, mượn Giấy chứng nhận đủ điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu LNG. (Báo Chính Phủ 30/5) đầu trang(
Bộ Tài chính đang dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường số 57/2010/QH12 trong đó đề xuất tăng khung thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn.
Theo Bộ Tài chính, mục tiêu xây dựng dự thảo Luật là kịp thời sửa đổi, bổ sung những hạn chế của Luật thuế bảo vệ môi trường (BVMT) hiện hành nhằm nâng cao hơn nữa trách nhiệm và nhận thức của tổ chức, cá nhân đối với môi trường và khuyến khích sản xuất, sử dụng hàng hóa thân thiện với môi trường; tiếp cận có chọn lọc thông lệ quốc tế, phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam...
Dự thảo đề xuất về biểu khung thuế: Đối với xăng, dầu, mỡ nhờn, mức thuế BVMT đối với xăng, dầu, mỡ nhờn đã bằng mức tối đa trong khung thuế (đối với nhiên liệu bay) hoặc gần bằng mức tối đa trong khung thuế. Theo đó, trường hợp cần thiết phải điều chỉnh mức thuế BVMT đối với xăng dầu để phù hợp với chính sách phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước trong từng thời kỳ là rất khó, đặc biệt trong điều kiện phải cắt giảm dần thuế nhập khẩu đối với xăng dầu theo cam kết quốc tế; và giá xăng dầu của Việt Nam hiện đang thấp hơn so với giá xăng dầu của các nước có chung đường biên giới nói riêng và nhiều nước khác trong khu vực ASEAN và Châu Á nói chung.
Trên cơ sở tính toán trên các yếu tố: Việc thực hiện cắt giảm dần thuế nhập khẩu theo cam kết trong các hiệp định thương mại tự do (Hiện nay, Việt Nam đã và đang tham gia 11 Hiệp định thương mại tự do).
Hiện nay, giá bán lẻ xăng dầu ở Việt Nam cơ bản đang thấp hơn so với các nước có chung đường biên giới nói riêng và nhiều nước khác trong khu vực ASEAN. Theo bảng xếp hạng của trang web Global Petrol Prices vào ngày 8/5/2017 thì giá bán lẻ xăng dầu của Việt Nam đang ở mức thấp (trong 170 nước thì Việt Nam đứng thứ 44 từ thấp đến cao, nghĩa là có 126 nước có giá bán lẻ xăng dầu cao hơn Việt Nam, trong đó Philippines đứng thứ 60, Campuchia đứng thứ 61, Thái Lan đứng thứ 82, Lào đứng thứ 93). Với mức giá bán lẻ xăng Ron92 của Việt Nam (giá bán lẻ xăng Ron92 vùng 1 của Petrolimex) cập nhật đến ngày 8/5/2017 là 17.580 đồng/lít; thấp hơn Lào là 4.456 đồng/lít, Campuchia là 3.768 đồng/lít, Philippines là 3.613 đồng/lít.
Theo đó, đề nghị điều chỉnh khung thuế BVMT đối với xăng, dầu, mỡ nhờn như sau: mức thuế tối thiểu điều chỉnh tăng bằng mức thuế cụ thể đang áp dụng; mức thuế tối đa điều chỉnh tăng bằng 2 lần mức thuế tối đa trong khung thuế hiện hành (khung thuế áp dụng cho lộ trình dài). Riêng đối với dầu hỏa, đề nghị giữ khung thuế BVMT như hiện hành vì dầu hỏa là mặt hàng thiết yếu phục vụ cho đa số người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa.  (Báo Chính Phủ 30/5) đầu trang(

TIÊU ĐIỂM
Bộ GTVT phải có “lời giải” thỏa đáng, bởi theo quy định nếu tiếp tục ở lại làm nghề quản lý dự án tại các PMU, có vị sẽ... mất chức!
Đến thời điểm nay, PMU2 là Ban có số lãnh đạo “hùng hậu” nhất với 1 Tổng Giám đốc, 4 Phó “Tổng” và 10 phòng chuyên môn, điều hành dự án; kế đó là PMU1 với 1 Tổng Giám đốc, 3 Phó và 7 phòng; 2 PMU Thăng Long và An Toàn giao thông thì na ná nhau, với 3 lãnh đạo Ban và 7 - 8 phòng chức năng trực thuộc.
Có thể ví dụ, sau khi PMU An toàn giao thông sáp nhập vào PMU2 mà những người làm tổ chức không có phương án sắp xếp, điều động hợp lý, thì Ban mới thành lập này sẽ có 1 một “Vụ trưởng” và khoảng 7 ông “Vụ phó”.
Đối với cấp phòng thuộc Ban thì hiện đang theo mô hình “1+2” - tức 1 Trưởng phòng và 2 Phó Trưởng phòng/phòng , có nghĩa 4 PMU nói trên hiện đang có khoảng trên dưới 100 lãnh đạo cấp Trưởng, Phó phòng.
Riêng những PMU được giao quản lý nhiều dự án quy mô lớn, thì tổ chức Phòng có thể là “1+3”. Được biết, không ít người trong số này đã có tên trong danh sách quy hoạch lên Phó “Tổng”.
Thế nhưng, sắp tới tình hình sẽ khác, vì không chỉ lãnh đạo cấp phòng mà ngay cả sếp họ - một số Phó “Tổng” sau khi sáp nhập, hợp nhất cũng chưa chắc đã giữ được “ghế” nếu tiếp tục công tác tại các PMU, bởi trên thực tế không thể một Ban có tới 7 cán bộ cấp “Vụ phó”.
Như vậy, ở đây chắc chắn sẽ có tình trạng “dồn toa” trong bộ máy - tức sẽ có những Phó Tổng Giám đốc xuống làm... Trưởng phòng; một số Trưởng phòng vì thế sẽ phải xuống làm Phó Trưởng phòng...?
“Mình phấn đấu, gắn bó với ngành này nhiều năm rồi, và cũng như một số anh em cấp Trưởng phòng ở các Ban - đã được quy hoạch vào vị trí Phó Tổng Giám đốc.
Nhưng như thế này thì còn gì...!?”, một Trưởng phòng chia sẻ với PLVN sau khi hay tin Bộ GTVT thực hiện Đề án hợp nhất các PMU trong tháng 5/2017.
Trái lại, cũng có Trưởng phòng tỏ ra bình thản trước câu chuyện này: “Chủ trương của tổ chức mình phải chấp nhận thôi! Cơ bản là có việc mà làm và việc ai người ấy làm, đừng “lấn” vào nhau là được...”.
Khác với các lãnh đạo cấp Phòng mà PLVN đã tiếp xúc, trước giờ “G”, các Tổng Giám đốc và Phó Tổng Giám đốc của các PMU nói trên hết sức kiệm lời khi trao đổi với phóng viên về chủ đề mà cả ngành GTVT đang quan tâm.
Cụ thể, câu trả lời chung chung của các vị này là: “Tình hình mới, cần phải thay đổi...” hay là “Ở đâu, thì cũng phải làm việc. Lo nghĩ gì!”. Dẫu nói vậy, nhưng chúng tôi ít nhiều “đọc” được trong thâm tâm, một số người chưa chắc đã chấp nhận cuộc biến động nhân sự này bởi nhiều lý do?
Theo thông tin của PLVN, mặc dù chưa tới thời điểm công bố quyết định sáp nhập, hợp nhất chính thức, nhưng mấy ngày gần đây, dư luận đồn đoán rằng, 1 trong 4 Tổng Giám đốc PMU đã, đang chủ động tìm sang một lối rẽ khác và đích đến của vị này là một Vụ ở Bộ GTVT, với vị trí thấp nhất là Phó Vụ trưởng?
Về vấn đề này, PLVN có nói chuyện với ông Trần Văn Lâm - Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ (Bộ GTVT) - người “thiết kế”, tham mưu và chắc chắn đang nắm giữ nhiều phương án nhân sự nhằm phục vụ công tác sáp nhập, hợp nhất 4 PMU trong thời gian sắp tới, nhưng ông Lâm chỉ chào hỏi, nói chuyện mang tính xã giao chứ tuyệt nhiên không “hé” ra lời nào liên quan đến việc sắp xếp, điều động cán bộ. “Vấn đề này phải đăng ký làm việc và phải tập trung về đầu mối ở chỗ người phát ngôn của Bộ GTVT - tức là chỗ Thứ trưởng Nguyễn Hồng Trường”, Vụ trưởng Lâm chỉ nói thêm vậy.
PMU1 có thể nói là mảnh đất rất “vượng phát” vì đây là nơi xuất phát của nhiều lãnh đạo ngành GTVT, trong đó có Thứ trưởng Nguyễn Ngọc Đông, với 2 năm gắn bó tại Ban này.
Ngoài ra, một số Tổng Giám đốc các PMU và Tổng công ty khác thuộc ngành GTVT cũng đi lên từ đây.Ông Nguyễn Hoằng - cựu Tổng Giám đốc PMU1 nay là Vụ trưởng Vụ Kế hoạch&Đầu tư Bộ GTVT nói: “Tôi công tác ở đây từ thời mới lập ban và là lớp cán bộ cấp Phòng thời kỳ đầu.
Rời xa Ban này đến nay cũng đã 7 năm rồi. Nhưng chuyện sáp nhập các Ban lại cũng là điều bình thường, bởi công việc sinh ra bộ máy làm việc. Khi công việc, nhiệm vụ ít hoặc hết thì mình phải tính toán lại thôi”. (Pháp Luật + 31/5) đầu trang(

QUẢN LÝ
Phó Thủ tướng Trịnh Định Dũng giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ và các cơ quan liên quan nghiên cứu sử dụng cát nhiễm mặn phục vụ xây dựng trong nước; xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật sử dụng cát nhiễm mặn làm vật liệu xây dựng, ban hành hoặc trình ban hành theo quy định.
Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ liên quan và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ các dự án nạo vét, khơi thông luồng có tận thu cát nhiễm mặn để xuất khẩu đang thực hiện theo đúng quy định, bảo đảm không làm ảnh hưởng đến môi trường, đặc biệt không gây sạt lở và ảnh hưởng đến các hoạt động bình thường của nhân dân trong khu vực; kịp thời phát hiện, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 357/TB-VPCP ngày 6/11/2015 và số 161/TB-VPCP ngày 24/3/2017 của Văn phòng Chính phủ.
Theo Bộ Xây dựng đánh giá tình hình xuất khẩu cát nhiễm mặn trong thời gian qua, thực hiện chủ trương đa dạng hóa nguồn lực thực hiện dự án nạo vét khơi thông luồng tại các cửa sông, cảng biển có tận thu cát nhiễm mặn để xuất khẩu đã huy động được nguồn lực từ các doanh nghiệp tham gia thực hiện và thu lại nhiều kết quả tích cực.
Theo kết quả tổng hợp, từ năm 2013 đến nay, Bộ Giao thông Vận tải; Bộ Tư lệnh Hải quân, Bộ Quốc phòng và UBND các tỉnh đã lập và phê duyệt 40 dự án với khối lượng cát nhiễm mặn tận thu khoảng 250 triệu m3. Bộ Xây dựng đã tổ chức kiểm tra 40 dự án và có văn bản hướng dẫn 38 dự án với khối lượng 45,4 triệu m3 bằng 18,16% khối lượng đã được phê duyệt của các Bộ, ngành địa phương. Hiện tại có 21 dự án đã triển khai nạo vét và xuất khẩu cát nhiễm mặn, còn lại 17 dự án chưa triển khai.
Tuy nhiên, công tác lập, thẩm định, phê duyệt của một số dự án và lựa chọn đơn vị thực hiện dự án còn bất cập và hạn chế, chưa chọn được đơn vị có đủ năng lực triển khai dự án nên thời gian thực hiện kéo dài... (Báo Chính Phủ 30/5) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định về tổ chức và hoạt động của Viện Khoa học An toàn và Vệ sinh lao động thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
Viện Khoa học An toàn và Vệ sinh lao động (được đổi tên từ Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động) là tổ chức khoa học và công nghệ công lập thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Viện có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học phục vụ quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động, bảo đảm an toàn và sức khoẻ người lao động, bảo vệ môi trường lao động. Cụ thể, nghiên cứu phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ về an toàn, vệ sinh lao động; phòng ngừa, xử lý ô nhiễm môi trường bảo đảm an toàn và sức khoẻ người lao động; nghiên cứu xây dựng phương pháp, quy trình đánh giá hợp chuẩn, hợp quy các phương tiện bảo vệ cá nhân, trang thiết bị an toàn; nghiên cứu, phát hiện và kiến nghị bổ sung danh mục bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm tại Việt Nam.
Ngoài ra, nghiên cứu khoa học phục vụ hoạt động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, trong đó, nghiên cứu, cung cấp luận cứ khoa học để giúp Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tham gia cùng các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng chế độ, chính sách và các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động, các chế độ, chính sách về bảo hiểm tai nạn và bệnh nghề nghiệp.
Viện thực hiện các hoạt động quan trắc, phân tích môi trường lao động; đánh giá, giám sát, dự báo ô nhiễm môi trường lao động; cung cấp thông tin khoa học và kiến thức về an toàn, vệ sinh lao động; phối hợp xây dựng hệ thống các chỉ tiêu, tiêu chuẩn về an toàn, vệ sinh lao động, đánh giá tác động môi trường; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ về an toàn, vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường lao động; xây dựng và phát triển tiềm lực của Viện để đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học và công nghệ về an toàn, vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường lao động...
Về cơ cấu tổ chức của Viện, lãnh đạo Viện gồm Viện trưởng và không quá 3 Phó Viện trưởng. Viện trưởng, các Phó Viện trưởng do Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm theo quy định. Viện trưởng chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về toàn bộ hoạt động của Viện. Phó Viện trưởng giúp Viện trưởng theo phân công của Viện trưởng và chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Viện trưởng và Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về nhiệm vụ được giao.
Viện thực hiện cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập theo quy định tại Nghị định số 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016 của Chính phủ quy định về cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập và quy định của pháp luật. Viện được tổ chức và hoạt động theo Điều lệ do Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban hành.
Biên chế công chức, viên chức, số lượng người làm việc của Viện theo đề án vị trí việc làm được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật. (Đảng Cộng Sản Việt Nam 30/5) đầu trang(
Lào Cai cần phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là du lịch; trong đó, đa dạng hóa các sản phẩm, đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch. Phấn đấu năm 2017 thu hút được 3 triệu du khách và đến năm 2020 thu hút được 5 - 6 triệu du khách và cơ cấu du lịch trong GRDP phải đạt 30%.
Đó là nội dung trong thông báo kết luận của Thủ tướng Nguyễn Xuân tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Lào Cai.
Để xây dựng Lào Cai đến năm 2020 là tỉnh giàu mạnh, trung tâm phát triển của vùng Tây Bắc, tỉnh khá của cả nước, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Đảng bộ, chính quyền, quân và dân tỉnh Lào Cai cần phát huy truyền thống tốt đẹp, khẩn trương khắc phục tồn tại, hạn chế, yếu kém, đoàn kết, nỗ lực với khát vọng vươn lên mạnh mẽ, khai thác tiềm năng, lợi thế, có giải pháp đột phá, thực hiện quyết liệt để xây dựng Tỉnh phát triển nhanh, bền vững, toàn diện.
Tỉnh Lào Cai cần triển khai quyết liệt Kế hoạch hành động thực hiện các Nghị quyết số 19, 35, 60 của Chính phủ về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công. Tập trung chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp để thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh. Tập trung khuyến khích đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp. Phấn đấu đến năm 2020 tăng gấp đôi số doanh nghiệp hoạt động hiện có.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu tỉnh Lào Cai tăng cường quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ bản. Quản lý chặt chẽ và sử dụng ngân sách bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, đúng quy định của Nhà nước. Huy động các nguồn lực cho phát triển kết cấu hạ tầng. Đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ cao; phát huy điều kiện thổ nhưỡng phong phú, khí hậu, địa hình đa dạng để Lào Cai trở thành trung tâm phát triển dược liệu của cả nước; phát triển mạnh các doanh nghiệp nông nghiệp, trang trại; nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả. Làm tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng gắn với giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số... Khuyến khích tích tụ đất đai để sản xuất hàng hóa lớn, tận dụng lợi thế theo quy mô, dễ ứng dụng công nghệ, giảm chi phí sản xuất.
Tỉnh Lào Cai cần nâng cao hiệu quả và xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai là đầu mối trung chuyển hàng hóa của các nước tiểu vùng sông Mê Kông, ASEAN, Trung Quốc, trung tâm logistics hiện đại của khu vực, quốc tế; có kết nối với hệ thống cảng biển, cảng cạn, cảng hàng không, ga đường sắt, mạng lưới giao thông đường bộ, cửa khẩu quốc tế.
Đồng thời thực hiện tốt công tác quản lý tài nguyên khoáng sản, quản lý sản lượng khai thác; việc cấp giấy phép khai thác khoáng sản phải gắn với thị trường tiêu thụ; quản lý chặt, không để xuất khẩu lậu. Khuyến khích thu hút đầu tư chế biến sâu gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tỉnh Lào Cai phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là du lịch (đa dạng hóa các sản phẩm du lịch; đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch). Phấn đấu năm 2017 thu hút được 3 triệu du khách và đến năm 2020 thu hút được 5 - 6 triệu du khách và cơ cấu du lịch trong GRDP phải đạt 30%. Để xây dựng Sa Pa là khu du lịch quốc gia, tầm cỡ quốc tế phải tập trung quản lý đất đai, quản lý quy hoạch đô thị, giữ gìn cảnh quan thiên nhiên, bản sắc văn hóa dân tộc,...
Bên cạnh đó đẩy mạnh cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường thực hiện dịch vụ công trực tuyến, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. (Đấu Thầu 30/5) đầu trang(

NHÂN SỰ MỚI
Lãnh đạo các địa phương: Đồng Nai, Bình Dương, Hòa Bình, TPHCM... vừa trao quyết định điều động, bổ nhiệm một số nhân sự chủ chốt.
Ngày 30/5, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Hòa Bình Trần Đăng Ninh đã trao quyết định của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hòa Bình bổ nhiệm ông Nguyễn Quang Hưng, Chánh Văn phòng Ban Tuyên giáo giữ chức Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hòa Bình.
* Ngày 29/5, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai Nguyễn Phú Cường vừa trao quyết định bổ nhiệm Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông Nguyễn Minh Hùng giữ chức Phó Trưởng ban Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy (kiêm nhiệm) cho đến ngày nghỉ hưu (31/5/2018);
Đồng thời trao quyết định điều động Trưởng ban Dân vận Thành ủy Biên Hòa Nguyễn Văn Khang đến công tác tại Ban dân vận Tỉnh ủy và bổ nhiệm giữ chức Phó trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy;
Điều động Phó Chủ tịch UBND huyện Long Thành Huỳnh Nam Thắng đến công tác tại Đảng ủy khối Doanh nghiệp tỉnh và chỉ định tham gia vào Ban chấp hành Đảng bộ, Ban thường vụ Đảng ủy, giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy khối Doanh nghiệp tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020.
* Ngày 29/5, ông Phạm Văn Cành, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Bình Dương và ông Trần Thanh Liêm, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương đã trao các quyết định điều động, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại 7 cán bộ chủ chốt của tỉnh.
Theo đó, Võ Văn Bá - Bí thư Thị ủy Tân Uyên được điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy;
Ông Nguyễn Hoàng Thông - Phó Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy được điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Bí thư Thị ủy Bến Cát;
Ông Hồ Quang Điệp - Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội được điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ Bí thư Thị ủy Tân Uyên;
Ông Lê Minh Quốc Cường - Phó Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy được điều động, bổ nhiệm giữ chức Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội;
Ông Huỳnh Minh Dân - Phó Tổng thư ký tòa soạn Báo Bình Dương được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Tổng biên tập Báo Bình Dương;
Ông Nguyễn Chí Đức - Phó Giám đốc Ban Quản lý Dự án đầu tư xây dựng tỉnh được bổ nhiệm giữ chức vụ Giám đốc Ban Quản lý Dự án đầu tư xây dựng tỉnh;
Ông Nguyễn Bình Phước được bổ nhiệm lại chức vụ Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ.
* Cùng ngày (29/5), tại UBND Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy TPHCM, Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thành Phong đã trao quyết định điều động Bí Thư quận ủy, Chủ tịch UBND quận Thủ Đức Huỳnh Thanh Nhân làm Giám đốc Sở Văn hoá và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Quận ủy quận Thủ Đức TPHCM, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TPHCM Tất Thành Cang đã trao quyết định điều động Thành ủy viên, Bí thư Thành đoàn TNCS TPHCM Nguyễn Mạnh Cường làm Bí thư quận ủy quận Thủ Đức nhiệm kỳ 2015-2020.
* Liên quan đến công tác nhân sự, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam,... vừa trao quyết định, điều động, bổ nhiệm nhân sự chủ chốt một số đơn vị trực thuộc.
Cụ thể, ngày 26/5, Viện KSNDTC đã tổ chức công bố Quyết định số 18/QĐ-VKSTC ngày 25/5/2017 của Viện trưởng VKSNDTC về việc điều động, biệt phái ông Nguyễn Duy Giảng, Vụ trưởng Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án kinh tế (Vụ 3) giữ chức Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, kể từ ngày 1/6/2017.
Đồng thời, Viện KSNDTC công bố và trao Quyết định số 11/QĐ-VKSTC, ngày 25/5/2017 của Viện trưởng VKSNDTC về việc điều động và bổ nhiệm ông Nguyễn Văn Quảng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh (Viện cấp cao 3) giữ chức Vụ trưởng Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án kinh tế VKSNDTC. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày 1/6/2017.
* Trước đó, Viện trưởng Viện KSNDTC đã ban hành Quyết định số 191/QĐ-VKSTC ngày 23/5/2017 về việc kiện toàn thành viên Hội đồng Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội.
Theo đó, Viện trưởng VKSNDTC quyết định nâng số lượng thành viên Hội đồng nhà trường nhiệm kỳ 2015 - 2020 từ 15 người lên 17 người. Viện trưởng VKSNDTC giao TS. Lê Hữu Thể, Phó Viện trưởng VKSNDTC giữ chức Chủ tịch Hội đồng nhà trường thay TS. Trần Công Phàn, Phó Viện trưởng VKSNDTC. Đồng thời, Viện trưởng quyết định bổ sung một số cán bộ của Viện và trường làm Thành viên Hội đồng nhà trường.
* Cùng ngày 26/5, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã tổ chức lễ công bố và trao Quyết định số 968/QĐ-TLĐ, ngày 19/5/2017 của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về việc tiếp nhận và bổ nhiệm ông Ngọ Duy Hiểu, Thành ủy viên, Phó Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hà Nội về công tác tại Tổng Liên đoàn và bổ nhiệm giữ chức Trưởng ban Quan hệ Lao động Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, thời hạn 5 năm, kể từ ngày 19/5/2017.
* Tổng Công ty Cổ phần Bia Rượu Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) vừa công bố quyết định bổ nhiệm có thời hạn đối với ông Nguyễn Thành Nam, Phó Tổng giám đốc, Ủy viên HĐQT làm Tổng giám đốc của Sabeco kể từ ngày 12/6/2017. (Báo Chính Phủ 30/5) đầu trang(

THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
UBND TP Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 3278/QĐ-UBND phê duyệt Chương trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của TP Hà Nội năm 2017.
UBND thành phố yêu cầu các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức đẩy mạnh việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí để hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế, xã hội, môi trường đề ra tại Nghị quyết của HĐND thành phố về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội TP Hà Nội năm 2017. Việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ được giao, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu và gắn kết giữa các ngành, lĩnh vực...; được tiến hành đồng bộ với các hoạt động phòng, chống tham nhũng, cải cách hành chính, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật…
Chương trình nêu rõ, trong quản lý, sử dụng kinh phí chi thường xuyên của ngân sách nhà nước, thành phố yêu cầu tiết kiệm 10% chi thường xuyên (không kể lương, phụ cấp và các khoản có tính chất lương) để thực hiện cải cách tiền lương.
Đối với các dịch vụ công ích, phải tổ chức triển khai đấu thầu rộng rãi theo quy định của pháp luật để khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia nhằm nâng cao chất lượng và sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước. Các đơn vị cấp thành phố, các quận, huyện, thị xã và các xã, phường, thị trấn phấn đấu tiết kiệm tối thiểu 12% kinh phí chi hội nghị, hội thảo, tọa đàm, họp, tiếp khách, khánh tiết, tổ chức lễ hội, lễ kỷ niệm...; tiết kiệm tối thiểu 15% chi đoàn ra, đoàn vào.
Trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước, các cơ quan, đơn vị tập trung chống lãng phí, nâng cao chất lượng công tác khảo sát, thiết kế, giải pháp thi công, thẩm định dự án để phấn đấu tiết kiệm 10-12% tổng mức đầu tư.
Trong cải cách hành chính, thành phố tập trung xây dựng chính quyền điện tử, bảo đảm trên 80% dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 3 và 4; hoàn thiện quy trình liên thông về đầu tư, nâng tỷ lệ hồ sơ đăng ký kinh doanh qua mạng lên trên 50% với thời gian đăng ký tối đa 2 ngày, tỷ lệ kê khai thuế qua mạng và nộp thuế điện tử đạt tối thiểu 95%... (Hà Nội Mới 31/5) đầu trang(
Giải báo chí toàn quốc với chủ đề "Báo chí với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí" do Ban Thường trực Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam phối hợp Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức và phát động từ tháng 1-2017.
Giải được tổ chức nhằm phát huy vai trò giám sát của MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội, của nhân dân, báo chí và công luận trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; chống suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ theo tinh thần Nghị quyết T.Ư 4, khóa XII. Hưởng ứng Giải báo chí toàn quốc có ý nghĩa này, từ ngày 31-5 đến 29-11-2017, Báo Nhân Dân mở chuyên mục "Ðấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí" trên trang 8 vào số báo ra thứ tư hằng tuần.
Thực hiện yêu cầu của Bộ Chính trị, Quốc hội, mới đây Thủ tướng Chính phủ đã thành lập Ban Chỉ đạo xử lý các dự án thua lỗ thuộc ngành Công thương do đồng chí Vương Ðình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng ban, giúp Chính phủ đánh giá, xem xét và đưa ra các giải pháp cụ thể xử lý, giảm thiệt hại cho Nhà nước. Ban Chỉ đạo đã rà soát, lựa chọn xử lý 12 dự án, đề ra mục tiêu đến hết năm 2017 phải có chuyển biến căn bản, hết năm 2018, cơ bản xử lý xong các vướng mắc, yếu kém. Cuộc "đại phẫu" những "khối u" nghìn tỷ này thật sự không dễ dàng, sẽ để lại sự đau đớn và di chứng vô cùng lớn đối với nền kinh tế đất nước, có lẽ còn kéo dài hàng chục năm về sau…
Trở lại khảo sát một số nhà máy thuộc 12 dự án "điển hình", làm việc với các cơ quan chức năng, địa phương liên quan và tham vấn ý kiến các chuyên gia, chúng tôi nhận thấy, dù các nhà máy vẫn chưa thoát khỏi cảnh hoang tàn, nhưng đâu đó đã le lói tia hy vọng. Chính phủ đã kiên định quan điểm không cấp thêm nguồn lực từ ngân sách, bảo toàn tài sản Nhà nước ở mức cao nhất; tuân thủ các nguyên tắc thị trường, có tính đến các vấn đề an sinh - xã hội, bảo đảm lợi ích của người lao động và phát triển bền vững các ngành kinh tế lớn,… Từ "con đường" được vạch sẵn này, mỗi doanh nghiệp (DN) cần tự thân vận động, xử lý các vướng mắc cụ thể về tài chính, kỹ thuật, quản trị, vận hành và tiêu thụ sản phẩm,…
Có mặt tại Nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học Phú Thọ (huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ), mới cảm nhận hết vẻ hoang tàn của dự án từng được hy vọng là cánh cửa mở tương lai cho người dân trong vùng. Khuôn viên rộng khoảng 50 ha của nhà máy luôn trong tình trạng cửa đóng then cài, chung quanh cỏ dại um tùm.
Ðể trông giữ dãy nhà xưởng xuống cấp và đống máy móc hoen gỉ, có hơn mười nhân viên bảo vệ túc trực ngày đêm. Trong giai đoạn 2011-2012, cùng với xây lắp nhà máy, chủ đầu tư là Công ty cổ phần Hóa dầu và Nhiên liệu sinh học dầu khí (PVB) đã chuyển giao kỹ thuật phát triển vùng nguyên liệu sắn cho nông dân ở một số vùng. Từ cuối năm 2011 đến nay, sau năm lần điều chỉnh, Nhà máy đã dừng hẳn việc thi công, toàn bộ hệ thống nhà xưởng đóng cửa khiến nông dân trong vùng nguyên liệu đứng ngồi không yên.
Chủ tịch UBND xã Tam Cường Trần Hữu Ðạt cho biết, từ khi dừng thi công nhà máy, lãnh đạo xã cũng chẳng ai được bén mảng tới. Xã Tam Cường phải "hy sinh" cho dự án gần 22 ha bờ xôi ruộng mật của hơn 200 hộ dân. Bây giờ nhà máy bỏ không, dân không có đất sản xuất khiến địa phương thiệt hại đủ đường. Người dân từng ngày khắc khoải trông ngóng Nhà nước sớm có giải pháp để nhà máy đi vào hoạt động hoặc chuyển đổi công năng sử dụng, kêu gọi đầu tư các dự án khác, tránh lãng phí kéo dài.
Chủ tịch UBND huyện Tam Nông Cao Văn Mỹ cho biết thêm, việc xây dựng nhà máy chậm tiến độ, không những gây thiệt hại lớn về kinh tế, còn gây dư luận xấu trong nhân dân, nhất là người dân phải nhường đất nông nghiệp. Chính quyền huyện mong muốn chủ đầu tư sớm có phương án đẩy nhanh tiến độ, đưa nhà máy vào hoạt động. Nếu không thể thực hiện tiếp, cơ quan chức năng cần nghiên cứu, điều chỉnh phù hợp hoặc chuyển nhượng cho dự án khác.
Nhà máy bột giấy Phương Nam ở tỉnh Long An sau khi vận hành thử không thành công, toàn bộ nhà máy trị giá hơn 3.400 tỷ đồng đã "trùm mền" từ đó đến nay. Vừa qua, một số nhà đầu tư cũng đã đến tìm hiểu, nhưng khi tham khảo giá chuyển nhượng thấy quá cao so với cơ sở vật chất hiện hữu, tất cả đều im lặng rút lui.
Ông Bùi Văn Du (70 tuổi) ở ấp Vườn Xoài, xã Thuận Nghĩa Hòa (huyện Thạnh Hóa) bức xúc: "Mỗi ngày nhìn sang nhà máy đóng cửa im ỉm mà thấy xót ruột. Khi nhường đất cho dự án, những tưởng nhà máy sẽ giúp con cháu chúng tôi "ly nông", ai ngờ… Ruộng cấy hái không còn, bọn chúng đành phải "ly hương", lang bạt tận Bình Dương, TP Hồ Chí Minh kiếm việc. Nhưng trong cái rủi cũng có cái may, nếu nhà máy hoạt động, có lẽ Ðồng Tháp Mười sẽ đối mặt nguy cơ ô nhiễm môi trường. Bà con chúng tôi tha thiết kiến nghị Nhà nước có cách chuyển đổi công năng nhà máy sang lĩnh vực khác, tạo việc làm cho lao động địa phương".
Nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Long An, nguyên Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ Dương Quốc Xuân cho rằng: Ðể nhà máy dừng hoạt động càng lâu, sẽ càng gây lãng phí, thiệt hại khối tài sản lớn của Nhà nước. Do đó, các bộ, ngành hữu quan cần tìm hướng giải quyết bằng cách phân khúc trang thiết bị sản xuất và bán thanh lý. Ðối với đất đai, nhà xưởng, cần chuyển đổi công năng cho doanh nghiệp khác đầu tư để góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Từ tháng 4-2015, Công ty phân đạm và hóa chất Hà Bắc sau khi thực hiện mở rộng quy mô sản xuất (tổng mức đầu tư hơn 10 nghìn tỷ đồng) đã thua lỗ hơn 1.700 tỷ đồng. Dự kiến trong năm 2017, công ty sẽ lỗ thêm khoảng 800 tỷ đồng nữa. Nguy cơ nhãn tiền đối với công ty là buộc phải ngừng sản xuất do không duy trì được dòng tiền. Về tình hình sản xuất hiện tại, Phó Tổng Giám đốc Công ty Phạm Văn Trung cho hay, sản phẩm của công ty bán ra đang thấp hơn giá thành, bởi chi phí đầu tư mở rộng dây chuyền cao, lãi suất ngân hàng và chênh lệch tỷ giá lớn.
Tuy nhiên, giá bán sản phẩm của công ty vẫn cao hơn chi phí biến đổi, do đó công ty nỗ lực sản xuất, kéo lại được phần thu nhập để trả nợ các ngân hàng. Giá u-rê trên thị trường đang chạm đáy do chưa vào mùa vụ, song công ty vẫn cố gắng duy trì sản xuất, dây chuyền mở rộng của nhà máy vẫn đang vận hành tốt. Hiện nay, mỗi ngày công ty tiêu thụ bình quân khoảng 700 tấn sản phẩm. Giá u-rê thời gian tới dự báo tăng, phần thu này sẽ cao hơn, rút ngắn thời gian trả nợ. Nếu được hỗ trợ về cơ chế, chính sách như điều chỉnh giảm lãi suất đối với các dư nợ gốc; giãn thời gian trích khấu hao chi phí mở rộng quy mô,... công ty sẽ vượt qua được những khó khăn trước mắt.
Nhà máy sản xuất phân bón DAP số 1 - Hải Phòng của Công ty cổ phần DAP Vinachem có tổng mức đầu tư (điều chỉnh cuối cùng) hơn 165 triệu USD. Từ năm 2016, công ty bắt đầu gánh khoản lỗ gần 470 tỷ đồng do không cạnh tranh được phân bón nhập khẩu từ Trung Quốc. Thêm vào đó, giá DAP trên thị trường giảm tới 44%, xuống còn 278 đến 290 USD/tấn vào cuối năm 2016, khiến công ty phải tiết giảm sản xuất còn 38% công suất thiết kế. Thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vương Ðình Huệ, công ty đã thực hiện triệt để phương án quản trị chi phí sản xuất và giá bán sản phẩm, linh hoạt trong điều hành. Trong quý I vừa qua, sản lượng sản xuất đạt hơn 61.600 tấn, bằng 73% công suất; tiêu thụ 65,3 nghìn tấn, giảm 3.700 tấn hàng tồn kho.
Còn Nhà máy đạm Ninh Bình, Ban Chỉ đạo xử lý các dự án thua lỗ thuộc ngành công thương đã làm việc, đánh giá trên thực địa và chỉ đạo Vinachem, Công ty Ðạm Ninh Bình khẩn trương khởi động lại nhà máy; rà soát toàn bộ vấn đề quản trị, xây dựng phương án để cắt giảm ít nhất 20% chi phí nhân công, chi phí quản lý và các chi phí gián tiếp khác.
Ðồng thời, rà soát lại toàn bộ quá trình cung cấp nguyên liệu, vật tư đầu vào, đặc biệt là các hợp đồng cung cấp than. Thực hiện yêu cầu này, Công ty Ðạm Ninh Bình đã khởi động lại nhà máy, có sản phẩm hợp cách ngày 30-1-2017 và xây dựng được phương án sản xuất trong giai đoạn 2017 - 2019 trên cơ sở tiết giảm các chi phí, tăng cường quản trị doanh nghiệp, tài chính, vật tư, lao động. Ước tính năm nay, công ty sẽ tiết giảm khoảng 130 tỷ đồng chi phí sản xuất (khoảng 5,1% tổng chi phí); trong đó, quản trị sản xuất khoảng 60 tỷ đồng, quản trị nhân sự 16 tỷ đồng,…
Ðầu tháng 3 vừa qua, Vinachem cũng đã làm việc với một số ngân hàng như VDB, Vietinbank, BIDV, VCB về tiếp tục cho vay vốn lưu động, cơ cấu và giảm lãi suất vay các khoản dư nợ của dự án. Các bên đã thống nhất việc Vinachem sẽ xây dựng lại phương án sản xuất kinh doanh và phương án tài chính trong 5 năm tới để các tổ chức tín dụng xem xét, thống nhất cơ cấu lại nợ, giảm lãi suất vay các khoản dư nợ hiện nay gửi Bộ Tài chính xem xét, xử lý việc trích giảm khấu hao theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Ðối với dự án đầu tư mở rộng sản xuất giai đoạn 2 – Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên (Tisco), sau khi Chính phủ "vào cuộc", cũng đã có một số chuyển biến đáng kể. Ðến hết năm 2014, tổng lỗ lũy kế toàn bộ nhà máy của Tisco là 275 tỷ đồng, tuy nhiên nhà máy đã có lãi trở lại trong hai năm 2015 - 2016, xóa hết lỗ lũy kế.
Cuối năm 2016, tổng số vốn đã giải ngân cho dự án là 4.519 tỷ đồng, chủ đầu tư trả nợ gốc cho ngân hàng hơn 241 tỷ đồng, số nợ còn phải trả gần 2.988 tỷ đồng. Chủ tịch HÐQT Tổng công ty Thép Việt Nam Nghiêm Xuân Ða cho biết: Theo chỉ đạo của Chính phủ, Tổng công ty Ðầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) đã hoàn thành việc rút toàn bộ 1.000 tỷ đồng khỏi dự án, giảm vốn điều lệ từ 2.840 tỷ đồng xuống còn 1.840 tỷ đồng; cuối tháng 6 tới, Tisco sẽ tổ chức Ðại hội cổ đông bất thường, thông qua chủ trương phát hành thêm cổ phiếu tối đa 2.000 tỷ đồng từ các nhà đầu tư tư nhân để tăng vốn điều lệ.
Với động thái phát hành thêm cổ phiếu tăng vốn điều lệ, giảm tỷ lệ vốn nhà nước, tăng tỷ lệ vốn của tư nhân, khả năng dự án mở rộng sản xuất giai đoạn 2 sẽ tiếp tục được tái khởi động.
Bộ Công thương và Tổng công ty đã xây dựng tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư, ưu tiên DN có tiềm lực tài chính và năng lực sản xuất, kinh doanh thép. Thực tế cho thấy sẽ không dễ dàng lựa chọn được nhà đầu tư sẵn sàng bỏ ra hàng nghìn tỷ đồng vào nhà máy đang gánh khoản nợ gấp 4,5 lần vốn chủ sở hữu này. Tuy nhiên, một tín hiệu tốt lành gần đây nhiều người có thể nhận thấy, trên thị trường chứng khoán, cổ phiếu TIS của Tisco liên tục được một DN sản xuất - thương mại ngành thép mua vào, hiện tại DN này đã sở hữu 36,8 triệu cổ phiếu, chiếm khoảng 20% vốn của Tisco.
Tại Nhà máy thép Việt - Trung (VTM), sang tháng 3 vừa qua, tình hình đã có dấu hiệu khả quan, sản xuất, tiêu thụ quặng sắt và phôi thép tăng cao, chất lượng cải thiện hơn, công ty đã lãi 28,4 tỷ đồng, giảm bớt lỗ của quý I vừa qua xuống còn 39,9 tỷ đồng, giảm 85% so mức lỗ cùng kỳ năm trước.
Với những biện pháp quyết liệt, linh hoạt của Chính phủ trong xử lý thời gian qua, một số DN thua lỗ đã "gượng dậy" sau những tháng ngày dài nằm bất động. Ðã thấy nhen nhóm những tia hy vọng, song chặng đường dài phía trước còn đầy chông gai… (Nhân Dân 31/5) đầu trang(
Nợ công đáng ra là nguồn lực tăng trưởng, phát triển đất nước nhưng nợ công cũng đang là nguồn tham nhũng, lãng phí...
Theo ghi nhận của PV NNVN, chiều 30/5, cho ý kiến vào dự thảo Luật quản lý nợ công (sửa đổi) nhiều ĐBQH có chung nhận định, nợ công đáng ra là nguồn lực tăng trưởng, phát triển đất nước nhưng nợ công cũng đang là nguồn tham nhũng, lãng phí ghê gớm để lại gánh nặng cho thế hệ sau.
Các ĐBQH Trương Trọng Nghĩa và Trần Hoàng Ngân đều lên tiếng về thực trạng nợ công hiện nay cho thấy khe hở của luật hiện hành, kiến nghị thiết kế sát thực tế nhằm quản lý xã hội đạt được mục tiêu đề ra.
ĐB Trương Trọng Nghĩa cho hay, luật đang không có tác dụng tích cực. Nợ công đáng ra là nguồn lực tăng trưởng, phát triển đất nước nhưng rõ ràng nợ công hiện nay đang là nguồn tham nhũng, lãng phí ghê gớm để lại gánh nặng cho thế hệ sau.
Theo ông Nghĩa, chỉ tính riêng nợ nước ngoài của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được Chính phủ bảo lãnh giai đoạn 2011-2015 là 381.000 tỷ trong vay ODA. Năm 2016 nợ DNNN hơn 300 tỷ USD bằng 158% GDP và nếu cộng cả nợ Chính phủ và nợ DNNN sau khi trừ phần Chính phủ bảo lãnh trùng lặp thì tổng số nợ năm 2016 đã là 431 tỷ USD (bằng 210% GDP). Ông Nghĩa cho rằng nếu “gạt” nợ DNNN ra khỏi nợ công thì cần phải xem lại vì khoản nợ đó rất lớn. Do đó, dù không gộp vào nợ công nhưng cũng phải đưa vào báo cáo nợ công chứ không thể “phủi tay” nợ của DNNN vậy được.
Vẫn theo ĐB Nghĩa, báo cáo của Chính phủ còn xem nhẹ yếu tố tham nhũng, lãng phí lớn ở Nhà nước. Nhà nước nợ công tăng cao nhưng không thấy báo cáo nêu sâu sát chỗ này. Vì thế khi thiết kế luật chúng ta không khắc phục được yếu kém tồn tại trên.
Đồng tình quan điểm, ĐB Trần Hoàng Ngân cho rằng, nợ công phải được công khai minh bạch, cập nhật chính xác liên tục để theo dõi giám sát. Thực tế nợ công tăng rất nhanh và áp lực trả nợ rất lớn. 6 năm qua mỗi năm nợ công tăng 300.000 tỷ đồng.
Góp ý trực tiếp vào dự thảo Luật, ĐB Ngân lưu ý, tại Chương 5 mục quản lý cho vay lại đối với tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và chính quyền địa phương cần thiết kế theo hướng chặt chẽ, thậm chí phải cao hơn điều kiện bình thường nhưng dự thảo lại dễ dãi quá. Tại Điều 52 đến Điều 56, ĐB Ngân đề nghị hạn chế mức vay của chính quyền địa phương ở các đơn vị sử dụng vốn Trung ương cấp bổ sung.
Cũng về vấn đề này, ĐB Vũ Trọng Kim (Hải Dương) mở đầu phát biểu của mình đã gói gọn trong một câu: “Nợ công nếu tính đủ là nhiều lắm rồi”. Theo ĐB Kim sau khi đọc báo cáo thì thấy có một số thứ chưa đưa vào nợ công và quan điểm về nợ công của nước ta cũng khác.
Một là, sửa Luật này để DNNN tự vay và tự trả. Cái này khó vì trong DNNN có phần vốn của Nhà nước. Do đó tự vay, tự trả là không có lý. Nếu DNNN tự vay mà không trả được thì theo luật phá sản phải phá sản. Như thế sẽ mất niềm tin đối với các quốc gia cho mình vay.
Hai là phát hành trái phiếu. Mấy năm rồi làm như thế cũng phát sinh nợ vì sau này cũng phải nai lưng ra trả. Ba là cấp bù ngân hàng bằng việc Nhà nước ôm một khoản nợ của ngân hàng chính sách. Bốn là nợ hoàn thuế giá trị gia tăng, những đơn vị được hưởng, Nhà nước phải đứng ra trả. Năm là nợ của UBND các địa phương. Bây giờ phát hành trái phiếu hay vay mượn đâu cũng là nợ.
Do đó xem lại Điều 5 của dự thảo Luật, ĐB Vũ Trọng Kim đề nghị phải làm rõ những khoản vay nào gọi là nợ công và nói rõ trách nhiệm. Chứ Chính phủ thống nhất quản lý nợ công nhưng lại phân ra các bộ, mỗi bộ một phần việc là sẽ khó quy trách nhiệm. Lần này phải thống nhất cho được và phân công rõ ràng chỗ đó.
Trong dự luật có nói Bộ KH - ĐT lo vốn ODA, Bộ Tài chính lo đề xuất vay và quản lý nợ công; NHNN thì đề xuất quy định liên quan đến quốc tế.
Từ quy định trên, ĐB Vũ Trọng Kim nêu câu hỏi, tại sao không quy về một mối? Đã đến lúc chín muồi rồi, Bộ KH- ĐT và Bộ Tài chính phải là một. Tại sao lại phải để nhiều khóa, nhiều chìa thế này? Ở cấp tỉnh đã rục rịch làm thì Trung ương cũng cần phải tính, riêng khoản nợ công là phải tính ngay chứ đừng để lắm chìa, nhiều khóa như thế nữa. (Nông Nghiệp Việt Nam 30/5) đầu trang(
An Giang lo lắng khi tuyến đường tránh quốc lộ 91 đoạn Châu Đốc - Tịnh Biên đang xuất hiện những đoạn bị rạn nứt kéo dài vài trăm mét.
Theo phản ánh, các vết rạn nứt và sụt lún hai bên đường rộng 3-5cm. Vị trí lún, nứt có nơi đã ăn sâu vào mặt đường láng nhựa.
Đáng chú ý dù chiều dài của tuyến đường chỉ trên 12 km nhưng hiện tại đã có khoảng 3-4 km phía đầu Châu Đốc bị rạn nứt kéo dài hai bên đường đến giữa đoạn.
Chiều 30/5, trao đổi với Đất Việt, ông Ngô Công Thức - Giám đốc Sở GTVT tỉnh An Giang đã xác nhận thông tin trên.
Theo ông Thức, tuyến đường tránh quốc lộ 91 đoạn Châu Đốc – Tịnh Biên đi quan địa phương nhưng do Ban quản lý dự án 7, Tổng cục đường bộ Việt Nam trực tiếp quản lý. Thời gian gần đây tuyến đường bắt đầu xuất hiện tình trạng lún nứt và xuống cấp.
“Tuyến đường tránh quốc lộ 91 đầu tư mới nhưng trong quá trình vận hành có dấu hiệu xuống cấp. Tổng cục đường bộ có trách nhiệm bảo dưỡng cũng như sửa chữa hàng năm. Khi thấy tuyến đường bị hỏng chúng tôi đã xem xét vào báo cáo về Ban quản lý dự án 7, Tổng cục đường bộ để họ có kế hoạch sửa chữa”, ông Thức nhấn mạnh.
Giám đốc Sở GTVT tỉnh An Giang cho biết thêm, trước đó vào năm 2015 và 2016 hiện tượng lún nứt tại đường tránh quốc lộ 91 từng xuất hiện nhưng đã được khắc phục.
“Nếu tình trạng trên kéo dài thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc đi lại của người dân, các phương tiện cũng như kết cấu mặt đường”, ông Thức chia sẻ thêm.
Anh Lê Văn Hùng, một lái xe vận tải thường xuyên qua lại tuyến đường tránh quốc lộ 91 cho biết, tình trạng đường sụn lút đã xảy ra vài tháng nhưng không hiểu sao các cơ quan chức năng chưa tiến hành sửa chữa, tu bổ.
Theo anh Hùng, tuyến đường trên tập trung rất nhiều các phương tiện qua lại do có các khu, điểm du lịch ở vùng Bảy Núi. Nếu tình trạng trên vẫn tiếp tình kéo dài thì nguy cơ mất an toàn rất cao.
"Đường xấu nên chúng tôi không dám đi nhanh vì có thể xảy ra những tình huống va chạm, nguy hiểm, khó xử lý. Tôi không hiểu khi xây dựng tuyến đường này, ngành GTVT đã xem xét ra sao mà mới đi được 3 năm đã 3 lần sửa chữa. Như vậy là rất lãng phí", anh Hùng nói.
Trong khi đó, trao đổi với báo chí, ông Nguyễn Chung Khánh - Tổng giám đốc Ban quản lý dự án 7, Tổng Cục đường bộ Việt Nam cho biết do đất khu vực làm tuyến đường này là đất pha cát nên mỗi khi mưa xuống là lún, nứt. Giải pháp là làm kè toàn tuyến.
“Ban đầu làm tiết kiệm kinh phí nên thi công làm tuyến đường này có đoạn kè, đoạn không. Cuối cùng, giờ mỗi khi mưa xuống hay nắng gắt là rạn nứt, sụt lún ven đường. Hiện tại phía tỉnh An Giang đã đề xuất làm kè toàn tuyến này”, ông Khánh khẳng định với Tuổi trẻ.
Ông Khánh cũng cho hay, đơn vị này đã đề xuất lên Bộ GTVT nhưng Bộ nói hiện nay chưa có vốn.
Theo tìm hiểu, đường tránh quốc lộ 91 đoạn Châu Đốc – Tịnh Biên có tổng mức đầu tư gần 1.000 tỷ đồng, do Ban quản lý dự án 7, Bộ GTVT làm chủ đầu tư.
Trước đó, vào năm 2016, đã xuất hiện tình trạng sạt lở mái taluy trên tuyến đường này.
Hồi năm 2015, báo chí cũng phản ánh về đoạn đường thuộc phường Châu Phú B, TP Châu Đốc xuất hiện nhiều vết nứt dài cả km dọc theo bên đường rộng 2-5 cm. Phía bên phải đường cũng có nứt nẻ ven theo mé đường nhưng không liên tục. (Đất Việt 31/5) đầu trang(
Cuối năm 2016, 100% hộ dân ở TP HCM được cung cấp nước sạch nhưng hiện nay, hơn 110.000 đồng hồ nước lắp để "làm cảnh", gây lãng phí đầu tư
Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn cho biết đến cuối tháng 3-2017, có 113.489 đồng hồ nước có hóa đơn bằng 0, đồng nghĩa người dân không sử dụng nguồn nước do đơn vị này cung cấp. Tuy nhiên, chính những khu vực mới được đầu tư trong các năm qua, người dân vẫn không mặn mà với nước sạch mà chỉ muốn dùng nước giếng khoan.
Theo khảo sát tại các huyện Hóc Môn, Bình Chánh và quận 12, người dân vẫn sử dụng 2 loại nước song song là nước máy mới được lắp đặt cùng với nước giếng khoan đã sử dụng từ hàng chục năm qua. Tại phường Trung Mỹ Tây (quận 12), người dân khu phố 7 cho biết nước sạch mới được gắn khoảng 2 năm trước nhưng có mùi lạ nên không sử dụng. Bà Lê Thu Tâm, ngụ đường Trung Mỹ Tây 13, cho biết lâu nay gia đình vẫn dùng nước giếng khoan vì nước trong, không bị nhiễm phèn. Khi có nguồn nước máy, gia đình dùng thử thì có mùi (clo) khó chịu nên cũng hạn chế sử dụng.
"Thỉnh thoảng, nước lại bị đục không rõ lý do khiến quần áo giặt bị ố màu. Bên cạnh đó, áp lực nước yếu nên chỉ dùng cho ăn uống chứ tắm giặt trên các tầng trên thì nước không lên nổi" - bà Tâm nói. Do đó, nguồn nước mà gia đình bà Tâm sử dụng vẫn là giếng khoan bơm lên bồn. Không chỉ nhà bà Tâm, hàng trăm nhà dân ở khu vực này đều có bồn nước trên nóc để sử dụng dần.
Người dân ấp Mỹ Huề, xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn vẫn chưa có thói quen sử dụng nước sạch. Ông Nguyễn Văn On (ngụ đường Mỹ Huề 6) chỉ vào đường ống dọc 2 bên đường và cho biết đa số người dân đã được gắn đồng hồ nước, trừ những đoạn đang thi công nâng cấp thì sẽ làm sau. Ông On làm nghề rửa xe máy và khoan trực tiếp nước ngầm sử dụng để giảm chi phí. Riêng nước sạch, gia đình chưa được gắn đồng hồ nên hằng ngày ông vẫn xách nước của nhà bên cạnh về dùng. Theo ghi nhận, đa số người dân cho biết đường ống nước được đặt âm tường từ trước khi có nước sạch mà đồng hồ nước lại nằm gần cửa nên chưa đấu nối được với nhau. Muốn cải tạo lại đường ống thì tốn thêm chi phí nên các hộ dân vẫn còn dè chừng.
Một lý do khác khiến người dân chưa mặn mà với nước sạch là do thói quen sử dụng nước miễn phí từ hàng chục năm qua. Tại những khu vực chúng tôi khảo sát, người dân cho biết nguồn nước giếng khoan vẫn sạch nên tiếp tục sử dụng.
Theo tìm hiểu, tỉ lệ người dân không sử dụng nước sạch cao nhất là huyện Hóc Môn với 26% (16.324 đồng hồ); kế đến là các quận 12 có 18% (18.042 đồng hồ), Gò Vấp 12% (12.700 đồng hồ), Bình Tân 11% (13.058 đồng hồ). Đặc biệt, có những xã - phường tỉ lệ người dân không dùng nước sạch lên đến 1/4 như Trung Chánh, Xuân Thới Đông (huyện Hóc Môn); Tân Thới Hiệp, Tân Chánh Hiệp, Trung Mỹ Tây, Hiệp Thành (quận 12); Đa Phước, Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B (huyện Bình Chánh)…
Điều đáng nói, những địa phương này là nơi đã được đầu tư, lắp mới hàng chục ngàn đồng hồ nước trong năm 2016 theo Nghị quyết 35/2015 của HĐND TP về chỉ tiêu đạt 100% cung cấp nước sạch cho người dân. Để thực hiện các biện pháp cung cấp nước sạch, các công ty cấp nước đã bỏ ra kinh phí rất lớn, thậm chí cả những nơi không có trong quy hoạch phát triển TP.
Ông Nguyễn Minh Nhựt, Phó trưởng Ban Đô thị HĐND TP HCM, cho rằng con số hơn 110.000 đồng hồ nước không người "xài" là quá lãng phí. Về nguyên nhân người dân không sử dụng nước, ông Nhựt cho biết do thói quen dùng nước giếng khoan từ nhiều năm qua. Người dân lâu nay sử dụng không tốn tiền và cho rằng nguồn nước giếng khoan sạch do "nhìn vào thấy trong" nên không muốn dùng nước máy.
"Do không dùng nước máy, khi mở vòi lại gặp phải tình trạng nước đục, có mùi lạ nên càng củng cố thêm tâm lý nước máy không sạch, không an toàn" - ông Nhựt dẫn chứng. Theo ông, trong quý III/2017, Ban Đô thị sẽ tái kiểm tra tình hình người dân sử dụng nước sạch cũng như công tác phát triển mạng lưới của các đơn vị cấp nước.
"Người dân không xài nước sạch mà vẫn phát triển mạng lưới thì có nghịch lý?" - chúng tôi đặt vấn đề. Ông Nhựt lý giải muốn người dân sử dụng nước sạch thì phải cung cấp nguồn nước đến tận nơi và cùng với đó là công tác tuyên truyền. Tuy nhiên, nếu muốn nâng cao tỉ lệ người dân sử dụng nước sạch thì chính quyền địa phương phải tăng cường tuyên truyền hơn nữa cũng như thay đổi cách thức tuyên truyền.
"Không thể đưa cả trăm người vô hội trường rồi nói về kiến thức hay phát tờ bướm là người dân sẽ sử dụng nước sạch. Phải tìm hiểu về trình độ nhận thức người dân từng khu vực cũng như phân tích cụ thể lợi hại của việc dùng nước sạch, nước giếng. Đơn cử, dùng nước giếng khoan sẽ tốn tiền điện và không hề an toàn dù nhìn nước thấy trong vắt và có vị ngọt" - ông Nhựt nói.
Theo kết quả giám sát chất lượng nguồn nước giếng người dân tự khai thác của Trung tâm Y tế dự phòng, hầu hết các nguồn nước giếng đều không đạt theo tiêu chuẩn về nước dùng cho sinh hoạt (Quy chuẩn QCVN 02:2009/BYT của Bộ Y tế) ở các chỉ tiêu pH, sắt và có khoảng 50% mẫu nước không đạt chỉ tiêu amoniac.
Khoảng 10 ngày qua, người dân ở đường số 7, khu phố 3, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, TP HCM phản ánh tình trạng áp lực nước không thể tự đẩy lên đến tầng 3 như trước đây. Khi báo Công ty CP Cấp nước Thủ Đức thì có nhân viên kiểm tra và cho biết áp lực bơm yếu nên nước không lên được bể chứa và hứa sẽ về tăng áp lực bơm. Tuy nhiên, áp lực nước chỉ tăng được vài giờ rồi lại chảy nhỏ giọt khiến người dân không có nước xài.
Đại diện Công ty CP Cấp nước Thủ Đức cho biết nguyên nhân của tình trạng áp lực nước yếu hơn trước là do Nhà máy Nước Thủ Đức thay đổi công nghệ bơm biến tầng. Sáng 26-5, sau khi nhận thông tin từ Báo Người Lao Động, nhân viên kiểm tra ở giữa đường số 7 thì áp lực lúc 10 giờ là 2,2 kg (trung bình áp lực 1 kg bằng 10 m, về lý thuyết nước có thể lên đến 20 m). Ngoài đường số 7, công ty còn nhận phản ánh nước yếu ở đường Hoàng Diệu 2, Võ Văn Ngân và một vài địa điểm khác. Tuy nhiên, khi nhân viên kiểm tra thì áp lực nước bình thường, không giống như tin báo cúp nước của người dân.
Đại diện Công ty CP Cấp nước Thủ Đức cũng giải thích thêm có thể do người dân dùng nước từ mạng lưới tự bơm lên bồn vì áp lực đầu nguồn mạnh. Khi thiết kế nhà 3-4 tầng được xác định là nhà cao tầng, chủ nhà nên nghiên cứu mạng lưới cấp nước đô thị và dùng thêm giải pháp "bể dưới bồn trên", nghĩa là dùng máy bơm đẩy nước lên bồn từ bể chứa phía dưới. (Người Lao Động 30/5) đầu trang(

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Theo kết quả Chỉ số cải cách hành chính (CCHC) năm 2016 của các bộ, ngành, địa phương (PAR INDEX 2016) vừa được Bộ Nội vụ công bố, NHNN dẫn đầu các bộ với Chỉ số CCHC đạt 92,68%. Đây là năm thứ 2 liên tiếp NHNN dẫn đầu về CCHC.
Kết quả trên đã ghi nhận những nỗ lực của ngành Ngân hàng trong suốt nhiều năm liên tục đã chủ động xây dựng và kiên trì triển khai chiến lược cải cách, đổi mới và phát triển toàn diện, nhằm phát huy tối ưu trọng trách ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng.
Theo đó, Ban lãnh đạo NHNN đã thống nhất tư tưởng chỉ đạo, CCHC vừa là nhiệm vụ trọng tâm đồng thời cũng là giải pháp quan trọng để thực hiện chiến lược cải cách, đổi mới hoạt động ngân hàng, là công cụ, phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, theo kịp trình độ, quy mô các ngân hàng lớn trong khu vực và trên thế giới.
Từ việc xác định rõ quan điểm, định hướng trong chỉ đạo điều hành, NHNN đã xác định rõ các định hướng, mục tiêu và xây dựng kế hoạch CCHC hết sức cụ thể trong từng giai đoạn 5 năm và hàng năm để chỉ đạo và tổ chức triển khai quyết liệt, đồng bộ trong toàn Ngành.
Cụ thể, NHNN đã ban Kế hoạch CCHC năm 2016, năm 2017 (Quyết định số 2642/QĐ-NHNN ngày 29/12/2015, số 2530/QĐ-NHNN ngày 29/12/2016); Kế hoạch CCHC tập trung cải cách, đổi mới trên các lĩnh vực hoàn thiện thể chế, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức và tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; đẩy mạnh hiện đại hóa hoạt động ngân hàng, trọng tâm là hiện đại hóa hoạt động hành chính và triển khai Chính phủ điện tử; cải cách TTHC theo hướng minh bạch, tạo thuận lợi cho tổ chức, công dân trong các giao dịch hành chính với NHNN; đẩy mạnh CCHC nội bộ; thường xuyên chỉ đạo các TCTD đa dạng hóa dịch vụ, cải tiến, đơn giản hóa thủ tục giao dịch với doanh nghiệp, người dân để hỗ trợ sự phát triển doanh nghiệp; đồng thời, chủ động phối hợp với các Bộ, ngành thực hiện các chương trình CCHC của Chính phủ.
Bên cạnh đó, NHNN thường xuyên theo dõi và có nhiều hình thức tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện của các đơn vị trong toàn Ngành, nhằm đánh giá sát tình hình triển khai, đồng thời nâng cao ý thức, trách nhiệm của các đơn vị về CCHC. Lãnh đạo NHNN đã trực tiếp kiểm tra tại một số NHNN chi nhánh và NHTM về công tác CCHC và triển khai kế hoạch 1355 của NHNN nhằm cải thiện môi trường kinh doanh nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp.
Việc triển khai quyết liệt kế hoạch CCHC đã thu được kết quả hết sức khả quan trên tất cả các lĩnh vực. Cụ thể việc cải cách hoàn thiện thể chế, tiếp tục được chú trọng và được xem là một trong số các nhiệm vụ trọng tâm trong chỉ đạo, điều hành. Theo đó, các đơn vị chức năng đã tập trung nguồn lực, tổ chức triển khai tích cực.
Nhờ đó, công tác xây dựng văn bản pháp luật của NHNN đã cơ bản hoàn thành kế hoạch; chất lượng văn bản được nâng lên rõ rệt, đảm bảo tính đồng bộ với hệ thống pháp luật ngân hàng, đáp ứng kịp thời công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành hoạt động ngân hàng. Cụ thể, trong năm 2016, NHNN đã ban hành được 45 thông tư; 6 tháng đầu năm 2017 ban hành được 2 thông tư.
Song song với đó, năm 2016, NHNN tiếp tục đẩy mạnh công tác rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC), cắt giảm, bãi bỏ các quy định về hồ sơ, yêu cầu điều kiện, rút ngắn thời gian giải quyết TTHC; đảm bảo tính đồng bộ với việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật, điều kiện kinh doanh đối với doanh nghiệp.
Theo đó, NHNN đã bãi bỏ 06 TTHC, đơn giản hóa 10 TTHC, đơn giản hóa/cắt giảm 26 thành phần hồ sơ, cắt giảm gần 50 điều kiện khi thực hiện TTHC trong 8 thông tư thuộc lĩnh vực ngân hàng; đáng chú ý đó là các thủ tục về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán, dịch vụ trung gian thanh toán và mở tài khoản thanh toán đã được đơn giản hóa tạo thuận lợi, đảm bảo quyền lợi cho khách hàng giao dịch; chi phí tuân thủ năm 2016 cắt giảm vượt mục tiêu 10% đề ra.
Có thể khẳng định về cơ bản, công tác cải cách thủ tục hành chính (TTHC), kiểm soát TTHC thực hiện tại NHNN trong thời gian qua đã góp phần nâng cao chất lượng các quy định TTHC, tạo sự đồng bộ trong hệ thống quy định hành chính của NHNN, giúp cho TCTD, người dân và doanh nghiệp giảm thời gian và chi phi khi thực hiện TTHC.
Không chỉ vậy, NHNN cũng thường xuyên quan tâm chỉ đạo các TCTD cải cách, đổi mới về thủ tục cho vay, dịch vụ nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân tiếp cận sản phẩm, dịch vụ ngân hàng.
Hiện hầu hết các ngân hàng đã công bố công khai trên Trang tin điện tử các thông tin về các hồ sơ tín dụng, dịch vụ; lãi suất, phí dịch vụ; quy định tiêu chuẩn chất lượng (thời gian, mức độ hài lòng) đối với các dịch vụ…
Các TCTD cũng đẩy mạnh công tác CCHC, cải tiến các quy trình cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khách hàng, như: Rà soát, cắt giảm giấy tờ, thủ tục cho vay nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc an toàn vốn. Theo đó, thời gian, số lần giao dịch, giấy tờ cần cung cấp của khách hàng đã giảm 20-40%; một số quy trình/sản phẩm dịch vụ đã giảm 42% số lượng bản gốc mẫu biểu, giảm 45% số lượng chữ ký khách hàng và 48% số lượng chữ ký cán bộ ngân hàng trên hồ sơ.
Đồng thời các TCTD cũng cải tiến, tối ưu hóa, quy trình cung cấp dịch vụ thông qua việc ứng dụng công nghệ hiện đại như Internet Banking, Mobile Banking… Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quy trình cung cấp sản phẩm giúp khách hàng tiết kiệm chi phí, rút ngắn thời gian chờ đợi; trong đó giảm 70-75% thời gian đăng ký do khách hàng thực hiện trực tuyến, tiết kiệm chi phí giấy tờ, tiền bạc khoảng 45.000-50.000 đồng.
Bên cạnh cải cách TTHC, công tác cải cách tổ chức bộ máy và xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức cũng được quyết liệt thực hiện. Theo đó, NHNN đã tiến hành rà soát, sắp xếp tổ chức, bộ máy các đơn vị phù hợp với quy định mới theo nguyên tắc gọn nhẹ, tránh chồng chéo, đảm bảo cho việc triển khai nhiệm vụ từ Trung ương đến địa phương được thông suốt, hiệu quả.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức luôn được quan tâm và thực hiện theo đúng kế hoạch đề ra. Công tác đào tạo, quy hoạch và luân chuyển cán bộ được tăng cường không chỉ trong hệ thống NHNN mà còn triển khai tại các TCTD nhằm phát huy tối đa năng lực của cán bộ trẻ và tạo ra động lực, nhân tố mới có tính đột phá trong thực hiện nhiệm vụ của Ngành.
Đặc biệt, triển khai Danh mục vị trí việc làm được Bộ Nội vụ phê duyệt, toàn bộ các đơn vị, Vụ, Cục tại trụ sở chính NHNN (19/19 đơn vị) và NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố (63/63 chi nhánh) đã xây dựng và được Thống đốc phê duyệt Đề án danh mục vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức. Đề án vị trí việc làm được thực hiện tại các đơn vị đã giúp cho công tác phân bổ biên chế đảm bảo linh hoạt, hiệu quả; thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức bộ máy tinh gọn, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng lao động.
NHNN cũng đã ban hành Quyết định số 1162/QĐ-NHNN về việc phê duyệt Đề án tinh giản biên chế của NHNN giai đoạn 2016-2021. Theo Đề án của NHNN đã phê duyệt, đến năm 2021, NHNN sẽ giảm 10% biên chế được giao; đối với đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu sự nghiệp, khuyến khích đẩy mạnh chuyển đổi thêm 10% số lượng viên chức sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thay thế nguồn trả lương từ ngân sách Nhà nước bằng việc trả lương từ nguồn thu sự nghiệp...
Công tác cải cách tài chính công của NHNN đã đạt được nhiều kết quả tích cực, đảm bảo tính ổn định, hiệu quả, an toàn về vốn và tài sản, tăng cường đáng kể cơ sở vật chất quan trọng cho Ngành. Trong đó, NHNN đã phân cấp mạnh hơn cho Thủ trưởng đơn vị trong công tác đầu tư, mua sắm tài sản công; giao cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho 06 trên tổng số 07 đơn vị sự nghiệp công lập thuộc NHNN.
Thời gian qua, NHNN đã triển khai nhiều giải pháp kỹ thuật mới, vận hành và sử dụng đồng bộ các hệ thống phần mềm quản lý văn bản và điều hành, hệ thống thông tin theo mô hình tập trung từ Trung ương đến địa phương. Cụ thể, từ năm 2016, NHNN đã triển khai trong toàn hệ thống tới toàn bộ công chức phần mềm hệ thống thông tin quản lý văn bản và điều hành với nhiều cải tiến và tính năng, tiện ích.
Việc hoàn thành và triển khai phần mềm Hệ thống văn bản điện tử đã góp phần thúc đẩy cải cách nội bộ trong hệ thống NHNN, nâng cao hiệu quả, chất lượng công việc, cung cấp công cụ hữu hiệu để kiểm tra, giám sát quá trình thực thi công việc của công chức, đơn vị và cắt giảm chi phí hành chính thông qua việc giảm giấy tờ, chi phí in ấn.
Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục hoàn thiện quy định về cơ chế một cửa, đáp ứng yêu cầu thực tiễn giải quyết TTHC tại NHNN. Những quy định cụ thể về triển khai cơ chế một cửa tại NHNN đã góp phần cải cách TTHC, nâng cao hiệu quả công tác giải quyết TTHC đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch, đúng thời hạn, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong các giao dịch hành chính với NHNN.
Đặc biệt, NHNN đã khẩn trương xây dựng, ban hành Kế hoạch triển khai Chính phủ điện tử tại NHNN (Quyết định 1a/QĐ-NHNN ngày 4/01/2016). Kết quả 1 năm triển khai, đến nay, NHNN đã đã hoàn thành kế hoạch nâng cấp các dịch vụ công trực tuyến năm 2016 theo kế hoạch; hạ tầng CNTT và các nền tảng công nghệ để triển khai dịch vụ công đều sẵn sàng để vận hành các hạng mục nghiệp vụ thuộc cấu trúc Chính phủ điện tử của NHNN; hoàn thành việc nâng cấp hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thực hiện các nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước của người dân qua mạng…
Với mục tiêu tiếp tục đẩy mạnh CCHC góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020 thực hiện Nghị quyết số 19-2017/NQ/CP của Chính phủ, NHNN đã ban hành kế hoạch CCHC giai đoạn 2016-2020 và ban hành kế hoạch cụ thể năm 2017. Theo đó, đối với các đơn vị trong hệ thống NHNN sẽ tăng cường chỉ đạo, điều hành CCHC.
Cụ thể, thủ trưởng các đơn vị trong toàn ngành tiếp tục quán triệt và xác định công tác CCHC, cải cách TTHC là nhiệm vụ hết sức quan trọng, cấp bách là giải pháp chủ yếu để cải thiện, nâng cao hiệu quả, chất lượng công việc của đơn vị, nâng cao vị thế, uy tín của cơ quan nhà nước. Kết quả cải cách hành chính là tiêu chuẩn quan trọng đánh giá hoàn thành nhiệm vụ hàng năm đối với tập thể đơn vị và cá nhân người đứng đầu đơn vị.
Bên cạnh đó, căn cứ chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2016-2020 và kế hoạch CCHC hàng năm của NHNN, các đơn vị phải cụ thể hóa, ban hành kế hoạch triển khai của đơn vị và tổ chức triển khai quyết liệt, hiệu quả.
Liên quan đến lĩnh vực cải cách thể chế, NHNN sẽ tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách về tiền tệ, hoạt động ngân hàng, ngoại hối, trọng tâm là hoàn thành các văn bản pháp luật về xử lý nợ xấu.
Đồng thời tiếp tục nâng cao chất lượng công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật; đổi mới và đa dạng hoá các phương pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật; tăng cường công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật của NHNN. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, công tác xử lý sau thanh tra việc thực hiện chính sách pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của NHNN.
Về cải cách TTHC, sẽ kiểm soát chặt chẽ các TTHC ngay từ khi xây dựng văn bản, đảm bảo các quy định TTHC đơn giản, hiện đại, hiệu quả, minh bạch và tiết giảm tối đa chi phí thực hiện cho tổ chức, cá nhân; tăng cường ứng dụng CNTT trong việc thực hiện TTHC.
Song song với đó sẽ tăng cường công tác kiểm tra tại các đơn vị thuộc NHNN về tình hình thực hiện, giải quyết TTHC thuộc phạm vi chức năng quản lý để nâng cao tính minh bạch, hiệu quả, ý thức của công chức làm công tác giải quyết TTHC; xử lý kịp thời và công bố công khai trên trang tin điện tử các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức đối với quy định hành chính theo quy định của NHNN.
NHNN cũng sẽ đẩy mạnh cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức; tiếp tục cải cách tài chính công cũng như tiếp tục đẩy mạnh hiện đại hóa trong hoạt động hành chính…
Đối với các TCTD, NHNN yêu cầu xây dựng, triển khai kế hoạch thanh toán không dùng tiền mặt theo Quyết định 2545/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016-2020 và kế hoạch triển khai số 637/QĐ-NHNN của NHNN.
Đồng thời xây dựng, triển khai kế hoạch thực hiện Quyết định số 259/QĐ-NHNN ngày 28/02/2017 của NHNN về việc ban hành chương trình hành động của ngành Ngân hàng góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020 thực hiện Nghị quyết số 19-2017/NQ/CP của Chính phủ…
Đặc biệt, các TCTD phải hHoàn thành kế hoạch đơn giản hóa các thủ tục cấp tín dụng và các thủ tục cung ứng dịch vụ khác; hoàn thành việc áp dụng theo hình thức một cửa đối với các dịch vụ như gửi tiết kiệm, quy trình dịch vụ chuyển tiền, kiều hối, dịch vụ thẻ, dịch vụ tiền mặt và các dịch vụ phi tín dụng khác. Đồng thời phải thực hiện các quy định về an toàn, bảo mật hệ thống CNTT trong hoạt động ngân hàng. (An Ninh Tiền Tệ 31/5) đầu trang(
Chỉ số cải cách hành chính (CCHC) của Bộ Tư pháp năm 2016 vươn lên đứng thứ 6 so với vị trí thứ 9 trong năm 2015 với 82,90% và đứng trong nhóm thứ nhất gồm 9 bộ, cơ quan ngang bộ đạt chỉ số cao.
Hôm qua (30/5), Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hoà Bình đã chủ trì cuộc họp trực tuyến toàn quốc sơ kết công tác CCHC 6 tháng đầu năm 2017 và công bố Chỉ số CCHC các bộ, ngành, địa phương (PAR INDEX 2016).
Theo công bố kết quả xác định Chỉ số CCHC năm 2016 của các bộ, ngành, địa phương do Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Phó trưởng Ban Chỉ đạo CCHC của Chính phủ Nguyễn Trọng Thừa cho biết, về kết quả Chỉ số CCHC năm 2016 của các bộ chia thành 2 nhóm. Nhóm thứ nhất đạt kết quả Chỉ số CCHC trên 80% gồm 9 bộ: Ngân hàng Nhà nước; Bộ Tài chính; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Giao thông Vận tải; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Tư pháp; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Ngoại giao; Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Nhóm thứ 2, đạt kết quả Chỉ số CCHC từ trên 70% đến dưới 80%, gồm 10 bộ: Bộ Nội vụ; Bộ Y tế; Bộ Công Thương; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Xây dựng; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Ủy ban Dân tộc; Thanh tra Chính phủ; Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
Thống kê, giá trị trung bình Chỉ số CCHC của 19 bộ, cơ quan ngang bộ đạt được 80,94% (không có bộ nào dưới 70%). Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đạt Chỉ số CCHC năm 2016 cao nhất với 92,68%. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có kết quả thấp nhất với 71,91%. Khoảng cách Chỉ số CCHC giữa các bộ đạt Chỉ số cao nhất với Bộ đạt Chỉ số thấp nhất khá lớn với 20,77%.
Thứ trưởng Nguyễn Trọng Thừa cũng cho biết, hai lĩnh vực: Lĩnh vực cải cách bộ máy hành chính nhà nước và lĩnh vực các tài chính công đạt giá trị trung bình trên 90%. Tuy vậy, Lĩnh vực Hiện đại hóa hành chính có kết quả thấp nhất trong 8 lĩnh vực của Chỉ số CCHC, với giá trị trung bình 61,15%. “Qua con số thấp trên đã chỉ ra những bất cập, hạn chế của các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành cũng như cung cấp dịch vụ công trực tuyến”, Thứ trưởng Thừa nói.
Đối với Chỉ số CCHC năm 2016 của các tỉnh, TP có giá trị trung bình đạt 74,64%, trong đó có 30/63 đơn vị đạt kết quả trên  giá trị trung bình. Đà Nẵng tiếp tục là địa phương đứng đầu bảng xếp hạng với Chỉ số đạt được là 90,32% và cũng là địa phương duy nhất có kết quả Chỉ số thuộc nhóm A. Hậu Giang là địa phương có Chỉ số CCHC cuối bảng xếp hạng (thấp hơn 27,77% so với Đà Nẵng). Trong 8 lĩnh vực Bộ Nội vụ đánh giá, cho thấy cải cách tổ chức bộ máy có giá trị trung bình cao nhất, đạt 91,51% và lĩnh lực hiện đại hóa hành chính có giá trị trung bình thấp nhất, chỉ đạt 37,11%.
Báo cáo sơ kết CCHC 6 tháng đầu năm 2017 của Ban Chỉ đạo CCHC của Chính phủ cho biết, thực hiện chính sách tinh giản biên chế, trong 6 tháng đầu năm đã có thêm 5.062 người được giải quyết tinh giản, nâng tổng số đối tượng được giải quyết tinh giản từ đầu năm 2015 đến nay là 22.673 người. Trong đó, các cơ quan của Đảng, đoàn thể là 944 người; các cơ quan hành chính là 2.824 người; các đơn vị sự nghiệp công lập là 14.791 người; cán bộ, công chức cấp xã là 4.086 người; doanh nhiệp nhà nước 122 người.
Phát biểu tại hội nghị, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình đánh giá cao nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương trong công tác CCHC để tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh cho người dân. Phó Thủ tướng cho biết: “Theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới về Môi trường kinh doanh năm 2017, xếp hạng Việt Nam tăng 9 bậc (từ vị trí 91/189 lên 82/190) với nhiều chỉ số tăng hạng mạnh; trong đó có chỉ số bảo vệ nhà đầu tư tăng hạng nhiều nhất với 31 bậc (từ 118 lên vị trí 87); giao dịch thương mại qua biên giới đạt mức tăng 15 bậc (từ vị trí 108 lên vị trí 93); nộp thuế và BHXH tăng 11 bậc, thời gian được rút ngắn 230 giờ (từ 770 giờ xuống còn 540 giờ); tiếp cận điện năng cải thiện 5 bậc do thời gian rút ngắn còn 46 ngày (năm ngoái là 59 ngày)”.
Tuy nhiên, Phó Thủ tướng cho biết, bên cạnh những kểt quả tích cực đạt được, còn những hạn chế, yếu kém trong công tác CCHC thời gian qua. “Thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực tuy đã được cải cách nhưng vẫn còn rườm rà, bất cập, gây khó khăn cho doanh nghiệp, nhất là những quy định liên quan đến kiểm tra chuyên ngành; việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính chưa đồng bộ; triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 ở nhiều nơi còn mang tính hình thức, chưa thực sự mang lại lợi ích cho người dân, doanh nghiệp”, Phó Thủ tướng lưu ý.  (Pháp Luật Việt Nam 31/5) đầu trang(

KINH TẾ
Theo Tổng cục Hải quan, tính đến hết tháng 5/2017, Việt Nam nhập siêu gần 2,7 tỷ USD, bằng 1,7% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Cán cân thương mại hàng hóa trong tháng 5 ước tính thâm hụt 800 triệu USD, bằng 4,7% kim ngạch xuất khẩu trong tháng.
Trong tháng 5, tổng trị giá xuất nhập khẩu ước đạt 35,2 tỷ USD, tăng 0,9% so với tháng trước; trong đó, tổng trị giá xuất khẩu ước đạt 17,2 tỷ USD, giảm 1,9% và tổng trị giá nhập khẩu ước đạt 18 tỷ USD, tăng 3,7% so với tháng trước. Năm tháng đầu năm 2017, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa ước đạt 161,28 tỷ USD, tăng 20,7% so với cùng kỳ 2016; trong đó, tổng trị giá xuất khẩu ước đạt 79,3 tỷ USD, tăng 17,4%; tổng trị giá nhập khẩu ước đạt 82 tỷ USD, tăng 23,9% so với cùng kỳ 2016.
Về xuất khẩu, tháng 5, nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện ước tính trị giá là 3,9 tỷ USD, giảm 11% so với tháng trước. Ước tính đến hết tháng 5, trị giá đạt 16,05 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ 2016. Về nhập khẩu, nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng ước tính trị giá đạt 3,4 tỷ USD, giảm 1,2% so với tháng trước. Ước tính đến hết tháng 5/2017, trị giá đạt gần 15 tỷ USD, tăng 38,8% so với cùng kỳ 2016. (Đầu Thầu 31/5) đầu trang(
Tại Hội thảo “Đổi mới doanh nghiệp nhà nước và phát triển kinh tế tư nhân” được tổ chức ngày 30-5-2017, các chuyên gia cho rằng cần phải nhanh chóng xóa bỏ các rào cản để tạo động lực cho kinh tế tư nhân phát triển.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và lãnh đạo tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp quan trọng về phát triển kinh tế trong đó chú trọng vấn đề cơ cấu lại, đổi mới, nâng cao hiệu quả DNNN và về khuyến khích và tạo điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển.
Về cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN, năm 2001, tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TW “Về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN”.
Tiếp đó, qua các kỳ Đại hội, Đảng đã có nhiều nghị quyết, kết luận bổ sung và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Cụ thể, từ chỗ cả nước có hơn 12.000 DN 100% vốn nhà nước, đến năm 2001 giảm xuống còn 5.655 DN 100% vốn nhà nước và đến thời điểm tháng 10/2016 chỉ còn 718 DN 100% vốn nhà nước.
Tuy nhiên, theo TS. Phạm Minh Điển, Phó vụ trưởng Vụ Kinh tế tổng hợp, Ban Kinh tế Trung ương, đến nay DNNN vẫn chưa thực hiện được vai trò là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, chưa thực hiện được nhiệm vụ dẫn dắt, tạo động lực phát triển đối với nền kinh tế.
Nhìn chung, hiệu quả kinh doanh và đóng góp của phần lớn DNNN còn thấp, chưa tương xứng với nguồn lực Nhà nước đầu tư. Nhiều DNNN làm ăn thua lỗ, thất thoát, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực v.v.
Về khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, năm 2002, tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX,  Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”.
Tiếp đó Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và lãnh đạo tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp quan trọng về khuyến khích và tạo điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển. Kết quả là kinh tế tư nhân ngày càng đóng góp lớn hơn trong cơ cấu lại nền kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước (Tỷ trọng trong GDP của khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm cả kinh tế cá thể duy trì ổn định khoảng 39 - 40%), tạo việc làm, bảo đảm an sinh xã hội. Đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh, số lượng DN của tư nhân tăng nhanh với nhiều loại hình đa dạng; phong trào khởi nghiệp được đẩy mạnh.
Tuy nhiên, theo đánh giá của đại diện Ban Kinh tế Trung ương, tốc độ tăng trưởng của kinh tế tư nhân có xu hướng giảm trong những năm gần đây. Theo đó, năng lực nội tại của kinh tế tư nhân nhìn chung còn thấp,chủ yếu vẫn là kinh tế hộ, cá thể, trình độ công nghệ thấp và chậm đổi mới; trình độ quản trị, năng lực tài chính, năng suất lao động, hiệu quả kinh doanh, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh còn yếu.
Bên cạnh đó, khả năng liên kết với các thành phần kinh tế khác và tham gia chuỗi giá trị sản xuất trong nước, khu vực và toàn cầu còn nhiều hạn chế. Tình trạng gian lận thương mại, cạnh tranh không lành mạnh, gây ô nhiễm môi trường, không bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm vv… còn diễn biến phức tạp.
Xuất phát từ thực tiễn này, tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (diễn ra tại Hà Nội từ ngày 05 đến 11 tháng 5 năm 2017), Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất và nhất trí cao ban hành ba Nghị quyết quan trọng về kinh tế, trong đó có Nghị quyết về: “Tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN”, Nghị quyết về “Phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Về vấn đề đổi mới DNNN, để khắc phục những “lỗ hổng” nhằm nâng cao hiệu quả của công tác cổ phần hóa DNNN, theo TS. Lê Anh Duy, Trường Đại học Sài Gòn, trong thời gian tới, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó thứ nhất là phải khẩn trương soạn thảo, ban hành Luật Thúc đẩy cổ phần hóa DNNN và thoái vốn nhà nước khỏi DN.
Thứ hai, cần quy trách nhiệm người đứng đầu trong công tác cổ phần hóa, kiên quyết xử lý khi có biểu hiện chần chừ, không hoàn thành nhiệm vụ. Thứ ba, TS. Lê Anh Duy nhấn mạnh cần làm tốt công tác định giá DNNN trước cổ phần hóa và cuối cùng cần sớm thành lập Ủy ban Quản lý, Giám sát vốn nhà nước tại DN.
Đối với phát triển kinh tế tư nhân, theo TS. Trần Thị Hồng Minh, Cục trưởng Cục Quản lý Đăng ký Kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2016, số DN đăng ký thành lập mới đạt kỷ lục là 110.100 DN, tăng 16,2% so với năm 2015. Sự khởi sắc này là một trong những dẫn chứng thực tế nhất cho thấy hiệu quả và tác động tích cực của công cuộc cải cách môi trường kinh doanh nói chung, cải cách đăng ký kinh doanh nói riêng đối với sự phát triển của cộng đồng DN.
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm sáng trong bức tranh DN năm 2016, thì cũng nhận thấy một số bất cập, đó là: số lượng DN giải thể, ngừng kinh doanh có thời hạn trong năm 2016 tăng so với cùng kỳ năm 2015 (12.373 DN giải thể, tăng 30,7%; 19.995 DN đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 27,8%). Trong đó, hầu hết các ngành đều có số DN giải thể tăng so với cùng kỳ năm trước.
“Điều này cho thấy, bên cạnh các điều kiện thuận lợi của khung khổ chính sách mới và những cơ hội mở ra trong thời kỳ đất nước hội nhập, thì những hạn chế cố hữu chưa được giải quyết triệt để, như: vay vốn, lãi suất, nhân lực, chi phí không chính thức... vẫn là rào cản gây khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN trong nước”, TS. Trần Thị Hồng Minh khẳng định.
TS Minh cũng cho rằng, để thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển thì chỉ riêng nỗ lực của cơ quan đăng ký kinh doanh trong việc tạo thuận lợi cho DN khi gia nhập thị trường thôi thì chưa đủ, mà còn cần có sự chung tay của các cơ quan quản lý nhà nước, các địa phương trong việc cải thiện môi trường, đầu tư kinh doanh.
Theo đó, để tạo điều kiện cho DN phát triển tốt sau đăng ký kinh doanh, TS. Trần Thị Hồng Minh cho rằng chính quyền các cấp từ Trung ương tới địa phương cần tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý, tạo thuận lợi cho DN theo tinh thần Nghị quyết số 19/2016/NQ-CP, đồng thời các bộ chuyên ngành phải tiếp tục rà soát, đánh giá các quy định về điều kiện kinh doanh; đề xuất sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Luật Đầu tư năm 2014 để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất với quy định tại Luật Đầu tư năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2014; bãi bỏ quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh ban hành trái thẩm quyền… (Hải Quan 30/5) đầu trang(

MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
Theo TS Nguyễn Ngọc Ân - Phó Chủ tịch CĐ Giáo dục VN - từ khi Bộ trưởng Bộ GDĐT phát động thi đua trong toàn ngành với chủ đề “Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học” vào đầu năm học 2016 - 2017, CĐ Giáo dục VN đã phối hợp với Bộ GDĐT chỉ đạo tuyên truyền về trách nhiệm đổi mới, sáng tạo của đội ngũ nhà giáo, người lao động (NGNLĐ) trong các cơ sở giáo dục, các trường học.
Một trong những giảng viên có nhiều sáng tạo là PGS-TS Ngô Tử Thành (Viện Sư phạm kỹ thuật, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội) với phương pháp dạy học đảo ngược. Theo PGS-TS Ngô Tử Thành, theo mô hình giáo dục truyền thống, sinh viên (SV) đến lớp nghe giảng, về nhà làm bài tập và tất cả SV trong một lớp phải tuân theo lịch học chung. Tuy nhiên, khai thác công nghệ thông tin truyền thông (ICT), giảng viên có thể thu video clip bài giảng gửi cho SV. SV tự học ở nhà qua video clip hoặc e-learning, tìm hiểu bài giảng qua phương tiện nghe nhìn; trong thời gian đến lớp thay vì nghe giảng viên giảng bài, SV sẽ thảo luận, làm các bài tập khó theo hướng dẫn của giảng viên.
Theo đánh giá của nhiều giảng viên và SV, đây là phương pháp dạy và học mới, tạo được tâm thế chủ động trong học tập cho SV; giúp SV học tập đạt chất lượng cao hơn. Ngoài thời gian trên lớp, qua video clip, lúc nào SV cần, ở bất cứ nơi nào cũng học được bài giảng của giảng viên.
Bên cạnh những cá nhân, nhiều nhóm “Nhà giáo cùng nhau phát triển” được hình thành ở các nhà trường để hỗ trợ lẫn nhau cũng đã tạo được nhiều đổi mới, sáng tạo trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học. Nhóm “Nhà giáo cùng nhau phát triển” thuộc lĩnh vực toán học của Khoa Toán - Tin, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên với giải pháp “Tăng cường năng lực công bố quốc tế” để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, giúp người thầy làm chủ kiến thức trong giảng dạy và hướng dẫn khoa học.
PGS-TS Nguyễn Thị Thu Thủy - Trưởng nhóm (gồm 20 thành viên) này - cho biết, trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, công bố quốc tế là một trong những chỉ số quan trọng nhất cho biết giảng viên đó có tiếp cận và cập nhật những xu thế mới và quan trọng trong ngành của khoa học thế giới hay không; có đủ năng lực để tương tác với các đồng nghiệp quốc tế thông qua ngôn ngữ khoa học hay không?
Với sự say mê công việc và tích cực giúp đỡ nhau, trong năm học 2016-2017, đã có 5 thành viên của nhóm đi hợp tác nghiên cứu, học tập tại Nhật Bản, Đức và một số nước khác; nhóm đã triển khai 1 đề tài do Quỹ Nafosted tài trợ, 2 đề tài khoa học và công nghệ (KHCN) cấp Bộ, 10 đề tài KHCN cấp Đại học Thái Nguyên; từ năm 2010 đến nay có 34 bài báo được đăng trên Tạp chí ISI/Scopus; 4 công trình được thưởng công trình toán học năm 2016 của Chương trình Trọng điểm Quốc gia phát triển Toán học giai đoạn 2010-2020.
Giảng viên có uy tín, say mê nghiên cứu khoa học là tấm gương, là nguồn cảm hứng sáng tạo trong học tập, nghiên cứu khoa học cho SV. “Dưới sự dẫn dắt của thầy cô, đã có nhiều SV của trường đoạt giải thưởng SV nghiên cứu khoa học toàn quốc; nhiều học viên đã có những sáng kiến kinh nghiệm đặc sắc phục vụ hiệu quả cho công tác chuyên môn” - PGS-TS Nguyễn Thị Thu Thủy chia sẻ.
Để các đơn vị triển khai, thực hiện tốt phong trào thi đua “Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học”, kinh nghiệm của CĐ Giáo dục Hà Nội và CĐ Giáo dục Nghệ An là CĐ các cấp cần phối hợp chặt chẽ với chuyên môn đồng cấp.
Về vấn đề này, ông Trần Văn Kỷ - Chủ tịch CĐ Giáo dục Nghệ An - cho biết, 100% CĐCS đã phối hợp với chuyên môn tổ chức phát động, triển khai các nội dung thi đua năm học 2016-2017 theo kế hoạch của Sở GDĐT và CĐ Giáo dục Nghệ An đến cán bộ quản lý, NGNLĐ, các tập thể và cá nhân ngay từ đầu năm học 2016-2017; đồng thời cụ thể hóa nội dung thi đua thành những tiêu chí cụ thể phù hợp với đơn vị. Các CĐCS đã tổ chức cho toàn thể cán bộ, NGNLĐ và các tập thể đăng ký thi đua trong năm học 2016-2017; kết quả, đã có 13.139 giải pháp, trong đó các cá nhân có 12.263 giải pháp, nhóm “Nhà giáo cùng nhau phát triển” có 876 giải pháp. Một số giải pháp đổi mới đã và đang thực hiện đạt hiệu quả.
Chia sẻ kinh nghiệm triển khai thực hiện phong trào thi đua “Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học”, bà Trần Thu Hà - Chủ tịch CĐ Giáo dục Hà Nội - cho hay, ngay từ đầu năm học 2016-2017, CĐ Giáo dục Hà Nội đã phối hợp với Sở GDĐT TP.Hà Nội xây dựng kế hoạch triển khai phong trào thi đua năm học 2016-2017 với chủ đề “Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học” hướng tới tổng kết 10 năm thực hiện cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” giai đoạn 2007-2017; thành lập Ban Chỉ đạo ngành và thường xuyên kiểm tra, giám sát, tọa đàm rút kinh nghiệm việc thực hiện phong trào.
Đặc biệt, CĐ Giáo dục Hà Nội đã phối hợp với Sở GDĐT TP.Hà Nội triển khai giải thưởng “Nhà giáo Hà Nội tâm huyết sáng tạo” năm học 2016-2017; qua đó sẽ lựa chọn tôn vinh 50 nhà giáo đoạt giải thưởng (mỗi giải 10 triệu đồng) và trao quà, chứng nhận cho 50 nhà giáo được vào vòng Chung khảo (mỗi nhà giáo một phần quà và 2 triệu đồng). Giải thưởng được xây dựng với mục đích khẳng định, tôn vinh những nhà giáo Hà Nội có đóng góp xuất sắc trong phong trào thi đua “Đổi mới sáng tạo trong dạy và học” của toàn ngành từ năm học 2016-2017. (Lao Động 31/5) đầu trang(

BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
“Lãng phí cũng là tội ác”, đây không còn là câu nói cảnh báo nữa, mà đã thực sự trở thành một khẳng định trong đời sống thực tế. Tiếp theo loạt bài “Lãng phí cũng là tội ác”, trong bài viết này xin được bàn đến sự lãng phí trong đầu tư thiết bị y tế tại các bệnh viện.
Nhưng trước hết hãy nói về “viên thuốc chữa bệnh”, tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XIV, có đại biểu băn khoăn giá một lọ thuốc là 10 triệu đồng nơi này, song cùng lọ thuốc ấy lại có giá ở nơi khác là 40 triệu đồng. Giá chênh lệch vậy cũng chẳng sao. Vậy vì sao giá một lọ thuốc lại có sự chênh lệch cao như vậy.
Rõ ràng là có sự lơ là trong giám sát đấu giá. Mà đường đi của sự đấu giá này, không phải là mới mẻ gì. Người dân biết; cơ quan quản lý cũng biết. Vậy mà nó vẫn tồn tại, để cuối cùng lại đặt gánh nặng lên vai người bệnh. Các cụ có câu “có bệnh thì vái tứ phương”, có bệnh thì vẫn phải dùng thuốc, mà càng thuốc đặc trị thì giá cả càng nhẩy múa.
Tất nhiên đằng sau sự “nhẩy múa” này là khoản “hoa hồng” kếch xù của những chữ ký. Về nghệ thuật cho sự “nhẩy múa” này xin mời cứ xem phim “nơi ẩn nấp bình yên” đang chiếu trên VTV thì thấy người ta chẳng từ một thủ đoạn nào để có được một chữ ký trong hợp đồng cung cấp thuốc và thiết bị y tế cho các bệnh viện.
Người viết bài này vừa được biết có một tờ báo, trước thực trạng giá in, giá giấy tăng vù vù, để tồn tại bắt buộc phải thông cảm với bạn đọc để tăng giá bán báo. Ấy vậy mà phải làm bao nhiêu công văn, tờ trình xin tỉnh, xin Sở Tài chính…Những cơ quan này có chấp nhận mới được tăng. Vậy giá của những viên thuốc, những thiết bị y tế bất thường như vậy, ai cho phép?
Đó là một câu hỏi. Còn câu hỏi nữa, cũng trong kỳ họp Quốc hội lần này, Kiểm toán Nhà nước đã tổng hợp kết quả báo cáo Quốc hội các nội dung về quyết toán Ngân sách Nhà nước năm 2015 trên nhiều lĩnh vực.Trong đó chuyên đề công tác đầu tư, mua sắm, quản lý và sử dụng trang thiết bị y tế (TTBYT) năm 2015, Kiểm toán Nhà nước đã phát hiện nhiều sai phạm.
Cụ thể, theo Kiểm toán Nhà nước, Bộ Y tế cũng như hầu hết các địa phương được kiểm toán chưa xây dựng kế hoạch trung hạn và kế hoạch dài hạn về đầu tư mua sắm TTBYT để làm căn cứ xác định nhu cầu mua sắm trang thiết bị hàng năm.
Về công tác đấu thầu, chưa ban hành các văn bản quy định cụ thể về đấu thầu TTBYT, đặc biệt là công tác xây dựng, phê duyệt kế hoạch đấu thầu mua sắm hóa chất, vật tư tiêu hao còn nhiều bất cập như: Chưa phân nhóm vật tư, hóa chất theo chủng loại, tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp với loại dịch vụ y tế; chưa xây dựng bộ dữ liệu giá trúng thầu của các mặt hàng hóa chất, vật tư tiêu hao trong cả nước để cung cấp cho các cơ sở y tế căn cứ xây dựng giá kế hoạch.
Chính vì vậy, Kiểm toán Nhà nước phát hiện, việc phê duyệt giá kế hoạch giữa các bệnh viện hầu hết là khác nhau cho một loại vật tư, hóa chất của cùng một nhà cung cấp và có sự chênh lệch rất lớn giữa giá được phê duyệt cao nhất và thấp nhất.
Trong đó, một số vật tư có loại gấp 6,7 lần như 1 cái kim cánh bướm tại Bệnh viện Việt Đức 1.090 đồng thì ở Bệnh viện Chợ Rẫy 7.350 đồng; có loại gấp 4,8 lần như 1 dây truyền huyết thanh tại Bệnh viện Bạch Mai 3.675 đồng nhưng Bệnh viên Hữu Nghị Việt Đức lên tới 18.000 đồng. Rồi hàng loạt các loại hóa chất khác nữa đều có sự chênh lệch từ 3 đến 6 lần tại các bệnh viện.
Chuyện lạ hơn nữa là hàng loạt thiết bị y tế được các bệnh viện mua sắm chưa sử dụng đã hỏng, hoặc có những thiết bị mua về hàng tỷ đồng, nhưng cất kho không sử dụng một lần. Như vậy rõ ràng có chuyện một số đơn vị sử dụng TTBYT kém hiệu quả do xác định nhu cầu mua sắm chưa phù hợp với điều kiện cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực tại cơ sở.
Trong đó có rất nhiều bệnh viện thuộc loại “tên tuổi”, như: Bệnh viện Lão khoa TW, Bệnh viện Răng Hàm Mặt TW TPHCM, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức, Bệnh viện Mắt TW, Bệnh viện Tai Mũi Họng TW, Bệnh viện Da liễu TW. Theo Kiểm toán Nhà nước, có thể kể ra hàng loạt thiết bị chưa hết thời gian tính hao mòn nhưng đã bị hỏng, không sử dụng được.
Ví như: tại Bệnh viện Đa khoa TW Thái Nguyên, máy theo dõi trẻ em S510 Colin, máy đo độ tập trung tuyến giáp, máy X Quang Tăng sáng Siemens, máy theo dõi nhi khoa; Bệnh viện RHM TW Hà Nội có nồi hấp tiệt trùng; Bệnh viện Nhiệt đới TW có hệ thống tagMan PCR-Roche, hệ thống máy chụp XQ cao tần, hệ thống XQ kỹ thuật số Konica...
Từ kết quả kiểm toán 11 tỉnh, thành phố cho thấy, 1.225 trang thiết bị hỏng hoặc hiệu quả sử dụng thấp với nguyên giá 371,836 tỷ đồng. Có thể kể ra những con số, mặc dù chưa đầy đủ, song cũng đủ đau lòng: Trong đó, trang thiết bị hỏng không khắc phục được 649 thiết bị (68,554 tỷ đồng); hỏng chưa được sửa chữa 120 thiết bị (151,763 tỷ đồng); chưa hoặc ít sử dụng 456 thiết bị (151,519 tỷ đồng)…
Nhìn vào những con số khô khan này, hẳn ai cũng phải đặt câu hỏi: “vì sao lại có chuyện lạ lùng này”? Xin thưa, đằng sau sự lạ lùng đó chính là tội ác của sự lãng phí. Và nếu phân tích thấu đáo hơn ta sẽ thấy sự lãng phí này không chỉ đơn thuần là lãng phí mà nó còn mang hơi hướng của sự tham ô, tham nhũng, và không thể không nhắc đến lợi ích nhóm trong câu chuyện này.
Vậy xử lý tình trạng này như thế nào? Chúng tôi nghĩ rằng, khi đã có kết luận của Kiểm toán Nhà nước, rất cần điều tra lại toàn bộ quá trình đấu giá đối với thuốc chữa bệnh và trang thiết bị y tế. Một ngành được trao cho cái quyền cao quý là giành giật lại sự sống, vốn quý nhất của con người thì không thể có những động thái đi ngược lại sự cao quý đó, chỉ vì “hoa hồng” được sản sinh từ những bản hợp đồng béo bở.
Và khi đã điều tra rõ, thì những tập thể, cá nhân để xảy ra sự lãng phí này, thậm chí là tham nhũng trong trang bị thiết bị y tế phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật theo đúng tinh thần Nghị quyết của Đảng về phòng, chống tham nhũng lãng phí. (Lao Động Thủ Đô 30/5) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Trước thực trạng tham nhũng tràn lan, các doanh nghiệp tại châu Phi tỏ ra bức xúc vì việc kinh doanh của họ bị ảnh hưởng nhiều từ vấn nạn này.
Ông Frank Aboagye Danyansah, Giám đốc Điều hành (CEO) Cty TNHH Bất động sản và Xây dựng Danywise đã lên tiếng chỉ trích các nhà cầm quyền ở châu Phi. Danyansah gọi họ là những người thất bại trong cuộc chiến chống tệ nạn tham nhũng và tạo dựng điều kiện sống tốt cho người dân.
Danyansah cũng cáo buộc một số lãnh đạo của khu vực đã nuôi dưỡng một nền chính trị sắc tộc, cho phép một số ít cá nhân giàu có và có học thức giữ vị trí độc quyền trong hệ thống chính trị.
Trong buổi trò chuyện với Thông tấn xã Ghana ở Thủ đô Accra trong lễ kỷ niệm  Ngày Châu Phi (25/5), ông Danyansah yêu cầu các nhà lãnh đạo châu Phi phải "thức dậy sau giấc ngủ dài".
Cũng theo ông Danyansah, nhà quản lý các nền kinh tế châu Phi đã thất bại trong việc đưa ra các chính sách và chương trình mạnh mẽ để mở ra cơ hội giáo dục cho phần lớn những người mù chữ đang bị liệt vào danh sách đói nghèo.
“Thất bại của các lãnh đạo châu Phi là nguyên nhân dẫn tới các vấn đề của chúng tôi, họ tham gia vào tham nhũng bởi họ không có bất cứ chương trình nghị sự nào để các cử tri hoặc các quốc gia tham dự".
Ông mô tả các cuộc bầu cử ở một số quốc gia như một buổi trình diễn sức mạnh sắc tộc - nơi nhóm sắc tộc nào mạnh hơn, đến từ khu vực nào và quyết định ai sẽ trở thành tổng thống. "Mọi người chỉ bỏ phiếu theo đảng phái, chứ không phải theo năng lực. Thực sự đáng buồn", ông Danyansah nói.
Doanh nhân này cũng nhấn mạnh, một số nhà lãnh đạo đã nhiều lần lừa gạt dân chúng và khiến họ tin rằng mọi thứ đang diễn ra tốt đẹp. “Thực tế là các nền kinh tế của chúng ta chỉ đang phát triển trên... giấy, điều kiện sống của nhiều người dân ở mức tệ hại, cơ hội việc làm không rộng mở, luật pháp không được thực thi và các doanh nghiệp tư nhân đang bị giết chết, chủ yếu do các chính sách tồi tệ gây nên”.
“Các nhà lãnh đạo cần có khả năng xác định được ai là chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau và tận dụng tính chuyên nghiệp, sở trường của họ để thúc đẩy chương trình nghị sự của châu lục này".
“Giáo dục là giải pháp. Ở một đất nước mà 65% người dân mù chữ thì đây là một trở ngại lớn phải vượt qua", Danyansah nói. (Thanh Tra 31/5) đầu trang(
Những người biểu tình trên khắp Tây Ban Nha đã xuống đường để đòi tăng lương, bảo đảm việc làm và chấm dứt nạn tham nhũng.
Cuối tuần qua, người biểu tình từ khắp nơi trên đất nước đã tập trung diễu hành trên con phố chính của Thủ đô Madrid là Gran Via, giơ cao dòng chữ: "Thức ăn, công việc, nhà cửa và bình đẳng".
Cuộc tuần hành diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế Tây Ban Nha đã được cải thiện sau cuộc khủng hoảng nợ từng có, dẫn đến nguy cơ đẩy nền kinh tế lớn thứ ba khu vực đồng Euro (Eurozone) đến bờ vực phá sản.
Hàng chục nghiệp đoàn và nhóm cánh tả đã tham gia cuộc biểu tình. Đây là cuộc biểu tình được tổ chức thường niên kể từ năm 2014.
Các nhà tổ chức ước tính số người tham gia lên tới 200.000 người, trong khi giới chức địa phương cho rằng con số chỉ là 6.000 người. Hãng tin AFP ước tính có hàng chục nghìn người tham gia.
"Chúng tôi muốn cho mọi người thấy không chỉ là sự phẫn nộ mà còn là một sự lựa chọn khác", Alberto Garzon, lãnh đạo liên minh cánh tả cho biết.
"Chúng ta có khả năng xây dựng một giải pháp thay thế nếu chúng ta cùng hoạt động trong một chương trình chung, với những người đến từ mọi phía để đấu tranh chống lại chính sách của Đảng Nhân dân (PP) cầm quyền", ông nói thêm.
Trước đó, ngày 20/5, hàng nghìn người dân Tây Ban Nha cũng đã xuống đường tuần hành tại Madrid nhằm phản đối tình trạng tham nhũng trong Chính phủ do Đảng PP cầm quyền.
Những cải cách về lao động được Chính phủ của Thủ tướng Mariano Rajoy thông qua năm 2012 đã giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế sau một cuộc khủng hoảng trầm trọng.
Tỷ lệ thất nghiệp cũng đã giảm từ 27% hồi đầu năm 2013 xuống còn 18,7% trong quý I năm nay, nhưng vẫn ở nhóm cao nhất trong các nước châu Âu.
Các nhà phê bình cũng cho rằng, nhiều việc làm trong tình trạng bấp bênh, không bảo đảm về vấn đề giờ làm và thường bị trả lương thấp. Mức lương tối thiểu ở Tây Ban Nha là 825 euro (922 USD) mỗi tháng.
Đảng PP lên nắm quyền vào năm 2011, giành được hầu hết các ghế trong cuộc bầu cử được tổ chức vào tháng 12 và tháng 6 nhưng không đạt được đa số phiếu bầu trong cả 2 lần do các cử tri tức giận bởi tình trạng tham nhũng và họ quay sang ủng hộ các đảng phái mới.
Sau 10 tháng bế tắc về chính trị, Thủ tướng Rajoy đã giành được sự tin tưởng trong nghị viện vào tháng 10/2016 để được bổ nhiệm làm lãnh đạo của Tây Ban Nha. (Thanh Tra 30/5) đầu trang(./.