Xem ngày trước
BẢN TIN TỔNG HỢP
Xem ngày kế tiếp

Ngày 01 tháng 06 năm 2017
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
TIÊU ĐIỂM
QUẢN LÝ
NHÂN SỰ MỚI
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
KINH TẾ
PHÁP LUẬT
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
NHÌN RA THẾ GIỚI

CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
Từ ngày 15/6/2017, mức cho vay tối đa đối với học sinh, sinh viên (HSSV) sẽ tăng từ 1,25 triệu đồng/tháng/HSSV lên 1,5 triệu đồng/tháng/HSSV.
Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 751/QĐ-TTg điều chỉnh mức cho vay quy định tại Khoản 1 Điều 5 Quyết định 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Theo đó, mức cho vay tối đa là 1,5 triệu đồng/tháng/HSSV.
Như vậy, so với mức cũ đã áp dụng từ 9/1/2016 thì mức cho vay tối đa đối với HSSV tăng thêm 250.000 đồng/tháng/HSSV.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư cân đối, bố trí cấp đủ nguồn vốn cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội theo quy định.
Ngân hàng Chính sách xã hội có trách nhiệm thực hiện cho vay, giám sát, thu hồi nợ vay theo quy định của pháp luật hiện hành.
Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/6/2017, áp dụng đối với các khoản giải ngân mới kể từ khi Quyết định này có hiệu lực thi hành. (Dân Trí 31/5) đầu trang(
Theo Thông cáo báo chí của Bộ Tư pháp, trong tháng 4/2017, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 22 văn bản quy phạm pháp luật, gồm 18 Nghị định của Chính phủ và 4 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Trong đó, Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản. Nghị định gồm 05 chương, 68 điều, quy định các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính, thẩm quyền xử phạt và thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản.
Nghị định số 35/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước trong Khu kinh tế, Khu công nghệ cao. Nghị định quy định cụ thể về: Xác định tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền thuê mặt nước trong Khu kinh tế; xử lý tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng trong Khu kinh tế; miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuê mặt nước trong Khu kinh tế; thu tiền thuê đất khi chuyển từ thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm sang thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê;...
Nghị định số 37/2017/NĐ-CP ngày 04/4/2017 của Chính phủ về điều kiện kinh doanh khai thác cảng biển. Nghị định được ban hành nhằm triển khai thực hiện khoản 2 Điều 85 của Bộ luật Hàng hải Việt Nam về việc giao Chính phủ quy định điều kiện kinh doanh khai thác cảng biển; đảm bảo phù hợp với các quy định mới về ngành nghề kinh doanh có điều kiện của Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư.
Nghị định số 39/2017/NĐ-CP ngày 04/4/2017 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi, thủy sản. Nghị định được ban hành nhằm khắc phục những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn triển khai thi hành Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 05/2/2010 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi; đảm bảo phù hợp với các luật mới được ban hành, như: Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp…
Nghị định số 40/2017/NĐ-CP ngày 05/4/2017 của Chính phủ về quản lý sản xuất, kinh doanh muối quy định cụ thể: Quản lý nhà nước về muối; quy hoạch đất làm muối; quản lý quy hoạch và quỹ đất làm muối; trách nhiệm của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất làm muối trong quy hoạch; quản lý sản xuất, chế biến, kinh doanh muối; quản lý xuất khẩu, nhập khẩu muối; cân đối cung cầu và điều tiết thị trường muối; chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh muối.
Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính phủ về nhãn hàng hóa. Nghị định gồm 04 chương, 25 điều, quy định nội dung, cách ghi và quản lý nhà nước về nhãn đối với hàng hóa lưu thông tại Việt Nam, hàng hóa nhập khẩu, cụ thể: Vị trí, kích thước nhãn hàng hóa, kích thước của chữ và số trên nhãn; màu sắc của chữ; ký hiệu và hình ảnh; ngôn ngữ trình bày nhãn hàng hóa; ghi nhãn phụ và trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa; nội dung bắt buộc phải thể hiện trên nhãn hàng hóa; tên hàng hóa; tên và địa chỉ tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa; định lượng hàng hóa; ngày sản xuất, hạn sử dụng; xuất xứ hàng hóa; thành phần, thành phần định lượng; thông số kỹ thuật, thông tin cảnh báo;...
Nghị định số 44/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính phủ quy định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được ban hành nhằm triển khai thi hành Luật bảo hiểm xã hội năm 2014, Luật an toàn, vệ sinh lao động năm 2015.
Nghị định số 46/2017/NĐ-CP ngày 21/4/2017 của Chính phủ quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục. Cụ thể, Nghị định quy định về: Thành lập, cho phép thành lập, sáp nhập, chia, tách, giải thể; cho phép hoạt động giáo dục, đình chỉ hoạt động giáo dục đối với: Cơ sở giáo dục mầm non; cơ sở giáo dục phổ thông; cơ sở giáo dục thường xuyên; trường chuyên biệt; trường đại học, học viện; thành lập, cho phép thành lập, sáp nhập, chia, tách, giải thể trường trung cấp sư phạm, trường cao đẳng sư phạm; đăng ký, đăng ký bổ sung hoạt động giáo dục nghề nghiệp đối với nhóm ngành đào tạo giáo viên; cấp, thu hồi, đình chỉ giấy chứng nhận đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp đối với nhóm ngành đào tạo giáo viên trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng;...
Nghị định số 47/2017/NĐ-CP ngày 24/4/2017 của Chính phủ quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang được ban hành nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết số 27/2016/QH14 ngày 11 tháng 11 năm 2016 của Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước năm 2017; góp phần cải thiện đời sống của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.
Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam. Quyết định được ban hành nhằm đảm bảo khai thác hiệu quả nguồn năng lượng điện mặt trời; đảm bảo mục tiêu phát triển điện mặt trời và năng lượng tái tạo tại Việt Nam.
Quyết định số 12/2017/QĐ-TTg ngày 22/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020.
Quyết định được ban hành để triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 (phê duyệt kèm theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ); góp phần quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư của Nhà nước.
Quyết định số 13/2017/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển ban hành kèm theo Quyết định số 66/2014/QĐ-TTg ngày 25/11/2014 của Thủ tướng Chính phủ.
Trong đó, bổ sung Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển gồm: Công nghệ Internet kết nối vạn vật (IoT); công nghệ thực tại ảo (Virtual Reality); công nghệ thực tại tăng cường (Augmented Reality); công nghệ vô tuyến thông minh; công nghệ in 3 chiều (3D). (Báo Chính Phủ 31/5) đầu trang(
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 47/2017/TT-BTC Hướng dẫn hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước đối với các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập thực hiện thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động theo Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 của Chính phủ.
Theo quy định trong Thông tư, cơ sở giáo dục thực hiện kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định hiện hành của pháp luật về quản lý thuế đối với thu nhập từ các hoạt động dịch vụ, các lớp đào tạo ngắn hạn, thu nhập từ lãi tiền gửi ngân hàng. Ngân sách nhà nước cấp kinh phí để hỗ trợ các cho các cơ sở giáo dục tương ứng với số thuế thu nhập doanh nghiệp đã thực nộp vào ngân sách nhà nước.
Các cơ sở giáo dục sử dụng số kinh phí được ngân sách nhà nước cấp để bổ sung Quỹ đầu tư phát triển hoạt động sự nghiệp hoặc lập Quỹ hỗ trợ sinh viên. Nội dung chi, số tiền sử dụng cho từng nội dung do các cơ sở giáo dục quyết định và quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ, bảo đảm phù hợp với hoạt động thực tế của cơ sở.
Trong đó, chi đầu tư phát triển cơ sở bao gồm xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc; phát triển năng lực hoạt động sự nghiệp; áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ; đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho người lao động trong cơ sở giáo dục.
Các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp cũng được dùng ngân sách nhà nước hỗ trợ để góp vốn liên doanh, liên kết với tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để triển khai các hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và các khoản chi khác.
Các cơ sở giáo dục chi lập Quỹ hỗ trợ sinh viên, bao gồm chi học bổng khuyến khích học tập và các hình thức khác; khen thưởng; hỗ trợ thường xuyên hoặc đột xuất khác theo quy định của trường. Cùng với đó là các khoản chi trực tiếp khác cho học sinh, sinh viên (nghiên cứu khoa học, hoạt động phong trào,ngoại khóa…) và hỗ trợ người học.
Việc quản lý, sử dụng, quyết toán các khoản kinh phí được ngân sách nhà nước cấp thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và pháp luật hiện hành.
Từ ngày 1/7/2017, Thông tư 47 có hiệu lực thi hành và áp dụng kể từ kỳ tính thuế năm 2016. (Kinh Tế Và Đô Thị 31/5) đầu trang(
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư số 19/2016/TT-BNNPTNT ngày 27/6/2016 hướng dẫn chi tiết Điều 4 Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13/4/2015 về quản lý sử dụng đất trồng lúa. Trong đó đề xuất nguyên tắc chuyển đổi đất lúa sang trồng cây lâu năm. Cụ thể, dự thảo đề xuất bổ sung nguyên tắc chuyển đổi đất lúa sang trồng cây lâu năm như sau:
1- Chuyển đổi theo vùng tập trung, gọn vùng, gắn với dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất;
2- Khai thác hiệu quả cơ sở hạ tầng sẵn có;
3- Có sự đồng thuận của người dân.
Ủy ban nhân dân cấp xã lập kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa theo mẫu; thông báo tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã chậm nhất vào Quý IV của năm trước.
Dự thảo cũng đề xuất quy định nhằm tăng cường trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ trồng lúa sang trồng cây hàng năm, cây lâu năm hoặc trồng lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản trên đất trồng lúa.
Cụ thể, định kỳ trước ngày 15/6 và trước ngày 15/12 hàng năm, Ủy ban nhân dân cấp huyện tổng hợp báo cáo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kết quả chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa.
Ủy ban nhân dân cấp xã: Xây dựng và công khai kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa của xã; tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện; kiểm tra, giám sát việc chuyển đổi đất trồng lúa của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình trên địa bàn; tiếp nhận Đơn đăng ký chuyển đổi, lập Sổ theo dõi chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa; định kỳ trước ngày 30/5 và trước ngày 30/11 hàng năm, tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện tình hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa. (Báo Chính Phủ 31/5) đầu trang(
Bộ Y tế đang dự thảo Bộ tiêu chí về ứng dụng công nghệ thông tin tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Theo dự thảo, Bộ tiêu chí này bao gồm các tiêu chí áp dụng đối với các cơ sở khám bệnh (KB), chữa bệnh (CB) triển khai hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin nhằm hỗ trợ các hoạt động y tế an toàn, chất lượng, hiệu quả và đem lại sự hài lòng cho người bệnh, người dân và nhân viên y tế.
Tiêu chí theo 5 mức: 1. Cơ sở KB, CB đáp ứng ở mức dưới tối thiểu; 2. Cơ sở KB, CB đáp ứng ở mức tối thiểu; 3. Cơ sở KB, CB đáp ứng ở mức trung bình; 4. Cơ sở KB, CB đáp ứng ở mức khá; 5. Cơ sở KB, CB đáp ứng ở mức xuất sắc hướng tới bệnh viện không giấy tờ.
Bộ tiêu chí này cũng sẽ được áp dụng làm căn cứ trong các hoạt động: Định hướng triển khai hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng kế hoạch, quy hoạch; đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin; đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Theo dự thảo, cơ sở KB, CB đáp ứng ở mức 1 bắt buộc trang bị máy tính đáp ứng 50% tổng số cán bộ/nhân viên; máy in đáp ứng tối thiểu 30% tổng số máy tính; bắt buộc có phần mềm kế toán; bắt buộc quản trị hệ thống, quản lý danh mục dùng chung, quản lý viện phí, thanh toán bảo hiểm y tế…
Bộ Y tế cho biết, hệ thống thông tin của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang hoạt động hoặc triển khai trước ngày quy định này có hiệu lực thi hành cần được rà soát và có lộ trình chuyển đổi, nâng cấp cho phù hợp. (Báo Chính Phủ 31/5) đầu trang(

TIÊU ĐIỂM
Theo Đặc phái viên TTXVN, trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ từ ngày 29-31/5/2017, ngày 31/5, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã tiếp Bộ trưởng Bộ Thương mại Hoa Kỳ Wilbur Ross.
Tại buổi tiếp, Thủ tướng đánh giá cao những sự tăng trưởng vượt bậc, tích cực trong quan hệ thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ trong 20 năm qua; khẳng định Việt Nam luôn thực hiện nghiêm túc các cam kết Hiệp định thương mại song phương và trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Thủ tướng cho rằng quan hệ kinh tế thương mại hai nước còn nhiều tiềm năng để phát triển do hai nước có nền kinh tế bổ sung cho nhau. Việt Nam nhập khẩu nhiều hàng hóa công nghệ cao, dịch vụ từ Hoa Kỳ cũng như các nguyên vật liệu đầu vào cho hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ…
Trên cơ sở quan hệ kinh tế-thương mại-đầu tư cùng có lợi, tạo việc làm và tăng trưởng cho cả hai bên, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị Bộ Thương mại Hoa Kỳ sớm công nhận Quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam, đánh giá khách quan phản ánh đúng bản chất của vấn đề thâm hụt thương mại giữa hai nước, xử lý các vấn đề thương mại giưa hai nước trên cơ sở cơ chế Hiệp định khung về Thương mại Đầu tư (TIFA) cũng như các quy định của WTO, đồng thời mong muốn phía Hoa Kỳ xem xét tạo điều kiện cho sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam như trái cây, thủy sản... tiếp cận thị trường Hoa Kỳ.
Bộ trưởng Wilbur Ross cảm ơn Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã dành thời gian trao đổi về việc hai bên cần tiếp tục tăng cường thương mại tạo việc làm và tăng trưởng cho cả hai bên; khẳng định mục tiêu chung cần tăng trưởng tối đa thương mại hai nước trên cơ sở cân bằng và đôi bên cùng có lợi; ủng hộ quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ phát triển toàn diện và mạnh mẽ hơn nữa.
Bộ trưởng Ross nhất trí hai bên cần khởi động lại cơ chế trao đổi về vấn đề Quy chế thị trường cho Việt Nam. Bộ Thương mại Hoa Kỳ sẽ cùng Bộ Công thương Việt Nam trao đổi những vấn đề trong thương mại hai nước và sẽ cùng các bộ ngành của Việt Nam trao đổi những vấn đề kỹ thuật, nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại giữa hai nước.
Sau buổi tiếp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Bộ trưởng Wilbur Ross đã cùng chứng kiến lễ trao một số văn bản hợp tác thương mại-đầu tư được doanh nghiệp hai bên ký kết trong khuôn khổ chuyến thăm.
Cũng trong ngày 31/5, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã tiếp lãnh đạo một số tập đoàn kinh tế lớn của Hoa Kỳ, bao gồm Công ty ASG, McKinsey, Boeing, General Electrics, Murphy Oil.
Thủ tướng đánh giá cao sự hiệu quả trong những dự án đầu tư của các doanh nghiệp Hoa Kỳ tại Việt Nam và cho biết Chính phủ Việt Nam khuyến khích doanh nghiệp Hoa Kỳ tăng cường đầu tư vào Việt Nam, đồng thời cam kết sẽ tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư-kinh doanh nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có các doanh nghiệp Hoa Kỳ, làm ăn với Việt Nam.
Các doanh nghiệp Hoa Kỳ ủng hộ mạnh mẽ sự phát triển của quan hệ hai nước, hoan nghênh quyết tâm và ủng hộ những giải pháp đã được Chính phủ Việt Nam triển khai trong thời gian qua nhằm tạo môi trường đầu tư-kinh doanh lành mạnh và sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có các doanh nghiệp Hoa Kỳ, đồng thời khẳng định sẽ tiếp tục mở rộng hợp tác và tăng cường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. (Vietnam + 1/6) đầu trang(

QUẢN LÝ
Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng vừa giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ và các cơ quan liên quan nghiên cứu sử dụng cát nhiễm mặn phục vụ xây dựng trong nước; xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật sử dụng cát nhiễm mặn làm vật liệu xây dựng, ban hành hoặc trình ban hành theo quy định.
Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cũng yêu cầu các bộ liên quan và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ các dự án nạo vét, khơi thông luồng có tận thu cát nhiễm mặn để xuất khẩu đang thực hiện. Đồng thời, kịp thời phát hiện, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.  (Đấu Thầu 31/5) đầu trang(
Thủ tướng yêu cầu kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của cán bộ điều tra và kiến nghị kiểm điểm cán bộ kiểm sát, nếu có dấu hiệu vi phạm do thiếu trách nhiệm hoặc cố ý bao che tội phạm phải xử lý nghiêm đúng quy định, báo cáo kết quả lên Thủ tướng Chính phủ.
Ngày 31.5, xét báo cáo của UBND tỉnh Cà Mau về tình hình điều tra, xử lý vụ việc cháu H.M.K tự tử nghi do bị xâm hại tình dục, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Công an, UBND tỉnh Cà Mau chỉ đạo các lực lượng chức năng tập trung điều tra làm rõ thủ phạm để xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Trước đó, các phương tiện thông tin, truyền thông đăng nhiều tin, bài phản ánh vụ việc cháu gái H.M.K, sinh năm 2004, trú tại huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau bị người hàng xóm xâm hại tình dục nhiều lần.
Gia đình cháu K. đã có đơn tố cáo gửi đến Công an tỉnh Cà Mau từ tháng 9.2006. Tuy nhiên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau đã ra quyết định về việc không khởi tố vụ án. Do quá uất ức, ngày 11.2.2017, cháu K. chết do tự tử.
Trước thông tin báo chí phản ánh, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Bộ Công an, UBND tỉnh Cà Mau chỉ đạo các lực lượng chức năng khẩn trương điều tra, làm rõ vụ việc để xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Đồng thời xem xét trách nhiệm của Công an tỉnh Cà Mau trong quá trình điều tra và quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
Trên cơ sở báo cáo của UBND tỉnh Cà Mau về tình hình điều tra, xử lý vụ việc trên, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Công an, UBND tỉnh Cà Mau chỉ đạo các lực lượng chức năng tập trung điều tra làm rõ thủ phạm để xử lý nghiêm minh trước pháp luật; kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của cán bộ điều tra và kiến nghị kiểm điểm cán bộ kiểm sát, nếu có dấu hiệu vi phạm do thiếu trách nhiệm hoặc cố ý bao che tội phạm phải xử lý nghiêm đúng quy định, báo cáo kết quả lên Thủ tướng Chính phủ.
Liên quan đến vấn đề xâm hại tình dục trẻ em, trao đổi bên hành lang Quốc hội chiều 31.5, Đại biểu Nguyễn Hữu Cầu (Nghệ An) cho rằng cần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự theo hướng quy định biện pháp điều tra đặc biệt đối với các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em; chú trọng cách thu thập chứng cứ đối với loại tội phạm này để làm căn cứ vững chắc cho việc xử lý chính xác, kịp thời.
“Nhiều đại biểu nói rằng chúng ta phải bảo vệ bị can, bị cáo theo hướng có lợi nhất cho họ nhưng tôi muốn hỏi ngược lại, ai sẽ là người bảo vệ cho nạn nhân? Đến khi con cháu mình bị xâm hại thì té ngửa ra là không có ai bảo vệ”, ông Cầu nêu quan điểm.
Theo vị này, người phạm tội là số ít, trong khi pháp luật cần bảo vệ số đông. Do đó, các văn bản quy phạm pháp luật phải được ban hành kịp thời và đảm bảo tính nghiêm minh.
Vị này cũng chia sẻ, trong thực tế, nhiều vụ việc, cha mẹ, người giám hộ của trẻ đã gửi đơn tố cáo đến các cơ quan chức năng về việc trẻ em bị xâm hại nhưng việc xử lý còn chậm, thông tin mập mờ khiến gia đình bị hại bức xúc, dư luận phẫn nộ.
“Có những vụ việc kéo dài nhiều năm vẫn chưa có kết luận cuối cùng của cơ quan điều tra. Sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan trong thực hiện phòng, chống bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em và việc giải quyết các vụ việc còn còn thiếu chặt chẽ, chưa hiệu quả”, ông Cầu nói.
Theo đại biểu, hiện nay có 9 cơ quan có trách nhiệm trong công tác phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em. Tuy nhiên, để tránh chồng chéo, lãng phí nguồn lực thì nên giao cho một cơ quan chủ trì làm đầu mối chịu trách nhiệm phối hợp với các cơ quan khác.
Đại biểu Ngô Thị Minh (Quảng Ninh), Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội cho biết, các vụ xâm hại tình dục trẻ em đang có xu hướng gia tăng đến mức báo động. Trong khi đó, việc triển khai, phối hợp giữa các cơ quan liên quan vẫn còn nhiều bất cập.
Theo vị này, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội đã giám sát nội dung này cách đây 5 năm và hiện nay đã phối hợp với Ủy ban Tư pháp của Quốc hội tổ chức phiên họp với các bộ, ngành liên quan về đấu tranh phòng chống tội phạm trong lĩnh vực này. Trong kỳ họp này, Ủy ban đã đề xuất với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện giám sát tối cao việc thực hiện chính sách, pháp luật và phòng chống bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em.
“Sau khi giám sát, Quốc hội cần quyết tâm theo đuổi đến cùng các kiến nghị mới khắc phục, giải quyết vấn đề một cách triệt để”, Đại biểu Ngô Thị Minh nhấn mạnh. (Một Thế Giới 1/6) đầu trang(
Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đồng ý chuyển Xí nghiệp Giao thông xây dựng Cẩm Thủy thành công ty cổ phần Nhà nước không nắm giữ cổ phần.
Phó Thủ tướng giao UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt phương án cổ phần hóa Xí nghiệp Giao thông xây dựng Cẩm Thủy. Đồng thời, rà soát, phân loại đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc đủ điều kiện chuyển thành công ty cổ phần theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 6394/VPCP-ĐMDN ngày 14/8/2015, khẩn trương trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục đơn vị sự nghiệp công lập chuyển thành công ty cổ phần. (Báo Chính Phủ 31/5) đầu trang(
Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ vừa chỉ đạo Bộ Tài chính xuất cấp (không thu tiền) 789,36 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia cho tỉnh Quảng Bình để hỗ trợ cứu đói cho nhân dân trong thời gian giáp hạt đầu năm 2017.
UBND tỉnh Quảng Bình tiếp nhận và sử dụng số gạo được cấp bảo đảm hỗ trợ kịp thời, đúng đối tượng theo quy định.
Trường hợp sau khi thực hiện nếu vẫn còn khó khăn, tỉnh Quảng Bình báo cáo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, tiếp tục hỗ trợ.
Trước đó, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cũng đã chỉ đạo Bộ Tài chính xuất cấp (không thu tiền) 228,315 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia cho tỉnh Phú Yên để hỗ trợ cứu đói cho nhân dân trong thời gian giáp hạt đầu năm 2017. (Báo Chính Phủ 31/5) đầu trang(
Trước thông tin giá cát xây dựng tăng mạnh, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc giao Bộ trưởng Bộ Xây dựng đề xuất giải pháp gấp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Trước đó, báo Người Lao động điện tử ngày 21/5/2017 có đăng bài "Sau 1 tháng, giá cát xây dựng tăng gấp 3 lần". Theo bài báo phản ánh, tại các cửa hàng vật liệu xây dựng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, giá cát xây dựng những ngày qua liên tục "nhảy múa". Sau 1 tháng, giá cát xây dựng tăng gấp 3 lần. Nguồn cát phục vụ công trình xây dựng ở Thành phố Hồ Chí Minh đang thiếu hụt khoảng 30% - 40%.
Về việc này, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Xây dựng đề xuất giải pháp gấp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. (Tin Tức 31/5) đầu trang(
Chính phủ vừa ký quyết định điều chỉnh giảm kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ và bổ sung danh mục, mức vốn các dự án sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ tiếp tục còn dư (chưa phân bổ) giai đoạn 2014 - 2016 của các dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên.
Theo quyết định của Thủ tướng, tiếp tục điều chỉnh giảm 1.349 tỷ đồng vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2014 - 2016 của các dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên tại Quyết định số 1977/QĐ-TTg ngày 14/10/2016 và Quyết định số 2426/QĐ-TTg ngày 12/12/2013.
Cùng đó, Thủ tướng đồng ý bổ sung 1.349 tỷ đồng vốn trái phiếu Chính phủ tiếp tục còn dư (chưa phân bổ) giai đoạn 2014 - 2016 của các dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Giao thông Vận tải khẩn trương rà soát quy mô, thiết kế bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả đầu tư và hoàn thiện các thủ tục đầu tư của các dự án trong danh mục theo quy định hiện hành; đề xuất kịp thời các giải pháp xử lý các khó khăn, vướng mắc, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Bộ Giao thông Vận tải thông báo kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ tiếp tục còn dư (chưa phân bổ) giai đoạn 2014 - 2016 nêu trên cho các đơn vị triển khai thực hiện theo đúng quy định của pháp luật; thời gian thực hiện và giải ngân đến hết 31/12/2017; tổ chức triển khai, theo dõi tình hình thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ tiếp tục còn dư (chưa phân bổ) giai đoạn 2014 - 2016 đã được giao cho các dự án và báo cáo kết quả giao kế hoạch vốn tiếp tục còn dư (chưa phân bổ) giai đoạn 2014 - 2016 cho các dự án, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính trước ngày 30/9/2017.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư quyết định điều chỉnh giảm vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2014 - 2016 của các dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên; giao vốn trái phiếu Chính phủ tiếp tục còn dư (chưa phân bổ) giai đoạn 2014 - 2016 theo danh mục.
Thủ tướng yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Tài chính hoàn thiện thủ tục đầu tư các dự án sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ tiếp tục còn dư (chưa phân bổ) giai đoạn 2014 - 2016 theo quy định của Luật Đầu tư công và các quy định pháp luật có liên quan; chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính giám sát, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ tiếp tục còn dư (chưa phân bổ) giai đoạn 2014 - 2016.
Trước đó, theo Nghị quyết số 65/2013/QH13 ngày 28/11/2013 của Quốc hội, tổng mức vốn đã được bố trí đầu tư các dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyênlà 64.294 tỷ đồng. Trong đó, các dự án mở rộng quốc lộ 1A là 53.314 tỷ đồng và các dự án đường Hồ Chí Minh qua Tây Nguyên là 10.980 tỷ đồng.
Hai dự án mở rộng quốc lộ 1A và dự án đường Hồ Chí Minh đã cán đích vượt tiến độ do đẩy nhanh thi công. Kết quả rà soát cho thấy, do không phải sử dụng vốn dự phòng trượt giá, điều chỉnh thiết kế cho phù hợp, sử dụng biện pháp tổ chức thi công hợp lý, tiết kiệm 5% dự toán theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, tổng kinh phí dự kiến để thực hiện các dự án chỉ còn 50.035 tỷ đồng, trong đó: các dự án mở rộng quốc lộ 1 là 43.404 tỷ đồng; các dự án đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên là 6.631 tỷ đồng. Tổng số vốn trái phiếu Chính phủ còn dư là 14.259 tỷ đồng. (Dân Trí 1/6) đầu trang(

NHÂN SỰ MỚI
Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Nội vụ vừa quyết định nhân sự một số cơ quan, tổ chức.
Cụ thể, ngày 30/5, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã công bố Quyết định số 736/QĐ-LĐTBXH quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Cục Quan hệ lao động và Tiền lương, đồng thời, công bố và trao quyết định bổ nhiệm 3 lãnh đạo Cục.
Theo đó, bà Tống Thị Minh, Vụ trưởng Vụ Lao động - Tiền lương được bổ nhiệm là Cục trưởng Cục Quan hệ lao động và Tiền lương.
Hai Phó Vụ trưởng Vụ Lao động - Tiền lương là ông Lê Xuân Thành và ông Tống Văn Lai được bổ nhiệm vị trí Phó Cục trưởng Cục Quan hệ lao động và Tiền lương.
* Ngày 30/5, Bộ VHTT&DL cho biết, ông Nguyễn Đăng Chương, Cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn sẽ đến làm việc tại Văn phòng Bộ trong thời gian 6 tháng (kể từ ngày 1/6/2017) và chờ bố trí, sắp xếp công tác khác.
Ông Vương Duy Biên, Thứ trưởng Bộ VHTT&DL điều hành Cục Nghệ thuật biểu diễn.
* Liên quan đến công tác nhân sự, Thủ tướng Chính phủ vừa ký các quyết định bổ nhiệm lại một số cán bộ lãnh đạo.
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định bổ nhiệm lại có thời hạn ông Đào Minh Tú giữ chức vụ Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Thủ tướng Chính phủ cũng quyết định bổ nhiệm lại ông Châu Văn Minh giữ chức vụ Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm lại ông Trần Quốc Khánh, Thứ trưởng Bộ Công Thương, kiêm giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh và ông Nguyễn Sinh Nhật Tân, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Công Thương kiêm giữ chức vụ Ủy viên Hội đồng cạnh tranh.
Thủ tướng Chính phủ quyết định thay đổi thành viên Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ. Theo đó, ông Lê Quang Hùng, Thứ trưởng Bộ Xây dựng, thay thế ông Đỗ Đức Duy, Thứ trưởng Bộ Xây dựng đã nhận quyết định điều động, chỉ định của Ban Bí thư, tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và giữ chức vụ Phó Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái nhiệm kỳ 2015 - 2020.
* Trước đó, ngày 26/5, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân đã trao Quyết định số 1846/QĐ-BNV ngày 26/5/2017 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc bổ nhiệm có thời hạn bà Thang Thị Hạnh giữ chức vụ Vụ trưởng Vụ Tổng hợp và Quyết định số 1845/QĐ-BNV ngày 26/5/2017 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc bổ nhiệm có thời hạn ông Phạm Hùng Thắng giữ chức vụ Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ.
Ngày 25/5, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân đã trao Quyết định số 486-QĐNS/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc nghỉ hưu của cán bộ đối với PGS.TS. Nguyễn Trọng Điều, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ, nguyên Phó Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia. (Báo Chính Phủ 31/5) đầu trang(

THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
Ngay sau khi ban hành, Quy định số 85-QĐ/TW, ngày 23-5-2017 của Bộ Chính trị về kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản của cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý đã được đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hoan nghênh, kỳ vọng vào tinh thần quyết tâm của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng.
Quy định cho thấy, trong cuộc đấu tranh phức tạp, cam go này không có “vùng cấm”, bất kể ai vi phạm đều bị xử lý nghiêm minh, dù ở cương vị nào. Đây cũng là một trong những giải pháp, nhằm thực hiện quyết liệt, có hiệu quả Nghị quyết T.Ư 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần làm trong sạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước.
Quy định của Bộ Chính trị nêu rõ, mục đích kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản (KTGSVKKTS) là nhằm thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Đảng, Nhà nước về kê khai tài sản; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và xử lý các khuyết điểm, vi phạm trong kê khai tài sản; góp phần phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng. Nội dung là kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về kê khai tài sản, biến động tài sản hằng năm thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, của vợ, hoặc chồng và con chưa thành niên của cán bộ đó.
Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác này. Chủ thể kiểm tra là Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ủy ban Kiểm tra T.Ư. Chủ thể giám sát là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra T.Ư và chi bộ nơi cán bộ đang sinh hoạt. Công tác KTGSVKKTS được tiến hành khi có kế hoạch, yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; kiến nghị, phản ánh, tố cáo có căn cứ về việc kê khai tài sản không trung thực; cán bộ có dấu hiệu vi phạm quy định của Đảng và Nhà nước về kê khai tài sản,...
Việc kê khai tài sản đã được quy định trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012. Trong đó nêu rõ, việc kê khai tài sản được thực hiện hằng năm tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người có nghĩa vụ kê khai tài sản làm việc và được hoàn thành chậm nhất vào ngày 31-12. Người có nghĩa vụ kê khai phải ghi rõ những thay đổi về tài sản so với lần kê khai trước đó. Bản kê khai tài sản của người có nghĩa vụ kê khai phải được công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó thường xuyên làm việc.
Ngày 17-7-2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2013/NĐ-CP về minh bạch tài sản, thu nhập, trong đó nêu rõ mục đích của việc làm này là để cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền biết được tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai, nhằm minh bạch tài sản, thu nhập của người đó; phục vụ cho công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức, góp phần phòng ngừa và ngăn chặn hành vi tham nhũng. Người có nghĩa vụ kê khai tự kê khai các thông tin theo quy định và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực, đầy đủ đối với nội dung kê khai.
Chỉ thị số 33-CT/TW, ngày 3-1-2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản, chỉ rõ: “Trong thời gian vừa qua, việc kê khai tài sản vẫn còn mang tính hình thức; việc công khai bản kê khai tài sản chưa được thực hiện nghiêm túc; các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền chưa chủ động tiến hành xác minh tài sản của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thuộc diện phải kê khai; công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy định về kê khai tài sản còn hạn chế”.
Trên thực tế, hiếm thấy cán bộ nào bị xử lý khi vi phạm hoặc không trung thực trong kê khai tài sản. Không ít cán bộ giàu lên nhanh chóng một cách thiếu bình thường, sở hữu khối tài sản có giá trị lớn, như đất, nhà ở những vị trí đắc địa, ô-tô đắt tiền, số lượng lớn cổ phiếu,... giá trị lên đến hàng trăm tỷ đồng, thậm chí cao hơn, gây bức xúc trong nhân dân, nhưng không được giải trình thỏa đáng, công tâm, minh bạch.
Chúng ta đang ra sức phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi công dân đều có quyền khát vọng và làm giàu chính đáng. Cán bộ, đảng viên dù công tác ở lĩnh vực nào, nắm giữ cương vị lãnh đạo nào cũng có quyền như thế và đó là việc làm đáng khích lệ. Song, vấn đề xã hội nhức nhối là sự biến động về tài sản và nguồn gốc tài sản tăng thêm của một số cán bộ lãnh đạo, quản lý với những dấu hiệu không bình thường, trong đó có những trường hợp thực chất là do lạm dụng quyền lực, lợi ích nhóm, tham nhũng mà có - thực trạng đã được Nghị quyết T.Ư 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng nêu rõ: “tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước”.
Đấu tranh, ngăn chặn căn bệnh tham nhũng, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị, chỉ đạo quyết liệt, quyết tâm đẩy lùi tình trạng bức xúc này và không ít cán bộ vi phạm đã bị xử lý nghiêm minh. Nguyên Tổng thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền dù đã về hưu vẫn phải nhận hình thức kỷ luật cảnh cáo từ Ban Bí thư do vi phạm khuyết điểm trong việc thực hiện chế độ, chính sách nhà ở, đất ở và trong công tác cán bộ. Nếu thực hiện tốt việc kê khai tài sản, hoặc công tác KTGSVKKTS được làm nghiêm, thì những vi phạm nêu trên của ông Trần Văn Truyền sẽ sớm được phát hiện và xử lý.
Gần đây, dư luận cũng băn khoăn về khối lượng tài sản “khủng” của một số cán bộ là thứ trưởng, người đứng đầu chính quyền địa phương mà báo chí phản ánh; việc giải trình của những người liên quan đều cho rằng đã thực hiện kê khai tài sản đầy đủ, đúng quy định. Song, nhiều ý kiến chưa đồng tình và đề nghị các cơ quan chức năng cần kiểm tra để làm rõ nguồn gốc số tài sản đó. Nếu là tài sản chính đáng, thì minh oan cho cán bộ đó, nếu không chính đáng thì phải điều tra, xử lý đúng pháp luật.
Đối với trường hợp Thứ trưởng Công thương Hồ Thị Kim Thoa, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo Ủy ban Kiểm tra T.Ư chủ trì, phối hợp Ban Tổ chức T.Ư, Ban Nội chính T.Ư, Ban cán sự đảng: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Thanh tra Chính phủ khẩn trương kiểm tra, thanh tra, xem xét, kết luận những nội dung mà các báo đã nêu và những vấn đề khác có liên quan, sớm báo cáo kết quả với Ban Bí thư.
Đồng chí Tổng Bí thư yêu cầu Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu, rà soát các quy định của pháp luật có liên quan để sớm sửa đổi hoặc kiến nghị việc sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các quy định, khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý; lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phòng, chống thất thoát tài sản của Nhà nước, ngăn ngừa tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm trong quá trình thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
Nghị quyết T.Ư 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng chỉ rõ: “Thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản, thu nhập theo quy định; xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải trình và giám sát việc tăng giảm tài sản của cán bộ, đảng viên. Cơ quan đề xuất đề bạt, bổ nhiệm cán bộ phải tiến hành thẩm định, xác minh, đánh giá tính trung thực của việc kê khai tài sản, thu nhập và công khai theo quy định”.
Việc Bộ Chính trị ban hành Quy định về KTGSVKKTS của cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, thể hiện tinh thần nêu gương và yêu cầu nêu gương đối với cán bộ cấp cao trong công tác kê khai và kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản. Để thực hiện có hiệu quả công việc khó, phức tạp, nhạy cảm này, cần sự thống nhất, đồng thuận cao trong toàn Đảng mà trước hết là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Khi được kiểm tra, giám sát, cán bộ có nghĩa vụ kê khai tài sản phải báo cáo đầy đủ, trung thực, kịp thời việc kê khai tài sản; giải trình, cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan,...
Quá trình kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản, các cơ quan liên quan cần phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, bài bản, thường xuyên, để nâng cao chất lượng kiểm tra, giám sát; có cơ chế phát huy vai trò đồng hành của báo chí để phát hiện, phản ánh những việc làm chưa đúng, chưa trung thực của cán bộ. Tăng cường sự giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân đối với cán bộ và công tác cán bộ, nhất là trong việc kê khai tài sản.
Xử lý nghiêm những cơ quan, cá nhân chậm tổ chức kê khai; không kê khai, kê khai không trung thực; không giải trình được nguồn gốc tài sản tăng thêm; không tổ chức công khai bản kê khai; không chủ động xác minh hoặc không xử lý kịp thời những vi phạm quy định về kê khai, kiểm soát việc kê khai tài sản. Đồng thời, sớm bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy định của Đảng, Nhà nước, để có chế tài cụ thể trong xử lý vi phạm đối với việc kê khai tài sản không trung thực, không đúng quy định, hoặc tẩu tán tài sản khi kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản. (Nhân Dân 1/6) đầu trang(
Nhìn chung, hiệu quả kinh doanh và đóng góp của phần lớn doanh nghiệp nhà nước còn thấp, chưa tương xứng với nguồn lực Nhà nước đầu tư, thậm chí còn làm ăn thua lỗ, thất thoát, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Đó là nhận xét của PGS.TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) tại Hội thảo “Đổi mới doanh nghiệp nhà nước và phát triển kinh tế tư nhân”, dưới sự chỉ đạo của Ban Kinh tế Trung ương, do Trung tâm Thông tin Kinh tế phối hợp với Viện Nghiên cứu chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh tổ chức.
Theo PGS.TS Trần Đình Thiên, các doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân đã và đang đóng vai trò quan trong trong sự phát triển kinh tế chung của cả nước song lại không được chú trọng đúng mức. Chính điều này đã cản trở thành phần kinh tế này phát triển và chưa thực sự phát huy được nội lực của mình.
TS Phạm Minh Điển, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế Tổng hợp (Ban Kinh tế Trung ương) cho biết, qua các kỳ đại hội, Đảng đã có nhiều nghị quyết, kết luận bổ sung và đạt được nhiều kết quả quan trọng.
Từ chỗ cả nước có hơn 12.000 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, đến năm 2001 giảm xuống còn 5.655 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, đến tháng 10/2016 chỉ còn 718 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.
Đến nay, doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa thực hiện được vai trò là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, chưa thực hiện được nhiệm vụ dẫn dắt, tạo động lực phát triển đối với nền kinh tế.
“Nhìn chung, hiệu quả kinh doanh và đóng góp của phần lớn doanh nghiệp nhà nước còn thấp, chưa tương xứng với nguồn lực Nhà nước đầu tư, thậm chí còn làm ăn thua lỗ, thất thoát, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực” TS Điển nhận xét.
Theo TS Phạm Minh Điển, đối với kinh tế tư nhân, mấy thập niên qua đã tăng nhanh về số lượng và từng bước nâng cao chất lượng, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, xã hội của đất nước.
Đến nay, có khoảng 60 vạn doanh nghiệp tư nhân và mấy triệu hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp đã có đóng góp quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế, đang còn ẩn dấu nhiều tiềm năng lớn.
Giai đoạn 2006 – 2015, kinh tế tư nhân đóng góp hơn 40% GDP; 30% tổng giá trị công nghiệp; khoảng 80% tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ; 35% tổng vốn đầu tư pháp triển; thu hút 51% lực lượng lao động của cả nước và tạo ra khoảng 1,2 triệu việc làm cho người lao động mỗi năm.
Trong khi đó, PGS. TS Hồ Sỹ Hùng, Cục trưởng Cục phát triển Doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) thì cho rằng, điểm nổi trội của kinh tế tư nhân trong nhiều năm qua chủ yếu là giải quyết việc làm, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế.
Song đóng góp về GDP, vốn đầu tư toàn xã hội, tỷ suất lợi nhuận… khu vực kinh tế tư nhân nhiều năm qua tương đối thấp, chưa có sự chuyển biến.
Về nguyên nhân, PGS.TS Hồ Sỹ Hùng cho rằng do quy mô doanh nghiệp chủ yếu là nhỏ và vừa, không có sự cải thiện qua nhiều năm, đầu tư vào công nghệ thấp nên tài sản cố định bình quân khoảng 7 - 8 tỷ đồng/doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, còn rào cản hạn chế là sự bất cập giữa các luật đầu tư, bảo vệ môi trường, đất đai… cũng như chưa hiệu quả trong liên thông giải quyết thủ tục hành chính, nhiều cơ quan cùng quản lý một vấn đề.
Đa số các đại biểu, chuyên gia, nhà quản lý đều cho rằng, định hướng chính sách nên xóa bỏ mọi định kiến, rào cản; cải cách mạnh các thủ tục hành chính… nhằm tạo ra sự đối xử công bằng giữa doanh nghiệp nhà nước và kinh tế tư nhân.
Muốn vậy, trong thời gian tới cần phải sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, chú trọng thực chất và hiệu quả. Đồng thời, cần khuyến khích phát triển doanh nghiệp tư nhân, các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong việc phát triển kinh doanh và hội nhập kinh tế quốc tế. (VTC News 31/5) đầu trang(
Dự án vốn đầu tư hơn 7 nghìn tỷ đồng, ngân sách đã rót vào hơn 4 nghìn tỷ đồng nhưng đến nay vẫn không thể hoạt động. Đây là một trong những điển hình cho thực trạng lãng phí nguồn lực trong đầu tư đang được dư luận quan tâm những ngày qua.
Trong quy hoạch của ngành đường sắt, tuyến đường sắt Yên Viên (Hà Nội) đến cảng Cái Lân (Quảng Ninh) đóng vai trò quan trọng. Nếu hoàn thành, dự án đảm nhận việc vận chuyển hành khách, hàng hoá dọc từ cảng biển nước sâu Cái Lân về Hà Nội rồi kết nối đi các tỉnh. Lúc thành lập, dự án còn được kỳ vọng sẽ thúc đẩy, hình thành nên liên hiệp các khu, cụm công nghiệp dọc QL 18 trải dài trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Ninh mà đường sắt này chạy qua. Tuy nhiên, hơn 10 năm từ ngày triển khai, với hơn 4.536 tỷ đồng vốn ngân sách được rót ra, dự án vẫn chưa được phát huy tác dụng.
Quan sát thực tế tại ga Cái Lân, cạnh cảng nước sâu Cái Lân, toàn bộ mặt bằng ga vắng lặng, không bất kỳ lô hàng nào được đưa vào bốc dỡ. Trên sân ga kiên cố bằng bê tông, cỏ có thể mọc quá đầu người; các thanh ray bắt đầu có hiện tượng gỉ sét. Ông Nguyễn Đức Tân, Trưởng ga Cái Lân cho hay, gọi là ga nhưng từ nhiều năm nay không có hoạt động đón trả khách và hàng. Bốn cán bộ và nhân viên của ga chỉ có mỗi nhiệm vụ duy nhất là trông coi để tránh bị kẻ gian phá dỡ, trộm cắp. Đối diện ga Cái Lân, cảng Cái Lân cũng đang hoạt động cầm chừng.
Theo lãnh đạo Cục Hàng hải, cảng Cái Lân là dự án lớn được đầu tư từ ngân sách, liên thông với đường sắt. Tuy nhiên, do tuyến đường sắt chưa được khai thác nên cảng Cái Lân đang “đói hàng”. Vì vậy, Bộ GTVT phải cho Tập đoàn T&T thuê khai thác cảng nhưng “không được giá”.
Ngược tuyến đường sắt về phía Hà Nội, những đoạn dài nền đường sắt được đắp cao nhưng chưa được lắp ray như những tuyến đê chạy giữa cánh đồng. Cầu đường sắt Phả Lại (thuộc địa bàn Hải Dương), một hạng mục quan trọng của dự án đã hoàn thành nhưng chưa được lắp ray, đang hoen gỉ. Điểm dễ nhận biết nhất về sự dang dở, lãng phí của dự án này là đoạn qua địa phận Bắc Ninh.
Tại đây, một cầu vượt đường bộ của dự án đường sắt bắc qua cao tốc Hà Nội - Bắc Giang nhưng hai bên chưa có đường sắt, nhìn cây cầu, nhiều người nhầm tưởng là cổng chào. Tháng 1/2016, vì chiều cao cầu với mặt đường bộ không đạt, một xe tải chở hàng đâm lệch cây cầu. Cầu đã được kê kích, bắc lại nhưng vẫn tồn tại một khoảng dầm cầu bị móp.
Hiện từ ga Hạ Long vẫn có đường sắt kết nối với đường sắt Hà Nội thông qua hướng từ Hạ Long đi Kép (huyện Lạng Giang - Bắc Giang) rồi về Hà Nội trên tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn. Tuy nhiên, theo ông Khương Thế Duy, Phó Cục trưởng Đường sắt, việc đi theo lộ trình này mất khoảng 7,5 giờ. Ngoài ra, khổ đường ray của tuyến là 1,435 m, không thống nhất với khổ đường 1m của các tuyến khác nên khi về Hà Nội, hàng muốn đi tiếp phải chuyển tàu nên chủ hàng không sử dụng. “Chỉ có cách hoàn thiện toàn dự án Yên Viên - Cái Lân để rút ngắn 2, 2,5 giờ với quy mô đường lồng (đường ray khổ 1m lồng trong khổ 1,435 m- PV) như thiết kế, tuyến đường sắt này mới có thể phát huy tác dụng”- ông Duy cho hay.
Dự án triển khai từ hơn 10 năm nay và được Bộ GTVT đưa vào danh sách dừng thi công theo chủ trương cắt giảm đầu tư công tại Nghị quyết số 11/2011/NQ-CP của Chính phủ. Ông Khương Thế Duy cho hay, với số vốn đã giải ngân 4.536 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư 7.663 của dự án, ở thời điểm dừng hoãn, dự án cần hơn 3 nghìn tỷ đồng sẽ hoàn thành. Hiện nay, dù nhiều đoạn tuyến đã hình thành, ray nhập về đủ để trải toàn bộ tuyến nhưng để hoàn tất dự án cần đến 6 nghìn tỷ đồng, vượt 3 nghìn tỷ đồng so với thời điểm dự án bị tê liệt.
Trao đổi với Tiền Phong chiều 31/5, Thứ trưởng GTVT Nguyễn Ngọc Đông cho hay, trong kế hoạch vốn ngân sách trung hạn từ nay đến năm 2020, dự án này vẫn chưa được bố trí vốn để triển khai. Để hoàn thành dự án, Bộ GTVT đã xây dựng phương án kêu gọi nhà đầu tư tư nhân tham gia, đổi lại họ được được hưởng quyền khai thác dự án với thời gian dài. Tuy nhiên, hiện chưa có nhà đầu tư nào quan tâm.
“Bộ GTVT vừa báo cáo thực trạng và đề xuất giải pháp cho dự án lên Chính phủ. Hiện Bộ GTVT đang chờ, chúng tôi rất sốt ruột để đưa được dự án vào khai thác” - ông Đông nói.
Nói về con số đội vốn, ông Nguyễn Ngọc Đông cho hay: “Dự án dừng hoãn lâu nên trượt giá vật liệu, nhân công tăng. Theo tính toán năm 2016, để hoàn thành dự án cần 6.000 tỷ đồng. Nếu để lâu sẽ, dự án tiếp tục trượt giá, chưa kể cần đánh giá lại các hạng mục đã làm nhưng bị xuống cấp khi dự án chưa hoàn thành”.
Báo cáo trước Quốc hội ngày 30/5, Bộ trưởng GTVT Trương Quang Nghĩa cho hay: “Với một ngành đường sắt có hơn 100 tuổi, từ khi có hệ thống đường sắt của Việt Nam, chúng ta là một trong những nước rất hiếm có đường sắt hiện đại như vậy, nhưng sau 100 năm thì đường sắt của chúng ta cứ kém dần đi và cho đến hiện nay thì thực sự rất lạc hậu”. Theo Bộ trưởng GTVT, từ 2011-2015, đầu tư cho ngành đường sắt rất hạn chế với khoảng 3,18% trong cơ cấu đầu tư cho ngành giao thông. Năm 2016, vận tải đường sắt đối với hàng hoá chỉ còn 0,4%, đó là 1 trong những lý do dẫn đến chi phí vận tải rất cao so với thế giới. (Tiền Phong 1/6) đầu trang(
Công trình nước sạch ở xã Cư Bông, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk, được xây dựng theo Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, với tổng kinh phí đầu tư hơn 8,6 tỷ đồng. Tuy nhiên, sau một thời gian ngắn hoạt động, công trình này bị bỏ hoang và xuống cấp, khiến dư luận rất bức xúc.
Công trình được khởi công tháng 8/2013, đến đầu năm 2015 hoàn thành và được giao cho Hợp tác xã nông nghiệp và dịch vụ Toàn Thắng đưa vào khai thác. Công trình cung cấp nước sạch cho 275 hộ dân thuộc buôn Trưng, thôn 20 và thôn 21.
Niềm vui được dùng nước sạch của người dân vùng sâu chỉ tồn tại thời gian ngắn. Ông Nguyễn Đình Hải - Giám đốc Hợp tác xã Toàn Thắng cho biết: Sau hai tháng vận hành chạy thử, công trình bị lỗ 13 triệu đồng. Hơn nữa, đến mùa khô năm 2015 đập Buôn Trưng (nguồn cung cấp nước cho công trình) bị cạn nước nên công trình phải ngừng hoạt động và bỏ hoang.
Tuy nhiên, theo phản ánh của các hộ dân thuộc buôn Trưng, sau khi công trình nước sạch đi vào hoạt động, người dân chỉ được sử dụng nguồn nước sạch trong một tuần và ngừng sử dụng cho đến nay. Từ đó, nhiều hạng mục của công trình bị xuống cấp, máy móc, hệ thống lọc nước không thể vận hành, đường ống dẫn nước sạch đến nhà dân bị hư hỏng nặng, nhiều máy bơm nước bị mất trộm…
Hơn nữa, khi công trình hoạt động không hiệu quả, bị thua lỗ và phải ngừng hoạt động, Hợp tác xã Nông nghiệp và Dịch vụ Toàn Thắng - đơn vị được giao quản lý, không báo cáo lên cơ quan chức năng để có biện pháp xử lý kịp thời mà bỏ hoang công trình từ đầu năm 2015 đến nay.
Theo lý giải của ông Phạm Tấn Lực - Phó Giám đốc Ban quản lý dự án huyện Ea Kar, trước đây nguồn nước tại đập Buôn Trưng rất dồi dào, nhưng gần đây do diện tích rừng xung quanh đập bị tàn phá, nguồn sinh thủy bị cạn kiệt, dẫn đến đập Buôn Trưng bị cạn nước và công trình phải ngừng hoạt động.
Hiện UBND tỉnh Đắk Lắk đã giao cho các đơn vị chức năng có liên quan tiến hành khảo sát, tìm hướng giải quyết những khó khăn, khắc phục các nguyên nhân để đưa công trình vào hoạt động.
Trong khi hàng trăm hộ dân phải sử dụng nước giếng khoan, nước mưa, hồ tự nhiên thì công trình cấp nước sạch hàng tỷ đồng được dựng lên rồi “đắp chiếu”. Điều này không chỉ gây lãng phí ngân sách nhà nước, mà còn mất đi mục đích và ý nghĩa của Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.
Chính quyền địa phương và các ngành chức năng của tỉnh Đắk Lắk cần nhanh chóng vào cuộc, tìm phương án khắc phục các nguyên nhân, tu sửa các hạng mục để đưa công trình vào hoạt động. Cùng với đó, cần làm rõ tránh nhiệm của các cá nhân, tập thể có liên quan trong việc để công trình cấp bị bỏ hoang, xuống cấp. (Tin Tức 1/6) đầu trang(

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Văn phòng UBND TP Đà Nẵng cho biết, Bộ Nội vụ đã công bố danh sách xếp hạng Cải cách hành chính (PAR INDEX) năm 2016 do Ban chỉ đạo cải cách hành chính của chính phủ tổ chức, TP Đà Nẵng tiếp tục đứng đầu bảng xếp hạng và là địa phương duy nhất thuộc nhóm A của bảng xếp hạng PAR INDEX 2016.
Theo đó, chỉ số PAR INDEX 2016 của TP Đà Nẵng đạt 90,32%, đây là lần thứ 4 liên tiếp TP Đà Nẵng giữ vị trí này kể từ năm 2013, bảng xếp hạng nhằm đánh giá mức độ cải cách hành chính cơ quan của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Chỉ số PAR INDEX đối với các địa phương, kết quả được chia thành 4 nhóm A, B, C, D. Các địa phương thuộc nhóm B gồm: 13 đơn vị; nằm trong nhóm C gồm 33 tỉnh, thành phố; nhóm D gồm 16 tỉnh, thành phố, xếp hạng từ vị trí thứ 48 đến vị trí thứ 63.
Ở kết quả chỉ số PAR INDEX 2016 của các bộ và cơ quan ngang bộ được chia thành 2 nhóm. Nhóm thứ nhất, đạt kết quả trên 80% gồm có: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Tài chính; Khoa học và Công nghệ; Giao thông vận tải; Thông tin và Truyền thông; Tư pháp; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Ngoại giao; Kế hoạch và Đầu tư. Nhóm thứ hai đạt kết quả từ trên 70% đến 80%, gồm: Nội vụ; Y tế; Công Thương; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Xây dựng; Giáo dục và Đào tạo; Tài nguyên và Môi trường; Ủy ban Dân tộc; Thanh tra Chính phủ; Lao động - Thương binh và Xã hội.
Đến thời điểm hiện tại 100% các cơ quan hành chính trên địa bàn TP. Đà Nẵng đều công khai thông tin cụ thể về các thủ tục hành chính, bao gồm cả chi phí theo quy định. Để hạn chế tối đa các khoản chi phí không chính thức, Đà Nẵng triển khai nhiều dịch vụ trực tuyến, giảm sự tương tác trực tiếp, giảm cơ hội cho các khoản chi phí không chính thức có điều kiện phát sinh.  Ngay từ đầu năm 2016, TP Đà Nẵng đã chú trọng để kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ thủ tục hành chính hoặc các quy định có liên quan không cần thiết, không phù hợp nhằm cắt giảm chi phí về thời gian và tài chính cho người dân, doanh nghiệp.
Ông Hồ Kỳ Minh - Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng cho biết, Đà Nẵng đã ban hành Đề án kiểm soát thủ tục hành chính theo mô hình một cửa và đang triển khai thí điểm tại 4 sở, ngành. Bên cạnh đó, ban hành Đề án tích hợp dữ liệu từ máy xếp hàng tự động tại các cơ quan, đơn vị có số lượng lớn tổ chức, cá nhân liên hệ giải quyết thủ tục hành chính, cung ứng dịch vụ công để cung cấp thông tin cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu, tránh lãng phí thời gian, mệt mỏi phải chờ đợi; TP đã xây dựng mô hình một cửa hiện đại tại 56/56 (100%) phường, xã điện tử trên địa bàn...
Cũng tại bảng xếp hạng PAR INDEX 2016, TP HCM có sự tụt hạng khá mạnh từ vị trí thứ 3 xuống vị trí số 15. Các vị trí cuối bảng là những tỉnh Trà Vinh, Cao Bằng, Hậu Giang. Đối với các bộ, cơ quan ngang bộ, Ngân hàng nhà nước Việt Nam đứng đầu về chỉ số cải cách hành chính; Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ lần lượt xếp vị trí thứ 2 và thứ 3. Các đơn vị nằm cuối bảng là Ủy ban dân tộc, Thanh tra Chính Phủ, Bộ lao động – Thương binh và xã hội.
Đây là năm thứ 4 Bộ Nội vụ đánh giá kết quả triển khai công tác Cải cách hành chính thông qua công cụ đánh giá, đo lường và xếp hạng các bộ, cơ quan ngang bộ (gồm 19 cơ quan) và 63 UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. (Kinh Tế Và Đô Thị 31/5) đầu trang(

KINH TẾ
Muốn cơ cấu lại ngành công nghiệp cần chỉ ra được những điểm còn yếu, tắc nghẽn để có hướng phát triển cho từng lĩnh vực cụ thể.
Tại Hội thảo “Kế hoạch cơ cấu lại ngành công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2017-2020 hướng tới tăng trưởng nhanh và bền vững” do Bộ Công Thương tổ chức ngày 31/5, đại diện Bộ Công Thương khẳng định, sau hơn 2 năm thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành Công Thương, cơ cấu các ngành công nghiệp đã dần chuyển dịch theo hướng có giá trị gia tăng cao và giá trị xuất khẩu lớn.
Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng qua các năm. Cùng với đó, các ngành công nghiệp lớn vẫn tiếp tục giữ vững tốc độ tăng trưởng cao và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu đặc biệt là đối với các ngành công nghiệp dệt may, da giày…
Tuy nhiên, Bộ Công Thương cũng đánh giá, sự chuyển dịch vẫn còn chậm, chưa thực sự đi vào chiều sâu. Các ngành công nghiệp phần lớn vẫn chỉ tham gia được ở các khâu giá trị gia tăng thấp của chuỗi giá trị toàn cầu; phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của các ngành sản xuất trong nước.
Tại hội thảo, ông Cao Quốc Hưng, Thứ trưởng Bộ Công Thương thừa nhận, hiện Việt Nam đứng thứ 101 trong tổng số 143 nước về chỉ số giá trị gia tăng trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo theo bình quân đầu người.
“Đây là vấn đề đáng lo ngại khi mà Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa”, ông Hưng đưa ra nhận định này đồng thời chỉ rõ 5 nguyên nhân khiến ngành công nghiệp Việt Nam chậm phát triển.
Cụ thể là do tăng trưởng công nghiệp phụ thuộc nhiều vào yếu tố về vốn, tài nguyên, lao động trình độ thấp, chưa dựa nhiều vào khoa học; một số ngành công nghiệp chủ đạo chưa được tổ chức theo mô hình chuỗi giá trị, đặc biệt là các ngành định hướng xuất khẩu, tiêu biểu là dệt may, điện tử… mới dừng ở bước gia công, lắp ráp.
Bên cạnh đó, công nghiệp Việt Nam là ngành liên tục nhập siêu đã chứng tỏ phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu, thiếu chủ động và dễ tổn thương trước các biến động của thị trường thế giới. Một số ngành công nghiệp trọng điểm do các doanh nghiệp nhà nước nắm vai trò chủ đạo có hiệu quả hoạt động chưa cao, môi trường cạnh tranh chưa bình đẳng cũng khiến cho nền công nghiệp đất nước ngày càng thụt lùi.
“Đầu tư trong công nghiệp Việt Nam chưa đi vào chiều sâu, việc thu hút và tận dụng nguồn đầu tư trực tiếp của nước ngoài còn nhiều hạn chế, đặc biệt là việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ; phân bổ không gian của các ngành công nghiệp chưa hiệu quả cũng như chưa chú trọng ô nhiễm môi trường…”, ông Cao Quốc Hưng nói.
Để giúp các ngành công nghiệp phát triển nhanh hơn trong giai đoạn tới, nhiều ý kiến tại hội thảo cho rằng, Đề án “Kế hoạch cơ cấu lại ngành công nghiệp giai đoạn 2016-2020” cần phải chỉ ra được những điểm còn yếu, tắc nghẽn trong phát triển các ngành nghề một cách rõ nét và đúng hơn.
Theo như ý kiến của ông Lê Tiến Trường, Tổng Giám đốc Tập đoàn Dệt may Việt Nam, bản Đề án chưa đưa ra được các quá trình thực hiện cơ cấu ngành. Cụ thể là để cải thiện cạnh tranh, phải tăng năng suất lao động 5% nhưng đó mới chỉ là kế hoạch mục tiêu, còn quá trình thực hiện như thế nào, phương án ra sao trong đề án không đề cập đến.
Một điểm nghẽn khác cũng được ông Trường chỉ ra trong việc đầu tư phát triển công nghệ đó chính là nguồn nguyên liệu, phụ liệu của Việt Nam có giá trị gia tăng thấp, tỷ lệ nội địa hóa thấp.
“Việt Nam sẽ tập trung đầu tư sản xuất nguyên liệu, có giúp tăng chuỗi cung ứng cao hơn không; có đáp ứng được cả chuỗi sản phẩm để cung ứng không, trong khi phía Trung Quốc họ rất mạnh cả về giao hàng, giá cả, chất lượng…", ông Trường nói.
Ông Trường còn chỉ rõ, việc nội địa hóa sẽ không phải mục tiêu để tăng năng lực cạnh tranh, vì có những sản phẩm nội địa hóa sẽ làm giảm năng lực cạnh tranh. “Nếu bắt bệnh theo kiểu thiếu cái gì làm cái đó sẽ không hiệu quả. Giống như việc chúng ta ốm, sốt mà chỉ cho uống thuốc hạ sốt, không tìm hiểu xem nguyên nhân sâu xa là viêm nhiễm ở đâu để trị tận gốc sẽ không thể khỏi được”, ông Trường ví von.
Đề án “Kế hoạch cơ cấu lại ngành công nghiệp giai đoạn 2016-2020” do Bộ Công Thương xây dựng với mục tiêu xác định cơ cấu lại thực chất ngành công nghiệp, phát triển công nghiệp chế biến sâu, chế biến tinh nông, lâm, thủy sản, công nghiệp chế tạo. Trong đó tập trung vào một số ngành công nghiệp nền tảng, có lợi thế cạnh tranh và chú trọng phát triển công nghiệp sản xuất linh kiện, cụm linh kiện, tham gia sâu vào chuỗi sản xuất, phân phối toàn cầu…
Ông Dương Duy Hưng, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch (Bộ Công Thương) cho biết, đến nay đề án đã xác định 8 nhóm vấn đề, 55 hoạt động chính sẽ được tổ chức triển khai. Sau hội thảo, Bộ Công Thương sẽ tập hợp các ý kiến, sửa đổi và tiếp tục rà soát thêm, hoàn thiện hơn bản kế hoạch để trình Chính phủ, với mục tiêu từ nay đến 2020, quá trình tái cơ cấu trong công nghiệp sẽ diễn ra mạnh mẽ, hiệu quả hơn. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 1/6) đầu trang(
Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) chính thức vận hành từ ngày 1/1/2016. Sự kiện này đã đặt Việt Nam trước những cơ hội và thách thức lớn trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trên cơ sở phân tích một số nội dung trong khuôn khổ hợp tác đầu tư trong ASEAN, bài viết đánh giá về thực trạng thu hút FDI từ ASEAN vào Việt Nam trong thời gian qua cũng như các vấn đề đặt ra trong thời gian tới.
Thích ứng với sự cạnh tranh thu hút dòng vốn FDI ngày càng tăng trên thế giới, ASEAN đang nỗ lực thiết lập một môi trường đầu tư thuận lợi hơn trong khu vực. Các quốc gia thành viên ASEAN đã cam kết hướng tới một môi trường đầu tư thông thoáng và minh bạch hơn, với mục tiêu tăng cường các dòng đầu tư và thu hút thêm các nhà đầu tư vào khu vực, góp phần hướng tới sự tăng trưởng kinh tế và phát triển của khu vực. Một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên một môi trường đầu tư thuận lợi trong khu vực là khuôn khổ hợp tác đầu tư trong ASEAN, được xây dựng trên cơ sở thực hiện tự do hoá và bảo hộ đầu tư.
Hợp tác đầu tư ASEAN trước đây được thực hiện thông qua Hiệp định về Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA, năm 1998); Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư ASEAN (ASEAN-IGA, năm 1987). Hiện nay, khuôn khổ hợp tác đầu tư trong ASEAN được thực hiện theo Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (AICA, năm 2009 và có hiệu lực từ năm 2012)
Hiệp định AIA điều chỉnh 5 lĩnh vực là chế tạo, nông nghiệp, thuỷ sản, lâm nghiệp, khai khoáng và khai thác các dịch vụ liên quan. Theo đó, đầu tư được mở cửa và đối xử quốc gia được dành cho tất cả các nhà đầu tư từ giai đoạn tiền thành lập cho đến các giai đoạn sau thành lập.
Hiệp định IGA được ký năm 1987 giữa các nước ASEAN-6 quy định các biện pháp bảo hộ cho các khoản đầu tư được cấp phép của các bên tham gia Hiệp định. Tuy nhiên, vì IGA không có các cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư mà chỉ quy định các bên cần giải quyết trên cơ sở hữu nghị, báo cáo kết quả lên các Bộ trưởng Kinh tế nên tính ràng buộc pháp lý của Hiệp định này chưa cao.
Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) được ký kết ngày 26/2/2009, có hiệu lực từ ngày 29/3/2012, với mục đích thúc đẩy tiến trình xây dựng một khu vực đầu tư tự do, mở cửa, minh bạch và hội nhập trong ASEAN. ACIA tạo ra cơ chế đầu tư cởi mở và tự do trong ASEAN hướng tới mục tiêu hội nhập kinh tế trong AEC.
Xu hướng đầu tư nội khối giữa các nước ASEAN trong bối cảnh hình thành AEC ngày càng trở nên rõ nét và quan trọng đối với từng quốc gia thành viên. Đối với Việt Nam, cùng với xuất khẩu, FDI đang là động lực của tăng trưởng kinh tế. Vì thế việc gia tăng đầu tư nội khối giữa các nước ASEAN nói chung và từ ASEAN vào Việt Nam nói riêng có vai trò quan then chốt trong tiến trình thu hút vốn đầu tư, phục vụ cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
Điểm nhấn quan trọng nhất trong bức tranh thu hút FDI của Việt Nam năm 2016 là sự gia tăng đầu tư của các nước trong khối ASEAN. Nhờ vào các hiệp định thương mại tự do đã được ký kết và lợi thế cạnh tranh về giá nhân công, gần cảng biển lớn, Việt Nam tiếp tục trở thành công xưởng của khu vực, khi các doanh nghiệp FDI liên tục chuyển dịch nhà máy từ các nước trong khu vực sang Việt Nam để sản xuất và xuất khẩu đi toàn thế giới.
Hình 1 cho thấy, FDI từ các nước ASEAN vào Việt Nam năm 2016 đã chiếm 45% tổng vốn FDI vào Việt Nam, tăng khoảng 2,5 lần so với cùng kỳ năm 2015 và 2014. Đến năm 2015, có 7 nước ASEAN đầu tư vào Việt Nam với 216 dự án và hơn 6,1 tỷ USD vốn đăng ký, trong đó, 3 nước dẫn đầu là Malaysia (hơn 2,4 tỷ USD), Singapore (hơn 1,2 tỷ USD), và Thái Lan (262 triệu USD). Trong năm 2016, Singapore, Malaysia và Thái Lan tiếp tục giữ vị trí là ba nhà đầu tư lớn nhất của ASEAN vào Việt Nam (Bảng 1).
Dẫn đầu trong khối ASEAN đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm 2016 là Singapore với 2,41 tỷ USD. Singapore đứng thứ ba trong số các quốc gia đầu tư FDI lớn nhất vào Việt Nam, chiếm tỷ trọng 9,9%. Tổng đầu tư của Singapore, Malaysia và Thái Lan vào Việt Nam năm 2016 đạt 4,024 tỷ USD, chiếm 16,5% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam.
Về địa bàn đầu tư, TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội tiếp tục là hai địa phương thu hút được nhiều dự án đầu tư FDI nhất của cả nước. Trong năm 2016, TP. Hồ Chí Minh có 44 dự án đầu tư mới và 13 dự án đăng ký tăng vốn đầu tư, đạt 163,43 triệu USD, chiếm 12,24% tổng vốn FDI của cả nước. Trong khi đó, Hà Nội có 15 dự án đầu tư mới và 7 dự án đăng ký tăng vốn đầu tư, tổng vốn đầu tư lũy kế đạt 243,51 triệu USD, chiếm 18,24% tổng vốn FDI của cả nước.
Về lĩnh vực đầu tư, sản xuất vẫn giữ vị trí số một trong thu hút FDI vào Việt Nam trong năm 2016. Với lợi thế về chi phí lao động thấp và sự gia tăng dần các ưu đãi thuế quan cho hàng hóa theo quy định của các hiệp định thương mại tự do, cũng như gia tăng liên kết trong AEC, Việt Nam là một quốc gia có lợi thế cạnh tranh trong thu hút FDI vào lĩnh vực sản xuất. Trong năm 2016, lĩnh vực sản xuất thu hút được 58 dự án đầu tư mới và 41 dự án tăng vốn, chiếm 68% tổng vốn FDI vào Việt Nam. Đặc biệt, lĩnh vực nghệ thuật – giải trí trở thành lĩnh vực thu hút FDI lớn thứ 2 của Việt Nam, chiếm tỷ trọng 16% tổng vốn FDI.
Với tư cách là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ 3 vào Việt Nam, Singapore đã có trên 1.600 dự án khác nhau hoạt động tại Việt Nam. Trong khi đó, với định hướng trở thành 1 trong 10 quốc gia đầu tư lớn nhất tại Việt Nam, Thái Lan cũng đang mở rộng các dự án đầu tư vào Việt Nam. Không chỉ trong lĩnh vực bán lẻ, nhiều tập đoàn lớn và các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Thái Lan cũng tập trung mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh nhiều lĩnh vực khác như công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, thực phẩm… góp phần tạo nên làn sóng đầu tư mạnh mẽ từ Thái Lan sang Việt Nam.
Đối với Malaysia, tính đến hết 2015, Malaysia đã đầu tư vào 18 trên tổng số 21 ngành kinh tế theo hệ thống phân ngành của Việt Nam. Trong đó, lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ nhất với 14 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 5,53 tỷ USD (chỉ chiếm 3% tổng số dự án nhưng chiếm tới 51,5% tổng vốn đầu tư); Tiếp theo là lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo với 221 dự án và tổng vốn đầu tư đăng ký đạt xấp xỉ 1,9 tỷ USD (chiếm 46,2% tổng số dự án và 17,7% tổng vốn đầu tư).
Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), vốn FDI từ các nước ASEAN vào Việt Nam đã đạt được kết quả nhất định nhưng vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng các nước trong khu vực, do vẫn còn tồn tại một số vấn đề sau:
Thứ nhất, FDI của các quốc gia ASEAN vào Việt Nam còn chưa đồng đều. FDI của các nước ASEAN vào Việt Nam tuy đã tăng mạnh trong những năm gần đây nhưng việc thu hút đầu tư từ các nước chưa đồng đều, trong khi Singapore, Malaysia, Thái Lan là ba nước luôn đứng đầu trong đầu tư tại Việt Nam, thì mức độ đầu tư của các quốc gia khác trong ASEAN còn khiêm tốn.
Thứ hai, cấp độ liên kết thấp trong AEC khiến cho hiệu lực các cam kết về tự do di chuyển dòng vốn giữa các nước thành viên đạt mức thấp, do đó, mức độ dịch chuyển vốn nội khối còn hạn chế. Theo các cấp độ liên kết thì AEC đang ở mức liên kết cộng đồng thấp, do thực chất sự liên kết cộng đồng này vẫn chỉ là hợp tác giữa các quốc gia trong khu vực. Chính phủ các nước mở rộng cửa cho thương mại, đầu tư, lao động di chuyển tự do, mà chưa hình thành các cơ quan, cơ chế, quy tắc ràng buộc pháp lý thống nhất trong toàn khối.
Cụ thể, tại Điều 32 trong cam kết AEC xác định, việc tự do chuyển dịch này phụ thuộc vào lịch trình và sự sẵn sàng của từng thành viên. Điều này cho thấy, các cam kết về tự do chuyển dịch dòng vốn trong AEC yếu và thiếu các điều kiện ràng buộc, so với Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) có cấp độ liên kết cao nhất hiện nay. Do vậy, dịch chuyển vốn trong ASEAN nói chung và dịch chuyển vốn vào Việt Nam nói riêng vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế.
Thứ ba, triển vọng thu hút FDI vào Việt Nam từ các nước ASEAN sau khi AEC có hiệu lực còn phụ thuộc vào khả năng hấp thụ của nền kinh tế Việt Nam. Chỉ tiêu để xác định khả năng hấp thụ FDI của nền kinh tế là mức giải ngân FDI (vốn FDI thực hiện) hàng năm. Năm 2010 là năm đầu tiên mức giải ngân FDI vượt ngưỡng 10 tỷ USD/năm và tăng bình quân gần 20% năm trong 5 năm 2011-2015 vừa qua, khi đạt mức 14,5 tỷ USD vào năm 2015… Mức chênh lệch hơn 100 tỷ USD chưa giải ngân được, giữa vốn FDI đăng ký và thực hiện trong nhiều năm qua đã chứng minh năng lực hấp thụ vốn còn yếu của nền kinh tế, vừa tác động hạn chế các nguồn vốn FDI mới vào Việt Nam, nhất là vốn tăng thêm và mở rộng của các doanh nghiệp FDI hiện có.
Thứ tư, Việt Nam đang phải đối diện với áp lực cạnh tranh lớn từ các quốc gia ASEAN. Cạnh tranh của Việt Nam với các nước trong AEC không chỉ các nền kinh tế ở tốp cuối gồm 4 nước Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar về chi phí và chất lượng lao động, mà còn đối với các nước còn lại như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philipinnes… khi những ngành có tiềm năng thu hút FDI của Việt Nam cũng là thế mạnh của các nước này như thủy sản, các sản phẩm nông, lâm nghiệp (chế biến thực phẩm, sản phẩm gỗ, cao su...), du lịch, dịch vụ logistics, hệ thống phân phối bán buôn  bán lẻ hàng hóa… Chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam theo xếp hạng của WEF thấp hơn nhiều so với Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philipines là thách thức không nhỏ đối với Việt Nam.
Đánh giá về thế mạnh và mức độ sẵn sàng của lao động Việt Nam tham gia AEC cho thấy, có những yếu tố cản trở hoặc làm giảm khả năng thu hút FDI vào Việt Nam khi xét về tiêu chí lao động: Năng suất lao động của Việt Nam còn thấp; Trình độ chuyên môn kỹ thuật, cùng chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam khá thấp so các nước ASEAN 6; Sự chuẩn bị kiến thức, kỹ năng (nhất là về ngoại ngữ) của lao động Việt Nam để sẵn sàng tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế của đất nước cũng chưa cao.
Ngược lại, một lực lượng lao động có tay nghề cao của Việt Nam, trước hấp dẫn của môi trường lao động ASEAN sẽ dễ dàng di chuyển sang các nước khác trong AEC làm việc, càng làm tăng sự thiếu hụt về lao động tay nghề cao của Việt Nam. Các điểm yếu về lao động Việt Nam nêu trên, vừa là cản trở trong hội nhập, vừa là rào cản lớn trong thu hút FDI, do làm giảm năng lực cạnh tranh của môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam.
Như vậy, tuy cơ hội mở ra cho Việt Nam trong thu hút FDI từ ASEAN, nhưng do các tác động của cạnh tranh giữa các nước trong nội khối và với ngoài khối, năng lực cạnh tranh của Việt Nam lại thấp so nhiều nước trong khối, khả năng và thực tế đầu tư từ các nước ASEAN vào Việt Nam còn khiêm tốn, cấp độ liên kết AEC ở mức độ thấp, thiếu các điều kiện ràng buộc... nên FDI từ các nước ASEAN vào Việt Nam chưa thể tăng đột biến trong trước mắt. Điều này cho thấy, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của môi trường đầu tư kinh doanh chính là yếu tố quyết định thành tựu thu hút FDI của Việt Nam. (Tạp Chí Tài Chính 1/6) đầu trang(

PHÁP LUẬT
Cơ quan chức năng nhận định một kế toán không thể tự ý làm giả quyết định của lãnh đạo tỉnh được mà rất có thể có người đứng sau nên giao công an điều tra rõ.
Ngày 31/5, ông Nguyễn Hồng Quang – Chánh văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam đã công bố kết quả điều tra ban đầu vụ làm giả quyết định cho phép khai thác cát của ông Huỳnh Khánh Toàn - Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam.
Theo đó, vào ngày 20/9/2016, công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Tây Trường Sơn Quảng Nam (viết tắt là công ty Tây Trường Sơn) và công ty cổ phần Trung Nam ký hợp đồng mua bán 1 triệu m3 cát để cung cấp cho dự án san lấp dự án Khu đô thị quốc tế Đa Phước (quận Hải Châu, TP Đà Nẵng). Từ tháng 9 đến tháng 12/2016, Công ty Tây Trường Sơn đã xuất bán cho Công ty Trung Nam 22.199 m3 cát và xuất ba hóa đơn.
Sau khi có nghi vấn dự án Khu đô thị quốc tế Đa Phước sử dụng nguồn cát hút trộm ở Cửa Đại (Hội An), công ty Trung Nam đã đề nghị công ty Tây Trường Sơn cung cấp các hồ sơ chứng từ liên quan đến nguồn gốc vật liệu.
Tuy nhiên, doanh nghiệp này đã cung cấp cho nhà thầu quyết định giả, được chỉnh sửa một cách tinh vi.
Qua điều tra, công an xác định Ngô Thị Thanh Vân (sinh năm 1985, ngụ phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng) thủ quỹ công ty cổ phần Kim Toàn đồng thời là kế toán công ty Tây Trường Sơn là thủ phạm.
Vân là người đã chỉnh sửa, tẩy xóa quyết định cho phép khai thác đá ở Nam Giang thành quyết định cho phép khai thác cát ở Tây Giang.
Sau đó, Vân đưa quyết định đã qua chỉnh sửa đến công chứng tại Phòng Công chứng số 3 Đà Nẵng.
“Đối tượng Ngô Thị Thanh Vân là người trực tiếp giả quyết định, mục đích để hợp thức cho khối lượng cát không có nguồn gốc hợp lệ”- ông Quang cho hay.
Cũng theo ông Quang, hiện hồ sơ vụ việc này đã được chuyển cho Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra (Công an tỉnh Quảng Nam) tiếp tục điều tra làm rõ.
Quan điểm của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam là phải xử lý đúng người, đúng tội, không có sự bao che.
Sáng nay, Chủ tịch Ủy ban tỉnh tiếp tục đề nghị công an sớm điều tra, công bố kết quả, ai sai tới đâu chịu tới đó.
Ông Quang cũng nhận định một kế toán không thể tự ý làm giả quyết định được mà rất có thể có người đứng sau. (Giáo Dục Việt Nam 1/6) đầu trang(

MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
Chuyên gia Nga nhận định với những lợi thế về thị trường lao động, Việt Nam đang nỗ lực phát triển trở thành một "con hổ châu Á" mới song con đường này còn rất nhiều thách thức.
Chuyên gia hàng đầu của Nga về kinh tế Việt Nam, Giáo sư Vladimir Mazyrin, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và ASEAN thuộc Viện Nghiên cứu Viễn Đông, đã viết về con đường của Việt Nam tới mục tiêu trở thành "con hổ châu Á" mới trong cuốn sách chuyên khảo “Nền kinh tế Việt Nam ngày nay: Kết quả của 25 năm chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường”, được xuất bản vào năm 2012.
Giáo sư Mazyrin nói: “Tôi nghĩ rằng, trong vòng 5 năm, tối đa là 10 năm tới, Việt Nam sẽ đạt được mục tiêu này”. Tuy nhiên, trên con đường này có rất nhiều cạm bẫy mà Việt Nam đang cố gắng để vượt qua.
Đã xuất hiện xu hướng toàn cầu về làn sóng dịch chuyển sản xuất sang Việt Nam từ các nước có điều kiện kém thuận lợi hơn, kể cả từ Trung Quốc, vì ở Việt Nam có sẵn lực lượng lao động dồi dào giá rẻ, trẻ trung và có kỹ năng cao.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng hơn 6%, thuộc nhóm nhanh nhất thế giới, đồng thời vươn lên vị trí cao về khối lượng xuất khẩu hàng điện tử, quần áo và giày dép.
Bây giờ Việt Nam cần tận dụng tối đa lợi thế cạnh tranh, lao động giá rẻ. Nguồn nhân lực Việt Nam tăng thêm 2% mỗi năm, nhanh hơn tốc độ tăng trưởng dân số, mà tỷ suất tăng dân số trung bình mỗi năm của Việt Nam là khoảng 1%.
Độ tuổi trung bình của người lao động Việt Nam là 38 tuổi, trong nền kinh tế thế giới độ tuổi này được gọi là “thời vàng son”. Tuổi thọ trung bình cao, tính tổ chức, kỷ luật lao động, động lực của người lao động, khả năng thực hiện các công việc nhạy cảm, đặc biệt là nghề lắp ráp điện tử, với mức lương thấp.
Tất cả điều này tạo điều kiện thuận lợi mà các công ty nước ngoài theo đuổi, song đây chỉ là những lợi thế tạm thời.
Dân số Việt Nam đang “già” đi rất nhanh. Bên cạnh đó, nếu 10 năm trước đây mức lương trung bình tại các doanh nghiệp, ngay cả với sự tham gia của nước ngoài, là 30-40 USD, thì hiện nay lên đến 300-400 USD.
Nếu xu hướng này tiếp tục thì sau 10 năm nữa các nhà đầu tư nước ngoài không còn quan tâm đến nguồn nhân lực Việt Nam. Đặc biệt, Việt Nam muốn phát triển các công nghệ tiên tiến và nâng cao trình độ học vấn, kết quả là sau 5-10 năm nữa phân khúc lao động giá rẻ sẽ bị thu hẹp và trên thị trường lao động Việt Nam sẽ xuất hiện ngày càng nhiều chuyên gia có trình độ cao.
Khối lượng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đang tăng lên, và nền kinh tế của đất nước thậm chí không có khả năng “tiêu hóa” dòng vốn khổng lồ, Giáo sư Mazyrin nói tiếp. Khối lượng đầu tư cao ngất ngưởng, đặc biệt là đầu tư nước ngoài, gây ra sự mất cân bằng kinh tế vĩ mô, chẳng hạn như thâm hụt ngân sách liên tục, nợ công và nợ nước ngoài rất lớn. Đây cũng là điều mà Ban lãnh đạo Việt Nam lo ngại.
Ngoài ra, trong 2-3 năm tới, nền kinh tế Việt Nam chắc chắn sẽ được công nhận là nền kinh tế thị trường, và nước này sẽ không còn nhận viện trợ không hoàn lại và các khoản vay ưu đãi lớn. Tất cả điều này sẽ làm giảm sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam với các nhà đầu tư nước ngoài.
Bên cạnh đó, các tập đoàn xuyên quốc gia trên thực tế bắt đầu xâm nhập vào các ngành kinh tế Việt Nam. Xu thế này đã bắt đầu với công nghiệp nhẹ, và đang lây lan sang cả nhóm ngành dịch vụ, trong khi quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào ngành này. Sau khi các tập đoàn xuyên quốc gia giành lấy một miếng bánh lớn, sức hấp dẫn của nền kinh tế Việt Nam sẽ giảm đi.
Tuy nhiên, theo ý kiến của chuyên gia Nga, thậm chí nếu các nhà đầu tư nước ngoài ít quan tâm tới Việt Nam, điều đó sẽ không làm tổn thương đến nền kinh tế đất nước này.
Nhờ những cải cách có hiệu quả, Việt Nam đã thành lập cơ sở vững chắc cho nền kinh tế thị trường. Đó là trong số các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bắt đầu xuất hiện những công ty lớn có thể chiếm chỗ của các tập đoàn đa quốc gia.
Không phải ngẫu nhiên các tỷ phú Việt Nam lọt vào danh sách những người giàu nhất thế giới của tạp chí Forbes. Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định có thể thay thế những lợi thế của lao động giá rẻ. Nhờ đó ở Việt Nam sẽ xuất hiện ngày càng nhiều các công ty thành công và đây là bí quyết của "phép lạ kinh tế Việt Nam".
Trong khi đó, tính hiệu quả của nền kinh tế thị trường đang được củng cố nhờ các biện pháp của nhà nước và đảng cầm quyền, Việt Nam biết sử dụng linh hoạt các nguyên tắc của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa có kế hoạch. Về mặt này, Việt Nam là hình mẫu đối với nhiều quốc gia.
Theo giới chuyên gia, trong năm 2030 nền kinh tế Việt Nam sẽ đứng thứ 29, và đến năm 2050 sẽ lọt vào top 20 nền kinh tế lớn nhất trên thế giới. Theo ý kiến của nhà kinh tế Nga, với tốc độ phát triển như hiện nay, nhờ chính sách kinh tế khôn ngoan của giới lãnh đạo Việt Nam, có mọi lý do để dự báo này trở thành hiện thực. (Bnews 1/6) đầu trang(

BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Bàn về kê khai tài sản của cán bộ, cho đến nay vẫn chưa có niềm tin về sự minh bạch, nếu không có biện pháp quyết liệt thì vô ích.
Xin được nhắc lại, “Virus tham nhũng kháng thuốc” là khái niệm mà nguyên Đại biểu Quốc hội Đỗ Văn Đương đưa ra khi ông góp ý về báo cáo hoạt động của Chính phủ vào tháng 3 năm ngoái. Bài phát biểu của vị đại biểu này thẳng thắn, mạnh mẽ, như một liều thuốc đắng, nhưng liệu có dã tật.
Những ý kiến của đại biểu Đỗ Văn Đương hồi đó nêu ra không mới nhưng vẫn nguyên tính thời sự. Bởi vì nó đã diễn ra và đang diễn ra, như một sự thách thức, trêu ngươi, nó tồn tại ngông nghênh trước mặt dân chúng, nó đe dọa sự tồn vong của chế độ.
Công bằng mà nói, không phải ai cũng muốn mua chức, người có thực tài luôn thăng tiến một cách công khai, minh bạch, thể hiện năng lực của mình trong quá trình công tác. Nhưng một khi việc chạy chức như là quy luật, thì đôi khi bắt buộc phải ứng xử theo quy luật mới tồn tại. Cho nên, cái gốc là triệt tiêu được quy luật tiêu cực đó để xây dựng một quy luật mới chuẩn mực và lành mạnh. Như ông Đương nói: Cuộc đời này còn nhiều cô Tấm trong sáng lắm. Nhưng người ta bảo nước trong quá thì cá không ở. Người trong sạch thì không ai chơi, có khi còn coi là quan hệ kém. Ai dám làm người tốt nữa”.
Nếu chỉ nhìn vào những tồn tại đó để phê phán thì sẽ không bao giờ đạt đến sự tiến bộ, mà phải đề xuất giải pháp, bắt tay hành động mới có sự thay đổi. Một trong những giải pháp hoàn toàn có thể thực hiện, đó là tinh gọn bộ máy đến mức tối đa. Khi xác định mục tiêu xây dựng một đội ngũ công chức chuyên nghiệp, tinh thông nghiệp vụ, hưởng lương cao thì chắc chắn sẽ hạn chế được những tiêu cực sinh ra từ bộ máy cồng kềnh. 30% số công chức sáng vác ô đi tối vác về không chỉ ăn lương của dân, mà đó chính là lực lượng gây ra nhũng nhiễu, hối lộ, tham nhũng.
Vừa qua, Bộ Nội vụ đề xuất giảm đầu mối sở, ngành, nâng cao hiệu lực của bộ máy và tinh giản biên chế, cần bổ sung, hoàn thiện để triển khai. Còn những đề xuất rất đang quan tâm như nhất thể hóa một số chức danh Đảng và chính quyền, giảm bớt tổ chức đoàn thể. Nếu không thực hiện quyết liệt thì không thể có một bộ máy tinh gọn, hiện đại như mong muốn.
Một bộ máy ngày càng phình to, loạn cấp phó, nhiều địa phương đưa người trong gia đình lên làm quan, cả họ nắm quyền thì tránh sao khỏi họa tham nhũng.
Thuốc diệt virus tham nhũng không chỉ là các điều luật hình sự, mà thiết kế một môi trường hành chính không cho virus tham nhũng có cơ hội sinh sản và lây lan. (Lao Động 1/6) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Truyền thông Trung Quốc vừa đưa tin, trong một chiến dịch chống tham nhũng địa phương gần đây nhất, 8.000 quan chức cấp thấp ở tỉnh Hồ Nam đã bị phát hiện có hành vi “tham nhũng vặt” trong thời gian dài.
Cụ thể, theo Nhân Dân nhật báo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, gần 8.000 quan chức cấp thấp ở tỉnh Hồ Nam vừa bị phát hiện có hành vi “tham nhũng vặt” trong thời gian dài.
Trong số đó có ông Trần Cương, phụ trách tài chính của một thị trấn nhỏ ở Hồ Nam, Trung Quốc đã bỏ túi riêng 770.000 nhân dân tệ (hơn 2,5 tỉ đồng) tiền trợ cấp cho nông dân chỉ trong một năm.
Sau khi vụ việc bị phanh phui, mọi người ai cũng rất bất ngờ với cách thức bòn rút tiền tinh vi của ông Trần.
Theo đó, để “cắt xén” tiền trợ cấp cho nông dân mà không bị gây chú ý, ông Trần mượn chứng minh thư của hai người bạn rồi mở hai tài khoản ngân hàng dưới tên của họ. Sau đó, ông đưa tên hai người bạn vào danh sách đối tượng được hưởng tiền trợ cấp rồi chuyển một phần rất nhỏ trong số tiền trợ cấp dành cho người khác vào hai tài khoản này.
Chỉ tính riêng vào năm 2014, ông Trần bòn rút từ 155 hộ trong số 22.000 hộ dân thuộc diện có thể nhận trợ cấp để chuyển vào hai tài khoản nói trên.
Với cách thức trên, ông Trần tin rằng sẽ không bị để ý nếu "ăn chặn" mỗi lần một số tiền rất nhỏ, và đã chuyển tiền "bẩn" vào hai tài khoản tổng cộng 60.000 lần.
Được biết, mỗi một người dân được trợ cấp 9,72 nhân dân tệ (hơn 32.000 đồng)/lần, nhưng thực tế chỉ nhận 9,45 nhân dân tệ, vì ông Trần đã chuyển 0,27 nhân dân tệ (gần 900 đồng) của mỗi người nhận vào tài khoản ngân hàng do ông lập.
Vì số tiền bị ông Trần lấy rất nhỏ nên người nhận không hề biết tiền trợ cấp của mình bị bòn rút cho đến khi nhận được thông báo chính thức từ chính quyền sau khi vụ ăn chặn tiền của ông Trần bị phanh phui.
Sau vụ việc trên, nhiều quan chức địa phương ở Hồ Nam cũng bị phát hiện ăn chặn tiền dự án và thu tiền “quyên góp” bắt buộc từ người dân. Và hiện vẫn chưa rõ ông Trần sẽ bị xử lý như thế nào, và dân làng có được bồi thường số tiền bị cắt xén hay không. (Công Lý 31/5) đầu trang(
Bộ trưởng Di dân và Các làng, Khu vực khó khăn Eko Putro Sandjojo cho biết, ông bị sốc khi hay tin 2 quan chức của Bộ bị bắt giữ trong một vụ tham nhũng.
2 nhân viên là Sugito và Jarot Budi Prabowo đã bị Ủy ban Chống tham nhũng Indonesia (KPK) bắt giữ trong một vụ án có liên quan đến công tác thẩm định của Cơ quan Kiểm toán Tối cao (BPK) về các báo cáo tài chính của Bộ hồi năm ngoái.
Trong buổi họp báo cuối tuần qua, ông Eko cho biết, ông không thể tin rằng các quan chức trong Bộ dính líu vào bất kỳ vụ tham nhũng nào vì ông rất nghiêm khắc với họ. Đến giờ, ông vẫn bị sốc khi Sugito, Chánh Thanh tra Bộ liên quan tới vụ hối lộ. Sugito được biết là một người sống giản dị, có một cuộc sống đơn giản.
“Ông ấy sống trong một khu phố nhỏ, được đánh giá là một người tốt", đáng tiếc hơn, Sugito còn là người có tiếng nói trong cuộc chiến chống tham nhũng, ông Eko nói.
Tuy nhiên, theo ông Eko, dù thế nào, ông cũng sẽ hợp tác, hỗ trợ KPK trong suốt quá trình điều tra, cung cấp cho họ bất cứ thông tin nào họ cần, thậm chí để cho KPK kiểm tra Bộ của ông, với mục đích không phải là để bắt giữ các quan chức trong Bộ, mà là để thực hiện hành động phòng ngừa các hành vi tham nhũng có thể diễn ra.
Ông cũng cho biết, sẽ gặp gỡ Sugito để trực tiếp hỏi ông về những gì đã xảy ra và hỗ trợ ông này nếu cần thiết. (Thanh Tra 31/5) đầu trang(./.