Xem ngày trước
BẢN TIN TỔNG HỢP
Xem ngày kế tiếp

Ngày 30 tháng 05 năm 2017
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
TIÊU ĐIỂM
QUẢN LÝ
NHÂN SỰ MỚI
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
KINH TẾ
PHÁP LUẬT
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
NHÌN RA THẾ GIỚI

CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
Nghị định số 67/2017/NĐ-CPquy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí quy định hành vi vi phạm về điều kiện kinh doanh khí dầu mỏ hoá lỏng (LPG) với mức từ 0,5 - 200 triệu đồng.
Cụ thể, hành vi sử dụng LPG chai mini không được phép nạp lại trong cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống bị phạt tiền từ 0,5 - 1 triệu đồng.
Mức phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng áp dụng đối với cửa hàng bán LPG chai có hành vi kinh doanh không đúng với địa điểm ghi trong Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng cho cửa hàng bán LPG chai; phạt tiền từ 1 - 2 triệu đồng đối với hành vi không thực hiện việc niêm yết giá theo quy định.
Mức phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: Không mở sổ theo dõi các loại LPG đã bán cho khách hàng; không treo biển hiệu, biểu tượng của thương nhân kinh doanh LPG đầu mối mà thương nhân chủ sở hữu cửa hàng ký hợp đồng đại lý hoặc có treo biển hiệu nhưng không ghi đầy đủ, rõ ràng theo quy định của pháp luật; kinh doanh chai LPG mini, LPG chai mini không được phép nạp lại.
Nghị định cũng quy định hành vi bán chai LPG mini nạp lại; mua bán, vận chuyển, tồn trữ chai LPG và LPG chai khi không phải là thương nhân kinh doanh LPG đầu mối, thương nhân kinh doanh dịch vụ cho thuê kho, dịch vụ vận chuyển khí, tổng đại lý, đại lý, thương nhân sở hữu cửa hàng bán LPG chai, thương nhân sở hữu trạm nạp LPG vào chai (trừ trường hợp mua để sử dụng phục vụ sản xuất) bị phạt từ 20 - 40 triệu đồng.
Mức phạt tiền từ 40 - 60 triệu đồng áp dụng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: Bán cao hơn giá niêm yết do thương nhân kinh doanh LPG đầu mối quy định; mua, bán LPG và LPG chai trôi nổi trên thị trường không có nguồn gốc xuất xứ; không báo cáo nhãn hiệu hàng hoá theo quy định.
Nghị định quy định đối với hành vi không quy định thống nhất giá bán LPG và LPG chai trong hệ thống phân phối thuộc thương nhân quản lý; chiếm giữ trái phép, mua, bán, trao đổi, lưu giữ chai LPG không thuộc sở hữu trừ trường hợp thuê nạp bị phạt tiền từ 60 - 80 triệu đồng.
Phạt tiền từ 100 - 120 triệu đồng đối với hành vi mua hoặc bán LPG với thương nhân kinh doanh LPG có trạm nạp LPG vào chai, trạm cấp LPG, trạm nạp LPG vào phương tiện vận tải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện theo quy định.
Phạt tiền từ 160 - 200 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Không có Giấy chứng nhận đủ điều kiện cấp LPG hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện cấp LPG đã hết thời hạn hiệu lực hoặc Giấy chứng nhận đủ điều kiện cấp LPG đã bị tước, bị thu hồi; sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện cấp LPG bị tẩy xóa, sửa chữa hoặc giả mạo; cho thuê, cho mượn hoặc thuê, mượn Giấy chứng nhận đủ điều kiện cấp LPG; tiếp tục hoạt động cấp LPG khi đã bị buộc đình chỉ hoạt động của trạm cấp LPG. (Báo Chính Phủ 29/5) đầu trang(
Điều kiện thành lập, mở rộng cụm công nghiệp đã được Chính phủ quy định rõ tại Nghị định số 68/2017/NĐ-CP về quản lý, phát triển cụm công nghiệp.
Theo quy định, điều kiện thành lập cụm công nghiệp gồm: 1- Có trong Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp đã được phê duyệt; 2- Có doanh nghiệp, hợp tác xã có tư cách pháp lý, có năng lực, kinh nghiệm đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật hoặc đơn vị được giao nhiệm vụ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật; 3- Trong trường hợp địa bàn cấp huyện đã thành lập cụm công nghiệp thì tỷ lệ lấp đầy trung bình của các cụm công nghiệp đạt trên 50% hoặc tổng quỹ đất công nghiệp chưa cho thuê của các cụm công nghiệp nhỏ hơn 50 ha.
Còn cụm công nghiệp muốn mở rộng thì phải đáp ứng các điều kiện sau:
1- Không vượt quá 75 ha, có quỹ đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn cấp huyện;
2- Có doanh nghiệp, hợp tác xã có tư cách pháp lý, có năng lực, kinh nghiệm đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật hoặc đơn vị được giao nhiệm vụ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật.
3- Đạt tỷ lệ lấp đầy ít nhất 60% hoặc nhu cầu thuê đất công nghiệp trong cụm công nghiệp vượt quá diện tích đất công nghiệp hiện có của cụm công nghiệp;
4- Hoàn thành xây dựng, đưa vào vận hành thường xuyên các công trình hạ tầng kỹ thuật chung theo quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt.
Trình tự thành lập, mở rộng cụm công nghiệp được quy định cụ thể như sau: Doanh nghiệp, hợp tác xã có văn bản đề nghị làm chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật hoặc đơn vị được giao nhiệm vụ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật có văn bản đề nghị kèm theo Báo cáo đầu tư thành lập, mở rộng cụm công nghiệp, gửi UBND cấp huyện.
Trong thời gian 5 ngày làm việc, UBND cấp huyện chủ trì, phối hợp với doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc đơn vị được giao nhiệm vụ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật lập 8 bộ hồ sơ thành lập, mở rộng cụm công nghiệp (trong đó ít nhất có 2 bộ hồ sơ gốc), gửi Sở Công Thương để chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan tổ chức thẩm định.
Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ thành lập, mở rộng cụm công nghiệp, Sở Công Thương hoàn thành thẩm định, báo cáo UBND cấp tỉnh việc thành lập, mở rộng cụm công nghiệp.
Trường hợp hồ sơ, nội dung Báo cáo thành lập, mở rộng cụm công nghiệp không đáp ứng yêu cầu, Sở Công Thương có văn bản gửi UBND cấp huyện bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Thời hạn bổ sung, hoàn thiện hồ sơ không tính vào thời gian thẩm định.
Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được 1 bộ hồ sơ thành lập, mở rộng cụm công nghiệp và báo cáo thẩm định của Sở Công Thương, UBND cấp tỉnh quyết định hoặc không quyết định thành lập, mở rộng cụm công nghiệp. Quyết định thành lập, mở rộng cụm công nghiệp được gửi Bộ Công Thương 1 bản.
Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được 1 bộ hồ sơ thành lập, mở rộng cụm công nghiệp và báo cáo thẩm định của Sở Công Thương, UBND cấp tỉnh quyết định hoặc không quyết định thành lập, mở rộng cụm công nghiệp. Quyết định thành lập, mở rộng cụm công nghiệp được gửi Bộ Công Thương 1 bản.
Trường hợp cụm công nghiệp thành lập, mở có điều chỉnh diện tích lớn hơn 5 ha so với quy hoạch đã được thỏa thuận thì UBND cấp tỉnh có văn bản thống nhất với Bộ Công Thương trước khi phê duyệt. (Báo Chính Phủ 29/5) đầu trang(
Bộ Tư pháp đang dự thảo Quyết định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 27/2013/QĐ-TTg ngày 19/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định về thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật.
Bộ Tư pháp cho biết, sau 4 năm triển khai thực hiện, Quyết định số 27/2013/QĐ-TTg đã tạo cơ sở pháp lý để Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện tiến hành việc củng cố, kiện toàn; nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Sau khi được kiện toàn, Hội đồng Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện đã tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao, nhất là trong tư vấn, tham mưu hoàn thiện thể chế, chính sách về phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL); xây dựng, ban hành và kiểm tra, đôn đốc chương trình, kế hoạch trung hạn, dài hạn về PBGDPL; xác định nội dung trọng tâm cần phổ biến, gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước và từng địa phương hằng năm, từng thời kỳ, gắn với xây dựng và thi hành pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và cải cách thủ tục hành chính.
Tuy nhiên, từ thực tiễn thi hành Quyết định số 27/2013/QĐ-TTg đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng cũng như kết quả triển khai thực hiện công tác PBGDPL.
Tại dự thảo, Bộ Tư pháp đã đề xuất sửa đổi, bổ sung khoản 1, Điều 1 Quyết định số 27/2013/QĐ-TTg theo hướng đưa 1 Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội từ ủy viên Hội đồng lên làm Phó Chủ tịch Hội đồng cho phù hợp với vị trí của công tác PBGDPL tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Bổ sung đại diện Lãnh đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong cơ cấu của Chính phủ hiện chưa là ủy viên Hội đồng vào cơ cấu ủy viên Hội đồng, bảo đảm đại diện tất cả các Bộ, cơ quan ngang Bộ đều có đại diện tham gia Hội đồng Trung ương; mời đại diện Lãnh đạo Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao làm ủy viên Hội đồng Trung ương.
Sửa đổi, bổ sung khoản 2, Điều 1 Quyết định số 27/2013/QĐ-TTg theo hướng bổ sung lãnh đạo các cơ quan chuyên môn thuộc UBND; Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân làm ủy viên Hội đồng phối hợp PBGDPL cấp tỉnh, cấp huyện, bảo đảm các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện đều có đạo diện lãnh đạo tham gia làm ủy viên Hội đồng.
Theo Bộ Tư pháp, việc sửa đổi, bổ sung này là cần thiết và phù hợp với quy định của Luật tổ chức Chính phủ năm 2015 và Luật tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 khi xác định rõ hơn trách nhiệm của tập thể Chính phủ, UBND các cấp với trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện. Đồng thời nâng cao trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong chỉ đạo, hướng dẫn triển khai công tác giáo dục pháp luật trong các cơ sở dạy nghề theo Nghị quyết phiên họp thường kỳ tháng 8/2016 của Chính phủ (đã giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan quản lý nhà nước đối với các trường sư phạm). Việc bổ sung mời đại diện lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tham gia Ủy viên Hội đồng Trung ương, đại diện Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện tham gia Hội đồng cùng cấp là để phát huy hơn nữa vai trò của công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án trong hoạt động PBGDPL.
Thực tiễn cho thấy, qua hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đã có tác dụng rất tích cực đến việc nâng cao nhận thức pháp luật trong cộng đồng, góp phần hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm, các tranh chấp xảy ra trong cộng đồng dân cư. Vừa qua, thực hiện Luật PBGDPL, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan thi hành án các cấp đã tích cực tham gia PBGDPL, mang lại nhiều hiệu ứng tích cực, vì vậy, cần bổ sung đại diện các cơ quan này làm ủy viên Hội đồng để có sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất trong toàn ngành.
Để khắc phục mâu thuẫn, chồng chéo giữa quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Trung ương tại điểm e khoản 1 Điều 2 Quyết định số 27/2013/QĐ-TTg với điểm a khoản 1 Điều 7 Nghị định số 28/2013/NĐ-CP ngày 04/4/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật PBGDPL, dự thảo Quyết định đề xuất bãi bỏ điểm e khoản 1 Điều 2 Quyết định số 27/2013/QĐ-TTg, theo đó không quy định trách nhiệm của Hội đồng Trung ương trong hướng dẫn về nội dung, hình thức tổ chức Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hằng năm do nhiệm vụ này Chính phủ đã giao cho Bộ Tư pháp thực hiện theo điểm a khoản 1 Điều 7 Nghị định số 28/2013/NĐ-CP ngày 04/4/2013 của Chính phủ.
Dự thảo Quyết định cũng đề xuất bổ sung trách nhiệm của ủy viên Hội đồng tại khoản 1, Điều 5 theo hướng: Trong trường hợp không thể tham dự các phiên họp Hội đồng vì lý do chính đáng, ủy viên Hội đồng có trách nhiệm gửi ý kiến về cơ quan thường trực Hội đồng để tổng hợp, báo cáo Hội đồng.
Ủy viên Hội đồng có trách nhiệm tư vấn, tham mưu, giúp Thủ trưởng cơ quan, tổ chức mà mình là đại diện chỉ đạo, hướng dẫn triển khai công tác PBGDPL cho cán bộ, công chức, viên chức, chiến sỹ lực lượng vũ trang và trên các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý; hàng năm tổng hợp kết quả, báo cáo Hội đồng và đề xuất giải pháp tháo gỡ vướng mắc, bất cập phát sinh từ công tác PBGDPL chuyên ngành.
Quy định này nhằm nâng cao hơn nữa trách nhiệm của ủy viên Hội đồng, nhất là làm rõ về mối quan hệ giữa ủy viên Hội đồng với trách nhiệm tham mưu, giúp Thủ trưởng Bộ, ngành, đoàn thể, cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện trong công tác PBGDPL, nhất là PBGDPL chuyên ngành thuộc lĩnh vực quản lý và PBGDPL cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý.
Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến góp ý dự thảo này trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ. (Báo Chính Phủ 29/5) đầu trang(
Chủ đầu tư đình chỉ thi công khi phát hiện nhà thầu vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường trong thi công xây dựng, phát sinh chất thải làm ô nhiễm môi trường khu vực dự án và xung quanh hoặc có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường. Yêu cầu nhà thầu khắc phục để đảm bảo yêu cầu về bảo vệ môi trường trước khi cho phép tiếp tục thi công.
Đây là một trong những quy định được Bộ Xây dựng đề xuất tại dự thảo Thông tư quy định về bảo vệ môi trường ngành Xây dựng.
Theo dự thảo, Nhà thầu thi công xây dựng phải chịu trách nhiệm đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ môi trường trong thi công xây dựng công trình đối với phần việc mình thực hiện. Nhà thầu chính hoặc tổng thầu có trách nhiệm quản lý bảo vệ môi trường trong thi công xây dựng đối với các công việc do nhà thầu phụ thực hiện. Nhà thầu phụ có trách nhiệm thực hiện các quy định nêu tại Điều này đối với phần việc do mình thực hiện.
Nhà thầu tổ chức bộ phận chuyên trách về quản lý môi trường hoặc kết hợp với bộ phận an toàn, vệ sinh lao động để thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường theo Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hoặc Kế hoạch bảo vệ môi trường đã được xác nhận.
Đồng thời, xây dựng nội quy, quy định về bảo vệ môi trường trong thi công xây dựng công trình. Tổ chức lập, trình chủ đầu tư chấp thuận các giải pháp kỹ thuật, biện pháp bảo vệ môi trường trong thi công xây dựng công trình. Tổ chức tập huấn, phổ biến hướng dẫn các nội quy, quy trình, biện pháp bảo vệ môi trường cho cán bộ, công nhân, người lao động và các đối tượng có liên quan trên công trường.
Nhà thầu phải dừng thi công xây dựng khi phát hiện nguy cơ xảy ra ô nhiễm, sự cố môi trường nghiêm trọng và có biện pháp khắc phục để đảm bảo tuân thủ các yêu cầu về bảo vệ môi trường trước khi tiếp tục thi công trở lại.
Dự thảo nêu rõ, đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình thuộc diện phải lập Báo cáo ĐTM hoặc Kế hoạch bảo vệ môi trường theo quy định, trước khi triển khai thi công, chủ dự án phải lập báo cáo ĐTM hoặc Kế hoạch bảo vệ môi trường, trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt Báo cáo ĐTM hoặc xác nhận Kế hoạch bảo vệ môi trường.
Chủ đầu tư phải lập kế hoạch quản lý và bảo vệ môi trường trên cơ sở chương trình quản lý môi trường đã đề xuất trong Báo cáo ĐTM hoặc Kế hoạch bảo vệ môi trường trước khi thi công công trình.
Đồng thời, tổ chức kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường trong thi công xây dựng công trình của các nhà thầu. Đình chỉ thi công khi phát hiện nhà thầu vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường trong thi công xây dựng, phát sinh chất thải làm ô nhiễm môi trường khu vực dự án và xung quanh hoặc có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường. Yêu cầu nhà thầu khắc phục để đảm bảo yêu cầu về bảo vệ môi trường trước khi cho phép tiếp tục thi công.
Chủ đầu tư phối hợp với nhà thầu thi công xây dựng xử lý, khắc phục khi xảy ra ô nhiễm, sự cố môi trường; kịp thời báo cáo, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền để giải quyết ô nhiễm, sự cố môi trường nghiêm trọng và các vấn đề phát sinh…
Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến góp ý dự thảo này trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ. (Báo Chính Phủ 29/5) đầu trang(
Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2014/NĐ-CP ngày 7/7/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa ra lấy ý kiến góp ý.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, ngày 7/7/2014 Chính phủ đã ban hành Nghị định 67/2014/NĐ-CP về một số chính sách phát triển thủy sản; Nghị định 89/2015/NĐ-CP ban hành ngày 7/10/2015, Nghị định 172/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 67/2014/NĐ-CP (Nghị định 67). Nghị định 67 bao gồm nhiều nhóm chính sách phát triển thủy sản mang tính đột phá, đồng bộ, phù hợp với tâm tư nguyện vọng của đông đảo ngư dân, góp phần quan trọng vào việc phát triển ngành thủy sản theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tái cơ cấu ngành thủy sản, phát triển bền vững.
Tính đến 28/2/2017, các ngân hàng thương mại đã ký hợp đồng tín dụng để đóng mới, nâng cấp tàu với số tiền cam kết cho vay khoảng 9.139 tỷ đồng. Hiện đã có 557 tàu cá đóng mới và 104 tàu nâng cấp đi vào hoạt động tại các tỉnh trong đó có 188 tàu vỏ thép, 22 tàu composite và 347 tàu vỏ gỗ và nâng cấp 105 tàu. Các tàu này chủ yếu làm nghề lưới vây, rê, chụp. Số tàu cá đóng mới đi vào hoạt động sản xuất đều đạt hiệu quả cao, an toàn. Tính đến ngày 28/2/2017, các chủ tàu đã trả nợ gốc cho ngân hàng đạt 65 tỷ đồng, tổng dư nợ còn 7.963 tỷ đồng.
Các Ngân hàng thương mại đã thẩm định, ký hợp đồng với 250 chủ tàu và thực hiện giải ngân với tổng số tiền gần 604 tỷ đồng tại các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Tiền Giang, Phú Yên, Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa, Bạc Liêu, Bình Thuận, Ninh Thuận. Hiện có 85 khách hàng còn dư nợ với số tiền gần 23 tỷ đồng.
Các địa phương cũng đã tổ chức đào tạo, hướng dẫn thuyền viên tàu cá vận hành tàu vỏ thép, tàu vỏ vật liệu mới; hướng dẫn kỹ thuật khai thác, bảo quản sản phẩm theo công nghệ mới cho 2.347 thuyền viên với kinh phí là 9.409 triệu đồng. Hỗ trợ được 3.740 chuyến biển tương đương số tiền là 155,54 tỷ đồng theo chính sách hỗ trợ vận chuyển hàng hóa từ đất liền ra khai thác hải sản xa bờ và vận chuyển sản phẩm hải sản khai thác xa bờ về đất liền cho các tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ có tổng công suất máy chính từ 400CV trở lên…
Tuy nhiên, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, bên cạnh những kết quả tích cực, trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định 67/2014/NĐ-CP vẫn còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc cần được sửa đổi bổ sung. Cụ thể, về chính sách đầu tư, việc cân đối, bố trí kinh phí đối với các công trình đầu tư cơ sở hạ tầng cho ngành thủy sản chưa được bố trí theo đúng quy định tại Điều 3 Nghị định 67/2014/NĐ-CP (bố trí kinh phí hàng năm giai đoạn 2015 – 2020 với mức đầu tư bình quân hàng năm tăng gấp 2 lần so với mức bình quân giai đoạn 2011 – 2014), cụ thể, ngân sách năm 2015 tăng 30,5% so với 2014; năm 2016 giảm 22,5% so với năm 2015. Do đó đã ảnh hưởng tiến độ và khả năng đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng nghề cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá, đặc biệt là nơi neo đậu đối với các tàu cá có kích thước lớn, tàu vỏ thép…
Bên cạnh đó, Nghị định 67/2014/NĐ-CP quy định vốn đối ứng của địa phương nhưng không đạt, đầu tư không đồng bộ, các cảng cá không có mái che và hệ thống xử lý nước thải trong sản xuất, chưa có hạng mục đầu tư đối với nạo vét luồng lạch, đặt phao tiêu biển để tàu cập cảng, tránh trú bão ở các cảng cá loại I và khu neo đậu tránh trú bão cấp vùng. Nguồn vốn để thực hiện đầu tư hạ tầng cho ngành thủy sản còn dàn trải, chưa tập trung để đáp ứng được trực tiếp sản xuất.
Về chính sách tín dụng hỗ trợ lãi suất vốn vay đóng mới, nâng cấp tàu, Nghị định 67/2014/NĐ-CP chưa có quy định đối với ngư dân đang đóng hoặc mới đóng xong nhưng vì nhiều lý do khác nhau nên không tiếp tục thực hiện dự án đóng tàu nữa muốn chuyển nhượng cho chủ tàu khác.
Trường hợp ngư dân đề nghị được vay vốn bổ sung vượt dự toán ban đầu do có sự điều chỉnh thiết kế hoặc do khối lượng vật tư thực tế vượt dự toán chưa được thực hiện. Trường hợp tàu đóng xong đi vào hoạt động bị bắt, bị xử phạt, một số trường hợp bị tịch thu tàu nhưng chưa có phương án xử lý thu hồi vốn để bảo toàn vốn vay cho ngân hàng thương mại…
Vì vậy, cần thiết ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 67/2014/NĐ-CP cho phù hợp với quy định của pháp luật.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang lấy ý kiến góp ý dự thảo này trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ. (Báo Chính Phủ 29/5) đầu trang(

TIÊU ĐIỂM
Theo đặc phái viên TTXVN, nhân dịp Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc thăm chính thức Hợp chúng quốc Hoa Kỳ theo lời mời của Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Donald Trump, tờ Washington Times số ra ngày 30/5 đăng tải thông điệp của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc như sau:
"Trong hơn hai thập kỷ qua, tôi đã có cơ hội được nhiều lần đến đất nước Hoa Kỳ để học tập nghiên cứu, làm việc và tôi luôn cảm nhận được sự chào đón chân thành từ bạn bè Hoa Kỳ. Trong chuyến thăm Hoa Kỳ lần này, trên cương vị là Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, tôi cùng các thành viên trong Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Việt Nam vui mừng được gặp lại những người bạn cũ và làm quen với những người bạn mới, cùng chung một tâm huyết là ủng hộ nhiệt thành quan hệ hữu nghị, hợp tác Việt Nam - Hoa Kỳ, để cùng viết thêm một trang mới trong lịch sử quan hệ giữa hai dân tộc chúng ta.
Cách nhau một đại dương, nhưng quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao 22 năm trước đây không ngừng xích lại gần nhau hơn. Bằng sự can đảm vượt lên chính mình và tinh thần "gác lại quá khứ, hướng tới tương lai", chúng ta đã vượt qua biết bao cam go, khó khăn, thách thức để đưa quan hệ từ cựu thù, thành bạn và nay là Đối tác toàn diện với động lực phát triển quan hệ mạnh mẽ.
Xuất khẩu từ Hoa Kỳ vào Việt Nam trong 10 năm qua tăng 5 lần. Trong chuyến đi này, các doanh nghiệp hai bên sẽ ký các hợp đồng thương mại trị giá nhiều tỉ USD, sẽ tạo ra hàng chục nghìn việc làm tại Mỹ và tăng xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Việt Nam và của Việt Nam sang Hoa Kỳ, góp phần cải thiện đời sống cho rất nhiều người lao động ở hai nước.
Hai nền kinh tế Việt Nam và Hoa Kỳ hoàn toàn có tính bổ sung cho nhau và càng tăng cường hợp tác chúng ta có nhiều lợi ích. Việt Nam thường nhập khẩu từ Hoa Kỳ máy bay (Boeing), động cơ điện, thiết bị y tế công nghệ cao, dược phẩm, trong năm 2016, đã nhập gần 1,5 triệu tấn ngô, đỗ tương, lúa mỳ, 0,5 triệu tấn bông,…, và ngược lại chúng tôi xuất khẩu sang Hoa Kỳ những mặt hàng tôm, cá tra, rau quả, đồ gỗ, hàng may mặc, giầy dép,… mà người dân Hoa Kỳ ưa dùng. Giữa tháng 5/2017, Tập đoàn sữa lớn nhất Việt nam - Vinamilk đã nhập 2.000 con bò sữa cao sản từ Hoa Kỳ và sẽ là 8.000 con trong năm nay để nhân rộng nguồn sữa chất lượng cao cho trẻ em Việt Nam.
Phòng thí nghiệm của Underwriter Laboratories giúp cho việc kiểm tra chất lượng hàng hóa Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế. Máy bay Boeing, Vệ tinh Lockheed Martin đang giúp hiện đại hóa một cách nhanh chóng ngành giao thông vận tải và viễn thông của Việt Nam. Tuốc-bin điện của GE đang giúp chuyển đổi cơ cấu sử dụng năng lượng của Việt Nam sang hướng ngày càng xanh, sạch.
Hơn 31.000 sinh viên Việt Nam hiện đang học tập tại Hoa Kỳ đã và sẽ là một nguồn lực to lớn cho sự phát triển kinh tế, khoa học - công nghệ của Việt Nam, cho tương lai quan hệ hai nước. Đại học Fulbright Việt Nam và Chương trình Hòa bình (Peace Corps) sớm được triển khai tại Việt Nam không chỉ góp phần hỗ trợ các học sinh, sinh viên Việt Nam tiếp cận nền giáo dục hàng đầu thế giới và thông thạo tiếng Anh hơn nữa, mà còn những là minh chứng cụ thể về sự phát triển của quan hệ hai nước.
Ở Quảng Nam, quê hương thân yêu của tôi, nỗ lực để giữ gìn vẻ đẹp tự nhiên của Cửa Đại, bảo tồn Phố cổ Hội An, di sản thế giới UNESCO, cũng nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các bạn bè Hoa Kỳ. Chúng tôi cảm ơn những chuyên gia, nhà nghiên cứu đến từ Đại học Harvard, bang Massachusetts, Đại học Portland, bang Oregon, Đại học Arizona, bang Arizona, và nhiều trung tâm đào tạo, nghiên cứu của Hoa Kỳ khác đã sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm của mình trong việc khắc phục hậu quả thiên tai, phòng chống bão, lụt, biến đổi khí hậu, đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao.
Những vết thương chiến tranh đang được hàn gắn bởi các hoạt động hợp tác tẩy độc chất dioxin ở các điểm phơi nhiễm và rà phá bom mìn chưa nổ. Sự giúp đỡ chân thành, không vụ lợi đó chính là những viên gạch chắc chắn để xây dựng sự hiểu biết, lòng tin, tạo nền tảng vững bền cho mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trường tồn trong nhiều thập kỷ tới.
Hơn 20 năm trước, nhiều người Hoa Kỳ biết tới Việt Nam như là một cuộc chiến tranh, nhưng giờ đây nhiều người Hoa Kỳ đã biết Việt Nam là quốc gia độc lập, có chính sách đối ngoại độc lập; một đối tác hết sức coi trọng quan hệ với Hoa Kỳ, nhất quán thúc đẩy quan hệ theo hướng ổn định, lâu dài, xây dựng và cùng có lợi trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, thể chế chính trị của nhau, góp phần duy trì hòa bình, an ninh, ổn định và hợp tác phát triển ở khu vực và thế giới.
Chúng tôi mong muốn xây dựng quan hệ làm việc tốt với Chính quyền của Tổng thống Donald Trump không chỉ vì lợi ích của nhân dân hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ, mà còn vì cả lợi ích của Cộng đồng ASEAN, của hòa bình, an ninh, ổn định, hợp tác và thịnh vượng chung của khu vực châu Á - Thái Bình Dương và thế giới. Tháng 11/2017, Việt Nam sẽ tổ chức Hội nghị Cấp cao APEC 2017 với chủ đề "Tạo động lực mới, cùng vun đắp tương lai chung". Chúng tôi hoan nghênh việc Tổng thống Donald Trump sớm nhận lời tham gia Hội nghị quan trọng này và sẽ cùng Hoa Kỳ và các nền kinh tế thành viên khác xây dựng một chương trình nghị sự thiết thực, hiệu quả.
Với những bước tiến to lớn đạt được hơn 20 năm qua, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ 20 năm tới". (Tin Tức 30/5)đầu trang(

QUẢN LÝ
Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản chỉ đạo về về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế.
Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ về tăng cường thực hiện Nghị quyết số 27/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 1/11/2016 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế và Nghị quyết số 24/2016/QH14 ngày 08/11/2016 của Quốc hội về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020.
Cụ thể, Phó Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư thường xuyên theo dõi, đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương xây dựng, ban hành và tổ chức triển khai kế hoạch, chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 27/NQ-CP ngày 21/2/2017 của Chính phủ, cụ thể hóa những nhiệm vụ được giao trong giai đoạn 2016-2020, trong đó phải xác định rõ danh mục nhiệm vụ, đề án, chương trình, tiến độ và thời gian hoàn thành cụ thể đối với từng nhiệm vụ; tăng cường giám sát, đánh giá quá trình thực hiện, xử lý kịp thời những vướng mắc phát sinh theo thẩm quyền; trường hợp vượt thẩm quyền, đề xuất báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan khẩn trương đề xuất việc thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia về cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 6/2017.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan xem xét, xử lý theo thẩm quyền và quy định của pháp luật đối với kiến nghị về việc thay đổi cách thức làm việc, thực thi của Chính phủ và các địa phương trong thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng; trường hợp vượt thẩm quyền, đề xuất báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Phó Thủ tướng giao các Bộ, cơ quan theo chức năng, nhiệm vụ được giao tổ chức thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế năm 2017; trường hợp gặp vướng mắc hoặc vượt thẩm quyền, đề xuất báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 30/5) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước (DNNN), trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2016 - 2020”.
Mục tiêu của Đề án nhằm thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước để DNNN có cơ cấu hợp lý hơn, tập trung vào ngành, lĩnh vực then chốt; cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội; quốc phòng, an ninh; lĩnh vực độc quyền tự nhiên; ứng dụng công nghệ cao, đầu tư lớn, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư; thực hiện công khai, minh bạch theo cơ chế thị trường và quy định của pháp luật trong cổ phần hóa và thoái vốn, không để xảy ra tiêu cực, lợi ích nhóm, thất thoát vốn, tài sản Nhà nước...
Đề án tập trung xử lý dứt điểm các hạn chế, yếu kém của DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước phù hợp với quy định của pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch, theo cơ chế thị trường. Đồng thời, hoàn thiện mô hình quản lý, giám sát DNNN và vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp; sớm tách chức năng đại diện chủ sở hữu vốn của Nhà nước tại DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước với chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành, địa phương.
Nhà nước chỉ giữ 100% vốn tại 103 doanh nghiệp (chưa bao gồm các công ty nông, lâm nghiệp, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước, Công ty Mua bán nợ Việt Nam và Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam, công ty thủy nông thực hiện sắp xếp theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ)... (Nhân Dân 30/5) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án thí điểm hoàn thiện và nhân rộng mô hình bảo vệ môi trường trong xây dựng nông thôn mới (NTM) tại các xã khó khăn, biên giới, hải đảo theo hướng xã hội hóa, giai đoạn 2017 - 2020.
Đề án nhằm hoàn thiện và nhân rộng các mô hình về bảo vệ môi trường theo hướng xã hội hóa, tập trung tại các xã khó khăn, biên giới, hải đảo; trên cơ sở đó, hoàn thiện chính sách về huy động nguồn lực xã hội hóa, cơ chế quản lý và vận hành mô hình sau đầu tư, đề xuất các giải pháp công nghệ phù hợp.
Qua đó, đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả và bền vững tiêu chí môi trường trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2016 - 2020. Trên cơ sở đó sẽ xây dựng 14 mô hình về cấp nước sạch nông thôn tập trung (tại bảy vùng kinh tế trong cả nước) để thí điểm các nội dung theo phương châm đẩy mạnh xã hội hóa với sự tham gia của doanh nghiệp và cộng đồng… (Nhân Dân 30/5) đầu trang(
Về lâu dài, cần tổ chức lập quy hoạch tổng thể chỉnh trị bờ biển vùng ĐBSCL làm cơ sở để thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống sạt lở, hạn chế rủi ro thiên tai; xây dựng cơ chế quản lý tổng hợp vùng ven sông, ven biển gắn với sinh kế của người dân.
Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đưa ra chỉ đạo này tại cuộc làm việc với lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương và các tỉnh ĐBSCL về công tác phòng, chống sạt lở, xâm thực bờ biển, suy thoát rừng ngập mặn diễn ra sáng 29/5 tại tỉnh Cà Mau.
Tại cuộc họp, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã nghe báo cáo của các địa phương, đánh giá nguyên nhân, những điểm còn tồn tại hạn chế trong việc triển khai các giải pháp ứng phó thời gian qua. Các đại biểu dự họp cũng đã đề xuất nhiều giải pháp để khắc phục hiệu quả tình trạng sạt lở, xâm thực bờ biển trong thời gian tới.
Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cho rằng, ĐBSCL có vị trí đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế-xã hội của cả nước, chiếm 13% diện tích toàn quốc, với dân số gần 20 triệu người, là trung tâm sản xuất nông nghiệp của nước ta.
Tuy nhiên, đây là khu vực đang đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức trong quá trình phát triển bền vững. Tình trạng xâm nhập mặn ngày càng sâu, ảnh hưởng lớn đến sản xuất, nguồn nước sinh hoạt của nhân dân, nhất là đối với các tỉnh ven biển. Tình trạng sạt lở bờ sông, kênh rạch, bờ biển xảy ra ở hầu hết các địa phương trong vùng. Theo thống kê thì cả 13 địa phương trong vùng đều xảy ra sạt lở, với trên 400 khu vực sạt lở ở quy mô, mức độ khác nhau, tổng chiều dài gần 900 km, trong đó sạt lở bờ biển là trên 310 km. Riêng tỉnh Cà Mau có tới trên 150 km bờ biển và 100 km bờ sông, kênh rạch bị sạt lở.
Những năm qua, Trung ương đã hỗ trợ kinh phí để xử lý sạt lở thông qua ngân sách hằng năm; thông qua các Chương trình củng cố, nâng cấp hệ thống đê biển (từ năm 2010 đến nay); các dự án ứng phó với biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, các địa phương cũng đã chủ động huy động các nguồn lực để tổ chức xử lý nhiều khu vực sạt lở nguy hiểm, cả kè bằng vật liệu cứng và vật liệu mềm, trồng, khôi phục rừng ngập mặn; tổ chức di dân ra khỏi những vùng sạt lở, rừng đặc dụng.
Theo thông kê từ năm 2010 đến nay, các tỉnh đã thực hiện xử lý sạt lở 12 đoạn bờ biển (37 km); trồng được 2.593 ha rừng ngập mặn, thuộc 7 tỉnh ven biển; trong đó trồng mới là 1.967 ha, khôi phục là 626 ha.
Về nguyên nhân, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đồng tình với ý kiến của các bộ, ngành, lãnh đạo UBND các tỉnh ĐQSCL. Trong đó, có thể kể đến những nguyên nhân khách quan như tình trạng mất cân bằng bùn cát do việc xây dựng các hồ chứa ở thượng nguồn và khai thác cát, sỏi ở lòng sông, ven biển đã làm giảm đáng kể lượng bùn cát; địa chất vùng ven biển ĐBSCL rất mềm yếu, được cấu tạo từ các dạng trầm tích phù sa, rất dễ bị xói lở do tác động của sóng và dòng ven bờ; nước biển có xu thế ngày càng dâng cao, trong vòng 20 năm qua, trung bình nước biển dâng cao từ 2-3 mm/năm...
Bên cạnh nguyên nhân khách quan, những nguyên nhân chủ quan gây ra tình trạng sạt lở, xâm nhập bờ biển như chặt phá rừng ngập mặn để nuôi trồng hải sản, đánh bắt thủy sản ven rừng trong những năm gần đây làm suy thoái nghiêm trọng rừng ngập mặn; xây dựng nhiều nhà ở, công trình hạ tầng ven biển, đê bao, bờ bao quá sát đường bờ biển đã làm gia tăng nguy cơ gây xói lở bờ biển; lún sụt đất do việc khai thác nước ngầm quá mức để nuôi trồng thủy, hải sản, nhất là ở các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau. Theo báo cáo sơ bộ của Viện Địa chất Na Uy, tốc độ lún sụt trong vài năm gần đây khoảng 3 cm/năm.
Phó Thủ tướng cũng đánh giá cao việc các địa phương đã chủ động, tập trung ứng khó với tính trạng sạt lở, xâm thực bờ biển. Tuy nhiên, kết quả chưa được như mong muốn, còn nhiều tồn tại, hạn chế phải tập trung khắc phục trong thời gian tới.
Trên cơ sở phân tích những nguyên nhân, hạn chế thời gian qua, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng yêu cầu trước mắt, UBND các tỉnh phải nắm chắc diễn biến, ứng phó kịp thời, bảo đảm tuyệt đối an toàn về người và tài sản của người dân.
Phó Thủ tướng yêu cầu các địa phương phải có phương án sơ tán kịp thời các hộ dân ra khỏi khu vực nguy hiểm, gia cố các khu vực sạt lở, tổ chức theo dõi chặt chẽ diễn biến tại những khu vực đang có sạt lở bờ biển phức tạp; tổ chức kiểm tra, rà soát việc giao đất, giao rừng và quản lý bảo vệ rừng phòng hộ ven biển, ngăn chặn và xử lý kịp thời những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển rừng ngập mặn, nhất là các khu vực nuôi trồng thủy sản.
Về lâu dài, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng giao UBND các địa phương tăng cường tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức của người dân đối với các hoạt động phòng chống thiên tai nói chung và phòng chống sạt lở bờ biển nói riêng để giảm các tác động tiêu cực gây sạt lở bờ biển; thực hiện nghiêm công tác quản lý bờ biển, ngăn chặn và xử lý kịp thời những hành động xây dựng công trình, nhà ở, gắn với trách nhiệm người đứng đầu các cấp; tổ chức quản lý chặt chẽ rừng phòng hộ ven biển, đồng thời huy động các nguồn lực đẩy mạnh việc trồng, phục hồi rừng phòng hộ ven biển.
Đối với những khu vực sạt lở, nếu cần thiết phải xây dựng công trình để bảo vệ bờ, đề nghị sắp xếp thứ tự ưu tiên, xây dựng phương án cụ thể, huy động các nguồn lực hợp pháp của địa phương để tổ chức xử lý, trường hợp vượt quá khả năng cân đối ngân sách của địa phương, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định theo quy định.
Phó Thủ tướng giao Bộ NN&PTNT, Ban Chỉ đạo Trung ương Phòng, chống thiên tai phối hợp với các bộ và các địa phương hoàn thiện các nghiên cứu về phòng chống xói lở bờ biển. Chủ trì hướng dẫn các địa phương về giải pháp kỹ thuật, trong đó chú trọng thực hiện các giải pháp mềm phù hợp với điều kiện từng vùng, bảo đảm hiệu quả đầu tư, tránh lãng phí.
Cùng với đó, tiếp tục rà soát hoàn chỉnh hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn về phòng, chống sạt lở bờ sông, bờ biển, nhất là những nơi có địa chất mềm yếu, diễn biến dòng chảy phức tạp như vùng ĐBSCL; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế trong nghiên cứu các giải pháp chỉnh trị sông, ven biển nhằm hạn chế xói lở, bồi lấp ổn định lòng dẫn và dải ven biển, nhất là các khu vực cửa sông.
Đặc biệt, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ NN&PTNT phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức lập quy hoạch tổng thể chỉnh trị bờ biển vùng ĐBSCL làm cơ sở thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng chống sạt lở, hạn chế rủi ro thiên tai; xây dựng cơ chế quản lý tổng hợp vùng ven sông, ven biển gắn với sinh kế của người dân.
Phó Thủ tướng giao Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức rà soát, đánh giá, đề xuất việc điều chỉnh, bổ sung xác định các cấp độ rủi ro thiên tai phù hợp hơn với thực tế; rà soát hệ thống quan trắc về thủy, hải văn vùng ĐBSCL và trên phạm vi toàn quốc; tổ chức theo dõi và đánh giá hằng năm về tổng lượng bùn cát đến từ thượng nguồn và tổng lượng cát khai thác trong vùng ĐBSCL làm cơ sở đề xuất giải pháp khắc phục, hạn chế nguy cơ suy thoái lòng dẫn, suy kiệt dòng chảy; chỉ đạo rà soát các hoạt động khai thác cát sỏi ở lòng sông, ven biển, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét nghiêm cấm việc khai thác cát, sỏi tại các khu vực trọng điểm đang có diễn biến sạt lở hoặc có nguy cơ xảy ra sạt lở.
Giao Bộ KH&ĐT, Bộ Tài chính ưu tiên bố trí ngân sách và nguồn vốn ODA tiếp tục hỗ trợ kinh phí cho công tác phòng chống sạt lở bờ sông, bờ biển, nhất là vùng ĐBSCL. (Báo Chính Phủ 29/5) đầu trang(

NHÂN SỰ MỚI
Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định thay đổi thành viên Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ.
Theo quyết định, ông Lê Quang Hùng, Thứ trưởng Bộ Xây dựng, sẽ thay thế ông Đỗ Đức Duy tham gia vào Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ.
Trước đó, ông Đỗ Đức Duy, Thứ trưởng Bộ Xây dựng, thành viên Ban Chỉ đạo, đã nhận quyết định điều động, chỉ định của Ban Bí thư, tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và giữ chức vụ Phó Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái nhiệm kỳ 2015-2020.
Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ là tổ chức phối hợp liên ngành, có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện công tác cải cách hành chính theo chương trình, kế hoạch cải cách hành chính của Chính phủ.
Nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo là nghiên cứu, đề xuất các chủ trương, chính sách và giải pháp quan trọng để đẩy mạnh công tác cải cách hành chính của Chính phủ; cho ý kiến về chương trình, kế hoạch cải cách hành chính dài hạn và hằng năm do Bộ Nội vụ trình Chính phủ.
Ban Chỉ đạo giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương trong việc thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính; xem xét nội dung các đề án, dự án quan trọng về cải cách hành chính của Chính phủ, các dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định và các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ có nội dung chủ yếu liên quan đến cải cách hành chính trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Đồng thời, Ban Chỉ đạo giúp Thủ tướng Chính phủ đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chương trình, kế hoạch cải cách hành chính của Chính phủ; các nghị định, nghị quyết của Chính phủ, quyết định và các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ liên quan đến công tác cải cách hành chính; giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc xây dựng, nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến trong công tác cải cách hành chính. (Hà Nội Mới 29/5) đầu trang(
Viện trưởng VKSNDTC, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam,... vừa quyết định điều động, bổ nhiệm nhân sự chủ chốt một số đơn vị trực thuộc.
Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam tiếp nhận và bổ nhiệm ông Ngọ Duy Hiểu, Thành ủy viên, Phó Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Hà Nội về công tác tại Tổng Liên đoàn và bổ nhiệm giữ chức Trưởng ban Quan hệ Lao động Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, thời hạn 5 năm, kể từ ngày 19/5.
Viện KSNDTC: Viện trưởng VKSNDTC điều động, biệt phái ông Nguyễn Duy Giảng, Vụ trưởng Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án kinh tế (Vụ 3) giữ chức Viện trưởng VKSND TP Hà Nội, kể từ ngày 1/6.
Bổ nhiệm ông Nguyễn Văn Quảng, Viện trưởng VKSNDCC tại TP.HCM (Viện cấp cao 3) giữ chức Vụ trưởng Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án kinh tế VKSNDTC. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày 1/6.
Trước đó, Viện trưởng VKSNDTC đã ban hành quyết định về việc kiện toàn thành viên Hội đồng Trường ĐH Kiểm sát Hà Nội.
Tổng công ty Cổ phần Bia Rượu Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) bổ nhiệm có thời hạn đối với ông Nguyễn Thành Nam, Phó Tổng giám đốc, Ủy viên HĐQT làm Tổng giám đốc của Sabeco kể từ ngày 12/6. (Vietnamnet 29/5) đầu trang(
Bộ Nội vụ vừa tổ chức công bố và trao các quyết định của Ban Bí thư, Bộ trưởng Nội vụ về công tác cán bộ.
Ngày 25/5, Bộ trưởng Nội vụ Lê Vĩnh Tân đã trao quyết định của Ban Bí thư về việc nghỉ hưu đối với PSG.TS Nguyễn Trọng Điều, nguyên Thứ trưởng, nguyên Phó giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc Học viện Hành chính quốc gia.
Ngày 26/5, Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân đã trao quyết định về việc bổ nhiệm có thời hạn bà Thang Thị Hạnh giữ chức Vụ trưởng Vụ Tổng hợp và quyết định bổ nhiệm có thời hạn ông Phạm Hùng Thắng giữ chức Phó vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ. (Vietnamnet 29/5) đầu trang(

THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
Ngày 29-5, kỳ họp thứ ba, Quốc hội (QH) khóa XIV sang ngày làm việc thứ sáu. Buổi sáng, các đại biểu QH làm việc tại hội trường, nghe Chính phủ trình dự án Luật Tố cáo (sửa đổi) và thảo luận về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự án Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (sửa đổi). Buổi chiều, QH nghe Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Du lịch (sửa đổi) và thảo luận ở hội trường về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự án luật này.
Tờ trình dự án Luật Tố cáo (sửa đổi) nêu rõ, Luật Tố cáo hiện hành có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2012 đã tạo hành lang pháp lý để công dân thực hiện quyền tố cáo, giúp các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền kịp thời phát hiện và xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, qua hơn bốn năm triển khai thực hiện cho thấy, Luật đã bộc lộ những hạn chế, bất cập.
Đó là nguyên tắc xác định thẩm quyền giải quyết trong nhiều trường hợp còn gặp vướng mắc như: khi người bị tố cáo đã chuyển công tác, bị mất chức, cho thôi việc, bị thôi việc, về hưu nhưng bị tố cáo lúc đương nhiệm hoặc tố cáo hành vi vi phạm pháp luật tại thời điểm họ giữ chức vụ thấp nhưng hiện tại giữ chức vụ cao hơn; tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; tố cáo mà nội dung thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan, tổ chức; tố cáo cơ quan, tổ chức.
Luật hiện hành chưa quy định thẩm quyền giải quyết tố cáo của thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ của người có chức danh, chức vụ trong doanh nghiệp nhà nước... Những hạn chế, bất cập này dẫn đến tình trạng làm giảm hiệu lực, hiệu quả công tác giải quyết tố cáo, trật tự, kỷ cương pháp luật, vì vậy cần phải sửa đổi, bổ sung Luật Tố cáo nhằm khắc phục tình trạng nêu trên.
Dự thảo Luật Tố cáo (sửa đổi) tiếp tục kế thừa quy định của Luật hiện hành về phạm vi điều chỉnh, trong đó quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hai nhóm hành vi vi phạm pháp luật: tố cáo hành vi vi phạm trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức; tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực. Bên cạnh đó, dự thảo Luật còn quy định về vấn đề bảo vệ người tố cáo và quản lý công tác giải quyết tố cáo; khen thưởng và xử lý hành vi vi phạm.
Thẩm tra dự án Luật, Ủy ban Pháp luật của QH đề nghị ban soạn thảo cần lưu ý việc sửa đổi, bổ sung các quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo cần đặt trong bối cảnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho công dân thực hiện quyền tố cáo; làm rõ sự phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình giải quyết tố cáo; một số nội dung mới được bổ sung như về điều kiện, cơ chế bảo vệ người tố cáo cần có sự đánh giá tác động cụ thể và sâu sắc hơn nữa, xác định rõ cơ quan chủ trì trong việc bảo vệ người tố cáo, cơ sở vật chất các điều kiện bảo đảm phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta và bảo đảm tính khả thi. Ban soạn thảo tiếp tục rà soát các quy định của Luật này và một số luật có liên quan nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật (như Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Giao dịch điện tử, Luật Cán bộ, công chức…).
Thảo luận về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự án Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (sửa đổi), nhiều ý kiến quan tâm việc chống tham nhũng, lãng phí đối với tài sản công. Các đại biểu: Lê Anh Tuấn (Hà Tĩnh), Phạm Văn Tuân (Thái Bình) và một số đại biểu khác cho rằng, đề nghị phân loại, quy định rõ ràng, cụ thể về tài sản công để tránh sự xung đột giữa các quy định của pháp luật và các luật chuyên ngành khác về tài sản công, nhất là Điều 36 của Luật Doanh nghiệp.
Theo đó, Ban soạn thảo cần phân tích rõ tài sản công phục vụ sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp có bao gồm tài sản góp vốn vào doanh nghiệp hay không? Bên cạnh đó, việc sử dụng tài sản công vào các hoạt động liên doanh, liên kết sẽ được thực hiện như thế nào trong thực tế sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Có đại biểu đề nghị không nên quy định việc cho thuê, liên doanh, liên kết đối với tài sản công ở đơn vị sự nghiệp công lập để tránh thất thoát tài sản nhà nước.
Một số ý kiến cho rằng, việc cho phép khai thác tài sản công chưa sử dụng hết công năng tại các đơn vị sự nghiệp sẽ dẫn tới việc tiếp tục đầu tư lãng phí, dư thừa công năng, thậm chí là lạm dụng, tùy tiện trong việc sử dụng tài sản công. Có đại biểu đề nghị, Ban Soạn thảo cần nghiên cứu kỹ và rà soát cụ thể về phân loại tài sản công, đồng thời cần bổ sung số điện thoại đẹp, biển số xe ô-tô, xe máy đẹp, quyền sở hữu trí tuệ, cơ sở dữ liệu… vào phạm vi tài sản công.
Đại biểu Ngọ Duy Hiểu (Hà Nội) và một số đại biểu cho rằng, cần bổ sung và quy định cụ thể hơn những hành vi bị cấm trong việc sử dụng tài sản công để bảo đảm chặt chẽ, minh bạch trong sử dụng. Bên cạnh đó, cần quy định cụ thể việc tiếp nhận các tài sản cho, tặng ngay trong Luật, vì thực tế hiện nay một số cơ quan, đơn vị sử dụng các tài sản cho, tặng (xe ô-tô) không đúng tiêu chuẩn, định mức được quy định, dẫn đến việc phải trả lại các tài sản này cho các tổ chức, cá nhân.
Ngoài ra, việc đầu tư để xây dựng trụ sở làm việc cần được tiếp cận theo hướng, các trụ sở sẽ trở thành khu hành chính tập trung. Được như vậy, sẽ tiết kiệm được nhiều loại chi phí, nhất là sẽ tạo điều kiện thuận lợi, giảm gây phiền hà, vất vả cho nhân dân khi có việc cần giải quyết tại các cơ quan hành chính nhà nước.
Có ý kiến đề nghị cần có quy định cụ thể về chế độ quản lý, sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa, chế độ tài chính, nghĩa vụ đối với Nhà nước, thẩm quyền cho phép và quy định cụ thể tài sản công được phép khai thác... để tránh tạo kẽ hở trong việc lợi dụng chính sách.
Sau phần thảo luận, Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng đã trao đổi, giải trình thêm những nội dung được các đại biểu QH quan tâm, đồng thời cho biết: Để bảo đảm tính thống nhất của luật này trong hệ thống pháp luật, cơ quan soạn thảo đã tiến hành rà soát gần 90 bộ luật, luật về dân sự, kinh tế, trong đó có 50 bộ luật và luật liên quan quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Ban soạn thảo và cơ quan thẩm tra sẽ tiếp thu ý kiến góp ý của các đại biểu QH để tiếp tục nghiên cứu, hoàn chỉnh Luật. (Nhân Dân 30/5) đầu trang(
Những dự án nghìn tỷ từng được coi là tiêu biểu với mục tiêu trở thành những đại dự án đầu tàu cho từng ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, với những lỗ hổng, sai phạm phát sinh từ việc ký hợp đồng, triển khai giám sát và thực hiện hợp đồng, các dự án đầu tư sau nhiều năm đã trở thành gánh nặng nợ nần và không thể đi vào hoạt động hiệu quả.
Việc xử lý vướng mắc tại các dự án thua lỗ nghìn tỷ của ngành Công Thương đang gặp không ít phức tạp mà nguyên nhân chính là các chủ đầu tư sơ hở trong đàm phán, triển khai các hợp đồng thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình. Dạng trọn gói (EPC) do nhà thầu Trung Quốc đảm nhận. Việc buông lỏng giám sát, thực hiện hợp đồng EPC tại Dự án Nhà máy sản xuất Đạm Ninh Bình đã khiến chủ đầu tư chịu thiệt hại không nhỏ từ những kẽ hở này.
Trong tổng nợ phải trả lên tới 55 nghìn tỷ đồng của 12 dự án nghìn tỷ thua lỗ và đang đắp chiếu, ngành Công Thương với những bản hợp đồng EPC có vấn đề của các dự án thua lỗ ngành hoá chất, đạm và thép đang để lại những hệ lụy rất lớn. Những bản hợp đồng và quá trình triển khai có vấn đề là nguyên nhân chính khiến các dự án bị đội vốn và kém hiệu quả.
Dự án Nhà máy sản xuất Đạm Ninh Bình (thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam - Vinachem), là một trong số các dự án có nhiều vấn đề về mặt quản lý và thực hiện theo hợp đồng EPC. Trong báo cáo mới nhất của Bộ Công Thương về kết quả thanh tra dự án có vốn đầu tư lên tới với 12.000 tỷ đồng này, đoàn thanh tra Bộ Công Thương cũng chỉ rõ “nhiều vấn đề” trong quá trình triển khai dự án.
Đáng chú ý, có việc điều chỉnh báo cáo nghiên cứu khả thi do đơn vị tư vấn thực hiện theo yêu cầu của chủ đầu tư và sử dụng số liệu do chủ đầu tư cung cấp. Việc điều chỉnh báo cáo nghiên cứu khả  thi chủ yếu dựa vào kết quả đàm phán mà không thẩm tra, không có tài liệu chứng minh sự thay đổi của từng loại nguyên vật liệu, cấu kiện, linh kiện... Cơ quan chức năng cũng phát hiện việc bổ nhiệm ông Chu Văn Tuấn làm Giám đốc ban quản lý dự án chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn và điều kiện.
Đáng chú ý, theo báo cáo của Bộ Công Thương, việc chủ đầu tư đề nghị nhà thầu Hoàn Cầu bổ sung đối tác có đủ năng lực để lập liên danh thực hiện gói thầu EPC khác với nội dung báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước đó. Bản báo cáo cũng cho thấy một vấn đề đáng quan tâm khi triển khai dự án Đạm Ninh Bình.
Cụ thể, theo quy định của hợp đồng EPC, thời gian thi công là 42 tháng tính từ ngày hợp đồng có hiệu lực (từ ngày 30/4/2008 đến 30/10/2011). Nhưng thực tế đến ngày 23/9/2012, nhà thầu mới bàn giao quyền chỉ huy nhà máy cho Ban quản lý dự án. Tính chung nhà thầu EPC thi công chậm tiến độ so với hợp đồng đã ký 420 ngày, làm phát sinh riêng khoản chi phí lãi vay trong thời gian hợp đồng EPC bị kéo dài là hơn 527 tỷ đồng.
Kết quả kiểm tra của đoàn thanh tra Bộ Công Thương cũng cho thấy, dù mức phạt nhà thầu trong trường hợp chậm tiến độ được nêu trong Phụ lục 3, mục B của Hợp đồng EPC nhưng  việc xác định giá trị phạt chậm tiến độ theo quy định của hợp đồng vẫn chưa được hai bên thống nhất. Sự “bế tắc” trong xử phạt nhà thầu cũng do việc quản lý hồ sơ, giám sát của chủ đầu tư và nhà thầu quản lý dự án đối với nhà thầu EPC thiếu chặt chẽ, dẫn tới việc khó xác định trách nhiệm chậm tiến độ của các bên cũng như việc bồi thường theo hợp đồng.
Một sai phạm khác cũng được chỉ rõ trong hợp đồng của Nhà máy Đạm Ninh Bình chính là tại Điều 4, khoản 4.20 của hợp đồng EPC có quy định chủ đầu tư cấp cho nhà thầu 60.000 tấn than cám 4A và 60.000 tấn than cám 5 phục vụ cho vận hành thử. Nhưng thực tế tổng số than cấp cho quá trình chạy thử đến hết ngày 22/9/2012 lên tới hơn 371 nghìn tấn, vượt quy định trong hợp đồng hơn 251 nghìn tấn.
“Việc cấp than vượt quá hợp đồng là không đúng quy định. Lẽ ra chủ đầu tư và nhà thầu phải có kế hoạch chủ động trong việc cung cấp than, đồng thời phân rõ trách nhiệm các bên tại thời điểm thực hiện. Chủ đầu tư chưa xác định được trách nhiệm nhà thầu EPC đối với hơn 251 nghìn tấn than chạy thử vượt so với hợp đồng. Hợp đồng EPC còn có điểm bất lợi cho chủ đầu tư về trách nhiệm của nhà thầu khi vượt lượng than chạy thử. Đây là một trong số các nguyên nhân của việc chưa quyết toán được hợp đồng EPC”, kết luận của Bộ Công Thương nêu rõ.
Báo cáo về kết quả thanh tra của dự án Nhà máy Đạm Ninh Bình, đoàn thanh tra của Bộ Công Thương cũng cho thấy nhiều sai phạm đã diễn ra trong quá trình chạy máy nghiệm thu bàn giao nhà máy. Cụ thể, ngày 18/9/2012, nhà thầu EPC có văn bản gửi ban quản lý dự án sẽ tiến hành chạy khảo nghiệm 72 giờ sau đó sẽ bàn giao nhà máy cho chủ đầu tư và chấp nhận bồi thường thiệt hại các thông số không đạt theo hợp đồng EPC.
Tuy nhiên, sau khi không thể yêu cầu nhà thầu EPC thực hiện theo quy định của hợp đồng, ban quản lý dự án đã đề nghị Tập đoàn Hóa chất Việt Nam chấp thuận tiến hành chạy khảo nghiệm như đề xuất của nhà thầu EPC. Căn cứ theo đề xuất này, Hội đồng thành viên Vinachem đã đồng ý để nhà thầu EPC và ban quản lý dự án cho chạy thử nghiệm thu 72 giờ. Việc làm này sau đó đã được chỉ rõ là sai khi chiếu theo các quy định tại Điều 9 của hợp đồng EPC và các quy định về quản lý chất lượng công trình theo Nghị định 209 của Chính phủ.
Một sai phạm khác được chỉ rõ trong thực hiện dự án chính là việc ban quản lý dự án đã nhận bàn giao quyền chỉ huy nhà máy vào ngày 23/9/2012 trong khi dây chuyền thiết bị của dự án chưa đủ điều kiện nghiệm thu. Chính việc nhận bàn giao tạm thời này đã đẩy chủ đầu tư vào thế phải chịu mọi rủi ro trong vận hành. Đáng ngạc nhiên là Hội đồng thành viên Vinachem cũng đã chấp nhận đề nghị của Ban quản lý dự án Đạm Ninh Bình trong tiếp nhận nguyên trạng và quản lý vận hành nhà máy khi dây chuyền chưa đủ điều kiện nghiệm thu.
“Nhà máy đi vào sản xuất từ năm 2012 tuy nhiên còn nhiều nội dung công việc thuộc hợp đồng EPC chưa hoàn thiện. Qua nhiều lần đàm phán, Vinachem và nhà thầu thống nhất còn 47 hạng mục tồn tại về mặt xây dựng thuộc hợp đồng EPC phải khắc phục với tổng chi phí hơn 21,3 tỷ đồng. Nhiều hạng mục về cơ khí, điện, đo lường phải khắc phục với chi phí hơn 1,3 triệu USD và hơn 20 tỷ đồng. Đến nay, nhà thầu EPC chưa hoàn thành toàn bộ nhiệm vụ quy định trong hợp đồng, dẫn đến quá trình đàm phán, giải quyết các tồn tại kéo dài”, Bộ Công Thương cho hay.
Theo tìm hiểu của PV Tiền Phong, ngay từ tháng 3/2011, khi vào thanh tra lần 1 việc sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, Thanh tra Chính phủ đã cảnh báo việc tiến độ hợp đồng EPC dự án Nhà máy Đạm Ninh Bình. Đến lần thanh tra thứ hai vào tháng 6/2013, Thanh tra Chính phủ cũng chỉ rõ những “vấn đề” cần lưu ý của hợp đồng EPC của dự án như việc khi thương thảo hợp đồng EPC, Tổng Cty Hóa chất Việt Nam đã không đề cập vật tư dự phòng dẫn tới khi sản xuất cần thay thế vật tư, phải ngừng vận hành chờ đợi vật tư thay thế. (Tiền Phong 30/5) đầu trang(

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Triển khai thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển DN đến năm 2020, Nghị quyết số 19/2016/NQ-CP của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016-2017, Cục Hải quan Đồng Nai đã nỗ lực, ưu tiên tập trung nguồn lực cải cách, hiện đại hóa, nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác hỗ trợ và đồng hành cùng DN.
Cụ thể, trong năm 2016, Cục Hải quan Đồng Nai đã tiếp nhận và giải quyết 2.494 hồ sơ thủ tục hành chính qua Cổng Thông tin một cửa quốc gia nhằm xử lý các tờ khai hải quan có phát sinh thủ tục liên quan đến các loại giấy phép, thông tin của các Bộ, ngành liên quan được đăng ký thực hiện qua Cổng thông tin một cửa quốc gia. Ví dụ như giấy xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu phân bón của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; giấy phép nhập khẩu trang thiết bị y tế của Bộ Y tế...
Việc thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia giúp DN thông quan hàng hóa XNK nhanh chóng hơn, thuận lợi hơn, đảm bảo công khai, minh bạch và thể hiện tính hiện đại trong quy trình thủ tục. Đễ hỗ trợ các DN tiếp cận và khai hồ sơ thủ tục hành chính qua Cổng thông tin một cửa quốc gia, đơn vị đã tổ chức tập huấn hệ thống E-Manifest và Cơ chế một cửa quốc gia tại các khu vực cảng biển Đồng Nai cho các DN khai thuê hải quan, hãng tàu và đại lý hãng tàu trên địa bàn.
Cũng trong năm 2016, tại Cục Hải quan Đồng Nai có hơn 1 triệu tờ khai hàng hóa XNK được thông quan tự động qua chương trình VNACCS. Trong số này có 42.000 tờ khai thuộc diện kiểm tra thực tế hàng hóa trước khi thông quan, chiếm tỉ lệ 4% trên tổng số tờ khai. Để đảm bảo việc vận hành hệ thống thông suốt, Cục Hải quan Đồng Nai đã thường xuyên tập huấn cho DN, các đơn vị khai thuê, phối hợp với Công ty Phát triển Công nghệ Thái Sơn hỗ trợ các DN khai thác, sử dụng chương trình VNACCS hiệu quả, đảm bảo đường truyền luôn thông suốt. Đơn vị đã tư vấn giải đáp hơn 1.790 vướng mắc cho các DN trong khai báo thủ tục hải quan thông qua trang web Dncustoms.gov.vn, cập nhật hơn 1.789 văn bản lên trang web để cung cấp thông tin chính sách pháp luật cho DN nắm bắt kịp thời và thực hiện đúng quy định.
Cùng với đó, đơn vị cũng  đã xây dựng và tổ chức ký kết các Quy chế phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành như Cơ quan Thú y vùng VI, Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng II, các công ty khai thác cảng, các cơ quan có chức năng quản lý liên quan đến hoạt động XNK hàng hóa... nhằm phối hợp hoạt động, tránh chồng chéo, tháo gỡ khó khăn và tạo điều kiện thuận lợi cho DN trong hoạt động XNK hàng hóa thuộc diện quản lý chuyên ngành.
Đơn vị còn thực hiện tốt mối quan hệ phối hợp với Kho bạc Nhà nước tỉnh Đồng Nai và hơn 23 Ngân hàng thương mại trong công tác thu thuế, lệ phí hải quan, xóa bỏ tình trạng DN phải trực tiếp cung cấp cho cơ quan Hải quan giấy nộp tiền thuế các tờ khai XNK hàng hóa, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý hải quan và nhu cầu của DN được sử dụng dịch vụ công cấp độ cao nhất (cấp độ 4) trong thông quan hàng hóa XNK.
Công tác hướng dẫn thủ tục hải quan, trả lời ý kiến vướng mắc cho các DN trên địa bàn quản lý cũng luôn được chú trọng. Cụ thể, trong năm 2016, đơn vị đã hướng dẫn cho DN các thủ tục về nhập khẩu than, kiểm tra hiệu suất năng lượng, kiểm tra chuyên ngành của các DN... với trên 200 văn bản, tổng hợp 82 báo cáo vướng mắc gửi Tổng cục Hải quan, UBND tỉnh và các cấp ngành nhằm kiến nghị biện pháp xử lý, tháo gỡ khó khăn vướng mắc.
Đặc biệt, đơn vị đã tập trung kiến nghị những vướng mắc và góp ý sửa đổi, bổ sung các văn bản, quy định liên quan trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước chuyên ngành đối với hàng hóa XNK. Từ những nội dung kiến nghị đó của Hải quan Đồng Nai, các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành đã ghi nhận và đã kịp thời có những văn bản sửa đổi, bổ sung quy định liên quan công tác này theo hướng thuận lợi và phù hợp hơn cho DN.
Tiêu biểu là Thông tư 23/2016/TT-BCT ngày 12/10/2016 về  việc bãi bỏ Thông tư 37/2015/TT-BCT ngày 30/10/2015 của Bộ Công Thương quy định về mức giới hạn và việc kiểm tra hàm lượng formaldehyt và amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo trong sản phẩm dệt may; Thông tư 36/2016/TT-BCT ngày 28/12/2016 thay thế Thông tư 07/2012/TT-BCT ngày 4/4/2012 của Bộ Công Thương quy định về dán nhãn năng lượng cho các phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng thuộc phạm vi quản lý.
Từ nay đến cuối năm 2017, Cục Hải quan Đồng Nai sẽ tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công tác cải cách hành chính, tăng cường thực thi công vụ và nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước. Cụ thể, đơn vị tiếp tục triển khai, tập huấn cho các DN thực hiện việc gửi và xử lý các thủ tục hành chính thông qua Hệ thống dịch vụ công trực tuyến trên cổng thông tin điện tử Hải quan, đảm bảo tất cả các thủ tục sẽ được áp dụng mức độ phục vụ cao nhất theo yêu cầu của thủ tục đó.
Song song đó, đơn vị tiếp tục rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định về hải quan theo hướng liên thông, đảm bảo kết nối chặt chẽ với các Bộ ngành liên quan nhằm xây dựng giải pháp để góp phần đẩy mạnh số lượng, chất lượng các thủ tục hành chính được giải quyết trên Cổng thông tin Một cửa quốc gia, tăng cường giám sát bằng camera, trang bị các thiết bị đo lường hiện đại, thực hiện phân loại rủi ro đối với hàng hóa trước khi hàng đến cảng...
Bên cạnh đó, đơn vị cũng tập trung nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, hỗ trợ và tạo điều kiện để mọi tổ chức, cá nhân hiểu và thực hiện đúng quy định pháp luật trong hoạt động XNK. Kịp thời tìm hiểu, nắm bắt và ghi nhận những ý kiến khó khăn, vướng mắc của DN để nhanh chóng xử lý và báo cáo ngay Tổng cục Hải quan, Lãnh đạo UBND tỉnh hay trao đổi với các Sở ngành liên quan để được hướng dẫn, hỗ trợ xử lý những vấn đề vướng mắc vượt thẩm quyền Cục Hải quan Đồng Nai.  (Hải Quan 30/5) đầu trang(
Tất cả giám đốc các sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND huyện, thành phố và Chánh Văn phòng các cơ quan, đơn vị trực thuộc UBND tỉnh Sơn La đều có số điện thoại đường dây nóng.
Ngày 29/5, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tổ chức Hội nghị gặp mặt các cơ quan thông tấn báo chí về đẩy mạnh công tác cải cách hành chính năm 2017.
Hội nghị đã thông báo Quyết định số 1268/QĐ-UBND ngày 17/5/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La công bố, công khai số điện thoại và quy định hoạt động đường dây nóng tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp về cải cách hành chính.
Theo đó, tất cả Giám đốc các sở, ban, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố và Chánh Văn phòng các cơ quan, đơn vị trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La đều có số điện thoại đường dây nóng để người dân trực tiếp phản ánh. Riêng số điện thoại đường dây nóng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La Cầm Ngọc Minh là 01237.818.899.
Nội dung phản ánh, kiến nghị qua số điện thoại đường dây nóng thường là những khó khăn, vướng mắc của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong giao dịch với cơ quan hành chính Nhà nước các cấp trên địa bàn tỉnh Sơn La; việc các cơ quan hành chính Nhà nước ở tỉnh Sơn La giải quyết công việc chậm thời gian so với quy định; thái độ giao tiếp ứng xử thiếu chuẩn mực với tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức; các biểu hiện nhũng nhiễu, gây phiền hà, không giải quyết hoặc giải quyết thủ tục hành chính không đúng quy định …
Cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp phản ánh, kiến nghị cần nêu rõ nội dung, thời gian, địa điểm nơi xảy ra sự việc và các cá nhân, tổ chức liên quan. Khi thực hiện phản ánh, kiến nghị bằng số điện thoại đường dây nóng phải đảm bảo quy định về văn hóa công sở. Người cung cấp thông tin sẽ được giữ bí mật về danh tính, số điện thoại, địa chỉ; nội dung phản ánh sẽ được phản hồi tới cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp sau khi có kết quả xử lý…
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc các sở, ban, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, Chánh Văn phòng các cơ quan, đơn vị sau khi tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp chuyển phản ánh, kiến nghị và thông tin liên quan đến cơ quan có thẩm quyền xử lý. (Bnews 29/5) đầu trang(

KINH TẾ
Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc là 4 thị trường nhập khẩu hàng đầu của hàng rau quả Việt Nam, chiếm 83,8% tổng giá trị xuất khẩu.
Theo Bộ NN&PTNT, giá trị xuất khẩu rau, quả tháng 5 ước đạt 344 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu rau, quả trong 5 tháng đầu năm nay ước đạt 1,38 tỷ USD, tăng 38% so với cùng kỳ năm 2016.
Trong đó, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc là 4 thị trường nhập khẩu hàng đầu của hàng rau quả Việt Nam, chiếm 83,8% tổng giá trị xuất khẩu hàng rau quả. Các thị trường có giá trị xuất khẩu rau, quả tăng mạnh là UAE, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc… (Đài Tiếng Nói Việt Nam 29/5) đầu trang(
Để bảo đảm mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng, dự thảo Nghị định quy định về điều kiện kinh doanh sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô phải đánh đổi bằng một số quy định siết doanh nghiệp nhỏ
Liên bộ Giao thông Vận tải - Công Thương vừa có Tờ trình gửi Chính phủ về việc ban hành Nghị định quy định về điều kiện kinh doanh sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô.
Theo cơ quan soạn thảo, bản dự thảo lần 2 của liên bộ đáp ứng được mục đích bảo vệ sức khỏe, quyền lợi và an toàn của người tiêu dùng, đồng thời gắn trách nhiệm của các nhà sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh đối với mỗi sản phẩm bán tới người tiêu dùng.
Cụ thể, dự thảo quy định tất cả doanh nghiệp (DN) sản xuất, lắp ráp ô tô, kinh doanh ô tô nhập khẩu phải sở hữu hoặc thuê ít nhất một cơ sở bảo hành, bảo dưỡng đáp ứng đủ các điều kiện quy định, chậm nhất vào thời điểm 1-7-2020. Dự thảo cũng quy định các DN kinh doanh nhập khẩu ô tô phải có cam kết bằng văn bản với Bộ Công Thương về việc thực hiện trách nhiệm triệu hồi ô tô nhập khẩu bị lỗi khi có thông báo từ nhà sản xuất. Việc khắc phục lỗi kỹ thuật phải theo đúng hướng dẫn và quy định của nhà sản xuất.
Cơ quan soạn thảo cho rằng dự thảo với những nội dung như trên nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng và an toàn môi trường; bảo đảm nghĩa vụ, trách nhiệm của các nhà sản xuất, nhập khẩu trong việc bảo hành, triệu hồi sản phẩm bị lỗi kỹ thuật và thu hồi sản phẩm thải bỏ; thiết lập cơ chế hợp lý và có hiệu quả để hạn chế tối đa các sản phẩm kém chất lượng tham gia lưu thông trên thị trường.
Hơn nữa, theo quy định của pháp luật hiện hành, ô tô các loại thuộc Danh mục sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn, có yêu cầu rất cao về chất lượng, an toàn cho người sử dụng cũng như cộng đồng khi tham gia lưu thông trên đường. Đồng thời, ô tô còn là tài sản có giá trị lớn đối với phần lớn người tiêu dùng tại Việt Nam. Đây cũng là sản phẩm công nghệ cao, có cấu trúc phức tạp nên yêu cầu sử dụng, vận hành cũng như bảo dưỡng, bảo hành ô tô phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định của nhà sản xuất.
"Trong trường hợp xe phát sinh các lỗi kỹ thuật, người tiêu dùng cần được bảo đảm quyền yêu cầu đơn vị sản xuất, nhập khẩu, phân phối, cung ứng triệu hồi để khắc phục lỗi. Tuy nhiên, quy định hiện hành của pháp luật chỉ mới nêu lên nguyên tắc chung về nghĩa vụ mà chưa có cơ chế, chế tài để bảo đảm thực hiện. Đây chính là lý do Chính phủ yêu cầu liên bộ Công Thương - Giao thông Vận tải nghiên cứu và sớm trình dự thảo nghị định này" - cơ quan soạn thảo lý giải.
Giải trình của cơ quan soạn thảo cũng cho thấy một mục tiêu nữa của dự thảo là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, hạn chế các hành vi gian lận thương mại, tạo môi trường cạnh tranh minh bạch, lành mạnh. "Mục tiêu là khuyến khích các DN đầu tư dài hạn, tạo ra sản lượng đủ lớn nhằm tăng dung lượng thị trường cho ngành công nghiệp ô tô nội địa, hướng tới mục tiêu nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng sản xuất trong nước đối với ô tô phù hợp với mục tiêu tỉ lệ nội địa hóa đặt ra trong chiến lược, quy hoạch ngành công nghiệp ô tô" - cơ quan soạn thảo cho biết.
Thực tế, theo một DN nhập khẩu ô tô chính hãng, việc dùng các biện pháp khuyến khích tăng dung lượng thị trường cho ngành công nghiệp ô tô nội địa là rất cần thiết. Thậm chí, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc còn nhấn mạnh cần nghiên cứu, đề xuất chính sách phù hợp với thông lệ quốc tế để tạo điều kiện cho nền công nghiệp ô tô trong nước phát triển nhằm phục vụ thị trường nội địa và hướng tới xuất khẩu.
Song, chính sách xuyên suốt nhằm thúc đẩy ngành sản xuất nội địa lại phải "đánh đổi" bằng việc thu hẹp hơn các quyền kinh doanh của DN nhỏ, DN nhập khẩu không chính hãng. Các quy định tốn nhiều giấy mực tranh cãi giữa 2 "phe" DN lớn và DN nhỏ thời gian qua vẫn cơ bản được giữ nguyên trong bản dự thảo mới nhất.
Một DN nhập khẩu ô tô nguyên chiếc không chính hãng cho biết thông thường, các đại lý bán xe nhập khẩu đã được ủy quyền làm dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng. Do đó, DN trực tiếp nhập khẩu không cần thiết phải sở hữu hoặc thuê một cơ sở bảo hành, bảo dưỡng. "Chi phí đầu tư một cửa hàng trưng bày xe cộng với sở hữu một cơ sở bảo hành bảo dưỡng khoảng 20-50 tỉ đồng. Các DN quy mô nhỏ, DN nhập xe không chính hãng không đủ tiềm lực để làm và có cố làm thì cũng đối mặt với rủi ro" - DN này nhận định.
Một DN nhập khẩu khác nhận định việc quy định về bảo hành, bảo dưỡng là rất cần thiết nhưng quy định hiện hành đã cho phép các DN liên kết với nhau để đầu tư, cho thuê lại các cơ sở bảo hành, bảo dưỡng. Như vậy, việc quy định từng DN nhập xe phải sở hữu hoặc thuê riêng cơ sở bảo hành, bảo dưỡng là lãng phí, không cần thiết. Nhất là các DN này thường có doanh số không lớn, nhiều lắm chỉ đạt vài trăm xe mỗi năm thì chắc chắn không hiệu quả khi đầu tư.
Bên cạnh đó, quy định về thực hiện trách nhiệm triệu hồi ô tô nhập khẩu bị lỗi khi có thông báo từ nhà sản xuất được xem là nhằm bảo đảm quyền lợi cao nhất cho khách hàng nhưng lại "làm khó" DN. "DN nhập khẩu qua trung gian thường không có mối liên hệ với chính hãng nên việc thông báo với Bộ Công Thương và khắc phục lỗi theo hướng dẫn của nhà sản xuất là khó thực hiện được" - đại diện DN nhập khẩu này phân tích.
Như vậy, việc hài hòa các mục tiêu bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng và tạo điều kiện sản xuất, kinh doanh thông thoáng cho DN tiếp tục là bài toán khó, cần xem xét lại.  (Người Lao Động 30/5) đầu trang(

PHÁP LUẬT
Theo kết luận số 2517/KL-TCHQ ngày 14/4/2017 về kiểm tra công tác phòng chống tham nhũng tại Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh, nổi lên 3 vụ án tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng. Trong đó, có vụ việc liên quan tới trách nhiệm ông Đỗ Thanh Quang, Chi cục trưởng.
Tháng 01/2016, Cơ quan CSĐT Công an TP.HCM đã hoàn tất kết luận điều tra, đề nghị truy tố 4 bị can về tội “Buôn lậu”, trong đó có Lê Nguyễn Thị Ái Trâm (SN 1978, ngụ quận Tân Bình, TPHCM), nguyên cán bộ Chi cục Hải quan Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, người có nhiệm vụ kiểm hóa hàng hóa nhập khẩu phi mậu dịch. Trâm đã ký không trên tờ khai hải quan cho 13 kiện hàng, thực hiện trót lọt phi vụ nhập lậu 844 chiếc máy tính bảng và điện thoại di động các loại (trong đó có 714 chiếc iPhone) với tổng giá trị trên 9 tỷ đồng từ Hong Kong về Việt Nam qua cửa khẩu Cảng hàng không Quốc tế Tân Sơn Nhất vào tháng 01/2015.
Theo kết luận điều tra, vào 16h ngày 14/01/2015, Cơ quan CSĐT cùng Phòng CSGT kiểm tra xe ôtô 16 chỗ, mang BKS: 51D-009.13, do Vũ Văn Tuệ điều khiển, chở hàng từ kho Cty TNHH Hàng hóa Tân Sơn Nhất về kho ở quận Tân Bình. Trên xe chở 13 kiện hàng, điều kỳ lạ là toàn bộ còn nguyên số vận đơn và không bị bong tróc, rách bên ngoài, không có dấu hiệu hải quan đã kiểm hóa. Kiểm tra bên trong thì 13 kiện hàng chứa 844 điện thoại di động và máy tính bảng.
Cơ quan CSĐT xác định, ngày 14/01/2015, trên chuyến máy bay CX 767 của hãng hàng không Cathay Pacific từ Hong Kong (Trung Quốc) về Việt Nam có vận chuyển lô hàng với tên người nhận hàng là Lê Văn Kiển (ngụ xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Phú, tỉnh Bến Tre) và Trương Thị Thanh Mai (ngụ huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định).
Tuy nhiên, người đi nhận lô hàng là Phạm Quang Vinh và Phan Thị Dạ Hương móc nối với công chức hải quan cửa khẩu sân bay Tân Sơn Nhất làm thủ tục hải quan, kê khai là hàng quà biếu dầu gió và đồ chơi trẻ em. Vinh mang giấy CMND của Mai, Kiển làm thủ tục hải quan Tân Sơn Nhất nhận hàng. Lúc này, công chức hải quan cửa khẩu Lê Nguyễn Thị Ái Trâm được phân công kiểm tra hàng hóa và được Vinh và Hương cho biết 13 kiện hàng là điện thoại đi động và máy tính bảng, rồi “nhờ” Trâm giúp. Trâm đồng ý và không kiểm hóa lô hàng mà cho qua và sau đó bị Cơ quan CSĐT bắt giữ.
Hiện nay vụ án đang được tiếp tục điều tra bổ sung nhưng theo hồ sơ vụ việc trên, nổi lên trách nhiệm của ông Đỗ Thanh Quang, Chi cục trưởng Chi cục hải quan sân bay Tân Sơn Nhất và một số cán bộ khác. Nhưng điều lạ lùng là đến nay vẫn chưa thấy ai kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của ông Quang. Một số cán bộ hải quan tại Cục Hải quan TP cho biết thêm, đội phó Cẩm Châu là người phân công tờ khai cho Trâm kiểm hóa còn nằm trong danh sách đề nghị bổ nhiem Đội trưởng và Thường vụ Đảng ủy Cục đã thông qua đề nghị này. Đội trưởng Đội thủ tục hàng hóa nhập khẩu Tạ Hồng Khanh sau khi buông lỏng quản lý công chức, để xảy ra sự việc hiện giờ vẫn là Đội trưởng Đội quản lý thuế tại cửa khẩu này.
Thời điểm xảy ra sự việc, Kiểm hoá viên này làm bộ phận kiểm hoá phi mậu dịch cá nhân tại Đội Thủ tục hàng hoá nhập của Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Tân Sơn Nhất (lúc đó Tạ Hồng Khanh làm Đội trưởng, Đỗ Thanh Quang làm Chi Cục trưởng).
Theo một số cán bộ, nguyên tắc chung thì hàng quà biếu thường không thể quá nhiều kiện và trọng lượng nhiều đến 13 kiện. Bởi vì, bà con Việt kiều gửi biếu về trong nước thường thì là bánh kẹo, lốc dầu gió, ít quần áo, vài chai mỹ phẩm dầu gội sữa tắm... và thường thì từ Mỹ gửi về Việt Nam cho nên lô hàng từ Hong Kong gửi về với số kiện nhiều (13 kiện) và trọng lượng nặng (gần 900 cái iphon và ipad) quả là một sự bất thường. Tại sao lãnh đạo đội lại phân công chỉ cho một kiểm tra viên kiểm hoá?
Đây quả là một vấn đề cần tiếp tục làm rõ trách nhiệm. Đó là chưa kể Chi cục Tân Sơn Nhất có cho rà soát tất cả các tờ khai nhập khẩu của những lô hàng có xuất xứ từ Hong Kong gửi về theo dạng quà biếu tương tự không? Có phát hiện hay đặt vấn đề nghi vấn trách nhiệm của lãnh đạo Đội trong giai đoạn này không? Dư luận cũng hết sức bất bình vì sự coi thường dư luận và coi thường cả lãnh đạo Cục khi Cục 3 lần có công văn yêu cầu kiểm điểm làm rõ trách nhiệm nhưng Chi cục Tân Sơn Nhất không thực hiện? Việc này có uẩn khúc gì hay có lợi ích nhóm phía sau?
Ông Đỗ Thanh Quang cũng phải chịu trách nhiệm và ngay lập tức kiểm điểm công chức dưới quyền, loại khỏi qui hoạch các cán bộ này vì không đủ năng lực, phẩm chất...Việc cán bộ liên quan đến sự việc vẫn được đề bạt, bất chấp không làm rõ trách nhiệm  thì vai trò lãnh đạo chi cục, vai trò cấp ủy Đảng từ chi ủy, chi bộ đến Đảng uỷ Cục như thế nào?
Vẫn theo phản ánh, mấy năm gần đây, ông Đỗ Thanh Quang còn là một trong những cán bộ giữ kỷ lục về đi nước ngoài nhiều nhất ở Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh.
Được biết, ông Đỗ Thanh Quang hiện là người có học vị tiến sĩ duy nhất (học ở nước ngoài) tại Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh hiện nay. Mặc dù vụ việc buôn lậu thiết bị điện tử chưa được làm rõ trách nhiệm liên quan nhưng thời gian qua, ông Đỗ Thanh Quang liên tục được khen thưởng với nhiều thành tích xuất sắc như: Đầu năm 2017, ông Quang là đại diện duy nhất của Việt Nam được Liên Hiệp Quốc trao giải thưởng 'Thực thi pháp luật về môi trường' của Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) nhờ thành tích chống buôn lậu ngà voi. Trước đó, năm 2014, ông Quang là một trong 4 cá nhân của Cục Hải quan TP được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba.
Trong một sự việc khác, được biết, ông Đinh Ngọc Thắng chính là người ký quyết định điều chuyển Nguyễn Tường Duy từ sân bay về Đội kiểm soát cùng một số người khác sau đó đều bị công an triệu tập khi điều tra vụ việc. Trao đổi với phóng viên Báo Công lý về sự việc, ông Đinh Ngọc Thắng cho biết báo đã hiểu sai về sự việc, thông tin gây hiểu lầm...Xung quanh việc sử dụng hình ảnh ông Thắng để minh họa nội dung bài viết, dù đó là không phải là những hình ảnh riêng tư cá nhân và đều đã được đăng tải trên báo chí cũng như trang web của Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh nhưng ông Thắng cho biết sẽ kiện báo chí về việc này. (Công Lý 29/5) đầu trang(

MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
Gây tò mò với chúng tôi khi tìm hiểu về các mô hình hay trong công tác xây dựng phong trào Toàn dân bảo vệ ANTQ ở địa bàn cơ sở, đó là mô hình có cái tên khá lạ “3 quản, 3 biết” ở thị trấn Đồng Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Ấn tượng không chỉ bởi từ cái tên “3 quản, 3 biết” mà còn bởi hiệu quả của mô hình này qua thực tiễn gần 2 năm triển khai.
Có mặt tại điểm khai báo tạm trú tại phố Nguyễn Hữu Tiến, thị trấn Đồng Văn (huyện Duy Tiên, Hà Nam), bà Đặng Thị Huệ, chủ một nhà trọ ở ngõ 134, phố Nguyễn Hữu Tiến đang nhanh tay điền các bản mẫu tờ khai để hoàn thành thủ tục khai báo tạm trú cho 3 vị khách vừa mới đến thuê trọ.
Chỉ trong vài phút, chẳng cần đợi các cán bộ Công an phải hướng dẫn, các mẫu tờ khai xin đăng ký tạm trú cho khách  thuê trọ đã được bà Huệ nhanh chóng hoàn thành, bởi đây vốn dĩ là công việc đã trở nên quen thuộc đối với bà chủ nhà trọ này.
Bà Huệ chia sẻ, 3 vị khách trọ mới này đang làm việc tại Khu Công nghiệp Đồng Văn 2, “lý lịch trích ngang” của 22 vị khách gồm 17 người lớn, 5 trẻ em, hiện đang thuê trọ tại 8 phòng trọ cho thuê của gia đình đều được bà Huệ nắm rõ “như lòng bàn tay”.
Mỗi khi có ai chuyển đến, có người chuyển đi, bà đều nhanh chóng tới điểm đăng ký tạm trú để làm thủ tục khai báo với cơ quan Công an và thông tin tới tổ trưởng khu phố.
Cũng nhờ có sự phối hợp chặt chẽ giữa chủ nhà trọ với Công an cơ sở và tổ trưởng dân phố trong việc quản lý khai báo nhân khẩu tạm trú như vậy, cho nên, dù lượng khách trọ tại khu nhà cho thuê của gia đình bà Huệ thay đổi thường xuyên, nhưng chưa bao giờ xảy ra tình trạng trộm cắp, đánh lộn, hay những vấn đề phức tạp về ANTT.
“Công việc” giản đơn như bà Huệ vẫn làm như vậy được gọi với cái tên “3 quản, 3 biết”, một mô hình hay trong công tác quản lý cư trú được Công an huyện Duy Tiên và Công an thị trấn Đồng Văn xây dựng, triển khai thí điểm tại thị trấn Đồng Văn từ tháng 10-2015 đến nay.
Diễn giải ngắn gọn về mô hình này, Đại tá Phạm Kiên Cường, Trưởng Công an huyện Duy Tiên cho biết :“3 quản” (tức chủ hộ quản, Trưởng thôn (phố) quản, Công an địa bàn quản) và “3 biết” (tức Chủ hộ biết, Trưởng thôn (phố) biết, Công an địa bàn biết).
Theo vị trưởng Công an huyện này chia sẻ, xuất phát điểm ra đời của mô hình này chính là từ tình hình thực tế tại địa bàn. Thị trấn Đồng Văn vốn là địa bàn khu công nghiệp, tập trung nhiều nhà máy, xí nghiệp lớn của tỉnh Hà Nam, do vậy lượng người từ các nơi đổ về, trong đó có chuyên gia nước ngoài đến làm việc, cư trú trên địa bàn ngày càng đông.
Xác định công tác đăng ký, quản lý tạm vắng, tạm trú trên địa bàn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về TTATXH, góp phần quan trọng trong phòng ngừa các loại tội phạm, đảm bảo ANTT tại địa bàn, từ đó Công an huyện đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền tổ chức triển khai thực hiện ở địa phương.
Các lực lượng tham gia mô hình “3 quản, 3 biết” sẽ chủ động phối hợp trao đổi thông tin liên quan đến nhân khẩu tạm trú, lưu trú và tình hình ANTT tại khu trọ, qua đó giúp cho lực lượng Công an viên, trưởng thôn, phố và chủ hộ cho thuê trọ quản lý chặt chẽ người đến tạm trú, thường xuyên nắm tình hình, kịp thời phát hiện những đối tượng lạ mặt, có biểu hiện hoạt động phạm pháp để đấu tranh, ngăn chặn.
Cũng thông qua công tác quản lý lưu trú lực lượng chức năng đã xác lập được nhiều hồ sơ phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Từ nguồn tin của quần chúng nhân dân, cơ quan Công an đã khám phá, khởi tố 6 vụ án hình sự liên quan đến bắt giữ người trái pháp luật, tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ 4,019g ma túy, giữ nhiều vũ khí, công cụ hỗ trợ đối tượng mang để sử dụng gây án, xử lý 19 đối tượng về các tội đánh bạc…
Điển hình cuối tháng 8-2016, qua nguồn tin báo của một người dân ở thị trấn Đồng Văn về 2 đối tượng có biểu hiện nghi vấn hoạt động tội phạm, Công an huyện Duy Tiên phối hợp với Công an thị trấn Đồng Văn tiến hành kiểm tra hành chính nhà trọ, phát hiện, bắt quả tang 2 đối tượng Trần Văn Hoan (25 tuổi) và Tạ Thanh Tuân (26 tuổi) cùng trú ở xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng đang tàng trữ số lượng lớn heroin ngay trong phòng trọ, kịp thời ngăn chặn 2 đối tượng này lợi dụng thuê nhà nghỉ, nhà trọ để ẩn nấp, buôn bán ma túy...
Không thể phủ nhận hiệu quả tích cực của mô hình “3 quản, 3 biết” trong công tác đảm bảo ANTT tại địa bàn thị trấn Đồng Văn. Mới đây mô hình “ 3 quản, 3 biết” đã được công nhận là mô hình điển hình trong phong trào Toàn dân bảo vệ ANTQ, được UBND huyện Duy Tiên quyết định triển khai nhân rộng ra địa bàn các xã: Duy Minh, Bạch Thượng, Châu Giang và thị trấn Hòa Mạc, dự kiến đến quý cuối năm 2017 mô hình này sẽ nhân rộng ra toàn bộ các xã còn lại của huyện Duy Tiên. (Công An Nhân Dân 29/5) đầu trang(

BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Có một thực trạng rất rõ ràng là không ít cán bộ nhà nước giàu lên nhanh chóng, trong khi mặt bằng tài sản của đại đa số nhân dân không thể nào theo kịp.
Chỉ giữ chức trưởng phòng của một huyện, sở hữu nhà lầu, xe hơi, có mức sống phong lưu dường như đã quá phổ biến, chẳng mấy ai quan tâm. Cỡ cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh ở biệt thự riêng,đi xe sang, con du học nước ngoài là chuyện bình thường, ai cũng thấy. "Cán bộ to" vì xa dân nên mọi người chỉ biết khi báo chí nêu có cổ phần lớn, thu nhập vài trăm tỷ mỗi năm, còn có những khối bất động sản to lớn nào, gửi nhà băng ở nước ngoài bao nhiêu thì chỉ là sự đồn đoán.
Sự giàu lên của một bộ phận cán bộ cũng tạo ra nghịch cảnh khi đời sống dân chúng nhiều nơi còn khốn khó, học sinh phải đu dây qua suối đến trường, mới đây, có em phải bỏ không ôn thi vì đói. Có trường hợp xã nghèo, xin trợ cấp thường xuyên mà Bí thư, Chủ tịch xã đi xe hơi đến trụ sở làm việc, ngồi trong phòng lạnh, cách đó không xa dân đang đổ mồ hôi, sôi nước mắt trên cánh đồng.
Đất nước thì nợ công tăng cao, nợ xấu nhiều, công chức với đồng lương chật vật, người lao động mưu sinh vất vả..., thế mà những người lãnh đạo lại giàu sang, quyền quý, phô trương một lối sống xa hoa là hình ảnh của bất công xã hội, tạo ra sự phân hóa giàu nghèo rõ rệt trong các tầng lớp xã hội, không đạo lý nào có thể chấp nhận điều đó cả.
Lý giải nguồn gốc tài sản của mình khi bị dư luận săm soi, cán bộ cho rằng sở dĩ mình có là do “làm thối móng tay”, là cóp nhặt từ “đồng lương và kinh doanh bia hơi”, thậm chí từ việc “chạy xe ôm” ngoài giờ làm việc. Mới đây, khi báo chí phản ảnh các biệt thự của quan chức đầu tỉnh tọa lạc trên bãi đất vàng thì lãnh đạo địa phương cho rằng sự sở hữu đó đều “đúng quy định pháp luật”, “đấu thầu đúng quy trình” và còn lý sự “công dân có quyền tài sản”. Những giải thích đó đều không trả lời trúng trọng tâm vào vấn đề mà dư luận quan tâm: Khối tài sản đó do đâu mà có?
Vì vậy, khi Bộ Chính trị, Ban Bí thư có chủ trương và thực hiện việc kiểm tra, giám sát tài sản của khoảng 1000 cán bộ thuộc sự quản lý của mình, dư luận hết sức hoan nghênh và kỳ vọng vào sự nghiêm minh của việc làm này. Minh bạch tài sản của cán bộ vừa được lòng dân, vừa ngăn ngừa được tham nhũng, vừa bảo vệ danh tiếng, phẩm chất của người lãnh đạo. Giàu có không phải là xấu xa mà là điều tốt đẹp, “phú gia địch quốc” là niềm tự hào chứ sao! Tài sản chính đáng làm ra từ trí tuệ và bàn tay của mình thì có gì phải ngại ngùng, che giấu và giải thích vòng vo, chẳng ai tin cả! (Pháp Luật Việt Nam 30/5) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Ngày 29/5, cảnh sát Israel đã bắt giữ 14 nghi can trong đó có một quan chức chính phủ được cho là có liên quan đến cuộc điều tra về tội trốn thuế nhằm vào Bộ trưởng Nội vụ Aryeh Deri và vợ ông là bà Yaffa.
Tờ Ynet của Israel đưa tin ông Aryeh và vợ đã bị cảnh sát thẩm vấn hôm 29/5 vì nghi ngờ có liên quan đến hành vi hối lộ.
Các nhà điều tra tin rằng một số cá nhân bị bắt giữ đã cung cấp tài chính cho những dự án liên quan đến cặp vợ chồng này trong vài năm gần đây. Cảnh sát cũng điều tra hai hợp đồng bất động sản riêng biệt liên quan tới gia đình ông Deri.
Trước đó, hồi tháng 3/2016, Tổng Chưởng lý Avichai Mandelblit đã yêu cầu mở một cuộc điều tra hình sự về cáo buộc tham nhũng xung quanh ông Deri, người trước đây từng bị kết án và bị bắt giam vì tội tham nhũng trong khi giữ chức Bộ trưởng Nội vụ vào những năm 1990.(Vietnam + 29/5) đầu trang( ./.