Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 25 tháng 02 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Tờ Guardian cho hay, một số cán bộ kiểm lâm Việt Nam đã buôn bán 42 con tê tê quý hiếm cần được bảo vệ.
Tờ báo hàng đầu của Anh nhận định, vụ việc đã tạo sóng dư luận về loài động vật có vú bị buôn lậu nhiều nhất trên thế giới.
Bài báo của Guardian mở đầu bằng việc đề cập đến sự kiện Bộ Công an Việt Nam mới đây tịch thu được 42 cá thể tê tê Java còn sống và thuộc diện có nguy cơ tuyệt chủng cao. Cảnh sát Việt Nam cũng đã xử lý các lâm tặc và trao số thú hoang dã quý hiếm này cho các kiểm lâm để bảo vệ chúng.
Nào ngờ, các kiểm lâm này lại... làm ngược các hành động “quả cảm” của cảnh sát bằng cách bán thẳng số thú vật này cho các nhà hàng đặc sản địa phương. Họ thu được gần 12.000 USD từ việc bán thịt thú bất hợp pháp. Các con vật tội nghiệp đã bị cắt lưỡi và vặt hết vẩy.
Đó là số phận của loài tê tê bị săn bắt trộm. Những con thú này còn được biết đến với cái tên “loài ăn kiến có vảy”.
Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) cho hay loài động vật có vú trông như từ thời tiền sử này đang phải “lãnh đủ” từ nạn buôn lậu thú quý hiếm. Trong một thập kỷ qua, trên một triệu cá thể tê tê hoang dã đã bị săn bắt để cung cấp thịt cho các đầu bếp đặc sản, chủ yếu ở Trung Quốc và Việt Nam.
Với sức ăn và khẩu vị không có giới hạn, loài người đã biến mọi bộ phận trên con thú này thành những món ăn cao cấp giá cao. Lưỡi tê tê được dùng để chế biến các món xúp đặc biệt, “tiết” tê tê pha rượu trở thành đồ uống. Một số con tê tê được “ngâm” toàn thân trong các chai rượu. Cuối cùng, đến cả lớp vảy đóng vai trò như lớp giáp nổi tiếng của loài này cũng bị đem bán ra chợ đen phục vụ nhu cầu làm thuốc Đông y hoặc đồ trang sức.
Các bộ phận của tê tê có giá hàng trăm USD một cân. Người ta tin rằng tê tê có nhiều tác dụng thần diệu (mặc dù điều này chưa được chứng minh về khoa học), như bổ thận, trị vẩy nến, và tất nhiên, cả khoản “tráng dương” nữa. Theo một báo cáo năm ngoái của IUCN về nạn săn bắt trộm tê tê, chính sở thích ăn thịt tê tê theo nghĩa đen đã khiến cho loài này bị tuyệt chủng dần.
Chính trong bối cảnh đó, sự kiện các cán bộ kiểm lâm Việt Nam nói trên khai thác triệt để ham muốn ăn thịt tê tê để thu lợi từ đó thay vì ngăn chặn nạn săn bắt, buôn bán và ăn thịt tê tê đã khiến nhiều người giật mình.
Tờ Guardian dẫn nguồn tin từ trang tiếng Anh của tờ Thanh Niên cho biết trưởng chi cục kiểm lâm Bắc Ninh đã tiếp tay cho các kiểm lâm viên bằng việc tuyên bố các con thú bị tịch thu đã quá yếu, nên có giải cứu cũng chẳng ích chi.
Bên cạnh đó, vị quan chức này còn lập luận rằng, trong lãnh thổ Việt Nam được phép buôn tê tê ở mức độ hạn chế. Tuy nhiên trên thực tế ông này lập lờ trích dẫn một đạo luật lỗi thời đã bị thay đổi hơn một năm trước đó.
Trước đó, vẫn là hợp pháp nếu bán đấu giá các con tê tê bị tịch thu từ lâm tặc. Tuy nhiên điều này đã thay đổi vào tháng 11/2013 khi một đạo luật mới ra đời để loại bỏ hoàn toàn việc săn bắt, buôn bán và tiêu thụ bất kỳ loài nào trong số 4 loài tê tê châu Á.
Dan Challender, đồng chủ tịch Nhóm Chuyên gia Tê tê của IUCN, cho biết giờ thì các chú tê tê đã có được mức độ bảo vệ cao nhất.
Không rõ động cơ chính nào thúc đẩy các kiểm lâm viên buôn lậu tê tê – sự thiếu hiểu biết hay là thói hám tiền. Ông Challender cho biết: “Không có bằng chứng cụ thể thì rất khó nói liệu các kiểm lâm có biết về luật mới hay không... Nhưng có khả năng các kiểm lâm viên đã biết về luật mới ban hành, và như vậy vụ này có thể hoàn toàn coi như là tham nhũng”.
Nguyễn Thị Phương Dung, phó giám đốc tổ chức bảo tồn thiên nhiên Giáo dục về Thiên nhiên Việt Nam lên tiếng phản đối hoạt động của các quan chức kiểm lâm ở Bắc Ninh.
Bà Dung nói: “Bất cứ sự xâm phạm nào đối với loài vật này đều phải bị xử lý hình sự. Chúng ta cũng không thể coi các con tê tê đơn giản chỉ là bằng chứng phạm tội rồi đem bán chúng đi”.
Tổ chức của bà Dung bày tỏ quan ngại việc “tiền đổi chủ” thông qua các kênh chính thức như vậy sẽ tạo ra mối liên kết giữa giới chức và bọn lâm tặc, khiến nghề buôn lậu thêm “phát đạt”.
Với số tiền 12.000 USD thu được trong vụ tê tê, rõ ràng đây không phải là món ăn bình dân. Trên thực tế  chỉ giới lắm tiền nhiều của mới đủ sức thưởng thức thịt, “tiết” và các đặc sản khác chế từ tê tê. Đây là một cách thể hiện đẳng cấp nhà giàu!
Challender đã quan sát thấy nhiều thực khách tại các nhà hàng sang trọng bỏ tới 700 USD chỉ để mua 2kg thịt tê tê. “Tại một số nhà hàng, đó có thể là món thịt đắt nhất trong thực đơn”, Challender nói.
Không những vậy, cách “ăn thịt” lũ tê tê tội nghiệp cũng là cả một bi kịch cho chúng. Có gì đó bệnh hoạn. Challender nhớ lại: “Tôi đã thấy cách hành xử của họ. Bọn họ sẽ đập con vật đến khi bất tỉnh. Sau đó họ sẽ dùng kéo cắt họng con vật”.
Challender nói thêm: “Đối với những khách hàng giàu có muốn khoe của, việc mua thịt động vật hoang giã giá cao là một cách thể hiện “đẳng cấp” tốt nhất.”
Hai loài tê tê châu Á là tê tê Java và tê tê vàng hiện đứng trước nguy cơ tuyệt chủng rất lớn vì chất lượng thịt của chúng được đánh giá cao. Khi lâm tặc săn gần hết số tê tê ở châu Á, chúng bắt đầu quay sang châu Phi để tìm nguồn hàng mới (ở châu Phi có 4 loài tê tê).
Mới chỉ tuần trước các quan chức hải quan ở Hong Kong đã phanh phui một vụ buôn lậu 1 tấn vảy tê tê từ Kenya. Đây là vụ lớn thứ 2 trong 5 tháng qua. Theo Challender, cần phải tập trung vào châu Phi tương tự như với châu Á.
Dẫu vậy vẫn có chỗ cho hy vọng. Challender cho biết, năm 2014, Nhóm Chuyên gia Tê tê của IUCN thực hiện kế hoạch bảo tồn toàn cầu đầu tiên cho loài tê tê. Kế hoạch đó hướng chú ý của công chúng vào cảnh ngộ của tê tê. Mục đích chính ở đây là giảm nhu cầu tiêu thụ tê tê và bảo vệ các vùng sinh sống chủ đạo của tê tê trong thiên nhiên.
Ngoài ra, Challender cho biết thêm, ngày 21/2 là Ngày Tê tê Thế giới, và đây là dịp để loài sinh vật quyến rũ và nhiều vẻ huyền bí này đón nhận thêm sự chú ý đáng lý phải có từ lâu rồi. (VOV 24/2) đầu trang(
Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Bù Đăng cho biết: Để kịp thời ngăn chặn, kiểm tra, phát hiện và xử lý tình trạng phá, khai thác rừng, mua bán vận chuyển lâm sản trái phép, phòng chống cháy rừng, đặc biệt trong thời điểm mùa khô và dịp Tết Ất Mùi 2015, UBND huyện Bù Đăng đã huy động mọi lực lượng tổ chức tuần tra, truy quét, bảo vệ rừng trong thời gian trước, trong và sau Tết Nguyên đán.
UBND huyện đã xác định các vùng trọng điểm thực hiện tuần tra, truy quét, như: Khu vực dễ xảy ra cháy rừng, gồm hai Nông lâm trường cao su Đồng Nai và Nghĩa Trung; khu vực trọng điểm về phá rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép gồm Nông lâm trường Nghĩa Trung, Ban quản lý rừng phòng hộ Bù Đăng, Nông lâm trường cao su Đồng Nai.
Theo đó, các đơn vị chủ rừng và Ban chỉ đạo bảo vệ rừng cấp xã chủ động tuần tra, thực hiện biện pháp phòng chống cháy rừng tại khu vực trọng điểm; tuyên truyền, huy động lực lượng quần chúng nhân dân cùng tham gia bảo vệ rừng.
Lực lượng kiểm tra, truy quét của huyện cũng chú trọng tuần tra trên lâm phần Nông lâm trường cao su Đồng Nai và kiểm tra các cơ sở chế biến hàng mộc, cưa xẻ lâm sản ở xã Đắk Nhau, Đường 10, Phú Sơn, Đồng Nai…
Các đơn vị: Công an huyện, Ban chỉ huy quân sự huyện cùng phối hợp thực hiện tốt đợt tuần tra, truy quét.
Hạt trưởng Hùng cho biết thêm: Thời gian thực hiện từ 20-1 đến 20-4-2015. Mỗi tháng chia thành 3 đợt, mỗi đợt tuần tra truy quét từ 3 đến 5 ngày và có thể kéo dài nếu đợt truy quét chưa đạt hiệu quả. Trong thời gian nghỉ Tết Nguyên đán Ất Mùi, các đơn vị lập danh sách phân công cán bộ trực theo ca để sẵn sàng phối hợp truy quét. (Báo Bình Phước 19/2) đầu trang(
Thực hiện nhiệm vụ tấn công truy quét về lĩnh vực lâm sản trước, trong và ngay thời điểm cận Tết Nguyên đán 2015, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh Nghệ An đã phát hiện, bắt giữ nhiều vụ vận chuyển gỗ không có giấy tờ hồ sơ, thủ tục.
Thông tin được Thượng tá Chu Minh Tiến - Phó trưởng phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường công an tỉnh Nghệ An cho PV Dân trí biết vào chiều 30 Tết tức ngày 18/2/2015. Theo đó, vào ngày 18/2/2015, tức 30 Tết nguyên đán 2015, các cán bộ chiến sỹ của phòng đã bắt giữ xe ô tô tải BKS: 37C - 08910 đang vận chuyển 35 khúc gỗ, tương đương 6m3 không giấy tờ tại quốc lộ 48C thuộc địa bàn xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp.
Ngay sau khi phát hiện, Tổ công tác đã đưa tang vật và phương tiện về phòng để điều tra làm rõ.
Trước đó, vào ngày 14/2/2015, tại xã Tam Thái, huyện Tương Dương, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường cũng đã bắt xe tải BKS: 29L-6335 đang vận chuyển trái phép 22 thanh gỗ xẻ và xe tải BKS: 37N-9007 vận chuyển 15 thanh gỗ không có giấy tờ.
Ngày 9/2/2014, các cán bộ chiến sỹ của Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường cũng đã phát hiện và bắt giữ vụ mua bán vận chuyển gỗ có nguồn gốc nhập khẩu hợp pháp nhưng không chấp hành các quy định của pháp luật về hồ sơ lâm sản và trình tự thủ tục quản lý tại khu vực đường Hồ Chí Minh thuộc địa bàn xã Thanh Đức, huyện Thanh Chương. Chủ chiếc xe ô tô 37C-10104, vận chuyển 4 khúc gỗ tròn đã bị xử phạt 7,5 triệu đồng.
Trước đó vào ngày 11/2/2015, tại bản Na Sơn, xã Diêm Lãm, huyện Quỳ Châu, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường tiếp tục bắt giữ 21 tấm gỗ vô chủ tương đương 5m3 cũng đã bị phát hiện và xử lý.
Với các vụ vận chuyển lâm sản trái phép, Phòng cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường công an Nghệ An đã tiến hành xử phạt hành chính một số xe vận chuyển và chuyển hồ sơ thủ tục sang cơ quan kiểm lâm để tiếp tục xử lý. (Dân Trí 19/2) đầu trang(
Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng với cuộc lống của người dân quanh khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh (huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình). Cũng chính vì cuộc sống gắn liền với rừng nên con người đang khai thác rừng quá mức dẫn đến cạn kiệt.
Ồng Đào Hữu Lợi, Trưởng ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh vẫn chưa quên những ngày mới chuyển về nhận công tác tại đây. Vào thời điểm giữa năm 2011, lâm tặc thực sự làm chủ rừng Phu Canh, với tiếng cưa máy rền vang cả khu rừng trước sự bất lực của lực lượng kiểm lâm. Chỉ trong một thời gian ngắn, 170 m3 gỗ của 18 cây gỗ phay có đường kính từ 2 m trở lên thuộc khu vực Bưa Phay, xã Đoàn Kết được phù phép để biến mất!
Do địa hình đồi núi hiểm trở, lâm tặc chia thành từng nhóm nhỏ, thậm chí, có cả cán bộ xóm tham gia triệt hạ rừng, nên lực lượng kiểm lâm dù có quyết tâm cũng bất lực. Khó tiếp cận đã đành, mà ngay cả việc tuyên truyền, ngăn chặn có vẻ như cũng không mấy hiệu quả. Ngay cả khi lực lượng công an cùng vào cuộc, “liên quân” cũng phải mất hơn 3 tháng, mới cơ bản ngăn chặn được nạn phá rừng ở Đà Bắc.
Ông Vũ Văn Túc, Phó chánh án Tòa án Nhân dân huyện Đà Bắc chia sẻ: “Các bị cáo đa phần là đồng bào Dao, động cơ phạm tôi chủ yếu là để phục vụ gia đình, do đó có nhiều trường hợp là người cùng gia đình tham gia phá rừng. Có gia đình cả 2 bố con, có gia đình cả 2 anh em ruột tham gia phá rừng cùng bị khởi tố. Trong 63 bị cáo xét xử, ở xóm Thầm Luông, xã Đoàn Kết có tới 58 người. Tòa án Nhân dân huyện Đà Bắc phải mở tổng cộng 9 phiên tòa mới xét xử xong, nhiều trường hợp tội phạm còn chưa biết mặt chữ, bởi vậy, nhờ chính sách khoan hồng của Nhà nước, 100% bị cáo được hưởng án treo”.
Ông Hà Viết Thanh, Chủ tịch UBND xã Đoàn Kết, huyện Đà Bắc cho biết: “Đến nay đã có 29 trường hợp châ'p hành án xong, những trường hợp còn lại đang thụ án tại địa phương, hàng tháng cán bộ xã xuống từng hộ để động viên, đôn đốc nộp án phí và bồi thường thiệt hại, nhưng vẫn không tiến triển tốt vì đa số là hộ nghèo. Người dân qua vụ án này cũng đã nâng cao nhận thức, không phá rừng nữa, hàng ngày cần cù với ruộng ngô nương sắn, tăng gia chăn nuôi để cải thiện đời sống”.
Ông Lê Minh Thủy, Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm Lâm tâm sự: Sau sự cố đáng tiếc ấy, 15 cán bộ, nhân viên Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh đã nghiêm túc kiểm điểm trách nhiệm trước ngành và chính quyền địa phương; ngành phối hợp với huyện, các ngành chức năng và chính quyền cơ sở kịp thời đưa ra những giải pháp quản lý rừng tại gốc.
Ban quản lý rừng Phu Canh đã phối hợp với 4 xã: Đoàn Kết, Tân Pheo, Đồng Chum và Đồng Ruộng, xây dựng và củng cổ 12 tổ đội quần chúng bảo vệ rừng tại với 49 thành viên. Lãnh đạo đơn vị đã phân công cán bộ kiểm lâm xuống “nằm vùng” tại cơ sở. Nhiều vụ vi phạm đã được người dân báo cáo cho tổ bảo vệ rừng và lực lượng kiểm lâm đến ngăn chặn. Năm 2014, Ban quản lý kịp thời phát hiện 3 vụ vi phạm, đã phá hủy một sô' lều lán, tịch thu 7,3 m3 gỗ xung công quỹ nhà nước.
Để thay đổi nhận thức cũng như ý thức bảo vệ rừng từ phía người dân, Ban quản lý Khu bảo tồn đã áp dụng cách thức quản lý bảo vệ rừng mới theo hướng tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương; tranh thủ vai trò, vị trí của người có uy tín trong cộng đồng để tuyên truyền, vận động nhân dân.
Tiêu biểu là tấm gương của ông Xa Văn Thế, người Tày ở xóm Nhạp, xã Đồng Chum. Hàng năm, ông tổ chức họp dòng họ, cho các gia đình ký cam kết về an ninh trật tự, trong đó có nội dung quản lý, bảo vệ rừng. Ngoài ra, ông còn hướng dẫn các xóm, xã đưa nội dung quản lý, bảo vệ rừng vào các quy ước, hương ước. Ông Thế còn là người đi đầu và trực tiếp tham gia việc giám sát quần thể cây nghiến tại xóm Nhạp, đồng thời gieo ươm cây giống và vận động các hộ dân trồng hàng trăm cây nghiến trên địa bàn xóm.
Bên cạnh đó, nguồn vốn từ các chương trình, kế hoạch trồng rừng mới hàng năm đã tạo nguồn lực cho nhân dân 4 xã đã tích cực phát triển sản xuất lâm nghiệp. Ông Đặng Văn Hải, Trưởng ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Đà cho biết, từ năm 2011 - 2013 đã giải ngân hơn 1,3 tỷ đồng chi trả dịch vụ môi trường rừng cho người dân có thêm kinh phí để gắn bó với rừng hơn.
Năm 2014, người dân đã khoanh nuôi bảo vệ 7.158 ha rừng phòng hộ xung yếu, trồng mới 837 ha rừng. Chủ tịch UBND xã Đoàn Kết, ông Hà Viết Thanh cho biết, năm 2014 người dân tiếp tục đăng ký với ngành chức năng để trồng rừng mới khoảng 200 đến 300 ha... những người đã từng bị gọi là “lâm tặc” đã tỉnh ngộ và tích cực tham gia bảo vệ rừng. Nhìn cánh rừng xanh thẫm trải dài hút tầm mắl trong một buổi chiều muộn, ông Thủy nói, sự diệu kỳ trong chuyển biến nơi đây không hẳn chỉ ở việc nạn phá rừng hị chặn đứng, mà quan trọng hơn, những “cựu lâm tặc” sau những lầm lỗi đã trở thành “tân trồng rừng”. (Đầu Tư 13/2) đầu trang(
Nhiều người dân các xã Tả Phìn, Sa Pả, Trung Chải, Lao Chải (Sa Pa, Lào Cai) đổ xô lên rừng chặt phá đào rừng trái phép để bán trong dịp Tết. (Nân Dân 13/2) đầu trang(
Trong đội ngũ cán bộ kiểm lâm ngoài những kẻ tiếp tay cho lâm tặc, có không ít chiến sĩ đã hy sinh, chịu thương tật suốt cuộc đời còn lại trong cuộc chiến bảo vệ rừng mà chưa được động viên đầy đủ, kịp thời về chế độ, chính sách.
Sáng 29/1/2015, kiểm lâm huyện Đắk Song (tỉnh Đắk Nông) cùng cán bộ nhân viên quản lý bảo vệ rừng của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa (xã Đắk Hòa, Đắk Song) tuần tra, phát hiện một nhóm lâm tặc chở gỗ bằng xe công nông.
Tổ tuần tra ra lệnh dừng xe, bất ngờ 13 đối tượng dùng dao, rựa, gậy tấn công  khiến ông Biện Văn Quế, Trạm trưởng Trạm kiểm lâm Đức Hòa, kiểm lâm viên Thái Doãn Tiến và 2 cán bộ, nhân viên Công ty Lâm nghiệp Đức Hòa bị thương nặng phải nhập viện.
Trước đó, ngày 14/8/2014, tổ công tác gồm cán bộ Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Rừng Xanh, huyện Ea Súp (tỉnh Đắk Lắk), công an viên và cán bộ Ban chỉ huy quân sự xã Cư K’bang tuần tra tại tiểu khu 215, phát hiện một đoàn xe máy chở gỗ lậu, vây bắt được 2 xe.
Đám chạy thoát về gọi đồng bọn gần bảy chục tên tới chặn đường tổ công tác. Khi tổ đang đưa tang vật về trụ sở, chúng dùng dao, gậy tấn công cướp lại xe gỗ. Anh Phạm Văn Hiển, cán bộ của Cty Rừng Xanh bị đánh bất tỉnh.
Nhiều lần tham gia vây bắt lâm tặc, ông Vũ Xuân Hải, Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động số 2 thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng liên tục bị các đối tượng khai thác, vận chuyển và tiêu thụ gỗ lậu hăm dọa. Ông Hải đã hy sinh vào ngày 28/12/2014 khi bị tài xế một xe chở gỗ lậu chống lệnh kiểm tra, lái xe tông thẳng khiến ông Hải thiệt mạng, còn anh Cao Viết Lư - cán bộ Đội cơ động số 2 đang cùng làm nhiệm vụ bị thương nặng.
Ông Nguyễn Văn Thịnh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Song khẳng định: Lâm tặc luôn thủ sẵn hung khí để chống trả lực lượng kiểm lâm, nhân viên bảo vệ rừng hòng cướp lại gỗ và các phương tiện phá rừng bị tịch thu.
Dù không ít bản án nghiêm khắc đã tuyên đối với những kẻ phá rừng, tấn công người thi hành nhiệm vụ. Tuy nhiên, công lao đổi bằng máu của chiến sĩ kiểm lâm, cán bộ bảo vệ rừng nhiều nơi, nhiều lúc chưa được ghi nhận xứng đáng.
Tháng 4/2009, anh Lê Tấn Hoàng, nguyên kiểm lâm viên trạm kiểm lâm số 6, thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, huyện Ea Kar - Đắk Lắk, trong lúc cùng đồng nghiệp tuần tra tại khu rừng giáp ranh Sông Hinh (Phú Yên), phát hiện nhóm lâm tặc đang khai thác gỗ lậu. Tổ tuần tra tiến hành thu gỗ, đưa các đối tượng về trạm, bất ngờ bị chúng hành hung. Anh Hoàng bị chém nhiều nhát, trong đó có nhát thấu phổi, nhát đứt cánh tay, tỷ lệ thương tật lên tới 31%, thế nhưng các chế độ vẫn chưa được giải quyết.
Ông Bùi Đình Kính, Phó Hạt Kiểm lâm Ban quản lý dự án Ea Sô cho biết: “Từ năm 2008-2010, đơn vị chúng tôi có 4 cán bộ kiểm lâm bị lâm tặc hành hung gây thương tích trong lúc làm nhiệm vụ. Chúng tôi đã nhiều lần làm tờ trình gửi lên các cấp đề nghị xem xét chế độ cho họ nhưng chưa được. Mong các cấp sớm giải quyết để anh em vững tâm cống hiến”.
Tương tự, từ năm 2009 đến nay, 4 cán bộ lâm trường thuộc Công ty TNHH MTV Buôn Ja Wầm (huyện Cư Mgar, tỉnh Đắk Lắk) cũng bị lâm tặc đánh, bắn trong lúc làm nhiệm vụ bảo vệ rừng. Lãnh đạo công ty nhiều lần làm hồ sơ đề nghị nhưng 3 trường hợp bị từ chối chỉ vì cơ quan điều tra không khởi tố các đối tượng tấn công.
Ông Lê Hải Lý, Trưởng phòng Người có công thuộc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh Đắk Lắk cho biết: Sở vừa tiếp nhận Công văn số 67 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, và công văn 459 của UBND tỉnh về việc xác nhận người hưởng chế độ đối với 4 kiểm lâm ở Ea Sô.
Theo đó, 2/4 người được hưởng chính sách như thương binh. Sở sẽ phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh tiếp nhận hồ sơ và giải quyết trong thời gian sớm nhất. (Tiền Phong 25/2) đầu trang(
Sáng ngày 11.2, UBND thành phố Đà Lạt tổ chức hội nghị tổng kết công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) và PCCR mùa khô năm 2013 – 2014 và triển khai phương hướng nhiệm vụ năm 2015.
Đà Lạt có trên 26 ngàn ha diện tích rừng, chủ yếu là rừng phòng hộ cảnh quan. Trong năm qua, UBND thành phố Đà Lạt đã chỉ đạo các đơn vị liên quan, UBND các phường xã công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về công tác quản lý bảo vệ rừng trong cán bộ, nhân dân địa phương. Các cơ quan chức năng đã phối hợp kiểm tra, truy quét, nhằm chủ động phát hiện ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm, nhờ vậy tình hình vi phạm giảm về cả số vụ và mức độ thiệt hại.
Trong năm đã phát hiện cà xử phạt 125 vụ  phá rừng, khai thác rừng trái phép, mua bán vận chuyển, cất giữ gỗ trái phép; xảy ra 119 vụ lấn chiếm đất rừng với diện tích trên 29ha, đã giải tỏa, trồng lại rừng tổng diện tích trên 42 ha, xảy ra 18 vụ cháy rừng với diện tích rừng bị cháy trên 25 ha. Các đơn vị chủ rừng trên địa bàn TP Đà Lạt giao khoán bảo vệ rừng với diện tích gần 15 ngàn ha cho 522 hộ; trên địa bàn có 102 đơn vị thuê đất lâm nghiệp, đất rừng với diện tích trên 3.600 ha, gần doanh nghiệp, đơn vị chế biến gỗ với số lượng chế biến gần 1.500 m3 gỗ mỗi năm. Công tác trồng rừng cũng được TP Đà Lạt quan tâm.
Trong năm 2014 địa phương đã trồng được được gần 79 ha rừng, gần 29 ha cây phân tán, các biện pháp lâm sinh thực hiện đạt 100% kế hoạch. Tuy nhiên công tác QLBVR của TP Đà Lạt vẫn còn một số hạn chế như: chưa ngăn chặn triệt để được số vụ vi phạm, công tác tuyên truyền chưa đạt hiệu quả cao, chưa bắt được đối tượng gây cháy rừng, việc xử lý các cá nhân, tổ chức nhận giao khoán, bảo vệ nhưng vi phạm hợp đồng chưa được các đơn vị chủ rừng xử lý nghiêm minh…
Để thực hiện tốt hơn công tác QLBVR, trong năm 2015, Tp Đà Lạt tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt nghị quyết của Thành ủy về QLBVR, củng cố kiện toàn, duy trì hoạt động thường xuyên hoạt động ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch BVR, thực hiện tốt quy chế phối giữa các cơ quan chức năng, tăng cường sự lãnh chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các cơ quan, đơn vị trong công tác QLBVR…(Đài PTTH Lâm Đồng 14/2) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau vừa có chuyến kiểm tra tình hình triển khai thực hiện kế hoạch bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng trước, trong và sau Tết Nguyên đán Ất Mùi tại các hạt kiểm lâm trực thuộc.
Qua kiểm tra, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau thống nhất cao với kế hoạch bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng tại các đơn vị trực thuộc; chỉ đạo các hạt kiểm lâm khu vực rừng tràm thường xuyên kiểm tra độ ẩm dưới chân rừng để đưa ra cấp dự báo cháy phù hợp; thường xuyên khởi động máy chữa cháy và duy trì quân số tại đơn vị để làm nhiệm vụ khi có sự cố xảy ra. Đối với khu vực rừng ngập mặn, tăng cường phối hợp với các chủ rừng tuần tra, kiểm tra và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Để chuẩn bị đón Tết Nguyên đán, Chi cục Kiểm lâm yêu cầu công chức, viên chức tại hạt kiểm lâm các huyện phân chia ca trực cụ thể để làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan và đảm bảo trật tự an toàn xã hội nơi đóng quân. Đón xuân mới với tinh thần an toàn, tiết kiệm và chấp hành tốt Luật giao thông. (Đài PTTH Cà Mau 15/2) đầu trang(
Thời gian qua, thực hiện sự chỉ đạo của UBND huyện Kbang và cấp trên, Hạt Kiểm lâm huyện Kbang đã chủ động phối hợp với các ngành chức năng triển khai nhiều biện pháp đồng bộ và quyết liệt để ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng trên địa bàn.
Nhờ đó công tác giữ rừng trên địa bàn huyện đang có chuyển biến tích cực. Đặc biệt, Hạt Kiểm lâm huyện Kbang đang phối hợp với các ngành chức năng triển khai các phương án để làm tốt công tác bảo vệ rừng trước, trong và sau Tết Nguyên đán 2015.
Nhiều khu rừng trên địa bàn huyện Kbang là điểm đến của nhiều lâm tặc không chỉ trong tỉnh Gia Lai và còn ở ngoài tỉnh. Trước tình hình công tác quản l, bảo vệ rừng trên địa bàn diễn biến phức tạp với nhiều hành vi lén lút, tinh vi, Hạt Kiểm lâm huyện Kbang tăng cường lực lượng thường xuyên bám nắm địa bàn, phối hợp với các ngành chức năng tổ chức các hoạt động tuần tra, truy quét lâm tặc; nâng cao hiệu quả hoạt động của các chốt chặn ra vào cửa rừng.
Trong năm 2014, các ngành chức năng trong huyện đã phát hiện và ngăn chặn kịp thời 141 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu hơn 400m3 gỗ các loại cùng với nhiều phương tiện. Đặc biệt, huyện Kbang đã thành lập các tổ liên ngành cấp xã, cấp huyện và Ban chỉ đạo, trong đó Hạt Kiểm lâm huyện làm nòng cốt thường xuyên bám nắm các địa bàn trọng điểm ở các khu rừng thuộc xã Krong, Sơ Pai, Đăkrong, Đăk SơMar, Lơ Ku, Sơn Lang, nhất là trước, trong và sau Tết Nguyên đán này để xử lý kịp thời các hành vi xâm hại đến rừng.
Ông Đinh Ích Hiệp- Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Kbang cho hay: Thường thì trong dịp Tết các đối tượng lâm tặc thường lợi dụng để phá rừng. Trước tình hình đó, Hạt đã tham mưu cho UBND huyện thành lập Ban Chỉ đạo và các tổ liên ngành để tổ chức các hoạt động kiểm tra, truy quét nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi xâm hại đến rừng.
Toàn huyện Kbang hiện có hơn 124.000 ha đất có rừng. Với phương châm “bám rừng, bám dân, bám nhiệm vụ, bảo vệ rừng tận gốc”, cùng với Hạt Kiểm lâm và các ngành hữu quan, các chủ rừng ở huyện Kbang đã nâng cao tinh thần trách nhiệm, chủ động khắc phục những tồn tại yếu kém, tăng cường triển khai nhiều biện pháp để lập lại trật tự trong công tác quản lý và bảo vệ rừng.
Ông Võ Ngộ-Giám đốc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Krôngpa chia sẻ: Thời gian trước đây đơn vị có một số khuyết điểm trong công tác quản lý và bảo vệ rừng. Đơn vị đã nghiêm túc rút kinh nghiệm, đã xây dựng các phương án, kế hoạch cụ thể, trong đó nâng cao trách nhiệm của cán bộ, nhân viên nhằm ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi xâm hại đến rừng do đơn vị quản lý…
Có thể nói, việc thành lập các tổ liên ngành và Ban Chỉ đạo kiểm tra, kiểm soát lâm sản, truy quét lâm tặc, cùng với duy trì hoạt động của các chốt, trạm ở các tuyến đường trọng điểm như đường Đông Trường Sơn trên địa bàn huyện Kbang đã và đang phát huy hiệu quả, số vụ vi khai thác, vận chuyển lâm sản, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy trái phép diễn ra trên địa bàn đã có chiều hướng giảm đáng kể.
Trao đổi với chúng tôi ông Nguyễn Thế Hà-Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Hà Nừng cho hay: Đơn vị đã phối hợp với các ngành chức năng và chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền để nhân dân nâng cao ý thức bảo vệ rừng nên số vụ vi phạm lâm luật trên lâm phần đơn vị quản lý đã giảm nhiều. Nhiều người dân sống gần rừng có ý thức tốt trong bảo vệ rừng.
Mặc dù đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức nhưng cán bộ, nhân viên Hạt Kiểm lâm huyên Kbang cũng như các ngành chức năng, các chủ rừng trong huyện Kbang quyết tâm, nỗ lực phấn đấu để ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng, nhất là thời điểm trước, trong và sau mỗi dịp Tết Nguyên đán để giữ vững màu xanh của những khu rừng. (Đài PTTH Gia Lai 14/2) đầu trang(
Chúng tôi trở lại VQG Cát Tiên sau hơn 1 năm Chính phủ có quyết định không cho phép xây dựng hai thủy điện ĐN6 và 6A. Không khí trong lành của cánh rừng xanh bạt ngàn, của tiếng chim muông làm hồn ai cũng đắm chìm trong khung cảnh mê hoặc.
Còn nhớ, những năm trước, Cát Tiên bị đe dọa bởi hai thủy điện Đồng Nai (ĐN) 6, 6 A - do Công ty CP Tập đoàn Đức Long Gia Lai làm chủ đầu tư, dự tính xây ở thượng nguồn sông Đồng Nai, lăm le "ăn" cả vào vùng lõi của vườn. Sau khi bị Chính phủ loại khỏi quy hoạch vào tháng 9-2013, Cát Tiên như được hồi sinh hơn một năm nay.
“Cổng” chính vào VQG Cát Tiên là từ Quốc lộ 20 men theo đường Tà Lài yên ả, thôn xóm thanh bình, đến cuối đường với bến đò với con sông Đồng Nai phía thượng nguồn hoang dại. Từ đây (xã Nam Cát Tiên, huyện Tân Phú- Đồng Nai) nhìn sang bên kia sông, trong tầm mắt, nơi Cát Tiên hiện hữu là một màu xanh cây lá, đây đó cánh cò bay lượn, vài chiếc phà, con đò thấp thoáng…
Tại đây, khi nhắc đến khoảng thời gian lên tiếng, chờ đợi việc loại bỏ hai dự án thủy điện ĐN 6, 6 A gây ảnh hưởng đến môi trường, nhiều người dân vẫn còn xúc động.“Thời gian đó, chúng tôi hồi hộp lắm, nếu thủy điện được phê duyệt thì Cát Tiên coi như đã mất đi một phần da thịt của mình”- một người dân nói.
Khi đã vào đến vườn, vì là ngày cuối tuần nên chúng tôi không gặp được ai trong số các cán bộ, nhân viên của vườn đã từng chia sẻ thông tin trong quá trình lên tiếng bảo vệ Cát Tiên. Tuy nhiên, gặp gỡ một số du khách, nhiều người cũng tỏ ra rất hứng thú với câu chuyện “giải thoát ngoạn mục” VQG Cát Tiên khỏi vòng vây thủy điện (!).
Một trong số đó là Th.S Nguyễn Huỳnh Thuật, nguyên là cán bộ của vườn, người đã từng viết tâm thư gửi thủ tướng chính phủ và chủ tịch nước để “cứu” VQG Cát Tiên, kể sau quá trình đấu tranh bảo vệ Cát Tiên, anh cũng nghỉ việc tại đây. “Tuy nhiên, tôi vẫn gắn bó với vườn, với các hoạt động môi trường, thường xuyên giới thiệu, hợp tác hướng dẫn các đoàn khách quốc tếtham quan tại đây”, anh Thuật hào hứng nói.
Trong một ngày cuối tuần, chúng tôi chỉ đủ thời gian để thăm lại một số điểm ở trong vườn, ngắm nhìn những đàn bướm bay lượn, nghe chim hót líu lo, thỉnh thoảng một con chim lạ đập cánh, một chú thỏ rừng nhảy vụt ra.
Trở lại lần này với trạng thái thư thái, chúng tôi cũng không quên những ngày cùng các nhà khoa học và các nhà báo lặn lội băng rừng vượt suối đi thực tế, tìm cứ liệu chứng minh việc xây thủy điện ĐN 6, 6A là vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Đa dạng sinh học, gây tác hại lớn đối với môi trường.
Dịp đó, nhiều người đã tỏ ra rất hạnh phúc khi lần đầu được đến với Bàu Sấu. Sau hàng giờ đi bộ xuyên rừng, mệt bở hơi tai, hành lý mang theo nặng trĩu trên vai nhưng mọi người đều tỏ ra sung sướng khi được bước trên nền lá khô ẩm ướt xào xạc, len lỏi giữa rừng già với chằng chịt những rễ cổ thụ, với cành khô, dây leo quấn lên áo, lên tóc. Khi đến nơi, mọi người vỡ òa lên sung sướng khi thấy hiện ra một đầm nước trong veo với đám cỏ tranh vàng trong nắng…
TS. Vũ Ngọc Long, Viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam, cho biết ngoài sự giàu có về đa dạng sinh học với 113 loài thú thuộc 38 họ và 12 bộ, 351 loài chim với 64 họ, 109 loài bò sát, 756 loài côn trùng…, Cát Tiên còn nhiều cảnh đẹp mê hoặc ít nơi nào có được như ghềnh đá Bến Cự, rừng bằng lăng tím, Thác trời…
Lần trở lại này, đứng giữa Thác trời, với bọt trắng tung bờ đá, dòng suối róc rách ngày đêm giữa muôn loài hoa, cây dại, chúng tôi nghe ai đó có lẽ không kìm được cảm xúc trước cảnh đẹp mà bỗng cất lên tiếng hát: “Rằng xưa… tìm động hoa vàng...”…
Theo Ban giám đốc VQG Cát Tiên, nếu như VQG Cát Tiên có những cảnh đẹp có sức quyến rũ lòng người thì nét văn hóa của những cộng đồng dân tộc ít người ở địa bàn cũng hết sức hấp dẫn, đặc biệt. Hiện, gần bên vườn Cát Tiên, trong bán kính khoảng 10 km có hai dân tộc Mạ, S’tiêng sinh sống. Ở đây, người già thường chơi một loại nhạc cụ là kèn Monkela (một loại kèn bầu) cất lên giai điệu núi rừng, còn các cô gái vẫn cố lưu giữ cách dệt thổ cẩm, nghề truyến thống hiện đang dần mai một… “Chúng em phải giữ lại những tài sản tinh thần quý giá”- một cô gái người Mạ tại xã Tà Lài, huyện Tân Phú, khẳng định.
Một nét văn hóa khác mà nhiều người quan tâm là một dã sử đang được cácnhà khảo cổ đặt ra về nền văn hóa Óc Eo. Nhiều cứ liệu cho thấy ở đây từng tồn tại một nền văn minh của vương quốc Phù Nam có lãnh thổ trải dài từ Ấn Độ, Myanmar, Indonesia, Nam Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc. Hiện vẫn còn khu di tích đền đài tọa lạc trên đồi A1, còn in đậm dấu ấn kiến trúc cổ xưa, với nhiều hiện vật thờ tự.
Ông Trần Văn Mùi, Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai, thống kê hiện tổng số người Mạ ở Lâm Đồng khoảng 32.000 người, ở Đồng Nai gần 2.500 người; riêng ở xã Tà Lài, huyện Tân Phú gần vườn Cát Tiên hiện có hơn 1.000 hộ người dân tộc Mạ và S’tiêng sinh sống.
“Từ khi bắt đầu công cuộc bảo tồn, năm 1978, lúc đó Cát Tiên còn có loài tê giác Java sinh sống nên cộng đồng thế giới quan tâm. Tuy nhiên, sau đó loài tê giác tại đây được xác định đã bị tuyệt chủng. Vì vậy chúng ta cần quan tâm, giữ gìn những thứ quý giá còn lại. Vừa qua, việc cộng đồng đấu tranh để rồi cuối cùng Chính phủ loại bỏ hai thủy điện ĐN 6, 6A là một thắng lợi về mặt bảo tồn. Phát triển tuy nhiên phải hài hòa. Chúng ta gìn giữ, không phải chỉ cho mình mà còn cho con cháu mai sau…”- ông Mùi nhận xét. Hiện nỗi lo của ông Mùi là đàn bò tót khoảng 70-80 con cũng đang có nguy cơ tuyệt chủng vì nạn săn bắn trộm và mất môi trường sống. (Người Lao Động 19/2) đầu trang(
Sự nghiệp trồng rừng nguyên liệu giấy ở tỉnh Kon Tum từ năm 2000 đến nay đã in đậm dấu ấn của quá khứ gian nan, khốc liệt. Công ty Nguyên liệu giấy Miền Nam đã phải trải qua bao nhiêu gian khó, thăng trầm để đến hôm nay, diện tích còn lại trên 9500 ha đã minh chứng cho những nỗ lực không mệt mỏi của cán bộ, đảng viên, người lao động công ty trong suốt gần 15 năm qua.
Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty nguyên liệu giấy miền Nam , Tống Hữu Chân cho biết: trong những năm qua, công ty đã tập trung dồn sức để triển khai các phương án phòng chống cháy rừng trong mùa khô . Hiện nay, tất cả trên 138 cán bộ, công nhân viên của công ty đều được phân công về 10 ban ở 8 huyện, thành phố để phòng chống cháy. Cán bộ của công ty cũng tạm thời gác lại công việc để tăng cường về các huyện, tập trung ở các vùng trọng điểm là: Rờ Kơi, Pô Kô, Sa Thầy, Ngọc Hồi…
Dưới sự chỉ huy hàng ngày của Ban giám đốc, hiện tất cả các Ban trồng rừng của Công ty đã chuẩn bị đầy đủ các điều kiện từ con người, phương tiện phòng chống cháy theo phương châm 4 tại chỗ như:  bể nước, lán trại trực cháy, rà ủi  đường băng cơ giới , đường ranh cản lửa thủ công , máy bơm nước cao áp, ô tô chở nước…phân công người trực 24/24 giờ trên khắp các nơi có rừng, từ Đăk Hà, Đăk Tô, Ngọc Hồi, Sa Thầy, Tu Mơ Rông đến Kon rẫy, Kon Plong.
Phó giám đốc Phạm Văn Hà cho biết:  công ty đã đề nghị và được Bộ NN & PT NT cho phép thực hiện quy trình đốt trước có điều khiển dưới tán rừng và đốt trước đạt yêu cầu kỹ thuật. Vì vậy, nguy cơ cháy rừng có thể được khống chế cơ bản. Rừng nguyên liệu giấy của công ty hầu hết nằm ở các vùng núi non hiểm trở , giao thông chia cắt.
Đặc biệt là điều kiện sinh hoạt rất thiếu thốn, nhưng cán bộ công nhân viên của công ty vẫn bám trụ ở tất cả 10 điểm trực chiến phòng chống cháy  trong suốt 6 tháng mùa khô. Trưởng phòng tổ chức Cao Vinh Quang tâm sự: “Hằng đêm, cán bộ kỹ thuật phải đến từng nhà dân để tuyên truyền, vừa ký cam kết với các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, cùng với bà con đốt rẫy có điều khiển, thường phải đốt từ 10 giờ đêm hôm trước đến 4 giờ sáng hôm sau, lúc đó trời ít gió không có rủi ro cho vùng  nguyên liệu. Công ty còn hợp đồng gần 100 người dân tham gia trực gác, canh giữ giữa rừng; hợp đồng với Đoàn Đăk Tô và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh trong công tác phối hợp phòng chống cháy khi có sự cố xảy ra. Giám đốc Tống Hữu Chân cũng cho biết thêm: “Những năm qua , Công ty thay đổi phương án khoán hợp lý cho tất cả các ban để cán bộ, người lao động nhận rừng có trách nhiệm thực sự gắn bó với rừng.
Giữ được rừng thì được thưởng, mất rừng thì phải đền. Tất cả cán bộ từ giám đốc đến nhân viên của công ty đều được bình xét hàng tháng: Loại A hưởng 100% lương; loại B: 70% ; loại C: 50%”. Từ đó anh em đã nâng cao trách nhiệm, tự quyết định đời sống và thực sự cơ chế này rất hiệu quả. Những năm gần đây  không xảy ra vụ cháy nào, rừng được bảo vệ phát triển tốt. Có nhiều nơi cây thông đã cao trên 15 mét, đường kính khoảng từ 15-30 cm. Rừng thông xanh ngắt, trải dài trên những vùng đất hoang sơ trước đây đã minh chứng cho sự đúng đắn khi cây thông được phủ xanh trên các vùng đất Kon Tum, đặc biệt là dãy núi Sarly, nơi trước đây bạt ngàn là cỏ tranh, lau lách ! Nguyên Thứ trưởng Bộ NN & PTNT Hứa Đức Nhị trong chuyến thị sát rừng nguyên liệu giấy Kon Tum khẳng định: “Cây thông rất phù hợp với đất rừng Kon Tum và công tác chăm sóc, bảo vệ và quản lý rừng của công ty nguyên liệu giấy miền Nam là một hình mẫu tiêu biểu.”
Có được ngày hôm nay, chắc hẳn mọi người không sao quên được ký ức đau buồn khi 23 công nhân của công ty đã vĩnh viễn nằm xuống mảnh đất này do vướng phải bom mìn của chiến tranh để lại, do nước lũ, mưa nguồn, muỗi rừng, sốt rét ác tính…
Trưởng phòng kế hoạch – kinh doanh Hà Bá Hường cho biết: “Tháng 12 năm 2007, Công ty đã xây dựng một nhà bia tưởng niệm tại đồi SarLy để ghi danh những người lao động của công ty đã vĩnh viễn nằm xuống cho sự nghiệp trồng rừng đầy gian khó. Đó là tấm lòng tri ân với những người đã khuất của những người đang tiếp tục sự nghiệp này”.
Hiện nay, những người đến với công ty nguyên liệu giấy miền Nam đều nhận thấy, có một ngọn lửa đang cháy, nhưng không phải là ngọn lửa rừng mà là ngọn lửa  nhiệt huyết của những người lao động giữ lấy màu xanh của rừng, giữ lấy nguồn nguyên liệu chính để  phục vụ cho công nghiệp sản xuất giấy và chế biến gỗ , góp phần xây dựng và phát triển tỉnh Kon Tum. (Tầm Nhìn 25/2) đầu trang(
Thông tin từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: Vào khoảng 15h ngày 23/2, tại bản Chiềng An, xã Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo đã xảy ra một vụ cháy rừng, gây thiệt hại hơn 3ha.
Ngay sau khi tiếp nhận thông tin từ cơ sở, Hạt Kiểm lâm huyện Tuần Giáo đã huy động lực lượng dân quân tự vệ, tổ đội phòng chống cháy rừng của xã Chiềng Sinh mang các vật dụng, phương tiện cần thiết để dập lửa, phát đường băng cản lửa không để cháy lan ra diện rộng. Sau hơn 3h đồng hồ, với sự vào cuộc tích cực của các lực lượng phòng chống cháy rừng, đám cháy đã được khống chế. Qua thống kê, tổng diện tích bị cháy trên 3ha, trong đó diện tích rừng trạng thái 2a là 2,4ha.
Hiện nay đang là thời gian cao điểm của mùa khô hanh, nắng nóng kéo dài cộng với gió Lào thổi mạnh và là mùa người dân đốt nương làm rẫy, tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng rất cao. Vì vậy, các địa phương cần tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức bảo vệ rừng, đốt dọn nương đúng quy định; đồng thời chuẩn bị nhân lực và vật lực thực hiện tốt phương châm 4 tại chỗ để kịp thời ứng phó khi có cháy rừng xảy ra. (Đài PTTH Điện Biên 24/2) đầu trang(
Sau gần 5 giờ phối hợp tổ chức dập đám cháy rừng lớn bùng phát ở địa bàn xã Sơn Bình, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu, các lực lượng phòng chống cháy rừng tỉnh Lào Cai và tỉnh Lai Châu đã dập tắt hoàn toàn đám cháy rừng vào chiều 24/2.
Ông Lê Ngọc Hưng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai, Trưởng ban chỉ đạo phòng chống cháy rừng tỉnh Lào Cai, cho biết, diện tích rừng bị cháy ở xã Sơn Bình (huyện Tam Đường) gần khu vực Thác Tình Yêu trên đèo Trạm Tôn, thuộc địa bàn xã San Sả Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
Theo thông tin ban đầu, diện tích rừng bị cháy khoảng 10 hécta, trong đó có 4 hécta rừng thông và sa mộc, còn lại phần lớn là rừng nghèo kiệt đang tái sinh.
Nguyên nhân vụ cháy đang được cơ quan chức năng của huyện Tam Đường điều tra làm rõ.
Rất may do kịp thời khoanh vùng dập tắt đám cháy nên dù trời nắng nóng, gió nóng Ô Quý Hồ thổi mạnh nhưng đám cháy không bị lan rộng sang Vườn quốc gia Hoàng Liên chỉ cách đó 1.000 mét.
Lực lượng phòng chống cháy rừng giáp danh hai tỉnh Lào Cai - Lai Châu tăng cường các chốt cảnh giới cháy rừng 24/24 giờ, sẵn sàng tổ chức lực lượng dập lửa rừng trong mọi tình huống, ngăn chặn kịp thời không cho lửa rừng xuất hiện ở khu vực Vườn quốc gia Hoàng Liên. (Dân Trí 24/2) đầu trang(
Thực hiện nhiệm vụ tấn công truy quét về lĩnh vực lâm sản trước, trong và ngay thời điểm cận Tết Nguyên đán 2015, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh Nghệ An đã phát hiện, bắt giữ nhiều vụ vận chuyển gỗ không có giấy tờ hồ sơ, thủ tục.
Thông tin được Thượng tá Chu Minh Tiến - Phó trưởng phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường công an tỉnh Nghệ An cho PV Dân trí biết vào chiều 30 Tết tức ngày 18/2/2015. Theo đó, vào ngày 18/2/2015, tức 30 Tết nguyên đán 2015, các cán bộ chiến sỹ của phòng đã bắt giữ xe ô tô tải BKS: 37C - 08910 đang vận chuyển 35 khúc gỗ, tương đương 6m3 không giấy tờ tại quốc lộ 48C thuộc địa bàn xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp.
Ngay sau khi phát hiện, Tổ công tác đã đưa tang vật và phương tiện về phòng để điều tra làm rõ.
Trước đó, vào ngày 14/2/2015, tại xã Tam Thái, huyện Tương Dương, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường cũng đã bắt xe tải BKS: 29L-6335 đang vận chuyển trái phép 22 thanh gỗ xẻ và xe tải BKS: 37N-9007 vận chuyển 15 thanh gỗ không có giấy tờ.
Ngày 9/2/2014, các cán bộ chiến sỹ của Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường cũng đã phát hiện và bắt giữ vụ mua bán vận chuyển gỗ có nguồn gốc nhập khẩu hợp pháp nhưng không chấp hành các quy định của pháp luật về hồ sơ lâm sản và trình tự thủ tục quản lý tại khu vực đường Hồ Chí Minh thuộc địa bàn xã Thanh Đức, huyện Thanh Chương. Chủ chiếc xe ô tô 37C-10104, vận chuyển 4 khúc gỗ tròn đã bị xử phạt 7,5 triệu đồng.
Trước đó vào ngày 11/2/2015, tại bản Na Sơn, xã Diêm Lãm, huyện Quỳ Châu, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường tiếp tục bắt giữ 21 tấm gỗ vô chủ tương đương 5m3 cũng đã bị phát hiện và xử lý.
Với các vụ vận chuyển lâm sản trái phép, Phòng cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường công an Nghệ An đã tiến hành xử phạt hành chính một số xe vận chuyển và chuyển hồ sơ thủ tục sang cơ quan kiểm lâm để tiếp tục xử lý. (Dân Trí 19/2) đầu trang(
Không như những năm trước, Tết Ất Mùi, tình trạng vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) đã giảm rõ rệt.
Dịp Tết, lực lượng Kiểm lâm, đơn vị chủ rừng, chính quyền các địa phương trên địa bàn huyện đã tăng cường công tác quản lý và bảo vệ rừng. Nhờ đó, nhiều vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng được phát hiện, xử lý; các vụ phá rừng đã giảm, đặc biệt là ở những điểm nóng trên đường Khánh Lê - Lâm Đồng và xã Khánh Thượng.
Ngày 17-2 (tức 29 Tết), nhận được tin tố giác của quần chúng tại thôn Tà Gộc (xã Khánh Thượng) có đối tượng cất giấu gỗ lậu, ngay lập tức, lực lượng của Trạm Kiểm lâm Sơn Thái (Hạt Kiểm lâm Khánh Vĩnh) đã phối hợp với lực lượng của Đội Kiểm lâm cơ động tỉnh (Chi cục Kiểm lâm tỉnh) đến kiểm tra và phát hiện 4 lóng gỗ tròn với khối lượng khoảng 0,7m3 đang được cất giấu tại một rẫy điều ven sông Máu (thôn Tà Gộc). Lực lượng Kiểm lâm đã nhanh chóng lập biên bản vụ việc, đưa số tang vật về tạm giữ; đồng thời tiếp tục cử lực lượng rà soát khắp các rẫy điều, ven sông.
Ông Nguyễn Văn Thịnh - Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Sơn Thái cho biết: “Thời điểm trước Tết, Trạm đã phối hợp với lực lượng của đơn vị chủ rừng tuần tra, truy quét sâu vào rừng nhằm giảm thiểu tình trạng khai thác; tuần tra tại những điểm các đối tượng thường tập kết gỗ lậu. Nhờ vậy, trong những ngày Tết, tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép đã giảm hẳn. Tính từ ngày 13 đến 22-2 (ngày 25 tháng Chạp đến mùng 4 Tết), trên địa bàn các xã cánh Tây huyện, chúng tôi chỉ phát hiện và xử lý 2 vụ cất giấu lâm sản, tạm giữ hơn 2,8m3 gỗ các loại”.
Đóng chốt tại dốc A Meo (thị trấn Khánh Vĩnh) đã 3 cái Tết, chưa bao giờ công việc của Đội Kiểm lâm cơ động tỉnh lại nhẹ nhàng như Tết năm nay. Ông Nguyễn Văn Tỉnh - Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động tỉnh cho biết: “Còn nhớ Tết năm 2013, khi tình trạng phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép ở huyện Khánh Vĩnh diễn ra tràn lan, mỗi ngày, chúng tôi phát hiện, lập biên bản xử lý cả chục vụ. Năm nay, tính từ ngày 20 tháng Chạp đến mùng 4 Tết, Đội chỉ phát hiện và xử lý 3 vụ vi phạm, số lâm sản tạm giữ gồm 110 khúc gỗ xẻ hộp các loại, khối lượng hơn 10,8m3. Riêng trong những ngày Tết, trên địa bàn không xảy ra vụ vi phạm nào”.
Được biết, để ngăn chặn tình trạng vận chuyển gỗ lậu trong dịp Tết, Đội đã phối hợp với các lực lượng khác thường xuyên truy quét; khi có tin báo của quần chúng thì tiến hành cơ động tiếp cận hiện trường ngay... Nhờ vậy, đã kịp thời phát hiện, xử lý vụ việc, không để các đối tượng kịp tẩu tán tang vật vi phạm.
Nhận định thời điểm trước Tết các đối tượng sẽ tập trung vào rừng để khai thác lâm sản trái phép, rồi lợi dụng dịp Tết để vận chuyển nên lực lượng Kiểm lâm đã chủ động bám sát địa bàn, liên tục tuần tra, truy quét sâu vào rừng tại những nơi có nguy cơ xảy ra nạn phá rừng lớn như: Tuyến đường đèo Khánh Lê đi Lâm Đồng, những cánh rừng thuộc khu vực các xã: Sơn Thái, Khánh Thượng, Khánh Phú...; bên cạnh đó còn chốt chặn các đường vận chuyển lâm sản trái phép trên đường bộ lẫn đường sông. Nhờ đó, đã góp phần bảo vệ rừng từ gốc, không để các đối tượng tập kết vận chuyển gỗ lậu. (Báo Khánh Hòa 25/2) đầu trang(
Người dân xóm Thịnh Mỹ 3 (xã Tân Thịnh, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên) gọi quần thể cây chò chỉ tại đây là rừng.
Mang ơn rừng chò chỉ nên các thế hệ người dân ở xã an toàn khu (ATK) này đã gìn giữ, bảo vệ rừng như một tài sản riêng. Rừng cũng đã mang lại đời sống tươi mới cho bà con nơi đây. Rừng che bộ đội Giữa bạt ngạt màu xanh của rừng tự nhiên, rừng trồng, rừng cây chò chỉ ở Tân Thịnh mọc thành 2 khu vực, mỗi khu thành một quần thể có vài chục cây sinh sống. Đây là một điều hết sức đặc biệt không giống trong tự nhiên loài cây này chỉ phân bổ đơn lẻ. Đa phần các cây ở đây có đường kính thân cây từ 50 - 100 cm. Thân cây như một mũi tên khổng lồ lao thẳng lên trời với chiều cao từ 25 - 30 m. Chưa có sự xác định chính xác về tuổi thọ của quần thể những cây chò chỉ ở đây. Những bậc bô lão trong bản làng đều khẳng định, từ khi sinh ra và lớn lên, các cụ đã thấy rừng chò chỉ ở đây cao lớn lắm rồi.
Cụ Hoàng Thị Lịch (73 tuổi, xóm Thịnh Mỹ 2, xã Tân Thịnh) nhớ lại, lúc cụ chưa đầy 10 tuổi, rừng xanh chiến khu còn rậm rạp, có hoang thú như cọp, báo… nên quần thể những cây chò chỉ giăng hàng với cự ly rất đều tựa như thành lũy để mọi người trú ẩn. Đám trẻ trâu thấy hổ báo gầm rú thì lùa đàn chạy về nương bóng dưới tán chò chỉ. Trong kháng chiến chống Pháp, rừng chò chỉ được chọn là nơi ở và làm việc của phân viện - Viện Quân y 108.
Gợi lại chuyện cũ, cụ Lương Thị Tập (82 tuổi, thị trấn Chợ Chu) bồi hồi kể, năm 1952, khi các cán bộ y tế của bệnh viện về rừng chò chỉ ở để điều trị cho thương bệnh binh thì những dân công hỏa tuyến như cụ Tập được lựa chọn để phục vụ công tác quân y. Nhiều thân cây chò chỉ năm ấy đã lớn tới 2, 3 người ôm mới hết. Thân cây thẳng đứng như thân cau. Các dân công làm lán trại dưới những cây chò, mỗi cây được sử dụng như một góc cột của nhà lán để bác sỹ và bộ đội ở. Cụ Tập đã phục vụ hậu cần tới gần 7 tháng dưới tán những cây chò nơi đây.
Mới rồi, UBND tỉnh Thái Nguyên đã quyết định xếp hạng di tích đối với địa danh trên. Cụ Tập nhắn nhủ, không được khai thác, chặt phá, phải gìn giữ những cụ chò chỉ đó, vì các cụ thiêng lắm đấy! Mang ơn với rừng chò chỉ cổ thụ, người già ở Tân Thịnh đều nhắc nhở con cháu không được xâm hại, chặt phá. Rừng chò chỉ bây giờ sừng sững, hiên ngang giữa rừng xanh chiến khu. Cách đây hơn chục năm, một cây chò bị sét đánh, chết đến lưng thân. Một cán bộ xã tận thu để làm nhà văn hóa xóm.
Ngay lập tức, vị cán bộ nói trên đã bị khiển trách và buộc phải đưa thân cây trở lại rừng, lấy gỗ khác làm nhà văn hóa. Người dân Tân Thịnh đã thống nhất một luật riêng trong hương ước, với  quan niệm là tuyệt đối không xâm hại, tận thu bất kể một cành cây, que củi nào từ rừng chò chỉ. Nếu cây chết, cành gãy thì chỉ can thiệp để cây không đổ lên cây còn sống.
Ông Âu Văn Loan (trưởng xóm Thịnh Mỹ 3) giải thích, quy định như vậy để hạn chế việc đối tượng xấu, thường là lâm tặc ở nơi khác tận dụng việc khai thác tận thu, sẽ hãm hại các cụ chò chỉ để trục lợi. Rừng nuôi đồng bào Ý thức, thái độ nặng tình với rừng, ơn huệ với rừng của đồng bào xã ATK Tân Thịnh dường như cũng được rừng xanh đáp nghĩa. Với 5.180 ha đất lâm nghiệp (chiếm 86,7% đất tự nhiên), xã Tân Thịnh là địa phương có diện tích đất lâm nghiệp và diện tích rừng lớn nhất của huyện Định Hóa. Phát huy thế mạnh của địa phương, từ nhiều năm nay rừng đã trở thành nguồn thu nhập quan trọng, giúp cho nhiều gia đình ở Tân Thịnh thoát nghèo, vươn lên khá giả.
Trên con đường đất dân sinh khúc khuỷu, gập ghềnh chạy qua các khu vực Làng Duyên và Thịnh Mỹ của xã Tân Thịnh, chúng tôi bắt gặp bạt ngàn màu xanh của những vạt rừng, những cây keo thân to, cao vút đang đến tuổi thu hoạch. Dọc 2 bên đường từng đống gỗ lớn được khai thác, tập kết để chờ ô tô đến vận chuyển; tiếng nói cười rộn rã của người dân đang vụ trồng rừng…
Anh Lý Văn Diệp (cán bộ địa chính xã Tân Thịnh) phấn khởi nói với chúng tôi: “Tân Thịnh nay đã no ấm hơn rất nhiều rồi, tất cả là nhờ vào nguồn thu từ rừng. Ở đây, chẳng cần phải tuyên truyền vận động, mọi người dân đều ý thức được vai trò của rừng, chủ động nhận giao khoán đất, trồng và bảo về rừng bởi họ thấy được những lợi ích thiết thực của rừng đem lại”.
Hơn nửa tiếng đi xe máy, chúng tôi đến được Khuổi Lừa, xóm xa xôi nhất của xã Tân Thịnh (cách trung tâm xã 12 km). Trái với mường tượng ban đầu của chúng tôi về một xóm nhỏ nghèo khó, người dân Khuổi Lừa lại có đời sống no ấm, sung túc và là một trong những xóm có mức sống khá của xã. Những căn nhà ngói mới dựng dọc theo các còn đường chạy tỏa vào rừng, hầu hết các gia đình đều đã sắm được tivi, xe máy, tủ lạnh…
Trưởng xóm Hoàng Ngọc Quý cho biết, rừng ở Khuổi Lừa khá lắm, đất xanh lại vì rừng, người dân cũng khá lên từ rừng. Cả xóm chỉ có 36 hộ nhưng có tới gần 400 ha rừng, nhà ít cũng một vài ha, nhiều đến vài chục ha rừng trồng. Điển hình nhất về trồng rừng là ông Vũ Ngọc Dậu. Với hơn 80 ha rừng trồng và nhận khoanh nuôi, gia đình ông có mức sống khả giả nhất xóm nhờ trồng rừng.
Ông Dậu nhẩm tính, trung bình mỗi năm một ha rừng cho thu nhập hơn 2 triệu đồng từ khai thác tỉa, tổng thu nhập của gia đình ông đạt mức gần 200 triệu đồng, số tiền mơ ước cả đời của nhiều gia đình làm nông nghiệp. Hiện nay, số gia đình ở Tân Thịnh có thu nhập trên 100 triệu đồng từ rừng mỗi năm không còn là hiếm. Theo thống kê, cả xã có gần 300 gia đình có quy mô diện tích rừng hơn 10 ha. Trong đó có nhiều gia đình có diện tích từ 40 - 60 ha.
Ông Nông Đình Thân, xóm Nà Chúa, chủ nhân của hơn 60 rừng chia sẻ, giờ cứ có đất trồng rừng là không lo đói nữa. Chỉ cần 1 - 2 ha trồng cây nguyên liệu như keo, mỡ, bỏ công chăm sóc nhiều trong 1, 2 năm đầu tiên, hết chu kỳ khoảng 5 - 7 năm là có cả trăm mét khối gỗ, bán rẻ cũng có 50 triệu đồng, đáng giá bằng cả gia tài...
Ông Hứa Văn Đặng (Chủ tịch UBND xã Tân Thịnh) cho biết, khi người dân đã nhận thấy những lợi ích thiết thực từ rừng thì họ sẽ tự nguyện trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng. Phát triển kinh tế đồi rừng đã và đang đóng góp một cách tích cực vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người dân xã Tân Thịnh. Trên địa bàn xã hiện không còn lô đất lâm nghiệp nào bị bỏ trống. Trong điều kiện diện tích đất nông nghiệp hạn chế, xã đã xác định kinh tế đồi rừng là hướng mũi nhọn, từ đó tập trung chỉ đạo, khuyến khích người dân trồng và phát triển rừng. Trong những năm qua, xã đã phối hợp chặt chẽ với Ban Quản lý rừng ATK huyện để hỗ trợ người dân về vốn, giống và tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục cấp phép khai thác, chế biến lâm sản trên địa bàn.  Xã cũng phối hợp và chỉ đạo các xóm phát quang đường giao thông nông thôn, đặc biệt là đường giao thông đến tận chân rừng để tiện cho việc chăm sóc, bảo vệ và nâng cao giá trị kinh tế của rừng. (Nông Nghiệp VN 25/2) đầu trang(
Một đại ngàn Tây Nguyên rộng lượng hiện hữu tự bao đời nay phải biết yêu quý, giữ gìn là một trong những điều có trong luật tục bất thành văn của các dân tộc thiểu số nơi đây.
Họ, những người dân tộc thiểu số, tự bao đời nay gắn với rừng, biết cách ứng xử với rừng để dựa vào rừng mà sống là điều mà tôi nhận ra trong hành trình đến với rừng và đến với bà con dân tộc thiểu số Tây Nguyên trong mấy chục năm qua. Già làng “trẻ” Krajan Plin (huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng) bảo với tôi rằng: “Mất rừng, cũng có nghĩa là bà con mất tất cả!”.
“Sinh ra từ rừng” là khái niệm mà mọi công dân chân trần phải tận tường khi nghĩ về số phần của mình lúc hiện hữu ở trần thế và cả lúc giã từ cõi tạm để trở về với thế giới bên kia. Hẳn ai cũng hiểu rằng những dấu chân trần kia được sinh ra từ bố mẹ, sinh ra từ con người cụ thể; nhưng trong tâm thức, bao giờ cũng vậy, ngay cả với đấng sinh thành cũng nghĩ như vậy, đứa trẻ đỏ hỏn kia với dấu chân trần lam lũ trong tương lai đều nghĩ rằng nó còn được sinh ra từ rừng, sinh ra từ đại ngàn bao dung. Và, ngay từ lúc sinh ra, nó đã gắn với rừng.
Nói “Rừng là lẽ sống” ở đây, tôi không hề có ý định đưa một câu khẩu hiệu khá phổ biến của ngành lâm nghiệp vào đời sống của các cư dân bản địa Tây Nguyên.
Thằng K’Min ở thôn Đạ Pin (xã Triệu Hải, huyện Đạ Tẻh)năm ấy vừa tròn mười sáu cái mùa rẫy. Sức vóc nó đủ lớn để vác cái ná vào rừng đối đầu với con thú. Hôm đi rừng với nó, tôi được chứng kiến cảnh... kỳ lạ này: Cái ná nó giương lên với đường tên hướng về phía con nai lấp ló trong bụi rậm, bỗng thằng K’Min khựng lại rồi từ từ lấy mũi tên có tẩm thuốc độc ra khỏi ná. Tôi hỏi: “Sao không lảy cò?”. Đứa con trai mười sáu tuổi của rừng già ấy bảo với tôi một cách tỉnh bơ rằng: “Con nai mẹ đang có con nai con trong bụng!”.
Sau đó, khi về lại nhà, tôi đem câu chuyện này kể với già làng K’Sọp - ông ngoại của K’Min - và hỏi ông: “Sao không được bắn con nai có chửa? Mà, sao thằng K’Min biết được điều đó?”. Già làng K’Sọp tỉnh queo: “Thằng K’Min từ hồi mười mấy cái mùa rẫy trước khi được sinh ra là bố mẹ nó đã dạy nó cái điều ấy rồi. Bố nó, khi nhiều nhiều cái mùa rẫy trước, khi được sinh ra cũng vậy, cũng được bố của bố nó dạy không được giương đường tên vào bụng con nai có chửa, con min sắp sinh con...”. Hóa ra, cái triết lý sống ở trong rừng này là như vậy!
Lần khác, tôi cùng một nhóm người có cả đàn ông lẫn đàn bà ở Tu Tra (huyện Đơn Dương) vào rừng đốn gỗ về làm con nêu cho một buổi lễ ăn trâu sẽ được tổ chức vài ngày sau đó. Những người phụ nữ có nhiệm vụ bứt đọt mây về chế biến thức ăn và bứt dây mây về làm vật dụng cột cây knưng.
Tôi quan sát: Khi đưa con dao pír vào gốc cây dây mây, những người phụ nữ ấy không ai bảo ai nhưng cách làm của họ đều giống nhau: Chỉ lựa những sợi mây nào có ít nhất một mầm mây non để cắt. Cắt xong, họ vun đất cho mầm mây non có cơ hội phát triển tốt tươi hơn. Còn với đọt mây, họ chỉ lựa những ngọn mây ra đủ đoạn non bằng hai gang tay để cắt chứ không cắt những đọt mây còn quá ngắn. Hỏi chị Ma Nới, chị bảo: “Để đến con trăng sau vào đây còn có cái bỏ vào gùi mang về cho vào nồi chứ!”.
Còn với những người đàn ông, chỉ có nhiệm vụ chọn một hoặc hai cây rừng thật chắc chắn để về làm cọc knưng cột con trâu, nhưng họ lội hết cánh rừng này đến cánh rừng khác, từ sáng tới tối mịt vẫn chưa ưng ý. Đêm, nhóm lửa giữa rừng, bên bát rượu đế mang theo từ nhà, những người đàn ông cứ lặng lẽ một cách khó hiểu.
Tôi ghé tai già làng Ja Bá: “Trên đường đi, thấy nhiều cây cứng cáp lắm mà! Sao già không cho đốn?”. Ông cười: “Cứng cáp nhưng nó đang “đẻ con”. Nghĩa là nó đang trong thời kỳ “gieo hạt”, không được đốn!”. Tôi quay sang chuyện khác: “Lúc ở dưới suối cũng vậy hả già, khi thấy con cá có chửa thì không được bắt?”. Ông ôn tồn giải thích: “Đúng như vậy đấy! Cứ bắt con cá có chửa thì mùa sau lấy gì mà ăn!”.




Càng “đi rừng” với bà con, tôi càng ngộ ra nhiều điều! Họ, những dấu chân trần ấy không bao giờ làm điều gì có lỗi với rừng. Rừng cho họ cuộc sống nên họ có trách nhiệm gìn giữ, bảo vệ theo cách riêng của họ; và họ thực hiện trách nhiệm ấy một cách hoàn toàn tự giác chứ không cần đến lúc phải nghe câu khẩu hiệu “Rừng là cuộc sống”. Nói cách khác, với những dấu chân trần, “Rừng là cuộc sống” có từ lúc còn nằm trong bụng mẹ!
“Yang bri” là khái niệm luôn hiện hữu trong đời sống cộng đồng của người thiểu số Tây Nguyên. Mỗi một dòng họ có một yang bri, mỗi một buôn làng có một yang bri. Đó như là yang bri Đăng Gú của người Cơho Đưng Knớ (xã Đưng Knớ, huyện Lạc Dương), là yang bri Đăng Pur của người Mạ ở Lộc Bắc (xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lâm)...
Hôm về Di Linh, tôi ghé lại làng Đồng Đò (xã Đinh Lạc) để tìm gặp anh K’Nhẽo. K’Nhẽo là cháu gọi bà Mọ Kộ bằng dì ruột, gọi già làng K’Sen là cậu ruột. Mọ Kộ ở Nam Tây Nguyên Lâm Đồng còn được gọi là nữ chúa rừng xanh, là một phụ nữ dân tộc thiểu số đứng lên phát động cuộc cách mạng tự phát chống lại quân Pháp xâm lược vào những năm 30 của thế kỷ trước. Còn K’Sen - em ruột của Ka Nhỗi (tên gọi khác của Mọ Kộ) - là cận thần thân tín nhất của bà. Khi nghe tôi đề nghị lên đỉnh núi Đăng Ker thăm mộ nữ chúa rừng xanh Mọ Kộ, anh K’Nhẽo bảo “Để mình sang xin phép già làng đã! Già làng cho phép thì mới được lên đỉnh Đăng Ker”.
Nhân tiện, tôi mua con gà và nói anh K’Nhẽo cho phép cùng sang già làng luôn, anh đồng ý. Tại nhà già làng K’Bôi, K’Nhẽo bôi tiết con gà lên cột nhà. Ché rượu cần ủ đến hơn nửa cái mùa rẫy được già làng K’Bôi bê ra đặt giữa nhà sàn. Già làng khấn vái. Bà Ka Bren - vợ của già làng K’Bôi - nhấp cần đầu tiên. Xong, bà trao cần cho già làng K’Bôi. Già làng K’Bôi ngay lập tức trao cần cho tôi. Bà Ka Bren rót nước vào ché. Ché rượu luôn đầy như con suối Đạ Mrăng ven làng Đồng Đò không bao giờ cạn nước! Vậy là già làng K’Bôi đã xin phép yang bri Đăng Ker cho tôi và K’Nhẽo được lên núi Đăng Ker để thăm mộ nữ chúa rừng xanh Mọ Kộ.
Trên đường đi, K’Nhẽo nói với tôi: “Đăng Ker là núi thiêng của bà con mình mà! Muốn lên đó, phải xin phép già làng!”. Đăng Ker là quả đồi bát úp ven làng. Dưới chân đồi, càphê phủ kín. Riêng trên đỉnh đồi, cây rừng còn gần như nguyên vẹn và hầu như không một dấu chân người bước vào khoảnh rừng đó. K’Nhẽo bảo rằng đây là khu rừng thiêng của dân làng nên không một ai được bước chân vào nếu không được sự cho phép của già làng.




Tôi nhớ lại lần về Đạ Tẻh, đến làm việc tại một đơn vị lâm nghiệp, ông giám đốc “than thở”: “Đơn vị mình khai thác rừng của Nhà nước, làm đường ngang qua một khu rừng để vận chuyển gỗ thì gặp ngay sự phản ứng của dân làng. Họ bảo rằng đó là rừng “ông bà” của họ. Thật khó xử! Nhà báo lên tiếng dùm chúng tôi với!”. Tôi hỏi vị giám đốc: “Khu rừng ấy có mồ mả gì không, có chum ché “chia của” gì không?”. Ông giám đốc trả lời: “Nào có thấy mồ mả gì đâu! Chỉ thấy vài cái ché vỡ vương vãi thôi!”.
Tôi thật lòng: “Vậy thì đấy là khu rừng thiêng của bà con đấy, anh ạ! Những cái chum ché mà anh cho rằng “vương vãi” đó chính là của cải của người sống chia cho người chết theo phong tục của người Mạ đấy! Vậy là các anh đã đụng đến rừng thiêng bất khả xâm phạm của bà con rồi đấy!”. Vị giám đốc gãi đầu, gãi tai: “Nhưng đơn vị mình làm đúng theo thiết kế, không một chút gì sai sót. Bây giờ bà con bắt đền thì dựa trên cơ sở nào mà đền đây?”.
Tôi giải thích: “Với bà con dân tộc thiểu số, ngoài luật pháp chung của Nhà nước, họ còn phải tuân thủ luật bất thành văn của họ. Trong luật bất thành văn đó có những quy định rất nghiêm ngặt về vấn đề rừng thiêng. Với rừng thiêng, bất kỳ một ai xâm phạm cũng đều phải bị phạt. Hội đồng già làng là “phiên tòa” xét xử người vi phạm và sẽ đưa ra hình thức xử phạt. Nặng thì con trâu trắng, nhẹ thì con trâu đen cùng với một con heo “dẫn đường con trâu” và một con gà “làm bạn với con heo”. Và dĩ nhiên, rượu cần là thứ không thể thiếu trong lễ “hóa kiếp” con trâu”. Vị giám đốc cố cãi: “Nhưng chúng tôi không sai phạm. Xét về luật thì dựa trên cơ sở nào mà phạt chúng tôi?”. Tôi cười: “Núi rừng này có luật riêng rất đáng được tham khảo mà bấy lâu nay chúng ta đã bỏ qua một cách đáng tiếc!”.
Từ bao nhiêu đời nay rồi, cuộc sống của người thiểu số Tây Nguyên là thế, chưa bao giờ tách khỏi đại ngàn. Và, để được đại ngàn bao bọc chở che, trong cộng đồng các dân tộc thiểu số gắn với rừng ấy có những thứ luật bất thành văn hình thành và được kiểm chứng qua thời gian nên mọi người phải tuân thủ! (Lao Động 17/2) đầu trang(
Với những cán bộ kiểm lâm, Tết cũng là cao điểm trực PCCC. Bởi đây là cao điểm của mùa khô, cộng với việc các đối tượng xấu thường lợi dụng những ngày tết thực hiện các hành vi vi phạm lâm luật. Do vậy, lực lượng kiểm lâm càng phải căng mình làm nhiệm vụ.


Trạm kiểm lâm địa bàn rừng ngập mặn –huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu chỉ có 3 kiểm lâm viên làm công tác giữ rừng. Năm nào cũng vậy, ngay từ giữa tháng Chạp, các kiểm lâm lại nhận nhiệm vụ chốt giữ xuyên suốt, bởi đây cũng là thời điểm những kẻ phá rừng thường lợi dụng chặt cây, đốn gỗ.
Trực chốt xuyên suốt cũng có nghĩa các kiểm lâm sẽ đón Tết trong rừng. Hơn 30 năm làm nghề kiểm lâm, là từng ấy cái tết, kiểm lâm Lý Đình Ngà chỉ có rừng, và rừng. Và năm nay là năm cuối cùng ông Ngà giữ rừng ngày Tết, bởi chỉ vài tháng nữa thôi, ông đã nghỉ hưu.
Ông Ngà chia sẻ: Đây là trách nhiệm của cá nhân và ngành đã gắn bó đã 30 năm, cùng anh em, đồng nghiệp cố gắng hoàn thành nhiệm vụ do cơ quan giao cho.
Tết trong rừng, chỉ có nhóm trực 3 người. Những cũng phải chia ca nhau ra để tuần tra kiểm tra. Các kiểm lâm đôi lúc không khỏi thấy nao nao, chạnh lòng, nhưng rồi cảm giác này bất chợt thoáng qua, lại nhường cho quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.
Không chỉ phải tập trung hơn, tăng cường hơn tuần tra, kiểm soát bảo vệ rừng, mà đây cũng là thời điểm gay gắt nhất của mùa khô nên công tác phòng chống cháy rừng cũng luôn được các kiểm lâm đề cao cảnh giác.
Là kiểm lâm trẻ tuổi nhất, lại là nữ, chị Doãn Thị Thu Hằng ở trạm kiểm lâm Núi Dinh Thị Vải cũng gác lại tình riêng để làm nhiệm vụ. Không đón Tết ở nhà, chị chỉ biết trực xuyên suốt ngày đêm để giữ màu xanh cho đại ngàn. “Mặc dù Tết tất cả anh em đều phải trực phòng cháy nhưng mọi người đều vui vẻ khi được cấp trên tin tưởng, quan tâm nên cũng không cảm thấy tủi thân" - Chị Doãn Thị Thu Hằng nói.     Huyện Tân Thành có hơn 5.000 ha rừng. Đặc điểm của rừng khu vực này là nằm giáp với khu dân cư; có nhiều cơ sở tôn giáo, nhà dân nằm xen kẽ dưới tán rừng. Do đó, Tân Thành luôn là điểm nóng trong phòng chống cháy rừng, đặc biệt vào dịp Tết Nguyên đán.
Các chùa chiền ven rừng, thậm chí nằm sâu trong một số khu vực rừng, tập trung đông người, với hương khói dày đặc vì vậy công tác bảo vệ rừng thời điểm này lại càng căng thẳng.
Theo Đại sư Thích Minh Phước – Trụ trì chùa Tịnh Thất Tường Vân: “Ở trên khu vực rừng phòng hộ cũng có nhắc nhở khách thập phương, phật tử tới đây nếu có đốt nhang thì phải cẩn thận, anh em trong chùa cũng thường xuyên đi kiểm tra các điểm đốt nhang nhất là trong mùa khô".
Để chốt giữ rừng trong dịp tết, các kiểm lâm phải tập trung cảnh giác rất cao. Chỉ với một làn khói, một mùi khét thoảng qua là anh em lập tức xác định vị trí, xử lý kịp thời. Có lúc giữa đêm khuya, phát hiện sự cố cũng bật dậy lao đi.
Gian khổ lẫn hiểm nguy vậy, nhưng bảo vệ được màu xanh của đại ngàn là niềm vui chung của hầu hết kiểm lâm viên. Họ dường như đã xác định điều này ngay từ khi vào nghề, nên cũng không vì vậy mà có người bỏ nghề.
Đáng trân trọng hơn lực lượng kiểm lâm trực tiếp làm nhiệm vụ trong rừng của huyện Tân Thành, chỉ có 10 người, rải đều hơn 5.000 ha rừng, mà suốt nhiều năm vẫn chưa để xảy ra vụ cháy rừng nào đáng kể.
Không khí ngày xuân đang lan tỏa nơi nơi. Trong sự bình yên, ấm áp của ngày xuân có sự cống hiến thầm lặng của nhiều lực lượng, trong đó có những người gác rừng như thế này. Gác lại ước muốn riêng tư, hạnh phúc riêng tư, các kiểm lâm vẫn âm thầm, nhẫn nại công việc tuần tra để bảo vệ màu xanh của đại ngàn. (ANTV 24/2) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư quy định về xác định tiền thuê đất đối với công ty nông, lâm nghiệp sử dụng đất vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản.
Đối tượng áp dụng của Thông tư này là các công ty nông, lâm nghiệp bao gồm: các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nông, lâm nghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ đã được chuyển đổi theo Nghị định170/2004/NĐ-CP của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển nông trường quốc doanh, Nghị định200/2004/NĐ-CP của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh, Nghị định 25/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.
Ngoài ra Thông tư cũng áp dụng với các nông, lâm trường quốc doanh chưa thực hiện chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nông, lâm nghiệp thuộc sở hữu nhà nước nhưng được thực hiện sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động theo quy định tại Điều 26 Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ.
Thông tư quy định rõ về đơn giá thuê đất. Theo đó, đơn giá thuê đất hàng năm bằng tỷ lệ % nhân với giá đất tính thu tiền thuê đất. Trong đó, tỷ lệ % tính đơn giá thuê đất là 0,5%.
Cũng theo Thông tư, đơn giá thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê đối với đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản bằng giá đất theo mục đích sử dụng tương ứng của thời hạn thuê đất do UBND cấp tỉnh quy định tại Bảng giá đất nhân với Hệ số điều chỉnh giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành tại thời điểm xác định đơn giá thuê đất.
Đối với phần diện tích đất có mặt nước thì đơn giá thuê đất hàng năm, đơn giá thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê bằng 50% đơn giá thuê đất hàng năm hoặc đơn giá thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê của loại đất có vị trí liền kề, có cùng mục đích sử dụng.
Về miễn giảm tiền thuê đất, Thông tư nêu rõ, nguyên tắc, mức, hồ sơ trình tự, thủ tục và thẩm quyền miễn giảm tiền thuê đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản thực hiện theo quy định tại Nghị định 46/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước và các Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định này.
Việc miễn giảm tiền thuê đất đối với các dự án nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư, dự án nông nghiệp ưu đãi đầu tư, dự án nông nghiệp khuyến khích đầu tư được thực hiện theo quy định của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. (Chính Phủ 24/2) đầu trang(
Hiện quản lý nhà nước về ĐDSH ở Việt Nam đang được điều chỉnh, quy định bởi Luật ĐDSH (2008), Luật BVMT (2005), Luật BVPTR (2004) và Luật Thủy sản (2003). Tưởng chừng một hệ thống pháp luật đa dạng như thế có thể giúp quản lý hiệu quả tài nguyên ĐDSH song thực tế vẫn còn nhiều tồn tại, vướng mắc, chồng chéo trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở cả cấp trung ương và địa phương.
Bài viết này sẽ chỉ ra một số vướng mắc chính về tổ chức thực hiện quản lý ĐDSH ở cấp địa phương thông qua đối tượng phản ánh là quản lý KBT và quản lý Nhà nước về tài nguyên ĐDSH.
Hiện nay, các tỉnh không có sự thống nhất trong việc phân cấp quản lý KBT. Ngoài 06 VQG liên tỉnh trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp, còn có hơn 150 VQG/KBT thuộc hệ thống RĐD ở Việt Nam thuộc địa phương quản lý nhưng cũng có sự phân cấp quản lý khác nhau, có nơi VGQ/KBT trực thuộc UBND tỉnh, nơi lại trực thuộc Sở NN và PTNT, có nơi lại do Chi cục Kiểm lâm trực tiếp quản lý.
Thể chế quản lý một VQG trực thuộc trung ương được xem là có thuận lợi nhất định nhờ sự hỗ trợ về nguồn lực, nhất là nguồn lực tài chính cho hoạt động quản lý. Tuy nhiên, phân cấp quản lý này lại có những khiếm khuyết như sự không rõ ràng trong xác định trách nhiệm liên đới của các Hạt kiểm lâm (của VQG) và trách nhiệm quản lý nhà nước của chính quyền địa phương sở tại (ngoài trách nhiệm chính của VQG).
Mặt khác, tuy cùng là cơ quan kiểm lâm, nhưng Hạt kiểm lâm VQG lại không trực thuộc quyền quản lý của Chi cục Kiểm lâm cấp tỉnh, nên ở nhiều nơi mối quan hệ giữa Hạt Kiểm lâm VQG với Hạt Kiểm lâm các huyện trên cùng địa bàn luôn trong tình trạng không có sự phối hợp hiệu quả.
Ngược lại, tình trạng “địa phương hóa” quản lý các KBT và sự hạn chế về thẩm quyền khiến các ban quản lý VQG/KBT không có khả năng phản đối các quy hoạch và quyết định ưu tiên phát triển kinh tế của địa phương có nguy cơ đe dọa cho tính toàn vẹn của tài nguyên ĐDSH của VQG/KBT như xây dựng thủy điện, khai khoáng hay phát triển cơ sở hạ tầng. Cũng vì lý do này, những năm gần đây, nhiều diện tích RĐD đã bị chuyển đổi mục đích cho các dự án phát triển. Một khảo sát của Trung tâm Con người và Thiên nhiên (2010) đã ước tính cứ xây dựng 1 MW thủy điện ở Việt Nam sẽ làm mất 2,35 ha RĐD và 62,63 ha đất rừng trong ranh giới của các VQG/KBT.
Để quản lý tốt một VQG/KBT đòi hỏi phải có sự quản lý, điều hành chặt chẽ của chính quyền địa phương, sao cho hoạt động BTTN, BVMT, phát triển sinh kế cộng đồng và du lịch sinh thái của VQG/KBT và vùng đệm phải được đặt trong một bối cảnh liên kết chặt chẽ với các hoạt động phát triển KT-XH của địa phương. Rõ ràng, trong trường hợp VQG do cấp trung ương quản lý thì khả năng chi phối, can thiệp của chính quyền địa phương là khó khăn, mặc dù yêu cầu quản lý các VQG này được cho là cần phải phù hợp với điều kiện của mỗi địa phương.
Ngược lại, với các VQG/KBT trực thuộc địa phương, chính quyền địa phương sẽ thuận lợi hơn trong việc quản lý, song lại gặp phải khó khăn về tài chính cho bảo tồn do ngân sách địa phương hàng năm khá hạn chế, không đáp ứng đủ cho nhu cầu tổ chức quản lý, bảo vệ các VQG/KBT một cách hiệu quả.
Thêm một vấn đề quan trọng nữa trong phân cấp quản lý VQG/KBT nên được cân nhắc là quy hoạch để thành lập các KBT do cộng đồng quản lý đối với các khu vực có diện tích nhỏ, giá trị bảo tồn không cao nhưng có khả năng cung cấp dịch vụ môi trường, hỗ trợ sinh kế và văn hóa địa phương. Tại một số nước trên thế giới đã có loại hình KBT do cộng đồng quản lý và họ đã thành công trong việc bảo tồn các giá trị sinh học cũng như khai thác tiềm năng DLST có hiệu quả. KBT do cộng đồng quản lý không những đáp ứng được nhu cầu bảo tồn ĐDSH, tiết kiệm chi tiêu ngân sách mà còn tạo cơ hội cho cộng đồng địa phương sử dụng bền vững giá trị tài nguyên thiên nhiên mà sinh kế của các cộng đồng địa phương vốn đã phụ thuộc từ lâu. Trong trường hợp này, một cơ chế giám sát hiệu quả cần được xác định cũng như yêu cầu năng lực quản lý của cộng đồng.
Cũng như cấp trung ương, sự chồng chéo chức năng và nhiệm vụ của ngành TN-MT và NN-PTNT về quản lý BTTN thể hiện rất rõ ở cấp địa phương. Hiện tại, mỗi nguồn tài nguyên ĐDSH (trên cạn, ngập nước, biển) lại do một cơ quan quản lý nhà nước khác nhau thực hiện nhiệm vụ bảo tồn, trong khi về bản chất tự nhiên, chúng là một chỉnh thể thống nhất, có sự gắn kết nội tại rất cao và cần được quản lý tổng hợp. Sự chồng chéo này thể hiện rõ qua việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước của Chi cục Kiểm lâm, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Chi cục Bảo vệ môi trường.
Trên thực tế, việc tổ chức quản lý bảo tồn ĐDSH rừng hiện nay đều do cơ quan Kiểm lâm đảm nhiệm thông qua nhiệm vụ quản lý và giám sát hệ thống RĐD. Biên chế của Chi cục Kiểm lâm có Phòng Bảo tồn Thiên nhiên, với chức năng tham mưu cho lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm về các vấn đề liên quan đến quản lý BTTN và quản lý VQG/KBT, từ đó Chi cục Kiểm lâm tham mưu cho Sở NN&PTNT, UBND tỉnh hoạch định chính sách, xây dựng chiến lược quản lý lĩnh vực này.
Ngược lại, hệ thống quản lý của Sở TNMT, mặc dù là cơ quan quản lý Nhà nước về ĐDSH nhưng không có tổ chức bộ máy tham mưu chuyên ngành, nên giao nhiệm vụ này cho Chi cục BVMT trong khi cán bộ của cơ quan này hầu hết được đào tạo về quản lý môi trường nên hạn chế về kiến thức quản lý bảo tồn đa dạng sinh học. Với lý do tương tự, phòng TNMT cấp huyện, với hầu hết là cán bộ địa chính cũng không thể phát huy được chức năng tham mưu về quản lý bảo tồn đa dạng sinh học tại địa phương, và thực tế Hạt Kiểm lâm đã làm thay chức năng này.
Ví dụ rõ ràng về tồn tại này là công tác quản lý các hệ sinh thái đất ngập nước, quản lý các loài chim di cư, cũng như các loài tự nhiên không phân bố trong các hệ sinh thái rừng, hoặc công tác tham mưu cho UBND cấp huyện để ban hành các chính sách cấp địa phương về quản lý đa dạng sinh học hiện đều do Hạt Kiểm lâm đảm trách. Đặc biệt, việc thiết lập, theo dõi và cập nhật cơ sở dữ liệu về bảo tồn đa dạng sinh học, cũng như chế độ báo cáo về bảo tồn ĐDSH hiện nay cũng đều do cơ quan Kiểm lâm đảm nhiệm và cung cấp cho ngành TNMT.
Từ thực tế trên có thể nói rằng, cơ quan TNMT tại địa phương hiện nay chỉ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về ĐDSH một cách gián tiếp, thụ động. Các quy định pháp luật về chức năng và nhiệm vụ quản lý bảo tồn ĐDSH đối với các ngành NN-PTNT và TN-MT hiện nay đang tạo ra nhiều khó khăn, rào cản cho việc hình thành một cơ chế quản lý giám sát tài nguyên ĐDSH thống nhất không chỉ ở trung ương mà cả tại địa phương. Chính điều này làm hạn chế chất lượng quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn ĐDSH ở từng địa phương và cả nước nói chung. (ThienNhien.Net 25/2) đầu trang(
Trong không khí hân hoan, phấn khởi đón xuân Ất Mùi 2015, sáng 24/2 Bộ NN-PTNT đã phối hợp với UBND tỉnh Phú Thọ tổ chức Lễ phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang dự và trực tiếp phát động. Bước tiến ngành lâm nghiệp Tham dự buổi Lễ còn có các đồng chí: Cao Đức Phát - Bộ trưởng Bộ NN-PTNT; Nguyễn Đắc Vinh - Ủy viên dự khuyết TƯ Đảng, Bí thư thứ nhất BCH T.Ư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chu Ngọc Anh – Chủ tịch tỉnh Phú Thọ cùng đại diện lãnh đạo một số Bộ, Ban, ngành, đoàn thể T.Ư và tỉnh Phú Thọ.
Báo cáo công tác quản lý, bảo vệ phát triển rừng năm 2014, nhiệm vụ năm 2015 tại buổi lễ, đồng chí Cao Đức Phát cho biết: Việt Nam là quốc gia đang và sẽ chịu ảnh hưởng rất lớn của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Tiếp tục thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2020 của Thủ tướng Chính phủ, năm 2014, cả nước đã trồng được 219.000 ha rừng, khoán bảo vệ 5,9 triệu ha, khoanh nuôi, tái sinh 379.000 ha, trồng cây phân tán được 516 triệu cây. Tất cả chỉ tiêu, nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng năm 2014 đều tăng so với năm 2013. Độ che phủ rừng cả nước ước đạt 41,5%, giá trị xuất khẩu lâm sản đạt khoảng 6,3 tỷ USD (tăng 14% so với năm 2013).
Số vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng giảm 4%. Mức độ thiệt hại do phá rừng giảm 8% so với năm 2013. Các vụ cháy rừng được lực lượng chức năng phát hiện sớm, huy động lực lượng chữa cháy kịp thời đã làm giảm thiệt hại. Bên cạnh đó, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tiếp tục tạo nguồn thu hơn 1.000 tỷ đồng cho các hộ gia đình tham gia bảo vệ rừng. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng đại diện các Bộ, Ban, ngành Trung ương và địa phương trồng cây tại khuôn viên di tích lịch sử Đền Hùng.
Tuy vậy, Bộ trưởng Cao Đức Phát cho rằng công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng vẫn còn một số tồn tại, hạn chế. Tình trạng phá rừng vẫn còn diễn ra phức tạp ở một số địa phương, đặc biệt là một số vùng giáp danh còn nhiều tài nguyên. Kết quả trồng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng còn thấp, đặc biệt là trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng mới chỉ đạt được 5% kế hoạch…
Bộ trưởng Cao Đức Phát nhấn mạnh: Bước sang giai đoạn mới, để khắc phục những hạn chế, khó khăn đồng thời phát huy tiềm năng, lợi thế to lớn ngành lâm nghiệp, chúng ta cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, động viên các cấp, các ngành và nhân dân để nâng cao nhận thức nhận thức tham gia trồng cây, trồng rừng và bảo vệ rừng, đưa phát triển sản xuất lâm nghiệp thực sự trở thành một ngành kinh tế đóng góp lớn hơn vào sự phát triển nền kinh tế xã hội chung của đất nước, đồng thời góp phần bảo vệ hệ sinh thái, giảm nhẹ thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu…
“Mọi người trồng cây, mọi nhà trồng cây” Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bày tỏ vui mừng khi công tác bảo vệ và phát triển rừng tiếp tục được triển khai sâu rộng, hiệu quả.
Theo Chủ tịch nước, từ hơn 55 năm nay, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi mùa xuân đến, nhân dân ta lại tổ chức ngày hội Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ”. Tết trồng cây đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta. Bộ trưởng Cao Đức Phát báo cáo công tác quản lý, bảo vệ phát triển rừng năm 2014, nhiệm vụ năm 2015 tại buổi lễ Trong bối cảnh nước ta đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, chúng ta càng thấm thía lời dạy của Bác Hồ về lợi ích to lớn của việc trồng cây, chăm sóc và bảo vệ rừng.
Vì vậy, trong những ngày vui Tết, đón xuân Ất Mùi 2015, Chủ tịch nước đề nghị các cấp ủy đảng và chính quyền; các Bộ, Ban, ngành từ TƯ đến địa phương cần tuyên truyền sâu rộng về mục đích, ý nghĩa của Tết trồng cây, về lợi ích to lớn, lâu dài, giá trị nhân văn của việc trồng cây, bảo vệ và phát triển rừng. Từ đó, đẩy mạnh phát động trồng cây phù hợp với địa phương, cơ quan, đơn vị. Bảo đảm thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm, tránh phô trương hình thức.
Chủ tịch nước cũng kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân hãy hăng hái tham gia trồng cây. Mọi người trồng cây. Mọi nhà trồng cây. Trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ, cây chắn gió, chắn sóng, góp phần bảo vệ đê sông, đê biển, chống xói mòn đất, chống cát bay; trồng cây trong thôn, xóm, dọc đường giao thông nông thôn, vùng ven biển, biên giới, hải đảo, vùng đất trống, đồi trọc… Mỗi công dân Việt Nam hãy tích cực tham gia bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng chặt, đốt rừng, khai thác rừng trái pháp luật. Làm tốt điều này cũng chính là làm theo lời Bác Hồ dạy.
Trước đó, cũng tại Khu di tích lịch sử đặc biệt Quốc gia Đền Hùng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tới dâng hương, tưởng niệm và tri ân công đức của các Vua Hùng và cầu cho đất nước ngày càng hưng thịnh, quốc thái dân an tại đền Thượng và lăng Hùng Vương trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh. (Đại Đoàn Kết + Lao Động + Đời Sống Pháp Luật 25/2; Nông Nghiệp VN 24/2) đầu trang(
Sư đoàn Bộ binh 324 (Quân khu 4) vừa tổ chức lễ phát động Tết trồng cây đầu xuân Ất Mùi 2015. Tham gia lễ phát động có lãnh đạo sư đoàn, các phòng, ban và cán bộ, chiến sỹ trong Sư đoàn bộ.
Những năm qua, sư đoàn luôn là một trong những đơn vị dẫn đầu về thực hiện phong trào Tết trồng cây, tích cực tham gia các dự án trồng cây gây rừng, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trên địa bàn đóng quân.
Hưởng ứng Tết trồng cây năm nay, cán bộ, chiến sỹ trong toàn sư đoàn phấn đấu mỗi người trồng ít nhất một cây xanh tại cơ quan, đơn vị, với gần một vạn cây xanh đã được trồng mới. (Tiền Phong 25/2) đầu trang(
Với ý nghĩa xây dựng Trường Sa mạnh về phòng thủ, đẹp về cảnh quan môi trường và thắm tình quân dân, ngày 23/2 và 24/2, các đảo, điểm đảo thuộc quần đảo Trường Sa tổ chức lễ trồng cây đầu năm mới.
Cây xanh trồng ở các đảo chủ yếu là loại có sức chịu đựng sóng gió và khí hậu khắc nghiệt như bão táp, phong ba và bàng quả vuông. Riêng đảo Trường Sa lớn, ngày đầu ra quân, đã trồng được 100 cây xanh quanh triền đảo và hầm hào công sự. Các đảo chìm trồng cây bão táp vì cây này chịu được nước ngập mặn mỗi khi thủy triều lên.
“Hưởng ứng tết trồng cây của Bác Hồ, mỗi người, dù là cán bộ, chiến sĩ hay người dân, đã sinh sống trên đảo thì ít nhất phải trồng một cây xanh. Đây là việc làm ý nghĩa, góp cho Trường Sa thêm xanh, thêm sạch, thêm sức sống ở nơi tuyến đầu của Tổ quốc”, thượng tá Phạm Văn Hòa - Chỉ huy đảo Trường Sa, Chủ tịch UBND thị trấn Trường Sa cho biết. (Tiền Phong 25/2) đầu trang(
Trong không khí phấn khởi của những ngày đầu xuân, sáng 24/2, tức mùng 6 Tết Ất Mùi, tại trụ sở mới của Công an phường Trần Lãm, TP Thái Bình, Công an tỉnh Thái Bình tổ chức Tết trồng cây "Đời đời nhớ ơn Bác Hồ". Thiếu tướng Lê Đình Nhường, Giám đốc Công an tỉnh chủ trì buổi lễ.
Tham dự Tết trồng cây "Đời đời nhớ ơn Bác Hồ" có các đồng chí lãnh đạo Công an tỉnh, đại diện lãnh đạo TP Thái Bình, UBND phường Trần Lãm, lãnh đạo các đơn vị, Công an các huyện, thành phố và đông đảo đoàn viên thanh niên, hội viên phụ nữ Công an tỉnh. 



Làm theo lời dạy của Bác Hồ, cứ mỗi độ Tết đến, xuân về, cán bộ, chiến sỹ các lực lượng Công an tỉnh Thái Bình lại tổ chức trồng cây, góp phần làm cho môi trường xanh, sạch, đẹp. Đây cũng là hoạt động mở đầu cho một năm hứa hẹn nhiều thành công đối với nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự. Mỗi cán bộ, chiến sỹ đã và đang không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu nâng cao trình độ chính trị, pháp luật, nghiệp vụ. (Công An Nhân Dân 25/2) đầu trang(
Sáng 24-2, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị đã trồng cây tại di tích Gò Đống Đa (phố Tây Sơn, quận Đống Đa).
Tại buổi lễ, Bí thư Thành ủy đã dâng hương trước tượng đài Hoàng đế Quang Trung - người Anh hùng áo vải của dân tộc và trồng cây đa trong khuôn viên khu di tích. Dự kiến hôm nay (25-2), Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị sẽ tiếp tục tới dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và trồng cây đầu xuân tại khu di tích K9 - Đá Chông (huyện Ba Vì). (An Ninh Thủ Đô 25/2) đầu trang(
Việc đầu tư tín dụng đối với các loại cây công nghiệp trên địa bàn Tây Nguyên gắn với đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Thời gian gần đây, các ngân hàng dần chuyển dòng tín dụng hướng vào lĩnh vực này. Đặc biệt, một số ngân hàng thực hiện thí điểm cho vay phát triển cây mắc-ca, một loại cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao.
Cây mắc-ca hứa hẹn mang lại giá trị kinh tế cao cho người trồng. Nhân hạt được dùng phổ biến trong chế biến bơ, làm bánh kẹo, kem, vỏ được dùng làm chất đốt, phân bón, dầu chiết xuất từ nhân hạt được dùng trong nhiều vùng công nghiệp... Theo tính toán của Vụ Nông nghiệp - nông thôn (Ban Kinh tế trung ương), nhu cầu mắc-ca thế giới hiện gấp bốn lần tổng sản lượng, mỗi héc-ta trồng có thể cho ba tấn hạt, với giá 3,5 USD/kg thì người trồng có thể thu được 200 triệu đồng/héc-ta. Trên thị trường, giá mắc-ca đã qua chế biến lên tới 300.000 - 400.000 đồng/kg.
Cây mắc-ca được xếp vào loại hàng quý hiếm do kén đất trồng. Nhưng tại Việt Nam, Tây Bắc và Tây Nguyên là nơi có điều kiện tự nhiên rất phù hợp để trồng và phát triển trên diện tích rộng. Thực tế tại huyện Krông Năng (Đác Lắc) và các huyện khác như Tuy Đức (Đác Nông), Đơn Dương (Lâm Đồng),... nhiều hộ dân đã thử nghiệm trồng xen cây mắc-ca với các loại cây khác.
Theo anh Nguyễn Đức Ba (thôn Nghĩa Lập 4, xã Thạnh Mỹ, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng), cách đây chín năm khi được một người quen giới thiệu anh chọn trồng thử cây mắc-ca trong vườn chuối. Sau bốn năm cây bói quả nhưng thời gian đầu thu nhập chưa cao vì sản lượng thấp. Từ năm thứ tư sản lượng tăng dần và năm vừa qua với hơn bảy sào anh đã thu hoạch được gần bốn tấn quả."Quả ra bao nhiêu có người vào tận vườn mua hết bấy nhiêu. Nếu trước kia trồng cà-phê chỉ bán được vài chục nghìn đồng/kg thì nay mắc-ca được bán với giá 250 nghìn đồng/kg. Vụ vừa rồi tôi thu lãi gần một tỷ đồng, chưa kể bán cây giống", anh Ba phấn khởi khoe.
Cũng trồng cây mắc-ca được hơn bốn năm, anh Trương Đình Hưởng (thôn 4, xã Đác Búc So, huyện Tuy Đức, tỉnh Đác Nông) cho biết, loại cây này rất dễ trồng và cho năng suất, giá thành cao. "Ban đầu tôi trồng thử 200 cây trên diện tích gần một héc-ta. Sau đó thấy hiệu quả, tôi mua thêm 500 cây giống nữa để nhân rộng mô hình. Tôi cũng có kế hoạch trồng thêm thật nhiều cây nữa nếu ngân hàng đồng ý cho vay vốn", anh Hưởng chia sẻ.
Mặc dù đã xuất hiện nhiều mô hình thành công như vậy, nhưng người nông dân và các nhà đầu tư hiện vẫn chưa mạnh dạn để chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang mắc-ca do chưa hiểu hết giá trị kinh tế của loại cây này; khó khăn về cây giống; chưa có hệ thống chế biến, tiêu thụ và tiếp cận thị trường; chưa có quy hoạch vùng sản xuất... Theo tính toán của các chuyên gia, nguồn vốn ban đầu cho loại cây này khá tốn kém, chu kỳ dài. Đầu tư lũy kế cho một héc-ta trong sáu năm hết khoảng gần 3.500 USD, do đó cần phải có sự ưu đãi cho vay dài hạn.
"Đầu ra của thị trường hiện nay rất lớn, một số nước như Nhật Bản muốn đặt hàng nhưng chúng ta không cung cấp đủ do thiếu vốn. Nếu các ngân hàng triển khai được sớm thì tốt vì nông nghiệp tính theo năm, mùa vụ, nếu có tiền mà không đúng mùa thì cũng không trồng được", Trưởng phòng Dân tộc huyện Tuy Đức Đoàn Lê Anh nói.
Chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh cũng cho rằng, nhu cầu vốn tín dụng cho toàn bộ chuỗi mắc-ca trong giai đoạn chưa thu hoạch và một vài năm đầu khoảng 5.000 tỷ đồng. "Do đó, tín dụng ngân hàng sẽ đóng vai trò quan trọng trong cung cấp nguồn lực tài chính cho phát triển mắc-ca khu vực Tây Nguyên", ông Ánh cho biết thêm.
Theo Bí thư Huyện ủy Tuy Đức Trần Đình Mạnh, trên thực tế, hiện nay có rất ít ngân hàng cho người nông dân vay vốn trồng cây mắc-ca và lượng vốn cũng chỉ mới cho vay theo mùa vụ. Điều này sẽ không ổn vì vòng đời của cây mắc-ca dài. Do vậy, người dân rất mong chờ có thêm các ngân hàng tham gia "cuộc chơi" để biến Việt Nam thành thủ phủ của Đông - Nam Á về trồng mắc-ca.
Đồng quan điểm, theo Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng quản trị Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) Nguyễn Đức Hưởng, nút thắt về vốn đã khiến quá trình phát triển cây mắc-ca tại Việt Nam chậm đi so với quốc gia khác. Nhận thấy cây mắc-ca sẽ là cây công nghiệp dài ngày cho thu nhập cao, ngay từ đầu năm 2014, Công ty cổ phần Him Lam và LienVietPostBank đã quyết định đầu tư cho loại cây trồng này. Ban đầu, họ xây dựng đề án với trù tính quy mô khoảng 10.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, qua quá trình khảo sát, quy mô này được mở rộng dự kiến từ 20.000 - 25.000 tỷ đồng, bắt đầu triển khai từ năm 2015.
Cụ thể theo Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Him Lam Dương Công Minh, công ty này sẽ thành lập viện nghiên cứu mắc-ca tại Lâm Đồng và đầu tư phát triển cung cấp cây giống, quy trình sản xuất hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân; đầu tư, phát triển nguồn nguyên liệu; tiêu thụ sản phẩm của người dân để chế biến và đầu tư công nghệ sản xuất chế biến sản phẩm cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Ngoài ra, chủ đầu tư cũng đã thuê 5.000 ha đất để trực tiếp tham gia trồng cây quý này.
Phó Chủ tịch LienViet PostBank Nguyễn Đức Hưởng cũng nhấn mạnh, LienViet PostBank sẽ cho vay ưu đãi các hộ gia đình và doanh nghiệp với vốn tín dụng trung, dài hạn trong bảy năm và ân hạn cả nợ gốc và lãi trong năm năm đầu. Trong ba năm tiếp theo khi mắc-ca bắt đầu cho thu hoạch và mang lại lợi nhuận cao, các hộ gia đình và doanh nghiệp sẽ bắt đầu trả dần cả gốc và lãi. "Ngân hàng sẽ cho người nông dân vay tín chấp với vườn mắc-ca thời hạn từ 7 - 10 năm, lãi suất dưới 10%/năm. Trong năm năm tới, LienVietPostBank sẽ mua bảo hiểm cho người nông dân vay vốn của ngân hàng, theo hướng nếu có rủi ro thì người nông dân cũng không bị mất đất", ông Hưởng nhấn mạnh.
Cùng với các chính sách hỗ trợ về vốn cụ thể của các ngân hàng, Vụ trưởng Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) Nguyễn Tiến Đông cũng cho biết, sắp tới cơ quan này sẽ nghiên cứu để xây dựng gói tín dụng hỗ trợ phù hợp với đặc thù của cây mắc-ca, như cho vay tái cấp vốn đối với các ngân hàng thương mại để cho nông dân vay lại, tương tự cho vay cá tra, hỗ trợ đóng tàu, trồng cây cà-phê,...
Tuy nhiên, để các ngân hàng đẩy mạnh cho vay trồng, chế biến và tiêu thụ mắc-ca, Vụ trưởng Nguyễn Tiến Đông cũng kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần sớm nghiên cứu và công bố quy hoạch phát triển cây mắc-ca trên địa bàn Tây Nguyên và cả nước, Bộ Công thương cần xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường, gắn việc trồng trọt với chế biến và tiêu thụ. (Nhân Dân 25/2) đầu trang(
Sáng 24/2 (tức Mùng 6 Tết Ất Mùi), tại Khu di tích lịch sử Đền Và, phường Trung Hưng, UBND thị xã Sơn Tây tổ chức lễ phát động Tết trồng cây Xuân Ất Mùi 2015.


Những năm qua, cùng với cả nước và Thủ đô, thị xã Sơn Tây đã tích cực tổ chức phong trào trồng cây, trồng rừng với khẩu hiệu “Mỗi người trồng một cây, mỗi tập thể trồng một rừng cây”, thu hút đông đảo Nhân dân hưởng ứng. Đến nay, thị xã đã trồng và quản lý được hàng trăm héc-ta rừng tập trung và nhiều diện tích trồng cây phân tán. Năm 2015, thị xã Sơn Tây phấn đấu trồng khoảng 40.000 cây xanh các loại ở các công viên, hè phố, các điểm du lịch, trường học, trụ sở cơ quan, đơn vị, phát triển nhiều vườn cây sinh vật cảnh nghệ thuật… góp phần tạo cảnh quan môi trường xanh - sạch -  đẹp.
Phát biểu tại buổi lễ, Phó Chủ tịch UBND thị xã Sơn Tây Hà Văn Đông yêu cầu các xã, phường tích cực tuyên truyền vận động đông đảo các tầng lớp Nhân dân tích cực hưởng ứng phong trào Tết trồng cây. Đồng thời tham gia trồng, chăm sóc và bảo vệ cây xanh theo phương châm trồng cây nào sống tốt cây ấy, phấu đấu mỗi người trồng một cây xanh để góp phần bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống và làm việc, xây dựng thị xã ngày càng xanh- sạch- đẹp hơn.
Ngay sau lễ phát động, các đồng chí lãnh đạo Thị ủy, HĐND, UBND thị xã Sơn Tây đã tham gia trồng cây trong khuôn viên Khu di tích lịch sử Đền Và. (Kinh Tế Đô Thị 24/2) đầu trang(
Tiết xuân này, 14 huyện thị thành phố và các Doanh nghiệp ở Quảng Ninh đồng loạt ra quân trồng cây đầu xuân, theo lời Bác dạy “Vì lợi ích 10 năm trồng cây- vì lợi ích 100 năm trồng người”.
Bà Đỗ Thị Hoàng phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội Quảng Ninh; ông Nguyễn Văn Đọc phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh; ông Ngô Hoàng Ngân, Bí thư Đảng bộ than Quảng Ninh tham gia tết trồng cây với thợ mỏ Cty than Hòn Gai-TKV. Cty này trồng 1 vạn cây phân tán và rừng tập trung, hoàn nguyên môi trường, trong tiết xuân Ất Mùi.
Năm 2015, Tập đoàn CN Than và Khoáng sản Việt Nam-TKV đầu tư 1.000 tỷ đồng, để hoàn nguyên môi trường. 28 doanh nghiệp khai khoáng ở Quảng Ninh, sau tết, thời tiết thuận lợi đầu tư 30 tỷ đồng trồng 120 ha rừng tập trung và cây phân tán, mục đích khắc phục hệ lụy làm than, trả lại mầu xanh cho rừng.
Đoàn thanh niên thành phố Hạ Long xung kích trồng cây, tạo bóng mát đô thị và phủ xanh đất trống. Như trồng cây trên trục đường (QL18), trồng cây tạo cảnh quan, môi trường sinh thái cho khu tái định cư Ngư dân ở cái Sà Cong, phường Hà Phong.
Thành phố Hạ Long, xuân này làm cuộc cách mạng cây xanh đường phố. Cây trồng được qui hoạch và chuyển đổi loại cây phù hợp không gian kiến trúc, cảnh quan, an toàn đô thị. Các giống cây truyền thống như: phượng vĩ, gạo gai thân giòn dễ gẫy và cây rụng lá theo mùa, được thay bằng giống cây xanh tốt quanh năm, tán lá đẹp, an toàn trong mưa bão như: loại Xanh- Si, cây Sao Đen.
Các huyện rẻo cao hướng dẫn các hộ diện giao đất giao rừng, trồng các loại cây hợp thổ nhưỡng, đất nào cây ấy, trồng theo hướng thâm canh. Và hướng dẫn các hộ tiếp cận với nguồn vốn vay ưu đãi trồng rừng, để có tiền xuống giống trồng cây kịp thời vụ. Huyện Bình Liêu, Ba Chẽ, Hải Hà mở rộng diện tích trồng hồi, trồng quế. Huyện Hoành Bồ và những vùng đồi thấp trồng keo Tai tượng. Dưới tán lá rừng, trồng sen canh lâm sản sau gỗ, như các loại cây dược liệu: Mã Kích, Sa Nhân, Địa Liền, Gường Gió…
Quảng Ninh, trồng cây đi đôi với chăm sóc, bảo vệ cây. Các khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng bảo tồn, lực lượng Kiểm lâm tăng cường bảo vệ và trồng dặm cây khoảnh đất trống. Vùng đất địa đầu Đông bắc hưởng ứng tết trồng cây do bác Hồ phát động, ngay từ xuân Canh Tý đến Ất Mùi vừa vặn 55 mùa xuân. Nay Bác đi xa đất vẫn ấm hơi người, thấm thía hơn: “ Mùa xuân là tết trồng cây, làm cho đất nước cành ngày càng xuân”. (Xây Dựng 25/2) đầu trang(
Những năm qua, rừng luồng ở nhiều nơi bị thoái hóa do không được chăm sóc, khai thác đúng quy trình. Vì vậy, từ năm 2013 - 2015, Dự án “Phục hồi rừng luồng thoái hóa” đã được triển khai tại 3 tỉnh Thanh Hóa, Hòa Bình, Phú Thọ, góp phần giúp bà con tăng năng suất và khai thác bền vững rừng luồng.
Theo TS Đặng Thịnh Triều (Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam) - Chủ nhiệm dự án, rừng luồng bị thoái hóa do 3 nguyên nhân chính: đất xấu, sâu bệnh và khai thác quá mức. Đặc biệt, việc khai thác quá mức đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cũng như năng suất cây luồng. Nguyên nhân tình trạng này chủ yếu là do người dân chưa nắm vững kỹ thuật trồng và khai thác, dẫn đến nhiều diện tích luồng được trồng tại một số lập địa không thích hợp như trên đỉnh đồi, đất lẫn nhiều đá; măng, thân luồng bị khai thác tuỳ tiện...
“Đặc điểm phát triển của luồng là hàng năm sinh măng, do vậy, nếu trồng một lần, có thể khai thác trong nhiều năm. Trong quá trình kinh doanh, nếu không bổ sung phân bón thì đất sẽ bị bạc màu, khiến rừng luồng nhanh bị thoái hóa, năng suất sinh khối rừng luồng bị giảm sút” – TS Triều nhận định.
Theo đó, trong 3 năm triển khai tại các địa phương, dự án đặt mục tiêu phục hồi 182ha rừng luồng bị thoái hóa và trồng mới 165ha, trong đó phục hồi 102ha đất xấu, 70ha do khai thác quá mức, 70ha do sâu bệnh... Các hộ nông dân tham gia mô hình được hỗ trợ giống, phân bón và được cán bộ kỹ thuật xuống tận thực địa hướng dẫn quy trình trồng, chăm sóc, phòng chống sâu bệnh, cải tạo đất và xây dựng quy trình khai thác khoa học, bền vững.
Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện dự án, TS Triều cho biết, sau hơn 2 năm xây dựng mô hình, cây luồng sinh trưởng và phát triển tốt, tỷ lệ sống đạt 90%, tỷ lệ luồng loại 1, 2 tăng với đường kính bình quân tăng trên 8cm, chiều dài hàng hóa cây luồng đạt hơn 8m, hệ số sinh măng đạt trên 90%. Ở một số địa phương, luồng đã trở thành cây xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho hàng vạn hộ dân miền núi, vùng cao.
Ông Hà Văn Thanh ở xã Đồng Lương (huyện Lang Chánh, Thanh Hóa) cho biết, gia đình ông có 2ha luồng tham gia mô hình. Trước đây, ông vẫn khai thác theo phương thức cũ, không thường xuyên chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh nên năng suất rừng luồng thấp, thu nhập chỉ đạt 10 – 12 triệu đồng/ha/năm. “Từ khi tham gia mô hình, phần lớn diện tích luồng nhà tôi đã được trồng bổ sung, thay thế. Nhờ ứng dụng kỹ thuật canh tác mới nên rừng luồng phát triển tốt, ít sâu bệnh, năng suất dự kiến tăng gần gấp đôi so với trước nên thu nhập có thể đạt 15 – 17 triệu đồng/ha/năm”.
Chị Mè Thị Kiều – 1 trong 29 hộ tham gia mô hình ở xóm Dưng, xã Hiền Lương (Đà Bắc, Hòa Bình) cho biết: “Nhờ được dự án hỗ trợ cây giống, phân bón và được tập huấn kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh nên đến nay, hơn 2ha rừng luồng nhà tôi cũng như các hộ khác đều sinh trưởng và phát triển tốt, tỷ lệ sống ở những cây trồng mới đạt trên 93%. Cứ đà này, năng suất và sản lượng thu hoạch chắc chắn sẽ tăng, giúp gia đình tôi cải thiện thu nhập”.
Trao đổi với NTNN, ông Nguyễn Hồng Tuấn - Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Hòa Bình cho biết, dự án phục hồi rừng luồng đang mang lại lợi ích kép cho địa phương- vừa góp phần cải tạo đáng kể diện tích rừng luồng bị thoái hóa, vừa giúp bà con nâng cao trình độ sản xuất, tăng thu nhập. “Với đặc điểm bám đất và giữ đất tốt nhất trong các loại cây rừng, có rừng luồng nông dân sẽ còn nguồn nước dồi dào để canh tác lúa ở thung lũng, qua đó nguồn nước sinh hoạt cũng được cải thiện. Nhất là đầu ra không phải lo vì luồng là nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp giấy, thủ công mỹ nghệ và xuất khẩu” - ông Tuấn nói. (Dân Việt 17/2) đầu trang(
Sau 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ, trên địa bàn huyện Tam Đường đã chuyển biến tích cực về ý thức bảo vệ và phát triển rừng. Người dân vùng có rừng tăng thêm thu nhập, có tiền mua sắm quần áo mới, đồ dùng sinh hoạt trong gia đình, niềm vui đón Tết thêm trọn vẹn.
Những ngày áp tết, chúng tôi có dịp trở lại xã Hồ Thầu, hòa chung với không khí mùa xuân đang tràn ngập khắp bản làng là niềm vui, sự phấn khởi khi bà con ở các bản đều tập trung về xã nhận tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Cầm số tiền trên tay, chị Phàn Thị Quây ở bản Đội 4, xã Hồ Thầu vui mừng nói: “Hai năm trở lại đây cứ đến gần tết bà con trong bản lại được nhận tiền chi trả DVMTR nên phấn khởi lắm. Số tiền đã phần nào giúp bà con mình bớt khó khăn, đón một cái tết ấm no. Có tiền, bà con ý thức hơn trong công tác bảo vệ rừng, thường xuyên thay phiên nhau đi tuần tra, canh gác không cho các hộ gia đình lên đốt nương, chặt phá rừng bừa bãi để rừng phát triển”.
Niềm vui của chị Quây cũng là niềm vui chung của bà con các dân tộc địa phương trên địa bàn xã. Trong câu chuyện của bà con đều xoay quanh chủ đề: Có tiền từ DVMTR ai cũng muốn rủ nhau xuống chợ huyện sắm tết với bao nhiêu dự định người thì mua quần áo mới cho các con, đồ dùng sinh hoạt trong gia đình chuẩn bị một cái tết tươm tất, người thì mua sắm các dụng cụ phục vụ sản xuất. Tất cả tạo nên bầu không khí vui vẻ, hạnh phúc, hân hoan đón chờ những điều tốt đẹp sẽ đến trong năm mới.
Những năm gần đây, xã Hồ Thầu được biết đến là một trong những xã có diện tích rừng lớn nhất huyện Tam Đường với trên 2.800ha, diện tích rừng được phân đều ở 10 bản. Riêng năm 2014, thực hiện chính sách chi trả DVMTR, 620 hộ trong xã nhận được tổng số tiền 1,5 tỷ đồng. Với số tiền mỗi hộ nhận được gần 3 triệu đồng từ tiền chi trả DVMTR, đây là số tiền lớn giúp bà con trang trải cuộc sống hàng ngày, giảm bớt khó khăn, gánh nặng về kinh tế.
Nếu như trước đây, xã thường xuyên xảy ra các vụ cháy rừng, chặt phá rừng thì chính sách chi trả DVMTR đã thổi luồng sinh khí mới, tạo động lực để Nhân dân gắn bó với rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng tốt hơn. Giờ đây, để bảo vệ màu xanh cho những cánh rừng trên địa bàn xã, ở các đường mòn dẫn lên các khu rừng đều có những biển báo, biển cấm xâm hại rừng để nhắc nhở, tuyên truyền bà con nêu cao ý thức bảo vệ rừng. Các tổ xung kích thay phiên nhau tuần tra, canh gác không để tình trạng săn bắt, đốt nương, phá rừng làm rẫy diễn ra như trước.
Những ngày này đi đến các xã từ vùng thấp đến vùng cao bà con ở các xã Khun Há, Bản Hon, Sơn Bình, Tả Lèng, Sùng Phài đều được hưởng lợi từ rừng. Người được nhiều thì 4 triệu ít thì cũng được 1 triệu đồng. Số tiền giúp bà con đón tết ấm no, đầy đủ hơn, các hộ nghèo không lo bị đói. Thời điểm này, huyện Tam Đường có trên 32.000ha rừng được chi trả từ nguồn DVMTR với 55 nhóm hộ và 7.000 hộ gia đình được hưởng lợi từ nhận khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài, tổng kinh phí chi trả gần 19 tỷ đồng. Số tiền này đã góp phần nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào vùng cao.
Mỗi diện tích rừng được chi trả tiền DVMTR cao hơn năm 2013 là 100.000 đồng. Chính sách chi trả DVMTR đã thay đổi nhận thức của người dân trong việc bảo vệ rừng, các đơn vị quản lý, bảo vệ rừng dễ dàng hơn trong việc xử lý các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và Phát triển rừng. Tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép giảm đáng kể về số vụ và mức độ thiệt hại, tỷ lệ che phủ rừng tiếp tục tăng lên. Đây là những kết quả bước đầu tích cực, là tiền đề cho người trồng rừng, bảo vệ rừng yên tâm, có thu nhập ổn định từ rừng.
Trao đổi với chúng tôi, anh Nguyễn Đình Thượng - Trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Tam Đường cho biết: “Việc giao khoán rừng để chi trả DVMTR trên địa bàn huyện có ý nghĩa quan trọng đối với chủ trương quản lý rừng bền vững, làm cho rừng thật sự có chủ và người dân được hưởng lợi khi quản lý bảo vệ rừng. Để việc chi trả đúng đối tượng, đúng diện tích thì công tác rà soát xác định chủ rừng, diện tích được chi trả DVMTR được chúng tôi rà soát hàng năm, triển khai chặt chẽ đúng quy định. Tuy nhiện để việc xác định diện tích ranh giới rừng chính xác, chi trả tiền đúng đối tượng thời gian tới rất cần sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền, tiếp tục tuyên truyền, vận động Nhân dân nâng cao ý thức bảo vệ rừng”.
Có thể khẳng định, chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn huyện Tam Đường đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, là tiền đề cho người dân có rừng tiếp tục phát triển các nguồn lợi từ rừng. Qua đó góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo, nhất là trong đồng bào dân tộc thiểu số, bảo vệ môi trường sinh thái và nâng cao tỷ lệ che phủ rừng của huyện lên 48,5%, các vụ vi phạm liên quan đến rừng được hạn chế đáng kể tạo nguồn lực vững chắc để diện tích rừng phát triển. (Báo Lai Châu 14/2) đầu trang(
Diện tích trồng rừng sản xuất năm 2015 của công ty tăng 150 ha so với năm 2014.
Theo kế hoạch, năm 2015, Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bảo Yên sẽ trồng mới 1.600 ha rừng sản xuất, tăng 150 ha so với năm 2014. Để chuẩn bị cho công tác trồng rừng, công ty đã gieo ươm được 40 vạn cây keo, 30 vạn mỡ giống và đóng 3 triệu bầu quế giống. Ngoài ra, công ty đã tổ chức cho người dân đăng ký trồng rừng với diện tích 1.300 ha.
Nhằm tạo khí thế trồng rừng năm mới, vào ngày mồng 6 tháng Giêng, hưởng ứng Tết trồng cây, Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bảo Yên tổ chức trồng rừng sản xuất với quy mô 2 ha tại xã Thượng Hà và Long Phúc. (Báo Lào Cai 18/2) đầu trang(
Với hơn 40 nghìn héc ta đất lâm nghiệp, đây là lợi thế lớn để huyện Bạch Thông đầu tư vào phát triển vùng cây lâm nghiệp, tạo nguồn nguyên liệu tập trung cho công nghiệp chế biến gỗ, làm giàu cho người dân...
Huyện Bạch Thông hiện có tổng diện tích đất lâm nghiệp trên 42.000ha, trong đó diện tích rừng sản xuất là hơn 22.000ha, đất rừng phòng hộ là hơn 16.000ha, rừng phòng hộ là hơn 3.700ha, đây là lợi thế, tiềm năng, cơ hội để người dân phát triển kinh tế rừng. Khai thác có hiệu quả tiềm năng đất rừng, ổn định đời sống người dân là mục tiêu cơ bản trong định hướng lâu dài của Đảng bộ huyện Bạch Thông.
Do đó, những năm qua bằng nhiều giải pháp thiết thực huyện đã tranh thủ nguồn lực đầu tư, triển khai có hiệu quả các chương trình, dự án trồng rừng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, khuyến khích người dân đến với nghề trồng rừng để tạo việc làm và tăng thu nhập.
Để đầu tư đúng hướng, trọng tâm, hiệu quả huyện đã quy hoạch vùng sản xuất cây lâm nghiệp bao gồm các xã Vi Hương, Nguyên Phúc, Phương Linh, Tú Trĩ, Lục Bình, Tân Tiến, Đôn Phong, Dương Phong, Mỹ Thanh. Việc lựa chọn quy hoạch theo vùng dựa vào điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, vị trí địa lý của từng địa phương nhằm khai thác triệt để tiềm năng, thế mạnh trong phát triển rừng.
Dựa vào quy hoạch, huyện đã ưu tiên triển khai các dự án trồng rừng của nhà nước tại các địa phương, hỗ trợ tập huấn khoa học kỹ thuật và các điều kiện trồng rừng cho người dân. Từ khi thực hiện chủ trương giao đất giao rừng của Nhà nước cho dân quản lý đã nhận được sự đồng thuận rất cao từ phía người dân, từ đó ngoài việc giải quyết đất sản xuất, tạo công ăn việc làm mà còn có chính sách ràng buộc, gắn chặt trách nhiệm bảo vệ phát triển rừng của mỗi người dân.
Trên cơ sở kế hoạch phân bổ hằng năm, huyện Bạch Thông đã chỉ đạo các xã, thị trấn tiến hành rà soát quỹ đất để đăng ký trồng rừng, bảo đảm việc đăng ký được thực hiện chính xác, có tính khả thi cao, đồng thời xác định được cơ cấu cây trồng và chủ động ký hợp đồng với đơn vị sản xuất cây giống. Công tác tuyên truyền về các chính sách phát triển, bảo vệ rừng cũng đã được cấp ủy, chính quyền, đoàn thể tích cực triển khai đến tận thôn, bản, hộ gia đình lồng ghép thông qua các buổi họp. Qua đó, nhận thức và tư duy của người dân đã có sự thay đổi rõ rệt, hầu hết người dân đã gắn bó, đầu tư công sức, tiền của để trồng rừng.
Vài năm trở lại đây phong trào trồng rừng trên địa bàn huyện đã phát triển mạnh mẽ với diện tích tăng lên theo từng năm. Năm 2011 toàn huyện trồng được 915ha, năm 2012 trồng được 1.138,97ha, năm 2013 trồng được 1.701,45ha; năm 2014 trồng rừng được 1.333,66ha, đạt 106,7% kế hoạch. Như vậy sau bốn năm toàn huyện trồng đạt  5.089,08ha, vượt so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIII (chỉ tiêu đến năm 2015 toàn huyện trồng mới được 5.000ha rừng). Phong trào phủ xanh đất trống đồi núi trọc, trồng rừng theo các chương trình dự án được triển khai rộng khắp trong toàn huyện góp phần tăng nhanh độ che phủ của rừng lên 76% và được đánh giá là một trong những huyện có độ che phủ rừng lớn nhất tỉnh.
Hơn mười năm về trước, người dân huyện Bạch Thông đã được tiếp cận với chương trình trồng rừng Pam, 5322, 661, 327 của Nhà nước với cơ cấu giống chủ yếu là hồi, mỡ và quế. Tuy nhiên, thời kỳ đó người dân chưa mấy mặn mà với trồng rừng do chưa hiểu hết giá trị kinh tế, nguồn lợi to lớn từ rừng trồng mang lại. Sau 7 đến 8 năm, hàng trăm héc ta rừng mỡ được trồng từ dự án trên đã đến kỳ cho khai thác, nhiều gia đình đã được hưởng lợi từ sản phẩm gỗ rừng trồng, bình quân mỗi héc ta mỡ bà con có thu nhập 60 đến 100 triệu đồng.
Từ đó nhận thức của nhân dân đã thay đổi, lợi ích, giá trị kinh tế từ rừng trồng đã được bà con nhìn nhận rõ ràng hơn, gắn bó, trách nhiệm với rừng, nhiều nông hộ còn tự bỏ vốn mua cây giống về trồng. Giờ đây phần lớn diện tích rừng đã có chủ đích thực, không còn tình trạng hoang hóa.
Cách đây hơn chục năm, gia đình ông Hoàng Hữu Phú, người Dao ở thôn Phiêng Kham, xã Mỹ Thanh đã tham gia đăng ký trồng 2ha rừng theo chương trình Pam, 5322 của nhà nước. Sau nhiều năm bỏ công chăm sóc đến nay toàn bộ diện tích rừng mỡ của gia đình ông đã cho thu hoạch, đem về thu nhập 60 triệu đồng/ha.
Còn tại xã Nguyên Phúc, hộ ông Đinh Xuân Vũ, thôn Nà Rào là hộ điển hình, đi đầu trong phát triển kinh tế của địa phương, đặc biệt là trồng rừng. Theo chân ông chúng tôi đã đến đồi mỡ 3 năm tuổi của gia đình được trồng từ Chương trình 147, toàn bộ 2ha rừng trồng mới đang phát triển xanh tốt, cây cao ngang đầu người.
Ông Vũ cho biết, trồng rừng mất nhiều công chăm sóc năm đầu, bước sang năm tiếp theo chỉ cần phát cỏ dại để cây quang hợp phát triển tốt. Gia đình ông đã trồng xen canh các loại cây ngắn ngày vào diện tích rừng trồng năm thứ nhất vừa tiện công chăm sóc vừa có thêm nguồn thu nhập.
Được biết ngoài 2ha rừng mới trồng, gia đình ông Vũ còn có 2ha rừng được trồng từ dự án Pam đến nay đã đến kỳ cho khai thác, với giá bán bình quân 900.000 đồng/m3 gỗ mỡ đã mang lại cho gia đình ông thu nhập trên dưới 100 triệu đồng/ha.
Trên địa bàn huyện Bạch Thông còn có hàng trăm mô hình trồng rừng hiệu quả. Thực tế đã chứng minh giá trị kinh tế từ trồng rừng đối với đời sống của người dân trên địa bàn huyện Bạch Thông là rất lớn trên cả ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường. Xét về phương diện kinh tế, huyện xác định phải phát huy lợi thế về đất rừng để làm giàu từ rừng. Từ các mô hình cụ thể cho thấy, cứ 1ha rừng sau một chu kỳ 7 năm cho khai thác năng suất trung bình đạt 80m3 gỗ/ha, giá bán 900.000đồng/m3 thì cứ 1ha người nông dân thu về 72 triệu đồng, trừ chi phí vẫn có lãi 40 triệu đồng. Theo thống kê của cơ quan chức năng, mỗi năm huyện Bạch Thông khai thác gỗ rừng trồng với tổng sản lượng 300.000m3, giá trị kinh tế đạt 80 tỷ đồng.
Đối với lợi ích về mặt xã hội thì trồng rừng đã giải quyết công ăn việc làm cho 50% lao động trên địa bàn huyện. Đối với vấn đề môi trường, trồng rừng đã giúp tăng tỷ lệ che phủ rừng của toàn huyện lên 76%, tạo môi trường sinh thái, ngăn cản sự xói mòn đất, hạn chế lũ quét, lũ cục bộ.
Với lợi ích to lớn đó, huyện Bạch Thông đã có chủ trương rà soát, bổ sung, thực hiện tốt việc quy hoạch để tạo thành vùng nguyên liệu tập trung với trữ lượng sản phẩm lớn. Đồng thời huy động các nguồn lực hỗ trợ xây dựng đường lâm sinh giúp giảm chi phí vận chuyển cho người trồng rừng. Chỉ đạo nghiêm ngặt khâu cung cấp giống bảo đảm chất lượng, áp dụng kỹ thuật để nâng cao chất lượng rừng. (Báo Bắc Cạn 18/2) đầu trang(
Vài năm trở lại đây, lĩnh vực công nghiệp,đặc biệt là công nghiệp chế biến gỗ đang có những khởi sắc, với sự hình thành nhiều nhà máy và hàng trăm các cơ sở chế biến gỗ lớn nhỏ mang lại thu nhập ổn định cho không ít lao động tại địa phương. Điều đó cũng góp phần quan trọng vào việc tạo thị trường đầu ra cho gỗ rừng trồng – một trong những thế mạnh của tỉnh Bắc Kạn hiện nay.
Cơ sở sản xuất gỗ bóc của anh Trần Ngọc Hoàng tại Bản Còn, xã Nông Thịnh chỉ là một trong số ít cơ sở chế biến gỗ bóc tại huyện Chợ Mới. Trung bình một ngày, cơ sở này tiêu thụ hết hơn 5m3 gỗ tròn, sản phẩm luôn được tiêu thụ ổn định. Theo anh Hoàng, để đầu tư một dây chuyền như thế này mất khoảng 500 triệu đồng, nếu sản xuất như hiện nay thì hơn 2 năm sẽ thu hồi được vốn. Hiện cơ sở này đang sử dụng gần 20 lao động, chủ yếu là người dân địa phương với mức thu nhập bình quân 4,5 triệu đồng/người/tháng.
Nói đến công nghiệp chế biến lâm sản tỉnh Bắc Kạn không thể không kể đến Công ty cổ phần SaHaBak tại khu công nghiệp Thanh Bình, huyện Chợ Mới. Nhà máy có công suất khoảng 8.400m3 sản phẩm/năm. Tổng doanh thu từ khi nhà máy đi vào hoạt động đến nay đạt hơn 130 tỷ đồng, nộp ngân sách hơn 8 tỷ đồng. Nhà máy đã tạo việc làm ổn định cho trên 300 lao động trong tỉnh, với mức thu nhập bình quân 3,1 triệu đồng/người/tháng. Hiện nay, công ty cũng đang tích cực hoàn thiện dự án xây dựng Nhà máy sản xuất ván MDF tổng mức đầu tư hơn 1000 tỷ đồng, công suất thiết kế 108.000m3/năm. Khi hoàn thành, nhà máy sẽ sử dụng khoảng 200.000m3 gỗ nguyên liệu mỗi năm, tương đương diện tích rừng cần khai thác hàng năm là 3.000ha.
Cùng với sự phát triển của Công ty cổ phần SaHaBak, nhiều nhà máy khác cũng đã tái cơ cấu và tổ chức lại sản xuất cho phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương. Điển hình như Công ty Cổ phần sản xuất và chế tạo ô-tô Tracimexco đã lắp ráp dây chuyền sản xuất đũa gỗ bồ đề và gỗ mỡ với công suất 02 container 40 feet/tháng, tương đương với 2.000 bao đũa để xuất khẩu.  Năm 2014 vừa qua, tổng doanh thu của đơn vị đạt hơn 10 tỷ đồng.
Ông Nguyễn Ngọc Quỳnh, Tổng giám đốc Công ty cổ phần sản xuất và chế tạo ô tô Tracimexco Bắc Kạn cho biết: "Công ty đã đưa vào sản xuất đũa gỗ bồ đề, tìm hướng đi mới, giải quyết khó khăn cho nhân viên. Hàng tháng đều có ký kết để chuyển giao với đối tác…Hiện nay, riêng nhà máy sản xuất đũa gỗ đã giải quyết việc làm cho gần 100 lao động, thời gian tới đơn vị sẽ nâng công suất chế biến và dự kiến sẽ tuyển thêm khoảng gần 100 công nhân lao động.
Theo số liệu thống kê của ngành kiểm lâm, trong năm 2014, toàn tỉnh đã cấp gần 700 giấy phép khai thác gỗ rừng trồng với khối lượng lên đến hơn 25,5 nghìn m3. Đây là năm mà lĩnh vực công nghiệp khai thác và chế biến gỗ rừng trồng phát triển mạnh và khá ổn định khi giá cả đầu vào của nguyên liệu luôn ở mức cao, tạo việc làm cho hàng nghìn lao động.
Nói về lợi ích của hoạt động chế biến gỗ, bà Nguyễn Thị Đào, Chủ cơ sở sản xuất gỗ tại huyện Ba Bể cho biết: Thứ nhất là các cơ sở đã tận thu nguồn nguyên liệu tại địa phương, cây cong đều tận dụng được cả. Thứ hai là tạo được rất nhiều việc làm cho người dân địa phương, người già hay trẻ nhỏ có thể tham gia vào hoạt động như phơi gỗ.
Còn ông Hà Đức Tiến, Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Kạn thì nhận xét: Không chỉ có thị trường trong nước mà cả thị trường thế giới cũng tận dụng rất nhiều sản phẩm gỗ rừng trồng, và sản phẩm gỗ rừng trồng đang được khuyến khích để sản xuất, tiêu thụ, nên với tiềm năng đất, khí hậu và với phong trào trồng rừng  của chúng ta hiện nay, trong thời gian tới, định hướng phát triển kinh tế rừng sẽ rất là thuận lợi.
Mỗi năm tỉnh Bắc Kạn trồng mới khoảng 10 nghìn ha rừng, với sự hoạt động ổn định của các nhà máy và cơ sở chế biến gỗ, người dân hoàn toàn có thể yên tâm về đầu ra cho gỗ rừng trồng. Việc phát triển công nghiệp chế biến lâm sản đang mở ra một triển vọng mới cho lĩnh vực công nghiệp tỉnh nhà, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân.  Năm Ất Mùi đã đến, hy vọng ngành công nghiệp chế biến lâm sản của tỉnh sẽ ngày càng có nhiều khởi sắc, để mỗi năm tết đến xuân về, người dân trồng rừng lại có thêm điều kiện để đón tết sung túc hơn. (Đài PTTH Bắc Cạn 20/2) đầu trang(
UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vừa ban hành Quy định tạm thời về việc thuê khoán sử dụng đất rừng sản xuất do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bà Rịa - Vũng Tàu quản lý.
Tuy nhiên, quy định trên lại không nhắc đến việc bồi thường thiệt hại cho những người dân đã đầu tư tiền bạc trên đất nhiều năm qua...
Theo đó, 29 hộ dân đang có hợp đồng thuê đất trồng rừng tại huyện Xuyên Mộc đã bị Công ty Lâm nghiệp Bà Rịa - Vũng Tàu thu hồi, điều chỉnh giảm diện tích giao nhận khoán những hộ trên 10ha ngay lập tức mà không nhắc đến việc đền bù thiệt hại do vi phạm hợp đồng giao nhận khoán trồng rừng trước đó. Nhiều người bị ảnh hưởng cho rằng, Quy định tạm thời mà UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ban hành với hạn mức đất rừng sản xuất giao khoán cho hộ gia đình để trồng rừng kinh tế, tối đa không quá 10 ha là không công bằng.
Bởi, Điều 22 Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 3/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng quy định: Hạn mức rừng phòng hộ, rừng sản xuất giao cho mỗi gia đình, cá nhân không quá 30 ha đối với mỗi loại rừng. Thời hạn cho thuê rừng sản xuất là từ 50 năm đến 70 năm nhưng quy định “tạm thời” của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chỉ có thời hạn từ 6-12 năm là không phù hợp với quy định hiện hành.
Có thể thấy, quy định mới của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là mang tính áp đặt, ảnh hưởng đến quyền lợi những hộ nhận khoán trước đây. Theo quy định của Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và phát triển rừng đều quy định trình tự, thủ tục thu hồi, phương án, giá cả bồi thường khi thu hồi đất trồng rừng. Thế nhưng, quy định này lại không nhắc đến việc bồi thường như thế nào, giá bồi thường ra sao là hoàn toàn không thấu tình, đạt lý.
Không những vậy, quy định mới cũng không tuân thủ quy định của Nghị định 135 về thứ tự đối tượng ưu tiên nhận khoán và thời hạn giao khoán. Việc hạn chế 6 năm phải thanh lý hợp đồng sẽ làm phát sinh thêm thủ tục hành chính không cần thiết. Hơn nữa, việc giảm diện tích giao khoán của người này để giao cho người khác là không thấu tình, đạt lý, trong khi người đang nhận khoán không vi phạm quy định về giao nhận khoán. Vì vậy, việc thực hiện quy định này có thể phát sinh bất ổn tại địa phương do kẻ xấu đòi hỏi quyền lợi về đất đai.
Ông Hoàng Ngọc Quyển, một người dân đang thuê đất trồng rừng cho biết: Trong Hợp đồng giao khoán sử dụng đất vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, mặt nước nuôi trồng thủy sản giữa Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bà Rịa - Vũng Tàu với người dân ghi rất rõ: Bên nhận khoán được quyền chủ động tổ chức sản xuất trên đất nhận khoán theo kế hoạch của bên giao khoán là Công ty Lâm nghiệp Bà Rịa - Vũng Tàu và được hưởng toàn bộ thành quả đầu tư trên đất nhận khoán sau khi hoàn thành nghĩa vụ đối với bên giao khoán và các khoản thuế, phí cho Nhà nước.
Đặc biệt, trong hợp đồng còn ghi rất chi tiết: “Khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất giao khoán để sử dụng vào mục đích quốc phòng, dân sinh, xã hội khác thì được đền bù theo quy định hiện hành” và “Trường hợp bên giao khoán vi phạm hợp đồng, gây thiệt hại cho bên nhận khoán thì phải bồi thường”.
Ký kết với Công ty là vậy, nhưng trong Quy định “tạm thời” của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lại không nhắc đến chi tiết này. Do đó, khi doanh nghiệp thực hiện việc thu hồi đất rừng mà người dân đang thuê mà không bồi thường thiệt hại là trái với quy định của pháp luật, trái với những điều khoản ghi trong hợp đồng.
Vấn đề thu hồi hàng trăm ha đất đã giao khoán cho những hộ dân đang trồng rừng mà không đền bù thiệt hại là vô cùng nhạy cảm, thậm chí là rất nan giải, khó lòng thực hiện được. Các hộ dân thuê đất rừng sản xuất đều là cán bộ đã từng làm việc cho lâm trường nên rất am hiểu quy trình trồng, chăm sóc rừng và trực tiếp tham gia lao động sản xuất.
Ông Trần Danh Hòa, người đang thuê đất trồng rừng khẳng định: Chúng tôi đã đầu tư rất nhiều thời gian, công sức, tiền của với bao tâm huyết, mồ hôi, nước mắt, thậm chí là xương máu của cả gia đình trong đó. Vậy mà, UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lại ra quyết định tạm thời để thu hồi đất rừng sản xuất mà chúng tôi đã được giao khoán một cách hợp pháp, đúng pháp luật là điều không thể nào hiểu nổi.
Tại Hội nghị triển khai thực hiện Quyết định số 2539/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ban hành Quy định tạm thời về việc quản lý, giao khoán sử dụng đất rừng sản xuất do Công ty Lâm nghiệp quản lý thì chính công ty này cũng thừa nhận những nội dung trên có phần không tuân thủ quy định hiện hành. Tuy nhiên, trước mắt Công ty phải chấp hành quyết định của UBND tỉnh. Nhưng, trong quá trình thực hiện sẽ lắng nghe ý kiến của hộ nhận khoán để báo cáo UBND  tỉnh và Sở Nông nghiệp & PTNT có giải pháp phù hợp.
Như vậy, có thể thấy, quy định “tạm thời” về việc giao khoán đất rừng của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có thể dẫn đến mất an ninh trật tự từ những hộ dân ở các xã bị thu hồi đất rừng mà không được đền bù thiệt hại. Quyết định đã ban hành không tạo được sự đồng thuận giữa bên nhận khoán và bên giao khoán, dẫn đến việc tranh chấp là điều không thể tránh khỏi. Việc hàng chục, thậm chí hàng trăm hộ dân bị “xóa đi làm lại” thành quả giao khoán rừng theo quyết định tạm thời ở huyện Xuyên Mộc khiến cho hàng ngàn ha rừng bị tàn phá là hậu quả nhãn tiền đang diễn ra trên địa bàn. (Công Lý 21/2) đầu trang(
Sáng qua (24.2), UBND quận Cầu Giấy đã phát động Tết trồng cây tại đường Nguyễn Văn Huyên kéo dài.
Gần 1.000 cán bộ và nhân dân đã tham dự lễ phát động. Ngay sau buổi lễ, cán bộ và nhân dân quận đã trồng cây ở giữa dải phân cách và hai bên vỉa hè đoạn đường mới mở này. Đường Nguyễn Văn Huyên kéo dài thông với đường Cầu Giấy vừa được hoàn trước Tết Nguyên đán Ất Mùi - 2015. (Lao Động 25/2) đầu trang(
Trong sáng 24/2, nhiều địa phương trên cả nước đồng loạt phát động phong trào Tết trồng cây, thực hiện lời dạy của Bác Hồ.
Sáng 24/2, tức mùng 6 tháng Giêng, tỉnh Quảng Bình tổ chức phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ”. Ngay sau lễ phát động, cán bộ và nhân dân tỉnh Quảng Bình đã trồng hơn 2000 cây xanh trên các tuyến đường ở thành phố Đồng Hới.
Ông Trần Đình Dinh, Chủ tịch UB ND thành phố Đồng  Hới, tỉnh Quảng Bình cho biết, việc trồng cây tạo môi trường cảnh quan đáp ứng yêu cầu về cuộc sống của người dân, xây dựng một thành phố xanh, sạch, đẹp. Một số cây xanh được lựa chọn trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên của thành phố như cây sao đen, cây xà cừ, một số các loại cây có màu xanh tốt, tạo ra ý thức cho người dân về việc tập trung chăm sóc bảo vệ cây xanh, giữ cuộc sống cho bản thân và cho cộng đồng.
Cũng trong sáng 24/2 - ngày làm việc đầu tiên sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, tỉnh Ninh Bình đồng loạt tổ chức “Lễ trồng cây mùa xuân đời đời nhớ ơn Bác Hồ”.
Từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động Tết trồng cây đến nay, trồng cây mùa xuân đã trở thành nét đẹp văn hóa đối với người dân Ninh Bình mỗi khi Tết đến xuân về. Xác định trồng cây xanh, phát triển rừng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và của mọi công dân trong tỉnh để bảo vệ môi trường, nên nhiều năm qua, phong trào trồng cây mùa xuân được mọi người tích cực hưởng ứng.
Năm 2014, tỉnh Ninh Bình trồng được gần 230 ha rừng, gần 8.000 cây phân tán, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng được trên 110 ha, khoán quản lý bảo vệ trên 15.400 ha. Trồng cây, trồng và bảo vệ rừng đã góp phần hạn chế tác động của biến đối khí hậu và ô nhiệm môi trường, đồng thời, tham gia xây dựng nông thôn mới. Ngay trong ngày hôm nay, các đơn vị của tỉnh Ninh Bình trồng được gần 2.000 cây xanh các loại, trong đó chủ yếu là sấu, osaka, vú sữa, xà cừ, phượng vĩ.
Sáng 24/2, 7 huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang cũng đã phát động Tết trồng cây năm 2015. Theo kế hoạch năm nay, tỉnh Tuyên Quang phấn đấu trồng mới 14.000 ha rừng, trong đó có 13.200 ha rừng sản xuất và 300 ha rừng phòng hộ; trồng cây phân tán là 500 ha.
Để chuẩn bị cho công tác trồng rừng năm 2015, các huyện, thành phố, công ty lâm nghiệp đã bố trí đủ diện tích và lập hồ sơ thiết kế trồng rừng đúng quy trình kỹ thuật; chủ động sản xuất cây giống bảo đảm chất lượng, số lượng theo kế hoạch giao, xây dựng tiêu chuẩn cây giống xuất vườn, đơn giá cây giống trồng rừng. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai kế hoạch sản xuất lâm nghiệp; giao chỉ tiêu sản xuất lâm nghiệp gồm trồng rừng, khai thác rừng trồng đến các thôn, tổ nhân dân; lập báo cáo thống kê sản xuất lâm nghiệp, phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2015 trong khung thời vụ cho phép.
Trong không khí vui tươi, phấn khởi của những ngày đầu Xuân mới, hôm 24/2, các địa phương trong tỉnh Yên Bái đồng loạt tổ chức Tết trồng cây.
Thực hiện lời dạy của Bác: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, trong những năm qua tỉnh Yên Bái đã tích cực triển khai công tác trồng mới và khoanh nuôi bảo vệ rừng. Năm 2014, toàn tỉnh đã trồng mới được hơn 15.500 ha rừng, đạt 103,4% kế hoạch. Năm 2015, toàn tỉnh phấn đấu trồng mới trên 15.000 ha, nâng tỷ lệ che phủ rừng đạt 62%.
Theo đó, các địa phương trong tỉnh thực hiện phủ xanh các diện tích trống, đất hoang và đồi trọc. Để Tết trồng cây thật sự có hiệu quả, chính quyền các địa phương đã chủ động xác định địa điểm trồng cây, chọn loài cây trồng phù hợp với điều kiện sinh thái, ưu tiên trồng các loài cây gỗ lớn có giá trị kinh tế cao.
Trong quá trình tổ chức Tết trồng cây, các ngành chuyên môn cũng đã hướng dẫn cụ thể phương thức trồng, cách chăm sóc cho nhân dân để cây trồng có tỷ lệ sống cao. (VOV 24/2) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
“Mày về Việt Nam nhớ cắm cái sừng tê giác vào mũi hoặc nóc xe ô tô nhé. Tùy theo sức của mình, cả nhân loại tiến bộ phải chung tay, chứ mỗi ngày trôi qua, ít nhất 3 con tê giác bị giết hại, mày thấy có đau không?”
Đó là câu nói của các chuyên gia bảo tồn tê giác mà nhà báo Đỗ Doãn Hoàng - 1 trong 5 thành viên Việt Nam được mời sang châu Phi tham gia chiến dịch bảo vệ tê giác, ngăn chặn nạn buôn bán sừng tê giác- nhớ mãi. Mời bạn đọc cùng NTNN theo bước chân của anh để chứng kiến bạn bè quốc tế đang nỗ lực bảo vệ những con tê giác cuối cùng thế nào.
Rừng Kruger, Nam Phi, rồi rừng Mozambique, rồi tưng bừng Mũi Hảo Vọng “mỗi bước chân chạm đến một đại dương”, tôi cứ đi mà đôi lúc lơ mơ không hiểu sao số phận lại đem mình đến những nơi ấy.
Eveline đến từ Hà Lan, cô lái chiếc xe Ford Ranger hầm hố, bốn bề vẽ những con tê giác khổng lồ, từng thớ da nó lồi gồ lên như giáp trụ của chiến tướng thời Tam Quốc. Trước xe, cô cắm một cái sừng tê giác bằng nhựa đỏ ối. Trông nó cong khuyết như một cái hình “con nòng nọc” âm dương ngũ hành. Eveline tự hào: “Tớ là người Hà Lan, gia đình tớ sang đây từ 200 năm trước, cậu ạ”. Cô nói về tê giác và cuộc chiến tranh tê giác với những cái sừng có giá chợ đen 50.000USD một cách say sưa và buồn bã. Đôi lúc nghĩ, ai đã thổi vào chúng tôi ngọn lửa đam mê với giới tự nhiên châu Phi ngần ấy. Có lẽ là Eveline. À, có lẽ cả Andrew Peterson nữa chứ.
Anh chàng Andrew tính nóng như lửa, thẳng như ruột ngựa, nhìn thấy anh ta là đinh tai nhức óc. Andrew cao 1m90, cũng gốc Hà Lan sang đây từ thời khai thác thuộc địa. Vốn rất thành đạt trong ngành kinh doanh tài chính, bỗng dưng, sau một lần vào rừng châu Phi du lịch, xách súng lớn, đeo những băng đạn vàng óng giắt chéo ngực và viền quanh thắt lưng quần đi để bảo vệ gia đình, tự dưng Andrew thấy mình run rẩy hạnh phúc. Anh ta bỏ sự nghiệp để vào với rừng và thứ hạnh phúc vừa được đất trời khai mở ấy. Hàng chục năm làm bảo tồn, có đôi lần phải nổ súng giết con vật ngang ngạnh muốn tấn công người, còn lại với anh ta, rừng châu Phi chỉ là một sự dịu dàng bất tận.
Các vùng cỏ xavan mượt như lông thú, trực thăng sắp đáp xuống bờ suối, xavan nghiêng ngả, như có ai đó đang bới lông bắt bọ, rệp cho con vật khổng lồ đang lũn cũn nũng nịu kia. Lũ hươu cao cổ lật khật bỏ chạy, cả cánh rừng loang lổ, vàng ươm như được bọc nhung ấm. Dáng của con vật cao kều cứ uyển chuyển như vũ nữ. Andrew bắt tôi và những người lắm mồm như Xuân Bắc rồi diva Hồng Nhung phải im lặng 3 tiếng đồng hồ. Giọng Andrew đăm đắm, nghe đã thấy anh ta yêu muông thú và các vấn đề của rừng già đến mức nào. Anh ta yêu cầu cả nghìn kiểm lâm Kruger, cái rừng rộng 2 triệu héc-ta (gấp 100 lần Vườn quốc gia Cúc Phương của Việt Nam), được bảo tồn từ năm 1898 (đã 117 năm!) ấy phải giữ gìn tất cả những cái cây đã chết nguyên trạng; giữ tuyệt đối nguyên bản các “cầu tiêu” của tê giác ăn hạt (phân nó khác) và tê giác ăn lá.
Andrew yêu bảo tồn đến mức nào? - có lần tôi với một đồng chí phó chủ nhiệm ủy ban nọ của Quốc hội Việt Nam, người cùng tôi “đi sứ” Nam Phi, đã tranh luận. Anh ta bỏ giàu sang, với cuộc sống lên xe xuống ngựa để vào rừng già sống như “lâm tặc”. Anh ta đến Việt Nam, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về môi trường, Công an Hà Nội (chả là đồng chí phó phòng đi Nam Phi với chúng tôi) mời “Ha Noi bia hơi” một trận nhớ đời. Anh ta yêu nghề đến mức, nỉ non bằng được, gạ tôi và Hồng Nhung, “mày về Việt Nam nhớ cắm cái sừng tê giác vào mũi hoặc nóc xe ô tô nhé. Tùy theo sức của mình, cả nhân loại tiến bộ phải chung tay, chứ mỗi ngày trôi qua, ít nhất 3 con tê giác bị giết hại, mày thấy có đau không?”. Có người thấy đau, có người cười khẩy bảo Andrew say bia. Tôi thì tôi hiểu, anh ta sống có lửa trong người, anh muốn cuộc sống của mình không chỉ trôi đi với giá áo túi cơm.
Có lần, một hội nghị ở Nam Phi, tôi chứng kiến tất cả quan chức và quan khách cùng cụng ly bằng sừng tê giác to như cái loa kèn đồng. Họ vào vai tê giác, bảo “hãy trả sừng cho tôi”, bảo “mọi ngày đều là ngày của tê giác”. Sau đó họ bảo vệ sư tử và voi. Báo chí Nam Phi gọi chúng tôi là “Những người bạn mới của rừng châu Phi”. Vì sao, vì 3 nước châu Á, trong đó có Việt Nam, trở thành 3 thị trường nóng nhất, lớn nhất, trở thành nguồn “cầu” dữ dằn nhất… thúc đẩy nạn tàn sát tê giác, voi rừng và các loài hoang thú khác. Họ giữ mãi ở nước họ không được, họ bèn tính kế mời người từ “thị trường cuối cùng” sang. Họ đã chọn tôi, năm lại năm vẫn chọn tôi. Và điều đó đôi lúc làm tôi tự hào, đôi lúc quá xấu hổ. Tại sao họ chọn mình mà không phải là một gã nhà báo Pháp, Hà Lan hay Australia? Đơn giản vì Việt Nam ta, có không ít người cuồng tín và mù quáng trong việc sử dụng các sản phẩm từ động vật hoang dã.
Có lần Andrew và vài người bạn đến Đường Lâm quê tôi, nằm dài trên con đê sông Hồng, khởi đắp từ nghìn năm trước, họ vui đến hú hét lên, nhưng rồi, đêm ấy, họ lại đòi đi dò hỏi về nạn sử dụng sừng tê giác và chế tác ngà voi. Sự đam mê, lý tưởng sống của họ là một cái gì đáng học hỏi lắm. Có lần từ Kruger về, đôi lúc, chúng tôi không sao nhớ tên được mấy người bạn da đen đã lăn lộn trong rừng cùng mình, bèn gọi tên “Ông Trăng Sáng”, “Ông Lượn Trực Thăng”. Có gì đâu, ông này 40 năm giữ rừng châu Phi. Đêm ấy, trăng sáng như ban ngày, chúng tôi mở tiệc nướng giữa rừng, voi từng đàn về chống ngà dài ngắm nhìn khách lạ. Vị cựu kiểm lâm da màu đã khóc, trước trăng sáng thế này, vạn vật sum vầy, muông thú rong chơi, tôi có cảm giác nơi đây là một cái vườn địa đàng tuyệt mỹ. Còn bây giờ, hễ trăng sáng là chỉ lo đi tuần và lo đổ máu, bởi: “Trăng sáng, thợ săn trộm nó bắt đầu xuống tay với voi và tê giác, nhà báo ạ”, nói rồi ông vuốt nước mắt nhìn trân trối lên giời.
Còn “Ông Lượn Trực Thăng”, gã râu chổi xể, người gốc châu Âu, khi chiếc trực thăng màu đỏ của tôi gầm réo trên đỉnh trời, thì ông bảo “Hoàng, mày muốn chụp bức ảnh lạ này không? Tao sẽ bay cao, dưới là máy bay màu xanh của cô Hồng Nhung ca sĩ, dưới nữa là muông thú và xác con tê giác khổng lồ đầy máu loang trên cát suối”. Chúng tôi lượn như một chiếc lá mặc cho cô tổng đài chỉ huy đám trực thăng cứ gào lên: “Kevin, mày muốn chết à, hả, hả!?”.
Tử tế với thiên nhiên, với họ, đã như là một lẽ sống, một thứ tôn giáo. (Dân Việt 21/2) đầu trang(
Đội cứu hộ đã giải thoát được 19 lợn biển bị kẹt trong ống thoát nước vào ngày hôm 23/2 tại Satellite Beach, Florida, Hoa Kỳ.
Theo Bay News 9, đội cứu hộ đã phải cắt đường ống thoát nước để giải thoát cho các con lợn biển bị mắc kẹt. Tờ Florida Today cho biết một vài con lợn biển bị bầm tím, tuy nhiên không có báo cáo thương tích nghiêm trọng nào.
Lợn biển, hay còn được biết đến với cái tên bò biển Steller, nằm trong danh sách động vật quý hiếm và thường di cư đến các khu vực nước ấm nếu nhiệt độ giảm mạnh. Theo các nhà chức trách của Ủy ban Bảo tồn động vật hoang dã của Florida, các con lợn biển đã bơi vào đường ống thoát nước do thời tiết quá lạnh.
Một vài con lợn biển đã không may bị lạc đường, chính vì thế, chúng không thể thoát được ra ngoài và bị mắc kẹt tại ống thoát nước.
Đội cứu hộ đã phải làm việc xuyên đêm và sử dụng đèn pha của xe tải để giải cứu các con lợn biển.
Hàng chục người cũng có mặt tại hiện trường để cổ vũ tinh thần đội cứu hộ. C.J.Miller, một người dân sống ở khu vực này cho biết: "Mẹ tôi chưa bao giờ nhìn thấy lợn biển. Chính vì thế, khi nghe tin các chú lợn biển bị mắc kẹt, chúng tôi đã tới đây xem chuyện gì đã xảy ra với chúng".(Đất Việt 24/2) đầu trang(
Phân cục trưởng một phân cục cảnh sát tại TP Thâm Quyến thuộc tỉnh Quảng Đông vừa bị cách chức sau vụ cảnh sát hành hung thô bạo nhóm phóng viên cố gắng đưa tin về một nhóm sĩ quan ăn thịt kỳ nhông trong một nhà hàng.
Truyền thông Trung Quốc hôm 26-1 cho biết một số quan chức nước này đã ăn thịt kỳ nhông trong một bữa tiệc mừng chính sách thắt lưng buộc bụngcủa Bắc Kinh.
Thời báo Hoàn Cầu cho biết trong 28 thực khách tham gia bữa tiệc có một số quan chức cảnh sát tỉnh Thâm Quyến.
Trong khi đó, tờ Đô thị Nam Phương mô tả một số sĩ quan cảnh sát đã đá, tát, đánh đập, giật lấy điện thoại di động và máy ảnh của 3 phóng viên khi họ cố chụp ảnh bữa tiệc.
Cũng theo Đô thị Nam Phương, một trong các thực khách khai rằng ông ta đã cung cấp con kỳ nhông cho bữa tiệc và nó không phải động vật hoang dã mà được nuôi nhốt.
Ngay sau sự việc, chính quyền Thâm Quyến đã mở cuộc điều tra về vụ việc và 14 cảnh sát ở đây bị đình chỉ công tác. Phân cục trưởng phân cục cản
sát phía Đông TP Thâm Quyến Vương Viễn Bình bị cách chức vì đã không cung cấp thông tin chính xác cho cuộc điều tra, lạm quyền khi ra lệnh cảnh sát đứng canh bên ngoài nhà hàng.
Sự kiện trên diễn ra trong bối cảnh Chủ tịch nước Tập Cận Bình triển khai chính sách yêu cầu tầng lớp lãnh đạo ở Trung Quốc phải sốngtiết kiệm, trong đó có chiến dịch kêu gọi ăn uống giản dị với “4 món ăn và 1 bát canh”.
Trong một diễn biến khác, cựu chủ tịch Hội nghị Chính trị Hiệp thương tỉnh Quảng Đông Chu Minh Quốc sẽ bị truy tố vì tội nhận hối lộvà mua quyền bán chức. (Người Lao Động 18/2) đầu trang(
Takin - loài thú nửa dê nửa bò trên triền Himalaya - được chọn làm “quốc thú” ...
Khi Công ty du lịch Windhorse của Bhutan gửi cho chúng tôi lịch trình thăm thú Bhutan trong một tuần tại đây, có mấy dòng thông tin rất ngắn nhưng lại khiến chúng tôi tò mò khôn xiết.
Đó là sẽ có chuyến thăm vườn thú Motithang Takin - với chú thích rằng đấy là một loài động vật hoang dã “đầu dê mình bò” chỉ có ở Bhutan và đang bị đe dọa tuyệt chủng!
Một đất nước gần như không có chuyện sát sinh, ngay cả việc câu cá cũng là điều cấm kỵ, chim thú chung sống hòa bình với người thì một loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng hẳn là có điều gì đặc biệt lắm!
Bởi thế khi vừa đến thủ đô Thimphu của Bhutan, nhiều anh em muốn đi thăm ngay khu vườn thú đặc chủng kỳ lạ kia nhưng rốt cuộc phải đi theo lộ trình của công ty sắp xếp bởi ở Bhutan, đi từ tỉnh này đến tỉnh khác phải có… giấy thông hành, giấy này được công ty du lịch xin đúng với thời gian đi và đến theo lộ trình lên lịch từ trước nên rất khó thay đổi.
Bởi thế, chúng tôi phải về Punakha, một thành phố phía nam - “thủ đô mùa đông” của Bhutan, rồi hai hôm sau mới quay lại thủ đô Thimphu.
Trên con đường xuyên giữa rừng già, những cây cổ thụ ngàn năm tuổi bạc phếch bởi địa y, thấp thoáng bóng những muông thú chạy nhảy, thậm chí có lúc chúng tôi còn gặp cả đoàn trâu yak. Tò mò hỏi anh Leki Dorji, hướng dẫn viên của nhóm, về con vật takin, chúng tôi chỉ được Leki cười bí hiểm: “Ngày mai tới Chimi Lhakhang rồi các anh sẽ biết vì sao có loài thú takin này”.
Chimi Lhakhang là một chorten (tu viện) gắn với tên tuổi một vị “thánh điên” (The Divine Madman) tên là Drukpa Kuenlay (1455-1529) rất được người dân Bhutan yêu mến.
Trên đường từ thành phố Punakha về thị trấn Wangdue yên bình và xinh đẹp, chúng tôi dừng lại ở ngôi làng bên đường chiêm bái tu viện Chimi Lhakhang và thật bất ngờ khi trong tu viện này tràn ngập hình ảnh phồn thực, thậm chí chốt cửa cũng được tạo hình như hình ảnh linga trong tín ngưỡng Champa.
Còn trên những bức tường nhà dân, những hình ảnh đó được tô màu đỏ chói to vật vã choán hết bức tường. Tín ngưỡng nguyên sơ ấy gắn với câu chuyện của vị “thánh điên” Drukpa Kuenlay.
Tương truyền Drukpa Kuenlay đã chinh phục… 5.000 phụ nữ  để thành đạo, chuyển hóa thành sức mạnh để xua đuổi tà ma ác quỷ. Với năng lực thượng thừa đó, vị thánh tăng này được dân tôn thờ và các hình vẽ phồn thực trên những bức tường nhà của cư dân nơi đây không chỉ nhằm trừ tà mà còn thể hiện khát vọng sung mãn may mắn trong cuộc sống và tình ái.
Chimi Lhakhang nay trở thành một điểm hành hương cầu tự cho những phụ nữ hiếm muộn. Và cả những người đàn ông mong muốn được chút sức lực như Drukpa Kuenlay cũng đến đây nguyện ước bằng cách chạm vào hai ngẫu tượng được thờ ở đây.
Phải đến lúc đó, anh chàng hướng dẫn viên Leki Dorji mới kể cho chúng tôi biết rằng con vật takin huyền thoại đầu dê mình bò đã được chính vị thánh Drukpa Kuenlay tạo ra tại đây.
Khi những người dân muốn Drukpa Kuenlay chứng tỏ mình có phép lạ, ông đã sai dân chúng mang đến một con dê và một con bò, rồi ăn thịt hết hai con vật. Sau khi ăn ngấu nghiến cả dê và bò, ngài đã để đầu của con dê lên bộ xương của con bò và chỉ với một cái búng tay, Drukpa Kuenlay đã hóa phép biến hai bộ xương thành một con thú kỳ lạ đầu dê mình bò chạy mất hút vào núi xa.
Rõ ràng đó chỉ là một huyền thoại, tuy nhiên cũng như ở đất nước chúng ta, loài dê được gắn cho một sứ mệnh về sinh lực đàn ông và gieo rắc nòi giống, loài takin ở Bhutan với đầu dê mình bò cũng gắn với một vị thánh có huyền thoại chinh phục 5.000 phụ nữ như Drukpa Kuenlay.
Rời tu viện Chimi Lhakhang, chúng tôi vẫn chưa hình dung sẽ chạm mặt takin ở vườn thú Motithang như thế nào.
Và không để chúng tôi quá tò mò, hôm sau, sau khi từ Punakha về lại thủ đô Thimphu, sau bữa trưa Leki dẫn chúng tôi đi vào vườn thú, nơi đang bảo tồn loài thú takin đặc hữu.
Chỉ mất chưa đến nửa giờ để đi ôtô từ trung tâm thủ đô, chúng tôi đã men theo con đường nhỏ và sạch len lỏi giữa cánh rừng thông để đến khu bảo tồn takin.
Ngay lối vào vườn thú đã thấy những tấm panô bằng gỗ được dựng lên, trên đó câu chuyện nguồn gốc rất huyền thoại của loài takin được tạo ra bởi Drukpa Kuenlay được kể lại rất rõ với hình minh họa vị thánh tăng Drukpa Kuenlay này đang hóa phép thần thông tạo ra loài takin.
Trên nhiều tấm panô khác, ghi rất rõ ràng ngày 25-11-1985, quốc vương Bhutan đã ban bố quyết định công nhận takin là “quốc thú” của đất nước này  “Takin-Bhutan’s National Animal”.
Trên những ngọn đồi rộng và thoáng được quây kín bằng lưới sắt, từ xa chỉ thấy bóng những con thú đang nô đùa chạy nhảy quanh những gốc cây, tảng đá, bờ suối.
Phải đợi khá lâu bên ô cửa sắt với một nhành lá để dụ dỗ, một chú takin lững thững bước đến. Quả là quá ấn tượng với những con takin đang được bảo tồn tại đây. Với cái đầu như một con dê và cặp sừng dũng mãnh, nhưng phần thân của takin lại y hệt một con bò tót.
Mặc dù có một thân hình kỳ lạ như thế nhưng takin lại không có được sự dũng mãnh của một chú bò tót hay sự nhanh nhẹn của những con sơn dương, ngược lại chúng quá hiền hòa. Và mặc dù chúng rất được người dân Bhutan chăm sóc bảo vệ nhưng trong cuộc cạnh tranh sinh tồn, takin bị các loài báo tuyết và gấu đen Himalaya đe dọa.
Nhất là mỗi khi vào mùa sinh sản, chúng thường bị loài gấu đen Himalaya bám đuổi. Loài gấu đen này sẽ bám theo một con takin đang mang thai và khi con takin sinh con xong thì chúng sẽ tấn công xua đuổi takin mẹ để ăn thịt takin con vừa sinh ra. Đó cũng là một lý do mà takin có nguy cơ báo động tuyệt chủng.
Không chỉ bị loài gấu đen Himalaya đe dọa, nguồn thức ăn của takin cũng bị cạnh tranh bởi những chú bò Tây Tạng. Takin cũng rất “chảnh” với môi trường sống, khi những cơn gió mùa hạ tràn qua các thung lũng oi nóng khiến các côn trùng như ruồi, muỗi, vắt... có thể tấn công chúng, takin lại di cư lên những triền núi có độ cao 3.000m để tránh nóng và các loài côn trùng gây hại. Khi mùa đông đến, takin bắt đầu “hạ sơn”, côn trùng gây hại sẽ không sống nổi trong mùa đông giá rét và những con takin có thể ung dung gặm thảo mộc vừa nhú lên sau lớp băng tuyết.
Trong dáng vẻ khỏe mạnh của loài thú takin, hình như có cả một triết lý sống. Và dĩ nhiên, không như loài tê giác đang bị săn đuổi bởi ảo tưởng “thần dược” có được từ cơ thể của chúng, với loài  takin, chúng đã may mắn không “được” con người ví như một thần dược (trừ phi sừng của takin được cho là có thể giúp những phụ nữ gặp khó khăn khi sinh nở).
Cùng với chính sách bảo vệ môi trường sinh thái của Bhutan vô cùng nghiêm ngặt, takin - loài thú nửa dê nửa bò trên triền Himalaya - được chọn làm “quốc thú” bởi không chỉ vì chúng gắn kết giữa huyền thoại và tôn giáo, về nguồn gốc thiêng liêng và độc đáo hay sự quý hiếm trước nguy cơ tuyệt diệt của nó.
Trong vẻ đẹp nhuốm màu huyền thoại về nguồn gốc sinh thành từ bậc thánh tăng Drukpa Kuenlay, takin chọn cho mình những cánh rừng bên triền dãy Himalaya, tránh hết những loài côn trùng ẩm thấp trong những thung lũng khi mùa hạ đến, cuộc đời của loài thú takin mang vác một cốt cách sinh tồn như những cư dân của xứ sở này, biết chọn cho mình niềm vui sống thênh thang giữa những non cao… (Pháp Luật TPHCM 19/2) đầu trang(
Cán bộ bảo vệ động vật hoang dã Thái Lan cho biết họ không tìm thấy sự ngược đãi của hơn 100 con hổ đang sống tại một ngôi chùa Phật giáo vốn là một điểm thu hút du lịch nổi tiếng, mặc dù vậy nhà chùa đã vi phạm hành vi nuôi giữ chim quý hiếm.
Khoảng 50 cán bộ thuộc cơ quan bảo vệ động vật hoang dã và văn phòng công tác tôn giáo địa phương, cùng với các binh sĩ, đã kiểm tra trong 3 giờ vào hôm 12-2 tại khuôn viên chùa Luangtamahabua ở tỉnh Kanchanaburi.
Nơi nhiều người quen gọi là "chùa Hổ", nổi tiếng với các "chú mèo lớn" được thuần dưỡng sống cùng với các nhà sư, đã bị cáo buộc tiêm thuốc mê cho các sinh vật để giữ cho chúng được thuần hóa.
Các nhà sư và các bác sĩ thú y chăm sóc đã phủ nhận cáo buộc trên.(Giác Ngộ 20/2) đầu trang(
Biên tập: Hương Giang