Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 24 tháng 02 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Kế hoạch hành động (KHHĐ) đa dạng sinh học (ĐDSH) năm 1995 được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 845-TTg ngày 22/12/1995 được xem là một chính sách nền tảng đầu tiên của Việt Nam trong nỗ lực bảo tồn thiên nhiên (BTTN) và tài nguyên ĐDSH, nhất là sau khi trở thành quốc gia thành viên Công ước ĐDSH năm 1994.
Kể từ đó đến nay, trải qua 20 năm thực hiện và phát triển, sự nghiệp bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam đã đạt được một số thành quả quan trọng. Tuy nhiên, tài nguyên ĐDSH và nỗ lực bảo tồn của Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức bởi xu hướng suy giảm, suy thoái trước áp lực của gia tăng dân số, đánh đổi cho ưu tiên phát triển kinh tế và cải thiện tình trạng nghèo đói của dân cư khu vực nông thôn, miền núi.
Bài viết này tóm tắt một số thành tựu và thách thức chính của công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam, đồng thời đưa ra một số kiến nghị cho việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược về bảo tồn ĐDSH trong giai đoạn mới. Sau đây là một số thành tựu chính của bảo tồn ĐDSH.
Phát triển hệ thống khung luật pháp và chính sách quốc gia về bảo tồn ĐDSH
KHHĐ ĐDSH năm 1995 do Chính phủ ban hành đã xác lập các dự án hành động cần đầu tư thực hiện trong giai đoạn 1996-2000. Đến năm 2007, để phù hợp với mục tiêu và bối cảnh phát triển kinh tế-xã hội trong xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Chính phủ đã phê duyệt KHHĐ quốc gia ĐDSH đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 nhằm thực hiện Công ước ĐDSH và Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học. Tiếp đó, với tầm nhìn mới về ĐDSH là nền tảng của nền kinh tế xanh, bảo tồn ĐDSH là giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đã được Chính phủ ban hành vào năm 2013.
Một trong những thành tựu quan trọng nhất chính là Luật ĐDSH đã được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2008 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2009. Đây là khung luật đầu tiên của Việt Nam quy định về bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH với cách tiếp cận ĐDSH là một đối tượng tổng thể thống nhất (các hệ sinh thái, loài và nguồn gen). Luật ĐDSH được đánh giá là rất tiến bộ, có tầm nhìn, hệ thống và tiếp cận đầy đủ các cam kết và chuẩn mực quốc tế về bảo tồn ĐDSH.
Bên cạnh đó, các khung luật khác điều chỉnh công tác bảo vệ, bảo tồn và phát triển các thành phần ĐDSH cũng được hoàn thiện như Luật BV-PTR (2004), Luật Thủy sản (2003), Luật Tài nguyên nước (2012). Luật BVMT sửa đổi (2013) tiếp tục được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện so với Luật ban hành năm 1995, 2005 đã cung cấp các chế tài hỗ trợ cho công tác bảo vệ ĐDSH, nhất là về đánh giá tác động môi trường. Các quy định của Bộ Luật Hình sự sửa đổi (2009) cũng đã có một số quy định xử lý vi phạm hình sự liên quan đến ĐDSH.
Hệ thống văn bản dưới luật liên quan đến bảo tồn và phát triển ĐDSH cũng đã được nhà nước xây dựng và ban hành khá đầy đủ. Chỉ tính riêng từ năm 2009 khi Luật ĐDSH có hiệu lực, đã có 08 Nghị định, 09 Quyết định và 12 Thông tư được ban hành, thể chế hóa các chiến lược, quy hoạch, cơ chế về bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH Việt Nam.
Ví dụ: Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Chiến lược quản lý hệ thống rừng đặc dụng (RĐD), Khu bảo tồn (KBT) biển, KBT vùng nước nội địa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Quy hoạch hệ thống KBT biển Việt Nam; hay Quy hoạch hệ thống RĐD cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
Hệ thống các khu BTTN tiếp tục được quy hoạch, thành lập, nâng cấp và mở rộng
Việt Nam đã quy hoạch và thành lập được 164 KBT RĐD, trong đó có 30 VQG, 58 khu dự trữ thiên nhiên, 11 KBT loài và sinh cảnh, 45 khu bảo vệ cảnh quan và 20 khu rừng thực nghiệm nghiên cứu khoa học với tổng diện tích gần 2,2 triệu ha. Dự kiến đến năm 2020 hệ thống này sẽ mở rộng đến 2,4 triệu ha với 176 khu (34 VQG, 58 KBT thiên nhiên, 14 KBT loài và sinh cảnh, 61 khu bảo vệ cảnh quan và 09 khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm. Với các hệ sinh thái khác, nhà nước cũng đã quy hoạch 16 KBT biển và 45 KBT vùng nước nội địa. Ngoài ra, trong hệ thống cũng đã có 09 khu dự trữ sinh quyển thế giới, 02 khu di sản thiên nhiên, 04 khu di sản ASEAN và 06 khu đất ngập nước Ramsar được quốc tế công nhận.
Bên cạnh đó, các hình thức bảo tồn chuyển chỗ về ĐDSH cũng được phát triển trong cả nước mang lại hiệu quả cao về bảo tồn nguồn gen thực vật, động vật quý, hiếm, góp phần xóa đói giảm nghèo ở một số địa phương. Đó là những thành tựu lớn, cho thấy sự thay đổi nhận thức về cân bằng giữa BTTN và phát triển kinh tế, mà quan trọng hơn đó chính là sự nỗ lực, quan tâm, cam kết và hành động của nhà nước vì các lợi ích chung của xã hội, trước mắt và lâu dài.
Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về ĐDSH được củng cố và tăng cường
Luật pháp Việt Nam quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ĐDSH và giao trách nhiệm cho Bộ TN-MT chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước này. Bộ NN-PTNT và các bộ, cơ quan ngang bộ khác cũng được Chính phủ phân công thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo lĩnh vực ngành dọc do mình phụ trách, trong khi UBND các cấp được phân cấp quản lý ĐDSH trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn theo địa bàn.
Nhìn chung, bộ máy quản lý nhà nước về ĐDSH ở cấp trung ương khá đầy đủ, rộng và toàn diện, trong đó Bộ TN-MT và Bộ NN-PTNT là những đầu mối quản lý chính thông qua Tổng cục Môi trường, Tổng cục Lâm nghiệp và Tổng cục Thủy sản. Với hệ thống thuộc ngành TN-MT, Cục Bảo tồn ĐDSH là cơ quan quản lý đầu mối ở cấp trung ương và đã có cơ cấu chức năng đến cấp tỉnh trực thuộc Sở TN-MT.
Trong khi đó, ngành lâm nghiệp và thủy sản đã có bộ máy quản lý nhà nước về tài nguyên rừng, thủy sản khá đầy đủ từ trung ương đến tỉnh, huyện và cả xã (đối với lâm nghiệp), nhất là lực lượng kiểm lâm, kiểm ngư và ban quản lý các KBT. Hệ thống này đã cho phép nhà nước tổ chức triển khai các chính sách và luật pháp về bảo tồn ĐDSH từ trung ương đến địa phương, là động lực góp phần vào các thành tựu bảo tồn ĐDSH Việt Nam.
Nâng cao nhận thức xã hội và sự tham gia của các bên liên quan vào bảo tồn ĐDSH
Hệ thống tổ chức quản lý và luật pháp được củng cố, phát triển cho thấy nhận thức, mối quan tâm và sự đồng thuận của nhà nước cũng như toàn xã hội về bảo tồn, phát triển ĐDSH ở Việt Nam ngày càng nâng cao. Không chỉ được lồng ghép vào trong hệ thống giáo dục, đào tạo chính thức của nhà nước, nhất là bậc phổ thông và đại học, ĐDSH đã được thông tin và truyền bá qua nhiều kênh, hình thức không chính thức khác như các diễn đàn, hội thảo, tập huấn và giáo dục môi trường.
20 năm qua đã chứng kiến sự tham gia ngày càng mạnh mẽ của báo chí vào công tác quản lý bảo tồn ĐDSH, thu hút sự quan tâm của người dân đối với việc bảo vệ các loài ĐVHD nguy cấp, quy hiếm, phản biện các dự án phát triển có ảnh hưởng đến các VQG/KBT hay các dòng sông. Quan trọng hơn, sự kết nối giữa cơ quan lập pháp (Quốc hội), cơ quan hành pháp (quản lý nhà nước) và nhân dân trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật về bảo tồn ĐDSH đã được thể hiện.
Một thành tựu quan trọng khác của công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam trong 20 năm qua chính là huy động được nguồn lực tài chính, kỹ thuật và sự tham gia tích cực của các tổ chức đa phương, tổ chức phi chính phủ quốc tế và trong nước. UNDP, WB, JICA, UNEP, GIZ, IUCN, WWF, FFI, WCS, Birdlife International, TRAFFIC là những tổ chức đã có những đóng góp đáng kể cho quá trình xây dựng chính sách, pháp luật về bảo tồn ĐDSH, cũng như hỗ trợ thiết lập và quản lý nhiều VQG/KBT có giá trị ĐDSH toàn cầu. Thông qua các dự án hỗ trợ, nhiều loài động, thực vật mới có giá trị cho khoa học đã được phát hiện, phát hiện lại và được đầu tư bảo tồn như Sao la, Mang lớn, một số loài linh trưởng, Chim trĩ…
Bên cạnh đó, sự hình thành các tổ chức xã hội trong nước như VACNE, ENV, PanNature, MCD, GreenVIET, Wildlife At Risk… cũng đã gia tăng nỗ lực đóng góp cho bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam từ cả hiện trường đến diễn đàn chính sách của quốc gia, quốc tế. Xu hướng các doanh nghiệp và tổ chức cộng đồng tham gia TBTN cũng đang được hình thành, hứa hẹn tạo nhiều nguồn lực cho bảo vệ các giá trị và di sản ĐDSH của Việt Nam.
Đã có nhiều nghiên cứu, đánh giá và bàn luận về bất cập và thách thức của công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam. Chiến lược quốc gia về ĐDSH của Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 cũng đã đề ra các nhiệm vụ và hành động chiến lược để giải quyết các thách thức và bất cập đó. Từ góc độ khoa học, tác giả bài viết xin nhấn mạnh một số vấn đề cần tiếp tục được quan tâm như sau:
Sự phân tán, chồng chéo và thiếu tập trung của hệ thống cơ cấu tổ chức quản lý nhà nước về ĐDSH được xem là bất cập lớn, có thể gây ra những hệ lụy không đáng có trong công tác quản lý bảo tồn ĐDSH hiện nay.
Các nhà hoạch định chính sách phát triển chưa thực sự quan tâm, chưa coi trọng giá trị đích thực của các dịch vụ hệ sinh thái và vật liệu di truyền từ nguồn vốn tự nhiên. Sự hiểu biết sâu sắc và đánh giá đúng giá trị của ĐDSH trong nền kinh tế xanh phải là nguyên tắc cơ bản của những cân nhắc và ra quyết định cho các chính sách đầu tư bảo tồn ĐDSH.
Thiếu thông tin, dữ liệu và hiểu biết đầy đủ, cập nhật về hiện trạng ĐDSH cũng như dịch vụ hệ sinh thái (HST) để lượng giá qua kênh kinh tế vĩ mô đưa vào tài khoản quốc gia hoặc địa phương; giá trị đóng góp của tài nguyên ĐDSH cho hệ thống kinh tế quốc gia chưa được tính toán và được đưa vào GDP hay chỉ số kinh tế khác.
Các chính sách hiện hành mới chỉ chú trọng đánh giá sự hao mòn của các tài sản do con người tạo ra, mà chưa công nhận sự hao mòn của hệ sinh thái, của các nguồn gen tự nhiên. Đó là một trong những lý do dẫn đến thất thoát suy giảm HST, sự tuyệt chủng các loài quý hiếm như tê giác hai sừng, tê giác một sừng, bò xám. Công tác bảo tồn nhiều loài động thực vật nguy cấp, quý hiếm khác vẫn chưa được các nhà hoạch định chính sách quan tâm đứng mức.
Tình trạng khai thác, vận chuyển, buôn bán và tiêu thụ trái phép các loại động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm chưa được ngăn chặn, vẫn còn là vấn đề nan giải trong việc chấp hành luật pháp hiện nay.
Cải thiện và tăng cường hiệu quả bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH ở Việt Nam chỉ có thể được thực hiện khi có các cam kết mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương bên cạnh các đầu tư và hành động can thiệp có tính hệ thống, chiến lược và nhất là sự đồng thuận đi kèm với sự tham gia đầy đủ của các bên có trách nhiệm và lợi ích liên quan. Một số khuyến nghị sau đây nên được xem xét nhằm cải thiện hiệu quả của bảo tồn ĐDSH:
Công tác quản lý nhà nước về ĐDSH cần thiết phải quy về một mối nhằm tạo ra sự đổi mới trong xây dựng, điều chỉnh chính sách, luật pháp và thống nhất nguồn lực trong quản lý, bảo tồn ĐDSH trên toàn quốc.
Nhà nước cần có chế tài bắt buộc các nhà đầu tư, các doanh nghiệp kinh doanh có liên quan đến thương mại sinh học chi trả dịch vụ ĐDSH và HST. Cần thiết lập các chỉ tiêu bồi hoàn ĐDSH để khắc phục hậu quả nhằm làm thay đổi tình trạng suy giảm, suy thoái tài nguyên, tránh tình trạng người dân địa phương và nhà nước phải gánh chịu thiệt hại như hiện nay.
Phải đề cao giá trị và củng cố hiệu quả quản lý của hệ thống KBT hiện có, khai thác có hiệu quả và bền vững hệ thống này; đảm bảo chia sẻ lợi ích công bằng để góp phần cải thiện sinh kế và tình trạng nghèo đói của các cộng đồng nông thôn, miền núi, hải đảo có đời sống đang phụ thuộc vào các giá trị hữu hình, vô hình của hệ thống này.
Tăng cường năng lực nghiên cứu lượng giá về kinh tế – môi trường của các HST và ĐDSH, bao gồm cả kho tàng tri thức bản địa của các dân tộc mọi miền đất nước, làm cơ sở cho các chính sách phù hợp trong bảo tồn và phát triển.
Đầu tư thích đáng, bảo đảm ngân sách cho việc thực thi chiến lược bảo tồn ĐDSH Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 mà Chính phủ đã phê duyệt. Xem đầu tư cho sự nghiệp bảo tồn ĐDSH là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước.
Bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH là quyền lợi cũng là nghĩa vụ của mọi người trong xã hội, vì vậy việc đưa ra chính sách phải đảm bảo tính thuyết phục để các tổ chức chính trị, dân sự tham gia bảo tồn ĐDSH với tinh thần trách nhiệm cao. Các chính sách phải đủ mạnh để xã hội hóa nguồn lực góp phần thực thi trong các hành động chiến lược bảo tồn ĐDSH của đất nước. (Thiên Nhiên 19/2) đầu trang(
22-2, Cục Kiểm lâm (Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT) tiếp tục cảnh báo nguy cơ cháy rừng đang gia tăng tại nhiều địa phương.
Cụ thể, 9 địa phương đang có nguy cơ cháy rừng cấp 5-cấp cực kỳ nguy hiểm, gồm: An Giang, Bình Phước, Bình Thuận, Đắc Lắc, Đồng Nai, Đắc Nông, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng và 8 địa phương có nguy cơ cháy rừng cấp 4-cấp nguy hiểm, gồm: Bà Rịa-Vũng Tàu, Cà Mau, Đồng Tháp, Khánh Hòa, Long An, Ninh Thuận, Sơn La, Tây Ninh.
Theo  đánh giá của Cục Kiểm lâm, trong trường hợp xảy ra cháy rừng thì hầu hết các kiểu rừng đều dễ bắt lửa với tốc độ lan tràn rất nhanh, gây thiệt hại lớn cho rừng. Vì vậy, Ban chỉ đạo Nhà nước về Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 yêu cầu Ban chỉ đạo thực hiện Kế hoạch Bảo vệ và phát triển rừng, UBND các cấp và chủ rừng thuộc các địa phương trên, cần thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng theo quy định. (Quân Đội Nhân Dân 23/2) đầu trang(
Vườn quốc gia Kon Ka Kinh (Gia Lai) có trên dưới 200 cá thể voọc chà vá chân xám quần tụ sinh sống. Chúng đang đối mặt với cuộc chiến sinh tồn khắc nghiệt: rừng bị thu hẹp, sự đe doạ từ các loài động vật ăn thịt và nạn săn bắn đang diễn ra. Ở đó, có một thạc sĩ trẻ tuổi "bỏ" gia đình, ăn ngủ ở rừng để nghiên cứu, bảo tồn loại động vật đặc hữu này.
Sáng sớm, có mặt ở Phân khu hành chính Vườn quốc gia (VQG) Kon Ka Kinh, anh Nguyên Ái Tâm cùng các thành viên Kiểm lâm, Trung tâm cứu hộ động vật đã sẵn sàng ba lô, võng, thức ăn, mắm muối... đợi tôi vào rừng.
Anh Tâm sinh 1982, thạc sĩ nghiên cứu, bảo tồn thú linh trưởng thuộc Hội động vật Frankfurt (CHLB Đức) - tổ chức Phi chính phủ chuyên nghiên cứu, bảo tồn thú linh trưởng, trong đó có loài voọc chà vá chân xám. Khắp các cánh rừng Việt Nam in dấu chân của anh, hôm nay ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), tuần sau thì anh đã vào VQG Chư Mom Ray (Kon Tum), lần khác điện thoại thì anh trả lời đang ở VQG Bù Gia Mập (Bình Phước).
Cùng đi với thạc sĩ Tâm và tôi, có anh Lê Thanh Tân (cán bộ Trung tâm Cứu hộ - Bảo tồn và Phát triển sinh vật); Trương Đức Trường (cán bộ Trung tâm Giáo dục, Môi trường và Dịch vụ môi trường rừng) và Lê Văn Ngân (cán bộ Trạm kiểm lâm số 1). Tất cả là cán bộ trực thuộc VQG Kon Ka Kinh. Mỗi tháng, đoàn ở trong rừng 7 ngày để nghiên cứu voọc, kết hợp tuần tra, kiểm tra bảo vệ rừng, tháo gỡ các loại bẫy cũng như bắt giữ các đối tượng xâm phạm rừng. Để vào khu vực lán trại nơi đoàn trú ngụ, chúng tôi phải đi bộ hàng chục cây số.
Dọc đường, anh Tâm kể về cuộc sống, tập tính của loài voọc chà vá chân xám. Chúng là loài đặc hữu của Việt Nam, chỉ phân bố ở 5 tỉnh miền Trung - Tây Nguyên gồm Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum, Gia Lai và Bình Định. Loài này phân bố hẹp, số lượng ít và chỉ có ở Việt Nam. Chúng nằm trong số 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất của thế giới cần bảo vệ, anh Tâm nói.
Đêm. Cái lạnh của sương núi giữa rừng Kon Ka Kinh thấm vào từng thớ thịt, các thành viên cứ lăn qua lăn lại trên võng. Sáng, mặt trời bắt đầu những tia nắng xuyên đỉnh núi, chúng tôi luồn rừng ngay. Theo anh Tâm, tại rừng Kon Ka Kinh, hiện chưa thể thống kê có bao nhiêu đàn, cá thể voọc chà vá chân xám, mà chỉ ước lượng khoảng trên 200 cá thể.
Anh cho hay, khu vực đỉnh Đá Trắng, thác Hà Ngoi, thác Ba Tầng là nơi trú ngụ của gần 100 cá thể, đến những nơi này, thường dễ phát hiện và thấy chúng nhất. Dọc đường đi, thi thoảng anh Tâm nhặt những chiếc lá non bị voọc ăn dở. Mùi nước đái của chúng đọng trên lá rất khai. Nhìn vào đó, anh biết được chúng vừa di chuyển cách đó bao lâu, sẽ đi hướng nào. Chúng thường ăn lá non, lá già, quả xanh và một ít quả chín... với hơn 200 loài thực vật khác nhau.
Voọc sống bầy đàn, mỗi đàn ít nhất từ 3 - 5 con, nhiều lên đến 100 cá thể với tiếng kêu đặc trưng cộc, cộc, cộc ba lần liên tục. Trong vòng đời 20 năm mỗi con voọc cái chỉ sinh được 2 cá thể. Phải mất 3 - 4 năm, chúng mới trưởng thành, nặng từ 12 - 15kg.
Lên đến đỉnh Đá Trắng, chúng tôi vẫn không thấy bóng dáng voọc đâu cả. Nghỉ chốc lát, đoàn loại vượt dốc Dờ Mút. Dọc đường đi, thi thoảng chúng tôi gặp những thân cây gắn các số thứ tự, theo anh Tâm đó là những cây phát hiện voọc ở trên đó, và ở VQG Kon Ka Kinh đã có hơn 400 cây có số như thế. Qua dốc Dờ Mút, voọc vẫn bặt vô âm tín. Xế chiều, đến đỉnh thác Hà Ngoi, chân chúng tôi khuỵu xuống, thở không ra hơi, mồ hôi ướt đẫm áo. Tựa lưng vào vách núi, anh Tâm lia ống nhòm Bush nell quan sát, ra hiệu tất cả im lặng.
Hơn 20 phút, bỗng anh hét lớn: Một con, hai con, ba con đang lắt lẻo trên cành cao. Anh Tân chồm người lấy chiếc ống nhòm, vỗ đùi: Hơn 6 tháng, giờ mình mới thấy chúng. Từ khoảng cách 700m, chiếc máy ảnh của anh Tâm giơ cao bấm tách tách không nghỉ. Đàn voọc chúng tôi thấy có tám con. Chúng đang chuyền cành ăn lá non ở khu vực sát vách núi. Độ cao nơi này so với mực nước biển là 1.411m. Chúng tôi ở đó thêm 1 tiếng đồng hồ để anh Tâm ghi chép, chụp hình...
Cơ duyên đến với loài voọc này đối với anh Tâm như số phận sắp đặt. Năm 2007, đang là sinh viên năm cuối Khoa Sinh - Môi Trường (Trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng), anh được tham gia lớp tập huấn về Bảo tồn thú linh trưởng do Đại học Sư Phạm Đà Nẵng kết hợp với Hội động vật Frankfurt tổ chức. Hai tháng sau, anh được Frankfurt nhận vào làm việc với nhiệm vụ nghiên cứu sinh thái, tập tính và bảo tồn loài Voọc chà vá chân xám, chân đen, chân nâu, mông trắng, vượn má hung... cùng các loài linh trưởng khác.
Tháng 1.2011, anh Tâm tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Sinh thái học (Đại học Đà Nẵng) để trang bị kiến thức sâu hơn cho quá trình nghiên cứu. Năm 2012, công trình "Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học của Voọc chà vá chân đen tại bán đảo Hòn Hèo, huyện Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà" được nhận học bổng Giáo sư Võ Quý đã tiếp thêm nghị lực cho anh.
Một cán bộ trong đoàn rỉ tai tôi nói, từ năm 2007 đến nay, Hội động vật Frankfurt tổ chức 8 khoá tập huấn với gần 160 sinh viên về công tác bảo tồn các loài linh trưởng ở Việt Nam. Thế nhưng, công việc "ở rừng" đã khiến các bạn trẻ... từ bỏ niềm đam mê và đàn voọc chà vá quý hiếm này. Chỉ có sót lại mỗi thạc sĩ Tâm là người dành hết tuổi trẻ, trí tuệ của mình cho đàn voọc. Vợ và con trai gần 1 tuổi đang ở Đà Nẵng, còn anh thì suốt ngày đi hết cánh rừng này, đến cánh rừng khác. Anh nói, nhiều lúc nhớ nhà nhớ vợ con lắm... nhưng vì đàn voọc đang giảm dần số lượng, tụi nó đang cần mình.
Hơn 7 năm làm công tác bảo tồn voọc chà vá châm xá ở VQG Kon Ka Kinh, anh không thể khẳng định số lượng loài này tăng hay giảm. Chỉ thấy số lượng cá thể trong đàn giảm theo thời gian và việc phát hiện chúng ngày càng không thường xuyên hơn trước. Nạn săn bắn, bẫy thú ở Kon Ka Kinh được ngăn chặn khá hiệu quả bởi 8 đội kiểm lâm nhưng thi thoảng, mình vẫn bắt gặp những người lén lút vào rừng đặt bẫy để nấu cao, thuộc da, nhồi bồng, làm thức ăn đặc sản..., anh nói. (Lao Động 20/2) đầu trang(
Tại huyện Sa Pa đã xuất hiện gió núi Ô Quý Hồ thổi khá mạnh. Đây là một loại gió từ đèo Ô Quý Hồ tràn xuống thị trấn Sa Pa và các xã lân cận nên người dân địa phương gọi là gió Ô Quý Hồ.
Mỗi khi gió Ô Quý Hồ xuất hiện sẽ khiến nguy cơ cháy nổ, cháy rừng tăng cao. Dự báo, gió Ô Quý Hồ ở Sa Pa còn duy trì, khả năng kéo dài đến hết tháng 2-2015. Độ ẩm giảm thấp hơn, Sa Pa hanh khô suốt cả ngày đêm, báo động cháy rừng theo đó cũng tăng theo.
Hiện các cấp chính quyền, hạt kiểm lâm và người dân Sa Pa đang tăng số lần tuần tra, quan sát cháy trong ngày, nhất là khu vực rừng Quốc gia Hoàng Liên. (An Ninh Thủ Đô + Công An Nhân Dân 24/2; HN Mới 23/2) đầu trang(
23/2, Công an huyện Chư Pưh, Gia Lai đang tiến hành điều tra làm rõ vụ « lâm tặc » tấn công người thi hành công vụ xảy ra ngày 22/2 tại khu vực giáp ranh Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Phú Nhơn thuộc xã Ia Blứ, huyện Chư Pưh, Gia Lai.
Thông tin ban đầu cho biết, trong lúc tuần tra bảo vệ rừng tại khu vực giáp ranh Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Phú Nhơn, thuộc xã Ia Blứ, huyện Chư Pưh, hai kiểm lâm viên Đinh Thanh Phương và Hồ Đắc Trường Sơn tiến hành chặn xe công nông chở trên 2 m² gỗ dầu trái phép từ rừng ra.


Lúc này một nhóm đối tượng đã dùng dao, rựa, đá... chống trả làm hai kiểm lâm viên bị thương và lấy xe máy BKS: 81F5-6561 của hai kiểm lâm viên rồi bỏ trốn. (Công An Nhân Dân 23/2) đầu trang(
Vườn quốc gia Vồ Dơi bắt đầu hạn chế khách tham quan ra vào vì mùa khô đến. Trên 70 người từ lãnh đạo đến nhân viên chia nhau bám rừng, vừa ăn Tết vừa canh lửa.
28 Tết Nguyên đán Ất Mùi, hơn 30 cán bộ, nhân viên Vườn quốc gia Vồ Dơi ở Cà Mau xuyên rừng tuần tra. Quá giờ cơm chiều, Đội trưởng kiểm lâm cơ động số 1 - anh Ngô Văn Kháng mới cùng một đồng đội quay về chốt gần đường ống dẫn khí PM3 Cà Mau sau một ngày mệt nhoài.
Vất vã là vậy nhưng "cảnh sát rừng" này vẫn vui vì được ngày đêm bảo vệ lá phổi xanh của U Minh hạ. Càng vui hơn khi vài phút sau anh Nguyễn Văn Liêm, Phó Hạt kiểm lâm Vồ Dơi khệ nệ ôm quà đến tặng gồm bánh mứt, nước ngọt với 2 đòn bánh tét để anh em đón Tết trong rừng.
"Ngoài phần quà trị giá 300.000 đồng, 14 trạm, tổ và chốt canh rừng cùng nhận được 300.000 đồng tiền mặt để anh em mua thêm thịt, trứng. Cá trong rừng anh em được phép giăng lưới, cắm câu để cải thiện bữa ăn hàng ngày. Riêng bánh Tét, đơn vị được bà con vùng đệm và hội phụ nữ địa phương hỗ trợ", anh Liêm cho biết.
Theo anh Liêm, cả đơn vị có trên 70 người được chia thành 2 ca trực. Anh với 31 đồng nghiệp bám rừng từ 27 Tết đến mùng 2. Từ mùng 3-6, 32 người còn lại vào rừng thay đồng đội trực xong ca đầu. "Tôi có đến 16 năm ăn Tết liên tục trong rừng. Năm nay cha mẹ lớn tuổi nên lần đầu tiên trực ngắn ngày để dành ít thời gian về Sài Gòn thăm ông bà cụ trong dịp Tết trước khi bước vào mùa khô cao điểm", anh Liêm chia sẻ.
Đối với anh Kháng, 23 năm qua Tết nào cũng bám rừng nhiều ngày. Riêng năm 2010, anh với toàn bộ lực lượng biên chế và hợp đồng cùng hàng chục người dân vùng đệm canh lửa 24/24 trong những ngày Tết. "Năm ấy cao điểm mùa khô rơi ngay Tết, rừng đóng cửa không cho khách vào tham quan vì sợ cháy. Không chỉ luồn rừng tuần tra, anh em chia nhau trực trên chòi canh giữa trời trưa nắng gắt để quan sát cả cánh rừng bạc ngàn", anh Kháng kể.
Những năm Tết không trùng với cao điểm mùa khô như lúc này, những ngày trực đơn vị tạo điều kiện cho vợ, con người giữ rừng vào chốt ăn cơm với chồng, cha vào ban ngày. Cuối giờ chiều họ phải quay ra giống như khách du lịch, ban đêm Vườn quốc gia Vồ Dơi cấm người lạ bước vào. Để không khí Tết tràn ngập các chốt, trạm canh lửa, trước hiên được bố trí bàn thờ Tổ quốc với ảnh Bác Hồ trang trọng. Trên bàn thờ được chưng dưa hấu, thắp hương mỗi ngày.
"Có chồng, cha làm công tác giữ rừng thì vợ, con phải biết hi sinh, để chồng an tâm đóng chốt, luồn rừng. Hôm qua mới bắt được một thanh niên vào rừng bắt cá, tìm mật ong. Nếu không kịp thời phát hiện, nguy cơ hỏa hoạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào", một cán bộ rừng Vồ Dơi nói. Hiện nay toàn tuyến lộ nhựa, lộ đất phục vụ cho việc tuần tra bằng xe máy dài hơn 70 km. Trong các tuyến kênh luôn có vỏ lãi gắn máy nổ để kiểm lâm cơ động xuyên rừng dễ dàng.
Theo Phó Hạt kiểm lâm Vồ Dơi, hiện độ ẩm dưới chân rừng còn cao, dây choại chưa khô lá nên khách tham quan được vào rừng đến khu vực tháp canh đầu tiên, cách cổng rừng khoảng 2 km. Dự kiến hết tháng 2, đầu tháng 3 khách du lịch tiếp tục bị hạn chế vào rừng rồi cấm hẳn cho đến mùa mưa. (Zing 18/2) đầu trang(
Đối với người dân quanh khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh (huyện Đà Bắc, Hòa Bình), rừng là nguồn lợi rất quan trọng, gắn bó máu thịt trong cuộc sống, sinh hoạt hằng ngày. Vì vậy, chính quyền, cơ quan chức năng và người dân nơi đây đang tích cực triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên quý giá này.
Khu bảo tồn Phu Canh có diện tích tự nhiên hơn 5.300 ha, nằm trên địa bàn bốn xã Đoàn Kết, Tân Pheo, Đồng Chum và Đồng Ruộng của huyện Đà Bắc, gồm 28 thôn bản, hơn 2.600 hộ dân, chủ yếu là người Tày sinh sống. Nơi đây có tính đa dạng sinh học quan trọng nhờ có hệ sinh thái và thảm thực vật rừng kín lá rộng xanh nhiệt đới và á nhiệt đới núi thấp, đặc trưng cho khu vực Tây Bắc Việt Nam.
Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh hiện vẫn là nơi sinh sống của hơn 100 loài động, thực vật quý hiếm. Tại đây, đã phát hiện có 52 loài thực vật đang bị đe dọa, trong đó có 44 loài được ghi vào Sách đỏ Việt Nam năm 2007; 27 loài thú (có bảy loài nằm trong Sách đỏ của Liên minh quốc tế Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên - IUCN); 85 loài chim (có bốn loài trong sách đỏ), 21 loài bò sát (tám loài trong sách đỏ), 22 loài ếch nhái,...
Trưởng Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh Đào Hữu Lợi vẫn chưa quên những ngày mới chuyển về nhận công tác tại Khu bảo tồn Phu Canh. Vào thời điểm giữa năm 2011, rừng Phu Canh đã bị "lâm tặc" xâm hại nghiêm trọng với 18 cây gỗ phay (có đường kính từ hai mét trở lên) thuộc khu vực Bưa Phay (xã Đoàn Kết) bị đốn hạ, khối lượng hơn 170 m 3 gỗ,..
Dạo ấy, tiếng cưa máy rền vang cả khu rừng trước sự bất lực của lực lượng kiểm lâm. Do địa hình đồi núi hiểm trở, lâm tặc chia thành từng nhóm nhỏ, cử người canh gác, thậm chí có cả cán bộ xóm tham gia nên lực lượng kiểm lâm rất khó tiếp cận, tuyên truyền, ngăn chặn. Phải mất hơn ba tháng, các lực lượng công an, kiểm lâm huyện Đà Bắc cùng phối hợp mới cơ bản ngăn chặn được nạn phá rừng bừa bãi ở đây.
Phó Chánh án TAND huyện Đà Bắc Vũ Văn Túc chia sẻ: Các bị cáo phần lớn là đồng bào Dao, động cơ phạm tội chủ yếu là để phục vụ gia đình, do đó có nhiều trường hợp là người cùng gia đình tham gia phá rừng. Trong số 63 bị cáo bị xét xử, có tới 58 người ở xóm Thầm Luông, xã Đoàn Kết.
TAND huyện Đà Bắc phải mở tổng cộng chín phiên tòa mới xét xử xong, nhiều trường hợp phạm tội còn chưa biết chữ, nhờ chính sách khoan hồng của Nhà nước, nên 100% số bị cáo được hưởng án treo.
Chủ tịch UBND xã Đoàn Kết (huyện Đà Bắc) Hà Viết Thanh cho biết: Đến nay, đã có 29 trường hợp chấp hành án xong, những trường hợp còn lại đang thụ án tại địa phương. Người dân qua vụ án này cũng đã nâng cao nhận thức, không phá rừng nữa, hằng ngày cần cù với ruộng ngô nương sắn, tăng gia chăn nuôi để cải thiện đời sống.
Phó Trưởng Chi cục Kiểm lâm Lê Minh Thủy tâm sự: Sau sự cố đáng tiếc ấy, 15 cán bộ, nhân viên Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh đã nghiêm túc kiểm điểm trách nhiệm trước ngành và chính quyền địa phương; ngành phối hợp với huyện, các ngành chức năng và chính quyền cơ sở kịp thời đưa ra những giải pháp quản lý rừng tại gốc. Ban quản lý rừng Phu Canh đã phối hợp với bốn xã: Đoàn Kết, Tân Pheo, Đồng Chum và Đồng Ruộng, xây dựng và củng cố 12 tổ đội quần chúng bảo vệ rừng với 49 thành viên. Lãnh đạo đơn vị đã phân công cán bộ kiểm lâm xuống "nằm vùng" tại cơ sở.
Nhiều vụ vi phạm đã được người dân báo cáo cho tổ bảo vệ rừng và lực lượng kiểm lâm đến ngăn chặn. Năm 2014, Ban quản lý kịp thời phát hiện ba vụ vi phạm, phá hủy một số lều lán, tịch thu 7,3 m 3 gỗ sung công quỹ nhà nước.
Để thay đổi nhận thức cũng như ý thức bảo vệ rừng từ phía người dân, Ban quản lý khu bảo tồn đã áp dụng cách thức quản lý bảo vệ rừng mới theo hướng tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương; tranh thủ vai trò, vị trí của người có uy tín trong cộng đồng để tuyên truyền, vận động nhân dân.
Tiêu biểu là tấm gương của ông Xa Văn Thế, người Tày ở xóm Nhạp, xã Đồng Chum. Hằng năm, ông tổ chức họp dòng họ, cho các gia đình ký cam kết về an ninh trật tự, trong đó có nội dung quản lý, bảo vệ rừng. Ngoài ra, ông còn hướng dẫn các xóm, xã đưa nội dung quản lý, bảo vệ rừng vào các quy ước, hương ước. Ông Thế còn là người đi đầu và trực tiếp tham gia việc giám sát quần thể cây nghiến tại xóm Nhạp, đồng thời gieo ươm cây giống và vận động các hộ dân trồng hàng trăm cây nghiến trên địa bàn xóm.
Bên cạnh đó, nguồn vốn từ các dự án và kế hoạch trồng rừng mới hằng năm đã tạo nguồn lực cho nhân dân bốn xã tích cực phát triển sản xuất lâm nghiệp. Trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ sông Đà Đăng Văn Hải cho biết, từ năm 2011-2013, đã giải ngân hơn 1,3 tỷ đồng chi trả dịch vụ môi trường rừng cho người dân có thêm kinh phí để gắn bó với rừng hơn. Năm 2014, người dân đã khoanh nuôi bảo vệ 7.158 ha rừng phòng hộ xung yếu, trồng mới 837 ha rừng.
Theo Chủ tịch UBND xã Đoàn Kết Hà Viết Thanh, năm 2014 người dân tiếp tục đăng ký với ngành chức năng để trồng rừng mới khoảng 200 - 300 ha... Những người trước đây từng bị gọi là "lâm tặc" nay đã tỉnh ngộ và tích cực tham gia bảo vệ rừng. (Nhân Dân 17/2) đầu trang(
15.2, Bệnh viện Quân y 15 (thuộc Binh đoàn 15, Bộ Quốc phòng) đang tích cực điều trị cho hai cán bộ kiểm lâm Võ Anh Tuấn (SN 1983) và Nguyễn Đình Hưng (SN 1992) do bị lâm tặc dùng rựa, gậy... tấn công.
Ông Nguyễn Trường Hải - Trưởng Ban quản lí, bảo vệ rừng Bắc Ia Grai - cho biết: “UBND huyện Ia Grai đã chỉ đạo Công an huyện vào cuộc điều tra vụ việc”.
Anh Tuấn cho biết, lúc 19h ngày 12.2, tại tiểu khu 279 (đóng tại làng Bẹk, xã Ia Bá, huyện Ia Grai), anh và anh Hưng (cùng là nhân viên lực lượng quản lí, bảo vệ rừng thuộc Ban quản lí bảo vệ rựng Bắc Ia Grai), trong lúc tuần tra đã phát hiện 2 đối tượng đang chở gỗ trên xe máy độ chế. Trong lúc đuổi theo, bất ngờ 1 đối tượng quay ngược xe chặn đường, dùng rựa uy hiếp. Anh Tuấn và anh  Hưng dùng bình xịt hơi cay, gậy khống chế. Đối tượng còn lại gọi thêm một đối tượng thứ ba, tay cầm rựa xông vào cùng tấn công hai cán bộ kiểm lâm, rồi tẩu thoát.
Khi anh Tuấn và Hưng vừa quay về trạm gác cửa rừng (đóng tại làng Bẹk), ba đối tượng khi nãy cùng 5 đối tượng khác (7 nam cầm rựa, 1 phụ nữ cầm gậy), đạp cổng, phá cửa kính lao vào tấn công. Các đối tượng ép hai cán bộ kiểm lâm vào một góc, trở sống rựa đánh, chém tới tấp. Trạm chỉ có một cửa nên các đối tượng mặc sức ra tay chém, đánh đấm túi bụi...
Hơn 20 phút sau, 8 đối tượng trên mới chịu bỏ đi. Lúc 21h 40 đêm 12.2, anh Tuấn và anh Hưng mới được đồng đội đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Quân y 15. Qua hai ngày điều trị, hai cán bộ kiểm lâm vẫn đang nằm bất động tại phòng bệnh nặng, khoa Ngoại.
Anh Tuấn cho biết, mình bị gãy xương đòn vai, xương cánh tay trái, rạn sườn trái, gãy xoang mũi, tràn dịch phổi, tụ khí nhãn cầu, chấn động não… cơ thể không thể vận động. Còn anh Hưng bị đánh đến nổi toàn thâm tím tái, tức ngực, khó thở, buồn nôn, đau đầu, nằm bất động.
Anh Tuấn cho biết, anh đã nhận dạng được 5 trong 8 đối tượng truy sát mình. Các đối tượng gồm vợ chồng Danh, Lài (Lài là phụ nữ cầm gậy); Minh, Sơn (anh em sinh đôi), đệ tử của Danh; Cảnh – đệ tử của Danh, người quay đầu xe chặn đường lúc bị anh Tuấn và Hưng đuổi theo trước đó.
“Hiện Công an huyện Ia Grai đã xác định được tất cả các đối tượng”, ông Nguyễn Trường Hải - Trưởng Ban quản lí, bảo vệ rừng Bắc Ia Grai - nói. (Lao Động + Người Lao Động + Tiền Phong 15/2) đầu trang(
Việt Nam được đánh giá là một trong 15 nước có đa dạng sinh học (ÐDSH) cao trên thế giới. Nhưng do tác động của nhiều yếu tố tự nhiên, ô nhiễm môi trường, sinh vật ngoại lai xâm nhập, nhất là tác động của con người qua các hình thức như phá rừng, khai thác quá mức... được coi là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng suy giảm ÐDSH ngày một gia tăng.
Thống kê cho thấy, cả nước hiện có hơn 21 nghìn loài thực vật; gần 16 nghìn loài động vật; 3.000 loài vi sinh vật và nấm tập trung chủ yếu tại một số khu vực có ÐDSH cao, như: Dãy núi Hoàng Liên Sơn, bắc Trường Sơn, Tây Nguyên, vùng Ðông Nam Bộ... Tuy nhiên, Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, đang phải đối mặt tình trạng suy giảm trầm trọng các hệ sinh thái giàu ÐDSH.
Tổng số các loài động vật, thực vật hoang dã trong thiên nhiên của nước ta đang bị đe dọa hiện nay là 882 loài (được ghi trong Sách Ðỏ năm 2007), tăng 161 loài so với lần xuất bản Sách Ðỏ trước đây (năm 1992 - 1996). Ðáng lo ngại, hiện có chín loài động vật (tê giác hai sừng, bò xám, heo vòi, cầy rái cá, cá chép gốc, cá chình Nhật, cá lợ thân thấp, hươu sao, cá sấu hoa cà) và hai loài lan hài được xem là đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên...
Theo các chuyên gia trong lĩnh vực này, nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên là sự phá vỡ và mất nơi cư trú do suy giảm chất lượng rừng. Thực tế cho thấy, dù tổng diện tích rừng hằng năm tăng lên, nhưng chất lượng rừng ngày một suy giảm do hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ trái phép đang diễn ra ngày càng trầm trọng, khó kiểm soát đối với tất cả loại rừng.
Diện tích rừng nguyên sinh ở nước ta chỉ còn khoảng 570 nghìn ha phân bố rải rác, chiếm 8% tổng diện tích rừng cả nước. Rừng non mới phục hồi chưa ổn định, chất lượng cây gỗ và ÐDSH chưa cao, trong khi đó, những khu rừng tự nhiên ít bị tác động, rừng nguyên sinh có giá trị cao về ÐDSH thường tập trung ở các khu rừng phòng hộ, các khu rừng bảo tồn.
Ngoài ra, việc săn bắn, buôn bán và xuất khẩu các sản phẩm động vật, thực vật, kể cả những loài quý hiếm cần bảo vệ vẫn gia tăng. Vì vậy, dẫn đến tình trạng một số loài như hổ, báo, khỉ, vượn... ngày càng hiếm và đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Nhiều loài động vật thông thường như tê tê, rùa, rắn, kỳ đà... bị săn bắt để xuất khẩu sang một số nước trong khu vực, với số lượng lớn cũng ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự bảo tồn ÐDSH. Tình trạng môi trường bị ô nhiễm do các chất thải khác nhau không được xử lý và đổ trực tiếp ra môi trường là nguyên nhân gây chết, giảm số lượng cá thể, hủy hoại nơi cư trú và môi trường sống của nhiều loài sinh vật hoang dã...
Số liệu thống kê của Cục Bảo tồn ÐDSH (Tổng cục Môi trường) cho thấy: Có 94 loài thực vật và 48 loài động vật thủy sinh ngoại lai xâm hại. Ðặc biệt, có những loài thủy sinh vật ngoại lai vào Việt Nam với số lượng lớn, như ốc bươu vàng, cây mai dương..., do không được kiểm soát, kiểm tra chặt chẽ cho nên đã xảy ra tình trạng bùng phát trong tự nhiên. Hậu quả, các loài ngoại lai này lấn át, làm suy giảm các loài sinh vật, nguồn gien, phá vỡ cấu trúc, chức năng của hệ sinh thái. Phá hại mùa màng, giảm năng suất cây trồng, vật nuôi, thậm chí ảnh hưởng sức khỏe con người...
Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Phan Xuân Dũng cho biết: Việc bảo vệ, quản lý ÐDSH hiện nay đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới. Xuất phát từ nhận thức đó, thời gian qua, Việt Nam luôn quan tâm công tác quản lý ÐDSH bằng việc ban hành nhiều văn bản pháp luật, các cơ chế, chính sách, cũng như đưa các giải pháp nhằm ngăn chặn tình trạng suy giảm ÐDSH. Bên cạnh đó là việc xây dựng hệ thống tổ chức ở các cấp; tăng cường đầu tư nguồn nhân lực, tài chính, trang thiết bị cho công tác này.
Ðể việc quản lý, bảo tồn ÐDSH bền vững và hiệu quả, các cấp ủy, chính quyền địa phương, các bộ, ngành cần tiếp tục thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 286/1997/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng; Ngăn chặn tình trạng chặt phá, đốt rừng, khai thác rừng trái phép. Triển khai Quyết định số 1250/QÐ-TTg của Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về ÐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Ðẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng tham gia bảo vệ rừng; ngăn chặn phá rừng để bảo vệ môi trường của các loài động vật, thực vật; hạn chế việc săn bắn, khai thác các loại động vật, thực vật, nhất là các loài quý hiếm. Tiếp tục xây dựng các vườn thực vật, vườn quốc gia, khu bảo tồn nhằm bảo vệ các nguồn gien động vật, thực vật quý hiếm; xác định các vùng có hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, nhạy cảm, dễ bị tổn thương, bị suy thoái để có kế hoạch bảo vệ và phục hồi... Nghiên cứu, sử dụng các phương pháp, công cụ và áp dụng các mô hình mới, nhất là phương pháp tiếp cận dựa vào hệ sinh thái thích ứng biến đổi khí hậu. Các cơ quan chức năng cần thường xuyên tổ chức các cuộc thanh tra, kiểm tra, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi săn bắt, vận chuyển, tiêu thụ động vật trái phép. Ðồng thời, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan để trao đổi, xử lý tương trợ tư pháp về điều tra hình sự đối với các tội phạm mua bán, vận chuyển lâm sản, động vật trái phép và kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu các sinh vật ngoại lai vào nước ta...(Nhân Dân 15/2) đầu trang(
Những ngày gần đây, báo chí liên tục đưa tin về vụ lùm xùm liên quan đến việc UBND tỉnh Bắc Ninh ra quyết định bán phát mại 42 cá thể tê tê Java, là tang vật của vụ vận chuyển động vật hoang dã (ĐVHD) trái phép do Cục Cảnh sát môi trường (Bộ Công an) bắt giữ và bàn giao cho Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Ninh ngày 2.2. Quyết định bán phát mại loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ của Bắc Ninh đã vấp phải phản đối quyết liệt của nhiều chuyên gia bảo tồn.
Có lẽ, vụ việc này cũng chỉ là một giọt nước tràn ly khi vốn dĩ cả hai loài tê tê của Việt Nam đã không được quan tâm bảo vệ đúng mực bởi các cơ quan có trách nhiệm.
Chiếc xe Camry màu đen cáu cạnh đeo BKS 30V-7915 trong gara của Hạt Kiểm lâm huyện Tiên Phong là chiếc xe tang vật được Cục C49 chuyển giao sau vụ bắt giữ 42 cá thể tê tê bị vận chuyển trái phép ngày 2.2.
Theo chúng tôi quan sát, chiếc Camry bề ngoài bóng bẩy nhưng nội thất bên trong đã được tối giản. Hai ghế sau xe bị tháo bỏ, tạo khoảng trống rộng để chứa đựng hàng tạ tê tê. Một phần đuôi xe bị đâm vỡ nát do đối tượng lái xe đã “liều mạng” lùi xe đâm vào xe của lực lượng chức năng để chạy trốn. Việc dùng xế sang, đeo biển số giả để che mắt các cơ quan chức năng, vận chuyển hàng lậu, đặc biệt là ĐVHD không phải là điều lạ. Các đối tượng vận chuyển ĐVHD cũng rất hung hãn, và luôn sẵn sàng chống trả quyết liệt. Hầu hết các xe được sử dụng để vận chuyển hàng lậu như thế này đều là xe nhập lậu với giá rất rẻ. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, các đối tượng vận chuyển sẵn sàng bỏ lại tài sản để thoát thân.
Sau khi tiếp nhận 42 cá thể tê tê Java tang vật, với lý do các cá thể tê tê đã yếu, không đủ điều kiện cứu hộ, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Ninh đã báo cáo UBND tỉnh Bắc Ninh và có quyết định bán phát mại số tê tê ngay trong ngày.
Ngay khi nhận được thông tin, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV), một tổ chức xã hội uy tín trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD tại Việt Nam, đã lập tức bày tỏ thái độ không đồng tình với hành động này. Theo bà Nguyễn Thị Phương Dung - Phó Giám đốc ENV, hai loài tê tê tại Việt Nam (tê tê vàng và tê tê Java) đều nằm trong danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP. Theo đó, “các hành vi săn bắt, giết, vận chuyển, nuôi, nhốt, buôn bán trái phép tê tê hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép sản phẩm, bộ phận của chúng phải bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự. Tang vật tê tê sau khi tịch thu cần được xử lý theo các biện pháp quy định tại Nghị định 160/2013/NĐ-CP mà không tiến hành bán đấu giá”.
Liên quan đến vấn đề này, Chi cục Kiểm lâm Bắc Ninh đã chính thức trả lời trên báo chí cho rằng 42 cá thể tê tê Java được tịch thu nằm trong nhóm IIB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP (nhóm động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại). Theo đó, việc phát mại số tê tê trên được áp dụng theo Điểm a, Khoản 1, Điều 6 Nghị định 157/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Ngay sau đó, ENV đã có ý kiến phản biện tiếp tục cho rằng việc trích dẫn Nghị định 157/2013/NĐ-CP để xử lý tang vật là không đúng quy định của pháp luật. Theo quy định tại Khoản 3, Điều 19, Nghị định 160/2013/NĐ-CP thì “Chế độ quản lý đối với loài thuộc Danh mục động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30.3.2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được xác định là loài ưu tiên bảo vệ được áp dụng theo quy định tại nghị định này”. Như vậy, rõ ràng việc xử lý số tê tê Java còn sống được tịch thu phải áp dụng theo quy định của Nghị định 160. Nhiều báo chí cũng cho rằng các lý lẽ mà Chi cục Kiểm lâm Bắc Ninh đưa ra là để “che mắt” người không hiểu luật.
Cùng chung quan điểm với ENV, bà Hoàng Thị Thanh Nhàn - Phó Cục trưởng Cục Bảo tồn đa dạng sinh học thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường - cho rằng: “Năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12.11.2013 về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ nhằm thực thi Điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tê tê là động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12.11.2013, theo đó các hành vi vi phạm đối với tê tê phải được xem xét, xử lý hình sự theo Điều 190 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2009”.
Những tranh cãi vẫn chưa chấm dứt và dù ai đúng, ai sai, kẻ bị ảnh hưởng trực tiếp nhất ở đây là những con tê tê, vẫn cuộn tròn như những trái bóng bị đá đi đá lại trên cái sân pháp lý.
Chắc hẳn vụ phát mại tê tê tại Bắc Ninh không phải là vụ việc đầu tiên các cơ quan chức năng bán đấu giá loài ĐVHD được xem là bị buôn bán nhiều nhất trên thế giới này. Bởi lẽ, trước đây cả hai loài tê tê tại Việt Nam (tê tê vàng và tê tê Java) đều chỉ được bảo vệ trong nhóm IIB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Nghĩa là, người ta vẫn có quyền khai thác, buôn bán nếu có giấy phép hợp lệ.
Vốn dĩ, việc phát mại các tang vật là động vật rừng nhóm IIB đã không nhận được sự ủng hộ của các chuyên gia bảo tồn vì nói cho cùng, cái đích đến cuối cùng của những con động vật đó vẫn là thị trường chợ đen và việc phát mại ĐVHD còn góp phần đẩy cao nhu cầu thiêu thụ ĐVHD. Nói thì nói vậy, đứng trước giá trị (về tài chính) to lớn từ việc phát mại ĐVHD, lại thêm pháp luật cho phép nữa thì chả có lý do gì để các ngành chức năng không tổ chức bán đấu giá, tăng thu ngân sách.
Ấy vậy nhưng, phát mại tang vật là loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được bảo vệ cao nhất theo pháp luật Việt Nam lại là một câu chuyện khác. Kể từ khi, Nghị định 160/2013/NĐ-CP chính thức có hiệu lực từ ngày 1.1.2014 thì cả hai loài tê tê của Việt Nam đều được nâng lên bảo vệ ở cùng một cấp độ với nhiều loài quý hiếm khác như hổ, gấu, tê giác. Trong khi tang vật là hổ phát hiện trong các vụ vận chuyển, buôn bán trái phép đều được tiêu huỷ hoặc chuyển giao về các cơ sở nghiên cứu khoa học thì những con tê tê vẫn cứ “lăn như bóng” ra thị trường chợ đen. Không quá khó để tìm thấy các món ăn từ tê tê được quảng cáo trong các nhà hàng hạng sang ở Hà Nội. Vẩy tê tê thì vẫn dễ dàng tìm được trên các phố đông y như Lãn Ông hay Thể Giao. Vậy là rõ ràng, người ta vẫn mang loài động vật rừng “quý như hổ” này ra chợ.
Theo thống kê của ENV, từ tháng 1.2014 đến giữa tháng 1.2015, các cơ quan chức năng tại Việt Nam đã bắt giữ thành công ít nhất 32 vụ tàng trữ, vận chuyển trái phép tê tê và các sản phẩm từ tê tê, với số lượng tang vật lên tới 905 cá thể và trên 1.5 tấn vảy. Hiển nhiên, đây là con số đáng báo động dành cho loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Ấy thế nhưng sự thật đáng báo động hơn là cũng suốt từ đầu năm 2014 đến nay, tức là từ khi Nghị định 160/2013/NĐ-CP được ban hành và có hiệu lực, vẫn chưa có bất kì đối tượng vi phạm nào trong các vụ việc về tê tê bị xử lý hình sự.
Thống kê trên trang thông tin điện tử của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh, trong năm 2014, cơ quan này đã tiếp nhận ít nhất 10 vụ việc liên quan đến hành vi vận chuyển bất hợp pháp tê tê với số lượng lên tới hàng trăm cá thể. Ấy vậy nhưng các đối tượng vi phạm trong cả 10 vụ việc đều chỉ bị xử phạt hành chính.
Các văn bản pháp luật đã được Chính phủ ban hành nhằm bảo vệ tốt hơn các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm. Các tổ chức bảo tồn trong nước và quốc tế vẫn nỗ lực không ngừng nghỉ nhằm giảm thiểu nhu cầu tiêu thụ ĐVHD. Tuy nhiên, với hiện trạng săn bắt và buôn bán ráo riết như hiện nay, các loài ĐVHD của Việt Nam đang bước những bước dài đến bên bờ vực tuyệt chủng. Việc tăng cường quản lý, ngăn chặn các hoạt động buôn bán trái phép ĐVHD và áp dụng nghiêm khắc các quy định của pháp luật nhằm tăng cường tính răn đe là cần thiết và phải được thực hiện ngay để chúng ta không phải thêm một lần nữa cảm thấy hối tiếc như khi chứng kiến sự ra đi của cá thể tê giác cuối cùng tại Việt Nam. (Lao Động 14/2) đầu trang(
Ngày 13-2, Chi cục Kiểm lâm TP cho biết, hiện nay, đơn vị đã triển khai đồng bộ việc kiểm tra, truy quét tại rừng, các tuyến đường, điểm mua, bán, vận chuyển, tàng trữ các loại lâm sản và động vật rừng trên địa bàn thành phố nhằm ngăn chặn có hiệu quả hành vi vi phạm về chặt phá rừng, lấn chiếm đất rừng; khai thác, vận chuyển, mua bán, tàng trữ lâm sản, động vật rừng dịp Tết Ất Mùi 2015.
Các khu rừng tự nhiên được ưu tiên triển khai truy quét tại rừng và chốt chặn tại các vị trí xung yếu được xác định là: khu vực sản xuất của Cty Vinafor tại sông Bắc, khu vực Lộc Mỹ-Nam Yên- bến sạn sông Cu Đê (xã Hòa Bắc, H. Hòa Vang); khu vực Khe Đương-cầu Sụp sông Cu Đê; khu vực Cà Nhông giáp ranh xã Hòa Bắc với H. Đông Giang (Quảng Nam); khu vực Đồng Nghệ giáp ranh xã Hòa Khương với H. Đại Lộc (Quảng Nam), khu vực Dốc Kiền giáp ranh xã Hòa Phú với H. Đông Giang; khu vực đường dây điện 500kV giáp ranh P. Hòa Hiệp Bắc với H. Phú Lộc, TT-Huế; Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, Bà Nà-Núi Chúa…(Công An Đà Nẵng 14/2) đầu trang(
14.2, Phó chủ tịch UBND tỉnh Huỳnh Văn Quang dẫn đầu đoàn công tác tỉnh kiểm tra công tác phòng chống cháy rừng trước, trong và sau Tết Nguyên đán năm 2015.
Tại khu rừng Chàng Riệc, Phó Chủ tịch Huỳnh Văn Quang đã trực tiếp vào kiểm tra thực tế rừng tại Cua chữ V thuộc Đai biên giới Khu rừng Văn hoá lịch sử Chàng Riệc, đây là khu vực hàng năm thường hay bị cháy. Tiếp đó, đoàn kiểm tra công tác phòng chống cháy rừng tại khu vực Chốt bảo vệ Tà Nốt, đội Bảo vệ rừng Biên giới thuộc Vườn Quốc gia Lò Gò-Xa Mát.
Ngay từ đầu mùa khô, các Ban quản lý Khu rừng Văn hoá lịch sử Chàng Riệc, Vườn Quốc gia Lò Gò-Xa Mát và rừng phòng hộ Dầu Tiếng đã làm tốt công tác đốt phòng vệ và tạo các đường băng đốt chủ động tại các điểm có nguy cơ cháy; tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra rừng và công tác trực 24/24 nên từ đầu mùa khô tới nay tại các khu vực rừng này chưa để xảy ra vụ cháy nào.
Tại Núi Bà, Ban quản lý Khu vực rừng Núi Bà cũng đã chủ động làm tốt công tác phòng chống cháy rừng. Từ đầu mùa khô, tại khu vực này đã xảy ra một vụ cháy rừng do người dân bất cẩn gây ra. Tuy nhiên, nhờ làm tốt công tác chuẩn bị nên lực lượng bảo vệ rừng Núi Bà phối hợp cùng các lực lượng liên quan kịp thời dập tắt lửa, vì vậy diện tích rừng bị cháy chỉ xảy ra trên phạm vi nhỏ, không ảnh hưởng nhiều đến hệ sinh thái rừng.
Sau khi kiểm tra trực tiếp tại một số điểm trong các khu rừng, để đảm bảo không xảy ra cháy rừng trong mùa khô, đặc biệt là thời điểm trước, trong và sau Tết Nguyên đán. Phó chủ tịch UBND tỉnh đề nghị các địa phương, các Ban quản lý rừng tiếp tục chủ động phòng chống cháy; tăng cường phối hợp tốt với các ngành liên quan để có biện pháp hạn chế cháy rừng xảy ra.
Đồng thời, thực hiện tốt việc cảnh báo, dự báo và kiểm soát lửa rừng; đảm bảo công tác trực phòng cháy rừng trong những ngày Tết; nâng cao chất lượng xây dựng, tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch và các phương án phòng cháy, chữa cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ: lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ, chỉ huy tại chỗ, ưu tiên đối với những khu vực trọng điểm, những tháng có nguy cơ cháy rừng cao.
Đối với Ban quản lý rừng Núi Bà cần tập trung chú ý nhiều hơn nữa trong công tác phòng chống cháy rừng, đặc biệt là những ngày Tết, vì đây là thời điểm diễn ra lễ hội, lượng khách đến tham quan nhiều nên có thể xảy ra nguy cơ cháy từ những bất cẩn, vô ý của người dân. (Báo Tây Ninh 15/2) đầu trang(
Thời gian vừa qua, liên tiếp xảy ra nhiều vụ chặt phá rừng đầu nguồn tại miền Trung, gây thiệt hại về tài nguyên thiên nhiên cũng như ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống.
Điều đáng nói là những vụ việc này đã xảy ra trong một thời gian dài, nhưng không bị các cơ quan chức năng bảo vệ rừng xử lý. Chỉ đến khi lực lượng công an vào cuộc, đã phơi bày cả một đường dây phá rừng, có sự bao che của nhiều đối tượng đang công tác trong các đơn vị nhà nước.
Những cánh rừng đầu nguồn biên giới Việt – Lào thuộc địa phận tỉnh Hà Tĩnh đã bị lâm tặc chặt hạ không thương tiếc trong một năm qua. Hàng trăm mét khối gỗ từ nhóm 2 đến nhóm 6 đã bị các lực lượng chức năng phát hiện.
Trên con đường nối thẳng qua nước bạn Lào, xuất hiện những gốc cây nhiều năm tuổi trơ trọi đã được chặt hạ từ lúc nào, cạnh đó là những dấu vết vận chuyển gỗ của lâm tặc vẫn còn mới. Đi sâu vào các cánh rừng tại các tiểu khu 2, khu 12, giáp biên giới Việt - Lào, rất nhiều phiến gỗ người ôm không xuể được cất giấu khắp nơi trong rừng. Trong các cánh rừng, xuất hiện chi chít những “đường máu”, những con đường đã được lâm tặc làm sẵn từ lâu để vận chuyển gỗ. Hai bên các tuyến đường xương cá này, hàng chục phiến gỗ đã được cưa vuông thành sắc cạnh và ngụy trang chờ ngày vận chuyển về.
Dù không thể đi sâu đến tận các xào huyệt của lâm tặc, nhưng khi chứng kiến những thân gỗ có đường vành tới 3m bị đốn hạ ngổn ngang, nằm rải rác khắp nhiều vùng rừng mới biết được rừng đầu nguồn đã bị tàn phá khủng khiếp như thế nào. (ANTV 15/2) đầu trang(
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy về việc thực hiện Hướng dẫn 98-HD/BTGTW ngày 26/12/2013 của Ban Tuyên giáo Trung ương về “Công tác tuyên truyền việc thực hiện không buôn bán, tiêu thụ bất hợp pháp động vật, thực vật hoang dã”, vừa qua, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã ban hành Hướng dẫn số 03-HD/BTG về “Công tác tuyên truyền việc thực hiện không buôn bán, tiêu thụ bất hợp pháp động vật, thực vật hoang dã”.
Mục đích của công tác tuyên truyền nhằm quán triệt đến cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, học sinh, sinh viên và các tầng lớp nhân dân về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các quy định pháp luật về bảo vệ các loài động vật, thực vật hoang dã; triệt tiêu tận gốc nạn buôn bán, tiêu thụ bất hợp pháp động vật, thực vật hoang dã.
Thống nhất nhận thức trong các tầng lớp nhân dân về việc phải xử lý nghiêm các hành vi sử dụng lãng phí tài nguyên, đốt phá rừng, gây ô nhiễm môi trường, săn bắn, buôn bán, tiêu thụ, sử dụng bất hợp pháp động vật, thực vật hoang dã. Từ đó nâng cao ý thức bảo vệ động vật, thực vật hoang dã trong cán bộ, công chức, viên chức, doanh nhân và mỗi người dân.
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đề nghị Ủy ban Mặt trận tổ quốc tỉnh, các tổ chức đoàn thể nhân dân của tỉnh, các huyện, thành, thị và các đảng bộ trực thuộc tỉnh động viên, khuyến khích đoàn viên, hội viên tham gia trực tiếp vào các hoạt động tuyên truyền, tạo dư luận phê phán, lên án các hành vi vi phạm pháp luật; đồng thời biểu dương các tấm gương "Người tốt, việc tốt" trong việc bảo tồn, bảo vệ các loài động vật, thực vật hoang dã; tuyên truyền lồng ghép trong các hội nghị và các buổi sinh hoạt định kỳ; các cấp, các ngành tăng cường kiểm tra và xử lý nghiêm các vụ khai thác, vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ động vật, thực vật hoang dã.
Bên cạnh đó, các cơ quan thông tin đại chúng của tỉnh tăng cường tuyên truyền thông qua các tin, bài, phóng sự, pa nô, áp phích về việc bảo vệ các loài động vật, thực vật hoang dã với nhiều nội dung, hình thức phong phú, hấp dẫn. (Phutho.gov.vn 14/2) đầu trang(
Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Công an tỉnh Lâm Đồng đã khởi tố bị can và bắt khẩn cấp tạm giam 3 tháng đối tượng Hoàng Văn Hiền (sinh năm 1978), Giám đốc Công ty khai thác và chế biến gỗ Tri Dũng (huyện Đạ Tẻh) vì vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng


Theo cơ quan điều tra, Lê Lương Thọ, sinh năm1981, hộ khẩu thường trú ở khu phố 5A, thị trấn Đạ Tẻh, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng là nhân viên quản lý, bảo vệ rừng, thuộc công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Đạ Tẻh.
Thọ được giao quản lý và bảo vệ tiểu khu 527, 536 thuộc xã An Nhơn, huyện Đạ Tẻh nhưng lại thiếu trách nhiệm để Hoàng Văn Hiền, giám đốc công ty Tri Dũng đưa phương tiện vào khu vực mình quản lý, khai thác trái phép 223,78m3 gỗ các loại gây thiệt hại về kinh tế và môi trường rừng lên đến gần 1,4 tỷ đồng.
Hiện vụ việc đang được tiếp tục điều tra làm rõ. (ANTV 14/2) đầu trang(
Rạo rực từ đầu tháng Chạp, thanh niên ở các huyện thuộc tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai ới nhau chuẩn bị nồi niêu, cuốc xẻng vượt chặng đường gần trăm cây số vào rừng săn mai. Vừa có mai chưng Tết lấy lộc đầu năm lại có thứ bán được nhiều tiền nên ai cũng hăm hở tham gia.
Vừa trở về sau chuyến săn mai nguyên tuần trong khu rừng thuộc huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk (nơi một thời từng là thánh địa mai rừng được giới thợ săn lui tới mòn cả gót giày), anh Nguyễn Sơn 35 tuổi, nhà ở chân đồi Giang Sơn, huyện Cư Kuin, cho biết: “Cứ gần Tết, dân trong làng đều vác cuốc, gùi cơm, nước vào rừng lùng mai. Họ chọn vài cành ưng ý chưng Tết, còn lại đem bán. Thấy nghề săn mai kiếm được tiền, người làng lũ lượt kéo đi, cả dân ngoại huyện cũng đổ về khiến mai rừng giảm chóng mặt. Mấy năm trước chỉ cần đi vài ba chục cây số là chặt được một mớ, giờ hiếm lắm, đi cả tuần về tay không là chuyện thường”.
Băng rừng, lội suối vất vả, lại nguy hiểm nên nghề này chỉ dành cho cánh mày râu có sức khỏe dẻo dai. Họ thường đi theo nhóm, từ 3-4 người/nhóm hỗ trợ nhau khi gặp sự cố trong rừng. Sự thành bại của cuộc săn mai phụ thuộc vào tài thao lược của người dẫn đầu. Họ phải là “thổ địa” trong vùng, thông thạo địa hình, biết nơi mai “ẩn náu”, chỉ đúng hướng săn.
Hơn 5 năm xuyên rừng tìm mai, anh Hậu nhà ở huyện Ea Súp (Đắk Lắk), tiết lộ: “Mai rừng thường mọc ở đồi đất trắng, ven suối, nơi có tiết trời nóng ẩm. Các khu rừng khộp thuộc huyện Ea Súp, Krông Ana, Ea Hleo,… mai tập trung nhiều, có khi cả rừng mai luôn. Nhưng giờ hết rồi, dân chặt nhiều quá, kiếm lòi cả mắt mới ra”.
Thợ săn mai phải kiên nhẫn mang dụng cụ, lương thực vào rừng ăn nằm cả tháng để lùng của quý.
Mọi chuyện ở chốn thâm sơn cùng cốc đều có thể xẩy ra. Từ chuyện đói khát, trượt gẫy chân tay, mắc bệnh sốt rét… đến chuyện đụng độ giành lãnh địa giữa các nhóm thợ săn. Nhẹ chỉ trầy da tróc vẩy, nặng thì mang tật suốt đời. Nguyên cớ cũng vì mai rừng khan hiếm, giá cả tăng cao. Thợ săn bất chấp hiểm nguy vào tận rừng sâu hàng trăm cây số lùng tìm. Không có, họ sang cả tỉnh Gia Lai, Phú Yên lùng cho bằng được. Tìm được rồi họ dựng chòi sát bên canh chừng.
Dẫu ăn uống kham khổ, có khi đêm rét căm căm, họ vẫn bám trụ. Chăm giữ cẩn thận đôi lúc cũng bị người khác tranh mất. Nhiều nhóm đến sau giở trò luật rừng, cướp công nhóm trước. Có nhóm bấm bụng nín nhường giữ mạng. Cũng có nhóm quyết chiến giành lại miếng ăn. Trận đấu diễn ra và đương nhiên, kẻ đông hả hê hưởng chiến lợi phẩm. Người yếu đành mang mặt máu bỏ đi, uất ức, tức nghẹn.
Thành quả đổi bằng máu nếu không biết cách chăm quản cũng bằng không. Sợ chặt mai sớm bị chết hoặc nở không đúng dịp. Thợ săn tuốt lá, chăm sóc mai trong rừng đến sát Tết mới chặt về. Hành trình đưa mai khỏi núi sâu vực thẳm cũng gian truân không kém. Họ phải thật khéo léo luồn rừng, giữ cho mai còn nguyên vẹn. Lỡ cành gãy, hoa rơi phải bỏ thì uổng. Công sức ăn rừng ở rú cả tháng của họ đổ sông bể hết.
“Mai rừng mộc mạc đẹp tự nhiên lại lâu tàn. Nên cứ giáp Tết là tôi gác mọi việc vào rừng tìm mai. Tuy khổ một chút nhưng tự tay mình chọn bao giờ cũng vừa ý hơn. Ngoài ra, tôi cũng tranh thủ kiếm thêm một ít bán lấy tiêu Tết”, anh Sơn nói thêm. Ngoài các loại cây cảnh góp mặt truyền thống ở hội chợ xuân như quất, lan, ly… mai rừng cũng “hành hương” xuống phố đọ sắc cùng “chị, em”.
Dọc khắp các nẻo đường phố thị, mai rừng được bày bán to bé đủ loại. Khách đến xem mua rất đông khiến chợ xuân nhộn nhịp hẳn lên. Giá cả cũng đa dạng, tùy thuộc vào kích cỡ, dáng đẹp… Cành nhỏ xinh xinh dưới 1m, có giá từ 300-500 nghìn đồng/ cành; cành tầm trung dao động từ 600-800 nghìn/cành. Riêng cành cao to, sum suê đầy nụ, thuộc hàng “của hiếm” có giá trên dưới chục triệu đồng.
Ngắm gốc “lão mai” to bự, một vị khách căng mắt tròn xoe, trầm trồ khen đẹp: “Hàng độc này chí ít cũng vài chục chai (triệu), chỉ có đại gia mới dám sờ chơi thôi”. Tuy nhiên, loại này cực hiếm. Những gốc mai rừng có tuổi đời cao hầu như được lấy trong rừng rồi trồng ở nhà. Người chơi, chăm bón tự nhiên cho hoa nở đẹp, cánh to nguyên thủy. Cũng có người thích ghép thêm nhiều loại mai vào gốc mai rừng cho cây thêm sum suê, bề thế. Giá những gốc mai này không dưới trăm triệu.
Nhấc cành mai dài hơn sải tay, bà chủ bán mai đảo miệng rao rôm rả: “Mai đây mai đây, mai rừng chính hiệu, mua dzô mua dzô bà con ơi!”. Thấy khách ghé coi, bà tung hết mỹ từ chào mời. Khách truy hỏi nguồn gốc bà đều đáp trả giòn tan. Dù cuộc mua bán không thành, khách bỏ đi nhưng bà vẫn tự tin: “Biết chắc trong bụng ưng lắm, nhưng sợ mua hớ, đi khảo sát chỗ khác, riết rồi cũng quay lại thôi. Mai rừng giờ hiếm, giá vậy được rồi còn đòi bớt gì nữa”.
Lựa được cành mai ưng ý với giá 500 nghìn đồng, anh Võ Tấn Hoàng, nhà ở huyện Cư Kuin cho biết: Giá mai rừng năm nay cao hơn năm trước từ 100-200 nghìn đồng/cành. Vậy cũng được miễn là nó đẹp, chắc khỏe, có đắt chút cũng không sao. Mỗi năm anh đều tậu một cành về chưng Tết. Khi tàn đem trồng ngoài đất, chúng vẫn sống và sinh trưởng bình thường. “Mai giờ quý hiếm, người chơi muốn sở hữu một cành đẹp phải đặt hàng từ trước. Đúng hẹn lo lấy chứ không, thuận giá người khác rinh mất thì tiếc lắm”, anh Hoàng nói thêm.
Sở dĩ mai rừng thắng thế mai ghép là nhờ đặc tính “tự sinh, tự dưỡng”. Mai rừng dễ trồng lại trổ dày bông, lâu tàn và cho hoa năm cánh có mùi thơm ngào ngạt. Còn mai ghép đòi hỏi kỹ thuật cao, chăm tưới, cắt tỉa liên tục nên kén khách. Mặt khác quan niệm, vật chưng tế phải tự nhiên, hoang dã, khuôn nép, cắt ghép quá sẽ mất linh càng khiến mai rừng đắt giá trong Tết.
Là dân chuyên chơi cây cảnh, anh Hoàng Long ở Buôn Mê Thuột (Đắk Lắk) phân tích: Nhìn cành cây khẳng khiu trông có vẻ như củi khô ấy vậy mà hay. Chỉ cần đem về đốt cho gốc cháy xém, cứa cành, ngâm nước để ấm ngoài trời, ban đêm khiêng vào nhà tránh sương lạnh là chúng nứt mầm, bung nụ ngay.
Còn chuyện mai mở đúng dịp hay không là tùy vào thời tiết và “nghệ thuật” chăm của người chơi. Ngoài việc chọn được cây to, dáng đẹp, người chơi phải biết cách tuốt lá, tưới phân cho mai mọc thêm chồi… Nếu mai nở trúng lúc giao thừa thì năm đó gia chủ làm ăn phát tài, gặp nhiều may mắn; còn nếu không nở thì sẽ… kém vui.
Người chơi thường cắm cành mai vào lục bình gỗ, gắn đèn màu chớp nháy, treo phong bao lì xì, dây phúc lộc... để tô điểm. Có người còn đặt thêm vài chậu cúc bên cạnh, làm tôn thêm vẻ khỏe khoắn, đầy quyến rũ của mai rừng.
Trước đây, mai rừng mọc khắp nơi. Người dân chỉ việc vào rừng chọn vài cành chặt chưng Tết, lấy lộc đầu năm. Dần dà thú chơi dân dã phát triển thành phong trào. Mai rừng trở thành món hàng đắt giá. Nhiều người đổ xô vào rừng săn tìm, chặt bán vô tội vạ. Cành to không chừa, nhỏ cũng không tha. Cành nào không thích thì bỏ, tìm chặt cành khác. Cả nguồn tái sinh cuối cùng như gốc mai hay cây bé tí bằng ngón chân cái “nấp” kỹ trong hốc đá, dân cũng đào về. Cách khai thác theo kiểu tận diệt, khiến mai rừng đứng trước nguy cơ bị xóa sổ.
Mai càng khan hiếm, giá càng cao bao nhiêu thì số lượng thợ săn càng nhiều bấy nhiêu. Bởi phần đông họ xuất thân nông dân, thu nhập chính nhờ vào ngô lúa. Xong mùa vụ họ nhàn rỗi, tìm việc làm kiếm tiền tiêu Tết. Thấy nghề chặt mai kiếm nhiều tiền, họ chẳng ngại gian khổ. Vào rừng chặt tận gốc, ra chợ bán ngọn. Mỗi chuyến đi trúng họ thu về trên dưới chục triệu. Số tiền này tuy không nhiều nhưng với nông dân cũng đủ cho một cái Tết sung túc.
Nắm bắt được thị hiếu, nhiều nhà vườn trồng mai ở Háo Đức (Bình Định) và Tuy Hòa (Phú Yên) đã đưa cây mai vào hàng hóa thương phẩm. Chúng được trồng chuyên biệt, chăm sóc theo hướng công nghiệp nên mai chậu (mai nhà) có giá “mềm” hơn, mọi giới yêu mai đều chơi được. Mua chậu mai xong, họ lấy địa chỉ người bán. Hết Tết, họ chở mai đến gửi nhà người bán chăm sóc với giá 300 nghìn đồng đến 1triệu đồng / năm. Mùa Tết sau, họ mang về lại, đảm bảo hoa nở đúng Tết. (Tiền Phong 13/2) đầu trang(
Sáng 13/2, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Đình Sơn dẫn đầu đoàn đi kiểm tra công tác bảo vệ rừng trong dịp trước, trong và sau Tết nguyên đán Ất Mùi 2015 tại một số địa phương.
Đoàn đã tiến hành kiểm tra các địa bàn nhạy cảm thuộc các xã: Hương Lâm và Hương Vĩnh (Hương Khê); Sơn Hồng và Sơn Lĩnh (Hương Sơn). Tại các địa bàn này, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã trực tiếp một số xưởng cưa, cơ sở chế biến lâm sản, một vài hộ dân tập kết gỗ ở ven đường, một số tuyến đường trọng yếu thường xẩy ra tình trạng buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép.
Qua kiểm tra, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Đình Sơn đánh giá, công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản năm nay tốt hơn so với những năm trước; các tuyến đường đã “sạch” hơn; các cấp, ngành, nhất là lực lượng kiểm lâm và biên phòng đã có sự chủ động, tích cực vào cuộc. Tuy nhiên, nếu đi sâu vào bên trong và đánh giá khách quan thì vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến công tác bảo vệ rừng…
Về các trường hợp vi phạm ở xã Hương Lâm, Phó Chủ tịch UBND tỉnh phê bình chủ rừng, chính quyền địa phương, các lực lượng chức năng vì đã buông lỏng quản lý và yêu cầu lực lượng kiểm lâm phối hợp với các cấp, các ngành hữu quan thu giữ tang vật cùng toàn bộ lượng gỗ vi phạm đưa về xử lý theo quy định của pháp luật.




Để công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên các địa bàn nhạy cảm này được tốt hơn, Phó Chủ tịch Lê Đình Sơn chỉ đạo lực lượng kiểm lâm phối hợp với các cơ quan chức năng khác và chính quyền địa phương tăng cường công tác kiểm tra, xử lý đối với những cơ sở, hộ gia đình có dấu hiệu vi phạm lâm luật; các lực lượng liên quan phải xem xét lại trách nhiệm của mình và phát huy vai trò trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; kiểm điểm, phê bình, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Riêng lượng biên phòng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh giao nhiệm vụ, ngoài việc tập trung làm tốt công tác quản lý vật liệu cháy nổ thì cần chủ động phối hợp với các lực lượng có liên quan, sâu sát với nhân dân, cùng đồng hành thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ rừng; chủ động nắm chắc tình hình để ổn định cơ sở, không để xẩy ra các vụ việc phức tạp, nhất là liên quan đến công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. (Báo Hà Tĩnh 13/2) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm Nghệ An là cơ quan thừa hành pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng, có chức năng tham mưu bảo vệ, chống chặt phá, quản lý lâm sản và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Nhiệm vụ trọng tâm của Chi cục là bảo vệ an toàn gần 900 ngàn ha rừng hiện có của tỉnh; diện tích rừng tự nhiên 739 ngàn ha, chiếm tỷ lệ 82%. Trong số đó, có 175 ngàn ha rừng giàu và trung bình, trữ lượng lâm sản khá lớn, tính đa dạng sinh học cao, nhiều loại gỗ quý hiếm có giá trị kinh tế như: Pơ mu, sa mu, chò chỉ, táu, dổi... và nhiều loại cây dược liệu quý khác, nên các đối tượng khai thác lâm sản trái phép luôn có ý đồ khai thác. Diện tích rừng trồng có 160 ngàn ha, chủ yếu là rừng thông phân bố ở các huyện đồng bằng, trung du, núi thấp gần các khu dân cư, thực bì dày, khô, vào mùa nắng rất dễ xảy ra cháy rừng.
Để bảo vệ an toàn các khu rừng của tỉnh, trong những năm qua, Chi cục Kiểm lâm đã triển khai thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp tích cực, có tính khả thi cao trong phòng cháy, chữa cháy rừng.
Cụ thể, hàng năm lực lượng Kiểm lâm đã tham mưu cho UBND các cấp xây dựng phương án và ban hành các văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy rừng. Chấp hành nghiêm chế độ thường trực chữa cháy rừng; tổ chức lực lượng thường trực 24/24h tại Văn phòng Ban Chỉ huy PCCCR, các chòi canh lửa để nhận, xử lý thông tin, tổ chức lực lượng chữa cháy rừng. Khi có cháy rừng xảy ra, lãnh đạo Chi cục, Hạt Kiểm lâm, Đội Kiểm lâm cơ động đã huy động tối đa lực lượng, phương tiện đến hiện trường phối hợp với địa phương, chủ rừng để tham gia chỉ huy và trực tiếp chữa cháy.
Song song với nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy rừng, công tác chống chặt phá rừng và quản lý lâm sản cũng được quan tâm. Chi cục đã tiến hành tổ chức rà soát, xác định vùng và địa bàn trọng điểm về khai thác rừng trái phép để bố trí các nguồn lực cho công tác bảo vệ rừng tại gốc. Với phương châm "chủ động, phát hiện sớm, đấu tranh kiên quyết, xử lý triệt để, không để hình thành các điểm nổi cộm về khai thác rừng trái phép", Chi cục chỉ đạo xây dựng và thực hiện kế hoạch kiểm tra, tuần tra rừng theo định kỳ tháng, quý và đột xuất; tổ chức giao ban phối hợp chống chặt phá rừng vùng giáp ranh giữa Nghệ An với các tỉnh Thanh Hóa, Hà Tĩnh, giữa các địa phương trong tỉnh và 3 tuyến: Quốc lộ 48, Quốc lộ 7 và Đường Hồ Chí Minh; tổ chức làm việc giữa Chi cục Kiểm lâm với cấp ủy và chính quyền các huyện trọng điểm còn giàu tài nguyên rừng để thực hiện các nội dung về chống chặt phá rừng, buôn bán lâm sản trái phép;...
Nhờ đó, công tác quản lý, bảo vệ rừng được gắn kết hơn, hiệu quả cao hơn, tình trạng vi phạm lâm luật ngày càng giảm rõ rệt. Năm 2014, lực lượng Kiểm lâm tỉnh đã kiểm tra, xử lý 717 vụ vi phạm lâm luật (giảm 283 vụ so với cùng kỳ năm 2013); tịch thu hơn 1.658m3 gỗ các loại, 743 kg động vật rừng; 19 phương tiện các loại; tổng thu nộp NSNN hơn 10 tỷ đồng (giảm 5,3 tỷ so với cùng kỳ năm 2013). 8 năm trở lại nay (2006 - 2014), bình quân số vụ năm sau giảm hơn năm trước 14 - 18%, số vụ năm 2014 chỉ còn gần 30% so với năm 2006.
Nhiều điểm nóng về chặt phá, khai thác rừng, mua bán, tàng trữ, chế biến lâm sản trái phép bị tấn công triệt phá, xoá bỏ hoàn toàn. Nhiều đối tượng lâm tặc bị bắt giữ và đưa ra truy tố, xét xử nghiêm minh trước pháp luật; góp phần lập lại trật tự quản lý, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản và phát triển rừng, ổn định trật tự an ninh xã hội của tỉnh.
Những kết quả đó thực sự đã tạo đà xây dựng lực lượng Kiểm lâm Nghệ An thành một tập thể trong sạch, vững mạnh, vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, xứng đáng là những chiến sỹ bảo vệ “kho vàng xanh” của tỉnh nhà. (Báo Nghệ An 17/2) đầu trang(
Đứng chân trên địa bàn một huyện rẻo cao miền cực Tây của tỉnh Nghệ An, Ban Quản lý rừng phòng hộ Kỳ Sơn được giao quản lý 162.586,4 ha rừng và đất rừng, trong đó có trên 54.800 ha rừng phòng hộ và hơn 21.200 ha rừng sản xuất.
Đó thực sự là một thách thức đầy cam go và nặng nề. Không khó khăn sao được khi đại bộ phận bản làng của đồng bào các dân tộc thiểu số Thái, Khơ Mú và HMông đang hàng ngày sinh sống xen kẽ trong các cánh rừng.
Trong những năm qua, nhờ sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế miền núi thông qua các chính sách ưu tiên, chương trình dự án nhằm đầu tư hỗ trợ đồng bào vùng sâu, vùng xa để từng bước vươn lên thoát nghèo, trong đó có Dự án Bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2012-2020; chi trả dịch vụ môi trường rừng, chương trình 30a và nhiều dự án lồng ghép khác… nên đời sống của người dân vùng biên cương heo hút đang ngày càng được nâng cao.
Thế nhưng, do tập quán từ ngàn xưa để lại nên đa số bà con vẫn đang sống dựa vào rừng và chưa bỏ được phương thức canh tác phát nương làm rẫy, khai thác gỗ, củi và các lâm sản khác trong rừng. Bởi thế, công tác quản lý và bảo vệ rừng tại BQL rừng phòng hộ Kỳ Sơn đang rất nặng nề và khó khăn.
Theo ông Cao Văn Quỳnh, Trưởng BQL rừng phòng hộ Kỳ Sơn thì việc nâng cao nhận thức cho người dân về công tác quản lý và bảo vệ rừng, giúp họ hiểu được những ích lợi mà rừng đang mang lại cho gia đình và cộng đồng là một điều hết sức quan trọng và không phải một sớm, một chiều là có thể làm được.
Ông Quỳnh chia sẻ: "Để thực hiện được yêu cầu này, thời gian qua, BQL đã áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp để khắc phục vấn đề này. Thứ nhất là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật để người dân hiểu và tự giác chấp hành. Năm 2014, BQL rừng phòng hộ Kỳ Sơn đã triển khai hàng loạt các cuộc họp dân tại 20/20 xã trên địa bàn toàn huyện, với trên 5.400 lượt người tham gia. Tiến hành tổ chức nhiều lớp tập huấn, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng, nhờ đó nhận thức của người dân về vai trò, trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ rừng, hiểu được các nguồn lợi từ rừng mang lại cho họ đã được ngày một nâng lên rõ rệt.
Thứ hai là tăng cường công tác tuần tra rừng, truy quét và chống chặt phá rừng trái phép, bảo vệ rừng tại gốc theo các Chỉ thị 07; 04 và 31 của Thủ tướng Chính phủ. Vận động nhân dân tích cực tố giác những đối tượng, hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Năm 2014, lực lượng quản lý và bảo vệ rừng của đơn vị đã phát hiện lập biên bản 6 vụ vi phạm và thu giữ 39,429 m3 gỗ, trong đó vận chuyển về BQL là 18,98 m3, chuyển về Hạt Kiểm lâm huyện 20,449 m3. Số lâm sản trên đã lập hồ sơ chuyển cơ quan chức năng xử lý. Khối lượng lâm sản giảm so với cùng kỳ năm 2013 là 46,813 m3.
Thứ ba là tìm mọi cách để giúp người dân phát triển kinh tế gắn với rừng để tăng thu, ổn định thu nhập từ rừng cho các chủ rừng. Năm 2014, chúng tôi đã lập hồ sơ thiết kế xong 1.424,78 ha rừng nguồn vốn sự nghiệp kinh tế. Đồng thời tiến hành rà soát, lập hồ sơ thiết kế kỹ thuật khoán bảo vệ trên 21.550 ha rừng theo vốn 30a...
Triển khai công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng cho người dân nhận khoán một cách quyết liệt để họ hiểu được chính sách mới của Đảng và quyền lợi của họ trong công tác bảo vệ rừng. Trong đó đã thực hiện rà soát, điều chỉnh bổ sung hồ sơ thiết kế đến các nhóm hộ cho 24.555,7 ha/9 xã. Tiến hành giải ngân 100% số tiền công bảo vệ rừng năm 2012 và 2013. Ngoài lưu vực thủy điện Bản Vẽ đã cơ bản hoàn tất, hiện đơn vị đã lập hồ sơ thiết kế kỹ thuật giao khoán bảo vệ rừng lưu vực thủy điện Bản Cánh, Nậm Mô và thủy điện Khe bố trên 20.000 ha. Hiện tại đang trình Chi cục Lâm nghiệp thẩm định và Sở NN-PTNT phê duyệt...”
Cũng theo ông Quỳnh, năm 2015, để phát huy tốt những thành quả đã đạt được trong năm 2014, BQL sẽ tiếp tục tập trung mọi nỗ lực để bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có và tiếp tục phát triển vốn rừng trên diện tích được giao. Bên cạnh việc khai thác các lợi thế từ tài nguyên đất lâm nghiệp, tài nguyên rừng để đẩy mạnh sản xuất nhằm tạo việc làm, tăng doanh thu, tăng thu nhập cho các chủ rừng, BQL sẽ tiến hành rà soát, lập phương án sử dụng đất dài hạn. Hoàn tất việc lập hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích còn lại, cắm mốc ranh giới 3 loại rừng. (Nông Nghiệp VN 21/2) đầu trang(
Tôi sinh ra cạnh dãy Trường Sơn của xứ trầm. Đêm đêm những tiếng hú dài từ cánh rừng sau tháp Chăm Mỹ Sơn u... u vọng về, bà tôi bảo đó là tiếng hú u uất của những con xà niêng. Loài này trước đây là người, họ ngậm ngải đi tìm trầm, đến ngày về, người vợ không mở cửa, phải quay lại rừng biến thành nửa người, nửa thú.
Rồi những câu chuyện người đi tìm trầm bị thú dữ ăn thịt. Nào là chuyện có người nhặt được ba lô trầm bên cạnh bộ xương trắng... Thứ “báu vật của núi rừng”, từ ngàn đời nay luôn được vây bọc bởi những huyền thoại bí hiểm nhưng luôn có sức hấp dẫn vì giá trị rất lớn của nó.
Nghe có người bảo dưới chân núi Tượng, bên cạnh rừng cấm Cát Tiên, có người “sở hữu cả rừng trầm”, tôi vội vàng tìm đến. Người đàn ông đón tôi bằng cái bắt tay mạnh mẽ, vóc dáng to khỏe, những bắp thịt rắn chắc, nước da đồng hun đỏ au. Chưa kịp giới thiệu tên, ông cúi xuống nhặt hòn sỏi ném về phía chú gà trống choai, đang nghểnh cổ nhìn khách, cùng lúc ông khẽ huýt sáo, đàn chó xổ ra, một con chó điệu nghệ phóng đến chụp gọn chú gà tha vào bếp.
Sau “màn chào” khá ấn tượng, ông nói: “Tôi tên là Trần Văn Quyến, chủ trang trại Sơn Thủy”.
Trang trại rộng mênh mông, ngút ngàn cây cối, nào quýt, cam, dây tiêu và... cây dó. Đàn bò đủng đỉnh gặm cỏ dưới những tàng cây, không buồn nhìn khách lạ. Dưới các ao cá lội tung tăng. Đàn gà vẫn nhởn nhơ bên bầy ngỗng, chẳng có vẻ gì hoảng sợ sau khi một đồng loại vừa được hóa kiếp. Dường như trong khung cảnh bồng lai này các sinh vật coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.
Tôi theo ông bước lên nhà sàn tựa lưng vào vách núi. Ông kể cho tôi nghe bí quyết để tạo ra trầm từ cây dó: Trầm là nhựa của cây dó tiết ra để làm lành những vết thương trên thân cây. Trong thiên nhiên, vết thương của cây do thiên tai hoặc côn trùng, thú hoang tạo ra. Còn khi trồng người ta dùng nhiều cách để tạo trầm trên cây dó. Trang trại của ông đã đón hàng chục nhà khoa học về đây nghiên cứu cách tạo trầm. Có người dùng khoan sắt khoan cây, có người dùng hóa chất để phun vào cây để tạo trầm. Có người dùng những miếng thép nhỏ gỉ sét ngâm muối đóng vào thân cây...
Những cách tạo trầm trên đây được phổ biến rộng rãi. Nhưng trong quá trình chăm sóc, nâng niu từng cây dó bầu trong trang trại của mình, ông Quyến đã phát hiện có một loại côn trùng có lợi cho việc tạo trầm tự nhiên, đó là con bù xè. Con vật bé này, là ấu trùng của loài bướm đêm sinh sản mạnh mẽ trong và quanh rừng Cát Tiên, khi vừa nở nó lập tức chui vào thân cây ăn gỗ. Chúng đục những lỗ tròn dài, luồn sâu trong thân cây, ẩn mình chờ ngày hóa bướm. Với những loài cây khác, bị đục nhiều sẽ chết, nhưng với loại cây được mệnh danh là “ngôi nhà của Sơn Thần” - dó bầu, thì những vết thương ấy giúp cho nó tiết ra nhựa có mùi hương thần thoại - hương trầm.
Trầm hương được tạo nên từ cách tự nhiên nhờ con bù xè sẽ cho trầm nguyên chất, không bị nhiễm sắt, luôn bán được giá cao hơn. Trước đây, ông phải giăng lưới nuôi bướm để có con bù xè, nhưng giờ trang trại của ông là thiên đường của loại côn trùng này, vì không có thuốc trừ sâu và thân cây dó là tổ ấm của chúng, nên ông đỡ mất công nuôi dưỡng. “Thiên nhiên cái gì cũng có hai mặt của nó”, ông Quyến vừa xoi trầm từ hốc bù xè, đốt cho chúng tôi thưởng thức, vừa triết lý: “Con bù xè không phải hoàn toàn có hại. Gần ba mươi năm sống với rừng tôi học được những bài học quý giá từ thiên nhiên”.
Trang trại lúc nào cũng nhộn nhịp với khoảng 50 công nhân (thu nhập khoảng 5 triệu đồng/tháng) cùng làm việc. Ông cũng lao động quần quật như họ, ăn với họ, cư xử như người nhà. Có hai cặp quen nhau ở đây, ông làm đám cưới, xây nhà cho họ an cư lạc nghiệp ngay trong trang trại của mình.
Vừa nhẩn nha nhặt những hạt dó bầu ông vừa tâm sự: “Tôi hạnh phúc vì thực hiện được ước mơ là có một khu rừng trồng trầm hương và nhiều cây quý khác. Gần cả đời người gắn bó với rừng đã giúp tôi hiểu rõ từng loài cây trồng trong trang trại, đó là yếu tố quan trọng nhất để thành công. Tôi chỉ mong sao được đóng góp chút gì đó cho cuộc đời, cho núi rừng”.
Ông Quyến đã thực hiện ước mơ của mình bằng cách chịu khó đi thu thập khắp mọi nơi về trồng rất nhiều loài gỗ quý, trong đó có nhiều cây hiện đang nằm trong sách đỏ Việt Nam như: mun, cẩm lai, gõ đỏ, thông đỏ, giáng hương... “Tôi trồng những cây quý này không phải để thu lợi, bởi vì mấy cây này muốn khai thác phải mất vài trăm năm. Tôi trồng để bảo tồn. Nhưng điều làm tôi hạnh phúc nhất là có một cây dó bầu trong khu vườn của tôi đang kết trầm một cách tự nhiên nhất mà không có bất kỳ tác động nào của côn trùng hay hóa chất, nó đặc biệt như những cây dó bầu trong rừng già xứ Quảng vậy”, ông thâm trầm.
Tôi thầm thắc mắc: “Cái chức Phó giám đốc Vườn quốc gia Cát Tiên, phải phấn đấu cả nửa đời người mới có, mà sao ông thản nhiên giã từ chức vụ, để sống đời sống một nông dân nhỉ?”. Như đoán được ý nghĩ của tôi, ông đưa tôi trở lại nhà sàn vào thư phòng có hàng trăm cuốn sách. Nhấp ngụm trà thơm ngát mũi, thưởng thức những ngọn gió mát rượi mang theo mùi hương quyến rũ của núi rừng, lòng thanh thản, mới thấy rằng chủ nhân là người nhìn xa trông rộng. Tôi thấy thắc mắc của mình thật ngớ ngẩn, khi chợt nhớ câu Lão tử nói hơn hai ngàn năm trăm năm trước “Công toại thân thoái, thiên chi đạo” (thành công rồi thì nên lui thân, ấy là đạo trời). (Thanh Niên 18/2) đầu trang(
Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc vừa diễn tập phòng chống cháy rừng mùa khô năm 2015 với sự tham gia của hàng trăm cán bộ, chiến sĩ của các đơn vị kiểm lâm; Đội Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy khu vực Xuân Lộc, Long Khánh; Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc và các hộ dân được giao khoán đất rừng.
Đây là hoạt động diễn tập hàng năm của Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc nhằm nâng cao ý thức phòng chống cháy rừng và kỹ năng xử lý tình huống cho các lực lượng liên quan nếu có sự cố cháy xảy ra.
Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc Hoàng Đình Long cho biết: Hiện nay, nguy cơ cháy rừng đang ở cấp độ V, cấp cực kỳ nguy hiểm. Do vậy tất cả tổ trực (tổ chỉ huy, tổ lâm nghiệp, tổ chữa cháy) của đơn vị đều đảm bảo chế độ trực 24/24, với quyết tâm cao không để xảy ra sự cố cháy. (Báo Đồng Nai 14/2) đầu trang(
Sau 3 lần hoãn xử, ngày 9/2 đến 13/2, TAND tỉnh Quảng Bình đã mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án “Cưỡng đoạt tài sản” xảy ra tại Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng và tuyên 14 bị cáo tổng cộng hơn 103 năm tù.
Theo cáo trạng của Viện KSND tỉnh Quảng Bình, vào khoảng cuối tháng 4/2012, Phạm Văn Thắng (SN 1970, trú tại thôn Thanh Sen, xã Phúc Trạch, huyện Bố Trạch) cùng một số đối tượng khác tiến hành khai thác trái phép 3 cây gỗ huê ở Hung Trí (thuộc VQG Phong Nha – Kẻ Bàng).
Sau đó, Thắng đã thuê Phạm Văn Toàn (ở cùng thôn) vận chuyển 7 gùi gỗ huê có trọng lượng từ 350 - 420kg ra khỏi rừng.
Đến khoảng 12g ngày 2/5/2012, Toàn đã thuê thêm 22 người nữa vào rừng để vận chuyển số gỗ huê nói trên.
Lúc này, để tránh những rủi ro, Toàn và Thống đi ra trước để dò đường, khi đến địa phận Hung Roi (thuộc thôn 4, xã Xuân Trạch) thì gặp Nguyễn Văn Hiệu và Văn Phương.
Thấy Toàn, Phương đã dùng dao kề cổ anh và hỏi “gỗ đâu rồi”. Anh Toàn nói “gỗ thu giấu rồi”. Sau đó, Phương dùng dây dù trói anh Toàn lại. Nhóm của Toàn lần lượt bị Hiệu và Phương chặn đường khống chế và lấy hết số gỗ nói trên.
Lấy được số gỗ trên, Nguyễn Văn Hiệu đã bán cho Phạm Hải (SN 1961, ở thôn Thanh Khê, xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch) với giá 4 tỉ đồng. Số tiền bán gỗ, Hiệu chia cho các đối tượng và chi trả cho những người được nhóm Hiệu thuê gùi gỗ huê.
Sau 4 ngày làm việc, HĐXX đã phân tích tội danh đối với các bị cáo và thay đổi tội danh từ “cướp tài sản” sang tội danh “cưỡng đoạt tài sản” đồng thời, tuyên với tổng mức án là 103 năm 6 tháng tù cho tất cả các bị cáo.
Cụ thể, HĐXX đã tuyên Nguyễn Văn Hiệu 9 năm tù; Hồ Văn Phương 8 năm 6 tháng tù; Phan Văn Cảm 8 năm tù; Nguyễn Văn Cương, Nguyễn Ngọc Hoàn, Mai Hữu Sỹ, Nguyễn Xuân Quý, Lê Anh Vũ, Hồ Xuân Thiện, Lê Ngọc Lâm, Hoàng Văn Thành, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Văn Quân, Lê Bá Quyết cùng mức án 7 năm tù và buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền đã cướp được cho TAND tỉnh Quảng Bình. (Phụ Nữ 13/2) đầu trang(
13/02/2015, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 200/QĐ-XPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Theo đó, xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Lê Hữu Duyên, sinh năm 1970, địa chỉ: Tổ 11B, phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn với tổng cộng tiền phạt là 80.000.000 đồng vì đã có hành vi vi phạm hành chính: Ông Lê Hữu Duyên là chủ phương tiện trực tiếp điều khiển xe ô tô tải hiệu FORLAN, biển kiểm soát 97H-1137 vận chuyển lâm sản trái pháp luật (không có hồ sơ hợp pháp) số lượng 98 hộp gỗ xẻ nhóm III (Sao, Giổi), khối lượng 2,734 m3 (bằng 4,374 m3 gỗ quy tròn) và mua lâm sản trái với các quy định của Nhà nước (không có hồ sơ hợp pháp), số lượng 136 hộp gỗ xẻ nhóm III (Sao, Giổi), khối lượng 4,578 m3 (bằng 7,324 m3 gỗ quy tròn), vi phạm quy định tại điểm d, khoản 4, Điều 22 và điểm d, khoản 5 Điều 23 Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Xử phạt ông Lê Hữu Duyên theo tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính vì ông Lê Hữu Duyên đã tái phạm.
Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 136 hộp gỗ xẻ nhóm III (Sao, Giổi), khối lượng 4,578 m3(bằng 7,324 m3 gỗ quy tròn) theo quy định tại điểm a, khoản 12 Điều 23 Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe ô tô hiệu FORLAN, biển kiểm soát 97H-1137 (kèm theo giấy đăng ký xe ô tô số 0001414 mang tên Lê Hữu Duyên do Công an tỉnh Bắc Kạn cấp ngày 06/11/2008), theo quy định tại điểm b, khoản 11, Điều 22 Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ. Tạm giữ 01 giấy phép lái xe số AT833683 mang tên Lê Hữu Duyên do Sở Giao thông - Vận tải tỉnh Bắc Kạn cấp ngày 09/3/2012 cho đến khi ông Lê Hữu Duyên thi hành xong Quyết định xử phạt. Trả lại cho ông Lê Hữu Duyên 31 khúc gỗ Sao tròn nhóm III, khối lượng 4,554 m3 có hồ sơ, nguồn gốc hợp pháp. (Backan.gov.vn 13/2) đầu trang(
Ngày mồng 1 Tết Nguyên đán Ất Mùi khi mọi người quây quần bên gia đình để đón năm mới, thì những người làm công tác bảo vệ rừng tại Ban quản lý rừng phòng hộ Hướng Hóa – Đak Rông, tỉnh Quảng Trị lại có mặt 24/24 giờ trong rừng để làm nhiệm vụ.
Với họ, không xảy ra sự cố cháy rừng, xâm phạm rừng… tức là họ đã có một cái “Tết” bình yên. (Lao Động 19/2) đầu trang(
Gian nan con đường vận chuyển gỗ lậu của lâm tặc
Báo Đời sống và Pháp luật đã vượt quảng đường khá xa để có mục sở thị về thực trạng gỗ lậu nơi đây. Qua đó đã ghi nhận được những chiêu thức khai thác và vận chuyển gỗ trái phép hết sức tinh vi của một số người dân bản địa.
Trước đó, PV đã đăng tải đến bạn đọc bài viết Đột kích điểm nóng khai thác gỗ lậu tại một xã vùng biên, cung cấp một số thông tin phản ánh tình trạng khai thác gỗ lậu tại xã Hương Lâm.
Hương Lâm vốn là một địa danh nổi tiếng bởi từng được biết đến như một điểm nóng về gỗ lậu. Hơn 2/3 số người dân của xã kinh tế đều phụ thuộc vào gỗ và rừng. Những đầu nậu cộm cán trong nghề buôn lậu gỗ lậu ở đây cũng khá nhiều. Hình ảnh đầu tiên, khi đến với xã vùng núi là cảnh tượng gỗ  lậu có mặt ở khắp nơi. Hàng đống gỗ lộ thiên hai bên đường, trong mỗi khu vườn, từ đầu làng đến cuối xóm.
Tiếp tục đột kích vào điểm nóng này, theo ghi nhận, để khai thác được gỗ từ các nơi khác về, các lâm tặc thường tổ chức thành từng nhóm, mang theo đồ ăn thức uống, lều bạt và những phương tiện hành nghề khác. Mỗi chuyến đi để mang được gỗ từ rừng núi về phải trải qua rất nhiều khó khăn, vất vả. Bởi gỗ quý hiếm, có nhiều giá trị thường nằm ở rừng sâu, hiểm trở. Vận chuyển được gỗ ra khỏi rừng là một chuyện không hề dễ dàng, cần phải có nhiều người hợp sức lại. Phải đi bộ gần 3 ngày, qua bao nhiêu núi rừng mới đến được chỗ có nhiều gỗ quý.
“Ở đây không còn nghề gì để kiếm sống anh à!. Chỉ có duy nhất nghề đi gỗ là đem lại kinh tế nuôi sống cả gia đình. Bọn em thường đi theo nhóm. Mỗi nhóm khoảng 10 đến 15 người, kết thành một bè gỗ lớn. Sau đó sẽ hợp sức đưa gỗ ra khỏi rừng, đóng thành bè và thả để cho trôi theo dòng nước sông Rào về nhà. Mùa này nước sông cạn nên việc vận chuyển gặp nhiều khó khăn. Khi gỗ về đến Hương Lâm sẽ bán lại cho các đầu nậu mang đi tiêu thụ”, một lâm tặc chia sẻ.




Người này cũng cho biết thêm, mỗi chuyến đi xa thường kéo dài từ 5 đến 6 tháng. Mỗi bè gỗ có 5 đến 6 người đứng ra làm chủ, thuê những người khác làm công. Những người làm chủ thường là những người có khả mua nợ được các quán hàng. Nghĩa là họ bỏ vốn ra mua vật liệu và các thiết bị như xăng dầu, gạo, đồ ăn trang trải cho một chuyến đi. Khi hết thức ăn, nguyên liệu thì sẽ cho người về mang đến.
Những người chủ cùng chung vốn, sau đó sẽ cùng nhau chia lợi nhuận. Họ dựng lều ngay trong rừng, tìm gỗ khai thác theo đơn đặt hàng hoặc những loại gỗ bán được giá. Với phương tiện chủ yếu là cưa xăng, mỗi ngày họ khai thác được từ 3m3 đến 4m3gỗ.
Chi phí cho mỗi chuyến đi thường rất cao, và dù nguy hiểm, rủi ro nhưng người dân Hương Lâm vẫn bất chấp tính mạng. Bởi theo họ, đây là nghề duy nhất mang lại thu nhập cho bà con. "Làm nghề khai thác gỗ lậu ở đây rủi ro rất cao, nếu chẳng may bị lực lượng chức năng phát hiện và thu hồi thì coi như mất trắng cả chì lẫn chài", một lâm tặc khác cho biết.
Cũng theo lâm tặc này, vùng rừng thuộc xã Hương Hóa, Thuận Hóa (huyện Tuyên Hóa) cơ bản đã bị lâm tặc khai thác triệt để. Do đó, từ những ngày đầu tháng 10 vừa qua, rất đông người dân thuộc xã Hương Lâm đã đồng loạt rủ nhau lên những cánh rừng thuộc đất Lào, giáp Quảng Bình đốn gỗ.
Tuy nhiên, có một nhóm người, trong một lần vận chuyện gỗ về bãi tập kết đã bị kiểm lâm Huyện Hương Khê phát hiện và thu hồi. Bao nhiêu công sức, tiền bạc đổ vào gỗ coi như đã mất hết.(Đời Sống Pháp Luật 13/2) đầu trang(
Cưa xăng là công cụ lao động pháp luật không nghiêm cấm trong sản xuất, kinh doanh và sử dụng. Song, thời gian qua, tại một số huyện trọng điểm, như: Quan Sơn, Quan Hóa, Lang Chánh, Như Xuân, Thường Xuân... có rừng tự nhiên còn giàu tài nguyên, một số đối tượng đã sử dụng cưa xăng vào mục đích khai thác lâm sản trái phép.
Mặc dù các huyện đã triển khai các giải pháp thực hiện Chỉ thị số 29/CT-UBND ngày 30-12-2010 của UBND tỉnh về tăng cường quản lý cưa xăng, súng săn bảo vệ rừng, bảo vệ động vật hoang dã; chi cục kiểm lâm đã  tăng cường chỉ đạo các hạt kiểm lâm tham mưu cho các huyện xây dựng phương án quản lý cưa xăng tại cộng đồng gắn với ngăn chặn tình trạng khai thác lâm sản trái phép, bảo vệ rừng, tuy nhiên, tại một số xã việc sử dụng cưa xăng vẫn chưa được quản lý chặt chẽ, gây nhiều khó khăn cho công tác bảo vệ rừng. Tính riêng năm 2014,  các đơn vị thuộc chi cục kiểm lâm đã kiểm tra, bắt và xử lý theo quy định 24 vụ sử dụng cưa xăng khai thác lâm sản trái phép.
Đề nghị cấp ủy, chính quyền và các đơn vị liên quan  chủ động thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý cưa xăng, bổ sung, đưa nội dung quản lý cưa xăng vào quy ước bảo vệ rừng của từng thôn, bản; chú trọng tuyên truyền cho người dân trên địa bàn thực hiện nghiêm Chỉ thị số 29/CT-UBND. Các  hạt kiểm lâm tăng cường tuần tra, phát hiện, xử lý nghiêm minh các đối tượng cố tình sử dụng cưa xăng khai thác, chế biến gỗ trái phép. (Báo Thanh Hoá 13/2) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Tổng cục An ninh, Bộ Công an vừa có văn bản gửi lãnh đạo các tỉnh, thành phố trong cả nước, về việc ngăn chặn các hoạt động có dấu hiệu lừa đảo của Tập đoàn Rừng Toàn Cầu.
Như báo Tiền Phong phản ánh trong nhiều bài viết, thời gian qua ở nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước xuất hiện những hoạt động rầm rộ của Cty Cổ phần Phát triển rừng Toàn Cầu và các Cty trong “khối liên doanh”, mà họ tự nhận là Tập đoàn Rừng Toàn Cầu. Các doanh nghiệp thành viên chủ chốt của Tập đoàn Rừng Toàn Cầu do vợ chồng bà Lê Thị Cẩn, ông Cao Văn Xứng và một số người nhà của hai ông bà này làm Tổng GĐ, Chủ tịch HĐQT, gồm: Cty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Phát triển Hiển Vinh (Khánh Hòa), Cty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Thương mại và Xuất nhập khẩu Phúc Thịnh (Hà Nội), Cty Cổ phần Quốc tế Đầu tư và Phát triển Minh Cường (Kon Tum), Cty Cổ phần Đầu tư Phát triển kinh tế rừng bền vững Toàn Cầu (Hà Nội), Cty Cổ phần Phát triển đại chúng bền vững Quỹ Môi trường xanh Toàn Cầu (TP Hồ Chí Minh), Cty Cổ phần Phát triển bền vững Bình Minh (Khánh Hòa), Cty Cổ phần Phát triển bền vững Nông Lâm Nghiệp Việt Nam (Cần Thơ), Cty TNHH Lâm nghiệp Tân Phú (TP Hồ Chí Minh), Cty Cổ phần Phát triển rừng Toàn Cầu (Cty Rừng Toàn Cầu, TP Hồ Chí Minh).
Các thành viên của Tập đoàn Rừng Toàn Cầu không có năng lực tài chính nhưng mở văn phòng đại diện, chi nhánh ở nhiều tỉnh, thành, tổ chức nhiều hội thảo để khuếch trương thanh thế.  Các hoạt động của Tập đoàn Rừng Toàn Cầu  có nhiều sai phạm,  như: Giả mạo công văn của Văn phòng Chính phủ để đi xin thuê đất và thu gom giấy tờ đất đai của nhiều cá nhân, doanh nghiệp ở các địa phương; tuyên truyền có nguồn tiền cho nhiều hoạt động từ thiện nhưng thực tế không có nguồn tiền nào; thành lập công ty cổ phần với số vốn điều lệ ghi trong đăng ký kinh doanh lên đến hàng ngàn tỉ đồng nhưng các thành viên của công ty không góp vốn, tự ý phát hành cổ phiếu, cổ phần khống; không có vốn điều lệ nhưng vẫn ký hợp đồng hợp tác đầu tư, tài trợ, làm từ thiện bằng cổ phiếu khống…
Tháng 4/2014, Phòng Đăng ký kinh doanh, Sở KH&ĐT TP Hồ Chí Minh ra quyết định thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (CNĐKDN) của Công ty Rừng Toàn Cầu và Cty TNHH Lâm nghiệp Tân Phú. Ngày 26/1/2015, Phòng Đăng ký kinh doanh, Sở KH&ĐT Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định thu hồi CNĐKDN đối với Cty Cổ phần Phát triển đại chúng bền vững Quỹ Môi trường xanh Toàn Cầu. Tại tỉnh Khánh Hòa, ngày 20/6/2014 và ngày 7/10/2014, lần lượt 2 thành viên của tập đoàn Rừng Toàn Cầu là Cty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Phát triển Hiển Vinh và Cty Phát triển bền vững Bình Minh bị thu hồi CNĐKDN.
Mặc dù bị thu hồi CNĐKDN nhưng Cty Rừng Toàn Cầu và Cty Hiển Vinh vẫn có các hoạt động thu gom hồ sơ lập dự án vườn ươm và cấp giấy chứng nhận sở hữu cổ phần khống, thu tiền của người dân.
Để ngăn chặn hoạt động lừa đảo của các đối tượng, Tổng cục An ninh đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo: các ban, ngành chức năng tăng cường công tác tuyên truyền để nhân dân cảnh giác, không bị các đối tượng trên lừa đảo; không cho phép Cty Toàn Cầu và khối liên doanh tổ chức hội nghị ở các địa phương; kiểm tra quy trình thành lập doanh nghiệp, đăng ký vốn điều lệ, việc tăng vốn, phát hành cổ phiếu, nghĩa vụ về thuế… nhằm xử lý nghiêm các sai phạm, rút giấy phép kinh doanh thành viên Tập đoàn Rừng Toàn Cầu  và văn phòng đại diện tại các tỉnh, thành phố. (Tiền Phong 24/2) đầu trang(
Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) vừa cho biết, trong kế hoạch năm 2015, ngành Lâm nghiệp sẽ trồng tổng diện tích rừng 236,5 nghìn héc-ta, trong đó sẽ trồng mới 25 nghìn héc-ta rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.
Đây là mục tiêu quan trọng cần đạt được nhằm phát triển những diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đang từng bước giảm dần.
Cũng theo Tổng cục Lâm nghiệp, trong năm nay, toàn ngành sẽ trồng mới 90 nghìn héc-ta rừng sản xuất, trồng lại rừng sau khai thác là 90 nghìn héc-ta, trồng rừng thay thế là 31,5 nghìn héc-ta, cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt khoảng 5 nghìn héc-ta… Mục tiêu của ngành Lâm nghiệp phấn đấu trong năm 2015 đưa tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc đạt 42%, trong đó, tỷ lệ che phủ rừng từ cây rừng đạt 40,8%, tỷ lệ che phủ từ cây có tán như cây rừng trên đất lâm nghiệp đạt 1,2%. (Quân Đội Nhân Dân 23/2) đầu trang(
Thực hiện lời dạy của Bác Hồ: "Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân", trong 55 năm qua, cứ mỗi độ Tết đến Xuân về, các ngành, các địa phương, đơn vị, cơ quan, đoàn thể và nhân dân cả nước lại tích cực hưởng ứng phong trào trồng cây, trồng rừng.
Tết trồng cây không chỉ trở thành nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc trong những ngày đầu Xuân, mà còn mang lại hiệu quả thiết thực. Chỉ riêng năm 2014, cả nước đã trồng được hơn 207 nghìn ha rừng và gần 50 triệu cây phân tán; khoán quản lý, bảo vệ 5,9 triệu ha rừng; khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh rừng 377 nghìn ha. Nhờ vậy độ che phủ rừng không ngừng tăng, hiện ước đạt 41,5%, góp phần cải thiện môi trường, giảm nhẹ thiên tai, hạn chế tác động của biến đổi khí hậu.
Việc trồng cây, gây rừng còn thúc đẩy ngành kinh tế lâm nghiệp Tổ chức Tết trồng cây thiết thực, hiệu quả phát triển, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, từng bước xóa đói, giảm nghèo, ổn định kinh tế - xã hội và giữ vững quốc phòng, an ninh.
Tuy nhiên, kết quả trồng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng còn thấp, nhất là việc thực hiện trồng rừng thay thế khi chuyển đổi mục đích sử dụng khác mới đạt 35% kế hoạch; tình trạng phá rừng, cháy rừng vẫn diễn ra phức tạp ở một số địa phương. Do đó, để "Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ" đạt năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng cao, góp phần thực hiện thành công Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, các địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa của Tết trồng cây, nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về tác dụng, giá trị của rừng và công tác trồng cây, trồng rừng gắn với phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, giảm nhẹ thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Việc tổ chức Tết trồng cây cần thiết thực, hiệu quả, không phô trương hình thức. Bên cạnh việc tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, trường học, lực lượng vũ trang và mọi người dân tham gia trồng cây, trồng rừng, các địa phương, đơn vị cần xây dựng kế hoạch trồng cây, trồng rừng gắn với triển khai nhiệm vụ thực hiện các chỉ tiêu nhiệm vụ năm 2015 và Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 9-1-2012 và Kế hoạch trồng rừng thay thế diện tích rừng đã chuyển đổi sang mục đích sử dụng khác.
Tùy theo đặc điểm địa hình, địa chất, điều kiện thổ nhưỡng, từng địa phương cần chuẩn bị cây giống có chất lượng tốt; tranh thủ thời vụ và tiết trời thuận lợi để trồng các loại cây ăn quả, lấy gỗ, cây làm lá chắn sóng bảo vệ đê biển, chống xói mòn đất, cát bay, cát nhảy phù hợp ở những nơi đất trống, đồi núi trọc, trong các khu công nghiệp, trường học, bệnh viện, hay khu dân cư, hoặc trên các bờ vùng, bờ thửa, vùng phòng hộ ngoài đê biển. Tổ chức phân công trách nhiệm quản lý cụ thể trong việc chăm sóc, quản lý, bảo vệ cây trồng; có biện pháp phòng, chống cháy rừng, ngăn chặn tình trạng chặt phá, đốt rừng, khai thác rừng trồng trái pháp luật. %. (Nhân Dân 23/2) đầu trang(
Mặc dù đang đứng đầu Đông Nam Á về xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ với kim ngạch năm 2014 đạt 6,23 tỷ USD nhưng nước ta vẫn phải nhập lượng lớn gỗ nguyên liệu. Điều này nếu kéo dài sẽ làm giảm kim ngạch xuất khẩu của ngành cũng như sức cạnh tranh của doanh nghiệp chế biến gỗ trong nước.
Việc Việt Nam kết thúc đàm phán 2 Hiệp định thương mại tự do (FTA) với Liên minh Hải quan Nga - Belarus - Kazakhstan và FTA Việt Nam - Hàn Quốc sẽ tạo sự cạnh tranh cho hàng nội địa thông qua giảm thuế, thúc đẩy đầu tư nhằm mở rộng sản xuất, chú trọng phát triển công nghiệp hỗ trợ...  Những cơ hội này còn mở rộng hơn nữa khi Hiệp định Đối tác song phương về quản trị rừng và thương mại lâm sản (FLEGT) với Liên minh châu Âu (EU) và Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được ký kết. Nó sẽ giúp duy trì và mở rộng thị trường cho sản phẩm gỗ của Việt Nam tại EU, nâng cao hình ảnh quốc gia và thương hiệu cho ngành công nghiệp gỗ.
Cùng với đó, nền kinh tế Mỹ, EU, Nhật Bản… đang ấm dần khiến nhu cầu nhập khẩu gỗ tăng cao. Việc Hoa Kỳ đang tạo áp lực về thuế chống bán phá giá với Trung Quốc - quốc gia sản xuất đồ gỗ lớn nhất thế giới - cũng tạo cho nước ta nhiều thuận lợi để gia tăng giá trị xuất khẩu trong thời gian tới.


Ngành gỗ cũng đang có rất nhiều cơ hội nội tại đem lại khi kinh tế vĩ mô ổn định. Đặc biệt, Quyết định 889/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp nêu rõ: tập trung gia tăng tỷ lệ rừng kinh tế, phát triển rừng sản xuất thành ngành kinh tế quan trọng, chuyển cơ cấu xuất khẩu dăm gỗ sang cung cấp nguyên liệu cho chế biến gỗ, giảm dần nhập khẩu… Đây là những lực đẩy quan trọng tiến tới bảo đảm nguồn nguyên liệu cho ngành gỗ.
Tại Hội nghị thường niên Đối tác Lâm nghiệp năm 2015 mới đây, Phó chủ tịch Hội Chế biến gỗ và Mỹ nghệ TP Hồ Chí Minh Huỳnh Văn Hạnh cho rằng, thách thức lớn của doanh nghiệp xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam hiện nay là phải đối mặt với việc gia tăng xu hướng bảo hộ của Chính phủ các nước đối tác. Thị trường EU có kế hoạch tăng cường thực thi luật đối với gỗ và sản phẩm gỗ nhập khẩu vào các quốc gia trong khối...
Cụ thể, theo các quy định của FLEGT, sản phẩm gỗ xuất khẩu sang EU phải có chứng nhận chuỗi hành trình sản phẩm, không được trộn lẫn các sản phẩm gỗ hợp pháp và chưa được xác minh. Chẳng hạn, nếu là gỗ rừng trồng tại Việt Nam thì phải được khai thác đúng theo luật pháp Việt Nam, hoặc được cấp chứng chỉ quản lý rừng của bên thứ ba đáng tin cậy…
Để đáp ứng yêu cầu này, doanh nghiệp trong ngành phải chuyên nghiệp hóa quy trình sản xuất, kinh doanh trên cơ sở tuân thủ luật pháp, bảo đảm nguồn gốc của sản phẩm. Song, trên thực tế, phần lớn doanh nghiệp chế biến gỗ nước ta hiện có quy mô vừa và nhỏ, thường mua gỗ của dân không lưu lại hồ sơ. Giấy tờ mua bán, hoặc có thì chỉ là giấy viết tay, không đầy đủ…
Theo ông Hạnh, đây mới chỉ là một chi tiết rất nhỏ, còn rất nhiều quy định khác khó đáp ứng hơn mà doanh nghiệp buộc phải tuân thủ trong khi doanh nghiệp lại nắm bắt thông tin mơ hồ, chủ quan.
Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam Nguyễn Tôn Quyền chia sẻ một thách thức khác: phần lớn trong số 3.500 doanh nghiệp chế biến gỗ đang phải nhập khẩu tới 4 triệu m3 gỗ/năm, chiếm 80% tổng nguyên liệu sử dụng của toàn ngành cho xuất khẩu. Nếu cứ kéo dài tình trạng này, kim ngạch xuất khẩu gỗ trong tương lai sẽ có nguy cơ giảm mạnh khi giá nhập khẩu gỗ và chi phí vận chuyển đều tăng. Các doanh nghiệp chế biến gỗ trong nước cũng sẽ yếu dần do không thể cạnh tranh nổi với những nước trong khu vực có khả năng tự cung ứng nguyên liệu như Trung Quốc, Malaysia...
Hơn nữa, với cách làm như hiện nay, doanh nghiệp chưa quản lý được toàn bộ quá trình vận chuyển gỗ nên khó chứng minh được nguồn gốc. Điều này đồng nghĩa với việc sản phẩm của doanh nghiệp sẽ bị quy vào chế biến từ gỗ khai thác trái phép và mất thị trường là điều tất yếu.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Hà Công Tuấn cho biết, nước ta đang dẫn đầu các nước Đông Nam Á về xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ với kim ngạch năm 2014 đạt 6,23 tỷ USD, tăng hơn 12% so với năm 2013. Thị trường xuất khẩu chủ yếu là EU (51%), Hoa Kỳ (12%), Trung Quốc (16%), Nhật Bản (4%) và một số quốc gia khác như Australia, Canada, Hàn Quốc...
Mặc dù kim ngạch xuất khẩu lớn, nhưng hệ số lợi nhuận và giá trị gia tăng chưa cao, nguyên nhân chính là doanh nghiệp chế biến lệ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên liệu. Chính vì vậy, ngay từ bây giờ, các doanh nghiệp ngành gỗ cần phải tập trung đầu tư cho vùng nguyên liệu; tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước; đặc biệt chú trọng đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cấp chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm tinh…
Vềì lâu dài, để tháo gỡ khó khăn cho ngành chế biến gỗ, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Ts Nguyễn Bá Ngãi cho rằng, cần bám sát Đề án tái cơ cấu ngành, xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung gắn với các trung tâm chế biến gỗ; quản lý bền vững và có hiệu quả tổng diện tích rừng sản xuất được quy hoạch là 8,4 triệu hécta; tổ chức lại sản xuất theo chuỗi sản phẩm từ trồng rừng, thu mua nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; hình thành các doanh nghiệp quy mô vừa và lớn ở từng vùng kinh tế…
Và, để tự cứu mình, các doanh nghiệp nên tập trung phát triển sản phẩm có ưu thế cạnh tranh cao như đồ gỗ nội thất, đồ gỗ ngoài trời, đồ mộc mỹ nghệ và sản phẩm mây tre; xây dựng hệ thống phân phối sản phẩm có hiệu quả đối với cả thị trường trong và ngoài nước. (Đại Biểu Nhân Dân 14/2) đầu trang(
2015, tỉnh Bắc Kạn có kế hoạch trồng mới 8.000ha. Đến thời điểm này, toàn tỉnh đã thiết kế được 7.926ha đạt 93% kế hoạch năm.
Ban Quản lý dự án 147 các huyện, thị xã, vườn quốc gia Ba Bể, Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bắc Kạn đã ký hợp đồng với các đơn vị tư vấn đẩy nhanh tiến độ thiết kế trồng rừng. Đến nay, toàn tỉnh đã thiết kế đạt 93% kế hoạch. Trong đó, diện tích thiết kế rừng phòng hộ, đặc dụng là gần 123/190ha, đạt 65% kế hoạch; Diện tích thiết kế trồng rừng sản xuất tập trung là 6.094/6.515ha, đạt 94% kế hoạch.
Việc triển khai công tác thiết kế trồng rừng sớm sẽ giúp các địa phương đẩy mạnh việc xử lý thực bì, cuốc hố trồng rừng đảm bảo đúng thời vụ. (Đài PTTH Bắc Cạn 14/2) đầu trang(
Để phủ xanh lại đất trống đồi trọc, Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đăk Tô đã vận động được người dân trả lại được 1.000 ha đất rừng lấn chiếm làm nương rẫy trước đây, để trồng rừng sản xuất và phòng hộ từ nguồn vốn dịch vụ môi trường rừng (DVMTR).
Theo đó, năm 2014, Công ty đã tiến hành giao khoán cho dân trồng được 300 ha rừng và dự kiến năm 2015 sẽ trồng 700 ha rừng. Việc người dân trả lại đất rừng cho thấy chính sách DVMTR đã có tác động tích cực đến đời sống người dân và chính sách phát triển lâm nghiệp ở địa phương. (Tiền Phong 13/2) đầu trang(
Những cánh rừng trồng xanh ngắt chạy dài, những vườn keo lai, keo tai tượng mỡ màng xen lẫn với trám, lát vươn mình trong nắng gió. Đất trời Hoà Bình hôm nay được khoác lên mình tấm áo xanh đầy sức sống của rừng.
Trong tiết trời se lạnh của ngày đầu xuân, PV về xã Ngọc Mỹ (Tân Lạc). Ngọc Mỹ có 19 xóm, là xã còn nhiều khó khăn nhưng phong trào trồng rừng phát triển mạnh. Xóm Đôi và xóm Cóc có diện tích rừng nhiều nhất xã. Ông Bùi Văn Dương, Chủ tịch UBND xã Ngọc Mỹ cho biết: Năm 2014, xã trồng được trên 200 ha rừng, diện tích rừng khai thác cho thu nhập trên 6 tỉ đồng. Có được những cánh rừng trải dài  này là nhờ chỉ đạo, tổ chức triển khai của cấp ủy, chính quyền xã và sự đồng lòng, chung sức của nhân dân. Trước đây, do đời sống người dân còn nhiều khó khăn nên bà con đã  chặt phá rừng bừa bãi.
Để khắc phục tình trạng đó, Ban quản lý phát triển rừng xã và các thôn, xóm rà soát lại diện tích rừng bị lấn chiếm, đẩy mạnh tuyên truyền thông qua các cuộc họp thôn, xóm, tuyên truyền trên hệ thống loa phát thanh xã... để giúp người dân hiểu rõ những lợi ích trong phát triển trồng rừng. Nhờ đó, bà con đã có nhận thức đúng đắn và tích cực trồng cây gây rừng. Nhiều hộ thoát nghèo và có cuộc sống khấm khá từ  trồng rừng.
PV đến xóm Đôi, diện tích rừng keo 7, 5 ha 6 năm tuổi của gia đình anh Bùi Văn Tuấn đang được các thương lái thu mua khai thác trọn gói. Anh Tuấn cho biết: Gia đình trồng rừng từ năm 1999 theo dự án Pam. Khi dự án kết thúc, gia đình tự đầu tư trồng và chăm sóc. Năm nay rừng cho khai thác chu kỳ 2, toàn bộ diện tích này là của 4 anh em chung nhau làm, cùng với trồng keo, gia đình anh trồng xen sắn dưới tán rừng cho thu hoạch từ 50-60 tấn /năm. Thu nhập từ diện tích rừng năm nay được 335 triệu đồng, đây là thành quả lao động của cả 4 anh em. Vì không phải thuê lao động làm nên số tiền trên chia đều cũng được hơn 80 triệu đồng /người. Vậy là Tết này các anh có “món” để sắm sửa đàng hoàng, tươm tất hơn cho gia đình. Sau thu hoạch là đến giai đoạn phát dọn thực bì, tìm nguồn giống chất lượng để vào vụ trồng rừng mới.
Ông Nguyễn Xuân Trường, Chi cục phó Chi cục Lâm nghiệp cho biết: Năm 2014, tỉnh có kế hoạch trồng mới 8.560 ha rừng. Nhờ chủ động về đất đai, cây giống, đến hết tháng 12, các huyện, thành phố và lâm trường trên toàn tỉnh đã trồng được 8.641 ha và 266.591 cây phân tán. Trong đó, các dự án hỗ trợ đầu tư trồng rừng sản xuất 1.608 ha; công ty Lâm nghiệp trồng được 862 ha; dự án kfw7 trồng 555 ha; nhân dân tự bỏ vốn trồng được 5.615 ha. Cùng với trồng mới, địa phương tập trung bảo vệ 89.098 ha rừng. Các khu rừng được bảo vệ tốt không có hiện tượng chặt, cháy, lấn chiếm xâm hại rừng làm nương rẫy.
Với kết quả đó, tỉnh tiếp tục duy trì độ che phủ rừng ổn định khoảng 49,41%. Để triển khai có hiệu quả chỉ tiêu phát triển rừng ngay từ đầu năm, các địa phương đã giao đất lâm nghiệp, giao rừng, cho thuê đất lâm nghiệp đối với các hộ và các đơn vị sản xuất kinh tế lâm nghiệp; khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng quy mô, chế biến lâm sản trên địa bàn để tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường.
Bên cạnh đó, công tác BVR cũng luôn được quan tâm và chú trọng. Từ việc nhận khoán trồng, chăm sóc, bảo vệ, ý thức của người dân trong công tác BVR đã được nâng lên rõ rệt. Những khu rừng keo có tác dụng cải tạo, hồi sinh vùng đất bạc màu và trả lại sự cân bằng môi trường sinh thái. Ngoài lợi ích về kinh tế, nhờ phát triển lâm nghiệp mà nhiều năm qua, tỉnh đã giảm thiểu tình trạng sạt lở núi trong mùa mưa. Thực tế tại các địa phương cho thấy, phong trào trồng rừng kinh tế đã phát triển mạnh. Hàng ngàn hộ nông dân của các huyện Kim Bôi, Lạc Thủy, Lạc Sơn... từ nghèo khó đã  vươn lên khá giả nhờ trồng rừng, phát triển nông, lâm kết hợp...
Những người trồng rừng trong tỉnh được nghỉ ngơi sau một năm hăng say lao động và chuẩn bị bước vào mùa trồng rừng mới. Đi giữa tiết trời se lạnh, nhìn những vạt rừng nối tiếp nhau trải dài tít tắp mà lòng tôi như  ấm lại và có niềm tin vững chắc: rừng xanh sẽ mang đến no ấm. (Báo Hòa Bình 14/2) đầu trang(
Theo kế hoạch, trong dịp Tết trồng cây Xuân Ất Mùi 2015, tỉnh Phú Thọ phấn đấu trồng 650 ha rừng tập trung, 517 ngàn cây phân tán, tạo đà để năm 2015 toàn tỉnh hoàn thành kế hoạch trồng khoảng 1 triệu cây phân tán, gần 6.500 ha rừng tập trung. Thời gian phát động, tổ chức Tết trồng cây từ ngày 24/2/2015 (tức ngày mùng 6 tháng Giêng năm Ất Mùi) đến ngày 24/3/2015.
Để hoàn thành mục tiêu trong dịp Tết trồng cây Xuân Ất Mùi và kế hoạch trồng cây, trồng rừng năm 2015 đảm bảo hiệu quả, chất lượng, tỉnh Phú Thọ yêu cầu các địa phương, các đơn vị, cơ quan, doanh nghiệp trong tỉnh tuyên truyền ý nghĩa, hiệu quả kinh tế và tác dụng nhiều mặt của việc trồng cây, trồng rừng; phổ biến kinh nghiệm và giới thiệu gương người tốt, việc tốt, các mô hình trồng rừng đạt hiệu quả kinh tế, các tổ chức, cá nhân điển hình tiêu biểu trong việc phát triển kinh tế đồi rừng và quản lý bảo vệ tài nguyên rừng làm cơ sở nhân rộng phong trào.
Tỉnh chỉ đạo ngay sau khi triển khai Tết trồng cây "Đời đời nhớ ơn Bác Hồ", từng địa phương, đơn vị rà soát quy hoạch và hiện trạng quỹ đất lâm nghiệp trên địa bàn, phân bổ chi tiết cho các xã, phường, thị trấn, đơn vị; cụ thể hoá địa điểm trồng cây, trồng rừng, nhất là địa điểm phát động Tết trồng cây; khẩn trương khảo sát, thiết kế, lập dự toán, xử lý thực bì, cuốc hố, chuẩn bị đầy đủ vật tư phân bón, cây giống, nhân lực... đảm bảo kế hoạch.
Các địa phương trong tỉnh chú ý ngay từ khâu quản lý giống, đảm bảo lựa chọn cây trồng phù hợp; có kế hoạch ký kết hợp đồng cung ứng, dịch vụ cây giống với cơ sở sản xuất, kinh doanh có uy tín, đủ điều kiện để đưa được nhiều cây tốt vào trồng, tạo điều kiện nâng cao chất lượng, hiệu quả trồng cây, trồng rừng. (Tin Tức 21/2) đầu trang(
Để nuôi sống động vật hoang dã đã là vấn đề khó với nhiều người, nhưng với lòng đam mê và chịu khó học hỏi, anh Cao Thanh Long (sinh năm 1976, ngụ quận Thủ Đức, TP.HCM) còn làm được nhiều hơn thế.
Sau hơn 8 năm gắn bó với động vật hoang dã (ĐVHD), anh Cao Thanh Long đã xây dựng cho mình được một trang trại nuôi ĐVHD quy mô lớn bậc nhất tại thành phố với thu nhập tiền tỷ mỗi năm. Điều đặc biệt trang trại ĐVHD của anh không nằm ở những nơi xa xôi, hẻo lánh mà lại nằm ngay giữa đất Sài Gòn phồn hoa.
Đến đường số 11 (của phường Linh Xuân, quận Thủ Đức), chúng tôi dễ dàng tìm đến được trang trại nuôi ĐVHD của anh Cao Thanh Long. Dù trang trại này nằm trong hẻm nhưng hầu như khi hỏi về trang trại này người dân địa phương đều biết đến. Lúc chúng tôi đến, anh Cao Thanh Long đang bận bịu cùng  công nhân của mình bứng một số cây xanh về trồng. Anh cho biết các loại ĐVHD ưa môi trường có nhiều cây cối gần gũi với thiên nhiên nên anh đang tăng cường trồng mảng xanh cho trang trại.
Dẫn chúng tôi đi tham quan trang trại, chúng tôi vô cùng ngạc nhiên, thích thú bởi môi trường gần gũi với thiên nhiên của trang trại Thanh Long. Tọa lạc trên diện tích hơn 4.000m2, sát bên vườn tràm rộng lớn trang trại của rất mát mẻ, yên tĩnh và dường như biệt lập hẳn với bên ngoài. Bên trong trại, anh Long chia ra làm nhiều khu vực với thiết kế thoáng đãng, khoa học để nuôi nhốt các loại ĐVHD khác nhau. Cũng nhờ vậy mà các loại động vật này có được không gian yên tĩnh, không gây ảnh hưởng lẫn nhau.
Nói về quá trình gắn với ĐVHD của mình, anh Cao Thanh Long cho biết đến với nghề này cũng trong một dịp tình cờ. Đó là vào năm 2006, trong một lần lên thăm người thân ở Bình Dương anh thấy có người nuôi gà rừng. Anh thích thú tìm mua về một cặp nuôi thử. Không ngờ trong lúc nuôi anh nhận thấy loại gà rừng này dễ nuôi, ít bệnh tật và từ đó anh lập tức có suy nghĩ sẽ phát triển đàn gà rừng bằng cách ấp đẻ tự nhiên. Nghĩ là làm anh đã tự mày mò, học hỏi các kỹ thuật về chăm sóc, ép đẻ gà rồi áp dụng cho đàn gà rừng của mình. Khoảng 1 năm sau anh đã thành công trong việc cho đẻ gà rừng. Cũng từ đây đàn gà rừng của anh ngày càng tăng về số lượng, đến khi phát triển lên thành 400 con gà rừng, anh mới yên tâm và toàn tâm toàn ý gắn với đàn gà. Trang trại gà rừng của anh dần được nhiều người biết và tìm đến mua, nhiều thời điểm lượng gà cung không đủ cầu.
Cũng trong thời điểm này phong trào nuôi nhím phát triển mạnh nên anh cũng dành dụm từng đồng vốn để mua nhím về nuôi. Và anh cũng được xem là một trong những người đầu tiên nuôi nhím tại Sài Gòn. Anh Long cho biết vào thời hoàng kim một cặp nhím giống anh bán được từ 7 - 10 triệu đồng, còn nhím bố mẹ giá từ 20 – 30 triệu đồng/cặp, còn nhím thịt cũng rất được giá và được các thương lái tự tìm đến trại để mua. Khi đó nguồn thu từ nhím rất lớn nên anh có thêm điều kiện mở rộng chuồng trại. Nhưng thời hoàng kim của nhím cũng nhanh chóng trôi qua khi nhiều người dân thấy lợi nhuận hấp dẫn nên đổ xô nuôi dẫn đến cung vượt quá cầu.
Thế rồi anh lại tập trung nuôi dúi, một động vật nhìn giống chuột nhưng cho thịt thơm ngon, được thị trường ưa chuộng. Đây cũng là loài động vật hoang dã chủ lực mang lại thu nhập cao cho trang trại anh, loại này nuôi khá đơn giản, sức đề kháng cao và đặc biệt thức ăn của chúng là các loại rau, củ, mía,… nên rất dễ tìm và ít tốn kém. Đối với dúi, mỗi năm sinh sản 4 lứa (một lứa từ 3 – 5 con) nên số lượng dúi trong trại của anh cũng chiếm số đông so với các loại động vật khác.
Chưa dừng lại, với diện tích đất trong trại rộng lớn anh luôn tìm các loại ĐVHD về nuôi, và loại được anh đặc biệt quan tâm đó là chồn hương. Ban đầu anh đã phải lặn lội đi khắp nơi tìm mua giống chồn hương về nuôi. Sau đó với kinh nghiệm nhiều năm trong nuôi ĐVHD anh không gặp khó khăn trong việc nuôi dưỡng, nhân giống loại ĐVHD này.  Nhờ được chăm sóc kỹ, đàn chồn hương trong trại của anh sinh trưởng tốt và không ngừng gia tăng về số lượng. Anh Long cho biết việc nuôi loại chồn hương này không quá khó khi nguồn thức ăn chủ yếu là cháo đầu gà. Các đầu gà được anh ra chợ mua về đem xay rồi nấu cháo cho chồn ăn, với chi phí không cao.
Đặc biệt khi nhận thấy thịt cheo được thị trường ưa chuộng, nhất là các nhà hàng nên anh cũng tìm mua con cheo về nuôi. Từ một vài con ban đầu, đến nay đàn cheo trong trại của anh lên đến vài trăm con. Trang trại anh trở thành nơi cung cấp chính cheo thịt cheo cho thị trường thành phố. Anh Long cho biết: “Trong khu vực thành phố và các vùng lân cận hầu như rất ít người nuôi được cheo. Nhưng trang trại của mình không chỉ nuôi được mà còn nhân giống được đàn cheo. Loại này khá nhút nhát nên trong khu vực nuôi cần phải trồng nhiều cây cỏ, làm hang để tạo vẻ hoang dã để cheo có nơi trú ẩn”.
Theo chân anh đi một vòng quanh trại chúng tôi còn bắt gặp nhiều loại ĐVHD khác được anh nuôi dưỡng, thuần hóa. Tất cả đều sinh trường tốt, và khá dạn dĩ với con người. Anh Long cho biết đến nay trang trại của anh đang nuôi dưỡng, thuần hóa được 12 loài ĐVHD. Các loài này anh đều có đăng ký với bên Chi cục Kiểm lâm và được kiểm tra định kỳ. Đó còn chưa kể nhiều loại không cần phải đăng ký như gà rừng, gà đông tảo, chim công, chim trĩ…
Nhờ chịu khó tìm tòi học tập kinh nghiệm cũng như nỗ lực trong nghề nên đến nay sau hơn 8 năm thành lập trang trại nuôi ĐVHD của anh không ngừng phát triển. Số lượng ĐVHD trong trại luôn tăng theo từng năm. Các loại động vật anh nuôi đều mang lại thu nhập cao cho gia đình và trở thành mơ ước của nhiều người. Trong đó chỉ tính riêng gà rừng mỗi tháng anh có khoảng 400 con giống. Với giá mỗi con 100.000 đồng anh đã có thu nhập 40 triệu đồng/tháng, trong khi chi phí chăm sóc gà không cao.
Còn đối với cheo hiện cũng đang là loài mang lại thu nhập hấp dẫn. Loại này được các nhà hàng đặt mua nhiều, hầu như đến khi xuất chuồng thì cheo đều không đủ để bán cho đối tác. Loại động vật này cũng mang lại thu nhập cho gia đình anh mỗi năm hàng trăm triệu đồng. Nhưng theo anh Long hiện nay loại ĐVHD mang lại có giá trị kinh tế cao nhất chính là chồn hương. Loại này thịt thơm ngon được nhiều nhà hàng đặt mua mỗi khi xuất chuồng. Bên cạnh đó chồn hương còn được nhiều nông dân ở các tỉnh lân cận mua giống về nuôi để sản xuất cà phê chồn, do đó hầu như các con giống trong trại anh khi xuất ra đều có người đặt mua hết.
Anh Long cho biết hiện nay trang trại anh hơn 400 con chồn hương, mỗi năm anh thu nhập hàng tỷ đồng từ bán chồn thịt và giống. “Một con chồn hương vậy để 1 năm 2 lứa, một lứa 4 con. Trong khi mình bán con giống như vậy từ 3 – 5 triệu đồng. Như vậy với số lượng hiện có trong trại thì mỗi năm nếu tính ra thu tiền tỷ từ chồn hương. Đó còn chưa kể số lượng chồn bán thịt cũng rất được giá với 1,3 triệu đồng/kg”.
Ngoài ra các loại như dúi, nhím, chim trĩ, chim công, gà đông tảo,…cũng đang mang lại nguồn lợi không nhỏ cho trang trại. Các loại này cũng có khách hàng thường xuyên tìm đến trại mua. Đặc biệt trong dịp tết gà Đông Tảo trong trang trại Thanh Long cũng là loại được nhiều người đặt mua. Với đàn gà Đông Tảo này mỗi năm anh thu cũng vài chục triệu đồng.
Tận dụng diện tích đất rộng, anh còn nuôi thêm hàng chục con chó Phú Quốc sinh sản. Anh Long cho biết việc nuôi loài chó này nói đúng nghĩa là “làm chơi, ăn thiệt”. Bởi theo anh việc nuôi chó này không khó khăn, vừa nuôi để chó canh giữ trại vừa để bán con giống. Anh cho biết đàn chó Phú Quốc nuôi trong trại anh đang trong thời kỳ sinh sản, con giống không đủ bán cho khách. Ước tính mỗi năm đàn chó cũng mang lại cho anh khoảng 100 triệu đồng từ bán con giống.
Theo tính toán của anh trừ chi phí, mỗi năm anh thu lợi nhuận hơn 1 tỷ đồng từ trang trại nuôi ĐVHD. Từ nguồn thu nhập này anh không ngừng mở rộng quy mô trang trại để tiếp tục nghề nuôi ĐVHD. Theo dự kiến anh Long sắp tới sẽ bố trí hệ thống phun sương, quạt hút để tạo thông thoáng, mát mẻ cho chuồng trại. Bên cạnh đó anh cũng tìm kiếm nuôi thêm loại ĐVHD để đáp ứng nhu cầu thị trường.
Với những thành quả đạt được anh Cao Thanh Long được bầu chọn là nông dân sản xuất kinh doanh giỏi cấp thành phố trong nhiều năm liền. Trang trại của anh được xem là một trong những trang trại làm ăn có hiệu quả tại thành phố. Anh Long cho biết hiện nay trang trại nuôi ĐVHD của anh có khách hàng ở nhiều nơi, không chỉ ở thành phố mà còn ở một số tỉnh, thành khác với đầu ra luôn ổn định. Trang trại nuôi ĐVHD của anh cũng trở thành điểm đến tham quan học tập kinh nghiệm của sinh viên một số trường đại học, một số nhà khoa học và nhiều nông dân có nhu cầu nuôi ĐVHD tại thành phố và các khu vực lân cận.
Chia sẻ về kinh nghiệm nuôi ĐVHD, anh Long cho biết ĐVHD là loại có sức đề kháng cao, ít bệnh tật, ít rủi ro và rất dễ ăn. Thức ăn chủ yếu là rau củ, quả và một số loại thịt động vật mua ở chợ với giá khá thấp. Nuôi ĐVHD không khó nhưng trước mắt người nuôi phải yêu nghề, phải yêu chúng và chịu khó tìm hiểu thì mới thành công được.
Chẳng hạn như nói về việc cho động vật ăn, anh Long cho biết: “Để cho ăn đúng cách thì phải tìm hiểu về đặc tính của chúng. Các loại ĐVHD đa phần là loài hay ăn đêm, nên mình phải tìm hiểu và cho chúng ăn vào thời gian thích hợp, một số loài không thể cho ăn vào ban ngày được.”.
Ngoài ra theo anh Long, không gian nuôi ĐVHD cũng phải thoáng đãng, yên tĩnh và có nhiều cây cỏ. Các chuồng nuôi nhốt cũng phải được bố trí một cách khoa học để  tiện chăm sóc và để chúng có không gian đủ rộng để phát triển tốt. Với những kinh nghiệm có được từ quá trình tích lũy gần chục năm trong nghề, anh Long cho biết sẵn sàng truyền đạt những kinh nghiệm về nuôi ĐVHD cho bất cứ ai có nhu cầu. (Dân Việt 21/2) đầu trang(
Quảng Ninh là tỉnh công nghiệp, nhu cầu về gỗ trụ mỏ, gỗ nguyên liệu cho các nhà máy chế biến, sản xuất dăm gỗ xuất khẩu và nhà máy ván ép ở Quảng Ninh rất lớn, trung bình 1.000-1.500m3 gỗ/ngày. Song, khả năng cung cấp gỗ của rừng tự nhiên không còn đáng kể, thậm chí không còn. Do đó, lượng gỗ cung cấp hiện nay chủ yếu là từ rừng trồng. Cũng chính vì vậy, phong trào trồng rừng sản xuất phát triển ngày càng mạnh trên địa bàn tỉnh.
Các chương trình trồng rừng trước đây của tỉnh chỉ áp dụng biện pháp trồng rừng quảng canh, cây giống gieo từ hạt, mức độ đầu tư thấp, chu kỳ kinh doanh dài từ 10-12 năm, năng suất rừng chỉ đạt 8-10m3/ha/năm. Do vậy, hiệu quả kinh tế, môi trường mang lại chưa cao. Ở nhiều địa phương, tỷ lệ thành rừng cho nhiều loại cây bình quân chỉ đạt 50-60% so với diện tích đã trồng. Đời sống của người dân làm nghề rừng còn gặp nhiều khó khăn.
Trước thực trạng đó, chị Hoàng Thị Thế, cán bộ Trung tâm Khoa học và Sản xuất lâm nông nghiệp Quảng Ninh đã tìm tòi nghiên cứu và sáng tạo giải pháp “Ứng dụng tổng hợp các giải pháp thâm canh trồng rừng năng suất cao phục vụ nhu cầu lấy gỗ mỏ, gỗ công nghiệp ở Quảng Ninh”.
Theo chị Hoàng Thị Thế, trồng rừng thâm canh là một phương pháp canh tác dựa trên cơ sở được đầu tư cao bằng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp và liên hoàn. Các biện pháp đó phải tận dụng, cải tạo và phát huy được mọi tiềm năng của tự nhiên, con người nhằm thúc đẩy mạnh mẽ quá trình sinh trưởng của rừng trồng, góp phần tạo năng suất cao, chất lượng sản xuất tốt với giá thành hạ để cho hiệu quả lớn... Trồng rừng thâm canh cũng đã nhận được sự quan tâm rất lớn của các nhà khoa học và các nhà sản xuất kinh doanh rừng.
Dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu các giải pháp thâm canh tiên tiến trong và ngoài nước, chị Hoàng Thị Thế đã ứng dụng tổng hợp các giải pháp trồng rừng thâm canh năng suất cao phục vụ nhu cầu lấy gỗ mỏ, gỗ công nghiệp ở Quảng Ninh. Trong giải pháp này, chị Thế đã sử dụng 2 loại cây giống là bạch đàn mô và keo lai hom để trồng thử nghiệm tại huyện Đông Triều. Bởi, đây là các loại cây được ưu tiên trong định hướng phát triển lâm nghiệp của tỉnh.
Sau thời gian nghiên cứu, thử nghiệm thực tế, chị Hoàng Thị Thế nhận định: Trồng rừng có năng suất cao ở Quảng Ninh nên chọn sử dụng giống được sản xuất bằng các phương pháp tiên tiến (nuôi cấy mô và giâm hom) như bạch đàn mô (dòng U6) và keo lai hom (dòng BV10). Mật độ 1.650 cây/ha để trồng rừng là phù hợp, cây rừng sẽ sinh trưởng tốt hơn và có độ đồng đều cao nhất. Phân bón hữu cơ (loại phân gà ủ mục), khối lượng 2kg kết hợp với 0,2 phân NPK để bón lót là tốt nhất.
Với giải pháp này, hiệu quả kinh tế mang lại rất lớn. Tình hình cây sinh trưởng tốt như vậy chắc chắn đến hết chu kỳ 6-7 năm sẽ đạt trên 30m3/ha/năm, tăng gấp nhiều lần so với trước đây (chỉ đạt 8-10m3/ha/năm). Lợi nhuận sẽ thu được trên 30 triệu đồng/ha/năm.
Phương pháp này còn góp phần thay đổi suy nghĩ về kinh doanh rừng cổ điển, không hiệu quả như trước đây của người dân làm nghề rừng từ phương thức trồng quảng canh, hiệu quả thấp đến chỗ có thể áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh lâm nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế, vươn lên làm giàu từ rừng. Không những vậy, ứng dụng tổng hợp các giải pháp trồng rừng thâm canh năng suất cao sẽ tạo nền tảng khoa học, thực hiện cho công tác đầu tư thâm canh rừng trồng có hiệu quả ở Quảng Ninh. Giải pháp này còn góp phần hiện thực hoá chủ trương ứng dụng khoa học vào sản xuất lâm - nông nghiệp của tỉnh, tạo hiệu quả kinh tế cao...
Đến nay, tại các địa phương: Hoành Bồ, Quảng Yên, Uông Bí, Đông Triều, Móng Cái đã có trên 500ha rừng áp dụng kỹ thuật thâm canh này. Diện tích rừng sinh trưởng rất tốt và hứa hẹn đem lại thu nhập cao cho người dân.
Giải pháp “Ứng dụng tổng hợp các giải pháp thâm canh trồng rừng năng suất cao phục vụ nhu cầu lấy gỗ mỏ, gỗ công nghiệp ở Quảng Ninh” của chị Hoàng Thị Thế cũng đã đạt giải 3 trong hội thi Sáng tạo khoa học kỹ thuật tỉnh Quảng Ninh lần thứ IV. (Báo Quảng Ninh 13/2) đầu trang(
Tỉnh Hà Giang đã chỉ đạo các huyện, thành phố triển khai kế hoạch trồng rừng năm 2015 và triển khai Tết trồng cây Xuân Ất Mùi. Năm 2015, toàn tỉnh sẽ trồng mới 40.565 ha diện tích rừng tại 183 xã, thị trấn.
Trong đó, có 400 ha rừng phòng hộ, 39.600 ha rừng lâm nghiệp xã hội. Kế hoạch trồng rừng sẽ bắt đầu từ tháng 2 đến hết năm và được chia làm hai đợt. Tỉnh Bắc Ninhvừa có công văn yêu cầu các sở, ban, ngành, các địa phương triển khai Tết trồng cây Xuân Ất Mùi 2015. Lễ phát động Tết trồng cây thực hiện đồng loạt tại các huyện, thị xã, thành phố vào ngày làm việc đầu tiên sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán; các xã, phường, thị trấn và các cơ quan, đơn vị tổ chức phát động từ ngày 24-2 đến 24-3.
Tỉnh Hải Dươngchỉ đạo, lễ phát động Tết trồng cây Xuân Ất Mùi 2015 của địa phương tổ chức vào chiều 6-3, tại Công viên quảng trường Hồ Mật Sơn, thị xã Chí Linh.
Tỉnh Vĩnh Phúccũng đã có thông báo tổ chức Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ Xuân Ất Mùi 2015 vào ngày 27-2, đồng thời yêu cầu các địa phương tiến hành bảo đảm trang trọng, thiết thực, hiệu quả.
UBND thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội vừa tổ chức triển khai kế hoạch tổ chức Lễ phát động Tết trồng cây Xuân Ất Mùi 2015 tới các ban, ngành, cơ quan, đơn vị, các xã, phường trên địa bàn. Theo kế hoạch, trong năm 2015, toàn thị xã phấn đấu trồng được 40 nghìn cây xanh các loại.
Tỉnh Quảng Nam đã chỉ đạo các huyện, thành phố phát động Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ nhân dịp Xuân Ất Mùi 2015. Đồng thời, chỉ đạo các đơn vị trực thuộc xây dựng kế hoạch trồng cây phân tán năm 2015, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch chung để tổ chức thực hiện.
Hưởng ứng phong trào Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ, UBND thành phố Hà Tĩnhvừa tổ chức hội nghị nhằm quán triệt kế hoạch triển khai Tết trồng cây năm 2015.Theo kế hoạch, trong đợt phát động lần này, toàn thành phố trồng mới khoảng 2.400 cây xanh, chủ yếu là các loại cây che bóng mát dọc theo các tuyến đường chính và đường liên thôn, liên phố.
Tỉnh Bình Địnhvừa phát động Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ nhân dịp Xuân Ất Mùi năm 2015 phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương trong tỉnh, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng gắn với thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, động viên các cấp, các ngành và nhân dân tích cực tham gia trồng cây, trồng rừng và bảo vệ rừng nhằm nâng cao giá trị của rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần giảm nhẹ thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. (Nhân Dân 17/2) đầu trang(
Nếu tận dụng tốt các cơ hội, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam có thể đạt 7 tỷ USD.
Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết, năm 2015, dự báo nhu cầu gỗ của thế giới tăng cao và nhiều hiệp định thương mại đã và đang chuẩn bị được ký kết, nếu tận dụng tốt các cơ hội này, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam có thể đạt 7 tỷ USD.
Năm 2015, hàng loạt những Hiệp định Thương mại tự do (FTA) đã và đang được đàm phán ký kết kỳ vọng sẽ mang lại sự tăng trưởng mạnh về kim ngạch xuất khẩu gỗ.
Tuy nhiên, ngành gỗ Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với không ít khó khăn. Khi FTA Việt Nam - EU được ký kết, các sản phẩm gỗ Việt Nam phải được chứng minh có nguồn gốc xuất xứ hợp pháp.
Trong khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam mua gỗ nguyên liệu từ nhiều quốc gia trên thế giới và không phải nước nào cũng có chứng chỉ hợp pháp.
Ngoài ra, các sản phẩm gỗ của các nước tiên tiến sẽ cạnh tranh quyết liệt với gỗ Việt Nam.
Ông Nguyễn Tôn Quyền - Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết, các doanh nghiệp gỗ đang chuẩn bị những chứng nhận về xuất xứ nguồn gốc gỗ. Nhiều sản phẩm gỗ mới đang có nhu cầu lớn như gỗ ghép thanh, ván nhân tạo… đang được đầu tư sản xuất để phục vụ cho việc xuất khẩu trong năm 2015.
Theo ông Quyền, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng ngành gỗ vẫn đặt mục tiêu xuất khẩu 7 tỷ USD trong năm 2015.
Hiện nay nhà nước hạn chế sản xuất thô, trong khi trong nước sản xuất mỗi năm 15 triệu m3 gỗ nên phải tìm sản phẩm mới, thị trường mới để xuất khẩu. (VOV 21/2) đầu trang(
Năm 2014, tốc độ tăng giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp đạt 7,09%, cao nhất từ trước tới nay; kim ngạch XK lâm sản cũng tăng gần 13% so với năm trước, đạt 6,2 tỷ USD.
Dù đạt kết quả như vậy nhưng thực tế ngành này còn tồn tại không ít yếu kém. Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn, điển hình của sự yếu kém là kết quả trồng rừng phòng hộ, đặc dụng chưa đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra, còn rất thấp như: Tây Nguyên chỉ đạt 65% kế hoạch, Tây Bắc đạt 72% kế hoạch.
Kết quả trồng rừng thay thế của các thủy điện đạt thấp, chỉ đạt 25% kế hoach. Đặc biệt là một số tỉnh có chỉ tiêu kế hoạch lớn nhưng chưa triển khai trồng hoặc triển khai chậm như: Lai Châu, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam, Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai và Cao Bằng.
Bên cạnh đó, công tác bảo vệ rừng tuy đã có nhiều chuyển biến nhưng vẫn còn diễn ra phức tạp ở một số điểm nóng. Lực lượng Kiểm lâm ở một số nơi có lúc còn chậm phát hiện sự việc, bị động trong xử lý tình huống, chưa nghiêm túc trong thực thi công vụ, hành vi phá rừng trái pháp luật và chống người thi hành công vụ còn diễn ra ở nhiều địa phương, gây bức xúc dư luận.
Năm 2015, ngành lâm nghiệp phấn đấu giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 25 nghìn tỷ đồng, tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp 7- 7,2%; XK lâm sản đạt 6,7 tỷ USD; độ che phủ rừng 42%.
Thứ trưởng Hà Công Tuấn cho rằng, để đạt được mục tiêu tổng quát cho năm 2015, ngành lâm nghiệp cần tiếp tục đổi mới căn bản hệ thống quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ; dừng khai thác chính từ rừng tự nhiên, gắn bảo vệ và phát triển rừng với nâng cao chất lượng đời sống, xóa đói, giảm nghèo cho đồng bào dân tộc ít người.
Bên cạnh đó, cần chú trọng phát triển các mô hình trồng cây lâm nghiệp có hiệu quả kinh tế cao, bền vững phù hợp với điều kiện của các địa phương; phát triển rừng gỗ lớn, cây lâm nghiệp đặc sản, cây dược liệu gắn với chế biến; phát triển trồng rừng có chứng chỉ.
“Nâng cao năng suất, chất lượng và phát huy giá trị của từng loại rừng, từng bước cung cấp gỗ nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ, sản xuất giấy, ván nhân tạo, đáp ứng nhu cầu gỗ và các lâm đặc sản khác cho tiêu dùng trong nước và XK cũng là điều hết sức cần thiết”, Thứ trưởng Hà Công Tuấn khẳng định. (Hải Quan 24/2) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Công viên Tự nhiên Windsor rộng 75 hécta sẽ được nhà chức trách Singapore chính thức khởi công từ giữa năm nay và dự kiến sẽ hoàn thành vào cuối năm 2016.
Theo thông báo của Ủy ban công viên quốc gia Singapore (NParks), khu rừng nói trên được bao quanh bởi đường Venus Drive và Island Club Road. Nơi này liền kề với khu vực tư gia trên đường Venus Road và là một trong những lối vào của Khu bảo tồn tự nhiên trung tâm.
Công viên mới là một trong bốn công viên được xem là vùng đệm cho Khu bảo tồn tự nhiên trung tâm.
Ba công viên còn lại là Springleaf, Chestnut và Thomson đã chính thức mở cửa từ tháng 11/2014.
NParks cho hay công viên Chestnut đã được khởi công từ năm 2014, và dự kiến hoàn tất vào cuối năm 2016, trong khi công viên Thomson hiện vẫn trong giai đoạn ban đầu.
Theo NParks, những công viên tự nhiên mới này sẽ giúp “giảm áp lực du khách đến khu bảo tồn tự nhiên,” bằng cách tạo ra các địa điểm thay thế cho những hoạt động ngoài trời của người dân.
Kế hoạch nói trên là một phần trong cách tiếp cận của chính phủ Singapore nhằm tăng cường việc bảo tồn sự đa dạng sinh học ở các khu bảo tồn tự nhiên của Singapore.
Với mục tiêu này, NParks sẽ bắt đầu tiến hành thống kê đa dạng sinh học ở khu bảo tồn tự nhiên Bukit Timah một cách toàn diện bắt đầu từ tháng Ba tới và kéo dài hai năm. Lần cuối cùng một cuộc thống kê có quy mô lớn tương tự ở khu vực bảo tồn tự nhiên rộng 163 hécta này được thực hiện là cách đây gần 20 năm, từ năm 1993-1997.
Khu bảo tồn tự nhiên Bukit Timah có 840 loại hoa và hơn 500 loài động vật, trong đó có những chủng quý hiếm và chỉ có ở Singapore như cua nước ngọt Singapore và vượn cáo bay Colugo.(Vietnam+ 16/2) đầu trang(
Cơ quan quản lý các loài hoang dã Kenya (KWS) vừa cho biết các nhân viên Kiểm lâm đã bắn chết một tay săn trộm sau khi tên này và đồng bọn sát hại một cá thể voi.
Một súng trường và nhiều viên đoạn bị tịch thu tại hiện trường vụ đấu súng ở Choke Ranch, miền nam Kenya. Các tay săn trộm còn lại đã chạy trốn sau khi kịp cưa ngà voi.
Một tổ chức nhân quyền đã từng lên tiếng buộc tội các nhân viên Kiểm lâm trong vụ hạ sát nghi phạm. Năm 2014, báo cáo của Tổ chức nhân quyền Hồi giáo đã cáo buộc một số nhân viên kiểm lâm hạ sát một số nghi phạm để che giấu mối quan hệ với các đối tượng này.
KWS cũng cho biết năm 2011, 2012 và 2013 là đỉnh điểm của nạn săn bắn bất hợp pháp kể từ những năm 1980. Nạn săn bắn bất hợp pháp chỉ giảm vào năm 2014 với 164 cá thể voi và 35 cá thể tê giác bị giết (so với 302 cá thể voi và 59 cá thể tê giác bị giết năm 2013). Các nhân viên chính phủ cho rằng hiện tượng trên chịu ảnh hưởng từ các án phạt nặng được thông qua vào năm 2014 đối với với các tội buôn bán bất hợp pháp các loài hoang dã.
Theo KWS, Gao Xudong (61 tuổi), công dân Trung Quốc, đã bị điều tra về hành vi buôn lậu 9kg ngà voi trong hành trình từ Kenya tới Hồng Công. Xudong sẽ bị trừng phạt với tội danh sở hữu và sử dụng bất hợp pháp chiến lợi phẩm mẫu vật hoang dã. Cả hai tội danh trên sẽ chịu mức phạt cao nhất là chung thân hoặc 22.000USD.
Các nhà bảo tồn cho rằng buôn bán bất hợp pháp ngà voi tại châu Phi đã tăng sau khi lệnh cấm buôn bán quốc tế của CITES được nới lỏng vào năm 2007 và cho phép các quốc gia châu Phi bán kho ngà voi có nguồn gốc từ các cá thể voi đã chết trong tự nhiên hoặc do bệnh tật.
Hiện tượng voi chết do săn bắn để đáp ứng nhu cầu ngà voi ở Trung Quốc đang là một vấn nạn nghiêm trọng ở châu Phi. Theo các chuyên gia hàng đầu về voi châu Phi, ước tính có khoảng 100.000 cá thể voi đã bị sát hại trong các năm từ 2010 đến 2012 tại lục địa đen.
Voi ở Kenya là một phần quan trọng của hoạt động du lịch và nằm trong số 5 loài thú lớn hấp dẫn du khách tại quốc gia Đông Phi này. Các loài thú khác gồm báo, sư tử, tê giác và bò rừng. (Nhân Dân 13/2) đầu trang(
Trong một cuộc điều tra, nhiều lực lượng chức năng tại miền Nam Australia đã phá vỡ một mạng lưới buôn lậu cá quý hiếm lớn.
Cuộc điều tra bắt đầu khi cán bộ thuộc cơ quan Bảo vệ biên giới và Hải quan Australia phát hiện 20 túi nilon cất giấu trong hành lý của một hành khách sau khi đến sân bay Adelaide trên chuyến bay từ Singapore vào ngày 2-2-2015.
Bên trong mỗi túi, Hải quan Australia phát hiện một số lượng cá còn sống và đã bị chết thuộc diện nguy cấp nằm trong danh mục thuộc Công ước quốc tế về buôn bán các loại động thực vật hoang dã nguy cấp (CITES).
Đối tượng đã bị bắt giữ và phải có mặt tại Tòa án Adelaide. Số cá trên trị giá hơn 300.000 đô la Australia đã được Hải quan Australia bàn giao cho Bộ Nông nghiệp.
Tiếp tục điều tra đối tượng có liên quan đến đường dây buôn lậu này, ngày 5-2-2015 cán bộ Hải quan Australia đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp, Bộ Môi trường và Bộ Công nghiệp, thực hiện khám xét 2 địa chỉ tại Adelaide.
Trong quá trình khám xét đã phát hện thêm 1 con cá rồng châu Á trị giá 30.000 đô la Australia. Chủ sở hữu đã bị bắt giữ và phải có mặt tại Tòa án Adelaide 1 ngày sau đó.
Australia đã phối hợp chặt chẽ với các đối tác quốc tế để bảo vệ môi trường và có những quy định chặt chẽ bảo vệ các loài động vật hoang dã nhất thế giới.
Hình phạt tối đa cho tội buôn bán động vật hoang dã theo luật  Bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học là 10 năm tù giam và phạt 170.000 đô la Australia cho các cá nhân hoặc lên đến  850.000 đô la Australia cho các tổ chức phạm tội. (Hải Quan 13/2) đầu trang(
Ban quản lý sân bay quốc tế Marid Tây Ban Nha cho biết một con heo rừng đã phá hỏng hàng rào cách ly khiến đường băng phải tạm thời đóng cửa và hai chuyến bay hạ cánh xuống đây bị trễ.
Chú heo đã kích hoạt hệ thống báo động an ninh vào cuối ngày Thứ Sáu. Các camera an ninh chuyển hướng về chú heo. Bất ngờ, chú heo rừng xoay vòng và chui qua lỗ trên hàng rào đã được đào trước đó.
Sự cố xảy ra cách đường băng 100m tính từ nơi gần nhất, khiến một chuyến bay từ London trễ mất 20 phút và một chuyến bay nội địa từ A Coruna chậm 10 phút.
Viên phi công hóm hỉnh trên chuyến bay Iberia 3179 từ London nói với hành khách rằng một con thú đã “bất ngờ” khiến anh phải thay đổi kế hoạch hạ cánh đã định.
Lỗ hỏng đã được vá lại ngay sau đó. (Pháp Luật TPHCM 17/2) đầu trang(
Các loài thú hoang dã trên Trái đất đang dần biến mất với tốc độ nhanh “chóng mặt”. Từ gấu trúc đỏ đến kỳ nhông sọc vàng… các loài động vật hoang dã trên Trái đất đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc sinh tồn.
Nhiều nhà khoa học tin rằng hành tinh chúng ta đang ở trong giai đoạn đầu của đại họa tuyệt chủng hàng loạt, có thể “hủy diệt” đến 75% các loài trên Trái đất.
Đại họa tuyệt chủng này có thể sẽ là đại họa lần thứ 6 xảy ra trong lịch sử 4,5 tỷ năm của hành tinh và là lần đầu tiên gây ra bởi con người.
Theo thông tin gần đây được công bố trên tạp chí Nature, và từ Quỹ Động vật hoang dã thế giới và Liên minh Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN), bạn sẽ nắm được các loài hoang dã đang dần biến mất khỏi Trái đất nhanh đến mức nào và quan ngại như thế nào.
Theo con số thống kê, đó không phải là một bức tranh đẹp. Danh mục các loài được coi là có nguy cơ tuyệt chủng gồm 26% tất cả các loài động vật có vú được phát hiện, 13% các loài chim và 41% loài động vật lưỡng cư. Các nhà khoa học vẫn chưa tìm được dữ liệu về các loài cá và các loài bò sát để đánh giá. Còn đối với côn trùng, ước tính khoảng 0,5% tổng số loài được biết đến có nguy cơ tuyệt chủng.
Nhưng đó mới chỉ là con số ở những loài mà chúng ta biết. Có khoảng 1,7 triệu loài động vật, thực vật và nấm mà con người biết đến, nhưng các nhà khoa học ước tính có tới hàng triệu loài vẫn được phát hiện, và có thể các loài này đang dần biến mất trước khi được biết đến.
Các nhà khoa học không hoàn toàn chắc chắn các loài biến mất khỏi hành tinh vào lúc nào, nhưng ước tính nhanh nhất thì sự tuyệt chủng hàng loạt sẽ diễn ra trong vòng 200 năm tới. Ước tính chậm cho rằng 75% sự sống các loài trên Trái đất sẽ biến mất.
Nghiên cứu từ Quỹ Động vật Hoang dã Thế giới cho thấy số lượng các loài có xương sống trên Trái đất (trừ con người) chỉ còn một nửa so sánh với 40 năm trước đây. (Kiến Thức 23/2) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang