Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 24 tháng 12 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Những rừng nghiến cổ bị tàn phá tan hoang là thế, vậy mà các cơ quan chức năng vẫn khẳng định “không có chuyện đó”. Không chỉ vậy, việc bán đấu giá một cây nghiến ở thôn Lũng Rịch, xã Lương Thông (Thông Nông, Cao Bằng) cũng còn rất nhiều “vấn đề”.
Xung quanh tình trạng khai thác nghiến bừa bãi ở huyện Thông Nông, phóng viên đã làm việc với ông Linh Quang Nam – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Thông Nông và ông Hoàng Phượng Vỹ - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Cao Bằng.
Trao đổi với PV về công tác bảo vệ rừng ở Thông Nông, ông Linh Quang Nam – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Thông Nông cho rằng: “Nhìn chung công tác bảo vệ rừng trong năm nay chúng tôi thực hiện khá tốt, không để xảy ra vụ phá rừng nào đáng kể. Tuy nhiên trên địa bàn vẫn còn một điểm “nóng” về nạn khai thác nghiến trái phép ở xã Lương Thông. Chúng tôi đã tăng cường công tác tuần tra, do đó không có cây nghiến mới bị chặt hạ”.
Theo điều tra, hiện ở các xã Lương Thông, Cần Nông tình trạng khai thác nghiến trái phép bán qua biên giới đang diễn ra rất công khai. Về thực trạng này, ông Linh Quang Nam cho biết: Không biết các anh lấy thông tin ở đâu, chứ cán bộ kiểm lâm địa bàn của tôi hầu như ngày nào chẳng ở trong xã, tôi có thấy anh em báo cáo gì đâu.
Trước đây ở xã Cần Nông đúng là có chuyện người dân gùi gỗ nghiến qua biên giới bán cho thương lái Trung Quốc, nhưng gần đây chúng tôi tuần tra nghiêm ngặt, không còn tình trạng này nữa. Còn ở xã Lương Thông, hiện đang có một cây nghiến bán đấu giá ở thôn Lũng Rịch, chắc họ khai thác cây để bán đấu giá thôi.
Trước đây ở Lương Thông có rất nhiều nghiến, mặc dù là nhóm gỗ quý cấm khai thác nhưng do nằm trong rừng sản xuất nên chúng tôi rất khó quản lý, thi thoảng người dân vẫn lén lút khai thác. Có vụ thì bắt được đối tượng khai thác trộm, có vụ thì không.
Cây nghiến đang đấu giá là do anh Triệu Văn Phụng, ở thôn Lũng Rịch chặt năm ngoái, chúng tôi bắt được và đã phạt hành chính hơn 1 triệu đồng. Ngày 18.11.2014 chúng tôi đã tổ chức bán đấu giá, kết quả bà Hà Thị Thiết ở thị trấn Thông Nông, người chuyên buôn bán lâm sản phụ trúng với giá 24,4 triệu đồng/9,4m3 gỗ nghiến.
Đúng là giá có thấp hơn so với giá chung trên thị trường, nhưng đây là cây nghiến nằm ở vị trí địa hình hiểm trở, xa, khó vận chuyển nên Hội đồng bán đấu giá đã họp bàn và quyết định mức giá này. Thời gian khai thác thì có giới hạn, cụ thể là 60 ngày kể từ ngày trúng đấu giá, vì cây nghiến ở chỗ khó, nên người trúng họ bảo cho họ thời gian dài chút.
Còn việc giới hạn phương tiện, số lượng người tham gia khai thác chúng tôi không để ý. Vì cứ nghĩ họ khai thác bằng phương tiện gì, bao nhiêu là tùy họ, vì sau khi bán đấu giá họ phải tự bảo vệ tài sản của họ, mất chúng tôi không chịu trách nhiệm nữa.
Hiện ở Lương Thông chỉ có một thôn xin gỗ nghiến làm nhà văn hóa thôi chứ không có hộ dân nào xin nghiến làm nhà cả. Thông tin phóng viên cung cấp về 2 nhà sàn, chúng tôi sẽ cho kiểm tra lại.
Còn việc các đối tượng xấu móc nối như thế nào, hiện chúng tôi vẫn chưa phát hiện. Nếu phát hiện sẽ xử lý ngay. Quả thực các chiêu trò này, phóng viên nói chúng tôi mới biết. Như tôi đã nói, mặc dù chỉ 1 cây nghiến, với 9,4m3 gỗ, nhưng vì cây nghiến nằm ở vị trí khó khai thác, địa hình đi lại khó khăn, nên chúng tôi mới “nới” thời gian như vậy. Hơn nữa, việc quyết định có cả một Hội đồng bán đấu giá chứ không phải mình tôi quyết định.
Trong 9 tháng đầu năm 2014 lực lượng chức năng tỉnh Cao Bằng đã phát hiện 141 vụ vi phạm quản lý, bảo vệ rừng (cả năm 2013 là 151 vụ). Trong đó 23 vụ vận chuyển lâm sản trái phép, 5 vụ khai thác gỗ trái phép… tịch thu 9,39m3 gỗ các loại (trong đó gỗ quý hiếm là 2,23m3), đã xử phạt hơn 352 triệu đồng.
Còn ông Hoàng Phượng Vỹ - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Cao Bằng cho biết: Từ trước tới nay, công tác bảo vệ rừng ở Cao Bằng đã rất khó khăn do địa bàn rộng, nhiều huyện giáp vùng biên và có đường biên giới dài, trong khi đó lực lượng kiểm lâm thì mỏng. Đặc biệt Cao Bằng cũng là tỉnh có nhiều gỗ quý như nghiến, do đó lâm tặc luôn tìm mọi cách khai thác trái phép. Hơn nữa thời gian này đang là mùa khô và cũng là thời gian nông nhàn, nên tình trạng khai thác gỗ trái phép cũng phức tạp hơn.
Về việc đồng ý cho chính quyền thôn Lũng Rịch, xã Lương Thông (Thông Nông) xẻ gỗ nghiến làm nhà văn hóa thôn, ông Vỹ giải thích rằng ở Lũng Rịch có một cây nghiến to đã đổ từ lâu, người dân có xin xã khai thác để làm nhà văn hóa, nhưng không thông qua Hạt, nên Hạt đã báo cáo lên huyện và sau đó huyện đã đồng ý. Tuy nhiên, vì không có tiền nên họ có bán một phần cây nghiến đỏ để đổi lấy gạch.
Về thông tin 2 ngôi nhà sàn bằng gỗ nghiến mọc lên ở Tả Bốc cũng như tình trạng chặt phá gỗ nghiến bừa bãi, ông Vỹ thừa nhận đến giờ ông mới biết, vì chưa nhận được báo cáo, thông tin nào từ các Hạt là có tình trạng nghiến bị chặt phá bừa bãi.
“Chúng tôi sẽ cho kiểm tra lại. Còn 2 nhà sàn bằng nghiến đang dựng dở chắc chắn là làm chui vì ngoài nhà văn hóa thôn Lũng Rịch ra, không có thôn nào được phép làm nhà văn hóa bằng nghiến nữa. Chúng tôi sẽ thu hồi ngay” - ông Vỹ khẳng định.
Trước giả thiết có sự tiếp tay của kiểm lâm cho lâm tặc, ông Vỹ cũng đồng tình khi cho rằng: Việc dựng một ngôi nhà sàn không thể ngày một ngày hai. Tôi sẽ cho kiểm tra ngay, nếu phát hiện cán bộ kiểm lâm tư lợi, móc nối với kẻ xấu sẽ xử lý nghiêm.  (Dân Việt 24/12) đầu trang(
23-12, Ủy Ban Khoa học Công nghệ môi trường của Quốc hội làm việc với UBND tỉnh Ninh Bình về việc thực thi chính sách pháp luật về đa dạng sinh học ở địa phương.
Tham gia đoàn công tác có đại diện Ủy Ban Khoa học Công nghệ môi trường, Ban Dân nguyện của Quốc hội cùng đại diện các Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Khoa học và Công nghệ, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).
Tỉnh Ninh Bình có ba loại địa hình: Vùng đồi núi, vùng trung du và đồng bằng với tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp gần 30 nghìn ha trong đó, rừng đặc dụng chiếm hơn 60% bao gồm ba kho rừng đặc dụng là Vườn Quốc gia Cúc Phương (do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý), khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long và Khu rừng văn hoá lịch sử môi trường Hoa Lư do tỉnh quản lý.
Ngoài ra, tỉnh Ninh Bình còn có khu rừng phòng hộ ven biển Kim Sơn với tổng diện tích hơn một nghìn ha được UNESCO công nhận nằm trong khu dự trữ sinh quyển thế giới.
Các nhà khoa học đã chia Ninh Bình thành năm hệ sinh thái cơ bản: Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi, sinh thái gò đồi, hệ sinh thái đồng bằng, hệ sinh thái đất ngập nước và hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển. Từ năm 2005đến nay, tỉnh Ninh Bình coi trọng xây dựng và quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học dựa trên nguyên tắc phát triển bền vững, bảo đảm tính hệ thống.
Cụ thể, tại khu đất ngập nước Vân long được đoàn công tác của tỉnh thống kê, điều tra, xây dựng cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học các loài động thực vật trên cạn, lớp chim, lớp côn trùng, lớp cá. Tại rừng Văn hoá lịch sử môi trường Hoa Lư được đẩy mạnh công tác thống kê, xây dựng dữ liệu về đa dạng sinh học.
Đồng thời, các ngành chức năng trong tỉnh tổ chức quản lý về đa dạng sinh học trên địa bàn như: Kiểm soát hoạt động buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ các loài động vật động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, tổ chức bảo vệ các hệ sinh thái, đặc biệt là hệ sinh thái quan trọng có tầm cỡ quốc gia.
Đáng chú ý là từ năm 2009 đến nay, Công an tỉnh Ninh Bình đã phát hiện, điều tra xử lý 22 vụ, 25 đối tượng vi phạm pháp luật về vận chuyển, mua bán động vật hoang dã trái phép.
Trong đó, chuyển xử lý hình sự ba vụ với bốn đối tượng, thu hồi tang vật bao gồm hai cá thể hổ, 11 bộ xương báo gấm, báo hoa mai, 15 cá thể rắn hổ mang chúa thuộc nhóm IB (nhóm IB theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP là nhóm động vật bị nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại), 72 cá thể tê tê Java và nhiều loài động vật hoang dã khác với tổng giá trị tịch thu, phạt hành chính xung công quỹ Nhà nước hơn một tỷ đồng. (Nhân Dân 24/12) đầu trang(
Thường trực Tỉnh ủy Đác Nông vừa ban hành Công văn số 1325-CV/TU về việc xử lý vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng thông dọc Tỉnh lộ 4 đoạn qua trung tâm xã Quảng Sơn, huyện Đác Glong để lấn chiếm đất trái phép.
Trước đó, vào ngày 15-12, UBND tỉnh Đác Nông cũng đã có Công văn số 5521/UBND-NN về việc xử lý tình trạng hủy hoại rừng thông dọc hai bên tuyến Tỉnh lộ 4 đoạn qua trung tâm xã Quảng Sơn, huyện Đác Glong để lấn chiếm đất trái phép.
Theo Công văn này của UBND tỉnh Đác Nông, tình hình phá rừng thông dọc hai bên Tỉnh lộ 4 đoạn qua xã Quảng Sơn đã xảy ra nhiều năm nay, trong đó tập trung nhất là trong hai năm 2013 và 2014. Mục đích phá rừng chủ yếu là lấn chiếm đất để làm nhà ở, chiếm giữ đất mặt tiền để đầu cơ, trục lợi.
Trong khi đó, việc phát hiện ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm của đơn vị chủ rừng là Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Quảng Sơn, Đảng ủy, chính quyền xã Quảng Sơn, huyện Đác Glong và các cơ quan chức năng khác như kiểm lâm, công an… không kịp thời, quyết liệt; thậm chí buông lỏng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, quản lý đất đai và quản lý dân cư trên địa bàn… dẫn đến việc phát hiện, phối hợp ngăn chặn, xử lý thiếu đồng bộ, kịp thời nên tình trạng vi phạm ngày càng nghiêm trọng, phức tạp.
Thực trạng phá rừng thông dọc hai bên Tỉnh lộ 4 đoạn qua trung tâm xã Quảng Sơn, huyện Đác Glong thời gian qua đã được Nhân Dân điện tử nhiều lần phản ảnh và các cơ quan chức năng của tỉnh cũng đã vào cuộc xử lý.
Để thực hiện nghiêm Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 6-5-2013 của Tỉnh ủy, Kế hoạch 234/KH-UBND ngày 4-7-2013 của UBND tỉnh Đác Nông về việc ngăn chặn, xử lý các vụ phá rừng trên địa bàn, Thường trực Tỉnh ủy Đác Nông yêu cầu UBND tỉnh, Huyện ủy Đác Glong và các ngành có liên quan chỉ đạo làm rõ trách nhiệm trong thực thi công vụ của các cơ quan, đơn vị và cá nhân liên quan; việc khắc phục hậu quả và phương hướng quản lý, bảo vệ rừng trong thời gian tới thực hiện nghiêm túc theo sự chỉ đạo của UBND tỉnh tại Công văn 5521/UBND-NN ngày 15-12-2014.
Giao Thường trực Huyện ủy Đác Glong xem xét trách nhiệm của Bí thư Đảng ủy xã Quảng Sơn trong việc để rừng thông dọc Tỉnh lộ 4 bị phá trái phép để lấn chiếm đất; xem xét trách nhiệm của Trưởng Công an huyện Đác Glong trong việc thiếu trách nhiệm, thiếu tích cực xử lý các vụ phá rừng đã được các ngành chức năng chuyển hồ sơ đến. (Nhân Dân 24/12) đầu trang(
Cho rằng đây là vụ án đặc biệt nghiêm trọng, liên quan đến nhiều người ở nhiều địa phương, nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an tỉnh Hà Nam lại chưa thể khởi tố với đối tượng bị cho là cầm đầu trong việc lừa đảo bán gỗ giả sưa, còn kẻ vận chuyển trái phép gỗ sưa tiền tỷ qua biên giới thì vô can vì chưa đủ căn cứ… Vụ án có nguy cơ “chìm xuồng”…
Ngày 26/9/2011, ông Nguyễn Đình Thi (xã Chuyên Ngoại, huyện Duy Tiên) mua 1 cây gỗ sưa trị giá 6,6 tỷ đồng của ông Nguyễn Văn Hiệp, trú tại số 8/55 đường Phùng Khắc Khoan, TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Ngày 4/10/2011, ông Thi bán cây sưa trên cho ông Wang De Bao (quốc tịch Trung Quốc) với giá 10,2 tỷ đồng. Để tiện cho việc vận chuyển cây gỗ sưa qua cửa khẩu, ông Bao mua thêm 4 cây gỗ hương để “ngụy trang”.
Ngày 4/10/2011, ông Thi thuê bà Phùng Thị Kim Oanh, trú tại thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn trực tiếp vận chuyển cây từ Hà Nam sang Trung Quốc trên 2 xe ô tô với giá 500 triệu đồng. Khi bà Oanh vận chuyển số cây này đến Cửa khẩu Quốc tế Tân Thanh, huyện Văn Lãng, Lạng Sơn thì không qua được vì giấy phép hết hạn.
Sau khi biết sự việc, ông Bao (đang ở Hà Nam) điện cho người nhà từ Trung Quốc qua nhận 5 cây gỗ và đưa sang Trung Quốc qua Cửa khẩu Na Hình, huyện Văn Lãng.
Về đến Trung Quốc, người nhà ông Bao thông báo đã nhận đủ hàng, ông Bao chuyển trả nốt số tiền (9,1 tỷ đồng) cho vợ chồng ông Thi thông qua Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện Duy Tiên.
Ít ngày sau, phát hiện cây gỗ sưa là giả, ông Bao đã chỉ đạo cho người phía Trung Quốc vận chuyển ngược lại Việt Nam. Số cây này được để tại xóm Cốc Nam, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng.
Ngày 18/10/2011, ông Bao làm đơn tố cáo ông Thi đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam về hành vi “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ông Thi cũng có đơn tố cáo Nguyễn Văn Hiệp với tội danh trên.
Ngày 10/1/2012, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam ra Quyết định số 04 khởi tố vụ án hình sự về tội danh “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 23/3/2012, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam ra quyết định trả lại số tiền 9,3 tỷ đồng cho ông Bao.
Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam, Đại tá Nguyễn Thanh Bình, tại nội dung trả lời đơn khiếu tố của ông Thi đã khẳng định: “Cơ quan CSĐT Công an tỉnh đã đủ tài liệu xác định việc ông Thi mua cây gỗ giả sưa của ông Hiệp trú tại TP Thanh Hóa với giá 6,6 tỷ đồng là có thật. Căn cứ kết quả điều tra ngày 10/10/2012, CQĐT đã ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Hiệp, nhưng Hiệp không có mặt tại địa phương, chưa xác định được ở đâu nên chưa bắt được…”.
Dựa trên cơ sở này, 1 năm sau, ngày 10/1/2013, Cơ quan CSĐT ra Quyết định số 02/PC45 về việc tạm đình chỉ vụ án hình sự “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” cho đến nay?
Theo luật sư Nguyễn Mạnh Cường (Văn phòng Luật sư Long Cường), trong trường hợp này, CQĐT Công an tỉnh Hà Nam đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Cụ thể, theo quy định tại Điều 160 Bộ luật Tố tụng Hình sự: “Nếu không biết bị can đang ở đâu thì CQĐT phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự…”.
Như vậy, “CQĐT Công an Hà Nam chỉ ban hành văn bản là lệnh bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Văn Hiệp mà không ban hành lệnh truy nã theo quy định có thể sẽ dẫn đến việc bỏ lọt, không bắt được tội phạm… vụ án sẽ trở nên phức tạp và ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi của các bên liên quan”, luật sư Cường nhận định.
Theo những tài liệu mà PV thu thập, có thể thấy vụ án có dấu hiệu của hành vi 2 lần vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới (xuất đi, nhập lại). Ông Wang De Bao là người “chủ mưu” khi chỉ đạo người nhà từ Trung Quốc sang Việt Nam vận chuyển 5 cây gỗ qua Cửa khẩu Na Hình. Khi người nhà ông Bao nhận được đủ cây và thông báo về Việt Nam thì ông Bao mới trả nốt số tiền 9,1 tỷ đồng cho ông Thi. Nghĩa là, 5 cây gỗ đã được vận chuyển trót lọt qua biên giới và sau đó là vận chuyển quay ngược lại Việt Nam. Những người tham gia vận chuyển gỗ bao gồm: Wang De Bao, Nguyễn Đình Thi, Phùng Thị Kim Oanh, người nhà ông Bao và các nhân viên hải quan Cửa khẩu Na Hình.
“Việc vận chuyển hàng trái phép có trị giá 11,2 tỷ đồng từ Việt Nam sang Trung Quốc rồi lại từ Trung Quốc về Việt Nam đã cấu thành tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới được quy định tại Điều 154 Bộ luật Hình sự. Đây là một trường hợp rất nghiêm trọng, phải khởi tố vụ án, khởi tố bị can để tiến hành điều tra. Tuy nhiên, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam không khởi tố vụ án hình sự là vi phạm Điều 294 Bộ luật Hình sự về tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội…”, luật sư Cường khẳng định.
Trao đổi với PV về vấn đề tại sao viện kiểm sát nói chưa đủ căn cứ để khởi tố bị can đối với Hiệp nhưng tại Thông báo số 918/PC45 ngày 19/11/2012 của Cơ quan CSĐT xác định việc ông Hiệp bán gỗ sưa giả cho ông Thi là có thật, ông Đinh Mạnh Tuyển, kiểm sát viên Viện KSND tỉnh Hà Nam, nói: “Các anh phải thông cảm cho CQĐT, vì giả sử đúng là Hiệp bán gỗ sưa giả cho ông Thi thì không loại trừ Hiệp cũng lâm vào hoàn cảnh như ông Thi. Lúc đấy, ông Hiệp có bán cây gỗ sưa nhưng về mặt ý thức chủ quan, ông Hiệp cũng mua cây gỗ sưa của một đối tượng A, B và bây giờ chưa xác định được…”.
Ông Phan Văn Minh, Phó Viện trưởng Viện KSND tỉnh Hà Nam phân trần: “Những người tham gia vận chuyển trên đất Việt Nam, khi đến đất Lạng Sơn thì họ không tham gia vận chuyển tiếp. Đấy cũng chỉ là lời khai một phía, nó chưa đầy đủ căn cứ để khẳng định chắc chắn rằng có việc vận chuyển gỗ sưa qua biên giới nên CQĐT, Viện Kiểm sát chưa đặt vấn đề khởi tố, xử lý những đối tượng vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới…”.
Đường dây vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (gỗ sưa) có thể đã “hé lộ” qua vụ án này và kẻ bị cho là chủ mưu trong vụ lừa đảo này là Nguyễn Văn Hiệp lại chưa bị khởi tố?
Một vụ án đặc biệt nghiêm trọng nhưng cho đến nay vẫn chưa có ai phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đang làm xôn xao dư luận địa phương. Người bị hại liên quan đến vụ án đang làm đơn khiếu tố gửi đến các cơ quan bảo vệ pháp luật Trung ương đề nghị can thiệp, làm rõ tội danh, tội phạm. (Thanh Tra 23/12, tr7) đầu trang(
Tại phiên chất vấn Kỳ họp thứ 12 HĐND tỉnh Quảng Nam khóa VIII vừa diễn ra, nóng nhất là tình trạng phá rừng và khai thác vàng trái phép. Người dân sống gần nơi khai thác vàng mất đất canh tác, luôn đối mặt với nạn ô nhiễm môi trường, sạt lở đất… còn Nhà nước bị thất thu thuế khi chủ bãi vàng trái phép không hề nộp thuế, những doanh nghiệp có phép lại tìm mọi cách để trốn, nợ thuế.
Quảng Nam được các chuyên gia nghiên cứu đánh giá là địa phương có trữ lượng vàng lớn nhất cả nước. Kết quả thăm dò cho thấy trữ lượng vàng ở mỏ Bồng Miêu (xã Tam Lãnh, huyện Phú Ninh) khoảng 12.388kg. Tại huyện Phước Sơn, mỏ vàng Phước Thành, Phước Kim có trữ lượng khoảng 11.602kg và mỏ Đăk Sa, xã Phước Đức có trữ lượng 7.210kg.
Riêng mỏ vàng Bồng Miêu có hàm lượng 3 - 5 gam/tấn quặng, công suất khai thác 500 tấn quặng/ngày, tỷ lệ thu hồi vàng là 88%. Còn mỏ vàng Phước Sơn có đến 13 gam vàng/tấn quặng, công suất khai thác 1.000 tấn quặng/ngày, tỷ lệ thu hồi vàng là 92 - 97%. Ngoài ra, vàng sa khoáng và vàng gốc còn phân bố trên địa bàn nhiều huyện như: Nam Giang, Đông Giang, Tây Giang, Thăng Bình, Hiệp Đức, Bắc Trà My…
Với trữ lượng vàng nhiều như vậy thì Quảng Nam sẽ hưởng lợi rất nhiều, nhưng thực tế cho thấy từ đời sống người dân đến ngân sách các cấp chưa thu lợi được hưởng là bao.
Ông Lương Đình Đường, Phó Cục trưởng Cục Thuế Quảng Nam cho hay: “Cơ chế cho doanh nghiệp tự kê khai sản lượng khai thác là lỗ hổng lớn nhất gây khó cho ngành thuế trong việc kiểm soát sản lượng khai thác thực của doanh nghiệp. Ngành thuế có thanh tra thì cũng chỉ dựa trên hồ sơ, chẳng ai dám chắc số liệu khai của doanh nghiệp có đúng không. Đi thực tế kiểm tra vui vui thì người ta cho vào, mà buồn thì người ta đuổi ra vì thiếu gì lí do, đó là khó khăn của ngành Thuế hiện nay”.
Một bất cập nữa là nhiều doanh nghiệp hết hạn khai thác, trong thời gian xin gia hạn giấy phép vẫn ngang nhiên khai thác mà không phải đánh thuế. Đó là nguyên nhân gây thất thu lớn về thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường.
Theo thống kê, nguồn thu thuế tài nguyên của tỉnh Quảng Nam từ năm 2012 là trên 263 tỷ đồng. Tuy nhiên, đến tháng 10/2014, loại thuế này giảm chỉ còn 98 tỷ đồng. Trong đó, tỷ trọng thuế đóng góp từ vàng năm 2013 là 155 tỷ đồng và 10 tháng chỉ còn 30 tỷ đồng, trong đó Cty Vàng Phước Sơn nộp 18,5 tỷ đồng còn Vàng Bồng Miêu không nộp đồng nào.
Giải trình trước HĐND tỉnh ngày 11/12, ông Ngôn Bốn, Cục trưởng Cục Thuế tỉnh nêu: “Tính đến nay, Cty Vàng Bồng Miêu và Phước Sơn đã nợ tiền thuế lên đến 339 tỷ đồng; trong đó Vàng Phước Sơn nợ 270 tỷ đồng, Vàng Bồng Miêu nợ hơn 68 tỷ đồng. Từ khi 2 Cty này chậm nộp thuế, Cục Thuế đã kịp thời tổ chức các biện pháp thu tiền thuế, nhưng ý thức chấp hành của họ chưa nghiêm túc, cố tình không thực hiện nộp tiền thuế vào ngân sách Nhà nước. Hiện nay, theo chỉ đạo của Tổng cục Thuế, Cục Thuế Quảng Nam sẽ tiếp tục áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng việc thông báo hóa đơn của 2 Cty không còn giá trị sử dụng…”.
Đại biểu HĐND Nguyễn Cảnh (Bí thư Huyện ủy Phú Ninh, nơi Cty Vàng Bồng Miêu khai thác) chất vấn: “Đề cập chuyện này tôi thấy một số đồng chí lãnh đạo tỉnh trả lời là do bộ này, bộ kia, nay tôi đề nghị lãnh đạo tỉnh phải đăng ký làm việc trực tiếp với Trung ương để có hướng giải quyết dứt điểm”.
Nhiều ý kiến nhận định rằng, doanh nghiệp có tư cách pháp nhân thì lách luật trốn thuế, nợ thuế; trong khi đó, hoạt động khai thác khoáng sản nói chung và vàng nói riêng diễn ra tràn lan. Đó là lý do tài nguyên bị chảy máu, nguồn phí từ khai khoáng bị thất thu. Suy cho cùng, khổ nhất vẫn là người dân, họ chẳng được lợi gì, trong khi bao nhiêu hệ lụy từ khai khoáng họ hứng tất.
Cụ thể, ở huyện Phước Sơn, hầu hết các xã đều có tỷ lệ hộ nghèo hơn 50% và có đến 93,55% số hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số. Theo báo cáo của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện Phú Ninh, đến nay hộ nghèo của toàn huyện còn 7,44%, cận nghèo 10,22%. Đáng chú ý, xã Tam Lãnh, nơi có mỏ vàng Bồng Miêu, hiện hộ nghèo còn đến 11%.
Ông Nguyễn Viễn, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường cho biết: “Nước thải, chất thải (có sử dụng chất độc Cyanua) từ các điểm khai thác vàng trái phép ở thượng nguồn sông chính là thủ phạm biến nguồn nước ngọt một số nơi thành nước độc, giết chết sông ngòi cũng như sự tồn tại của các loài thủy sinh. Chưa có thống kê đầy đủ nào về mức độ tàn phá môi trường ở khu vực hạ nguồn các dòng sông nhưng sự thật là đang có nhiều dòng sông chết mòn, biến dạng”.
Kết quả phân tích nguồn nước tại điểm Giao Thủy (huyện Đại Lộc) thuộc sông Thu Bồn và sông Bến Giằng (đoạn cầu Bến Giằng, Nam Giang) của cơ quan chức năng cho thấy, hàm lượng chất rắn lơ lửng trong nước (SS) luôn ở mức cao. Đây là hậu quả của nạn khai thác khoáng sản khu vực đầu nguồn, xây dựng thủy điện, mở đường giao thông...
Như vậy, dù sống trên “đống vàng” nhưng Nhà nước chẳng thu lợi bao nhiêu, còn đời sống người dân bị ảnh hưởng nặng nề vì ô nhiễm và “nghèo lại hoàn nghèo”. (Thanh Tra 23/12, tr13) đầu trang(
Giám đốc Lâm trường Quỳnh Lưu là ông Hoàng Trung Tính, ngày 26-6-1994 ký hợp đồng giao khoán 50 năm cho ông Lê Văn Nguôn (trú xã Quỳnh Mỹ, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An) 11,6ha rừng phòng họ thuộc dự án (DA) 327 tại  khoảnh 5, Tiểu khu 343A (đập An Ngãi, xã Ngọc sơn, huyện Quỳnh Lưu) tự trồng, chăm sóc, bảo vệ, khai thác rừng thông với tỉ lệ hưởng lợi nhuận là 70% (người trồng) và 30% (nhà nước), thu thuế ba năm đầu sau khi khai thác.
Sau đó, nếu diện tích cây thông không đủ 500 cây/ha thì mọi quyền lợi, hưởng thụ, khai thác cũng như kỹ thuật người trồng rừng tự đầu tư và hưởng lợi 100%, nhà nước không thu thuế.
Đến ngày 1-10-2008, chủ rừng Lê Văn Nguôn chuyển nhượng 7,6ha rừng trên (giấy tay) cho ba người trên địa bàn là ông Hồ Văn Tuệ, các anh Lê Văn Quý, Hồ Văn Trường. Nhờ có vốn liếng tập trung, đầu tư kịp thời nên 3 chủ rừng mới trồng thông phát triển tốt. Đầu năm 2011 diện tích rừng thông trên bắt đầu đưa vào khai thác và được Lâm trường Quỳnh Lưu cấp giấy phép.
Tuy nhiên vừa đầu tư 1.100 ơ (ảnh, bát hứng nhựa thông) và thuê nhân công, bảo vệ thì đầu tháng 9-2014, anh Trường bất ngờ phát hiện thông đang khai thác nhựa bị kẻ gian phá hoại, gỡ gần 1.000 ơ, một phần bị đập phá, phần còn lại bị tháo trộm mang đi đâu không rõ. Anh Trường đã làm đơn trình báo lâm trường và cơ quan chức năng, nhưng đến nay số ơ thông trên vẫn tiếp tục bị phá hoại.
Sáng 21-12, có mặt tại Tiểu khu 343A, chúng tôi ngậm ngùi chứng kiến hàng ngàn cây thông mất ơ chưa được bổ sung khiến hàng tấn nhựa thông vẫn ngày đêm chảy xuống gốc thiệt hại hàng trăm triệu đồng. Rất mong cơ quan chức năng huyện Quỳnh Lưu và tỉnh Nghệ An có biện pháp bảo vệ quyền lợi người trồng rừng, ngăn chặn hiện tượng phá hoại rừng thông đang khai thác.  (Công An TPHCM 23/12, tr10) đầu trang(
Sáng 23/12, tin từ Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về môi trường (PC49) Công an tỉnh Nghệ An cho biết, đơn vị đang tạm giữ tang vật là một cá thể hổ đã chết và chiếc xe tải mang BKS: 37S - 5297 cùng đối tượng Nguyễn Văn Lập (SN 1980), trú xóm 8, xã Quỳnh Hồng, huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) để điều tra làm rõ hành vi buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã trái phép.
Trước đó, vào khoảng 16h30 ngày 22/12, ngay khi nhận được tin báo của người dân về vụ vận chuyển động vật hoang dã trái phép, Phòng PC49 Công an tỉnh Nghệ An, phối hợp với trạm CSGT Diễn Châu (5 - 1) đã tiến hành mật phục tại Km 385, QL 1A đoạn thuộc phường Quỳnh Thiện, thị xã Hoàng Mai (Nghệ An).
Tại đây, tổ công tác phát hiện chiếc xe tải mang BKS: 37S - 5297 do đối tượng Lập điều khiển có nhiều biểu hiện nghi vấn nên ra tín hiệu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, lực lượng này phát hiện trên thùng xe chở một cá thể đã chết, với chiều dài khoảng 1,5m, trọng lượng 1,2 tạ.
Quá trình làm việc, tài xế Lập không xuất trình được bất cứ giấy tờ hợp lệ liên quan đến con hổ đang vận chuyển. Ngay sau đó, tổ công tác đã lập biên bản, đưa toàn bộ tang vật cùng tài xế Lập gửi công an tỉnh để tiếp tục điều tra.
Tại cơ quan điều tra, tài xế này khai nhận chở thuê con hổ này cho một người đàn ông lạ mặt với giá 8 triệu đồng. Khi đang trên đường chở ra miền Bắc thì bị công an bắt giữ. Hiện, cơ quan chức năng đang điều tra, làm rõ vụ việc. (Đời Sống & Pháp Luật 23/12) đầu trang(
Trạm Kiểm soát liên hợp Km15- Bến tầu Dân Tiến (Quảng Ninh) vừa phối hợp với Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, Công an tỉnh Quảng Ninh phát hiện bắt giữ 269kg cá thể tê tê sống.
Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 20-12, lực lượng chức năng tiến hành kiểm tra xe ô tô bán tải mang BKS: 14C-10462 do Kiều Văn Quang, sinh năm 1964 (trú tại khu 2, thôn Dư Ba, xã Tuy Lộc, huyện Cẩm Khê, Phú Thọ) điều khiển và người ngồi cùng xe là Đỗ Văn Quyền (trú tại thôn Hòa Hạ, xã Bạch Hà, huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội).
Qua kiểm tra lực lượng chức năng phát hiện trên xe ô tô có cất giấu 59 cá thể tê tê sống, có tổng trọng lượng 269kg. Toàn bộ số hàng trên đều không có chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ, trị giá ước tính gần 1 tỷ đồng.
Ngay sau khi vụ việc xảy ra, lực lượng chức năng đã tiến hành bàn giao toàn bộ hồ sơ, phương tiện, tang vật vi phạm cho Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Quảng Ninh để tiếp tục xử lý theo quy định. (Hải Quan 23/12) đầu trang(
Mới đây, Phòng Cảnh sát môi trường (PC49) Công an tỉnh phối hợp với Thanh tra Sở NN-PTNT tỉnh kiểm tra, phát hiện số lượng lớn xác rùa biển tại một khu chăn nuôi ở thôn Phước Hạ, xã Phước Đồng, TP.Nha Trang.
Như vậy là đúng một tháng sau khi phát hiện gần 4,4 tấn xác rùa và sản phẩm từ rùa biển tại xã Phước Đồng (từ ngày 19-21.11), dư luận lại một lần nữa sửng sốt vì không ngờ vẫn còn một kho chứa xác rùa khác. Đáng ngại hơn, khi người đứng ra nhận là chủ số xác rùa lần này vẫn là ông Hoàng Tuấn Hải (42 tuổi, trú thôn Phước Lợi, xã Phước Đồng).
Cũng như vụ việc trong tháng 11, ông Hải khai rằng ông mua thu gom rùa đã chết từ các ngư dân, với giá từ 200.000 - 800.000 đồng/con tùy to nhỏ, sau đó ngâm hóa chất để chế tác thành đồ mỹ nghệ. Đối với số xác rùa lần này, sau khi mua, ông Hải gửi nhờ tại khu chăn nuôi của gia đình bà Vũ Thị Hải T. (ở thôn Phước Hạ, xã Phước Đồng). Ông không nhớ chính xác số lượng rùa tại đây.
Trước khi lực lượng chức năng ập vào kho chứa xác rùa tại khu chăn nuôi của bà T., cán bộ thuộc Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) cùng một số nhà báo đã điều tra và xác định địa điểm trên có chứa xác rùa nên báo cho Công an tỉnh và Thanh tra Sở NN-PTNT tỉnh.
Sau đó, cơ quan chức năng đã họp bàn và khoảng 10 giờ sáng 19.12, tiến hành kiểm tra khu chăn nuôi nói trên. Tại đây, các cán bộ công an phải dùng dụng cụ bảo hộ chuyên dụng để “khui” các tấm bạt phủ trong các ngăn chứa xác rùa, vì mùi hóa chất xộc lên nồng nặc.
Theo nhận định ban đầu, có thể số rùa tại đây không nhiều bằng vụ phát hiện tháng 11, nhưng đáng chú ý là rất nhiều rùa to, có những con đường kính mai gần cả mét. Ngoài hàng chục xác rùa ngổn ngang ở ngăn ngoài, có 4 ngăn (như chuồng nuôi heo, mỗi ngăn diện tích khoảng 12 m2) chồng chất xác rùa; 2 thùng phuy nhựa chứa những xác rùa vàng ươm, đen nhánh đang ngâm hóa chất.
Vấn đề khiến cơ quan chức năng địa phương “đau đầu” là chưa biết xử lý số xác rùa mới phát hiện như thế nào. “Bây giờ chưa biết tìm đâu kho chứa số rùa này sau khi tạm giữ. Kho của Viện Hải dương học đã hết chỗ vì đang chứa số rùa phát hiện đợt trước. Chúng tôi đã liên hệ với nhiều doanh nghiệp có kho chứa nhưng họ không đồng ý, vì xác rùa lần này còn tươi, bốc mùi kinh khủng. Chúng tôi đã báo cáo sự việc lên UBND tỉnh để xin ý kiến”, ông Lê Văn Dũng - Chánh thanh tra Sở NN-PTNT tỉnh cho biết. Như vậy là khác với vụ trước, lần này thì sau khi phát hiện, lực lượng chức năng đang phải cử người giám sát tại khu vực trên, chứ chưa kiểm đếm ngay được.
Lãnh đạo Phòng PC49 Công an tỉnh cũng cho biết đang có những khó khăn trong việc xử lý vụ việc này. Hiện, PC49 đã nhận được công văn ENV gửi, đề nghị cơ quan chức năng khởi tố vụ phát hiện gần 4,4 tấn xác rùa biển và sản phẩm từ rùa biển tháng 11.
Tuy nhiên, vụ việc phải được xử lý theo đúng quy trình. Hiện, cơ quan chức năng còn phải chờ kết quả giám định, phải xác định xem số rùa này có thuộc loài động vật quý hiếm hay không, quý hiếm tới mức nào mới có căn cứ xử lý vụ việc. Trong khi đó, phía Thanh tra Sở NN-PTNT tỉnh thông tin rằng, số xác rùa cũ vẫn chưa thể giám định. Số tiền cho công tác giám định khá lớn, khoảng 360 triệu đồng. Thanh tra Sở đã có văn bản đề nghị UBND tỉnh cấp kinh phí và đang chờ.
Theo ENV, rùa biển là loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm được bảo vệ ở cấp độ cao nhất theo quy định của pháp luật quốc tế và VN. Mọi hành vi săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán, nuôi, nhốt rùa biển hoặc vận chuyển, buôn bán sản phẩm, bộ phận của loài này đều bị xem xét xử lý hình sự với mức tối đa lên đến 7 năm tù bất kể số lượng, khối lượng hay giá trị tang vật theo Điều 190, Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). (Thanh Niên 23/12) đầu trang(
Ngày 21/12, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế cho biết, Chủ tịch tỉnh vừa ký quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Trần Văn Lực và bà Phan Thị Kim Tuyết (cùng trú huyện Phú Lộc) về hành vi mua bán động vật hoang dã trái phép với tổng số tiền 222 triệu đồng.
Trước đó, qua công tác tuần tra trên tuyến QL1A, lực lượng Cảnh sát môi trường, Công an tỉnh Thừa Thiên - Huế phát hiện xe ôtô BKS 75A-028.15 chở 7 cá thể rùa núi vàng, 1 rùa núi viền, 23 rùa đầu to; 2 tê tê Java (cùng nhóm IIB); 1 rắn hổ mang chúa (nhóm IB)... đều còn sống, với tổng trọng lượng 56,7kg, không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc nên đã lập biên bản thu giữ.
Tài xế khai nhận, ông Lực và bà Tuyết thuê chở số động vật quý hiếm này về Huế tiêu thụ. (Công An Nhân Dân 22/12) đầu trang(
Hiện nay,ở tỉnh Bình Phước, tình trạng mua bán, tiêu thụ động vật hoang dã diễn ra một cách công khai, thậm chí có nhiều cơ sở mua bán nằm gần trụ sở cơ quan kiểm lâm. Trong khi đó, ngành chức năng của tỉnh cũng chưa làm hết trách nhiệm của mình.
“Hiện chưa chưa thể nói trước về giá vì tuỳ theo thời điểm và theo mùa. Bình thường chúng tôi có chồn nhiều nhất, rồi đến kỳ đà, trúc có hàng thường xuyên và rất nhiều”. Đó là lời khẳng định chắc nịch của bà Nga, một đầu nậu thịt thú rừng tại xã Phú Riềng, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
Và đây là phần chào mời của bà chủ "Hưng quán", nơi bán thịt thú rừng: “Chồn hương ở đây đều được bắt sống, nếu bị bắn thì rẻ hơn chỉ 500 kg. Theo tôi nên mua chồn hương ăn ngon. Ở đây có cả cheo cheo 400 ngàn kg mua không? toàn hàng mới về đấy”.
Ông Nam, một người hành nghề xe ôm ở xã Phú Riềng, huyện Bù Gia Mập cho hay: chỉ cần vào các quán nhậu như: Hưng quán, Hồng Hưng, 777 … thì đều có thịt rừng, không thiếu. Ông lái xe ôm này còn tiết lộ có cả một đường dây cung cấp thịt thú rừng từ các vùng giáp ranh với tỉnh Đắc Nông, rừng Nam Cát Tiên, rừng Bù Gia Mập và cả từ các đầu nậu bên kia biên giới Campuchia mang về đây phân phối.
Ông Nam nói: “Nguồn cung cấp hàng không chỉ ở đây mà còn cung cấp luôn cho nhưng ai có nhu cầu dưới tỉnh Bình Dương, miền Tây. Mấy con Trúc gần đây cũng có nhưng đều lấy tại của cửa hàng Long Nga hết. Mỗi lần gom hàng, họ điều cả xe tải đi vào trong rừng nên nhiều lắm”.
Để chứng minh điều mình nói, ông Nam xe ôm đã chở phóng viên cùng với trinh sát của Kiểm lâm vùng III thuộc Cục Kiểm lâm Trung ương vào tận các địa điểm nêu trên để tận mắt chứng kiến. Tại các nhà hàng trên, yêu cầu đặc sản thịt rừng của khách đều được đáp ứng.
Cách trụ sở Ủy ban xã Phú Riềng khoảng 300 mét là cơ sở Long Nga với vỏ bọc là Công ty vận tải du lịch, có khuôn viên rộng hơn 100 m2 với hàng trăm loại thú rừng như nhím, chồn, cheo cheo, rắn, heo rừng, rắn hổ mang chúa… được cất nhốt trong các lồng sắt. Ở đây còn có cả một lò giết mổ tại chỗ rộng gần 80m2.
Khi PV đặt vấn đề cần một lượng lớn thịt thú rừng cho nhà hàng ở quận 8 (TP HCM) thì các đầu nậu không ngần ngại cung cấp một danh bạ các loại động vật rừng, kèm theo số điện thoại và nói "cần cứ gọi, khẳng định thịt rừng 100%", loại nào cũng có, giá cả tuỳ theo thời điểm.
Ông Long, chủ cơ sở Long Nga nói: “Anh có thằng “cò” ở  trên SG đó chỉ cần alo thì anh gửi lên bến xe Miền Đông rồi ra đó mà lấy. Em nhận hàng rồi đưa tiền cho chủ xe, chủ xe sẽ giao lại tiền cho anh không thì cứ bắn tiền vào tài khoản của anh rồi lấy hàng. Nếu cần số lượng lớn thì anh sẽ cho xe nhà đóng hàng rồi giao cho”.
Ngay tại thị xã Đồng Xoài, cơ sở Bình Hoa có quy mô còn lớn hơn và chỉ cách trụ sở Chi Cục Kiểm Lâm tỉnh Bình Phước hơn 5 phút đi xe. Cơ sở đã xây dựng cả hệ thống chuồng trại, nhà kho, để nhốt thú rừng sống, trong đó có nhiều loại thuộc nhóm 1B- nhóm quý hiếm cấm tuyệt đối săn bắn, mua bán tiêu thụ dưới mọi hình thức như: Rắn Hổ mang chúa, mèo rừng, voọc, Rùa. Không chỉ vậy, cơ sở này còn thuê cả đất của những hộ dân bên cạnh xây nhà kho, hầm chứa có tủ đông loại lớn để cất dấu thịt rừng và cả thú rừng còn sống khi bị lực lượng chức năng khi bị kiểm tra.
Thực tế tại nhiều địa phương, giá bán thịt rừng khá cao, cụ thề như: chồn hương trên dưới 3 triệu đồng/kg, rắn hổ mang chúa 4 triệu đồng/kg; tê tê gần 2 triệu triệu đồng/kg, dúi 1 triệu đồng/kg... Giá cao, lợi nhuận nhiều cũng là nguyên nhân dẫn đến tận diệt thú rừng. (VOV 23/12) đầu trang(
Anh Nguyễn Văn Kha ở ấp 4, xã Thuận Hòa, huyện Long Mỹ (Hậu Giang) nuôi thử nghiệm 3.000 con ba ba toàn đực. Sau hơn 4 tháng đàn ba ba phát triển nhanh, tỉ lệ hao hụt thấp…
Anh Kha kể: “Năm 2008, thấy một số hộ nuôi ba ba có hiệu quả nên gia đình tôi bắt đầu thả nuôi 3.000 con trên diện tích 1.000 m2. Sau 1,5 năm nuôi không đạt, gia đình đành bán sớm để đầu tư nuôi lại 4.000 con. Mãi gần 2 năm sau mới xuất bán, lãi trên 100 triệu đồng và bớt lại 500 con để gây giống”.
Từ 500 con ba ba bố mẹ ban đầu, đến năm 2014 đàn ba ba của anh Kha đã tăng lên 10.000 con, thả trên 14 hồ với tổng diện tích 4.000 m2. Để chủ động nguồn thức ăn cho ba ba, anh Kha dành 1,2 ha đất ruộng nuôi cá mùa lũ. Đến cơ sở nuôi ba ba của anh Kha, không khỏi ngạc nhiên bởi rất quy mô và khoa học.
Anh Kha cho biết: “Sau 4 tháng thả nuôi 3.000 con ba ba đực chỉ hao hụt có 2 con. Đàn ba ba lớn nhanh hơn rất nhiều so với cách nuôi lộn xộn như trước và ít sử dụng thuốc để trị bệnh. Trước đây, ba ba từ khi thả nuôi đến 1,5 năm mới phân loại đực cái. Nuôi 2,5 năm trọng lượng ba ba đạt từ 1,1 - 1,2 kg/con. Như vậy vẫn chưa bán được với giá cao. Còn nuôi toàn đực thì sau khi nở 3 tháng tiến hành phân loại đực, cái. Như vậy, tỉ lệ hao hụt sẽ rất thấp, ba ba không mang trứng nên lớn nhanh”.
Bước đầu thấy được hiệu quả của việc nuôi ba ba toàn đực so với cách nuôi thông thường. Anh chia sẻ: “Nuôi ba ba nguồn nước phải sạch, mỗi ao với diện tích 1.000 m2 thuận tiện cho việc phân loại và thu hoạch, mật độ thả nuôi 5 con/m2. Mực nước trong ao nuôi dao động từ 1 - 1,5 m, xây dựng bè bằng tre để ba ba sưởi ấm, bởi đây là loại vật nuôi thích nghi với nhiệt độ cao. Xây dựng hệ thống ao xung quanh rào tole, sao cho nước sông ra vào để ba ba mau lớn và ít bệnh. Mỗi tháng nên xử lí nước bằng thuốc dùng cho thủy sản”.
Ông Huỳnh Thế Anh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm liên huyện Long Mỹ - Vị Thanh cho biết: “Đặc thù của địa bàn Long Mỹ là nuôi động vật hoang dã, trong đó ba ba chiếm đến 80%. Hầu hết các hộ nuôi ba ba thương phẩm đực - cái nên 3 - 3,5 năm mới thu hoạch và tỉ lệ đạt loại 1, 2 chỉ chiếm 40%....
Qua một số nghiên cứu thấy việc nuôi ba ba toàn đực thương phẩm chỉ hơn 2,5 năm có thể thu hoạch mà tỉ lệ ba ba đạt loại 1, 2 chiếm đến 60%. Thời gian nuôi được rút ngắn và tỉ lệ tăng trọng nhanh do hệ số thức ăn được tận dụng hết. Nuôi 1,5 năm ba ba không cạnh tranh sinh sản nên giảm tỉ lệ hao hụt".
Theo ông Anh, hộ anh Kha có điều kiện nuôi ba ba nên trạm hướng dẫn anh nuôi thí điểm 3.000 con, sau đó sẽ triển khai tiếp 5 hộ nữa. Mỗi hộ nuôi từ 300 - 500 con và tập trung ở những hộ nghèo và cận nghèo. Nuôi với số lượng ít nên các hộ có thể tự tìm thức ăn cho ba ba nên không tốn chi phí.
Qua nghiên cứu cho thấy, việc nuôi ba ba toàn đực trọng lượng tăng nhanh, các cá thể rất đồng đều, màu sắc tươi sáng, chi phí giảm lợi nhuận cao hơn từ 30 - 40 triệu đồng/3.000 con, so với cách nuôi truyền thống.... (Nông Nghiệp Việt Nam 23/12) đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Nhiều người kéo nhau vào những khu rừng trên địa bàn huyện Ea Súp và thành phố Buôn Ma Thuột để khai thác lan rừng trái phép. (Nhân Dân 24/12, tr7) đầu trang(
Vừa qua, nhằm thực hiện nghĩa vụ quốc gia đối quốc gia thành viên tham gia Công ước Đa dạng sinh học (ĐDSH), Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan đầu mối quốc gia của Công ước này ở Việt Nam đã phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng và công bố Báo cáo quốc gia lần thứ 5 về ĐDSH.
Báo cáo được soạn thảo trên cơ sở hướng dẫn của Ban thư ký Công ước trả lời 12 câu hỏi theo 3 chương: Chương 1: ĐDSH đối với Việt Nam, tình trạng, xu thế và những mối đe dọa đối với ĐDSH; Chương 2: Các chiến lược và kế hoạch hành động Quốc gia về đa dạng sinh học và lồng ghép nội dung bảo tồn ĐDSH vào mục tiêu phát triển các ngành và liên ngành; Chương 3: Đánh giá tiến độ thực hiện mục tiêu đến năm 2015, định hướng mục tiêu.
Báo cáo lần thứ 5 đã nhìn nhận vai trò quan trọng của ĐDSH trong việc phát triển kinh tế, xã hội và môi trường của đất nước thông qua việc cung cấp các dịch vụ ĐDSH (dịch vụ cung cấp, dịch vụ điều tiết, dịch vụ văn hóa, và dịch vụ hỗ trợ). ĐDSH có đóng góp lớn cho nền kinh tế quốc gia, là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực; duy trì nguồn gen vật nuôi, cây trồng; cung cấp các vật liệu cho xây dựng và các nguồn nhiên liệu, dược liệu.
Bên cạnh đó, báo cáo cũng thể hiện xu hướng biến đổi của ĐDSH thể hiện qua nhiều khía cạnh như: Diện tích rừng tăng, (tuy nhiên chất lượng rừng lại giảm do rừng trồng chiếm đa số); nơi cư trú của các loài động vật hoang dã đang bị thu hẹp do thay đổi phương thức sử dụng đất; số lượng các loài sinh vật quý hiếm và hệ sinh thái (HST) nước nội địa, HST biển đang bị suy giảm.
Đồng thời trong bản Báo cáo lần thứ 5 này cũng cho thấy rằng, ĐDSH ở Việt Nam đang đối mặt với rất nhiều đe dọa. Và ngay sau khi tham gia Công ước ĐDSH, Việt Nam đã bắt tay xây dựng Kế hoạch hành động về ĐDSH của Việt Nam. Nội dung bảo vệ môi trường nói chung, bảo tồn ĐDSH nói riêng đã được Chính phủ Việt Nam lồng ghép trong các kế hoạch, chương trình và các chính sách quốc gia thông qua các chính sách ngành, liên ngành như Chiến lược xoá đói, giảm nghèo; Chiến lược phát triển bền vững quốc gia; Kế hoạch phát triển vùng lãnh thổ...
Mặc dù đã có những bước tiến nhất định trong việc thực hiện các mục tiêu quốc gia cũng như các mục tiêu chiến lược của Công ước ĐDSH, nhưng Việt Nam hiện vẫn có nhiều khó khăn nhất định mà chủ yếu là những bất cập trong vấn đề quản lý ĐDSH.
Để thực hiện tốt các mục tiêu quốc gia cũng như các mục tiêu Công ước, trong thời gian tới, Báo cáo cũng đề ra các hoạt động ưu tiên như: Tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về ĐDSH (thống nhất quản lý Nhà nước về ĐDSH ; thúc đẩy phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cơ quan khác nhau tham gia vào các hoạt động bảo tồn; nâng cao hiệu quả thực thi hệ thống chính sách về bảo tồn ĐDSH)… (Tài Nguyên & Môi Trường 23/12) đầu trang(
Phóng viên Báo Tây Ninh nhận được những thông tin do bạn đọc phản ánh, rằng ở rừng cấm Bưng Bàng, tình trạng trộm cắp lâm sản xảy ra nhiều trên đảo Nhím!
Rừng cấm Bưng Bàng là cái tên mà nhiều người dân quen gọi để chỉ gần 1.200 ha rừng phòng hộ của công trình thuỷ lợi Dầu Tiếng. Chỉ riêng tên gọi rừng cấm cũng đủ thấy rõ tính chất, tầm quan trọng của cánh rừng phòng hộ này. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, rừng cấm Bưng Bàng không còn là rừng cấm đúng nghĩa như tên gọi của nó.
Vừa qua, vào bờ hồ Dầu Tiếng, thuê một chiếc vỏ lãi đi thâm nhập thực tế ở khu vực rừng cấm Bưng Bàng. Từ bờ hồ Dầu Tiếng (xã Suối Đá, huyện Dương Minh Châu), chiếc vỏ lãi rẽ sóng hơn 30 phút là đến địa phận của rừng cấm Bưng Bàng thuộc xã Tân Thành, huyện Tân Châu. Nhìn từ xa, rừng cấm Bưng Bàng như một tấm thảm xanh thẫm, bao bọc khu vực thượng nguồn hồ Dầu Tiếng.
Nhưng khi chiếc vỏ lãi đến gần bìa rừng, nhìn thấy xen kẽ trong cánh rừng này là những vườn cao su, rẫy mì. Có nơi cao su đã thu hoạch mủ, có nơi cây mới trồng khoảng hai năm tuổi. Cũng có nơi là một khoảnh đất trống rộng chừng 2 ha vừa được xuống giống cây mì. Thấp thoáng trong rừng cấm là hàng chục mái nhà của dân cư ngụ. Có nhà cất theo kiểu tạm bợ nhưng cũng có nhà xây tường hẳn hoi.
Ông Lê Quốc Toản, 50 tuổi, hiện là tổ trưởng tổ 1, ấp Đồng Kèn 1 cho biết: Gia đình ông làm ăn sinh sống ở đây từ khi công trình thuỷ lợi Dầu Tiếng vừa tích nước đưa vào hoạt động. Vì vậy, ông biết rất rõ về khu rừng này. Trong rừng cấm đa số là rừng tự nhiên, cây cối dày đặc, một phần còn lại rừng khoanh nuôi và rừng trồng.
Nhiều năm nay, tại khu vực rừng cấm đã diễn ra tình trạng phá rừng. “Chẳng những cây rừng bị phá mà cây le cũng bị chặt”- ông Toản nói. Để chứng minh cho lời của mình, ông Toản chỉ cho PV xem những bó cây le do “lâm tặc” bỏ dưới mé nước, chờ xuồng ghe đến chở đi.
Theo chân một người dân địa phương, đi dọc theo bìa rừng và phát hiện cạnh mé nước có một đường mòn nhỏ dẫn sâu vào rừng. Nhìn thấy có một lóng cây rừng dài khoảng 3 mét, đường kính khoảng 0,2 mét ai đó bỏ nằm lăn lóc. Quan sát bìa rừng, còn thấy có cả sạp để chén đũa làm bằng những lóng cây nhỏ.
Cạnh đó, có một khung gỗ cũng bằng cây rừng, cao khoảng 3 mét, ngang khoảng 3 mét, có thể là nơi dựng lều bạt của “lâm tặc”. Nghi ngờ nơi đây là “đại bản doanh” của bọn phá rừng, thử tìm xung quanh gốc cây, trong bụi rậm. Kết quả là phát hiện ra một bao ni lông (loại bao diêm) đựng hàng chục cuộn dây thừng, mỗi cuộn dài hàng chục mét. Tìm thêm một lúc, còn thấy một cái giỏ nhựa màu xanh, giấu trong bụi rậm.
Trong giỏ có một bình nhớt loại 4 thì còn mới toanh, một bọc ni lông đựng vít, ống tuýp dùng để mở bu-gi, có cả dầu gội đầu và đặc biệt là có hai cái cạm, loại dùng để bẫy những thú rừng nhỏ, như gà rừng, chồn, sóc... Men theo con đường mòn, tiến vào sâu trong rừng. Con đường mòn rộng khoảng 2 mét, nhiều chỗ còn in rõ dấu vết bánh xe cù (một loại xe thô sơ dùng để chở gỗ). Đi được khoảng 20 mét, thấy một gốc cây trường và một gốc cây cám, đường kính khoảng 0,25 mét nằm chơ vơ ven đường.
Cạnh đó, hai tàn cây ngã rạp trên mặt đất, lá đã khô héo. Tiếp tục đi thêm vài chục mét nữa, lại thấy một cây dầu, đường kính gốc hơn 0,2 mét đã bị cưa lấy mất phần thân, chỉ bỏ lại phần gốc và ngọn. Rẽ vào một nhánh của con đường mòn mới biết, thì ra phía sâu bên trong rừng cũng có nhiều cây bị đốn hạ. Đi bộ khoảng 500 mét, ghi nhận được có ít nhất 22 cây rừng bị “lâm tặc” cưa đi, đó là các loại cây dầu, vên vên, cám, tràm bông vàng, xoài mút…
Chưa kể để vận chuyển được những lóng gỗ to ấy ra khỏi rừng, bọn lâm tặc còn chặt bỏ hàng loạt cây rừng nhỏ để mở lối đi. Trong số những cây rừng bị triệt hạ, thấy một vài cây chỉ bị cưa lấy một đoạn thân ngắn khoảng vài ba mét, còn gốc và tàn cây đều bỏ lại, cũng có một số cây đã bị cưa ngã xuống nhưng lại bị bỏ mặc cho mục ruỗng giữa rừng.
Bên cạnh những  gốc cây sắp mục là những gốc mà dấu cưa còn mới, nhựa ứa ra chưa kịp khô ráo. Có thể suy ra việc trộm cắp lâm sản ở đây không phải mới diễn ra trong một thời gian ngắn. Có một điều đáng chú ý khác là hầu hết cây rừng bị mất cắp ở khu vực này đều có đường kính khoảng 0,2 - 0,4 mét.
Còn những cây thuộc dạng cổ thụ, thân to thì vẫn còn nguyên vẹn. Theo nhận định của người dẫn đường thì: “Bọn lâm tặc hạ cây rừng bằng cưa tay và vận chuyển cây ra khỏi rừng bằng xe cù nên chúng chỉ nhắm đến những cây có kích cỡ trung bình, còn những cây lớn, bọn chúng bỏ lại vì không làm nổi”.
Trao đổi ý kiến với PV về tình hình mất cắp lâm sản ở rừng cấm Bưng Bàng, ông Nguyễn Hoàng Sơn- Giám đốc Ban Quản lý khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng cho biết: “Rừng cấm Bưng Bàng có diện tích 1.179 ha, thuộc tiểu khu 62, ấp Đồng Kèn 1, xã Tân Thành, huyện Tân Châu. Địa hình rừng trải dài và phức tạp. Phía bên trong giáp với đất liền, phía bên ngoài giáp với sông Sài Gòn và hồ Dầu Tiếng. Mùa lòng hồ tích nước nhiều, nước dâng cao lên sát mé rừng tạo điều kiện thuận lợi cho bọn lâm tặc vào rừng trộm cắp cây. Bọn chúng chủ yếu là dân của tỉnh khác đến, rất khó bắt được. Trước tình hình trộm cắp cây rừng như thế, sắp tới chúng tôi sẽ cho đội bảo vệ rừng tăng cường tuần tra”.
Ông Sơn cho biết thêm, rừng phòng hộ Dầu Tiếng có tổng diện tích 22.388 ha, trải dài từ xã Tân Hoà đến xã Suối Dây (đều thuộc huyện Tân Châu). Trong khi đó, chỉ có 60 nhân viên làm nhiệm vụ bảo vệ rừng. Tính riêng trong năm 2014, nhân viên bảo vệ rừng đã phát hiện 124 vụ vi phạm như khai thác cây rừng (17 vụ), lấn chiếm đất rừng khoanh nuôi tái sinh (18 vụ), trồng cây sai mục đích trên đất lâm nghiệp (6 vụ), cất nhà, chòi trái phép trên đất lâm nghiệp (3 vụ) và nhiều trường hợp cày phá rừng trồng, băm gốc, rong nhánh cây rừng, gây cháy rừng trồng…
Rừng cấm Bưng Bàng nói riêng, rừng phòng hộ hồ Dầu Tiếng nói chung là một trong những lá phổi xanh của Tây Ninh. Ngoài việc cân bằng khí hậu, rừng phòng hộ Dầu Tiếng còn có tác dụng giữ nước, chống bồi đắp công trình thuỷ lợi Dầu Tiếng. Tình trạng phá rừng diễn ra vô tội vạ mà chưa có biện pháp hữu hiệu nào để ngăn chặn như hiện nay quả thật khiến người ta lo ngại. (Báo Tây Ninh 23/12) đầu trang(
Hàng năm, vào mùa khô, ở Văn Chấn (Yên Bái) thường xảy ra cháy rừng với mức độ khác nhau, đặc biệt tại các xã trọng điểm như: Gia Hội, Nậm Lành, Suối Giàng, Sơn Thịnh, Nậm Búng, Tú Lệ, Cát Thịnh...
Bước vào mùa khô 2014 - 2015, huyện đã tích cực triển khai các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra…
Theo thống kê, Văn Chấn hiện có trên 62.647ha rừng, trong đó, diện tích rừng tự nhiên 45.237ha, rừng trồng hơn 17.410ha. Cứ vào mùa khô, nỗi lo cháy rừng luôn thường trực bởi mùa khô nơi đây kéo dài từ tháng 10 năm trước tới tháng 4 năm sau kèm theo gió Lào, các cành cây, tán lá và những thảm thực vật khô kiệt, chỉ cần một tàn lửa cũng đủ gây ra những vụ cháy rừng nghiêm trọng.
Để bảo vệ và phát triển tốt diện tích rừng hiện có, lực lượng kiểm lâm đã bố trí cho 31 xã, thị trấn trên địa bàn đều có cán bộ kiểm lâm phụ trách, kịp thời giúp chính quyền xã thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng (BVR), quản lý lâm sản và PCCCR tại cơ sở.
Để ngăn chặn việc đốt nương, làm rẫy lan ra các khu rừng, Hạt Kiểm lâm huyện Văn Chấn tổ chức 406 hội nghị tuyên truyền về công tác BVR - PCCCR tại các xã, thị trấn; ký cam kết BVR - PCCCR với 33.605 lượt người; xây dựng 374 tổ xung kích chữa cháy rừng với 4.475 người do trưởng thôn, bản làm tổ trưởng, lực lượng lòng cốt là dân quân tự vệ, đoàn thanh niên... tham gia chữa cháy rừng khi cháy rừng xảy ra; hướng dẫn người dân kỹ thuật đốt nương và cưỡng chế thời gian và cách thức, bảo đảm không để xảy ra cháy lan vào rừng.
Với nhiều biện pháp BVR, mùa khô hanh 2013 - 2014, trên địa bàn xảy chỉ ra 2 vụ cháy rừng, diện tích đám cháy 7,61ha tại 2 xã Nậm Mười và Sơn Thịnh; trong đó, tại xã Nậm Mười cháy rừng gây thiệt hại 5,41ha gồm 4,55ha của Ban Quản lý DA661 và 0,86ha rừng trồng của người dân, thủ phạm là ông Cầm Ngọc Hùng đã bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
Để hạn chế cháy rừng mùa khô hanh năm 2014 - 2015, huyện triển khai chỉ đạo các xã, thị trấn thực hiện công tác PCCCR với phương châm "4 tại chỗ". Thời điểm này, lực lượng kiểm lâm huyện đang khẩn trương triển khai các biện pháp PCCCR. Các xã, thị trấn và thôn, bản thành lập tổ, đội xung kích BVR và PCCCR và tổ chức học tập các văn bản quy định PCCCR; yêu cầu từng chủ hộ gia đình ký cam kết thực hiện các biện pháp PCCCR; rà soát, bổ sung công cụ chữa cháy của các tổ, đội PCCCR. Các chủ rừng rà soát lại phương án, kế hoạch, tăng cường tuần tra, phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm PCCCR.
Ông Hoàng Thái Học - Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Bản Dõng cho biết: "Trạm quản lý bảo vệ và phát triển rừng tại 10 xã vùng thượng huyện với trên 29.000ha rừng các loại. Để hạn chế cháy rừng, ngay trước mùa khô, chúng tôi đã phối hợp với chính quyền địa phương xây dựng phương án PCCCR ở tất cả các xã. Trạm đã huy động toàn bộ lực lượng xuống cơ sở, tuyên truyền pháp luật BVR, gắn với việc PCCCR, tổ chức ký cam kết học tập BVR và PCCCR cho 7.559 hộ dân".
Ngoài ra, Hạt cũng bố trí đủ kiểm lâm viên ở địa bàn xung yếu có nguy cơ cháy rừng cao, thường trực 24/24 giờ trong ngày, tổ chức tuần tra, kiểm tra, phát hiện xử lý các hành vi vi phạm PCCCR theo quy định của pháp luật.
Ban chỉ huy PCCCR các xã, thị trấn thống kê diện tích, địa điểm chủ hộ có nương dự kiến đốt hoặc lên lịch đốt cho từng khu vực sản xuất nương, rẫy để kiểm soát; thường xuyên theo dõi, nắm bắt diễn biến của thời tiết kịp thời ra thông báo, cảnh báo cấp dự báo cháy rừng. (Báo Yên Bái 23/12) đầu trang(
Tính đến nay, toàn huyện Đơn Dương có 34.658 ha rừng với 29.909 ha rừng tự nhiên và 4.749 ha rừng trồng. Huyện đã giao khoán gần 28 ngàn ha rừng cho 923 hộ gia đình và 4 tập thể quản lý, tróng đó có 567 hộ người đồng bào dân tộc thiểu số.
Trong năm 2014, các ngành chức năng huyện Đơn Dương đã tăng cường tổ chức các đợt tuần tra, phát hiện và xử lý 56 vụ vi phạm về quản lý bảo vệ rừng, tịch thu 45,6 m3 gỗ, thu nộp ngân sách 195 triệu đồng. Huyện cũng đã tổ chức giải tỏa 1,78ha diện tích đất lấn chiếm đất rừng trồng cà phê tại tiểu khu 340, xã Tu Tra.
Năm 2015, huyện Đơn Dương sẽ tiếp tục tăng cường công tác giao khoán quản lý bảo vệ rừng; triển khai kế hoạch trồng rừng phân tán, chủ động phòng chống cháy rừng, đồng thời đẩy mạnh thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng; kịp thời phát hiện, kiên quyết xử lý sai phạm. (Đài PTTH Lâm Đồng 23/12) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo kết luận số 13/KL-TT của Thanh tra tỉnh Cà Mau về việc giao 863 ha đất thuộc vùng đệm Vườn Quốc gia U Minh Hạ, công tác quản lý đất rừng còn lỏng lẻo, kém hiệu quả; việc giao khoán đất rừng không đúng đối tượng quy định, nhiều diện tích đất rừng không trực tiếp sản xuất mà chuyển nhượng, sang bán trái phép.
Bên cạnh đó, đời sống của phần lớn các hộ dân nhận khoán đất rừng chậm được cải thiện, thường để xảy ra nhiều vụ cháy rừng vào mùa khô hàng năm.
Trước tình hình trên, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau Phạm Thành Tươi chỉ đạo Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ cần chấn chỉnh ngay trình trạng quản lý, sử dụng đất rừng kém hiệu quả.
Tỉnh chủ trương thu hồi lại toàn bộ diện tích đất rừng giao khoán cho dân theo hình thức liên doanh, liên kết với công ty đã hết hạn thời hạn hợp đồng và diện tích đất rừng không trực tiếp sản xuất.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ tiến hành thanh lý hợp đồng giao khoán đất rừng đối với hộ dân ở khu vực vùng đệm; đồng thời, phối hợp với cơ quan chức năng thực hiện các hồ sơ, thủ tục giao 863ha đất rừng khu vực vùng đệm thuộc Vườn Quốc gia U Minh Hạ cho địa phương quản lý để xem xét cho những hộ dân thực sự có nhu cầu sản xuất gắn với việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Việc cho thuê, giao khoán, liên doanh, liên kết phải đúng theo quy định hiện hành, phù hợp với Dự án quy hoạch bố trí lại sản xuất và sắp xếp lại dân cư khu vực rừng tràm của tỉnh Cà Mau. (VietnamPlus 23/12) đầu trang(
Nằm ở cuối trời Tây Bắc, Lai Châu hứng chịu những trận gió Lào thổi triền miên suốt cả mùa khô. Đêm nằm nghe gió thổi ngỡ bầy ngựa hoang phi nước đại trên khắp vùng rừng, tiếng gió hú rít trên mái nhà và qua các hốc tre, nứa nghe cuồng điên và man dại.
Ngày nhìn ngọn gió cuốn bụi bay mù trời, rừng cây dậy lên những lớp sóng miên man không bao giờ dứt, khiến cây cỏ, đất đai tơi tả khô xác sau mùa mưa ồn ào mau chóng đi qua.
Ký ức về mùa khô trong những năm tháng dạy học ở Lai Châu không dễ phai nhòa. Mùa khô là mùa đốt nương làm rẫy, mùa săn bắn thú rừng, mùa đốt các bãi chăn thả gia súc để mùa xuân cỏ lên xanh hơn. Ngọn lửa đốt rừng mùa khô cháy suốt đêm ngày, cháy từ sườn núi này sang sườn núi khác ròng rã hàng tháng trời và suốt cả mùa khô.
Trên con đường đi vào nơi dạy học gần 30 cây số đường rừng, cách nay 40 năm là một vùng rừng cháy, dọc con đường vào Nậm Sỏ từ dốc Nà Ban lên tới đỉnh đèo Ngam Kha, rồi nhìn lên dãy Hoàng Liên đâu đâu cũng thấy cháy rừng.
Mỗi năm có hàng trăm vụ cháy rừng lớn nhỏ, bởi thế Lai Châu được ví là chảo lửa cháy rừng Tây Bắc. Sau mùa khô nhìn lên mặt núi đen sì, loang lổ những đám tro than. Đi qua vùng rừng cháy hoang hoải, một nỗi cô đơn khủng khiếp, cứ ngỡ ngọn lửa cháy rừng sắp thiêu đốt chính mình...
Năm 2004 tỉnh Lai Châu được tách ra thành hai tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Cây cao su được nhắc tới như sự tình cờ, đầu năm 2006 đồng chí Trương Tấn Sang và Trương Vĩnh Trọng lên thăm Lai Châu.
Từ bên này biên giới nhìn những đồi cao su chạy ngút ngàn phía bên kia Trung Quốc, hai lãnh đạo Đảng mới đặt câu hỏi: Trung Quốc trồng được cây cao su, tại sao Lai Châu không trồng cao su?
Khi đó mọi người mới nhớ ra, cách đây hơn chục năm thực hiện Chương trình 327 phủ xanh đất trống đồi núi trọc, người Trung Quốc mang sang một số cây cao su để người dân trồng thử, nếu thành công thì Lai Châu sẽ là vùng nguyên liệu cung cấp mủ cao su cho các nhà máy chế biến của họ.
Số cây cao su được trồng trên đồi nhà ông Trang Văn Tỏn, bản Huổi Luông, xã Hoang Thèn. Chẳng ngờ số cây cao su đó sống và phát triển qua những mùa đông buốt giá, như một loài cây hoang dại, lớn lên trong sự lãng quên của gia đình ông Tỏn.
Nghe chuyện đó hai lãnh đạo Đảng đến tận nơi để xem những cây cao su đó thế nào. Thật không thể tin nổi, gần hai chục cây cao su nhà ông Trang Văn Tỏn sau hơn chục năm đã to bằng cả người ôm cứ ngỡ chúng trồng từ mấy chục năm.
Tận mắt nhìn, tận tay sờ vào gốc cây cao su, hai lãnh đạo Trương Tấn sang và Trương Vĩnh Trọng mới nói với lãnh đạo tỉnh Lai Châu: Không còn nghi ngờ gì nữa, đất Lai Châu phù hợp với cây cao su, các lãnh đạo muốn người dân thoát nghèo và trở thành giàu có không thể cứ phát rừng làm nương mà hãy trồng thứ cây vàng trắng này... Từ gợi ý và khuyến khích của hai lãnh đạo Đảng, tỉnh Lai Châu quyết tâm bắt tay vào trồng cao su.
Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Lai Châu, ông Hà Văn Um nhớ lại: Tôi khi đó là chủ tịch huyện Phong Thổ được tỉnh giao trồng 100 ha cao su. Quả thật, lúc bấy giờ không mấy người tin cây cao su trụ nổi trên mảnh đất ngùn ngụt nắng gió và mùa đông lạnh giá nơi này. Tôi đã sáu lần sang Trung Quốc để tìm hiểu về cây cao su.
Hai giống cao su Vân Nghiên 77-2, Vân Nghiên 77-4 của Trung Quốc được nhập vào Lai Châu trồng thử nghiệm 100 ha trên đất hai xã Hoang Thèn và Ma Ly Pho năm 2006. Đợt hai nhập thêm giống để trồng 40 ha, cây chết quá nửa.
Nản quá, năm 2007 Phong Thổ không nhập giống cao su Trung Quốc mà đưa giống cao su: GT1, Lai Hoa, Ian... từ miền Nam ra trồng 260 ha trên diện tích 429 ha quy hoạch tiểu điền. Số này cũng chết quá nhiều do vận chuyển đường xa, khiến nhiều người không còn tin vào cây cao su trụ vững trên đất Lai Châu.
Hà Văn Um phải mang sinh mạng chính trị của mình để đánh cược với mọi người: Cần phải tìm ra nguyên nhân vì sao cây cao su chết, đã đến lúc mọi người phải ăn và ngủ cùng cây cao su...
Nhắc lại những ngày đầu ấy để thấy sự khó khăn và vất vả biết nhường nào. Năm 2007 tỉnh Lai Châu mời Tập đoàn Cao su Việt Nam lên Lai Châu phát triển cao su trên vùng đất Tây Bắc.
Từ những cây cao su cổ thụ được trồng từ năm 1993, từ diện tích của các hộ trồng cao su tiểu điền đang lên xanh tốt khiến Tập đoàn Cao su Việt Nam quyết tâm đầu tư vào vùng núi phía Bắc 200.000 ha cao su mà trọng điểm là Lai Châu. Cty CP Cao su Lai Châu I, Lai Châu II được thành lập, năm 2008 Chương trình phát triển cao su đại điền bắt đầu được triển khai.
Con đường dẫn vào Ma Ly Pho nằm dọc bờ sông Nậm Na từ trên cao nhìn xuống chẳng khác gì “sợi chỉ xuyên qua xống váy Mèo” mà Trần Mạnh Hảo đã ví.
Hai bên sườn núi là bạt ngàn rừng cao su xanh thẫm, nối nhau chạy tít tắp. Thật không thể tin nổi cách nay 8 năm, khi phát động trồng cao su nhiều người còn do dự thì nay cả một vùng rừng cháy đã bạt ngàn màu xanh cao su.
Xã Ma Ly Pho nằm trên con đường ra cửa khẩu Ma Lù Thàng, ba năm nay cuộc sống của người dân đã khá hơn rất nhiều từ việc bán mủ cao su tiểu điền được trồng từ năm 2006 sang Trung Quốc. Trong 528 ha cao su tiểu điền đã có hơn 300 ha được khai thác mủ.
Người dân tự sang Trung Quốc mua dụng cụ cạo mủ rồi bán cho các thương nhân bên ấy, đến nay không mấy người còn bỡ ngỡ chuyện “mổ” mủ cao su như năm 2012. Giá mủ cao su năm 2014 được bán từ 35.000- 37.000đ/kg, tùy từng thời điểm và từng cơ sở thu mua phía Trung Quốc. Có người bán thẳng cho đại lý không qua các đầu mối thu gom thì được giá 40.000đ/kg mủ.
Bà Tẩn Xá Đẩu cho hay: Nhà mình có 800 cây, nhưng mới khai thác hơn 600 cây. Cứ 3 giờ sáng là mình dậy lên đồi cạo mủ rồi. Không nhớ hết đâu, năm nay nhà mình bán mủ được hơn 60 hay 70 triệu à... Tính ra mỗi ha cao su khi đến tuổi khai thác cho thu nhập từ 55-60 triệu đồng, không một cây gì ở miền núi cho thu nhập cao như vậy.
Gia đình ông Lý Văn Mạnh, bản Nậm Coóng, xã Hoang Thèn ngoài việc góp đất với Cty trồng cao su, ông còn dành đất để trồng gần 3 ha cao su tiểu điền từ năm 2006. Năm ngoái ông tự gieo cao su để ghép, ông bảo: Gia đình tôi gieo khoảng 1 vạn gốc cho mấy anh em trong nhà, chúng tôi dự kiến trồng khoảng 2-3 ha nữa.
Đi xem những cây cao su cổ thụ trồng từ năm 1993, ông Nguyễn Văn Ái - PGĐ Sở NN-PTNT Lai Châu nhận xét: Trong những cây trồng ở Lai Châu không cây nào được người dân nhiệt tình ủng hộ như cây cao su. Theo kế hoạch đến năm 2020 Lai Châu trồng khoảng 20.000-25.000 ha. Cây cao su không chỉ giúp người dân xóa đói giảm nghèo, nó đang trở thành cây làm giàu cho người dân...
Ông Nguyễn Văn Biển - Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Lai Châu cho biết: Hết năm 2014 tổng diện tích cao su Lai Châu trồng được hơn 12.600 ha. Trong đó Cty CP Cao su Lai Châu I trồng hơn 6.700 ha, Cty CP Cao su Lai Châu II trồng hơn 4.000 ha, Cty CP Cao su Dầu Tiếng trồng 700 ha tại huyện Than Uyên, cao su tiểu điền do người dân trồng 528 ha.
Theo dự kiến Lai Châu sẽ xây dựng 7 nhà máy chế biến mủ cao su, năm 2015 sẽ xây dựng nhà máy chế biến mủ đầu tiên tại xã Nà Tăm, huyện Sìn Hồ phục vụ cho việc khai thác thí điểm trước khi tổ chức khai thác đại trà... (Nông Nghiệp Việt Nam 24/12, tr6) đầu trang(
Ước tính kim ngạch xuất khẩu gỗ năm 2014 đạt khoảng 6,5 tỉ đô la Mỹ, tăng 15% so với năm ngoái. Dự báo với sự ấm lại của nền kinh tế các nước như Mỹ, EU, Nhật Bản… kim ngạch xuất khẩu gỗ năm 2015 sẽ duy trì mức tăng trưởng 15%.
Đây là chia sẻ của ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch thường trực Hiệp hội mỹ nghệ và chế biến gỗ TP HCM (HAWA), với báo chí bên lề một hội thảo về ngành gỗ diễn ra sáng nay 23-12 tại Hà Nội.
Ông Huỳnh Văn Hạnh cho biết: Ước tính, kim ngạch xuất khẩu gỗ năm 2014 có thể đạt 6,4 đến 6,5 tỉ đô la Mỹ, tăng khoảng 15% so với năm 2013. Đây là mức tăng trưởng cao, nhưng theo đánh giá của chúng tôi vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của thị trường.
Hiện nay, nền kinh tế của các nước như Mỹ, châu Âu, Nhật, Anh đang ấm dần. Nếu như họ vẫn có mức tăng trưởng GDP tốt trong năm tới, và ở trong nước, với những ưu đãi chính sách sau quyết định của Thủ tướng Chính phủ đưa ngành chế biến trở thành 1 trong 10 ngành trọng điểm tới năm 2020, thì dự báo kim ngạch xuất khẩu gỗ trong năm 2015 sẽ vẫn tiếp tục tăng trưởng 15%.
Thị trường đang mở ra, trong số 70 quốc gia xuất khẩu đồ gỗ trên thế giới thì Việt Nam mới chiếm 2,56% thị phần. Như vậy, còn rất nhiều cơ hội để tăng trưởng nhanh và chiếm lĩnh thị phần trong thời gian tới.
Hiện nay, kim ngạch nhập khẩu gỗ từ Lào đang cao nhất trong số các nước mà chúng ta nhập khẩu gỗ nguyên liệu. Nhưng có một đặc điểm là Lào muốn xuất khẩu sang các nước phải qua con đường của Việt Nam và Thái Lan vì họ không có đường bờ biển.
Việc họ đi qua con đường của Việt Nam làm tỉ trọng nhập khẩu gỗ của chúng ta tăng lên nhưng thực tế chúng ta không sử dụng nhiều gỗ của Lào, chỉ sử dụng cho một số ít cho các công trình xây dựng và tiêu dùng nội địa còn lại là tạm nhập tái xuất, tức đưa qua Việt Nam rồi đi sang nước thứ ba.
Trên bình diện thế giới người ta cho rằng Việt Nam nhập khẩu nhiều gỗ từ Lào và Campuchia, gây ra nạn phá rừng tại những nước này vì trình độ quản lý rừng của họ chưa tốt nhưng thực tế doanh nghiệp chế biến gỗ không dùng gỗ rừng trồng ở Lào, Campuchia để chế biến xuất khẩu. Ngoài ra, việc vận chuyển gỗ đi ngang qua Việt Nam làm hư hỏng hệ thống đường giao thông của Việt Nam.
Hoa Kỳ, quốc gia có trình độ quản lý rừng bền vững và tin cậy, hiện là nước đứng thứ 2 xuất khẩu gỗ vào Việt Nam nhưng nếu loại trừ yếu tố tạm nhập tái xuất đi thì chính Hoa Kỳ là nước xuất khẩu gỗ nguyên liệu vào Việt Nam nhiều nhất. Đây cũng chính là nguồn gỗ nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu và tiêu dùng nội địa. Chính vì vậy, Hawa hoan nghênh quyết định này của Bộ Công Thương và Bộ NNPTNT.
Trước kia, có tới 60 quốc gia cung ứng gỗ cho Việt Nam nhưng kể từ khi có yêu cầu của đạo luật Lacey Hoa Kỳ và FLEGT của EU thì số lượng quốc gia cung ứng gỗ hiện nay giảm xuống chỉ còn 30 nước với kim ngạch nhập khẩu gỗ vào khoảng 1,8 tỉ đô la Mỹ trong năm nay.
Việt Nam hiện đang dần dần trở thành một nước sản xuất và xuất khẫu gỗ hợp pháp. Nguồn cung gỗ rừng trồng, cây cao su và gỗ từ các cây phân tán như cây ăn trái trong nước chiếm khoảng 50%, còn lại 50% tổng nhu cầu gỗ nguyên liệu đều nhập từ các nước có trình độ quản lý rừng trồng tốt nên đều là nguồn gỗ hợp pháp.
Về mặt thị trường, kinh tế đang ấm dần tại các nước như Mỹ, EU, Nhật Bản… khiến cho nhu cầu nhập khẩu gỗ tăng cao. Bên cạnh đó, Trung Quốc là quốc gia sản xuất nhiều đồ gỗ nhất thế giới nhưng bị áp lực về thuế chống bán phá giá của Hoa Kỳ. Đây là những ưu thế thuận lợi mà nếu biết tận dụng cơ hội thì Việt Nam có thể gia tăng giá trị xuất khẩu của mình trong những năm tới.
Đặc biệt, việc Việt Nam tham gia đàm phán FLEGT của EU cũng sẽ củng cố hình ảnh của Việt Nam là quốc gia rất quan tâm tới môi trường do việc đàm phán này không bắt buộc và là sự tự nguyện của mỗi quốc gia. Do đó, nếu sản phẩm gỗ sản xuất tại Việt Nam được EU thừa nhận thì các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc, Newzeland cũng sẽ thừa nhận kết quả đàm phán đó.
Song, để tận dụng được cơ hội này, trước tiên, các doanh nghiệp cần cải tiến phương pháp quản trị lao động của mình bằng cách nâng cấp hệ thống máy móc, thiết bị công nghệ của mình để thay thế bớt lao động. Chính sự gia tăng công nghệ cũng làm chất lượng sản phẩm ổn định hơn.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng cần chú trọng hiệu quả sử dụng nguyên liệu. Những năm qua theo đánh giá của chúng tôi, các doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu gỗ vẫn chưa hiệu quả, gây lãng phí. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 23/12) đầu trang(
Bộ NN&PTNT đặt mục tiêu giai đoạn 2016-2020, sử dụng không quá 40% sản lượng gỗ nguyên liệu khai thác từ rừng trồng để sản xuất dăm gỗ, tăng giá trị gia tăng trên 1m3 nguyên liệu gỗ khoảng 45% so với năm 2013.
Theo Phương án Quản lý sản xuất dăm gỗ giai đoạn 2014-2020 do Bộ NN&PTNT phê duyệt, việc sản xuất, chế biến dăm gỗ xuất khẩu sẽ được quản lý chặt chẽ, hạn chế tối đa sử dụng nguyên liệu gỗ khai thác từ rừng trồng để sản xuất dăm gỗ, nhằm nâng cao giá trị sản phẩm chế biến từ gỗ rừng trồng khai thác trong nước.
Định hướng chung là sẽ không phát triển cơ sở sản xuất dăm gỗ đối với các vùng Tây Bắc Bộ, Đồng bằng sông Hồng, Tây Nguyên, ĐBSCL và Đông Nam Bộ. Đồng thời, từng bước hạn chế các cơ sở sản xuất dăm gỗ ở 3 vùng Đông Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ với sản lượng khoảng 5,5 triệu tấn trong giai đoạn 2014-2015 và 3,5 triệu tấn ở giai đoạn 2016-2020.
Bộ NN&PTNT sẽ khuyến khích và có chính sách hỗ trợ các nhà đầu tư chế biến gỗ, để đến năm 2020, sẽ tiêu thụ khoảng 6,5 triệu m3 gỗ nhỏ để sản xuất ván sợi MDF, ván dăm, viên nén chất đốt và bột giấy; phát triển thêm các cơ sở sản xuất ghép thanh và các loại ván nhân tạo khác và các vật liệu hỗ trợ trong chế biến gỗ. (Chính Phủ 23/12; Tiền Phong 24/12) đầu trang(
Ngày 22/12, tại Lào Cai, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã chính thức khởi động Dự án "Quản lý rừng bền vững và đa dạng sinh học nhằm giảm phát thải CO2" do Chính phủ Đức tài trợ.
Dự án "Quản lý rừng bền vững và đa dạng sinh học nhằm giảm phát thải CO2" do Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW) hỗ trợ với tổng giá trị 26,07 triệu EUR, trong đó 20,5 triệu EUR do cơ quan Hợp tác Tài chính Đức (FC) cung cấp và 5,57 triệu EUR là phần đóng góp đối ứng do Chính phủ Việt Nam cung cấp. Dự án dự kiến sẽ bắt đầu vào cuối năm 2014 với tổng thời gian 7 năm.
Dự án được thực hiện tại 5 tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Hà Giang, Bắc Kạn với mục tiêu chính là tăng cường bảo vệ đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng đặc dụng của một số khu bảo tồn thiên nhiên trên địa bàn các tỉnh và sự toàn vẹn của các hệ sinh thái cảnh quan ở vùng miền núi phía Bắc, đồng thời đóng góp vào sự thích ứng của khu vực đối với biến đổi khí hậu và hỗ trợ sinh kế cho người dân địa phương.
Qua đó, vận động nâng cao nhận thức người dân trong việc tham gia bảo vệ và quản lý rừng đặc dụng.
Được biết, tại Lào Cai, Dự án được triển khai thực hiện tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn và Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Xát, với tổng kinh phí 3.035.452 Euro. Theo đó, sẽ có 17 xã ở huyện Văn Bàn (10 xã) và huyện Bát Xát (7 xã) nằm trong vùng lõi chồng phủ hoặc tiếp giáp với Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn và Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Xát hưởng lợi từ dự án.
Cụ thể, tại Lào Cai, dự án sẽ tập trung vào 4 mảng công việc chính đó là: Hỗ trợ phát triển sinh kế cho người dân vùng đệm gắn với cam kết bảo vệ rừng; hỗ trợ thiết kế và thành lập Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Xát; hỗ trợ cho ban quản lý các khu bảo tồn; hỗ trợ công tác quy hoạch sử dụng đất và giao đất. (Báo Lào Cai 23/12) đầu trang(
Gần một tuần trở lại đây tại đồi Sâu Moọc thôn Y Ngô, xã Đại Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa cả chục nghìn khối đất rừng bị đục khoét nham nhở núp dưới cái bóng hạ thấp độ cao và làm đường giao thông nội đồng. Điều kỳ lạ là việc làm này lại được chính quyền địa phương cho là phù hợp?.
Theo sự chỉ dẫn của người dân, men theo con đường bê tông len lỏi qua nhiều ngõ ngách mới đến được đồi Sâu Moọc. Cuối con đường bê tông dẫn vào khu đồi là con đường mới được mở rộng thuận lợi cho việc vận chuyển đất.
Trên đường vào, nhiều gốc cây trơ rễ bị ném hai lề đường. Ngay gần đó là một khoảng lớn đồi rừng bị đục khoét nham nhở, các máy móc và cả chục chiếc xe ô tô đang chực chờ “ăn hàng”, không khí tấp nập như một đại công trường. Chỉ mới vài ngày nhưng một khối lượng đất không nhỏ đã bị ăn cắp với độ sâu 4 – 5 m và rộng vài chục mét.
Một người dân thôn Y Ngô cho biết: Đồi Sâu Moọc từ trước đến nay chỉ trồng rừng, thế nhưng không hiểu vì lý do gì gần một tuần nay máy xúc và các xe ô tô tấp nập về đây tự do khai thác và vận chuyển đi một cách ngang nhiên. Việc vận chuyển của các xe ô tô cũng khiến nhân dân không ít bức xúc vì các xe này không che bạt lại chạy xuyên qua khu dân cư dài hàng trăm mét nên rất bụi, gây ô nhiễm môi trường và nguy hiểm cho bà con tham gia giao thông. Hơn nữa, con đường bê tông người dân mới đóng góp xây dựng mà xe đất cứ chạy thế này thì chẳng mấy chốc mà xuống cấp.
Theo tìm hiểu của PV thì diện tích đất rừng được Nhà nước giao cho ông Vũ Sơn Hà thôn Y Ngô để trồng rừng và hiện nay con trai ông là Vũ Đức Thắng đang quản lý và là người tổ chức đưa máy móc về để khai thác đất rừng này. Ông Vũ Đức Thắng cho biết: Nhà ông có diện tích đất rừng 5 ha và được giao 50 năm nhằm mục đích trồng rừng. Xã đang cần đất làm đường giao thông nội đồng và nhân tiện gia đình hạ thấp độ cao để làm trang trại, làm nhà và làm đường đi nên tôi thuê máy xúc về làm, còn xã đếm đầu xe trả tiền.
Liên quan đến vấn đề này, ông Hoàng Văn Mạnh – Trưởng thôn Y Ngô cho rằng: Thôn đã làm đơn đề nghị lấy đất đồi Sâu Moọc lên xã và được xã chấp thuận nên chúng tôi mới làm. Khối lượng dự kiến 7.000 – 8.000 m3, với lại lấy đất ở đây giá chỉ có 60.000 đồng/m3 nên sẽ tiết kiệm được rất nhiều tiền. Như vậy, việc khai thác đất rừng trái phép đã mang về một số tiền không nhỏ gần 500 triệu đồng cho ông Thắng.
Trao đổi với PV, ông Đào Văn Yến – Chủ tịch UBND xã Đại Lộc lý giải rằng: Gia đình ông Vũ Đức Thắng xin mở đường vào đường rừng, hạ thấp độ cao để làm trang trại nên xã có tạo điều kiện để lấy đất làm đường giao thông nội đồng.
Thế nhưng, mục đích đất giao này là để trồng rừng, hoàn toàn không thể thay đổi mục đích sử dụng nếu chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhưng xã Đại Lộc lại phê chuẩn một cách nhanh chóng. Khi PV yêu cầu tiếp cận hồ sơ cũng như giấy tờ liên quan thì ông Yến từ chối vì nhân viên đi vắng. Đồng thời ông Yến cũng cho rằng, việc làm này không phải báo cáo huyện Hậu Lộc vì nhỏ, cái gì cũng báo cáo thì đến bao giờ?. Trong việc này có cái chưa đúng quy trình nhưng xã thấy phù hợp nên tạo điều kiện để làm?.
Cả chục nghìn khối đất bị đục khoét liệu có thực sự nhỏ bé, số tiền khổng lồ do việc khai thác trái phép mang lại sẽ được tuồn vào túi những cá nhân, tập thể nào?. Rất mong, UBND tỉnh Thanh Hóa vào cuộc làm rõ, xử lý nghiêm những cá nhân, tập thể để xảy ra sai phạm trên. (Tài Nguyên & Môi Trường 23/12) đầu trang(
Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) tỉnh thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) chính thức đi vào hoạt động từ tháng 10-2012 với mục tiêu chính là huy động các nguồn lực xã hội để BV&PTR, góp phần cải thiện đời sống của người trồng và bảo vệ rừng.
Thời gian qua, Ban điều hành Quỹ BV&PTR đã đẩy mạnh thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) cho các đối tượng, đơn vị thụ hưởng. Tuy nhiên, việc thu tiền DVMTR từ các công ty thủy điện đứng chân trên địa bàn tỉnh gặp nhiều khó khăn, có công ty không thanh toán theo quy định, nợ tiền DVMTR nhiều năm. Điều đáng nói, tiền chi trả DVMTR được quy định trích trong giá thành điện do người dân sử dụng điện hàng tháng.
Ông Bùi Việt Hà, Phó giám đốc Quỹ BV&PTR tỉnh cho biết, đơn vị phải đóng tiền DVMTR gồm: các cơ sở sản xuất thủy điện, sản xuất và cung ứng nước sạch, kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ DVMTR... Số tiền DVMTR thu được sẽ trả cho các đơn vị chủ rừng và chi hỗ trợ các chương trình, dự án, chi hỗ trợ công tác khoán quản lý bảo vệ rừng, chi hoạt động quản lý quỹ...
Trên địa bàn tỉnh hiện có 19 đơn vị chủ rừng được thụ hưởng tiền DVMTR. Tổng diện tích rừng được thu tiền DVMTR trên địa bàn tỉnh là 68.789 ha, trong đó rừng tự nhiên 62.794 ha, rừng trồng 5.595 ha. Đơn vị phải đóng tiền DVMTR trên địa bàn tỉnh gồm: 6 đơn vị sản xuất thủy điện (4 đơn vị sử dụng DVMTR chung lưu vực và 2 đơn vị sử dụng lưu vực thuộc phạm vi hành chính của tỉnh); 3 đơn vị sản xuất và cung ứng nước sạch; 2 đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch.
Năm 2013, Quỹ BV&PTR tỉnh được giao thu hơn 35 tỷ đồng, trong đó truy thu năm 2011  hơn 10 tỷ đồng, năm 2012 là 14 tỷ đồng và năm 2013 là 11 tỷ đồng nhưng chỉ thu được 11,3 tỷ đồng. Cũng trong năm 2013, quỹ DVMTR đã chi gần 8 tỷ đồng cho công tác bảo vệ rừng.
Tính đến đầu năm 2014, các cơ sở sản xuất thủy điện trên địa bàn tỉnh nợ Quỹ BV &PTR tỉnh gần 18 tỷ đồng. Nhưng có đơn vị né tránh, không thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy, UBND tỉnh ra Quyết định số 736/QĐ-UBND ngày 15-4-2014 thành lập Đoàn kiểm tra 736 nhằm kiểm tra, đôn đốc các nhà máy thủy điện thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước.
Qua kiểm tra, một công ty cổ phần thủy điện còn nợ tiền chi trả DVMTR năm 2012 và năm 2013 gần 33 tỷ đồng, một công ty cổ phần thủy điện khác còn nợ đọng tiền chi trả DVMTR từ năm 2011 đến 2013 gần 5,7 tỷ đồng.
Ông Nguyễn Việt Hà cho biết, tại buổi làm việc với Đoàn kiểm tra 736, các nhà máy thủy điện Srok Phu Miêng, Bù Cà Mau, Đắk U thống nhất chi trả tiền DVMTR cho Quỹ BV&PTR tỉnh. Đến nay, sau khi có chỉ đạo của UBND tỉnh và Tập đoàn Điện Lực Việt Nam, các nhà máy thủy điện đã nghiêm chỉnh thực hiện việc chi trả tiền DVMTR. Tuy nhiên, việc chậm trễ cũng khiến các đơn vị thụ hưởng gặp khó khăn, ảnh hưởng đến việc bảo vệ và phát triển rừng. (Báo Bình Phước 24/12) đầu trang(
Năm 2014, các đơn vị, địa phương và nhân dân trong tỉnh Quảng Trị đã trồng mới được khoảng 5.870 ha rừng tập trung, vượt 6,7% so với kế hoạch đầu năm. Trong đó diện tích rừng phòng hộ 1.540 ha; rừng sản xuất 4.330 ha.
Hiện đang là đợt cao điểm của mùa trồng rừng, Chi cục Lâm nghiệp ngoài việc tích cực hướng dẫn các đơn vị dự án bảo vệ, phát triển rừng cơ sở triển khai và thực hiện tốt kế hoạch trồng rừng còn tăng cường kiểm tra thực địa tại các địa điểm trồng rừng và hoạt động sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp ở các vườn ươm giống để đảm bảo các hoạt động phục vụ mùa trồng rừng năm nay diễn ra đúng tiến độ.
Ngoài trồng rừng tập trung, năm 2014 toàn tỉnh còn trồng thêm 1.600 ha cây phân tán. Thời gian trồng rừng dự kiến kết thúc vào tháng giêng năm 2015. (Báo Quảng Trị 23/12) đầu trang(
UBND tỉnh giao Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Giáo dục và Đào tạo, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Quảng Ninh, theo chức năng của ngành chủ động phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa của Tết trồng cây.
Khuyến khích, vận động các tầng lớp nhân dân, học sinh nhiệt tình và tích cực tham gia trồng cây, trồng rừng gắn với công tác bảo vệ rừng; đặc biệt phải coi trọng bảo vệ, phục hồi và phát triển rừng ngập mặn trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng (đối với các địa phương giáp biển và cửa sông).
UBND các huyện, thị xã, thành phố chủ động xây dựng kế hoạch, phát động phong trào và có kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện Tết trồng cây xuân Ất Mùi năm 2015 phù hợp với điều kiện của từng địa phương, đảm bảo thiết thực, hiệu quả; chủ động mời các đồng chí lãnh đạo tỉnh tham dự.
UBND tỉnh có các đoàn đại biểu tham gia Tết trồng cây tại các địa phương vào dịp khai xuân. Sau phát động và tổ chức Tết trồng cây phải có kế hoạch quản lý bảo vệ và chăm sóc để cây trồng đạt tỷ lệ sống cao; tránh phô trương hình thức gây lãng phí, tốn kém, không hiệu quả.
Các đơn vị, tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp, căn cứ vào điều kiện thực tế của đơn vị mình cần xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, gắn ý nghĩa của Tết trồng cây nhớ ơn Bác (trồng cây bóng mát, cây ăn quả, cây lấy gỗ) với các hoạt động thiết thực và các công trình chào mừng Đảng, mừng Xuân.
Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt nam, Tổng Công ty Đông Bắc và các đơn vị thành viên khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh phải có phương án và kế hoạch cụ thể, phát động phong trào Tết trồng cây nhớ ơn Bác gắn với triển khai trồng cây hoàn nguyên môi trường tại các bãi thải ngay từ đầu năm; đặc biệt chú trọng trồng cây bảo vệ khu dân cư nằm trong vùng bị ảnh hưởng của hoạt động khai thác khoáng sản.
UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn về chuyên môn kỹ thuật; chủ động phối hợp với các địa phương, các ngành và các tổ chức để chỉ đạo Tết trồng cây năm 2015 trên địa bàn tỉnh đảm bảo thiết thực, hiệu quả. (Báo Quảng Ninh 23/12) đầu trang(
Vụ trồng rừng năm 2014, ngành chức năng, các công ty lâm nghiệp và chính quyền các địa phương trong tỉnh đã chủ động triển khai nhiều biện pháp cụ thể, đẩy nhanh tiến độ trồng rừng và giao khoán rừng cho dân quản lý, bảo vệ.
Ðến nay, các đơn vị đã thực hiện vượt mức kế hoạch được giao. PV Báo Bình Ðịnh đã phỏng vấn ông Nguyễn Thế Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Phát triển Lâm nghiệp (thuộc Sở NN-PTNT), quanh vấn đề này.
Ông Nguyễn Thế Dũng cho biết: Trong năm 2014, tỉnh ta đề ra mục tiêu thực hiện 8.500 ha rừng trồng tập trung; tuy nhiên, công tác trồng rừng năm nay gặp nhiều trở ngại khi giá gỗ nguyên liệu trên thị trường giảm mạnh, thời tiết nắng nóng kéo dài.
Để đảm bảo kết quả trồng rừng, ngành Nông nghiệp đã chủ động làm việc với các công ty lâm nghiệp và chính quyền các địa phương để thống nhất chủ trương, địa điểm trồng rừng và triển khai công tác đo đạc, thiết kế đất trồng rừng; đồng thời kiểm tra, giám sát, hỗ trợ hoạt động sản xuất của các cơ sở sản xuất kinh doanh giống cây lâm nghiệp...
Trên cơ sở diện tích đã điều tra quy hoạch, chúng tôi đã giúp các huyện, xã lập phương án giao đất, xác định chính thức hộ tham gia trồng rừng và diện tích kế hoạch trồng rừng năm 2014. Về giống cây lâm nghiệp phục vụ công tác trồng rừng, qua quá trình kiểm tra, ngành Nông nghiệp tỉnh đã công nhận 114 cơ sở đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp. Các cơ sở này đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, và đã sản xuất được 154,2 triệu cây giống lâm nghiệp nằm trong cơ cấu cây trồng của tỉnh để cung ứng cho nông dân.
Nhìn chung, tuy gặp một số bất lợi, song nhờ chủ động triển khai nhiều biện pháp khả thi, nên công tác trồng rừng năm 2014 được thực hiện nhanh và hiệu quả. Đến nay, toàn tỉnh đã trồng được hơn 9.753 ha rừng trồng tập trung, vượt 1.253 ha so với kế hoạch và tăng 174,45 ha so với vụ trồng rừng năm trước.
Trong đó, trồng rừng phòng hộ cảnh quan và trồng rừng ngập mặn trên 1.133 ha cùng 8.620 ha rừng sản xuất. Qua kiểm tra, các đơn vị đã thực hiện khá tốt quy trình kỹ thuật, mật độ trồng và chú trọng đến công tác quản lý, chăm sóc cây trồng. Nhờ vậy, tỉ lệ cây sống đạt trên 90%.
Bên cạnh việc đẩy mạnh công tác trồng rừng, ngành Nông nghiệp đã phối hợp với các đơn vị, chính quyền các địa phương triển khai công tác giao cho dân quản lý, bảo vệ rừng trồng. Năm 2014, UBND tỉnh giao nhiệm vụ giao khoán cho dân  quản lý, bảo vệ trên 104.589 ha rừng thuộc các chương trình, dự án. Đến nay, các đơn vị đã giao khoán cho dân quản lý, bảo vệ trên 104.589 ha rừng, đạt 100% kế hoạch. Ngoài ra, các đơn vị trồng rừng, chính quyền các địa phương còn giao khoán cho dân khoanh nuôi tái sinh 10.857 ha  rừng.
Thực tế cho thấy, công tác trồng rừng, giao khoán rừng cho dân quản lý đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực, tăng độ che phủ của rừng, bảo vệ môi trường sinh thái; điều hòa nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp; tăng thu nhập, giải quyết việc làm cho người dân và hạn chế được tình trạng khai thác gỗ, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép tại các địa phương. Hiện chúng tôi đang phối hợp với các công ty lâm nghiệp và chính quyền các địa phương tổ chức hướng dẫn người dân áp dụng các biện pháp quản lý, bảo vệ, chăm sóc rừng trồng, nhằm duy trì và phát triển lợi ích từ việc trồng rừng.
Chi cục đã xây dựng kế hoạch, giải pháp trên lĩnh vực trồng rừng năm 2015 với mục tiêu trồng 8.500 ha rừng; đồng thời đẩy mạnh công tác giao khoán cho dân quản lý và khoanh nuôi tái sinh rừng.
Để thực hiện có hiệu quả mục tiêu trên, chúng tôi sẽ phối hợp với các công ty lâm nghiệp, chính quyền các địa phương chủ động khảo sát quỹ đất, bàn bạc, thống nhất về đối tượng, địa điểm trồng rừng và đẩy mạnh hoạt động sản xuất, gieo ươm cây giống lâm nghiệp phục vụ cho công tác trồng rừng.
Bên cạnh đó, Chi cục sẽ phối hợp với ngành chức năng và các địa phương tổ chức họp dân, chọn hộ giao-nhận khoán rừng, hướng dẫn người dân áp dụng các biện pháp quản lý, bảo vệ, chăm sóc rừng trồng vào thực tế. (Báo Bình Định 23/12) đầu trang(
Ngày 23.12, Sở NN-PTNT đã tổ chức hội nghị tổng kết 10 năm (2005-2014) thực hiện Dự án khôi phục và quản lý rừng bền vững (Dự án KfW6) do Chính phủ Đức thông qua Ngân hàng Tái thiết Đức và Chính phủ Việt Nam đồng tài trợ vốn.
Dự án KfW6 được thực hiện tại 49 thôn tại 13 xã của ba huyện: Hoài Ân, Hoài Nhơn và Tây Sơn, với mục tiêu thiết lập 8.000 ha rừng ở những nơi bị đe dọa về sinh thái; quản lý dựa vào công đồng 2.072 ha rừng nhằm góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo thu nhập ổn định cho người dân thông qua việc giải quyết việc làm vùng dự án.
Đến nay, tỉnh đã thiết lập được trên 9.125 ha rừng, đạt 114% so kế hoạch. Trong đó, có 2.812 ha rừng trồng cây bản địa: Sao đen, dầu rái, lim xanh, gió trầm, keo lá tràm, keo lai và khoanh nuôi tái sinh trên 6.313 ha rừng tự nhiên. Trong khuôn khổ của Dự án, tỉnh cũng đã xây dựng được nhiều mô hình quản lý rừng cộng đồng với diện tích trên 2.572 ha, đạt 124% so với kế hoạch.
Cũng trong thời gian nói trên, tỉnh đã cấp 5.657 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các nông hộ tham gia dự án; mở 5.661 sổ tài khoản cho các nông hộ và cộng đồng tham gia dự án với số tiền trên 31,906 tỉ đồng, để phục vụ cho công tác chăm sóc, bảo vệ rừng.
Theo đánh giá của Sở NN-PTNT, Dự án KfW6 đã góp phần tăng độ che phủ của rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, điều hòa nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập, giải quyết việc làm cho người dân và hạn chế được tình trạng khai thác gỗ, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép tại các địa phương. Nhà tài trợ đánh giá cao các hoạt động của Dự án KfW6 tại tỉnh. (Báo Bình Định 23/12) đầu trang(
Ngày 23-12, huyện Đại Từ đã tổ chức Hội nghị đánh giá kết quả chỉ đạo công tác sản xuất nông - lâm nghiệp, công tác quản lý, bảo vệ rừng năm 2014; triển khai phương án sản xuất vụ xuân và công tác quản lý, bảo vệ rừng năm 2015.
Năm qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn do thời tiết diễn biến thất thường, giá vật tư phân bón, thức ăn chăn nuôi ở mức cao, song sản xuất nông nghiệp của huyện Đại Từ vẫn ổn định và có bước tăng trưởng khá.
Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp, thuỷ sản đạt trên 1.600 tỷ đồng; tổng sản lượng lương thực đạt trên 73 nghìn tấn; giá trị sản phẩm/ha đất trồng trọt đạt 91,4 triệu đồng, tăng hơn 7 triệu đồng/ha so với năm 2013. Tổng diện tích gieo trồng cây màu đạt gần 6.000ha, diện tích chè trồng mới là 550ha, trồng rừng mới gần 1.200ha, sản lượng thịt hơi các loại đạt gần 12.000 tấn, sản lượng thuỷ sản 1.900 tấn…
Năm 2015, huyện Đại Từ đề ra các chỉ tiêu chính trong sản xuất nông nghiệp: Tổng sản lượng lương thực cây có hạt đạt 71.000 tấn; tích cực đầu tư chăm sóc trên 5.500ha chè cho thu hoạch... Riêng vụ xuân, toàn huyện phấn đấu gieo cấy gần 6 nghìn ha lúa, năng suất 57,53 tạ/ha, diện tích thâm canh cao sản là 3.900ha, diện tích lúa lai đạt 1.600ha...
Để đạt được các chỉ tiêu trên, huyện đã đưa ra các giải pháp thực hiện của từng nhóm, trong đó tập trung vào đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất; quan tâm quy hoạch phát triển các khu chăn nuôi theo mô hình trang trại; quy hoạch vùng sản xuất, chế biến chè an toàn; chuyển dịch cơ cấu cây trồng, đưa những loại cây màu có giá trị kinh tế cao vào đồng ruộng.
Cũng tại hội nghị, các đại biểu còn nghe báo cáo tổng kết công tác quản lý, bảo vệ rừng năm 2014; công tác phát triển rừng năm 2015 và chỉ thị của UBND huyện về tăng cường các biện pháp cấp bách trong công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng... (Báo Thái Nguyên 23/12) đầu trang(
UBND tỉnh vừa ban hành văn bản yêu cầu Sở NN&PTNT cùng một số sở, ban, ngành liên quan tập trung thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2020.
Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Sở NN&PTNT tiếp tục chỉ đạo các chủ dự án cơ sở trên địa bàn tỉnh khẩn trương thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2014 đã được UBND tỉnh giao tại Quyết định số 2618 ngày 27/12/2013.
Đồng thời, khẩn trương hoàn thành đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, trong đó tập trung ưu tiên 4 nhiệm vụ trọng tâm gồm: Nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng sản xuất; nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm gỗ qua chế biến; phát triển kinh tế hợp tác và liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm trong lâm nghiệp; phát triển thị trường gỗ và sản phẩm gỗ.
Bên cạnh đó, chỉ đạo Chi cục kiểm lâm, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh tăng cường các thông tin tuyên truyền pháp luật bảo vệ rừng, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng thông qua báo, đài giúp người dân nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Khẩn trương thực hiện triển khai trồng rừng bán ngập, trồng rừng thay thế diện tích rừng khi chuyển sang sử dụng cho mục đích khác theo Chỉ thị số 02 ngày 24/1/2014 của Thủ tướng Chính phủ. (Binhphuoc.gov.vn 23/12) đầu trang(
UBND tỉnh vừa có ý kiến chỉ đạo Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì, phối hợp các sở, ngành, địa phương liên quan triển khai phân giao kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2015 cho các đơn vị, dự án cơ sở.
Đồng thời, hướng dẫn, kiểm tra giám sát các đơn vị, địa phương chuẩn bị cây giống tốt, có chất lượng và hiện trường cho kế hoạch trồng rừng, trồng cây phân tán năm 2015; tiếp tục tăng cường công tác quản lý, nâng cao chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp; chuẩn bị kế hoạch triển khai phát động Tết trồng cây trên địa bàn Tỉnh theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và PTNT đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả.
Bên cạnh đó, chủ trì, phối hợp các sở Công Thương, Tài nguyên và Môi trường, các địa phương đôn đốc các chủ dự án thực hiện nghiêm Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 24/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích sử dụng khác; hoàn thành kế hoạch trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang làm thủy điện trong năm 2015.
UBND các huyện, thị xã, thành phố phối hợp với các ngành chức năng chỉ đạo, hướng dẫn các chủ rừng thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản chỉ đạo của UBND Tỉnh về tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng. (Phuyen.gov.vn 23/12) đầu trang(
Hiện nay, toàn tỉnh có 93.000 ha rừng trồng. Tính đến đầu tháng 12, toàn tỉnh đã trồng mới 5.430 ha, vượt 430 ha (8,6%) so với kế hoạch trồng rừng 5.000 ha được giao năm 2014.
Theo thống kê của Chi cục Lâm nghiệp Quảng Bình, dự kiến vụ trồng rừng năm nay vượt kế hoạch đề ra trên 10%. Trong đó, rừng phòng hộ đã trồng được  770/680 ha, rừng sản xuất 4.722/ 4.320 ha so với kế hoạch.
Việc trồng rừng đã tạo ra các vùng nguyên liệu tập trung có diện tích lớn, tận dụng được quỹ đất trong nhân dân. Trên địa bàn tỉnh đã hình thành nhiều diện tích rừng trồng có chất lượng khá cao, đáp ứng hiệu quả phòng hộ và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ, hàng xuất khẩu. Cơ cấu cây trồng tuy chưa phong phú đa dạng song về cơ bản đã lựa chọn được một số loài cây trồng bước đầu có hiệu quả, phù hợp với điều kiện lập địa như keo lai hom, keo tai tượng, lát hoa...
Huyện miền núi Tuyên Hóa là một trong những địa phương có diện tích trồng rừng khá lớn. Để đạt chỉ tiêu kế hoạch trồng năm 2014, huyện đã chỉ đạo các xã tuyên truyền vận động người dân đẩy nhanh việc phát dọn thực bì, làm đất để thực hiện đúng tiến độ đã đề ra. Các địa phương tiếp tục có các giải pháp đồng bộ, vận động người dân phát huy tính chủ động, tích cực trong đầu tư, sản xuất lâm nghiệp.
Hiện nay, toàn huyện có 7.024 ha rừng trồng, trong đó, năm 2014, toàn huyện trồng mới được 850 ha. Những ngày này, người dân xã Cao Quảng (Tuyên Hóa) đang tích cực trồng rừng để chuẩn bị bước vào mùa vụ đông.
Ông Mai Xuân Tuyên, Chủ tịch UBND xã Cao Quảng cho biết: “Nhận thức được việc trồng rừng không chỉ góp phần bảo vệ môi trường sinh thái mà còn tạo việc làm, tăng thêm thu nhập và ổn định đời sống cho nhân dân, những năm gần đây, Cao Quảng luôn là một trong những xã đi đầu trong việc tham gia trồng rừng và bảo vệ rừng của huyện Tuyên Hóa. Tổng diện tích rừng trồng của toàn xã tính đến nay là 1.250ha. Năm 2014, chỉ tiêu trồng mới là 83ha nhưng hiện nay toàn xã tu bổ và trồng mới hơn 350ha. Diện tích rừng trồng chủ yếu là cây keo lai hom và keo tai tượng”.
“Rừng là vàng, nếu mình biết bảo vệ và xây dựng thì rừng rất quý”. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Bác về Tết trồng cây và trồng rừng, tỉnh ta cũng đã có nhiều chủ trương, chính sách triển khai các chương trình dự án thúc đẩy phong trào nhận đất, nhận rừng, trồng cây gây rừng và bảo vệ phát triển rừng mạnh mẽ, gắn với tạo việc làm, nâng cao đời sống cho các hộ dân, nhất là đồng bào miền núi. Các hộ dân đã biết áp dụng các tiến bộ kỹ thuật để trồng rừng.
Một số diện tích rừng tạp, rừng nghèo kiệt, rừng thứ sinh năng suất, chất lượng thấp đã được cải tạo, chuyển đổi, thay thế bằng các loại cây lâm nghiệp có năng suất, chất lượng cao hơn. Ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường của cán bộ, nhân dân được nâng cao, ngày càng có nhiều tổ chức, hộ trồng rừng, khoanh nuôi rừng đạt hiệu quả, cho thu nhập hàng trăm triệu đồng. Các hoạt động khai thác, lợi dụng rừng tự nhiên đang dần chuyển sang tu bổ, tái tạo rừng.
Ông Nguyễn Văn Huệ, Trưởng phòng kỹ thuật Chi cục Lâm nghiệp Quảng Bình cho biết: “Năm 2014 là năm khá thuận lợi về thời tiết để người dân trồng rừng, từ tháng 9 đến tháng 12, mưa rải đều trên toàn tỉnh. Sau cơn bão số 10 và hoàn lưu bão số 11, UBND tỉnh đã ký quyết định hỗ trợ 40% giá cây giống cho bà con trồng rừng, tổng kinh phí là 3,6 tỷ đồng.
Ngoài ra, hỗ trợ 50% giá trị giống cây lâm nghiệp tiến bộ kỹ thuật mới về cây keo lai hom các dòng BV10, BV16, BV32 tổng mức hỗ trợ là 300 triệu đồng. Đây là những thuận lợi để người dân trồng rừng vượt mức kế hoạch đã đề ra năm 2014. Mặt khác, trồng rừng là một trong những phương án xóa đói giảm nghèo, hiệu quả cao về kinh tế nên  người dân tự giác trồng rừng hơn những năm trước đây”.
Với những kết quả đã đạt được trong những năm qua, tỉnh đang tiếp tục chỉ đạo các cơ quan chuyên môn và các huyện, thành phố tuyên truyền, vận động nhân dân đẩy mạnh công tác bảo vệ và phát triển rừng, cải tạo chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang trồng rừng sản xuất.
Một mùa xuân nữa lại sắp đến, cùng với màu xanh của hoa cỏ trong hương sắc mùa xuân, những cánh rừng mới trồng trên quê hương chúng ta lại càng xanh thêm trên mọi miền của quê hương. (Báo Quảng Bình 24/12) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Theo Reuters, một tòa án ở Australia ngày 23-12 đã ra phán quyết yêu cầu đền bù 500 triệu AUD (406 triệu USD) cho những nạn nhân và gia đình của 173 người thiệt mạng trong vụ cháy rừng tồi tệ nhất ở Australia vào năm 2009.
Đây là kết quả của đơn kiện từ hơn 5.000 người, kiện công ty điện AusNet và Công ty quản lý tài sản dịch vụ Utility Corporation Ltd sau khi Ủy ban Hoàng gia kết luận rằng ngọn lửa cháy rừng ở Kinglake xuất phát từ dây điện cũ của AusNet. Cả AusNet và Utility Corporation Ltd  đều không nhận trách nhiệm về vụ việc này. Chính quyền bang Victoria cũng có trách nhiệm trong vụ đền bù này.
Theo phán quyết, AusNet sẽ phải chi 378 triệu AUD, Utility Corporation Ltd  trả 12,5 triệu AUD và chính quyền bang Victoria chi trả phần còn lại.
Vào ngày 2-2-2009, cháy rừng đã xảy ra tại nhiều nơi ở miền Nam Victoria, làm chết 173 người, hơn 1.000 người bị thương và 1.172 ngôi nhà bị phá hủy.
AusNet cho biết công ty bảo hiểm chi trả phần trách nhiệm pháp lý của công ty này nhưng họ vẫn phải đối mặt với các vụ kiện khác liên quan đến vụ cháy rừng được gọi là “ngày thứ bảy đen tối” này. (Sài Gòn Giải Phóng 23/12) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng