|
Ngày 25 tháng 12 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen - khu vực của Đồng Tháp Mười với những giá trị về đa dạng sinh học của vùng đất ngập nước, là một trong những điểm tham quan du lịch sinh thái hấp dẫn của tỉnh Long An và cả nước.
Vài tuần qua, tại khu bảo tồn đang có nhiều loài quý hiếm tập trung về sinh sống, đặc biệt có một số loài sinh sản. Trong đó, quắm đầu đen - được xếp vào loài nguy cấp trong Sách đỏ Việt Nam, có số lượng rất ít tại khu vực ĐBSCL, khó bắt gặp trong tự nhiên, đang xuất hiện và sinh sống tại Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen.
Nơi đây cũng đang xuất hiện hơn 2.000 cá thể cò ốc (trong Sách đỏ Việt Nam), loài trước đây chỉ tập trung sinh sống ở nơi khác, nay đã về Láng Sen sinh sản. Loài quắm đen với hơn 300 cá thể sinh sống tại khu bảo tồn, được đánh giá là nơi tập trung với số lượng cá thể lớn nhất tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn ở Việt Nam hiện nay.
Ngoài ra, loài giang sen - loài nguy cấp trong Sách đỏ Việt Nam, cũng đang tập trung về Láng Sen với số lượng khá lớn. Sự hiện diện của nhiều loài cá thể quý hiếm về sống, sinh sản là điều đáng mừng cho Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen.
Tuy nhiên, hiện nay, theo ban giám đốc khu bảo tồn, nơi đây đang chịu một áp lực lớn từ những người dân sống tại vùng đệm khu bảo tồn (thuộc 3 xã giáp ranh Vĩnh Lợi, Vĩnh Đại và Vĩnh Châu A), đặc biệt tại tuyến dân cư thuộc Kênh 79 - xã Vĩnh Lợi.
Do một số hộ dân không có đất sản xuất và nghề nghiệp, chủ yếu là làm thuê nên nhiều người đã bẫy - bắt các loài chim nước khi các loài này bay ra khu vực bên ngoài (vùng tràm kinh tế) kiếm ăn, để bán kiếm sống làm giảm đi một số lượng đáng kể các loài chim nước.
Phương pháp bẫy được xem là nguy hiểm nhất hiện nay là người dân dùng loại thuốc hóa học (thuốc sát trùng tím có tên khoa học là Puradance, công dụng để diệt mầm sâu bệnh) trộn vào cá làm mồi rồi mang rải ở những vũng nước cạn cho các loài này ăn. Chim ăn phải thức ăn nhiễm hóa chất chết, người dân gom về làm sạch (nhổ lông, lấy ruột) rồi bán cho một số quán nhậu tại địa phương và TPHCM.
Theo một bác sĩ tại Viện Y tế công cộng (Bộ Y tế), ăn những loài chim ăn phải thuốc sát trùng như thế chẳng khác gì gián tiếp ăn thuốc độc. Vì khi vào cơ thể các loài này, thuốc sát trùng sẽ ngấm, không đào thải được ra ngoài, nên người ăn vào rất dễ bị ngộ độc. Hiện tượng nóng, khô cổ họng... chính là do bị trúng độc của thuốc sát trùng. (Sài Gòn Giải Phóng 25/12, tr6)đầu trang(
24-12, tại huyện Bắc Bình Chi cục Kiểm lâm hai tỉnh Bình Thuận, Lâm Đồng và UBND hai huyện giáp ranh Bắc Bình, Đức Trọng đã họp về tàn sát rừng phòng hộ Sông Lũy mà báo Pháp Luật TP.HCM đã phản ảnh.
Theo báo cáo ban đầu, ngày 17-12, lực lượng bảo vệ Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy và Hạt Kiểm lâm Bắc Bình đã đưa một số phóng viên các cơ quan báo chí đến hiện trường vụ phá rừng tại khu vực sông Dú, thuộc tiểu khu 73A. Theo đó, chỉ có khoảng 60 m3 gỗ bị triệt hạ tại khu vực này. Cụ thể, lâm tặc đã triệt hạ gỗ, cưa xẻ tại chỗ và vận chuyển đi 25 m3, gỗ còn lại hiện trường khoảng 35 m3.
Để làm rõ lượng gỗ mà lâm tặc đã tàn sát, PV đã quay lại đỉnh Sa Mai (rừng phòng hộ Sông Lũy).
Chỉ cách hiện trường vụ phá rừng bằng lăng khoảng hơn 150 m đường chim bay về hướng đông bắc, lần theo dấu móc cáp của lâm tặc kéo gỗ khỏi sông Dú, vượt qua một ngọn đồi nhỏ là đã đến hiện trường tập kết gỗ. Tại đây, gỗ bằng lăng bị triệt hạ chưa kịp xẻ nằm vương vãi khắp nơi. Thỉnh thoảng mới có vài điểm cưa xẻ gỗ tại chỗ mà gỗ đã bị lấy đi, chỉ còn những đống mạt cưa to đùng và vài tấm ván bìa.
Lâm tặc còn vứt lại một số can nhựa đựng dầu, nhớt mà họ đưa vào rừng dùng làm nhiên liệu cho cưa máy. Tại khu vực này có gần 50 gốc bằng lăng đường kính từ 70 đến 80 cm bị triệt hạ. Theo K’ Mang, người dẫn đường, căn cứ vào dấu nhựa cây, số gỗ ở bãi tập kết này bị triệt hạ khoảng đầu tháng 10-2014. Tức sau khi đốn hạ tại khu vực này, lâm tặc mới đổ bộ xuống sông Dú cách đó khoảng 150 m tiếp tục tàn sát rừng bằng lăng và xẻ gỗ tại chỗ.
Cách bãi gỗ này khoảng vài chục mét, K’Mang đã sững người hú gọi PV khi phát hiện năm cây gỗ dầu đường kính trên 70 cm đã bị triệt hạ chỉ còn trơ gốc. Đặc biệt có một cây dầu khổng lồ lâm tặc mới chỉ cưa xẻ lấy đi một phần ngọn. Thử kéo thước đo, chúng tôi sững sờ khi đường kính gốc cây dầu này đến 2,36 m! Theo những thợ rừng, những cây cổ thụ có đường kính như vậy không còn ở rừng Bình Thuận. Với đường kính khủng như thế, cây dầu ước đã sống vài thế kỷ.
Theo dấu vết còn lại, để triệt hạ được gốc dầu khủng này, lâm tặc sử dụng cưa máy “mở miệng” nhiều đường cưa. Cả một vạt rừng cạnh đó bị ngã rạp, gãy đổ vì tán cây quá lớn.
Điều đặc biệt là trên gốc cây dầu cổ thụ này vẫn còn màu sơn đỏ của lực lượng bảo vệ rừng. Căn cứ vào số ký hiệu đánh dấu, gốc cây này được bảo vệ rừng phát hiện vào ngày 15-12-2014.
Rõ ràng bãi tập kết gỗ và địa điểm phá rừng này đã được phát hiện trước hai ngày (17-12) khi Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy và Hạt Kiểm lâm Bắc Bình đưa một số phóng viên của các cơ quan báo chí vào thực địa. Tuy nhiên, họ chỉ “giới thiệu” hiện trường vụ phá rừng ở sông Dú trong khi chỉ cách địa điểm trên 150 m, một vụ phá rừng quy mô không được đề cập.
Ngày 24-12, phóng viên - người có mặt trong đoàn đến hiện trường vụ phá rừng vào ngày 17-12, khẳng định: Chúng tôi chỉ được đưa đến khu vực sông Dú ở tiểu khu 73A mà báo Pháp Luật TP.HCM đã phản ảnh. Sau khi đến hiện trường chụp ảnh, quay phim, đoàn phóng viên được Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy cung cấp một bản báo cáo. Đối với khu vực gần 50 gốc bằng lăng và năm gốc dầu có gốc cổ thụ khủng, đoàn không hề được đưa đến.
Theo một cán bộ Chi cục Kiểm lâm Bình Thuận, chỉ tính riêng cây dầu cổ đường kính gốc 2,3 m, cao hơn 30 m, lượng gỗ của riêng cây này không dưới 40 m3! Tổng lượng gỗ bằng lăng và gỗ dầu tại địa điểm mới phát hiện này là gần 100 m3 và nó không hề thể hiện trong báo cáo.
Theo báo cáo của Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy gửi Sở NN&PTNT tỉnh Bình Thuận, từ các ngày 6, 12, 21 và 24-11, Trạm Bảo vệ rừng Sa Mai phát hiện, lập biên bản các vụ phá rừng bằng lăng tại tiểu khu 73A.
Thực tế tại hiện trường số gỗ bị triệt hạ nằm cạnh nhau nhưng việc phát hiện lại lẻ tẻ. Ngoài ra, theo báo cáo thì ban quản lý phát hiện các vụ phá rừng từ đầu tháng 11-2014 nhưng hơn một tháng sau, ngày 11-12, đơn vị này mới có báo cáo là quá chậm. (Pháp luật TP.HCM 25/12)đầu trang(
Thực hiện Nghị định số 74/2010/NĐ-CP của Chính phủ, thời gian qua, lực lượng dân quân tự vệ (DQTV), công an xã và kiểm lâm đã phối hợp chặt chẽ, góp phần tích cực trong việc giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội (ANCT, TTATXH) và bảo vệ rừng.
Gần 210.000 DQTV với 442.735 ngày công tham gia giữ gìn ANCT, TTATXH, tuần tra, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng và các nhiệm vụ khác trong năm 2014, là con số khá ấn tượng được ghi nhận tại Hội nghị giao ban giữa Cục DQTV (Bộ Quốc phòng), Cục Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (Cục V28-Bộ Công an) và Cục Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).
Phát huy thế mạnh là lực lượng đông đảo, rộng khắp, có mặt ở mọi nơi, thời gian qua, lực lượng DQTV đã cùng các lực lượng khác thực hiện hiệu quả công tác giữ gìn ANCT, TTATXH và bảo vệ rừng tại các địa phương, cơ sở.
Theo ghi nhận của Thiếu tướng Nguyễn Văn Khảo, Cục trưởng Cục V28: Từ khi triển khai thực hiện Nghị định số 74/2010/NĐ-CP, lực lượng DQTV đã phối hợp tích cực với công an xã góp phần quan trọng xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, đẩy lùi và làm thất bại âm mưu, thủ đoạn, chiến lược “Diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Trong năm 2014, cán bộ, chiến sĩ công an xã, DQTV và kiển lâm đã phát hiện, xử lý kịp thời ngay từ cơ sở nhiều vụ việc về an ninh trật tự, không để lan rộng, kéo dài; an ninh biên giới và các khu vực, mục tiêu quan trọng trong cả nước luôn được giữ vững...
Còn theo đánh giá của Cục Kiểm lâm: Trong năm 2014, lực lượng DQTV đã cùng với lực lượng kiểm lâm và công an cơ sở tổ chức tuần tra, bảo vệ rừng, kiểm tra ngăn chặn, triệt phá nhiều tụ điểm khai thác, cất giữ, mua bán, vận chuyển gỗ, lâm sản trái pháp luật.
Tính đến ngày 30-10-2014, trên toàn quốc đã phát hiện 18.417 vụ vi phạm, trong đó xử phạt hành chính 18.222 vụ, khởi tố 195 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng. Ngoài ra, các lực lượng còn phối hợp với chủ rừng và nhân dân xử lý, dập tắt 419 vụ cháy rừng (tăng 177 vụ so với năm 2013).
Những chiến công, thành tích của các lực lượng để giữ gìn ANCT, TTATXH và bảo vệ rừng được thực hiện trong điều kiện vô cùng khó khăn, vất vả, hiểm nguy và thậm chí phải đổi bằng máu xương của nhiều đồng chí. Điển hình như, chiến sĩ dân quân Trần Bá Công (xã Thượng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An) hy sinh trong khi làm nhiệm vụ chữa cháy rừng. Chiến sĩ dân quân Triệu Vân Dũng (xã Thái Học, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) hy sinh trong khi làm nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn tại hang Nghẹt Bản...
Trong lực lượng công an xã cũng có hàng chục đồng chí hy sinh và bị thương trong khi làm nhiệm vụ, điển hình là công an viên Lường Văn Quang (xã Mường Rôn, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La); Nguyễn Mạnh Tuấn (xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam); Nguyễn Văn Tý (xã Hải Phúc, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định)... đã hy sinh trong đấu tranh với tội phạm, giữ gìn ANCT, TTATXH tại địa phương...
Để nâng cao kết quả hoạt động của lực lượng DQTV, công an xã, kiểm lâm ở cơ sở, các cơ quan chức năng là Cục DQTV, Cục V28 và Cục Kiểm lâm đã tích cực, chủ động tham mưu cho ba bộ và hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, nâng cao chất lượng hoạt động phối hợp.
Thiếu tướng Nguyễn Duy Nguyên, Cục trưởng Cục DQTV, cho biết: Trong năm 2014, các cơ quan của ba bộ đã tham mưu và ban hành hàng chục văn bản chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động, tổ chức 6 cuộc giao ban. Đặc biệt, ba cục đã phối hợp kiểm tra hai đợt tại 8 tỉnh, thành phố, đồng thời chỉ đạo cơ quan công an, quân sự địa phương và kiểm lâm cùng cấp tự tổ chức nhiều đợt kiểm tra liên ngành giữa ba lực lượng. Tính đến ngày 10-12, đã có 48/55 tỉnh hoàn thành kế hoạch tự kiểm tra. Những việc làm đó đã bảo đảm cho hoạt động phối hợp ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả hơn...
Những ngày cuối năm bận rộn nhiều công việc, song Cục DQTV, Cục V28 và Cục Kiểm lâm đã dành thời gian để bàn biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả phối hợp giữa các bộ phận và ra quy chế thực hiện các hoạt động. Trong quy chế, Cục DQTV, Cục V28 và Cục Kiểm lâm đã thống nhất sẽ tăng cường trao đổi thông tin, kiểm tra, tuyên truyền, phổ biến giáo dục quốc phòng, an ninh, bảo vệ rừng, biểu dương nhân rộng các mô hình, điển hình...
Thiếu tướng Nguyễn Duy Nguyên nhấn mạnh: Ba cục sẽ nhanh chóng xây dựng chương trình phối hợp hoạt động năm 2015 phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan. Quá trình thực hiện sẽ tăng cường tổ chức kiểm tra liên ngành. Trong năm 2015, dự kiến mỗi cục sẽ chủ trì, phối hợp kiểm tra từ 3 đến 5 tỉnh, thành phố, trong đó chú trọng kiểm tra các địa phương biên giới, ven biển, địa bàn chiến lược để từ đó rút kinh nghiệm nâng cao hiệu quả giữ gìn ANCT, TTATXH và bảo vệ rừng.
Từ kinh nghiệm trong tham mưu, chỉ đạo công tác, Đại tá Trần Văn Tuấn, Trưởng phòng Tác chiến, Cục DQTV, cho rằng: Cơ quan công an, quân sự địa phương và kiểm lâm cùng cấp cần chủ động rà soát, bổ sung các phương án bảo vệ ANCT, TTATXH, phòng cháy, chữa cháy rừng, với tinh thần chủ động phòng là chính, đồng thời luôn sẵn sàng đáp ứng tốt với nhiệm vụ khi có tình huống. Trước hết là nâng cao khả năng dự báo, khả năng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương xử lý kịp thời, chính xác những tình huống có thể xảy ra.
Năm 2014, trong toàn quốc đã có 2.698 xã, phường, thị trấn tổ chức diễn tập; trong đó có 323 xã diễn tập phòng, chống lụt, bão, chữa cháy rừng, 2.375 xã diễn tập chiến đấu-trị an. Đây là điều kiện tốt để nâng cao khả năng phối hợp giữa tất cả các lực lượng trong xử trí các tình huống quốc phòng, an ninh và chữa cháy rừng. Qua đây cũng cho thấy, để hoàn thành tốt nhiệm vụ, các lực lượng cần tiếp tục được tổ chức huấn luyện, luyện tập, diễn tập thường xuyên, chu đáo.
Trong công tác phối hợp hoạt động giữ gìn ANCT, TTATXH và bảo vệ rừng, cần phát huy tốt vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền ban, ngành, đoàn thể, địa phương và huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân cùng tham gia... (Quân Đội Nhân Dân 25/12)đầu trang(
Chiều tối 23.12, tại sân vận động trung tâm xã Đức Mạnh (huyện Đăk Mil, Đăk Nông) đã xảy một tai nạn đau lòng. Nạn nhân là cháu Nguyễn Văn Luật (12 tuổi, trú xã Đức Mạnh), đã bị con voi của Công ty Xiếc- Hài kịch Bình Minh (tỉnh Thái Bình) quật chết.
Một số nhân chứng kể lại, lúc này, Luật và một số cháu nhỏ đứng gần con voi. Khi Luật đang cho con voi ăn và cố sờ vào vòi voi thì bị con voi này dùng vòi quấn lấy rồi quật vào thành xe tải. Ngay sau khi nghe tiếng kêu của những người xung quanh, quản tượng chạy đến can thiệp, đưa cháu Luật đi bệnh viện nhưng nạn nhân đã tử vong.
Vụ việc ngay sau đó được lãnh đạo địa phương báo với cơ quan công an. Con voi quật chết người cũng được đưa về UBND xã xích chân lại để bảo vệ an toàn cho người dân. Theo quan sát, khi bị xích, con voi này tỏ ra rất hung dữ, liên tục có những biểu hiện muốn dứt ra khỏi dây xích. Nói về nguyên nhân vụ việc này, một lãnh đạo Trung tâm Bảo tồn voi Đăk Lăk cho biết: “Do không gần gũi con voi này nên chúng tôi cũng không thể hiểu được hết tâm tính của nó. Tuy nhiên, con voi này có thể đã bị cáu giận do bị chọc tức trong lúc mệt mỏi”.
Ông Phạm Thanh Cao - Phó giám đốc Công ty Xiếc - Hài kịch Bình Minh cũng nhận định, có thể lúc này cháu Luật đã làm con voi tức giận. Theo ông Cao, con voi này là voi cái khoảng 40 tuổi, được mua tại Đăk Nông 10 năm trước và từ khi tham gia biểu diễn đến giờ chưa gây hại cho bất cứ ai.
Trả lời phóng viên, đại tá Lương Ngọc Lếp - Phó Giám đốc Công an tỉnh Đăk Nông - cho biết, Công an tỉnh đã chỉ đạo Công an huyện Đăk Mil khẩn trương điều tra vụ việc. Trong đó, phải làm rõ các vấn đề: Việc quản lý voi được thực hiện như thế nào? Trách nhiệm của đơn vị quản lý voi ra sao?
Về phía Công ty Xiếc - Hài kịch Bình Minh, ông Phạm Thanh Cao thừa nhận việc quản lý voi chưa được sát sao. Theo ông Cao, con voi được giao cho một người quản tượng chuyên chăm sóc và trông coi. Nếu đưa voi xuống đất thì sẽ có rào lưới xung quanh để đề phòng sự cố. Tuy nhiên, khi xảy ra vụ việc trên, con voi đang ở trên xe tải nên xung quanh không có che chắn gì.
Ông Cao cũng thừa nhận, khi xảy ra vụ việc, quản tượng đang đi ăn cơm, không có ai trông coi con voi. “Lỗi của đoàn là không quản lý chặt chẽ con voi nhưng cũng phải nhìn nhận là đã có tác động làm voi giận dữ”- ông Cao nói.
Còn ông Nhữ Văn Lâm, người được giao nhiệm vụ quản tượng, cho biết: “Tôi là người quản tượng nghiệp dư, công việc chính của tôi là lái xe. Tuy nhiên, mấy tháng nay, do người quản tượng về quê, tôi được giao luôn việc trông voi. Công việc của tôi là thường xuyên ở bên voi để nhắc nhở những người đến gần. Hôm 23.12, tôi vừa đưa voi về rồi ngồi cách đó chừng 30m ăn cơm thì xảy ra vụ việc”.
Được biết, trước mắt, con voi này tạm thời gửi cho Trung tâm Bảo tồn voi Đăk Lăk chăm sóc, chờ kết luận cuối cùng của cơ quan chức năng.
Sau khi xảy ra vụ việc, Công ty Xiếc - Hài kịch Bình Minh đã hỗ trợ gia đình nạn nhân 10 triệu đồng để lo an táng. UBND xã Đức Mạnh, Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện Đăk Mil cũng hỗ trợ gia đình nạn nhân (mỗi đơn vị 1 triệu đồng). Được biết, Luật là con của một gia đình khó khăn, nên đã nghỉ học. Chiều 24.12, gia đình tổ chức an táng cho nạn nhân.
Chiều 24.12, trao đổi với phóng viên, NSND Vũ Ngoạn Hợp- Giám đốc Liên đoàn Xiếc Việt Nam cho hay: “Là người nuôi dạy thú nhiều năm, tôi cho rằng cần có khu vực cấm và phải làm hàng rào, đặc biệt phải có người bảo vệ đứng trông để nhắc nhở, cấm khán giả, trẻ nhỏ không lại gần các động vật nguy hiểm”.
Theo NSND Vũ Ngoạn Hợp, thường thì các con vật của Liên đoàn Xiếc Việt Nam đều đã được thuần hóa, nên nghệ sĩ có thể biết được sự đổi tính nết. Trong khi với các đoàn xiếc rong, họ lại không có những con vật được thuần hóa từ bé mà thường đi thuê của bà con để quảng cáo, lôi kéo khán giả đến xem. Đây cũng có thể là nguyên nhân dẫn tới sự việc đau lòng voi xiếc quật chết bé trai 12 tuổi ở Đăk Nông.
Cũng theo NSND Vũ Ngoạn Hợp, đây là một trường hợp hy hữu, bởi như những con voi ở Liên đoàn Xiếc Việt Nam, ngày thường chúng cũng là một con vật rất thân thiện có thể diễu hành, đi cùng đoàn người bên cạnh. Nhưng với những ngày động dục, đói khát hay ức chế kéo dài cũng sẽ khiến voi trở nên hung dữ hơn. Và thường những ngày như vậy, những người chăm nuôi voi của Liên đoàn Xiếc phải giam giữ voi, không cho biểu diễn.
Theo tâm sự của NSND Vũ Ngoạn Hợp, việc quản lý thú của Việt Nam hiện có rất nhiều vấn đề. Ai có tiền, thích diễn là diễn được ngay, không cần bằng cấp, chứng nhận nguồn gốc hay chịu sự quản lý nào từ cơ quan nhà nước.
“Tôi nghĩ đây là một bộ môn cần đòi hỏi sự chuyên nghiệp, bằng cấp cơ bản. Phải đáp ứng được điều kiện an toàn cho chính người nuôi dạy và biểu diễn, sau đó là an toàn cho khán giả đến xem. Theo tôi được biết, nhiều đoàn xiếc rong bây giờ đi biểu diễn, điều kiện không có, chỉ với một chiếc ô tô tải bé cũ kỹ, xộc xệch chở quá nhiều đồ, thậm chí những con voi được đưa len lỏi khắp các tỉnh thành như vậy mà không có bất sự kiểm duyệt nào của các cơ quan chức năng”- NSND Vũ Ngoạn Hợp nói. (Nông Thôn Ngày Nay 25/12, tr7) đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tháng 12-2014, lực lượng kiểm lâm đã tổ chức nhiều đợt tuần tra, truy quét, kiểm tra chặt chẽ tại các tiểu khu trọng điểm. Tuy nhiên tại Nông lâm trường cao su Đồng Nai vẫn xảy ra tình trạng lâm tặc chặt phá cây rừng.
Thủ đoạn hoạt động của các đối tượng rất tinh vi, như phát rong cây con, bụi rậm trước, sau đó chờ ban đêm của những ngày nghỉ cuối tuần mới dùng cưa máy để hạ cây gỗ lớn. Do vậy, lực lượng bảo vệ rừng rất khó bắt quả tang đối tượng. Lợi dụng đêm tối, đối tượng cũng sẵn sàng chống trả lực lượng bảo vệ.
Đặc biệt, trong tháng, lực lượng bảo vệ rừng của Hạt kiểm lâm Bù Đăng và Nông lâm trường cao su Đồng Nai qua kiểm tra đã phát hiện 1 vụ cất giữ, tập kết 1,698 m3 gỗ trái phép.
Sau đó đối tượng kéo đến Chốt kiểm lâm địa bàn xã Đồng Nai gây áp lực đòi trả lại lâm sản, đồng thời tổ chức lực lượng ngăn cản, không cho xe của lực lượng kiểm lâm vào hiện trường thu gom lâm sản. Công an huyện đã phải hỗ trợ, giải tán đối tượng và thu gom tang vật. Vụ việc đang được Công an huyện Bù Đăng điều tra, xử lý.
Cũng trong tháng 12-2014, tại khoảnh 9, tiểu khu 184 thuộc Nông lâm trường cao su Đồng Nai xảy ra 1 vụ phá rừng trái pháp luật, diện tích bị thiệt hại là 0,29 ha, nhưng đến nay chưa xác định được đối tượng phá. (Báo Bình Phước 24/12) đầu trang(
Nhằm chủ động phòng chống hạn, mặn và hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do nắng hạn, thiếu nước gây ra, ngày 15/12/2014, UBND tỉnh Bình Dương ban hành Chỉ thị số 31/CT-UBND về việc “Tăng cường các biện pháp phòng, chống hạn, nhiễm mặn và cháy rừng trong mùa khô năm 2015” (HNMCR).
Theo đó, yêu cầu thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố Thủ Dầu Một thực hiện tốt các biện pháp cấp bách phòng, chống HNMCR trong mùa khô năm 2015.
Giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai hướng dẫn các địa phương, đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi lập kế hoạch thực hiện công tác phòng, chống hạn.
UBND các huyện, thị xã, thành phố Thủ Dầu Một, Công ty TNHH Một thành viên Cấp thoát nước - Môi trường Bình Dương chủ động lập kế hoạch, phương án phòng, chống hạn, nhiễm mặn cụ thể cho từng vùng, từng công trình, tăng cường các biện pháp bổ sung nguồn nước sinh hoạt, sản xuất.
Tuyên truyền nâng cao ý thức của người dân trong việc tiết kiệm, giữ vệ sinh nguồn nước; rà soát chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp; thường xuyên thông báo để nhân dân nắm bắt tình hình hạn, nhiễm mặn.
Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy tỉnh chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phối hợp với các huyện, thị xã, thành phố Thủ Dầu Một lập kế hoạch phương án cụ thể, nhằm tổ chức ứng cứu kịp thời khi có cháy xảy ra.
Sở Thông tin và Truyền thông, Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Dương, Báo Bình Dương và các cơ quan thông tin địa phương thường xuyên đưa tin phản ánh về công tác phòng, chống HNMCR. (Binhduong.gov.vn 22/12) đầu trang(
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nổ lực trong việc ngăn chặn tình trạng xâm hại đến rừng, nhưng đến nay rừng trên địa bàn huyện An Lão vẫn chưa “hạ sốt”.
Theo nhận định của ngành chức năng địa phương, thì từ nay đến Tết nguyên đán Ất Mùi -2015 là “mùa” lâm tặc tăng cường vào rừng săn bắt thú rừng, khai thác gỗ trái phép kiếm tiền chi tiêu Tết. UBND huyện An Lão vừa tổ chức họp các ngành chức năng và UBND các xã, thị trấn bàn giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn…
Theo báo cáo của Hạt Kiểm lâm huyện An Lão, từ đầu năm đến nay Đoàn Kiểm tra liên ngành của huyện đã chủ động phối hợp với kiểm lâm địa bàn, chính quyền các xã, thị trấn An Lão và các chủ rừng tổ chức 115 đợt kiểm tra, truy quét tại các khu rừng trọng điểm và cửa rừng đầu nguồn, phát hiện bắt giữ 68 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, giảm 21 vụ so với năm 2013, tịch thu gần 12m3 gỗ xẻ từ nhóm IIA đến nhóm VI, 13kg lan rừng, 225kg trái ươi, 07 máy cưa xăng, 05 xe mô tô và hủy tại rừng hơn 16m3 gỗ khác do địa hình cách trở không vận chuyển ra khỏi rừng được.
Đoàn Kiểm tra cũng đã tiến hành đập phá 25 lò nung than hầm và tháo dỡ 15 láng trại cất dựng trái phép trong rừng, đồng thời trục xuất ra khỏi cửa rừng 45 đối tượng lạ mặt nghi vấn có hành vi xâm hại đến rừng.
Cũng trong thời gian trên, Đoàn Kiểm tra liên ngành huyện An Lão còn phối hợp với lực lượng chức năng của huyện Hoài Ân tổ chức 04 đợt truy quét tại các vùng rừng giáp ranh tại tiểu khu 58 xã An Nghĩa (An Lão) và tiểu khu 65 xã ĐắkMang (Hoài Ân) phát hiện và tiêu hủy tại rừng gần 0,9m3 gỗ xẻ các loại.
Trong năm, huyện An Lão cũng đã tiến hành xử lý 93 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, (trong đó có 30 vụ năm 2013 chuyển sang), xử phạt vi phạm hành chính và phát mãi lâm sản nộp vào ngân sách Nhà nước hơn 286 triệu đồng.
Đặc biệt Tòa án nhân dân huyện An Lão đã đưa ra xét xử 02 bị cáo chống đối lại lực lượng kiểm lâm đang thi hành công vụ với hành vi đốt xe mô tô và tẩu tán lâm sản vận chuyển trái phép. Trong đó bị cáo Lê Thanh Nhàn (1981) bị tuyên phạt 6 tháng tù giam và bị cáo Trần Minh Cường (1983) bị tuyên phạt 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Theo ông Nguyễn Thanh Sinh, Hạt Trưởng Hạt Kiểm lâm huyện An Lão: “Nguyên nhân tình trạng xâm hại rừng trên địa bàn huyện An Lão chưa được ngăn chặn triệt để là do hiệu quả công tác tuyên truyền chưa cao; sự phối hợp giữa cơ quan thực thi pháp luật và chủ rừng thiếu chặt chẽ; Một số đối tượng thiếu việc làm, đời sống khó khăn, vì hám lợi trước mắt nên đã tham gia khai thác lâm sản, săn bắt, mua bán động vật rừng trái phép. Mặt khác, nguồn kinh phí để thực hiện công tác này vẫn còn hạn chế…”.
Ông Sinh cũng thừa nhận, trong thời gian tới tình hình khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn huyện An Lão vẫn còn diễn biến phức tạp, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán Ất Mùi -2015. Địa bàn lâm tặc hoạt động được xác định là ở những khu rừng có gỗ giá trị kinh tế cao, tập trung tại các tiểu khu 29, 38, 43 xã An Vinh; tiểu khu 57,58 xã An Nghĩa; tiểu khu 63,71 xã An Toàn. Phương tiện lâm tặc dùng để vận chuyển lâm sản trái phép chủ yếu là các loại xe độ chế không đủ điều kiện để lưu hành…
Để kịp thời ngăn chặn có hiệu quả tình trạng xâm hại rừng trên địa bàn huyện, mới đây UBND huyện An Lão đã họp các ngành chức năng và chính quyền các xã, thị trấn bàn các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng. Trong đó chú trọng đến công tác tuyên truyền, vận động người dân tích cực tham gia quản lý bảo vệ rừng, tố giác tội phạm xâm hại rừng, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số; không tiếp tay cho lâm tặc khai thác, cất giấu, lưu trữ lâm sản trái phép. Các lực lượng chức năng triển khai ngay kế hoạch truy quét tại các khu rừng trọng điểm trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán.
Hạt Kiểm lâm phối hợp với UBND các xã, thị trấn tiến hành rà soát, thống kê các cơ sở cưa xẻ gỗ, sản xuất đồ mộc dân dụng tại địa phương, qua đó xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm về sử dụng gỗ trái phép theo quy định của pháp luật.
Mặt khác, thường xuyên kiểm tra công tác lưu trú tại địa phương, ngăn chặn những người lạ mặt lưu trú làm ăn phi pháp; Vận động những cơ sở sửa chữa xe gắn máy không độ chế, cung cấp xe gắn máy không đủ điều kiện lưu hành cho lâm tặc vận chuyển lâm sản trái phép; Tố giác và xử lý nghiêm những cán6 bộ công quyền không hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao hoặc có biểu hiện cấu kết với lâm tặc.
UBND các xã, thị trấn khẩn trương rà soát các đối tượng thất nghiệp tại địa phương có hành vi khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép để đề nghị các cơ quan liên quan hỗ trợ về vốn, đất sản xuất, đào tạo nghề để có việc làm thu nhập chính đáng, ổn định đời sống, không tái phạm đến việc phá rừng… (Anlao.binhdinh.gov.vn 25/12)đầu trang(
23.12, tại khu vực Cầu Sa Cá thuộc tiểu khu 35 Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng (địa bàn xã Tân Hòa, huyện Tân Châu), dưới sự chứng kiến của đơn vị chủ rừng và công an huyện, Hạt kiểm lâm Tân Châu đã tiến hành thả số động vật hoang dã về rừng.
Vào khoảng 9 giờ ngày 21.12.2014, trong khi đang tuần tra, lực lượng kiểm lâm huyện Tân Châu đã phát hiện đối tượng Nguyễn Hàn Phong (thường trú xã Tân Hưng, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước) dùng xe môtô vận chuyển 157 con rắn ráo có trọng lượng 45kg từ tỉnh Bình Phước sang Tây Ninh tiêu thụ và không có giấy tờ hợp pháp.
Hạt Kiểm lâm Tân Châu đã lập biên bản tịch thu toàn bộ tang vật, đồng thời ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối tượng trên với số tiền 3 triệu đồng, theo Nghị định 157 ngày 11.11.2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Toàn bộ số rắn ráo trên đã được Hạt kiểm lâm huyện Tân Châu thả về môi trường hoang dã nhằm bảo tồn và phát triển. (Báo Tây Ninh 24/12)đầu trang(
Dù đến thực địa hay tham quan từ xa qua internet thì những hình ảnh về Bảo tàng Tài nguyên rừng Việt Nam đã khiến giờ học ngoại khóa của các em học sinh thêm sinh động với nhiều trải nghiệm bổ ích.
Học kỳ đầu của năm học 2014-2015 vừa qua, với sự hỗ trợ của Bảo tàng Tài nguyên rừng Việt Nam, nhiều trường học ở Hà Nội như THPT Chuyên ngữ, Đại học Ngoại ngữ (ĐHQG Hà Nội), THCS Thành Công (Ba Đình), tiểu học Đông Mỹ (Thanh Trì)… đã tổ chức nhiều chương trình ngoại khóa về môi trường, tài nguyên rừng.
Mô hình hoạt động này đã được đánh giá cao tại hội thảo “Trải nghiệm và sáng tạo về Giáo dục môi trường cho học sinh phổ thông”, ngày 20/12, do Bảo tàng Tài nguyên rừng Việt Nam, Bộ NN&PTNT, Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực, Bộ GD&ĐT tổ chức.
Bà Nguyễn Thị Điệp, Hiệu trưởng Trường THCS Đông Mỹ (Thanh Trì) cho biết đến với Bảo tàng Tài nguyên rừng Việt Nam các em học sinh đã có những trải nghiệm thực sự bổ ích khi tham quan bộ mẫu vật về động vật, thực vật, côn trùng và khu vườn thực vật rộng lớn. Bảo tàng cũng cung cấp những kiến thức mới lạ giúp cho các em củng cố mở rộng những kiến thức đã học tại nhà trường, giáo dục các em lòng yêu thiên nhiên, cây cối, đặc biệt là nâng cao ý thức bảo vệ rừng.
Chương trình có các hoạt động trải nghiệm giúp học sinh được tự do đưa ra những suy nghĩ của mình về đặc điểm một số loài động vật gần gũi như chuột, ve… Hoạt động vẽ lá cây và gửi thông điệp bảo vệ môi trường đòi hỏi học sinh phải kiên trì, khéo léo vuốt để gân lá nổi lên tờ giấy rồi tô màu, hình lá cây mới hiện lên được. Nhiều em hào hứng để chuyển tải những thông điệp “Tôi yêu rừng”, “Bạn ơi hãy trồng nhiều cây xanh”…
Khi tham gia trải nghiệm, làm thí nghiệm về xói mòn, học sinh hiểu hơn về tác dụng của cây rừng - vệ sĩ của loài người, chiếc ô bảo vệ mặt đất. Qua đó, thấy vai trò, tầm quan trọng của rừng đối với môi trường sống, từ đó nâng cao ý thức bảo vệ, phát triển rừng bền vững và bảo vệ môi trường.
Đại diện Trường THPT Chuyên ngữ Đại học Ngoại ngữ (ĐHQG Hà Nội), chia sẻ: “Qua các giờ ngoại khóa tại Bảo tàng Tài nguyên rừng Việt Nam, các em học sinh được tiếp cận và ứng dụng các kiến thức về tài nguyên rừng, vai trò của rừng, bảo vệ rừng một cách trực tiếp, mới lạ và cụ thể, đồng thời được thực hiện các thí nghiệm và thỏa sức sáng tạo theo trí tưởng tượng phong phú của mình trong thiên nhiên”.
Cô Lã Minh Phương,giáo viên Trường THCS Thành Công (Ba Đình-Hà Nội) bày tỏ sự ủng hộ và hy vọng mô hình “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo” cho học sinh THCS sẽ được triển khai phổ biến trong tất cả các môn học cho tất cả học sinh các trường. Đây sẽ là một giải pháp hữu ích để nâng cao chất lượng giáo dục. (Chính Phủ 24/12) đầu trang(
UBND tỉnh vừa triển khai phương án kiểm tra, truy quét các địa bàn trọng điểm về phá rừng, khai thác lâm sản, khoáng sản và vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép trước, trong và sau Tết Nguyên đán 2015.
Phương án xác định 4 địa bàn trọng điểm phá rừng, khai thác lâm sản trái phép; 8 địa bàn trọng điểm khai thác lâm sản, khoáng sản trái phép và các tuyến trọng điểm vận chuyển lâm sản trái phép được xác định là đường Hồ Chí Minh, quốc lộ 14 E, 14B, 14G và tuyến ĐT 616 cùng các tuyến sông Vu Gia, Thu Bồn.
UBND tỉnh yêu cầu các huyện, thành phố căn cứ vào tình hình thực tế, các địa phương có trách nhiệm xây dựng kế hoạch cụ thể để tổ chức triển khai có hiệu quả phương án của UBND tỉnh; đồng thời thành lập các đội kiểm tra liên ngành cấp huyện để làm nòng cốt trong việc triển khai kế hoạch kiểm tra, truy quét cấp huyện.
Các sở, ngành liên quan tăng cường nắm bắt thông tin, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật và lợi dụng thời gian nghỉ Tết Nguyên đán để thu lợi bất hợp pháp.
Bên cạnh đó, mở các đợt cao điểm kiểm tra các cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản trước Tết Nguyên đán, xử lý nghiêm và đình chỉ hoạt động đối với các cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản vi phạm pháp luật nhằm lập lại trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực kinh doanh, chế biến lâm sản... (Báo Quảng Nam 25/12)đầu trang(
Nhận được nguồn tin do nhân dân cung cấp, Đội Kiểm lâm cơ động và Phòng cháy chữa cháy rừng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tiến hành kiểm tra và bắt giữ 2 xe ô tô vận chuyển lâm sản trái phép từ xã Bạch Đằng (Hòa An) ra Thành phố.
Vào lúc 9 giờ ngày 22/12, khi đang làm nhiệm vụ, Đội Kiểm lâm cơ động và Phòng cháy chữa cháy rừng đã tiến hành kiểm tra 2 xe ô tô mang biển kiểm soát 11C-01438 do anh Hoàng Đức Nghị, sinh năm 1980, trú tại tổ 1, phường Sông Bằng (Thành phố) và xe ô tô mang biển kiểm soát 11K-4042 do anh Hà Xuân Việt, sinh năm 1983, trú tại xóm Nà Roác, xã Bạch Đằng (Hòa An) điều khiển vận chuyển gần 1 m3 gỗ các loại trái phép đi từ hướng xã Bạch Đằng (Hòa An) ra Thành phố.
2 lái xe không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp số gỗ vận chuyển. Đội Kiểm lâm cơ động và Phòng cháy chữa cháy rừng tiến hành lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính 12 triệu đồng (mỗi xe 6 triệu đồng) về hành vi mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật; tạm giữ phương tiện vận chuyển cùng toàn bộ số gỗ trên đưa về Chi cục Kiểm lâm tỉnh giải quyết theo quy định của pháp luật. (Báo Cao Bằng 25/12)đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Nhiều diện tích rừng phòng hộ tại xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh đang bị lâm tặc đốn hạ. (Nhân Dân 25/12, tr7) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo thống kê, trong khoảng gần 4.000 loài thực vật có giá trị kinh tế cao, có nhiều loài lâm sản ngoài gỗ (LSNG). Một số loài LSNG có uy tín và khối lượng thương mại đáng kể trên thị trường xuất khẩu gồm sản phẩm mây tre, hồi, quế, thảo quả...
Thực tế cho thấy, các sản phẩm LSNG là một trong những nguồn thu nhập quan trọng, đáp ứng nhu cầu thiết yếu, chăm sóc sức khỏe hàng ngày cho các hộ gia đình kể cả hộ nghèo, góp phần xoá đói giảm nghèo cho người dân sống ở miền núi nước ta đặc biệt là các hộ gia đình thuộc các cộng đồng dân tộc thiểu số vùng cao.
Hơn nữa, việc sản xuất và phát triển các sản phẩm LSNG chủ yếu ở nước ta đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao đời sống cho cộng đồng người dân khu vực miền núi. Các sản phẩm này không những được sử dụng tại chỗ phục vụ cho đời sống của người dân địa phương như cung cấp thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, cung cấp nguyên liệu làm phân bón, thuốc chữa bệnh,... từ đó góp phần đảm bảo an toàn lương thực, chăm sóc sức khoẻ, cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ đời sống.
Đặc biệt, trong những năm gần đây còn góp phần tích cực vào việc nâng cao thu nhập, giúp xóa đói giảm nghèo cho khoảng hơn 100.000 hộ gia đình sống ở miền núi nước ta. Chính quyền địa phuơng và cộng đồng đã xác định chúng là sản phẩm chính giúp phát triển kinh tế và giảm nghèo.
Theo ước tính chưa đầy đủ, tại các địa phương có sản xuất các sản phẩm LSNG chủ yếu, thu nhập trung bình của hộ gia đình từ các sản phẩm này chiếm tỷ trọng khoảng 32% tổng thu nhập kinh tế của hộ gia đình. Trong đó, các hộ gia đình khá giả chiếm tỷ trọng cao nhất. Do đó, sản xuất các sản phâm LSNG chính ở nước ta đã thu hút hàng trăm nghìn lao động khu vực miền núi tham gia, nhất là lao động ở vùng sâu, vùng xa như Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Quảng Ninh...
Chính vì thế, việc phát triển một số loài LSNG chính là góp phần cung cấp lượng hàng hóa lớn cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, là nguồn đóng góp quan trọng cho kinh tế địa phương và đất nước.
Theo Viện nghiên cứu lâm nghiệp Việt Nam, trong thời gian gần đây, cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, giá trị kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm LSNG chính như mây, tre, hồi, quế, thảo quả có xu hướng tăng lên, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu, mang lại nguồn thu nhập cho các địa phương nói riêng và nền kinh tế nước ta nói chung. Theo ước tính năm 2010, giá trị sản xuất của các sản phẩm này ở những địa phương chiếm 30 - 40% tổng giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp. Giá trị xuất khẩu đạt gần 400 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 15%.
Do đó, sản xuất LSNG đã giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế của rừng, đóng góp vào thu nhập kinh tế của các địa phương miền núi, nâng cao tỷ trọng cơ cấu sản xuất của ngành lâm nghiệp trong cơ cấu kinh tế của các địa phương ở miền núi. Hơn nữa, phát triển LSNG, trong đó có mây, tre, quế, hồi, thảo quả… cũng có ý nghĩa trong việc góp phần đảm bảo an toàn lương thực, chăm sóc sức khoẻ, cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ đời sống, đảm bảo an sinh xã hội cho vùng miền núi.
Thực tế cũng cho thấy, phát triển LSNG thúc đẩy các ngành công nghiệp phát triển. Hiện nay, nhiều ngành công nghiệp của Việt Nam phải dựa trên nguồn nguyên liệu là các LSNG như mây, tre, quế, hồi, thảo quả, nhựa thông, thể hiện rõ rệt nhất là ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, dược và hóa mỹ phẩm. Do đó, việc sản xuất các sản phẩm này nhằm cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến sẽ vừa tăng cường sức mạnh của các ngành công nghiệp này vừa thúc đẩy rất mạnh sự phát triển của công nghiệp địa phương.
Bên cạnh đó, phát triển LSNG góp phần thu hút tạo việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân, góp phần tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế, đảm bảo an sinh xã hội cho người dân sống ở miền núi nước ta.
Trong nhiều năm qua hoạt động sản xuất một số LSNG chính ở nước ta đã đóng vai trò quan trọng trong thu hút hàng trăm nghìn lao động ở các địa phương, tận dụng lao động nhàn rỗi, góp phần nâng cao đời sống người dân đặc biệt là đồng bào các dân tộc miền núi và các vùng cao, vùng xa chưa được nhà nước đầu tư thích đáng. Việc phát triển một số LSNG chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Do việc thu hái, gieo trồng, sơ chế một số LSNG chính tương đối đơn giản, không đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, nên người dân miền núi có điều kiện tham gia việc thu hái, gieo trồng và sơ chế các sản phẩm LSNG chính.
Việc phát triển sản xuất một số LSNG chính không chỉ thu hút các lao động có sức khoẻ mà trẻ em, phụ nữ, người già cũng có thể tham gia. Việc sản xuất LSNG chủ yếu ở miền núi đã mang lại những kết quả rất rõ rệt để làm tăng thu nhập, góp phần xoá đói giảm nghèo cho người dân. Đặc biệt nhiều gia đình, thôn bản nhờ tập quán sản xuất LSNG đã trở nên khá giả, từ đó gìn giữ giá trị tinh thần của người dân miền núi.
Đáng chú ý, phát triển LSNG góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Do đặc trưng nổi bật của LSNG là một bộ phận quan trọng của hệ sinh thái rừng, có khả năng phục hồi nhanh, luôn có khả năng duy trì trạng thái cân bằng của hệ sinh thái rừng tốt, khi khai thác LSNG gần như ít tổn hại đến rừng.
Do đó, phát triển một số LSNG chủ yếu sẽ góp phần khôi phục, nâng cao độ che phủ của rừng, bảo tồn đa dạng sinh học. Gây trồng và phát triển LSNG chủ yếu trong những khu rừng không thích hợp cho sản xuất gỗ đã giúp nâng cao giá trị của những khu rừng này, là một phương thức bảo vệ về mặt kinh tế chống lại việc chuyển đổi đất lâm nghiệp sang mục đích sử dụng khác.
Chỉ có LSNG với đặc điểm dễ trồng, mau thu hoạch, có giá trị cao mới có thể sớm tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người dân miền núi để giảm sức ép của họ lên các khu Bảo tồn.
Gây trồng và phát triển LSNG không những góp phần vào bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học mà còn tạo ra cảnh quan đẹp, hấp dẫn, vừa có lợi cho sức khỏe con người, vừa đáp ứng nhu cầu giải trí tinh thần cho khách tham quan du lịch và gián tiếp mang lại nguồn thu nhập kinh tế cho địa phương. (Đảng Cộng Sản VN 24/12) đầu trang(
Tại lễ tổng kết Dự án trồng rừng Việt Đức pha III (KFW-pha III) giai đoạn 2007-2013 diễn ra ngày 24/12, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đặng Huy Hậu cho biết, sau 7 năm thực hiện, các địa phương thuộc dự án gồm huyện Đông Triều, Ba Chẽ và Tiên Yên đã trồng, khoanh nuôi tái sinh được hơn 4.000ha, đạt 97,2% mục tiêu ban đầu.
Hiện toàn bộ diện tích rừng này đều sinh trưởng và phát triển tốt, góp phần đưa độ che phủ của rừng toàn tỉnh năm 2014 đạt 53,5%, cao hơn mục tiêu đề ra.
Dự án cũng đã tạo việc làm cho gần 3.000 hộ gia đình ở vùng sâu, xa, giúp tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo. Đặc biệt, người dân tham gia dự án đều nâng cao hiểu biết về lâm nghiệp, nắm bắt được các biện pháp kỹ thuật về sản xuất cây con, trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, quản lý bảo vệ phát triển kinh doanh rừng hiệu quả và bền vững. Các bước triển khai dự án còn góp phần thực hiện tốt các chế độ chính sách giao đất, giao rừng của nhà nước tại các địa phương.
Quảng Ninh là một trong 3 tỉnh trên toàn quốc sớm thực hiện dự án trồng rừng Việt Đức. Trong đó giai đoạn 2007- 2013, Quảng Ninh tham gia dự án “Phục hồi và quản lý rừng bền vững” (KFW-Pha III) với tổng giá trị đầu tư 4 triệu euro.
Nhân dịp này Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã tặng bằng khen cho 6 tập thể, 10 cá nhân đã có thành tích xuất sắc trong việc triển khai dự án trồng rừng Việt Đức pha III giai đoạn 2007 - 2013. (VietnamPlus 24/12)đầu trang(
Sáng 22 – 12, UBND tỉnh tổ chức “Hội nghị Triển khai thực hiện kế hoạch kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 và Kế hoạch triển khai công tác điều tra, kiểm kê rừng trên địa bàn tỉnh năm 2014 – 2015”.
Ông Nguyễn Đức Quyền, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, chủ trì hội nghị. Tại hội nghị, đại diện Văn phòng UBND tỉnh đã công bố và triển khai Quyết định số 4577/QĐ-UBND, ngày 19 – 12 về việc “Giao nhiệm vụ thực hiện kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014” của Chủ tịch UBND tỉnh. Theo đó, UBND tỉnh giao nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành liên quan cũng như UBND các huyện, thị xã, thành phố - để triển khai thực hiện thắng lợi kế hoạch.
Đại diện lãnh đạo các sở: Tài Nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phổ biến những quy định chung, mục đích, yêu cầu, phạm vi, nguyên tắc, hướng dẫn thực hiện kế hoạch điều tra, kiểm kê đất đai và rừng.
Sau hội nghị, các đơn vị liên quan có trách nhiệm xây dựng phương án, trình UBND tỉnh. Các bước tiếp theo sẽ được triển khai đồng bộ trong các tháng đầu và giữa năm 2015. Trường Đại học Lâm Nghiệp được chọn làm đơn vị tư vấn, có trách nhiệm cùng tỉnh thực hiện các bước của kế hoạch.
Đây là nội dung hiện thực hóa Quyết định 594/QĐ – Ttg ngày 15 – 4 – 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Dự án “Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013 – 2016”.
Phát biểu chỉ đạo hội nghị, ông Nguyễn Đức Quyền khẳng định: Việc đánh giá chính xác hiện trạng rừng, đất đai là rất cần thiết; là cơ sở để tỉnh, các địa phương đưa ra kế hoạch, các chính sách phát triển lâu dài. Tuy nhiên, những lần kiểm kê trước, do thực hiện thủ công nên độ chính xác không cao. Bên cạnh đó, hiện trạng đất rừng liên tục có thay đổi nên cần kiểm kê lại.
Thay mặt lãnh đạo tỉnh, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh chỉ đạo các ngành liên quan, các đơn vị, địa phương: triển khai kế hoạch kiểm kê đất đai và rừng tại cơ sở của mình một cách nghiêm túc, đồng bộ, chính xác.
Kết quả cuối cùng của kiểm kê đất đai phải hướng tới sử dụng đất có hiệu quả, hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân đang sử dụng đất… Việc kiểm kê rừng cũng phải đánh giá được hiện trạng rừng một cách chính xác, tiến tới cấp chứng chỉ rừng cho các chủ rừng. (Báo Thanh Hóa 22/12) đầu trang(
Tỉnh Quảng Ngãi hiện có hơn 3.200 hộ nghèo được hỗ trợ xây dựng nhà ở theo Quyết định 167 của Thủ tướng Chính phủ. Nhà đã xây xong nhưng tiền hỗ trợ thì chưa thấy đâu. Không có tiền trả nợ, nhiều người nghèo xây nhà dở dang hoặc phải bán rừng non để trả nợ.
Dù nguồn tiền hỗ trợ chưa được nhận đủ nhưng ông Đinh Văn Nam ở xã Sơn Nham, huyện Sơn Hà quyết bán vườn keo và vay mượn thêm để xây nhà ở. Ông Nam tính toán, khi nhận khoản tiền doanh nghiệp hỗ trợ người nghèo và vốn vay của Ngân hàng Chính sách xã hội, gia đình sẽ trả phần tiền vay mượn đó.
Bây giờ, nhà mới chưa xây xong mà ông Đinh Văn Nam lại đứng ngồi không yên vì tiền hỗ trợ làm nhà theo Quyết định 167 vẫn chưa nhận đủ, trong khi khoản nợ vay xây nhà đến hạn phải trả: “Bán 2 rẫy keo mình có tiền thì làm xong cái nhà này trước Tết” – ông Nham nói trong lo âu.
Nhiều hộ nghèo ở tỉnh Quảng Ngãi có hoàn cảnh như ông Nam. Hộ thì đang xây dựng dở dang phải dừng lại, hộ thì thành con nợ của nhà thầu do không có tiền trả công. Hộ thì đã bán hết trâu bò, thậm chí cầm cố cả vườn tược để trả tiền vật liệu xây dựng. Vì vậy, nguy cơ tái nghèo là điều không tránh khỏi.
Ông Đinh Văn Siêng, ở xã Sơn Bao, huyện Sơn Hà cho biết: “Bán keo non để làm nhà chương trình 167. Trước mắt, kiếm tiền làm cho hoàn thành cái nhà đã”.
Ông Nguyễn Phong, Chủ tịch UBND huyện Sơn Hà cho biết, toàn huyện hiện có hơn 100 hộ nghèo được hỗ trợ xây nhà thuộc chương trình 167 đã vay mượn khắp nơi để xây nhà ở nhưng chưa có tiền trả nợ. Địa phương chưa thống kê được có bao nhiêu hộ phải bán rừng non để trả nợ nhưng con số này không phải là ít. “Một số hộ đang trong tình trạng trả nợ vay. Do đó cũng phải bán tài sản như bán keo, bán mì để trả nợ”.
Chương trình 167 hỗ trợ người nghèo xây dựng nhà ở của Chính phủ nhằm giúp người nghèo có chỗ ở ổn định, thoát nghèo bền vững. Thế nhưng bây giờ, người nghèo ở tỉnh Quảng Ngãi đành phải bán tài sản để trả nợ xây dựng nhà, mất đi ý nghĩa của chương trình này. (VOV 25/12)đầu trang(
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải vừa chỉ đạo các bộ, ngành liên quan khi quản lí việc nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ Campuchia phải thực hiện tương tự như điều kiện, trình tự, thủ tục nhập khẩu gỗ từ các quốc gia khác, cơ quan quản lí không được yêu cầu thêm thủ tục, chứng từ đối với DN khi nhập khẩu gỗ từ Campuchia ngoài thủ tục, chứng từ theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Phó Thủ tướng yêu cầu, các DN nhập khẩu gỗ từ Campuchia phải tự chịu trách nhiệm về việc tuân thủ quy định pháp luật của nước sở tại.
Năm 2014, Bộ Công Thương ban hành Thông tư 01/2014/TT-BCT quy định về nhập khẩu gỗ từ Campuchia, trong đó “Thương nhân nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ Campuchia phải tuân thủ đúng quy định pháp luật của Campuchia và pháp luật của Việt Nam” (điểm này khác với quy định nhập khẩu gỗ từ các quốc gia khác).
Tuy nhiên, theo Bộ Tài chính, cụ thể pháp luật của Campuchia mà DN phải tuân thủ là quy định gì thì Thông tư chưa có quy định rõ ràng. Mặt khác cơ quan quản lí cũng không có cơ sở để kiểm tra việc tuân thủ pháp luật Campuchia của DN Việt Nam và cũng không có chế tài để xử lí khi DN vi phạm pháp luật Campuchia.
Hơn nữa, trong hoạt động thương mại và thông lệ, DN hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam hay Campuchia phải thực hiện theo quy định pháp luật của mỗi nước và khi vi phạm cũng sẽ phải xử lí theo chế tài từng quốc gia.
Do đó, để thống nhất quản lí đối với mặt hàng gỗ nhập khẩu từ Campuchia, Bộ Tài chính đã có văn bản kiến nghị Chính phủ thực hiện phương thức quản lí hoạt động nhập khẩu gỗ từ Campuchia của cơ quan Hải quan tương tự như các mặt hàng gỗ và các loại hàng hóa từ nước khác (khi nhập khẩu vào Việt Nam). (Thời Báo Kinh Doanh 24/12, tr12) đầu trang(
Việc chi trả dịch vụ môi trường rừng ở tỉnh Kon Tum góp phần làm sống lại những cánh rừng và phủ xanh đồi núi trọc, đã khẳng định được hiệu quả của chính sách này.
Từ khi thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, trung bình mỗi năm tỉnh Kon Tum có nguồn thu trên 100 tỷ đồng từ 11 thủy điện trên địa bàn tỉnh. Nhờ có nguồn ngân sách này, công tác bảo vệ rừng, giao rừng cho người dân, doanh nghiệp, tổ chức trồng và quản lý rừng đã đạt được kết quả khả quan.
Tác động tích cực, rõ nét nhất từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng chính là đã tạo lập được cơ sở kinh tế bền vững, người dân, tổ chức Nhà nước có nguồn thu từ đó yên tâm bảo vệ rừng.
Ông Hồ Đắc Thanh, Giám đốc Vườn quốc gia Chư Mom Rây cho biết: Nguồn ngân sách cấp hàng năm chỉ đủ cho việc trả lương cho cán bộ, công nhân, nên trước đây mọi hoạt động như phòng cháy chữa cháy rừng, mua sắm trang thiết bị cho công tác quản lý, bảo vệ rừng, đều thiếu kinh phí. Từ khi có nguồn dịch vụ môi trường rừng được chi trả hơn 5 tỷ đồng trên diện tích rừng hơn 9.000 ha, công tác quản lý bảo vệ rừng của đơn vị đã có bước chuyển biến.
Đơn vị đã chủ động hơn trong việc triển khai các hoạt động quản lý bảo vệ rừng, đặc biệt trong công tác tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, công tác diễn tập phòng cháy chữa cháy hàng năm. Nguồn kinh phí từ dịch vụ môi trường rừng cũng giúp đơn vị đẩy mạnh việc giao khoán rừng cho cộng đồng, hộ gia đình bảo vệ rừng. Đây là cách bảo vệ rừng hiệu quả nhất.
Bên cạnh đó, từ nguồn quỹ của việc chi trả dịch vụ môi trường rừng, mà hàng năm công tác giao khoán rừng cho các hộ cá nhân, tập thể, cộng đồng ở Kon Tum cũng được thuận lợi hơn; qua đó góp phần ngăn chặn tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng hiệu quả. Nếu như trước đây, huyện Tu Mơ Rông là điểm nóng hoạt động khai thác lâm sản trái phép, đốt phá rừng làm nương rẫy, thì nay tình trạng này đã giảm hẳn.
Việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cũng giúp tỉnh Kon Tum đẩy nhanh được tiến trình giao đất, giao rừng. Đến nay, hơn 600.000 ha rừng cùng với diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh đã có chủ thể quản lý. Riêng diện tích khoán cho trên 5.000 hộ dân và 23 cộng đồng là gần 130.000 ha; giúp người dân có cuộc sống ổn định, đặc biệt là đời sống của các hộ dân đồng bào dân tộc thiểu số.
Ông Nguyễn Văn Nam, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum cho biết: Quỹ dịch vụ môi trường rừng này đã có tác động tích cực đến công tác quản lý, bảo vệ rừng của tỉnh Kon Tum. Nhờ nguồn quỹ này, công tác giao khoán rừng, quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng đã có những bước chuyển biến tích cực. Các công ty lâm nghiệp có kinh phí để hoạt động, chi trả cho hoạt động của công ty và công tác quản lý, bảo vệ rừng. Các cá nhân, hộ gia đình, tập thể, cộng đồng nhận rừng có nguồn thu nhập ổn định. (Tin Tức 25/12) đầu trang(
Với diễn biến cực đoan và bất thường của thời tiết, sự xáo trộn của mùa vụ, những tưởng ngành lâm nghiệp Lào Cai không thể hoàn thành chỉ tiêu trồng rừng khi mà đến tháng 6/2014 mới đạt chưa tới 30% kế hoạch của năm.
Nhưng bằng sự nỗ lực của ngành lâm nghiệp, của các địa phương, đến nay, diện tích rừng trồng mới toàn tỉnh đã đạt 7.600/6.610 ha, vượt gần 1.000 ha so với kế hoạch.
Ngay từ đầu năm 2014, ngành lâm nghiệp đã phải đối mặt với diễn biến thời tiết phức tạp là mưa tuyết, sương muối trên diện rộng, rét đậm, rét hại kéo dài. Đến đầu mùa hè, nắng nóng, khô hạn lại giáng thêm một đòn vào ngành lâm nghiệp đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc gieo, ươm và chăm sóc cây giống.
Ông Vũ Hồng Điệp, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp cho biết: Trận mưa tuyết, băng giá, rét đậm đầu năm khiến cho nhiều diện tích rừng trồng 1 - 2 năm tuổi bị chết. Đầu hè, thời tiết nắng nóng, hạn hán kéo dài khiến cây giống vụ xuân vẫn phải để trong vườn ươm, thấp thỏm chờ mưa.
Trong khi đó, nhiều hộ dân thuộc các huyện vùng thấp chuyển sang trồng cây quế, đã giãn thời vụ trồng rừng vào những tháng cuối năm. Đối với công tác trồng rừng phòng hộ tại các huyện vùng cao, thời vụ trồng dồn vào cuối năm, trong khi quy hoạch đất cho diện tích này manh mún, phân bố rải rác và ở vùng sâu, vùng xa cũng là trở ngại rất lớn cho công tác này. Một khó khăn mang tính chủ quan được ngành lâm nghiệp nghiêm túc đánh giá là hoạt động của ban quản lý rừng phòng hộ cấp cơ sở chưa kịp thời...
Trước thực trạng đó, ngành lâm nghiệp đã có nhiều nỗ lực với quyết tâm cao nhằm hoàn thành kế hoạch trồng rừng. Đó là việc cử cán bộ xuống địa bàn để thu thập và tổng hợp số liệu theo từng tuần, tháng; với những vướng mắc nảy sinh, ngành tổ chức nhiều cuộc họp, hội nghị để bàn giải pháp tháo gỡ.
Cùng với đó, nhiều cách làm hay, sáng tạo đã được triển khai, như việc xây dựng kế hoạch thực hiện chi tiết đối với từng địa phương, địa bàn, kiểm tra sát sao các vườn ươm cây giống, đẩy mạnh gieo ươm bổ sung; thời tiết phức tạp nên chỉ chọn những cây khỏe, đủ chất lượng, đạt tiêu chuẩn mới được phép đưa ra trồng. Ngành lâm nghiệp cũng kiểm soát chặt chẽ hơn và kiên quyết không chạy theo số lượng mà ảnh hưởng đến chất lượng.
Riêng Chi cục Lâm nghiệp đã tăng cường hàng trăm lượt cán bộ kỹ thuật để vận động, tuyên truyền, hướng dẫn cho các chủ vườn ươm, người dân về kỹ thuật làm đất, gieo cây giống, trồng và chăm sóc rừng. Các điều kiện về vật tư, phân bón cũng được đáp ứng đầy đủ và kịp thời cho công tác trồng rừng, nhất là khi tỉnh ban hành các chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp, người dân và các chủ rừng.
Tính đến nay, công tác trồng rừng đã hoàn thành 7.600/6.610 ha, vượt gần 1.000 ha so với kế hoạch năm 2014. Có được kết quả như trên, trước hết là sự chủ động của ngành lâm nghiệp, tiếp đó là những nỗ lực, cố gắng từ người dân và tinh thần quyết tâm cao của chính quyền cơ sở, các đơn vị có liên quan.
Điển hình trong công tác trồng rừng năm 2014 phải kể tới huyện Bát Xát. Những năm trước, địa phương thường về đích chậm, thì năm nay hoàn thành sớm hơn với diện tích rừng trồng mới đạt 765 ha, vượt kế hoạch 15 ha.
Ông Phùng Thanh Bình, Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Bát Xát cho biết: Để triển khai hiệu quả, huyện đã tổ chức nhiều hội nghị chuyên đề và thành lập ban chỉ đạo trồng rừng tại các xã, thị trấn để bám sát nhiệm vụ. Công tác tuyên truyền về ý nghĩa, lợi ích của việc trồng rừng cũng được đẩy mạnh, nhất là đối với địa phương có chỉ tiêu cao.
Ông Chảo Vần Chẳn, thôn Sải Duần, xã Phìn Ngan (Bát Xát) nói: Gia đình tôi có mảnh nương cằn cỗi nên bỏ hoang, được cán bộ xuống vận động trồng rừng, nên vợ chồng tôi đã thực hiện ngay. Hiện, diện tích rừng của gia đình tôi đang phát triển rất tốt.
Một năm vượt khó, diện tích trồng rừng tuy thấp hơn so với năm 2013, nhưng đó lại là nỗ lực đáng ghi nhận của ngành lâm nghiệp và các địa phương. (Báo Lào Cai 23/12) đầu trang(
Sáng 24-12, tại TP Hạ Long, ông Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã chủ trì Hội nghị tổng kết Dự án trồng rừng Việt Đức pha III (KFW-pha III).
Theo báo cáo đánh giá tạo Hội nghị, Quảng Ninh là một trong 3 tỉnh trên toàn quốc sớm thực hiện dự án trồng rừng Việt Đức. Trong đó giai đoạn 2007-2013, Quảng Ninh tham gia dự án “Phục hồi và quản lý rừng bền vững” gọi tắt là KFW-Pha III với tổng giá trị đầu tư 4 triệu EUR (bao gồm 3 triệu EUR tài trợ không hoàn lại của Chính phủ Đức và 1 triệu EUR từ Quỹ chênh lệnh lãi suất các dự án vay ODA).
Mục tiêu của dự án là thiết lập 4.210ha rừng tại 6 xã thuộc 3 huyện trên địa bàn tỉnh, bao gồm xã Tràng Lương (Đông Triều), Điền Xá, Yên Than (Tiên Yên), Đạp Thanh, Thanh Sơn, Thanh Lâm (Ba Chẽ). Trong khuôn khổ của dự án, các hộ dân tham gia dự án được hỗ trợ về giống, vật tư, kỹ thuật, chi phí trồng và chăm sóc, quản lý, bảo vệ rừng.
Sau 7 năm thực hiện, đến thời điểm này các địa phương thuộc dự án đã trồng, khoanh nuôi tái sinh được 4.091,57ha, đạt 97,2% mục tiêu ban đầu. Hiện toàn bộ diện tích rừng này đều sinh trưởng và phát triển tốt, đang phát huy tác dụng, đưa độ che phủ của rừng toàn tỉnh năm 2014 đạt 53,5%, cao hơn mục tiêu đề ra.
Dự án cũng đã tạo việc làm cho gần 3.000 hộ gia đình ở vùng sâu, xa tăng thu nhập, cải thiện đời sống vật chất lâu dài, góp phần xóa đói giảm nghèo. Các bước triển khai dự án còn góp phần thực hiện tốt các chế độ chính sách giao đất, giao rừng của nhà nước tại các địa phương, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân về bảo vệ tài nguyên môi trường, sinh thái ổn định.
Đặc biệt người dân tham gia dự án đều nâng cao hiểu biết về lâm nghiệp, nắm bắt được các biện pháp kỹ thuật về sản xuất cây con, trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, quản lý bảo vệ phát triển kinh doanh rừng hiệu quả và bền vững.
Kết luận tại Hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đặng Huy Hậu khẳng định Dự án trồng rừng Việt Đức pha III tại Quảng Ninh đã và đang thể hiện rõ hiệu quả, tác động toàn diện trên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Trong đó quan trọng nhất là chuyển đổi nhận thức của người dân đối với cung cách làm ăn trong lâm nghiệp.
Qua đó, Phó Chủ tịch tỉnh nhấn mạnh vấn đề đặt ra thời điểm này là tiếp tục quản lý, bảo vệ và phát triển diện tích này như thế nào sao cho hiệu quả và bền vững. Đối với diện tích chưa đến tuổi khai thác, các địa phương cần phải nghiên cứu áp dụng các mô hình sản xuất dựa vào rừng để người trồng, chăm sóc rừng có nguồn thu tại chỗ, vừa đáp ứng nhu cầu cuộc sống vừa tăng cường bảo vệ và phát triển rừng.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đặng Huy Hậu cũng đề xuất Ban điều hành dự án trồng rừng Việt-Đức trung ương quan tâm tạo điều kiện cho Quảng Ninh được tham gia các dự án phát triển rừng khác để có thể đạt hiệu quả cao hơn trong phát triển lâm nghiệp. Trong đó Quảng Ninh có lợi thế về diện tích lâm nghiệp rộng lớn và phát triển rừng ngập nước.
Nhân dịp này UBND tỉnh đã tặng bằng khen cho 6 tập thể, 10 cá nhân; Sở NN&PTNT khen thưởng 11 tập thể, 51 cá nhân đã có thành tích xuất sắc trong việc triển khai dự án trồng rừng Việt Đức pha III. (Báo Quảng Ninh 24/12) đầu trang(
Những năm qua, Dự án trồng rừng 147 đang được chính quyền các địa phương và người dân trên địa bàn tỉnh rất ủng hộ.
Tuy nhiên, do một số loại cây người dân có nhu cầu trồng nhưng lại không nằm trong danh mục cấp cây con giống của Dự án nên đã xảy ra tình trạng cây cấp một đằng, người dân lại trồng một nẻo, ảnh hưởng đến tổng diện tích trồng rừng chung của toàn tỉnh.
Tình trạng cây cấp một đằng, trồng một nẻo chủ yếu xảy ra đối với những diện tích người dân đăng ký trồng cây quế. Đơn cử như tại huyện Chợ Đồn, vụ trồng rừng năm 2014, toàn huyện đăng ký trồng trên 40 ha cây quế, song do không có giống nên nhiều diện tích rừng mặc dù đã được xử lý thực bì nhưng người dân vẫn không hoàn thành trồng theo kế hoạch.
Theo Thông tư liên tịch số 03 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn- Bộ Tài chính quy định việc thực hiện mức hỗ trợ trồng rừng thì đối với các xã đặc biệt khó khăn sẽ được hỗ trợ 4,5 triệu đồng/ha với cây gỗ lớn trên 10 năm tuổi, có nghĩa là các xã đặc biệt khó khăn sẽ được cấp 100% tiền cây giống trong phạm vi số vốn cho phép.
Còn ngoài xã đặc biệt khó khăn thì mức hỗ trợ là 2,25 triệu đồng/ ha, nếu vậy các xã thuộc diện ngoài vùng đặc biệt khó khăn mức hỗ trợ trồng quế trên 1 ha sẽ cao hơn mức hỗ trợ ban đầu, do vậy nhân dân muốn trồng quế buộc phải bỏ ra phần tiền đối ứng. Tuy vậy, với những hộ nghèo thì đây cũng là một khoản tiền không nhỏ.
Trồng rừng là nhu cầu tất yếu đối với nhân dân vốn dựa vào kinh tế nông lâm nghiệp, chỉ có người dân sinh sống tại nơi đó mới hiểu rõ là trồng cây gì là phù hợp nhất. Việc Nhà nước cấp giống theo chủ trương cũng hoàn toàn đúng nhưng nhất thiết phải dựa trên nhu cầu, nguyện vọng của từng nơi để từ đó có sự điều tiết sao cho hợp lý về cơ cấu giống.
Việc triển khai trồng rừng đạt hiệu quả và chất lượng hay không cần nhất là sự thống nhất cao từ phía Nhà nước và nhân dân. Cơ quan chuyên môn phải giải thích rõ về cơ chế, chính sách để nhân dân nắm kỹ hơn, qua đó mới tạo ra sự đồng thuận trong dân. (Đài PTTH Bắc Kạn 24/12) đầu trang(
Sau khi không lắp ráp ô-tô tải nhỏ, thời gian qua, Công ty Tracimexco ở xã Xuất Hóa, thị xã Bắc Cạn (Bắc Cạn) chuyển sang sản xuất đũa. Tuy giải quyết nhiều việc làm, nhưng điều đáng lo là doanh nghiệp này đã và đang gây ô nhiễm môi trường.
Nông dân xã Xuất Hóa đã “hy sinh” hàng chục ha đất cấy lúa thuộc hàng “bờ xôi ruộng mật” ở trung tâm xã, ngay cạnh Quốc lộ 3 cho Công ty Tracimeco xây dựng nhà máy lắp ráp ô-tô tải , với hy vọng con em mình sẽ được vào làm việc tại nhà máy. Thế nhưng, nhà máy chỉ sử dụng vài người địa phương vào làm bảo vệ.
Do không cạnh tranh được với ô-tô cùng loại trên thị trường, nhà máy này đã “đắp chiếu” sau vài năm thoi thóp hoạt động. Tiếc “khu đất vàng”, nhà xưởng nằm bất động và không để dư luận bức xúc thêm trước tình trạng đầu tư không hiệu quả trên đất đai của nông dân, từ năm 2013, Công ty Tracimeco chuyển sang sản xuất đũa xuất khẩu.
Sự chuyển hướng này âu cũng là điều đáng mừng, vì giải quyết việc làm, thu mua gỗ rừng trồng cho nhân dân và đáp ứng mong mỏi bấy lâu của địa phương là khắc phục tình trạng đầu tư không hiệu quả.
Tuy nhiên, từ khi Công ty Tracimeco chuyển sang sản xuất đũa kéo theo hệ lụy ô nhiễm môi trường làm người dân địa phương rất trăn trở.
Đó là gỗ được đưa vào xẻ, dây chuyền sản xuất đũa phát ra tiếng ồn lớn vào ban đêm, ảnh hưởng đến việc học của con em nhân dân chung quanh. Việc dùng gỗ đun lò hơi để luộc gỗ, thải ra lượng khói rất lớn suốt ngày đêm làm người dân khó chịu, nhiều hôm ngột ngạt. Nước luộc gỗ đen ngòm chưa qua xử lý thải trực tiếp ra môi trường.
Theo quy định, việc chuyển từ lắp ráp ô-tô sang sản xuất đũa, Công ty Tracimeco phải làm đề án đánh giá tác động môi trường, đầu tư công trình, biện pháp giảm thiểu tiếng ồn, xử lý khói, nước thải tương ứng thì mới được hoạt động. Tuy nhiên, Công ty đã bỏ qua những việc làm này.
Biểu hiện là, sau khi đi vào hoạt động, giữa năm 2014, Phòng Cảnh sát Phòng chống tội phạm về môi trường (Công an tỉnh), thị xã Bắc Cạn đã tiến hành các cuộc kiểm tra, nhắc nhở Công ty Tracimeco phải hoàn thiện hồ sơ, đầu tư công trình bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, đến nay doanh nghiệp này vẫn chưa đầu tư công trình xử lý về tiếng ồn, khói, nước thải một cách bài bản; trái lại, hoạt động sản xuất gia tăng và đang đầu tư thêm dây chuyền sản xuất mới. Như thế, tình trạng ô nhiễm môi trường sẽ tiếp tục nghiêm trọng hơn trong thời gian tới.
Việc chuyển hướng hoạt động để khôi phục một cơ sở công nghiệp đã “đắp chiếu”, mở rộng sản xuất, góp phần giải quyết việc làm, tăng tiêu thụ gỗ rừng trồng, tạo môi trường cạnh tranh đối với lâm sản là điều đáng mừng. Song, Công ty Tracimeco phải tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường để không ảnh hưởng đến đời sống nhân dân.
Bảo vệ môi trường là điều bắt buộc, là yếu tố để phát triển bền vững, nên các cơ quan chức năng của địa phương cần khắc phục quan niệm “tạo điều kiện cho Công ty Tracimeco” dù doanh nghiệp này đã gây ô nhiễm môi trường trong thời gian dài. (Nhân Dân 25/12) đầu trang(
Từ năm 2006 đến nay, toàn tỉnh có 36.421 ha rừng chuyển mục đích sử dụng; trong đó 4.460 ha thuộc đối tượng đất rừng chuyển sang các công trình thủy điện, khai thác khoáng sản, đất khu tái định cư, nhà máy… phải trồng rừng thay thế; diện tích không phải trồng rừng thay thế là 31.961 ha rừng nghèo chuyển sang trồng cao su. Tuy nhiên đến nay, Gia Lai là một trong những tỉnh có tiến độ triển khai trồng rừng thay thế chậm.
Ngày 3-3-2006, Chính phủ ban hành Nghị định 23/2006/NĐ-CP về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, trong đó quy định các dự án có chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác phải tiến hành trồng rừng thay thế. Từ năm 2006 đến nay, cả nước đã có 2.991 dự án với 386.290 ha rừng chuyển sang các mục đích khác. Tuy nhiên, kết quả trồng rừng thay thế đạt thấp (5,2%).
Nguyên nhân là do nhận thức chưa đầy đủ về chủ trương, chính sách của Nhà nước về việc trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích sử dụng khác; công tác kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước các cấp không thường xuyên và thiếu kiên quyết.
Thực hiện Chỉ thị 02/CT-TTg và Thông tư 24/2013/TT-BNNPTNT, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 112/QĐ-UBND về việc triển khai trồng rừng thay thế trên địa bàn tỉnh, rà soát phân bổ quỹ đất cho các chủ dự án thuộc đối tượng trồng rừng thay thế ngay từ đầu năm 2014.
Theo báo cáo, từ năm 2006 đến nay, có 36.421 ha rừng chuyển mục đích sử dụng sang mục đích khác: Trong đó có 4.460 ha thuộc đối tượng đất rừng chuyển sang các công trình thủy điện, khai thác khoáng sản, đất khu tái định cư, nhà máy… phải trồng rừng thay thế; diện tích không phải trồng rừng thay thế là 31.961 ha rừng nghèo chuyển sang trồng cao su.
Đặc biệt, đối với việc trồng rừng thay thế các dự án thủy điện trên địa bàn tỉnh trong năm 2014, có 15 dự án phải trồng rừng thay thế với diện tích khoảng 667,4 ha. Hiện tại, dự án thủy điện Ia Grai 1 của Công ty cổ phần Đức Cường Gia Lai đã được UBND tỉnh phê duyệt với gần 70,6 ha; 3 dự án với gần 110 ha đã được thẩm định là thủy điện An Khê-Ka Nak (68 ha), thủy điện Sê San 4 Ban Quản lý dự án Thủy điện 4 (69,2 ha) và thủy điện Đak Đoa (40,6 ha).
Sở Nông nghiệp và PTNT đang kiểm tra hồ sơ để trình hội đồng thẩm định 3 dự án là thủy điện Đak Sông 2, Đak Sông 2A và thủy điện Ia Hrung với tổng diện tích trên 200 ha. Còn lại 8 dự án với diện tích trên 218 ha chưa triển khai.
Nói về lý do việc trồng rừng thay thế triển khai chậm, ông Trương Phước Anh-Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT cho biết: Các chủ dự án không nghiêm túc thực hiện vì đã được cấp có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác trước ngày Thông tư số 24/2013/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và PTNT quy định về trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác có hiệu lực nên các chủ dự án có lý do chậm trễ. Bên cạnh đó, suất đầu tư 1 ha trồng rừng chênh lệch lớn giữa các khu vực như cấp thực bì, cự ly đi làm, độ dốc, nhóm đất, hệ số khu vực… dẫn tới sự thắc mắc, so bì giữa các chủ đầu tư.
Rõ ràng việc suy giảm rừng nhanh chóng gây ra những tác hại không chỉ với kinh tế mà còn ảnh hưởng vô cùng lớn đến biến đổi khí hậu. Đồng nghĩa với việc phải chú trọng hơn nữa, thực hiện có hiệu quả hơn nữa việc trồng rừng thay thế khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng, nhất là phải đảm bảo thực hiện tốt công tác trồng bù rừng khi xây dựng thủy điện.
Tại cuộc họp trực tuyến về công tác trồng rừng thay thế, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Cao Đức Phát khẳng định: Công tác trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng đất là một vấn đề quan trọng để thực hiện nghiêm túc nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ.
Bởi vậy, các địa phương cần tiếp tục tăng cường thực hiện chuyển đổi rừng tập trung, cần trồng lại rừng tập trung gắn với việc kiểm soát, chăm sóc, quản lý và bảo vệ sau khi trồng. (Báo Gia Lai 24/12) đầu trang(
Huyện Phù Cát vừa tổ chức sơ kết tình hình thực hiện dự án WB3 và hoạt động khuyến lâm năm 2014, triển khai kế hoạch tiếp tục thực hiện dự án trong năm 2015.
Năm 2014, Phù Cát có 174 hộ dân ở 5 xã là Cát Hanh, Cát Hiệp, Cát Lâm, Cát Sơn và Cát Khánh tham gia trồng hơn 249 ha rừng keo lai, đạt 120% so kế hoạch.
Cùng với đó, Ban quản lý dự án WB3 của huyện đã hướng dẫn 465 hộ dân chăm sóc hơn 747 ha rừng trồng trong 3 năm từ 2011 đến 2013; phối với với ngành chức năng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 82 hộ với diện tích hơn 92 ha rừng trồng. Ngoài ra, Ban quản lý dự án huyện cũng đã tiến hành giải ngân hơn 1 tỷ 117 triệu đồng, cho 62 lượt hộ vay….
Như vậy, sau 10 năm triển khai thực hiện dự án WB3, huyện Phù Cát đã có 2.813 hộ dân ở 9 xã tham gia trồng hơn 4.187 ha rừng, đạt 101% chỉ tiêu dự án đưa ra; Huyện đã cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất cho 2.324 hộ, với diện tích 3.488 ha, đồng thời giải ngân gần 43 tỷ 248 triệu đồng cho 2.207 hộ vay để đầu tư trồng và chăm sóc rừng.
Dự án WB3 sẽ kết thúc vào 31/3/2015. Trong thời gian tới, Phù Cát sẽ tiếp tục củng cố và kiện toàn các nhóm nông dân trồng rừng hiện có, duy trì các hoạt động tự quản, tự trang trải kinh phí hoạt động.
Đồng thời, tăng cường công tác chỉ đạo việc chăm sóc rừng trồng, quản lý bảo vệ và phòng chống cháy rừng, và triển khai trồng rừng trên diện tích đã thu hoạch, nhằm bảo đảm phát triển rừng bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái. (Binhdinh.gov.vn 24/12) đầu trang(
Chiều 23/12, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Huỳnh Khánh Toàn đã có buổi làm việc với Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn và các cơ quan chức năng có liên quan để nghe góp ý về “Cơ chế khuyến khích phát triển trồng rừng sản xuất bằng giống keo nuôi cấy mô, giai đoạn 2015-2020 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam”.
Hiện nay trong hơn 135,5 nghìn ha rừng trồng, diện tích rừng trồng các loài keo như keo lai, keo lưỡi liềm, keo tai tượng chiếm khoảng 80% diện tích; phân bố đều khắc các huyện. Với lợi ích kinh tế cao, cây keo đã góp phần nâng cao giá trị của sản xuất ngành Lâm nghiệp, nâng cao thu nhập cho người trồng rừng và bảo vệ môi trường sinh thái.
Để phát huy tối đa lợi thế từ cây keo, Sở NN&PTNT đã xây dựng “Cơ chế khuyến khích phát triển trồng rừng sản xuất bằng giống keo nuôi cấy mô, giai đoạn 2015-2020 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” (gọi tắt là Cơ chế).
Theo Cơ chế, tổng kinh phí thực hiện hơn 21,5 tỷ đồng. Trong đó, lập quy hoạch và hỗ trợ cơ sở sản xuất giống nuôi cấy mô và hỗ trợ trực tiếp hộ gia đình, cá nhân trồng rừng bằng giống keo nuôi cấy mô. Dự kiến, tổng diện tích trồng rừng bằng giống keo nuôi cấy mô là 12 nghìn ha; được triển khai trên 15 huyện trên địa bàn tỉnh.
Cơ chế hướng tới mục tiêu đến năm 2020 đưa tổng sản lượng gỗ rừng trồng khai thác trên địa bàn tỉnh lên 1 triệu m3/năm; đưa diện tích trồng rừng bằng giống keo nuôi cấy mô do nhà nước hỗ trợ giống và chủ đầu tư tự bỏ vốn trồng chiếm 30% diện tích rừng trồng keo toàn tỉnh. Phấn đấu đến năm 2020, năng suất bình quân của rừng trồng trên địa bàn tỉnh hơn 150 m3/năm.
Qua đó, thiết lập được những khu rừng trồng nguyên liệu có năng suất, chất lượng cao, có chứng chỉ rừng để cung cấp đủ nguyên liệu phục vụ nhu cầu sản xuất và xuất khẩu. Tăng tỷ trọng sản xuất lâm nghiệp trong cơ cấu kinh tế ngành từ 8% lên 16% vào năm 2020. Nâng cao thu nhập cho người trồng rừng, góp phần xóa đói, giảm nghèo, giải quyết khó khăn về vốn cho người dân…
Tại buổi làm việc, nhiều ý kiến đóng góp được đưa ra, như: nên giới hạn vùng triển khai, phải căn cứ vào điều kiện canh tác, nhu cầu của người dân; Trước mắt, nên triển khai thí điểm trong vòng 1-2 năm, sau khi nghiệm thu, nếu mô hình đạt kết quả cao có thể nhân rộng trên toàn tỉnh. Như vậy sẽ tránh được những rủi ro, gây lãng phí, đồng thời cho người dân biết được lợi ích của việc trồng giống keo nuôi cấy mô, lúc đó sẽ dễ dàng thực hiện.
Sau khi lắng nghe các ý kiến đóng góp cho Cơ chế, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Huỳnh Khánh Toàn đánh giá cao sự đầu tư công phu trong việc xây dựng Cơ chế của Sở NN&PTNT cũng như tính thiết thực của Cơ chế.
Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả khi triển khai đại trà, đề nghị tạm thời dời thời gian triển khai Cơ chế. Đồng thời, trước mắt cần triển khai theo hướng hỗ trợ đầu tư, nâng cấp trung tâm giống cây keo nuôi cây mô để tiến hành trình diễn trên một số địa bàn… (Quangnam.gov.vn 24/12; Nông Nghiệp VN 25/12, tr2) đầu trang(
Cựu chiến binh Thào Nhà Lềnh, ở bản Hua Khắt, xã Nậm Khắt, huyện Mù Cang Chải, Yên Bái đã thoát nghèo vơn lên làm giàu từ mô hình kinh tế tổng hợp, mỗi năm gia đình ông có thu nhập hơn 100 triệu đồng.
Là địa phương có lợi thế nhiều đất rừng nên khi Đảng và Nhà nước có chủ trương giao đất, giao rừng, ông Thào Nhà Lềnh đã bàn bạc với gia đình và mạnh dạn nhận đất rừng để bảo vệ và trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao như: Tre măng, mây, thảo quả.
Để cây trồng cho năng suất, chất lượng cao, ông Lềnh thường xuyên tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật nông nghiệp do các cấp chính quyền và hội tổ chức. Vận dụng kiến thức đã học được, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào mô hình kinh tế tổng hợp của gia đình. Đến nay, trừ chi phí, thu nhập từ trồng rừng, thảo quả, lúa, ngô và chăn nuôi, mỗi năm gia đình ông Lềnh có thu nhập không dưới 100 triệu đồng.
Cựu chiến binh Thào Nhà Lềnh chia sẻ: "Trước đây gia đình tôi cũng như các gia đình khác trong bản, đời sống rất khó khăn, thực phẩm hàng ngày chủ yếu là sắn và ngô. Sau khi mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, cũng như tích cực tham gia trồng rừng, trồng thảo quả và chăn nuôi, bây giờ cuộc sống của gia đình tôi đã thoát nghèo, có của ăn của để và giúp đỡ bà con trong bản cùng phát triển”.
Gia đình ông Thào Nhà Lềnh được nhiều người trong và ngoài xã biết đến là một điển hình xuất sắc trong phong trào cựu chiến binh làm kinh tế giỏi ở địa phương. Không chỉ làm kinh tế giỏi, cựu chiến binh Thào Nhà Lềnh còn chia sẻ kinh nghiệm phát triển kinh tế và giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn về cây, con giống, để bà con trong bản cùng phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, vươn lên xóa đói giảm nghèo. (Tin Tức 25/12)đầu trang(
Với phương châm giảm thiểu các tác hại do bão lũ gây ra dự vào cộng đồng là chủ yếu, Hội Chữ thập đỏ (CTĐ) tỉnh đã triển khai thực hiện dự án “Trồng rừng ngập mặn - Giảm thiểu rủi ro thảm họa” (TRNM - GTRRTH) tại 5 xã: Mãn Đức, Thanh Hối, Đông Lai, Tử Nê, Ngọc Mỹ (Tân Lạc).
Đây là dự án do Hội CTĐ Nhật Bản tài trợ thông qua Hiệp Hội CTĐ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế tại Hà Nội.
Được sự giúp đỡ của Hội CTĐ Nhật Bản tài trợ các hoạt động dự án tập trung chủ yếu nâng cao năng lực cho cộng đồng như: tuyên truyền, mở các lớp tập huấn về quản lý rủi ro thảm họa và biến đổi khí hậu, tập huấn sinh kế về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, tổ chức các cuộc diễn tập phòng ngừa, ứng phó thảm họa, trồng rừng phòng hộ và thực hiện các tiểu dự án tại cộng đồng... Các hoạt động của dự án TRNM GTRRTH đã và đang gióp phần vì một cộng đồng an toàn, đồng thời nâng cao năng lực cho cán bộ chính quyền địa phương, người dân.
Các hoạt động đầu tiên trong năm 2014 phải kể đến là tiếp tục chăm sóc và bảo vệ diện tích rừng phòng hộ đã trồng từ năm 2012 tại 2 xã Mãn Đức và Thanh Hối. Để bảo vệ và chăm sóc rừng, Ban điều hành dự án Tỉnh hội đã triển khai tập huấn và thành lập các đội bảo vệ rừng tại các thôn, xóm nằm trong vùng dự án.
Tuy diện tích rừng còn ít nhưng đây là cánh rừng đầu nguồn có tầm quan trọng bảo vệ cho các hồ, đập tại 2 xã góp phần đảm bảo tưới tiêu và đảm bảo an toàn cho cộng đồng nằm trong vùng hạ lưu.
Song song với các hoạt động trồng và bảo vệ rừng, Ban điều hành dự án Tỉnh hội tiếp tục mở 3 lớp tập huấn về quản lý rủi ro thảm họa về biến đổi khí hậu cho cán bộ cấp thôn, đại diện các hộ dân và lực lượng tình nguyện viên CTĐ 5 xã đang triển khai dự án, học viên được cung cấp kiến thức, kỹ năng về công tác phòng ngừa, ứng phó thảm họa, giảm thiểu rủi ro khi có thiên tai gây ra và 5 lớp tập huấn về sinh kế với nội dung chủ yếu kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, hạn chế rủi ro trong điều kiện biến đổi khí hậu để từ đó tìm ra biện pháp phù hợp thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi, trồng trọt tại địa phương.
Nhằm tiếp tục nâng cao năng lực cho cán bộ cơ sở, nhân dân 2 xã trong việc sẵn sàng ứng phó ảnh hưởng của thiên tai; phát huy vai trò của cán bộ, hội viên và tình nguyện viên CTĐ trong cộng đồng về phòng ngừa, ứng phó thảm họa. Ban điều hành dự án tiếp tục triển khai tổ chức 2 cuộc diễn tập tại xã Đông Lai và Ngọc Mỹ, thông qua mỗi cuộc diễn tập đều thu hút đông đảo cộng đồng tham gia, điều đó ngày càng khẳng định các hoạt động dự án được nhân dân tin tưởng ủng hộ.
Ngoài ra, dự án còn hỗ trợ xây dựng 2 công trình tại 2 xã (Đông Lai và Ngọc Mỹ), trong đó, sửa chữa, xây dựng 2 phòng học cho học sinh mẫu giáo tại chi trường mầm non xóm Đôi, xã Ngọc Mỹ và công trình nước tự chảy của xóm Bái Trang, xã Đông Lai.
Ông Bùi Văn Huyến - Chủ tịch UBND xã Thanh Hối cho biết: Dự án đã hỗ trợ cho bà con nông dân trồng và chăm sóc rừng phòng hộ quanh khu vực hồ Tam, hỗ trợ cho một số xóm làm đường ống dẫn nước từ nguồn của các khe suối, giúp bà con có đầy đủ nước sinh hoạt. Ngoài ra, dự án tổ chức các lớp tập huấn, cuộc diễn tập giúp nhân dân nhận biết được các nguy cơ, tác hại của rui ro thiên tai, giúp chính quyền chủ động xây dựng kế hoạch sẵn sàng ứng phó khi có thiên tai thảm họa xảy ra.
Với các hoạt động mang ý nghĩa thiết thực, phù hợp với thực tế từng địa phương, Hội CTĐ tỉnh tin tưởng đây là một trong những dự án đem lại hiệu quả cao góp phần nâng cao năng lực cho cán bộ cơ sở, nhân dân 2 xã sẵn sàng ứng phó ảnh hưởng của thiên tai, thảm họa; phát huy vai trò của cán bộ, hội viên và tình nguyện viên CTĐ trong cộng đồng. (Báo Hòa Bình 25/12)đầu trang(
Nhằm giao đất, gia rừng cho người dân quản lý, bảo vệ, vừa qua Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã phối hợp với các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh tiến hành giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho trên 24 nghìn hộ, cộng đồng dân cư với trên 132 nghìn ha.
Đến nay, 41/129 xã, phường trong tỉnh đã tiến hành giao đất, giao rừng cho các hộ, cộng đồng dân cư quản lý, đạt gần 32% kế hoạch. Đồng thời thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng được 110 tỷ đồng, đạt 54,7% kế hoạch. Tổ chức tuyên truyền, vận động, thực hiện tốt các chính sách, hỗ trợ, khuyến khích người dân trong việc tham gia trồng, quản lý, chăm sóc, bảo vệ rừng.
Trong năm 2014, toàn tỉnh Điện Biên đã trồng được gần 120 ha rừng phòng hộ, hỗ trợ gạo để chăm sóc diện tích rừng trồng chuyển tiếp hơn 470 ha, chăm sóc rừng trồng năm thứ 1, thứ 2 là trên 320 ha, khoanh nuôi tái sinh gần 3.640 ha. Tỷ lệ che phủ rừng toàn tỉnh đạt 41,58%, tăng 1,56% so với năm 2013. (Đài PTTH Điện Biên 24/12)đầu trang(
Sau hơn 2 tháng triển khai mô hình trồng thí điểm cây sa nhân dưới tán rừng phòng hộ tại làng Canh Tiến, Ban Quản lý rừng phòng hộ phối hợp với Phòng NN&PTNT, Phòng Kinh tế hạ tầng huyện tổ chức nghiệm thu mô hình.
Ông Trần Văn Khổ, Phó trưởng Phòng NN&PTNT huyện Vân Canh, cho biết cây sa nhân thích nghi với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu ở Canh Tiến nên phát triển tương đối mạnh, tỉ lệ cây sống đạt trên 90%.
Được biết, mô hình này triển khai 2 giai đoạn. Giai đoạn 1, bắt đầu trồng từ tháng 10.2014, với số lượng 2.000 cây, trên diện tích 0,5ha; giai đoạn 2 sẽ trồng tiếp 0,5 ha trong năm 2015.
Sau khi trồng thí điểm thành công, Ban Quản lý rừng phòng hộ sẽ tiến hành chuyển giao kỹ thuật, mở rộng diện tích giúp người dân phát triển kinh tế gia đình và tham gia bảo vệ rừng. (Báo Bình Định 24/12)đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||