|
Ngày 23 tháng 12 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Để lấy đất sản xuất và làm nhà ở, hàng nghìn cây thông trên địa bàn xã Quảng Sơn, huyện Đắk G’long, Đắk Nông thuộc sự quản lý của Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Sơn (Cty Lâm nghiệp Quảng Sơn) đã bị người dân triệt hạ hàng loạt bằng cách bôi hóa chất.
Điều đáng nói, toàn bộ diện tích này đều có chủ và được phân bố tại những địa bàn thuận lợi cho việc quản lý, bảo vệ nhưng rừng vẫn bị “bào mòn” từng ngày.
Rừng thông trên địa bàn xã Quảng Sơn thuộc sự quản lý của Cty Lâm nghiệp Quảng Sơn là một trong những khu rừng trồng còn giữ được tương đối nguyên vẹn nhưng đang bị bức tử từng ngày. Hiện ra trước mắt là cả một khu rừng thông cao vút, khoảng 30 năm tuổi đã ngả vàng, chết khô.
Quan sát kĩ, hầu hết trên thân các cây thông đều xuất hiện vài ba vết đẽo vỏ kèm theo hóa chất màu trắng đổ thẳng vào thân. Với phương thức triệt hạ như vậy, chỉ sau một thời gian ngắn cây héo rũ, từ từ rụng lá và chết. Để lấy đất, người dân tiến hành công đoạn chặt hạ, phi tang cây rồi lấn đất. Cách làm theo kiểu “du kích” này tỏ ra hiệu quả khi hàng nghìn cây thông biến mất còn thủ phạm thì nhởn nhở vì khó bị phát hiện.
Anh Trần Anh Bằng, nhân viên Cty Lâm nghiệp Quảng Sơn phân trần: Toàn bộ những diện tích rừng thông mà chúng tôi đang quản lý đều liền kề với đất sản xuất của dân. Vì vậy, rất khó để quản lý, phát hiện và xử lý bởi mỗi ngày, người dân tranh thủ chặt một vài cây, cứ thế cả vạt rừng thông bị đốn hạ.
Trao đổi về vấn đề này, ông Đặng Văn Dư, Giám đốc Cty Lâm nghiệp Quảng Sơn cho biết, trước tình trạng trên, chúng tôi đã nhiều lần kiến nghị với các cơ quan chức năng tăng cường công tác phối hợp. Đối với lực lượng công an phải điều tra, xử lý, tìm ra người phá rừng chứ nếu một mình Cty thì không thể làm được việc này.
Thực tế, không riêng gì Cty Lâm nghiệp Quảng Sơn mà rừng thông dọc 2 bên tuyến tỉnh lộ 4 liên tục diễn ra việc phá rừng thông bằng hóa chất. Theo số liệu thống kê của chủ rừng và Hạt Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông, đến nay, tổng diện tích rừng thông bị hủy hoại lên đến 8,34ha với tổng số 2.653 cây. Tại Tiểu khu 1646, rừng thông đã bị người dân đốn hạ, san ủi, lấn chiếm, dựng lên 7 căn nhà.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) Đắk Nông, do chủ rừng không có hồ sơ pháp lý của khu rừng từ khi trồng rừng cho tới nay, nên không xác định chính xác diện tích rừng bị mất trong những năm qua. Việc này cho thấy, công tác quản lý của chủ rừng không chặt chẽ, quản lý không hiệu quả, không có cơ sở pháp lý về ranh giới để xử lý các vụ vi phạm về phá rừng, lấn chiếm đất rừng, do đó tạo điều kiện cho người dân lấn chiếm không xử lý được.
Việc rừng thông bị triệt hạ xảy ra trong thời gian dài, nhưng quá trình xử lý các vụ phá rừng của cơ quan công an, kiểm lâm và chủ rừng chưa kịp thời. Cty Lâm nghiệp Quảng Sơn cho biết, từ năm 2013 đến nay, có 5 vụ phá rừng đã chuyển cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Đắk Glong để xử lý, nhưng hiện tại vẫn chưa có kết luận điều tra.
Theo Sở NN&PTNT Đắk Nông, rừng thông bị phá trách nhiệm trước hết thuộc về chủ rừng (Cty Lâm nghiệp Quảng Sơn), UBND xã Quảng Sơn, Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Glong, Trạm Kiểm lâm địa bàn xã Quảng Sơn và cán bộ kiểm lâm địa bàn, cán bộ địa chính xã Quảng Sơn, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Đắk Glong.
Cụ thể: Cty Lâm nghiệp Quảng Sơn để phá rừng trong thời gian dài, nhưng không có biện pháp ngăn chặn. Công tác kiểm tra phát hiện và báo cáo các vụ phá rừng, lấn chiếm, xây dựng trái phép trên diện tích đất rừng bị phá chưa đầy đủ và kịp thời.
Hạt Kiểm lâm, Trạm Kiểm lâm địa bàn và cán bộ kiểm lâm địa bàn xã Quảng Sơn, địa chính xã Quảng Sơn đã nhận được báo cáo về lấn chiếm, xây dựng nhà trái phép của công ty nhưng chưa tham mưu cấp thẩm quyền xử lý. UBND xã Quảng Sơn thiếu trách nhiệm, để người dân lấn chiếm xây dựng nhà trái phép nhưng chưa có biện pháp xử lý, ngăn chặn. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Đắk Glong chưa điều tra, xử lý kịp thời các vụ phá rừng.
Trên cơ sở đó, Sở NN&PTNT đã đề nghị kiểm điểm trách nhiệm đối với Chủ tịch UBND xã Quảng Sơn, cán bộ địa chính xã, Chủ tịch kiêm Giám đốc Cty Lâm nghiệp Quảng Sơn, lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện Đắk G’long, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm địa bàn liên xã Quảng Sơn, Kiểm lâm địa bàn xã Quảng Sơn cùng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong.
Để khắc phục hậu quả, trong tháng 12/2014, Sở NN&PTNT sẽ hướng dẫn Cty Lâm nghiệp Quảng Sơn hoàn thành việc lập hồ sơ pháp lý khu rừng, xác định ranh giới ngoài thực địa để quản lý bảo vệ.
Thực hiện việc giải tỏa đối với 7 căn nhà lấn chiếm, xây dựng trái phép tại Tiểu khu 1646. Cty Lâm nghiệp Quảng Sơn thực hiện việc trồng rừng khắc phục hậu quả trên diện tích rừng bị phá, đồng thời tăng cường việc phối hợp với các cơ quan chức năng tuần tra, kiểm tra mai phục để bắt, xử lý các đối tượng vi phạm. (Thanh Tra 23/12) đầu trang(
Lợi dụng việc mua đấu giá, người trúng đấu giá đã khéo léo mượn tấm “lệnh bài” mà ngành kiểm lâm trao cho để triệt hạ hàng loạt cây nghiến cổ.
Không chỉ vậy, một số đầu nậu còn núp bóng, thuê người dân chặt phá rồi mua đấu giá. Chu trình khép kín này đã và đang tàn phá nghiêm trọng rừng nghiến ở Thông Nông (Cao Bằng).
Từ dốc Đá, vào xã Lương Thông (Thông Nông) mất gần 1 giờ đồng hồ. Đúng như cái tên mà người dân nơi đây đặt cho Lương Thông là “vương quốc nghiến”, qua đầu dốc, nhìn lên hai bên cánh rừng, thấy bạt ngàn cây nghiến. Trên đường vào, liên tục bắt gặp cảnh gỗ nghiến được người dân xẻ thành hộp, thanh và ngang nhiên chở bằng xe máy giữa ban ngày.
Theo tìm hiểu, Lương Thông có 4 thôn Lũng Rịch, Lũng Giải, Lũng Pó và Tả Bốc có nhiều nghiến nhất. Nghiến ở đây bạt ngàn, trải từ cửa rừng cho đến đỉnh núi. Và cũng chính nơi đây đang là “điểm nóng” về nạn khai thác nghiến trái phép.
Khi vừa chạm vào đất thôn Lũng Rịch, đưa mắt lên rừng nghiến cách đường không xa, giật mình khi phát hiện ra đội quân “phu nghiến” hơn chục người đang vác, gùi những tấm ván nghiến đã được xẻ, rộng khoảng 50 – 60cm, dài hơn 2m xuống đường.
Sau khi đã ghi được đầy đủ hình ảnh, PV tạt vào nhà một người dân gần đó giả vờ xin nước. Người đàn ông tên Trịnh Văn Lợi (52 tuổi) cho biết, đây là số gỗ mà một người ở thị trấn Thông Nông đã trúng đấu giá cho xẻ rồi thuê người dân gùi xuống.
Cách nhà ông Lợi không xa là nhà ông Bàn Văn Triệu, bán hàng tạp hóa. Sau khi vào quán ông Triệu uống nước, tận mắt chứng kiến hàng chục phụ nữ gùi, vác ván nghiến về tập kết ở sau nhà ông.
Hỏi dò, được ông Triệu cho biết, nửa tháng nay ông cho một người ở thị trấn Thông Nông mượn nhà để nhờ gỗ chứ không phải gỗ của ông. Quan sát, mỗi người vác nghiến về đều được một gã đàn ông gần 30 tuổi, ít nói, trông dáng bặm trợn cho đưa lên cân rồi ghi vào sổ.
Vờ đi vệ sinh, PV đã lẻn ra phía sau nhà và ghi lại được hình ảnh đống gỗ phía sau nhà ông Triệu. Có đến hàng trăm ván gỗ nghiến đã được xẻ vuông vắn vẫn con tươi nguyên, ước chừng khoảng 15 – 20m3 gỗ. Tìm cách tiếp cận, phóng viên được người đàn ông cầm sổ cho biết tên là Hào, chỉ ghi thuê cho bà chủ ở thị trấn Thông Nông.
Lúc vào Lũng Giải, Lũng Pó và Tả Bốc, hai bên đường chưa có một khúc gỗ nào. Nhưng khi quay ra, đã thấy hàng chục khúc gỗ, thanh gỗ, cột gỗ nghiến xẻ đã được vận chuyển từ trong rừng ra xếp hai bên đường chờ ô tô vào chở đi.
Qua Tả Bốc, tiếng cưa máy đang rền như sấm trên rừng nghiến. Dừng xe quan sát, phát hiện ra 3 – 4 lâm tặc đang hạ một cây nghiến cổ rất lớn. Thấy có người lạ, gã thanh niên đứng cheo leo trên vách núi hú lên một tiếng, lập tức tiếng cưa máy im bặt. PV cố chờ thêm 20 phút, nhưng không còn nghe tiếng cưa nữa.
Theo tìm hiểu, ở Thông Nông có rất nhiều chủ buôn bán lâm sản, đặc biệt là gỗ nghiến. Trước đây, khi việc khai thác, buôn bán nghiến chưa được siết chặt, các chủ tự do mua bán gỗ. Nhưng gần đây, việc ngăn chặn buôn bán gỗ và chặt phá rừng được làm rốt ráo do đó nguồn hàng khan hiếm hơn.
Để có nguồn hàng, một số ông bà chủ đã nghĩ ra đủ các “chiêu” để qua mặt cơ quan chức năng. Một trong những chiêu khá tinh vi mà những người này hay sử dụng là “dụ” một vài hộ có nhà cũ nát viết giấy lên thôn, xã, thậm chí huyện để xin hạ gỗ làm nhà.
Bình thường, nếu có cho gỗ thì những hộ này cũng chẳng đủ tiền để thuê người xẻ, vận chuyển gỗ từ trong rừng về làm nhà. Song chỉ trong một thời gian ngắn, họ bỗng có nhà to đẹp toàn bằng gỗ nghiến.
Người dân ở đây cho biết, thực ra, đứng đằng sau là các ông, bà chủ chuyên buôn bán lâm sản chống lưng, lo chi phí, công vận chuyển, dựng nhà. Chỉ sau một thời gian, các ngôi nhà này sẽ được hợp thức hóa thủ tục bán và đương nhiên giá trị của căn nhà này sẽ được chia đôi: Gia chủ một nửa và ông bà chủ một nửa.
Một người dân tên Toàn cho biết, hai ngôi nhà sàn đang dựng dở ở Tả Bốc cũng thuộc dạng này, nhưng ông không dám tiết lộ gia chủ và người đứng sau.
Theo tìm hiểu từ người dân, một thủ thuật nữa hay được áp dụng là đầu nậu móc nối với một số lâm tặc vào rừng chặt hạ một loạt nghiến, rồi đánh tiếng để kiểm lâm vào kiểm tra. Sau đó, nhờ “quan hệ” và bày mưu thao túng việc bán đấu giá mà kết quả đương nhiên là các đối tượng này trúng thầu.
Mục đích của chúng là có được tấm “lệnh bài” của cơ quan chức năng cho vận chuyển số gỗ nghiến vừa được đấu giá để “mượn gió bẻ măng”, khai thác mới hoặc tận thu những cây gỗ đã được chặt hạ trước đó không trong diện đấu giá.
Từ thôn Lũng Rịch, phải mất hơn 1 giờ leo ngược núi đá tai mèo, mới đặt chân vào “đại ngàn nghiến” với hàng trăm, hàng nghìn cây nghiến cổ thụ 5–7 người ôm. Vừa ló đầu lên đỉnh dốc, đã ghe tiếng cưa máy gầm rú rung chuyển cả một cánh rừng.
Trên đường lên núi, bắt gặp hơn chục phụ nữ đang gùi, khuân vác nghiến đã xẻ xuống núi. Khi PV tiến lại gần vị trí lâm tặc đang khai thác, tiếng cưa bỗng tắt lịm. Một gã thanh niên ra chặn đường hỏi. Tốp này có hơn 10 người với 6 cưa máy.
PV viện cớ là nhà khoa học, chỉ lên rừng kiếm mẫu cây rừng về nghiên cứu. Thấy gã vẫn nghi ngờ, để tránh bị lộ, PV rút sang cánh rừng bên, trên đường đi phát hiện hàng chục cây nghiến đã bị chặt hạ từ trước, đang được xẻ nham nhở, mùn cưa đỏ au, nhiều cây còn tươi nguyên. Nhìn sang cánh rừng phía xa, tiếng cưa máy vẫn vang lên inh ỏi, một vài cây đã bị đốn ngã, lá vẫn còn tươi. Sau khi ghi hình ảnh, lượm nhặt một mớ cây dại về để “nghiên cứu”...
Ông Trịnh Văn Lợi cho biết: Lũng Rịch có 52 hộ, chủ yếu là người Dao, trong đó có khoảng 15 - 20 người thường xuyên làm nghề gùi, vác nghiến thuê, với giá 2.500 đồng/kg từ trên núi xuống đến bãi tập kết. (Nông Thôn Ngày Nay 23/12) đầu trang(
Sau một thời gian tạm lắng, nay người dân lại kéo đến khu vực rừng phòng hộ tại đèo Mang Yang (H. Đăk Pơ) đào bới tìm kiếm gỗ huỳnh đàn.
Trong 2 ngày 20 và 21-12, hàng chục người dân là người đồng bào dân tộc thiểu số tại H. Đăk Pơ chia thành từng tốp trèo lên vách núi đào xới tìm kiếm gỗ quý.
Trước đây, thông tin đã từng rộ lên việc người dân trong lúc đào bới khu vực này đã tìm thấy những khúc gỗ huỳnh đàn và bán với giá cao. Thế nên, khi đơn vị thi công tiến hành san ủi để thi công taluy dương đèo Mang Yang thuộc dự án thi công công trình mở rộng QL19 thì người dân lại bất chấp tính mạng kéo nhau bám dọc sườn dốc tìm kiếm vận may.
Việc đào phá đất rừng tìm huỳnh đàn không chỉ gây nguy cơ sạt lở đất, đá mà còn gây mất trật tự, ảnh hưởng đến việc thi công công trình mở rộng Quốc lộ 19. Tuy nhiên, đến nay chính quyền địa phương vẫn chưa giải quyết dứt điểm vấn đề trên. (Công An TP Đà Nẵng 23/12) đầu trang(
Khoảng 9h00', ngày 21-12, trong khi tuần tra địa bàn quản lý, nhân viên Trung tâm bảo tồn công viên vạn cảnh – Ban Quản lý Vịnh Hạ Long đã bắt giữ một vụ khai thác lâm sản trái phép trên Vịnh Hạ Long.
Tại hiện trường, Đội Kiểm tra, xử lý vi phạm trên Vịnh Hạ Long đã thu giữ được 15 bao gốc cây Phất Dụ núi trên 2 đò máy không biển kiểm soát, chủ đò là Phạm Văn Chiến, trú tại xã Hải Phong, thị xã Quảng Yên.
Hiện 2 đò máy bị tạm giữ tại Bến Đoan (TP Hạ Long) và hồ sơ vi phạm được chuyển cho Đội Cảnh sát Phòng chống tội phạm về môi trường (Công an TP Hạ Long) thụ lý. (Báo Quảng Ninh 21/12) đầu trang(
Các tổ chức nghiên cứu xác định Việt Nam là quốc gia thứ 16 trên thế giới có tính đa dạng về động vật hoang dã quý hiếm.
Việt Nam cũng sớm tham gia vào công ước quốc tế, đồng thời ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là việc sớm quy định hành vi vi phạm bảo vệ động vật, thực vật hoang dã quý hiếm được coi là tội phạm trong Bộ luật Hình sự với mục đích bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm.
Tại hội nghị “Chánh án các nước ASEAN về môi trường…” diễn ra ngày 14/12 tại Hà Nội, theo thống kê của Cục Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), hành vi vi phạm quy định về quản lý và bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm trên cả nước trong 5 năm qua đã xảy ra 5.376 vụ, bình quân mỗi năm xảy ra khoảng 1.095 vụ.
Số động vật rừng hoang dã và động vật rừng nguy cấp, quý hiếm tịch thu từ các vụ vi phạm bị phát hiện trên cả nước trong 5 năm qua khoảng gần 60 nghìn con các loại. Tuy nhiên, số liệu này chưa đầy đủ bởi thực tế còn nhiều vụ buôn bán, vận chuyển trái phép động vật hoang dã chưa bị phát hiện, bắt giữ.
Theo thống kê của Cục Thống kê tội phạm, Viện KSND Tối cao, trong thời gian từ năm 2009 đến 2013, số vụ án được khởi tố điều tra và truy tố về tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục các loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ lên tới con số gần 500 vụ, với gần 750 bị can.
Nói về tình hình tội phạm buôn bán, vận chuyển trái phép động vật hoang dã trái phép, ông Đàm Văn Đạo, Phó Chánh Tòa hành chính, TAND Tối cao cho biết, thực tế qua công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm cho thấy một số vấn đề đáng lưu ý là tình hình buôn lậu, vận chuyển trái phép ngà voi, sừng tê giác đang diễn biến theo xu hướng ngày càng nghiêm trọng, phức tạp. Đối tượng phạm tội rất đa dạng, bao gồm cả người Việt Nam và người nước ngoài.
Điều đáng nói là đối tượng phạm tội thường có vũ khí nóng và rất manh động. Khi bị bắt, đối tượng phạm tội chống trả quyết liệt. Hàng hóa được bọn chúng vận chuyển cả bằng đường bộ, đường thủy, đường hàng không, vận chuyển quá cảnh từ các nước vào Việt Nam để tiêu thụ.
Theo các chuyên gia trong nước và quốc tế thì việc buôn bán động vật hoang dã đã đem lại lợi nhuận khổng lồ, ước tính chỉ sau buôn bán trái phép chất ma túy. Vì thế, việc buôn bán, vận chuyển trái phép động vật hoang dã vẫn là vấn nạn không của riêng quốc gia nào, nhất là những nước có nguồn sinh học đa dạng như ở Việt Nam.
Theo thống kê, tổng doanh thu hàng năm từ buôn bán động vật hoang dã trái phép ở Việt Nam khoảng 66,5 triệu USD. Chính lợi nhuận khổng lồ này đã khiến cho việc chống lại các hoạt động buôn bán bất hợp pháp các động vật hoang dã nguy cấp ở Việt Nam trở nên phức tạp.
Các nghiên cứu ước tính rằng, các vụ tịch thu buôn bán mỗi năm hàng ngàn tấn động vật hoang dã bất hợp pháp chỉ chiếm khoảng 20% trở xuống con số thực tế. Từ đó có thể thấy rằng, mỗi năm hàng ngàn tấn động vật hoang dã và hàng trăm ngàn cá thể bị tiêu thụ trong nước hoặc buôn lậu ra nước ngoài.
Trong những năm qua, chính quyền các cấp và các ngành chức năng dù đã tích cực tuyên truyền giáo dục, tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ động vật hoang dã, quý hiếm nên đã hạn chế nạn buôn bán, săn bắn động vật hoang dã. Tuy nhiên, do sự phối hợp giữa các ngành và các địa phương trong công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực này nên việc bảo vệ động vật hoang dã, quý hiếm còn gặp nhiều khó khăn.
Trước thực tế trên, Thủ tướng Chính phủ đã đề nghị Viện KSND tối cao và TAND tối cao phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra đẩy mạnh công tác điều tra, truy tố, xét xử các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật hình sự trong việc mua bán, vận chuyển trái phép động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm.
Để làm tốt công tác quản lý và ngăn chặn loại tội phạm này, hiện nay Viện KSND tối cao, TAND tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn đang soạn thảo Thông tư liên tịch về “Hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi buôn lậu, vận chuyển, tàng trữ trái phép sừng tê giác, ngà voi” và Thông tư liên tịch này sẽ được ban hành trong thời gian tới để thiết lập các cơ quan quản lý, kiểm soát động vật hoang dã. (Công An Nhân Dân 23/12, tr7) đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Tại khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn huyện K rông Năng diễn ra tình trạng chặt phá, đốn hạ trái phép hàng trăm cây gỗ dổi lâu năm, để khai thác hạt dổi. (Nhân Dân 23/12, tr7) đầu trang(
22.12, ông Vũ Đình Trúc, Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Phước, cho biết cơ quan này đã mua lại 4 con voi rừng của hai hộ dân là ông Điểu Cước, Chủ nhiệm Hợp tác xã Phú Tiến và ông Điểu Nhố (cùng ngụ xã Đắk Nhau, H.Bù Đăng, Bình Phước).
Theo đó, 4 con voi được mua lại với giá 2 tỉ đồng (500 triệu đồng/con), mỗi con nặng khoảng 4 - 5 tấn. Để thuận tiện cho việc nuôi dưỡng, UBND H.Bù Đăng đã chi thêm 15 triệu đồng/tháng để thuê 4 nài voi tập cho voi các động tác cơ bản nhằm phục vụ hoạt động du lịch sinh thái và tuần tra bảo vệ rừng. Các nài voi này đều là người dân tộc S’tiêng từng có kinh nghiệm trong việc thuần hóa voi rừng.
Cũng theo ông Trúc, ngoài 4 con voi vừa mua được thì trên địa bàn tỉnh còn 4 hộ dân tộc S’tiêng ở xã Đắk Nhau đang sở hữu 4 con voi khác. Thời gian qua, các hộ nuôi voi gặp nhiều khó khăn trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng voi nên đã đề nghị nhà nước hỗ trợ kinh phí. (Thanh Niên 23/12) đầu trang(
Nằm giữa những cánh rừng vùng ngoại ô, Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi ở xã An Nhơn Tây (Củ Chi, TPHCM) là chiếc cầu nối giúp cho nhiều loài động vật hoang dã trở về với thiên nhiên sau khi chẳng may bị con người giam giữ vì nhiều lý do khác nhau.
Tại đây, sau khi cứu chữa và huấn luyện những cá thể động vật hoang dã này, những cán bộ, bác sĩ của trung tâm sẽ tiến hành đưa chúng trở lại thế giới hoang dã như Vườn quốc gia Lò Gò Xa Mát hay Cát Tiên...
Ngày nay, nạn săn bắt, vận chuyển và mua bán, nuôi nhốt những loài thú rừng quý hiếm đang diễn biến vô cùng phức tạp và có chiều hướng ngày càng lan rộng. Chính vì thế, nhiệm vụ của những người làm việc ở trung tâm này là rất nặng nề.
Theo anh Lê Xuân Lâm, một nhân viên ở Trung tâm thì mỗi tháng, trung tâm tiếp nhận tới hàng trăm cá thể động vật hoang dã được các chiến sĩ kiểm lâm ở thành phố bắt giữ trong những vụ vận chuyển, mua bán trái phép như tê tê, gấu ngựa, khỉ, vượn, voọc hay một số loài động vật quý hiếm khác. Nhưng hầu hết những loài thú hoang này đều không được thả ngay về rừng bởi sau một thời gian nuôi nhốt, nếu được thả về tự nhiên, chúng sẽ chết vì thiếu thức ăn hoặc vì không thích nghi kịp.
Ngoài ra, những cá thể động vật hoang dã này thường hay phát sinh bệnh bởi phải sống cùng những thợ buôn bán hoặc vết thương do bẫy của thợ săn. Sau khi tiếp nhận những cá thể này, đầu tiên là công tác chữa bệnh, sau đó huấn luyện chúng quen với môi trường hoang dã trở lại trước khi đưa chúng về với môi trường sống vốn dĩ của mình. Tưởng rằng đó là công việc đơn giản nhưng theo anh Lâm thì lại vô cùng phức tạp.
Ví như trường hợp những cá thể khỉ và tê tê thu hồi từ một nhà hàng bên Bình Chánh, khi giải cứu được chúng cũng là lúc chúng kiệt sức vì bệnh tật và thuốc mê mà con người chuốc. Ngay trong đêm đó, anh em trong trung tâm phải thức cả đêm để cứu chữa, duy trì sự sống cho chúng. Sau hơn một tháng, chúng đã dần hồi phục và được làm thủ tục để giao trả lại thế giới tự nhiên.
Ở đây, do đặc thù công việc, hầu hết anh em trong trung tâm đều xác định sẵn tư tưởng sống cùng thú hoang. Nghĩa là bất kể ngày đêm, mưa nắng nếu có thú rừng được đưa về là mọi người phải lập tức bắt tay vào công việc bởi nếu chậm trễ, chúng sẽ chết và công sức của những anh em kiểm lâm cũng trở thành vô ích.
Nhưng có cái tâm thôi cũng chưa đủ bởi chữa bệnh cho thú rừng là hết sức khó khăn, không đơn giản vì chúng không dễ gần gũi, khám chữa như thú nuôi nhà. Như cách đây chừng một tháng, có người dân tự nguyện giao nộp một cá thể gấu chó nuôi trong nhà cho trung tâm.
Mặc dù con gấu chó này khá khỏe mạnh và béo tốt, nặng tới gần 30 ký lô nhưng lại không thể thả nó về rừng được bởi nó quen sống trong chuồng từ bé, ngày nào cũng được cho thức ăn, giờ về với rừng nó chắc chắn sẽ không biết cách kiếm mồi, săn bắt để thích nghi chứ đừng nói tới việc lẩn trốn kẻ thù hay thợ săn. Thế là công việc của anh em lại bắt đầu với những bài tập cho cá thể gấu chó này tự tìm kiếm thức ăn, tự lẩn tránh kẻ thù.
Đây là công việc cần nhiều thời gian và sự kiên nhẫn, tận tâm của người huấn luyện. Thế nhưng đến tận bây giờ, theo đánh giá, cá thể gấu chó này vẫn chưa tự sống được và có thể, phải sau Tết, trung tâm mới bàn giao nó lại cho Vườn quốc gia Lò Gò Xa Mát. Những cá thể thú rừng này, mỗi lần đưa chúng về lại tự nhiên, mọi người đều mong chúng sống, thích nghi và phát triển được.
Theo tìm hiểu, Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã này được thành lập bởi Chi cục kiểm lâm TPHCM kết hợp tổ chức phi chính phủ mang tên WAR với mục đích cứu chữa, bảo vệ những loài động vật hoang dã đang bị con người bắt giữ và trả chúng về với thế giới tự nhiên. Được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2006 đến nay, trung tâm đã giúp hàng ngàn cá thể động vật hoang dã tìm lại được cuộc sống thực sự của mình.
Và đây cũng là trung tâm duy nhất có chức năng này ở khu vực phía Nam nên nhiệm vụ của trung tâm là không chỉ tiếp nhận những loài động vật hoang dã trên địa bàn thành phố mà ngay cả những vụ vận chuyển động vật hoang dã khác ở các tỉnh lân cận khi bị kiểm lâm thu giữ cũng được đưa về đây.
Ngoài ra, theo ông Nguyễn Đình Cương, Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm thành phố thì mỗi năm, trung tâm cứu hộ đón nhận và cứu chữa hàng ngàn cá thể động vật hoang dã được thu giữ từ những vụ vận chuyển buôn bán trái phép trên địa bàn thành phố và một số nơi khác.
Ngày nay, ngoài việc cứu chữa cho thú hoang, trung tâm còn mở rộng, đón nhận một số đoàn tham quan của địa phương và thành phố có sở thích tìm hiểu về thú rừng bởi ngoài việc thả về tự nhiên, nơi đây còn rất nhiều cá thể thú rừng mãi mãi không thể trở về đời sống hoang dã được nữa. Đó chính là một số sinh vật nhập cảnh trái phép, một số loài thú cần chăm sóc đặc biệt hoặc những cá thể thú bị thương tật khi mắc bẫy, khi sống cùng con người.
Chúng được trung tâm giữ lại, chăm sóc và được nuôi bán hoang dã. Có thể nói, tất cả những anh em đang làm việc ở đây luôn cố gắng hết sức mình vì một màu xanh và sự đa dạng của hệ sinh thái tự nhiên, nhằm giảm bớt nạn săn bắt thú rừng đang ngày một gia tăng. (Giáo Dục & Thời Đại 22/12, tr20) đầu trang(
Liên quan đến vụ hàng trăm con rắn các loại bò trên tuyến quốc lộ 1 khiến người đi đường một phen hoảng loạn, ngày 22-12, Hội đồng tiêu hủy của huyện Thống Nhất đã tiến hành tiêu hủy toàn bộ 5kg rắn các loại mà lực lượng chức năng giết chết, thu gom được trước đó.
Theo lãnh đạo Hạt Kiểm lâm liên huyện Thống Nhất - Trảng Bom, qua kiểm tra xác minh số rắn trên là các loại rắn thông thường không gây nguy hiểm cho con người (gồm rắn bông súng, rắn ri và rắn nước).
Như đã thông tin, vào khoảng 16 giờ 40 ngày 20-12, ở đoạn qua km1828 trên tuyến quốc lộ 1 thuộc địa bàn ấp Trần Hưng Đạo (xã Xuân Thạnh), một số người dân thấy 3 người đàn ông đi xe du lịch loại 7 chỗ ngồi không rõ biển số dừng lại bên vệ đường, sau đó đưa 3 bao cước màu xanh xuống làm nhiều động tác khác thường rồi lên xe bỏ chạy. Một lúc sau người tham gia giao thông chứng kiến cảnh hàng trăm con rắn các loại bò vào lô cao su. (Báo Đồng Nai 23/12) đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai, toàn tỉnh có khoảng 237 cơ sở nuôi cá sấu với tổng đàn hơn 109 ngàn con.
Cá sấu được nuôi nhiều ở xã Phú Ngọc (huyện Định Quán), còn lại nằm rải rác tại các huyện, TX.Long Khánh và TP.Biên Hòa. Đây là loài động vật hoang dã nguy hiểm nên khi muốn nuôi các hộ phải kê khai với hạt kiểm lâm địa phương.
Gần 2 năm nay, mỗi con cá sấu sau 2 năm nuôi cho lợi nhuận từ 1,4-2 triệu đồng, khiến nhiều hộ ở khu vực ven sông La Ngà đã cải tạo, đầu tư chuồng trại để nuôi. Do cá sấu đòi hỏi vốn đầu tư cao nên nhiều cơ sở chỉ nuôi chừng vài chục đến 100 con.
Anh Lê Minh Hùng, ấp 2 xã Phú Ngọc (huyện Định Quán), cho hay: “Tôi nuôi cá sấu được 6 năm. Trước đây, giá cá sấu gần 100 ngàn đồng/kg, tôi chỉ nuôi 70-80 con, nhưng gần 2 năm nay giá cá sấu lên trên 200 ngàn đồng/kg, nên tôi tăng đàn lên gấp 3 lần”.
Chuồng nuôi cá sấu của anh Hùng là tường gạch xi măng dày 10cm, cao khoảng 1m, phía trên có quây lưới và đặt ở khu vực sát sông. Khi được hỏi chuồng trại đặt sát sông như vậy, nếu xảy ra thiên tai, tường rào đổ cá sấu sổng thì sao, anh Hùng trả lời khá hồn nhiên là nhiều năm nay anh nuôi không bị thiên tai nên không có gì phải lo lắng. Còn nếu không may cá sấu sổng chuồng, những người dân đánh bắt cá bằng xung điện sẽ săn lùng, vì mỗi con cá sấu có trọng lượng 20-30kg có giá 4,2-5,2 triệu đồng.
Ông Đào Văn Khôi ở khu 8, ấp 1, xã Phú Ngọc, khẳng định: “Chuyện cá sấu sổng chuồng ra sông La Ngà, hồ Trị An năm nào cũng có. Nhưng hầu hết các cơ sở nuôi đều tự bắt lại chứ không báo với chính quyền hay lực lượng kiểm lâm”.
Cũng theo ông Khôi, cá sấu lớn sổng chuồng không lo bằng cá sấu nhỏ. Vì những con lớn sau một thời gian bị nuôi nhốt theo dạng công nghiệp đã được thuần hóa, khi thoát ra sông thường nổi trên mặt nước rất dễ phát hiện để bắt lại. Còn cá sấu nhỏ thoát ra sông, hồ thường khó phát hiện, sẽ dần thích nghi với điều kiện tự nhiên, sau 1-2 năm sẽ trở thành cá sấu lớn rất nguy hiểm.
“Trước khi thả nuôi cá sấu, các cơ sở phải đăng ký với chi cục hoặc hạt kiểm lâm địa phương. Sau khi kiểm tra thấy chuồng trại đủ điều kiện kiểm lâm mới cấp phép. Những hộ nuôi lén lút không kê khai, nếu phát hiện sẽ bị xử lý rất nặng” - ông Lê Việt Dũng, Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, cho biết.
Ông Dũng chia sẻ thêm, các cơ sở nuôi lớn thường đầu tư chuồng trại kiên cố nên không lo cá sấu sổng ra ngoài. Chỉ lo những cơ sở nhỏ lẻ tự phát nuôi vài con, hầu hết là cải tạo lại chuồng heo cũ để nuôi. Khảo sát một số trại nuôi cá sấu ven sông La Ngà, hồ Trị An cho thấy rất nhiều chuồng xây sát mép nước.
Với thời tiết bình thường thì không sao, nhưng khi xảy ra dông, lốc, bão, không ai dám chắc những bức tường kia có trụ nổi hay không. Hai năm trước, người dân khu vực Long Thành, Biên Hòa đã một phen nhốn nháo vì mưa lũ cuốn sập tường của trại cá sấu làm gần 10 con cá sấu lớn thoát ra sông Buông.
Ông Nguyễn Hữu Tường, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Định Quán, cho biết: “Hiện nay, Định Quán có khoảng 140 cơ sở nuôi cá sấu với tổng đàn 90 ngàn con, tập trung nhiều khu vực ven sông, hồ thuộc các xã Phú Ngọc, La Ngà. Để đảm bảo an toàn, kiểm lâm thường phối hợp với các xã kiểm tra những cơ sở nuôi, trường hợp thấy chuồng trại xuống cấp đều nhắc nhở gia cố lại cho đảm bảo”. (Báo Đồng Nai 23/12) đầu trang(
Nhằm chủ động nâng cao hiệu quả trong công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng và cây lâm nghiệp trồng phân tán trên địa bàn TPHCM trong mùa khô năm 2014 -2015, UBND TP vừa yêu cầu Chủ tịch UBND các quận - huyện nơi có rừng, tăng cường bảo vệ và phát triển rừng; tiếp tục tổ chức phát động phong trào quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng và chỉ đạo các đơn vị quản lý rừng đẩy mạnh công tác xúc tiến khoanh nuôi tái sinh rừng; theo dõi kiểm tra việc thực hiện các quy định về khoán bảo vệ rừng.
Theo đó, TP yêu cầu UBND huyện Cần Giờ chỉ đạo các cơ quan liên quan tăng cường các biện pháp ngăn chặn hành vi chặt phá rừng, đào bắt địa sâm (đồn đột) trái phép; tăng cường quản lý các hoạt động nuôi thủy sản, sản xuất muối trong phạm vi rừng phòng hộ tránh ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây rừng.
UBND các huyện Bình Chánh, Củ Chi, Hóc Môn và quận 9 tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong cộng đồng dân cư nâng cao ý thức tự bảo vệ tài sản và thành quả sản xuất của mình, chủ động thực hiện các biện pháp phát dọn cỏ dại quanh nhà, quanh khu vực sản xuất để phòng chống cháy lan...
Ngoài ra, TP cũng yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm và Chi cục Lâm nghiệp thường xuyên tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, quản lý lâm sản và bảo vệ động vật hoang dã; về an toàn phòng cháy, chữa cháy rừng và thông tin dự báo cấp nguy cơ cháy rừng để mọi người biết và chủ động đề phòng. (Sài Gòn Giải Phóng 22/12, tr8) đầu trang(
Ban chỉ đạo công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết công tác giao đất, giao rừng; công tác bảo vệ rừng và PCCCR năm 2014, đồng thời triển khai nhiệm vụ năm 2015.
Ông Nguyễn Hữu Hải - Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, Trưởng Ban chỉ đạo công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tỉnh chủ trì hội nghị.
Theo báo cáo, đến nay, tỉnh đã triển khai thực hiện công tác giao đất, giao rừng với tổng diện tích 73.417,1ha cho 5.798 hộ gia đình và 23 cộng đồng thôn, làng. Về công tác quản lý bảo vệ rừng, PCCCR, trong năm 2014 phát hiện 588 vụ vi phạm, có 59,71ha rừng bị thiệt hại, giảm 357 vụ và giảm 23,07ha rừng so với năm 2013; tình hình cháy rừng mùa khô 213-2014 xảy ra 7 vụ, mức độ thiệt hại ít, chủ yếu là cháy cỏ tranh, lau lách, cây bụi dưới tán rừng.
Tuy nhiên, các chính sách cho người dân hưởng lợi từ công tác nhận quản lý bảo vệ rừng còn quá thấp không phù hợp với tình hình hiện nay; chưa khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào trồng rừng…
Phát biểu kết luận hội nghị, ông Nguyễn Hữu Hải biểu dương sự nỗ lực của các cấp, các ngành trong công tác giao đất, giao rừng, quản lý bảo vệ rừng, PCCCR năm 2014.
Để làm tốt công tác quản lý bảo vệ rừng năm 2015, đồng chí yêu cầu các đơn vị, địa phương rà soát công tác giao đất, giao rừng, giao đúng người, đúng đối tượng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao ý thức bảo vệ rừng, PCCCR trong từng cộng đồng dân cư; thực hiện tốt các nhiệm vụ cấp bách bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường tổ chức các đoàn kiểm tra về công tác quản lý bảo vệ rừng, PCCCR để kịp thời chấn chỉnh, đôn đốc thực hiện nghiêm túc các quy định của Nhà nước về công tác quản lý bảo vệ rừng, PCCCR.
Đồng thời triển khai phương án quản lý, bảo vệ rừng giai đoạn 2015-2020; giải quyết đất chồng lấn, lấn chiếm; thực hiện Đề án chuyển đổi cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với sắp xếp, đổi mới hoạt động các lâm trường quốc doanh. (Báo Kon Tum 21/12) đầu trang(
Những năm qua, cấp ủy, chính quyền các cấp và ngành Nông nghiệp đã triển khai nhiều biện pháp về quản lý, bảo vệ rừng nên diện tích rừng hiện có cơ bản được bảo vệ, phát triển tốt, góp phần đưa độ che phủ của rừng toàn tỉnh đạt 54,6%.
Tuy nhiên, để đảm bảo tính bền vững cho hiệu quả thực hiện công tác trên, cần tập trung giải quyết tốt các mâu thuẫn và bất cập nảy sinh…
Qua thực tế tìm hiểu thực địa và trao đổi với ông Dương Ngọc Hùng, Giám đốc Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, mới biết cuộc chiến bảo vệ rừng ở đây nhiều phức tạp, khó khăn.
Toàn khu có trên 40 ngàn ha chủ yếu rừng nguyên sinh, giàu trữ lượng, nhiều loại gỗ quý hiếm, lại nằm trên địa bàn 5 huyện vùng cao; xung quanh vùng lõi có tới hàng chục vạn dân thuộc vùng đệm phần lớn còn nghèo và cuộc sống thường nhật chủ yếu dựa vào nghề khai thác lâm sản; trong khi đó, lực lượng của đơn vị rất mỏng (chỉ có 40 người, mới đảm bảo được 46% so với yêu cầu của đề án bố trí việc làm). Thực tế ấy đặt ra áp lực lớn trong bảo vệ rừng, nếu không có quyết tâm cao và cách làm tốt thì rất khó hoàn tốt nhiệm vụ.
Nhận rõ những thách thức đó, thời gian qua, nhất là năm 2014, Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống đã bố trí lại lực lượng, triển khai nhiều biện pháp tích cực. Bên cạnh phân công, bố trí cán bộ phụ trách địa bàn và phối hợp các lực lượng (công an, kiểm lâm, quân sự) tuần tra ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng, đơn vị đã thực hiện giao khoán bảo vệ rừng cho các hộ dân vùng đệm gắn với thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, triển khai Chương trình 30a của Chính phủ và Quyết định 59 của UBND tỉnh về chính sách hỗ trợ bảo vệ rừng.
Kết quả đã thu hút được hàng nghìn hộ thuộc 5 huyện vùng đệm của khu bảo tồn tham gia nhận khoán bảo vệ rừng; một số điểm nóng khai thác lâm sản trái phép ở Bình Chuẩn (Con Cuông), Nam Sơn (Quỳ Hợp), Diên Lãm, Châu Hoàn (Quỳ Châu) đã được khống chế, nạn cháy rừng không còn xảy ra, tình trạng phát rừng làm nương giảm hẳn, số vụ vi phạm lâm luật giảm 34% so với năm 2013.
Không chỉ ở Khu Bảo tồn Pù Huống, các đơn vị được giao quản lý diện tích rừng đặc dụng, phòng hộ tự nhiên trên địa bàn đều có những nỗ lực cao. Tại Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Quỳ Hợp, diện tích rừng được giao quản lý hơn 6.300 ha, lại nằm rải rác 7 xã vùng sâu, vùng xa, tiếp giáp với 4 huyện trong khi quân số của ban chỉ có 24 người (9 người tự trang trải), việc quản lý bảo vệ cũng rất nan giải.
Ban đã chủ động triển khai 2 dự án (bảo vệ rừng bền vững và bảo vệ rừng phòng hộ) theo hướng ở những nơi rừng gần khu dân cư giao khoán cho hộ gia đình, còn những vùng rừng trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, đi lại cách trở thì do lực lượng bảo vệ rừng của ban đảm nhận.
Việc giao khoán cho hộ được thực hiện dân chủ công khai, không cào bằng mà ưu tiên những hộ nghèo, diện chính sách, có lao động, nhiệt tình tích cực, gia đình nhiều lao động thì được nhận nhiều hơn song không quá 15 ha/hộ. Cùng với đó, ban đã phối hợp triển khai phương án phòng cháy, chữa cháy, chống chặt phá, xây dựng thực hiện quy chế phối hợp với các xã, hạt kiểm lâm trong công tác bảo vệ rừng; chủ động tổ chức kiểm tra chéo giữa các cụm trạm.
Đặc biệt, ban cùng với chính quyền 6 xã tổ chức 12 buổi tuyên truyền, tập huấn, ký cam kết với 100% hộ dân trong vùng dự án thực hiện nghiêm các quy định về phòng cháy, chữa cháy... Nhờ đó, rừng được bảo vệ ổn định không để xảy ra các vụ cháy rừng nguy hiểm và các vụ chặt phá rừng trái phép. Năm 2014, đã chủ động phối hợp với Hạt Kiểm lâm Pù Huống thu giữ 2 cưa xăng, 10m3 gỗ khai thác trái phép trên đất giao khoán 163.
Ở Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Con Cuông cũng có nhiều các làm hay. Công ty đã tiến hành giao khoán 100% diện tích rừng cho hộ và đội trạm bảo vệ, khoanh nuôi; phối hợp với UBND các xã, hạt kiểm lâm, đồn biên phòng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tuần tra rừng; lập đường dây nóng sớm nắm bắt thông tin xử lý kịp thời các hành vi xâm hại rừng.
Trong năm công ty đã tổ chức hơn 400 lượt tuần tra bảo vệ rừng, đẩy đuổi xử lý 24 đối tượng xâm hại rừng tự nhiên, phát quang duy trì 54 km đường ranh giới. Điều phấn khởi, hiện trên địa bàn không còn lâm tặc, đầu nậu gỗ, nạn cháy rừng đã đẩy lùi, diện tích rừng quản lý, bảo vệ phát triển tốt.
Theo ông Đặng Xuân Minh - Chi cục trưởng Chi cục Phát triển lâm nghiệp tỉnh: “Công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn đang được thực hiện theo hướng xã hội hóa, đã huy động được động đảo các tổ chức, cá nhân tham gia nên có bước chuyển biến khá”.
Được biết, năm 2014 cấp uỷ, chính quyền các cấp và ngành Nông nghiệp đã có sự quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn, các chủ rừng đã chủ động triển khai các biện pháp bảo vệ rừng tương đối đồng bộ và đem lại kết quả khá tốt.
Ngoài thực hiện các biện pháp về tuyên truyền nâng cao nhận thức, tuần tra, kiểm tra, truy quét, đẩy đuổi… các chủ rừng đã cơ bản làm tốt công tác khoán quản đưa 100% diện tích rừng phòng hộ, đặc dụng và rừng sản xuất có chủ cụ thể quản lý; đồng thời các chủ rừng đã sử dụng các nguồn vốn như: Kinh phí sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp 30a, Quyết định 1606 và Quyết định 59 của UBND tỉnh, Quỹ Chi trả dịch vụ môi trường rừng và nguồn vốn Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng để chi trả công bảo vệ cho người nhận khoán, đúng chế độ quy định và đối tượng, tạo động lực khuyến khích người nhận khoán tích cực tham gia công tác bảo vệ, phòng, chống chữa cháy rừng.
Năm 2014, toàn tỉnh đã huy động trên 94,6 tỷ đồng vào chi trả quản lý bảo vệ rừng, bình quân mỗi ha rừng bảo vệ được chi trả 200 ngàn đồng/năm. Hoạt động của lực lượng kiểm lâm cũng tích cực và hiệu quả hơn. Ngoài phát huy được vai trò tham mưu cho chính quyền tăng cường quản lý bảo vệ rừng tận gốc, đẩy mạnh công tác phòng cháy, chữa cháy, chống chặt phá, lực lượng kiểm lâm đã siết chặt công tác kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm.
11 tháng phát hiện xử 856 vụ vi phạm lâm luật, giảm 285 vụ so với cùng kỳ năm ngoái; tịch thu 1.931,75m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách nhà nước trên 4,8 tỷ đồng… Nhờ vậy công tác quản lý, bảo vệ rừng năm qua đã có nhiều chuyển biến tiến bộ, gần 900.000 ha rừng hiện có trên địa bàn cơ bản được bảo vệ tốt và phục hồi nhanh.
Mặc dù vậy, công tác quản lý rừng hiện còn một số bất cập như: Công tác bảo vệ rừng chưa bền vững, vẫn còn xảy ra nạn khai thác lâm sản, phát rừng làm rẫy trái phép. Đặc biệt một số địa bàn tình trạng cháy rừng xảy ra nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn về tài nguyên và môi trường rừng.
Ví như tại địa bàn Nam Đàn trong năm 2014 đã để xảy ra hàng chục vụ cháy rừng thông đặc dụng, phòng hộ, diện tích thiệt hại lên tới hàng trăm ha. Hoặc tại Cắm Muộn, Thông Thụ (Quế Phong), Lưu Kiền, (Tương Dương)… nạn khai thác lâm sản trái phép chưa được ngăn chặn.
Nguyên nhân chủ yếu là một số chủ rừng chưa làm hết trách nhiệm, công tác khoán quản chưa tốt, rừng chưa được giao khoán tận hộ, cá biệt một số chủ rừng xã thực hiện đấu thầu gây mâu thuẫn và tạo hành vi phá hoại, vi phạm pháp luật. Đối với chính sách của Nhà nước chưa đáp ứng, mức đầu tư hỗ trợ 200 ngàn đồng/ha/năm là quá thấp chưa đủ đề tái tạo sức lao động cho người lao động nhận khoán và diện tích được hỗ trợ còn ít so với diện tích rừng hiện có.
Hiện nguồn vốn Nhà nước mới hỗ trợ 38% diện tích giao quản lý và vốn về rất chậm nên hầu hết các chủ rừng đang trong tình trạng “giật gấu, vá vai”. Rồi trên cùng địa bàn triển khai nhiều dự án với nhiều nguồn vốn của nhiều đầu mối quản lý và các dự án triển khai chậm nên không ít chủ rừng không đảm bảo nguồn chi trả tiền lương cho nhân lực bảo vệ rừng, nhất là bộ phận tự trang trải.
Ví như ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống thực hiện chương trình bảo vệ rừng 30a của Chính phủ và Quyết định 59 của UBND tỉnh phải làm việc tới 5 huyện, không chỉ phức tạp mất nhiều thời gian, mà chủ đầu tư là các huyện cũng không dễ dàng trong kiểm tra nghiệm thu, giám sát chất lượng bảo vệ rừng.
Ông Nguyễn Đức Sơn - Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Con Cuông cho biết: “Mấy năm nay đóng cửa rừng cấm khai thác, nguồn thu từ rừng tự nhiên không có; nguồn thu từ rừng trồng nguyên liệu theo phương thức làm giàu (trồng xen) nên mới đủ chi phí không có lãi; các khoản thu từ dịch vụ kinh doanh, chế biến không đang kể nên đơn vị phải “thắt lưng buộc bụng” mới có tiền giữ 4.500 ha rừng tự nhiên và rừng sản xuất. Nếu thời gian tới tỉnh không có chính sách hỗ trợ kinh phí bảo vệ rừng sản xuất tự nhiên… đơn vị khó hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ rừng”.
Có thể nói còn nhiều vấn đề đặt ra từ công tác khoán quản đến chính sách đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước đối với người dân và lực lượng chuyên trách, bán chuyên trách bảo vệ rừng ở các đơn vị địa phương cần tiếp tục được nghiên cứu và sớm có biện pháp hữu hiệu; đi liền với đó là cần tạo việc làm cho người dân miền núi, giảm áp lực dựa vào rừng mưu sinh thì mới đảm bảo cho việc quản lý bảo vệ rừng bền vững. (Báo Nghệ An 22/12) đầu trang(
Sáng 22/12, UBND xã Nghĩa Kỳ và Gia tộc họ Võ – Vũ tổ chức lễ đón nhận bằng công nhận cây di sản Việt Nam từ Hội Bảo vệ thiên nhiên môi trường Việt Nam đối với cây trôm lá bạc (tên thường gọi là cây ư) tại xóm Bàu Lát, thôn An Hội Bắc 2, xã Nghĩa Kỳ, huyện Tư Nghĩa.
Toạ lạc ở góc vườn phía bắc Khu di tích đền thờ Tiền hiền Võ Văn Đương, cây ư thuộc loại chi trôm, có tên khoa học là Sterculia Sp, đến nay đã 230 tuổi. Cây ư có chiều cao khoảng 15m, chu vi thân xấp xỉ 3m, đường kính gốc hơn 1,1m, tán rộng khoảng hơn 300m2. Là cây bản địa, chịu hạn rất tốt, có vỏ nứt nhẹ màu xám nhạt, hoa màu đỏ, quả màu đỏ tím, có lông, hạt màu đen.
Trải biết bao thăng trầm của lịch sử, hiện cây ư là cây di sản Việt Nam đầu tiên trên địa bàn huyện Tư Nghĩa, là chứng nhân lịch sử, biểu tượng hào hùng về sức sống mãnh liệt và là niềm tự hào của người dân An Hội – Nghĩa Kỳ. (Báo Quảng Ngãi 22/12; Thanh Niên 23/12, tr2) đầu trang(
Mùa khô năm 2013-2014 trên địa bàn huyện Tam Đảo xảy ra 14 vụ cháy rừng với tổng diện tích cháy 26,36 ha, chủ yếu là cháy dưới tán và cháy thực bì, trong đó: Xã Minh Quang xẩy ra 9 vụ, Đạo Trù 1 vụ, Đại đình 3, Tam Quan 1 vụ.
So với mùa khô năm 2012-2013 (xảy ra 5 vụ, diện tích thiệt hại 2,6 ha) số lần xuất hiện lửa rừng tăng 200%; diện tích cháy tăng 7 lần; diện tích thiệt hại tăng 4 lần.
Nguyên nhân của các vụ cháy chủ yếu: Do người dân sử dụng lửa bất cẩn khi đốt nương làm rẫy, hun lửa bắt ong; đốt trảng cỏ để cỏ non mọc làm nơi chăn thả gia súc; đốt thực bì, cỏ khô, rơm rạ gần rừng gây cháy, mâu thuẫn tiềm ẩn giữa các cá nhân dẫn đến hành vi đốt rừng… Xử lý các vi phạm về cháy rừng gặp nhiều khó khăn do không tìm ra thủ phạm gây cháy rừng.
Để tăng cường phòng chống cháy rừng thời gian tới huyện Tam Đảo sẽ tiếp tục đẩy mạnh phổ biến, tuyên truyền pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng tới mọi tầng lớp nhân dân, tổ chức các lớp tập huấn, tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân sống gần rừng, chỉ đạo UBND các xã, thị trấn, chủ rừng trên địa bàn xây dựng và triển khai phương án, kế hoạch BVR-PCCCR; tăng cường tuần tra, kiểm soát phòng chống cháy rừng; xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm các quy định của Nhà nước về phòng chống cháy rừng. (Báo Vĩnh Phúc 22/12) đầu trang(
Hiện nay, mỗi tuần Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh Long An tiếp nhận từ 4-5 bệnh nhân bị rắn lục đuôi đỏ cắn. Theo thống kê của Bệnh viện, trong vòng 6 tháng trở lại đây, tình trạng rắn lục đuôi đỏ cắn xảy ra tương đối thường xuyên.
Theo đó, bệnh viện tiếp nhận khoảng 165 trường hợp là rắn cắn, trong đó có gần 80 trường hợp bị rắn lục đuôi đỏ. Hầu hết, bệnh nhân tập trung ở các huyện Bến Lức, Tân Trụ, Đức Hòa.
Bác sỹ Trang Văn Dương, Chuyên khoa Hồi sức tích cực và chống độc, Bệnh viện đa khoa Long An cho biết khi bị cắn, vấn đề quan tâm chính là sơ cứu ban đầu và điều trị chuyên sâu. Sơ cứu ban đầu là bất động chi và đưa đến cơ sở y tế có điều kiện, có huyết thanh kháng nọc rắn.
Một số bà con có thói quen khi bị rắn cắn, biết đó là rắn độc thì dùng ga gô siết tứ chi chặt để quan niệm máu không chạy về tim. Đó là một số quan niệm sai lầm, vì nọc rắn về tim theo đường bạch huyết chứ không phải đường máu. (Đại Đoàn Kết 23/12, tr2) đầu trang(
Bếp lửa, rượu cần, cơm lam, canh thụt... đã gắn liền với đời sống đồng bào Xêtiêng từ bao đời nay. Rừng đã bao bọc, chở che, đem lại nguồn sống, vì vậy họ đau lòng khi hàng ngày chứng kiến rừng “chảy máu”.
Năm 2005, một số đồng bào DTTS ở xã Phú Sơn (Bù Đăng) đã thành lập Hợp tác xã Phú Tiến để giữ rừng. Năm 2006, HTX được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao khoán 201,5 ha rừng phòng hộ Đồng Nai (các tiểu khu 185, 187); trong đó, trồng mới 90 ha cao su, diện tích còn lại quản lý, bảo vệ, trồng rừng. 10 năm qua, không chỉ nỗ lực gìn giữ màu xanh của rừng mà nhiều hộ thành viên HTX đã vươn lên làm giàu.
Qua hết vườn cao su của nông trường, con đường dẫn vào rừng có nhiều hố sâu, sình lầy, người dẫn đường lái xe vượt qua như diễn xiếc.
Ông Điểu Cước, Chủ nhiệm HTX Phú Tiến nói: “San, ủi đường, rải thảm sỏi đỏ không khó nhưng làm đường đẹp sẽ tiếp tay cho lâm tặc”. Rừng nơi đây vẫn giữ được hệ sinh thái đa dạng, nhiều tầng. Các cây cổ thụ sừng sững là niềm hạnh phúc, tự hào của những người yêu rừng. Vì nặng lòng với rừng nên lâm tặc “thèm” rừng lắm cũng không thể ra tay trước sự bảo vệ của dân làng. Trên những tán cây, dây leo quấn quanh, sóc thi nhau chuyền cành. Bên dưới là bao nhiêu cây thuốc nam, nhíp, bụi mây, những đám lá trung quân xào xạc trong gió.
Gặp anh Điểu Dít, nhà ở thôn Sơn Tân, xã Phú Sơn là thành viên HTX Phú Tiến đang tuần tra bảo vệ rừng. Lưng anh Dít buộc một con dao nhỏ và cây rựa bên người. Ngồi nghỉ tại chỗ, thưởng thức chuối rừng ngọt lịm, mùi thơm rất lạ do anh Dít mời.
Ông Cước nói: “Thưởng thức chuối rừng phải ăn cả hạt mới cảm nhận hết vị ngon và còn có tác dụng chữa bệnh đường ruột”. Hành trang của anh Dít là chiếc túi thổ cẩm quàng trên vai, trong túi có một chai nước và lá nhíp. Anh Dít vui vẻ: “Mình ăn rau rừng mới thấy ngọt miệng, không dám ăn rau ngoài chợ sợ thuốc hóa học. Hoa chuối mình luộc, còn lá nhíp nấu canh thụt”. Anh Dít tiếp tục việc đang làm, phát đám cỏ dại um tùm giữa rừng và ranh đất vườn cao su của người dân để chống cháy.
Ông Điểu Cước cho biết: “Điểu Dít là một trong 4 thành viên nuôi voi của HTX. Không riêng Điểu Dít, nhiều thành viên của HTX tuy không hưởng lương giữ rừng, làm các việc như cạo mủ cao su, chăm sóc vườn cây... vẫn thường xuyên lên rừng phát cỏ chống cháy, trông coi, bảo vệ rừng. Cuộc sống đồng bào Xêtiêng không thể thiếu sản vật của rừng, từ cây mây, đến nắm rau, con cá, cái gùi... nên tôi kể để con cháu tiếp nối giữ rừng cho bằng được”.
HTX Phú Tiến hiện có 27 thành viên, 100% là đồng bào Xêtiêng, trong đó 4 thành viên giữ rừng, còn lại là sản xuất, nuôi voi... Hoạt động hiệu quả, các thành viên vừa có lương ổn định từ 3 đến 6 triệu đồng/người/tháng, vừa được HTX hỗ trợ nhiều dịch vụ để phát triển kinh tế hộ. HTX còn cung cấp phân bón, thuốc bảo vệ thực vật chất lượng với giá bằng đại lý cho đồng bào DTTS trong vùng, thu hoạch xong mùa vụ mới phải trả tiền.
Chị Thị Ngoan ở thôn Sơn Tân, xã Phú Sơn cho biết: Tôi tham gia HTX Phú Tiến từ năm 2005. Với nhiệm vụ thu hoạch mủ cao su, chăm sóc vườn cây cho HTX, thu nhập 4,5 triệu đồng/tháng nên cuộc sống gia đình tôi khá ổn định. Hiện tôi đã dành dụm xây nhà, mua xe máy, con cái được đi học, không phải đi mót điều, mót mì như trước.
Anh Điểu Khiêm cùng thôn, thành viên giữ rừng nói: Từ khi vào HTX không lúc nào chúng tôi thiếu việc làm. Chủ nhiệm HTX còn hướng dẫn tôi trồng xen cà phê vào 5 ha điều, chăm sóc đúng kỹ thuật nên vườn điều năng suất cao hơn hẳn. Các thành viên trong HTX còn đổi công cho nhau khi bón phân, lúc thu hoạch mùa nên không lo trộm cắp.
Gần nơi thu hoạch mủ cao su có một căn nhà nhỏ đang xây dở, ông Điểu Cước cho biết: “Nhà để những người giữ rừng ở lại. Đồng bào Xêtiêng thích ở nhà sàn nhưng mình phải xây vừa đảm bảo độ bền vừa để tuyên truyền người dân trong vùng không chặt phá cây rừng làm nhà”. Ông Cước cho biết thêm: Năm 2015, tôi dự định trồng thêm 4.000 cây giáng hương thành rừng để con cháu sau này được hưởng. (Báo Bình Phước 22/12) đầu trang(
Khi người dân biết xem rừng là “lá phổi xanh”, biết ý thức và thấm thía lời răn dạy của các bậc tiền nhân “ăn của rừng, rưng rưng nước mắt”, họ đã một lòng một dạ chung tay giữ rừng.
Nhưng để giữ được hàng trăm cây gỗ quý, có tuổi thọ trăm năm là một quá trình khá gian lao, vất vả. Nếu đời sống còn khó khăn, người dân chưa thật sự ý thức việc bảo vệ, không hiểu được những giá trị của rừng mang đến thì thật khó đảm bảo cho những cánh rừng nguyên sinh tồn tại.
Trong chuyến công tác tại huyện vùng cao Hướng Hóa, người viết đã bị cuốn hút bởi câu chuyện về kỳ tích giữ rừng của bà con Vân Kiều ở bản Cheng, Mã Lai (xã Hướng Phùng) – một địa phương nằm trên miền biên viễn tỉnh Quảng Trị.
Với giọng điệu kể đầy tự hào, Chủ tịch UBND xã Hướng Phùng, ông Thái Văn Vang nói: “Rừng ở bản Cheng, Mã Lai được xem là “lá phổi xanh” của cả xã. Người dân các bản này giữ rừng nghiêm ngặt lắm, việc bảo vệ rừng là nhiệm vụ quan trọng nhất, được đưa vào quy ước của bản”.
Được tận mắt chiêm ngưỡng những cây gỗ cổ thụ, có đường kính to khoảng 2-3 người ôm tại khu rừng thiêng thuộc bản Mã Lai, thật sự khâm phục về kỳ tích giữ rừng của bà con Vân Kiều nơi đây. Chợt nhớ lại câu nói của ông Vang, Chủ tịch xã Hướng Phùng: “Nếu người dân không có ý thức, trách nhiệm trong việc chung tay giữ rừng thì có lẽ nay rừng không còn”. Và hôm nay, cũng không có cơ hội để chiêm ngưỡng những cây gỗ cổ thụ đang vươn mình tỏa bóng trước mắt.
Anh Hồ Văn Sáu, cán bộ xã Hướng Phùng – người dẫn PV đi “thị sát” rừng thiêng giới thiệu về lịch sử khu rừng và quá trình bảo vệ “lá phổi xanh” như để giải tỏa mọi thắc mắc. “Rừng đã có từ ngàn đời nay rồi nhà báo à. Người dân bản miềng xem việc giữ rừng như là nhiệm vụ sống còn. Nhờ đó mới giữ được những cây gỗ cổ thụ, thuộc dạng quý như ngày nay”.
Cùng tiến sâu vào khu rừng, ông Hồ Mưng (84 tuổi, già làng Mã Lai) phấn khởi: “Bố tự hào lắm, bao năm qua người dân trong bản chưa hề chặt một nhánh cây, bẻ một cái cành, cũng như lấy đi một khúc gỗ nào từ rừng thiêng cả. Để có được như vậy là nhờ ý thức của bà con, ai cũng biết bảo vệ rừng”.
Khu rừng ở bản Mã Lai có diện tích khoảng 5 ha, hiện còn lưu giữ được rất nhiều loại gỗ quý như lim, gõ, lát hoa… Nhiều cây có đường kính lớn từ 70 cm – 1m. Theo lời ông Mưng thì rừng đã có lịch sử hàng trăm năm nay. Khi ông Mưng được sinh ra, rừng đã tồn tại, che chở cho làng. Bản thân ông Mưng cũng được cha giao lại trách nhiệm giữ rừng thiêng.
Cứ thế, bao năm nay, khu rừng Mã Lai được nhiều thế hệ người dân trong bản chung tay gìn giữ. Trong khi tại nhiều địa phương, rừng nguyên sinh đang bị xâm hại khá nghiêm trọng, bị nhiều đối tượng chặt phá thì khu rừng này này vẫn được bảo vệ nguyên trạng.
Ông Mưng cho biết: “Nhiệm vụ bảo vệ rừng được đưa vào quy ước của bản, nghiêm cấm tuyệt đối việc chặt phá rừng. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được lấy gỗ từ rừng để phục vụ lợi ích cá nhân. Nếu ai không tuân theo thì bị bản làng lên án, thậm chí bị phạt nặng”.
Không chỉ duy trì những cây gỗ cổ thụ, rừng ở bản Mã Lai cũng có hệ sinh vật hết sức phong phú. Nhiều tầng cây bụi và hệ động vật cũng được bảo vệ nguyên trạng. Chính vì vậy mà nhiều loài chim di trú cũng thường bay về đây sinh sống, ẩn nấp.
Trong ý thức và văn hóa của đồng bào Vân Kiều, rừng thiêng là nơi tôn nghiêm để thờ các vị thần thánh. Vì vậy, hàng năm người dân trong bản đều có tục cúng các vị thần ấy để cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cầu thần núi dang tay che chở, xua đuổi động vật về tàn phá cây cối, và bảo vệ sự bình yên cho bản làng.
Cứ vào dịp tháng 5, tháng 6, cũng là lúc tiết trời trở nên ấm áp, bà con vừa kết thúc vụ mùa là tất thảy người dân trong bản lại đóng góp của cải để cúng các vị thần thánh. Tuyệt nhiên, trong tục cúng kỵ đó không mang sắc màu của sự mê tín dị đoan, mà đó là nét văn hóa tâm linh được người dân trong bản gìn giữ và phát huy.
Trong ngày đó, nhà nào có điều kiện thì góp gạo và súc vật do chính bà con trong bản làm ra. Nếu trúng mùa vụ, bà con sẽ làm một con trâu để cúng, hoặc nếu việc làm ăn chưa thuận lợi sẽ cúng lợn… Đây là dịp để bà con trong bản tề tựu lại khu rừng để khấn cầu những điều may mắn sẽ đến trong vụ mùa tới. Bên cạnh đó, lễ cúng diễn ra cũng là cơ hội để bà con trong bản gặp gỡ, chung nhau ly rượu nhạt, nắm cơm và cùng chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình sản xuất.
Đặc biệt, trong những dịp này, các già làng, những người có chức trách trong bản nhắc nhở các thế hệ trẻ về trách nhiệm bảo vệ rừng. Người dân nơi đây tâm niệm, nếu ai đó có ý vào chặt trộm cây cối trong rừng sẽ bị các vị thần trách phạt, không chỉ phạt cá nhân đó bại hoại trong sản xuất, đau ốm mà phạt cả làng không được yên ổn?
Dù chưa thể kiểm chứng ý niệm đó có thật hay không nhưng người dân địa phương luôn truyền tai nhau một câu chuyện xảy ra cách đây mấy năm, có một nhóm người bản khác vào rừng chặt phá cây, sau đó về nhà thì bị một trận ốm “thập tử nhất sinh” và phải nộp lợn, gà để cúng mới khỏi bệnh.
Ông Mưng cho biết, xâm phạm rừng thiêng là đụng đến thần thánh, cũng như tự hủy hoại chính cuộc sống tốt đẹp của bà con trong bản, của chính mỗi người. Dù ai đi chăng nữa, nếu vào rừng chặt phá cây cối mà bị phát hiện đều phải trừng phạt nghiêm khắc, phải nộp lễ vật để tế thần linh. Tuy nhiên, tùy vào mức độ nặng nhẹ để nộp lễ vật.
Ông Mưng tự hào rằng, sống hơn 80 năm ở đời, ông chưa bao giờ đụng đến một nhánh cây, một phách gỗ trong rừng. Có lẽ, noi gương các vị già làng như ông Mưng mà các thế hệ người dân bản Cheng, Mã Lai cũng có trách nhiệm hơn với rừng, bảo vệ khu rừng thiêng ngày càng xanh tốt, nguyên sơ.
Ông Thái Văn Vang cho biết, những năm trở lại đây, bà con đã có cuộc sống ổn định nhờ cây cà phê. Thậm chí, có những gia đình đã thoát nghèo và vươn lên làm giàu. Chính vì vậy, người dân đã có ý thức hơn trong việc bảo vệ rừng. Đó là điều đáng quý mà không phải địa phương nào cũng thực hiện được. Dường như, lời ông Vang nói đã được xác thực bằng những đồi cà phê xanh ngút, trên những vùng được xem là “đất chết”, bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh.
Cũng vì trách nhiệm với cộng đồng, vì lời thề với rừng thiêng mà thế hệ trẻ như anh Sáu đang tiếp nối nhiệm vụ và càng có trách nhiệm hơn trong việc giữ rừng, như thế hệ của già Mưng để những cây cổ thụ, quý hiếm ở rừng Mã Lai, Cheng vẫn tồn tại. Để rừng vẫn phát triển tốt tươi, vươn mình che chở cho bản làng quê hương. (Dân Trí 21/12) đầu trang(
Hơn 1 năm nay, Chi cục Kiểm lâm đã ứng dụng hiệu quả phần mềm cảnh báo nguy cơ cháy rừng trên địa bàn tỉnh. Qua đó góp phần nâng cao tính chủ động trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng đến từng cơ sở, góp phần giảm thiểu đến mức thấp nhất những thiệt hại có thể xảy ra.
15 giờ ngày 3-2-2014, trong khi ông Hà Văn Hùng, tổ 6, phường Ỷ La (TP Tuyên Quang) đốt vàng mã đã gây cháy lan sang diện tích 0,51 ha rừng trồng gần nhà. Những dấu hiệu của đám cháy đã nhanh chóng được chụp ảnh vệ tinh. Đồng thời, địa điểm cháy đã được phần mềm cảnh báo nguy cơ cháy rừng xác định, có thông báo tin nhắn cụ thể đến các đồng chí trong Thường trực Ban Chỉ đạo phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) từ tỉnh đến cơ sở.
Ngay sau khi nhận được thông báo, Hạt Kiểm lâm thành phố đã nhanh chóng phối hợp với chính quyền cơ sở, chỉ đạo kiểm lâm viên phụ trách địa bàn phối hợp với nhân dân, các tổ đội PCCCR tại tổ dân phố nhanh chóng triển khai các biện pháp chữa cháy.
Ông Nguyễn Văn Thanh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm thành phố Tuyên Quang cho biết, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 2 vụ cháy rừng. Ngay sau khi đám cháy xảy ra, lãnh đạo Hạt kiểm lâm thành phố đã nhận được tin nhắn từ phần mềm cảnh báo nguy cơ cháy rừng và có sự phối hợp, chỉ đạo kịp thời trong công tác chữa cháy. Vì vậy, 2 đám cháy đều nhanh chóng được lực lượng kiểm lâm, tổ đội PCCC địa phương và nhân dân dập tắt trong thời gian nhanh nhất.
Thực hiện Dự án nâng cao năng lực PCCCR cho lực lượng kiểm lâm Tuyên Quang, giai đoạn 2009-2015, Chi cục Kiểm lâm đã triển khai 2 phần mềm trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn, gồm phần mềm cảnh báo nguy cơ cháy rừng và phần mềm phát hiện điểm nghi cháy rừng.
Trong đó, phần mềm cảnh báo nguy cơ cháy rừng thông báo tin nhắn cụ thể địa điểm cháy đến lãnh đạo Cục Kiểm lâm và Hạt trưởng các Hạt Kiểm lâm trên địa bàn tỉnh. Đối với phần mềm phát hiện điểm nghi cháy rừng sẽ thông qua các nhân tố khí tượng gồm độ ẩm, lượng mưa và nhiệt độ kết hợp trong thời gian dài.
Từ đó, phần mềm sẽ nhanh chóng tính ra công thức để phát hiện điểm nghi cháy rừng. Địa điểm nghi cháy cũng được thông báo đến số điện thoại đã được đăng ký của các đồng chí lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, các Hạt kiểm lâm trên địa bàn.
Các phần mềm cảnh báo cháy rừng giúp phát hiện sớm địa điểm có nguy cơ cháy rừng, theo đó ban thường trực PCCCR các huyện, thành phố sẽ nhanh chóng nắm bắt và chỉ đạo xác minh điểm có nguy cơ cháy rừng. Nếu điểm có nguy cơ cháy là chính xác, Hạt Kiểm lâm các địa phương sẽ nhanh chóng chỉ đạo triển khai công tác PCCCR kịp thời.
Hiện nay, 2 phần mềm đang được áp dụng hiệu quả đến lãnh đạo 10 Hạt Kiểm lâm trên địa bàn tỉnh, trong đó có 3 hạt kiểm lâm rừng đặc dụng. Hằng năm, thời gian cảnh báo nguy cơ cháy rừng vào mua khô, kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau. Từ đầu năm đến nay, phần mềm đã giúp cảnh báo, phát hiện sớm 5 vụ cháy rừng trong toàn tỉnh, góp phần nâng cao tính chủ động trong công tác PCCCR từ tỉnh đến cơ sở.
Bên cạnh việc ứng dụng hiệu quả các phần mềm cảnh báo cháy rừng, Chi cục Kiểm lâm chỉ đạo các Hạt Kiểm lâm phân công, đôn đốc kiểm lâm viên bám sát địa bàn, thường trực trong công tác PCCCR. Nhanh chóng phát hiện điểm cháy một cách chính xác để huy động lực lượng chữa cháy kịp thời, nâng cao tính chủ động trong công tác PCCCR. (Tuyenquang.gov.vn 22/12) đầu trang(
Hạt kiểm lâm huyện Chiêm Hóa đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng năm 2014; Triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm 2015.
Tới dự và chỉ đạo hội nghị có các ông Hà Đức Tập, Phó Bí thư TT Huyện ủy; Nguyễn Việt Lâm, Uỷ viên BTV, Quyền chủ tịch UBND huyện Chiêm Hóa; lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh.
Chiêm Hóa là huyện miền núi của tỉnh, có diện tích rừng và đất lâm nghiệp lớn, trên 83 nghìn 284 ha; Địa bàn Hạt kiểm lâm Chiêm Hóa quản lý rộng với 26 xã và thị trấn, lực lượng kiểm lâm mỏng với 34 cán bộ với 05 trạm kiểm lâm, 07 chốt bảo vệ rừng trực thuộc.
Xác định để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đạt kết quả cao, năm 2014, Hạt kiểm lâm Chiêm Hóa đã phối hợp chặt chẽ, đồng bộ với các cơ quan chức năng của huyện như Công an, Ban CHQS huyện, Phòng Tư pháp, UBND các xã, thị trấn đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; Các chế độ chính sách của Nhà nước, của ngành và các cấp về công tác quản lý, bảo vệ rừng, phát triển rừng và quản lý lâm sản, với 300 cuộc cho trên 20 nghìn lượt người; 100% Chủ tịch UBND xã ký cam kết bảo vệ rừng và PCCCR với Chủ tịch UBND huyện, 100% Trưởng thôn bản ký cam kết bảo vệ rừng và PCCCR với Chủ tịch UBND xã; 21.512 hộ gia đình ký cam kết bảo vệ rừng và PCCCR với Trưởng thôn bản; gần 3.000 em học sinh ký cam kết bảo vệ rừng và PCCCR với nhà trường; Tổ chức 05 hội nghị cụm nhằm kiểm điểm việc thực hiện công tác quản lý, bảo về phát triển rừng, PCCCR năm 2014 với 677 đại biểu tham dự.
Trong năm Hạt kiểm lâm huyện cũng đã kiện toàn 100% tổ cơ động Quản lý, bảo vệ rừng và PCCCR xã, thị trấn; Tổ đội quần chúng bảo vệ rừng; Trang cấp phát 160 bộ dụng cụ cho 16 tổ cơ động PCCCR gồm: Dao phát, giầy, tất đi rừng, dèn pin, 940 câu liêm, vỉ dập lửa cho 20 xã trên địa bàn. Phối hợp với Ban CHQS huyện tổ chức Diễn tập PCCCR cấp xã tại xã Bình Phú, kết quả đạt loại khá.
Trong năm đã trồng rừng theo kế hoạch trên địa bàn Hạt Kiểm lâm huyện quản ký 2.205,75 ha (trên 2.077ha rừng sản xuất; 30ha rừng phòng hộ và trên 98,65ha rừng phân tán).
Cũng trong năm qua, Hạt kiểm lâm Chiêm Hóa đã kiểm tra, ngăn chặn được tình trạng phát rừng làm nương rẫy trái phép; Kiểm tra, giám sát việc khai thác rừng trồng tập trung của Công ty lâm nghiệp Chiêm Hóa, với tổng diện tích khai thác 331,40ha, tổng sản lượng gỗ nghiệm thu trên 12 nghìn 700 m3, củi trên 957 m3; Kiểm tra, giám sát khai thác rừng trồng do UBND huyện cấp phép cho 23 hộ gia đình, với 434,55m3 gỗ; do UBND xã, thị trấn cấp phép cho 1.210 hộ gia đình với tổng sản lượng trên 33.700 m3 gỗ và củi...
Chú trọng thực hiện công tác kiểm tra và xử lý vi phạm, đã xử lý 187 vụ, giảm 50 vụ so với cùng kỳ năm 2013; trong đó xử lý hành chính 185vụ, xử lý hình sự 02 vụ; Tịch thu 148,59 m3 gỗ tròn, gỗ xẻ các loại trên 48m3, tịch thu 45 phương tiện gồm 2- xe mô tô, 25 cưa xăng. Thu nộp ngân sách Nhà nước trên 600 triệu đồng.
Bên cạnh những kết quả đạt được, Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện Chiêm Hóa năm 2014 vần còn một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục như: Một số ban phát triển rừng cấp xã, thôn bản chưa phát huy hết tinh thần trách nhiệm để tuyên truyền, vận động nhân dân đăng ký trồng rừng theo chương trình của dự án; một số công việc hoàn thành chưa đúng tiến độ…
Nhiệm vụ trọng tâm năm 2015 được Hạt kiểm lâm Chiêm Hóa xác định, đó là tập trung cải tiến phương pháp làm việc; Mạnh dạn, chủ động tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền các cấp; Tăng cường hơn nữa mối quan hệ phối hợp công tác với các đơn vị, ngành liên quan, chính quyền các cấp trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của đơn vị; Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; Tổ chức kiểm tra, giám sát các cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản và kiên quyết xử lý nghiêm các vụ vi phạm đúng quy định của Nhà nước.
Phấn đấu kiên quyết bảo vệ tốt diện tích rừng tự nhiên hiện có; đồng thời vận động nhân dân tích cực trồng rừng trên diện tích đất trống, phấn đấu hoàn thành kế hoạch được giao. Xây dựng hạt Kiểm lâm huyện Chiêm Hóa thành đơn vị vững mạnh.
Phát biểu chỉ đạo hội nghị, ông Hà Đức Tập, Phó Bí thư TT Huyện ủy đã biểu dương và đánh giá cao những kết quả mà Hạt kiểm lâm đã đạt được trong năm 2014. Đồng thời đồng chí cũng đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế cần khắc phục trong năm 2015, Về nhiệm vụ trong thời gian tới, đồng chí nhấn mạnh: Hạt Kiểm lâm tăng cường tuần tra, kiểm tra duy trì trực các chốt trên địa bàn, xử lý nghiêm các vụ vi phạm; làm tốt công tác dự báo, cảnh báo PCCCR.
Trong công tác phát triển rừng Hạt Kiểm lâm phối hợp và rà soát diện tích rừng đủ điều kiện đưa vào trồng rừng, triển khai việc đăng ký, cung ứng giống ngay từ đầu năm, đặc biệt phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn của huyện làm tốt công tác kiểm tra, giám sát trên địa bàn đặc biệt là tại các cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản. (Chiemhoa.gov.vn 19/12) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Hội đồng nhân dân TP Hà Nội đã ban hành Nghị quyết thông qua danh mục công trình, dự án thu hồi đất năm 2015 và dự án, công trình chuyển mục đích đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ năm 2015.
Cụ thể, danh mục thu hồi đất gồm 565 dự án, công trình, với tổng diện tích đất thu hồi 1.375ha. Kinh phí bố trí thực hiện bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nằm trong danh mục được cân đối tại phân bổ dự toán ngân sách năm 2015.
Đối với chuyển đổi mục đích đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, danh mục gồm 300 dự án, công trình, có tổng diện tích chuyển đổi 575ha; trong đó đất trồng lúa 296 dự án, với diện tích 571ha, đất rừng phòng hộ 4 dự án, diện tích 4ha.
Trong quá trình thực hiện, UBND thành phố tiếp tục rà soát, đánh giá tiến độ triển khai, sắp xếp thứ tự ưu tiên theo tính cấp thiết của dự án; trường hợp cần điều chỉnh, UBND thành phố tổng hợp, trình HĐND xem xét vào kỳ họp giữa năm 2015.
Trường hợp phát sinh yêu cầu sử dụng đất cho dự án quan trọng, cấp bách vì lợi ích quốc gia mà chưa có trong danh mục, UBND thành phố quyết định thu hồi đất và báo cáo HĐND kỳ họp gần nhất. (Hà Nội Mới 23/12) đầu trang(
Từ 4 hộ lấn chiếm hơn 170 ha đất rừng ban đầu, đến nay sau hơn 01 năm chính quyền và các cơ quan chức năng “khoanh tay ngó lơ”, con số hộ dân bất chấp vào rừng lấn chiếm đất lâm nghiệp đã lên đến 55 hộ, khiến 324,5 ha đất trồng cao su của công ty TNHH MTV Cao su Hương Khê (Hà Tĩnh) tại tiểu khu 192- Hòa Hải đang đứng trước nguy cơ bị mất trắng, đẩy hàng trăm công nhân, hộ dân rơi vào tình trạng thất nghiệp.
Nghiêm trọng hơn, đất rừng phòng hộ nơi đây cũng đang bị người dân xâm hại, mà chính quyền và cơ quan chức năng cũng không có bất kỳ một biện pháp xử lý hữu hiệu nào.
Đưa PV thị sát đất rừng tại tiểu khu 192, một cán bộ thuộc công ty TNHH MTV Cao su Hương Khê (gọi tắt là công ty cao su Hương Khê) buồn bã cho biết: “8 tháng trước đây, khi các anh về điều tra thực trạng, thì đất rừng của Công ty tại tiểu khu này chỉ mới bị lấn chiếm 170 ha. Giờ thì con số đó đã lên đến 273 ha. Hơn 300 ha đất rừng được UBND tỉnh cho Công ty thuê để trồng cây cao su nơi đây có nguy cơ bị mất trắng, đẩy hàng trăm công nhân, hộ dân chúng tôi vào cảnh thất nghiệp, có đất rừng mà không được sử dụng”.
Không ở đâu xa, chỉ từ trung tâm xã Hòa Hải đi vòng qua con đường mới mở, chạy thẳng lên các triền đồi phía Tây tiểu khu 192, đất rừng thuộc chủ quyền sử dụng của Công ty cao su Hương Khê bạt ngàn là vậy, giờ đã bị người dân bao chiếm để trồng keo gần hết. Hàng trăm cọc gỗ, với dây thép gai làm hàng rào của người dân đã bao chiếm hàng trăm ha đất lâm nghiệp để trồng keo. Những triền đồi đất lâm nghiệp đẹp nhất, dễ bao chiếm nhất của Công ty đều đã bị người dân đóng cọc, dăng dây thép gai bao chiếm hết.
Ông Trần Thanh Hà- Giám đốc Công ty cao su Hương Khê bức xúc: “Đất rừng của Công ty thì bị người dân vào sẻ phát, lấn chiếm, trong lúc Công ty lại không được thực hiện việc sản xuất trên đất rừng được thuê. Biết bao lần chúng tôi đề xuất làm việc với Thường trực Huyện ủy nhằm giải quyết dứt điểm việc người dân xâm chiếm đất rừng của Công ty tại tiểu khu 192, để đảm bảo quyền lợi cho công nhân, người dân tham gia trồng cây, gây rừng cao su theo chỉ đạo của UBND tỉnh, thế nhưng không được đáp ứng.
Không những chúng tôi chưa nhận được ý kiến chỉ đạo, mà việc phối hợp để triển khai thực hiện theo lộ trình cũng không được đặt ra, khiến việc sản xuất tại Tiểu khu này bị đình trệ. Năm 2012, 2013 chúng tôi bị lỡ thời vụ, thiệt hại hơn 20 vạn cây giống. Năm 2014 này, khi mùa vụ trồng cao su đã đến cũng đành lỡ dở… Tổn thất về kinh tế của Công ty rất nặng nề, đấy là chưa tính đến các khoản trích nộp trước đây cho ngân sách, thuê tư vấn, lập dự án… với số tiền hơn 5 tỷ đồng”.
Tại thời điểm tháng 3/2014, khi PV về điều tra thực trạng, viết bài phản ánh (trên 2 số báo: 25 và 26, tháng 3/2014), thì chỉ riêng Tiểu khu 192, xã Hòa Hải, đất rừng của Công ty cao su Hương Khê đã bị hàng chục hộ dân lấn chiếm lên đến 170 ha, riêng đất rừng do xã Hòa Hải quản lý, thì con số khủng khiếp hơn, gần 500 ha!
Trước thực trạng này, đích thân Phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh, ông Lê Đình Sơn đã phải về tại xã Hòa Hải (Hương Khê- Hà Tĩnh) kiểm tra và chỉ đạo xử lý vấn nạn người dân lấn chiếm đất rừng. Phó chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ ra sự non yếu của các cấp chính quyền địa phương trong quản lý Nhà nước về đất lâm nghiệp đồng thời yêu cầu các cấp, các ngành phải vào cuộc quyết liệt, xử lý rốt ráo những vấn đề vướng mắc.
Thế nhưng, dẫu Thường trực Ban Bí thư, Tỉnh ủy Hà Tĩnh cùng chính quyền địa phương đã liên tục chỉ đạo, nhưng hơn 01 năm nay, vấn nạn người dân cướp đất, lấn rừng trái phép ở huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) lại… trầm trọng hơn.
Theo số liệu thống kê từ Tổ công tác do ông Ngô Xuân Ninh- Phó Chủ tịch UBND huyện Hương Khê làm Tổ trưởng, đến nay con số hộ dân tham gia sẻ phát, lấn chiếm đất rừng tại tiểu khu 192 là 55 hộ, trong đó có 9 hộ dân đã được giao đất, giao rừng vẫn tham gia lấn chiếm. Con số tăng đột biến này cho thấy chính quyền và cơ quan chức năng nơi đây đang bất lực trước thực trạng người dân vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng, mà không có bất kỳ chế tài xử lý nào được đưa ra.
Ngày 8/12/2014, làm việc với PV, ông Ngô Xuân Ninh- Phó Chủ tịch UBND huyện thừa nhận thực trạng người dân vào sẻ phát, lấn chiếm đất rừng của Công ty cao su Hương Khê có phần trách nhiệm của chính quyền địa phương. “Việc lấn chiếm của người dân là tự phát, mang tính cộng đồng, cả làng, cả xã người ta vào đó trồng, không biết hộ nào, không biết ai trồng ở đâu cả. Chứ nếu biết từng anh một thì dễ xử lý hơn. Hiện tại huyện đã rất nổ lực để đảm bảo hài hòa lợi ích của Công ty và người dân”- Ông Ninh nói và cho biết thêm hiện tại huyện đang kiến nghị thực hiện phương án chuyển đổi, phương án này đã có sự điều chỉnh liên quan đến rừng phòng hộ.
Trong khi đó, là cơ quan có trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng, được huyện giao chủ trì phối hợp để xử lý vấn nạn người dân lấn chiếm đất rừng, xâm hại rừng phòng hộ, Hạt Kiểm lâm huyện lại có động thái thờ ơ, thiếu trách nhiệm. Khi mà nhiều ha rừng phòng hộ đã bị người dân xâm hại, lực lượng kiểm lâm đã lập biên bản, nhưng đến nay vẫn chưa xử lý được trường hợp nào nghiêm minh theo quy định của pháp luật để làm gương.
Ông Nguyễn Cự Duẫn- Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Hương Khê cho biết, đã nắm rõ thực trạng người dân lấn chiếm đất rừng, xâm chiếm rừng phòng hộ, nhưng do lực lượng mỏng, việc lập hồ sơ xử lý có nhiều phức tạp, nhất là thực trạng này diễn ra đã lâu, kéo dài, với số lượng đông đảo các hộ dân tham gia... cho nên Hạt cũng gặp khó khăn trong xử lý?!
Dễ nhận thấy nhất trước thực trạng này, là sự bất lực của chính quyền và cơ quan chức năng ở Hương Khê. Cũng là hệ lụy từ sự chậm chạp, có phần chần chừ trong việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện. Từ việc không kịp thời giải quyết, xử lý nghiêm minh những hộ dân vào lấn chiếm ban đầu, dẫn tới người dân “nhờn” pháp luật, “nhờn” chính quyền, hàng chục hộ dân sau đó đua nhau vào rừng lấn chiếm đất.
Trong lúc đó, phía công ty cao su Hương Khê lại rất có thiện chí, cầu thị lắng nghe và đáp ứng nhiều quyền lợi cho người dân nơi đây, như: hỗ trợ 50% kinh phí đo vẽ, xây dựng hồ sơ cấp giấy CNQSD đất; triển khai việc mở đường; hỗ trợ tiền công sẽ phát thực bì, phương án sử dụng lao động tại địa phương...
Dẫu vậy, đất rừng thuộc quyền sử dụng vẫn bị người dân nhảy vào lấn chiếm, đất phòng hộ xung yếu vẫn bị xâm hại. Trực tiếp chính quyền và Tổ công tác của Huyện ủy cũng đã chỉ ra thực tế là các hộ dân cố tình vi phạm; sự tuân thủ, chấp hành pháp luật của một số người dân còn hạn chế và khẳng việc các hộ dân tự ý lấn chiếm, sẻ phát trồng rừng gây cản trở không cho Công ty cao su Hương Khê thực hiện việc trồng cao su trên diện tích đã được giao là vi phạm pháp luật.
Cũng cần nói thêm, việc phản đối của người dân nơi đây trong quá trình đối thoại, lấy ý kiến chủ yếu tập trung về ý kiến cho rằng việc trồng cây cao su sẽ làm bồi lắng đập Khe Nậy, ảnh hưởng đến nguồn nước tưới tiêu, xói lở đất đai, tác động xấu môi trường... Tuy nhiên, thực tế thì tại thời điểm đó, khi Công ty chưa đưa công nhân lên làm, thì người dân đã đua nhau lên sẽ phát, lấn chiếm, tác động vào đất rừng đầu tiên để trồng keo.
Một cán bộ chuyên môn về lâm nghiệp cho biết, giữa trồng cây cao su và trồng keo, thì việc trồng keo có tác động xấu đến môi trường hơn. Trong khi cây cao su có chức năng về kinh tế, phòng hộ, an ninh quốc phòng, với chu kỳ sinh trưởng và khai thác là 30 năm. Còn cây keo chỉ có chu kỳ 7-8 năm, sau đó thì khai thác, phải tác động vào đất rừng lần nữa... Như vậy thì trồng cây cao su là giải pháp hợp lý và ổn định môi trường và kinh tế hơn cây keo.
Ngày 8/12/2014, PV có mặt tại đập Đá Hàn- vị trí phòng hộ xung yếu, ghi nhận hiện trạng diện tích xung quanh đã bị người dân đốt, sẽ phát trồng keo với diện tích rộng lớn, mà chính quyền địa phương, người dân cũng không có ý kiến gì.... Điều này cho thấy, một số hộ dân đã bất chấp pháp luật, vì mục đích tư lợi trước mắt sẵn sàng xâm chiếm rừng phòng hộ, với biểu hiện dân chủ quá đà...
Được biết, phía huyện Hương Khê đang có kiến nghị điều chỉnh, bổ sung quy hoạch, chuyển đổi một số diện tích đất rừng khác cho Công ty trồng cao su. Tuy nhiên, vấn đề này thuộc trách nhiệm của chính quyền huyện, khi trước đây là đơn vị làm tờ trình để tỉnh cho thuê đất, nay vì sự quản lý yếu kém, để người dân lấn chiếm đất của Công ty, thì chính quyền huyện phải có trách nhiệm thực hiện nhưng quy trình tiếp theo, đảm bảo lợi ích của các bên. (Bảo Vệ Pháp Luật 23/12, tr10) đầu trang(
Tiến độ xây dựng nông thôn mới (NTM) chậm. Việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp thì loay hoay tìm lối đi. Nguyên nhân của thực trạng trên có nhiều, nhưng tựu chung lại cũng do vốn thiếu, nguồn lực đầu tư yếu…
Giai đoạn 2011 - 2014, từ nguồn ngân sách và vốn vay, toàn tỉnh đầu tư cho NTM hơn 454 tỷ đồng. Trong khi đó nguồn lực huy động từ bên ngoài còn nhiều hạn chế, nhất là doanh nghiệp (DN). Bởi dù được xem là kênh tiếp sức tiềm năng cho NTM và tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nhưng hiện DN lại không mặn mà đầu tư vào nông nghiệp vì cho rằng, lĩnh vực này sinh lợi thấp, rủi ro cao nên khó thu hồi vốn.
Đầu tư vào nông nghiệp theo hình thức DN và nông dân liên kết sản xuất – tiêu thụ thì trên địa bàn tỉnh dường như chỉ có Nhà máy Đường Phổ Phong (Nhà máy ĐPP) và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Tơ (Công ty LNBT). Cả hai đơn vị trên đều hợp tác với nông dân theo mô hình Nhà máy ĐPP, Công ty LNBT đầu tư vốn, vật tư (cây giống, phân bón), kỹ thuật sản xuất và chịu trách nhiệm bao tiêu sản phẩm đầu ra theo giá cả thị trường.
Cách làm này, theo đánh giá của lãnh đạo Công ty LNBT là khuyến khích và nâng cao ý thức của người dân trong việc nhận khoán chăm sóc, bảo vệ, quản lý rừng nhằm hạn chế tình trạng chặt phá, khai thác cây non. Nhưng quan trọng nhất là DN thu hồi được vốn đầu tư và có lãi, mà người dân cũng có thu nhập ổn định.
Hẳn thế mà mỗi năm, Công ty LNBT đảm nhận trồng mới đến 300 – 350ha rừng, chăm sóc 600 – 700ha rừng 2, 3 năm tuổi và giao khoán cho 1.948 lượt hộ với diện tích trên 2.290ha (1,18 ha/hộ). Điều đáng nói là từ khi hợp đồng làm ăn với Công ty LNBT, người dân – nhất là đồng bào dân tộc thiểu số đã dần thay đổi cách trồng và khai thác rừng. Đó là không trồng dày, không bán keo non mà phải tuân thủ chu kỳ 7 năm khai thác một lần nên hiệu quả sản xuất tăng rõ rệt.
Thế nên sau khi giao nộp sản phẩm cho Công ty, lợi nhuận ăn chia của hộ có khi lên đến 55 – 60 triệu đồng/ha (tỷ lệ ăn chia là nông dân 50%, Công ty 40% và UBND xã nơi có hộ trồng rừng 5%).
Anh Phạm Quốc Anh, thị trấn Ba Tơ (Ba Tơ), người nhận khoán chăm sóc 1 ha keo từ năm 2001 khẳng định: “Qua hai lứa keo, mình được Công ty LNBT chia hơn 80 triệu đồng. Thế là lời rồi. Vì mọi thứ Công ty đầu tư hết, mình chỉ có công trông nom thôi”.
Theo đánh giá của Phó Chủ tịch UBND huyện Ba Tơ Huỳnh Thương thì toàn huyện có hơn 95 nghìn hacta cây lâm nghiệp, chủ yếu là keo. Thế nên mô hình liên kết làm ăn của Công ty LNBT không chỉ giúp nông dân thoát nghèo, cải thiện thu nhập mà còn hỗ trợ địa phương trong việc xây dựng NTM cũng như thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp.
Bởi “muốn xây dựng NTM thành công, người dân phải có “lực” – tức đời sống tinh thần và vật chất ổn định. Mà để có “lực” này, người dân cần được DN trợ sức bằng cách đảm bảo giá cả và đầu ra cho nông sản”, ông Thương khẳng định. Thế nên, ông Huỳnh Thương cho rằng, để đa dạng hóa nguồn lực đầu tư, đẩy nhanh tiến độ xây dựng NTM cũng như tái cơ cấu ngành nông nghiệp, tỉnh cần tạo lực cho DN trước khi thu hút.
Nghĩa là phải có chính sách hỗ trợ đặc thù cho DN tham gia đầu tư vào nông nghiệp – lĩnh vực vốn bị DN “chê” vì tính rủi ro cao nên rất khó thu hồi vốn. Ngay như Nhà máy ĐPP, dù đã góp phần đổi đời cho nhiều người trồng mía nhưng hiện giờ, đơn vị này lại đang bị chính bạn hàng của mình quay lưng. Lý do, giá đường giảm sâu, kéo theo giá mía nguyên liệu trượt thảm. Ấy nên dù Nhà máy trợ giá nhưng nhiều nông dân vẫn kiên quyết chặt bỏ mía để trồng các loại cây khác. Điều này, theo Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Đào Minh Hường là “rất đáng tiếc vì không phải đối tượng cây trồng nào cũng có được đầu ra ổn định như cây mía”.
Dẫu biết “vết rạn” giữa Nhà máy ĐPP và nông dân là do tác động của giá cả thị trường, nhưng điều này càng khiến DN ngần ngại và e dè khi quyết định đầu tư vào nông nghiệp. Chẳng trách dù Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ nhưng DN vẫn chưa mặn mà đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp.
Có lẽ đã đến lúc tỉnh cần nghiên cứu ban hành cơ chế chính sách hấp dẫn hơn, phù hợp hơn để DN có thể mạnh dạn và yên tâm đầu tư vào nông nghiệp. Được thế, không chỉ nông dân hưởng lợi mà cả chương trình NTM và tái cơ cấu ngành nông nghiệp cũng sẽ được tiếp sức nhiều hơn. (Báo Quảng Ngãi 21/12) đầu trang(
Những mùa vụ gần đây, nhiều nông dân khu vực rừng tràm U Minh, Cà Mau đã tổ chức gieo cấy trước thời vụ, làm lúa 2 vụ trên đất rừng... nên lúa không còn bị chết do ngập úng mà năng suất đạt cao hơn.
Đã 3 năm nay, gia đình anh Lâm Trường Giang, ở ấp 17, xã Khánh Thuận không còn lo lúa bị ngập úng sau khi cấy. Trước đây, do cấy lúa đúng thời vụ vào độ tháng 8 âm lịch, năm nào mưa lớn và kéo dài là lúa bị ngập úng, bởi, thông thường sau thời điểm vào vụ cấy lúa trên đất lâm phần, Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ sẽ triển khai công tác đắp đập trữ nước.
Hàng chục đập lớn nhỏ đều được đóng cửa để phục vụ công tác phòng, chống cháy rừng. Những cơn mưa cuối mùa sẽ làm cho mực nước dâng cao, gây ngập và thiệt hại lúa mới cấy của nông dân.
Anh Giang cho biết: có năm nước dâng lên ngập cả nền nhà và kéo dài cả tháng liền. Lúa bị ngập sâu, thêm nước đỏ trong rừng tràn ra, nên bị thối rễ chết. Tình trạng này đã kéo dài hàng chục năm. Từ khi anh Giang thực hiện phương pháp cấy lúa chạy ngập đã thoát khỏi tình trạng này.
Theo anh Giang, thông thường nông dân sẽ gieo mạ vào thời điểm giữa tháng 5 âm lịch và cấy lúa vào đầu tháng 8. Giờ để tránh lúa bị ngập úng, mạ được gieo sớm hơn một tháng, có thể gieo cả trên bờ liếp để tránh phèn mặn dưới ruộng, đến đầu tháng 7 là cấy lúa, sớm hơn thời vụ một tháng.
Ở thời điểm này nước ruộng chưa sâu. Lúa sẽ có thời gian hơn 2 tháng để sinh trưởng, đến thời điểm đắp đập giữ nước thì cây lúa đang trong giai đoạn trưởng thành, phát triển tốt và có khả năng vượt lên theo mực nước. Từ cách làm này mà năng suất lúa của nông dân ở đây cao hơn trước từ 5-7 giạ/công, bình quân đạt mỗi công gần 20 giạ.
Việc sản xuất lúa hai vụ đơn giản đối với nông dân ở bên ngoài, nhưng rất khó khăn đối với bà con trên lâm phần. Đất ruộng trũng sâu lại nhiều đập giữ nước, khó vận hành máy cày. Hàng nghìn hộ dân sinh sống ở các ấp trên lâm phần rừng tràm, đến giờ vẫn còn độc canh vụ lúa mùa bằng đất phát, năng suất bấp bênh.
Vượt qua những khó khăn này, gần 40 hộ dân ở ấp 14, xã Nguyễn Phích đã cùng nhau cơ giới hóa đồng ruộng để sản xuất hai vụ lúa, năng suất khá cao. Bí thư chi bộ ấp 14, xã Nguyễn Phích Trần Việt Hồng cho biết: Lúc đầu bà con còn e ngại vì thiếu vốn thuê máy cày, do giá cả cao hơn bên ngoài, nhưng khi một số hộ mạnh dạn làm đạt hiệu quả, bà con đã đồng loạt làm theo. Giờ thì hầu hết các hộ nông dân đều làm theo cách này.
Việc sản xuất vụ lúa hè thu đồng loạt đã hạn chế thiệt hại do chim chuột cắn phá. Ông Phạm Chí Nhẫn, một trong những người đi đầu sản xuất lúa hai vụ ở đây tâm sự: Lúc đầu có ít người làm, thiệt hại nặng nhưng mỗi công cũng còn trên 15 giạ. Từ khi làm đồng loạt, năng suất đạt từ 4 - 4,5 tấn/ha.
Vụ lúa hè thu vừa qua bà con rất phấn khởi do sản xuất thuận mùa, năng suất đạt gần 5 tấn/ha. Một số hộ dân cho biết: từ khi làm được hai vụ lúa, dân không còn sợ thiếu đói, nếu trúng mùa có lúa dư để bán chi tiêu trong gia đình. Vụ lúa lấp vụ, nếu mất mùa cũng không ảnh hưởng lớn đến đời sống gia đình.
Với cách làm sáng tạo, những vướng mắc trong sản xuất lúa trên đất rừng U Minh đã được chính người nông dân ở đây từng bước khắc phục, đem lại cuộc sống no ấm hơn. (Đại Biểu Nhân Dân 23/12, tr7) đầu trang(
Tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) ông Cao Đức Phát chủ trì cuộc họp trực tuyến với các tỉnh, thành phố trong cả nước về công tác trồng rừng thay thế khi chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác.
Tham dự tại đầu cầu truyền hình tỉnh Trà Vinh có ông Huỳnh Kíp Nổ, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT; đại diện lãnh đạo một số sở, ban ngành tỉnh có liên quan.
Năm 2014, các địa phương trên cả nước phải trồng 13.410ha rừng (các dự án thủy điện 11.290ha, các dự án khác 2.120ha). Đến tháng 12/2014 đã có 28/55 tỉnh, thành phố trồng rừng thay thế được 7.191ha. Đại diện lãnh đạo các Bộ, ngành liên quan, các địa phương đã thảo luận về thực trạng, giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện nhiệm vụ trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang sử dụng cho mục đích khác.
Tại Trà Vinh, theo Công văn số 6980/BNN-TCLN, ngày 27/8/2014 của Bộ NN-PTNT, năm 2015 toàn tỉnh phải triển khai trồng rừng thay thế với diện tích 544ha (trồng rừng thay thế diện tích chuyển sang làm thủy điện 144ha, chuyển sang mục đích khác 400ha).
Do nguồn vốn ngân sách địa phương có hạn nên không bố trí vốn để thực hiện trồng rừng thay thế do chuyển sang mục đích khác, trong khi nguồn vốn ngân sách Trung ương đầu tư theo kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020 phân bổ cho tỉnh tập trung cho Dự án đầu tư trồng rừng phòng hộ tỉnh do Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại - Dịch vụ Mùa Vàng làm chủ đầu tư.
Vì vậy, trong năm 2015 khó khả năng thực hiện đạt được. Đề nghị Bộ NN-PTNT bố trí vốn cho tỉnh thực hiện trồng rừng thay thế do chuyển sang mục đích khác đạt kế hoạch.
Theo Bộ NN-PTNT, nguyên nhân việc trồng rừng thay thế đạt thấp là do các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương và chủ dự án chưa quan tâm đúng mức đến việc thực hiện trồng rừng thay thế; các cơ quan quản lý lâm nghiệp và chính quyền địa phương buông lỏng việc kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh trong quá trình thực hiện trồng rừng thay thế đối với chủ các dự án; chủ các dự án được phê duyệt chuyển mục đích sử dụng rừng không thực hiện quy định của pháp luật, dẫn đến tồn đọng kéo dài; một số địa phương đã chấp thuận cho chủ dự án nộp tiền trồng rừng thay thế vào Quỹ bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh, nhưng lại để vốn tồn đọng.
Kết luận hội nghị, ông Cao Đức Phát đề nghị các Bộ liên quan cùng với Bộ NN-PTNT tổ chức kiểm tra, đôn đốc việc trồng rừng thay thế ở các địa phương có diện tích trồng rừng thay thế lớn, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trồng và bảo vệ rừng. (Travinh.gov.vn 21/12) đầu trang(
Những vụ vỡ đập thủy điện liên tiếp xảy ra tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên trong những năm qua đe dọa đến tính mạng của người dân, cây cối, hoa màu bị tàn phá.
Mới đây, vụ việc sập hầm thủy điện Đạ Dâng - Đạ Chomo tại Lạc Dương (Lâm Đồng) khiến 12 công nhân bị mắc kẹt trong hầm tối gần 4 ngày đang còn nóng hổi khiến dư luận lo lắng và đặt câu hỏi về chất lượng các công trình thủy điện cùng những hệ lụy mà các dự án thủy điện gây ra.
Năm 2012, những trận động đất liên tiếp xảy ra tại khu vực lòng hồ thủy điện Sông Tranh 2 (Quảng Nam) với cường độ ngày càng mạnh và tần suất ngày càng nhiều. Từ đó đến nay nhiều nhà khoa học, các chuyên gia… về nghiên cứu, xem xét tình hình và kết luận động đất tại công trình đã được khẳng định là động đất kích thích, các kết quả giám định an toàn thủy điện Sông Tranh đều khẳng định tốt. Tuy nhiên, vẫn không làm an lòng những người dân ở đây khi nhà cửa, tài sản của họ bị hư hại liên tiếp bởi động đất.
Động đất vẫn tiếp diễn và chưa dừng lại thì bất ngờ xảy ra sự cố sập bờ đập thủy điện Đăk Mek 3 (thuộc địa phận xã Đăk Choong, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum) được cho là một chuyện hy hữu nhất từ trước đến nay khi nguyên nhân sập thủy điện dài 80m, cao 20m sụp đổ một đoạn 60m là do… 1 chiếc xe ben.
Cũng trong năm 2012, thêm một câu chuyện buồn khác là sự cố đập chắn thủy điện Đakrông 3 (Quảng Trị) bị vỡ toang vào ngày 7-10. Được biết, công trình này, chỉ sau một trận mưa vừa, đập dâng của công trình đã bị vỡ dài gần 30m, tạo thành luồng nước mạnh chảy về phía hạ lưu gây sạt lở một số hạng mục khác, ước tính thiệt hại lên tới 20 tỷ đồng.
Tại Quảng Ngãi, công trình hồ chứa nước Nước Trong kết hợp thủy điện được thi công những năm qua dù chưa hoàn thành nhưng bờ tường đập đã bị nứt trong năm 2013 khi bắt đầu tích nước. Các kết quả kiểm tra từ Hội đồng nghiệm thu Nhà nước cho thấy việc xử lý hiện tượng nứt tường thượng lưu đập tràn chưa hợp lý về quy trình và kỹ thuật thực hiện. Ai dám chắc trong tương lai đập ngăn gần 290 triệu m3 nước này không có những sự cố tương tự?
Hầu hết những thảm họa do thủy điện gây ra đều rơi vào những dự án vừa và nhỏ. Theo Tổng Công ty Điện lực miền Trung, tính đến thời điểm này toàn miền Trung có trên 40 nhà máy thủy điện loại công suất dưới 30MW đã được các chủ đầu tư đưa vào khai thác, phát điện, trong đó chỉ có 4 nhà máy do Tổng công ty Điện lực miền Trung quản lý là Ry Ninh (Gia Lai), ĐrayH’linh (Đắk Lắk), Kon Đào (Kon Tum) và An Điềm (Quảng Nam), số còn lại hầu hết là của các nhà đầu tư ngoài ngành điện.
Việc xây dựng những công trình thủy điện nhỏ này thường bị xem nhẹ hoặc bỏ qua các đánh giá tác động môi trường, ảnh hưởng đến dân sinh. Ngoài ra, việc quản lý, giám sát thi công lỏng lẻo như hiện nay sẽ là điều đáng lo ngại cho vùng hạ du.
Ông Phan Thanh Hùng, Chánh Văn phòng Ban chỉ huy PCLB-TKCN tỉnh Thừa Thiên - Huế nhìn nhận, hầu hết các thủy điện ở miền Trung và Tây Nguyên đều chưa xây dựng kịch bản đề phòng sự cố khẩn cấp vỡ đập theo Nghị định 72.
Tại diễn đàn “Thủy điện miền Trung, Tây Nguyên - Quan tâm của người dân và trách nhiệm các bên liên quan” tổ chức tại TP Huế ngày 28-10-2014 đã đưa ra một nguyên nhân thực tế hết sức lo ngại và cực kỳ nguy hiểm: Phần lớn các dự án thủy điện ở miền Trung - Tây Nguyên không trồng bù rừng. Nếu có trồng cũng chẳng đáng là bao, đó là chưa kể đến chất lượng rừng trồng nên tạo ra những trận lũ dữ bất thường cho vùng hạ du, gây thiệt hại cho con người, cuốn trôi hoa màu, gia súc, sạt lở bờ sông, hư hại công trình giao thông, gián đoạn sinh hoạt.
Có rất nhiều lý giải cho các hệ lụy này, trong đó nổi bật là khâu khảo sát, thiết kế, đánh giá tác động môi trường và xã hội từ các dự án thủy điện chưa chặt chẽ, đôi lúc rất hình thức. Chủ đầu tư không có nhiều chuyên môn trong thi công và vận hành thủy điện, hoặc đầu tư không đúng mức, đặc biệt xem nhẹ các yếu tố môi trường và xã hội mà người dân là đối tượng chịu nhiều thiệt hại và tổn thương nhất…
Qua các sự cố này, Hội Cơ học thủy khí Việt Nam nhận định đã lộ diện những bất hợp lý điển hình cho loại thủy điện nhỏ này, như kỹ thuật xây dựng đập bê tông đầm lăn giống như một quả dưa hấu.
Đập thủy điện Đăkrông 3 chưa xây xong đập đầm lăn bên trong thì như quả dưa rỗng ruột, không vỡ thì cũng bị lật khi tích nước là điều hiển nhiên. Bởi vậy, việc chưa hoàn tất xây đập đã cho tích nước là một việc làm liều lĩnh. Và càng nguy hiểm hơn nếu vỡ dây chuyền, khi đó, thảm họa sẽ không lường hết được. (Sài Gòn Giải Phóng 23/12) đầu trang(
Vừa qua, Ban quản lý dự án trồng rừng WB3 huyện Tuy Phước đã tổ chức sơ kết công tác trồng rừng theo dự án WB3 năm 2014 ở tại địa phương.
Năm 2014, Tuy Phước có 24 hộ dân ở xã Phước An tham gia trồng 94ha rừng dự án WB3. Trong đó, diện tích trồng mới là 40,6ha, còn lại là diện tích trồng chu kỳ 2.
Trong quá trình thực hiện trồng rừng, Ban quản lý dự án huyện, tổ công tác xã, các bộ khuyến lâm, các nhóm trưởng nông dân trồng rừng được phân công phụ trách địa bàn luôn bám sát hiện trường hướng dẫn kịp thời các hộ gia đình thực hiện các bước trồng rừng đúng quy trình kỹ thuật. Do đó, diện tích rừng trồng của các hộ gia đình đều đạt tỷ lệ sống cao > 95% và cây sinh trưởng phát triển tốt.
Ngoài ra, Ban quản lý dự án huyện đã phối hợp cùng Ngân hàng chính sách xã hội huyện tiến hành giải ngân 2 đợt cho 9 hộ trồng rừng chu kì 2 năm 2013 ở xã Phước An, với tổng số tiền hơn 200 triệu đồng.
Công tác đo đạc và cấp sổ đỏ cho người dân tham gia trồng rừng theo dự án WB3 trong năm 2014 cũng đã được các ngành liên quan của huyện Tuy Phước hoàn thành những thủ tục cần thiết để khi hồ sơ thiết kế được phê duyệt sẽ thực hiện việc cấp sổ đỏ cho người dân. (Binhdinh.gov.vn 22/12) đầu trang(
Ngày 22/12, những chuyến xe chở gạo hỗ trợ đầu tiên của Cục dự trữ Hà Bắc đã đến với đồng bào các dân tộc thiểu số 10 huyện đặc biệt khó khăn của huyện Lục Ngạn trong chương trình hỗ trợ gạo cho đồng bào dân tộc thiểu số trồng rừng thay thế nương rẫy huyện Lục Ngạn năm 2014.
Đây là dự án được triển khai trong giai đoạn 2014- 2018 theo Quyết định 823 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ lương thực cho đồng bào dân tộc thiểu số trồng rừng thay thế nương rẫy huyện Lục Ngạn.
Dự án hỗ trợ gạo cho đồng bào dân tộc thiểu số trồng rừng thay thế nương rẫy của huyện Lục Ngạn được triển khai tại 10 xã đặc biệt khó khăn, gồm: Xa Lý, Tân Sơn, Cấm Sơn, Hộ Đáp, Sơn Hải, Tân Mộc, Đèo Gia, Phú Nhuận, Tân Lập và Kim Sơn. Đối tượng được thụ hưởng dự án là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tự nguyện trồng rừng thay thế nương rẫy, chăm sóc và bảo vệ rừng trồng.
Dự án được triển khai nhằm hỗ trợ giúp đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện Lục Ngạn tự nguyện trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng thay thế nương rẫy nằm trong diện quy hoạch đất lâm nghiệp trong thời gian chưa tự túc được lương thực giai đoạn 2014- 2018.
Theo đó, qua rà sóat, huyện Lục Ngạn có 863 hộ với 4343 khẩu đồng bào dân tộc thiểu số được hửong dự án. Tổng số gạo hỗ trợ cho bà con trong năm 2014 này là 436 tấn. trong 5 năm sẽ có hơm 9100 nhân khẩu được hỗ trợ với số gạo là hơn 5100tấn.
Mỗi nhân khẩu sẽ được hỗ trợ 10kg gạo một tháng trong vòng 1 năm. Cách tính được tính trừ số nhân khẩu là học sinh đã được hưởng lợi từ các dự án khác, tránh chồng chéo giữa các dự án. Việc hỗ trợ này được áp dụng đối với các hộ đồng bào dân tộc thiểu số thuộc 10 xã đặc biệt khó khăn kể trên cho các hộ gia đình tự nguyện trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng thay thế nương rẫy.
Trước đây, bà con đồng bào dân tộc thiểu số có thói quen trồng sắn, thu nhập không cao lại ảnh hưởng đến đất rừng. Để thay đổi thói quen đó, UBND huyện đã giao cho các phòng chức năng, UBND các xã thị trấn tuyên truyền, vận động bà con chuyển đổi,tự nguyện đăng ký trồng rừng thay thế nương rẫy. Hiện nay,diện tích rừng trồng mới là hơn 1100 héc ta thay thế nương rẫy trước đây.
Việc hỗ trợ gạo theo dự án nhằm giúp các hộ gia đình đảm bảo nguồn lương thực trong 3 năm khi chưa có thu hoạch, giúp bà con ổn định cuộc sống, thay đổi tập quán canh tác cũ, vươn lên xóa đói, giảm nghèo. (Đài PTTH Bắc Giang 22/12) đầu trang(
Tại trụ sở Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa, Viện KSND huyện Hoà Vang đã tiến hành hướng dẫn nghiệp vụ trong việc tiếp nhận, giải quyết, tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố cho cán bộ, viên chức Hạt kiểm lâm Rừng đặc dụng Bà Nà – Núi chúa.
Là đơn vị mới thành lập vào cuối năm 2012, Hạt kiểm lâm Rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa có địa bàn quản lý rộng, đường núi rừng hiểm trở. Mặc dù đơn vị đã tăng cường lập chốt kiểm tra để ngăn chặn việc xâm phạm rừng nhưng tình hình xâm phạm rừng trên địa bàn huyện Hoà Vang diễn biến ngày càng phức tạp, cán bộ, Kiểm lâm viên thiếu kinh nghiệm xử lý các vụ xâm phạm về rừng.
Do đó, để tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, căn cứ vào Quy chế phối hợp liên ngành số 01/2014 ngày 11.9.2014 về phối hợp trong công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn huyện Hoà Vang, cũng như để việc triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 06/2013 có hiệu quả trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm và vi phạm trên địa bàn.
Trên tinh thần phối hợp đó, Viện KSND huyện Hoà Vang đã cử cán bộ, Kiểm sát viên có năng lực chuyên môn để hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ, viên chức Hạt kiểm lâm Rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa trong công tác tiếp nhận giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố cũng như tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm xác minh thu thập chứng chứ để xử lý vụ việc theo đúng quy định của pháp luật.
Tại buổi làm việc cán bộ, Kiểm sát viên Viện KSND huyện Hoà Vang đã hướng dẫn cho toàn thể cán bộ, viên chức Hạt kiểm lâm Rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa về việc tiếp nhận thông tin, xác minh phân loại để cập nhật thông tin vào sổ thụ lý, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố, đồng thời báo cáo Viện KSND huyện Hoà Vang theo đúng quy định của quy chế phối hợp đã ký kết; hướng dẫn các hoạt động điều tra xác minh thu thập chứng cứ để xử lý vụ việc theo đúng quy định của pháp luật cũng như giải đáp những vướng mắc của cán bộ, viên chức Hạt kiểm lâm nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Bên cạnh đó, Viện KSND huyện Hoà Vang sẽ chủ động phối hợp chặt chẽ với Hạt kiểm lâm Rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa khi phát sinh những sự việc cụ thể để kịp thời xử lý vụ việc theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo mọi vụ việc được xử lý nghiêm minh theo luật định. (Viện Kiểm Sát Nhân Dân Đà Nẵng 22/12) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Anh Sherry Kempster và bạn bè ở tổ chức Cộng đồng những người sử dụng di động ở Newbury Park đã phát hiện ra con sư tử khi nó đang ẩn nấp trong một bụi cây trong một khu dân cư ở California.
Ngay sau đó họ đã báo cho cảnh sát, cũng như Sở Động vật hoang dã California để bắt con vật và trả nó về tự nhiên. (Lao Động 22/12) đầu trang(
Theo nhà chức trách Nam Phi, đã có ít nhất 1.020 con tê giác bị giết hại ở Nam Phi tính từ đầu năm đến cuối tháng 11 vừa qua, vượt qua kỷ lục 1.004 con tê giác bị giết hại tại nước này trong năm ngoái.
Ông Albi Modise, Phát ngôn viên của Bộ Môi trường Nam Phi, cho biết con số thực tế có thể cao hơn dù Nam Phi đã tăng cường các hoạt động giám sát và bảo vệ loài động vật quý hiếm này của thế giới.
Nhà bảo tồn Chris Galliers, Giám đốc Dự án Tê giác của Hội Dã sinh và Môi trường Nam Phi, cho rằng năm 2014 là một năm tàn bạo đối với tê giác. Theo ông, vấn đề không phải do thiếu nỗ lực của những người làm công tác trên thực địa và những nhà hoạt động bảo vệ động vật hoang dã vì nếu không có sự nỗ lực của họ, tình hình sẽ tồi tệ hơn rất nhiều.
Ông Galliers cho rằng việc gia tăng những vụ bắt giữ, xử phạt nặng cũng không làm giảm bớt các vụ săn trộm tê giác mà Chính phủ Nam Phi cần phải quyết liệt hơn nữa trong cuộc chiến chống nạn săn trộm tê giác. Theo ông, chính phủ Nam Phi phải sửa đổi luật pháp và trao thêm quyền cho thẩm phán trong việc bắt giữ và xét xử những kẻ săn trộm và buôn lậu sừng tê giác.
Ông Galliers cho biết, săn trộm tê giác không chỉ ảnh hưởng đến tê giác mà còn đến môi trường, sức khỏe và kinh tế của những cộng đồng địa phương và an ninh biên giới.
Ngoài việc ngăn chặn nạn săn trộm tê giác, nhà chức trách Nam Phi cũng đang bí mật di dời tê giác, cố gắng thiết lập những mối quan hệ hải quan và cảnh sát với các nước tiêu thụ ở châu Á và mở rộng giáo dục, tuyên truyền nhằm bảo vệ loài động vật này.
Nam Phi là nơi sinh sống của hơn 80% tê giác trên thế giới, trong đó chủ yếu là loài tê giác trắng. Theo ước tính, Nam Phi sẽ mất khoảng 1.200 đến 1.300 con tê giác trong năm nay. (VietnamPlus 20/12) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||