|
Ngày 24 tháng 09 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
“Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam đã đồng ý với đề nghị của tỉnh về việc triển khai đề án bảo tồn và phát triển cây sâm Ngọc Linh đến năm 2030 nhằm bảo vệ nguồn gen quý kết hợp bảo vệ và phát triển rừng, xóa đói giảm nghèo...” - UBND tỉnh Quảng Nam ngày 21-9 cho biết.
Theo đó, Phó Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Quảng Nam lựa chọn danh mục, sắp xếp thứ tự ưu tiên các dự án thuộc đề án và tổng hợp vào kế hoạch đầu tư công trung hạn gửi Bộ KH&ĐT theo quy định. BộY tế, NN&PTNT, Công Thương, KH&CN, TN&MT hỗ trợ, hướng dẫn tỉnh Quảng Nam trong quá trình hoàn thiện và triển khai thực hiện đề án.
Sâm Ngọc Linh là loại dược liệu quý chỉ phân bố dưới các tán rừng nguyên sinh trên đỉnh núi Ngọc Linh thuộc huyện Nam Trà My (Quảng Nam) và Đắk Glei, Tu Mơ Rông (Kon Tum). Sâm Ngọc Linh được xếp vào một trong bốn cây sâm quý nhất trên thế giới, giá khoảng 20-50 triệu đồng/kg. (Pháp Luật TP.HCM 22/9) đầu trang(
Ở lưng chừng đèo Lò Xo, một gã thanh niên để đầu trần chạy xe máy tay cầm mấy chùm sâm lủng lẳng mời chào các bác tài xe khách, xe container, xe du lịch với tiết lộ "uống khỏe, uống sung".
Khi thấy khách quan tâm hỏi tới, sau tiết lộ đây là sâm quý của tộc người Giẻ Triêng, gã bèn bỏ nhỏ với khách vừa tìm được mấy củ sâm Ngọc Linh cần bán với giá rất rẻ, chỉ dăm bảy triệu đồng 1 kg?
Trên đỉnh đèo Lò Xo là ngã ba Ngọc Linh - đường Hồ Chí Minh. Tại đây, nếu đi thẳng sẽ đổ về hướng thị trấn Đắk Glei (huyện Đắk Glei, Kon Tum). Nếu rẽ trái (từ hướng Quảng Nam sang), là chính thức vào Khu bảo tồn Ngọc Linh. Từ ngã ba Ngọc Linh đổ vào Khu bảo tồn Ngọc Linh, chỉ với chặng đường chưa đầy 7km, qua tiếp cận với một số cư dân sở tại và cán bộ kiểm lâm, nói thật tôi "ngu người" với quá nhiều điều trái khoáy đến oái ăm liên quan đến loại sâm quý.
Đèo Lò Xo, cái tên gọi ngắn gọn ấy đủ để bất kỳ ai có thể hình dung một cách cụ thể cái dáng hình của con đèo này. Ở Tây Nguyên, có rất nhiều con đường đèo len lỏi, đi qua các mảng núi đồi như đèo Phượng Hoàng (giáp ranh giữa Khánh Hòa - Đắk Lắk), đèo Bảo Lộc (Lâm Đồng), đèo Sê-San (Gia Lai)… và khi mô tả các con đèo này, nhiều văn nghệ sĩ đã ví chúng như những con mãng xà khổng lồ đang trườn mình lên đỉnh núi với đủ dáng thế uốn éo, lượn lờ.
Nhưng với đèo Lò Xo, chẳng ai có thể mô tả hay ví nó như "mãng xà thượng sơn". Bởi chẳng có loài trăn, rắn nào lại "thượng sơn" theo cái kiểu uốn mình như lò xo. Gọi đèo Lò Xo vì từ dưới chân đèo ở bên này tỉnh Quảng Nam, muốn lên đến đỉnh đèo vào vùng sâm Ngọc Linh, hay đổ xuống thị trấn Đắk Glei, các bác tài phải ôm cua qua hàng chục mỏm núi với độ cao tăng dần như cái lò xo, đủ để chóng mặt.
Anh Hồ Văn Thiếp, Phó Trưởng Công an xã Phước Mỹ (huyện Phước Sơn, Quảng Nam) nói về đèo Lò Xo một cách hình tượng như thế. Nhắc đến cái ẩn ý đèo Lò Xo là đèo tử thần mà các lái xe đường dài thường nhắc nhở nhau mỗi khi qua lại, anh Thiếp giải thích với đại ý rằng đèo uốn éo như lò xo đã đành, thời tiết bất thường ở lưng chừng đèo càng khiến đèo Lò Xo trở nên nguy hiểm tột bậc.
Còn đang ở địa phận Quảng Nam thì trời quang sáng nhưng ngay khi xe lăn bánh qua địa phận tỉnh Kon Tum, không gian mịt mù, có đoạn trời tối tăm, có đoạn gió quần quật, rồi sương mù dày đặc, rồi mưa tuôn như thác đổ… "Đèo Lò Xo nguy hiểm như vậy nên nếu không thận trọng, nếu không quen tay lái mà chủ quan dễ... chết lắm!".
Là dân bản địa, sinh ra và lớn lên giữa vùng sơn lâm thâm u, quá quen với các cung đường uốn éo vốn thường trực những hiểm nguy, bất trắc vậy nhưng khi nhắc đến đèo Lò Xo, anh Thiếp cũng như các anh em công an xã Phước Mỹ đều tỏ thái độ dè dặt. Sau này, khi được đặt chân trên con đèo tử thần kia, khi chứng kiến vô số biển báo "Đường nguy hiểm", "Đoạn đường thường xảy ra tai nạn" tiếp nối, kế đến là những trang (miếu) thờ ven đường, thấy cả những chiếc xe đầu kéo chết máy, cả những xe chuyên dụng của quân đội chuyên trị đường đèo núi bị trượt bánh đang chờ cứu hộ, tôi mới hiểu vì sao bao lâu nay, đèo Lò Xo luôn là thách thức với giới tài xế mỗi khi qua đây.
Trở lại hành trình theo dấu sâm Ngọc Linh. Khi ở đỉnh đèo Lò Xo, tôi gặp gã thanh niên tay cầm một chùm sâm dây mời mọc ông chủ một chiếc xe đầu kéo cùng tài xế đang dừng bánh với bỏ nhỏ "ngâm rượu uống sung, uống khỏe". Thứ sâm mà anh nọ mời khách rất lạ, rễ mọc thành chùm, mỗi chùm khoảng 30 củ mà qua tìm hiểu, tôi được lương y Nguyễn Đức Nghĩa cho biết đó là rễ của cây bách bộ, là một dạng dây leo dài 6-8m, vì rễ củ giống sâm nên có người gọi nhầm… sâm dây.
Từ điển “Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” nói về công dụng của bách bộ như sau: "Nghiên cứu tác dụng dược lý, người ta đã chứng minh kinh nghiệm của ông cha ta dùng bách bộ để chữa ho, chữa giun và diệt sâu bọ là đúng".
"Huynh chơi sâm Ngọc Linh không? Em mới đào được mấy củ, em để rẻ thôi, 7 "chai" một ký, 4 củ sâm em đào được đúng nửa ký, em lấy giá hữu nghị, 3 "chai" thôi (3 triệu đồng-PV)".
Theo thời giá hiện tại, sâm Ngọc Linh trồng loại 8 củ 1kg có giá trên 50 triệu đồng. Trong khi anh chàng nọ bán với giá vài ba triệu thế kia thì hơi bị lạ?! Chừng như đọc được suy nghĩ của tôi, anh ta liến thoắng rằng nếu không quen biết thì khó bán được giá ấy. Mà anh ta đang lúc cần tiền để về quê thăm con bị bệnh nên cần bán gấp, nên mới bán giá rẻ bèo như vậy?
"Nói thật với huynh, em xứ xa, 5 năm trước vì mê vàng nên em bỏ vợ con mò vào đây và giờ thì chết dí ở cái xứ này. Công ty vàng vỡ nợ, làm vàng chui bị lùng dữ quá, cùng đường em chuyển sang đi tìm sâm, linh chi, săn rắn hổ, săn dúi kiếm sống". Nghe câu chuyện trên của anh thanh niên, tưởng gặp đuợc mối hời, ông chủ xe đầu kéo chộp lấy cơ hội, đòi "hốt" luôn nửa ký được gọi là sâm Ngọc Linh kia….
Vì mưa gió tầm tã, không thể nán lại chờ anh ta về làng mang mấy củ "sâm" giao cho khách để xem nó ra sao, nên tôi giã từ. Sau này, trao đổi qua điện thoại, nghe ông chủ xe mô tả 4 củ sâm nọ không có lá, chỉ trụi lủi củ rễ, rồi sau đó xem qua hình ông ta gửi qua Zalo, tôi đoan chắc ông đã mua phải "sâm Ngọc Linh" có nguồn gốc từ... củ ráy rồi! 4 củ ấy, gã nọ mua cao lắm chỉ 100.000 đồng, bán 3 triệu đã là "1 lời 30"…. Khiếp!
"Ngày nào cũng có người lên đây hỏi mua sâm Ngọc Linh. Có người mua để tặng người này người kia, có người dùng bồi bổ… Tội nhất là những người mua để chữa bệnh nan y cho người thân hoặc về báo hiếu cho cha mẹ. Mất công mất sức, tốn cả đống tiền mua sâm vậy mà có tác dụng gì đâu".
Vì sao vậy? “Vì ngờ nghệch, không biết gì sâm Ngọc Linh mà bày đặt lên đây mua sâm, nên bị lừa chứ sao. Ở đây người ta lừa siêu lắm, có người phịa chuyện mẹ cha bị ung thư nay hết bệnh nhờ sâm Ngọc Linh, nên nếu ai cần thì mua giúp?! Có người thì nói mình có ông anh, chú em làm công an, quân đội ở vùng Ngọc Linh đặng lấy niềm tin của người ta để dễ bề bán sâm… Nói chung họ có đủ chiêu đủ màn dẫn dụ đưa khách vào bẫy lắm!”.
Trên đây là cuộc trò chuyện giữa chúng tôi với một phụ nữ tên Loan, ngoài 50 tuổi trên đỉnh đèo Lò Xo tại địa phận tỉnh Kon Tum, ngay ngã 3 đường Hồ Chí Minh - Tỉnh lộ 673 dẫn vào xã Ngọc Linh. Bà Loan cho biết mình ở thị trấn Đắk Glei (huyện Đắk Glei), có rẫy ở xã Mường Hoong, 1 trong 5 xã nằm trong Khu bảo tồn Ngọc Linh, lại có em trai là cán bộ xã được nhiều người tìm hỏi, nhờ mua giúp sâm Ngọc Linh nên rất rành rẽ những chuyện oái ăm gắn với loại sâm quý này: "Người ta nhờ dữ lắm nhưng em tôi bao giờ cũng chối từ. Bây giờ, ngay cả sâm Ngọc Linh trồng kiếm còn khó, nói gì đến sâm tự nhiên?".
Trong khi trên nhiều trang web được người ta lập ra để chào bán sâm Ngọc Linh, những người bán rao ra rả rằng nguồn sâm mà mình bán là sâm rừng, là sâm được trồng tại trang trại sâm trên núi Ngọc Linh thì bà Loan, giải thích điều ngược lại. Bà nói rằng có cho vàng bà cũng chẳng bao giờ tin mấy người bảo là mình trồng được sâm Ngọc Linh, kể cả những người ấy được báo này báo nọ viết, là chuyện thật: "Sâm Ngọc Linh giá trị quá lớn, sợ bị cướp bị trộm nên nếu ai đó có trồng người ta kín tiếng dữ lắm, có khi còn giấu cả người thân, anh em vì sợ lộ sẽ bị trộm mất. Thế nên làm gì có ai trồng sâm mà vỗ ngực xưng tên như vậy! Mấy người như thế, họ chơi chiêu để bịp thiên hạ thôi?".
Sau câu chuyện trên, tưởng tôi là người có nhu cầu mua sâm Ngọc Linh, bà Loan khuyên cần gì cứ ghé Ban Quản lý Khu bảo tồn Ngọc Linh nhờ giúp đỡ cho chắc. Theo hướng dẫn của bà Loan, từ ngã ba Ngọc Linh vào đến trụ sở Khu bảo tồn Ngọc Linh khoảng 7km đường đèo núi. Vào tận nơi, gặp lãnh đạo Khu bảo tồn, tôi mới vỡ lẽ thêm nhiều chuyện không tưởng.
Người tôi gặp là ông Lê Mạnh Tiến, Phó giám đốc Khu bảo tồn Ngọc Linh. Khi tôi hỏi chuyện người ta buôn bán sâm Ngọc Linh theo kiểu muốn mua bao nhiêu có bấy nhiêu, ông Tiến cho biết Khu bảo tồn có tổng diện tích gần 40.000ha, trải rộng trên phạm vi 5 xã gồm xã Xốp, Đắk Choong, Đak Man, Mường Hoong và Ngọc Linh (huyện Đắk Glei). Ở cả 5 xã này, kể cả xã Ngọc Linh đến nay chưa ghi nhận có bất kỳ ai trồng sâm Ngọc Linh, nên không rõ chuyện mua bán!
Vậy thì người ta rao bán sâm Ngọc Linh, bảo là có nguồn gốc ở vùng này giải thích như thế nào? Nếu vùng này không có ai trồng sâm Ngọc Linh, thì liệu thứ họ bán có phải là sâm Ngọc Linh thật hay không?
Ông Tiến cho biết, chuyện mua bán sâm Ngọc Linh này nọ là sâm thiệt hay sâm dỏm ông cũng chỉ nghe phong phanh. Đến giờ vẫn chưa phát hiện vụ buôn bán sâm Ngọc Linh giả nào, mà sâm thiệt cũng không nốt. Tuy nhiên, vì sâm Ngọc Linh có giá trị nên không loại trừ kẻ xấu tìm cách bán sâm dỏm cho người có nhu cầu sử dụng?
Lãnh đạo Khu bảo tồn Ngọc Linh cho biết, từ trụ sở Khu bảo tồn đổ dài đến xã Ngọc Linh có chiều dài hơn 30km. Trên lộ trình ấy, Ban quản lý Khu bảo tồn cho thiết lập 4 trạm kiểm soát, các trạm có nhiệm vụ, chức năng kiểm soát người và phương tiện nếu có dấu hiệu vận chuyển hàng cấm, trong danh mục có sâm Ngọc Linh ra khỏi phạm vi Khu bảo tồn: "Vì đây là Khu bảo tồn nên mọi hành vi vận chuyển lâm sản dưới bất kỳ hình thức nào nếu không có được sự chấp thuận của cơ quan chức năng đều vi phạm pháp luật. Đó là chưa kể sâm Ngọc Linh nằm trong danh mục Sách đỏ Việt Nam, là hàng cấm. Nếu phát hiện chúng tôi sẽ tịch thu tang vật, lập biên bản xử lý người mua vì hành vi của họ coi như là tiếp tay cho đối tượng xấu xâm hại, làm thất thoát nguồn gen, tài nguyên quý của Khu bảo tồn".
Sau cuộc trò chuyện với lãnh đạo Khu bảo tồn, thấy rằng thời tiết khá thuận lợi nên chúng tôi tiến thẳng vào xã Ngọc Linh. Ở xứ Ngọc Linh, thật chạnh lòng khi biết được nơi đây, nạn bán buôn sâm Ngọc Linh có bóng dáng của sự lọc lừa... (Vietnamnet 24/9) đầu trang(
Tại buổi tiếp và làm việc với đoàn giám sát của Ủy ban Khoa học công nghệ và môi trường Quốc hội, sáng qua 22-9, Phó trưởng Ðoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ðồng Nai Trương Văn Vở kiến nghị Quốc hội nâng mức hỗ trợ cho người dân, đơn vị tham gia bảo vệ rừng, bởi hiện mức hỗ trợ bảo vệ rừng rất thấp.
Thực hiện Luật Ða dạng sinh học ban hành năm 2008, từ năm 2009 đến nay, Ðồng Nai đã chỉ đạo xây dựng và phê duyệt nhiều dự án về quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học dựa trên nguyên tắc phát triển bền vững và bảo đảm tính hệ thống.
Theo đó, tại Vườn quốc gia Cát Tiên đã có 15 dự án, đề tài nghiên cứu phục vụ cho công tác quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và các loài quý hiếm có nguy cơ đe dọa tuyệt chủng cấp quốc gia, quốc tế. Trong khi đó, tại Khu bảo tồn Thiên nhiên - văn hóa Ðồng Nai hiện cũng đang đẩy mạnh dự án trồng khôi phục rừng cây gỗ lớn bản địa vùng Chiến khu Ð. (Lao Động Đồng Nai 23/9) đầu trang(
Nạn chặt phá rừng, xâm chiếm đất rừng làm nương rẫy đã khiến hơn 10.000ha rừng được UBND tỉnh Đắk Lắk giao cho các hộ gia đình, nhóm hộ, cộng đồng dân cư chăm sóc và bảo vệ bị xâm hại nghiêm trọng.
Từ năm 1999 đến năm 2010, UBND tỉnh Đắk Lắk thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ 178/2001/QĐ-TTg về “Quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp” và quyết định 304/2005/QĐ-TTg về “Thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng trong buôn, làng là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây Nguyên”, tỉnh đã giao khoán 27.000ha rừng và 8.000ha đất rừng cho trên 5.000 hộ dân thuộc 13 huyện quản lý, bảo vệ.
Tuy nhiên việc quản lý không hiệu quả đã dẫn đến hơn 10.000ha đất rừng bị xâm chiếm, chặt phá, đốt rừng làm nương rẫy. Những cánh rừng xanh nay đã đã bị đốn hạ, thay vào đó là hàng ngàn diện tích rừng trơ rọi và rẫy hoa màu đua nhau thay thế mọc lên.
Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) Đắk Lắk, hiện chỉ còn hơn 25.000 ha rừng được giao chưa bị xâm hại, còn lại 10.610ha đã bị phá và lấn chiếm. Tại 13 huyện được khoán rừng đều xảy ra tình trạng để mất rừng như: Krông Bông trên 6.000ha, Ea Súp hơn 2.000ha...
Thực hiện việc giao khoán rừng, UBND huyện Ea Súp cũng giao hơn 4.000 ha rừng cho các nhóm hộ của 4 xã: Cư M’lan, Ea Bung, Ea Lê, Ia T’mốt chăm sóc, quản lý và bảo vệ. Trong quá trình nhận rừng giao khoán, các hộ dân đã để mất rừng nhiều và khó kiểm soát, điển hình như xã Ea Bung được giao hơn 1.700ha nay chỉ còn lại khoảng 500ha rừng, số còn lại đã bị xấm chiếm làm nương rẫy và nạn lâm tặc hoành hành. Thậm chí, do nhận thấy khả năng khó tiếp tục quản lý rừng nên tại xã Ea Lê đã trả lại cho huyện hơn 300ha rừng.
Ông Bùi Đức Hạnh - Chủ tịch UBND xã Ea Bung (huyện Ea Súp) cho rằng người dân được khoán rừng có áp lực rất lớn khi số lượng người đổ về khai thác rừng và xâm chiếm tăng lên, các đối tượng này rất hung hãn, côn đồ nên rất khó cho người dân có thể quản lý, bảo vệ được tốt.
Riêng tại huyện Buôn Đôn, trong tổng số hơn 1.000 ha rừng được giao khoán cho hộ dân thuộc 2 xã Ea Huar và Krông Na, nay hằng trăm héc ta cũng lâm vào tình trạng bị tàn phá và lấn chiếm nghiêm trọng chỉ còn sót lại một phần rừng thưa thớt.
“Vào năm 2008, xã Ea Huar được huyện giao cho 220 hộ với 440ha, hiện tại khoảng 80% rừng bị xâm chiếm chủ yếu để làm nương rẫy. Nguyên nhân chủ yếu là do dân nghèo, khó khăn nên không quản lý được, xã đang rà soát các đối tượng xâm chiếm để lập danh sách lên để xử lý, đồng thời sẽ thu hồi lại số đất bị lấn chiếm”, ông Nguyễn Khắc Hùng – Chủ tịch xã Ea Huar nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, đa phần rừng được giao khoán nằm cách xa khu dân cư nên việc người dân tuần tra thường xuyên rất khó khăn, kèm theo đường sá đi lại vô cùng khó khăn và việc gặp phải các đối tượng phá rừng hung hãn sẵn sàng đáp trả nếu bị phản đối đã khiến diện tích rừng được giao khoán ngày càng bị thu hẹp đến mức báo động.
Ông Trang Quang Thành – Giám đốc Sở NN&PTNT Đắk Lắk - cho biết: “Hiện tại rừng được giao khoán đã gần hết do nhiều nguyên nhân như đời sống của người dân khó khăn, chính sách hỗ trợ và chi trả cho người giữ rừng ít. Sở đã có đề xuất với Bộ NN&PTNT thu hồi lại số rừng đã giao khoán để có hướng xử lý”. (Thanh Niên 24/9) đầu trang(
Nói rừng đặc dụng (RĐD) nghĩa là không phải đóng cửa tuyệt đối mà bao gồm nhiều chức năng như bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH), phòng hộ, khai thác… Chia sẻ lợi ích từ rừng một cách hiệu quả và công bằng được xem là mấu chốt thúc đẩy sự tham gia của các bên trong quản lý và bảo vệ RĐD.
Năm 2012, Chính phủ ban hành Quyết định số 126/QĐ-TTg nhằm thực hiện thí điểm cơ chế chia sẻ lợi ích trong quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững RĐD tại 3 vườn quốc gia (VQG). Ở Lâm Đồng, hiện toàn tỉnh có hơn 82 nghìn ha RĐD, phân bố tại 4 địa bàn: Cát Tiên (21.282ha), Bảo Lâm (5.340ha), Lạc Dương (54.367ha) và Đam Rông (1.022ha). Trong đó, RĐD thuộc VQG có Biduop - Núi Bà huyện Lạc Dương và một phần thuộc Nam Cát Tiên tại huyện Cát Tiên. VQG Biduop - Núi Bà ngoài vùng lõi, Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Lang Biang rộng tới 275.439ha với vùng đệm và vùng chuyển tiếp thuộc Đà Lạt, các huyện Lâm Hà, Đam Rông, Đức Trọng và Đơn Dương.
Theo Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Thế giới (CIFOR), một cơ chế chia sẻ lợi ích trong quản trị rừng cần được thiết kế nhằm 3 nội dung chính (còn gọi là nguyên tắc 3E): 1. Tối đa hóa tính công bằng (Equity) giữa các bên có liên quan đối với tài nguyên rừng; 2. Cải thiện hiệu quả (Effectiveness) của quản lý rừng; 3. Nâng cao hiệu suất (Efficiency) của các chương trình quốc gia và địa phương thông qua giảm các chi phí giao dịch và chi phí thực hiện.
Lâm Đồng tuy chưa triển khai Quyết định 126 nhưng thực tế đã thực hiện những nội dung mà CIROR nêu lên tại RĐD. Trao đổi với Giám đốc Sở NN&PTNT, ông Lê Văn Minh cho biết, Lâm Đồng đã triển khai thực hiện Dự án quản lý sử dụng rừng đa mục đích tại Vườn Biduop - Núi Bà do Vườn làm chủ dự án.
Bước đầu, Vườn đã thực hiện một số nội dung như chia sẻ lợi ích đối với đồng bào sống xung quanh bằng hình thức du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng tham gia; quy hoạch và trồng cây dược liệu; những quy định cụ thể về danh lục lâm sản ngoài gỗ (LSNG) cho phép khai thác; chi trả khoán quản lý bảo vệ rừng từ nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng… Tuy nhiên, theo ông Minh: Còn khó khăn trong triển khai vì khó kêu gọi đầu tư từ các doanh nghiệp.
Từ năm 2013, Vườn Biduop - Núi Bà đã có 236 hộ dân đăng ký tham gia phương án chia sẻ lợi ích, được tập huấn thu hái bền vững LSNG và được phân vùng quản lý, khai thác dưới sự giám sát của hội đồng quản lý bảo vệ rừng. Trong 7 loại LSNG được Bộ NN-PTNT phê duyệt, đã có 5 loại người dân khai thác để bán ra thị trường hoặc phục vụ nhu cầu tiêu dùng, bao gồm: mây, mật ong, nấm linh chi, măng và ốc núi. Trong đó, mây và mật ong có trữ lượng khai thác lớn, mang lại thu nhập cao cho người dân. Ông Lê Văn Hương - Giám đốc Vườn Biduop - Núi Bà cho biết: “Hướng đi của VQG là bảo tồn để phát triển, phát triển để bảo tồn”.
Một trong những dự án có tác động sâu rộng đến người dân là “Tăng cường năng lực quản lý dựa vào cộng đồng cho VQG Bidoup - Núi Bà” do Chính phủ Nhật Bản tài trợ, tổ chức JICA và Ban quản lý VQG thực hiện. Mục tiêu của dự án này nhằm nâng cao năng lực để có thể quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và tạo nguồn thu cho cộng đồng nhằm giảm áp lực lên nguồn tài nguyên rừng.
Theo đó, 3 hợp phần chính xuyên suốt là: quản lý hợp tác; cải thiện sinh kế thân thiện với môi trường và du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng. Thời gian qua, đã có hơn 8.000 hộ dân được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái trong Khu Dự trữ sinh quyển Lang Biang và chính họ đã góp phần bảo vệ, duy trì các giá trị của hệ sinh thái.
Với VQG Nam Cát Tiên, thuộc địa bàn xã Đồng Nai Thượng, huyện Cát Tiên. Anh Ngô Giang Trường - kiểm lâm địa bàn xã này cho biết, tổng diện tích rừng VQG Nam Cát Tiên được giao cho 100% người dân tộc tại chỗ với 362 hộ được nhận khoán quản lý bảo vệ 6.100ha, đã nhận số tiền được chi trả trong 5 năm qua gần 6 tỉ đồng từ chương trình này.
Làm thế nào để việc chia sẻ các tài nguyên lâm sản từ rừng, vừa góp phần cải thiện đời sống cho người dân địa phương, đảm bảo các giá trị ĐDSH trong RĐD được bảo tồn và phát triển bền vững; đồng thời ngăn chặn và kiểm soát tốt các hoạt động làm mất rừng và suy thoái rừng đạt hiệu quả cao nhất? Trước hết, việc khai thác lâm sản mang tính chất bền vững, duy trì và phát triển được tài nguyên rừng đòi hỏi có những biện pháp kỹ thuật hữu hiệu, phù hợp với các điều kiện sinh học, sinh thái của các loài động thực vật trong tự nhiên.
Cả 3 cấp độ của ĐDSH là hệ sinh thái, loài và nguồn gen cần được chú ý đánh giá đầy đủ trước khi tiến hành khai thác. Vốn tri thức dân gian của người bản địa cần được nghiên cứu khoa học để phát huy mặt tích cực và có giải pháp ngăn chặn những hạn chế. Trên cơ sở này, cơ quan chức năng và cấp có thẩm quyền lượng hóa bằng những văn bản luật và dưới luật để thực thi nghiêm túc theo luật pháp Việt Nam và được quốc tế công nhận.
Đồng thời việc khai thác tài nguyên bền vững, vấn đề quản lý, giám sát khai thác sử dụng LSNG của ngành chức năng, chủ rừng, địa phương rất quan trọng. Thực tế, việc khai thác LSNG diễn ra nhỏ lẻ, manh mún; rải rác trên phạm vi rừng rộng; không tập trung một thời điểm nhất định và đối tượng khai thác từ nhiều địa bàn thôn buôn khác nhau.
Điều này đòi hỏi cần cơ chế quản lý, giám sát có tính hệ thống và đồng bộ giữa nhiều ngành liên quan và giữa nhiều địa phương. Và cũng như việc quản lý và phát triển rừng nói chung, hoạt động này phải tránh được tình trạng hành chính hóa thì mới đạt được những hiệu quả như mong muốn.
Và hơn hết, phải thực sự đưa người dân sống trong và quanh RĐD trở thành chủ nhân có trách nhiệm, có kỹ năng trong tham gia bảo tồn ĐDSH thì mới bền vững. Họ cần một cơ chế công bằng trong chia sẻ quyền lợi, họ được tham gia chủ động trong giám sát và trong khai thác. Những lợi ích người dân được thụ hưởng từ chi trả dịch vụ môi trường rừng hay nhận khoán quản lý và bảo vệ rừng có tác dụng tích cực đối với sự tham gia của cộng đồng trong quản lý bảo vệ rừng nhưng không thể thay thế, bù đắp được hoàn toàn nhu cầu về lâm sản.
Để đáp ứng đồng thời 2 mục tiêu là bảo tồn ĐDSH và sinh kế cho người dân, nhiều vấn đề cần triển khai như quy hoạch sử dụng rừng, tổ chức phối hợp và thúc đẩy sự tham gia của người dân với các lực lượng chức năng, nghiên cứu và thực hành các biện pháp kỹ thuật cho khai thác lâm sản bền vững là những ưu tiên gắn liền với cơ chế chia sẻ lợi ích ở mỗi khu RĐD.
Chia sẻ lợi ích ĐDSH trong RĐD không thể tách rời mô hình đồng quản lý rừng, trong đó quyền lợi và trách nhiệm quản lý bảo vệ rừng được chia sẻ, phân công, phối hợp một cách hài hòa giữa các bên liên quan. (Báo Lâm Đồng 23/9) đầu trang(
Cơ quan CSĐT Công an TP Đà Nẵng đã ra quyết định khởi tố bị can, thực hiện lệnh bắt tạm giam đối với ông Lý Thanh Tùng, nguyên là cán bộ Trạm bảo vệ rừng Cà Nhông, thuộc Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa, về tội nhận hối lộ.
Nhìn lại vụ phá rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa, mặt dù chỉ có một con đường duy nhất để đưa gỗ lậu ra khỏi rừng đó là đi ngang qua trạm bảo vệ rừng, nhưng ông trùm, người có công nhất trong vụ phá rừng lớn nhất Đà Nẵng là Vũ văn Tam (trú Đông Giang, Quảng Nam) vẫn ngang nhiên thuê xe tải, phu gỗ tập kết và vận chuyển gỗ về xuôi tiêu thụ. Hậu quả, hơn 155 m3 gỗ kiền kiền bị triệt hạ với giá trị hơn 4,2 tỉ đồng.
Theo tìm hiểu chúng tôi được biết cứ mỗi chuyến gỗ lậu ông Tam “chung chi” cho lực lượng trạm Cà Nhông 5 triệu đồng vì vậy nên với lượng gỗ lậu khổng lồ tập kết có vị trí chỉ cách trạm Cà Nhông chưa đầy 1 km nhưng vụ phá rừng này mãi cho đến tháng 10/2014 mới bị phát hiện. Kết cuộc, ông Tam đã bị bắt về hành vi vi phạm các quy định về khai thác bảo vệ rừng và đưa hối lộ.
Ông Trần Viết Phương, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT TP Đà Nẵng, cho biết ngay sau khi sự việc xảy ra, Sở đã tăng cường rà soát, kiểm tra công tác bảo vệ rừng tại Trạm Cà Nhông. Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa cũng đã điều động một số cán bộ từ các trạm khác về Trạm Cà Nhông. (Tài Nguyên Và Môi Trường 23/9) đầu trang(
Cơ quan chức năng phát hiện nhiều thú quý hiếm có trong sách đỏ ở trong căn chòi dựng trái phép ở giữa rừng của hai nghi can Nguyễn Văn Hai và Đoàn Văn Long.
Ngày 24-9, lực lượng kiểm lâm Trạm Sa Mách (thuộc Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Cát Tiên, đóng trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai) cho biết vừa bàn giao hai nghi can cho Công an Vĩnh Cửu để điều tra hành vi săn bắt động vật quý hiếm trái phép trong rừng Quốc gia Cát Tiên.
Hai nghi can là Nguyễn Văn Hai (19 tuổi) và Đoàn Văn Long (31 tuổi, đều ngụ tại ấp 2 xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu).
Trước đó, trong quá trình tuần tra rừng quốc gia Cát Tiên, lực lượng kiểm lâm trạm Sa Mách cùng công an xã Phú Lý (huyện Vĩnh Cửu) đã phát hiện chòi trái phép dựng giữa rừng của hai nghi can Nguyễn Văn Hai và Đoàn Văn Long.
Kiểm tra căn chòi, lực lượng chức năng đã phát hiện và thu giữ: 112 sợi dây bẫy, 2 tê tê Java (1 con có trọng lượng 8kg và 1 con có trọng lượng 2kg), 1 con kỳ đà có trọng lượng 2kg, 2 con Cheo Cheo mỗi con nặng 1kg và 1 con khỉ nước có trọng lượng 3,5 kg. Tất cả số cá thể này đều còn sống.
Hiện vụ việc đang được giao cho cơ quan chức năng tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý theo quy định pháp luật (Pháp Luật TP.HCM 24/9; Người Lao Động 24/9) đầu trang(
Tại H.Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn gần đây, xảy ra nhiều vụ việc tranh chấp, chặt hạ cây giữa người dân và lâm trường, khiến nhiều đối tượng bị khởi tố vì hành vi chiếm đoạt và hủy hoại tài nguyên rừng.
Theo báo cáo của công an Hữu Lũng, tình trạng chiếm đất, mâu thuẫn giữa nội bộ nhân dân và lâm trường đã xảy ra từ lâu, kéo dài nhiều năm; từ 2014 cho đến nay trở nên nóng bỏng, diễn ra gay gắt tại 7 xã: Vân Nham, Hồ Sơn, Tân Thành, Thiện Kỵ, Minh Hòa, Đồng Tiến, Đô Lương. Nhiều vụ việc xảy ra đánh nhau, gây thương tích, thù oán, khiếu kiện dẫn đến đất đai bỏ trống, hoang hóa.
Điển hình là vụ việc xảy ra ở Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Đông Bắc (Cty Đông Bắc). Ông Nguyễn Khương Lâm, Giám đốc Cty Đông Bắc cho biết: “Sau khi Cty tiến hành giao đất, khoán hộ cho người dân địa phương, vẫn xảy ra tình trạng một số người không ký hợp đồng, có nhiều đối tượng lấn chiếm, chặt phá đất rừng, cây trồng. Hiện nay, gần 500 ha trên tổng diện tích 4.299 ha do Cty đang trực tiếp quản lý, đang bị người dân xâm lấn”.
Trong các địa bàn xảy ra tranh chấp, xã Tân Thành đang là “điểm nóng”. Đây là xã vùng ba, khó khăn, trình độ dân trí thấp. Trong tổng số 1.600 hộ thì phần đa là người dân tộc Tày, Nùng. Ông Hoàng Văn Thạch, Chủ tịch UBND xã Tân Thành cho biết: “Mâu thuẫn giữa Cty Đông Bắc và các hộ dân xảy ra gần như ở tất cả các thôn; chỉ tính riêng thôn Cốt Cối với khoảng 400 ha đất, thì có tới hơn 340 ha là diện tích đất đang tranh chấp, lấn chiếm”.
“Người dân thi nhau lấn chiếm với lý do “đói đất sản xuất”, số đông thì viện cớ đòi đất ông cha. Người dân canh tác vài ba năm không hiệu quả, bỏ đi nơi khác, nay thấy người khác được Cty Đông Bắc giao khoán, trồng cây bạch đàn, làm ăn có hiệu quả, bèn quay lại đòi đất, chặt phá cây rừng”, ông Thạch nói.
Đại tá Nguyễn Xuân Thu, Trưởng công an H.Hữu Lũng cho biết: cấp ủy, chính quyền địa phương và lực lượng công an đã tuyên truyền, thuyết phục và cảnh cáo những hành vi sai trái. Tuy nhiên, một số đối tượng vẫn cố tình vi phạm pháp luật. Cơ quan điều tra tiến hành khởi tố 4 vụ, 32 bị can về hành vi “Hủy hoại tài sản” và “Chiếm đoạt tài sản”.
Mới đây, Phó chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn, ông Nguyễn Văn Bình đã yêu cầu Cty Ðông Bắc phải thống kê đầy đủ danh sách hộ dân lấn chiếm. Trên cơ sở đó tìm ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng mâu thuẫn kéo dài nhiều năm qua. Tỉnh Lạng Sơn cũng yêu cầu Cty Đông Bắc cần công khai, minh bạch việc ký hợp đồng khoán trồng rừng, tỷ lệ chia lợi nhuận giữa Cty và người dân…; đồng thời, thực hiện nhiều biện pháp khác để chấm dứt tình trạng này. (Thanh Niên 24/9) đầu trang(
Từ ngày 15-9, mọi hoạt động buôn bán mẫu vật các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục CITES với Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào sẽ được tiến hành bình thường sau thời gian tạm ngừng.
Cơ quan Quản lý CITES (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) vừa nhận được Thông báo số 2015/055 của Ban thư ký Công ước về Buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) về việc thu hồi khuyến nghị đình chỉ buôn bán mẫu vật các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc danh mục CITES với Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào.
Theo đó, Ban thư ký thông báo với các quốc gia thành viên CITES về việc thu hồi thông báo nêu trên kể từ ngày 15-9.
Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam cũng sẽ thực hiện theo đúng thông báo này. Như vậy, từ giữa tháng 9, hoạt động buôn bán mẫu vật các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục CITES với Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào sẽ được tiến hành bình thường sau thời gian tạm ngừng.
Trước đó, từ ngày 19-3, Ban thư ký Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) đã khuyến nghị các nước tạm dừng các hoạt động buôn bán mẫu vật của các loài thuộc danh mục CITES với Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào.
Do đó, Cơ quan quản lý CITES Việt Nam đã tiến hành ngừng không xem xét cấp giấy phép CITES nhập khẩu cho những mẫu vật thuộc CITES do Cơ quan quản lý CITES Lào cấp giấy phép xuất khẩu. (Hải Quan 24/9) đầu trang(
Gần hai thập kỷ trôi qua, nhưng hình ảnh về cái chết đau đớn của người vợ vẫn ám ảnh ông Trịnh Ngọc Hoàng (SN 1937, thôn 4, xã Ea Trul, huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk).
Trong những ngày thanh bình này, người dân thôn 4, Ea Trul vẫn kinh hoàng khi nhớ lại thảm kịch đã đến với dân làng cách đây gần 20 năm. Đó là năm 1996 ở trong buôn làng bất ngờ xuất hiện một con voi cái to lớn từ rừng già. Con voi này luôn lảng vảng gần nhà dân, ăn các loại ngũ cốc trên nương của dân làng. Người làng đã họp nhau lại tìm cách đuổi voi.
Nhưng mọi mọi kinh nghiệm, các biện pháp truyền thống được áp dụng nhưng người dân ở đây vẫn không thể xua đuổi được chú voi lì lợm. Hàng ngày, khi đói con voi rừng này lên nương rẫy người dân ăn mì, ăn bắp, ăn chuối. Khát nước, nó ngang nhiên băng qua xóm làng, xuống sông Krông Ana gần đó vùng vẫy.
“Nhà” mà con voi này chọn là là khu vực rẫy trồng chuối của gia đình ông Trịnh Ngọc Hoàng và sau này đã gây nên thảm kịch kinh hoàng. Con voi ngang nhiên đi qua đi lại trên con đường mòn giữa vườn chuối nhà ông Hoàng và dòng sông Krông Ana, khi gặp người là nó rượt đuổi tìm cách tàn sát. Người dân ở đây đã làm đơn kiện con voi rừng trên đến chính quyền địa phương nhờ can thiệp, xua đuổi.
Hạt kiểm lâm Krông Bông sau đó đã cử nhân viên xuống giám sát và cán bộ cũng phải đau đầu trước việc phải làm sao để vừa bảo vệ tính mạng của cải của nhân dân, vừa phải bảo vệ được voi rừng. Qua xác minh ban đầu, các cán bộ kiểm lâm đã đưa ra kết luận: Con voi hoang bỗng nhiên nổi điên có thể là do rừng bị tàn phá, môi trường sống bị tước đoạt, buộc voi phải “xuống núi” cư trú.
Và ngày tội tệ nhất đã xảy ra với gia đình ông Trịnh Ngọc Hoàng (15/4/1997), con voi rừng hung dữ đã quật chết vợ ông tại rẫy chuối và làm bị thương cháu gái của ông.
Mặc dù đã gần hai thập kỷ trôi qua, nhưng hình ảnh về cái chết đau đớn của người vợ vẫn ám ảnh ông Trịnh Ngọc Hoàng. Khi kể lại câu chuyện với chúng tôi, người đàn ông này vẫn nổi da gà, đau đớn.
Theo ông Hoàng thì hôm đó gia đình ông phải giao chuối cho khách mua, vợ ông là bà Nguyễn Thị Nhật (SN 1937) đã bế theo cháu gái vào rẫy cân chuối bán cho khách. Khi việc mua bán xong xuôi, khách đã ra về, bà Nhật nhặt nhạnh ít củi khô mang về nhà nấu cơm thì thấy con voi rừng hung hãn xuất hiện.
Trước đó, con voi này đi qua quốc lộ 27 gặp các công nhân đang làm đường, con voi định lao vào tấn công nhưng bị số đông công nhân này xua đuổi nên nó bỏ lên rẫy chuối và gặp bà Nhật. Thấy voi dữ, bà Nhật hốt hoảng cho cháu đứng nép sau lưng và dùng cây rừng đập vào nhau để xua đuổi. Nhưng cách xua đuổi ấy không những không khiến con voi bỏ đi mà càng làm cho nó giận dữ thêm.
Con voi lồng lộn lao tới, dùng vòi cuốn bà Nhật cùng cô cháu gái nhỏ lên rồi quật mạnh xuống đất. Người phụ nữ bị con thú khổng lồ quấn chặt, không thể nào vùng vẫy được. Cô cháu gái nhỏ thì may mắn lọt ra ngoài và văng ra xa rồi khóc thét lên.
Nghe tiếng khóc thét của đứa cháu, ông Hoàng vội chạy lên đồi. Thấy đứa cháu nhỏ nằm một chỗ, cháu lớn nằm một chỗ, còn con voi đang ra sức quật người vợ của mình một cách tàn bạo, ông Hoàng tái mặt kinh hãi. Biết không thể cứu nổi vợ và mặc dù rất sợ hãi nhưng ông vẫn liều chết xông đến gần con voi để cứu đứa cháu nhỏ. Sau đó ông dùng hết sức bình sinh chạy xuống đồi. Vừa chạy ông vừa kêu gào để mọi người đến cứu giúp.
Nghe tiếng kêu cứu của ông Hoàng, mọi người gần đó vội vã chạy tới. Nhưng tất cả đã quá muộn, họ đành bất lực nhìn con voi hung ác hết đập rồi lại dùng chân chà nát thân thể bà Nhật. Không ai dám liều sinh mạng mình lại gần con voi điên ấy. Sau hơn 1 giờ đồng hồ vày vò thi thể vợ ông Hoàng, con voi lững thững bỏ đi. Đợi voi đi xa, ông Hoàng cùng dân làng mới đau đớn đến gần lượm nhặt phần thi thể vợ mang về mai táng.
Nhớ lại buổi chiều kinh hoàng ấy, ông Hoàng không cầm được nước mắt. Cô cháu gái nhỏ Trịnh Thị Ngọc Trinh khi ấy mới hơn một tuổi, may mắn thoát chết thì chỉ bị xây xước nhẹ và chỉ biết khóc trong nỗi sợ vô hồn.
Vụ việc đau lòng này được báo lên chính quyền địa phương và để bảo vệ tính mạng của người dân, một quyết định dứt khoát đã được đưa ra là cần phải tiêu diệt con voi hung hãn này. Trưa ngày 16/4 một tay súng lão luyện của Huyện đội Krông Bông nấp sau một gốc cây đợi voi tắm về đi qua để hạ gục. Sau nhiều phát đạn chính xác, con voi mới gục chết.
Cô cháu gái ngày nào thoát nạn voi dữ nay đã lấy chồng và ở với ông nội, lại chuẩn bị làm mẹ. Nhớ về bà, cô chỉ biết ngậm ngùi: “Ngày ấy không nhờ bà thì cháu đã chẳng còn ở đây hôm nay”. (Gia Đình Và Xã Hội 24/9) đầu trang(
Phát hiện dấu hiệu khả nghi, tổ công tác yêu cầu dừng xe để kiểm tra và phát hiện trong xe có 3,5m3 gỗ đinh hương không rõ nguồn gốc.
Rạng sáng 23/9, trong lúc làm nhiệm vụ trên đoạn quốc lộ 1A, qua địa phận xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ, lực lượng CSGT Trạm Đức Phổ (thuộc Phòng CSGT đường bộ và đường sắt Công an tỉnh Quảng Ngãi) phát hiện ôtô đông lạnh BKS 43C-04867, do Lê Tấn Thời (26 tuổi, ngụ tại TP Đà Nẵng) điều khiển đi từ hướng Nam ra có dấu hiệu khả nghi.
Tổ công tác dừng phương tiện để kiểm tra, phát hiện bên trong thùng xe chở khoảng 3,5m³ gỗ đinh hương.
Tại thời điểm kiểm tra, tài xế Thời không xuất trình được giấy tờ hợp pháp có liên quan đến số gỗ nói trên. Gỗ đinh hương thuộc loại quí hiếm với giá trị 1m3 khoảng 30 - 60 triệu đồng.
Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ phương tiện cùng tang vật để tiếp tục điều tra làm rõ. (An Ninh Tiền Tệ Và Truyền Thông 24/9; Nông Nghiệp Việt Nam 24/9; Công An Nhân Dân 24/9) đầu trang(
Rùa xanh đang trở thành 'thú cưng' của nhiều bạn trẻ ở Hà Nội. Giá 45.000 đồng/con, loại rùa đang được bán rộng rãi trên mạng xã hội, bất chấp cảnh báo nguy hiểm từ động vật ngoại lai này có thể gây hại cho sức khỏe con người và môi trường.
Thú chơi nuôi rùa trong nhà đang được nhiều bạn trẻ ở Hà Nội ưa thích, giá mỗi con được rao bán 45.000 đồng kèm một túi thức ăn. Theo như lời quảng cáo của người bán, rùa dễ nuôi, chỉ cần nuôi trong một cái cốc nhỏ, nếu thích có thể bỏ túi mang đi học nghịch.
Tuy nhiên, việc mua bán động vật ngoại lai này cũng vấp phải không ít những ý kiến trái chiều của cộng đồng mạng. Nhiều ý kiến cho rằng, rùa xanh là động vật có hại, không nên nuôi và phát tán ra môi trường.
Hiện có nhiều người không biết tác hại của rùa ngoại lai gây ra, thậm chí không biết phân biệt với các loại rùa khác. Có người còn chia sẻ, tuổi thọ của rùa rất cao nếu chán có thể phóng sinh ra ao hồ vừa làm việc thiện mà không cần phải mất công nuôi.
Theo anh Vũ Thành Công, kinh doanh giống cây cảnh trên phố Hoàng Hoa Thám, Hà Nội cho biết, loại rùa xanh được rao bán trên mạng xã hội là rùa tai đỏ, loại rùa này được liệt kê vào loại động vật phá hoại môi trường sống thứ 128 trong tất cả các loài động vật.
Khi được hỏi vì sao rùa tai đỏ lại có màu xanh, anh Công cho hay: "Rùa tai đỏ khi bé có màu xanh, khi lớn màu vàng nhạt và khi già có màu nâu. Vệt đỏ ở tai rùa phụ thuộc môi trường sống mà có màu đậm hay nhạt. Loại rùa này có thể nhịn ăn 1 tuần và sinh sản rất nhanh. Rùa tai đỏ nằm trong danh mục những động vật không khuyến khích phát triển".
Theo tìm hiểu của PV, tại nhiều hồ ao trên địa bàn quanh khu vực Hà Nội loại rùa này vẫn hiện hữu. Trên thị trường có rất nhiều cửa hàng bán rùa phục vụ nhu cầu nuôi rùa cảnh, và phóng sinh. Như trên đường Hoàng Hoa Thám, chợ đêm Phùng Khoang, chợ đêm Dịch Vọng… với giá dao động từ 40 đến 50 ngàn đồng/con, tùy kích cỡ.
Theo PGS.TS Lê Xuân Cảnh, Viện trưởng Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật: Rùa tai đỏ xuất hiện tại Việt Nam khoảng chục năm trở lại đây, và ngày càng phổ biến. Viện cũng đã có nhiều cuộc điều tra, nghiên cứu về chúng, và đã đưa ra những cảnh báo về mức độ nguy hại của loài này.
Hiện, loại rùa ngoại lai này đã bị cấm nhập khẩu cũng như nuôi, gây giống... ở Việt Nam.
Rùa tai đỏ (tên khoa học là Trachemys scripta elegans), xuất xứ từ thung lũng Mississippi - Bắc Mỹ. Có tuổi thọ khoảng 60 -70 năm.
Rùa tai đỏ là một loài động vật hung dữ, và nguy hại với môi trường tự nhiên. Chúng ăn cả thực vật và động vật, với sức gây hại lớn hơn ốc bươu vàng, bởi chúng to hơn và sống lâu hơn. Ngoài ra, chúng có thể lây truyền vi khuẩn Salmonella - gây tiêu chảy và thương hàn cho người, nhất là những người sống ở vùng sông nước.
Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) xếp loài này đứng đầu trong 100 loài xâm hại nguy hiểm nhất thế giới. Cục Bảo tồn Đa dạng Sinh học - Tổng cục Môi trường (Bộ TN&MT) cũng liệt kê rùa tai đỏ nằm trong danh sách “bắt buộc kiểm soát”. (VietQ 23/9) đầu trang(
Phần lớn động vật hoang dã là tang vật vụ án buôn bán động vật hoang dã sau đó đã bị chết tại chính... trung tâm cứu hộ chỉ bởi những vấn đề bất cập được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003...
Trong tháng 8 vừa qua, hơn 60 cá thể tê tê đã được cứu từ việc phát hiện các vụ buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp. Cộng với số tê tê đang được chăm sóc tại Trung tâm Nghiên Cứu và Bảo tồn Động vật hoang dã (Save Vietnam’s Wildlife), hiện có 70 cá thể đạt tiêu chuẩn sức khỏe để được tái thả về tự nhiên. Tuy nhiên, Cơ quan Công an và Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình không đồng ý cho tiến hành tái thả cho đến khi vụ việc được xử lý và có quyết định xử lý tịch thu với tang vật vụ án.
Lý do là bởi vì, tại Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định: “Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Tòa án hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử”.
Điều đó đồng nghĩa với việc động vật hoang dã sau khi tịch thu là vật chứng của vụ án và chỉ có quyết định tịch thu và xử lý sau khi vụ án kết thúc. Do vậy, động vật chỉ được thả lại tự nhiên sau khi vụ án được xử lý. Trên thực tế, có nhiều vụ án có thể bị kéo dài trong nhiều tháng. Hệ quả của việc lưu giữ động vật lâu dài dẫn đến phần lớn động vật hoang dã sau khi bị bắt giữ chết tại cơ quan bảo quản tang vật hoặc các cơ sở cứu hộ.
Trước thực tế này, Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn Động vật hoang dã vừa kiến nghị Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao và Uỷ ban Tư pháp Quốc hội bổ sung vào điều 79, khoản 1 Bộ luật tố tụng hình sự (Sửa đổi, bổ sung) bảo quản vật chứng: “Vật chứng là động vật hoang dã còn sống thuộc nhóm nguy cấp, quý, hiếm, sau khi bị bắt giữ cần được lập hồ sơ xác định tên loài, số lượng, lưu lại hình ảnh, rồi tiến hành tái thả về tự nhiên hoặc giao cho các cơ sở cứu hộ để chăm sóc trước khi đảm bảo điều kiện để tái thả lại tự nhiên.”
Hiện nay, cả hai loài tê tê 2 loài Tê tê Java (Manis javanica) và Tê tê Vàng (Manis pentadactyla) đều nằm trong danh sách những loài động vật được bảo vệ cao nhất trên thế giới, chúng cũng được liệt vào nhóm loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Tê tê bị săn bắt nhằm thoả mãn như cầu về thịt và vẩy cho một bộ phận những người giầu ở Việt Nam hoặc bán đi Trung Quốc.
Ông Trần Quang Phương (Cán bộ quản lý Chương trình Bảo tồn Thú ăn thịt và Tê tê) cho biết, đặc thù 2 loài tê tê tại Việt Nam chỉ ăn mối và kiến, chi phí thức ăn rất cao, mỗi cá thể tê tê ăn hết 1.410.000VND/tháng. Như vậy nguyên tiền cho ăn cho một tháng cho 70 cá thể tê tê trên là 98.700.000VN triệu đồng.
Thêm vào đó, tê tê là loài sống đơn lẻ, vì thế, khi nhốt nhiều hơn 1 cá thể trong một chuồng sẽ gây hiện tượng ức chế, căng thẳng, dẫn đến bị chết rất nhanh. Ngoài ra, điều kiện cơ sở vật chất của Trung tâm có hạn không thể nuôi số lượng lớn động vật trong một thời gian dài. Nếu như tiếp tục nhận cứu hộ, chúng tôi không đảm bảo chi phí mua thức ăn cũng như tiến hành tiếp nhận cứu hộ những đợt tiếp theo do không đủ chi phí chuồng trại.
Theo ông Nguyễn Văn Thái (Giám đốc Save Vietnam’s Wildlife đồng thời cũng là Phó Chủ tịch Hiệp hội bảo tồn tê tê thế giới IUCN), tê tê là loài động vật cực kỳ khó nuôi và sinh sản chậm. Hiện nay trên thế giới chưa có bất kỳ đơn vị nào sinh sản thành công tê tê vì mục đích kinh tế. Tất cả tê tê tịch thu đều có nguồn gốc do săn bắt trái phép ngoài tự nhiên. Mọi hành vi mua bán, vận chuyển, săn bắt tê tê đều là trái pháp luật.
“Những cá thể tê tê sau khi tịch thu đó cần được thả về tự nhiên trong thời gian nhanh nhất. Đó cũng là biện pháp xử lý tê tê sau khi bị tịch thu với tất cả các nước trên thế giới. Chúng ta cần có những thay đổi chính sách pháp luật để các cá thể động vật quý hiếm đó được thả về tự nhiên.” – ông Thái nói.
Cũng theo ông Thái, khi bắt giữ vận chuyển hoặc tiêu thụ động vật hoang dã mà đối tượng vi phạm không chứng minh được nguồn gốc hợp pháp của động vật, trong trường hợp khởi tố, cơ quan điều tra chỉ cần có đầy đủ thông tin về loài, số lượng cá thể, trong lượng và lưu giữ lại hình ảnh để tiến hành khởi tố vụ án mà không phải lưu giữ vật chứng là động vật hoang dã còn sống cho đến khi kết thúc vụ án.
“Đây không chỉ là vấn đề riêng với Tê tê, mà là vấn đề chung cho tất cả các loài động vật hoang dã sau khi bị bắt giữ từ buôn bán, săn bán trái phép. Vì vậy, chúng tôi đề nghị các cá nhân và cơ quan chịu trách nhiệm sửa đổi bổ sung bộ luật tố tụng hình sự để các cá thể động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm được thả lại tự nhiên sớm nhất sau khi bị bắt giữ từ buôn bán và vận chuyển trái phép.” Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn Động vật hoang dã nói. (VnMedia 24/9) đầu trang(
Đến hẹn lại lên, cứ sau mỗi trận mưa lớn thì các sông suối vùng thượng nguồn ở huyện Minh Hóa, Quảng Bình lại có gỗ ào ạt theo nước về xuôi.
Núi rừng Trường Sơn từng ngày vẫn đang rỉ máu bởi nạn khai thác gỗ lậu, trong khi các cơ quan chức năng nơi đây dường như vẫn chưa biết(?!)
Trong chuyến đi thực địa vừa qua ở một số xã vùng biên giới của huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, chúng tôi không khỏi bất ngờ khi chứng kiến cảnh lâm tặc vận chuyển gỗ lậu theo các sông suối về xuôi một cách ngang nhiên như chốn không người.
Tại ngầm tràn Bươm Bướm thuộc xã Hóa Sơn, lợi dụng dòng chảy của con suối sau mưa, ngay giữa trưa đã có hàng chục người bơi dưới sông cùng với những bè gỗ lớn. Trên bờ, những khúc gỗ lớn cứ phải hai người thanh niên trưởng thành mới có thể vác được đang nối đuôi nhau đi tẩu tán. Người dưới nước kẻ trên bờ, người kéo kẻ đẩy, không khí vận chuyển gỗ cứ như một ngày hội.
Kiểm đếm sơ, có đến hàng chục thanh gỗ có chiều dài hơn 3m, mặt rộng hơn 20cm, được lâm tặc kết lại với nhau thành từng cặp, một người 2 đến 3 thanh kéo về. Điều đáng nói, “ngày hội gỗ” này diễn ra cạnh con đường độc đạo duy nhất đi vào trung tâm xã và cách vị trí này không xa là trạm kiểm lâm Hóa Sơn.
Trao đổi qua điện thoại, ông Trần Mạnh Luật, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Minh Hóa cho biết: “Đơn vị ghi nhận phản ánh này của phóng viên và sẽ đi thực tế xác minh lại” (?!). (Giao Thông 24/9) đầu trang(
Không chỉ đánh trọng thương ở đầu, các đối tượng còn dọa sẽ tìm giết anh Toàn – cán bộ Hạt Kiểm lâm MangYang và vợ con anh này.
Lực lượng chức năng tỉnh Gia Lai đang khẩn trương truy tìm kẻ hành hung anh Võ Huy Toàn, Kiểm lâm viên Hạt Kiểm lâm huyện Mang Yang.
Sự việc xảy ra vào lúc 17h15’ ngày 20/9, khi anh Toàn cùng Tổ công tác liên ngành của huyện Mang Yang thực hiện Kế hoạch tuần tra, truy quét lâm tặc trên địa bàn xã H’Ra.
Theo Hạt Kiểm lâm huyện Mang Yang, có 6 đối tượng sử dụng 2 xe mô tô, mang theo nhiều hung khí như mã tấu, dao rựa bất ngờ tấn công tổ công tác tại Chốt bảo vệ rừng Kdung II, xã H’Ra, huyện Mang Yang.
Bị đánh trọng thương ở đầu, anh Toàn chạy thoát, các đối tượng tiếp tục đuổi theo và hăm dọa sẽ tìm giết anh cùng vợ con.
Qua điều tra sơ bộ, Công an huyện Mang Yang xác định, đối tượng trực tiếp tấn công anh Võ Huy Toàn là Nguyễn Viết Tường (SN 1989, trú tại xã H’Ra). Đối tượng này hiện đã trốn khỏi địa phương. Lực lượng chức năng tỉnh Gia Lai đang khẩn trương truy tìm Tường cùng các đối tượng liên quan, tiếp tục điều tra làm rõ vụ việc. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 23/9; Công An Nhân Dân 24/9) đầu trang(
Tôi sẽ còn trở lại Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam cùng với con trai tôi, vì tôi muốn con biết câu chuyện thực sự về loài gấu. Hơn hai nghìn con gấu đang sống mòn trong các trang trại nuôi lấy mật, ước tính vài trăm con còn lại trong thiên nhiên vẫn đang bị săn đuổi khắp nơi. Chỉ có hơn một trăm con được cứu hộ nhưng hoặc đã tàn tật không còn khả năng săn mồi, hoặc không còn rừng an toàn để trở về. Chẳng lẽ đến lúc nào đó gấu chỉ còn lại trong lời bài hát: “Tạm biệt búp bê thân yêu, tạm biệt gấu Misa nhé...”.
Trẻ con thường được tặng gấu bông, được kể cho nghe những câu chuyện giả dối về bạn gấu hiền lành dễ thương, ăn mật ong no căng bụng, mút ngón tay béo múp ngủ ngon lành suốt mùa đông giá... Sự thật là người lớn chẳng coi ai là bạn. Loài gấu đã bị săn đuổi cùng cực và đã bị đối xử vô cùng tàn nhẫn.
Mousi là con gấu đầu tiên được đưa về Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam vào tháng 5 năm 2007. Lúc đó nó mới chỉ là một con gấu gần 2 tháng tuổi, nặng khoảng 2kg, giấu trên một chuyến xe khách và được lực lượng kiểm lâm phát hiện. Gấu con thông thường phải được mẹ nuôi nấng chăm sóc trong hai năm đầu đời, để học đủ các kỹ năng săn mồi trong rừng sâu.
Chuyện gì đã xảy ra với mẹ của Mousi? Gấu mẹ đã trở thành tù nhân của một trại nuôi gấu lấy mật hay đã chết, bị cắt xẻ nấu cao hoặc nằm trong bình rượu khổng lồ của nhà ai đó? Mousi bé bỏng, có viền cổ trắng hình vầng trăng khuyết, bị đói, bị tiêu chảy, nằm trong một chiếc giỏ nhựa lót rơm khi Tổ chức Động vật châu Á đến kịp thời giải cứu.
Mousi vẫn còn thật may mắn khi đã lớn lên thành một cô gấu thích ăn hoa quả, và thích nhất là khi đánh hơi được mùi... mắm tôm. Cô nàng sẽ lê la bôi mắm khắp mình. Không sao cả, vì trong khu vườn rộng, có thức ăn và đồ chơi, Mousi được làm những gì nó thích.
Cô gái nhỏ nhắn tên Hằng, nhân viên của Trung tâm cứu hộ đưa cho tôi xem những cái ống tre có đục lỗ, cô sẽ giấu thức ăn vào đó để bọn gấu phải tìm cách moi, lắc mới lấy được ra ăn. Thức ăn còn được giấu vào hốc cây, đặt lên cành cao, thậm chí bị chèn lên bởi vài tảng đá. Những con gấu phải được phục hồi và rèn luyện kỹ năng đánh hơi, tìm mồi, để một ngày nào đó khi được đưa trở lại vào rừng, chúng sẽ sống đúng cuộc sống hoang dã của giống loài chúng.
Nhưng Hằng cũng nói rằng, hiện nay chưa có con gấu nào rời trung tâm cứu hộ cả, bởi vì họ chưa tìm được khu rừng nào còn thích hợp và đủ an toàn. Nhưng ngay cả khi có những khu rừng thích hợp, thì cũng có nhiều con không thể trở về. Giọng Hằng chùng xuống, cô nói về gấu trân trọng như nói về con người: “Đối với những trường hợp đó, trung tâm sẽ nuôi dưỡng và bảo vệ suốt đời”
Những con gấu mà Hằng nói tới là gấu được giải cứu từ những trại nuôi gấu lấy mật trong tình trạng kiệt quệ về tinh thần và sức khỏe. Chúng bị giam cầm nhiều năm ròng rã trong những lồng cũi chật hẹp, có những con đã mất chân, tay, mù mắt, hỏng hết răng...
Trong một chuyến đi thực địa của Tổ chức Động vật châu Á, một cánh tay gấu tuyệt vọng đã với ra khỏi cũi sắt đập vào vai một thành viên đoàn khảo sát. Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam được thành lập sau đó. Họ đã tìm nhiều cách vận động, thuyết phục, truyền thông, để đưa dần những cá thể gấu về đây, thoát khỏi cái chết từ từ và đau đớn trong trại gấu nuôi lấy mật. Nhưng chúng cũng không còn khả năng tồn tại nếu quay về với tự nhiên lần nữa.
Tôi lang thang quanh những khu nhà gấu, ngắm những con gấu cụt tay, thọt chân đang mò tìm đồ ăn trên cỏ. Khu nhà “gấu trẻ” vui hơn vì gấu khỏe mạnh, linh hoạt hơn, leo trèo và chơi xích đu, chơi bóng như bọn trẻ con. Hằng ngó nghiêng vào mặt từng con gấu để nhận ra tên của chúng, cô luôn luôn gọi gấu bằng tên hoặc là gọi “các bạn ấy” một cách âu yếm. Hình như vẫn có điều gì đó không ổn.
Thực ra đây cũng chỉ là một khu bán thiên nhiên, tức là một khu chuồng nuôi lớn hơn so với chuồng ở vườn bách thú. Xung quanh có rào chắn và lưới điện, các gốc cây đều được bọc ống nhựa trơn để gấu không leo được lên trên cao. Một nơi giam giữ lớn hơn, chứ chưa phải là rừng sâu - nhà thực sự của gấu.
Gấu không phải là loài sống bầy đàn. Chúng sống đơn lẻ, trừ một vài khoảng thời gian kết đôi để duy trì nòi giống. Gấu mẹ chọn hang sâu để sinh con, và chăm sóc vài năm đầu đời, dạy cho gấu con mọi kỹ năng săn mồi trước khi tách mẹ. Ở Trung tâm, cho đến nay chưa có ca nào thành công trong việc nhân giống gấu. Hằng kể rằng: “chúng em cũng đã tiến hành ghép đôi, vài lần rồi, nhưng cuối cùng các bạn ấy vẫn không thể nào sinh sản được!”
Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam không chỉ giải cứu, chăm sóc phục hồi gấu, mà còn rất nỗ lực trong việc truyền thông thay đổi nhận thức cộng đồng, đấu tranh loại bỏ dần thực trạng nuôi gấu lấy mật ở Việt Nam. Nguồn kinh phí duy trì hoạt động của trung tâm chủ yếu đến từ các quỹ thuộc các nước châu Âu phát triển. Lật lại lịch sử về đa dạng sinh học ở châu Âu, người ta có thể nhận thấy, thói quen săn bắn từ nhiều thế kỷ đã dồn nhiều loài thú đến gần sự tuyệt chủng, trong đó có gấu.
Khi hổ, chó sói, gấu... dần vắng bóng, rừng bị tàn phá bởi sự sinh sôi quá mức của một số loài vốn là thức ăn của thú lớn, con người chợt thức tỉnh. Trong nỗ lực tuyệt vọng để cứu vãn cân bằng sinh thái và chuộc lại tội lỗi của con người với loài gấu, các tổ chức nhân đạo và môi trường đang vận động bảo tồn gấu trên khắp thế giới. Thà muộn còn hơn là không. Nhưng có vẻ ở một đất nước còn trăm ngàn khó khăn liên quan đến con người như Việt Nam, việc vận động để cứu hộ loài gấu dường như đi vào bế tắc.
Loài gấu khốn khổ vì mật của chúng được đồn thổi là chữa được nhiều loại bệnh một cách thần kỳ. Chứng cớ khoa học về tác dụng của mật gấu rất ít ỏi, nhưng mật gấu vẫn được mua với giá rất cao. Các trại gấu khai thác mật bằng cách dùng kim tiêm lớn chọc qua thành bụng vào túi mật của gấu để hút. Không phải lúc nào việc này cũng được làm một cách an toàn và giảm thiểu đau đớn cho gấu.
Nhiều bằng chứng đã cho thấy gấu bị chọc dò nhiều lần dẫn đến viêm nhiễm các cơ quan trong ổ bụng. Bác sĩ đã từng giải phẫu phát hiện những khối u lớn trong bụng gấu, và túi mật có lẫn cả máu, mủ, nhiều vi khuẩn và bệnh tật. Có những mẫu mật gấu ngoài thị trường khi xét nghiệm thấy rất nhiều tạp chất, thậm chí cả phân của gấu. Có những trường hợp người đã nhiễm bệnh sau khi dùng mật gấu.
Hãy nhắm mắt và tưởng tượng. Gấu bị nhốt trong cũi chật, bẩn thỉu và tăm tối, không đủ thức ăn và nước uống, phải chịu sự đau đớn cùng cực khi kim chọc vào bụng nhiều lần, cứ thế năm này qua năm khác. Loài gấu vốn có sinh lực mạnh mẽ, sức chịu đựng phi thường mới có thể sống sót trong sự tra tấn này suốt thời gian dài. Nhưng liệu con người có cần mật gấu đến thế không? Và có biết rằng mình đang sử dụng thứ mật có chứa cả máu, mủ, bệnh tật và phân của chúng? Hãy dừng lại để cứu chúng và cứu chính mình.
Hằng nói với tôi rằng, Trung tâm mong muốn mỗi người đến thăm hãy chia sẻ cho ít nhất năm người thân hay bạn bè của mình rằng, hãy từ bỏ việc dùng mật gấu. Có những loài thảo dược và chất tổng hợp đã được khoa học khẳng định có tác dụng tốt thay thế cho mật gấu. Và hãy ngắm nhìn những con gấu non.
Chúng là những sinh vật đáng yêu biết chừng nào. Chúng chỉ ăn lá cây, hoa quả, mật ong, một vài loài vật nhỏ như chuột. Chúng bơi và té nước nghịch ngợm, chúng đắp lá lên mặt cho mát khi ngủ. Và khi tìm được một quả bóng, một cái xích đu, chúng thích thú chơi đùa không khác gì một đứa trẻ hồn nhiên... Chúng là một phần của thế giới này. Sinh vật nào cũng có lý do riêng để tạo hóa sinh ra chúng.
“Tạm biệt búp bê thân yêu, tạm biệt gấu Misa nhé...”. Tôi từng nghĩ bài hát này hay nhất trong các bài hát trẻ con, nó đầy lưu luyến, và chứa chan tình cảm ngây thơ giữa con người với thế giới xung quanh. Lần nào hát cùng con tôi cũng rưng rưng muốn khóc. Khi rời Trung tâm cứu hộ gấu tôi cũng cảm thấy giai điệu này vang lên trong đầu, nhưng lần này nghẹn ngào muốn khóc vì một lý do khác.
Nhất định tôi sẽ quay trở lại cùng con trai mình. Vẫn còn đó những con gấu non vui đùa, vẫn còn đó những niềm hy vọng. Thêm mỗi người ủng hộ, thêm một bước đi gần hơn với việc chấm dứt nạn nuôi gấu lấy mật ở Việt Nam. (Đại Biểu Nhân Dân 23/9) đầu trang(
Trong chuyến công tác mới đây ở Đắk Nông, người viết nghe câu chuyện đùa nhưng đầy xót xa khi nhiều người nói với nhau rằng, phá rừng ở Đắk Nông đã… về đích. Thực tế, có “mục sở thị” vấn nạn phá rừng ở địa phương này, mới thấy điều này là có cơ sở…
Đây là huyện Đắk Song, một trong những điểm nóng của nạn phá rừng ở Đắk Nông. Từ thị trấn Đức An, chúng tôi đi ngược lên phía biên giới giáp với Campuchia, để vào xã Thuận Hạnh, một trong những xã vùng sâu khó khăn nhất của Đắk Song. Hai bên đường bạt ngàn những cánh rừng bị “cạo trọc” nham nhở. Càng đi vào sâu, những cánh rừng tự nhiên càng bị phá khốc liệt hơn.
Dọc hai bên đường, cây rừng chỉ còn một vạt mỏng, loang lổ theo kiểu “ngụy trang” cho những căn nhà tạm, những khu đất trống, rồi những rẫy cà phê, tiêu… trải dài. Cũng trên địa bàn huyện Đắk Song, men theo Quốc lộ 14C từ xã Thuận Hạnh, đi ngược về khu vực xã Nam Bình, Đắk Hòa, Nâm N’jang… cũng có đến hàng chục điểm phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp nghiêm trọng.
Ông Vũ Văn Hán, ở thôn 2 xã Nam Bình, một trong những hộ dân di cư ở Nam Định vào đây từ năm 1985 cho biết, chỉ mấy năm trước khu vực này là rừng già, cây cối bạt ngàn, thỉnh thoảng thú rừng còn mò vào tận nhà… Thế nhưng, chỉ trong một thời gian ngắn, rừng núi đã bị phá tan hoang, bây giờ có đi ngược lên sát biên giới với Campuchia cũng không còn dấu vết của rừng nữa…
Không chỉ ở những địa phương vùng sâu, vùng xa của huyện Đắk Song mới mất rừng, ngay cả trên đường về thị xã Gia Nghĩa, nhiều cánh rừng bạt ngàn cũng đã biến mất, thay vào đó là những cánh đồi trọc, lác đác cà phê, hồ tiêu, sầu riêng… Để tiếp tục chứng kiến nạn phá rừng ở Đắk Nông, chúng tôi đến khu vực xã Quảng Thành, thị xã Gia Nghĩa.
Chỉ vào vạt rừng trọc lóc nham nhở, ngổn ngang, một người dân địa phương cho biết, diện tích rừng mới bị tàn phá này do Xí nghiệp lâm nghiệp Nghĩa Tín (Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Gia Nghĩa) quản lý.
Điều đáng nói, khu vực rừng bị tàn phá nặng nề này chỉ cách trung tâm thị xã Gia Nghĩa chừng khoảng 10km. Theo thống kê của cơ quan chức năng, chỉ tính từ đầu năm 2015 đến nay, trên lâm phần do Xí nghiệp Lâm nghiệp Nghĩa Tín quản lý đã xảy ra hơn 50 vụ phá rừng, gây thiệt hại gần 110 ha rừng tự nhiên. Gộp chung các xí nghiệp thành viên khác, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Gia Nghĩa đã để mất hơn 9 nghìn ha rừng…
Trước việc phá rừng xảy ra ngày càng nghiêm trọng trên địa bàn, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Bộ Công an phối hợp với UBND tỉnh Đắk Nông cùng các cơ quan chức năng kiểm tra xác minh, làm rõ, có biện pháp xử lý theo quy định, báo cáo Thủ tướng Chính phủ ngay trong tháng 9/2015.
Theo số liệu của các cơ quan chức năng, từ năm 2005 đến nay, diện tích rừng tự nhiên của Đắk Nông đã giảm từ 360 nghìn ha xuống khoảng 220 nghìn ha. Hiện, độ che phủ rừng chỉ còn 38,7%, giảm gần 20% so với 10 năm trước…
Vậy, nguyên nhân nào khiến rừng ở Đắk Nông liên tiếp “chảy máu”? Trong một cuộc họp với các cơ quan chức năng, ông Nguyễn Đức Luyện, Phó chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông, thẳng thắn thừa nhận, có nhiều nguyên nhân dẫn đến mất rừng.
Nhưng, cái chính là có liên quan đến cán bộ. Những vụ phá rừng trước đây không xử lý được bởi vì cán bộ cũng có nhận đất nhận rừng, có buôn bán đất đai, thậm chí có chỉ đạo “bật đèn xanh” phá rừng sau đó mua lại.
Thực tế, theo một số người dân ở huyện Đắk Song cũng như ở thị xã Gia Nghĩa, việc mua bán đất lâm nghiệp, đất rừng ở địa phương diễn ra rất phổ biến và rất dễ dàng. Mua bán xong, người mua sẵn sàng thuê người vào phá rừng, phát, đốt, dọn thực bì rừng với giá từ 7 - 15 triệu đồng/ha.
Việc buông lỏng quản lý của cơ quan chức năng đã và đang khiến vấn nạn phá rừng ngày càng diễn biến phức tạp ở Đắk Nông. Điều này cũng giải thích nguyên nhân vì sao nhiều vụ phá rừng diễn ra “sát nách”, như ở xã Quảng Thành cũng khiến chính quyền lẫn cơ quan chức năng ở địa phương… không hề hay biết.
Bên cạnh, buông lỏng quản lý, việc giao khoán rừng, đất lâm nghiệp theo Nghị định 135/2005/NĐ-CP ở Đắk Nông cũng còn nhiều bất cập. Trong đó, nhức nhối là tình trạng giao khoán rừng tràn lan, không đúng đối tượng, không có quy hoạch… Đặc biệt, diện tích đất rừng giao cho các doanh nghiệp, dự án lại bị mất rừng nhiều nhất.
Đơn cử, như trường hợp Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Gia Nghĩa, được UBND tỉnh giao quản lý, bảo vệ hơn 5 nghìn ha rừng tại xã Quảng Thành, với mục đích duy trì rừng phòng hộ đầu nguồn. Thế nhưng, chỉ sau một thời gian ngắn, phần lớn diện tích rừng của DN lại bị tàn phá một cách không thương tiếc…
Cũng với những nguyên nhân chính trên, thì công tác xử lý vi phạm về quản lý rừng của cơ quan chức năng ở địa phương còn nương nhẹ; Tình trạng chống lại lực lượng quản lý, bảo vệ rừng diễn ra nhiều nơi, nhưng không được xử lý nghiêm... đã và đang khiến diện tích rừng ở Đắk Nông ngày càng thu hẹp.
Mất rừng, Đắk Nông và cả những khu vực lân cận đang phải đối mặt với nguy cơ cạn kiệt nguồn nước, sa mạc hóa cũng như những biến đổi khí hậu tiêu cực khác từ việc để mất rừng. (Thời Báo Ngân Hàng 23/9) đầu trang(
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Trúc vừa chỉ đạo cơ quan chức năng kiểm tra, xử lý tình hình quản lý, bảo vệ rừng tại xã Sơn Thành Tây, huyện Tây Hòa.
Theo đơn kiến nghị của người dân xã Sơn Thành Tây, huyện Tây Hòa đề ngày 02/9/2015 thông tin và kiến nghị giải quyết về tình hình rừng hai thôn Lạc Đạo và Đá Mài ở xã Sơn Thành Tây bị chặt phá trái phép nghiêm trọng, trong đó có một số cán bộ xã tham gia phá rừng, làm rẫy…
Về việc này, Phó Chủ tịch UBND tỉnh giao lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo Thanh tra Sở, Chi cục Kiểm lâm và các đơn vị liên quan trực thuộc tổ chức kiểm tra, xử lý cụ thể theo thẩm quyền về tình hình quản lý bảo vệ rừng tại xã Sơn Thành Tây, huyện Tây Hòa theo đơn kiến nghị của người dân; báo cáo kết quả thực hiện cho UBND tỉnh trước ngày 05/10/2015. (UBND Tỉnh Phú Yên 22/9) đầu trang(
Hàng chục người hì hục len lỏi vào các khu rừng thốt nốt để đào bới tận gốc. Cây ngã xuống, có người khác bao bọc rễ cẩn thận, chuyển lên xe kéo ra đường chính...
Còn xe rơmooc thì tấp nập chở cây thốt nốt đi nơi khác. Đó là những gì đã và đang diễn ra rầm rộ nhiều ngày nay ở các xã có đông đồng bào dân tộc Khmer ở huyện Tịnh Biên, An Giang.
Ghé thăm ấp Đây Cà Hom, xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên chúng tôi mới thấy không khí sôi động khi hàng chục người dân trai tráng đang hì hục đào bới xung quanh cây thốt nốt để bứng cây lên.
Tìm hiểu, chúng tôi biết được số người này đang làm thuê cho ông Bình (chưa rõ lai lịch). Nhiệm vụ của các nông dân là đào bới xung quanh cây thốt nốt để bứng lên còn nguyên rễ. Sau đó sẽ có nhóm khác đến dùng lưới B40 bó xung quanh rễ rồi dùng bao (loại bao chứa lúa) tiếp tục bao bọc lớp rễ đó cho sạch sẽ.
Anh Đỏ, quê ở xã Núi Voi, huyện Tịnh Biên - trưởng nhóm này - cho biết nhóm anh có tám người chuyên đào cây thốt nốt và chặt cành, còn hai người khác có nhiệm vụ bao bọc rễ để vận chuyển.
“Anh em tôi chỉ làm mướn thôi, không biết gì hết, chỉ biết hết ngày là tính tiền. Anh thấy ai bó cây thì họ được 200.000 đồng/ngày, còn người đào thì 180.000 đồng/ngày, cơm nước tự lo” - anh Đỏ nói.
Theo quan sát của chúng tôi, ở khu vực này đã có năm cây thốt nốt tuổi đời trên 15 năm đã bị nhóm người này bứng xong và chuẩn bị cho xe kéo ra ngoài đường chính. Số còn lại khoảng chục cây cũng bị nhóm này nhắm đến và sẽ làm trong vài ngày tới.
“Từ sáng giờ nắng mệt nên anh em chỉ làm có bao nhiêu cây thôi. Chắc đến chiều đào được 3 - 4 cây nữa là xong ngày rồi” - anh Đỏ nói.
Theo những người này, bà con bán thốt nốt với giá dao động từ 300.000 - 500.000 đồng/cây tùy kích cỡ và độ tuổi.
Trong khi đó, tại khu vực gần cầu Bưng Tiền, xã Văn Giáo đã có một xe đầu kéo chờ sẵn ven tỉnh lộ 948 để chuyển thốt nốt từ xe tải nhỏ qua xe đầu kéo này. Khi thấy chúng tôi ghi hình, một số người đã điện thoại liên tục và thậm chí là hù dọa.
Khác hơn hôm trước, lần này thương lái xuất hiện và nói họ mua các cây này mang về Hà Nội để…làm kiểng. Hôm 22-9, thương lái lạ vào mua 16 cây thốt nốt chất lên xe to đùng chuyển đi. Người chở thuê cho biết số cây thốt nốt được chở đi bán cho Trung Quốc.
Thốt nốt được xem là “linh hồn” của vùng Bảy Núi, An Giang từ xưa đến nay. Thế nhưng liên tục nhiều ngày qua, từng nhóm thương lái "miền ngoài" đã vào vùng này thuê nhân công đào bới khắp phum, sóc của bà con Khmer để bứng trọn cây thốt nốt.
Đâu đâu cũng thấy hố sâu của cây để lại quanh ruộng lúa người dân. Đó là chưa kể các cành, lá bị chặt bỏ ngổn ngang quanh ruộng lúa.
Ngày 23-9, ông Hồ Văn Đức, phó chủ tịch UBND xã Văn Giáo, cho biết hôm rồi mấy anh em ở ấp phát hiện và báo về xã là có người đến mua cây thốt nốt. Chính quyền cử đoàn thể đến làm việc thì người mua cho biết họ mua để bán cho Trung Quốc.
Chính quyền sau đó vận động bà con đừng bán vì chưa có căn cứ pháp lý gì để xử lý người mua. Đoàn vận động đã nói rõ với bà con giá trị của cây thốt nốt, khi trồng cây tới lớn và thu hoạch thì rất lâu.
Theo ông Đức, tuy giá bán hiện giờ cao nhất là 500.000 đồng/cây nhưng bà con thu hoạch nước làm đường thốt nốt chừng hai mùa là bằng giá bán cây. Hoặc cho thuê thì mỗi năm cũng được 500.000 - 800.000 đồng/cây tùy loại lớn nhỏ.
“Mình chỉ vận động cho bà con hiểu, đừng vì lợi nhuận trước mắt mà bán đi, không bảo vệ được cây đặc sản truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer. Nếu không có giải pháp căn bản thì chừng 2-3 năm nữa là không còn cây đặc trưng của vùng Bảy Núi” - ông Đức nói.
Còn ông Lưu Đức Vũ, phó chủ tịch UBND thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn, cho biết tuy là ở địa phương có gần 100 cây thốt nốt, chiếm tỉ lệ ít so với huyện nhưng trước việc thương lái miền ngoài ồ ạt thu mua thốt nốt thì thị trấn đã tích cực tuyên truyền cho bà con hiểu rõ lợi ích của cây thốt nốt lâu dài hơn là chạy theo lợi ích trước mắt.
“Quan điểm cá nhân tôi cũng như chỉ đạo của UBND huyện đều thống nhất là vận động bà con từ ấp đến các ngành phải cố gắng tuyên truyền bà con giữ lại số cây này. Mình không thể bắt phạt họ mua hay bán cây này vì nó nằm ngoài doanh mục.
Theo tôi biết, cây thốt nốt khoảng 20 năm mới sử dụng được cho việc nấu đường, ăn trái nhưng bà con sống được với nó rất lâu. Nếu mất hết thì nguy cơ mất làng nghề, thương hiệu và cảnh quan khu vực là rất lớn” - ông Vũ nói.
Như Tuổi Trẻ đã thông tin, tình trạng buôn bán cây thốt nốt liên tục diễn ra trong vài ngày qua khiến dư luận hết sức lo ngại về diện tích trồng thốt nốt của hai huyện Tịnh Biên, Tri Tôn sẽ bị ảnh hưởng rất lớn. Dù chính quyền hai huyện này đã có kiến nghị Chi cục Kiểm lâm tỉnh An Giang sớm đưa loại cây này vào danh mục cấm mua bán, vận chuyển nhưng đến nay vẫn chưa có hồi âm.
Nếu không sớm có giải pháp kịp thời thì trong thời gian tới “linh hồn” Bảy Núi sẽ mất. Những hàng thốt nốt quanh co mọc hai bên ruộng lúa của đồng bào Khmer sẽ biến thành những hố sâu trống trải. Hai làng nghề truyền thống đường thốt nốt sẽ dần dần mất tiếng vì thiếu nguyên liệu.
Để 1 cây thốt nốt trưởng thành, mất it nhất 30 đến 50 năm. Thốt nốt có tuổi thọ có thể trên 100 năm.
Thốt nốt có khả năng chịu khô hạn, ngập nước, ưa sáng nhưng không chịu rét. Thốt nốt non ban đầu sinh trưởng chậm, về sau mọc nhanh hơn.
Rễ của cây thốt nốt cắm rất sâu trong lòng đất và nó trữ nước trong lòng đât với một số lượng kỷ lục.
Đốn nó đi, đồng nghĩa với việc mang đến những trận lũ lụt trong mùa mưa, và hạn hán trong mùa khô. Ngoài giá trị kinh tế, câ thốt nốt còn giúp con người che bóng mát trong những ngày hè oi bức, điều hoà khí hậu ôn hoà. (Tuổi Trẻ 24/9) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Keo tai tượng đã được xác định là loài cây trồng rừng chủ lực ở Quảng Ninh với gần 10.000ha trồng mới trên một năm. Tuy nhiên, đến nay việc xây dựng vườn giống và rừng giống keo tai tượng nhằm chủ động cung cấp giống cho các chương trình trồng rừng chưa được thực hiện. Do đó, việc xây dựng mô hình sản xuất giống và trồng rừng thâm canh keo tai tượng tại Quảng Ninh là rất cấp thiết.
Từ nhiều năm nay, giống keo cung cấp cho chương trình trồng rừng trên địa bàn Quảng Ninh đều được mua từ các rừng giống ở các tỉnh khác. Nhiều nguồn giống còn chưa đảm bảo chất lượng. Việc nhân giống cho keo tai tượng tại Quảng Ninh hiện vẫn áp dụng những kỹ thuật cổ điển, gieo ươm trong bầu đất và trong các vườn ươm thô sơ.
Do đó, chất lượng cây giống chưa đảm bảo. Trước thực tế đó, năm 2012 Công ty CP Sản xuất dịch vụ sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao Yên Hưng đã đề xuất và được phê duyệt thực hiện nhiệm vụ KHCN cấp nhà nước “Xây dựng mô hình sản xuất giống và trồng rừng thâm canh keo tai tượng tại Quảng Ninh”.
Thực hiện dự án này, Công ty CP Sản xuất dịch vụ sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao Yên Hưng đã áp dụng quy trình công nghệ nhân giống và trồng rừng thâm canh, trồng bền vững cây keo tai tượng bằng các giống mới và biện pháp kỹ thuật lâm sinh tiên tiến, từ đó từng bước hình thành vùng sản xuất gỗ lớn. Cụ thể là đã xây dựng mô hình vườn ươm bán công nghiệp sản xuất cây giống keo tai tượng chất lượng cao; xây dựng mô hình trình diễn giống và biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong thâm canh rừng trồng keo tai tượng theo hướng sản xuất hàng hoá.
Mô hình trồng thâm canh và rừng giống keo tai tượng được thực hiện tại 2 hộ gia đình ở phường Minh Thành (TX Quảng Yên) với diện tích là 20ha. Cùng với đó là chuyển giao các quy trình kỹ thuật thiết kế vườn ươm, sản xuất cây con keo tai tượng theo hướng bán công nghiệp, chăm sóc vườn ươm và vườn vật liệu, thiết kế trồng rừng, kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng trồng thâm canh.
Ông Nguyễn Huy Viện, Giám đốc Công ty CP Sản xuất dịch vụ sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao Yên Hưng, cho biết: Trong quá trình thực hiện dự án này, Công ty gặp một số khó khăn, nhưng với sự giúp đỡ của các cơ quan chức năng, nhất là Sở KH&CN, đến nay dự án đã hoàn thiện, xuất được cây giống, được thị trường chấp nhận. Nhiều đơn vị ở tỉnh bạn đã hợp đồng với Công ty để cung cấp cây giống cho họ. Những năm tiếp theo Công ty dự kiến sản xuất từ 1-2 triệu cây/năm. Đối với việc trồng rừng thâm canh, cây keo tai tượng phát triển rất tốt, lớn gấp 3 lần cây keo tai tượng bình thường khác.
Hiện lâm nghiệp của tỉnh đang có xu thế chuyển dần sang hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung với cường độ kinh doanh cao. Qua một số chu kỳ kinh doanh, nhiều chủ rừng đã nhận thức được chất lượng giống ảnh hưởng rất lớn tới năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của rừng trồng, nên nhu cầu sử dụng cây keo tai tượng chất lượng cao từ hạt phục vụ cho trồng rừng ngày càng lớn.
Những kết quả bước đầu của dự án do Công ty CP Sản xuất dịch vụ sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao Yên Hưng thực hiện đã mang lại lợi ích thiết thực cho người dân vùng dự án. Bà Trần Thị Bích Hường, một trong 2 hộ thực hiện mô hình, phấn khởi cho biết: “Gia đình tôi rất phấn khởi khi tham gia vào trồng thâm canh cây keo tai tượng theo dự án. Chúng tôi được cung cấp cây giống và phân bón miễn phí, được tập huấn quy trình kỹ thuật trồng. Trước đây chúng tôi trồng rừng chỉ lấy gỗ nhỏ làm ván, dăm; nay trồng theo khoa học kỹ thuật, lấy gỗ lớn mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều. Nhiều gia đình đã học tập theo, tự đầu tư trồng cũng cho kết quả khả quan”.
Những kết quả bước đầu từ mô hình là cơ sở cho việc nhân rộng trên quy mô lớn, là điều kiện để cung cấp hạt giống cho những giai đoạn tiếp theo, đồng thời giải quyết việc làm thường xuyên cho một số lao động vùng dự án, góp phần vào việc xây dựng nông thôn mới tại địa phương. (Báo Quảng Ninh 23/9) đầu trang(
Trong năm 2013, tổng diện tích toàn huyện Chợ Đồn trồng rừng mới được 1.795,58ha, trong đó những diện tích được người dân trồng xen canh cây sắn là 498,66ha; lúa nương 125,60 ha, tập trung nhiều tại các xã Bình Trung, Quảng Bạch, Nghĩa Tá...
Với phương châm “lấy ngắn nuôi dài” người dân ở huyện Chợ Đồn đã chủ động trồng xen cây sắn, lúa nương trên những diện tích rừng trồng mới, vừa bảo vệ quá trình phát triển của cây, vừa giữ đất, chống xói mòn và tăng thêm sản lượng lương thực để phục vụ chăn nuôi, tăng thu nhập… Các loại cây lâm nghiệp thường sau từ 6-15 năm mới cho khai thác, nên việc trồng xen canh đã đem lại thu nhập đáng kể cho người dân trong thời gian cây lâm nghiệp chưa khép tán.
Nếu tính về lợi nhuận: như trồng cây keo sau 8 năm mới khai thác với 1ha thu về được hơn 70 triệu đồng thì tận dụng năm đầu trồng lúa nương 1ha thu về 13-15 tạ thóc. Thị trường ngày một ưa chuộng những nông sản hạn chế được những chất kích thích hay thuốc trừ sâu, nên lúa nương đã và đang được thị trường đón nhận như một thương hiệu sạch. Giá lúa nương nếp, tẻ đều cao hơn so với lúa cấy ruộng. Gạo tẻ giá bán trung bình 15-20 nghìn/kg. Gạo nếp tùy từng thời điểm, thường cao vào những dịp lễ tết giá từ 25-30 nghìn/kg.
Ở Chợ Đồn việc trồng xen canh đã được người dân trồng nhỏ lẻ từ lâu nhưng ba năm trở lại đây, phong trào lấy ngắn nuôi dài đã được bà con nơi đây phát triển mạnh. Khi dọn thực bì tạo trên mặt đất lớp bùn gio cộng với thời tiết thuận lợi là điều kiện tốt cho cây lúa nẩy mầm tươi tốt, cây rừng có đủ chất dinh dưỡng. Sau khi thu hoạch lúa nương xong thì rơm rạ phân hủy làm đất tơi xốp giúp cho cây trồng phát triển tốt hơn.
Chúng tôi đến xã Bình Trung, một trong những địa phương đi đầu trong việc chú trọng trồng rừng. Mấy năm trở lại đây xã Bình Trung trồng mới mỗi năm hơn 200ha, bởi vậy những diện tích mới trồng đều được người dân trồng xen canh với luân chuyển cây trồng. Năm 2013, toàn xã trồng mới được hơn 200ha rừng trong đó trồng xen lúa nương 21,5ha; trồng xen sắn được 66,67ha.
Sang năm thứ hai,thứ ba thường bà con sẽ tận dụng những diện tích đã trồng lúa nương năm đầu tiên để trồng sắn, việc luân canh cây trồng sẽ mang lại năng suất hơn bởi sẽ giúp tái tạo chất dinh dưỡng trong đất. Sắn là cây dễ trồng, chịu hạn tốt, chi phí thấp, không đòi hỏi nhiều công chăm sóc, ít sâu bệnh. Với năng suất 110 tạ/ha, giá bán sắn tươi là 1.400 đồng/ 1kg (tùy từng thời điểm) và sắn khô là 4.500 đồng/1kg thì đây là khoản thu nhập đáng kể cho người dân.
Cô Phan Thị Thuyết, thôn Tông Quận, xã Bình Trung cho biết: gia đình cô có hơn 3ha diện tích đất trồng cây, mỗi năm trồng mới cô đều trồng xen sắn. Năm 2013, gia đình cô trồng xen 1ha sắn với rừng mới trồng, đầu ra ổn định nên gia đình cô cũng thu về khoản kha khá, không mất nhiều công chăm sóc, khi trồng đến khi thu hoạch vun một lần, cùng lúc đó chăm sóc, thăm nắm được sự phát triển, sâu bệnh của rừng mới trồng.
Phương thức canh tác “lấy ngắn nuôi dài” rất phù hợp với thực tế của địa phương. Phương thức canh tác này không chỉ mang lại nguồn thu nhập mà còn giúp bà con tiết kiệm được công chăm sóc cho cây lâm nghiệp, bởi từ khi làm cỏ cho đến khi thu hoạch sắn thì cây lâm nghiệp có điều kiện để phát triển theo. Việc thu hoạch sắn còn tạo cho đất có được độ tơi xốp và độ ẩm cần thiết cho cây lâm nghiệp phát triển.
Không những thế, trồng xen canh và phải thường xuyên chăm sóc cây màu nên người dân sẽ có điều kiện theo dõi tình hình phát triển hoặc sâu bệnh trên cây rừng, từ đó có những biện pháp khắc phục hiệu quả. Đặc biệt, với giá thành ổn định, nhiều hộ gia đình có thu nhập khá từ trồng sắn. Một công đôi việc, vừa có được thu nhập từ cây sắn trồng xen canh, vừa chăm sóc được rừng trồng, hiệu quả là không thể phủ nhận.
Đồng chí Ma Đình Tuyến, Trưởng phòng nông nghiệp huyện Chợ Đồn khẳng định: việc trồng xen canh cây ngắn ngày với rừng mới trồng đã mang lại hiệu quả đáng ghi nhận, giúp bà con có thêm khoản thu nhập, đồng thời đây cũng là phương thức chăm sóc tiến trình phát triển của rừng trồng.
Tuy nhiên, phòng chức năng cũng khuyến cáo người dân các ưu thế của việc trồng xen canh, lựa chọn các loại cây trồng xen canh phù hợp với từng loại đất, mật độ, cách chăm sóc và đầu ra của sản phẩm...Mô hình trồng rừng thâm canh với cây ngắn ngày nếu được thực hiện đúng kĩ thuận sẽ là hướng đi giúp bà con giảm nghèo bền vững. (Quỹ Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng 23/9) đầu trang(
Theo ông Tô Mạnh Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Lào Cai, Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai đã có quy hoạch mở rộng vùng trồng quế lên 25.000ha từ nay đến năm 2025, tăng gấp 2,5 lần diện tích quế hiện nay.
Vùng trồng quế sẽ phát triển đến 50 xã, thuộc bốn huyện Bảo Thắng, Văn Bàn, Bảo Yên, Bắc Hà... Những vùng này đã từng trồng quế theo hình thức tự phát của các hộ dân cho thấy khí hậu, thổ nhưỡng rất hợp với cây quế trồng để lấy tinh dầu.
Để đáp ứng lượng hạt giống về lâu dài, tỉnh cũng đã quy hoạch 150ha rừng quế giống chuyển hóa tại năm xã, thị trấn Nậm Đét (Bắc Hà), Nậm Tha (Văn Bàn), Xuân Hòa (Bảo Yên), Phú Nhuận, Phong Hải (Bảo Thắng) đảm bảo cung cấp đủ hạt giống cho nhu cầu gieo ươm, trồng quế tại địa phương.
Nhằm gắn rừng sản xuất với chế biến và tiêu thụ, trong thời gian từ năm 2020-2025, Lào Cai sẽ xây dựng một nhà máy chế biến tinh dầu quế tại huyện Văn Bàn. Riêng giai đoạn 2015-2020, tỉnh dự kiến xây dựng bốn cơ sở sản xuất sản phẩm mỹ nghệ từ gỗ quế tại xã Bảo Hà (Bảo Yên), xã Sơn Hà, Xuân Giao (Bảo Thắng) và xã Nậm Đét (Bắc Hà).Định hướng đến năm 2025, tỉnh xây dựng bổ sung một cơ sở sản xuất mỹ nghệ từ gỗ quế tại huyện Văn Bàn. Hiện trên địa bàn Lào Cai đã có trên 20 cơ sở chưng cất tinh dầu thủ công và hai cơ sở sản xuất tinh dầu quy mô vừa do một số tổ chức cá nhân xây dựng, mỗi năm tiêu thụ hàng trăm tấn vỏ, thân là lá quế.
Hiện, Lào Cai đã ban hành một số cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thu hút các doanh nghiệp đầu tư phát triển để nâng cao chất lượng và giá trị cho sản phẩm quế (bao gồm vốn vay ưu đãi, tạo điều kiện đất đai để đầu tư các nhà máy chế biến, giảm thuế, khoanh vùng nguyên liệu...), đồng thời có chế tài cần thiết để quản lý hoạt động của các cơ sở chưng cất và chiết xuất tinh dầu quế. (Vietnam + 24/9) đầu trang(
Chi trả dịch vụ môi trường rừng là một chính sách mới không chỉ đối với Việt Nam. Trên thế giới chưa có nhiều quốc gia triển khai thành công chính sách này.
Chính sách về chi trả dịch vụ môi trường rừng được thực hiện đã giúp đời sống người dân khu vực rừng đầu nguồn các lưu vực sông, các công trình thủy điện được cải thiện đáng kể, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Tiền từ dịch vụ môi trường rừng không chỉ góp phần cải thiện đời sống cho người dân, cho chủ rừng, mà còn góp phần giúp công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được tốt hơn...
Theo báo cáo của Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng (Quỹ BVVPTR) tỉnh thì đến đầu năm 2014, toàn tỉnh có 294.457 ha rừng. Trong đó, có 91.588ha rừng dự kiến cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Năm 2014, toàn tỉnh có 11 đơn vị chủ rừng là các ban quản lý rừng phòng hộ, 1 chủ rừng là ban quản lý rừng thiên nhiên tham gia cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Năm 2014, nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng của tỉnh là 18,481 tỉ đồng.
Từ nguồn kinh phí này, Quỹ BVVPTR tỉnh tiếp tục cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tham gia nhận khoán bảo vệ rừng. Hiện nay, tổng số hộ nhận khoán bảo vệ rừng trong lưu vực là 966 hộ. Trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 89% số hộ tham gia nhận khoán bảo vệ rừng. Với số tiền 200.000 đồng/ha/năm, thu nhập từ việc nhận khoán bảo vệ rừng đã giúp cho các hộ dân có thêm thu nhập, ổn định cuộc sống.
Năm 2014, Quỹ BVVPTR tỉnh đã chi trả cho các bên tham gia cung ứng dịch vụ môi trường rừng là 12,632 tỉ đồng. Trước lợi ích thiết thực từ nhận khoán bảo vệ rừng, một số hộ gia đình đã tập hợp thành một nhóm nhằm tăng khả năng phối hợp tuần tra bảo vệ rừng. Hiện nay, đã có 38 nhóm hộ tham gia nhận khoán bảo vệ rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng.
Có thể nói từ việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng, các hộ dân nhận khoán có thêm việc làm, thêm nguồn thu nhập. Từ việc tham gia nhận khoán bảo vệ rừng, ý thức của người dân về lợi ích của rừng đã được nâng lên, hạn chế việc phá rừng, góp phần phát triển rừng bền vững.
Tuy vậy qua 5 năm thực hiện thu và chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số khó khăn như: Phần lớn cán bộ thực hiện chương trình đều là cán bộ kiêm nhiệm nên việc tập trung chỉ đạo, điều hành, tổ chức triển khai chương trình chưa linh hoạt, thiếu đồng bộ trong triển khai các chương trình.
Các ban ngành liên quan chưa nắm bắt và hiểu sâu chủ trương chi trả dịch vụ môi trường rừng và hoạt động của Quỹ BVVPTR chưa mạnh dạn xử lý các vấn đề phát sinh trong thực tế. Các đơn vị chủ rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng vẫn chưa nắm rõ được quy trình, thủ tục để tổ chức nên việc triển khai thực hiện đôi lúc còn chưa đồng bộ, thống nhất.
Trong năm 2015, Quỹ BVPTR tỉnh sẽ tập trung đảm bảo cho số diện tích rừng tham gia cung ứng dịch vụ môi trường rừng được chi trả đầy đủ. Dự kiến năm 2015, số tiền thu được từ việc cung ứng dịch vụ môi trường rừng là hơn 14 tỉ đồng, Quỹ BVVPTR sẽ kiện toàn tổ chức bộ máy hoạt động, thực hiện tốt công tác giám sát, đánh giá sâu sát mọi hoạt động của quỹ, tiếp nhận phản hồi từ những đơn vị chủ rừng để kịp thời chấn chỉnh hoạt động của quỹ, giải quyết khó khăn, vướng mắc của đơn vị và cá nhân liên quan. (Báo Bình Thuận 23/9) đầu trang(
Nhằm từng bước nâng cao độ che phủ của rừng, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, huyện Iagrai đang tích cực triển khai công tác rừng thay thế.
Vào thời điểm này, tận dụng điều kiện thời tiết, khí hậu thuận lợi, đất có độ ẩm cao, Ban quản lý rừng phòng hộ Iagrai huy động nhân lực để khẩn trương trồng và chăm sóc rừng thay thế, chủ yếu là cây thông ba lá. Được giao quản lý và bảo vệ hơn 10.600 ha rừng trên địa bàn 2 xã biên giới là IaO và Ia Chía, huyện Iagrai, từ đầu năm đến nay Ban quản lý rừng phòng hộ Iagrai đã trồng được 119 ha rừng thay thế tại tiểu khu 370 và 371 thuộc xã IaChía.
Ông Lê Tiến Hiệp- Phó Trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ Iagrai nói: “ Thực hiện sự chỉ đạo của UBND tỉnh và UBND huyện Iagrai, trong năm 2015 đơn vị đã khẩn trương triển khai trồng rừng thay thế đạt so với kế hoạch đề ra”.
Trồng rừng thay thế chủ yếu trên những diện tích rừng bị suy kiệt do tác động từ việc triển khai các dự án thủy điện, khai thác khoáng sản và do người dân chặt phá. Chi phí trồng và chăm sóc mỗi ha rừng trong giai đoạn 4 năm khoảng 64 triệu đồng. Cũng như các đơn vị khác, Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Iagrai đã hoàn thành việc trồng rừng thay thế trong năm 2015 với 88,8ha thông hiện đang sinh trưởng và phát triển tốt.
Ông Nguyễn Trường Hải- Trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Iagrai cho biết: “ Ngay từ đầu năm, đơn vị đã lập kế hoạch, khảo sát quĩ đất và tiến hành trồng thông trên những diện tích đất lâm nghiệp trước đây là rừng. Hiện tại đơn vị đã hoàn thành việc trồng rừng thay thế trong năm 2015. Công tác trồng rừng thay thế được tiến hành nghiêm túc, hiệu quả”.
Ông Phan Trung Tường- Phó Chủ tịch UBND huyện Iagrai nói về kết quả trồng rừng thay thế của huyện những năm qua: “Toàn huyện Iagrai có hơn 22.000 ha rừng. Để góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, nâng độ che phủ của rừng, UBND huyện đã giao cho 2 Ban quản lý rừng phòng hộ trên địa bàn tiến hành trồng rừng thay thế theo kế hoạch tỉnh giao trong năm 2014 và 2015. Cụ thể là trong năm 2015, 2 Ban quản lý rừng phòng hộ đã trồng được 180 ha rừng thay thế. Các đơn vị đã tích cực chăm sóc, phòng chống cháy nên tỉ lệ cây sống rất cao”.
Việc tích cực trồng rừng thay thế không chỉ thực hiện mục tiêu phủ xanh đất trống đồi núi trọc, nâng độ che phủ của rừng mà còn góp phần bảo vệ nguồn nước, môi trường sinh thái, chống xói mòn… Cùng với làm tốt công tác này, các chủ rừng trên địa bàn huyện Iagrai cũng đã triển khai nhiều biện pháp đồng bộ để tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, trách những tác động xấu đến tài nguyên rừng trên địa bàn. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Gia Lai 23/9) đầu trang(
Trong những năm gần đây các mô hình HTX ở Thuận Châu phát triển rất đa dạng, ngành nghề sản xuất kinh doanh được mở rộng, tạo việc làm, đem lại thu nhập cho xã viên và có tích lũy.
Trong số HTX hoạt động hiệu quả phải nhắc đến một mô hình mới, đó là Hợp tác xã Huổi Liệp, tham gia trồng và bảo vệ rừng. Đây là mô hình mới đã và đang đem lại hiệu quả rõ rệt, thực hiện phủ xanh đất trống đồi núi trọc và hướng tới phát triển du lịch sinh thái.
Hợp tác xã Huổi Liệp (Thuận Châu) được thành lập năm 2010 với mục tiêu sử dụng, khai thác hiệu quả tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp, phủ xanh đất trống, đồi trọc, tạo môi trường sinh thái, đáp ứng yêu cầu sản xuất và tạo công ăn việc làm cho bà con. Hiện HTX có 72 xã viên (97% số xã viên là đồng bào Mông và Thái); Vốn điều lệ 2 tỷ đồng. HTX đang quản lý 1.000 ha đất trồng rừng, trong đó rừng trồng 35 ha, rừng khoanh nuôi bảo vệ 750 ha, nằm ở các xã Co Mạ, Long Hẹ, Chiềng Bôm, với các loại cây trồng chủ yếu như: thông, ngân hoa, cáng lò, vối thuốc, xoan, trẩu, sa nhân và các loại cây dược liệu khác.
Khá khiêm tốn khi trao đổi với chúng tôi, ông Lường Xuân Quỳnh, Giám đốc hội đồng quản trị HTX Huổi Liệp tâm sự: Nhìn thấy những cánh rừng bị đốt phá làm nương rẫy, hiệu quả kinh tế thấp, đất trống, đồi trọc ngày càng nhiều, trong khi cái đói cái nghèo vẫn đeo bám. Chúng tôi luôn trăn trở làm cách nào vừa trồng được rừng vừa đem lại thu nhập cho người dân? Trao đổi thêm, được biết, ông đã bàn với nhiều hộ ở các bản và quyết định thành lập HTX.
Khi mới thành lập HTX gặp rất nhiều khó khăn, ban đầu chỉ có 15 xã viên, vốn điều lệ 300 triệu đồng. Để duy trì phát triển, Hội đồng quản trị phải đi từng hộ gia đình động viên, phân tích, tuyên truyền, thuyết phục vận động bà con tham gia HTX, với hình thức chủ yếu là góp đất, góp công, góp vốn... Đồng thời thực hiện phương châm lấy ngắn nuôi dài, vừa trồng rừng vừa kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm để tăng thu nhập cho xã viên.
Với phương trâm lấy ngắn nuôi dài, ngoài trồng cây thông, xoan, trẩu, vối thuốc để lấy gỗ, nhiều xã viên trong HTX thấy được hiệu quả kinh tế từ trồng xen các loại cây công nghiệp, cây dược liệu, nông sản dưới tán như: cà phê, sơn tra, sa nhân, ngô, sắn... Hiện nay HTX đã trồng được 54 ha cây sơn tra, 10 ha cà phê, 7 ha sa nhân. Những loại cây này có thể thu hoạch sớm, mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhờ đó doanh thu hằng năm tăng. Riêng 54 ha cây sơn tra trung bình mỗi năm thu hoạch trên 50 tấn quả tươi, với giá bình quân 15.000 đến 20.000 đồng/kg đã mang lại thu nhập gần 1 tỷ đồng.
Gia đình ông Đặng Quốc Vinh, bản Co Nhừ, xã Long Hẹ tham gia HTX từ lúc mới thành lập, ngoài nhận rừng khoanh nuôi bảo vệ, ông đầu tư trồng sơn tra, quế và các loại nông sản khác trên 25 ha đất. Hiện, 5 ha sơn tra đã cho thu hoạch. Để đảm bảo rừng được bảo vệ và chăm sóc tốt, HTX phân công mỗi xã viên theo định kỳ gắn với trách nhiệm bảo vệ rừng, hằng năm tổ chức tổng kết, khen thưởng, biểu dương những xã viên có thành tích trong công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng.
Ngoài thu nhập chính từ sản xuất và kinh doanh rừng, HTX còn khuyến khích các xã viên đẩy mạnh chăn nuôi đại gia súc, hiện đàn trâu, bò của HTX có 150 con. Nhiều hộ xã viên đã kết hợp mô hình trồng rừng với chăn nuôi đại gia súc mỗi năm thu nhập trên 100 triệu đồng.
Ngoài ra, còn triển khai hiệu quả nhiều dịch vụ, như: Dịch vụ cung ứng vật tư, phân bón; dịch vụ cung ứng giống cây, giống con; dịch vụ tiêu thụ nông sản... mang lại lợi nhuận 864 triệu đồng/năm, thu nhập bình quân mỗi xã viên 6 triệu đồng/tháng. Sự chuyển đổi mô hình sản xuất của HTX đã mang lại hiệu quả xã hội cao, tạo được việc làm và thu nhập ổn định cho hơn 300 lao động địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội.
Ông Lường Xuân Quỳnh chia sẻ thêm: Thời gian tới HTX đang dự định trồng thêm 90 ha cây dược liệu dưới tán rừng, tiếp tục phổ biến, nhân rộng mô hình trên địa bàn, đồng thời mở nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tiếp nhận các cổ phần đất rừng và đất nông nghiệp cho xã viên, phát triển thêm một số dự án trồng rừng. Hướng tới mọi người dân đều gìn giữ và phát triển diện tích rừng trên địa bàn.
Với hướng đi hiệu quả này, HTX Huổi Liệp đang chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu sản xuất, đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, đáp ứng nhu cầu thị trường, góp phần thay đổi diện mạo nông thôn ở huyện Thuận Châu. (Báo Sơn La 23/9) đầu trang(
Đợt đầu tuy mới chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) cho 50 chủ rừng là hộ gia đình, nhóm hộ, cộng đồng ở huyện A Lưới, nhưng đây thực sự là một hoạt động hết sức ý nghĩa, kịp thời động viên những người gắn bó với nghề trồng và giữ rừng ở huyện vùng cao này.
Có mặt trong ngày chi trả tiền DVMTR cho các chủ rừng là hộ gia đình, nhóm hộ và cộng đồng ở A Lưới, chúng tôi mới cảm nhận hết được ý nghĩa cũng như niềm vui khi tiền DVMTR được trao tận tay cho những người dân vùng cao A Lưới đã giữ rừng trong suốt những năm qua.
Gia đình bác Hồ Văn Me ở thị trấn A Lưới trồng 3,5 ha rừng sản xuất, nhưng đợt này gia đình bác vẫn được xét vào diện được chi trả tiền DVMTR. Với số tiền được chi trả hơn 1,86 triệu đồng tuy không lớn, nhưng bác Me rất phấn khởi và bất ngờ. Bác Me vui vẻ: “Để làm ăn kinh tế, cải thiện đời sống, mấy năm nay gia đình chúng tôi xin đất trồng rừng và sống dựa vào khai thác gỗ rừng trồng chứ không hề nghĩ đến sẽ có ngày được trả tiền như thế này. Nhận tiền về tôi phải bàn bạc với vợ, con mua thêm cây giống để trồng, sắm thêm dụng cụ phát tỉa cây…”
Hiện, trên địa bàn tỉnh có diện tích rừng cung ứng DVMTR khoảng 118.400 ha, chiếm gần 42% diện tích rừng toàn tỉnh. Trong đó, diện tích rừng cung ứng DVMTR thuộc lưu vực thủy điện chiếm 90,9% và thuộc lưu vực nguồn nước sạch chiếm 9,1%. Quản lý, sử dụng diện tích rừng cung ứng DVMTR gồm 947 chủ rừng, trong đó 8 tổ chức là chủ rừng, 22 tổ chức không phải là chủ rừng nhưng được Nhà nước giao quản lý rừng (UBND cấp xã), 577 hộ gia đình, 83 cộng đồng và 257 nhóm hộ thuộc 6 huyện, thị xã: A Lưới, Phong Điền, Nam Đông, Phú Lộc, Hương Trà, Hương Thủy.
A Lưới là địa phương có diện tích rừng cung ứng DVMTR lớn, với hơn 70.000 ha, chiếm gần 60% diện tích rừng cung ứng DVMTR toàn tỉnh. Rừng của huyện A Lưới là lưu vực cho cả 3 nhà máy thủy điện lớn đang hoạt động. Năm 2014 số tiền DVMTR mà các chủ rừng của huyện A Lưới được hưởng khoảng 13,3 tỷ đồng, chiếm 77% toàn tỉnh và năm 2015 là 12,42 tỷ đồng, chiếm 78%.
Trong đợt đầu tiên thực hiện chi trả tiền DVMTR của năm 2014 tại huyện A Lưới, có 50 chủ rừng là hộ gia đình, nhóm hộ, cộng đồng của các xã: Hồng Thượng, Hồng Kim, Nhâm và thị trấn A Lưới thuộc lưu vực thủy điện A Lưới được chi trả với số tiền gần 1,375 tỷ đồng.
Theo ông Phạm Ngọc Dũng, Trưởng Chi cục Lâm nghiệp, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, hoạt động chi trả tiền trực tiếp đến từng chủ rừng không chỉ thể hiện tính công khai, minh bạch mà còn là dịp để các thành viên chủ rừng gặp gỡ, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm QLBVR và có tác động tích cực về ý thức, trách nhiệm BVR của người dân. Sau đợt chi trả đầu tiên, Quỹ sẽ tiếp tục chi trả tiền cho các chủ rừng ở các xã khác, phấn đấu đến hết tháng 1/2016 sẽ chi trả xong tiền DVMTR của cả 2 năm 2014, 2015 cho tất cả các chủ rừng của các lưu vực thủy điện trên địa bàn huyện A Lưới.
Chính sách chi trả DVMTR đang tạo nguồn lực tài chính mới phục vụ công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững; góp phần cải thiện sinh kế, nâng cao đời sống của người làm nghề rừng, nhất là thay đổi tập quán canh tác, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên rừng đối với người dân vùng cao A Lưới đã bám rừng, sống bằng nghề rừng từ trước đến nay.
Ông Lê Trần Nguyên Hùng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT cho rằng, trong bối cảnh ngân sách Nhà nước còn nhiều khó khăn, kinh phí đầu tư cho công tác quản lý bảo vệ rừng còn hạn hẹp, thì số tiền DVMTR chi trả hàng năm cho các chủ rừng trên địa bàn rất ý nghĩa. Cũng theo ông Hùng, số tiền này cần được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả để vừa quản lý bảo vệ, phát triển rừng, vừa góp phần nâng cao đời sống của bà con.
Khi được hỏi về kế hoạch chi tiêu sắp tới của cộng đồng với số tiền hơn 40,6 triệu đồng nhận được, anh Hồ Văn Than, Trưởng ban cộng đồng QLBVR thôn 1, xã Hồng Kim cho biết, sẽ xây dựng quy chế thu chi cụ thể. Trong đó một phần được trích để trang bị dụng cụ, quần áo cho nhóm bảo vệ rừng, phần khác phục vụ chi trả thù lao cho 20 hộ thành viên tham gia tuần tra bảo vệ rừng để đầu tư tăng gia sản xuất và số còn lại lập vào quỹ cộng đồng phục vụ cho việc quản lý, bảo vệ, tái sinh rừng…
Anh Đặng Thành Nghiêng, thành viên nhóm hộ QLBVR thôn Cân Sâm, xã Hồng Thượng thừa nhận, khi chưa có tiền chi trả DVMTR, việc vận động anh em vào rừng tuần tra bảo vệ rất khó khăn, số lần đi tuần rất “thưa”, phải 2 đến 3 tháng mới đi 1 lần. Một phần vì các lô rừng được giao quản lý nằm cách trung tâm xã gần 20 km phải lội bộ, phần khác không có kinh phí để mua lương thực, dụng cụ đi rừng. Sau khi nhóm hộ được chi trả 61 triệu đồng tiền DVMTR năm 2014, các thành viên nhóm hộ rất phấn khởi và hào hứng, công tác tuần tra đều đặn hơn, bình quân 1 tháng đi tuần khoảng 3 lần.
Qua trò chuyện, nhiều chủ rừng rất phấn khích với chủ trương, chính sách chi trả tiền DVMTR hợp lý, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ cho người trược tiếp QLBVR. Tuy nhiên, điều họ còn băn khoăn là việc ngăn chặn nạn chặt phá, săn bắt động vật rừng không thể làm dứt điểm trong một sớm một chiều mà cần quá trình tuyên truyền, vận động kết hợp tăng cường tuần tra phát hiện, phối hợp xử lý.
Để tăng cường vai trò QLBVR, nhiều chủ rừng là nhóm hộ, cộng đồng mong muốn được tập huấn, nâng cao năng lực, kiến thức trong việc xử lý các tình huống vi phạm. Vì thực tế, khi phát hiện trường hợp chặt phá rừng, họ không có thẩm quyền xử phạt mà chỉ nhắc nhở, tháo dỡ, hủy bỏ lán trại, báo cáo lên cơ quan chức năng như kiểm lâm, công an để xử lý, do đó hiệu quả răng đe chưa cao. (Báo Thừa Thiên - Huế 23/9) đầu trang(
Trung Quốc là thị trường nhập khẩu gỗ lớn thứ hai của Việt Nam, chỉ sau Mỹ. Nhưng thị trường Trung Quốc có nhiều hạn chế, giá trị gia tăng thấp. Lý do là gỗ mà nước này nhập từ chúng ta chủ yếu là dăm mảnh, nguyên liệu dùng để sản xuất bột giấy… với sản lượng khoảng 3-4 triệu tấn/năm, trị giá khoảng 600 triệu USD. Trong khi đó, Mỹ và EU thì nhập các sản phẩm đã chế biến như bàn, ghế, tủ.
Đáng nói hơn, các thị trường như EU, Mỹ khi mua sản phẩm gỗ của Việt Nam đều có các tổ chức quốc tế được thế giới công nhận, có các siêu thị gỗ tầm cỡ… đến ký hợp đồng với các nhà máy của Việt Nam. Sau khi ta làm xong sản phẩm, đối tác còn cử người qua kiểm tra chất lượng, cho phép đóng gói, đưa hàng xuống tàu.
Trung Quốc lại không làm bài bản như thế. Thương nhân của họ ồ ạt vào Việt Nam với số lượng rất đông, không chỉ các công ty mà còn có cá nhân len lỏi vào khắp hang cùng ngõ hẻm của Việt Nam. Thậm chí họ còn giả danh công ty hoặc đại lý của chúng ta để mua gỗ và chỉ mua nguyên liệu thô chứ không mua sản phẩm tinh chế như các nước khác.
Ngay ở làng gỗ Đồng Kỵ, Từ Sơn, Bắc Ninh có những thương nhân Trung Quốc nói tiếng Việt rất giỏi, có địa chỉ cư trú đàng hoàng nhưng thực chất là núp bóng công ty của Việt Nam để mua gỗ. Điều này khiến chúng ta mất nhiều thứ. Điển hình là về giá trị sản phẩm. Ví dụ: giá gốc của bộ bàn ghế họ mua chỉ 1.000 USD nhưng họ bán ra với giá khoảng 1.300 hoặc 1.400 USD. Thế nhưng khi khai báo hải quan thì họ chỉ khai khoảng 700 hoặc 800 USD thôi để nộp thuế ít. Chính vì vậy xuất khẩu sang Trung Quốc, chúng ta bị thất thu thuế rất nhiều.
Trung Quốc còn có chính sách khuyến khích, bỏ tiền cho các DN, thương nhân của họ đi mua các loại tài nguyên trên thế giới về, trong đó có gỗ của Việt Nam. Tôi đã sang nước này khảo sát và được các thương nhân của họ xác nhận.
Cụ thể, khi mua gỗ, họ không cần các chứng chỉ FSC (chứng chỉ của Hội đồng quản trị rừng thế giới - PV). Họ cũng chả cần chứng minh nguồn gỗ hợp pháp, thủ tục hải quan của họ cũng đơn giản. Điều này rất tác hại cho người Việt, bởi nó tạo cho người Việt thói quen làm ăn dễ dãi, không minh bạch, không tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế và pháp luật. Đây là điều rất không hay về mặt nhận thức, đặc biệt là khi chúng ta muốn làm ăn với thế giới - có yêu cầu cao về nguồn gốc, xuất xứ của các sản phẩm. Nếu chúng ta cứ làm ăn dễ dãi với Trung Quốc theo kiểu không cần để ý đến nguồn gốc gỗ thì thế giới sẽ không tin DN Việt nữa!
Năm 2014, Nhà nước đã có văn bản cấm xuất khẩu gỗ tròn sang Trung Quốc và đang có ý định đánh thuế gỗ dăm xuất sang nước này vì hiện thuế xuất khẩu đối với gỗ dăm là 0%. Tuy nhiên, nếu tăng thuế đối với gỗ dăm thì sẽ ảnh hưởng đến đời sống của người trồng rừng.
Các biện pháp hành chính suy cho cùng cũng khó có thể giải quyết được vấn đề nếu ý thức của người dân, DN không được nâng cao. Do vậy, điều quan trọng nhất vẫn là nâng cao ý thức của người dân Việt về chủ quyền, về lợi ích kinh tế, về bảo vệ lợi ích của người Việt Nam. Bởi thực tế không chỉ với gỗ, người Trung Quốc đã sang mua lá điều, đỉa… và hiện đang mua giun đất. Điều này rất nguy hiểm nhưng người Việt mình đôi khi chỉ thấy lợi trước mắt chứ chưa thấy cái lợi lâu dài của đất nước.
Trung Quốc nhập gỗ dăm của chúng từ bảy, tám năm nay. Những năm đầu họ tăng giá liên tục, bắt đầu từ 100 USD, rồi 120, 140, 150 USD/tấn nhưng vài năm sau họ đột ngột giảm giá mạnh và không mua... Chẳng hạn năm ngoái, chúng tôi ế gần nửa triệu tấn gỗ dăm. Sau đó phía Trung Quốc nói đại ý “anh ế rồi, tôi sẽ mua cho anh nhưng anh phải giảm giá”. Từ 152 USD/tấn, họ đòi hạ xuống chỉ còn… 10 USD/tấn. Lúc này, không bán cho Trung Quốc thì bán cho ai? Để lâu gỗ sẽ hỏng nên đành phải bán thôi.
Nhưng đây không phải là rủi ro duy nhất khi bán gỗ cho Trung Quốc. Khi làm việc với EU, chỉ có ba đối tác nhưng với Trung Quốc thì có hàng chục ngàn DN, thương nhân mua gỗ của ta. Họ có nhiều chiêu trò khiến người Việt tranh giành nhau mua, tranh nhau bán và họ hưởng lợi. Họ hưởng lợi một phần vì người Việt mình đôi khi chỉ thấy lợi ích trước mắt, biết là có rủi ro nhưng vẫn làm.
Hiện có khoảng 1,4 triệu hộ trồng rừng, nhận khoán khoảng 2,2 triệu ha rừng. Nhưng cái khó có khi bó cái khôn. Cây rừng đường kính mới được 5-7 cm nhưng nhà có con ốm, con phải đóng tiền học, lập tức bà con phải chặt cây để bán ngay. Các thương nhân Trung Quốc có thể lợi dụng tình cảnh này để mua “rừng non”. Họ thu mua trước rồi để 2-3 năm sau mới khai thác, người dân vẫn phải chăm sóc cây rừng cho họ. Bà con mình không biết phải làm sao, vì đã nhận tiền của họ để giải quyết công việc, sinh hoạt rồi. Còn cơ quan chức năng thì cũng không thể theo sát thương nhân Trung Quốc để kiểm soát họ.
Bộ NN&PTNT đã thí điểm hỗ trợ người dân chăm sóc rừng, song gặp khó khăn về kinh phí. Chúng tôi cũng đang vận động các DN vào cuộc hỗ trợ người trồng rừng, tham gia đầu tư với các hộ trồng rừng…, có điều lại vướng vấn đề cơ chế sở hữu rừng. Một khi các DN đầu tư, hỗ trợ người dân trồng rừng, họ cũng mong muốn có quyền sở hữu rừng đó, để đảm bảo kiểm soát được rừng và nguồn nguyên liệu gỗ. Tiếc là chúng ta chưa có cơ chế để giải quyết khúc mắc này.
Đến thời điểm này, Việt Nam không còn gỗ quý hiếm đâu! Các rừng có gỗ quý hiếm cũng hết rồi, nếu còn thì cũng không đáng kể.
Việt Nam cũng đã cấm khai thác gỗ quý hiếm. Và căn cứ tình hình Việt Nam, tổ chức Cites (Công ước về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp) cũng cấm luôn việc tạm nhập, tái xuất gỗ hương và gỗ trắc. Như vậy, con đường gỗ quý hiếm “chạy” sang Trung Quốc đã cạn.
Xin nói thêm, nhiều quốc gia tiên tiến như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc đã xây dựng các cẩm nang về gỗ, bộ chứng chỉ gỗ… hợp pháp. Khi làm ăn với các nước này thì Việt Nam phải tuân thủ. 230 tỉ USD là số tiền mỗi năm cả thế giới chi cho đồ gỗ trong khi chúng ta mới chỉ xuất khẩu được khoảng 5-7 tỉ USD.
Việt Nam đang xây dựng hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp, buộc người Việt phải theo hệ thống này, dù là bán gỗ trong nước. Dứt khoát phải rõ nguồn gốc, xuất xứ, địa danh; rồi gỗ có đóng thuế không, có sử dụng lao động trẻ em để khai thác gỗ hay không.
Đối với Trung Quốc, các tổ chức, các quốc gia đã yêu cầu nước này phải tuân thủ nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm và họ hứa hẹn nhưng hứa rồi… để đấy. (Pháp Luật TP.HCM 24/9) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Gần đây, Pembient - một công ty ở Mỹ đã tuyên bố về việc sử dụng công nghệ sinh học để tạo ra sừng tê giác nhân tạo dựa trên nguồn gen của sừng tê giác thật. Pembient đang sẵn sàng thâm nhập thị trường Việt Nam. Việc làm này đã dấy lên một làn sóng phản ứng mạnh mẽ từ các trung tâm bảo tồn động vật hoang dã và những người yêu động vật trên toàn cầu.
Việc phát triển sừng tê giác nhân tạo là ý tưởng của Công ty Pembient tại Mỹ.
Công ty này sử dụng công nghệ sinh học để tạo ra sừng tê giác nhân tạo dựa trên nguồn gen của sừng tê giác thật.
Chuỗi gen ngắn của chất Keratin từ sừng tê giác thật sẽ được cấy lên nấm hoặc vi khuẩn để tạo thành chất liệu hình thành nên sừng tê giác nhân tạo. Pembient cho biết, họ sẽ sử dụng ADN của sừng tê giác thật vào việc sản xuất sản phẩm nhân tạo.
Công ty này cũng có kế hoạch tạo ra “một nguồn cung cấp sừng tê giác khổng lồ với giá chỉ bằng 1/8 giá cả hiện nay trên thị trường” và kì vọng sản phẩm của họ sẽ “thật” đến mức phải bỏ ra chi phí cực kì đắt đỏ mới có thể phân biệt với sừng tê giác thật!?
Pembient đang sẵn sàng thâm nhập thị trường Việt Nam bằng việc sản xuất quảng cáo về “bản chất của sừng tê giác” nhằm kích thích nhu cầu tiêu thụ sản phẩm này. Tại Trung Quốc, Pembient đang hợp tác với một nhà máy bia tại Bắc Kinh để sản xuất “bia sừng tê giác”. Công ty này kì vọng sẽ cho ra mắt sản phẩm này vào cuối năm nay.
Tại Việt Nam, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) đã phản đối kế hoạch kinh doanh của Pembient. Ông Doug Hendrie, cố vấn cao cấp của ENV cho biết: “Sản phẩm sừng tê giác nhân tạo của Công ty Pembient sẽ cản trở nỗ lực giảm nhu cầu tiêu thụ sừng tê giác tại Việt Nam và kích thích niềm tin mù quáng vào công dụng chữa bệnh của sừng tê giác. Không những thế, sự tồn tại song song của sừng tê giác thật và sừng tê giác nhân tạo sẽ khiến cho các cơ quan thực thi pháp luật gặp rất nhiều khó khăn. Công ty Pembient cũng không hiểu rằng, những người sử dụng sừng tê giác để khẳng định đẳng cấp xã hội sẽ luôn luôn săn lùng sừng tê giác thật.”
Ông Hendrie cho biết thêm: “Pembient đang tận dụng cơ hội để làm giàu trên danh tiếng “bảo vệ tê giác” bất chấp sự tồn vong của các loài tê giác trên thế giới.”
Trong những năm gần đây, số lượng tê giác bị giết hại ở Nam Phi đã gia tăng nhanh chóng; nếu như năm 2007 chỉ có 13 cá thể bị giết hại thì con số này đã lên tới 1.215 cá thể vào năm 2014. Từ đầu năm 2015 đến nay, ít nhất 749 cá thể tê giác đã bị giết tại Nam Phi.
Việt Nam và Trung Quốc hiện bị coi là hai thị trường tiêu thụ sừng tê giác lớn nhất trên thế giới. Tại Việt Nam, 90% sừng tê giác được bán là giả, nhưng chúng vẫn được một số người lùng mua và sử dụng như một loại “thần dược” chữa bách bệnh, từ say rượu đến ung thư, mà còn thể hiện đẳng cấp xã hội!?
Do vậy, theo đánh giá của các tổ chức quốc tế về bảo tồn động vật hoang dã thì sự phổ biến của sừng tê giác nhân tạo không hề làm giảm nhu cầu tiêu thụ sừng tê giác mà thậm chí còn gia tăng việc săn lùng sản phẩm thật. Pembient cũng bị chỉ trích mạnh mẽ bởi mục tiêu sản xuất ra những sản phẩm “hoàn hảo” đến mức không thể phân biệt được thật giả. Nếu điều này trở thành hiện thực, đây sẽ là thách thức lớn đối với các cơ quan chức năng trong việc phân biệt giữa sừng tê giác thật và sừng tê giác nhân tạo.
Liên minh các tổ chức bảo tồn động vật hoang dã (ENV và một số tổ chức quốc tế) đã khuyến nghị Chính phủ Mỹ dừng tất cả các hoạt động của Pembient liên quan đến xúc tiến thương mại, quảng cáo, phát triển, sản xuất và xuất khẩu sản phẩm sừng tê giác nhân tạo. Đồng thời, Liên minh cũng đề nghị Chính phủ Mỹ đình chỉ việc xem xét các hồ sơ xin cấp sáng chế hoặc thương hiệu liên quan đến tê giác của Pembient. (Thanh Tra 23/9) đầu trang(
Các nhân viên chữa cháy tinh nhuệ được điều đến các công viên để triển khai các biện pháp bảo vệ những cây cù tùng khổng lồ được xem là báu vật quốc gia của Mỹ - "điểm đến" nổi tiếng thế giới.
Rough Fire - đám cháy lớn nhất trong số hàng chục vụ cháy rừng đang tàn phá miền bắc và miền trung bang California - đang áp sát những cây cù tùng khổng lồ, thuộc loại cây thông cao hơn 100m trong các công viên quốc gia Sequoia và King Canyon, nơi đón 2 triệu lượt khách tham quan mỗi năm.
Trước mối đe dọa nghiêm trọng này, ban quản lý các công viên đã tăng cường các biện pháp bảo vệ nghiêm nhặt. Theo đó, "General Grant", cây cù tùng cao thứ hai thế giới với chiều cao 82m, là đối tượng chú ý đặc biệt.
Các nhân viên tinh nhuệ nhất của lực lượng chữa cháy được huy động vào việc bảo vệ các "báu vật quốc gia", trong đó giám sát "General Grant" 24/24 giờ, cây được tưới nước thường xuyên và khu vực xung quanh cây được phát quang triệt để.
Lính chữa cháy cũng thiết lập một hệ thống tưới nước để bảo vệ "Boole Tree", cây to thứ sáu trên thế giới.
Về mặt khoa học, điều nghịch lý là các cây cù tùng cần các đám cháy có cường độ thấp để sinh sản, giúp cây loại bỏ các loài cạnh tranh và cho phép nở các hoa hình nón cũng như phát tán hạt. Nhưng sức nóng cực mạnh của đám cháy Rough Fire là quá sức chịu đựng của loài cây này.
Tính đến nay, Rough Fire đã thiêu rụi 562km2 sát nách các công viên quốc gia này. Hơn 3.700 lính chữa cháy đang ngày đêm chế ngự thần lửa nơi đây.
Theo cơ quan bảo vệ rừng liên bang, tình trạng khô hạn và nóng bức khiến lực lượng chữa cháy rừng gặp nhiều khó khăn và họ có thể phải mất nhiều tuần để có thể dập tắt các đám cháy.
Tại các công viên quốc gia Sequoia và King Canyon, các cây cù tùng cao từ 50 - 85m, có chu vi 8m và tuổi đời có thể đạt đến nhiều ngàn năm, nằm trong số những loài cây to nhất thế giới.
Mục đích chính của phần lớn du khách đến phía tây bắc bang California là chiêm ngưỡng các cây cù tùng kỳ vĩ tại các công viên này, dù họ khó thể thu vào ống kính tổng thể hình ảnh của chúng.
Trong số các "báu vật" này, cây General Sherman và General Grant, ước tính hơn 2.000 năm tuổi, được xem là hai "ngôi sao" của công viên. Vào hè công viên tràn ngập du khách đến... ôm các cây cù tùng và cắm trại. (Tuổi Trẻ 23/9) đầu trang(
Bộ tộc người Mông Cổ với cuộc sống du mục ở vùng thảo nguyên rộng lớn vẫn ẩn chứa nhiều bí ẩn chưa có lời giải. Một nhiếp ảnh gia người Afghanistan đã may mắn có có hội tiếp xúc và ghi lại những khoảng khắc tuyệt đẹp về cuộc sống người dân nơi đây.
Nhiếp ảnh gia Hamid Sardar-Afkhami người Afghanistan đã có cơ hội thực hiện bộ ảnh vô cùng ấn tượng về bộ tộc người Mông Cổ cổ xưa. Họ là một quần thể dân du mục ở vùng thảo nguyên Mông Cổ. Cuộc sống hàng ngày của họ vô cùng bình dị, có mối quan hệ đặc biệt với thiên nhiên và động vật hoang dã.
Họ chăn nuôi tuần lộc để lấy sữa, lông và làm pho mát. Hiện nay, bộ tộc người Mông Cổ này ước tính chỉ còn lại khoảng 200-400 người và số tuần lộc cũng đã giảm đi rất nhiều. Tính đến nay, họ là bộ tộc du mục sống với tuần lộc duy nhất trên thế giới. (Infonet 24/9) đầu trang(
Tại Indonesia, tình trạng khói mù do cháy rừng đang ngày càng có xu hướng nghiêm trọng.
Theo đó, khói mù đã khiến 120.000 người phải nhập viện do nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính, trong đó chủ yếu là người già và trẻ em.
Hiện một số trường học đã phải đóng cửa và nhiều hãng hàng không nước này buộc phải hoãn chuyến do không đảm bảo an toàn bay. Ngoài ra, chính phủ Indonesia đã yêu cầu ngừng hoạt động đối với 4 công ty và tiến hành điều tra hơn 200 công ty khác nghi ngờ đã gây ra cháy rừng. (Đài Truyền Hình Việt Nam 23/9) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||