|
Ngày 24 tháng 06 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Trong khi Tổng cục Hải quan (TCHQ), Cục Điều tra chống buôn lậu (ĐTCBL) thuộc tổng cục này quyết liệt khám xét, tịch thu gỗ và khởi tố vụ án buôn lậu thì các đơn vị hải quan địa phương thuộc TP.Đà Nẵng, tỉnh Quảng Trị lại kiên quyết khẳng định việc bắt giữ, tịch thu gỗ trắc nhập khẩu của Cty Ngọc Hưng là không phù hợp pháp luật, những sai phạm của Cty Ngọc Hưng trong lô hàng gỗ nhập khẩu này cùng lắm chỉ là xử phạt hành chính.
Trong bộ hồ sơ gửi kèm theo đơn kêu cứu gửi đến cơ quan chức năng trung ương, ông Trương Huy Liệu (Phó Giám đốc Cty Ngọc Hưng, bị can, bị cáo trong vụ án buôn lậu gỗ) đã có nhiều bằng chứng cho thấy lô gỗ có nguồn gốc nhập khẩu từ Lào và đã được Hải quan các CKQT làm thủ tục thông quan sau khi Cty này đã nộp đủ thuế.
Ông Đỗ Danh Thắng - Chi cục trưởng Hải quan CK cảng Đà Nẵng - cho rằng: “Tính từ ngày Thông báo số 01/TB-TCHQ ngày 4.1.2012 của TCHQ chưa có văn bản nào thông báo lô hàng trên (gỗ nhập khẩu của Cty Ngọc Hưng - PV) không phải nguồn gốc của Lào. Những sai phạm của Cty Ngọc Hưng: Khai không đúng tên hàng, lượng thiếu... đến nay chưa phát hiện có dấu hiệu vi phạm hình sự thì chỉ bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định”.
Còn tại cuộc họp của Cục Hải quan TP.Đà Nẵng ngày 9.3.2012, ông Phạm Ngọc Thuần - Phó Cục trưởng - đã nêu rõ quan điểm: “Văn bản chỉ đạo số 07/TCHQ-ĐTCBL ngày 18.1.2012 của TCHQ chỉ đạo tạm giữ cả lô hàng khi chưa xác định được hàng hóa vi phạm là chưa đúng quy định, vì vậy Chi cục ban hành Quyết định số 01/QĐ-HQCĐN ngày 20.1.2012 tạm giữ đối với toàn bộ 22 container của lô hàng theo văn bản chỉ đạo là sai. Vì vậy, nếu bây giờ lại ban hành quyết định gia hạn thời hạn tạm giữ thì tiếp tục sai”.
Cục trưởng Cục Hải quan Quảng Trị Lê Văn Tới cũng khẳng định: “Lô hàng gỗ trắc của Cty Ngọc Hưng nhập khẩu theo tờ khai hàng hóa nhập khẩu số 1505/NK/KD/BO33 ngày 17.12.2011 có nguồn gốc, xuất xứ từ Lào. Đây là mấu chốt quan trọng để khẳng định rằng hành vi xuất khẩu lô gỗ trắc theo tờ khai số 849/XK/KD/C32D ngày 19.12.2011 không phải là hành vi buôn lậu, bởi trong trường hợp vụ án này, yếu tố quyết định tội buôn lậu khi xuất khẩu phải là gỗ có nguồn gốc, xuất xứ từ rừng tự nhiên trong nước” (công văn số 1248 của Cục Hải quan Quảng Trị ngày 3.10.2014).
Tại phiên tòa sơ thẩm do TAND TP.Đà Nẵng xét xử (tháng 10.2014), cử tọa đã vô cùng sửng sốt và bất ngờ khi được Hội đồng xét xử thông báo rằng toàn bộ lô hàng gỗ trắc tang vật vụ án đã được bán đấu giá từ tháng 1.2014. Trả lời chất vấn tại tòa, bị cáo Trương Huy Liệu khai, lô gỗ theo thời giá khoảng hơn 300 tỉ đồng nhưng đã bị đem bán đấu giá khi vụ án chưa được tòa xét xử với giá chỉ 63,6 tỉ đồng.
Đại diện Cục Hải quan TP.Đà Nẵng cũng nói với HĐXX rằng: “Đang trong quá trình điều tra vụ án mà bán tang vật là sai. Lô gỗ này chỉ tòa án mới có quyền cho bán”. Khoản 1 Điều 76 BLTTHS về “Xử lý vật chứng” quy định: “Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Tòa án hoặc HĐXX quyết định ở giai đoạn xét xử”.
Bất chấp quy định đó của luật, ngày 16.1.2014, lô gỗ trắc vật chứng trong vụ án buôn lậu nói trên đã được đem bán đấu giá theo đề nghị của C44, do một cơ quan thẩm định giá ở Hà Nội tiến hành. Đơn vị mua lô gỗ là Cty Phú Xuân (Bắc Ninh) với giá gần 64 tỉ đồng.
Trong đơn kêu cứu gửi các lãnh đạo trung ương, ông Trương Huy Liệu cho rằng, việc cơ quan điều tra ban hành quyết định xử lý vật chứng cho bán tháo toàn bộ lô gỗ của Cty Ngọc Hưng đang trong giai đoạn điều tra chưa được đình chỉ là vi phạm pháp luật nghiêm trọng; đồng thời đặt nghi vấn rằng việc bán tháo vật chứng nói trên nhằm đạt hai mục đích “làm thất thoát” hàng trăm tỉ đồng và tiêu hủy vật chứng. (Lao Động 24/6) đầu trang(
Cá cóc Tam Đảo, tên khoa học là Paramesotriton deloustali, hay cá cóc bụng hoa (tắc kè nước, cá sấu cạn) là một loài ếch nhái có đuôi đặc hữu ở Việt Nam.
Đưa loài Cá Cóc Tam Đảo thoát khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng là một trong những nội dung chủ yếu của đề tài “Nghiên cứu bảo tồn và phát triển loài Cá Cóc tại Vườn Quốc Gia Tam Đảo trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc làm chủ quản, Trung tâm Tài nguyên và Bảo vệ môi trường thực hiện.
Đây là một loài lưỡng cư có đuôi duy nhất được tìm thấy từ năm 1934. Loài bò sát quý hiếm này có giá trị khoa học cao được dùng để chữa bệnh hen suyễn, còi xương.
Hơn nữa, với thân hình kì lạ, hoa văn đẹp, cá cóc bị người dân sống ven núi Tam Đảo lùng bắt bán cho khách du lịch về nuôi làm cảnh hoặc ngâm rượu làm thuốc. Chính vì bị khai thác triệt để như vậy nên cá cóc Tam Đảo đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng và được liệt vào danh sách Sách đỏ Việt Nam.
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc đã giao Trung tâm Tài nguyên và Bảo vệ môi trường thực hiện đề tài từ đầu năm 2014 và kết thúc cuối năm 2015. Đề tài chủ yếu nghiên cứu hiện trạng thực tế của loài, đánh giá mức độ nguy hại và đề xuất những giải pháp để bảo tồn - phát triển bền vững loài Cá Cóc Tam Đảo. Đề tài là kết quả của quá trình nghiên cứu, học hỏi, kế thừa và đúc rút những kinh nghiệm của các công trình nghiên cứu có liên quan.
Nét mới và khác biệt của đề tài chính là mô hình thực nghiệm nuôi và nhân giống Cá Cóc Tam Đảo trong môi trường bán nhân tạo trước khi trả về tự nhiên, nhằm gia tăng số lượng loài Cá Cóc Tam Đảo, dần dần đưa loài thoát khỏi mức có nguy cơ bị tuyệt chủng trong Sách đỏ Việt Nam.
Đề tài sẽ mở ra một hướng đi mới đầy triển vọng cho việc bảo tồn và phát triển loài Cá Cóc Tam Đảo nói riêng và bảo tồn đa dạng sinh học cho tỉnh Vĩnh Phúc nói chung, hướng tới mục tiêu bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học gắn với phát triển kinh tế. (Tuổi Trẻ 23/6) đầu trang(
23/6, Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, 6 tháng đầu năm, lực lượng kiểm lâm trong tỉnh đã xử lý 471 vụ vi phạm bảo vệ và phát triển rừng.
Qua đó đã thu giữ gồm 22m3 gỗ tròn, 428m3 gỗ xẻ, 92kg động vật rừng, 17 xe ô tô, 35 mô tô…(Nông Thôn Ngày Nay 24/6) đầu trang(
Sáng 23-6, Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh phối hợp Tổ chức động vật Châu Á tại Việt Nam chuyển giao 4 con gấu ngựa cho Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam (huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc).
Các con gấu được chuyển giao đợt này thuộc 2 cơ sở nuôi gấu của ông Nguyễn Thanh Nhượng (khu đường Ngang) và ông Hà Văn Tỵ (khu Cát Thành, cùng thuộc thuộc phường Minh Thành, thị xã Quảng Yên).
Trước khi chuyển đến trung tâm, Tổ chức động vật Châu Á đã tiến hành khám lâm sàng và cho biết những con gấu đang trong tình trạng suy dinh dưỡng trầm trọng.
Theo dự kiến, từ nay đến 26-6, 10 con gấu khác đang được nuôi nhốt tại các cơ sở tư nhân thuộc 4 địa phương: thị xã Đông Triều, thị xã Quảng Yên, TP Hạ Long và TP Cẩm Phả cũng sẽ được chuyển giao cho trung tâm cứu hộ gấu.
Trước đó, ngày 5-5, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh phối hợp Tổ chức động vật Châu Á đã cứu hộ thành công 2 con gấu ngựa từ Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Bái Tử Long - Vườn Quốc gia Bái Tử Long đến Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam (huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc).
Dự kiến, công tác chuyển giao số gấu này sẽ hoàn thành trong tháng 8-2015. (Sài Gòn Giải Phóng 24/6; Tuổi Trẻ + VTV + Công An Nhân Dân 23/6) đầu trang(
23/6, Chi Cục Kiểm lâm TP Hồ Chí Minh, Trạm Cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi, Hội Bảo vệ động vật hoang dã Asean kết hợp với Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Tràm Chim tổ chức thả 9 cá thể động vật hoang dã quý hiếm vào khu Ramsar Tràm Chim.
Trong đó, có 4 con mèo rừng (có tên khoa học là Felis bengalensis) tổng trọng lượng 7,4kg, 4 con rái cá vuốt bé (tên khoa học là Aonyx cinerea) tổng trọng lượng 5,75kg và 1 con già đãi (tên khoa học là Leptoptilos javanicus) trọng lượng 4 kg. Các loại động vật hoang dã trên do Chi Cục Kiểm lâm TP.HCM và Trạm Cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi tiếp nhận từ nhiều nguồn khác nhau rồi đem thả vào khu Ramsar Tràm Chim để đảm bảo an toàn, góp phần đa dạng sinh học.
Việc thả các loại động vật hoang dã quý về với thiên nhiên đã góp phần xây dựng ý thức bảo tồn quần thể các loài mèo rừng, rái cá, già đãi... hoang dã đang dần bị cạn kiệt và có nguy cơ tuyệt chủng. Chỉ cần một hành động nhỏ là không săn bắt động vật hoang dã hay phóng sanh chúng là đã thể hiện chung tay bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ các loài động vật hoang dã cho thiên nhiên được phát triển "cân bằng" và hợp lý. (Dân Trí + Đời Sống & Pháp Luật 24/6) đầu trang(
Một nhà khoa học của Viện Sinh học Nhiệt đới, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam vừa phát hiện một loài lan mới tại khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, Khánh Hòa. Phát hiện được đăng tải trên tạp chí quốc tế Taiwania.
Loài lan mới thuộc chi Miguelia - một chi mới của họ nhà lan, có vùng phân bố hẹp, được tìm thấy tại Lào, Việt Nam và Trung Quốc. Loài lan mới ở Việt Nam xuất hiện ở độ cao trên 1.000m, mọc ven suối dưới tán rừng. Lá hình xoan tới bầu dục hẹp, dài 15-35 cm, rộng 4-6 cm. Hoa có màu vàng nhạt với nhiều đường vân đỏ ở môi trong, thường nở từng đôi một và đối xứng nhau.
Với loài lan mới này, Việt Nam có ba trong số bảy loài lan thuộc chi Miguelia của thế giới. (Tiền Phong 24/6) đầu trang(
Từ nhiều năm nay, trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, nạn săn bắn trái phép thú rừng vẫn xảy ra. Hành vi này không chỉ vi phạm những quy định của pháp luật về bảo vệ rừng, động vật quý hiếm, mà còn để lại nhiều hệ lụy đáng tiếc, trong đó đã có những trường hợp tử vong do tai nạn súng săn...
Vào dịp giữa tháng 6-2015, về Bắc Kạn và trong vai một lái buôn muốn kiếm món “đặc sản rừng” mang về xuôi kiếm lời, chúng tôi tiếp cận được với ông Hoàng, một “tay súng” có tiếng ở khu vực Vườn Quốc gia Ba Bể.
Ông Hoàng cho biết, để tránh cơ quan chức năng phát hiện thì súng, đạn phải cất giấu trong rừng. Hằng ngày, những “thợ săn” đi người không vào rừng, lấy súng đi bắn thú rừng, sau đó giấu súng đi và mang “chiến lợi phẩm” về bán cho thương lái. Với giá cầy hương, lợn rừng bán buôn cho các nhà hàng từ 400.000-500.000 đồng/kg, các loại khác thì cao hơn; ngày gặp may cũng kiếm được vài ba triệu đồng. Còn nếu bắn bị thương mà bắt được các loại như khỉ, voọc còn sống thì coi như bắt được vàng. Khi chúng tôi hỏi hiện có “hàng” không, thì ông Hoàng trả lời là không có. Song, lại đưa cho chúng tôi địa chỉ lái buôn tên Quỳnh ở thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn và nói đến đó muốn mua loại thịt thú rừng nào cũng có.
Theo lời giới thiệu, chúng tôi tìm đến nhà ông Quỳnh và không khỏi ngỡ ngàng trước cơ ngơi bề thế của ông chủ buôn này. Mở chiếc tủ bảo ôn, ông Quỳnh giới thiệu với chúng tôi các loại đặc sản thú rừng và cho biết, hầu hết loại hàng này được chuyển về xuôi tiêu thụ, chứ ở địa phương không mấy ai có tiền ăn những thứ xa xỉ như vậy. Sau đó chúng tôi tìm gặp ông Tín, một thợ săn lão luyện ở bản Tưn-bản vùng sâu huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Đã nhiều năm trong nghề, ông Tín không còn nhớ mình đã bắn hạ bao nhiêu con thú, nhưng ông lại nhớ rất rõ về các loại thú rừng mà ông đã bắn hạ, trong đó chủ yếu là lợn rừng, hoẵng, những loài chim quý hiếm... Ông Tín cho biết, từ khi UBND tỉnh có chủ trương vận động người dân nộp súng săn, thì ông và những thợ săn trong vùng phải mang súng săn đi cất giấu, khi cần mới đem ra sử dụng. Chúng tôi hỏi ông có biết săn bắn thú rừng trái phép là vi phạm những quy định về nghiêm cấm săn bắn động vật quý hiếm không? Ông Tín không ngần ngại trả lời: "Do ruộng nương ít, cuộc sống nghèo và cũng do thói quen săn bắn rồi, không bỏ được…".Được biết, thực hiện Chỉ thị số 16/CT-QH ngày 30-6-2011 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc “Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ”, Tỉnh ủy Bắc Kạn đã ban hành Chỉ thị số 36/CT-TU về vấn đề này. Đến nay, chỉ thị đã phát huy tác dụng đáng kể. Trên khắp địa bàn tỉnh đã có hàng trăm khẩu súng săn, hàng trăm viên đạn tự chế được người dân tự nguyện nộp cho cơ quan chức năng. Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ người dân vẫn còn tự chế súng, tàng trữ súng làm công cụ săn bắn; đặc biệt tại các bản vùng sâu, vùng xa, vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể, nơi địa phương, Nhà nước đang ra sức bảo tồn nhiều loại động, thực vật quý hiếm.
Vấn nạn săn bắn thú rừng trái phép ở tỉnh Bắc Kạn không chỉ vi phạm các quy định của pháp luật, mà còn làm cạn kiệt số lượng thú rừng, gây tác động xấu đến môi trường sinh sống của thú rừng. Nhưng đáng báo động hơn là việc săn bắn thú rừng lén lút đã gây những hệ lụy thương tâm.
Còn nhớ, năm 2009, Hoàng Văn Dinh (thôn Pù Nùng, xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn) đi săn bắn đêm, bắn nhầm vào anh Ngô Văn Tá cùng thôn, gây tử vong; hay ngày 2-11-2012, tại trung tâm Vườn Quốc gia Ba Bể, Triệu Trung Tiền (sinh năm 1975, trú tại thôn Nà Kiêng, xã Khang Ninh, huyện Ba Bể) dùng súng tự chế đi săn và bị cướp cò. Tiền chết tại chỗ, bỏ lại gia cảnh khốn khó cùng người vợ trẻ và con thơ…
Mới đây, ngày 24-2-2015, Hà Văn Toàn (sinh năm 1974, trú tại bản Lắc, xã Bằng Lãng, huyện Chợ Đồn) mang súng tự chế vào rừng để săn. Khi phát hiện dưới khe có bóng đen tưởng là thú rừng đã nổ súng làm ông Trương Phúc Bạo (sinh năm 1961, người cùng ở Bản Lắc) cũng vào rừng đi săn bị trúng đạn, chết tại chỗ…
Bắc Kạn được thiên nhiên ưu đãi có những cánh rừng bạt ngàn với nhiều loại gỗ quý, là ngôi nhà lý tưởng của nhiều loại động vật quý hiếm... Thiết nghĩ, để bảo tồn, ngoài việc có các chế tài đủ mạnh để quản lý súng săn, các cấp chính quyền, cơ quan, đoàn thể xã hội cần có biện pháp tuyên truyền, vận động người dân giao nộp súng săn và ký cam kết không sử dụng súng săn để săn bắn trái phép thú rừng. Bên cạnh đó, tăng cường tuần tra, phát hiện và xử lý nghiêm những đối tượng cố tình vi phạm và ngăn chặn nạn buôn bán động vật hoang dã trên địa bàn. (Quân Đội Nhân Dân 23/6) đầu trang(
Trong 6 tháng đầu năm tình trạng chặt phá rừng, khai thác gỗ, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn huyện Mường Chà vẫn diến biến phức tạp.
Trong 6 tháng qua, huyện Mường Chà đã xảy ra 2 vụ cháy rừng, thiệt hại gần 3 ha rừng sản xuất trạng thái 2a; 36 vụ phá rừng làm nương rẫy, khai thác, vận chuyển gỗ, lâm sản trái phép, tịch thu hơn 6,5m3 gỗ các loại, gần 450 kg phong lan rừng, hơn 200 kg củ bạch cập và củ lá thuyền, tang vật thu giữ 1 máy cưa, 3 chiếc búa chặt, 7 dao phát. Xử lý vi phạm hành chính 9 vụ thu nộp ngân sách Nhà nước trên 473 triệu đồng, tăng trên 127 triệu đồng so với cùng kỳ năm 2014.
Để quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn, hiện nay Hạt Kiểm lâm đang phối hợp với các cơ quan, đoàn thể, các xã, thị trấn trong huyện tăng cường công tác tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành Luật bảo vệ và phát triển rừng. Thường xuyên tuần tra kiểm soát, xử lý nghiêm các đối tượng chặt phá rừng, khai thác gỗ, lâm sản trái phép. Tổ chức cho trên 5.600 hộ ký cam kết quản lý bảo vệ rừng, củng cố trên 100 tổ, đội bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng với trên 1 nghìn thành viên tham gia. (Đài PTTH Điện Biên 23/6) đầu trang(
Huyện Ba Bể là địa phương có diện tích rừng khá lớn, chiếm trên 80% diện tích đất tự nhiên và được xác định là thế mạnh trong chiến lược phát triển kinh tế huyện. Vì vậy, trước tình hình diễn biến phức tạp của thời tiết nắng nóng, khô hạn kéo dài, gây nguy cơ xảy ra cháy rừng cao, huyện Ba Bể đã và đang tích cực chuẩn bị mọi điều kiện nhằm chủ động trong công tác phòng, chống cháy rừng.
Mùa khô năm 2014 - 2015, trên địa bàn huyện Ba Bể đã xảy ra 7 vụ cháy rừng, trên tổng diện tích 16,85ha đất lâm nghiệp. Nguyên nhân xảy ra cháy rừng là do thời tiết thường xuyên xuất hiện những đợt nắng nóng, khô hạn, làm cho vật liệu khô. Bên cạnh đó, người dân chưa chấp hành tốt những quy định về phòng, chống cháy rừng (PCCCR) trong việc sử dụng lửa đốt thực bì và canh tác nương rẫy, đốt thảm thực bì để chăn nuôi gia súc, đốt ong…
Khắc phục những hạn chế đó, đồng thời chủ động trong công tác PCCCR mùa khô năm nay (2015 - 2016), ngay từ đầu mùa khô, huyện đã thực hiện kiện toàn Ban Chỉ huy về các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và PCCCR, xây dựng quy chế hoạt động của Ban Chỉ huy đến cấp xã, các tổ, đội tại từng thôn, bản. Đồng thời rà soát, bổ sung xây dựng phương án PCCCR theo phương châm 4 tại chỗ (lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, chỉ huy tại chỗ và hậu cần tại chỗ).
Xác định công tác tuyên truyền là một yếu tố quan trọng tác động trực tiếp đến ý thức, trách nhiệm của mỗi người, huyện yêu cầu các ngành chức năng tích cực phối hợp với các cơ quan thông tin đẩy mạnh công tác tuyên truyền về PCCCR bằng nhiều hình thức, nhằm nâng cao trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền và nhận thức cho mọi tầng lớp nhân dân, cán bộ, công nhân viên chức đối với công tác bảo vệ rừng và PCCCR, từ đó để mọi người hiểu và nghiêm túc thực hiện.
UBND các xã, thị trấn có trách nhiệm phổ biến các văn bản của Nhà nước từ Trung ương, cấp tỉnh, huyện về công tác PCCCR đến mọi tầng lớp nhân dân, tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân về tác hại, nguyên nhân cháy rừng để người dân hiểu rõ và nắm được, nhằm hạn chế thấp nhất nguồn lửa vào rừng, cũng như những thiệt hại do cháy rừng gây ra trên địa bàn trong mùa khô năm 2015 - 2016, bảo vệ diện tích rừng tự nhiên hiện có, bảo vệ thành quả của công tác trồng rừng.
Huyện cũng đã xây dựng các phương án PCCCR, trong đó đề nghị các chủ rừng (tổ chức, doanh nghiệp) cần chủ động xây dựng chòi, nhà canh lửa ở những vị trí thuận lợi có thể bao quát, quan sát diện tích rừng trồng. Đối với việc đốt và xử lý vật liệu cháy (thực bì khô) ở những nơi dễ xảy ra cháy, Ban Chỉ huy về các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và PCCCR xã phải có trách nhiệm hướng dẫn các chủ rừng và người dân thực hiện, phải bố trí nhân lực, phương tiện chữa cháy đầy đủ, trong khi tiến hành xử lý vật liệu cháy cần cắt cử người trực tiếp trông đến khi ngọn lửa tắt hoàn toàn. Thời gian tiến hành đốt xử lý vật liệu cháy được huyện khuyến cáo nên vào những ngày lặng gió, vào buổi sáng sớm khi trời còn râm mát, hoặc chiều tối.
Các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình là chủ rừng phải có trách nhiệm chủ động trong công tác PCCCR, đối với diện tích là rừng trồng phải dọn thực bì trong lô, làm đường băng cản lửa bao lô đảm bảo khi xảy ra cháy rừng không lan đến diện tích của lô rừng khác. Riêng đối với các chủ rừng là tổ chức phải thành lập Ban Chỉ huy về các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và PCCCR, lập phương án, kế hoạch cụ thể cho đơn vị theo quy định.
Đặc biệt, UBND huyện yêu cầu Hạt Kiểm lâm huyện phân công lực lượng trực 24/24h hàng ngày trong mùa khô, theo dõi diễn biến tình hình thời tiết, thông tin kịp thời dự báo cháy rừng ở cấp nguy hiểm, cự kỳ nguy hiểm để thông báo đến Ban Chỉ huy các xã, thị trấn có phương án, kế hoạch chủ động trong việc triển khai công tác PCCCR; thực hiện việc ký hợp đồng bảo vệ rừng và PCCCR mùa khô năm 2015 - 2016 đối với các xã, thị trấn theo kế hoạch được giao, tổ chức nghiệm thu và thanh quyết toán kinh phí hỗ trợ kịp thời đối với các xã làm tốt công tác bảo vệ rừng và PCCCR.
Ban Chỉ huy PCCCR huyện phải thường xuyên tổ chức kiểm tra công tác PCCCR ở những nơi trọng điểm, nhằm phát hiện kịp thời các vi phạm để nhắc nhở, xử lý các tổ chức, cá nhân chưa làm tốt công tác PCCCR.
Ngoài ra, để hạn chế và phòng ngừa xảy ra tình trạng cháy, huyện còn nghiêm cấm những người không có nhiệm vụ vào rừng, không được mang và sử dụng vật liệu dễ cháy nổ vào rừng, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ rừng và PCCCR.
Khi phát hiện cháy rừng, các xã khẩn trương tổ chức lực lượng kịp thời cứu chữa, không để cháy lớn; đồng thời yêu cầu các đơn vị trước mỗi vụ cháy phải có báo cáo cụ thể về nguyên nhân gây cháy đến Ban Chỉ huy PCCCR để điều tra, xử lý nghiêm đối tượng gây ra cháy rừng theo quy định của pháp luật.
Với các biện pháp chủ động phòng ngừa trong công tác PCCCR, hi vọng rằng, mùa khô năm 2015 - 2016, huyện Ba Bể sẽ ngăn ngừa và hạn chế các vụ cháy rừng cũng như thiệt hại do các vụ cháy rừng gây ra ở mức thấp nhất. (Backan.gov.vn 24/6) đầu trang(
23/6, cuộc thi làm phim ngắn nhằm nâng cao nhận thức của công chúng về nạn buôn bán, sử dụng bất hợp pháp động vật hoang dã và sừng tê giác chính thức được phát động.
Đây là một phần nằm trong sự kiện WildFest thuộc chương trình “Cùng hành động tạo sự thay đổi”, một sự kiện được xây dựng nằm nâng cao nhận thức của công chúng, làm giảm nhu cầu mua các sản phẩm bất hợp pháp từ động vật hoang dã.
Thời gian nộp các tác phẩm của cuộc thi WildFest được tiến hành vào ngày 31/8. Cuộc thi chấp nhận các tác phẩm được sản xuất gần đây và có độ dài dưới 7 phút.
Tiêu chí đánh giá các tác phẩm bao gồm: sức mạnh của ý tưởng và khái niệm sáng tạo, quá trình điều hành sản xuất, khả năng tích hợp có hiệu quả thông điệp có liên quan tới việc tiêu thụ động vật hoang dã bất hợp pháp và phù hợp với các nhóm đối tượng hướng tới.
Dựa trên các tiêu chí này, các bộ phim xuất sắc nhất sẽ được lựa chọn vào nhóm "Lựa chọn Chính thức" và sẽ được công bố vào ngày 1/10. (Thể Thao & Văn Hóa + Công An Nhân Dân 24/6; Nhân Dân 23/6) đầu trang(
Tre nứa là tên gọi chung của một nhóm các loài (trong đó có trúc đen) thuộc phân họ Tre (Bambusoideae) của họ Hòa Thảo (Poaceae). Nước ta hiện có tới 126 loài tre nứa khác nhau, chiếm 1/4 số loài tre nứa toàn thế giới.
Trải qua nhiều thế hệ, tre nứa đã gắn liền với cuộc sống của người dân Việt Nam từ đồng bằng đến trung du, miền núi. Có ít nhất 30 loại công việc phải sử dụng tre nứa. Điển hình như làm hàng thủ công, mỹ nghệ, vật liệu xây dựng, nguyên liệu giấy sợi, thực phẩm... Trong ngành sản xuất giấy của nước ta, 30% nguyên liệu có nguồn gốc từ tre nứa.
Tre, trúc cũng là nguyên liệu để sản xuất một số nhạc cụ mang đậm nét dân tộc như: Sáo trúc, khèn, đàn tơ rưng... Đặc biệt, nhiều loài tre nứa còn được dùng làm cây cảnh nhờ hình dáng đẹp, lạ mắt, độc đáo. Cho đến nay, ở nước ta đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nhóm tre nứa thuộc các lĩnh vực như: Phân loại học, sinh thái học, giá trị sử dụng..., tuy nhiên, cây trúc đen là một trong số những loài tre nứa còn ít được biết đến.
Trúc đen còn gọi là trúc tím, tử trúc hay là hời chín seo (theo tiếng Hán) có tên khoa học là Phyllostachys nigra (Lodd.ex Loud.) Munro. Trúc đen là cây đa tác dụng, có thể làm thực phẩm (măng tươi, măng khô), làm thuốc (thân và lá), nhưng chức năng quan trọng nhất của trúc đen là làm cảnh và làm hàng mỹ nghệ. Theo Sách đỏ Việt Nam (năm 2007) và Danh lục thực vật Việt Nam (tập III, 2005) thì trúc đen chỉ có ở tỉnh Hà Giang và khu vực Nam Bộ. Gần đây, đã phát hiện được trúc đen tại Sa Pa (Lào Cai) phân bố ở hai xã Bản Khoang và Tả Van thuộc vùng đệm Vườn Quốc gia Hoàng Liên. Trúc đen tập trung ở độ cao từ 1.300m trở lên, thường ở gần khe suối, nơi có độ ẩm cao.
Trong số hơn 100 loài tre nứa của nước ta, tính độc đáo của trúc đen chính là màu sắc của thân cây. Cây trúc đen trưởng thành có chiều cao khoảng 6-7m, đường kính thân từ 2-4cm. Điểm đặc biệt của loài trúc này là cây non thân có màu tím đen, xanh lục nhạt hoặc vàng nâu. Cây trưởng thành, toàn bộ thân có màu tím đến tím đen, bóng. Vì vậy, trúc đen được đánh giá là một trong những loài cây cảnh độc đáo. Thân trúc đen sau khi khô vẫn giữ được màu đen bóng nên dùng làm hàng mỹ nghệ, bàn ghế rất được khách hàng ưa chuộng.
Trúc đen ra măng vào tháng 2 và tháng 3 Âm lịch. Mặc dù có khu phân bố rộng, nhưng diện tích ở các điểm phân bố thường không lớn, số lượng cá thể tương đối ít, đặc biệt khi khai thác, người dân có thói quen lấy toàn bộ măng dẫn đến hậu quả là trúc đen có diện tích ngày càng thu hẹp, thậm chí đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Để bảo tồn nguồn gen quý này, các cơ quan quản lý chuyên ngành, chính quyền địa phương cần nỗ lực vào cuộc, tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, xử phạt; đồng thời chủ động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức người dân, tránh triệt hạ, khai thác, tận thu loài cây quý này. Về lâu dài, cần có biện pháp nâng cao đời sống cho người dân, giảm áp lực vào việc khai thác măng, thân và lá quá mức, kiên quyết giữ gìn, bảo tồn và phát triển bền vững loài trúc đen. (Quân Đội Nhân Dân 24/6) đầu trang(
Sáng 24/6, tại TP Đà Nẵng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Nội vụ (Hoa Kỳ) phối hợp tổ chức Hội nghị các nước có phân bố Tê Tê lần thứ Nhất.
Đến dự có TS. Hà Công Tuấn – Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; bà Claire Pierangelo – Phó Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội; ông John Escanlon – Tổng Thư ký Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật nguy cấp quý hiếm, đại diện lãnh đạo các tổ chức cùng hơn 300 đại biểu phái đoàn 29 nước phân bố Tê Tê đến từ châu Phi, châu Á, Hoa Kỳ và các chuyên gia của Ủy ban Vì sự sống còn các loài (Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế - IUCN), các nhà khoa học nghiên cứu về Tê Tê trên thế giới.
Hội nghị được tổ chức nhằm đánh giá hiện trạng Tê Tê, đồng thời thảo luận hiện trạng quần thể và vấn đề buôn bán quốc tế đối với loài Tê Tê để cung cấp thông tin, đưa ra kế hoạch hành động phù hợp và cùng nhau xây dựng một kế hoạch bảo tồn chung đối với Tê Tê.
Phát biểu khai mạc nhấn mạnh tầm quan trọng và ý nghĩa của Hội nghị, thay mặt lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thônViệt Nam, TS. Thứ trưởng Hà Công Tuấn cho biết: Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện nghiêm túc và có trách nhiệm về các quy định, nội dung liên quan đến công tác bảo vệ, bảo tồn, phát triển loài Tê Tê nói riêng và các loài động vật hoang dã nói chung. Việt Nam sẽ nỗ lực hết mình để cùng các nước, các tổ chức chung tay đối phó với các vấn nạn buôn bán, khai thác bất hợp pháp Tê Tê cũng như các loài động vật hoang dã có tính chất xuyên quốc gia như hiện nay.
Nhấn mạnh những nỗ lực của Hoa Kỳ trong việc bảo vệ, bảo tồn các loài động vật hoang dã, bà Claire Pierangelo – Phó Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội - nhận định: Hội nghị hôm nay là minh chứng cho sự hợp tác song phương bền chặt giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Kết quả này không chỉ mang lại lợi ích cho Hoa Kỳ và Việt Nam, mà còn cho cả cộng đồng quốc tế.
Tham gia thảo luận tại Hội nghị, hơn 300 đại biểu phái đoàn 29 nước phân bố Tê Tê đến từ châu Phi, châu Á, Hoa Kỳ và các nhà nghiên cứu đã thẳng thắn trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và những giải pháp hành động cũng như pháp lý liên quan đến công tác bảo vệ, bảo tồn và phát triển Tê Tê nói riêng và các loài động vật hoang dã nõi chung.
Trong đó, tập trung ở một số nội dung quan trọng như: Công tác kiểm soát buôn bán, xây dựng kế hoạch hành động từng quốc gia-khu vực, đảm bảo sự tồn tại và phát triển các loài động vật hoang dã…(Giáo Dục & Thời Đại 24/6) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Thực hiện chỉ đạo của Bộ NN-PTNT, Viện Điều tra Quy hoạch rừng đang gấp rút triển khai hoàn thiện, bổ sung quy hoạch mắc ca trên cả nước, dự kiến hoàn thành trong tháng 8/2015.
Từ năm 2012, Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã từng thực hiện việc quy hoạch cây mắc ca, tuy nhiên do đây là cây trồng mới được đưa vào Việt Nam, thực trạng SX, khảo nghiệm chưa được triển khai trên diện rộng và căn cứ tin cậy nên quy hoạch mắc ca trước đây còn gặp nhiều hạn chế, chủ yếu chỉ căn cứ vào đánh giá sơ bộ về khả năng thích nghi với sinh thái các vùng nói chung tại nước ta.
Trước tình hình mắc ca có dấu hiệu phát triển nóng, bên cạnh việc đưa ra các định hướng phát triển, Bộ NN-PTNT đã giao Viện Điều tra Quy hoạch rừng trong năm 2015 khẩn trương hoàn thiện, bổ sung về quy hoạch cho cây mắc ca, trong đó phải gắn với tình hình cung – cầu của thị trường trong nước và quốc tế, gắn với định hướng liên kết SX thành ngành hàng…
Theo kế hoạch, quy hoạch sẽ bổ sung một số nội dung như: cập nhật hiện trạng sử dụng đất để xác định diện tích, địa bàn trồng mắc ca cụ thể; cập nhật diện tích trồng mới, bổ sung khâu khảo sát thị trường, cơ sở chế biến, giá thành, hiệu quả KT-XH; đánh giá triển vọng của các mô hình hiện có, trên cơ sở đánh giá cung cầu thế giới; đánh giá công nghệ chế biến, bảo quản sau thu hoạch, đề xuất xây dựng các cơ sở chế biến, vị trí quy mô công suất, công nghệ; phân tích so sánh hiệu quả KT-XH và môi trường giữa mắc ca và cây trồng khác, giữa trồng thuần và trồng xen, giữa các địa bàn với nhau...
Đặc biệt, việc đánh giá và đề xuất các mô hình quản lý, liên kết SX chế biến và tiêu thụ mắc ca sẽ là khâu đặc biệt chú trọng. Từ đầu tháng 6/2015, Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã gấp rút triển khai bổ sung quy hoạch, bố trí 2 nhóm đi thực địa thu thập thông tin, rà soát các mô hình khảo nghiệm mắc ca tại 4 tỉnh Tây Bắc (gồm Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu và Điện Biên) và 4 nhóm tiến hành đi rà soát thực địa tại 4 tỉnh Tây Nguyên gồm Lâm Đồng, Đăk Nông, Đăk Lăk và Gia Lai. Các diện tích được kiểm tra, khảo sát chỉ bao gồm mắc ca được trồng từ năm 2012 trở về trước. Hiện tại, Viện đã có một số thông số chính xác về thực trạng SX mắc ca tại 2 vùng chính.
Cụ thể: Tại Điện Biên có 3 mô hình, trong đó 2 mô hình trồng năm 2012, đến năm 2015 bắt đầu cho quả bói. Tỷ lệ cây bói quả đạt 35-40%, số lượng quả từ 4-45 quả/cây; một mô hình trồng năm 2008, năng suất 2014 đạt 0,8 tấn quả tươi/ha. Tại tỉnh Lai Châu có 3 mô hình trồng năm 2012, đến 2015 đã cho quả bói. Tỷ lệ cây bói quả đạt 30-35%, số quả từ 2-80 quả/cây.
Tại tỉnh Sơn La, có tổng cộng 10 mô hình, trong đó 5 mô hình trồng năm 2003, năng suất các năm gần đây khoảng 1,5 tấn quả tươi/ha; một mô hình trồng năm 2011 (tại Thuận Châu) năm 2015 bắt đầu ra quả bói, tỷ lệ cây bói quả đạt 60-65%, số quả từ 7 – 90 quả/cây. Riêng 4 mô hình trồng năm 2009 tại Mộc Châu đến nay không cho quả. Tại Tây Bắc hiện chưa có cơ sở chế biến mắc ca nào, chỉ có một đơn vị SX giống tại TP Điện Biên.
Tại Tây Nguyên, Viện Điều tra Quy hoạch rừng dự kiến sẽ rà soát, điều tra cụ thể tại 45 mô hình trồng mắc ca. Tại Lâm Đồng, hiện đã rà soát được 25 mô hình mắc ca 9 tuổi, trong đó có 22 mô hình thành công, năng suất trung bình 28 kg hạt tươi/cây, 3 mô hình thất bại (không có quả). Ở Đăk Nông, hiện đã khảo sát được 3 mô hình mắc ca 4 năm tuổi, năng suất đạt 5 kg quả/cây, cơ bản thành công.
Theo ông Nguyễn Huy Thiềng, Phó viện trưởng Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Viện sẽ cố gắng hoàn thiện điều tra đánh giá, có báo cáo quy hoạch trình Bộ NN-PTNT trong tháng 8/2015. “Đến nay, các diện tích mắc ca trồng năm 2012 trở về trước tương đối lớn và diện rộng, vì vậy việc điều tra, thu nhập dữ liệu và đánh giá toàn diện để làm căn cứ quy hoạch chi tiết cho các tiểu vùng là rất thuận lợi” - ông Thiềng đánh giá. (Nông Nghiệp VN 24/6) đầu trang(
Vụ Phát triển rừng (Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN-PTNT) vừa làm việc với Sở NN-PTNT Lâm Đồng về kết quả thực hiện công tác quản lý giống cây trồng lâm nghiệp.
Ông Bùi Thanh Phong, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Lâm Đồng cho biết, Chi cục được giao nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá cơ sở SXKD giống cây lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Từ năm 2013 - 2014, Chi cục đã tiến hành kiểm tra 36 cơ sở và đã xếp loại 19 cơ sở đạt loại A, 1 cơ sở đạt loại B và 4 cơ sở đạt loại C. Từ 2013 đến nay, tổng khối lượng hạt giống thông ba lá SX được chứng nhận hơn 654 kg. Cùng đó, số lượng cây giống lâm nghiệp SX được chứng nhận nguồn gốc của lô cây con. Cụ thể năm 2013 có 3.394.700 cây (gồm 1.657.800 cây thông ba lá, 11.900 cây thông Caribea và 1.725.000 cây giống keo tai tượng); năm 2014 có 4.393.500 cây (gồm 3.233.500 cây thông ba lá và 1.110.000 cây keo tai tượng).
Ông Bùi Thanh Phong cho biết thêm, theo danh mục giống cây trồng lâm nghiệp do Bộ NN-PTNT ban hành thì vẫn còn thiếu nhiều giống cây mà tỉnh Lâm Đồng đang khuyến khích ươm trồng như xà cừ, xoan ta, bời lời đỏ, gáo, sưa... Theo quy định, việc gieo ươm và kinh doanh các loại giống cây lâm nghiệp này ở cơ sở hay hộ gia đình là vi phạm và bị xử phạt. Bởi các tổ chức, cá nhân chỉ được phép SXKD giống cây lâm nghiệp có trong danh mục. Hiện trên địa bàn Lâm Đồng có một số nơi gieo ươm một số loài cây có giá trị bảo tồn cho mục đích thương mại như thông đỏ, lan gấm... là những cây không nằm trong danh mục. Bởi vậy, trong quá trình kiểm tra, cơ quan chức năng của tỉnh gặp không ít khó khăn trong xử lý, trong xác nhận nguồn gốc cây con để cho lưu thông, tiêu thụ.
Cùng với việc ghi nhận những kết quả đạt được của Lâm Đồng trong quản lý giống cây trồng lâm nghiệp, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển rừng Quách Đại Ninh tỏ ra quan tâm một cách đặc biệt về vấn đề phát triển cây mắc ca của tỉnh.
Ông Ninh nhấn mạnh: “Lâm Đồng là một trong những tỉnh trọng điểm phát triển cây mắc ca của Tây Nguyên và cả nước. Do vậy, tỉnh cần quản lý chặt chẽ nguồn giống mắc ca. Sớm xây dựng những vườn mắc ca đầu dòng để tạo được nguồn cây giống tốt nhất phục vụ nhân dân".
Theo ông Bùi Thanh Phong, do nóng vội với “cây tỷ đô” nên ở tỉnh có không ít hộ mua nguồn giống mắc ca trôi nổi về trồng. Tỉnh sẽ tiếp tục khuyến cáo để tránh những hậu quả đáng tiếc. (Nông Nghiệp VN 24/6) đầu trang(
Sở NN-PTNT Thái Nguyên đã trình UBND tỉnh phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đến năm 2020.
Cơ quan chuyên môn - những kiến trúc sư xây dựng Đề án cũng như hội đồng thẩm định, phê duyệt đều chung một quan điểm, tái cơ cấu lâm nghiệp cần những mô hình cụ thể hiệu quả hơn là lý thuyết "đao to búa lớn", không thực tế.
Cánh rừng mẫu lớn (CRML) là mô hình được xây dựng nhằm tạo ra một cách thức SX mới, chuyển đổi phương thức SX để nâng cao giá trị SX lâm nghiệp, tăng hiệu quả sử dụng đất và chất lượng rừng trồng, phát triển lâm nghiệp bền vững. Mô hình được triển khai từ năm 2013 tại xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa với tổng diện tích gần 460 ha.
Ông Nguyễn Hoàng Thượng, Trưởng BQL rừng ATK Định Hóa cho biết, CRML ở Quy Kỳ được xây dựng dựa trên việc trồng rừng bằng tập đoàn cây đa tác dụng, có năng suất, chất lượng cao, sử dụng phương châm "lấy ngắn nuôi dài" thông qua trồng rừng kết hợp trồng xen cây dược liệu, lâm sản phụ, phát triển chăn nuôi dưới tán rừng. CRML gồm 4 dự án thành phần: Dự án trồng rừng gỗ lớn kết hợp trồng cây đặc sản, dược liệu dưới tán rừng; ứng dụng KHCN thâm canh rừng trồng SX; trồng cây quế để chiết xuất tinh dầu và SX lâm nghiệp kết hợp với SX nông nghiệp, ngư nghiệp.
Cơ cấu cây trồng trong CRML gồm các loại cây rừng bản địa có giá trị kinh tế cao đã qua khảo nghiệm phù hợp với sinh thái, thổ nhưỡng địa phương như giổi xanh, lim xanh, đa chai, chò chỉ... Khu vực thâm canh rừng trồng sử dụng các giống cây keo, mỡ, bạch đàn, thông, sa mộc... và các loại lâm sản phụ trồng dưới tán rừng gồm các loại cây dược liệu, cây đặc sản, luôn có nhu cầu cao trên thị trường như sa nhân, ba kích, mây nếp, đinh lăng, giảo cổ lam...
Với 90% nguồn vốn thực hiện mô hình là do doanh nghiệp đầu tư, theo đánh giá của Chi cục Kiểm lâm Thái Nguyên, đơn vị chịu trách nhiệm chính trong xây dựng, triển khai đề án thì CRML ở Quy Kỳ không chỉ tạo ra mô hình điểm về phát triển kinh tế lâm nghiệp mà còn từng bước hình thành vùng du lịch sinh thái, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người dân địa phương, phù hợp với kế hoạch phát triển và bảo vệ rừng.
Dự án phòng hộ bền vững của Trung tâm Phát triển nông thôn bền vững (Liên hiệp Các hội KHKT Việt Nam) được triển khai tại huyện Phú Lương (Thái Nguyên) đã mở ra hướng đi mới trong quản lý, bảo vệ bền vững rừng tại địa phương này. Những chủ rừng phòng hộ tham gia dự án đã được hỗ trợ về nguồn vốn, được trang bị kiến thức KHKT phát triển kinh tế, quán triệt lâm luật… Từ đó, tự giác và đoàn kết trong quản lý bảo vệ rừng, phát triển kinh tế gắn phát triển rừng.
Ông Phạm Bình Công, Phó Chủ tịch UBND huyện Phú Lương cho biết, dự án đã tăng cường năng lực phát triển sinh kế, quản lý và bảo vệ rừng. Trong đó, phát triển sinh kế là đòn bẩy để người dân sống dựa vào rừng yên tâm với nguồn thu nhập ổn định. Các kiến thức và các kỹ năng mềm được cung cấp sẽ là phương tiện để người dân chủ động tham gia vào quá trình lập kế hoạch phát triển KT-XH địa phương gồm cả kế hoạch hoạch quản lý, bảo vệ rừng bền vững theo pháp luật...
Trong nhiều năm trở lại đây, hiện tượng xâm lấn đất lâm nghiệp và khai thác lâm sản trái phép tại rừng phòng hộ hồ Núi Cốc xảy ra ngày càng nhiều, do đó đã tạo sức ép lên công tác quản lý, bảo vệ rừng. Nguyên nhân chủ yếu là do vẫn chưa thực sự tạo ra được cơ chế, chính sách để chia sẻ lợi ích và khuyến khích người dân địa phương tham gia bảo vệ rừng. BQL Rừng phòng hộ - bảo vệ môi trường hồ Núi Cốc đang triển khai phương án quản lý, bảo vệ rừng bền vững có sự tham gia của người dân. Giải quyết các quyền lợi của người dân đã tham gia trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng khi thực hiện khai thác, nâng cấp rừng theo quy định của pháp luật. Thông qua phương án được phê duyệt, chủ rừng với sự tham gia của người dân có sự chủ động hơn trong SXKD cũng như chia sẻ những lợi ích thu được từ rừng phòng hộ theo quy định của pháp luật.
Đề án tái cơ cấu đã đưa ra những hạn chế của ngành lâm nghiệp Thái Nguyên như hiệu quả SXKD rừng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm gỗ chưa có hoặc rất thấp; Diện tích rừng tuy tăng nhưng năng suất, chất lượng rừng thấp, chủ yếu là sản phẩm gỗ nhỏ cung cấp cho nguyên liệu gỗ bóc, nguyên liệu nấm, giấy… chưa đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho phát triển công nghiệp chế biến đồ gỗ; Công tác bảo vệ rừng và PCCCR còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu dựa vào nguồn lực nhà nước; tổ chức SX lâm nghiệp thiếu sự gắn kết theo chuỗi từ trồng rừng, chế biến và tiêu thụ sản phẩm để nâng cao giá trị lâm sản hàng hóa; SX manh mún, mang nặng tính tự phát.
Ông Ngô Xuân Hải, PGĐ Sở NN-PTNT kiêm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Thái Nguyên cho biết, ngoài những mục tiêu cụ thể thì mục tiêu tối thượng của Đề án tái cơ cấu lâm nghiệp là tham gia giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân, đưa ngành lâm nghiệp trở thành ngành mũi nhọn...
Còn ông Đặng Viết Thuần, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên cho biết, trên thực tế thì những hạn chế của ngành lâm nghiệp tỉnh đã được nhận diện từ khá sớm. Những mô hình hiệu quả đã được triển khai chính là tái cơ cấu và là nền tảng cho việc triển khai nhiệm vụ trong giai đoạn tiếp theo. (Nông Nghiệp VN 24/6) đầu trang(
Tranh thủ thời tiết thuận lợi, huyện Chợ Mới đã chỉ đạo các địa phương và nhân dân đẩy nhanh tiến độ trồng rừng.
Năm 2015, toàn huyện Chợ Mới phấn đấu trồng mới 1.500ha rừng, chủ yếu là keo và quế. Để hoàn thành kế hoạch đề ra, cơ quan chức năng của huyện tổ chức cho các hộ đăng ký trồng rừng sớm, chỉ đạo công tác gieo ươm cây giống, phát dọn thực bì, cuốc hố...
Tính đến thời điểm hiện tại, toàn huyện đã trồng được gần 80% diện tích, phấn đấu đến hết tháng 6/2015 sẽ hoàn thành trồng hết diện tích theo kế hoạch. (Báo Bắc Cạn 23/6) đầu trang(
Khóa đào tạo giảng viên về phân tích thị trường và phát triển kinh doanh trong lĩnh vực rừng và trang trại do TƯ Hội Nông dân VN đăng cai tổ chức vừa khai giảng ngày 22/6 tại HN.
Tham dự khóa tập huấn là các cán bộ của tổ chức nông dân đến từ Indonesia, Myanma, Nepal và VN. (Nông Thôn Ngày Nay 24/6) đầu trang(
Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải dẫn đầu đoàn công tác của Trung ương vừa đến thăm và kiểm tra tiến độ thi công NM số 2 của Cty cổ phần Gỗ MDF VRG Quảng Trị.
Do mang tầm quan trọng đối với chiến lược phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp của đất nước nên Chính phủ dành nhiều quan tâm cho Cty CP Gỗ MDF VRG Quảng Trị. Chỉ trong vòng 16 tháng, kể từ khi khởi công NM số 2 đến nay, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã đến thăm và động viên lãnh đạo, cán bộ, nhân viên của NM.
Lần này, báo cáo với Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải về tình hình hoạt động SX, ông Cao Thanh Nam, TGĐ Cty CP Gỗ MDF VRG Quảng Trị cho biết Cty có NM số 1 nằm ở KCN Nam Đông Hà, hoạt động tốt, tạo việc làm ổn định cho hơn 200 lao động trực tiếp và hàng ngàn lao động gián tiếp thông qua nghề trồng rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
Hàng năm, Cty thu mua gỗ rừng trồng nguyên liệu gần 150 ngàn tấn, tương đương diện tích gần 1.500 ha rừng. Quá trình phát triển của Cty đến nay là một sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể CBCNV và người lao động, đưa Cty từ chỗ sản phẩm làm ra chỉ đạt hơn 30 ngàn m3 ván gỗ vào năm 2006 thì đến năm 2012 đã đạt hơn 78 ngàn m3, đạt 130% công suất thiết kế, doanh thu tăng trên 200%. Nhờ vậy nên thu nhập người lao động ổn định hơn 7 triệu đồng/người/tháng, lợi nhuận có mức tăng trưởng bình quân trên 85%, nộp ngân sách hàng năm hơn 15 tỷ đồng. Năm 2014 đạt doanh thu gần 400 tỷ đồng.
Nguyên nhân thành công của Cty nhờ nằm vững thị trường, có đội ngũ công nhân kỹ thuật cao, vùng nguyên liệu ổn định, lãnh đạo Cty chỉ đạo, điều hành tốt. Từ năm 2010, Cty XK trực tiếp sản phẩm gỗ MDF sang thị trường các nước châu Âu, Trung Đông mang lại lợi nhuận cao.
Theo ông Cao Thanh Nam, Cty tự hào là DN duy nhất do người VN làm chủ đầu tư tại VN có sản phẩm gỗ nhân tạo được XK trực tiếp ra nước ngoài, hàng năm khối lượng XK chiếm đến 40% tổng doanh thu tiêu thụ. Đặc biệt, Cty có đội ngũ kỹ thuật tay nghề cao, làm chủ được dây chuyền công nghệ hiện đại của thế giới, chủ động hoàn toàn trong SX, rút ngắn thời gian khắc phục sự cố dây chuyền, kéo dài thời gian máy hoạt động từ 300 ngày/năm theo thiết kế, lên đến 340 ngày/năm, từ đó nâng được công suất SX và hiệu quả của NM. Riêng 4 tháng đầu năm nay, Cty có khối lượng sản phẩm gần 26.500 m3, đạt 34% kế hoạch năm, lợi nhuận ước tính 19 tỷ đồng, chiếm 69% tổng lợi nhuận kế hoạch năm 2015.
Báo cáo với Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải về NM số 2 tại KCN Quán Ngang, ông Cao Thanh Nam, TGĐ Cty cho biết dự án này được coi là tốt nhất trong khu vực Đông Nam Á. Đây là một dự án đầu tư dây chuyền SX ván gỗ MDF, HDF với công nghệ tiên tiến hiện đại của Đức, Italia và Áo.
Ông Nam khẳng định với Phó Thủ tướng, với việc nắm vững kỹ thuật và công nghệ, đội ngũ công nhân đã được đào tạo bài bản từ NM số 1 cùng với đào tạo ở nước ngoài về, tin chắc dự án NM số 2 sẽ thành công tốt đẹp như kế hoạch đề ra. Dự án đang giai đoạn cao điểm triển khai lắp đặt máy móc theo tiến độ đề ra, phấn đấu đến tháng 12/2015, Cty sẽ đưa NM số 2 vào hoạt động. NM số 2 được Cty làm đầu tư với tổng số vốn gần 1.400 tỷ đồng, có công suất thiết kế 120 ngàn m3 sản phẩm/năm.
Như vậy, NM số 2 đi vào hoạt động góp phần đắc lực thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến tại tỉnh Quảng Trị, nhất là chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp, giải quyết việc làm thêm 100 lao động trực tiếp và hàng ngàn lao động gián tiếp thông qua trồng rừng và khai thác vận chuyển gỗ rừng. Với 2 NM hoạt động, mỗi năm Cty sẽ thu mua trên 400 ngàn tấn gỗ rừng trồng, tương đương doanh thu thu về 1.400 tỷ đồng, lợi nhuận từ 50 - 60 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước 150 tỷ đồng, lương của công nhân bình quân trên 8,5 triệu đồng/tháng/người.
Khi Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải hỏi những bước đi rút ngắn thời gian, giảm chi phí đầu tư để tăng lợi nhuận của Cty, TGĐ Cao Thanh Nam cho biết để nâng cao hiệu quả và chủ động trong SXKD, Cty đã đầu tư và đưa vào hoạt động dây chuyền SX Formaldehyde, có công suất 20 ngàn tấn/năm và dây chuyền SX keo Ure Formaldehyde, công suất 30 ngàn tấn/năm làm nguyên liệu đầu vào phục vụ trực tiếp cho hai NM SX gỗ MDF của Cty.
Đây là 1 trong 6 NM trên cả nước SX Formaldehyde. Ngoài ra, từ năm 2011, Cty còn đầu tư 1 dây chuyền phủ mặt ván MDF bằng Melamin với tổng mức đầu tư 20 tỷ đồng, công suất 1 triệu m2/năm. Nhờ vậy, mỗi năm Cty xuất sản phẩm phủ mặt bằng Melamin chiếm 10% tổng giá trị sản phẩm gỗ MDF. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, Cty CP Gỗ MDF VRG Quảng Trị gặp không ít khó khăn, thách thức.
Theo ông Cao Thanh Nam, khi NM số 2 vào hoạt động thì chi phí vận chuyển sản phẩm đi các thị trường trong nước và XK rất lớn, trung bình mỗi năm trên 100 tỷ đồng và phải vận chuyển bằng đường bộ nên làm giảm hiệu quả đầu tư. Ông Nam đề nghị Bộ, ngành TƯ và tỉnh Quảng Trị có phương án xây dựng nhà ga vận chuyển hàng hóa gần khu công nghiệp Quán Ngang và cảng biển Cửa Việt có công suất lớn để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong vận chuyển hàng hóa.
Ngoài ra, tại địa bàn Quảng Trị có nhiều NM chế biến thô (băm dăm) XK nên làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của NM mới khi đi vào hoạt động. Vì vậy, ông Nam đề nghị tỉnh có chính sách phù hợp về phát triển nguyên liệu gỗ rừng trồng và tái cơ cấu ngành chế biến lâm sản sâu để phát triển bền vững. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải và đoàn công tác đã ghi nhận những kiến nghị của TGĐ Cao Thanh Nam. Phó Thủ tướng đánh giá cao hiệu quả của Cty CP Gỗ MDF VRG Quảng Trị.
Cty đã đầu tư phát triển một trong những lĩnh vực trọng tâm góp phần thúc đẩy công nghiệp chế biến đang được Chính phủ rất quan tâm. Đó là khuyến khích đầu tư phát triển công nghiệp chế biến gỗ rừng trồng, đặc biệt chế biến sản phẩm nông lâm nghiệp. Cty đã giải quyết được việc làm, tăng thu nhập ổn định cho nhiều lao động là điều rất quý.
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải lưu ý Cty hết sức chú ý đến chính sách nguyên liệu, tỉnh Quảng Trị cần tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi để Cty hoạt động có hiệu quả cao hơn nữa, khi đồng vốn đầu tư vào lớn. (Nông Nghiệp VN 24/6) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Dù trồng mắc ca chỉ khoảng 30 năm lại đây, (ít hơn Úc - nơi khởi thủy của loài cây này vài chục năm), nhưng người Trung Quốc cho rằng, “muốn xem thế giới trồng mắc ca thế nào, hãy đến Trung Quốc”. Có đi, có mắt thấy tai nghe mới hiểu thị trường đang có tiếng “ngốn” lượng mắc ca lớn nhất thế giới này thực sự làm gì?
Những ngày cuối tháng Năm nắng hầm hập, chúng tôi có dịp cùng đoàn khảo sát của nhà đầu tư muốn trồng mắc ca ở Việt Nam đến Quảng Tây - một trong những nơi trồng nhiều mắc ca nhất ở Trung Quốc. Những con đường đến các vườn mắc ca xứ này ngoằn ngoèo vì đường đồi núi, khác xa với những dải đường cao tốc chạy ngút tầm mắt từ Hữu Nghị quan về Nam Ninh (thủ phủ của tỉnh Quảng Tây).
Địa điểm chúng tôi đặt chân đến đầu tiên là Long Châu- nơi “đóng đô” Sở Khoa học Nông nghiệp Nam Á (thuộc tỉnh Quảng Tây), đơn vị đang nghiên cứu về mắc ca nhiều năm nay, cũng là đầu mối kết nối với đoàn Việt Nam. Long Châu vẫn được xem là thủ phủ mía của Trung Quốc, nhưng vẫn được đánh giá có triển vọng để trồng mắc ca.
Hiện Long Châu có khoảng 10.000 mẫu mắc ca (khoảng 700 ha), dự kiến 3 năm tới sẽ phát triển lên khoảng trên 5.000 ha. Ông Vương Phương Hồng, Phó chủ tịch huyện Long Châu khá hào hứng với loại cây cho hạt cứng này, khi cho biết toàn huyện có 3-4 nhà máy chế biến quả cứng (óc chó, hạnh nhân…). Riêng hạt mắc ca không đủ để chế biến.
Bởi vậy, lãnh đạo huyện này cũng gợi ý, Việt Nam có thể mở rộng trồng mắc ca, đưa sang Long Châu chế biến, rồi bán sản phẩm tại thị trường Trung Quốc hoặc xuất khẩu đi nước khác... Thực tế, các nhà máy hạt khô ở Long Châu hầu hết sử dụng nguyên liệu nhập khẩu (theo hình thức tạm nhập tái xuất) qua khu vực Tà Lùng (Cao Bằng) của Việt Nam, khối lượng hàng chục vạn tấn/năm.
Có lẽ “độ nóng” muốn mở rộng cây mắc ca ở Trung Quốc khiến những vườn cung cấp cây giống “mọc như nấm” ở Quảng Tây. Ông Nông Thiết Vi, cán bộ nông nghiệp huyện Long Châu cho hay, nông dân huyện này bắt đầu trồng mắc ca từ năm 2013, với diện tích ban đầu khoảng 3.000 mẫu (200 ha). Tuy nhiên, diện tích mắc ca nhanh chóng đươc đẩy nhanh, tăng hàng nghìn mẫu mỗi năm. Việc mở rộng diện tích mắc ca là do người dân tự phát.
Theo chỉ dẫn, chúng tôi thực tế vườn ươm 40 vạn cây mắc ca của ông Lê Tử Bằng, khu vực nằm sát Sở nghiên cứu ở Long Châu. Ông chủ vườn giống này cho hay, lúc đầu chỉ trồng khoảng 2 vạn, nhưng sau đó thấy cây sinh trưởng tốt, nhiều người hỏi mua nên ông mở rộng vườn lên 40 vạn cây.
Cây giống thường được dăm 1,5- 2 năm trong vườn, sau đó ghép khoảng nửa năm rồi bứng đi trồng. Từ năm thứ 3, cây có thể ra quả bói. Ở Long Châu, nhiều diện tích trồng cây bạch đàn đã chuyển sang trồng mắc ca. Thậm chí, có người ở Việt Nam cũng hỏi ông mua giống. Hiện ông chủ này đang có các loại giống như Quế Nhiệt 1, OC, 695... Giá cây giống khoảng 25-30 tệ/cây (90-110 nghìn đồng/cây giống).
So với các vườn giống Long Châu, những vườn giống của thành viên Hiệp hội mắc ca Cẩm Khê (thuộc thành phố Ngô Châu, tỉnh Quảng Tây) có vẻ được đầu tư khá bài bản, có hệ thống tưới nước tiên tiến. Bà Lâm Sướng, Phó chủ tịch mắc ca Cẩm Khê cũng là nhà đầu tư nhiều về giống. Bà Lâm cho biết, gia đình bà có hàng vạn ha giống mắc ca, là những giống đang được ưa chuộng, giá bán khoảng 25 tệ/cây (90.000 đồng/cây). Các giống ở vườn bà Lâm phần lớn có nguồn gốc do Sở Khoa học nông nghiệp Nam Á cấp, chất lượng giống được địa phương xác nhận, người mua có thể yên tâm hơn. Hiện bà Lâm còn có 4.000 cây đầu dòng chuyên cung cấp mắt ghép.
Theo bà Lâm, ở Cẩm Khê có trên 10 cơ sở làm giống quy mô lớn. Các giống ở Cẩm Khê thường bán cho vùng Quảng Châu, Quảng Đông, Vân Nam… và có cả người Việt Nam sang mua. Trong khi đó, diện tích mắc ca lấy quả ở Cẩm Khê hiện khoảng 5,5 vạn mẫu (3.600 ha), chủ yếu do người dân trồng tự phát.
Trong khi đó, một “ông trùm” về cây giống mắc ca khác là Lý Kiệt - thành viên Hiệp hội mắc ca Cẩm Khê đang làm theo chuỗi với nông hộ để phát triển mắc ca. Hệ thống vườn ươm được ông Lý đầu tư tới 7,5 triệu tệ (khoảng 26 tỷ đồng, trong đó gần một nửa vốn tự có) với 1,5 triệu cây giống, bán rải rác quanh năm. Các hộ mua giống sẽ được công ty hướng dẫn kỹ thuật trồng, được bao tiêu khi đến vụ thu hoạch, với giá 16 tệ/kg (55.000 đồng/kg) quả tươi.
Theo ông Lý, năm ngoái, ông chỉ thu mua được 20 tấn, nhưng dự kiến năm nay có thể lên đến 30 tấn quả khô. Theo cách tính của Hiệp hội mắc ca Cẩm Khê, với các giống do hiệp hội này cung cấp, trồng thương mại sẽ cho thu nhập khoảng 1.000 tệ/cây (3,5 triệu đồng/cây/năm).
Câu chuyện của GS Lục Siêu Trung, nhà nghiên cứu về mắc ca hơn 30 năm ở Trung Quốc có thể giúp những người mới “vào nghề” trồng mắc ca như ở Việt Nam phải suy nghĩ. Đúng là thị trường Trung Quốc đang “ngốn” một lượng mắc ca rất lớn của thế giới, đặc biệt là hạt khô, trong khi lượng cung cấp loại hạt này trong nước không đủ. Cũng vì thế mới có hiện tượng tăng trưởng nóng về diện tích cây này, dẫn đến có việc “người chặt trước mặt người trồng”.
Ông Lục cho biết, loại cây mắc ca này có ở Trung Quốc từ những năm đầu thế kỷ 20, nhưng đến năm 1988, nước này mới trồng thương mại. Từ năm 2007 đến nay, diện tích mắc ca Trung Quốc tăng mạnh, trung bình khoảng 1 vạn mẫu mỗi năm (khoảng 700 ha/năm).
GS Lục công bố con số khá bất ngờ, khi diện dích mắc ca của Trung Quốc đã hơn 66.600 ha, sản lượng khoảng 12.000 tấn hạt/năm và đang tăng nhanh. Ông Lục cho rằng, con số trên đã vượt gần như gấp đôi diện tích mắc ca tại quê hương của nó (Úc) tới 2 lần, và trở thành nước có diện tích mắc ca lớn nhất thế giới. Ông Lục ví von rằng “muốn xem mắc ca thế giới thế nào, hãy đến Trung Quốc”.
Hiện nay, cây mắc ca được trồng nhiều ở vùng Quảng Tây, Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Châu, Quý Dương. Trong đó, khu vực Vân Nam trồng nhiều nhất trên 6.600 ha; tiếp đó Quảng Tây với vùng Ngô Châu, Long Châu. Các chuyên gia Trung Quốc cho rằng, khu vực giáp ranh giữa Quảng Tây và Quảng Đông có điều kiện thích hợp, nên dù là đất của nhãn, cam quýt, nay họ điều chỉnh trồng mới thêm cây mắc ca.
Tại Trung Quốc, đầu tư mỗi mẫu mắc ca khoảng 1.000 tệ, có thể thu lãi từ 4.000 - 7.000 tệ, nếu cách làm và quản lý tốt. Một số chủ đầu tư đã thu hồi vốn sau 3 - 4 năm, khi kết hợp với sản xuất giống. Tuy nhiên cây mắc ca cũng là loại cây “kiêng khem” không dễ trồng, trong khi tuổi đời của nó kéo dài hàng chục năm. “Bài học của chúng tôi đã thất bại khi trồng mắc ca ở vùng ven biển Quảng Đông. Khi có gió bão đánh đổ rạp hết vườn cây, tốn kém với người dân”- ông Lục nói.
GS Lục cũng cảnh báo, không trồng mắc ca ở khu vực có độ cao trên 1.250 m so với mặt biển, vì mắc ca cũng không chịu được sương giá, hay vùng nhiều núi đá, vùng trũng ngập nước. “Cây sẽ bị hỏng, ít quả, hoặc nếu bị vùng đọng nước cây sẽ chết”.
Qua nhiều năm, Trung Quốc đã “gút” lại một số giống mắc ca có chất lượng khá như: 900, H2, OC, 344, 695, 922, JW... Từ câu chuyện thực tế trồng mắc ca ở Trung Quốc, GS Lục cho rằng, rằng việc chọn giống, phải trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá cẩn thận mặt khoa học mới mở rộng diện tích. Mặt khác, phải gắn kết chặt giữa nông dân và chế biến tiêu thụ trong quá trình mở rộng diện tích.
Tại Trung Quốc, trong số 66.600 ha mắc ca, có khoảng 10.000 ha đang cho quả, nhưng sản lượng cũng chỉ khoảng 12.000 tấn, tính ra đây là mức năng suất thấp. GS Lục cho rằng, phần lớn diện tích mắc ca của Trung Quốc trồng trên đất xấu, có nơi phải cạnh tranh với cây cam, quýt, nhãn. Thậm chí không ít bài học khi người chặt trước mặt người trồng cây vì đầu ra và hiệu quả kinh tế.
Từ lời của GS Lục, tôi lại nhớ lời cảnh báo của ông Chủ tịch Hiệp hội mắc ca Úc trong một hội thảo về định hướng trồng mắc ca ở Việt Nam mới đây, rằng, Trung Quốc đang phát triển nóng, đang chú trọng diện tích, trong khi khâu giống kiểm soát còn lỏng lẻo. Ông khuyên Việt Nam dù có trồng diện tích bao nhiêu, phải xác định trồng ăn chắc, không chạy theo số lượng. Mắc ca ở Việt Nam cũng đang “hót”, bởi có nhà đầu tư chịu chi cả tỷ đô la cho loại cây này, trong khi ý kiến nên trồng mắc ca hay không vẫn còn nhiều tranh cãi !
Các chuyên gia mắc ca ở Trung Quốc thừa nhận, hiện lượng giống mắc ca từ cây thực sinh (trồng từ hạt) khá lớn. Những cây này tỷ lệ đậu quả rất kém, thậm chí không có quả. Trong khi việc kiểm soát chất lượng giống của những nhà cung cấp chưa chặt chẽ, nhiều nơi không thực hiện đúng các quy định của Bộ Nông nghiệp Trung Quốc. Việc giống cây giá cao, nhiều nông dân không tiếp cận được loại giống được kiểm soát này cũng đem lại rủi ro lớn. (Tiền Phong 24/6)đầu trang( ./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||