|
Ngày 23 tháng 06 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Hạn hán kéo dài tại khu vực miền Trung, Tây Nguyên nhiều tháng qua đã khiến các cánh rừng trong khu vực đều đứng trước nguy cơ xảy ra cháy cao.
Từ đầu năm đến nay, tại TT-Huế đã xảy ra 5 vụ cháy nhỏ, trong đó có 1 vụ gây thiệt hại diện tích 0,25 ha. Để hạn chế thấp nhất tình trạng cháy rừng, TT-Huế đã và đang triển khai nhiều biện pháp phòng chống cháy rừng như: xây dựng bản đồ tác chiến, diễn tập phòng cháy chữa cháy; tăng cường lực lượng kiểm lâm tại các điểm rừng có nguy cơ cháy cao.
Theo Chi cục kiểm lâm TT-Huế, có đến 80% vụ cháy trong tỉnh là do con người gây ra. Vì vậy, việc bảo vệ rừng rất cần sự tham gia của người dân, nhất là khi thời tiết khô nóng vẫn còn tiếp tục kéo dài. (VTV 23/6) đầu trang(
Giữ rừng cho cao nguyên ở Lâm Đồng
Dự án tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013 - 2016 công bố con số giật mình: chưa đầy 5 năm, Lâm Đồng mất khoảng 90.000ha rừng, đa số là rừng thông.
Chuyện thông rừng bị đốn hạ, đầu độc không quá lạ ở cao nguyên thông xanh bạt ngàn. Cứ vài ngày, vài tháng lại nghe tin hàng trăm, hàng nghìn cây thông ở các khu rừng phòng hộ, rừng nội ô ngã xuống, nhường chỗ cho cây cà phê, hoa màu...
Theo Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Lâm Đồng, tỉ lệ che phủ rừng của Lâm Đồng hiện chỉ ở mức 52,5%, riêng TP Đà Lạt có tỉ lệ che phủ rừng thấp nhất với 42%. Sau 10 năm, tỉ lệ rừng che phủ của Lâm Đồng giảm hơn 10%.
Dự án tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013 - 2016 công bố con số giật mình: chưa đầy 5 năm, Lâm Đồng mất khoảng 90.000ha rừng, đa số là rừng thông.
Các chuyên gia nghiên cứu lâm sinh khu vực Tây nguyên cảnh báo tốc độ mất rừng quá cao và đáng báo động.
“Đi khắp Lâm Đồng lúc nào cũng thấy rừng xanh bạt ngàn nhưng đó chỉ là bề ngoài của rừng. Đi sâu vào trong hoặc dùng không ảnh sẽ thấy rừng của cao nguyên này là tấm da beo loang lổ” - một vị nguyên là giám đốc Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Lâm Đồng nói.
Cần làm gì để cứu rừng thông? PGS.TS Bảo Huy (trưởng Mạng lưới nông lâm kết hợp Đông Nam Á) cho rằng muốn giữ rừng hiệu quả không chỉ dựa vào mỗi lực lượng kiểm lâm như hiện nay mà cần có sự thay đổi cơ chế để nâng cao năng lực giữ và phát triển rừng.
Theo ông, cần ba cơ chế phối hợp tạo nên một hệ thống giá trị tương hỗ, phát triển quyền lợi của người giữ rừng gắn với sự phát triển của rừng.
Thứ nhất, cần điều chỉnh cơ chế chủ rừng (các công ty lâm nghiệp nhà nước và tư nhân) để tạo ra những chủ rừng thật sự, có năng lực và trách nhiệm. Chủ rừng phải được giao quyền như một người chủ nhà, chịu trách nhiệm xuyên suốt trong quá trình kinh doanh và phát triển rừng.
Không phải như hiện nay vấn đề trách nhiệm đang gói trong một nhiệm kỳ cụ thể, khiến những người làm lâm nghiệp có tâm không có thời gian đưa ra những kế hoạch dài hơi phát triển rừng.
Thứ hai, cơ chế tạo ra các giá trị dịch vụ. Để thực hiện cơ chế dịch vụ cần định nghĩa lại giá trị của rừng. Các nước đang giữ rừng tốt không chỉ xem rừng là một kho gỗ. Vì nếu là kho gỗ thì sẽ lấy gỗ để bán, bán hết thì lấy đất làm nông nghiệp, sớm muộn rừng sẽ cạn kiệt.
Trên toàn cầu, người ta xem những giá trị bền vững của rừng như giữ cacbonic (CO2), giữ nguồn nước, phát triển đa dạng sinh học là giá trị dịch vụ và được lượng hóa thành tiền. Nếu phát triển được những giá trị này thì các nước giữ rừng tốt sẽ nhận được nguồn tiền này từ các nước có khí phát thải cao.
Thứ ba, tạo cơ chế tăng quyền lợi cho người dân địa phương gắn với rừng. Người địa phương có quyền lợi với rừng sẽ không phá rừng.
Vì sự am hiểu địa phương và gắn với những giá trị văn hóa của khu rừng mà khả năng giữ rừng của người địa phương rất cao. Hẳn nhiên, người địa phương không độc lập giữ rừng mà phối hợp với kiểm lâm, chủ rừng để mức độ giám sát, phối hợp song song và giám sát chéo tăng lên.
Để các cơ chế này thành hiện thực và hiệu quả, việc định nghĩa, kinh doanh giá trị dịch vụ môi trường dựa trên sự phối hợp với các tổ chức quốc tế phát triển rừng và giá trị rừng rất quan trọng. Vì ở khâu này, nguồn kinh phí lớn để bảo vệ tài nguyên rừng sẽ được sản sinh giúp giảm đầu tư ngân sách. (Tuổi Trẻ 22/6) đầu trang(
VKSND huyện Phú Hòa (Phú Yên) vừa ra cáo trạng truy tố Nguyễn Quang Tùng (SN 1972, trú tại thị trấn Phú Hòa, huyện Phú Hòa) và Nguyễn Quyết Hận (SN 1981, trú tại xã Hòa Thắng, huyện Phú Hòa). Cả hai đối tượng đều vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy, có khung hình phạt tù từ 3 đến 8 năm.
Trước đó, sáng 15/8/2014, ông Lê Thìn thuê Nguyễn Quang Tùng, Nguyễn Chánh Tín (con của Tùng) và vợ chồng ông Nguyễn Quyết Hận đến rẫy của Thìn ở tiểu khu 277A thuộc thị trấn Phú Hòa, huyện Phú Hòa để dọn thực bì sau khai thác rừng trồng.
Tại đây, Tùng và Hận dùng bật lửa ga đốt thực bì. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, gió lớn bốc lửa cháy lan sang rừng trồng gần bên của các ông Nguyễn Văn Thẩm, Nguyễn Văn Khoa, Lâm Văn Trí gây thiệt hại 3ha rừng, tổng giá trị hơn 50 triệu đồng. (Tài Nguyên & Môi Trường 22/6) đầu trang(
Khi những cơn mưa đầu mùa xuất hiện cũng là lúc “vào mùa” săn bắn, bẫy thú. Do vậy, kiểm lâm Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Ðồng Nai (KBT) chưa kịp nghỉ ngơi sau nhiều tháng gồng mình phòng chống cháy rừng lại tất tả lên đường tuần tra, nằm rừng mai phục bắt “thú tặc”…
Vượt qua chặng đường dài hơn 30 cây số vào tận rừng sâu (khu vực giáp ranh tỉnh Bình Phước) chúng tôi gặp lực lượng kiểm lâm ở Trạm Rang Rang, nghe kể về những đêm thức trắng đi tuần tra, truy quét, mai phục bắt kẻ săn bắt thú rừng. Anh Thái Ngô Đức, Trưởng trạm Kiểm lâm Rang Rang cho hay, lực lượng mới vừa về đến nơi sau một đêm thức trắng để tuần tra, truy quét trong rừng. Tuy vậy, các anh vẫn nhiệt tình đưa chúng tôi cùng quay lại rừng để chỉ dẫn những địa điểm mà các đối tượng thường hay đặt bẫy bắt thú. “Làm sao mình biết được những nơi đặt bẫy thú trong rừng mênh mông như thế này?”, tôi hỏi.
Trạm trưởng Đức giải thích: “Khi những con thú di chuyển từ khu vực này sang khu vực khác để kiếm thức ăn, nếu gặp phải rào chắn thì chúng sẽ đi theo tường rào để tìm lỗ trống chui qua. Dựa vào đặc tính này, kẻ xấu đã phát luồng để cài đặt bẫy. Vì vậy, khi con thú đi thấy lỗ hổng sẽ chui qua thì chúng dính bẫy ngay”.
Tôi hỏi tiếp: “Chắc kẻ xấu phải có chiêu bẫy thú tinh vi lắm?”. Anh Đức gật đầu xác nhận: “Đúng vậy, các tay trộm thú có rất nhiều cách cài đặt bẫy khác nhau. Cụ thể, đối tượng đến khu vực mà con thú thường lui tới kiếm mồi, rồi chọn một cây rừng chặt bỏ một nửa trên ngọn, phần còn lại dùng làm cần bẫy để buộc dây cáp vào, đầu dây còn lại thắt thòng lọng rồi kéo xuống đất cài đặt vào lỗ đã đào sẵn. Sau đó, đối tượng ngụy trang bằng cách rải thảm lá mục phủ lên trên. Con thú không phát hiện nên đi ngang qua vướng chân vào bẫy sẽ bị giật treo lên”.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, những đối tượng bẫy thú thường hay sử dụng loại đú khô, đú nước (loại bẫy được làm bằng lưới cước, có kích cỡ mắt lưới rất nhỏ) để bắt được tất cả các loại thú từ nhỏ đến lớn, thậm chí bắt được cả rắn. Thời gian gần đây, họ còn sử dụng một số loại bẫy khác như: răng cưa, lò xo, hom, cò ke…
“Bẫy đặt ở nơi gần suối, đầm, khe là để bắt heo rừng. Còn bẫy cài ở trên đồi nhiều cây thì bắt kỳ đà, cheo. Nhưng riêng 2 loại bẫy răng cưa và lò xo không chỉ bắt được chồn, cheo mà còn có thể bắt được các loại động vật rừng lớn như bò, heo. Độ sát thương của loại bẫy này rất cao nên dễ gây nguy hiểm cho người đi rừng”, anh Đức chia sẻ.
Theo anh Đức, đối tượng cài bẫy thú hoạt động ngày càng tinh vi. Lúc trước, họ sử dụng dây cáp để làm bẫy thú nên dễ bị phát hiện tháo gỡ. Nhưng bây giờ họ ngụy trang bằng cách bọc vỏ cây hoặc lá cây bên ngoài dây cáp, mới nhìn vào chẳng khác nào dây rừng leo rất khó phát hiện.
Tuy nhiên, nhờ kinh nghiệm nhiều năm gắn bó với rừng, nắm rõ những “điểm nóng” mà các đối tượng thường đến cài bẫy, cộng với việc quan sát kĩ nên các anh vẫn phát hiện ra bẫy để phá bỏ. Tiếp cận "điểm nóng" Hơn chục năm gắn bó với công tác tuần tra rừng, kiểm lâm viên Trần Quốc Đạt cho biết đã không ít lần các anh phải nằm phục mấy đêm liền trong rừng mới bắt được đối tượng vi phạm. Thậm chí còn gặp nguy hiểm khi đối diện với những đối tượng liều lĩnh có mang theo dao, súng.
Đạt kể, có lần anh cùng đồng nghiệp đi tuần tra đêm đến tiểu khu 98 (thuộc địa phận Trạm Kiểm lâm Rang Rang) thì phát hiện ánh đèn của nhóm đối tượng bẫy thú. Lập tức, các anh báo hiệu cho nhau âm thầm tiến tới tiếp cận rồi yêu cầu các đối tượng đứng lại để kiểm tra. Tuy nhiên, bọn họ hung hăng thách thức.
“Lúc đó mặc dù mang theo súng và luôn trong tư thế sẵn sàng nhưng xác định mạng người là rất quan trọng nên chúng tôi chỉ ra sức thuyết phục. Vậy nhưng nhóm người vẫn bất chấp, quyết liệt chống đối rồi bỏ chạy thoát thân”, anh Đạt nhớ lại. Trạm trưởng Đức cũng cho biết, cách đây khoảng mấy tháng, trong lúc các anh đang làm nhiệm vụ tuần tra thì phát hiện 2 đối tượng chạy xe máy với tốc độ cao.
Thấy khả nghi, anh vội chạy xe theo nhưng đuổi được một đoạn thì thanh niên ngồi sau nhảy xuống xe rồi vác bao tải chạy biến vào rừng mất dạng. Tuy nhiên, bằng nghiệp vụ, các anh đã vây bắt được thanh niên này, kiểm tra trong bao có 3 con cheo.
“Những đối tượng săn bắn thú lúc nào cũng lên đạn sẵn trên nòng súng và bọn chúng rất liều lĩnh, sẵn sàng bóp cò khi bị phát hiện để thoát thân. Thời gian qua, trong lực lượng đơn vị tôi có một số đồng chí đã đổ máu khi làm nhiệm vụ. Tuy nhiên, không vì thế mà chúng tôi chùn bước!”, anh Đức quả quyết.
Trao đổi với PV NNVN, ông Phan Sỹ Phúc, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn, cho biết: Họ giấu súng trong rừng rồi thản nhiên vào rừng giống như người dân thường để qua mắt kiểm lâm. Hạt kiểm lâm KBT xác định rõ trách nhiệm, tiếp tục tăng cường tổ chức tuần tra bảo vệ rừng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền người dân, quyết liệt xử lý những đối tượng vi phạm về rừng. (Nông Nghiệp VN 23/6) đầu trang(
Tính đến tháng 6 năm 2015, trên địa bàn toàn tỉnh có 211 cơ sở gây nuôi động vật hoang dã, với số lượng hơn 4.600 cá thể, giảm gần 100 cơ sở so với năm 2014.
Trong đó có 179 cơ sở nuôi nhím với hơn 1.000 cá thể, 3 cơ sở nuôi dúi với 75 cá thể, 08 cơ sở nuôi lợn rừng với hơn 700 cá thể, 11 cơ sở nuôi hươu sao với 34 cá thể, 06 cơ sở nuôi rắn hổ mang, rắn ráo trâu với hơn 2.600 cá thể, còn lại là các cơ sở nuôi thỏ, trĩ đỏ....
Qua kiểm tra, theo dõi của lực lượng Kiểm lâm, nhìn chung các cơ sở đều chấp hành tốt các quy định của Nhà nước về nuôi nhốt động vật hoang dã, không có tình trạng lợi dụng giấy phép nuôi nhốt để buôn bán, vận chuyện động vật hoang dã.
Mặc dù vậy, tình trạng săn bắn, bẫy bắt, mua, bán, kinh doanh, vận chuyển và tiêu thụ các loài động vật hoang dã trái pháp luật vẫn diễn ra ở một số địa phương, trong đó đối tượng vi phạm chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các xã vùng sâu, vùng cao. (Đài PTTH Bắc Cạn 22/6) đầu trang(
Trong tuần qua, nhiều cơn mưa lớn kéo dài đã làm hạ nhiệt trên lâm phần Vườn Quốc gia U Minh Hạ. Hiện nay, toàn bộ diên tích gần 8.530 ha rừng tràm U Minh Hạ đều có nước.
Mưa lớn kéo dài đã làm cho tất cả các dòng kênh, mương của Vườn Quốc gia U Minh Hạ đều có nước trở lại sau nhiều tháng dài khô hạn, làm tăng độ ẩm dưới tán rừng. Tuy mực nước trong kênh, mương chưa lên cao, nhưng nguy cơ cháy rừng đã giảm.
Mặc dù vậy, công tác trực phòng cháy, chữa cháy rừng vẫn được duy trì thực hiện nghiêm ngặt 24/24 giờ tại những điểm nóng, khu vực dễ cháy cho tới khi không còn nguy cơ cháy rừng.
Mùa khô năm nay kéo dài và thời tiết diễn biết bất lợi, nhưng tỉnh Cà Mau đã thực hiện khá tốt công tác phòng cháy chữa cháy rừng. (Người Lao Động 23/6; Đài PTTH Cà Mau 22/6) đầu trang(
Rừng ngập mặn cho Tương lai (MFF) là một sáng kiến khu vực dựa trên hợp tác đối tác với sự đồng chủ trì của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) và Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP).
Chương trình được thực hiện bởi sự phối hợp của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Sáng kiến MFF chú trọng việc bảo tồn và quản lý tốt các hệ sinh thái ven biển, góp phần nâng cao sức chống chịu của cộng đồng ven biển sống phụ thuộc vào các hệ sinh thái tại một số nước như: Indonesia, Malaisia, Myanma, Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam…
Bà Nguyễn Thùy Anh – Cán bộ truyền thông của IUCN cho biết: MFF chọn rừng ngập mặn là hệ sinh thái tiêu biểu; tuy nhiên, sáng kiến cũng hướng tới tất cả các hệ sinh thái ven biển khác như rạn san hô, vùng cửa sông, đầm phá, bãi biển, thảm cỏ biển và đất ngập nước.
MFF kêu gọi các Tổ chức Phi Chính phủ (NGO), Tổ chức cộng đồng (CBO), các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp nhỏ, các ban quản lý tham gia nộp đề xuất ý tưởng dự án cho Qũy tài trợ các Dự án nhỏ. Mức tài trợ tối đa cho mỗi dự án là 20.000 đô la Mỹ với thời gian thực hiện tối đa 12 tháng. Các dự án cần đảm bảo sự tham gia bình đẳng của cả phụ nữ, nam giới và các nhóm yếu thế.
Theo tổ chức IUCN, các đề xuất ý tưởng dự án nhỏ sẽ hướng tới 6 chủ đề ưu tiên gồm: Phục hồi, cải tạo các hệ sinh thái biển và ven biển (rừng ngập mặn, rạn san hô và các ao nuôi tôm bỏ hoang); giới thiệu và phát triển các sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu cho cộng đồng ven biển; Thử nghiệm và xây dựng cơ chế đồng quản lý trong bảo tồn các hệ sinh thái biển và ven biển; Xây dựng các cơ chế chia sẻ lợi ích từ các hoạt động du lịch sinh thái đối với cộng đồng; Tăng cường tiếp cận, phổ biến thông tin và hệ thống cảnh báo sớm về thiên tai; Nhân rộng các thực hành tốt trong quản lý, bảo tồn và sử dụng các hệ sinh thái biển và ven biển.
Các dự án sẽ được triển khai trên địa bàn phường Cửa Đại, phường Cẩm An, xã Cẩm Thanh, xã Cẩm Kim và xã Tân Hiệp của thành phố Hội An. Thời hạn nộp đề xuất ý tưởng đến hết ngày 3/7/2015. (Tài Nguyên & Môi Trường 23/6) đầu trang(
Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà được quy hoạch lên đến 19.000ha, gồm 25 tiểu khu, nằm trên địa bàn hành chính 8 xã thuộc 4 huyện: Diên Khánh, Cam Lâm, Khánh Sơn và Khánh Vĩnh.
Hiện nay, trong khu vực vùng đệm của Khu bảo tồn còn hơn 400ha nương rẫy của đồng bào dân tộc thiểu số đang xâm canh, điều này sẽ tác động xấu đến hệ sinh thái, là thách thức lớn đối với công tác quản lý, bảo vệ rừng ở Hòn Bà. Tuy tình trạng này đã kéo dài nhiều năm nhưng vẫn chưa có hướng giải quyết phù hợp.
Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà có hệ sinh thái phong phú và rất đa dạng với 36 loài động vật và 14 loài thực vật đặc hữu quý hiếm được ghi vào Sách đỏ của Việt Nam. Trong 4 năm gần đây, các đoàn nghiên cứu trong và ngoài nước đã phát hiện 10 loài mới quý hiếm tại khu bảo tồn này. (Báo Khánh Hòa 23/6) đầu trang(
19-6, Cơ quan CSĐT CAH Hòa Vang (Đà Nẵng) tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tạm giam 4 tháng đối với Trịnh Kim Hùng (1966, trú P. Hòa Hiệp Bắc, Q. Liên Chiểu, Đà Nẵng) về hành vi “Hủy hoại rừng”. Đây là vụ án đang được dư luận quan tâm bởi vụ việc kéo dài cả tháng mới bị cơ quan chức năng phát hiện...
Theo điều tra ban đầu, mặc dù không được sự cho phép của cơ quan Nhà nước, nhưng do có nhu cầu về đất làm trang trại chăn nuôi gia súc, nên đầu năm 2015, Hùng nhờ ông Nguyễn Hậu (1954, trú cùng địa phương) đưa đến Tiểu khu 15 thuộc địa phận thôn An Định (xã Hòa Bắc, H. Hòa Vang) chọn lựa vị trí phù hợp và dùng sơn đánh dấu khoanh vùng khu vực rừng cần chặt phát. Ngày 10-5, Nguyễn Văn Tín (1982, trú Tây Thành, H. Yên Thành, Nghệ An) biết được Hùng cần thuê người phát rừng nên liên hệ và thỏa thuận với giá 4 triệu đồng/ha.
Sau khi thống nhất giá cả, Tín cùng Nguyễn Văn Đương (1968), Nguyễn Văn Lý (1970), Nguyễn Văn Liên (1982, cùng trú H. Yên Thành), Mai Kim Sự (1977, trú H. Cát Tiên, Lâm Đồng), Nguyễn Văn Hiệp (1998, trú H. Định Quán, Đồng Nai) tổ chức ăn ở tại chỗ, lao động chặt phát cây rừng. Ngày 25-5, Hùng tiếp tục thuê xe múc đất BKS 43LA-0127 của ông Nguyễn Như Quốc (trú xã Hòa Sơn, H. Hòa Vang) lên khu vực phát cây mở rộng đường, đào ao chứa nước… Đến ngày 10-6, trong lúc nhóm Tín chờ Hùng lên hiện trường nghiệm thu, thanh toán tiền công thì lực lượng kiểm lâm Hòa Vang tuần tra, phát hiện...
Khu rừng bị chặt phá chạy dọc theo con đường lâm nghiệp đã có trước đây nối liền với P. Hòa Hiệp Bắc (Q. Liên Chiểu), gồm 3 khu vực liền kề nhau với tổng diện tích thiệt hại 5,3ha là rừng phòng hộ đầu nguồn sông Cu Đê đã được UBND TP phê duyệt “Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020”. Số cây rừng bị chặt hạ gồm 2.436 cây có đường kính từ 10-24cm và 9.344 cây có đường kính từ 5cm đến dưới 10cm đã chuyển sang màu khô úa… Được biết, cũng với hành vi hủy hoại 2,6ha rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Đồng Nghệ (xã Hòa Khương), ngày 6-6, ông Thái Văn Hiệp (1963, tạm trú xã Hòa Khương) đã bị TAND H. Hòa Vang xét xử lưu động, tuyên phạt 36 tháng tù…
Thời gian qua, trên địa bàn Hòa Vang liên tiếp xảy ra các vụ phát lấn chiếm đất rừng, gây ảnh hưởng tới tình hình ANTT, môi trường. Năm 2014, sau khi xảy ra các vụ cháy rừng, lực lượng chức năng mới phát hiện các hộ dân Nguyễn Trường (1968), Nguyễn Văn Phước (1977), Nguyễn Xuân Sĩ (1986, cùng trú thôn Trước Đông, xã Hòa Nhơn) phát lấn chiếm đất rừng, khi xử lý thực bì đã để cháy lan diện tích 2,2ha rừng đầu nguồn. Còn vụ cháy rừng ở Hố Chùi (xã Hòa Phú), chính quyền các cấp phải huy động gần 1.000 người cùng với các phương tiện tham gia chữa cháy suốt 2 ngày đêm cũng bắt nguồn từ việc ông Đặng Phước Dũng (1976, trú địa phương) phát lấn chiếm hơn 0,4ha. Do bất cẩn trong khâu xử lý thực bì gây cháy lan ra khu rừng đặc dụng và sản xuất với diện tích hơn 106ha…
Rõ ràng, mục đích phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp của các hộ dân trên không phải là do nhu cầu bức xúc về đất ở, đất canh tác mà chủ yếu là mở rộng diện tích đất trồng cây, làm trang trại hoặc sau này có thể sang nhượng lại cho người khác một cách trái phép để thu lợi.
Thực trạng đáng quan ngại trên cho thấy, công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, nhất là trong việc ngăn chặn tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép tại các địa phương vẫn còn nhiều lúng túng. Một số địa phương chưa thấy được vai trò, trách nhiệm của mình, nhất là công tác bảo vệ, phát triển rừng tự nhiên nên chưa kịp thời, chưa có biện pháp ngăn chặn các điểm nóng về phá rừng. Trong lúc đó, phần lớn các vụ phá rừng chủ yếu liên quan đến người dân địa phương, nhưng việc phát hiện tìm ra thủ phạm lại gặp rất nhiều khó khăn.
Thiết nghĩ, để quản lý và phát triển rừng hiệu quả, thời gian đến, H. Hòa Vang cần phải huy động được sự tham gia của các ngành, các cấp, đặc biệt là nhân dân. Do vậy, các cấp chính quyền địa phương cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động để nâng cao nhận thức cho người dân; tiếp tục thực hiện chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng, trên tinh thần từng địa phương chủ động xây dựng kế hoạch với lực lượng kiểm lâm địa bàn kiểm tra, xử lý triệt để những vụ việc vi phạm ngay từ cơ sở. (Công An Đà Nẵng + Công An Nhân Dân 23/6) đầu trang(
Thông tin từ Chi cục Kiểm lâm cho biết, đợt nắng nóng kéo dài trong những ngày cuối tháng 5 và đầu tháng 6 vừa qua đã làm cho số vụ cháy rừng trên địa bàn tỉnh tăng đột biến so với những tháng đầu năm.
Nếu như đến hết tháng 4/2015, toàn tỉnh mới để xảy ra 5 vụ cháy rừng thì từ tháng 5 đến nay, cả tỉnh đã để xảy ra 18 vụ cháy gây thiệt hại hơn 6 ha rừng. Trong đó địa phương để xảy ra số vụ cháy rừng nhiều nhất là huyện Ba Bể với 7 vụ, huyện Ngân Sơn 4 vụ, còn lại là các địa phương khác.
Nguyên nhân của các vụ cháy được xác định là do thời gian từ tháng 5 đến tháng 6 tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, nắng nóng, khô hanh kéo dài ngày, thêm vào đó, nhiều người dân lại sử dụng lửa bất cẩn trong việc đốt soi bãi, đốt xử lý thực bì trồng rừng nên đã gây cháy lan vào rừng.
Qua tổng hợp, hầu hết các vụ cháy xảy ra đều được chính quyền địa phương, người dân và lực lượng Kiểm lâm phát hiện, huy động, tổ chức lực lượng chữa cháy kịp thời, hiệu quả, vì vậy đã giảm thiểu những thiệt hại do cháy gây ra. Tuy nhiên, việc để xảy ra nhiều vụ cháy trong một thời gian ngắn cũng là vấn đề đang được các địa phương lưu tâm rút kinh nghiệm. (Đài PTTH Bắc Cạn 22/6) đầu trang(
Văn bản số 2411/BVHTTDL-DSVH ngày 17 tháng 6 năm 2015 của Bộ VHTTDL gửi Sở VHTTDL tỉnh Đồng Nai về việc lập hồ sơ đề cử Vườn Quốc gia Cát Tiên trình UNESCO công nhận là Di sản thế giới.
Theo đó, sau khi nhận được Công văn số 894/BC-SVHTTDL ngày 15/5/2015 của Sở VHTTDL tỉnh Đồng Nai báo cáo kết quả thực hiện và những thuận lợi, khó khăn trong quá trình lập hồ sơ đề cử Vườn Quốc gia Cát Tiên là Di sản Thiên nhiên Thế giới thời gian qua, đồng thời đề xuất đinh hướng tiếp tục lập hồ sơ đề cử mới để trình UNESCO công nhận là Di sản Thế giới trong thời gian tới, Bộ VHTTDL đã xem xét và có ý kiến như sau: Thống nhất sự cần thiết phải kiện toàn Ban Chỉ đạo và Ban Nội dung xây dựng hồ sơ đề cử Vườn Quốc gia Cát Tiên; xây dựng đề cương khoa học lập hồ sơ di sản; thuê chuyên gia tư vấn nước ngoài; xây dựng chiến lược truyền thông, tuyên truyền về di sản.
Về việc lập hồ sơ đề cử Vườn Quốc gia Cát Tiên trong thời gian tới: Tại kỳ họp lần thứ 38 của Ủy ban Di sản Thế giới năm 2014 đã đưa ra “Quy trình tập trung – Upstream process” (tham khảo báo cáo của Trung tâm Di sản Thế giới tại website http://whc.unesco.org/archive/2014/whc14-38com-9A-en.pdf) trong đó các Cơ quan tư vấn của UNESCO là Hội đồng quốc tế về Di tích và Di chỉ (ICOMOS) và Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN) có thể hỗ trợ các quốc gia thành viên ngay từ giai đoạn đầu của việc lập hồ sơ đề cử để tránh diễn ra những sai sót không đáng có của quá trình lập hồ sơ di sản.
Đối với trường hợp xây dựng Hồ sơ đề cử Vườn Quốc gia Cát Tiên, sau nhiều năm chuẩn bị với 3 lần trình hồ sơ nhưng IUCN vẫn đưa ra khuyến nghị hồ sơ chưa đạt yêu cầu để Vườn Quốc gia Cát Tiên được công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới theo tiêu chí đa dạng sinh học.
Vì vậy trong thời gian tới đề nghị Sở VHTTDL tỉnh Đồng Nai báo cáo UBND tỉnh Đồng Nai giao cho các cơ quan liên quan nghiên cứu việc mời chuyên gia của IUCN vào hỗ trợ việc lập hồ sơ đề cử Vườn Quốc gia Cát Tiên trình UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới theo trình tự sau đây: Giai đoạn I, IUCN có thể thực hiện một chuyến khảo sát đánh giá thực địa tại Cát Tiên để bước đầu xác định Vườn Quốc gia Cát Tiên có đạt được Giá trị Nổi bật Toàn cầu hay không (thông qua việc xác định các yếu tố tạo nên giá trị của di sản, sự thỏa đáng của các nguồn tư liệu nghiên cứu, tính logic của phạm vi khoanh vùng bảo vệ). Sau chuyến khảo sát đánh giá thực địa, IUCN sẽ tư vấn đưa ra khuyến nghị nên tiếp tục theo đuổi việc xây dựng hồ sơ Cát Tiên với những nghiên cứu đã được xác định nêu trên như thế nào.
Giai đoạn II, IUCN sẽ đưa ra những tư vấn tổng thể về quá trình đề cử, các bước cụ thể tiếp theo trong việc thực hiện phân tích so sánh, vấn đề bảo vệ và quản lý, các lĩnh vực chuyên môn cần chú trọng khi soạn thảo hồ sơ đề đảm bảo Hồ sơ để cử Vườn Quốc gia Cát Tiên trở thành một trường hợp thực hành tốt của quá trình chuẩn bị hồ sơ di sản thế giới.
Bộ VHTTDL thống nhất giao Cục Di sản văn hóa phối hợp với Sở VHTTDL tỉnh Đồng Nai và các cơ quan liên quan tiếp tục triển khai việc lập hồ sơ đề cử Vườn Quốc gia Cát Tiên trình UNESCO công nhận là Di sản Thế giới trong thời gian tới. (Đại Đoàn Kết 23/6) đầu trang(
19/6/2015, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương (BTGTW) và Mạng lưới theo dõi, giám sát buôn bán động, thực vật hoang dã toàn cầu tại Việt Nam (TRAFFIC) đã ký kết Biên bản Ghi nhớ cùng phối hợp tuyên truyền, tập huấn nâng cao nhận thức đến các cán bộ, doanh nhân và công chúng, nhằm giảm thiểu nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ động, thực vật hoang dã buôn bán trái phép tại Việt Nam.
Là cơ quan tham mưu của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc chỉ đạo công tác tuyên truyền thực hiện các nghị quyết của Đảng đưa nghị quyết vào cuộc sống. BTGTW mong muốn được thông báo cho người dân và cộng đồng quốc tế về vai trò của Việt Nam trong công cuộc bảo vệ động, thực vật hoang dã. Ông Bùi Thế Đức, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cho biết.
Trong thời gian tới, BTGTW và TRAFFIC sẽ triển khai một số hoạt động chung góp phần bảo tồn thiên nhiên vì sự phát triển bền vững của Việt Nam, trong đó phía TRAFFIC sẽ tổ chức các sự kiện triển lãm, tập huấn nhằm truyền tải những thông điệp về giảm thiểu nhu cầu sử dụng các sản phẩm trái phép từ động, thực vật hoang dã như sừng tê; đồng thời xây dựng năng lực cho các đồng chí là cán bộ truyền thông và cán bộ tuyên giáo của các tỉnh, thành ủy về phương pháp, nội dung tuyên truyền làm thay đổi hành vi, nâng cao nhận thức cho người dân.
Còn BTGTW sẽ phối hợp với Bộ Giao thông Vận tải triển khai một số nội dung tuyên truyền tại sân bay Nội Bài nhằm khuyến khích hành khách không sử dụng các sản phẩm từ các loài động, thực vật hoang dã đang bị đe dọa thông qua các thông điệp đặt tại khu trưng bày, màn hình LCD, băng rôn và bảng biển.
“Sân bay Quốc tế Nội Bài là nơi có lượng lưu chuyển hành khách lớn nhất nhì tại Việt Nam, đây cũng là điểm được cho là đã trung chuyển chủ yếu cho các sản phẩm trái phép từ động, thực vật hoang dã dựa theo số vụ việc bắt giữ được của các cán bộ Hải quan,” Bà Madelon Willemsen, Trưởng Đại diện của TRAFFIC tại Việt Nam cho biết.
“Với lượng lớn hành khách và hàng hóa trong đó có các sản phẩm trái phép từ động, thực vật hoang dã chuyển qua sân bay này, chúng ta cần triển khai các hoạt động thắt chặt kiểm soát, áp dụng xử phạt nghiêm ngặt, song song với giáo dục công cộng nhằm thay đổi hành vi và thái độ đối với tiêu thụ sừng tê giác của hành khách”.
Các sáng kiến trong chiến dịch chung này gắn liền với chiến dịch “Sức tại Chí” mà TRAFFIC đang triển khai. Chiến dịch “Sức tại Chí” được xây dựng trên khái niệm “Chí” trong văn hóa Việt Nam, nói về sức mạnh nội tại, rằng thành công, nam tính và may mắn đến từ sức mạnh ý chí bên trong của mỗi cá nhân con người, chứ không phải từ một mảnh sừng. (Tài Nguyên & Môi Trường 22/6) đầu trang(
Sáng 22/6, tại TP Đà Lạt, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phạm S trao quyết định khen thưởng đột xuất của Chủ tịch UBND tỉnh cho 1 tập thể và 2 cá nhân thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng vì có thành tích xuất sắc trong công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn.
Tập thể, cá nhân được Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen, gồm: Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng (Đội KLCĐ&PCCCR) số 1, cùng hai kiểm lâm viên Nguyễn Quốc Hiển và Vũ Đình Quang (đều là thành viên của Đội KLCĐ&PCCCR số 1). Ngoài việc trao tặng Bằng khen, UBND tỉnh còn thưởng nóng cho tập thể số tiền 10 triệu đồng; hai kiểm lâm viên mỗi người 2 triệu đồng.
Trước đó, từ ngày 10-13/6/2015, các thành viên Đội KLCĐ&PCCCR số 1, đã theo dõi, mật phục, bắt quả tang đối tượng Nguyễn Văn Dũng (53 tuổi, trú tại thị trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương) đang thực hiện hành vi phá rừng tại lô C, khoảnh 4, TK143 nằm trên địa bàn xã Đạ Sar (Lạc Dương), thuộc lâm phần do BQL Rừng phòng hộ đầu nguồn Đạ Nhim quản lý, bảo vệ.
Tại hiện trường, lực lượng chức năng đã lập biên bản diện tích rừng bị tác động trên 6.200m2, với số lâm sản thiệt hại 32 cây thông đường kính gốc từ 15-40cm (trữ lượng gỗ hơn 12,7m3) bị cưa hạ, ken gốc, đốt cháy. Tại cơ quan chức năng, bước đầu đối tượng Dũng khai nhận hành vi phá rừng trên là để lấy đất sản xuất.
Liên quan đến vụ việc, lực lượng chức năng cũng lập biên bản tạm giữ một xe máy mang BKS 49 – 2669, đồng thời tiếp tục đấu tranh làm rõ để xử lý nghiêm theo luật định. (Báo Lâm Đồng 22/6) đầu trang(
6.3.2012, Cục Điều tra chống buôn lậu (ĐTCBL) - Tổng cục Hải quan (TCHQ) ra quyết định khởi tố “Vụ án buôn lậu xảy ra tại cảng Đà Nẵng” đối với Cty TNHH MTV Ngọc Hưng (Cty Ngọc Hưng). Gần 4 năm trôi qua, đến nay vụ án vẫn chưa kết thúc.
Trong khi đó, lô gỗ trắc nhập khẩu là tang vật vụ án đã bị đem bán đấu giá trái pháp luật với số tiền chỉ trên 63 tỉ đồng. Nạn nhân vụ án - Cty Ngọc Hưng đã liên tục gửi đơn kêu cứu lên Chủ tịch Nước và Chủ tịch Quốc hội đề nghị được làm sáng tỏ, xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân sai phạm.
Ngày 30.5.2012, Tổng cục Hải quan (TCHQ) phát công văn số 2567 gửi Cơ quan cảnh sát điều tra (CSĐT) Bộ Công an (C46) về việc chuyển hồ sơ vụ án buôn lậu xảy ra tại cảng Đà Nẵng.
Ngày 6.6.2012, C46 có công văn phúc đáp số 231 gửi TCHQ cho rằng “vụ việc chưa đủ yếu tố cấu thành tội buôn lậu quy định tại Điều 153 BLHS”. Tuy nhiên, sau đó vụ án hình sự vẫn được tiếp tục.
Kết quả điều tra của C46 về sự việc như sau: Ngày 17.12.2011, Cty Ngọc Hưng (số 111 đường 9, Lao Bảo, Hướng Hóa, Quảng Trị) mở tờ khai hải quan số 1505/NK/KD B033 tại Hải quan CK Lao Bảo để nhập lô hàng gỗ trắc có nguồn gốc từ Lào; nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT) là gần 3,3 tỉ đồng. Lô hàng đã được thông quan.
Ngày 19.12.2011, Cty Ngọc Hưng mở tờ khai tại Hải quan cảng Cửa Việt và đã được thông quan, niêm phong 22 container chuyển về cảng Đà Nẵng để xuất sang Trung Quốc. Ngày 4.1.2012, TCHQ tại thông báo số 101 đã chỉ đạo các cơ quan thuộc ngành trong đó có Đội 2 Cục ĐTCBL khám xét toàn bộ lô gỗ nhập khẩu nói trên.
Theo đó, kết quả điều tra của C46 cho thấy: “Cty Ngọc Hưng khai là gỗ trắc cam bốt nhưng thực tế kiểm tra lại là gỗ trắc cẩm lai nam, không có trong khai báo 21m3 gỗ giáng hương và 867 sản phẩm gỗ các loại”. Từ đó, C46 khẳng định: “Cty Ngọc Hưng có hành vi khai báo không đúng về số lượng, chủng loại gỗ so với thực tế xuất khẩu theo quy định trách nhiệm của người khai báo tại Điều 23 Luật Hải quan, nhưng những sai phạm này không trái với những quy định của Nhà nước về công tác quản lý xuất nhập khẩu những sản phẩm này. Do vậy chưa đủ yếu tố cấu thành tội buôn lậu quy định tại Điều 153 BLHS mặc dù lô hàng đã được thông quan”.
Về việc chênh lệch giữa khai báo hải quan với số lượng gỗ thực, C46 cho biết theo tính toán việc khai báo sai đã giảm số thuế xuất khẩu phải nộp là 743 triệu đồng, nhưng cân đối tổng thể toàn bộ lô hàng thì số gỗ tròn Cty Ngọc Hưng thực xuất lại nhỏ hơn số Cty kê khai và tính thuế là rất lớn (khoảng trên 100m3). Do vậy số thuế Cty này trốn đóng không đáng kể hoặc có thể Cty đã nộp nhiều hơn so với thực tế phải nộp.
Ngày 30.12.2011, khi lô gỗ được xếp lên tàu ở cảng Đà Nẵng thì TCHQ có công văn hỏa tốc yêu cầu giao toàn bộ hồ sơ cho Cục ĐTCBL (TCHQ) “khám xét, điều tra, xác minh để xử lý nhanh, nghiêm”. Ngày 6.3.2012, Cục ĐTCBL ra Quyết định số 02 khởi tố “vụ án buôn lậu xảy ra tại cảng Đà Nẵng” đối với Cty Ngọc Hưng. Ngày 12.4.2012, Cục ĐTCBL ban hành quyết định thu giữ toàn bộ lô gỗ nói trên.
Sau khi chuyển hồ sơ cho C46 và được cơ quan này trả hồ sơ vì “chưa đủ yếu tố cấu thành tội buôn lậu”, ngày 11.6.2012, TCHQ có văn bản gửi Trung tướng Phạm Quý Ngọ - Thứ trưởng Bộ CA đề nghị chỉ đạo Cơ quan CSĐT Bộ CA tiếp nhận và điều tra vụ án.
Sau đó khoảng 5 tháng, ngày 19.11.2012, Cơ quan CSĐT - Bộ CA (C44 - P4, chứ không phải C46 nữa!) đã khởi tố bị can và bắt giam ông Trương Huy Liệu - Phó giám đốc Cty hơn 1 năm; cấm bà Trần Thị Dung (vợ ông Liệu) đi khỏi nơi cư trú không thời hạn.
Liên quan đến vụ án, ngày 22.5.2013, một nhân viên của Cty Ngọc Hưng là Trần Đình Quang (SN 1986), ngay sau khi làm việc với cơ quan điều tra trở về từ Hà Nội đã thắt cổ chết tại nhà riêng để lại nhiều di thư mà CA tỉnh Quảng Trị thu giữ có nội dung cho rằng đã bị điều tra viên C44 dọa nạt, ép cung, đánh đập...
Ngày 7.5.2014, Vụ 1 Viện KSND Tối cao có cáo trạng đề nghị truy tố vợ chồng ông Trương Huy Liệu bà Trần Thị Dung ra trước TAND TP.Đà Nẵng để xét xử về “tội buôn lậu quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 153 BLHS” với lý do “Cty Ngọc Hưng đã lập bộ hồ sơ, chứng từ giả, sau đó dùng bộ hồ sơ này để buôn lậu 614,672m3 gỗ không rõ nguồn gốc, xuất xứ”. Tuy nhiên, sau 2 ngày xét xử sơ thẩm (30 - 31.10.2014), TAND TP. Đà Nẵng đã trả lại hồ sơ vụ án cho Viện KSND Tối cao để điều tra bổ sung.
Trong đơn kêu cứu lần thứ 3 đề ngày 24.5.2015 gửi Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang, ông Trương Huy Liệu viết: “Khoản 2, Điều 121 BLTTHS quy định trong trường hợp vụ án do TAND trả lại để điều tra bổ sung thì thời hạn là không quá 1 tháng. Vậy nhưng, từ ngày TAND TP. Đà Nẵng trả hồ sơ đến nay đã quá 7 tháng nhưng vụ án vẫn không được đưa ra xét xử. Như vậy, cơ quan tố tụng sơ thẩm lại tiếp tục cố ý vi phạm tố tụng”. (Lao Động 23/6) đầu trang(
27/6, tại công viên Hoàng Văn Thụ sẽ diễn ra triển lãm “Em kể chuyện thiên nhiên” do tổ chức Hành động vì động vật hoang dã - AWO (Action for Wildlife Organization) thực hiện.
Triển lãm trưng bày hơn 70 bức ảnh cùng câu chuyện của 30 thanh thiếu niên đang sinh sống tại các vùng đệm của Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát, Tây Ninh và Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, Long An.
Áp dụng phương pháp photovoice – kể chuyện qua tranh ảnh, triển lãm nằm trong chuỗi hoạt động của dự án “Tăng cường tiếng nói của thanh thiếu niên trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học”.
Em Hà Khang – 10 tuổi, kể câu chuyện của mình: “Hồi xưa nhà em có nuôi một con heo con rất là nhỏ. Nó rất là dễ thương, nó thông minh và nó nhút nhát nữa. Nhưng nuôi nó rất là mệt. Nó chạy đi lung tung. Nó có thể đá banh và tìm bạn. Khi ba em giết nó em rất là buồn.”
Triển lãm diễn ra từ 8h – 17h. Thông qua các hoạt động, AWO mong muốn tạo cầu nối, đem hình ảnh thiên nhiên và môi trường đang bị đe dọa đến gần hơn với cộng đồng dưới góc nhìn của chính các em nhỏ đang sinh sống tại địa phương. (Pháp Luật TPHCM 22/6) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
23/6, Ban Quản lý Chương trình UN-REDD tỉnh tổ chức tập huấn nâng cao năng lực về kỹ năng xử lý vi phạm hành chính trong thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Tham gia tập huấn có đại diện Chi cục Lâm nghiệp, Chi cục Kiểm lâm, Chi cục Quản lý chất lượng nông – lâm sản và thủy sản tỉnh, hạt kiểm lâm các huyện, thành phố, Vườn Quốc gia Hoàng Liên...
Tham gia khóa tập huấn, học viên được giới thiệu về các luật, nghị định liên quan đến công tác bảo vệ và phát triển rừng; các hình thức xử phạt vi phạm hành chính. Khóa tập huấn giúp học viên nâng cao kiến thức và kỹ năng xử lý vi phạm hành chính trong thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường tính bền vững của việc thực hiện REDD+ thông qua bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường sinh thái.
Khóa tập huấn diễn ra trong 3 ngày, từ 23 – 25/6. (Báo Lào Cai 23/6) đầu trang(
Thời gian qua, người dân phường Đông Sơn (Thị xã Bỉm Sơn - Thanh Hóa) phản ánh việc hộ ông Trịnh Văn Song ở Khu phố 5 “ ngang nhiên” biến đất lâm nghiệp thành đường bê tông và nhà, đặc biệt là chỉ cách trụ sở UBND phường khoảng 500 mét nhưng lại không bị xử lý gì?
Bà Lê Thị M ở khu phố 5 bức xúc chỉ về phía đồi lâm nghiệp nói: "Các chú nhìn con đường bê tông và khu nhà này thì biết đây là đất lâm nghiệp nhưng không hiểu tại sao chỉ mấy ngày đã biến thành đường bê tông và khu nhà, mặc dù cử tri đã nhiều lần phản ánh nhưng phường vẫn không xử lý gì".
Theo tìm hiểu của chúng tôi, khu đất lâm nghiệp hiện nay được ông Trịnh Văn Song nhận chuyển nhượng lại của ông Tống Kim Luyện tại đồi Lu, thuộc thửa đất số 10, tờ Bản đồ số 221515-1-9, Bản đồ địa chính phường Lam Sơn cũ 9 nay là phường Đông Sơn) xác lập năm 1996.
Đến ngày 16/4/2014, UBND Thị xã Bỉm Sơn cấp giấy CNQSDĐ số BP 772580 với diện tích 27.000 m2, mục đích sử dụng là đất trồng rừng sản xuất, thời hạn sử dụng là 50 năm. Ngay sau khi có giấy CNQSDĐ, ngày 29/4/2014, ông Song đã làm đơn xin UBND phường Đông Sơn sửa chữa khu nhà trông coi và được Chủ tịch UBND phường bút phê "Đồng ý cho gia đình ông Trịnh Văn Song sửa lại khu nhà trông coi tại khu đất lâm nghiệp của gia đình…”
Ngày 12/5/2015, Đội Kiểm tra Quy tắc đô thị Bỉm Sơn đã lập Biên bản kiểm tra hiện trường và có kết luận: Gia đình ông Trịnh Văn Song xin phép sửa chữa nhà trông coi, nhưng thực tế gia đình đã phá toàn bộ công trình cũ và xây mới hoàn toàn trên nền cũ với tổng diện tích xây dựng là 160,08 m2. Liên quan đến vấn đề làm đường bê tông trái phép trên đất lâm nghiệp, ngày 2/6/2015, Đội Kiểm tra Quy tắc đô thị đã tiến hành kiểm tra hộ ông Song làm đường và có kết luận: “Hộ gia đình ông Trịnh Văn Song tự ý làm đường bê tông trên đất lâm nghiệp không được các cấp có thẩm quyền cho phép… Yêu cầu gia đình ông Song trả lại mặt bằng hiện trạng của đất như ban đầu khi chưa vi phạm”.
Tuy nhiên, trao đổi với Phóng viên Báo Tài nguyên & Môi trường, bà Dương Thị Hà, cán bộ địa chính và Xây dựng phường Đông Sơn cho rằng: Việc hộ gia đình ông Trịnh Văn Song làm đường như thế là để vận chuyển sản phẩm và việc xây dựng khu nhà là không kiên cố, phù hợp với phê duyệt đồng ý cho phép xây dựng của Chủ tịch UBND phường(!?).
Trên cơ sở những sai phạm trong xây dựng của hộ gia đình ông Trịnh Văn Song, ngày 12/5/2015, UBND Thị xã Bỉm Sơn đã có Công văn số 689/UBND-TNMT về việc xử lý công trình vi phạm. Công văn nêu rõ: “ Hành vi vi phạm trên (của ông Trịnh Văn Song - PV) thực hiện trong thời gian nghỉ lễ, sau khi gia đình có giấy phép sửa chữa công trình và được UBND phường Đông Sơn xác nhận, nhưng do việc phê duyệt của UBND phường chưa chặt chẽ, thiếu hồ sơ nên gia đình ông Song đã thực hiện mở đường, xây dựng công trình nhà 160,08 m2”.
Yêu cầu Chủ tịch UBND phường Đông Sơn: Ban hành Biên bản thu hồi và hủy giấy phép sửa chữa nhà trông coi được Chủ tịch UBND phường Đông Sơn xác nhận ngày 29/4/2015, xử lý dứt điểm đối với hành vi xây dựng công trình vi phạm của ông Trịnh Văn Song trước ngày 15/5/2015.
Tuy nhiên đến thời điểm hiện nay (đã hơn 1 tháng) hộ gia đình ông Trịnh Văn Song không những chưa bị xử lý, mà công trình vẫn đang được tiến hành xây dựng và hoàn thiện!?.
Ông Mai Quang Bính, Trưởng phòng Tài nguyên & Môi trường Thị xã Bỉm Sơn cho biết: Quan điểm của UBND Thị xã Bỉm Sơn là sẽ xử lý dứt điểm tình trạng xây dựng trái phép. Đề nghị UBND phường Đông Sơn ban hành văn bản thu hồi và hủy Giấy xin phép sửa chữa nhà trông coi của hộ ông Trịnh Văn Song. (Tài Nguyên & Môi Trường 23/6) đầu trang(
Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải về giải pháp khắc phục sạt lở bờ biển, khôi phục rừng phòng hộ ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long.
Biến đổi khí hậu và mặt trái của các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội (khai thác, sử dụng tài nguyên nước ở thượng nguồn, các hoạt động phát triển kinh tế trên sông, ven biển,…) đã gây ra nhiều tác động tiêu cực như mất cân bằng bùn cát, gia tăng sạt lở bờ sông, bờ biển, suy giảm nghiêm trọng rừng ngập mặn ven biển, xâm nhập mặn ngày càng sâu vào đất liền, phần lớn các cửa sông ở khu vực duyên hải miền trung bị bồi lấp theo mùa, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của bà con ngư dân.
Theo thống kê, hiện có 265 điểm sạt lở bờ sông với tổng chiều dài trên 450 km tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long bị mất khoảng 500 ha rừng ngập mặn/năm.
Để khắc phục sạt lở, những năm qua hầu hết các địa phương chủ yếu áp dụng giải pháp xây dựng kè cứng chống sạt lở bờ sông, bờ biển; đây là giải pháp có suất đầu tư cao, chưa thực sự bền vững, hiệu quả tại một số khu vực, không phù hợp với xu thế chung được nhiều nước hiện nay hướng tới là áp dụng các biện pháp “thân thiện với môi trường” và “trả lại không gian cho sông”. Việc nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp phù hợp để hạn chế sạt lở bờ sông, bờ biển, suy thoái rừng ngập mặn là cần thiết và cấp bách.
Thời gian qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệ đã chủ động chỉ đạo cơ quan nghiên cứu triển khai một số đề tài nghiên cứu, khảo sát, đánh giá tình hình sạt lở bờ biển, suy thoái rừng ngập mặn đồng bằng sông Cửu Long, bồi lấp cửa sông, sạt lở ven biển khu vực duyên hải miền trung; đồng thời triển khai một số dự án thí điểm áp dụng các giải pháp khác nhau để khắc phục sạt lở bờ biển, khôi phục rừng ngập mặn vùng ven biển nhằm đưa ra các giải pháp hiệu quả, phù hợp.
Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệ sớm tổ chức nghiệm thu các đề tài nghiên cứu, dự án thí điểm theo quy định, công bố kết quả nghiên cứu, hướng dẫn và định hướng cho các địa phương ứng dụng kết quả nghiên cứu, giải pháp hiệu quả đã được kiểm chứng, phù hợp với điều kiện cụ thể từng khu vực nhằm bảo đảm tính kinh tế và kỹ thuật, tránh lãng phí trong đầu tư và ảnh hưởng tới môi trường sinh thái lâu dài.
Đồng thời tiếp tục ưu tiên bố trí nguồn vốn sự nghiệp khoa học và công nghệ để triển khai các hoạt động nghiên cứu, đánh giá tổng thể về thực trạng xâm thực, sạt lở bờ biển trên phạm vi cả nước; nghiên cứu đề xuất các giải pháp phù hợp chống xâm thực bờ biển, khôi phục rừng phòng hộ ven biển tại các khu vực ven biển bị xói sâu; nghiên cứu, thử nghiệm các giải pháp mềm, thân thiện với môi trường để bảo vệ bờ sông, nhất là đối với hệ thống kênh rạch ở đồng bằng sông Cửu Long.
Phó Thủ tướng giao Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo chức năng nhiệm vụ được giao phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, rà soát, cập nhật để hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý tài nguyên nước và phòng chống thiên tai, từng bước xác lập, quản lý hành lang ven sông, ven biển để hạn chế rủi ro thiên tai, nhất là lũ, bão, sạt lở, nước biển dâng; tiếp tục đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến xói lở vùng ven biển các tỉnh phía Bắc và khu vực miền Trung; rà soát, xác định các dự án thực sự cấp bách cần ưu tiên đầu tư đưa vào chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn tới.
Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu triển khai hệ thống quan trắc, giám sát diễn biến đường bờ biển, trước mắt cần tập trung quan trắc tại một số khu vực bờ biển đang bị xâm thực mạnh nhằm tạo cơ sở dữ liệu phục vụ công tác giám sát, theo dõi lâu dài, đề xuất các giải pháp ứng phó phù hợp.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc các địa phương triển khai thực hiện Đề án bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2014 – 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, có cơ chế, chính sách phù hợp đẩy mạnh thu hút nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách để thực hiện chủ trương xã hội hóa việc trồng, khôi phục, quản lý rừng ngập mặn ven biển, tạo sinh kế cho người dân và chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu. (Nông Thôn Ngày Nay 23/6) đầu trang(
Đề án Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp chỉ ra mục tiêu sản xuất đồ gỗ nội địa đạt 2,8 triệu mét khối và xuất khẩu đạt 5 triệu mét khối gỗ sản phẩm vào năm 2020. Cùng với đó, công nghiệp chế biến và thương mại sản phẩm gỗ được xác định là động lực phát triển kinh tế lâm nghiệp của Việt Nam.
Đây là một nhiệm vụ đòi hỏi ngành sản xuất và kinh doanh gỗ ngay từ bây giờ phải bắt tay ngay vào việc tái cơ cấu theo hướng quy hoạch tập trung, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng cạnh tranh, phát triển bền vững...
Hiện nay, cả nước có hơn 10 triệu ha rừng tự nhiên, trong đó rừng sản xuất chiếm hơn 40%. Những năm trước đây, do kế hoạch sản lượng khai thác lớn nên rừng tự nhiên bị khai thác quá mức, làm cho nhiều diện tích rừng bị suy thoái, chất lượng thấp. Bên cạnh đó, việc thiếu các biện pháp đồng bộ, phù hợp, thiếu sự quản lý của các cơ quan nhà nước để ngăn chặn, kiểm soát gỗ và sản phẩm gỗ từ khai thác đến chế biến và tiêu thụ cũng là một nguyên nhân dẫn đến mất rừng và suy thoái rừng tự nhiên trong thời gian qua.
Hằng năm, cả nước khai thác hàng vạn m3 gỗ rừng trồng, nhưng có đến 80% lượng gỗ khai thác này dành để chế biến dăm gỗ xuất khẩu. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do chất lượng gỗ rừng trồng thấp, khối lượng gỗ có chứng chỉ quản lý bền vững chưa đáng kể nên không đáp ứng được yêu cầu để sản xuất đồ gỗ xuất khẩu. Theo dự báo, Việt Nam có cơ hội lớn để mở rộng thị trường gỗ và các sản phẩm gỗ trên thế giới. Nếu có giải pháp đúng và chính sách hỗ trợ hiệu quả thì các doanh nghiệp có thể xuất khẩu đạt từ 15 đến 20 tỷ USD trong mười năm tới.
Bên cạnh đó, thị trường đồ gỗ trong nước cũng đang có những chuyển biến mạnh mẽ trong những năm gần đây. Tuy vậy, cả thị trường xuất khẩu và nội địa hiện đang có những thách thức lớn. Đối với thị trường xuất khẩu, thương hiệu đồ gỗ Việt Nam trên thế giới chưa được khẳng định, lại đang có xu hướng bị áp đặt nhiều hàng rào kỹ thuật, nhất là về nguồn gốc xuất xứ gỗ hợp pháp. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ còn thấp, tính hợp tác và liên kết lỏng lẻo. Thị trường trong nước thiếu kênh phân phối, đang bị mất dần thị trường ở một số địa bàn quan trọng.
Nước ta đã ký thỏa thuận mậu dịch thương mại tự do với một số nước từng là thị trường nhập khẩu gỗ quan trọng của các doanh nghiệp, đã có nhiều thuận lợi cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh gỗ xuất khẩu, trong đó đặc biệt là thuế suất các mặt hàng này giảm đáng kể, thậm chí là không chịu thuế suất. Trước đây, các sản phẩm gỗ mà Việt Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc như ván gỗ, viên gỗ nén hay các sản phẩm gỗ nội thất có bọc da thường phải chịu mức thuế từ 3 đến 5%, có loại tới 6%, nhưng bây giờ tất cả thuế suất đều bằng 0%.
Điều này sẽ tiết giảm được chi phí rất lớn cho doanh nghiệp. Hiện nay, Hàn Quốc đứng thứ năm về kim ngạch nhập khẩu đồ gỗ của Việt Nam, sau Mỹ, EU, Nhật Bản và Trung Quốc với kim ngạch khoảng hơn 300 triệu USD năm 2014. Việc Hiệp định Thương mại tự do (FTA) được ký kết chắc chắn sẽ mở ra nhiều cơ hội lớn cho các doanh nghiệp ngành gỗ Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này.
Đánh giá của Bộ Công thương cho thấy, năm 2014, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đã đạt 6,23 tỷ USD, trong đó gỗ nguyên liệu là 1,76 tỷ USD, sản phẩm gỗ đạt 4,44 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2004-2014 là 18,3%. Mặc dù có những biến động về thị trường, song đánh giá chung, trong hơn mười năm trở lại đây, ngành đồ gỗ của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích, trở thành nước xuất khẩu gỗ lớn nhất Đông - Nam Á và đồ gỗ là một trong mười mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Đây là những tín hiệu lạc quan nhưng không có nghĩa các doanh nghiệp trong nước thiếu sự chủ động để hội nhập, trong đó vấn đề cốt lõi là không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm.
Theo Thứ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn, để thúc đẩy phát triển thị trường gỗ và sản phẩm gỗ, một trong những nhiệm vụ quan trọng của các doanh nghiệp lúc này là cần thiết lập và vận hành cơ sở dữ liệu thị trường, thường xuyên cập nhật, chia sẻ thông tin giá cả, chính sách thị trường, các hàng rào kỹ thuật trên cơ sở dữ liệu sử dụng và khai thác có hiệu quả hệ thống thông tin thị trường. Tăng cường quảng bá, xây dựng thương hiệu gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam trên thị trường thế giới, trong đó ưu tiên vào thị trường Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Bên cạnh đó, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu, chú trọng nâng cao chất lượng hơn là hạ giá thành sản phẩm, tăng cường liên kết giữa nhà sản xuất và phân phối. Cần đổi mới công tác xúc tiến thương mại, nghiên cứu, đánh giá xu hướng thị trường, tìm kiếm đối tác theo hướng hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp tham gia hội chợ, diễn đàn thương mại gỗ quốc tế và trong nước.
Để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh gỗ, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Gỗ TP Hồ Chí Minh (HAWA) Huỳnh Văn Hạnh khẳng định, bên cạnh việc xây dựng đồng bộ các chính sách phù hợp của Nhà nước, các doanh nghiệp cần chủ động đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng nguồn nhân lực cao, áp dụng công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh và xúc tiến thương mại.
Muốn nâng cao chất lượng, số lượng các sản phẩm gỗ, không gì khác ngoài việc phải đẩy mạnh công tác bảo vệ và phát triển rừng hiệu quả. Cùng với việc trồng mới các loại cây lấy gỗ cho năng suất cao, các doanh nghiệp cần tập trung phát triển công nghệ sản xuất gỗ, nhằm nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm phục vụ thị trường tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Bên cạnh đó, cần điều chỉnh cơ cấu sản phẩm gỗ và lâm sản ngoài gỗ, nhất là các sản phẩm xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng giá trị lâm sản sử dụng nguồn nguyên liệu được gây trồng trong nước, phát triển hài hòa cả sản xuất đồ gỗ ngoại thất, nội thất, hạn chế tối đa xuất khẩu sản phẩm thô, bao gồm cả dăm gỗ. Nâng cao việc quy hoạch sản phẩm theo vùng, tiểu vùng gắn với quy hoạch trồng rừng nguyên liệu để bảo đảm hiệu quả đầu tư chung.
Đây cũng chính là mục tiêu tái cơ cấu ngành lâm nghiệp nhằm cải thiện giá trị gia tăng của các sản phẩm lâm nghiệp. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong nước cần nỗ lực vượt bậc trong bảo vệ, phát triển rừng để từng bước đáp ứng nhu cầu về gỗ và lâm sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, góp phần tạo việc làm, giảm nghèo, cải thiện sinh kế và môi trường sinh thái. (Nhân Dân 23/6) đầu trang(
Việc sắp xếp, đổi mới hoạt động của 16 công ty nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đến nay, nếu xét về tiến độ triển khai có thể đảm bảo được lộ trình. Vấn đề đặt ra là chất lượng các đề án, theo đánh giá là thấp, thiếu tính khả thi mà ngay cả những người trong cuộc cũng còn rất nhiều băn khoăn.
Theo quy trình hướng dẫn của Trung ương thì công tác sắp xếp, đổi mới hoạt động các công ty nông, lâm nghiệp bao gồm có 7 bước cơ bản. Đến nay, các bước như thành lập Hội đồng thẩm định giúp UBND tỉnh sắp xếp, đổi mới các công ty nông, lâm nghiệp; Báo cáo về các phuơng án sắp xếp, đổi mới để UBND tỉnh lấy ý kiến các thành viên; Chỉ đạo Sở Nông nghiệp-PTNT hoàn chỉnh lại phương án tổng hợp của tỉnh hiện đã cơ bản hoàn thành.
Các bước còn lại gồm trình Thường vụ Tỉnh ủy có ý kiến chính thức; Tờ trình kèm theo phương án sắp xếp, đổi mới gửi Bộ Nông nghiệp-PTNT lấy ý kiến của các bộ, ngành liên quan để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và cuối cùng là sau khi được phê duyệt, UBND tỉnh sẽ tổ chức thực hiện phương án cho từng công ty nông, lâm nghiệp hiện nay đang được tỉnh chỉ đạo các đơn vị liên quan khẩn trương thực hiện.
Theo đề án sắp xếp, đổi mới thì UBND tỉnh sẽ chuyển 7 công ty TNHH MTV lâm nghiệp sang hoạt động theo mô hình công ích gồm Đắk Wil, Nam Tây Nguyên, Đắk N’Tao, Đức Hòa, Quảng Sơn, Gia Nghĩa và Thuận Tân. Nguyên nhân chính chưa thể chuyển đổi 7 công ty này hoạt động theo luật Doanh nghiệp là do đến nay các đơn vị vẫn chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững và chưa được cấp chứng chỉ rừng quốc tế về quản lý rừng bền vững.
Công ty TNHH MTV Đầu tư và Phát triển Đại Thành đủ điều kiện nên sẽ được chuyển đổi theo mô hình hoạt động theo luật Doanh nghiệp, Nhà nước sẽ nắm giữ 100% vốn điều lệ, với ngành nghề chính là sản xuất kinh doanh rừng sản xuất. Hai công ty TNHH MTV lâm nghiệp gồm Đắk R’măng và Quảng Đức sẽ chuyển thành Ban quản lý rừng phòng hộ.
3 công ty TNHH MTV lâm nghiệp là Quảng Tín, Trường Xuân và Đức Lập sẽ bị giải thể. Lý do là các đơn vị này thường xuyên thua lỗ, không quản lý được đất rừng, rừng giao khoán. Ngoài ra, các diện tích rừng, đất rừng không liền vùng, liền khoảnh nên khó khăn trong việc sản xuất, kinh doanh. Vì thế, sau khi bị giải thể, toàn bộ rừng, đất rừng của 3 đơn vị này sẽ giao về cho địa phương, công ty TNHH MTV lâm nghiệp, ban quản lý rừng đặc dụng khác quản lý.
Đối với Công ty Cà phê Thuận An, Nhà nước vẫn nắm giữ 100% vốn điều lệ. Công ty TNHH MTV Nam Nung sẽ chuyển thành Công ty cổ phần Nam Nung, Nhà nước nắm 100% vốn điều lệ. Hiện nay, Công ty Cà phê Đức Lập hoạt động gặp không ít khó khăn nhưng kế hoạch của tỉnh là muốn kiện toàn sắp xếp lại doanh nghiệp để giữ thương hiệu và đảm bảo an ninh quốc phòng. Do vậy, sau khi có ý kiến chính thức của công ty mua bán nợ, tỉnh sẽ xây dựng phương án cổ phần hóa, Nhà nước nắm giữ cổ phần hóa chi phối hoặc cho phép bán đi một số vườn cây để đảm bảo không âm vốn, tái cấu trúc theo quy định.
Trao đổi xung quanh việc xây dựng các đề án sắp xếp, chuyển đổi các công ty nông, lâm nghiệp trên địa bàn, ông Nguyễn Đình Đạo, Phó Giám đốc Sở Kế hoạch-Đầu tư, Phó trưởng Ban Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp tỉnh cho biết, qua thực tế thì chất luợng đề án sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty nông, lâm nghiệp mà các đơn vị liên quan xây dựng, đưa ra còn thấp.
Hạn chế rõ nhất là việc đưa ra các phương án sản xuất, kinh doanh và sắp xếp bộ máy quản lý để nâng cao hiệu quả hoạt động ở các công ty nông, lâm nghiệp vẫn còn hạn chế. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do ban giám đốc các công ty nông, lâm nghiệp chưa thực sự chú tâm việc tập trung xây dựng đề án. Đội ngũ cán bộ giúp cho các công ty nông, lâm nghiệp xây dựng đề án có trình độ còn hạn chế.
Ngoài ra, thời gian quá gấp cũng khiến cho chất lượng các đề án còn thấp. Hiện tại, các công ty lâm nghiệp chưa xác định được giá trị các loại rừng, do đó tính khả thi của đề án chưa cao, nhất là việc lựa chọn phương thức hoạt động. Việc xác định vốn điều lệ chưa rõ ràng, có những khoản chi chỉ có tên trong tài khoản,còn thực tế không có vốn. Việc cập nhật thông tin diễn biến tài nguyên rừng của các công ty còn chậm, hầu hết các đơn vị chưa xây dựng kế hoạch, quy hoạch lâu dài về việc sử dụng rừng và sử dụng đất.
Các dự án sản xuất nông lâm nghiệp triển khai chậm, thiếu việc kiểm tra, giám sát dự án dẫn đến kết quả đạt được không cao, vẫn còn tình trạng rừng bị chặt phá diễn ra tại các dự án. Nguồn vốn hỗ trợ công tác quản lý, bảo vệ đối với diện tích rừng nghèo kiệt rất ít, trong khi đó các công ty phải bố trí kinh phí quản lý, bảo vệ diện tích này. Do vậy, một số công ty không có nguồn thu từ khai thác gỗ nên không bố trí được kinh phí cho công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Ông Đạo cho biết thêm: “Một khi chất lượng của mỗi đề án còn chưa cao thì việc áp dụng triển khai trên thực tiễn sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Điều này cũng đồng nghĩa với tính hiệu quả của các đề án sẽ chưa có sự thuyết phục cao”.
Cũng theo ông Nguyễn Đình Đạo thì việc chuyển 7 công ty TNHH MTV lâm nghiệp sang hoạt động theo mô hình công ích là rất khó trong nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng. Thực tế, các doanh nghiệp này chỉ hoạt động theo đơn đặt hàng của Nhà nước về công tác quản lý, bảo vệ rừng, chưa đủ điều kiện hoạt động theo luật Doanh nghiệp. Vì thế, các doanh nghiệp này không tham gia kinh doanh các sản phẩm từ rừng.
Trong khi đó, số lượng cán bộ, nhân viên sẽ bị hạn chế nên việc quản lý, bảo vệ rừng cũng còn nhiều băn khoăn, trăn trở. Do không có kinh doanh nên việc chi trả bù đắp cho người lao động cũng bị hạn chế nhiều. Rõ ràng, lực luợng mỏng, thu nhập tăng thêm bị hạn chế nên việc nâng cao hiệu quả hoạt động công tác quản lý, bảo vệ rừng xem ra rất khó khăn.
Ngoài ra, nếu công tác phối kết hợp giữa chủ rừng và các cấp, ngành liên quan không được cải thiện thì cũng gây rất nhiều khó khăn cho quản lý, bảo vệ rừng. Trong trường hợp này, 2 công ty chuyển thành ban quản lý rừng phòng hộ cũng gặp những khó khăn tương tự vì lực lượng mỏng, kinh phí hoạt động không nhiều. Các đơn vị khác trong quá trình sắp xếp chuyển đổi đang đòi hỏi nguồn vốn đầu tư ngân sách Nhà nước rất lớn, trong khi các phương án hoạt động sản xuất, kinh doanh vẫn chưa có tính khả thi cao.
Có thể nói, công tác sắp xếp, đổi mới, nâng cao hoạt động của các công ty nông, lâm nghiệp theo chỉ đạo của Trung ương là rất cấp thiết. Tuy nhiên, việc “chạy theo” tiến bộ mà để các đề án chất lượng còn thấp thì xem ra mục tiêu cuối cùng là nâng cao hiệu quả hoạt động của từng công ty nông, lâm nghiệp sau khi chuyển đổi vẫn chưa được đảm bảo là vấn đề cần đặt ra, quan tâm. (Báo Đắk Nông 22/6) đầu trang(
Tại Công văn số 1224/VP-KTN ngày 22/6/2015, đồng chí Lý Vinh Quang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo rà soát dự án trồng rừng có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo đó, yêu cầu các Sở: Kế hoạch và Đầu tư, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Lao động- Thương binh và Xã hội, Tài nguyên và Môi trường; Bộ Chỉ huy Quân sự Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát lại các dự án trồng rừng sản xuất có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 1584/VPCP-KTN ngày 04/10/2012; hướng dẫn Chủ đầu tư dự án sử dụng lao động theo Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ, thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục về đất đai theo quy định pháp luật; tham mưu UBND tỉnh trong vấn đề giao đất, cho thuê đất các dự án trồng rừng có vốn đầu tư nước ngoài; kịp thời giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai dự án. (Langson.gov.vn 22/6) đầu trang(
Năm 2015, xã Võ Lao có kế hoạch trồng mới 80 ha rừng tập trung và rừng sản xuất. Để hoàn thành kế hoạch đề ra, xã đã tổ chức cho các hộ đăng ký trồng rừng sớm, chỉ đạo công tác gieo ươm cây giống, phát dọn thực bì, cuốc hố... khi mưa xuống tiến hành ngay việc trồng rừng.
Góp phần hoàn thành kế hoạch đề ra, Hợp tác xã Tây Bắc đã gieo ươm các loại giống cây như: Mỡ, Quế, Lát, Lát xoan, Keo..... Loại giống được ươm có ưu điểm khi trồng đạt tỷ lệ sống cao, phát triển nhanh, phù hợp với địa hình đồi núi, đảm bảo cho kế hoạch trồng rừng và cung cấp một phần cho nhân dân.
Xã Võ Lao có diện tích đăng ký trồng rừng với 80 ha, trong đó chủ yếu là rừng tập trung, và rừng sản xuất tại các thôn Vinh 1,2. Lủ 2,3. Là 1,2,3. Én 1,2. Loặc 2. Bất 1,3. Ngầu 1,2,3. Chiềng 2,3,4,5,7. Các giống cây được nhân dân đưa vào trồng chủ yếu là giống cây Mỡ. Trong đó khu vực trồng nhiều nhất Ngầu 1, Ngầu 3, Chiềng 7.
Để thực hiện tốt mục tiêu trồng rừng, ngay từ đầu năm, cấp ủy, chính quyền xã đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động để cán bộ, hội viên và nhân dân ở các thôn bản triển khai việc phát dọn thực bì, cuốc hố, đẩy nhanh tiến độ trồng rừng. Xã đã phân công cán bộ phụ trách xuống các thôn bản, bám sát, nắm tình hình và vận động nhân dân trồng rừng đúng thời vụ. Tính đến hết tháng 5/2015, đã trồng mới trên 76,8 ha rừng, với hơn 141.028 cây Mỡ, đạt trên 96% kế hoạch, phấn đấu đến hết tháng 10/2015 đạt 100% diện tích trồng rừng theo kế hoạch đã đăng ký.
Song song với việc chỉ đạo, đôn đốc bà con trên địa bàn xã trồng rừng theo kế hoạch, UBND xã Võ Lao chỉ đạo các hộ dân, chủ rừng thực hiện tốt công tác quản lý và bảo vệ chặt chẽ diện tích rừng tự nhiên và rừng đã trồng; tuyên truyền nâng cao ý thức của các tầng lớp nhân dân trong việc bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng; phát hiện và xử lý nghiêm những cá nhân, đơn vị sử dụng đất trồng rừng sai mục đích. (Laocai.gov.vn 22/6) đầu trang(
Các chuyên gia trong ngành gỗ cho rằng các làng nghề gỗ truyền thống như La Xuyên (Nam Định), Đồng Kỵ (Bắc Ninh) có nguy cơ thu hẹp. Lý do là các làng nghề sẽ ngày càng khó khăn về nguồn nguyên liệu gỗ khi mà Việt Nam cũng như nhiều nước không cho phép khai thác gỗ quý tự nhiên, đồng thời các nước nhập khẩu đồ gỗ yêu cầu nguồn gốc gỗ hợp pháp.
Theo anh Nguyễn Văn Kiên, một thương nhân chuyên mua các sản phẩm gỗ của làng nghề Đồng Kỵ, khách hàng của anh rất ưa thích các bộ bàn ghế, tủ kệ được làm từ gỗ quý kiếm như trắc, hương, lim, mun vì họ cho rằng những loại gỗ này sẽ khan hiếm và càng để lâu càng có giá. Hơn nữa, khách hàng luôn có niềm tin rằng những loại gỗ này sẽ mang lại sự may mắn, sức khỏe và thịnh vượng cho chủ nhân.
Còn ông Vũ Quốc Vương, Chủ tịch Hiệp hội Sản xuất và Kinh doanh gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, cho hay thị trường xuất khẩu sản phẩm của Đồng Kỵ chủ yếu là Đài Loan, Trung Quốc. Những thị trường này chỉ quan tâm tới loại gỗ, giá cả, độ tinh xảo về chạm trổ mà không quan tâm tới nguồn gốc hợp pháp của gỗ.
Cũng theo ông Vương, các hộ làng nghề chủ yếu mua gỗ từ thương lái với hình thức mua bán trao tay, không yêu cầu người bán gỗ cung cấp hóa đơn mua hàng hay chứng từ nguồn gốc gỗ. Bởi nếu yêu cầu hóa đơn bán hàng, đồng nghĩa với việc sẽ phải trả thêm thuế giá trị gia tăng.
Với làng nghề La Xuyên (Ý Yên, Nam Định), lượng gỗ tiêu thụ cũng khá nhiều. Ông Trịnh Quốc Đạt, Phó chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, cho hay La Xuyên có gần 3.000 hộ gia đình nhưng đến 70% trong số đó sản xuất kinh doanh sản phẩm gỗ. Tính bình quân mỗi năm họ sử dụng khoảng 20.000 m³ gỗ quý.
Theo kết quả khảo sát hồi năm 2012 của tổ chức Forest Trends và Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, hàng năm các làng nghề sử dụng khoảng 150.000 m³ gỗ quý, đa phần là các loại gỗ thuộc nhóm 1 đến nhóm 3, những nhóm bị cấm hoặc hạn chế mua bán.
Ông Tô Xuân Phúc, chuyên gia phân tích chính sách về gỗ của Forest Trends, cho hay khoảng 70-80% lượng gỗ này có nguồn gốc nhập khẩu, chủ yếu từ Lào, Campuchia, lượng còn lại có nguồn gốc từ rừng tự nhiên trong nước. Hiện nay, Việt Nam không cho phép khai thác tự nhiên đối với gỗ quý, do vậy gỗ quý có nguồn gốc trong nước hoàn toàn là gỗ lậu.
Đối với nguồn gỗ nhập khẩu, ông Phúc cho biết, các quy định hiện hành của Việt Nam và các nước xuất khẩu gỗ vào Việt Nam vẫn cho phép các doanh nghiệp gỗ nhập khẩu các loại gỗ quý. Ví dụ, nếu doanh nghiệp có giấy phép từ Cơ quan CITES của Việt Nam (CITES: Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp) để nhập khẩu gỗ trắc từ Campuchia, và có giấy phép của CITES Campuchia cho phép xuất khẩu loại gỗ này thì doanh nghiệp vẫn được phép nhập mặc dù trắc là loại gỗ rất quý, thuộc nhóm 1.
Tuy nhiên, hiện vẫn tồn tại tình trạng một số công ty không hoàn toàn tuân thủ những quy định pháp luật. Một số lượng gỗ quý từ rừng tự nhiên nhập khẩu vào Việt Nam có thể có nguồn gốc chưa được minh bạch.
Gỗ xuất khẩu sang châu Âu, Mỹ, Nhật Bản và một số nước tiên tiến khác đều yêu cầu khắt khe về nguồn gốc gỗ hợp pháp, vì vậy các sản phẩm gỗ xuất khẩu sang các thị trường này đều được làm từ nguồn gỗ rừng trồng nhập khẩu từ Mỹ. Tuy nhiên, thị trường tiêu thụ gỗ làng nghề trong nước lại chủ yếu xuất sang Trung Quốc. Ông Phúc cho hay, có thể có tới 90-95% lượng gỗ quý, thuộc nhóm 1-3, được nhập vào Việt Nam, hoặc khai thác lậu từ trong nước được chế biến và xuất khẩu sang Trung Quốc.
Chính yếu tố phụ thuộc vào Trung Quốc nên các làng nghề gặp rủi ro hơn trong khâu tiêu thụ. Đại diện một doanh nghiệp tại Hà Nội chuyên xuất khẩu gỗ sang Trung Quốc nói: “Nếu Trung Quốc không nhập khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam nữa thì làng nghề gỗ có nguy cơ không còn”. Điều này đặt ra yêu cầu phải tìm thị trường thay thế, giảm tính rủi ro cho sản phẩm gỗ của các làng nghề. Ông Trịnh Quốc Đạt cho rằng, sản phẩm gỗ xuất khẩu thường phải trình bằng chứng để chứng minh nguồn gốc gỗ hợp pháp. Nếu như cứ dùng gỗ tự nhiên, gỗ quý hiếm, không rõ nguồn gốc thì sẽ rất khó xuất khẩu sang châu Âu và các nước khác.
Tuy làng nghề hiện không trực tiếp xuất khẩu sang Mỹ, châu Âu, nhưng những thay đổi này sẽ tác động tới việc sản xuất và kinh doanh của các hộ làng nghề. Khó khăn với các làng nghề này là đa số sản xuất với quy mô hộ gia đình. Khi mua lại gỗ nguyên liệu nhập về, việc chứng minh nguồn gốc rất khó vì các hộ gia đình mua theo thị trường và thời điểm.
Ông Tô Xuân Phúc cho hay Việt Nam đang tham gia đàm phán Hiệp định đối tác tự nguyện (VPA/FLEGT) do châu Âu đưa ra, sáng kiến này có mục tiêu giảm tiêu thụ gỗ có nguồn gốc bất hợp pháp được đưa vào châu Âu. Mặc dù VPA/FLEGT chỉ đề cập trực tiếp đến thị trường xuất khẩu nhưng việc Việt Nam tham gia các quy định này có tác động đến nguồn nguyên liệu gỗ của làng nghề.
Vấn đề được các chuyên gia trong lĩnh vực này đặt ra là ý thức của người tiêu dùng. Theo đó, nếu người tiêu dùng thay đổi được thói quen dùng gỗ quý tự nhiên bằng gỗ trồng thì sẽ thay đổi nguồn gốc gỗ nguyên liệu từ các làng nghề. (Sài Gòn Tiếp Thị 22/6) đầu trang(
Dự án "Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc, giai đoạn 2013 - 2016" được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 15/4/2013, thời gian thực hiện từ ngày 1/6/2013 đến ngày 31/12/2016. Để bảo đảm thực hiện đúng kế hoạch, thời gian này, các cấp, ngành, địa phương trên địa bàn toàn tỉnh Yên Bái đã tăng cường và đẩy nhanh tiến độ thực hiện Dự án.
Mục đích của việc kiểm kê rừng nhằm xác định hiện trạng, chất lượng rừng của từng chủ quản lý cụ thể và từng đơn vị hành chính. Thông qua công tác kiểm kê nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu theo dõi, quản lý tài nguyên rừng thống nhất trên địa bàn toàn tỉnh, phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Phạm vi điều tra, kiểm kê rừng, đất chưa có rừng sẽ được tiến hành trên toàn bộ 481.770ha rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Đối tượng điều tra, kiểm kê rừng là toàn bộ hiện trạng rừng được quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp và hiện trạng rừng ngoài quy hoạch cho lâm nghiệp; các trạng thái thực bì trên đất chưa có rừng; diện tích đất chưa có rừng được giao và cho thuê với mục đích phát triển rừng; chủ rừng theo quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp hoặc đã được giao quản lý, sử dụng rừng, cho thuê rừng, đất rừng. Tổng mức kinh phí thực hiện công tác kiểm kê rừng dự toán trên 21 tỷ đồng.
Công tác điều tra, kiểm kê rừng tỉnh Yên Bái được thực hiện theo 2 nội dung. Thứ nhất là công tác điều tra rừng do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao nhiệm vụ cho Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam triển khai từ tháng 11/2013 sẽ hoàn thành bàn giao kết quả cho tỉnh vào cuối tháng 6/2015 để địa phương tiến hành công tác kiểm kê rừng; thứ hai là công tác kiểm kê rừng do địa phương thực hiện từ tháng 3/2015 và dự kiến hoàn thành báo cáo kết quả trong tháng 12/2015.
Đối với công tác điều tra rừng do Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam phối hợp với các địa phương thực hiện, đến nay mới xong phần giải đoán hình ảnh và điều tra ngoại nghiệp được 7/9 huyện, thị xã, thành phố, chưa tiến hành xử lý nội nghiệp và tổng hợp số liệu. Dự kiến, đến cuối tháng 6 này sẽ hoàn thành và bàn giao cho các địa phương để thực hiện việc kiểm kê rừng.
Để công tác kiểm kê rừng tiến hành theo đúng kế hoạch, tỉnh đã thành lập Ban Chỉ đạo (BCĐ) kiểm kê rừng cấp tỉnh; 9/9 huyện, thị xã, thành phố đã thành lập BCĐ Dự án kiểm kê rừng cấp huyện và các tổ công tác để triển khai thực hiện. Các tổ công tác cấp huyện đã phối hợp với UBND cấp xã tiến hành các hội nghị tuyên truyền, tập huấn nghiệp vụ về công tác kiểm kê rừng và phối hợp với Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam tiến hành điều tra rừng trên địa bàn các xã.
Đến nay, toàn tỉnh đã thực hiện lồng ghép được trên 20 hội nghị tại các thôn, bản tuyên truyền đến người dân về mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của đợt tổng điều tra, kiểm kê rừng. Đồng thời, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải nhiều bài viết về tình hình triển khai Dự án. Các địa phương đang tiến hành tập huấn cho các tổ giúp việc trực tiếp tham gia công tác kiểm kê. Cuối tháng 5 vừa qua, tỉnh tổ chức tập huấn cho 60 người là thành viên các tổ kiểm kê rừng cấp huyện và thực hiện thí điểm kiểm kê rừng tại xã Đại Đồng, huyện Yên Bình cho các đối tượng này.
Có thể thấy, việc điều tra kiểm kê rừng trên địa bàn tỉnh là việc làm rất cần thiết nhằm thu thập được các số liệu đầy đủ, sát thực về diện tích và chất lượng rừng, làm cơ sở xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực lâm nghiệp. Nhất là trong tình hình hiện nay, UBND tỉnh đang triển khai nhiều chính sách mới, có tính đột phá trong quản lý ngành lâm nghiệp như giao rừng, cho thuê rừng, chi trả phí dịch vụ môi trường rừng, chuyển đổi diện tích giữa 3 loại rừng hoặc chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp sang mục đích khác.
Để đợt điều tra, kiểm kê đạt kết quả, cần sự vào cuộc tích cực của các địa phương, ngành, đơn vị chức năng. Bởi với hiện trạng diện tích rừng rộng, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, để có được hệ thống số liệu chính xác cần triển khai một khối lượng công việc rất lớn. Vì vậy, để công tác điều tra, kiểm kê rừng đạt hiệu quả cao, đúng tiến độ, các sở, ban, ngành, huyện, thị tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dân hiểu rõ ý nghĩa và lợi ích của công tác điều tra, kiểm kê rừng; phối hợp chặt chẽ với Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam tuyên truyền, tập huấn cho các chủ rừng, hộ gia đình về nội dung của phương án kiểm kê rừng…(Báo Yên Bái 22/6) đầu trang(
Nam Quan là xã đặc biệt khó khăn của huyện Lộc Bình. Những năm qua, để cải thiện đời sống cho người nông dân, cấp ủy, chính quyền xã đã làm tốt công tác tuyên truyền, vận động bà con phát huy hiệu quả tiềm năng, thế mạnh đồi rừng.
Xã Nam Quan có trên 560 hộ gia đình, trên 2.280 nhân khẩu cùng sinh sống ở 12 thôn bản. Với 3/4 diện tích là đồi núi, nhận thức rõ, làm tốt công tác trồng rừng thì đời sống người dân mới bớt khó khăn nên ngay từ những năm 90 của thế kỷ trước, một trong nhiệm vụ được cấp ủy, chính quyền xã đặc biệt quan tâm là làm tốt công tác tuyên truyền, vận động để người dân tích cực trồng rừng. Vì vậy, phong trào trồng rừng trên địa bàn xã phát triển khá sớm. Từ các dự án 661, 327, trồng cây phân tán… đến năm 2007, toàn xã đã trồng được trên 1.500 ha rừng thông. Đến nay, toàn xã đã trồng được trên 2.000 ha rừng, gần 80% diện tích đồi rừng đã được phủ xanh bởi thông với 90% số hộ có rừng.
Song song với trồng rừng, công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) được xã đặc biệt quan tâm. Trước đây khi chưa có rừng, bà con thường làm nương, đốt rẫy bất cẩn để ngọn lửa cháy lan vào rừng. Nhưng đến nay công tác bảo vệ, PCCR được xã đặc biệt quan tâm, thực hiện thường xuyên, liên tục, nhất là vào mùa khô với quyết tâm làm thay đổi từ nhận thức đến hành động của người dân.
Ông Lý Văn Ly, Chủ tịch UBND xã cho biết: Hàng năm, ngoài tuyên truyền tại xã, các ban, ngành, đoàn thể còn phối hợp với các thôn bản tổ chức tuyên truyền lồng ghép nâng cao nhận thức, ý thức bảo vệ, PCCR được hơn 10 cuộc cho người nông dân. Trong đó, đặc biệt lưu ý những nguyên nhân dẫn đến cháy rừng để người dân chủ động phòng tránh như: kiểm tra, thăm rừng thường xuyên, phát quang tràng cỏ, bụi rậm quanh rừng, không mang mồi lửa vào rừng, không đốt tổ ong, tổ kiến trong rừng…
Bên cạnh đó, từ khi rừng bắt đầu cho khai thác (2010) thì ý thức bảo vệ, PCCR của người dân được nâng lên rõ rệt. Bởi cháy rừng xảy ra, người bị thiệt hại đầu tiên chính là chủ rừng. Do đó, từ năm 2012 đến nay, trên địa bàn cơ bản không xảy ra cháy rừng.
Năm 2010, một số rừng thông trồng đợt đầu tiên của xã đã bắt đầu cho khai thác. Một số hộ đạt mức thu nhập từ 30 đến 50 triệu đồng/năm từ khai thác nhựa thông. Đây là một khoản thu nhập lớn mà trước đó chỉ dựa vào cây lúa, ngô người dân chưa bao giờ có được. Bà Nông Thị Pít, thôn Khòn Mùm cho biết: gia đình có 4 ha thông, 2 ha đã cho khai thác nhựa được 2 năm. Mỗi năm thu được 30 triệu đồng, góp phần nâng cao đời sống.
Hiện xã có trên 200 ha rừng thông đang cho khai thác nhựa. Do có thu nhập từ rừng, đời sống của người dân đã và đang được cải thiện đáng kể. Nhiều hộ có điều kiện xây dựng, sửa chữa nhà cửa, mua sắm máy móc phục vụ sản xuất. Tỷ lệ hộ nghèo của xã đã giảm từ trên 56% năm 2010 đến nay còn 36%. (Báo Lạng Sơn 23/6) đầu trang(
Là huyện miền núi nghèo, diện tích đất tự nhiên còn lớn nên trong những năm qua, việc phát triển kinh tế rừng luôn được chính quyền huyện Pác Nặm quan tâm.
Minh chứng là từ khi được thành lập mới vào năm 2003 đến nay, trên địa bàn huyện đã trồng được trên dưới 10.000 ha rừng trồng mới và đến nay, nhiều diện tích đã bắt đầu cho khai thác. Để có được kết quả này, cùng với sự vào cuộc của chính quyền các cấp thì lực lượng kiểm lâm huyện cũng luôn đóng vai trò rất quan trọng.
Cứ mỗi khi vào vụ trồng rừng, hình ảnh đã trở nên rất quen thuộc đối với người dân huyện Pác Nặm là những tấm áo xanh của lực lượng kiểm lâm trên các sườn đồi tích cực hướng dẫn người dân cách trồng rừng. Không quản ngại địa hình hiểm trở, những ngày mưa hay ngày nắng, cứ mỗi khi có hộ dân trồng rừng mà chưa nắm rõ kỹ thuật là lực lượng kiểm lâm của huyện lại sẵn sàng đi đến tận chân lô để hướng dẫn cho bà con.
Ông Chu Thanh Tường – Hạt Kiểm lâm huyện Pác Nặm cho biết: "Những lần hướng dẫn có thể chỉ kéo dài khoảng từ 1 đến 2 giờ đồng hồ nhưng nó thật sự mang đến rất nhiều lợi ích. Bởi qua đó không chỉ giúp cho người dân trồng cây được đúng theo kỹ thuật để cây sinh trưởng và phát triển tốt, góp phần từng bước phủ xanh diện tích đất trống, đồi núi trọc trên địa bàn mà tình cảm gắn bó giữa nhân dân và cán bộ kiểm lâm cũng như được gắn kết chặt chẽ hơn."
Bắt đầu từ năm 2011, việc trồng rừng theo Quyết định số 147 của Thủ tướng Chính phủ tại huyện Pác Nặm được giao cho lực lượng kiểm lâm làm nòng cốt. Cũng từ đây, nhiệm vụ của các cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện dường như cũng nặng nề hơn, bởi bên cạnh việc bảo vệ họ còn được chọn là những người tiên phong trong công tác giúp nhân dân phát triển và làm giàu rừng tại địa phương. Mặc dù công việc giao thêm lớn như vậy nhưng lực lượng Kiểm lâm Pác Nặm vẫn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Minh chứng là từ năm 2011 đến hết năm 2014, toàn huyện Pác Nặm đã trồng mới và đủ điều kiện nghiệm thu được hơn 3.700 ha rừng, trong đó chủ yếu là các loại cây như: Mỡ, Thông, Keo, Lát và Xoan. Phần lớn những diện tích đất lâm nghiệp ở gần đường hay thuận tiện giao thông cơ bản đã không còn trống. Không những thế, qua công tác tuyên truyền và sự giúp đỡ của lực lượng kiểm lâm, nhận thức về vai trò, ý nghĩa của công tác trồng rừng trong không ít bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số huyện Pác Nặm đã được nâng lên rõ rệt. Từ bị động – coi việc trồng rừng theo Quyết định 147 của Thủ tướng Chính phủ chỉ để được nhận gạo hay tiền công nay nhiều hộ gia đình đã chủ động đăng ký trồng rừng và coi đây là hướng phát triển kinh tế bền vững.
Thay đổi được tập quán canh tác, ý thức của người dân tộc vùng cao từ phá rừng làm nương rẫy chuyển sang trồng rừng là một việc làm không hề đơn giản. Tuy nhiên, nếu như có sự gắn bó gần gũi của những người đứng đầu địa phương cũng như lực lượng kiểm lâm với nhân dân, đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dân hiểu và tự giác làm theo thì chắc chắn mọi việc sẽ không phải là quá khó khăn và thực tế tại huyện Pác Nặm đã chứng minh điều này. (Đài PTTH Bắc Cạn 23/6) đầu trang(
Thủy điện chưa trả đủ nợ rừng
Quốc hội đặt ra chỉ tiêu là trong năm 2015 phải hoàn thành việc trồng rừng thay thế diện tích rừng đã lấy làm thủy điện. Nhưng trên thực tế, việc thủy điện “trả nợ rừng” vẫn còn nan giải.
Tây Nguyên có tới 50 dự án, phải chuyển đổi hơn 8 nghìn ha rừng, chiếm hơn 40% diện tích rừng bị chuyển đổi trong cả nước. Năm ngoái, theo kế hoạch, tỉnh Đắc Nông phải trồng 2.000ha rừng tại các dự án thủy điện có sử dụng đất rừng. Vậy mà sắp hết mùa mưa, vẫn chưa thể trồng được một hecta rừng nào.
Theo ông Nguyễn Đức Luyện, Phó chủ tịch UBND tỉnh Đắc Nông, việc trồng rừng thay thế là vấn đề phức tạp vì rất khó bố trí quỹ đất: Kế hoạch đã được Bộ phê duyệt, và chúng tôi cũng đã triển khai, nhưng mà để xác định được đúng quỹ đất trồng được rừng thì cực kỳ khó, không xử lý được việc tranh chấp đất đai, vì tất cả những diện tích có thể trồng lại rừng thì người dân hiện đang canh tác. Do đó việc xử lý cái đất này như thế nào thì tỉnh cũng đang rất lúng túng.
Tại tỉnh Đắc Lắc, việc trồng rừng thay thế cũng chỉ mới thực hiện được khoảng 70 ha, trong khi kế hoạch năm nay, các dự án thủy điện ở tỉnh này phải trồng mới 1.200 ha rừng.
Theo ông Đinh Văn Khiết, Phó chủ tịch UBND tỉnh Đắc Lắc, nguyên nhân thực hiện chậm là do các đơn vị khó bố trí vốn đầu tư: Chưa đạt kế hoạch vì việc trồng rừng thay thế mới triển khai, và các dự án trước đây thì chưa có nội dung này, cho nên phải tiếp tục rà soát bổ sung vào dự án. Riêng với các công trình thủy lợi thì trồng rừng thay thế thuộc nguồn vốn Nhà nước, mà việc bố trí vốn lại rất hạn chế, có thể một số công trình là không có vốn.
Cùng chung tình trạng khó khăn trong việc bắt buộc chủ đầu tư phải trồng rừng mới bù lại diện tích rừng bị mất, ông Đào Xuân Liên, Phó chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai, cho biết: cả địa phương và doanh nghiệp đều lúng túng trong quá trình thực hiện, một phần do công tác chỉ đạo chưa tốt từ Trung ương. Nghị định của Chính phủ ban hành từ năm 2006, nhưng đến năm 2013, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn mới có thông tư quy định về trồng rừng thay thế. Và theo đề án phê duyệt thì trong 3 năm, các tỉnh Tây Nguyên phải trồng mới gần 22.000ha rừng tại các dự án đã chuyển đổi mục đích sử dụng rừng. Diện tích lớn, trồng cấp tập trong thời gian ngắn, nên rất khó thực hiện và không phải doanh nghiệp nào cũng mặn mà với việc này.
Ông Đào Xuân Liên cho rằng: Trồng một lúc như vậy, nếu giao cho các thủy điện trồng rừng đó, có thể hiệu quả sẽ thấp. Bây giờ phải tính toán nộp tiền giao cho địa phương để trồng đủ rừng; nhưng nếu theo quy định trước đây hỗ trợ trồng rừng 15 triệu/ha thì không đảm bảo được. Và có thể phải cho phép giãn tiến độ ra để trồng thì mới được.
Tuyên Quang, Lào Cai, Hà Giang, Quảng Ninh, Sơn La, Hòa Bình, Thừa Thiên-Huế, Kon Tum là những tỉnh tích cực, chủ động triển khai, đã cơ bản hoàn thành việc trồng rừng thay thế theo tiến độ kế hoạch. Tuy nhiên, một số địa phương có diện tích trồng rừng thay thế lớn, lại chưa trồng, như: Lai Châu, Thanh Hóa, Gia Lai, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Bình Phước, Trà Vinh.
Uỷ ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội từng cho biết mặc dù trách nhiệm trồng rừng thay thế là bắt buộc đối với các dự án thủy điện, nhưng trong nhiều năm qua, hầu hết các chủ đầu tư đều trốn tránh trách nhiệm, thậm chí không nộp phí dịch vụ môi trường rừng mà không ai bị truy cứu trách nhiệm. Nguyên nhân là bởi Nghị định 23 về thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng được ban hành từ tháng 3/2006 nhưng hơn 7 năm sau mới có Thông tư hướng dẫn. Ở nhiều địa phương, công tác trồng rừng thay thế mới chỉ thực hiện trên giấy, nghĩa là mới chỉ lập phương án chứ chưa trồng được cây nào. Thậm chí, có địa phương còn đang loay hoay, lúng túng đi tìm đất để trồng rừng thay thế.
Tại Phú Yên, chủ đầu tư các dự án thủy điện đã sử dụng gần 300ha rừng để xây dựng 4 nhà máy, gồm: thủy điện Sông Ba Hạ, Krông H’Năng, Đá Đen và Thủy điện La Hiêng 2. Ông Nguyễn Trọng Tùng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Yên cho biết: đến nay, chủ đầu tư các dự án thủy điện La Hiêng 2, Đá Đen và Krông H’Năng chưa lập phương án trồng rừng thay thế. Chỉ Công ty Cổ phần Sông Ba Hạ có phương án trồng rừng thay thế và từ năm 2012 đến nay đã trồng được gần 40 ha. Tuy nhiên, cũng mới đạt hơn 18% kế hoạch.
Hậu quả của việc không trồng rừng thay thế là khi vùng thượng nguồn không được trả lại môi sinh, sẽ làm gia tăng nguy cơ lũ lụt, sạt lở, ô nhiễm đối với vùng hạ du. Ngoài ra, nguy cơ nứt, vỡ còn xảy ra đối với chính các công trình thủy điện. Cuộc sống của người dân tại vùng thủy điện càng lúc càng trở nên bấp bênh khi việc “trả nợ rừng” bị “khất lần” từ năm này sang năm khác. Đáng lưu ý là một số địa phương đã chấp nhận cho chủ dự án nộp tiền trồng rừng thay thế vào Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh nhưng lại không triển khai trồng rừng theo quy định!
Hiện cả nước có 179 dự án thủy điện trong diện phải trồng bù rừng. Tuy nhiên, trong suốt 2 năm, mới có hơn 3 ngàn ha trong tổng số hơn 15 ngàn ha được trồng. (VOV4 22/6) đầu trang(
Dự án trồng rừng trên đất cát ven biển tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi do chính phủ Nhật Bản tài trợ từ năm 2010 đã ngăn chặn hiện tượng cát bay, góp phần rất lớn vào việc ổn định sản xuất và sinh hoạt của người dân khu vực ven biển.
Với gần 415 ha rừng phòng hộ của dự án đã góp phần ứng phó với những ảnh hưởng của thời tiết do biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường sinh thái ven biển. (Tin Tức 22/6) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Một thành phố lớn ở Trung Quốc sẽ chủ trì "lễ hội" thịt cầy lớn trong tuần này, nơi hàng nghìn chú khuyển sẽ bị tàn sát, nấu nướng và làm thành nhiều món nhậu với rượu địa phương.
Lễ hội Du Lâm vốn bị lên án ở nhiều nơi trên thế giới và sự phẫn nộ của quốc tế đã nêu bật lý lẽ của những người tranh đấu cho quyền của động vật ở Trung Quốc tìm cách ngăn chặn những diễn biến như thế này.
10.000 chú khuyển dự kiến sẽ chết tại thành phố Du Lâm ở tây nam Trung Quốc nhân dịp lễ hội thịt cầy vào cuối tuần này, một diễn biến thường niên đã diễn từ năm 2009. Các đầu bếp sẽ làm thịt chó và phục vụ cho du khách kèm theo rượu vải.
Thịt chó xuất hiện trên các thực đơn ở khắp Trung Quốc, nhưng các nhà hàng chuyên về thịt chó đã đóng cửa trong mấy năm gần đây trong khi những cuộc biểu tình phản đối các tập tục đó tăng lên, nhất là trong giới trung lưu mới ở Trung Quốc.
Bà Jill Robinson, người sáng lập Hội Động vật Châu Á, nói: "Khi tôi bắt đầu điều tra ngành mua bán thịt chó thịt mèo vào thập niên 1980, đã có một nhóm bảo vệ an sinh động vật và nay có hơn 150 nhóm bảo vệ an sinh động vật".
Trung Quốc có 130 triệu con chó, gần 30 triệu được nuôi làm cảnh trong nhà. Trong khi việc đô thị hóa và phồn thịnh tăng lên giúp các gia đình Trung Quốc chăm sóc chó cảnh, thì thiện cảm của công chúng dành cho quyền của động vật dường như cũng tăng lên.Một nhà hoạt động nhân quyền và blogger nổi tiếng là Hồ Gia, nói rằng việc thuyết phục những người ăn thịt chó chuyển sang ăn các loại thức ăn khác rất giống với các nỗ lực kiểm soát hút thuốc lá nơi công cộng. Có thể rất khó bắt mọi người thay đổi các thói quen cố hữu, nhưng có một nhận thức ngày càng tăng và áp lực xã hội cũng gia tăng.Ông Hồ nói thói quen ăn thịt chó đang trở nên ngày càng ít hơn, cũng như hút thuốc lá vậy. Ông viện dẫn phong trào đòi quyền của động vật ở Trung Quốc như một thí dụ về cách thức xã hội dân sự phát triển ở đây và nói ông tin rằng những sự kiện như ở Du Lâm sẽ phai nhạt dần trước áp lực xã hội.
Ông Hồ nói trong khi nền kinh tế Trung Quốc đã phát triển, có một sự tăng vọt về số người nuôi chó làm cảnh, cùng với nhận thức và sự quan tâm về quyền của động vật. Tình thương và sự thông cảm với các gia đình nuôi thú làm cảnh đã tăng đến mức nhiều người coi chúng như các thành viên trong gia đình.
Trong khi mối quan tâm về quyền động vật tăng lên, một số người quay ra phản đối tích cực để bảo vệ động vật. Ông Hồ so sánh những người tranh đấu cho quyền của động vật đã bao vây những chiếc xe tải chở chó đi lạc đến lò sát sinh và cứu chúng, giống như những người biểu tình về môi trường tự trói mình vào những thân cây để bảo vệ rừng.
Đã có một vài dấu hiệu tiến bộ. Quảng Châu vừa đóng cửa một nhà hàng thịt chó hoạt động 51 năm qua. Gần như không còn nhà hàng thịt chó nào hoạt động ở Bắc Kinh sau Thế vận hội 2008. Bốn năm trước, nhà chức trách ở thành phố Kim Hoa, tỉnh Chiết Giang đã đóng cửa một lễ hội thịt chó khác.
Ông William Nee của Hội Ân xá Quốc tế nói trong khi những người hoạt động bênh vực quyền động vật gia tăng về số lượng ở Trung Quốc, họ vẫn vấp phải sự ngược đãi của chính phủ Trung Quốc.
"Chúng ta chứng kiến dân chúng ở địa phương đối đầu với những người giết và ăn thịt chó và họ huy động những chiến dịch quy mô nhỏ ở địa phương. Tôi nghĩ điều đó chứng tỏ Trung Quốc đang thay đổi và dân chúng sẵn sàng hơn để chấp nhận rủi ro và phản đối. Nhưng đương nhiên có những hạn chế, bởi vì chính phủ Trung Quốc rất quyết tâm trấn át điều họ coi là những sự kiện tập thể hay bất ổn".
Cho đến nay, giới hoạt động đã không ngăn chặn được lễ hội ở Du Lâm, một thành phố với trên dưới 7 triệu người. Sự kiện này khởi đầu là để ăn mừng ngày hạ chí, năm nay rơi vào Chủ Nhật sắp tới. (Lao Động 20/6)đầu trang( ./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||