Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 22 tháng 06 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM vừa tuyên hủy quyết định xử phạt vi phạm hành chính của chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang đối với ông Trần Hữu Phúc (ngụ huyện Cai Lậy).
Ông Phúc là người đã thu thập chứng cứ tố cáo nhiều cán bộ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tiền Giang “giải cứu” hàng trăm m3 gỗ lậu mà Pháp Luật TP.HCMtừng phản ánh. Theo hồ sơ, ngày 2-11-2013, ông Phúc mua 6,8 m3 gỗ gõ mật xẻ hộp thuộc nhóm IIA của một công ty ở TP.HCM, được xuất hóa đơn đầy đủ. Khi xe chở gỗ về đến Tiền Giang thì bị Chi cục Kiểm lâm kiểm tra. Do ông Phúc không đi trên xe nên không xuất trình được chứng từ chứng minh nguồn gốc. Sau đó ông Phúc mang hồ sơ chứng từ đến nộp thì Chi cục Kiểm lâm không chịu nhận.
Dù gỗ của ông Phúc có nguồn gốc hợp pháp nhưng tháng 12-2013, Chi cục Kiểm lâm vẫn lập biên bản vi phạm hành chính. Ngày 8-1-2014, lãnh đạo UBND tỉnh Tiền Giang đã ký quyết định xử phạt ông Phúc 150 triệu đồng và tịch thu toàn bộ số gỗ. Điều đáng nói là quyết định xử phạt lại căn cứ vào Nghị định 157/2013 của Chính phủ (quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản), trong khi đúng ra phải căn cứ vào Nghị định 99/2009 của Chính phủ (quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản). Bởi lẽ vào thời điểm xảy ra vụ việc, Nghị định 157/2013 chưa có hiệu lực pháp luật.
Ông Phúc cho rằng nếu UBND tỉnh Tiền Giang kết luận số gỗ trên là gỗ lậu thì theo Nghị định 99/2009, hành vi của ông phải bị xử lý hình sự chứ không phải là xử lý hành chính. Vì thế, ông khởi kiện yêu cầu TAND tỉnh Tiền Giang hủy quyết định xử phạt này, đồng thời đề nghị tòa chuyển hồ sơ sang công an để xem xét xử lý hình sự đối với chính ông.
Xử sơ thẩm, TAND tỉnh Tiền Giang đã bác yêu cầu của ông Phúc, cho rằng việc UBND tỉnh áp dụng Nghị định 157/2013 là đúng bởi dù chưa có hiệu lực pháp luật nhưng nghị định này có lợi cho ông Phúc (theo hướng chỉ xử lý hành chính chứ không xử lý hình sự).
Ông Phúc kháng cáo. Theo tòa phúc thẩm, ông Phúc đã cung cấp đầy đủ chứng từ chứng minh gỗ của ông có nguồn gốc hợp pháp. Ngoài ra, việc lãnh đạo UBND tỉnh Tiền Giang áp dụng Nghị định 157 của Chính phủ khi chưa có hiệu lực của pháp luật để xử phạt ông Phúc là trái pháp luật. (Pháp Luật TPHCM + Thanh Niên 22/6) đầu trang(
Cuối năm 2014, dư luận miền Trung được phen rúng động khi nhiều lãnh đạo chủ chốt của tỉnh Quảng Nam “tố” lực lượng kiểm lâm Đà Nẵng bảo kê, tiếp tay cho lâm tặc phá rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa.
Ngay sau khi nhận được lệnh của thủ trưởng cơ quan, phòng CSĐT tội phạm về Kinh tế & Chức vụ (PC46), Công an TP.Đà Nẵng xác lập chuyên án truy xét, giao Đội 5 làm chủ công, huy động lực lượng truy manh mối.
Trung tá Nguyễn Hoàng Lâm, Đội trưởng đội 5 cho biết tin tức: Hồ sơ vụ việc khi đó chỉ vỏn vẹn tờ quyết định khởi tố vụ án hình sự từ chi cục Kiểm lâm, hiện trường cách xa trung tâm thành phố, phải lội bộ, ở dài ngày trong rừng sâu... nên quá trình lần tìm manh mối khó khăn vô cùng.
Đây là vụ án đặc biệt nghiêm trọng nên ban chuyên án nhận định, để vận chuyển gỗ từ rừng ra được tới điểm tập kết, khả năng lâm tặc thuê người địa phương. Qua nguồn tin từ một số nam thanh niên ngụ thôn 2, xã Tư (huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam) thì được biết, họ có tham gia vận chuyển gỗ đã được xẻ đưa từ rừng ra cho một người tên Tam, không rõ lai lịch, chỉ biết, nói giọng Bắc.
Theo đó, họ nhận nhiệm vụ cõng gỗ ra đến bìa rừng, rồi chất lên xe tải loại 3 cầu, do anh em Kiều Ngọc Quý (24 tuổi) và Kiều Ngọc Trung (26 tuổi), cùng ngụ xã Ba, huyện Đông Giang điều khiển, chở đi.
Xác minh lai lịch loại xe đặc biệt này, được biết, người thuê là Phan Đình Lợi (thường gọi Lợi “đen”, hay Lợi “râu”, SN 1985, ngụ Túy Loan Đông 2, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, TP.Đà Nẵng). Ngày 10/4/2015, Ban chuyên án ra quyết định bắt tạm giam Quý, Trung, Lợi về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép.
Tại CQĐT, đối tượng Lợi khai nhận, khoảng đầu năm 2014 đã tiến hành thu mua các loại gỗ trong rừng Bà Nà -Núi Chúa từ “ông trùm” Vũ Văn Tam (SN 1968, quê ở Nam Định, hiện trú tại thôn Lấy, xã Tư, huyện Đông Giang).
Xác minh nhân thân đối tượng Tam, CQĐT phát hiện, Tam đã có vợ và hai con ở huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Nhiều năm trước, Tam bỏ quê vào khu vực Đông Giang khai thác vàng trái phép, từng bị công an huyện xử lý hành chính vì buôn lậu.
Sau đó, Tam lấy thêm vợ hai tên Đặng Thị Lựu (người địa phương, đối tượng này được xác định là đồng phạm với Tam, được tạm tách ra điều tra, xử lý sau), rồi chuyển sang nghề khai thác gỗ trái phép. Hai ngày sau đó, CQĐT tống đạt quyết định bắt tạm giam đối tượng Tam.
Cũng từ đầu mối quan trọng này, lần lượt các đệ tử khác trong đường dây của Tam và Lợi bắt đầu lộ diện. Trong đó, tên lâm tặc hỗ trợ đắc lực nhất, chuyên xẻ gỗ cho Tam trong vụ này là đối tượng tên Lưu, khi ấy đã trốn khỏi địa phương và CQĐT chỉ có vỏn vẹn thông tin “chân đi kiểu vòng kiềng” để truy bắt hắn.
Để lần tìm và bắt được Lưu, các trinh sát phải ngược xuôi cả tháng trời hỏi thăm tin tức từ một số “phu” vàng, nhiều lần nhờ Công an huyện Kim Sơn, phòng Hồ sơ lưu trữ (PV 27, Công an tỉnh Ninh Bình) sàng lọc, mới có được tên đầy đủ là Đỗ Văn Lưu (SN 1968, quê xóm 7, xã Lai Thành, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình).
Khi biết Lưu đã trốn vào Bù Gia Mập (tỉnh Bình Phước), Ban chuyên án bố trí trinh sát nói giọng Bắc vào vai người quen tiếp cận bắt giữ. Tóm gọn được Đỗ Văn Lưu, các đồng phạm khác gồm Nguyễn Văn Học (SN 1971, trú Kim Sơn, Ninh Bình ); Lê Văn Chính (SN 1975) và Hoàng Văn Vụ (SN 1971, đều ngụ Lai Thành, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình) cũng lần lượt sa lưới.
Các đối tượng trên khai nhận, chúng hầu hết đều thuộc thành phần lao động phổ thông, sau khi vào Đông Giang làm vàng, tình cờ quen ông trùm Vũ Văn Tam và được thuê hạ cây, xẻ gỗ.
Trong quá trình điều tra, cơ quan chức năng đã tạm đình chỉ công tác bảy cán bộ, trong đó có năm cán bộ quản lý, bảo vệ rừng thuộc ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa và hai kiểm lâm phụ trách địa bàn.
Đến ngày 11/4/2015, Phạm Phú Cường (SN 1967, quê Đại Hiệp, Đại Lộc, Quảng Nam), nguyên Trạm trưởng trạm Quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông và Nguyễn Văn Ấn (SN 1985, quê Hòa Bắc, Hòa Vang, Đà Nẵng), nhân viên trạm quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông bị bắt về tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong quản lý rừng.
Tuy nhiên, với tổng số 54,52m3 gỗ quý được phát hiện, giá trị ước tính gần 4,5 tỉ đồng, vụ phá rừng tại khu vực rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa được xem là phi vụ phá rừng có quy mô lớn nhất trong suốt 20 năm qua trên địa bàn Quảng Nam – Đà Nẵng. Điều đáng nói hơn nữa là số gỗ được phát hiện chỉ cách trạm Cà Nhông vài trăm mét.
Chính sự nhập nhằng đó, dấy lên mối hoài nghi rất lớn về một sự tiếp tay của kiểm lâm cho lâm tặc làm càn, tàn phá rừng ở địa phận Đà Nẵng rồi vận chuyển về Quảng Nam cất giấu, tiêu thụ, chứ không phải chỉ là “thiếu trách nhiệm” trong quản lý, bảo vệ rừng.
Tập trung điều tra theo hướng này, Công an TP. Đà Nẵng tiếp tục phanh phui những bí mật động trời khác. Theo đó, các đối tượng trong đường dây đã khai nhận, đã đốn hạ gỗ, sau đó xẻ thành súc chuyển ra bìa rừng, chất lên xe tải vận chuyển đến nơi tiêu thụ.
Để thực hiện các công đoạn trên, Tam thuê người bốc vác ra xe với mức 70.000 đồng/thanh. Tổng chi phí khoảng 220.000 đồng/thanh để ra tới điểm tập kết. Tại đây, Tam bán lại cho “đầu nậu” Lợi giá 550.000 đồng/thanh, “ăn lãi” gấp hơn hai lần số tiền “đầu tư”.
Tuy nhiên, để vận chuyển được gỗ ra khỏi rừng chỉ có một con đường độc đạo và nhất quyết phải đi qua trạm Kiểm lâm Cà Nhông. Thế nhưng, sở dĩ các phi vụ đều được thực hiện trót lọt là vì chúng đã “bôi trơn” cho một sốcán bộ kiểm lâm Trạm này. Đấu tranh với các đối tượng, CQĐT tìm ra kẻ chủ mưu đưa hối lộ chính là “ông trùm” Tam.
Từ chứng cứ quan trọng này, chiều 28/5/2015, Công an TP.Đà Nẵng đã chuyển đổi tội danh khởi tố các đối tượng như Phạm Phú Cường (nguyên Trạm trưởng trạm quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông) và Nguyễn Văn Ấn (nhân viên Trạm) từ Thiếu trách nhiệm sang Nhận hối lộ. Đồng thời, khởi tố bổ sung Tam thêm tội Đưa hối lộ.
10/6, thông tin nhanh chúng tôi vừa mới nhận được, Công an TP. Đà Nẵng đã khởi tố bị can, tạm giam Đinh Văn Thuấn (trú huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình), nghi can thứ 13 trong vụ án phá rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa, về hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng. Hiện, công tác điều tra vẫn đang tiếp tục. (Người Đưa Tin 22/6) đầu trang(
Với hàng chục nghìn ha rừng mất đi mỗi năm, hơn 10 năm qua, những cơn lốc tàn phá rừng dữ dội vẫn càn quét khắp Tây Nguyên. Trong khi đó, nhiều dự án nông - công nghiệp cũng đòi hỏi phải chuyển đổi đất rừng thành các dạng đất khác, khiến diện tích rừng càng nhanh chóng suy giảm.
Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, diện tích rừng khu vực Tây Nguyên hiện có trên 2,5 triệu ha. Trong đó rừng tự nhiên chiếm 2,2 triệu ha. Tổng diện tích rừng năm 2014 so với kết quả rà soát, quy hoạch 3 loại rừng năm 2008 ở Tây Nguyên giảm trên 350.000 ha. Nguyên nhân mất rừng do chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang trồng cao su và làm thủy điện hết hơn 120.000 ha. Tiếp đến, việc phá rừng, lấn chiếm đất rừng cũng quét gọn hơn 88.000 ha. Trong 6 năm liền, bình quân mỗi năm rừng Tây Nguyên bị mất tới hơn 50.000 ha.
Thống kê từ năm 2006 - 2013, cả khu vực đã cấp phép đầu tư cho 700 dự án với hơn 215.000 ha rừng, các địa phương đã thu hồi 76 dự án và đình chỉ 48 dự án khác không thực hiện đúng cam kết.
Theo GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung (Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng), quá trình chuyển đổi rừng sang trồng cao su và làm thủy điện thực hiện quá nhanh, diện tích rất lớn nhưng chưa có một đánh giá cụ thể về tính hiệu quả của từng dự án chuyển đổi sau 5 năm hoặc 10 năm. Khi thấy không phù hợp thì các đơn vị xin chuyển đổi tiếp hay bán một phần đất trong dự án cũng có lợi nhuận. Nhiều địa phương chỉ nhìn thấy lợi ích trước mắt mà triển khai chuyển đổi ồ ạt. Hậu quả là đất nước, xã hội, người dân đành chịu mất rừng.
Trong khi quá trình trồng rừng thay thế chỉ thực hiện “nhỏ giọt” thì tình trạng mất rừng chưa có điểm dừng. Tính đến cuối năm 2014, cả nước chỉ trồng được khoảng 7,8 nghìn ha trong tổng số hơn 67 nghìn ha lẽ ra phải trồng bù lại một phần cho diện tích rừng bị chuyển đổi.
Lâu nay thuật ngữ “phát triển rừng bền vững” được nói thường xuyên, trở nên quá đỗi quen thuộc. Tuy nhiên, hằng năm diện tích rừng bị mất không giảm mà còn có xu hướng tăng. GS Nguyễn Ngọc Lung nói thẳng: Với tình hình như hiện nay thì không thể phát triển rừng bền vững như hô hào được, bởi nhu cầu phát triển dân số và quá trình di cư tự do liên tục tăng và việc quản lý không để mất rừng là vô cùng khó. Để không mất rừng cần có sự quy hoạch chi tiết, giao rừng cho từng đơn vị cụ thể và cần có sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị.
Qua thâm nhập thực tế nhiều vùng rừng tại 2 tỉnh Kon Tum và Gia Lai, chúng tôi càng thấy rõ việc mất rừng ở nơi đây vẫn đang diễn ra từng ngày. Tình trạng xâm chiếm rừng lấy đất trồng mỳ, cà phê của người dân ở các tiểu khu được các lâm trường bảo vệ vẫn diễn ra. Theo quan sát, các khoảnh rừng cách mặt đường tỉnh lộ hoặc đường liên huyện chỉ chừng 50-100m, bên ngoài thấy cây vẫn xanh tươi nhưng phía trong đã bị người dân phá trắng làm nương rẫy.
Ông Nguyễn Văn Nam – Phó chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Kon Tum cho biết: Việc phá rừng, xâm chiếm rừng làm nương rẫy trên địa bàn đã gây không ít khó khăn cho người làm công tác quản lý bảo vệ rừng. Thậm chí, người dân còn canh chừng kiểm lâm để lẻn vào rừng chặt phá. Toàn tỉnh có khoảng 600.000 ha rừng nhưng chỉ có 266 công chức và người lao động, tính ra mỗi người quản lý hàng chục nghìn ha thì làm sao quản lý hết. Bên cạnh đó, số tiền chi trả cho việc bảo vệ rừng còn thấp nên người dân không mấy mặn mà.
PGS.TS Bảo Huy – giảng viên trường Đại học Tây Nguyên, người có nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy về bộ môn quản lý rừng, cho biết: Rừng Tây Nguyên bị suy giảm nhanh dẫn đến mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng, đẩy nhanh tiến trình biến đổi khí hậu. Một diện tích lớn rừng được chuyển đổi trồng cao su, thủy điện càng làm mất đi sự đa dạng sinh học, mất các nguồn gene vô cùng quý giá . (Tiền Phong 22/6) đầu trang(
“Cây thông chứ đâu phải nào que củi!”
Việc vạt gốc thông rồi đổ thuốc độc vào thân cho cây chết (thường gọi là “ken cây”) diễn ra ở Lâm Đồng từ nhiều năm nay. Sau khi cây chết, đối tượng tiến hành đốn hạ hàng loạt để lấy đất trồng càphê, trồng cây ăn trái...
Nhiều cánh rừng thông dọc theo tuyến lộ 723, dọc theo những con đường đất mới mở ở Bảo Lâm, Bảo Lộc... đã đồng loạt ngã xuống nhường chỗ cho cây càphê, hồng... Điều đáng nói, với những cánh rừng thông bị tác động tiêu cực kiểu này không mấy khi cơ quan chức năng bắt tại trận đối tượng vi phạm mà thường là phát hiện khi nó đã có cây trồng khác thay thế. Lúc ấy, cùng lắm là người trồng càphê, hồng... bị “kết” cho cái tội canh tác nông nghiệp trái phép trên đất lâm nghiệp; còn việc ken cây coi như... chuyện đã rồi.
Mới đây nhất, Công an TP.Bảo Lộc đã bắt khẩn cấp Phạm Văn Hải (sinh năm 1969, trú tại xã Đạm Bri, TP.Bảo Lộc) về hành vi hủy hoại rừng. Bước đầu, Hải khai nhận đã cùng với hai người khác tiến hành vạt gốc và đổ thuốc độc vào 684 cây thông ba lá hơn 10 năm tuổi trên diện tích 2,6ha thuộc tiểu khu 466A xã Đam Bri, TP.Bảo Lộc với mục đích lấy đất sản xuất. Ngoài Công an TP.Bảo Lộc với vụ đầu độc 684 cây thông đã tìm ra thủ phạm, Công an huyện Bảo Lâm cũng đang điều tra làm rõ vụ đầu độc và chặt hạ hơn 300 cây thông hơn 20 năm tuổi tại xã Lộc Tân, huyện Bảo Lâm.
Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng cho biết, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất nạn đầu độc rừng, nhất là đối với rừng thông, UBND tỉnh Lâm Đồng đã thành lập 4 đoàn kiểm tra do lãnh đạo các đầu ngành làm trưởng đoàn và tiến hành kiểm tra tình hình quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại các huyện trọng điểm phá rừng, ken cây; thời gian kiểm tra từ ngày 10 - 20.6.
“Do không làm, hoặc làm với trách nhiệm không cao thì mới “vắng chủ” như lâu nay. Chứ còn thực sự bắt tay vào việc, làm có trọng tâm, trọng điểm như mấy ngày qua thì “ra” hết, là bắt tại trận kẻ ken cây ngay thôi!” - một cán bộ của Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng nói. Vị cán bộ này còn nói thêm: “Cây thông chứ đâu phải nào que củi!”. (Lao Động 20/6) đầu trang(
Kết thúc phiên xử sơ thẩm ngày 18/6 của TAND huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) xét xử vụ án cố ý gây thương tích thu hút sự quan tâm của dư luận ở địa phương, Hội đồng xét xử đã tuyên trả hồ sơ cho cơ quan kiểm sát cùng cấp điều tra bổ sung, làm rõ kẻ chủ mưu trong vụ án này.
Ba bị cáo bị truy tố tại phiên xử sơ thẩm là Lê Đức Bình, 30 tuổi, trú xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh; Hồ Trí Quang, 44 tuổi, trú xã Ninh Quang, thị xã Ninh Hòa (Khánh Hòa) và Trần Văn Anh, 17 tuổi, trú xã Đức Lập, huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh) (ảnh). Người bị hại trong vụ án là ông Phạm Văn Tâm, 47 tuổi, Trưởng trạm quản lý - bảo vệ (QLBV) rừng Liên Sang thuộc Công ty TNHH MTV Lâm sản Khánh Hòa.
Cáo trạng của Viện KSND huyện Khánh Vĩnh cho biết, Lê Đức Bình là đối tượng chuyên khai thác, vận chuyển gỗ trái phép và đã nhiều lần bị ông Phạm Văn Tâm phối hợp kiểm lâm bắt giữ. Do mưu tính trả thù nên Bình đã gọi Lê Quốc Định, 29 tuổi; Nguyễn Thế Hải, 27 tuổi từ Hà Tĩnh vào Khánh Hòa để chém ông Tâm.
Để đồng bọn có cơ hội ra tay, 23h ngày 25/6/2014, Bình sử dụng sim điện thoại mới mua gọi ông Tâm, báo tin giả lâm tặc đang cất một số gỗ lậu gần km 43 đường Nha Trang – Đà Lạt.
Nghe tin, Trưởng trạm Phạm Văn Tâm điều khiển xe máy chở nhân viên Hà Tuyên phối hợp Đội kiểm lâm xã Sơn Thái đến hiện trường để kiểm tra, trong khi đó Lê Đức Bình chỉ đạo Trần Văn Anh điều khiển xe máy chở Lê Quốc Định và Nguyễn Thế Hải đến trước cửa Trạm QLBV rừng Liên Sang.
Đến 0h30 sáng 26/6/2014, ông Phạm Văn Tâm cùng đồng nghiệp trở về đến cửa Trạm QLBV rừng Liên Sang sau cuộc kiểm tra bất thành, thì bị Hải và Định cầm rựa xông vào chém 4 nhát ở lưng, cổ và tay, rồi chạy về quán Phố Núi vứt bỏ hung khí.
Theo chỉ đạo của Bình, Quang điều khiển xe du lịch 7 chỗ ngồi chở Hải và Định ra thị xã Ninh Hòa, đến sáng hôm sau đi xe khách về lại Hà Tĩnh. Nạn nhân Phạm Văn Tâm được đưa đi cấp cứu và điều trị nhiều ngày, Trung tâm giám định pháp y Khánh Hòa kết luận tỷ lệ thương tích 32%. Theo đó, Lê Đức Bình, Hồ Trí Quang, Trần Văn Anh vào vòng tố tụng hình sự và bị truy tố, xét xử về tội danh nêu trên. (Công An Nhân Dân + Pháp Luật VN 20/6) đầu trang(
Lén lút chặt hạ, cạo vỏ, khoan sâu vào thân cây rồi đổ thuốc trừ sâu, kẻ xấu đang triệt hạ dần những đồi thông vốn là biểu tượng của xứ cao nguyên.
Chỉ trong sáu tháng đầu năm 2015, Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng đã ghi nhận hơn 500 vụ phá rừng. Từ tháng 6-2014 đến nay, hơn 160ha rừng đã bị mất, trong đó chủ yếu là rừng thông. Đây mới chỉ là số liệu về những vụ việc đã phát hiện.
Trên tuyến đường 723 (TP Đà Lạt đi TP Nha Trang) hay quốc lộ 20 từ TP Đà Lạt đi TP Bảo Lộc, hoặc đoạn đường liên thôn từ huyện Di Linh đi huyện Bảo Lâm... nhiều cụm rừng thông cận kề các rẫy vườn bị chết khô.
Ông Trịnh Ngũ Hùng, trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim (huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng), cho biết những trảng thông lớn vài chục cây bị kẻ xấu bức tử bởi những vết khoanh đứt vỏ quanh thân hoặc bơm thuốc trừ sâu vào những lỗ khoan sâu trong thân. Thường những cây thông như vậy sẽ chết trong vòng chưa đầy ba tuần.
Theo ông Hùng, hình thức bức tử thông như trên rất khó bắt quả tang vì có thể thực hiện dễ dàng bất cứ thời điểm nào. Cây thông bị tác động không chết ngay mà chết từ từ trong nhiều ngày sau.
Cuối tháng 4-2015, chúng tôi theo chân Hạt kiểm lâm huyện Lạc Dương và chứng kiến ngay bên trong Khu nông nghiệp công nghệ cao tỉnh Lâm Đồng, nằm ở vùng giáp ranh giữa huyện Lạc Dương và TP Đà Lạt, gần 100 cây thông hơn 20 năm tuổi thân to chừng một người ôm bị chết, lá đỏ rực.
Nhìn từ xa không thể hiểu lý do thông chết vì lớp vỏ bên ngoài còn nguyên vẹn, nhưng nhìn kỹ những cây thông đều bị khoan một lỗ sâu vào giữa thân. Từ lỗ nhỏ đó mùi thuốc trừ sâu xộc ra.
Ông Trịnh Ngũ Hùng nói đó là cách giết thông không mới và kín đáo nhất. Cây thông chỉ bị một vết thương nhỏ ở chỗ khuất nên đi tuần không thể phát hiện kịp để có biện pháp cứu cây.
Với cách bơm thuốc sâu vào thân cây, thông sẽ vàng lá rồi chết trong 20 ngày, vô phương cứu chữa.
Theo thống kê, địa bàn huyện Lạc Dương từ đầu năm 2014 đến nay đã phát hiện gần 100 vụ phá rừng, trong đó có 19 vụ rạch vỏ, đổ hóa chất làm chết thông.
Không chỉ ở Lạc Dương, các cánh rừng lân cận TP Đà Lạt và khắp địa bàn tỉnh Lâm Đồng, việc giết thông xảy ra phổ biến và liên tục. Giữa tháng 4-2015, tại xã Phi Tô (huyện Lâm Hà) chúng tôi chứng kiến hơn 600 cây thông gần 20 năm tuổi bị chết khô, một số cây vừa bị đốn hạ, gốc còn ứa nhựa nằm ngổn ngang trên đám cỏ tranh.
Một cán bộ Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Nam Ban thừa nhận đây là vụ bức tử thông lớn nhất từ trước đến nay trên địa bàn. Sau khi giết thông, người ta sẽ chiếm đất làm rẫy.
Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà nằm trong Khu dự trữ sinh quyển thế giới Lang Bian cũng không thoát cảnh thông rừng bị bức tử. Mới đây, 100 cây thông hơn 30 năm tuổi chết do bị đổ thuốc độc, trong đó có một số là loại thông năm lá dẹt quý hiếm. Theo Ban quản lý vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà, kẻ xấu hạ thông nhằm lấy đất trồng cà phê.
Ngày 18-6, Công an TP Bảo Lộc (tỉnh Lâm Đồng) đã bắt khẩn cấp Phạm Văn Hải (sinh năm 1969, trú tại xã Đambri, TP Bảo Lộc). Kết quả xác minh từ cơ quan điều tra, Hải đã đầu độc hơn 600 cây thông được trồng vào năm 1984 tại xã Đambri bằng thủ thuật đục thân đổ thuốc độc và dùng dao gọt vỏ thân quanh cây.
Trước đó, ngày 13-6 các đơn vị ở huyện Lạc Dương mật phục và bắt quả tang Nguyễn Văn Dũng (ngụ tại tổ dân phố Đăng Gia Rít B, thị trấn Lạc Dương) đang chặt và rạch vỏ 29 cây thông tại tiểu khu 143, xã Đạ Sar, huyện Lạc Dương.
Tại cơ quan điều tra, cả hai đối tượng khai nhận giết thông, sau đó sẽ tới chiếm đất trồng hoa màu. Đến khi nào không trồng nữa sẽ sang tay cho người khác kiếm lời. Cơ quan điều tra đang tiến hành các thủ tục khởi tố vụ án, bị can.
Nhưng đó là những vụ hiếm hoi bắt được đối tượng làm chết thông.
Địa bàn huyện Bảo Lâm (Lâm Đồng) là điểm nóng với nhiều vụ tàn phá thông táo tợn quy mô lớn. Theo Ban quản lý rừng phòng hộ Đambri, từ ngày 25 đến 30-5, lâm tặc đã đốn hạ liên tiếp ba lần với tổng cộng 308 cây thông từ 24-31 năm tuổi. Từ ngày 1-6 tới nay, đơn vị này đã phải huy động toàn lực lượng để bảo vệ hơn 20ha rừng thông còn lại ở tiểu khu 466, 469.
Giữa trời mưa nặng hạt, ông Phan Khải Hoàn, nhân viên Ban quản lý rừng phòng hộ Đambri, cùng hai thanh niên nhận thuê khoán bảo vệ rừng trùm áo mưa đi tuần một vòng quanh khu rừng thông rộng tới hơn 20ha.
Khi đi tới vị trí lâm tặc đốn hạ 111 cây thông 24 năm tuổi, ông Hoàn kể: “Tối 29-5 anh em tập trung mắc võng nằm phục kích trong rừng cả đêm, nhưng không thể ngờ khi mình đang canh giữ rừng thông tại tiểu khu 469 thì ngay trong đêm hôm đó lâm tặc lại tập trung cưa sạch 194 cây thông bên tiểu khu 466. Hở ra một chút là mất rừng ngay”.
Theo ông Hoàn, mỗi lần phát hiện lâm tặc phá thông, do lực lượng mỏng nên nhân viên bảo vệ chỉ bắn đạn cao su chỉ thiên rồi xua đuổi, không có động tác mạnh do các đối tượng phá rừng rất manh động.
Theo Ban quản lý rừng phòng hộ Đambri, 20ha rừng thông 
30-40 năm tuổi tại địa bàn xã Lộc Tân đều là đất lâm nghiệp nằm trong quy hoạch chuyển đổi thành đất nông nghiệp. Chính vì vậy đã bị nhiều kẻ xấu nhòm ngó, có ý định chặt thông lấn đất. Lâm tặc thường đi đông vào đêm khuya hay lúc có mưa lớn. Khi ra tay thì cử người cảnh giới.
“Phải bắt được quả tang thì mới xử phạt được nhưng lực lượng quá mỏng, canh không cho phá đã khó nói chi bắt quả tang, nhất là khi lực lượng giết thông luôn đông hơn lực lượng giữ rừng” - ông Hoàn than thở.
Theo Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng, nạn phá rừng thông xảy ra nóng nhất tại nhiều huyện như Bảo Lâm, Lạc Dương, Di Linh và vùng ngoại ô Đà Lạt. Trong vòng sáu tháng đầu năm nay, có 817 vụ vi phạm liên quan tới rừng, trong đó có 22 vụ xử lý hình sự.
Ông Nguyễn Trung Kiên, phó chủ tịch UBND huyện Bảo Lâm, cho rằng để xảy ra liên tiếp các vụ chặt phá rừng thông tại địa bàn do lực lượng quản lý rừng, chính quyền địa phương lơ là.
Để lập lại trật tự ở các điểm nóng về rừng tại xã Lộc Tân, ông Kiên cho biết đã chỉ đạo lực lượng lập lều trại giữa điểm nóng 24/24 giờ để giữ rừng.
“Đây là biện pháp trước mắt bắt buộc để lập lại trật tự tình hình. Riêng về chuyện để lâm tặc chặt hạ số lượng thông lớn, gây dư luận không tốt tại địa phương, chúng tôi đã chỉ đạo công an huyện vào cuộc lập hồ sơ khởi tố vụ án, đồng thời sàng lọc các đối tượng khả nghi để điều tra làm rõ sự vụ trên” - ông Kiên nói.
Một lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng (đề nghị không nêu tên) cho rằng tình trạng phá rừng thông những tháng đầu năm 2015 đáng báo động, với tốc độ diễn ra nhanh hơn những năm trước. Ông cho rằng đến thời điểm này không phát hiện cán bộ thông đồng với lâm tặc nhưng lơ là quản lý rừng là có. (Tuổi Trẻ 20/6) đầu trang(
Nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa, sự vào cuộc của các chủ rừng, chính quyền địa phương, nạn khai thác, vận chuyển gỗ trái phép trên địa bàn xã Vạn Bình (huyện Vạn Ninh, Khánh Hòa) đã tạm lắng.
Theo ghi nhận của chúng tôi, những ngày gần đây, tại thôn Bình Lộc 2 (xã Vạn Bình) đã vắng bóng xe máy vận chuyển gỗ. Nhiều người dân địa phương cho biết, từ khi lực lượng Kiểm lâm cơ động tỉnh phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Vạn Ninh, đơn vị chủ rừng (Ban quản lý Rừng phòng hộ Vạn Ninh) tiến hành đóng chốt tại khu vực Dốc Mỏ, tăng cường lực lượng tuần tra, truy quét, tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép tại đây đã giảm hẳn.
Ông Nguyễn Văn Tình - người dân trong thôn cho biết: “Cách đây khoảng 1 tháng, trên con đường Vạn Bình - Suối Hương, xe máy vận chuyển gỗ lậu tấp nập. Bây giờ, lực lượng chức năng lên đóng chốt ngay cửa rừng nên tình trạng này đã giảm”. Được biết, 2 ngày đầu đóng chốt ở Dốc Mỏ, lực lượng chức năng đã chặn hàng chục xe máy đi vào rừng. Mới đây, một số gỗ xẻ hộp được lâm tặc cất giấu rải rác ở khu vực Hòn Am cũng bị lực lượng Kiểm lâm phát hiện, thu giữ.
Tại khu vực Nghĩa trang Hòn Am (thôn Bình Lộc 2), một số hộ dân xung quanh khẳng định, khoảng 10 ngày nay, các xe chở gỗ đã không còn hoạt động. Những người chuyên đi rừng khai thác gỗ đã bị chặn lại. Chính quyền địa phương thông báo, nếu ai tham gia phá rừng, tiếp tay cho lâm tặc thì sẽ bị cắt các chế độ hỗ trợ...
Tuy nhiên, nhiều người dân địa phương cho rằng, nạn khai thác rừng trái phép ở thượng nguồn Vạn Bình chỉ tạm lắng chứ chưa dứt điểm. “Ở đây có nhiều người khai thác rừng trái phép. Kiểm lâm chặn đường Dốc Mỏ thì họ chuyển sang đi đường khác, hoặc chuyển sang khai thác địa bàn các xã khác như khu vực thượng nguồn 2 xã Vạn Phú và Vạn Khánh. Nếu lực lượng chức năng không thường xuyên kiểm tra ở những địa phương này thì chắc chắn nạn phá rừng sẽ tiếp diễn”, một người dân nói.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, tình trạng ngang nhiên vận chuyển gỗ lậu bằng xe máy ở xã Vạn Bình rộ lên từ khi con đường Dốc Mỏ đi Suối Hương được san ủi để thực hiện dự án tại Suối Hương. Lợi dụng đường đi thuận lợi, các đối tượng đã khai thác gỗ xẻ hộp có kích thước lớn (chiều dài trên dưới 2m, mặt rộng 25 - 30cm). Trước khi có đường, “thợ rừng” chủ yếu chặt cây nhỏ. Người đi khai thác, vận chuyển gỗ trái phép không chỉ có dân xã Vạn Bình mà còn ở các địa phương khác. Gỗ lậu được “thợ rừng” khai thác, vận chuyển trót lọt sẽ bán lại cho các xưởng mộc ở thị trấn Vạn Giã, xã Vạn Bình... để phục vụ nhu cầu xây dựng, làm đồ mộc gia dụng hoặc đóng lồng, bè nuôi tôm hùm, mỗi hộp gỗ được bán với giá từ 600.000 đến 800.000 đồng.
Ông Nguyễn Văn Điện - Đội Phó đội Kiểm lâm cơ động tỉnh cho biết: Trước tình trạng này, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã chỉ đạo lực lượng Kiểm lâm cơ động phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Vạn Ninh và đơn vị chủ rừng tiến hành đóng chốt tại Dốc Mỏ từ ngày 9-6-2015.
“Tại đây, chúng tôi xác định 3 nhiệm vụ trọng tâm là: chốt chặn không cho người dân vận chuyển lâm sản trái phép; tuyên truyền, vận động người dân không tham gia khai thác, vận chuyển gỗ lậu; thường xuyên tuần tra, truy quét sâu vào rừng. Mới đây, các lực lượng đã tiến hành tuần tra sâu vào khu vực Suối Gà (khoảnh 3, tiểu khu 16). Qua kiểm tra phát hiện một số cây rừng bị đốn hạ, có 12 gốc cũ và 5 gốc mới. Chúng tôi đã đề nghị các đơn vị chủ rừng, chính quyền địa phương tăng cường vận động người dân không tiếp tục khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép”, ông Điện nói.
Thời gian tới, Hạt Kiểm lâm huyện Vạn Ninh sẽ phối hợp chặt chẽ với đơn vị chủ rừng để ngăn chặn tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép tại các điểm có nguy cơ xảy ra phá rừng lớn; phối hợp với chính quyền địa phương vận động người dân chuyển đổi nghề nghiệp, không tham gia hoặc tiếp tay cho các đối tượng khai thác rừng trái phép. (Báo Khánh Hòa 22/6) đầu trang(
Thực hiện chiến dịch tuyên truyền nhằm giảm nhu cầu sử dụng sừng tê giác, sau một năm triển khai, nhu cầu về sừng tê giác ở Việt Nam đã giảm 38% và giảm đến 77% ở Hà Nội - trọng điểm của chiến dịch.
Tại buổi tập huấn nâng cao nhận thức giảm nhu cầu sử dụng sừng tê giác do Cơ quan quản lý Cites Việt Nam (Tổng cục Lâm nghiệp) tổ chức tại Hà Nội, ngày 19/6, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Bá Ngãi cho biết kết quả này đã khẳng định quyết tâm giải quyết thách thức đã tồn tại trong nhiều năm qua, đó là giảm nhu cầu sử dụng sừng tê giác ở Việt Nam.
Theo bà Teresa Telecky, Giám đốc Bộ phận Loài hoang dã, tổ chức Humane Society Internatinonal, để ngăn chặn tình trạng cắt sừng tại Nam Phi, cơ quan chức năng nơi đây đã sử dụng biện pháp bơm chất độc trong sừng tê giác. Họ dùng chất để diệt ký sinh trùng bôi lên da động vật, thậm chí dùng bơm cao áp bơm trực tiếp vào sừng tê giác. Do cấu trúc sừng không có mạch máu và đặc nên việc bơm chất độc vào sừng không ảnh hưởng đến sức khỏe tê giác. Tuy nhiên, việc làm này không làm bọn săn trộm quan tâm.
“Cần truyền đạt rộng rãi hơn nữa thông điệp này. Việt Nam có thể đã có nhiều sản phẩm sừng tê giác bị tiêm độc” bà Teresa Telecky nhấn mạnh.
Theo bà Teresa Telecky, đến nay chưa một bằng chứng khoa học nào cho thấy sừng có tác dụng với sức khỏe con người. Về mặt cấu tạo, sừng tê giác có cấu tạo từ chất sừng, thành phần quen thuộc trên cơ thể động vật. Sừng tê giác không phải thứ gì kỳ diệu.
Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Bá Ngãi cũng cho rằng, do sự đồn thổi về công dụng chữa bệnh của sừng tê giác, nhu cầu sử dụng ở Việt Nam đã tăng lên nhanh chóng.
Theo báo cáo của nhiều tổ chức quốc tế, tiêu thụ sừng tê giác ở Việt Nam là nguyên nhân chính dẫn đến việc nhiều tê giác bị giết hại ở châu Phi, gây tác động xấu đến hình ảnh Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết quốc tế, đến quan hệ hợp tác với một số nước trên thế giới.
Theo các đại biểu, bên cạnh việc đẩy mạnh tuyên truyền đến nhận thức của người dân, cần nâng cao chất lượng quá trình điều tra, xử lý. Đầu tiên phải xây dựng các đầu mối trao đổi thông tin thường xuyên về tội phạm trong lĩnh vực này ở các nước láng giếng và nước xuất xứ tạo điều kiện hỗ trợ trong xác minh, điều tra. Hướng tới xây dựng chương trình hành động vì mục tiêu quốc gia: không buôn bán, sử dụng sản phẩm động vật hoang dã vì mục đích thương mại. Cùng với đó, cơ quan hải quan và công an cần tăng cường sự phối hợp đồng bộ, có hiệu quả trong việc bắt giữ, điều tra, xử lý các trường hợp buôn bán, vận chuyển trái phép sản phẩm động vật hoang dã.
Theo Cơ quan quản lý Cites Việt Nam, tình trạng buôn bán, vận chuyển trái phép các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm như sừng tê giác, ngà voi châu Phi, tê tê, hổ... vẫn có diễn biến phức tạp. Số vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép sừng tê giác có xu hướng tăng trở lại.
Cục Điều tra chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan, cho biết sừng tê giác chủ yếu được vận chuyển qua đường hàng không, hầu hết có nguồn gốc từ Nam Phi, nơi sinh sống của 90% các loài tê giác. Các vụ buôn lậu diễn ra nhỏ lẻ với trọng lượng ít.
Trong 6 tháng đầu năm nay, lực lượng hải quan đã chủ trì, phối hợp bắt giữ 4 vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép sừng tê giác. Phương thức buôn lậu của các đối tượng chủ yếu là mang theo trong hành lý nhập cảnh. Để qua mắt sự giám sát, kiểm tra của cán bộ hải quan các đối tượng thường dùng các thủ đoạn cắt khúc, bôi tỏi lên toàn khúc sừng, sau đó quấn giấy bạc, giấu trong các vật ngụy trang.
Có đối tượng tinh vi hơn dùng các vật liệu cản quang che giấu sừng tê giác để đối phó với máy soi của hải quan, móc nối với một số đối tượng có nhiệm vụ trong sân bay để tuồn hàng ra ngoài.
Ngoài ra, các đối tượng này còn thường xuyên thay đổi tuyến đường đi từ Nam Phi đi qua các nước thứ 2, thứ 3 rồi về Việt Nam nhằm đánh lạc hướng tập trung của cơ quan hải quan trong việc theo dõi các chuyến bay, tuyến bay trọng điểm.
Theo số liệu thống kê từ năm 2008 đến tháng 6 năm nay, hải quan Việt Nam đã chủ trì, phối hợp, phát hiện và bắt giữ 23 vụ vận chuyển trái phép sừng tê giác; số lượng trên 26 khúc, 10 chiếc sừng và gần 140 kg sừng tê giác.
Cites là Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp với sự tham gia của 181 nước thành viên. (Nông Nghiệp VN 22/6; Tin Tức 20/6; Nhân Dân + Vietnam+ 19/6) đầu trang(
Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng Gia Lai vừa phối hợp với Cục Phòng chống ma túy, Bộ đội biên phòng VN phát hiện vụ vận chuyển gần 100 m3 gỗ trái phép.
Số gỗ này được vận chuyển trên 3 xe kéo lưu thông tại khu vực biên giới giáp với xã Ia Mơr, H.Chư Prông (Gia Lai) và Campuchia. Tại thời điểm kiểm tra, toàn bộ số gỗ này không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp. 5 người tham gia vận chuyển gỗ đã bị tạm giữ. Lực lượng biên phòng đang phối hợp với các cơ quan liên quan điều tra làm rõ vụ việc. (Thanh Niên 20/6) đầu trang(
19.6, UBND TP.Vũng Tàu cho biết: Ngày 18.6, UBND TP.Vũng Tàu đã tổ chức nghe báo cáo và ngay sau đó đã có kết luận về việc kiểm tra, xử lý vi phạm về trật tự xây dựng, quản lý đất đai tại khu vực dự án tái định cư 10ha trong 58ha thuộc P.10, TP.Vũng Tàu như báo Lao Động đã nêu.
Ông Nguyễn Lập – CT UBND TP.Vũng Tàu chủ trì cuộc họp.
Tại cuộc họp, sau khi nghe bà Doãn Thị Thanh - PCT UBND P.10, Ông Đoàn Minh Quyết – Trưởng CA TP.Vũng Tàu và đại diện lãnh đạo một số đơn vị báo cáo tình hình công tác kiểm tra, xử lý vi phạm về trật tự xây dựng, quản lý đất đai tại khu vực Dự án khu tái định cư 10 ha trong 58ha tại P.10 và ý kiến, thảo luận của các thành viên dự họp.
Thay mặt UBND TP.Vũng Tàu, ông Nguyễn Lập – CT UBND TP.Vũng Tàu phê bình trách nhiệm của CT UBND P.10, Trưởng Phòng Quản lý đô thị, Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường, Đội Trưởng Đội Trật tự đô thị, Giám đốc Ban Quản lý đầu tư xây dựng trong việc để xảy ra những vi phạm về trật tự xây dựng, quản lý đất đai thuộc khu vực dự án Khu tái định cư 10ha trong 58ha tại P.10. Yêu cầu các đơn vị nêu trên nghiêm khắc rút kinh nghiệm, tránh để tình trạng nêu trên tái diễn; Giao Trưởng CA TP.Vũng Tàu chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan khẩn trương tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ và tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố các bị can khi có dấu hiệu tội phạm trên lĩnh vực quản lý đất đai, đồng thời có kế hoạch bảo vệ an toàn cho lực lượng chứng năng làm nhiệm vụ kiểm tra, xử lý, cưỡng chế vi phạm.
CT UBND P.10 phối hợp với các đơn vị liên quan khẩn trương tiến hành rà soát lại tất cả trường hợp xây dựng trái phép trên khu vực đất thuộc dự án khu tái định cư 10ha trong 58ha tại P.10, các thủ tục xử lý vi phạm đối với các trường hợp này, trên cơ sở đó tiến hành xây dựng ngay kế hoạch cưỡng chế, tháo dỡ dứt điểm đối với các trường hợp này báo cáo CT UBND TP.Vũng Tàu trước ngày 23.6; Trưởng Phòng TNMT khẩn trương rà soát lại nguồn gốc và hiện trạng đất thuộc dự án, hồ sơ pháp lý liên quan về quản lý đất đai tại khu vực này trước ngày 25.6.
Trao đổi với PV báo Lao Động, ông Nguyễn Lập – CT UBND TP.Vũng Tàu cho biết, ngay sau khi Phó thủ tướng Chính phủ – Nguyễn Xuân Phúc có ý kiến chỉ đạo làm rõ, Thành ủy TP.Vũng Tàu đã có công văn chỉ đạo họp khẩn, đi thực tế hiện trường để kịp thời chỉ đạo các đơn vị liên quan khắc phục, tránh để tình trạng trên tái diễn. (Lao Động 20/6) đầu trang(
Trong đợt nắng nóng kéo dài vừa qua, tại tỉnh Thanh Hóa đã xảy ra nhiều vụ cháy lớn tại các huyện Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Hà Trung và Tĩnh Gia thiêu rụi hàng trăm heta diện tích rừng- điều hiếm xảy ra trong nhưng năm trước đây, gây thiệt hại lớn về kinh tế và môi trường.
Theo số liệu của Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa, hiện nay, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đang có khoảng 55 nghìn héc ta có nguy cơ cháy rừng cao, trong tổng 570 nghìn hécta rừng. Để chủ động phòng cháy chữa cháy rừng, trong 6 tháng đầu năm 2015, các đơn vị quản lý rừng đã triển khai làm giảm vật liệu cháy được gần 3300 hécta; xây dựng trên 360 km đường băng cản lửa kết hợp với đường tuần tra bảo vệ rừng, cơ động lực lượng chữa cháy rừng...
Riêng công tác chống cháy lan từ Lào sang đối với các huyện Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hóa, Thường Xuân, Lang Chánh đã có phối hợp chặt chẽ với các huyện biên giới nước bạn Lào và xây dựng phương án ngăn chặn lửa từ xa nếu xảy ra cháy.
Ông Mai Hữu Phúc, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa cho biết: Thời gian tới Chi cục tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tập trung giảm bớt vật liệu cháy trong rừng, giảm đến mức thấp nhất nguồn gây ra cháy. Để làm tốt việc này, Ban chỉ đạo giao cho địa phương phải kiểm tra thường xuyên để bổ khuyết, hoàn thiện phương án phòng, chống cháy rừng, bảo đảm an toàn cao nhất cho tài nguyên rừng của tỉnh, nhất là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng...”
Trước diễn biến nắng nóng sẽ còn xảy ra trong thời gian tới, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa đã chủ động xây dựng trước các phương án hiệp đồng tác chiến chữa cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ. Bên cạnh đó, chỉ đạo các Hạt kiểm lâm, chủ rừng, người dân thường xuyên phát động kiểm tra, kiểm soát và dọn dẹp thực bì; phân công lực lượng ứng trực. (Đại Đoàn Kết 19/6) đầu trang(
Hồi 12 giờ 30 phút, ngày 21-6, phát sinh điểm cháy rừng ở xã Hải Nhân, huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa). Lửa bùng phát trên diện tích rừng thông xen keo, thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Tĩnh Gia giao khoán cho các hộ bảo vệ.
Ngay khi phát hiện điểm cháy rừng, xã Hải Nhân huy động hơn 100 nhân lực tại chỗ sử dụng công cụ sẵn dập lửa. Lãnh đạo huyện Tĩnh Gia trực tiếp xuống hiện trường chỉ đạo chữa cháy rừng, điều động dân quân tự vệ sáu xã lân cận cùng lực lượng kiểm lâm, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Tĩnh Gia sử dụng các công cụ thô sơ, máy thổi gió dập lửa, phát đường băng trắng cản lửa.
Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày, điểm cháy rừng đã được khống chế. Ước tính, diện tích rừng bị cháy khoảng 1ha.
Trước đó, trưa 20-6, cũng phát sinh các điểm cháy rừng ở xã Hùng Sơn, Định Hải. Huyện Tĩnh Gia đã huy động hàng trăm lượt người nỗ lực dập lửa rừng.
Hiện, lực lượng an ninh rừng đang tiến hành điều tra, làm rõ nguyên nhân gây ra các vụ cháy rừng liên tiếp ở huyện Tĩnh Gia. (Nhân Dân 21/6) đầu trang(
Sáng 21/6 tại Hà Nội, hai chị em người Nam Phi là Victoria và Vanessa Wiesenmaie cùng Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam tổ chức chương trình đạp xe kêu gọi nâng cao nhận thức cộng đồng về cuộc khủng hoảng săn trộm sừng tê giác ở châu Phi.
Ness và Vicky bắt đầu chuyến hành trình xuyên suốt các quốc gia Đông Nam Á từ ngày 20/4. Hành trình của họ kéo dài 7 tháng, đi qua các quốc gia: Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia và kết thúc tại Singapore.
Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Ted Osius cũng cho biết, thông qua chương trình đạp xe bảo vệ tê giác này, đại diện Hoa Kỳ, Nam Phi và Việt Nam sẽ cùng cam kết bảo vệ tê giác, chấm dứt nạn buôn bán động vật hoang dã.
Chương trình đạp xe mang thông điệp “không chấp nhận biếu tặng, sử dụng sừng tê giác”, “không để hàng triệu USD rơi vào tay bọn buôn lậu, khủng bố” thu hút sự tham gia của đông đảo bạn trẻ tại Hà Nội.
Hành trình đạp xe của Victoria và Vanessa Wiesenmaie cùng hàng trăm bạn trẻ xuyên suốt các con phố chính ở Hà Nội. Sau đó, 2 chị em người Nam Phi sẽ tổ chức đạp xe tại Huế, Đà Nẵng và TPHCM. (Tiền Phong 22/6; Lao Động + Vietnam+ 21/6) đầu trang(
Việt Nam được biết đến như một trung tâm đa dạng sinh học (ĐDSH) của thế giới. Tuy nhiên, dưới áp lực gia tăng dân số, tình trạng khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên, nạn săn bắn, buôn bán, vận chuyển trái phép động vật hoang dã, khung chính sách, pháp lý về bảo tồn ĐDSH còn bộc lộ nhiều bất cập trong quá trình triển khai... Đây là những nguyên nhân dẫn đến nguồn tài nguyên ĐDSH của Việt Nam vẫn tiếp tục bị suy thoái nghiêm trọng.
Báo cáo quốc gia về ĐDSH (năm 2011) cho thấy: Việt Nam, có khoảng hơn 42 nghìn loài sinh vật đã được xác định, bao gồm khoảng hơn bảy nghìn loài, chủng vi sinh vật; khoảng gần 14 nghìn loài thực vật trên cạn và dưới nước; khoảng 2.000 loại động vật không xương sống và cá ở nước ngọt; dưới biển có hơn 11 nghìn loài sinh vật biển...
Vì vậy, ĐDSH ở Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế, nhất là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và thủy sản, là cơ sở bảo đảm anh ninh lương thực quốc gia. Duy trì nguồn gien tạo giống vật nuôi, cây trồng, cũng là các nguồn dược liệu thực phẩm; các hệ sinh thái tự nhiên còn có vai trò quan trọng điều tiết khí hậu và bảo vệ môi trường...
Nhận thức được tầm quan trọng của ĐDSH đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là những lợi ích trực tiếp mang lại cho người dân, cho nên thời gian qua Việt Nam là một trong những quốc gia tham gia tích cực các hiệp định quốc tế về ĐDSH, cụ thể như: Công ước ĐDSH (CBD); Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (RAMSAR); Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) và nhiều Nghị định thư quốc tế liên quan đến lĩnh vực ĐDSH.
Đồng thời, Việt Nam chủ động tham gia và hợp tác với các nước ASEAN trong việc xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu; tổ chức các diễn đàn trao đổi kinh nghiệm về bảo tồn, phát triển bền vững ĐDSH và an toàn sinh học... được các nước trong khu vực và bạn bè quốc tế đánh giá cao trong công tác bảo tồn ĐDSH thời gian qua.
Phó Tổng cục trưởng Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) Nguyễn Thế Đồng cho biết: Hơn hai thập kỷ vừa qua, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu quan trọng trong lĩnh vực này như: Chúng ta đã xây dựng được hệ thống khung luật pháp và chính sách quốc gia về bảo tồn ĐDSH; bộ máy quản lý nhà nước về ĐDSH đã hình thành từ T.Ư đến các địa phương; nhận thức xã hội và sự tham gia của các bên liên quan vào công tác bảo tồn ĐDSH có những chuyển biến rõ rệt, nhất là một số loài nguy cấp, nguồn gien quý hiếm được phục hồi. Đồng thời, các dịch vụ sinh thái trọng yếu tiếp tục được duy trì và cung cấp các dịch vụ quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, cũng như trên phạm vi cả nước...
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức trong công tác bảo tồn ĐDSH như: Nguồn tài nguyên ĐDSH vẫn tiếp tục đà suy thoái; các hệ sinh thái bị thu hẹp, bị chia cắt và suy giảm chất lượng; nguồn gien bị thất thoát, mai một. Đáng lo ngại, một số loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng như sao la, vọoc mũi hếch, vọoc Cát Bà, cá cóc, bò biển... trên thực tế số loài bị đe dọa tuyệt chủng có thể còn lớn hơn nhiều.
Theo số liệu thống kê, thì loài hổ sống trong các khu rừng ở nước ta giảm từ một nghìn con trước năm 1970, xuống còn từ 80 đến 100 con vào năm 2005. Đến năm 2010, số lượng này giảm xuống chỉ còn 30 con. Nguyên nhân của tình trạng này là do áp lực gia tăng dân số, kéo theo nhu cầu tiêu thụ, khai thác quá mức tài nguyên sinh vật và sự đánh đổi bảo tồn với phát triển kinh tế.
Trong khi đó, công tác quản lý bảo tồn ĐDSH còn nhiều bất cập về quy định pháp luật, chính sách, thể chế và tổ chức bộ máy quản lý; việc đầu tư kinh phí thực hiện công tác bảo tồn ĐDSH còn dàn trải, thiếu đầu tư trọng điểm. Công tác xã hội hóa về bảo tồn ĐDSH chưa thật sự được đẩy mạnh, do thiếu cơ chế, chính sách để khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia; nhận thức, ý thức của người dân bảo vệ ĐDSH vẫn còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, do trái đất nóng lên, ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu, lũ lụt, hạn hán, nước biển dâng, sa mạc hóa, nhiễm mặn đất nông nghiệp... cũng tác động không nhỏ đến sự suy thoái này.
Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN và MT) Bùi Cách Tuyến cho rằng: Nhằm giảm những nguy cơ đe dọa đến cân bằng hệ sinh thái, nhất là trong công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam, thời gian tới, Bộ TN và MT sẽ tập trung vào việc hoàn thiện khung pháp lý đối với lĩnh vực này. Cụ thể tiếp tục chỉ đạo các đơn vị trực thuộc bộ phối hợp các bộ, ngành có liên quan rà soát, hoàn thiện các quy định pháp luật về ĐDSH, nhất là các luật và hệ thống văn bản hướng dẫn Luật Bảo vệ rừng và Phát triển rừng, Luật Thủy sản, Luật ĐDSH, để hướng tới sự thống nhất, hiệu lực và hiệu quả. Việc sửa đổi các luật, cần được thực hiện đồng bộ để bảo đảm tính thống nhất của pháp luật và tạo nền tảng thống nhất quản lý ĐDSH ở nước ta...
Củng cố và phát triển hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về bảo tồn ĐDSH, trong đó cần chú trọng việc tăng cường hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở cấp tỉnh, thành phố, nhất là hình thành và củng cố cơ cấu quản lý nhà nước về bảo tồn ĐDSH ở cấp tỉnh, huyện. Nâng cao hiệu quả sự phối hợp, phân công giữa các bộ, ngành, giữa T.Ư và địa phương trong quản lý ĐDSH.
Ngoài ra, Bộ TN và MT sớm hoàn thiện và triển khai Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH của cả nước đến năm 2030. Thúc đẩy công tác xã hội hóa, cũng như tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực, các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn ĐDSH, nhất là kiểm soát, ngăn chặn tình trạng buôn bán trái phép các loài nguy cấp, quý hiếm. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức đối với các cấp, các ngành và cộng đồng trong công tác bảo tồn các loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ...
Với những giải pháp đồng bộ nêu trên, Việt Nam phấn đấu không chỉ đạt được các mục tiêu quốc gia về phát triển bền vững, đồng thời thực hiện thành công các cam kết về bảo tồn ĐDSH vì sự phát triển bền vững của nhân loại, mà Việt Nam là một thành viên tham gia...(Nhân Dân 21/6) đầu trang(
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Đình Đức (người bị TAND tỉnh Kiên giang tuyên phạt 03 năm tù về tội Huỷ hoại rừng) cho biết kể từ ngày vướng vào vụ việc ông đã mất rất nhiều về vật chất, tinh thần và sức khỏe. Tuy nhiên, ông luôn tin vào lẽ phải, tin vào công lý để sớm được giải mối oan của cuộc đời mình.
Theo ông Đức, trong đơn xác nhận nguồn gốc đất của gia đình ông Đức và được UBND xã Gành Dầu, H.Phú Quốc xác nhận năm 1996 ông Nguyễn Đình Minh khai khẩn 18.000,2 tọa lạc tại ấp Rạch Vẹm, xã Gành huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Đến năm 1997 ông Minh cho lại vợ chồng Đức trồng các loại cây Tràm bông Vàng và cây Đào sử dụng cho đến nay. Năm 2010 UBND huyện Phú quốc quy hoạch bãi rác tạm thuộc ấp Rạch Vẹm, xã Gành Dầu thì trong diện tích đất ông Đức sử dụng có 6999,6m2 lọt vào dự án quy hoạch nêu trên.
24/03/2011, UBND Xã Gành Dầu mời các hộ dân có đất đai, cây trồng, vật kiến trúc lọt vào khu quy hoạch đến họp để thông báo và vận động tạo điều kiện cho đoàn khảo sát tiến hành thực hiện dự án. Để thực hiện theo tinh thần cuộc họp, ông Đức về nhà phát dọn ranh đất, phát quang cây dại tạo điều kiện cho cơ quan thẩm quyền đo đạc đất đai, tính đếm cây trồng lập danh sách bồi hoàn.
Ngày 28/4/2011, khi cơ quan chức năng tiến hành lập biên bản Khám nghiệm hiện trường. Bất ngờ là trong biên bản này đã gán cho ông Đức hành vi huỷ hoại rừng. Cầm biên bản trong tay, ông Đức không ngờ được rằng việc làm của mình trên mảnh đất mình đã sử dụng từ năm 1996, trên đất có trồng 2000 cây Đào và 12.000 cây Tràm bông Vàng lại được quy vào hành vi trên.
Theo xác nhận của UBND xã Gành Dầu trong đơn xin xác nhận nguồn gốc đất của bà Bùi Thị Hằng (vợ ông Đức) thì nguồn gốc đất này được khai khẩn và sử dụng vào năm 1996, năm 2007 đo đạc lập Bản đồ địa chính có thửa đất số 34 thuộc dồ số 18 nhưng khi áp giá vào ranh Rừng thì thửa đất này nằm trong ranh rừng. Theo Quyết định 633 ngày 11/5/2010 thì thửa đất này nằm ngoài quy hoạch Vườn Quốc Gia, trong đó có 6999,6 m2 lọt vào khu xử lý rác thải đang được xem xét bồi hoàn...
Trước đó vào năm 2008 ông Đức có xin chủ trương thành lập HTX Phú Qúy làm trang trại, Nông, lâm, ngư nghiệp. Ngày 27-2-2008 Vườn Quốc Gia có công văn số 28 gửi UBND tỉnh Kiên Giang và sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Kiên giang có ý kiến như sau: Diện tích HTX phú quý xin làm trang trại có diện tích 16,94 ha trong đó có 6 ha nằm ngoài ranh rừng hiện trạng có 03 căn nhà và tràm bông vàng từ 4 đến 5 tuổi và canh tác hoa màu trên toàn bộ diện tích, phần còn lại có tràm bông vàng và cây Đào từ 3 đến 4 năm tuổi xen lẩn Sim và Tràm tự nhiên).
Và có một tình tiết khá bất ngờ với chính ông Đức và những hộ dân trong khu vực đó là việc trong khi ông Đức bị cáo buộc phá rừng thì Cơ quan chức năng vẫn xem xét lập danh sách bồi hoàn cho ông Đức. Theo đó, tại Biên bản xét nguồn gốc công trình Bãi Rác theo số thứ tự 10 của hộ ông Đức xác định, đất CLN (cây lâu năm) diện tích thu hồi 6999,6m2 cộ 502 cây Tràm bông vàng loại A, 1011 Cây tràm vàng loại D 1123 cây Tràm loại Ctổng cộng 3751 cây trồng.... Đây chính là một nghịch lý vì trên một diện tích đất ông Nguyễn Đình Đức bị tuyên phạt 03 năm tù về tội Hủy hoại rừng và cũng trên diện tích đất này ông Đức được lập danh sách bồi hoàn như đã nêu trên.
Tuy nhiên, TAND tỉnh Kiên Giang đã vận dụng một số công văn trả lời với nội dung xác định ranh rừng theo Quyết định 633 của Chính phủ đã được xác định tọa độ, cột mốc và cũng đã được đơn vị thi công bàn giao cho Vườn Quốc Gia và địa phương quản lý nhưng cho đến nay vẫn chưa có văn bản chính thức nào của cấp có thẩm quyền phê duyệt cũng như chưa thu hồi đất rừng. Vì vậy, diện tích đất này vẫn thuộc Vườn Quốc Gia quản lý. Mặt khác tòa nhận định nguyên nhân dẫn đến bị cáo phạm tội cũng do nhận thức Pháp luật kém vì vậy tòa giảm án 01 năm so với bản án sơ thẩm và tuyên phạt bị cáo Đức 03 năm tù về tội Hủy hoại rừng.
Chinh điều này đã khiến ông Đức cho rằng mình bị oan bởi theo ông Đức, từ khi Quyết định 633 của Thủ tướng Chính phủ ban hành có hiệu lực lẽ ra Cơ quan Vườn Quốc Gia phải thực hiện việc xác định tọa độ, cột mốc ngay. Thế nhưng, cho đến bây giờ là gần 05 năm nhưng bên Vườn Quốc Gia vẫn nói là cắm mốc, xác định tọa độ đường ranh rừng và đang quản lý nhưng đến nay vẫn chưa có cơ quan nào phê duyệt nên hiện tại diện tích đất mà ông Đức đang sử dụng theo quyết định này là nằm ngoài rừng nhưng ông vẫn phải chịu tội hủy hoại rừng. (Pháp Luật & Xã Hội 14 – 20/6) đầu trang(
Vào lúc 14h ngày 19/6, trên địa bàn xã Mã Thành, huyện Yên Thành (Nghệ An) xảy ra vụ cháy lớn, làm cháy trụi hơn 1ha diện tích rừng thông trên 25 năm tuổi của địa phương.
Tin nhanh từ ông Bùi Trọng Long, Chủ tịch UBND xã Mã Thành, huyện Yên Thành (Nghệ An) cho biết, đến 16h ngày 19/6, chính quyền địa phương, lực lượng dân quân tự vệ và người dân đã khống chế được vụ cháy rừng thông.
Theo tin tức, vào khoảng 14h ngày 19/6, ông Nguyễn Văn Căn, trú xóm Hòn Nen, xã Mã Thành, huyện Yên Thành bất ngờ phát hiện rừng thông củagia đình bốc khói nghi ngút.
Thấy vậy, ông Căn lập tức gọi điện cho cán bộ xóm và hô hào người dân xung quanh đến dập lửa. Ngay khi nhận được tin báo, chính quyền địa phương đã huy động các lực lượng dân quân tự vệ cùng tham gia dập lửavới người dân.
Gần 100 người tham gia cứu rừng thông 25 tuổi, tuy nhiên, do gió Tây Nam thổi mạnh nên công tác dập lửa gặp nhiều khó khăn. Phải sau 2 tiếng đồng hồ, đám cháy mới được khống chế. Ước tính khoảng 1ha rừng thông đã bị hư hại.
Sau khi dập tắt lửa, chính quyền địa phương chỉ đạo lực lượng công an và dân quân tự vệ, bảo vệ hiện trường để điều tra làm rõ nguyên nhân vụ cháy. Bước đầu, đám cháy được xác định xuất phát từ một ngọn lửa sát nhà dân gần khu vực rừng thông. (Người Đưa Tin 20/6; Tuổi Trẻ 19/6đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện Định Quán vừa tiến hành thả trên 250 con chim chào mào, sáo đen, chích chòe than… về môi trường tự nhiên tại khu vực rừng Thác Mai.
Đây là số chim do Đội Kiểm lâm cơ động huyện Định Quán thu giữ của các đối tượng săn bắt, mua bán, vận chuyển chim cảnh trái phép tại xã Phú Cường. Chim là loài động vật rừng có giá trị kinh tế, cần được bảo vệ vì trong thời gian qua các đối tượng săn bắt và mua bán chim thường xuyên đánh bẫy nên hiện còn rất ít trong tự nhiên. (Báo Đồng Nai 19/6) đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong 6 tháng đầu năm 2015, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 10 vụ cháy rừng với tổng diện tích thiệt hại gần 55 ha.
Trong đó, địa bàn huyện Tuy Phước và TP Quy Nhơn 3 vụ, thiệt hại gần 25 ha; huyện Hoài Nhơn 2 vụ, thiệt hại gần 1 ha; huyện Phù Mỹ 3 vụ, thiệt hại hơn 16 ha; huyện Phù Cát 1 vụ, thiệt hại gần 8 ha; huyện Tây Sơn 1 vụ, thiệt hại hơn 5 ha. Diện tích rừng bị cháy chủ yếu là rừng trồng phòng hộ với 16,78 ha; rừng trồng sản xuất 16,4 ha và rừng trồng ngoài quy hoạch 21,62 ha.
Nguyên nhân gây ra các vụ cháy rừng phần lớn là do người dân thiếu ý thức phòng cháy trong việc phát dọn, đốt thực bì để chuẩn bị trồng rừng, gây cháy lan ra các khu vực xung quanh; tình trạng người dân địa phương lén lút vào rừng đốt than, đốt rừng làm rẫy trái phép, đốt lửa bắt tổ ong...  (Báo Bình Định 19/6)    đầu trang(
Liên quan đến vụ phá rừng Nà Dệt, xã Hàm Thạnh, huyện Hàm Thuận Nam, mới đây, Sở Nông Nghiệp và PTNT tỉnh Bình Thuận đã có kết quả xác minh, kiểm tra số lượng cây bị khai thác. Tuy nhiên, theo một số người dân tại khu vực, số lượng gỗ bị lấy đi lớn hơn nhiều so với báo cáo.
Theo nội dung kết luận: Qua kiểm tra thực địa, khoanh bao 4 khu vực tập trung nhiều cây rừng bị khai thác theo chỉ dẫn của một số người tố cáo, gồm khu Nà Dệt (khoảng 6ha), khu đồi Vĩ Sắt (khoảng 6,5ha), khu Giếng Cọp (khoảng 2ha), khu Tà Nớ (khoảng 23,5ha), sau khi đo đếm và áp dụng các biện pháp lâm sinh tính toán kết quả thiệt hại thấy tổng số cây được kiểm tra có đường kính D1,3 > 12cm là 1.018 cây, rải rác trên diện tích khoảng 38ha gồm 4 khu vực. Trong đó, khu Nà Dệt (tiểu khu 284), số gốc bị khai thác là 613; khu Đồi Vĩ Sắt (tiểu khu 284) 193 gốc; khu Giếng Cọp (tiểu khu 279) 48 gốc; khu Tà Nớ (khu Tà Nớ) 164 gốc, tất cả các cây bị khai thác đều sử dụng phương tiện cưa máy.
Theo Sở Nông nghiệp và PTNN tỉnh Bình Thuận, thời điểm khai thác rừng trái phép từ cuối năm 2012 đến khoảng tháng 5/2014, đơn vị chủ rừng là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Thuận (do đơn vị trực thuộc là Xí nghiệp Lâm nghiệp Hàm Thuận Nam trực tiếp quản lý) làm thiệt hại 151,795m3 rừng (trong đó khu Nà Dệt 102,777m3; khu đồi Vĩ Sắt 25,497m3; khu Giếng Cọp 4,838m3; khu Tà Nớ 18,683 m3).
Ngoài số cây gỗ trên trong khu vực này còn có cây gỗ nhỏ đường kính từ 6 - 12cm nhưng tổ xác minh chưa kiểm tra, thống kê do đang là mùa mưa, cây cỏ và cây bụi mọc khá cao nên khó khăn trong việc kiểm tra, đo đếm.
Được biết, từ năm 2012 đến nay, UBND tỉnh Bình Thuận và Sở Nông nghiệp và PTNT không có chủ trương hay cấp giấy phép nào cho khai thác, cưa hạ cây rừng tự nhiên, không có chủ trương cho phép san ủi, xử lý thực bì trên diện tích đất còn cây rừng tự nhiên để thực hiện trồng rừng, sản xuất kinh doanh; số cây bị cưa hạ, kiểm tra thống kê không có dấu hiệu, số hiệu kiểm tra xử lý trước đó. Vì vậy, toàn bộ số gốc cây rừng tự nhiên bị khai thác kiểm tra, thống kê trên là khai thác trái phép.
Từ kết quả kiểm tra này, dư luận đặt câu hỏi, trách nhiệm của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Thuận, mà cụ thể là Xí nghiệp Lâm nghiệp Hàm Thuận Nam ở đâu khi số lượng cây rừng bị khai khác rất nhiều, kéo dài qua nhiều năm mà không hề biết?
Bức xúc về kết quả thẩm tra, xác minh về diện tích rừng và số lượng cây bị lâm tặc chặt phá, hàng chục người dân đã có đơn yêu cầu cơ quan chức năng vào cuộc kiểm tra xác minh, đồng thời chính tay người dân lên tận rừng kiểm tra số lượng cây đã bị khai thác.
Ông P., một người dân ở xã Hàm Thạnh, Hàm Thuận Nam bức xúc: “Tất cả số liệu kiểm tra, xác minh về số lượng cây rừng, diện tích rừng bị khai thác là hoàn toàn không đúng. Loại gỗ bị lâm tặc khai thác tại khu Nà Dệt, Vĩ Sắt đa số có đường kính 15cm chứ không phải đường kính D1.3 >= 12cm như nội dung báo cáo. Về diện tích bị khai thác, tại khu Giếng Cọp thực tế trên 10ha (trong báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT chỉ 2ha), số cây bị phá gấp 10 lần con số 164 gốc; tại khu Tà Nớ, diện tích thực địa là 60ha, số gốc bị chặt phá cao hơn gấp nhiều lần số liệu báo cáo.
Chính vì mập mờ từ khâu xử lý, kiểm tra diện tích rừng cũng như số liệu cây bị chặt hạ, nhiều người dân đặt câu hỏi, các cơ quan, ban, ngành tỉnh Bình Thuận lấy con số 151,795m3 gỗ chặt phá từ đâu? Bởi, số liệu nêu trên chỉ bằng 1/10 số lượng gỗ bị lâm tặc chặt phá.
Cũng theo người dân, rừng tự nhiên tại khu vực xã Hàm Cần và Hàm Thạnh bị tàn phá với hình thức khai thác trắng trợn chứ không khai thác kiểu rải rác. Nhưng cho đến nay, vụ việc vẫn chưa được xử lý. Dư luận có quyền đặt câu hỏi: Có hay không sự bao che, dung túng cho sai phạm? (Kinh Tế Nông Thôn 19/6) đầu trang(
Việc vận chuyển trái phép sừng tê giác ở Việt Nam có xu hướng tăng trở lại từ năm 2013 đến nay với thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp, kể cả khi chúng đã bị phía Nam Phi tiêm thuốc độc.
Bà Nguyễn Thị Diệu Huyền, chuyên viên Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) cho biết, tình trạng buôn bán, vận chuyển trái phép các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm như sừng tê giác, ngà voi châu Phi, tê tê, hổ,... vẫn diễn biến phức tạp.
Số vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép sừng tê giác có xu hướng tăng trở lại từ năm 2013 đến nay.Tuy nhiên, các vụ buôn lậu diễn ra nhỏ lẻ với trọng lượng ít. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2015, lực lượng Hải quan đã chủ trì, phối hợp bắt giữ 4 vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép sừng tê giác.
Thống kê từ năm 2008 đến 6 tháng đầu năm nay, lực lượng Hải quan đã chủ trì, phối hợp, phát hiện và bắt giữ 23 vụ vận chuyển trái phép sừng tê giác. Số lượng trên 26 khúc, 10 chiếc sừng và gần 140 kg sừng tê giác. Đặc biệt, năm 2012 đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 5 vụ, tịch thu trên 25 khúc sừng tê giác.
Theo bà Nguyễn Thị Diệu Huyền, phương thức vận chuyển của các đối tượng buôn lậu sừng tê giác ngày càng tinh vi và phức tạp. Các đối tượng thường mang theo trong hành lý của hành khách nhập cảnh. Đặc biệt, để qua mắt cán bộ Hải quan tại sân bay cũng như đội ngũ chó nghiệp vụ, các đối tượng thường dùng thủ đoạn cắt khúc, bôi tỏi lên toàn bộ khúc sừng, sau đó quấn giấy bạc, giấu trong các vật ngụy trang như bức tượng, lư hương,...
“Có đối tượng tinh vi hơn dùng các vật liệu phản quang che giấu sừng tê giác để đối phó với máy soi của Hải quan, móc nối với một số đối tượng có nhiệm vụ trong sân bay để tuồn hàng ra ngoài”, bà Huyền cho hay.
Bên cạnh đó, bà Teresa Telecky, Giám đốc Bộ phận Loài hoang dã (Tổ chức Humane Society Internatinonal) cho biết, thực tế, tính đến nay chưa có một bằng chứng khoa học nào cho thấy sừng tê giác có tác dụng với sức khỏe con người. Về mặt cấu tạo, sừng tê giác có cấu tạo từ chất sừng, thành phần quen thuộc trên cơ thể động vật. Sừng tê giác không phải thứ gì kỳ diệu.
Tuy nhiên, do sự đổi thổn về sừng tê giác có công dụng chữa được ung thư nên nạn săn bắt tê giác để cắt lấy sừng diễn ra mạnh như hiện nay.
Tại Nam Phi, cơ quan chức năng đã phải sử dụng biện pháp bơm chất độc vào trong sừng tê giác để ngăn chặn nạn cắt sừng tại Nam Phi. Họ dùng chất thường dùng để diệt ký sinh trùng bôi lên da động vật, giờ dùng bơm cao áp bơm trực tiếp vào sừng tê giác với ý tưởng là khi sừng có độc có thể sẽ làm người sử dụng chùn bước, từ bỏ thói quen dùng sừng tê giác.
“Tuy nhiên, sừng bơm độc thì bọn săn trộm không quan tâm. Cần truyền đạt rộng rãi hơn nữa thông điệp này vì tôi thấy ở Việt Nam nhiều sản phẩm sừng tê giác đã bị tiêm độc. Ngoài ra, nhiều sừng tê giác ở bảo tàng đã bị đánh cắp lưu hành trên thị trường”, bà Teresa Telecky nói. (Vietnamnet 19/6) đầu trang(
19-6, nhiều sinh viên tình nguyện đến từ các trường đại học ở TPHCM và Hà Nội đã có mặt tại Khu cứu hộ động vật hoang dã Hòn Me (huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang) để tham gia các hoạt động thuộc chương trình Chuyển động mùa hè năm 2015.
Chương trình do Tổ chức Bảo vệ Động vật hoang dã (WAR) phối hợp với Tổ chức Bảo tồn voọc vá (DLF) tổ chức.
40 sinh viên tham gia chương trình này là người chiến thắng trong cuộc thi clip ngắn - bài viết ngắn với nội dung kêu gọi giới trẻ tham gia bảo vệ động vật hoang dã và một số cuộc thi trước đó do Tổ chức WAR phát động.
Tham gia chương trình, các bạn trẻ được tham quan các khu chức năng thuộc Khu cứu hộ động vật hoang dã Hòn Me và được tập huấn các kỹ năng thuyết phục bảo vệ động vật hoang dã, kỹ năng đi rừng, chụp ảnh thú, tìm hiểu các nghề liên quan đến bảo vệ động vật hoang dã… Đồng thời, tham gia các hoạt động cho thú ăn, trồng cây gây rừng, tạo nguồn thức ăn cho thú, phát quang bụi rậm, sơn chuồng trại động vật, dựng bảng thông tin bảo vệ động vật hoang dã…(Sài Gòn Giải Phóng 19/6) đầu trang(
Thời gian qua, trên địa bàn tỉnh nói chung và huyện Quảng Ninh nói riêng tình hình nắng nóng diễn ra gay gắt, kéo dài, dẫn đến nguy cơ cháy rừng rất lớn. Trước tình hình đó, huyện Quảng Ninh đã sớm chỉ đạo lực lượng chức năng và chính quyền các địa phương, các chủ rừng triển khai thực hiện kế hoạch bảo vệ rừng (BVR) và phòng chống cháy rừng (PCCR) có hiệu quả, chủ động ứng phó với những diễn biến bất thường của thời tiết trong mùa khô năm nay...
Huyện Quảng Ninh có 100.142 ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó rừng tự nhiên 72.849,6ha, rừng trồng 9.979,6ha, đất lâm nghiệp chưa có rừng 17.312,8ha. Diện tích rừng tồn tại dưới 3 loại rừng chính: rừng đặc dụng 136 ha, rừng phòng hộ 43.629,9ha và rừng sản xuất 56.376,1ha.
Hạt Kiểm lâm huyện Quảng Ninh và UBND các xã có rừng thường xuyên theo dõi, giám sát tình hình chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, khai thác gỗ rừng trồng của các tổ chức, hộ gia đình. 6 tháng đầu năm 2015, trên diện tích 82,2 ha, khối lượng gỗ khai thác rừng trồng đạt 6.192m3, trong đó, các tổ chức khai thác 2.755 m3, hộ gia đình 3.437m3; trồng mới và trồng lại sau khai thác 28,8 ha keo lai.
Thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, UBND huyện đã thành lập các đội, tổ liên ngành tăng cường kiểm tra rừng, chốt chặn kiểm tra, kiểm soát lâm sản ở những khu vực trọng yếu như khu vực La Véng, khe Lồ Ô... thuộc xã Trường Sơn; chỉ đạo Hạt Kiểm lâm phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng trên địa bàn tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát lâm sản, phát hiện và xử lý nghiêm, kịp thời các hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.
Vì vậy, công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện đã được kiểm soát chặt chẽ và ổn định, không có điểm nóng về phá rừng, khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật. Trong 6 tháng đầu năm 2015, đã ngăn chặn và xử lý 46 vụ vi phạm, tạm giữ 57,317 m3 gỗ các loại, trong đó 27,489 m3 gỗ quý hiếm, 80 kg rễ, cành trắc và 3 xe máy. Tổng thu từ xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản 1.384 tỷ đồng.
Ông Nguyễn Ngọc Thụ, Phó Chủ tịch UBND huyện, Phó trưởng Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong BVR và PCCCR huyện Quảng Ninh cho biết: Để chủ động ứng phó với những diễn biến bất thường của thời tiết trong mùa khô năm nay, Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong BVR và PCCCR huyện đã chỉ đạo các địa phương và các chủ rừng xác định khu vực trọng điểm; xây dựng phương án PCCCR; bố trí sắp xếp, lực lượng, phương tiện PCCCR phù hợp với tình hình thực tế từng địa phương đơn vị.
Đến nay, đã kiện toàn 16 ban chỉ huy PCCCR cơ sở, 89 tổ đội xung kích bảo vệ rừng, PCCCR, với 902 người tham gia. Huyện đã tổ chức kiểm tra công tác BVR và PCCCR trên địa bàn 5 xã, gồm: An Ninh, Vạn Ninh, Trường Xuân, Trường Sơn, Hải Ninh và 5 đơn vị chủ rừng: Chi nhánh Lâm trường Trường Sơn, Vĩnh Long, Ban quản lý rừng phòng hộ Long Đại, Ba Rền, ven biển Nam Quảng Bình. Qua kết quả kiểm tra các địa phương và đơn vị chủ rừng, nhận thấy các đơn vị đã triển khai thực hiện nghiêm túc phương án BVR và PCCCR.
Với quan  điểm chỉ đạo trong PCCCR lấy phòng là chính, UBND các  xã  đã chỉ đạo chủ rừng thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng, chống cháy rừng, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục, vận động nhân dân chấp hành và tham gia BVR và PCCCR; đôn đốc các đơn vị chủ rừng và hộ gia đình có rừng tiến hành việc phát dọn thực bì, vệ sinh rừng trước mùa nắng bằng phương pháp đốt trước có điều khiển với diện tích đã xử lý thực bì đạt trên 80% diện tích rừng trồng trên địa bàn; tu sửa các công trình PCCCR và mua sắm dụng cụ trang bị cho các tổ đội PCCCR ở cơ sở. Đến nay, các thiết bị, dụng cụ, phương tiện phục vụ công tác PCCCR trên địa bàn toàn huyện hiện có: 4 máy cắt cỏ, 370 cây rựa, 57 can đựng nước, 90 cái xẻng, 6 loa cầm tay, 3 máy bơm phun nước...; các công trình BVR và PCCCR gồm có 9 chòi canh lửa, 7 bảng tuyên truyền bảo vệ rừng.
Ngoài ra, trong những tháng cao điểm mùa nắng nóng, UBND huyện, Hạt Kiểm lâm và các xã có rừng bố trí lãnh đạo thường trực tại trụ sở để theo dõi diễn biến cháy rừng, chỉ đạo PCCCR. Địa bàn các xã và các khu vực rừng trọng điểm dễ cháy, thường xuyên có lực lượng kiểm lâm và chủ rừng trực gác canh lửa 24/24 giờ. Các tổ, đội xung kích PCCCR ở cơ sở luôn trong tình trạng sẵn sàng làm nhiệm vụ khi có cháy rừng xảy ra.
Lực lượng Kiểm lâm địa bàn cắm chốt ở cơ sở, nắm bắt tình hình và tham mưu kịp thời cho Chủ tịch UBND xã triển khai và thực hiện tốt phương án PCCCR. Nhờ vậy nên dù nắng nóng gay gắt, kéo dài, nhưng trên địa bàn huyện Quảng Ninh chỉ xảy ra 1 điểm phát lửa cháy thực bì tại rừng thông nhựa của Chi nhánh Lâm trường Vĩnh Long và được lực lượng phòng cháy tại chỗ khống chế kịp thời, không có thiệt hại về rừng.
Ông Phan Mậu Phấn, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Quảng Ninh, cơ quan thường trực của Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong BVR và PCCR huyện cho biết: Ngoài việc quản lý, giám sát chặt chẽ việc chấp hành pháp luật và bảo vệ và phát triển rừng của các chủ rừng và tăng cường kiểm tra, ngăn chặn xử lý nghiêm các đối tượng phá rừng, xâm chiếm đất rừng trái phép thì Hạt Kiểm lâm huyện đã chú trọng tăng cường các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng.
Trong đó, chú trọng rà soát phương án, chủ động lực lượng, phương tiện, hậu cần sẵn sàng cho công tác PCCCR; tổ chức trực, tuần tra canh lửa 24/24 giờ/ngày vào những thời điểm nắng nóng gay gắt nhằm hạn chế đến thấp nhất cháy rừng và thiệt hại do cháy rừng gây ra.(Báo Quảng Bình 19.6) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Hàng nghìn ha rừng sản xuất trên địa bàn tỉnh Bắc Cạn hiện đã đến chu kỳ khai thác, nhưng nông dân không thể khai thác vì không có đường vận chuyển. Đây đang là cản trở lớn nhất trên tiến trình phát huy thế mạnh lâm nghiệp ở tinh miền núi Bắc Cạn.
Từ năm 2002 đến năm 2004, xã Hà Hiệu, huyện Ba Bể trồng được 70 ha rừng sản xuất, đến nay đã cho khai thác. Tình Bắc Cạn cho phép khai thác "trắng" toàn bộ diện tích này để nhân dân có thu nhập, đồng thời lấy đất trổng rừng mới, nhưng nhân dân địa phương không hào hứng, vì tiền bán gỗ không đủ trả tiền công khai thác và vận chuyển.
Trong hai năm 2012 và 2013, Công ty CP Sahabak chuyên chế biến gỗ ở Khu công nghiệp Thanh Bình, huyện Chợ Mới (Băc Cạn) thông nhâ't với nhân dân xã Hà Hiệu, sẽ mua gỗ vơsi giá từ 500 nghìn đến hơn một triệu đồng/m3 gỗ (tuỳ loại), nhưng với điều kiện gỗ phải được vận chuyển đến bãi tập kết, nơi ô-tô tải có thê’ vào được để vận chuyển. Nhân dân địa phương không thắc mắc về giá thu mua, vì nó đã sát với giá thị trường, nhưng để khai thác, vận chuyển được đến bãi tập kết là chuyện không hề đơn giản.
Gia đình ông Mã Đình Lạ thuê người chặt vạt rùng keo, do không có đường vận chuyển nên lại phải thuê người vác, thuê trâu kéo gỗ từ rừng ra bãi tập kết. Bán gỗ, thu tiền, sau khi trừ chi phí khai thác, vận chuyển, ông Lạ... bị lỗ 300 nghìn đồng. Đấy là chưa kể tám - chín năm trồng, bảo vệ, tiền vay mua giống, phân bón. Ông Lạ tâm sự: "Những diện tích rừng xa đường từ 1,5 km trở lên, tiền bán gỗ không đủ trả tiền công chặt hạ, vận chuyển. Đúng là công toi".
Ông Dương Văn Lực, cùng xã Hà Hiệu có khu rừng keo đến tuổi khai thác, cách xa đường hai km. Ông Lực tính toán: "Vận chuyển gỗ keo hai km bằng sức người, chi phí hết khoảng hơn 450 nghìn đồng/khô'i, thuê chặt hạ khoảng 100 nghìn đồng/khối, gỗ keo có "vòng vanh" 50 cm bán với giá thỏa thuận tại bãi tập kết là 570 nghìn đồng/khối thì gia đình tôi không thu được đồng nào. Vậy nên cứ đế đây, chặt mà làm gì".
Đường kính gỗ càng to, bán được giá cao hơn, nhưng chặt hạ và vận chuyển cũng khó hơn nên phải chi phí nhiều hơn. Do đó, nhân dân địa phương không mặn mà với việc khai thác gỗ ở những nơi cách xa đường từ 1,5 km trở lên.
Xã Hà Hiệu có khoảng 70 ha keo đến tuổi khai thác, trong đó một nửa diện tích ở những điểm râ't khó khăn và cách xa các bãi tập kết, đường giao thông. Những diện tích keo này trồng rải rác, phân tán ở các thôn Bản Mới, Cốc Lót, Chợ Dải, Nà Dài, Nà Mèo, Khuổi Mản, Thôm Lạnh... không có đường lâm nghiệp, hoàn toàn dùng sức người, nên chi phí khai thác và vận chuyển một khối gỗ đã tương đương với giá bán, diện tích càng ờ xa càng bị lỗ nhiều, nên nhân dân địa phương không muốn khai thác.
Là doanh nghiệp chê'biến gỗ có quy mô lớn nhất tỉnh, nhưng từ cuổỉ năm 2013 đến nay Công ty CP Sahabak thường thiếu nguyên liệu, lượng gỗ rừng trồng thu mua trên địa bàn tỉnh không đủ cho chế biến, nguyên nhân chủ yếu là do nhân dân không khai thác vì không có đường vận chuyển. Để có gỗ sản xuâ't, doanh nghiệp này phải vào tận tỉnh Nghệ An và một số tỉnh miền trung mua gỗ cao-su chở ra.
Chi cục trưởng Kiểm lâm Bắc Cạn Hoàng Văn Hải cho biết: "Từ năm 2011, tỉnh giao cho lực lượng kiểm lâm tổ chức cho nhân dân trổng rùng sản xuâ't theo Quyết định 147 của Thủ tướng Chính phủ, đến nay toàn tình đã trổng được khoảng 58 nghìn ha rừng. Nhung chúng tôi đang râ't lo, những diện tích ở xa không có đường lâm nghiệp, đường vận chuyển nên việc khai thác sẽ gặp râ't nhiều khó khăn. Có khai thác, vận chuyển được thì giá thành sẽ tăng cao, thu nhập của nông dân sẽ râ't thâ'p, thậm chí không có lãi".
Năm 2014, Chi cục Lâm nghiệp Bắc Cạn được giao làm chủ đầu tư mở mới được gần mười km đường lâm nghiệp ở các huvện Bạch Thông, Ba Bể với giá thành gần 500 triệu đồng/km. Từ năm 2015, tỉnh không có vốn để làm đường lâm nghiệp nữa.
Ông Hải cho biết: "Tôi đã đến các xã Thanh Mai, Thanh Bình, Mai Lạp ở huyện Chợ Mới, thấy nhân dân trồng rừng sản xuất rất tốt, mỗi ha thu được 70- 80 triệu đồng, thậm chí là 100 triệu đồng/ha. Đây là những nơi có đường trục, sau đó một số hộ tự đầu tư mở các đoạn đường "xương cá" lên những khu rừng cùa mình để vận chuyển gỗ đi tiêu thụ". Tuy nhiên, không phải ở đâu cũng làm được như vậy, vì phần lớn đời sống nhân dân còn khó khăn, không có khả năng tự mở đường lâm nghiệp.
Địa hình tỉnh Bắc Cạn hiểm trở, rộng lớn, độ dốc cao, phần lớn diện tích rừng sản xuất đều được trồng xa đường giao thông, ở vùng sâu, vùng xa, nếu trổng rừng sản xuâ't mà không có đường vận chuyển sẽ làm cho chi phí khai thác, vận chuyển còn cao hơn giá bán. Vốn đầu tư san gạt, mở một tuyên đường lâm nghiệp là râ't lớn, toàn tỉnh cần hàng trăm tuyến, nhưng địa phương và nhân dân không có vốn và chưa có cách nào để giải quyết vấn đề này trong những năm tới. Đây đang là bài toán lớn đặt ra đối với các câ'p, ngành chức năng và nhân dân tỉnh Bắc Cạn. (Thời Nay 15/6) đầu trang(
18/6, ông Quách Đại Ninh - Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển rừng, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN-PTNT) - đã có chuyến công tác tại Lâm Đồng và làm việc với Sở NN-PTNT Lâm Đồng về kết quả thực hiện công tác quản lý giống cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Ông Bùi Thanh Phong - Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp (Sở NN-PTNT Lâm Đồng) đã báo cáo với đoàn về những kết quả đã đạt được trong thời gian qua của Lâm Đồng trên lĩnh vực quản lý giống cây trồng lâm nghiệp.
Theo quy định, Chi cục Lâm nghiệp là đơn vị được Sở NN-PTNT giao nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá cơ sở sản xuất kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Trong hai năm 2013 và 2014, Chi cục đã tiến hành kiểm tra 36 cơ sở và đã xếp loại 19 cơ sở đạt loại A, 1 cơ sở đạt loại B và 4 cơ sở đạt loại C. Năm 2015, Sở đã xây dựng kế hoạch và phân công nhiệm vụ cụ thể trình UBND tỉnh phê duyệt để làm cơ sở thực hiện.
Về nguồn giống thông ba lá được công nhận từ năm 2012, Lâm Đồng có hơn 375ha rừng giống chuyển hóa từ rừng tự nhiên, hơn 215ha rừng giống trồng; cùng đó, cũng đối với nguồn giống thông ba lá bị bãi bỏ (do chứng chỉ hết hạn), diện tích chuyển hóa từ rừng tự nhiên là 1.096ha và 222ha rừng giống trồng. Từ 2013 đến nay, tổng khối lượng hạt giống thông ba lá sản xuất được chứng nhận hơn 654kg (năm 2013 chứng nhận 148kg, 2014 chứng nhận 226kg và năm 2015 chứng nhận 280kg).
Cùng đó, số lượng cây giống lâm nghiệp sản xuất được chứng nhận nguồn gốc của lô cây con cụ thể như sau: Năm 2013: 3.394.700 cây (gồm 1.657.800 cây thông ba lá, 11.900 cây thông caribea và 1.725.000 cây giống keo tai tượng); năm 2014: 4.393.500 cây (gồm 3.233.500 cây thông ba lá và 1.110.000 cây keo tai tượng).
Ông Bùi Thanh Phong cho biết thêm: Theo danh mục giống cây trồng lâm nghiệp do Bộ NN-PTNT ban hành thì vẫn còn thiếu nhiều giống cây mà tỉnh Lâm Đồng đang khuyến khích ươm trồng như xà cừ, xoan ta, bời lời đỏ, gáo, sưa... Theo quy định, việc gieo ươm và kinh doanh các loại giống cây lâm nghiệp này diễn ra ở cơ sở hay hộ gia đình nào đó thì đây là sự vi phạm và bị xử phạt rất nặng , vì theo quy định, các tổ chức và cá nhân chỉ được phép sản xuất và kinh doanh những giống cây lâm nghiệp có trong danh mục.
Cũng theo ông Bùi Thanh Phong, hiện trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng còn có một số tổ chức và cá nhân có gieo ươm một số loài cây có giá trị bảo tồn cho mục đích thương mại như thông đỏ (thanh tùng - Taxus wallichiana), lan gấm (lan kim tuyến - Anoechilus roxburglihayata)...; và đây cũng là những thứ cây không nằm trong danh mục. Bởi vậy, trong quá trình kiểm tra, cơ quan chức năng của tỉnh Lâm Đồng gặp không ít khó khăn trong xử lý, trong xác nhận nguồn gốc cây con để cho lưu thông, tiêu thụ.
Về vấn đề này, trong một văn bản do GĐ Sở NN-PTNT Lâm Đồng, ông Lê Văn Minh, ký có nêu: “Đề nghị Tổng cục Lâm nghiệp xem xét trình Bộ bổ sung, cập nhật hoặc mở rộng danh mục giống cây trồng lâm nghiệp được phép sản xuất, kinh doanh bảo đảm đồng bộ giữa các văn bản do Bộ ban hành và đáp ứng được yêu cầu quản lý trong thực tiễn sản xuất”.
Cùng với việc ghi nhận những kết quả đạt được của Sở NN-PTNT Lâm Đồng trong quản lý giống cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh những năm qua, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển rừng Quách Đại Ninh đã đặc biệt quan tâm về vấn đề phát triển cây mắc ca - một trong những giống cây trồng lâm nghiệp - tại Lâm Đồng.
Ông Quách Đại Ninh nhấn mạnh: “Lâm Đồng là một trong những tỉnh trọng điểm phát triển cây mắc ca của Tây Nguyên và cả nước. Do vậy, ngay từ đầu, tỉnh cần quản lý thật chặt chẽ nguồn giống của loại cây trồng này. Thêm vào đó, tỉnh cần sớm xây dựng những vườn mắc ca đầu dòng để tạo được nguồn cây giống tốt nhất phục vụ nhân dân”.
Theo Sở NN-PTNT Lâm Đồng, do nóng vội với “cây tỷ đô” nên trên địa bàn tỉnh có không ít hộ dân mua các nguồn giống mắc ca trôi nổi về trồng. Do vậy, cơ quan chức năng của tỉnh cần tiếp tục đưa ra khuyến cáo để tránh những hậu quả đáng tiếc về sau (không ít vườn mắc ca giống trôi nổi của các hộ gia đình ở Lâm Đồng đã phải đốn bỏ).
Cũng theo ông Quách Đại Ninh, hiện vấn đề giống cây mắc ca đang được rất nhiều cơ quan, ban ngành từ trung ương đến địa phương quan tâm. Nếu không cẩn trọng và có những bước đi phù hợp thì hậu quả sẽ khó lường. (Báo Lâm Đồng 22/6) đầu trang(
Những năm gần đây, xã Trì Quang, huyện Bảo Thắng chú trọng tuyên truyền, vận động người dân tích cực tham gia phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Hiện, trên địa bàn xã có tổng diện tích rừng trên 1.400 ha, trong đó, rừng sản xuất chiếm 70% diện tích, bình quân mỗi ha rừng trồng cho thu trên 50 triệu đồng/năm. Đây là kết quả của chủ trương phát triển kinh tế lâm nghiệp, coi đó là “đòn bẩy” để phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
Đến thôn Trì Thượng I, chúng tôi rất ấn tượng với màu xanh ngút ngàn của những rừng mỡ, quế dọc hai bên sườn đồi. Trước đây, đời sống của người dân trong thôn nhiều khó khăn, kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp theo hình thức tự cung tự cấp, năm nào thời tiết không thuận lợi, bà con lại đối mặt với tình trạng thiếu đói. Gia đình ông Trần Xuân Tới, thôn Trì Thượng I là một trong những hộ đầu tiên phát triển vườn rừng từ những năm 1990, với tổng diện tích gần 5 ha cây mỡ.
Ông Tới cho biết, đất đai ở đây phù hợp với cây mỡ, dù vốn đầu tư ít nhưng vẫn phát triển tốt và cho lợi nhuận cao. Việc khép kín chu kỳ sản xuất khiến việc khai thác luân phiên được đảm bảo, trung bình mỗi đợt khai thác tỉa khoảng 100 cây gỗ lớn, với giá trung bình từ 3 - 4 triệu đồng/cây, đem về cho gia đình ông Tới nguồn thu trên 40 triệu đồng.
Theo ông Hà Văn Quang, Trưởng thôn Trì Thượng I, những năm đầu, việc trồng rừng khá khó khăn, nhất là trồng rừng trên đất trồng sắn, cây lương thực khác. “Thế mà mưa dầm thấm lâu, đến nay, 100% hộ dân trong thôn đều có rừng, tổng diện tích rừng trồng của Trì Thượng I có 150 ha, trong đó cây chủ lực là mỡ và quế” - ông Quang cho biết.
Nhiều hộ khác như hộ các ông Bàn Văn Hạnh, Bàn Văn Chẩn, dân tộc Dao, thôn Trì Thượng II cũng “ăn nên, làm ra” và thoát nghèo nhờ trồng rừng. Trồng rừng không chỉ mang lại thu nhập, mà còn tạo việc làm cho nhiều lao động thời vụ tại địa phương. Vào vụ khai thác gỗ, trung bình mỗi lao động có thể thu nhập từ 100.000 - 150.000 đồng/ngày.
Thị trường tiêu thụ lâm sản của Trì Quang cũng khá lạc quan, hiện toàn xã có 6 cơ sở chế biến gỗ ván bóc và đồ thủ công, ngoài tiêu thụ tại chỗ thì người dân bán ra thị trường nhiều nơi nhờ giao thông thuận lợi. Năm 2014, giá trị kinh tế lâm nghiệp toàn xã đạt trên 5 tỷ đồng, chiếm phần lớn tổng thu nhập của toàn xã.
Chủ tịch UBND xã Trì Quang, ông Ngô Quốc Khánh cho biết, xã có hơn 1.000 hộ dân thì 80% số hộ tham gia trồng rừng. Nguồn thu nhập từ gỗ rừng sản xuất đã giúp đời sống của bà con trong xã ngày càng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo của xã giảm từ 32% (năm 2010) xuống còn 18% (năm 2014), thu nhập bình quân đạt 12,5 triệu đồng/người/năm. Ở Trì Quang hiện có 30% số hộ có thu nhập trung bình từ 60 - 100 triệu đồng/năm từ rừng.
Trong những năm tới, xã Trì Quang tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền bảo vệ diện tích rừng hiện có và thực hiện tốt quy trình kỹ thuật khai thác rừng. Việc phát triển kinh tế rừng, khai thác hiệu quả đất lâm nghiệp ở Trì Quang đã và đang củng cố niềm tin của người dân về tinh thần bám đất, bám rừng. Đến xã Trì Quang hôm nay thật không khó để cảm nhận được sự đổi thay từng ngày, trong đó phần quan trọng là nhờ kinh tế rừng. (Báo Lào Cai 21/6) đầu trang(
Liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất của Công ty TNHH MTV Innovgreen Quảng Nam (Cty Innovgreen của Đài Loan - Trung Quốc) đối với dự án trồng rừng nguyên liệu trên địa bàn tỉnh, UBND tỉnh này vừa có báo cáo gửi Ban Thường vụ Tỉnh ủy, báo cáo do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Huỳnh Khánh Toàn ký.
Tháng 3/2007, tại cuộc làm việc giữa UBND tỉnh Quảng Nam với Cty Innovgreen, về kế hoạch đầu tư trồng rừng và chế biến nguyên liệu công nghiệp kinh tế cao, tỉnh đã thống nhất chủ trương cho phép Cty Innovgreen được thuê đất trước mắt từ 1000 đến 2000ha đất để Cty thí điểm mô hình trồng rừng nguyên liệu.
Tháng 7/2008, UBND tỉnh Quảng Nam cấp giấy chứng nhận đầu tư cho Cty Innovgreen về việc đăng ký thành lập Cty Innovgreen Quảng Nam để thực hiện dự án trồng rừng nguyên liệu tại 9 huyện: Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Quế Sơn, Hiệp Đức, Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước với diện tích đất dự kiến sử dụng: 30.000ha trong đó, 20.000ha thuê đất để Cty tự trồng và 10.000ha hợp tác với người dân để trồng rừng.
Tổng vốn đầu tư là 40 triệu USD. Thời gian hoạt động của dự án là 50 năm, Cty được hưởng ưu đãi về tiền thuê đất như sau: Được miễn tiền thuê đất trong 7 năm, kể từ ngày xây dựng hoàn thành đưa dự án vào hoạt động (đối với dự án thực hiện tại huyện Quế Sơn); được miễn tiền thuê đất trong toàn bộ thời gian thực hiện dự án (đối với dự án thực hiện tại các huyện: Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Hiệp Đức, Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước).
Đến ngày 12/9/2008, UBND tỉnh tạm giao đất trồng rừng cho Cty với diện tích 1133,18ha (huyện Nam Trà My: 962,38ha, huyện Tây Giang: 170,8ha). Ngày 9/12/2008, UBND tỉnh tiếp tục tạm giao đất trồng rừng cho Cty với diện tích 295,96 ha, loại đất trồng rừng sản xuất.
Tuy nhiên, ngày 6/1/2009, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Nam có ý kiến về việc dự án trồng rừng nguyên liệu của Cty trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ảnh hưởng đến vùng an toàn khu (CT229), do đó ngày 27/3/2009, UBND tỉnh có văn bản điều chỉnh vùng dự án trồng rừng nguyên liệu của Cty Innovgreen, cụ thể: thu hồi lại phần diện tích UBND tỉnh đã thỏa thuận và tạm giao đất cho Cty tại 5 xã thuộc huyện Nam Trà My (Trà Dơn, Trà Mai, Trà Don, Trà Vân, Trà Tập), đồng thời yêu cầu Cty không tiếp tục triển khai việc trồng rừng và các hoạt động xây dựng vùng dự án tại các xã của huyện Nam Trà My.
Ngày 10/7/2009, UBND tỉnh cho Cty thuê diện tích 276,79ha đất trồng rừng tại xã Lăng, huyện Tây Giang và ngày 21/1/2010, cho Cty thuê diện tích 725,89ha (gồm 79,09ha thuộc xã Atiêng, 305,42ha thuộc xã Bhalee và 341,38ha thuộc xã A Vương).
Như vậy, tổng diện tích Cty được thuê chính thức là 1002,68ha và diện tích được tạm giao để trồng rừng là 329,05ha (sau khi thu hồi 1100,1ha tại huyện Nam Trà My), toàn bộ diện tích này đều nằm trên địa bàn huyện Tây Giang.
Ngoài ra, Cty còn được UBND các huyện Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang, Quế Sơn, Hiệp Đức, Bắc Trà My, Tiên Phước thỏa thuận theo quy hoạch 3 loại rừng, đất rừng được duyệt và cấp giấy chứng nhận đầu tư nhưng chưa cho thuê đất là 19.308,5ha.
Sau khi được cấp giấy phép đầu tư, tạm giao đất và cho thuê đất, tại huyện Nam Trà My, Cty đã trồng khoảng 70ha cây bạch đàn. Tại huyện Tây Giang, Cty đã trồng được 16,81ha, trong đó 7,94ha/158,25ha được tạm giao và 8,86ha/1002,68ha được cho thuê.
Tuy nhiên, việc đầu tư trồng rừng của Cty là chậm tiến độ, tổng diện tích đầu tư trồng rừng của Cty là rất ít so với tổng diện tích được tạm giao và cho thuê. Do đó, ngày 15/3/2013, UBND tỉnh Quảng Nam đã thu hồi giấy chứng nhận đầu tư của Cty Innovgreen Quảng Nam.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng, UBND tỉnh Quảng Nam đã giao Sở TN-MT tổ chức thanh tra việc quản lý, sử dụng đất của Cty trên địa bàn huyện Tây Giang.
Theo UBND tỉnh Quảng Nam, tại thời điểm năm 2008, 2009 việc cho Cty Innovgreen thuê đất để trồng rừng nguyên liệu là xuất phát từ mong muốn phủ xanh đất trống đồi trọc với quy mô lớn trên địa bàn tỉnh. Việc trồng rừng của Cty trên địa bàn tỉnh nhất là các huyện biên giới mang tính nhạy cảm, có khả năng ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh.
Đầu tháng 6/2015, UBND tỉnh chủ trì cuộc họp giải quyết việc cho Cty Innovgreen thuê đất, tất cả các thành viên của Hội đồng tư vấn và 2 đơn vị là Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh đều thống nhất đề nghị UBND tỉnh chấm dứt việc cho thuê đất để trồng rừng nguyên liệu của Cty Innovgreen Quảng Nam và thực hiện việc bồi thường cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. (Đất Việt 20/6) đầu trang(
Sơn La nâng độ che phủ rừng lên 45,7% trong năm 2015
Tỉnh Sơn La vừa công bố Điều chỉnh quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng của địa phương năm 2015 và định hướng đến năm 2020. Theo đó, độ che phủ rừng tỉnh Sơn La được nâng lên 45,7% vào năm 2015 và 55% vào năm 2020, tăng bình quân 1,43%/năm.
Theo Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La, việc điều chỉnh quy hoạch Bảo vệ và phát triển rừng nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển về dân số, lao động, tốc độ phát triển kinh tế, nhu cầu sử dụng lâm sản, biến đổi khí hậu, nguồn sinh thủy và bảo vệ an toàn hồ đập thủy điện, thủy lợi, đặc biệt là bảo vệ công trình thủy điện Sơn La.
Mục tiêu quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Sơn La năm 2015 và định hướng đến năm 2020 là thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng bền vững đất và rừng. Địa phương phấn đấu đến năm 2020 trồng mới 35.000 ha, tương ứng với độ che phủ của rừng đạt 55%. Bảo vệ và phát triển 3 loại rừng: đặc dụng, phòng hộ và sản xuất.
Theo quy hoạch, nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng, chương trình giảm phát thải khí nhà kính thông qua hạn chế mất rừng và suy thoái rừng bình quân hàng năm từ 100 -120 tỷ đồng/năm. Giai đoạn 2016 - 2020 phấn đấu giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp bình quân 5%/năm.
Ông Lò Mai Kiên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La cho biết, định hướng quy hoạch rừng gồm 3 loại: Quy hoạch rừng đặc dụng với diện tích 86.291,9 ha; rừng phòng hộ 398.709,8 ha và rừng sản xuất là 439.310,4 ha. Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng theo các vùng trọng điểm kinh tế, gồm: Vùng dọc tuyến Quốc lộ 6, vùng dọc Sông Đà và vùng cao và biên giới. Địa phương phấn đấu năm 2015 diện tích có rừng đạt 647.772 ha và đến năm 2020 là 779.595 ha, rừng được tạo mới trong kỳ quy hoạch là 143.660 ha.
Theo ông Hà Quyết Nghị, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sơn La, giai đoạn 2014 - 2015, Sơn La phấn đấu giữ giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp bình quân 4%/năm, diện tích có rừng trên 647.700 ha, tỷ lệ độ che phủ rừng đạt 45,7%. Địa phương khai thác tận dụng rừng tự nhiên, rừng trồng sản xuất đảm bảo nhu cầu lâm sản tại chỗ và của thị trường. Sản lượng khai thác bình quân 80.000 m3/năm; tập trung phát triển các sản phẩm lâm sản địa phương có thế mạnh.
Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Sơn La năm 2015 và định hướng đến năm 2020 còn tập trung đến các vấn đề xã hội như: nâng cao nhận thức hiểu biết về pháp luật bảo vệ và phát triển rừng, kiểm soát chặt chẽ khai thác, vận chuyển, buôn bán, chế biến lâm sản; giảm số vụ và diện tích thiệt hại do cháy rừng gây ra. Thông qua hoạt động sản xuất lâm nghiệp, tạo môi trường đào tạo và chuyển giao công nghệ cho người dân làm nghề rừng, tạo việc làm cho trên 100.000 lao động nông thôn/năm. Quy hoạch cũng đảm bảo nguồn sinh thủy đối với các công trình thủy điện trên sông Đà, thủy điện vừa và nhỏ, thủy lợi và bảo vệ phát triển bền vững tài nguyên rừng, giảm áp lực nhu cầu lâm sản lên rừng tự nhiên và các vụ vi phạm pháp luật về rừng; hạn chế canh tác nương rẫy trên đất lâm nghiệp. (Đảng Cộng Sản VN 19/6) đầu trang(
Hiệp hội chế biến gỗ Việt Nam cho biết hiện có rất nhiều doanh nghiệp (DN) từ Ấn Độ, Ai Cập đang có nhu cầu nhập gỗ từ Việt Nam.
Thị trường Ấn Độ đang tìm nguồn gỗ MDF, gỗ ván dăm, gỗ ghép thanh làm từ gỗ teak với số lượng khoảng trên 20 container 40 feet/tháng. Trong khi đó Ai Cập đang tìm kiếm số lượng lớn mùn cưa từ gỗ thông, gỗ keo tròn. Trung Quốc cũng đang có nhu cầu nhập khẩu lớn lượng gỗ thông vụn để sản xuất giấy.
Một khi AFTA có hiệu lực, thị trường xuất khẩu gỗ tại Việt Nam đang được mở rộng biên độ, nhiều khách hàng hứa hẹn sẽ tìm kiếm nguồn gỗ Việt Nam, từ đó tạo ra cơ hội rất lớn cho ngành gỗ phát triển mạnh hơn. Dự kiến trong năm 2015 nhiều khả năng xuất khẩu gỗ của Việt Nam sẽ đạt con số 7 tỷ USD. (Báo Bình Dương 19/6) đầu trang(
Đó là một phần của chiến dịch “70 ngày – Tự hào tiếp bước” hướng tới kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành Giao thông vận tải do Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật cao tốc Việt Nam (VECE) phối hợp với Đoàn thanh niên trường ĐH giao thông vận tải TP HCM và Đoàn thanh niên của các đơn vị, địa phương liên quan tổ chức.
Trong chiến dịch “70 ngày – Tự hào tiếp bước”,  bên cạnh việc trồng 10.000 cây xanh dọc đường cao tốc còn diễn ra rất nhiều các hoạt động ý nghĩa như: Tổ chức tuyên truyền về dự án đến các hộ dân sinh sống dọc tuyến để chung tay, góp sức xây dựng bảo vệ tài sản trên đường cao tốc, Xây 01 nhà tình nghĩa, Vệ sinh mặt đường, cắt cỏ và nhặt rác trên đường cao tốc, Tổ chức thăm hỏi, tặng quà, hỗ trợ, giúp đỡ các gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn, neo đơn… (Lao Động 20/6) đầu trang(
Phát triển đồng đều 3 loại rừng, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư, nâng cao giá trị kinh tế cho nghề rừng… là những nhiệm vụ quan trọng trong tái cơ cấu ngành lâm nghiệp tỉnh.
Khoảng 10 năm trở lại đây, cây lâm nghiệp, đặc biệt là keo, bạch đàn, chiếm vị trí độc tôn ở các huyện miền núi, trung du, góp công lớn vào công cuộc xóa đói giảm nghèo. Tuy vậy, năng suất trên đơn vị diện tích cây keo thấp (trữ lượng bình quân 50m3/ha), nghề rừng chưa giúp người dân có cuộc sống ổn định. Ngành lâm nghiệp lúng túng trong quy hoạch cây trồng, do thiếu thông tin về thị trường đầu ra, chậm tái cấu trúc ngành. Độ che phủ rừng tuy có tăng song chất lượng và tính đa dạng sinh học của rừng tự nhiên suy giảm.
Một số nơi, diện tích rừng tiếp tục bị tàn phá, tiến độ thực hiện trồng rừng sản xuất chưa đạt mục tiêu. Lâm sản chủ yếu xuất khẩu thô, chủ yếu cho công nghiệp chế biến và ván dăm, cây lâm nghiệp phần lớn bán non nên lãng phí tài nguyên rừng. Năm 2015, Quảng Nam tiếp tục chủ trương hạn chế tối đa các nhà máy chế biến dăm gỗ xuất khẩu, hỗ trợ chế biến sâu như sản xuất ván nhân tạo.
Theo ông Phan Sỹ Hùng – Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh, cơ cấu lại ngành sản xuất lâm nghiệp phải đi đến mục tiêu lấy rừng nuôi rừng. Nếu như trước đây, 3 loại rừng (đặc dụng, phòng hộ và sản xuất) chỉ có rừng sản xuất mới “hái ra tiền” thì trong quá trình thực hiện tái cơ cấu phải cố gắng để cả ba loại rừng trên đều đem lại giá trị kinh tế cho người trồng và bảo vệ rừng. Muốn vậy, phải rà soát, đầu tư mạnh các cơ sở cung ứng giống cho năng suất cao, đẩy nhanh trồng rừng gỗ lớn phục vụ chế biến, xuất khẩu.
Vì sao nông dân không muốn trồng rừng gỗ lớn? Vì sao năng suất cây trồng trên đơn vị diện tích thấp? Các địa phương giàu về rừng như Hiệp Đức, Bắc Trà My, Tiên Phước khẳng định, “nút thắt” là thị trường tiêu thụ. Cây keo, bạch đàn có thể trồng kéo dài hơn 10 năm mới thu hoạch, nhưng nhu cầu thị trường rất ưa chuộng loại cây dưới 7 năm tuổi. Trong khi đó, nông dân không đủ kiên nhẫn chờ đợi, cần thu hồi vốn nhanh để tái đầu tư. Mặt khác, đầu ra cho gỗ lớn luôn bó hẹp, gió bão thường xảy ra nên rủi ro rất cao.
Ông Huỳnh Tấn Đức – Giám đốc Sở NN&PTNT khẳng định, thời gian đến, khuynh hướng phát triển trồng rừng gỗ lớn sẽ rất rõ. “Về lâu dài, không thể lãng phí tài nguyên đất đai, “ăn non” rừng cây được. Phải mạnh dạn thay đổi tư duy trồng rừng, phấn đấu nâng cao năng suất các loại keo 50 - 60m3/ha lên tối đa 150m3/ha, bằng việc sử dụng giống chất lượng và can thiệp của khoa học kỹ thuật” - ông Đức nói. Ngành lâm nghiệp cũng đặt chỉ tiêu, đến năm 2020, phấn đấu 30% diện tích rừng sản xuất hiện nay chuyển sang kinh doanh gỗ lớn, hoặc 30% sản phẩm rừng đủ điều kiện cung ứng nguyên liệu sản phẩm gỗ lớn.
Hiện nay, tỉnh quản lý diện tích rừng khá lớn với 719.922ha rừng và đất lâm nghiệp, nhưng thực tế nhiều nơi vẫn chưa thống nhất tiểu khu, khoảnh, lô trên bản đồ và thực địa. Nhiều đơn vị, tổ chức được giao rừng lớn nhưng quản lý, sử dụng kém hiệu quả nên xảy ra tình trạng lấn chiếm, xâm hại tài nguyên. Bất cập ở chỗ, vùng trồng nguyên liệu cung ứng cho thị trường lúc thừa khi thiếu nên thường xuyên bị ép giá, thua trên sân nhà.
Ông Đào Bội Thuyên – nguyên Chủ tịch UBND huyện Hiệp Đức cho biết, một thời người dân trồng keo, sau này là cây cao su phần lớn theo định hướng, khuyến khích của Nhà nước, nhưng mấu chốt vẫn là do thị trường quyết định. Vì thế, để giảm tính rủi ro cho nông dân, hơn ai hết họ cần liên kết lại cách làm ăn, chính quyền thu hút doanh nghiệp vào bao tiêu sản phẩm.
Trong kế hoạch tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, sẽ ưu tiên xã hội hóa nghề rừng từ tạo vùng nguyên liệu đến khai thác, tiêu thụ, chế biến; giảm dần đầu tư của Nhà nước. Theo ông Lê Minh Hưng – Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, thời gian đến sẽ triển khai nhanh công tác giao đất giao rừng đến các thành phần kinh tế, hộ gia đình. Nhà nước chỉ quản lý những khu rừng đặc dụng và phòng hộ; quy hoạch phát triển các làng nghề sản xuất, chế biến lâm sản quy mô nhỏ và các trang trại lâm nghiệp. Bên cạnh đó, Nhà nước phải ra đời các trung tâm phân tích thông tin thị trường, định hướng chiến lược phát triển ngành kinh tế lâm nghiệp. Theo ông Hưng, Trung ương và tỉnh cần sớm sửa đổi và hoàn thiện chính sách giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp. (Báo Quảng Nam 20/6) đầu trang(
“Đúng là đã có rất nhiều nghi ngờ, lo ngại, thậm chí cả chỉ trích ác ý về chương trình phát triển mắc ca của Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank)”, TS. NGUYỄN ĐỨC HƯỞNG, Phó chủ tịch Thường trực HĐQT LienVietPostBank nói, “nhưng chúng tôi không nghe bằng 1 tai, cũng không nhìn bằng 1 mắt”.
Tại hội thảo về định hướng phát triển cây mắc ca do Bộ Nông nghiệp và PTNT vừa tổ chức, nhiều ý kiến lo ngại “đầu ra” của loại quả này lệ thuộc vào thị trường Trung Quốc, khi quốc gia này tiêu thụ tới 90% lượng mắc ca chưa tách vỏ của thế giới.
TS Hưởng cho biết, tuy Trung Quốc là thị trường lớn nhưng không phải duy nhất, vì hiện nay nhu cầu tiêu thụ ở các nước: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Đông… cũng rất cao. Ngay tại Australia là nơi sản xuất mắc ca rất lớn trên thế giới nhưng vẫn không đủ để xuất khẩu. Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta quan niệm “phụ thuộc” như thế nào. Bây giờ là thời toàn cầu hóa nên khái niệm “tương thuộc” để hai bên cùng có lợi phù hợp hơn. TS Hưởng nhìn thấy cơ hội ở việc Trung Quốc đang tiêu thụ tới 90% lượng hạt mắc ca chưa tách vỏ. Bởi đây là thị trường khổng lồ quy mô dân số tới 1,4 tỷ người, trong đó, đối tượng khách hàng tiềm năng cho sản phẩm mắc ca có thể lên tới hàng chục, hàng trăm triệu người.
Nhiều chuyên gia đã đánh giá chính Trung Quốc sẽ là động lực chính của ngành và thị trường mắc ca toàn cầu. Dù là hàng thô hay hàng chế biến, cái chúng ta cần hướng tới là giá trị lợi nhuận đạt được. Tất nhiên, LienVietPostBank chủ trương tập trung tạo giá trị gia tăng cho sản phẩm mắc ca xuất xứ từ Việt Nam.
Ngoài ra, đằng sau việc Trung Quốc nhập khẩu lượng mắc ca chưa tách vỏ lớn như thế là sự phát triển các cơ sở chế biến đặt tại Trung Quốc. Chúng ta cần tìm hiểu rõ các cơ sở này để có thể tiếp cận được công nghệ chế biến nhằm phát triển các nhà máy, cơ sở chế biến trong nước.
Ngoài việc khảo sát thực tế trồng mắc ca tại Trung Quốc, LienVietPostBank đã triển khai nghiên cứu về các khía cạnh kinh tế và thị trường mắc ca trong vòng 2 năm trở lại đây. Đơn vị chuyên môn của LienVietPostBank đã hợp tác với các chuyên gia nông sản trong và ngoài nước như Australia, Mỹ… liên tục tổ chức các cuộc khảo sát thực địa. Họ đều khẳng định đất Tây Nguyên ở Việt Nam là loại đất phù hợp nhất trên thế giới để phát triển mắc-ca. Bên cạnh đó, các vùng khác như Tây Bắc, Đông Bắc Việt Nam và Quảng Tây của Trung Quốc cũng rất thích hợp.
Đặc biệt, chuyến khảo sát tại Australia - quê hương của cây mắc ca cho thấy được rất nhiều cơ hội lớn đối với Việt Nam. Bởi tại Australia điều kiện khí hậu không thuận lợi và chi phí nhân công đắt hơn gấp rất nhiều lần so với Việt Nam. Ví dụ, thu nhập một công nhân chuyên ghép cây giống ở bang Queensland có thể đạt 200 AUD/ngày. Thêm vào đó do khoảng cách quá xa về địa lý, việc vận chuyển từ Australia đến thị trường Trung Quốc tốn kém hơn nhiều so với từ Việt Nam. Vì vậy, nếu Việt Nam kịp thời mở rộng nguồn cung, tăng sản lượng thì Trung Quốc sẽ là thị trường tiêu thụ rộng lớn và lâu dài.
Trong thời gian tới, LienVietPostBank sẽ tiếp tục khảo sát ở Vân Nam - vùng trồng mắc ca lớn nhất Trung Quốc; cũng như tại Nam Phi, nước xuất khẩu mắc ca lớn nhất thế giới hiện nay và Mỹ - nơi có công nghệ chế biến và vùng trồng mắc ca quan trọng là quần đảo Hawaii. Các cuộc khảo sát này luôn song hành các cuộc tọa đàm, trao đổi học hỏi kinh nghiệm, tham vấn lẫn nhau và trao đổi nghiên cứu để hiện thực cơ hội tôi nói ở trên.
Qua một số nghiên cứu của LienVietPostBank và các nghiên cứu của học giả, kết luận chung 10 - 20 năm tới, nguồn cung mắc ca chưa chắc đã đuổi kịp nguồn cầu. Về chương trình phát triển 200.000ha mắc ca, nên nhấn mạnh rằng đây là chương trình dài hơi, kéo dài nhiều năm và mỗi năm chỉ tăng được một lượng diện tích trồng nhất định. Nói cách khác, phải qua nhiều năm thì diện tích 200.000ha mắc ca mới là hiện thực. Vả lại, nếu cây giống ban đầu tốt, chất lượng thì từ năm thứ 3 đã có thể bắt đầu khai thác quả hạt. Đến năm thứ 9 sẽ cho sản lượng quả hạt tối đa. Cho nên, có vội và muốn tăng cung mạnh đột ngột cũng không được.
LienVietPostBank quan tâm khía cạnh chất lượng của quả hạt và sản lượng của cây giống mắc ca vì đây mới là các yếu tố quyết định cạnh tranh thắng lợi trên thị trường. Thêm vào đó, việc nắm bắt kịp thời và dự báo sát các xu hướng, diễn biến thị trường là những yếu tố giúp chúng ta có thể chủ động trước các biến động về giá.
Xin nói thêm, giá của bất cứ sản phẩm nào đưa ra thị trường cũng đều tuân theo quy luật cung - cầu, có lên có xuống. Vì vậy, việc chúng ta dự báo và phản ứng như nào mới là điều đáng lưu tâm hơn những lo ngại chung chung về sự rớt giá.
Năm 2013 Viện Nghiên cứu và Phát triển rừng trực thuộc Bộ Nông nghiệåp và PTNT đã hoàn thành công trình nghiên cứu mang tên “Quy hoạch phát triển cây mắc ca vùng Tây Nguyên giai đoạn 2012 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2025”. Nghiên cứu này kết luận riêng vùng Tây Nguyên, diện tích đất trồng phù hợp cho mắc ca là hơn 1.000.000ha. Nên nghiên cứu đã khuyến nghị đến cả phương án trồng tới 200.000ha mắc ca tại Tây Nguyên.
Ngoài ra, có điểm rất thú vị là gần như cứ nơi nào trồng được bơ, cà phê thì cũng có thể trồng mắc ca. Hiện nay, tổng diện tích cà phê của cả nước gần 900.000ha, riêng Tây Nguyên lên tới hơn 650.000ha. Tuy nhiên, tại Tây Nguyên có tới 1/3 diện tích cà phê đã già cỗi, cần phải tái canh, hoặc thay thế bằng cây trồng khác. Một sự trùng hợp là 200.000ha mắc ca nếu được trồng sẽ vừa đủ để lấp đầy con số này.
Về khả năng cung cấp giống chuẩn, giống tốt, LienVietPostBank đã khảo sát nhiều cơ sở giống mắc ca trong nước và ngoài nước thì thấy mục tiêu trồng 200.000ha mắc ca ở Tây Nguyên từ 5 - 10 năm tới là hoàn toàn khả thi. Tất nhiên, không thể ngay lập tức xuống giống hết cho diện tích này, mà phải theo kế hoạch tuần tự hàng năm, mỗi năm một số lượng cây giống trên một diện tích nhất định. Đó là cách để phát triển mắc ca bền vững.
Bên cạnh các ý kiến trái chiều trước kia, hiện tại dư luận đã có xu hướng ủng hộ phát triển mắc ca mạnh mẽ. LienVietPostBank sẵn sàng tiếp nhận những ý kiến đóng góp thẳng thắn, khách quan và có tinh thần xây dựng. Khi thực hiện dự án, LienVietPostBank phải đặt mình vào bối cảnh ngành công nghiệp và thị trường mắc ca của 10-20 năm nữa. Góc nhìn đó cho phép LienVietPostBank vượt qua được những trở ngại nhất định ở hiện tại.
Để một cây mắc ca ra trái, có nhiều yếu tố quyết định như: giống tốt, đất trồng, khí hậu và cách thức chăm sóc phù hợp. Tất cả các yếu tố trên đều quan trọng, nhưng đặc biệt hồ sơ lý lịch cây giống mắc ca quan trọng không kém gì hồ sơ lý lịch của một đứa trẻ sơ sinh. Vì nó cần được theo dõi, điều chỉnh trong một tương lai rất dài căn cứ vào hồ sơ ban đầu.
Thị trường tiêu thụ gồm nhiều thực thể tham gia, chỉ khi nào làm rõ được vai trò của từng thực thể tham gia thị trường thì chúng ta sẽ biết ngay trách nhiệm đó thuộc về ai. Chẳng hạn như một hiệp hội mắc ca có trách nhiệm xúc tiến thương mại các sản phẩm mắc ca, thì chính hiệp hội đó có trách nhiệm trong việc tìm kiếm, xác định thị trường, người mua, người bán sản phẩm. Hay một doanh nghiệp đứng ra bao tiêu sản phẩm cho người nông dân thì chính doanh nghiệp đó phải có trách nhiệm bao tiêu theo hợp đồng đã ký kết với nông dân. Còn người nông dân trồng mắc ca theo hợp đồng như vậy, phải có trách nhiệm bán sản phẩm theo các điều khoản của hợp đồng. (Đại Biểu Nhân Dân 20/6) đầu trang(
Tỉnh Phú Yên vừa phê duyệt kinh phí chi trả dịch vụ môi trường rừng trong năm 2014 với tổng số tiền hơn bảy tỷ đồng.
Đối tượng được chi trả là chủ rừng có diện tích rừng được bảo vệ, cung ứng dịch vụ môi trường rừng với tổng diện tích 38.871 ha.
Theo đó, chủ rừng thuộc lưu vực Nhà máy thủy điện Sông Hinh được chi trả 111.420 đồng/ha/năm; chủ rừng thuộc lưu vực nhà máy thủy điện sông Ba Hạ và Krông HNăng được chi trả 47.450 đồng/ha/năm. (Nhân Dân 20/6) đầu trang(
Theo đơn phản ánh của bà Ngô Thị Thái trú tại xã Hông Kỳ, huyện Sóc Son -Thảnh phố Hà Nội đã nêu rõ: Năm 1985, gia đình bà Thái được UBND xã Hồng Kỳ giao cho quản lý diện tích 10.000m2 đất để trồng cây gây rừng tại Núi Me, khu vực tiếp giáp với xã Nam Son với thời hạn giao đât để sử dụng là 50 năm. Gia đình bà Thái có nhiệm vụ trồng cây gây rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc, chăm sóc và bảo vệ rừng.
Trong 30 năm (từ năm 1985 đến năm 2015), gia đình bà Thái với mấy thế hệ đã sử dụng đất được giao đúng mục đích, cải tạo đất để trồng cây, phủ xanh đất trống đồi trọc, quan tâm chăm sóc và bảo vệ rừng theo đúng nội dung giao đất của Nhà nước.
Trên diện tích đẩt được giao, gia đình bà Thái đã trồng nhiều loại cây: bạch đàn, keo, chè... các loại cây trên diện tích được giao đang phát triển tốt và sắp đến kỳ thu hoạch, đáp ứng đúng mục đích, yêu cầu của Nhà nước về việc phát triển rừng trồng, phủ xanh đất trống đồi trọc và bảo đảm tốt về môi sinh môi trường.
Tuy nhiên, bất ngờ từ ngày 03/10/2010 đến nay, trên diện tích rừng trồng đã được giao của gia đình bà Thái đang quản lý bị ông Bùi Công Tự trú tại xã Nam Sơn tự ý xâm hại, cụ thể trong suốt thời gian qua ông Tự đã cho chặt phá một số cây rừng trồng và đào xúc đất chuyển đi. Khi bị phía gia đình bà Thái ngăn cản, ông Tự đã lớn tiếng tuyên bố rằng: Đất khu vực rừng này là của nhà ông Tự cũng được giao và hiện đã bị Nhà nước thu hồi, ông Tự cũng chỉ tranh thủ tận thu, chặt cây trên cùng khu vực rừng mà cũng trước đó xã Hồng Kỳ đã-giao cho gia đình bà Thái quản lý.
Quá bàng hoàng với sự việc trên, bà Thái đã làm đơn trình báo lên UBND xã Hồng Kỳ, UBND hụyện Sóc Sơn đề nghị được giải quyết và làm rõ vụ việc trên. Cũng phải trải qua rất nhiều thời gian, qua nhiều phiên hòa giải tại UBND huyện Sóc Sơn và UBND xã Hồng Kỳ, vụ việc mới dần hé lộ.
Ngày 22/5/2015, bà Thái mới được UBND xã Hồng Kỳ cấp cho bản sao Quyết định thu hồi đất của UBND Tành phố Hà Nội số: 1477/QĐ-UBND ngày 09/4/2012 do ông Vũ Hồng Khanh - Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội ký về việc: Thu hồi 54.000m2 đất thuộc địa giới hành chính xã Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn; cho Công ty cổ phần vật liệu Phú Đạt thuê để khai thác đât làm vật liệu san nền.
Bà Thái đã rất bức xúc cho biết: Chính sự tắc trách, nhập nhèm của chính quyền địa phương trong việc giao cùng một diện tích đất cho nhiều chủ mới dẫn đến việc tranh chấp, là nguyên nhân chính dẫn tới việc ông Tự xâm hại, chặt cây và hủy hoại đất rừng sản xuất do gia đình bà Thái đang quản lý, bảo vệ và chăm sóc này, gây ra thiệt hại trực tiếp về kinh tế của hộ bà Thái.
Trao đối về vấn đề này, Luật sư Phạm Văn Kỳ - văn phòng Luật sư Long Tâm -Đoàn Luật sư TP Hà Nội có quan điểm: Điều 1 của Quyết định thu hồi đất số: 1477/QĐ-UBND ngày 09/4/2012 của UBND Thành phố Hà Nội đã ghi: “Thu hồi 54.000m2 đất tại xã Hông Kỳ, huyện Sóc Sơn là đât rừng phòng hộ do UBND xã Hồng Kỳ quản lý”.
Mục 1.2. Cho Công ty cổ phần vật liệu Phú Đạt thuê đất tại khoản 1 Điều này lại để khai thác đất làm vật liệu san lấp theo dự án đầu tư. Hình thức sứ dụng đất: Thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm. Thời hạn sử dụng đất: Từ khi UBND thành phố quyết định đến hết ngày 28/11/2013 (ngày hết thời hạn hoạt động của dự án theo Giấy chứng nhận đầu tư).
Căn cứ quyết định thu hồi đất này, Công ty cổ phần vật liệu Phú Đạt và ông Bùi Công Tự đã ngang nhiên vào chặt phá cây cối, là tài sản gắn liên trên đất rừng của gia đình bà Thái, đưa máy và xe ủi vào đào, xúc đát phá hêt rừng của Nhà nước đang giao cho hộ gia đình bà Thái quản lý trong khi bà Thái không hề nhận được quyết định thu hồi đất, không nghe thông báo, không được tham gia kiểm đếm tài sản và không hề nhận được bất cứ khoản bồi thường, hỗ trợ nào của Nhà nước hay của chủ đầu tư khi thu hồi đất trồng rừng của gia đình bà Ngô Thị Thái. Vì vậy đã nảy sinh rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết.
Vấn đề thứ nhất: Căn cứ Luật Đất đai 2003; các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003; Quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Quyết định số 02/2010/QĐ-UBND ngày 18/01/2010 của UBND thành phố Hà Nội; Quyết định số 48/2011 QĐ-UBND ngay 26/12/2011 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quv định ban hành kèm theo quyết định số 02/2010/QĐ-UBND ngày 18/01/2010 của UBND TP Hà Nội để xem xét việc ban hành quyết định thu hồi đất số: 1477/QĐ-UBND ngày 09 42012 do ông Vũ Hồng Khanh - Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ký, thu hồi đất rừng sản xuất của gia đình bà Ngô Thị Thái, giao cho CTCP vật liệu Phú Đạt “thuê” để khai thác đất làm vật liệu san lấp theo dự án đầu tư liệu có đúng theo quy định của pháp luật Đất đai, Luật Khoáng sản và Pháp lệnh bảo vệ rừng hay không?
Vấn đề thứ 2: Đè nghị Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội cho xác minh, làm rõ hành vi triệt phá rừng sản xuất, hủy hoại đất rừng trồng cây của Nhà nước đang giao cho hộ gia đình bà Ngô Thị Thái quản lý, trông cây, chăm sóc và bảo vệ rừng tại xã Hồng Kỳ -huyện Sóc Sơn - thành phố Hà Nội đã bị ông Bùi Công Tự và Công ty cổ phần vật liệu Phú Đạt xâm hại, tàn phá để có biện pháp xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Vấn đề thứ 3: Căn cứ theo Bản đồ hành chính 364 của UBND huyện Sóc Sơn quản lý, xác định lại và phân định rõ ràng diện tích đất rừng của gia đình bà Thái đã được UBND xã Hồng Kỳ giao từ năm 1985, trả lại đầy đủ diện tích 10.000m2 đất rừng (không kể diện tích đất làm nhà ở) để gia đình bà Ngô Thị Thái có điều kiện tiếp tục trồng cây, chăm sóc và phát triên diện tích đât trồng rừng.
Vấn đề thứ 4: Thẩm định, định giá toàn bộ diện tích đất rừng và các loại cây rừng trồng lâu năm là tài sản trên đất của gia đình bà Ngô Thị Thái đã sản xuât, trồng và chăm sóc từ năm 1985 đến nay đã bị ông Bùi Công Tự và Công ty cổ phần Phú Đạt chặt phá, buộc ông Tự và Công ty Phú Đạt phải bồi thường đây đủ cho gia đình bà Thái theo thời giá tại thời điểm thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ về đất bị thu hồi. (Kinh Doanh & Pháp Luật 17/6) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Truyền thông Mỹ ngày 19-6 đưa tin hơn 1 tấn ngà voi bị nghiền nát trước sự chứng kiến của công chúng tại Quảng trường Thời đại, New York (Mỹ).
Việc làm này nhằm nêu bật mối lo ngại buôn bán ngà voi bất hợp pháp cũng như cần cấp bách bảo vệ loài voi.
Tạp chí Time (Mỹ) dẫn nguồn tin Bộ trưởng Nội vụ Mỹ Sally Jewell nói việc nghiền nát ngà voi sẽ truyền một thông điệp đến thế giới: “Chúng tôi không chỉ nghiền nát ngà voi mà sẽ dập tắt vấn nạn buôn bán ngà voi bất hợp pháp trên thị trường chợ đen”.
Hàng trăm các nhà hoạt động môi trường và công chúng vỗ tay khi chứng kiến băng tải chuyền lần lượt 1 tấn ngà voi và các sản phẩm từ ngà voi vào một máy nghiền đá 25 tấn.
Theo AP, sự kiện này được tổ chức bởi Cơ quan quản lý nghề cá và động vật hoang dã Mỹ (USFWS), Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã (WCS) và các sở thú ở New York.
Theo Time, vấn nạn săn trộm ngà voi ngày càng tăng trong những năm gần đây, phần lớn đáp ứng cho nhu cầu sử dụng ngà voi tăng mạnh ở Trung Quốc. Theo số liệu từ WCS, hiện chỉ còn khoảng 500.000 con voi châu phi, số lượng voi châu Phi bị giết lấy ngà khoảng 35.000 con/năm.
Nguồn tin AP cho hay 1 tấn ngà voi trên bị tịch thu từ các cửa hàng của trùm buôn lậu ngà voi Victor Gordon ở Philadelphia.
Victor Gordon đã bị tòa án liên bang Mỹ tuyên án vào tháng 6-2014 với 2,5 năm tù giam và phạt tiền 157.500 USD với tội danh buôn lậu ngà voi vào Mỹ. (Tuổi Trẻ 20/6)đầu trang( ./.
Biên tập: Hương Giang