|
Ngày 22 tháng 09 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Trong lúc anh Võ Huy Toàn, cán bộ Hạt kiểm lâm huyện Mang Yang, Gia Lai, đang ngồi ăn cơm tại chốt Ka Tung, xã H’Ra (chốt do huyện thành lập) thì bất ngờ bị 6 đối tượng đi trên hai chiếc xe máy xông vào hành hung.
Anh Toàn cho biết, vào khoảng 17 giờ ngày 20/9, anh đang ngồi ăn cơm cùng với một số người thì bị 6 đối tượng đi trên hai chiếc xe gắn máy xông vào nhà lấy chén ăn cơm đánh vào đầu anh Toàn khiến anh bị thương.
Trong số 6 đối tượng tấn công cán bộ kiểm lâm huyện Mang Yang, có đối tượng tên Tưởng là người trực tiếp đánh anh, còn hai đối tượng khác có mang theo dao vào nhưng chưa kịp chém. Đồng thời trong lúc đánh anh Toàn đối tượng Tưởng còn hô to “Mày phải biến khỏi H’Ra không tao giết chết”. Sau đó, 6 đối tượng lên xe máy bỏ đi.
Ngay sau khi sự việc xảy ra, anh Toàn đã điện thoại cho cán bộ Hạt kiểm lâm báo cáo tình hình và được đưa đi chụp CT tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai.
Được biết, trước đó trong 3 ngày 18-20/9, lực lượng liên ngành đã tiến hành truy quét, chốt kiểm tra ở đường mà bọn khai thác lâm sản tự mở để ngăn chặn trường hợp khai thác vận chuyển lâm sản trái phép.
Trao đổi với PV, ông Nguyễn Long Sơn, hạt trưởng hạt kiểm lâm Mang Yang cho biết, “Ngay sau khi sự việc xảy ra, tôi đã đưa đồng chí Toàn về Hạt để đảm bảo an toàn. Đồng thời, sáng ngày 21/9, tôi cũng báo cáo sự việc lên lãnh đạo huyện, Công an huyện và Chi cục Kiểm lâm tỉnh. Ngay trong ngày, lãnh đạo huyện Mang Yang đã chỉ đạo Công an huyện tiến hành điều tra để báo cáo ngay". (Công Lý 22/9) đầu trang(
Ngày 21-9, Tổ chức Động vật Châu Á và Trung ương Hội Đông y Việt Nam đã ký thỏa thuận hợp tác chương trình hành động hướng tới chấm dứt việc sử dụng mật gấu trong Đông y vào năm 2020. Chương trình nhằm góp phần bảo tồn loài động vật quý hiếm này, đồng thời duy trì phát triển bền vững các cây thuốc nam của đất nước.
Được biết, năm 2012, khảo sát của Trung ương Hội Đông y và Tổ chức Động vật Châu Á với các thầy thuốc đông y cho thấy, có 17% thầy thuốc thừa nhận có dùng mật gấu, 23% trong số được khảo sát từ chối trả lời câu hỏi này. Năm 2014, số thầy thuốc đông y sử dụng mật gấu đã giảm xuống còn 5%.
Bác sĩ Đặng Văn Dương, Nguyên Giám đốc Trung tâm Giải phẫu bệnh (Bệnh viện Bạch Mai) cho biết, khi thử xét nghiệm mật gấu, nuôi cấy thì nhận thấy tuyệt đại đa số mật gấu được gửi tới đều nhiễm trùng nặng. Nguyên nhân là vi khuẩn đường ruột xâm nhập làm nhiễm mật gấu.
Chính vì vậy, dùng mật gấu không những không có lợi mà còn có hại. Thế nhưng, nhiều người vẫn pha mật vào rượu để uống, mật là chất độc, gan thải độc qua đường mật khiến người uống mật là uống chất độc vào người. Đây cũng là nguyên nhân gây ung thư, ảnh hưởng sức khỏe, đặc biệt hệ miễn dịch. (Đài Truyền Hình Việt Nam 22/9; Hà Nội Mới 22/9) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa giao Bộ Công an làm rõ, xử lý vụ phá rừng tại Cty TNHH MTV lâm nghiệp Gia Nghĩa (Đắk Nông) do Báo Lao Động phản ánh. Nhưng không chỉ có Cty Gia Nghĩa, tình trạng phá rừng đang xảy ra phổ biến ở nhiều Cty lâm nghiệp khác thuộc tỉnh này.
Chỉ trong 5 năm, toàn tỉnh có tới 26.000ha rừng bị phá, 50.000ha đất lâm nghiệp bị bao chiếm trái phép. Các chủ thể để mất rừng là Cty lâm nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, các dự án “công - tư hợp tác” trên đất rừng. Vậy nhưng, việc xử lý trách nhiệm những người để mất rừng vẫn chưa kịp thời, nghiêm khắc, mà ngược lại có phần… quá dè dặt.
Nạn chặt phá, bao chiếm đất rừng tại Cty Gia Nghĩa (Lao Động đã phản ánh trong bài trước) là hết sức nghiêm trọng, có dấu hiệu “tiếp tay” của lực lượng quản lý rừng. Từ việc sáp nhập toàn bộ đất rừng của các lâm trường Quảng Khê, Đắk Ha, Nghĩa Tín với diện tích cả chục nghìn hécta, đến nay Cty Gia Nghĩa chỉ còn lại chưa tới 1.400ha. Do vậy trong phương án sắp xếp, đổi mới các nông-lâm trường quốc doanh vừa trình Chính phủ, Cty Gia Nghĩa phải chuyển thành ban quản lý rừng phòng hộ. Tương tự, Cty TNHH MTV lâm nghiệp Trường Xuân cũng thuộc diện sắp giải thể, do diện tích rừng còn quá ít.
Sau khi sắp xếp lại, năm 2008 Cty Trường Xuân được UBND tỉnh Đắk Nông giao gần 7.000ha rừng, nhưng đến nay hơn 4.500ha đã... biến mất. Toàn bộ diện tích rừng bị chặt phá nay đã thành bạt ngàn caosu, cà phê, đất ở, mua bán lòng vòng để hợp thức hóa, chờ cấp… “sổ đỏ”. Như Cty Gia Nghĩa, lãnh đạo Cty lâm nghiệp Trường Xuân cũng... thả tay cho phá rừng.
Theo kết luận của đoàn thanh tra liên ngành tỉnh Đắk Nông mới đây thì “chưa có diện tích nào bị chặt phá, bao chiếm được Cty lâm nghiệp Trường Xuân thống kê, thu hồi để trồng lại rừng”. Do diện tích rừng tại 14 Cty lâm nghiệp còn lại quá ít, UBND tỉnh Đắk Nông đang trình Chính phủ cho giải thể hoặc chuyển thành ban quản lý rừng, chỉ giữ lại 5 Cty.
Trước thực trạng bất lực của các Cty lâm nghiệp nhà nước, UBND tỉnh Đắk Nông đã thu hồi hơn 31.600ha đất rừng, giao cho các doanh nghiệp (DN) tư nhân thuê. Nhưng theo rà soát mới đây, trong 41 dự án của các DN chỉ có 10 dự án có hiệu quả, còn 22 dự án kém hiệu quả, 9 dự án không hiệu quả, trong khi các DN này đã để gần 5.000ha rừng tự nhiên bị chặt phá. Chỉ mới thống kê tại 17 dự án, Sở NNPTNT Đắk Nông xác định việc mất rừng tại các DN đã gây thiệt hại cho Nhà nước 272 tỉ đồng.
Không chỉ mất rừng, diện tích đất lâm nghiệp giao cho các DN cũng bị bao chiếm tràn lan, với hơn 8.000ha bị chiếm giữ trái phép. Trong đó nhiều dự án bị bao chiếm gần hết như dự án của Cty CP Đầu tư xây dựng 59, Cty CP Đầu tư Xây dựng Kiến Trúc Mới, Cty Long Sơn… Theo Sở TNMT Đắk Nông, việc tranh chấp đất đai giữa người dân và các DN rất phức tạp, khả năng thu hồi để trồng lại rừng là rất khó.
Thống kê cho thấy, trong 5 năm qua (2010-2015), diện tích rừng bị mất trên địa bàn tỉnh lên đến 26.000ha, diện tích đất lâm nghiệp bị xâm canh, bao chiếm hơn 50.000ha. Tuy nhiên, trừ Cty Gia Nghĩa đang chờ kết luận của Thanh tra tỉnh và Cơ quan CSĐT Công an tỉnh, lãnh đạo các đơn vị còn lại chỉ bị xử lý hành chính.
Với 4.500ha rừng tự nhiên biến mất tại Cty lâm nghiệp Trường Xuân, nhưng “xét về mặt khách quan, sai phạm với thời gian dài, liên quan đến cơ chế, chính sách, tình hình chung... nên cần được xem xét miễn truy cứu trách nhiệm hình sự”. Do vậy, mới đây, UBND tỉnh Đắk Nông giao Sở Nội vụ tham mưu kỷ luật ông Trần Quyết Tâm - Chủ tịch kiêm GĐ Cty - và một số cán bộ Cty.
Với hàng chục DN tư nhân để mất rừng, gây thiệt hại cho Nhà nước hàng trăm tỉ đồng, ông Đỗ Ngọc Duyên - Giám đốc Sở NNPTNT - cho biết, phải thành lập một hội đồng tư vấn gồm nhiều ngành chức năng. Nếu do lâm tặc đông quá, dân di cư tự do vào rừng nhiều quá, chủ rừng đã cố gắng nhưng không giữ được thì cần xem xét. Trường hợp nào thiếu trách nhiệm, không triển khai bảo vệ rừng, dẫn đến mất rừng hoặc cố ý phá rừng thì sẽ xử lý hình sự…
Về việc buộc các DN để mất rừng phải bồi thường, ông Ngô Xuân Lộc - Chánh Văn phòng UBND tỉnh - cũng cho biết, tỉnh đang tổ chức họp để xem xét. Nhưng ông Lộc cũng cho hay, từ trước đến giờ chưa có DN nào bồi thường giá trị thiệt hại về rừng. (Lao Động 22/9) đầu trang(
Ngày 21/9, tại trường Tiểu học Tây Sơn - Hà Nội, cơ quan Quản lý CITES Việt Nam phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo thành Phố Hà Nội phát động chương trình “Học sinh Hà Nội chung tay bảo vệ Tê Giác”.
Hưởng ứng ngày Tê giác Thế giới 22/9/2015, lễ phát động “Học sinh Thủ đô chung tay bảo vệ tê giác”, tại trường Tiểu học Tây Sơn, Hà Nội đã có buổi lễ long trọng thu hút gần 3000 học sinh cùng hàng trăm đại biểu, quý thầy cô đến từ các trường tiểu học trên địa bàn Hà Nội tham gia.
Chương trình được sự hỗ trợ của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Giáo dục thành phố Hà Nội, cơ quan Quản lý CITES Việt Nam, Đại sứ quán CH Nam Phi tại Hà Nội, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền CH Nam Phi Bà Kgomotso Ruth Magau…..
Trong buổi lễ hôm nay, các học sinh trường Tiểu học Tây Sơn đã sưu tập những tranh ảnh, thông tin, áp – phích, poster nêu bật thông điệp của chương trình, đó là: Sừng Tê giác không phải là dược liệu quý hiếm, sừng tê giác không khác gì móng tay, móng chân của con người…vì vậy, con người không nên sử dụng, săn bắn Tê Giác khi chúng đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng và biến mất h trong tương lai.
Ông Nguyễn Hiệp Thống, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hà Nội cho biết : “Gần 600.000 học sinh khối tiểu học toàn thành phố sẽ chuyển tải thông điệp bảo vệ Tê giác, bảo vệ động vật hoang dã tới gia đình và khu phố thông qua những hoạt động hết sức ý nghĩa như tham dự cuộc thi vẽ tranh, kể truyện….để cùng chung tay bảo vệ loài động vật này”.
Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp là Hiệp định đa phương nhằm bảo vệ các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp. Công ước được ký năm 1973 và chính thức có hiệu lực vào năm 1975.
Mục tiêu của công ước nhằm đảm bảo rằng hoạt động buôn bán quốc tế không đe dọa sự sống còn của các loài động vật, thực vật hoang dã trong tự nhiên.
CITES sử dụng khung pháp lý chung áp dụng cho toàn bộ 181 quốc gia thành viên nhằm quản lý hoạt động buôn bán trên 35 nghìn loài động vật, thực vật hoang dã.
Chính phủ Việt Nam ký kết tham gia CITES và trở thành thành viên chính thức thứ 121 của Công ước vào năm 1994. Cơ quan quản lý CITES Việt Nam là cơ quan đại diện cho chính phủ Việt Nam thực hiện quyền và nghĩa vụ của nước thành viên đối với CITES, có trụ sở đặt tại Tổng cục Lâm Nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Các cơ quan khoa học CITES Việt Nam có nhiệm vụ tư vấn cho Cơ quan quản lý CITES về tình trạng bảo tồn các loài động, thực vật hoang dã trong tự nhiên, khả năng nuôi trồng nhân tạo nhằm đảm bảo hoạt động buôn bán quốc tế, các loài được bền vững. (Pháp Luật Việt Nam 21/9; Nhân Dân 21/9) đầu trang(
Gần đây giá thu mua quả mây lên tới gần 100.000 đồng/kg nên người dân ở huyện miền núi Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên-Huế đua nhau vào rừng hái loại quả này bán sang Trung Quốc.
Trong 4 tháng trở lại đây, khi mùa quả mây chín rộ thì hàng trăm người dân ở các xã Hương Lộc, Hương Sơn, huyện Nam Đông (Thừa Thiên - Huế) đua nhau vào rừng hái về bán cho các thương lái ở địa phương.
Tại nhà bà Tùng, một thương lái thu gom quả mây ở thôn 2, xã Hương Lộc, cứ mỗi buổi chiều có khá đông người dân đến bán quả mây. Có người chỉ xách đến bán 2-3 kg nhưng cũng có người mang tới bán vài chục kg. Đó là thành quả của một ngày vào rừng tìm kiếm quả mây của những người dân ở huyện Nam Đông bất chấp mưa lớn và các khe suối đầy nước.
Bà Nguyễn Thị H. (trú ở thôn 3, xã Hương Lộc) sau khi bán 25 kg quả mây vừa mới hái từ rừng được trên 2,2 triệu đồng, vui mừng cho biết: “Hôm nay chồng tôi vào rừng gặp chỗ chưa có ai hái nên trúng quả chứ những ngày trước chỉ vài kg là nhiều”.
Ông Hoàng Vinh, một người dân ở thôn 2 xã Hương Lộc thường xuyên vào rừng hái quả mây, cho biết muốn hái được loại quả này thì vào những khu rừng rất sâu, băng qua nhiều con suối, ngọn đồi và nằm ở khu vườn Quốc gia Bạch Mã, huyện Nam Đông. “Chúng tôi thường đến khu rừng gọi là Khe Trường, phải đi hơn 5 giờ đồng hồ mới tới nơi. Lúc trước chưa có ai thu hái nên quả mây khá nhiều, còn giờ thì ít hơn hẳn”, ông Vinh nói.
Quả mây có hình dạng và kích thước giống như quả nhãn, hạt khá cứng, mọc từng chùm trên những bụi mây rất cao, có nhiều gai. Để hái được chúng người dân xã này thường dùng liềm có nối cán dài.
Theo người dân địa phương, hiện nay có khoảng gần 200 người dân thường vào rừng mỗi ngày để hái quả mây mang về bán, trong đó chủ yếu ở xã Hương Lộc. Cả huyện có khoảng 3 thương lái đứng ra thu gom quả mây cho người dân, trong đó bà Tùng là thương lái thuộc dạng lớn nhất nhì huyện.
Bà Tùng cho biết mùa quả mây chín rộ từ tháng 5 đến tháng 10 hằng năm. Từ mùa vụ năm 2014 đến nay bà Tùng đã bắt mối với những lái buôn ở Hà Nội, Lạng Sơn để thu mua quả mây ở huyện Nam Đông.
Theo thương lái này thì mỗi ngày bà thu mua 150-300 kg quả mây vừa hái ra từ rừng, cứ 2-3 ngày bà lại đóng gói gửi xe ra Nghệ An bán cho một thương lái người Hà Nội. “Mỗi lần tôi gửi hàng 300-400 kg. Ông chủ thu mua của đại lý tôi là người Hà Nội, có lò sơ chế quả mây ở Nghệ An. Những quả mây sẽ được máy bóc vỏ, đánh bóng rồi sau đó bán sang Trung Quốc để làm đồ trang sức. Hạt mây rất chắc nên làm chuỗi đeo rất đẹp, tôi từng thấy người ta đeo rồi”, bà Tùng nói.
Bà Tùng cho biết lúc đầu mùa vụ 2015 thương lái từ Bắc vào đây thu mua khá rầm rộ, ngay cả những quả mây non cũng thu mua nên giá khá cao, có khi lên tới 130.000 đồng/kg. Vì vậy có thời điểm những thương lái ở Nam Đông phải vào tới tận cửa rừng chờ chực người dân đi hái về để mua.
“Thời gian đó tôi thu mua rất nhiều nhưng đột nhiên các thương lái nhập hàng cho Trung Quốc ngừng mua quả mây non nên có ngày tôi lỗ vài triệu đồng. Mặt hàng này mua vào bán ra tôi cũng kiếm được chút đỉnh nhưng liên quan đến Trung Quốc nên mình phải dè chừng, không dám mua ồ ạt vì sợ bị hớ”, bà Tùng thổ lộ.
Ông Nguyễn Viết Trai, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Nam Đông, khẳng định quả mây thuộc loại lâm sản phụ, việc khai thác của người dân không gây phá rừng nên không vi phạm các quy định bảo vệ rừng. Tuy nhiên, ông Trai khuyến cáo người dân cũng như các thương lái ở Nam Đông nên cẩn trọng khi buôn bán hàng có liên quan đến người Trung Quốc. “Trước đây ở Nam Đông cũng từng xuất hiện tình trạng mua bán cây mây và hạt sầu đâu rừng (hạt xoan) để bán cho Trung Quốc, nhiều người cũng trả giá do đối tác ngưng thu mua đột ngột dẫn đến thua lỗ”, ông Trai nói.
Trong khi đó, ông Võ Hữu Tuấn, Trưởng phòng Công thương huyện Nam Đông, thừa nhận chưa nắm thông tin về việc thương lái thu mua quả mây để bán sang Trung Quốc diễn ra trên địa bàn huyện. “Chúng tôi đang kiểm tra để có báo cáo gửi Sở Công Thương về việc này. Đồng thời có những khuyến cáo với người dân”, ông Tuấn nói. (Zing News 21/9) đầu trang(
Không những rừng của gia đình bị chặt phá, chiếm dụng trái pháp luật mà khi chính quyền mở đường qua khu đất lại đền bù cho người chiếm đất trái phép…
Theo đơn tố cáo của bà Nguyễn Thị Biên, thường trú tại Cầu Xây, xã Tân Dân, huyện Sóc Sơn, khu đất rừng thuộc lô 36 – Khoảnh IV tại xã Ngọc Thanh được UBND huyện Mê Linh giao gia đình bà sử dụng và khai thác từ năm 1995. Gia đình bà là những người đầu tiên khai hoang và mang cây giống đến ươm, cung cấp cho cả cánh rừng của xã.
“Đây là dự án trồng rừng PAM của Xí nghiệp Nông lâm nghiệp (XN) Mê Linh. Sau khi ươm cây trồng rừng xong, sau 3 năm gia đình tôi được chính quyền giao khu đất này để khai thác, sử dụng. Từ đó đến nay, nhà tôi trông coi bảo vệ liên tục”, bà Biên cho biết.
Năm 1998 bà Biên làm tờ trình dự án xin chuyển đổi khu đất S6 phục vụ cho việc trồng cây ăn quả, theo tinh thần của Đảng, Nhà nước vận động chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng thu nhập cho người dân. Tuy nhiên khi cho máy móc, nhân công vào làm thì ông Tạ Văn Tuấn (công nhân của XN Mê Linh ) cản trở. Bà Biên đã gửi đơn lên xã rồi lên huyện tố cáo ông Tuấn chiếm đoạt trái phép đất của bà. Tính đến nay đã thay 6 đời chủ tịch xã mà dự án này chưa được giải quyết.
Sự việc càng nóng và phức tạp hơn khi XN Mê Linh giải thể (năm 2003). XN tổ chức họp bàn phân chia vật liệu của nông trường cho công nhân. Được sự đồng ý của bà Biên, Hội đồng giải thể của XN quyết định: Bán vật liệu thanh lý nhà trung tâm Đội 2 Lập Đinh và chuồng bò Lập Đinh số 1 của XN cho ông Tuấn và ông Tuấn phải dỡ bỏ nhà trung tâm đội 2 để trả lại mặt bằng cho bà Biên.
“Nhưng ông Tuấn không những không thu dọn đồ đạc, trả lại đất mà còn chặt cây cũ, trồng cây mới trên mảnh đất nhà tôi. Vừa mới đây ngày 2/8/2015, ông Tuấn tổ chức khai thác trái phép 2ha rừng với 1.925 cây bạch đàn gần 30 năm tuổi, ước tính 220 triệu đồng của nhà tôi. Tôi lên Ủy ban xã đề nghị có phương án giải quyết nhưng Ủy ban không thực hiện”, bà Biên bức xúc.
Cây rừng trên mảnh đất nhà mình bị chặt, bà Biên đến báo Hạt Kiểm lâm quản lý khu vực rừng xã Ngọc Thanh về tình trạng chặt phá rừng nhưng phải gần chục ngày sau đơn vị này mới cho người lập biên bản kiểm đếm, đào xới, cắt gốc cây. Hiện bà Biên không nắm được số gỗ mà họ khai thác được vận chuyển đi đâu và làm gì(?).
Năm 2009 tỉnh Vĩnh phúc có chủ trương xây dựng hồ tích trữ nước thủy lợi phục vụ tưới tiêu. Một phần đất Lô S6 của nhà bà Biên nằm trong diện tích quy hoạch của dự án. Nhưng lạ lùng thay, Ban giải phóng mặt bằng không đền bù cho chủ đất mà lại lên kế hoạch đền bù cho người chiếm giữ trái phép.
“Khi biết Nhà nước có chủ trương làm hồ Lập Đinh, lô đất nhà tôi có một phần trong dự án. Tôi lên UBND xã hỏi thì được biết Ban giải phóng mặt bằng đã kê khai đền bù cho nhà ông Tuấn chứ không phải nhà tôi. Mặc dù chủ sử dụng, người được pháp luật công nhận là tôi, còn ông Tuấn chỉ là người chiếm dụng trái phép. Đến giờ, tiền đền bù nhà tôi không được nhận, đất thì bị chiếm giữ, sử dụng trái pháp luật, mặc dù tôi làm đơn nhiều lần đến các cấp chính quyền nhưng cứ như “đá ném ao bèo”, bà Biên cho biết.
“Chưa hết, khoảng hơn 1 tháng trước khi tôi đi trông cháu ở Hà Nội về, thấy con đường hơn 100m chạy qua phần đất của nhà mình. Tôi phản ánh lên chính quyền xã thì nơi đây bảo là do chủ trương của thôn và thôn cho người làm, xã không nắm rõ. Tôi thấy quá kỳ cục. Đất của tôi, thôn tự ý mở đường mà không thông báo và được sự chấp thuận của tôi. Đây là sự xâm phạm khá rõ ràng! Không hiểu nơi này còn luật pháp nữa không!”- bà Biên bức xúc.
Bà Biên dò hỏi ai cho phép mở con đường xuyên qua đất nhà bà thì nhận được câu trả lời là xã chỉ đạo, thôn phụ trách. Thôn vận động bà con xung quanh và được ông Vượng, ông Quý đồng ý cho thôn, xã mượn hết năm. Nhưng thôn không mở đường trên đất của 2 nhà đó mà tự ý mở đường trên đất của bà Biên. (Pháp Luật Việt Nam 21/9) đầu trang(
Huyện M’Đrắk đang nỗ lực triển khai nhiều biện pháp thu hồi hàng nghìn héc-ta rừng và đất lâm nghiệp bị người dân lấn chiếm canh tác trái phép để phục hồi lại rừng…
Trên địa bàn huyện hiện có 5 đơn vị và 213 hộ dân được Nhà nước giao đất, giao rừng, cho thuê đất trồng rừng và quản lý bảo vệ rừng gồm: Ban quản lý rừng phòng hộ Núi Vọng Phu 36.690,8 ha; Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp M’Đrắk 25.665,2 ha; Xí nghiệp nguyên liệu giấy Tân Mai 1.952,4 ha; Công ty TNHH Tam Phát 420,6 ha; Công ty Cà phê Trung Nguyên 598,2 ha giao khoán cho cộng đồng thôn, buôn ( 213 hộ thuộc 3 xã Cư San, Cư Prao và Ea Lai) 3.838 ha.
Trong những năm qua, các chủ rừng đã có nhiều nỗ lực trong công tác quản lý bảo vệ diện tích rừng được giao, nhưng do địa bàn rộng, cuộc sống kinh tế các hộ dân giáp ranh với rừng còn nhiều khó khăn, thiếu đất sản xuất…nên tình trạng khai thác, lấn chiếm đất rừng làm rẫy của người dân vẫn diễn ra khá phức tạp. Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm huyện, toàn huyện có khoảng 1.247ha rừng, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trái pháp luật, trong đó, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp M’Đrắk bị phá 200 ha rừng, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm 127ha; Ban quản lý rừng phòng hộ Núi Vọng Phu có 95,4ha rừng bị phá…
Trước tình hình đó, từ năm 2012, địa phương đã cho rà soát, thống kê và cưỡng chế thu hồi lại diện tích rừng bị chặt phá, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trái pháp luật để phục hồi lại rừng theo tinh thần Chỉ thị 1685/CT-TTg ngày 27-9-2011 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị 03/CT-UBND ngày 16-3-2012 của UBND tỉnh về việc tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, xử lý vi phạm về phá rừng… nhưng kết quả mang lại vẫn chưa cao.
Ông Lê Văn Ba, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm M’Đrắk chia sẻ: Do năng lực quản lý bảo vệ rừng của một số chủ rừng còn hạn chế nên nhiều diện tích rừng, đất rừng sau khi đoàn liên ngành tiến hành cưỡng chế, xử lý thu hồi xong giao lại cho họ quản lý, trồng lại rừng nhưng chỉ một thời gian sau tiếp tục bị người dân lấn chiếm trở lại.
Để chấn chỉnh tình trạng trên, mới đây UBND huyện M’Đrắk đã xây dựng phương án xử lý, giải tỏa, thu hồi rừng và đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trái phép trên cơ sở yêu cầu lực lượng chức năng và chủ rừng đẩy mạnh tuyên truyền bằng nhiều hình thức để cho người dân biết rõ việc phá rừng, lấn chiếm đất rừng là vi phạm pháp luật.
Đối với những diện tích rừng bị phá trái pháp luật thì tiến hành rà soát, thống kê để xác định đối tượng, hành vi vi phạm làm căn cứ lập hồ sơ xử lý, trường hợp vi phạm không xác định được đối tượng thì lập biên bản thông báo tìm đối tượng, nếu quá thời hạn mà không tìm được thì sẽ ra quyết định thu hồi; đối với đất lâm nghiệp không có rừng thì tiến hành xử lý theo Luật đất đai.
Chủ rừng có trách nhiệm thông báo đến các đối tượng vi phạm phải tự tháo dỡ lán trại, nhà tạm, thu hoạch hoa màu … trả lại đất cho mình. Những trường hợp chây ì, trốn tránh thì kiên quyết cưỡng chế theo Nghị định 166/2013/NĐ-CP ngày 12-11-2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hành chính. Những diện tích sau khi giải tỏa thu hồi được giao lại cho các chủ rừng và địa phương quản lý; chủ rừng phải xây dựng phương án trồng rừng trên diện tích thu hồi, báo cáo Sở NN-PTNT phê duyệt phương án, giải pháp về cây giống, kỹ thuật, kinh phí trồng rừng; tổ chức lực lượng tuần tra thường xuyên nhằm tránh tình trạng tái lấn chiếm…
Đi đôi với các mặt công tác trên, địa phương cũng đề ra phương án lâu dài như chuẩn bị khu vực tạm thời để di dời đến đó các hộ dân chưa có đất nhà ở, đất ở đồng thời có báo cáo với UBND tỉnh quy hoạch, lập dự án bố trí ổn định dân cư phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của địa phương; tiến hành rà soát, thống kê các đối tượng là người dân tộc thiểu số là hộ nghèo, hộ ở xã, thôn, buôn khó khăn để đưa vào Đề án thực hiện Quyết định 755/QĐ-TTg ngày 20-5-2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho các hộ thuộc diện trên. (Sở NN-PTNT Tỉnh Đắk Lắk 18/9) đầu trang(
Lâm Đồng: Thôn KaLa TơngGu quản lý rừng dựa vào cộng đồng hiệu quả
Biến đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu, không riêng của một quốc gia nào; mà nguyên nhân gây lên hiện tượng biến đổi khí hậu là sự gia tăng của khí nhà kính. Sự mất rừng và suy thoái rừng trên thế giới đóng góp khoảng 20% sự gia tăng khí nhà kính; chính vì vậy sáng kiến REDD+ đã ra đời nhằm giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững và tăng cường lưu giữ carbon của rừng.
Việt Nam là một nước ở vùng nhiệt đới gió mùa, lượng mưa hàng năm lớn, đất đồi núi dốc chiếm khoảng ¾ diện tích, bờ biển dài dọc theo đất nước và là một trong 10 quốc gia sẽ chịu ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu.
Từ năm 2010 đến nay, cộng đồng thôn KaLa TơngGu xã Bảo Thuận, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã được chọn là mô hình giao rừng cho cộng đồng để làm thí điểm sẵn sàng thực thi REDD+ trong giai đoạn I và II của REDD+, lồng ghép từ các chương trình UN-REDD pha I, dự án RECOFTC pha II và nguồn kinh phí từ mô hình khuyến nông năm 2013-2015; Trung tâm Khuyến nông Lâm Đồng đã phối hợp triển khai thực hiện tập huấn nâng cao năng lực, nhận thức cho cộng đồng thôn KaLa TơngGu. Đến nay, có những kết quả, đánh giá minh họa bước đầu như sau:
Xã Bảo Thuận có tổng diện tích tự nhiên 23.141,2 ha; trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 1.941 ha (diện tích cà phê khoảng 1.111 ha và lúa nước 381 ha, bắp 17,3 ha …), trâu 472 con, heo 309 con…, có 20.090 ha đất lâm nghiệp (chiếm 87% tổng diện tích tự nhiên của xã). Nguồn thu nhập chính của người dân trong xã chủ yếu là từ cà phê và lúa nước. Đồng bào dân tộc thiểu số trong xã là dân tộc K‘Ho chiếm đa số (trên 90%) nên trình độ canh tác cây trồng, vật nuôi của người dân còn hạn chế.
Toàn xã có 291 hộ nhận khoán bảo vệ rừng với diện tích giao khoán là 8.954,9 ha; thôn KaLa TơngGu có khoảng hơn 30 hộ nhận khoán bảo vệ rừng; bình quân mỗi hộ nhận khoán 25ha rừng để bảo vệ; kinh phí chi trả tiền khoán bảo vệ rừng từ nguồn dịch vụ môi trường rừng (350.000 - 400.000 đồng/ha/năm) và ngân sách tỉnh. Mặc dù chính quyền địa phương đã rất nỗ lực tuyên truyền giáo dục pháp luật về rừng cho người dân, tổ chức tuần tra kiểm tra, xử lý nghiêm các vụ vi phạm;nhưng tình hình phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép, cháy rừng vẫn còn xảy ra khiến tình trạng mất rừng suy thoái rừng vẫn còn tiếp diễn.
Từ năm 2011, có 196 hộ (đến nay là 201 hộ) trong thôn KaLa TơngGu được UBND huyện Di Linh giao rừng thí điểm với diện tích là 500ha rừng tự nhiên để cộng đồng thôn quản lý bảo vệ rừng theo hướng tiếp cận REDD.
Được sự hỗ trợ của Chương trình UN-REDD, dự án RECOFTC và của Trung tâm Khuyến nông tỉnh đã triển khai các họat động là: Nâng cao năng lực, nhận thức cho một bộ phận cán bộ và nhân dân trong thôn, xã về việc bảo vệ rừng và cơ hội có thêm lợi ích từ việc tham gia chương trình REDD+; đào tạo đội ngũ tuyên truyền viên cấp thôn, buôn nhằm củng cố thêm nhận thức của người dân; phân biệt giữa chia sẻ lợi ích giữa PFES và REDD+; tổ chức hội thảo tập huấn nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư về: Rừng và Biến đổi khí hậu, REDD+, FPIC, các rủi ro và biện pháp an toàn khi tham gia REDD+, giới và lồng ghép giới; tổ chức tham vấn cộng đồng xác định các mối quan tâm của cộng đồng và đề xuất các hướng giải quyết khi REDD+ triển khai thực hiện tại địa phương.
Tổ chức các lớp chuyển giao tiến bộ kỹ thuật như: Kỹ thuật trồng rừng, làm giàu rừng; đo đếm trữ lượng rừng; kỹ thuật trồng cây dây hương, cây mây, nông lâm kết hợp, phòng cháy chữa cháy rừng; kỹ thuật trồng nấm rơm…Đây là những bước ban đầu quan trọng nhằm chuẩn bị cho chính quyền địa phương cũng như cộng đồng dân cư của xã sẵn sàng tham gia khi REDD+ triển khai tại Việt Nam nói chung, tại Lâm Đồng nói riêng; là mô hình thí điểm triển khai REDD+ để nhân rộng trong cả nước.
Ngoài ra, các dự án còn giúp thành lập Ban quản lý rừng cộng đồng gồm Trưởng ban, phó ban, thư ký kiêm kế toán và các thành viên là các tổ trưởng Bảo vệ rừng; xây dựng quy ước bảo vệ rừng và kế họach bảo vệ, phát triển rừng cho cộng đồng thôn. Cộng đồng thôn tổ chức phân chia thành 4 tổ, mỗi tổ gồm 10 nhóm (4-5 người/1 nhóm), hàng ngày các nhóm luân phiên đi tuần tra bảo vệ rừng theo kế hoạch và phân công của tổ trưởng.
Qua hơn ba năm hoạt động, tình hình bảo vệ rừng được cải thiện đáng kể, tình hình chặt phá rừng trái phép không xảy ra, việc phát hiện cháy rừng và chữa cháy rừng kịp thời. Nhìn chung, người dân, cộng đồng dân cư đã thay đổi nhận thức của mình, hiểu rõ vai trò của rừng đối với môi trường và cuộc sống của họ, đặc biệt là trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu hiện nay. Họ cũng thấy được diện tích rừng được giao là một nguồn tài nguyên lớn nhiều tiềm năng cần được lợi dụng, sử dụng có hiệu quả để tăng thu nhập cho nông hộ.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức gặp phải như: Trình độ của một số bà con nông dân còn hạn chế nên khả năng tiếp nhận thông tin còn thấp; thiếu vốn đầu tư, chưa có hoạt động tác động vào rừng, lợi dụng tài nguyên rừng để nâng cao hiệu quả kinh tế từ rừng được giao.
Ngoài công tác tập huấn nâng cao nhận thức, năng lực cho bà con; để cải thiện sinh kế cho bà con, nâng cao thu nhập giảm áp lực tác động vào rừng đã có những hoạt động hỗ trợ sinh kế:
Năm 2014, Trung tâm Khuyến nông Lâm Đồng đã xây dựng mô hình trồng cây mây 1ha, cây dây hương (bò khai) 0,15ha dưới tán rừng trong diện tích rừng được giao. Đến nay, cây mây có tỷ lệ sống 85%, cây sinh trưởng phát triển tốt, cây cao trung bình 40cm. Cây dây hương trồng ở vườn nhà thì đã cho thu hoạch rau ăn. Mô hình trồng nấm rơm với 25 tấn nguyên liệu/25 hộ đã tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp là rơm tại điạ phương, trồng nấm chỉ trong thời gian 1 tháng đã cho thu hoạch, sản phẩm nấm vừa có nguồn thực phẩm phục vụ nhu cầu gia đình vừa có nguồn thu nhập từ bán nấm.
Ngoài ra, Trung tâm Khuyến nông Lâm Đồng đã hỗ trợ mô hình trồng cây Macca xen vườn cà phê cho đồng bào dân tộc thiểu số ở xã Bảo Thuận – Di Linh với quy mô 5 ha/9 hộ. Đến nay, cây Macca sinh trưởng phát triển tốt, cây cao trung bình 135cm; góp phần canh tác cà phê bền vững, đa dạng hóa sản phẩm, giảm rủi ro về thị trường, tăng độ che phủ, giảm xói mòn đất; qua mô hình nhằm giới thiệu cho người dân giống cây lâm nghiệp mới đa tác dụng có giá trị kinh tế.
Chương trình UN-REDD tỉnh Lâm Đồng Pha II (năm 2015) đã hỗ trợ cộng đồng xây dựng kế hoạch phát triển sinh kế cộng đồng, thành lập quỹ phát triển sinh kế thôn với nguồn vốn ban đầu đã cho 21 hộ vay, bình quân 10 triệu/hộ/năm, hỗ trợtrang bị áo mưa, quần áo bảo hộ cho các tổ tuần tra bảo vệ rừng; cung cấp các giống cây lâm nghiệp sao, dầu, trồng cây phân tán trên diện tích vườn cà phê của dân và phân tán dọc đường trong thôn nhằm tăng độ che phủ cây rừng tại địa phương.
Một số bài học kinh nghiệm:
+ Cần có sự liên kết chặt chẽ hơn nữa giữa các đơn vị, chương trình khi triển khai các hoạt động hỗ trợ cho cộng đồng dân cư thôn KaLa TơngGu.
+ Nên triển khai mô hình có sản phẩm thu hoạch trong thời gian ngắn (nấm rơm, lâm sản ngoài gỗ...) nhằm giải quyết những nhu cầu trước mắt (cây lâm nghiệp cho sản phẩm thu hoạch cần có thời gian tương đối dài).
+ Công tác tập huấn tuyên truyền chỉ có một số bà con tham gia, không thể phổ biến cho tất cả các bà con trong thôn cũng như các thôn bên cạnh, cần có thêm phương pháp khác song hành nhằm thu hút bà con tham gia (phim, kịch...).
- Các hoạt động tuyên truyền về bảo vệ phát triển rừng, hỗ trợ sản xuất, cải thiện đời sống cho cộng đồng dân cư sống gần rừng cần phù hợp, đáp ứng nhu cầu của người dân nhằm giảm thiểu các nguy cơ mất rừng và suy thoái rừng do các nguyên nhân gián tiếp như: Thiếu đất canh tác, đời sống khó khăn phụ thuộc một phần vào rừng (do năng suất cây trồng còn thấp do thiếu kỹ thuật và thiếu vốn sản xuất).
Đề xuất:
+ Tiếp tục đánh giá nhu cầu của cộng đồng để có những mô hình phù hợp.
+ Hỗ trợ vốn, kỹ thuật để xây dựng mô hình cải thiện sinh kế cho bà con cũng như phát huy những tiềm năng từ diện tích rừng được giao.
+ Có phương pháp tuyên truyền phù hợp để thu hút cộng đồng dân cư tham gia
Như vậy, lâm nghiệp cộng đồng (quản lý rừng dựa vào cộng đồng) đã được thực hiện ở Việt Nam theo nhiều phương thức khác nhau nhằm mục đích là bảo vệ rừng và cải thiện sinh kế, nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân cư sống gần rừng; và khi REDD+ được triển khai thì lâm nghiệp cộng đồng sẽ thực hiện theo cơ chế REDD+. Hoạt động của lâm nghiệp cộng đồng bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan, góp phần bảo vệ rừng, nâng cao thu nhập cho người dân được giao rừng và nhận khoán bảo vệ rừng.
Thực tế mô hình tại thôn KaLa TơngGu đã chứng minh phần nào, công tác bảo vệ phát triển rừng cần có sự tham gia của tất cả người dân và các ban ngành liên quan. Giữa REDD+ và lâm nghiệp cộng đồng đều có cùng mục tiêu là làm sao bảo vệ được diện tích rừng, nâng cao chất lượng rừng; nâng cao thu nhập cho người dân, cộng đồng dân cư sống gần rừng. Chính vì vậy,lâm nghiệp cộng đồng được triển khai tốt sẽ là tiền đề, cơ sở để việc triển khai REDD+ được thuận lợi và REDD+ sẽ là động lực thu hút người dân tham gia bảo vệ rừng tốt hơn; khi REDD+ được triển khai cũng là cơ hội tốt cho người dân sống gần rừng được tiếp cận với nguồn tài chính từ ngoài nước để bù đắp cho công tác giữ, bảo vệ rừng của họ.
Tuy nhiên, khi triển khai REDD+ và lâm nghiệp cộng đồng cũng có những thách thức rủi ro của nó; vì vậy đòi hỏi chúng ta cần phải bám sát thực tế hiểu tâm tư nguyện vọng nhu cầu của người dân, cộng đồng; tăng cường kiểm tra giám sát tránh tình trạng mất rừng như ở một số địa phương khác, đảm bảo sự công bằng công khai minh bạch khi chia sẻ lợi ích nhằm tạo sự ổn định đoàn kết cho đời sống cộng đồng.
Chúng tôi kết thúc bài viết này bằng lời của Ông K’Brềs là già làng của thôn: “Từ ngày người dân trong thôn tham gia các hoạt động tập huấn do Trung tâm Khuyến nông Lâm Đồng và Dự án UN-REDD tổ chức thì nhận thức của bà con đã được thay đổi và nâng cao rõ rệt; bà con hiểu được các lợi ích của rừng mang đến cho bà con là: Rừng góp phần bảo vệ môi trường sống, rừng giữ nguồn nước, giảm bớt hạn hán; tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng đã giảm, những lợi ích từ dịch vụ môi trường rừng mang đến cho bà con là rất lớn…; bà con trong thôn không còn đi khai thác rừng, lấn chiếm đất rừng, thường xuyên đi tuần tra bảo vệ rừng theo kế hoạch. Bà con nhận thấy trách nhiệm của mình trong công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng vào mùa khô đối với diện tích được giao, cũng như diện tích rừng được giao khoán bảo vệ của công ty TNHH MTV lâm nghiệp Bảo Thuận”. (Trung Tâm Khuyến Nông Lâm Đồng 18/) đầu trang(
Sáng 18/9, tại thành phố Lào Cai, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lào Cai phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh: Lai Châu, Yên Bái và Hà Giang tổ chức Hội nghị đánh giá kết quả 1 năm thực hiện Quy chế phối hợp trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản và PCCCR vùng giáp ranh.
Dự hội nghị có đồng chí Lê Ngọc Hưng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý, bảo vệ rừng và PCCCR tỉnh Lào Cai; lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lào Cai, đại diện một số sở, ban, ngành của tỉnh và các đơn vị liên quan của các tỉnh Lai Châu, Yên Bái và Hà Giang.
Thực hiện Quy chế phối hợp trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản và PCCCR vùng giáp ranh đã ký giữa các tỉnh: Lào Cai, Lai Châu, Yên Bái và Hà Giang, trong 1 năm qua, công tác đấu tranh, ngăn ngừa và xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ rừng, đất lâm nghiệp vùng giáp ranh đã đem lại kết quả tích cực. Các đơn vị liên quan của các tỉnh đã triển khai nghiêm túc những nội dung đã ký kết.
Kết quả từ tháng 7/2014 đến nay, chi cục kiểm lâm các tỉnh đã tổ chức được 355 buổi tuyên truyền về công tác bảo vệ, phát triển rừng, PCCCR với 17.902 lượt người tham gia, tăng 85 buổi và 4.215 lượt người so với trước khi ký Quy chế phối hợp; tổ chức cho 6.247 hộ gia đình sống trong rừng, ven rừng tại 98 thôn, bản ký cam kết bảo vệ rừng, PCCCR...
Trong 1 năm qua, khu vực giáp ranh chỉ xảy ra 3 vụ cháy rừng, giảm 6 vụ so với cùng kỳ. Số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng giảm, trong năm qua, lực lượng kiểm lâm 4 tỉnh đã phối hợp xử lý 133 vụ, giảm 66 vụ so với cùng kỳ.
Thời gian tới, 4 tỉnh tăng cường phối hợp trong chỉ đạo, nâng cao trách nhiệm của các chủ rừng vùng giáp ranh, như xây dựng phương án, kế hoạch bảo vệ rừng; bố trí trạm, chốt hợp lý và thường xuyên phối hợp tuần tra tại các cửa ngõ ra vào để kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Lê Ngọc Hưng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai ghi nhận và đánh giá cao việc thực Quy chế phối hợp trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản và PCCCR vùng giáp ranh giữa tỉnh Lào Cai với các tỉnh Yên Bái, Lai Châu và Hà Giang thời gian qua. Công tác phối hợp đã góp phần bảo vệ diện tích rừng tự nhiên, nâng cao chất lượng và độ che phủ rừng, sử dụng hợp lý, bền vững tài nguyên thiên nhiên, thực hiện xóa đói, giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới ở các địa phương.
Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai mong rằng, trong thời gian tới, các tỉnh cần đề xuất và đầu tư các dự án, mô hình phát triển sinh kế cho cộng đồng gắn với bảo vệ và phát triển rừng bền vững, nhằm góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số vùng giáp ranh. Các tỉnh cần có kế hoạch hành động thực hiện Quy chế phối hợp đạt hiệu quả cao nhất. (Báo Lào Cai 18/9) đầu trang(
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, mùa mưa 2015, cơ quan này phối hợp với các địa phương trong tỉnh tiến hành trồng hơn 764 nghìn cây phân tán để tăng mức độ che phủ.
Trong đó, tỉnh hỗ trợ khoảng 258 nghìn cây giống các loại, số cây giống còn lại các địa phương tự chủ động. Giống cây phân tán được trồng nhiều trên địa bàn tỉnh trong mùa mưa năm 2015 là keo lai chiếm 88% và 12% là các loại cây gỗ lớn. Nhằm duy trì được tỷ lệ che phủ rừng đạt trên 29,7% đến năm 2015 và 30% đến năm 2020, tỉnh Đồng Nai đã lập quy hoạch bảo vệ diện tích rừng tự nhiên hiện có.
Việc đầu tư duy trì phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Trị An - sông Đồng Nai cũng được thực hiện đã góp phần đáp ứng nhu cầu về lâm sản và phát triển kinh tế. Lực lượng kiểm lâm thường xuyên tuần tra, kiểm tra và phối hợp với các cơ quan như: Công an, Quân đội, Quản lý thị trường …tổ chức truy quét các bến bãi ven lòng hồ, tụ điểm mua bán, tàng trữ lâm sản trái phép, đẩy mạnh công tác phòng cháy chữa cháy rừng.
Do vậy, 10 năm gần đây, toàn tỉnh không để xảy ra vụ cháy rừng lớn dù vào mùa khô rừng luôn ở mức cảnh báo cháy cấp V - cấp cực kỳ nguy hiểm. Đồng Nai hiện có gần 178 nghìn ha rừng; trong đó, gần 120 nghìn ha rừng tự nhiên và gần 58 nghìn ha rừng trồng. Thống kê cho thấy, ngoài diện diện tích rừng đặc dụng, tài nguyên động thực vật rừng của rừng Đồng Nai khá đa dạng và phong phú với 1401 loài thực vật; động vật rừng có 1.781 loài.
Tỉnh Cà Mau đã tổ chức sắp xếp lại các lâm trường quốc doanh, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai ở các lâm trường. Thời điểm năm 2004, toàn tỉnh có 24 lâm ngư trường nay còn lại 15 đơn vị, gồm có 7 Ban quản lý rừng phòng hộ, 2 Công ty TNHH Một thành viên lâm nghiệp, 2 Vườn quốc gia, 2 Hạt Kiểm lâm quản lý rừng, 1 Trung tâm Giống nông nghiệp và 1 Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệp lâm nghiệp thuộc Viện Khoa học lâm nghiệp- Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
Trong 10 năm qua, diện tích các lâm trường quốc doanh ở Cà Mau từ hơn 163.965 ha nay giảm xuống còn 132.749 ha, do trong quá trình sắp xếp, chuyển đổi đã giao cho các hộ gia đình quản lý theo Nghị định số 181 của Chính phủ là 21.681 ha, giao cho lực lượng vũ trang quản lý hơn 3.158 ha, giao các doanh nghiệp ngoài quốc doanh quản lý 3.467 ha và chuyển đổi mục đích sử dụng hơn 2.909 ha.
Kể từ khi tỉnh Cà Mau thực hiện sắp xếp, chuyển đổi các lâm trường quốc doanh hoạt động sản xuất lâm nghiệp đi vào chiều sâu, diện tích phát triển rừng mới hàng năm đạt hiệu quả, công tác quản lý bảo vệ rừng dần đi vào ổn định. Đối với đất rừng ngập mặn, các hộ dân thực hiện giải pháp san bờ lấp kênh để trồng lại rừng đước, diện tích trồng rừng tập trung hơn, tạo ra các băng rừng lớn. Mô hình nuôi tôm sinh thái, ốc len kết hợp với quản lý bảo vệ và phát triển rừng đạt hiệu quả cao.
Riêng đối với khu vực U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau chủ trương trồng thí điểm rừng keo lai bước đầu tạo ra năng suất, sản lượng cao, rút ngắn một nửa thời gian khai thác so với trồng tràm truyền thống nên đã khuyến khích các nhà đầu tư và hộ dân tham gia trồng rừng thâm canh cũng như đầu tư nhà máy chế biến gỗ, đáp ứng nhu cầu thị trường.
Ngoài ra, hệ sinh thái rừng ở Cà Mau đã được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới; trong đó Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau, Vườn Quốc gia U Minh Hạ và dải rừng phòng hộ biển Tây là vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển. Đồng thời Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau đã được Tổ chức Môi trường thế giới công nhận là Khu bảo tồn đất ngập nước thứ 5 của Việt Nam và thứ 2088 của thế giới theo Công ước Ramsar. (Quỹ Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng Việt Nam 18/9) đầu trang(
Rừng ngập mặn (RNM) đóng vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống, sản xuất của người dân huyện Đầm Hà. Hệ thống RNM được ví như “tường rào” bảo vệ ngăn nước biển dâng, là “ngôi nhà” để hệ sinh thái tự nhiên phát triển bền vững.
Đồng thời tạo môi trường sạch để người dân Đầm Hà phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản. Xác định tầm quan trọng của RNM, những năm qua, huyện Đầm Hà đã nỗ lực trong việc bảo vệ và phát triển RNM trên địa bàn.
Cuối tháng 8/2015, trên địa bàn huyện Đầm Hà xuất hiện loại sâu hại lá cây mắm có tên khoa học là Hyblaea puera. Ghi nhận của chúng tôi tại xã Tân Bình – một trong những nơi bị sâu hại nặng, cho thấy những khoảnh RNM ở đây bị bao phủ một màu xám xịt bởi lá cây bị sâu ăn trụi.
Theo thông tin từ Phòng NN&PTNT huyện Đầm Hà, tính đến ngày 7/9/2015, toàn huyện đã có 160ha cây mắm bị sâu hại lá, trong đó có khoảng 80ha bị nhiễm nặng tập trung tại khoảnh 7, khoảnh 10 tiểu khu 335 thuộc quy hoạch rừng phòng hộ tại thôn Tân Việt, Tân Lương (xã Tân Bình); khoảnh 2, 3 tiểu khu 334c thôn Xóm Giáo (xã Đầm Hà). Mật độ sâu hại lá phổ biến từ 200-300 con/m2, cá biệt có những diện tích lên tới 1000 con/m2.
Ông Đinh Văn Mân, thôn Tân Việt, xã Tân Bình cho biết: “Rừng mắm gắn bó với đời sống bà con chúng tôi bao nhiêu năm nay. Không những giúp bảo vệ môi trường trong lành, bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà quả mắm còn được dùng làm thực phẩm. Ngày trước khó khăn, người dân ở đây còn lấy quả mắm ăn trừ bữa. Cây mắm ở khu vực này mọc tự nhiên và rất khỏe, phát triển nhanh nhưng tự nhiên năm nay lại phát sinh ra loại dịch sâu ăn lá mắm khủng khiếp như vậy. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi thấy, cứ sâu đi đến đâu thì gần như cây mắm trụi lá đến đó”.
Trước thực trạng trên, huyện Đầm Hà đã lấy mẫu sâu hại để gửi kiểm định; báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Sở NN&PTNT, Chi cục Bảo vệ thực vật, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh và thành lập Tổ công tác phòng dịch, kế hoạch phòng dịch.
Ông Phạm Văn Đọ, Phó Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Đầm Hà, cho biết: “Từ 29/8/2015 đến ngày 4/9/2015, huyện đã chỉ đạo tổ công tác liên ngành phối hợp với UBND các xã Tân Bình, Đầm Hà huy động trên 120 người cùng các phương tiện, vật tư để trừ sâu hại bằng biện pháp thủ công như: tỉa cành, lá có sâu, nhộng, dùng sào tre để đập cho sâu rơi xuống nước rồi vớt vào bao dứa, đào hố dùng xăng, dầu để tiêu hủy. Trong vòng 1 tuần, lực lượng chức năng của huyện đã tập trung dập dịch sâu hại tại vùng có mật độ nhiễm nặng, tiêu hủy trên 1 tấn cành, lá có chứa sâu, ổ trứng, kén sâu và khoanh vùng giữa các khoảnh giáp ranh để hạn chế lây lan, phát sinh”.
Ông Đọ cũng cho biết, quá trình tập trung diệt sâu hại cây mắm gặp khá nhiều khó khăn. Do diện tích rừng ngập mặn bị dịch hại nằm xen kẽ và giáp ranh với vùng nuôi trồng thủy sản nên không được dùng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật (kể cả thuốc sinh học) mà chỉ thực hiện bằng các biện pháp thủ công để trừ sâu. Bên cạnh đó, loài sâu hại này có khả năng thích nghi cao ở môi trường RNM và tốc độ phát triển, phát tán, lây lan rất nhanh trên diện tích lớn.
Cùng với đó là công tác triển khai dập dịch sâu hại trên cây mắm phải thực hiện trong điều kiện bất lợi là dưới bùn lầy, nước thủy triều dâng cao và mưa nhiều gây khó khăn cho việc cơ động, di chuyển. Tuy nhiên, vượt qua những khó khăn trên, đến nay công tác dập dịch sâu đã cơ bản hoàn thành.
“Tính đến ngày 7/9/2015, mật độ sâu phổ biến chỉ còn khoảng từ 5 – 10 con/m2, sâu non đã ở tuổi 5 và bắt đầu hóa nhộng, không có khả năng gây hại và phát tán trên diện rộng. Hiện chúng tôi đã tạm dừng các biện pháp diệt sâu, cây RNM trên địa bàn đang phục hồi và phát triển trở lại”, ông Phạm Văn Đọ, Phó Trưởng phòng NN&PTNT Đầm Hà cho biết.
Toàn huyện Đầm Hà hiện có trên 2.900ha rừng phòng hộ ven biển. Hệ thống RNM trên địa bàn có đa dạng các loại cây, như: mắm, sú, vẹt, trang, bần. RMN có vai trò hết sức quan trọng đối với việc bảo vệ bờ biển, ngăn chặn gió bão, điều hòa khí hậu trong vùng; mở rộng diện tích đất bồi, hạn chế xói lở. Đồng thời, RNM cũng là “ngôi nhà sinh thái” cho nhiều loài thủy hải sản và động vật, góp phần duy trì bền vững năng suất thủy sản ven bờ, giúp người dân các xã ven biển của Đầm Hà phát huy tốt lợi thế về nuôi trồng thủy sản.
Xác định được tầm quan trọng của hệ sinh thái RNM, trong những năm qua UBND huyện Đầm Hà đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, các xã ven biển tăng cường công tác quản lý bảo vệ và phát triển RNM. Theo thống kê của Phòng NN&PTNT huyện, trong giai đoạn từ năm 1999 - 2003 có nhiều chương trình trồng RNM bằng nguồn vốn của Hội Chữ thập đỏ với diện tích 144ha trên địa bàn xã Tân Bình, Đại Bình, Đầm Hà, Tân Lập. Riêng từ giai đoạn 2004 đến nay, trên địa bàn huyện không có dự án trồng RNM nào được triển khai.
Tuy nhiên hàng năm huyện Đầm Hà đều tổ chức các đợt ra quân trồng RNM hưởng ứng ngày Quốc tế đa dạng sinh học. Theo đó, từ năm 2011 đến nay, toàn huyện đã trồng mới thêm gần 6ha RNM tại các xã ven biển trên địa bàn. Qua đó nhằm không ngừng tăng diện tích RNM và cải thiện môi trường nước phục vụ nuôi trồng thủy sản. Các địa phương ven biển phối hợp với lực lượng Ban Quản lý rừng phòng hộ, Kiểm lâm thường xuyên kiểm tra, bảo vệ diện tích RNM trên địa bàn. Đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao ý thức, nhận thức của người dân về tác dụng của RNM, vận động người dân tham gia trồng, bảo vệ RNM.
Để công tác bảo vệ, phát triển RNM được quan tâm làm tốt hơn, huyện Đầm Hà đề nghị Sở NN&PTNT sớm triển khai Dự án: “Bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, đặc dụng ven biển tỉnh Quảng ninh, giai đoạn 2015-2020”. Hàng năm UBND tỉnh bố trí nguồn vốn cho công tác quản lý bảo vệ rừng phòng hộ ngập mặn trên địa bàn huyện. (Báo Quảng Ninh 18/9) đầu trang(
Cùng một cơ quan, cùng con người, máy móc và phương pháp định vị giống nhau, song 03 lần xác định vị trí các cây gỗ được cho là khai thác trái phép ra 03 kết quả khác nhau. Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, người thuê chặt gỗ và người chặt thuê yêu cầu Tòa án đưa ra Biên bản xác định hiện trường, vị trí cây khai thác mà họ đã chỉ cho cơ quan chức năng song Biên bản này không được đưa ra?
Theo kết quả điều tra, xét xử sơ thẩm lần thứ nhất thì, tháng 3/2013, Ngô Văn Nhiễm (trú tại thôn Thái Bình, xã Vạn Thái, huyện ứng Hòa, Hà Nội) khai thác trái phép 70 cây gỗ, tương đương với 206m3 gỗ tròn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn. Số gỗ này nằm ngoài Giấy phép khai thác gia hạn lần 04 cho Cty cổ phần Sông Đà 9.06 - đơn vị Cty của Nhiễm mua lại quyền khai thác gỗ và số gỗ sẽ khai thác. TAND huyện Văn Bàn tuyên phạt Ngô Văn Nhiễm 3 năm tù.
Tại Bản phúc thẩm số 02/2015/HSPT ngày 08/04/2015, TAND tỉnh Lào Cai hủy án sơ thẩm, yêu cầu điều tra lại theo thủ tục chung vì giai đoạn sơ thẩm có nhiều vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, chưa làm rõ những chứng cứ quan trọng để định tội bị cáo; trong khi bị cáo kêu oan, không thừa nhận khai thác số gỗ trên mà chỉ khai thác đúng 35 cây trong lô lối, khoảnh rừng được cấp phép.
Lật lại hồ sơ vụ án, ngoài những vi phạm đã được Toà án cấp phúc thẩm nêu, còn thấy rất nhiều bất thường. Trong đó đáng chú ý là việc xác định vị trí cây đã bị khai thác trái phép và ai là người khai thác.
Theo lời khai tại hai phiên tòa của Ngô Văn Nhiễm và Nguyễn Văn Thụng - người được Nhiễm thuê chặt hạ gỗ - thì nhóm của Thụng chỉ khai thác 35 cây, bằng 64m3 gỗ xẻ. Đồng thời, Nhiễm có nhờ người thuê thêm một người khác khai thác tận thu thêm 10m3 gỗ nữa. Tổng cộng là 74m3 gỗ xẻ tương đương với số gỗ cơ quan chức năng thu của Nhiễm.
Ngoài ra, cơ quan chức năng cũng xác định, Nhiễm không thuê thêm ai khai thác gỗ nữa. Cả Thụng và Nhiễm đều khẳng định vị trí 35 cây này đã được Thụng chỉ cho Cơ quan điều tra. Kết quả dưới sự tiến hành tố tụng của Điều tra viên và cơ quan chuyên môn huyện Văn Bàn bằng phương pháp dùng máy định vị GPS xác định 35 cây gỗ này nằm trong khu vực được cấp phép khai thác. Việc xác định vị trí cây tại hiện trường có lập biên bản, có chữ ký của Thụng và Nhiễm. Tuy nhiên, Biên bản này không có trong hồ sơ vụ án để Hội đồng xét xử xem xét khi xử án.
Điều lạ nữa là việc xác định vị trí 70 cây gỗ mà cơ quan chức năng cho là khai thác trái phép cũng có vấn đề và mâu thuẫn nhau. Thể hiện, lần thứ nhất, tại Báo cáo số 66/BC-HKL ngày 15/05/2013 của Hạt kiểm lâm Văn Bàn cho thấy, cơ quan này sử dụng máy định vị GPS và phần mềm bản đồ Mapinfor xác định vị trí lô, cây khai thác, thước dây đo đếm đường kính gốc (Do) những cây đã khai thác tại hiện trường được cho là khai thác gỗ trái phép.
Từ đó, Tổ công tác kiểm tra liên ngành do Chủ tịch UBND huyện lập theo Quyết định số 307/QĐ-UBND ngày 15/05/2013 xác định tại Biên bản làm việc ngày 21/05/2013 ở trang 03 là “toàn bộ các cây đã khai thác nằm trong diện tích hợp đồng thuê đất số 327/HĐTĐ ngày 23/10/2008 của tỉnh Lào Cai cho Cty Sông Đà 9.06 thuê đất”. Số lâm sản này khai thác ngoài quyết định được Nhà nước cho phép nhưng nằm trong phương án thiết kế khai thác. Tổ công tác đề nghị cơ quan chức năng cho Cty cổ phần Sông Đà 9.06 xây dựng, bổ sung diện tích những cây khai thác nằm ngoài ranh giới này để cấp phép khai thác.
Thế nhưng, lần thứ hai, sau 01 tháng xem xét lại hiện trường, tại Biên bản khám nghiệm hiện trường các ngày 26, 27, 28/6/2013, cơ quan chức năng lại không xác định được số cây khai thác ngoài quyết định được phép khai thác có nằm trong diện tích đất mà tỉnh Lào Cai cho Cty cổ phần Sông Đà 9.06 thuê hay không? Vì lúc này 71 cây gỗ bị cho là chặt hạ trái phép, cũng vẫn là Hạt kiểm lâm huyện Văn Bàn cùng phương pháp, máy móc như trên thì nó lại nằm trong lô d khoảnh 1 tiểu khu 510 (47 cây) và lô a khoảnh 1 tiểu khu 526 (24 cây), với khối lượng 162,54m3, tăng lên khoảng 40m3 so với số gỗ kiểm tra ban đầu tại Báo cáo số 66/BC-HKL là 123,753m3.
Còn lần thứ ba, tại Biên bản xác minh ngày 25/10/2013, cũng vẫn là Hạt Kiểm lâm huyện Văn Bàn cùng Điều tra viên dùng máy định vị GPS và phần mềm bản đồ Mapinfor xác định vị trí các cây gỗ do Hứa Văn Thịnh, Bàn Phúc Tiến (những người do Thụng thuê khai thác lại) và Hoàng Tiến Mạnh, chỉ vị trí các cây họ đã khai thác thì toàn bộ 71 cây được Biên bản khám nghiệm hiện trường (ở lần 02) xác định nằm ở lô d khoảnh 1 tiểu khu 510 (47 cây) và lô a khoảnh 1 tiểu khu 526 (24 cây) không còn nằm ở lô a, khoảnh 1 tiểu khu 526 và lô d khoảnh 1 tiểu khu 510 nữa mà nó đã “chạy bạt” sang lô 8, tiểu khu 510, xã Nậm Xé và lô 6, tiểu khu 526, xã Nậm Xây? Các cây này nằm ngoài khu đất tỉnh Lào Cai cho Công ty cổ phần Sông Đà 9.06 thuê.
Ngoài ra, trong biên bản xác định hiện trường của Bàn Phúc Tiến và Hoàng Tiến Mạnh xuất hiện 02 cây nằm trong diện tích đất của Cty CP Sông Đà 9.06 và trong 35 cây do Hoàng Văn Kiên chỉ nằm ngoài phạm vi cho phép khai thác có 37 cây trùng với vị trí và số thứ tự cây trong Biên bản khám nghiệm hiện trường các ngày 26, 27, 28/6/2013. Rõ ràng, Hoàng Văn Kiên chỉ có 35 cây, nhưng lại có 37 cây trùng với biên bản khám nghiệm, tức là tăng 02 cây. Như vậy, lần xác định này số cây đã tăng lên là 04 cây.
Những lần kiểm tra, xác định trên cho thấy, hiện trường đã không được xác định đúng, bảo vệ và giữ đúng như pháp luật quy định mà luôn có sự thay đổi. (Bảo Vệ Pháp Luật 22/9) đầu trang(
Ngày 19/9, tại TP.HCM, trong khuôn khổ Chiến dịch “Chấm dứt sử dụng sừng tê giác”, đông đảo bạn trẻ đã tham dự sự kiện “Về với cát bụi”. Đây là một hoạt động truyền thông mới mẻ sử dụng hình thức nghệ thuật đương đại, nhằm mục tiêu tuyên truyền về cuộc khủng hoảng tê giác trên toàn cầu và kêu gọi cộng đồng chung tay bảo vệ loài này khỏi nguy cơ tuyệt chủng.
Sự kiện “Về với cát bụi" được nhóm các bạn trẻ thể hiện dưới hình thức buổi lễ tưởng niệm và tiễn đưa 2 mẹ con tê giác vừa bị bọn săn trộm giết hại tại châu Phi tuần trước. Krugeratu và Krugerati là hai cái tên tượng trưng mà ban tổ chức đặt ra cho hai mẹ con tê giác này, để đại diện cho hàng ngàn cá thể tê giác không tên hiền lành, vô tội khác đã bị giết trong nhiều năm trở lại đây tại châu Phi, nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng sừng tê ở Châu Á, trong đó Việt Nam là một trong những quốc gia đi đầu.
Tham gia vào sự kiện này, các bạn trẻ đã có dịp tìm hiểu về cuộc sống, cũng như vai trò và giá trị của các loài tê giác đối với đa dạng sinh học thế giới, và hiểu thêm về những mối đe doạ to lớn đối với chúng, khi nạn tiêu thụ sừng tê trái phép tại châu Á ngày một trở nên nghiêm trọng. Các bộ phim tài liệu, các bài trình bày về những nỗ lực bảo vệ tê giác tại Việt Nam và trên thế giới đã truyền cảm hứng cho những người tham gia về việc mỗi cá nhân đều có thể tạo nên một sự thay đổi tích cực trước nguy cơ tê giác có thể bị tuyệt chủng trong vòng 6 năm tới.
Sau lễ tưởng niệm và tiễn đưa mang tính tượng trưng nhưng cũng đầy cảm xúc, các bạn trẻ hăng hái mang theo hoa, tê giác bông và các tranh ảnh về tê giác tới một số điểm biểu tượng của TP.HCM, thể hiện quyết tâm bảo vệ tê giác, kêu gọi mọi người không tiêu thụ sừng tê, đồng thời cũng mong muốn gửi đi một thông điệp tích cực đến với cộng đồng quốc tế trong Ngày Tê giác Thế giới 22/9 rằng người dân Việt Nam cũng rất yêu thương và quan tâm đến việc bảo vệ thiên nhiên và động vật hoang dã.
Chiến dịch “Chấm dứt sử dụng sừng tê” thuộc chương trình “Không có người mua, không còn kẻ giết” được phối hợp thực hiện bởi Tổ chức WildAid, African Wildlife Foundation (Quỹ Hoang dã Phi Châu) và Trung tâm CHANGE. Chiến lược của chương trình này là tăng cường nhận thức về vấn đề sử dụng các sản phẩm động vật hoang dã của người dân thông qua truyền thông. (Tài Nguyên Và Môi Trường 20/9) đầu trang(
Những năm gần đây, khi nạn khai thác gỗ rừng diễn ra ồ ạt tại nhiều địa phương thì tại các huyện miền núi phía Tây của tỉnh Quảng Nam, những người con của núi rừng vẫn đang âm thầm từng ngày liên kết thành những tổ, nhóm bảo vệ rừng, bảo vệ mái nhà chung, bởi với đồng bào Cơ tu, rừng là nhà, là nguồn sống và cũng là nơi thiêng liêng của cả cộng đồng.
Một buổi tuyên truyền về công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng của lực lượng kiểm lâm với sự tham gia của đông đảo bà con đồng bào thôn K9, xã Sông Kôn, huyện Đông Giang, Quảng Nam. Nhờ được tuyên truyền, vận động, họp rút kinh nghiệm thường xuyên nên hơn 50 ha rừng trên địa bàn thôn được bảo vệ rất tốt.
Cùng với những chính sách thiết thực như giao khoán đất rừng, cấp cây giống, chi trả dịch vụ môi trường rừng được triển khai trong thời gian qua nên đã gắn được quyền lợi lẫn nghĩa vụ của người dân vào công tác giữ rừng. Giờ đây, ngoài việc bảo vệ cẩn trọng những cánh rừng nguyên sinh còn lại, nhiều diện tích đất nương rẫy trên địa bàn xã sông Kôn, huyện Đông Giang cũng dần được thay thế bởi màu xanh của rừng.
Cũng trên địa bàn xã sông Kôn, nhiều nhóm hộ, tổ tự quản bảo vệ rừng được thành lập từ chính những người dân trên địa bàn và trở thành lực lượng đông đảo để “gác cổng rừng”.Từ chỗ thường xuyên xảy ra điểm nóng, khu vực rừng phòng hộ Sông Kôn giờ không chỉ tăng được diện tích được che phủ, mà mọi hoạt động khai thác trái phép, xâm hại đến rừng đều nằm trong tầm kiểm soát của người dân.
Cùng với sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành chức năng, chính quyền địa phương trên địa bàn các huyện miền núi phía Tây xứ Quảng thì công tác bảo vệ, phát triển rừng đạt được kết quả như hiện nay phần lớn cũng nhờ vào ý thức, trách nhiệm giữ rừng của đồng bào vùng cao. Ý thức bảo vệ rừng chính là hàng rào vững chắc, kiên cố nhất giữ vững màu xanh đại ngàn. (ANTV 21/9) đầu trang(
13 con chồn (chồn hương, chồn mỡ) vừa được CSGT Quảng Trị giải cứu, khi đang trên đường đưa vào quán nhậu để tiêu thụ.
Khoảng 13h ngày 21.9, trên tuyến đường Hồ Chí Minh đoạn qua xã Hải Thái (Gio Linh, Quảng Trị), Đội tuần tra kiểm soát đường Hồ Chí Minh (Phòng CSGT, Công an tỉnh Quảng Trị) giải cứu 13 con chồn (chồn hương, chồn mỡ) sắp bị đưa vào quán nhậu để tiêu thụ.
Đối tượng vận chuyển chồn trái phép là Đào Văn Mùi (24 tuổi, trú thôn Phú Thành, xã Mò Ó, huyện Đakrông, Quảng Trị), đi xe máy BKS 74K7-2746.
Mùi không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp số động vật hoang dã này, mà chỉ khai nhận được một chủ hàng ở Đakrông thuê chở số chồn này đến các quán nhậu với tiền công 300.000 đồng.
Hiện, vụ việc đã được Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị tiếp nhận, xử lý. (Dân Việt 21/9; Thanh Niên 21/9) đầu trang(
Bất chấp nguy hiểm và những lời can ngăn từ phía gia đình, chàng thanh niên Bùi Hải Minh (21 tuổi) trú thôn Tây, xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh (tỉnh Quảng Bình) vẫn quyết định khởi nghiệp bằng nghề nuôi rắn hổ mang.
Tốt nghiệp ngành điện lạnh, Trường Cao đẳng nghề số 5 Đà Nẵng với tấm bằng loại ưu, nhưng bằng niềm đam mê với rắn anh Minh đã từ chối nhiều lời mời từ các công ty điện lạnh để về quê nuôi rắn hổ mang. Giữa năm 2012, anh Minh đã xin cấp phép của Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình và bắt đầu nuôi 100 con rắn đầu tiên ở 3 chuồng nuôi.
Lứa đầu tiên anh bỏ ra 30 triệu đồng mua con giống và xây chuồng trại. Đến lúc rắn trưởng thành, anh xuất bán nhưng chỉ thu được vỏn vẹn 30 triệu đồng. Thế nhưng anh Minh không nản mà lấy đó làm động lực để quyết “sống chết” với nghề nuôi rắn.Rút kinh nghiệm từ lần nuôi trước, lứa sau anh ra một số trại nuôi rắn ở Thanh Hóa để tìm hiểu kỹ thuật nuôi rắn hổ mang. Tại đây, anh được nhiều người dân chỉ dạy các kỹ thuật về chọn giống, chăm sóc, tìm hiểu các bệnh lý thường gặp, đặc biệt là đặc tính sinh học của rắn.
“Địa hình ở quê mình là địa hình bán sơn địa, khô ráo, thoáng mát nên rất thích hợp cho việc nuôi rắn hổ mang. Rắn hổ mang là một loài dễ nuôi, ít bệnh tật. Chỉ cần chuồng trại đảm bảo được yếu tố sạch sẽ, yên tĩnh, kín gió thì rắn sẽ lớn rất nhanh. Thức ăn chủ yếu là ếch nhái, chuột dễ dàng kiếm ở vùng nông thôn như quê mình. Nguồn thức ăn dồi dào cũng là một điều kiện thuận lợi cho nghề nuôi rắn” - anh Minh cho biết.
Theo anh Minh, thời gian để xuất bán được một lứa rắn thì tuỳ theo kích cỡ và chất lượng giống mà thời gian nuôi có thể kéo dài từ 1 – 1,5 năm. Riêng anh, do luôn có nguồn giống đảm bảo chất lượng lại thêm nuôi đúng kỹ thuật, kinh nghiệm trong quá trình tự mày mò, học hỏi, đúc rút từ thực tế nên chỉ nuôi từ 7 – 8 tháng là anh đã có thể xuất bán, con to có trọng lượng khoảng 2,5kg, trung bình từ 1,5 – 2kg, giá bán dao động từ 600 - 800 nghìn đồng/kg, lúc cao có thể lên tới 1 triệu đồng/kg. Tính bình quân, sau khi trừ các khoản chi phí đầu vào, anh thu về từ 80 - 100 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, anh Minh hiểu rằng, nuôi rắn hổ mang cũng là nghề vô cùng nguy hiểm, nếu không nắm bắt được những đặc tính sinh học của loài vật này. “Nhiều người nghĩ, rắn là loài động vật hung dữ vì hay tấn công người. Tuy nhiên, nếu mình có thời gian tiếp xúc với rắn nhiều và giữ cự ly an toàn với chúng thì chúng sẽ rất ôn hòa. Tiếp xúc nhiều, rắn sẽ quen với thân nhiệt của mình và từ đó sẽ giảm bớt bản tính hoang dã trong chúng” - anh Minh chia sẻ kinh nghiệm.
Tuy nhiên, theo Minh dù quen đến mức độ nào thì người nuôi rắn cũng cần phải có tính cẩn thận khi tiếp xúc với chúng để sẵn sàng chủ động mọi tình huống, bởi nọc rắn hổ mang cực độc, người bị cắn có thể mất mạng nếu trúng một cú tấn công của chúng. (Dân Việt/ Infonet 18/9) đầu trang(
Những năm gần đây, tình trạng nhiều người dân ở xã Hoài Thanh lấn, chiếm diện tích đất rừng phòng hộ ven biển để phục vụ mục đích riêng diễn ra phổ biến. Trong khi đó, dường như chính quyền địa phương và ngành chức năng chưa có biện pháp ngăn chặn, xử lý hiệu quả.
Khoảng tháng 9.2005, tuyến ĐT 639 hay còn gọi đường ven biển Nhơn Hội- Tam Quan được hoàn thành, đưa vào sử dụng; trong đó có đoạn qua địa phận thôn Lâm Trúc 1 và Lâm Trúc 2, thuộc xã Hoài Thanh, huyện Hoài Nhơn. Từ khi tuyến đường hình thành đến nay, đời sống kinh tế nhiều người dân trong xã nói chung, người dân 2 thôn này nói riêng ngày càng phát triển; ven 2 bên đường, nhiều ngôi nhà khang trang, bề thế “mọc” lên san sát. Cùng với đó, giá đất tại khu vực này cũng tăng dần lên; chính điều này dẫn đến việc nhiều người dân tự ý lấn, chiếm diện tích đất rừng phòng hộ ven biển để phục vụ lợi ích riêng.
Hiện tại, nhiều khoảnh đất thuộc diện tích rừng phòng hộ ven biển nằm ở phía đông tuyến ĐT 639 bị một số người dân ở thôn Lâm Trúc 1 và Lâm Trúc 2 chiếm dụng để cơi nới, xây dựng công trình nhà ở và trồng cây lâu năm. Xung quanh và bên trong phạm vi rừng phòng hộ, nhiều công trình nhà ở xây dựng trái phép tiếp tục “mọc” lên, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Một người dân ở thôn Lâm Trúc 2 (xin được giấu tên), cho biết: “Nạn lấn, chiếm đất rừng phòng hộ để dùng vào mục đích riêng không phải mới xảy ra, mà đã tồn tại trong nhiều năm. Lúc đầu, chỉ 1, 2 trường hợp; lâu dần, thấy không cơ quan nào xử lý dứt điểm nên người dân đua nhau làm theo”.
Liên quan việc này, ông Nguyễn Văn Thuận - Chủ tịch UBND xã Hoài Thanh, cho biết: Khu dân cư thuộc thôn Lâm Trúc 1 và Lâm Trúc 2 có từ trước khi tuyến ĐT 639 hình thành. Đất rừng phòng hộ ven biển thuộc địa bàn xã Hoài Thanh có tổng diện tích hơn 43ha (gồm đất đã trồng rừng và đất trống); trong đó, phần lớn diện tích thuộc thôn Lâm Trúc 1 và Lâm Trúc 2. Việc một số hộ dân tại địa phương tự ý lấn, chiếm diện tích đất rừng phòng hộ để cơi nới, mở rộng diện tích nhà ở và trồng cây là thực tế có xảy ra trong thời gian qua; trong đó, nhiều trường hợp thực hiện hành vi vi phạm từ trước ngày 1.7.2004.
“Địa phương biết việc này; tuy nhiên, chúng tôi chưa thống kê chính xác số trường hợp thực hiện hành vi lấn, chiếm, cũng như diện tích đất rừng phòng hộ bị xâm hại. Nguyên nhân là bởi thời gian qua, UBND xã nhiều lần thay đổi cán bộ phụ trách mảng địa chính. Sắp tới, UBND xã tiến hành kiểm tra, đo đạc; đồng thời, báo cáo UBND huyện Hoài Nhơn để xin ý kiến chỉ đạo giải quyết”, ông Thuận thẳng thắn nhìn nhận.
Có thể thấy, việc một số người dân ở thôn Lâm Trúc 1 và Lâm Trúc 2 lấn, chiếm diện tích rừng phòng hộ ven biển là hành vi vi phạm pháp luật về đất đai và quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ. Do đó, UBND xã Hoài Thanh, các phòng, ban liên quan và UBND huyện Hoài Nhơn cần kiểm tra, xử lý dứt điểm. (Báo Bình Định 19/9) đầu trang(
Trong những năm gần đây, lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần tích cực trong việc cải thiện đời sống của người dân Lương Mông. Tuy nhiên, hiện nay một số diện tích rừng liên quan đến rừng thông, đất rừng tự nhiên, đất được quy hoạch là đất lâm nghiệp... đang tồn tại nhiều vướng mắc gây khó khăn trong công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Xã Lương Mông (huyện Ba Chẽ) có trên 6.500ha rừng, trong đó có hơn 4.00ha rừng trồng, gần 4.500ha rừng đã được giao cho dân, cộng đồng và doanh nghiệp quản lý, số diện tích còn lại hơn 2.000ha do UBND xã quản lý.
Còn nhớ những năm 2012, 2013 trên địa bàn xã Lương Mông xảy ra tình trạng người dân các vùng giáp ranh là xã Đồng Sơn (huyện Hoành Bồ), xã Dương Hưu và xã An Lạc (huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang), xã Lâm Ca (huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn) lén lút lấn chiếm đất rừng tự nhiên để trồng rừng, trong đó chủ yếu trên diện tích 290ha rừng tự nhiên chưa có hoặc có ít cây rừng. Có thời điểm diện tích này lên đến trên 20ha, đều là những vị trí rừng sâu, xa, khó kiểm tra giám sát, trên hiện trạng không có cây rừng.
Nguyên nhân của việc này được xác định do người dân xã bạn thiếu đất trồng rừng và do ranh giới các vùng giáp ranh giữa Lương Mông với các xã bạn chưa rõ ràng. Quyết tâm lập lại trật tự về tình trạng lấn chiếm đất rừng, xã Lương Mông tập trung nhân lực tăng cường rà soát, kiểm tra, phòng chống, ngăn chặn các trường hợp lấn chiếm đất rừng; phối hợp tích cực với các xã giáp ranh trong việc giải quyết các trường hợp đã lấn chiếm để trả lại đất rừng cho địa phương.
Nhờ đó tình trạng lấn chiếm đất rừng đã được ngăn chặn, không phát sinh mới thế nhưng đối với các trường hợp lấn chiếm cũ, do người dân các xã giáp ranh lấn chiếm đất rừng của Lương Mông để trồng rừng đã diễn ra trước đó cùng với thời gian xử lý vụ việc lâu nên gần chục ha diện tích rừng lấn chiếm đã có cây trồng được 3 đến 4 năm tuổi. Chính bởi vậy nên xã Lương Mông đã buộc phải để lại chờ đến khi người dân khai thác rừng (6-7 năm tuổi đối với loại cây keo) thì mới nhận lại đất.
Như vậy đến thời điểm này, trên địa bàn xã Lương Mông, mặc dù tình trạng lấn chiếm đất rừng mới cơ bản đã được kiểm soát nhưng hàng chục ha đất rừng đã bị lấn chiếm thì vẫn chưa được giải quyết dứt điểm, khiến cho công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn ít nhiều gặp những khó khăn.
Trên địa bàn xã Lương Mông còn 515ha diện tích thông, trong đó có 315ha thông từ 7-9 tuổi; 200ha thông 3 tuổi. Ở lứa tuổi này, cây thông đều còn non, tuy nhiên vì lợi nhuận trước mắt nên bắt đầu từ năm 2014 đến nay người dân trên địa bàn đã lén lút khai thác nhựa trái phép đối với 315ha rừng từ 7-9 tuổi (tuổi khai thác của cây thông thường từ 15 năm trở lên).
Việc khai thác nhựa thông non này đã khiến cho cây thông bị ép sinh nhựa sớm, bị khai thác một cách tận diệt nên cây còi cọc không phát triển được. Hoạt động khai thác nhựa thông non trên địa bàn xã Lương Mông còn khó kiểm soát hơn khi tại các xã giáp ranh việc khai thác nhựa thông không bị cấm (do cây thông đã đủ tuổi khai thác nhựa) và trên địa bàn có nhiều cơ sở thu mua, chế biến nhựa thông thuận lợi cho việc mua bán nhựa.
Vì thế nên mặc dù chính quyền xã Lương Mông và cơ quan chức năng huyện Ba Chẽ đã vào cuộc một cách kiên quyết nhưng tình trạng khai thác nhựa thông non trên địa bàn xã vẫn ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp. Anh Triệu Văn Tài, Phó Chủ tịch UBND xã Lương Mông cho biết: Xã có một tổ chuyên làm công tác quản lý bảo vệ; ngoài ra còn thường xuyên huy động gần chục đồng chí khác cơ động tham gia các buổi tuần tra rừng, tiến hành thu dọn, gỡ bỏ các túi nilong đựng nhựa trái phép do người dân đặt nhưng diện tích rừng quá rộng, đặc thù rừng núi khó đi lại nên việc thực hiện không hề dễ dàng.
Để xử lý dứt điểm tình trạng này, mới đây huyện Ba Chẽ đã đồng ý giao 315ha thông đang bị khai thác non nói trên cho Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ lập phương án bảo vệ, chăm sóc. Theo đơn vị này, phương án tối ưu là sẽ giao khoán cho người dân bảo vệ, khai thác trên cơ sở người dân được hưởng lợi song vẫn phải đảm bảo hài hoà sự sinh trưởng và phát triển của cây.
Tuy nhiên đơn vị này cũng nhận định với thực trạng hiện nay, khi người dân đã quen với việc khai thác mà không phải mất công chăm sóc hay thực hiện bất cứ trách nhiệm nghĩa vụ gì thì phương án trên không hẳn khả thi. Và đến khi đó Công ty chỉ còn cách khai thác kiệt rồi phá bỏ lớp cây thông này đi để trồng lớp thông mới, tất nhiên việc này sẽ được thực hiện theo lộ trình. Bên cạnh đó từ đầu năm tới nay xã Lương Mông cũng đã tiến hành giao đất rừng (bao gồm đất rừng phòng hộ, rừng thông non, đất được quy hoạch là đất lâm nghiệp đang được xã quản lý) bổ sung cho các hộ dân mới tách, hộ trước đã được giao nhưng diện tích nhỏ…
Tuy nhiên, việc này hiện đang bị vướng bởi phần lớn quỹ đất được quy hoạch là đất lâm nghiệp (khoảng gần 1.300ha) hiện người dân đã tự ý trồng cây trên đó, trong đó nhiều loại cây có thời gian khai thác lâu dài đến vài chục năm như sa mộc, thông, hồi, quế…
Bởi vậy đã xảy ra tình trạng các hộ dân trong diện được giao đất bổ sung từ đầu năm đến nay mặc dù đã được nhận đất nhưng vẫn chưa thể sản xuất kinh doanh ngay được. Thực tế tính đến thời điểm này Lương Mông đã giao bổ sung gần 200ha rừng (đều là đất được quy hoạch là đất lâm nghiệp) cho người dân nhưng theo khảo sát có đến 60% diện tích này đã có cây rừng.
Có thể nói đến thời điểm hiện nay, mặc dù đã thật sự nỗ lực song công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn xã Lương Mông vẫn còn rất nhiều khó khăn. Thực trạng này đòi hỏi huyện Ba Chẽ bên cạnh việc tăng cường triển khai các hoạt động chuyên môn cần thiết còn phải đưa ra phương án, cơ chế quản lý thật sự phù hợp, hiệu quả, có như vậy mới lập lại trật tự trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. (Báo Quảng Ninh 21/9) đầu trang(
Với tổng diện tích trên 227 nghìn ha, rừng đặc dụng của Đắk Lắk là nơi lưu giữ nhiều giá trị quý giá cho quốc gia cũng như trên thế giới. Nỗ lực quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) đặc dụng chính là bảo vệ nguồn tài nguyên quý hiếm trước áp lực rừng bị xâm hại từ nhiều phía.
Vườn Quốc gia Yok Đôn quản lý, bảo vệ 110.919,1ha, trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 69.072,1 ha, phục hồi sinh thái 35.501 ha, còn lại là khu dịch vụ hành chính. Với đặc trưng của hệ sinh thái chủ yếu là rừng khộp đất thấp, địa hình dễ di chuyển cho nhiều loại phương tiện từ máy cày, xe máy, xe đạp thồ nên việc QLBVR của đơn vị gặp rất nhiều khó khăn.
Thêm vào đó, vùng đệm của Vườn lại nằm giáp ranh với 7 xã của huyện Buôn Đôn, Ea Súp (Đắk Lắk) và Cư Jút (Đắk Nông), điều kiện kinh tế ở những khu vực này khó khăn, người dân quen sống phụ thuộc vào rừng nên dễ bị lâm tặc lợi dụng họ vào việc khai thác rừng trái phép. Từ năm 2008 đến nay, diện tích đất rừng bị người dân lấn chiếm là 29,586 ha bởi 30 hộ nằm trên 10 tiểu khu (434, 441, 448, 456, 458, 463, 470, 477, 503, 507).
Đối tượng lấn chiếm là các hộ dân xã Krông Na, huyện Buôn Đôn để làm nương rẫy, trồng lúa nước. Để công tác QLBVR đạt hiệu quả cao, ngoài việc tăng cường tuần tra truy quét, Vườn còn đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật QLBVR đến toàn thể bà con các thôn, buôn, nhất là người dân sống gần rừng, nhằm phòng ngừa và hạn chế các hành vi vi phạm. Bên cạnh đó, Vườn còn thực hiện tốt chính sách giao khoán QLBVR cho 19 cộng đồng thôn, buôn với tổng diện tích khoảng 35.000 ha.
Đơn cử như buôn Đrăng Phốk có 112 hộ, đa số là người dân tộc M’nông và Êđê, được giao 1.512 ha rừng cho 105 hộ của buôn vào đầu năm 2013 với mức thù lao 200 ngàn đồng/ha/năm (theo Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2020), đã tạo điều kiện cho bà con có thêm thu nhập và cải thiện đời sống. Từ khi nhận giao khoán đến nay, buôn Đrăng Phốk luôn là buôn dẫn đầu trong công tác BVR, hạn chế tình trạng lần chiếm đất rừng để làm nương rẫy.
Tương tự, VQG Chư Yang Sin quản lý 59.521,9 ha rừng đặc dụng. Trong công tác QLBVR, Vườn đã phối hợp với chính quyền địa phương đổi mới phương pháp, nội dung, hình thức tuyên truyền phù hợp với đặc điểm của từng thôn, buôn, từng cộng đồng dân tộc.
Năm 2014, Vườn tập trung tuyên truyền các giá trị đa dạng sinh học của vườn quốc gia, Nghị định 157/NĐ-CP của Chính phủ về xử lý các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng bằng nhiều hình thức như tham mưu, phối hợp với UBND các xã trên địa bàn 2 huyện Lắk và Krông Bông, ban tự quản các thôn, buôn vùng đệm để tuyên truyền công tác QLBVR, PCCCR (60 buổi/60 thôn, buôn); dạy 174 tiết ngoại khóa tại các trường THCS xã Yang Tao, Bông Krang, Đăk Phơi (Lắk), Hòa Phong, Cư Pui, Cư Đrăm, Yang Mao, THCS nội trú (Krông Bông) với 971 em học sinh tham gia.
Công tác giao khoán QLBVR cũng phát huy hiệu quả trong những năm qua, tổng số hộ dân nhận khoán là 1.438 hộ với tổng diện tích 43.291 ha, trong đó, diện tích giao khoán thuộc địa bàn huyện Krông Bông là 28.580 ha (1.051 hộ thuộc các xã Hòa Sơn, Khuê Ngọc Điền, Hòa Lễ, Hòa Phong, Cư Pui, Cư Đrăm, Yang Mao) và 14.711 ha thuộc địa bàn huyện Lắk. Tổng số lượt hộ dân nhận khoán tham gia tuần tra BVR là trên 7.000 lượt người.
Trên thực tế, ngân sách đầu tư cho các khu rừng đặc dụng thường được cân đối và phân bổ trực tiếp hàng năm (từ Trung ương hoặc tỉnh) chỉ đáp ứng cho chi phí hoạt động của bộ máy quản lý hoặc công tác xây dựng cơ bản. Do nguồn kinh phí hạn chế đã gây ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả QLBVR trong bối cảnh sức ép của nạn phá rừng càng ngày càng gia tăng. Cho nên rất cần đẩy mạnh xã hội hóa các nguồn vốn đầu tư khai thác nguồn thu từ cung ứng dịch vụ môi trường rừng, cũng chính là từng bước tạo lập tính ổn định, bền vững về tài chính cho các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên để các đơn vị này QLBVR đặc dụng ngày một hiệu quả hơn.
Tương tự, VQG Chư Yang Sin quản lý 59.521,9 ha rừng đặc dụng. Trong công tác QLBVR, Vườn đã phối hợp với chính quyền địa phương đổi mới phương pháp, nội dung, hình thức tuyên truyền phù hợp với đặc điểm của từng thôn, buôn, từng cộng đồng dân tộc.
Năm 2014, Vườn tập trung tuyên truyền các giá trị đa dạng sinh học của vườn quốc gia, Nghị định 157/NĐ-CP của Chính phủ về xử lý các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng bằng nhiều hình thức như tham mưu, phối hợp với UBND các xã trên địa bàn 2 huyện Lắk và Krông Bông, ban tự quản các thôn, buôn vùng đệm để tuyên truyền công tác QLBVR, PCCCR (60 buổi/60 thôn, buôn); dạy 174 tiết ngoại khóa tại các trường THCS xã Yang Tao, Bông Krang, Đăk Phơi (Lắk), Hòa Phong, Cư Pui, Cư Đrăm, Yang Mao, THCS nội trú (Krông Bông) với 971 em học sinh tham gia.
Công tác giao khoán QLBVR cũng phát huy hiệu quả trong những năm qua, tổng số hộ dân nhận khoán là 1.438 hộ với tổng diện tích 43.291 ha, trong đó, diện tích giao khoán thuộc địa bàn huyện Krông Bông là 28.580 ha (1.051 hộ thuộc các xã Hòa Sơn, Khuê Ngọc Điền, Hòa Lễ, Hòa Phong, Cư Pui, Cư Đrăm, Yang Mao) và 14.711 ha thuộc địa bàn huyện Lắk. Tổng số lượt hộ dân nhận khoán tham gia tuần tra BVR là trên 7.000 lượt người.
Trên thực tế, ngân sách đầu tư cho các khu rừng đặc dụng thường được cân đối và phân bổ trực tiếp hàng năm (từ Trung ương hoặc tỉnh) chỉ đáp ứng cho chi phí hoạt động của bộ máy quản lý hoặc công tác xây dựng cơ bản. Do nguồn kinh phí hạn chế đã gây ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả QLBVR trong bối cảnh sức ép của nạn phá rừng càng ngày càng gia tăng.
Cho nên rất cần đẩy mạnh xã hội hóa các nguồn vốn đầu tư khai thác nguồn thu từ cung ứng dịch vụ môi trường rừng, cũng chính là từng bước tạo lập tính ổn định, bền vững về tài chính cho các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên để các đơn vị này QLBVR đặc dụng ngày một hiệu quả hơn. (Dân Tộc Và Miền Núi 21/9) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Xưởng gỗ đã được lập trong di tích quốc gia chùa Trăm gian (H.Chương Mỹ, Hà Nội) nhiều tháng nay mà cho tới giờ, chính quyền vẫn chưa di dời được.
Một lán có diện tích chừng 50 m2 được dựng trên ngọn đồi thuộc di tích quốc gia chùa Trăm gian. Lán được quây kín, có mái bằng tôn, khóa cửa. Nhìn qua cửa sắt có thể thấy rất nhiều gỗ được xếp bên trong.
Giữa lán có một khoảng trống lớn có thể dùng cưa gỗ. Một lán khác được dựng phía sau lưng khu nhà các sư ở trong chùa Trăm gian, cũng được lợp mái tôn, trong đó chứa toàn gỗ.
Ngoài hai lán trên, gỗ cũng được xếp đống gần như bao quanh chùa ở phía hông và lưng. Có những cây đã được chạm trổ. Có những cột mới được xẻ, chưa chạm trổ gì.
Trao đổi với nhà sư trụ trì chùa Trăm gian Thích Đàm Khoa, bà cho biết đang đi hạ (tham gia một khóa tu) ở Hà Nội. Về số lượng gỗ lớn nằm rải rác và hai lán đầy gỗ, nhà sư cho biết: “Trước kia là thầy làm chùa (chùa Trăm gian vừa có đợt tu bổ kết thúc và nghiệm thu vào tháng 7 vừa qua - NV), bây giờ thầy đang dẹp lại thầy bỏ. Mấy hôm nay mưa chưa dẹp được. Nhưng thầy đang dẹp, đang dọn bỏ”.
Số gỗ này, theo sư trụ trì Thích Đàm Khoa là dùng để sửa các hạng mục trong chùa. Trong đó có 8 cái cột làm thành 5 gian nhà thờ tổ. Ngoài ra còn có gỗ để chuẩn bị sửa chùa Quảng Bị, một ngôi chùa cũng do nhà sư này trông nom. Tuy nhiên, nhà sư này cũng cho biết: “Người dân không đồng ý thì để thầy dọn đi”.
Điều đáng nói là không chỉ người dân không đồng ý với khu để gỗ này mà chính quyền xã cũng đã lên tiếng về hiện tượng trên. “Chúng tôi biết có hai xưởng cưa ở đó. Chúng tôi đã tiến hành lập biên bản, yêu cầu di dời, vì đó là di tích quốc gia”, ông Tống Văn Lợi, Chủ tịch UBND xã Tiên Phương, H.Chương Mỹ, Hà Nội nói.
Theo biên bản mà ông Lợi cung cấp, đã có một cuộc làm việc giữa Phó chủ tịch UBND xã là bà Nguyễn Thị Minh, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã Vũ Danh Năm với nhà sư Thích Đàm Khoa. Ngoài ra, tham gia cuộc làm việc còn có ông Nguyễn Xuân Chất, cán bộ văn hóa xã và ông Đỗ Duy Quỳnh cán bộ địa chính xây dựng, ông Nguyễn Đình Tùy công an viên.
Vào ngày địa phương làm việc với bà Khoa, theo biên bản thì “xưởng xẻ vẫn đang hoạt động”. Lý do được nhà sư đưa ra lúc đó là “để đóng bàn ghế, cửa, tủ phục vụ chùa Trăm gian, tu bổ nhà tổ và tu bổ ngôi chùa của xã Quảng Bị, H.Chương Mỹ”.
“Thầy cũng có đề nghị được làm xưởng ở đấy nhưng phía chúng tôi quan điểm là sửa ở chùa nào thì thầy xin chính quyền làm ở chùa đấy. Chứ ở đây là di tích cấp quốc gia thì thầy phải giữ cảnh quan”, ông Lợi nói.
Chính quyền xã cũng đã yêu cầu di dời toàn bộ khối lượng gỗ đã tập kết và khu nhà xưởng khung thép, mái tôn ra khỏi khu vực di tích để bảo đảm cảnh quan khu vực di tích. “Thời gian thực hiện từ ngày 11.9 đến hết ngày 26.9”, văn bản ghi rõ. Biên bản này cũng đã được đọc cho toàn bộ những người có mặt. Bản thân bà Thích Đàm Khoa cũng đã ký vào đó.
Đây không phải lần đầu tiên chùa Trăm gian có việc phải kiểm tra, lập biên bản. Hồi năm 2012, bà Đàm Khoa đã tự ý hạ giải, tu bổ theo cách thay mới gác khánh - một hạng mục vô cùng quan trọng của chùa. Cán bộ thanh tra của Bộ VH-TT-DL khi ấy cho biết: “Năm 2007 - 2009, dự án trùng tu ở chùa Trăm gian có được một văn bản thỏa thuận ở Bộ. Tuy nhiên, vì không có kinh phí nên dự án không hoạt động. Bây giờ họ tự phá ra làm mới hoàn toàn, không có hồ sơ giấy thủ tục gì”.
Như vậy, rõ ràng những vi phạm luật di sản ở chùa Trăm gian không hề đơn lẻ. Nó cho thấy trách nhiệm của chính quyền địa phương trong giám sát di tích, cũng như giáo dục pháp luật di sản cho những người liên quan. Đặc biệt, về tâm lý, người trụ trì vẫn thường coi mình là chủ của ngôi chùa thì việc giáo dục pháp luật này càng cần thiết. Chưa kể, ở cấp quản lý cao hơn, trách nhiệm tổ chức giáo dục pháp luật này không phải là không có.
Chùa Trăm gian nằm trên một quả đồi cao khoảng 50 m, ở thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, H.Chương Mỹ, Hà Nội. Chùa được lập từ đời Lý Cao Tông, niên hiệu Trinh Phù thứ 10, tức năm 1185. Đến thời nhà Trần, có hòa thượng Bình An, quê ở Bối Khê tu ở đây, tương truyền là người có nhiều phép lạ. Sau khi ông mất, dân làng xây tháp để giữ gìn hài cốt và tôn gọi là Đức Thánh Bối. Ngôi chùa lớn với quy mô như hiện nay là đã được trùng tu và xây dựng thêm qua nhiều thời đại.
Ở sân chùa có gác chuông hai tầng tám mái được dựng vào năm Quý Dậu 1693, niên hiệu Chính Hòa, đời Lê Hy Tông, là một công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật cao. Chùa còn giữ được nhiều di vật và tượng quý.
Tên gọi Trăm gian muốn nói tới việc chùa từng có cả trăm gian, rất bề thế. (Thanh Niên 22/9) đầu trang(
Nông, lâm trường từng có tác động mạnh cho sự phát triển của khu vực trung du, miền núi những năm trước đây. Tuy nhiên, sau hơn 20 năm Luật đất đai ra đời, việc đo đạc, cắm mốc giới cho các nông lâm trường vẫn chưa rõ ràng.
Ngày 22/9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp cho ý kiến về dự thảo Nghị quyết Tăng cường quản lý sử dụng đất đai tại các công ty nông, lâm nghiệp giai đoạn 2015 - 2020. Kết quả giám sát của Đoàn giám sát Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004 - 2014 cho thấy các vấn đề liên quan đến lĩnh vực này còn rất nhiều bất cập, đặc biệt là việc chưa cắm được mốc giới dẫn đến khó quản lý đất đai của các nông, lâm trường.
Báo cáo của Đoàn giám sát cho biết, theo các quy định của luật pháp giai đoạn trước năm 2004, toàn bộ diện tích đất đai giao cho các nông, lâm trường đều thuộc hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất.
Trước năm 2004, đã có 40/53 tỉnh, thành phố tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các nông trường với diện tích 311.392 ha (bằng 48,9% diện tích đất nông trường được giao các nông trường quản lý); 28/47 tỉnh, thành phố cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các lâm trường, với diện tích 1.250.369 ha (bằng 25% diện tích đất do các lâm trường được giao quản lý).
Giai đoạn này, tài liệu đất đai, bản đồ địa chính của các nông, lâm trường chủ yếu là bản đồ địa hình, phục vụ quản lý đất đai trong nội bộ, độ chính xác không cao. Các tài liệu đất đai, bản đồ địa chính này do các công ty nông, lâm nghiệp tự quản lý, không được giao nộp cho các cơ quan quản lý đất đai trên địa bàn để quản lý theo quy định.
Cũng theo Đoàn giám sát, chính vì lý do đất đai giao cho các nông, lâm trường không được đo đạc, cắm mốc, xác định ranh giới rõ ràng trên thực địa nên việc giao đất của các nông, lâm trường trước 2004 cũng không cụ thể, chủ yếu giao trên giấy tờ, bản đồ có tỷ lệ nhỏ, độ chính xác thấp, dẫn đến hiện tượng chồng lấn với đất đai các hộ gia đình, cá nhân, các tổ chức khác đang sử dụng.
Hồ sơ đất đai chưa được lập và lưu trữ đầy đủ, chặt chẽ, thậm chí còn bị thất lạc. Các hồ sơ giao đất, cho thuê đất chủ yếu được lập và ban hành kèm theo các quyết định thành lập nông, lâm trường; do các nông, lâm trường tự quản lý, ít được giao nộp cho các cơ quan quản lý đất đai theo quy định.
Phùng Quốc Hiển - Chủ nhiệm UB Tài chính - Ngân sách cho rằng, nhìn nhận lại trong lịch sử 60 năm, bắt đầu hình thành các nông lâm trường quốc doanh từ các đơn vị quân đội. Vai trò của các nông lâm trường đối với các miền núi là rất quan trọng, làm thay đổi rất căn bản đời sống kinh tế, xã hội của miền núi…
Tuy nhiên, theo ông Hiển, sau khi Luật đất đai ra đời năm 1993 đến nay thì vai trò của các nông, lâm trường cũng yếu dần và bộc lộ những yếu kém trong quản lý như Đoàn giám sát đã chỉ ra. Theo ông Hiển, hơn 20 năm sau khi Luật đất đai ra đời mà chưa xác định được mốc giới cho các nông lâm trường thì việc quản lý không thể tốt được. Ông Hiển đề nghị, cần xem xét để bố trí kinh phí cho việc này.
Trong dự thảo Nghị quyết tăng cường việc quản lý sử dụng đất đai tại các công ty nông lâm nghiệp giai đoạn 2015 - 2020 đưa ra đề xuất: Để tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý, sử dụng đất tại các công ty nông nghiệp, lâm nghiệp giai đoạn 2015 - 2020, Quốc hội giao Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây: Chỉ đạo các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp; Nghị quyết số 118/2014/NQ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp. Khẩn trương xây dựng, thẩm định và hoàn thành việc phê duyệt đề án về sắp xếp, đổi mới công ty nông, lâm nghiệp trong năm 2015 để tổ chức thực hiện theo mô hình mới.
Dự thảo Nghị quyết này cũng đề nghị: "Bố trí đủ kinh phí từ ngân sách trung ương hỗ trợ cho các địa phương trong hai năm 2015 - 2016 cho việc rà soát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các công ty nông, lâm nghiệp, trong đó cần quan tâm các địa phương có nhiều khó khăn, không tự đảm bảo cân đối thu chi ngân sách, để đến cuối năm 2015, cơ bản hoàn thành việc đo đạc, cắm mốc, xác định diện tích đất, trạng thái rừng trên bản đồ và ngoài thực địa; lập hồ sơ địa chính làm cơ sở để giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các công ty nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng theo quy định của pháp luật về đất đai".
Đồng thời, Dự thảo Nghị quyết cũng đưa ra phương án cần thu hẹp quy mô công ty nông, lâm nghiệp, thu hồi đất sử dụng không hiệu quả, đất không sử dụng trả lại cho các địa phương để giao cho người dân, nhất là hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu hoặc chưa có đất sản xuất quản lý, sử dụng. Tập trung chỉ đạo việc quản lý, sử dụng 3.286.574 ha đất (rừng sản xuất, đất sản xuất nông nghiệp và đất chưa sử dụng). Ban hành nghị định về cơ chế, chính sách bảo vệ rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh và bền vững, hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, người trồng rừng, quản lý, bảo vệ rừng có thu nhập từ rừng để bảo đảm ổn định cuộc sống.
Theo Dự thảo Nghị quyết, trên cơ sở rà soát, điều chỉnh quy hoạch ba loại rừng, xác định những diện tích đất, rừng phòng hộ ít xung yếu hoặc diện tích quy hoạch đất, rừng phòng hộ trước đây chưa hợp lý để chuyển đổi một phần sang rừng sản xuất để phát huy hiệu quả kinh tế. Trên cơ sở đó, Nhà nước bảo đảm kinh phí để thực hiện quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.
Bên cạnh đó cần đề ra giải pháp để đến hết năm 2015, xử lý dứt điểm tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai, diện tích đang cho thuê, cho mượn tại các công ty nông, lâm nghiệp; kiên quyết xử lý đối với các trường hợp mua bán, chuyển nhượng, chuyển đổi mục đích trái phép; xử lý nghiêm việc tự ý xây dựng công trình, nhà ở kiên cố trên diện tích đất nông, lâm trường.
Tiến hành thanh tra, kiểm toán toàn diện các công ty nông, lâm nghiệp, trong đó tập trung vào các công ty có biểu hiện vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai. Đồng thời, tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai trong quá trình sắp xếp, đổi mới các công ty nông, lâm nghiệp; xác định rõ trách nhiệm để xử lý nghiêm người đứng đầu bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp trong quản lý, sử dụng đất đai các công ty nông, lâm nghiệp. Hoàn thiện cơ chế điều hành, phân công đầu mối chịu trách nhiệm, phân cấp cụ thể nhiệm vụ và quyền hạn cho địa phương trong việc quản lý và sử dụng đất đai. (Infonet 22/9) đầu trang(
Số phận của hàng trăm nông, lâm trường, dù đã mang danh các công ty cổ phần hay công ty trách nhiệm hữu hạn một, hai thành viên ngày càng mờ mịt.
Cách đây bốn tháng, tại cuộc họp của Ban chỉ đạo đổi mới và sắp xếp doanh nghiệp trung ương với các bộ ngành, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã đề nghị Chính phủ cho thoái lui nhiệm vụ của NHNN trong việc xử lý các khoản nợ của công ty nông lâm nghiệp vì cơ chế xử lý nợ đã được quy định rất cụ thể tại nhiều văn bản khác. Cho đến phiên giải trình của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) và các bộ ngành liên quan với đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tuần trước về vấn đề này, người ta mới hiểu vì sao NHNN lại muốn thoái lui đến vậy.
Tại phiên giải trình về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh (2004-2014) diễn ra tại Ủy ban Thường vụ Quốc hội (tuần trước), có báo cáo của Bộ NN&PTNT, Bộ Tài nguyên và Môi trường về tình hình các nông lâm trường sau 10 năm chuyển đổi. Người ta từng hy vọng rằng, các nông lâm trường quốc doanh sẽ có những chuyển biến mới. Nhưng đến nay, số phận của hàng trăm nông, lâm trường dù đã mang danh các công ty cổ phần hay công ty trách nhiệm hữu hạn một, hai thành viên, ngày càng mờ mịt.
Sau 10 năm, từ 185 nông trường, công ty nông nghiệp nay còn lại 145 công ty, giảm được 40 đầu mối. Từ 256 lâm trường chuyển sang mô hình 148 công ty lâm nghiệp.
Tài sản lớn nhất của các nông, lâm trường là đất đai. Nhưng do sự chuyển đổi chỉ mang tính hình thức mà cách quản lý, bộ máy lãnh đạo và cách thức kinh doanh mới không được xây dựng cùng với sự chuyển đổi, nên thực tế không có việc rà soát đất đai thực địa, không hoàn tất thủ tục giao đất, cho thuê đất.
Dù các công ty nông, lâm trường do Bộ NN&PTNT và UBND các tỉnh, thành phố quản lý (không tính các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn do Bộ Quốc phòng quản lý) nhưng quản lý rất lỏng lẻo, phó mặc cho các nông, lâm trường sau chuyển đổi tự bơi. Còn theo Bộ NN&PTNT, chính quyền địa phương thiếu quan tâm, quản lý đất đai không thể hiện được vai trò quản lý nhà nước. Bộ này còn cho rằng, một số công ty chưa nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình trong quản lý, sử dụng đất dẫn đến tình trạng khiếu kiện, tranh chấp đất đai kéo dài...
Trong số gần 7,5 triệu héc ta đất rừng, đất nông nghiệp mà các nông lâm trường được giao, hiện có 15.137 héc ta bị lấn chiếm, chồng lấn, chuyển nhượng trái pháp luật. Chưa kể hơn 78.000 héc ta khác chưa sử dụng và 428.515 héc ta sử dụng vào các mục đích khác.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Tiến Sinh (tỉnh Hòa Bình) yêu cầu Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát trả lời câu hỏi: Sau khi chuyển đổi mô hình, người dân tại các nông lâm trường được gì, mất gì? Nhà nước được gì, mất gì? Ông đề nghị làm rõ việc chuyển đổi mô hình từ các nông lâm trường sang các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn thì tài sản nhà nước sang tay tư nhân thất thoát ra sao? Thậm chí nhiều doanh nghiệp chuyển đổi mô hình, lên sàn chứng khoán với giá cổ phiếu cao chót vót nhưng người dân tại các nơi không có đất sản xuất, sống lay lắt.
Tình trạng một số UBND tỉnh cho các công ty Trung Quốc thuê đất trồng rừng tại Quảng Nam, Lạng Sơn... từ năm 2008 đến nay mới được giải quyết. Nếu không bị dư luận lên tiếng, hàng ngàn héc ta rừng đã được tạm giao hoặc cho các công ty Trung Quốc thuê với thời hạn lên đến 50 năm. Ví dụ như tỉnh Quảng Nam đến tháng 6-2015 mới thu hồi 1.100 héc ta đất đã tạm giao từ nhiều năm trước đó.
Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội Hà Nội Chu Sơn Hà đã rất cay đắng với cùng một câu hỏi: “Đến bao giờ đổi mới được nông, lâm trường có hiệu quả? Và trách nhiệm của Bộ NN&PTNT ở đâu trong việc xử lý những vấn đề tại các nông lâm trường?”.
Tình trạng “sống dở, chết dở” của các công ty nông, lâm trường đã kéo dài suốt nhiều năm qua. Vậy nhưng Bộ trưởng Bộ NN&PTNT cho rằng, bộ này cũng có trách nhiệm thiếu đôn đốc, giám sát dù mọi chủ trương, chính sách của Nhà nước với các công ty nông, lâm trường đều có sẵn.
Rõ ràng các bộ ngành, UBND tỉnh không có lối ra, đổ trách nhiệm cho nhau trong việc để các nông, lâm trường 10 năm sau khi chuyển đổi vẫn sống trong cảnh “tranh tối, tranh sáng” và ngập đầu trong các khoản nợ, cũng không vay được vốn để tiếp tục đầu tư, sản xuất, dẫn đến tình trạng luôn ngấp nghé bờ vực phá sản.
Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội mới dừng ở bước khảo sát, yêu cầu các bộ giải trình về thực trạng quản lý đất đai tại các nông lâm trường. Do đó, bản báo cáo của các bộ đã không có một dòng nào đề cập tình hình vay nợ của các nông lâm trường đến nay là bao nhiêu hay đời sống của cán bộ, công nhân viên nông lâm trường sau khi chuyển đổi thế nào.
Công ty TNHH MTV Mua bán nợ Việt Nam (DATC) từ năm 2007, khi bắt tay tham gia vào quá trình xử lý nợ tại các nông, lâm trường đã cho rằng, Bộ NN&PTNT đã không đề ra được giải pháp cụ thể nào trong việc xử lý tài chính tại các nông lâm trường (hầu hết thua lỗ) mà chỉ nêu ra các giải pháp chung chung.
Còn NHNN, khi được Chính phủ yêu cầu xây dựng thông tư hướng dẫn xử lý các khoản nợ vay của các công ty nông, lâm trường đã đề nghị không tham gia vào việc này do đã có rất nhiều cơ chế xử lý nợ sẵn có, nếu xây dựng thêm sẽ chồng chéo.
Tuy nhiên, đến ngày 20-8 vừa qua, NHNN vẫn ban hành Thông tư 11/2015 hướng dẫn xử lý các khoản nợ vay của các công ty tại các tổ chức tín dụng. Nguyên tắc xử lý các khoản nợ này là theo cơ chế thị trường, chứ không cấp bù số tiền nợ gốc hay lãi vay để các công ty trả cho ngân hàng hoặc dùng biện pháp hành chính yêu cầu giảm trừ số nợ gốc và lãi. NHNN yêu cầu các công ty nông, lâm trường phải xây dựng phương án trả nợ khả thi để các ngân hàng xem xét, cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Các khoản nợ khi nông lâm trường chuyển đổi phải được bàn giao đầy đủ khi chuyển mô hình và phải được các ngân hàng đồng ý...
Đã đến lúc không thể nói mãi về thực trạng “sống dở, chết dở” của các công ty nông, lâm trường. Khi những người có trách nhiệm lại tiếp tục đi bên lề mớ bòng bong ấy thì mọi sự đổi mới sẽ chỉ mang tính hình thức mà không giải quyết được bất cứ vấn đề gì. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 22/9) đầu trang(
8 tháng đầu năm 2015, vượt qua những khó khăn, các doanh nghiệp (DN) chế biến gỗ và lâm sản (CBG-LS) trên địa bàn tỉnh đã đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu (KNXK) 142,3 triệu USD, tăng hơn 20% so với cùng kỳ năm 2014. Tuy nhiên, tình hình đơn hàng của các DN CBG có sự giảm sút đáng lo ngại, với mức giảm bình quân 30 - 35%.
Theo thống kê của Sở Công Thương, 8 tháng đầu năm 2015, chỉ số sản xuất công nghiệp (SXCN) toàn tỉnh tăng 8,52% so với cùng kỳ năm 2014. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có mức tăng trưởng khá cao (gần 15%), nhất là ngành CBG. Cụ thể, mặt hàng đồ gỗ nội thất tăng gần 16%; ghế gỗ tăng 7,4%; bàn gỗ tăng gần 7,7%...
Về XK, 8 tháng đầu năm 2015, giá trị KNXK toàn tỉnh thực hiện đạt gần 453 triệu USD, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm 2014. Trong số này, ngành CBG-LS đạt giá trị KNXK 142,3 triệu USD, chiếm 31,4% và tăng hơn 20% so với cùng kỳ; trong đó, CBG đạt 90 triệu USD.
Theo ông Đỗ Xuân Lập, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và lâm sản Bình Định (FPA Bình Định), trên địa bàn tỉnh hiện có 120 DN tham gia XK các mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ sang 70 quốc gia và vùng lãnh thổ. Về giá trị XK 8 tháng qua, đồ gỗ của Bình Định tại thị trường châu Á tăng gần 96%; châu Âu tăng 5,9%; châu Mỹ tăng gần 71%; châu Úc tăng 19,2%. Toàn tỉnh có 40 DN CBG đạt giá trị KNXK trên 1 triệu USD, trong đó có 5 DN đạt trên 10 triệu USD. Tuy vậy, các DN CBG-LS trên địa bàn đang phải đối diện trước những khó khăn, thử thách, trong đó có tình hình giảm sút các đơn hàng. Năm 2015 - 2016, đơn hàng của các hội viên FPA Bình Định giảm bình quân khoảng 30% - 35% giá trị và có xu hướng tiếp tục giảm.
Ông Lê Vỹ, Phó Chủ tịch FPA Bình Định, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Phú Tài, việc đơn hàng của Bình Định bị giảm sút có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự bất ổn của thị trường tài chính thế giới, nhất là việc đồng EURO rớt giá mạnh so với USD. Trong khi đó, đa số DN CBG-LS trên địa bàn đều là DN nhỏ và vừa, ít vốn, quy mô nhà xưởng nhỏ, trình độ quản trị còn yếu nên hạn chế trong việc thực hiện đơn hàng, nhất là đối với những đơn hàng lớn.
Trước tình hình nói trên, FPA Bình Định đã tổ chức hội nghị bàn giải pháp cho ngành gỗ mùa hàng 2015-2016. Tại hội nghị, bên cạnh việc phân tích, đánh giá về các nguyên nhân, nhiều đại biểu đến từ các DN CBG-LS, các trường đào tạo nghề và lãnh đạo một số sở, ngành trong tỉnh đã đề xuất những giải pháp nhằm góp phần để ngành CBG-LS Bình Định tháo gỡ khó khăn, từng bước ổn định và phát triển.
Theo ông Đỗ Xuân Lập, việc các đơn hàng đồ gỗ của Bình Định giảm sút có yếu tố tâm lý của khách hàng. Vì vậy, các DN CBG-LS trên địa bàn cũng không nên quá bi quan, lo lắng. Đồng thời, trên cơ sở ý kiến của các DN và các sở, ngành, FPA Bình Định đã đề ra một số giải pháp chủ yếu về giá thành sản phẩm, về nguyên liệu và các sản phẩm dịch vụ khác, về sản phẩm mới, về thị trường.
Với giải pháp về giá thành sản phẩm, FPA Bình Định yêu cầu: Mỗi DN cần nhận thức rõ về chi phí sản xuất; xây dựng giá thành cạnh tranh trên cơ sở áp dụng công cụ quản lý hiện đại, sử dụng con người hiệu quả và máy móc trang thiết bị tiên tiến; đồng thời phải sắp xếp đổi mới dây chuyền sản xuất phù hợp, bảo đảm không có công đoạn thừa.
Về nguyên liệu và các sản phẩm dịch vụ khác, các DN cung ứng sản phẩm và dịch vụ cần quan tâm tương trợ các DN bằng cách giảm giá nguyên liệu gỗ, vật tư... với mức giảm từ 5% trở lên. Đồng thời, các DN nhập khẩu nguyên liệu cần hỗ trợ tìm kiếm, giới thiệu và mạnh dạn kinh doanh thương mại nhiều nguyên vật liệu mới, có khả năng thay thế gỗ trên thị trường toàn cầu, hoặc các vật liệu kết hợp với gỗ (như vải sợi, nhựa, kim loại, kính, đá…).
Các DN cần tìm cách thiết kế mặt hàng mới bằng nguyên vật liệu mới, phát triển định hướng chuyển đổi và chào bán các sản phẩm bằng nguyên vật liệu mới để vừa tìm kiếm lợi nhuận biên cao hơn. Đồng thời, các DN cần chuyển mạnh sang sản xuất hàng đồ gỗ trong nhà để đảm bảo công suất sản xuất của nhà máy quanh năm, bù đắp tính thời vụ của hàng đồ gỗ ngoài trời. Cần phát triển các thị trường EU, Mỹ, Canada, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc… Đây là những thị trường XK chính và có tốc độ tăng trưởng cao của ngành gỗ, nhất là sau các Hiệp định Thương mại tự do ký kết với Việt Nam...
Theo ông Lê Vỹ, bên cạnh những giải pháp trên, mỗi DN CBG-LS trên địa bàn cần học tập các DN bạn, không ngừng đổi mới, nâng cao năng lực sản xuất, năng lực quản trị DN, cải tiến dây chuyền sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm, mẫu mã, mở rộng thị trường… thì mới có thể ổn định và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh. (Báo Bình Định 20/9) đầu trang(
Thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2015, huyện Đắk Glong đã trồng được trên 286 ha rừng theo Quyết định 147/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đạt 100% kế hoạch giao, chủ yếu các loại cây keo lá tràm, muồng đen, bời lời.
Theo ông Đỗ Ngọc Trai, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Glong, hiện đơn vị đang chỉ đạo cán bộ kiểm lâm địa bàn tiến hành nghiệm thu bước 2 của chương trình trồng rừng 2015. Qua kết quả kiểm tra, hầu hết diện tích rừng trồng của địa phương đang được bà con quản lý, chăm sóc theo đúng quy trình kỹ thuật nên tỷ lệ cây sống đạt trên 85%.
Gia đình ông Lê Mạnh Hùng ở xã Đắk P’lao là một trong những hộ tham gia trồng rừng với diện tích lớn và đạt được kết quả cao nhờ áp dụng biện pháp kỹ thuật vào chăm sóc, phòng trừ nấm bệnh, mối gây hại. Năm 2014, gia đình ông đã tiến hành khai thác trên 20 ha rừng keo lai, thu lãi hàng trăm triệu đồng. Nhận thấy hiệu quả mang lại từ trồng rừng khá cao, năm nay, gia đình ông đã đăng ký trồng thêm trên 50 ha rừng, với các loại cây như sao, keo lai, bời lời…
Bên cạnh đó, gia đình ông còn chọn một số cây ăn quả thích hợp với thổ nhưỡng của địa phương để trồng nhằm tăng thu nhập. Ông Hùng cho biết: Do diện tích đất của gia đình có độ cao khá lớn, không thích hợp với các loại cây công nghiệp dài ngày nên tôi chọn các giống cây rừng và cây ăn trái để trồng. Ngay từ đầu mùa mưa này, nhờ có sự hỗ trợ giống, hướng dẫn kỹ thuật của Hạt Kiểm lâm huyện nên việc xuống giống, chăm sóc vườn rừng của gia đình diễn ra thuận lợi và kịp thời.
Còn gia đình ông Nguyễn Đức Châu ở xã Quảng Sơn năm nay cũng trồng hơn 10 ha rừng. Theo ông Châu thì việc trồng theo Chương trình trồng rừng 147 đã giúp bà con tận dụng được quỹ đất để mở rộng diện tích rừng trồng.
Cụ thể, tại những diện tích rừng trồng của những năm trước cho thấy, về chiều cao của cây muồng ở năm thứ 2 đạt trung bình từ 2 m, đường kính gốc trung bình đạt từ 3 - 4 cm, tỷ lệ sống trung bình đạt từ 90-92%, cây sinh trưởng và phát triển tốt. Chiều cao cây bời lời trung bình từ 2 – 2,5 m, đường kính gốc trung bình đạt 3 – 4 cm…
Để thực hiện hiệu quả kế hoạch trồng rừng năm 2015, Ban Quản lý trồng rừng theo Quyết định 147 của huyện đã có công văn chỉ đạo các xã tuyên truyền, vận động người dân tích cực tham gia trồng rừng, cán bộ kiểm lâm địa bàn bám sát cơ sở trực tiếp hướng dẫn bà con về kỹ thuật, theo dõi tiến độ trồng rừng của người dân, đồng thời giải quyết dứt điểm những vướng mắc từ khâu thiết kế đến tiến độ trồng.
Một số xã như Quảng Khê, Đắk P’lao, Quảng Sơn, Quảng Hòa…, người dân đã chủ động về thời gian tiến hành trồng rừng theo từng nhóm hộ, mua thêm cây giống để trồng nên việc trồng rừng được tiến hành đúng thời gian, cơ bản đạt diện tích thiết kế.
Theo Hạt Kiểm lâm huyện thì điều ghi nhận là người dân ở đây rất có tâm huyết với việc phát triển rừng. Một phần do người dân đã nhận thức được việc đầu tư vào phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp tại địa phương là hướng đi phù hợp và mang lại hiệu quả cao về sau này.
Tuy nhiên, để đảm bảo nguồn giống trồng cho 1 ha thì cần khoản tiền là 4,5 triệu đồng, nhưng hiện nay nguồn kinh phí phê duyệt chỉ có 2,25 triệu đồng/ha tính chung cả tiền vận chuyển, tiền mua cây giống. Do đó, số lượng cây giống cấp cho người dân không đủ trồng trên 1 ha. Vì thế, nhiều hộ dân tham gia chương trình có điều kiện kinh tế đã mua thêm cây giống để trồng. Còn đối với các hộ khó khăn, hộ đồng bào dân tộc thiểu số thì việc mua thêm cây giống để trồng đủ số lượng như thiết kế thì khó thực hiện được. (Báo Đắk Nông 21/9) đầu trang(
Lâm nghiệp là tiềm năng và lợi thế lớn của huyện Yên Lập với hơn 33.000ha đất đồi rừng, chiếm trên 70% tổng diện tích tự nhiên. Để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ phát triển rừng và kinh tế đồi rừng có hiệu quả, huyện Yên Lập đã ban hành các Nghị quyết số 17- NQ/HU, Nghị quyết số 22/NQ- HĐND về phát triển rừng, phê duyệt Đề án phát triển kinh tế đồi rừng huyện Yên Lập giai đoạn 2011- 2015, định hướng đến năm 2020.
Từ năm 2011 đến nay, thông qua công tác tuyên truyền vận động, nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về phát triển kinh tế đồi rừng được nâng lên rõ rệt, các nghị quyết, đề án đã đáp ứng được mong muốn, nguyện vọng cán bộ, đảng viên và nhân dân trong nhiệm vụ phát triển rừng, kinh tế đồi rừng nhằm tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo.
Huyện đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị tổ chức được trên 270 lớp tập huấn, chuyển giao tiến bộ KHKT cho hơn 19.000 lượt người về trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, các biện pháp phòng chống dịch bệnh trên cây trồng, chăm sóc, bảo quản nuôi trồng thủy sản, an toàn vệ sinh thực phẩm, củng cố phát triển HTX, kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm…; tuyên truyền công tác bảo vệ rừng, PCCR tại các trường học với gần 3.400 giáo viên và học sinh tham gia; trên 100 khu dân cư với hơn 7.200 hộ gia đình ký cam kết xây dựng quy ước bảo vệ rừng và được UBND huyện phê duyệt…
Trong những năm qua, UBND huyện, Hạt Kiểm lâm huyện, Ban quản lý Rừng phòng hộ sông ngòi Giành đã chỉ đạo, chủ trì phối hợp chặt chẽ với UBND các xã, các ngành, đoàn thể thực hiện có hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn huyện. Trên 33.600ha đất quy hoạch cho phát triển kinh tế đồi rừng tiếp tục được quản lý, bảo vệ, đạt 100% mục tiêu Nghị quyết, trong đó có trên 8.400ha rừng phòng hộ, 330ha rừng đặc dụng, trên 24.800ha rừng sản xuất.
Sau hơn 3 năm triển khai thực hiện, các Nghị quyết số 17, 22 đã đi vào cuộc sống. Các cấp, các ngành đều vào cuộc và luôn có ý thức trong việc tổ chức thực hiện Nghị quyết. Độ che phủ rừng được nâng lên 68,4%, vượt mục tiêu của Nghị quyết đề ra. Từ năm 2012 đến nay, việc trồng cây lâm nghiệp, cây lấy gỗ, cây nguyên liệu giấy tiếp tục được duy trì và phát triển, chủ lực là các giống Acacia hạt ngoại, quế, bương, tre, vầu, hóp…
Đặc biệt để nâng cao giá trị canh tác, UBND huyện đã yêu cầu các chủ dự án, các đơn vị chức năng khuyến cáo và được bà con nhân dân hưởng ứng trồng rừng phòng hộ, trồng cây gỗ lớn, cây bản địa như mỡ, giổi, trám, sấu, chè Shan tuyết… Diện tích trồng rừng tập trung đạt trên 3.300ha, đạt 110,6% so mục tiêu Nghị quyết; trồng được trên 790.000 cây phân tán, đạt 105,9% so mục tiêu Nghị quyết; sản lượng củi khai thác hàng năm 150.000 - 200.000 ste, đạt 100%; sản lượng gỗ nguyên liệu khai thác năm 2014 đạt 105.000m3, đạt 116,67% so với mục tiêu Nghị quyết.
Với mục đích phát triển nghề rừng, giải quyết việc làm, vươn lên làm giàu từ sản xuất lâm nghiệp, khai thác tiềm năng đất đai, lợi thế của rừng, xóa đói giảm nghèo nông thôn, đến nay với việc đưa các Nghị quyết số 17, 22 về phát triển rừng, kinh tế đồi rừng vào cuộc sống đã có tác dụng tích cực, góp phần quan trọng chuyển biến nhận thức của cán bộ và nhân dân các xã trên địa bàn huyện, tạo phong trào rộng rãi toàn dân tham gia trồng và bảo vệ rừng ngày càng cao hơn.
Qua 3 năm thực hiện nghiêm túc về phát triển rừng và kinh tế đồi rừng, đã có nhiều mô hình liên doanh liên kết trồng rừng thâm canh tiếp tục được phát huy hiệu quả, như mô hình trồng rừng của hộ ông Nguyễn Văn Thêm- khu 4 xã Mỹ Lung, bà Triệu Thị Thịnh- khu Sẻn xã Phúc Khánh, ông Nguyễn Trung Kỳ- xã Trung Sơn…; mô hình chăn nuôi của hộ ông Hà Văn Hạnh- khu Phú Thịnh xã Lương Sơn, ông Đinh Quốc Văn- khu 3 Đồng Xuân xã Xuân Viên, ông Mai Văn Lương- khu 1 xã Minh Hòa…; mô hình sản xuất kinh doanh tổng hợp của bà Kiều Thị Thịnh- khu Minh Tiến xã Đồng Thịnh, ông Đỗ Ngọc Quý - xã Ngọc Đồng…; mô hình đầu tư máy móc chế biến sản phẩm lâm nghiệp của ông Nguyễn Văn Thi- khu Đồng Ve xã Mỹ Lương, ông Nguyễn Công Thế- khu Phú Thịnh xã Lương Sơn, bà Nguyễn Thị Tâm- khu Tân Hoa xã Đồng Thịnh…
Hầu hết các diện tích đất lâm nghiệp, đất đồi vườn được trồng và khoanh nuôi bảo vệ. Nguồn lợi từ kinh tế đồi rừng tiếp tục trở thành nguồn thu chiếm tỷ trọng khá, nhiều gia đình đã thoát nghèo và vươn lên làm giàu từ kinh tế đồi rừng.
Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác trồng và bảo vệ rừng, phát triển kinh tế đồi rừng, thời gian tới huyện Yên Lập tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của các cấp về trồng rừng, phát triển vốn rừng theo chủ trương kế hoạch của tỉnh; tiếp tục rà soát diện tích rừng, duy trì ổn định độ che phủ rừng từ 68% trở lên, xác định làm giàu từ kinh tế đồi rừng, đồng thời tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng. Thường xuyên tổ chức tuần tra, canh gác bảo vệ rừng và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm lâm luật.
Ưu tiên và chỉ đạo trồng rừng khu vực phòng hộ xung yếu; cắm mốc phân định ranh giới từng loại rừng để xây dựng phương án chuyển đổi rừng sau rà soát; thực hiện xã hội hóa nghề rừng, sản xuất kinh doanh rừng bền vững, phát huy đa tác dụng phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái, chuyển dịch dần đưa nghề rừng trở thành ngành kinh tế chính của huyện; thực hiện xóa đói giảm nghèo, ổn định an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội trên địa bàn…
Đến hết năm 2015, huyện Yên Lập quản lý, bảo vệ tốt hơn 8.400ha rừng, trồng mới rừng sản xuất từ 1.000ha trở lên, sản lượng gỗ khai thác từ 100.000m3 trở lên, ổn định diện tích cây chè 2.000ha, trồng mới và trồng lại 50- 80ha chè, chuyển đổi giống chè cũ bằng các giống chè mới có năng suất, chất lượng cao, thâm canh đưa năng suất bình quân 10 tấn/ha; phát huy có hiệu quả 500ha mặt nước ao, hồ, đập để đầu tư nuôi trồng thủy sản, sản lượng hàng năm 750- 780 tấn, kết hợp bảo vệ môi trường; phát triển chăn nuôi đàn trâu, bò với tốc độ tăng trưởng 5- 7%/năm…
Phấn đấu giai đoạn 2016-2020 đưa kinh tế đồi rừng trở thành ngành kinh tế chủ lực trong sản xuất nông lâm nghiệp của huyện, tập trung phát triển rừng phòng hộ và rừng sản xuất phù hợp với quy hoạch phát triển lâm nghiệp. (Báo Phú Thọ 19/9) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Con voi hoang dã, bị những kẻ săn trộm tấn công bằng tên tẩm độc, đã đi dọc châu Phi và tìm đến đúng trung tâm cứu hộ để nương tựa vào con người.
Dù con voi hoang chưa bao giờ đặt chân đến trụ sở Tổ chức bảo vệ động vật hoang dã David Sheldrick (DSWT), nó biết những đồng loại từng sống ở đây.
Nó ghép đôi với hai con voi cái mồ côi lớn lên tại Trung tâm tái hòa nhập Ithumba của DSWT. Năm 2011, hai con voi cái sinh con. Voi con được DSWT đặt tên là Mwende và Yetu.
Theo tổ chức DSWT, con voi hoang biết chắc chắn họ có thể giúp nó. "Chúng tôi dám chắc cha của Mwende biết nếu quay trở lại, chúng sẽ nhận được sự giúp đỡ và điều trị cần thiết bởi trường hợp tương tự liên tục diễn ra với những con voi bị thương ở phương bắc. Tất cả chúng đều tới Ithumba khi cần vì biết rõ chúng tôi có thể giúp đỡ," The Dodo dẫn lời đại diện tổ chức.
Việc những con voi cầu cứu người gây bất ngờ bởi đối tượng khiến chúng bị thương cũng chính là con người.
Những con voi có khả năng suy luận xuất sắc và có thể lập ra bản đồ chi tiết trong đầu nhằm giúp chúng định vị lãnh thổ. Xét trí thông minh và tính xã hội hóa cao của loài voi, có thể những con voi cái mồ côi hoặc từng được tổ chức DSWT chữa trị đã cho đồng loại biết đó là nơi an toàn.
Những con voi này may mắn đến đúng nơi. Sau vài tiếng đồng hồ, đội bác sĩ thú y tiêm thuốc an thần cho ba con vật, chữa trị vết thương trúng tên của chúng, rửa sạch chất độc, sau đó cho chúng uống thuốc kháng sinh và đắp đất sét bảo vệ.
Theo tổ chức DWST, những con voi đang hồi phục tốt sau ca phẫu thuật. "Cha của Mwende và Yetu vẫn lưu lại ở đây cùng hai con voi bạn và chúng tôi thường xuyên nhìn thấy chúng. Vết thương của chúng đã lành, cả ba con voi sẽ phục hồi hoàn toàn", các nhân viên cứu hộ của DWST cho biết. (Vnexpress 18/9) đầu trang(
Lần thứ hai trong hai năm, một con rắn cái bị nuôi nhốt tới 8 năm ở Đông Nam Missouri đã sinh sản mà không có bất kỳ sự gần gũi nào với những con rắn khác giới
Những nhà nghiên cứu ở trung tâm bảo tồn thiên nhiên Cape Girardeau ở Missouri đã vô cùng ngạc nhiên khi một con rắn nước bụng vàng đã tự sinh sản tới 25 con rắn con mà vào mùa hè năm 2014 và đến năm nay, lại tiếp tục sinh sản tiếp. Điều kỳ lạ ở đây là con rắn cái này sống trong điều kiện nuôi nhốt một mình, không ở cùng một con rắn đực nào trong gần 8 năm qua.
Jefff Briggler - làm việc tại cục bảo tồn thiên nhiên Cape Girardeau cho biết: Tự sinh sản hiếm gặp nhưng không phải là không thể xảy ra ở một số loài thông qua một quá trình được gọi là sinh sản vô tính. Quá trình này xảy ra ở một số loài côn trùng, cá, ếch nhái, chim và bò sát. Trong đó có một số loài rắn, nhưng không xảy ra với động vật có vú.
Sinh sản vô tính là một dạng của sinh sản vô tính, trong đó con cái tự thụ tinh cho trứng của mình mà không cần tới sự thụ tinh của con đực. Quá trình này xảy ra khi các tế bào sinh sản (tương tự trứng và tinh trùng của động vật có vú) được kích thích hoạt động, tự phân chia tế bào.
Những nhà nghiên cứu tại trung tâm bảo tồn cho biết không có một tài liệu nào đề cập tới sự sinh sản đơn tính ở loài rắn nước bụng vàng. Giống như những loài rắn nước khác, loài này đẻ con chứ không đẻ trứng.
Robert Powell, một giáo sư sinh vật học và chuyên gia về rắn tại đại học Avila ở Kansas City cho biết: Rắn mù Brahminy - thường được gọi là rắn hoa - sinh sống ở vùng Đông Nam Á từ lâu đã được biết đến là loài rắn có thói quen sinh sản mà không cần rắn đực. Trường hợp con rắn ở Missouri thì nguyên nhân có thể - nhưng không chắc chắn – đó là con rắn chỉ đơn giản là đã lưu trữ một lượng tinh trùng từ thời gian còn sống trong môi trường hoang dã.
Nhưng Michelle Randecker, một nhà tự nhiên ở trung tâm, cho biết tám năm là quá dài để lưu trữ được tinh trùng. Powell đã đồng ý, nói rằng một con rắn cái thường không thể lưu trữ tinh trùng trong thời gian dài hơn một năm, mặc dù có những trường hợp có thể kéo dài đến ba năm.
“Lưu trữ dài hạn là không bình thường. Khi bạn rơi vào tình huống như thế này, bạn luôn tự hỏi: “Điều này có thể xảy ra thật sao?” Ông nói
“Cho dù đây là lưu trữ lâu dài hay là sinh sản đơn tính, điều đó vẫn thật đặc biệt. Tự nhiên luôn có những điều thật bí ẩn”
'Lưu trữ dài hạn là không bình thường. Khi bạn chạy vào tình huống như thế này, bạn luôn tự hỏi, "Có phải đó là một khả năng? '", Ông nói.
A.J. Hendershott, giám đốc công viên bảo tồn cho biết: Con rắn là một trong những niềm tự hào của công viên. Đây là con rắn đầu tiên trong loài của của nó có khả năng sinh sản vô tính. (Người Đưa Tin 18/9) đầu trang(
Một nữ nhân viên sở thú New Zealand hôm nay thiệt mạng sau khi bị hổ vồ trong lúc đang dọn vệ sinh chuồng.
Sự việc xảy ra tại sở thú Hamilton, cách thành phố Auckland, New Zealand, 127km về phía nam. Xe cứu thương lập tức được điều tới hiện trường nhưng cảnh sát xác nhận nữ nhân viên trên đã chết trước đó, theoGuardian.
"Đây là một thảm kịch nhưng còn quá sớm để kết luận chính xác điều gì xảy ra", cảnh sát điều tra Juliet Burgess nói.
Adam Rich, khách tham quan có mặt tại thời điểm xảy ra sự việc, cho biết anh tới xem các con hổ và để ý thấy một nhân viên mở cánh cửa để cho chúng đi vào khu vực riêng ở phía ngoài. Khoảng 45 phút sau, quản lý sở thú tới nói chuyện và yêu cầu Rich cùng những người khác rời đi, đồng thời chấp nhận hoàn tiền.
"Họ trông có vẻ khá hoảng loạn", Rich nói. "Tôi tưởng có con thú nào xổng chuồng nhưng họ đảm bảo không có chuyện như vậy".
Jeff Neems, đại diện hội đồng thành phố, cho hay con hổ giống Sumatran tấn công nữ nhân viên trên có tên là Oz và là con hổ đực duy nhất của sở thú. Ông từ chối bình luận về việc liệu Oz có bị bắn hạ hay không.
Cảnh sát đang làm việc với sở thú Hamilton để điều tra vụ việc. Tên tuổi của nạn nhân chưa được tiết lộ.
Đây không phải lần đầu tiên một nhân viên sở thú ở New Zealand bị thú tấn công. Năm 2012, một người phụ nữ bị một con voi tại khu bảo tồn động vật hoang dã Franklin, phía nam Auckland, húc chết. Năm 2009, nhân viên người Nam Phi tại sở thú Zion cũng bị một con hổ trắng tấn công và thiệt mạng. (VnExpress 20/9) đầu trang(
Lực lượng kiểm lâm vũ trang tại công viên bảo tồn Kruger (Nam Phi) đã bắn hạ gần 500 kẻ săn trộm người Mozambique (phần lớn đều trẻ tuổi) trong vòng 5 năm qua. Đây là thông tin do cựu tổng thống Mozambique Joaquim Chissano đưa ra.
Bản thân công viên Kruger cũng là một trong những điểm thu hút du lịch chủ yếu của Nam Phi nhưng cũng là một trong những khu vực nóng bỏng bởi nạn săn trộm tê giác nhằm đáp ứng nhu cầu từ các nước coi sừng của chúng là “thần dược”.
Thông thường, các nhóm săn trộm đều được vũ trang rất tốt trong khi lực lượng kiểm lâm tại công viên Kruger được phép nổ súng nếu bị đe doạ khi tuần tra dọc 350km đường biên giới tiếp giáp với Mozambique.
Về phía mình, các quan chức của công viên quốc gia Nam Phi cho biết cảnh sát chưa thể xác nhận con số nêu trên. Một phát ngôn viên của đơn vị này cũng cho biết họ cũng không có số liệu nào cụ thể về số kẻ săn trộm bị bắt giữ - dù tiết lộ là rất nhiều.
Cựu tổng thống Chissano - vốn cũng sở hữu một quỹ bảo tồn - cho biết đã có 82 kẻ săn trộm người Mozambique bị giết chết trong công viên Kruger chỉ riêng trong năm 2015. Đây là mức khá nhiều khi so với con số 106 của cả năm ngoái. “Tôi thật sự lo lắng về số người Mozambique bị giết trong công viên Kruger do có hành vi săn trộm” - ông nói - “Mỗi người này khi chết đi lại đồng nghĩa với sự đói nghèo tăng thêm ở gia đình của họ”.
Bản thân Mozambique cũng là một trong những quốc gia nghèo đói nhất thế giới - điều khiến nhiều người dân tại đây cố gắng tìm nguồn sống thông qua việc săn trộm trong công viên bảo tồn Kruger. Hồi năm ngoái, nước này cũng đã áp dụng một số quy định mới nhằm tăng cường mức phạt đối với hoạt động săn trộm bao gồm tăng phí phạt, án tù (lên tới 12 năm) nhưng không mấy hiệu quả. (Hà Nội Mới 22/9) đầu trang(
Một người đàn ông đến từ bang Colorado (Mỹ) bị phạt 6 tháng tù giam vì đã xả hơn 4 tấn rác trong khu Rừng Quốc gia.
Anh Benjamin Yoho, 41 tuổi, sống và làm bảo vệ tại khu Rừng Quốc gia Uncompahgre, phía bắc của thị trấn miền núi Telluride, Colorado trong khoảng 7 tháng. Theo các công tố viên, anh Yoho phải chịu trách nhiệm cho hành vi xả rác của mình tại Jud Wiebe Trail- một địa điểm leo núi nổi tiếng từ tháng 10/2014.
Trong một thông cáo, chưởng lý John Walsh cho biết, để dọn đống rác khoảng 4,25 tấn do anh Yoho thải ra, khoảng 48 tình nguyện viên và hàng loạt nhân viên phòng chống chữa cháy… đã được huy động.
Anh Yoho bị phạt tù 6 tháng đối với hành vi của mình. Trong số những loại rác mà anh Yoho vứt vào trong rừng, có cả những quần áo cũ và đồ gia dụng lấy từ “Free Box” (tạm dịch là “Chiếc hộp miễn phí”) - nơi người dân quyên góp những thứ không còn dùng đến cho người cần.
Chưởng lý John Walsh nói: “Đây không phải là trường hợp xả rác thông thường ở Rừng Quốc gia”. “Toàn bộ khu vực ngập tràn rác, và anh ta đáng bị giam giữ có thời hạn”.
Sau 6 tháng giam giữ, anh Yoho sẽ bị quản chế thêm 1 năm tại gia, các công tố viên cho biết thêm. Trong quá trình thụ án, tòa án cũng đề nghị điều trị điều trị tâm thần cho anh Yoho.
Đặc vụ Laura Mark đến từ Cục Kiểm lâm cho biết, hành vi của anh Yoho không chỉ bất hợp pháp mà còn gây ảnh hưởng đến các tài nguyên thiên nhiên như là rừng đầu nguồn hoặc động vật hoang dã.
Quận trưởng San Miguel, ông Bill Masters cho biết ông hy vọng hình phạt của Yoho sẽ là lời cảnh báo cho những người khác. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 22/9) đầu trang(
Các vụ cháy rừng tại bang California, Mỹ mới đây đã thiêu trụi hơn 1.400 ngôi nhà và khiến 6 người thiệt mạng.
Số người thiệt mạng trong các vụ cháy rừng ở bang California tính đến ngày 20.9 đã lên đến 6 người. Trong đó một người thiệt mạng trong vụ cháy rừng ở quận Monterey hôm 20.9, năm người còn lại thiệt mạng trong hai vụ cháy rừng lớn nhất là Butte và Valley hoành hành ở miền bắc bang California từ hôm 12.9.
Hai vụ cháy rừng Butte và Valley đã thiêu trụi hơn 1.400 ngôi nhà và còn đe dọa hàng nghìn ngôi nhà khác. Mỗi vụ cháy này thiêu trụi khoảng 28.000 ha rừng, theo tờ USA Today.
AFP dẫn thông báo của cơ quan bảo vệ và phòng chống cháy rừng California cho biết hiện bang California vẫn còn 10 vụ cháy rừng lớn, và lực lượng cứu hỏa được triển khai tại đây lên đến 10.500 người
Theo cơ quan này, các vụ cháy rừng Valley và Butte lần này là 2 trong số 7 vụ cháy rừng kinh khủng nhất trong lịch sử bang California.
Các vụ cháy rừng tại bang California từ ngày 1.7 đến nay đã gây thiệt hại khoảng 244 triệu USD, theo AFP. (Thanh Niên 21/9) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||