|
Ngày 21 tháng 07 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Có nhiều ý kiến phản đối cho rằng đề án do doanh nghiệp nghiên cứu đưa ra thiếu cơ sở pháp lý và luận chứng khoa học, còn mang tính chủ quan.
Ngày 17-7, UBND tỉnh An Giang tổ chức hội thảo về thành lập vườn quốc gia Thất Sơn và thí điểm giao cho doanh nghiệp quản lý với sự tham gia của nhiều viện khoa học, trường đại học, một số đơn vị, ban ngành trong và ngoài tỉnh.
Trước đó, UBND tỉnh An Giang có văn bản gởi Bộ NN&PTNT đề nghị thành lập vườn quốc gia Thất Sơn, thuộc hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên và thí điểm giao cho doanh nghiệp quản lý.
Theo đó doanh nghiệp đầu tư toàn bộ kinh phí cho các hoạt động của vườn quốc gia mà không phải sử dụng ngân sách Nhà nước. Đồng thời thực hiện các dịch vụ môi trường rừng để góp phần tạo sinh kế, thu nhập cho người dân và hình thành cơ chế thu hút họ tham gia vào các hoạt động của vườn quốc gia.
Bộ NN&PTNT đồng ý với chủ trương này, yêu cầu tỉnh lập hồ sơ trình bộ thẩm định, sau đó sẽ trình Chính phủ phê duyệt, quyết định xác lập vườn quốc gia…
Tại hội thảo nhiều ý kiến phản đối cho rằng đề án do doanh nghiệp nghiên cứu đưa ra thiếu cơ sở pháp lý và luận chứng khoa học, còn mang tính chủ quan.
Nếu triển khai người dân sẽ không đồng thuận vì ảnh hưởng đến cuộc sống của họ, mặt khác lại ảnh hưởng lớn đến an ninh xã hội, đặc biệt là an ninh quốc phòng, bởi đây là khu vực trọng yếu giáp biên giới, không thể giao cho doanh nghiệp quản lý.
Phó chủ tịch UBND tỉnh An Giang Lê Văn Nưng, cho biết UBND tỉnh tiếp thu những ý kiến phản biện và sẽ báo cáo để Tỉnh ủy có quyết định chính thức.
"Tuy nhiên, với phần lớn ý kiến không đồng tình UBND tỉnh cũng đã nhận thấy không nên thực hiện việc giao vườn quốc gia cho doanh nghiệp quản lý. Để phát triển vùng Thất Sơn tỉnh sẽ tạo điều kiện thu hút nhiều nhà đầu tư cùng khai thác phát triển du lịch, kinh tế rừng...", ông Nưng nói. (Tuổi Trẻ 18/7) đầu trang(
Ngày 19/7, ông Bh’ling Mia - Chủ tịch UBND huyện Tây Giang (Quảng Nam) cho biết: Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam (VACNE) vừa có quyết định công nhận quần thể 725 cây Pơmu khu vực xã A Xan và Tr’hy của huyện Tây Giang là Rừng cây di sản Việt Nam.
Quần thể rừng Pơmu Tây Giang có hơn 2.000 cây, trải dài trên núi Zi’liêng ở độ cao trên 1.500m so với mực nước biển, với tuổi đời hàng trăm năm. Theo đánh giá của lực lượng chức năng, cây Pơmu lớn nhất tại đây hiện có đường kính gần 3m, cao hơn 22m với khối lượng cây đứng ước tính gần 50m3.
Ngay sau khi rừng cây Pơmu quý hiếm được phát hiện, huyện Tây Giang đã triển khai công tác bảo vệ, khoanh vùng và thực hiện đo đếm xác định số lượng cây. Ngoài lực lượng kiểm lâm, chính quyền địa phương còn huy động đồng bào bản địa cùng tham gia bảo vệ, tránh để rừng cây Pơmu bị xâm hại.
Dịp này, 2 cây Đa sộp có tuổi đời trên 700 năm với đường kính 4m ở thôn Arầng 1 (xã A Xan, Tây Giang) cũng được VACNE công nhận là cây di sản Việt Nam. (Tiền Phong 20/7; Đài Truyền Hình Việt Nam 19/7; Thanh Niên 19/7) đầu trang(
Ngày 18.7, Hạt Kiểm lâm huyện Phù Mỹ chủ trì phối hợp cùng các lực lượng liên quan tổ chức phát động ra quân thu gom, xử lý vật liệu cháy trong rừng tại khu vực rừng phi lao phòng hộ ven biển thuộc địa bàn thôn Xuân Thạnh Nam, xã Mỹ An.
Tại huyện Phù Mỹ từ đầu mùa nắng đến nay đã xảy ra 4 vụ cháy rừng, làm thiệt hại 33,7 ha (trong đó rừng phòng hộ cháy gần 12 ha), tăng 2 vụ và 13,5 ha so với cả năm 2014. Riêng tại khu vực rừng phi lao phòng hộ ven biển thuộc thôn Xuân Thạnh Nam, xã Mỹ An trong 1 tuần cuối tháng 5.2015, đã xảy ra 2 vụ cháy rừng.
Trước đó, ngày 17.7, tại xã Ân Tường Tây, huyện Hoài Ân, Hạt Kiểm lâm, Ban quản lý rừng phòng hộ, chính quyền xã Ân Tường Tây huy động hơn 50 người cùng thu gom, xử lý các vật liệu dễ cháy, có khả năng gây cháy trên tuyến đường lâm sinh được sử dụng làm đường băng cản lửa dài trên 3 km tại khoảnh 2, Tiểu khu 130 thuộc thôn Hà Tây.
Từ đầu năm đến nay, do thời tiết nắng nóng kéo dài, tại huyện Hoài Ân đã xảy ra 2 vụ cháy rừng trồng ở 2 xã Ân Hảo Đông và Ân Tín. (Báo Bình Định 19/7) đầu trang(
Những năm gần đây, thời tiết diễn biến phức tạp, mùa khô kéo dài trên diện rộng với nắng nóng bất thường đã tạo thêm nhiều áp lực cho công tác quản lý, bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR). Trong bối cảnh đó, huyện Kim Bôi đã triển khai hiệu quả các giải pháp nhằm giữ vững an ninh rừng, duy trì ổn định độ che phủ rừng, quản lý và bảo vệ rừng bền vững.
Để làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, huyện Kim Bôi xác định giải pháp cần chú trọng hàng đầu là tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Vì vậy hàng năm, ngay từ đầu năm, Hạt Kiểm lâm huyện đã chỉ đạo cán bộ bám sát địa bàn, phối hợp với các ngành, đoàn thể tham mưu cho chính quyền xã tuyên truyền các văn bản về quản lý, bảo vệ rừng, PCCCR tới người dân thông qua các hình thức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, lồng ghép vào các cuộc họp thôn, bản.
Các văn bản được tập trung tuyên truyền gồm: Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Chỉ thị số 04 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp cấp bách PCCCR, Nghị định số 157 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý, phát triển, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản...
Các đợt tuyên truyền đã tạo chuyển biến rõ rệt, góp phần nâng cao nhận thức của người dân về công tác quản lý và bảo vệ rừng.
Cùng với tuyên truyền, công tác PCCCR cũng được các lực lượng chức năng huyện Kim Bôi chú trọng thực hiện. Hạt Kiểm lâm huyện đã tham mưu cho chính quyền các xã ban hành văn bản nhằm thực hiện tốt những biện pháp PCCCR; kiện toàn Ban chỉ đạo kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng các xã, xây dựng, triển khai kế hoạch thực hiện quy chế phối hợp 3 lực lượng (kiểm lâm địa bàn, công an xã, Ban CHQS xã).
Hạt duy trì trực PCCCR 24/24h tại văn phòng Hạt và những xã trọng điểm, cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn thường xuyên bám sát cơ sở, tham mưu cho chính quyền sở tại thực hiện tốt trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp.
Ngoài ra, các đơn vị còn chủ động chỉ đạo kiểm lâm địa bàn bám sát cơ sở, tăng cường phối hợp chặt chẽ với các tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng thường xuyên kiểm tra những điểm có nguy cơ cháy cao, nhắc nhở, hướng dẫn người dân dọn vệ sinh rừng sau khi khai thác và sử dụng lửa đúng quy trình kỹ thuật trong việc đốt, dọn nương rẫy.
Hiện nay, huyện Kim Bôi đang củng cố 211 tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng với 1.825 người tham gia cùng phương tiện, thiết bị sẵn sàng ứng cứu, chữa cháy theo phương châm “4 tại chỗ”.
Được biết, Kim Bôi là một trong những địa phương duy trì tốt độ che phủ rừng với mức ổn định 48,3%. Những năm gần đây, bình quân mỗi năm huyện trồng mới từ 1.000 - 2.000 ha rừng, chủ yếu là rừng sản xuất. Năm 2014, toàn huyện đã trồng trên 2.000 ha rừng, là huyện có diện tích rừng trồng lớn nhất tỉnh. Để có được kết quả này, huyện thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc thực hiện theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp.
Qua đó, huyện xác định được độ che phủ rừng, hàng năm xây dựng kế hoạch trồng mới và khai thác rừng năm sau phù hợp thực tế, đảm bảo các chỉ tiêu đề ra.
Dự kiến từ nay đến năm 2020, huyện Kim Bôi tiếp tục chú trọng công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, mục tiêu là bảo vệ diện tích rừng tự nhiên hiện có, khoanh nuôi tái sinh rừng, trồng mới, trồng rừng sau khai thác đối với rừng sản xuất kết hợp khai thác lâm sản ngoài gỗ, phấn đấu tăng giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp bình quân từ 7 - 8%/năm, diện tích rừng tự nhiên tăng cả về số lượng lẫn chất lượng. (Báo Hòa Bình 20/7) đầu trang(
Thời gian gần đây, tại Đà Nẵng, tình trạng rừng bị xâm hại diễn biến rất phức tạp, đặc biệt là những khu vực giáp ranh với hai tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên Huế. Để ngăn chặn nạn phá rừng nghiêm trọng hiện nay, Đà Nẵng cần sớm có những giải pháp cụ thể phối hợp chặt chẽ trong việc quản lý và tái tạo diện tích rừng ở vùng giáp ranh vốn đã chồng lấn và bị lâm tặc triệt hạ gỗ quý.
Thành phố Đà Nẵng hiện có 59.942 ha rừng, với gần 40.883 ha rừng tự nhiên và 19.058 ha rừng trồng với độ che phủ rừng đạt 46,6%. Với tổng trữ lượng gỗ ước tính khoảng 5,1 triệu m3.
Mang đặc tính của rừng mưa nhiệt đới, tài nguyên rừng của Đà Nẵng có tính đa dạng sinh học rất cao, đặc biệt là đa dạng về loài và nguồn gen động vật, thực vật hoang dã. Trong đó có nhiều loài động, thực vật thuộc nhóm quý hiếm, cũng như có giá trị kinh tế rất cao.
Với nhiều điều kiện thuận lợi như vậy, trong thời gian tới, Đà Nẵng hướng đến mục tiêu đẩy mạnh phát triển lâm nghiệp, nâng cao độ che phủ rừng, đảm bảo có sự tham gia rộng rãi của các thành phần kinh tế và các tổ chức xã hội vào công tác bảo vệ và phát triển rừng nhằm tăng giá trị kinh tế ngành và tăng năng lực bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Đồng thời, hỗ trợ và thúc đẩy du lịch dịch vụ phát triển, cung cấp các dịch vụ môi trường, nâng cao thu nhập từ nghề rừng cho người dân nông thôn, miền núi, góp phần tích cực vào xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người dân và giữ vững an ninh quốc phòng.
Theo ông Trần Viết Phương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP Đà Nẵng: “Để đạt được các mục tiêu đó, việc đầu tiên thành phố cần làm trong thời gian tới là tiến hành rà soát quy hoạch bảo vệ rừng và phát triển rừng. Nâng cao chất lượng quy hoạch, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn TP Đà Nẵng”.
Bên cạnh việc quy hoạch bảo vệ rừng, thành phố sẽ tổ chức rà soát xác định thực trạng sử dụng rừng và đất lâm nghiệp thuộc các chủ quản lý, điều chỉnh và thu hồi rừng của các tổ chức, cá nhân đã được giao nhưng sử dụng không hiệu quả, không đúng mục đích.
Cũng như quy hoạch và quản lý diện tích nương rẫy, bảo đảm duy trì diện tích canh tác ổn định cho đồng bào một số xã trên địa bàn huyện Hòa Vang.
Nhằm nâng cao hiệu quả từ việc phát triển lâm nghiệp, góp phần tích cực vào xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội, trong giai đoạn từ nay đến 2020, Đà Nẵng phấn đấu nâng thu nhập từ rừng ở mức 200 lên 500 triệu đồng/1 ha/10 năm trồng.
Để làm được điều đó, theo ông Trần Viết Phương, thành phố cần tập trung xây dựng, triển khai nhân rộng các mô hình kinh tế lâm nghiệp có hiệu quả cao. Lựa chọn xây dựng mô hình thâm canh rừng trồng năng suất cao để nhân rộng tại địa phương. Hướng dẫn người dân trồng những loại cây theo nhu cầu thị trường nhất là gỗ lớn.
Hướng dẫn cho các chủ rừng từng bước tiếp cận hướng tới việc cấp chứng chỉ rừng của các tổ chức quốc tế nhằm nâng cao giá trị của gỗ và dễ dàng tiếp cận với các thị trường có yêu cầu về nguồn gốc gỗ hợp pháp như EU và Mỹ.
Về mặt tổ chức quản lý, ngoài việc tổ chức lại Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa nhằm đảm bảo tính thống nhất chung trong công tác quản lý thì thành phố nên nâng cao hơn nữa quyền tự chủ cho các hộ gia đình, ban quản lý rừng và doanh nghiệp.
Đến thời điểm hiện tại, thành phố đã thực hiện 3880 lượt ha quản lý bảo vệ và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng, nhưng con số này còn quá thấp so với chỉ tiêu thành phố đề ra. Cần phải đẩy mạnh thực hiện chính sách giao khoán và bảo vệ rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, đồng quản lý rừng. Hoàn thành dứt điểm công tác phân cấp, chuyển giao đất về cho địa phương quản lý sau qui hoạch 3 loại rừng nhằm đảm bảo rừng đều có chủ.
Dự kiến chi phí đầu tư bảo vệ và phát triển rừng từ 2011 đến 2020 lên đến 107 tỷ đồng, trong đó từ 2011 đến 2015 là 62 tỷ và 2016 đến 2020 là 45 tỷ. Nhưng hiện nay, nguồn vốn cho việc bảo vệ và phát triển rừng còn hạn chế.
Trong thời gian tới, thành phố cần tăng cường tiếp cận, thu hút nguồn đầu tư của nước ngoài vào các dự án phát triển rừng tại thành phố; lồng ghép các kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng với các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Xây dựng chính sách hỗ trợ đầu tư ban đầu, cho vay tín dụng ưu đãi hoặc thế chấp bằng chính sổ đỏ của đất rừng để trồng rừng phù hợp với từng loại cây trồng, thời gian hoàn trả vốn vay khi có sản phẩm khai thác chính.
Thực hiện chính sách về chi trả dịch vụ môi trường rừng, đối với rừng đặc dụng và rừng phòng hộ ưu tiên xúc tiến mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng, thu phí môi trường rừng đối với các công trình thủy điện, nước sạch, dịch vụ du lịch theo quy định.
Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền rộng rãi trong cộng đồng tại địa phương về công tác bảo vệ và phát triển rừng, nhằm thay đổi căn bản nhận thức về ngành lâm nghiệp là ngành kinh tế gắn với thu nhập, cuộc sống của người dân.
Hiện, Đà Nẵng đã tiến hành quy hoạch sử dụng rừng và đất lâm nghiệp của thành phố theo 3 loại rừng đặc dụng – phòng hộ - sản xuất đến năm 2020 đã được UBND thành phố phê duyệt tại Quyết định số 5924/QĐ-UBND, với quy mô lên đến 57.195 ha gồm: 31.116 ha rừng đặc dụng, 8.693 ha rừng phòng hộ, 17.385 ha rừng sản xuất và có 2.279 ha rừng tự nhiên và rừng trồng đất ngoài quy hoạch lâm nghiệp. (Tài Nguyên Và Môi Trường 20/7) đầu trang(
Bà Nguyễn Thị Phúc, đại biểu Quốc hội đơn vị Bình Thuận, cho biết công tác bảo vệ rừng ở một số địa phương chưa tốt. Cụ thể, tại xã Phan Dũng (huyện Tuy Phong) tình trạng phá rừng không thuyên giảm. “Lâm tặc đưa cả cơ giới vào rừng và khi các hộ dân nhận khoán bảo vệ rừng ra ngăn cản thì bị đe dọa” - đại biểu Phúc nói.
Theo đại biểu Phúc, từ xã xuống đồng bằng chỉ có con đường độc đạo, các phương tiện chở gỗ cũng đi con đường này. Các trạm kiểm lâm, ban quản lý bảo vệ rừng cũng nằm trên con đường này.
“Thế nhưng mỗi ngày cũng trên con đường này có từ 60 đến 100 xe thồ, thậm chí có hôm từ 150 đến 200 xe, mỗi xe chở 2-3 khúc gỗ dài. Khi người dân báo thì lực lượng kiểm lâm, bảo vệ rừng lại cho là xe chở… củi. Ngày 6-7, tôi đi công tác tại xã Phan Dũng bắt gặp bốn xe chở gỗ đi ngang qua các trạm nhưng không thấy ai kiểm tra. Ngoài ra, còn nhiều xe thồ ngồi hai bên đường chờ chở gỗ từ rừng ra. Vấn nạn phá rừng ở đây là quá nghiêm trọng” - bà Phúc nói.
Dự kiến hôm 21-7, HĐND tỉnh sẽ tiến hành phiên chất vấn. Trong đó, Sở NN&PTNT sẽ trả lời về nạn phá rừng Nà Dệt, Giếng Cọp (huyện Hàm Thuận Nam); vụ phá rừng phòng hộ Sông Lũy, Bắc Bình do Pháp Luật TP.HCM phản ảnh nhưng việc phát hiện, xử lý, ngăn chặn chưa có kết quả... (Pháp Luật TP.HCM 21/7) đầu trang(
Ngày 10/7 UBND tỉnh đã ban hành Công văn số 4941/UBND-NNMT, gửi Sở Tài nguyên và Môi trường về thực hiện Công văn số 01/BTNMT-TCMT ngày 29/6/2015 của của Ban chỉ đạo thực hiện chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 về việc báo cáo tình hình thực hiện công tác bảo tồn đa dạng sinh học theo Quyết định số 1250/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Theo đó, UBND tỉnh giao Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan và UBND các huyện, thị xã, thành phố tổng hợp và báo cáo trực tiếp về Ban chỉ đạo thực hiện chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 - Bộ Tài nguyên và Môi trường theo yêu cầu của Bộ Tài nguyên và Môi trường tại Công văn trên. (Báo Đắk Lắk 19/7) đầu trang(
Đa dạng sinh học chính là vẻ đẹp muôn hình vạn trạng về sự sống trên trái đất - từ những vi sinh vật nhỏ bé nhất chỉ có thể quan sát dưới kính hiển vi, tới loài động vật có vú khổng lồ, và sự tương tác qua lại giữa chúng với địa điểm sống - tổng thể mà chúng ta vẫn gọi là các hệ sinh thái (rừng, biển,...).
Đa dạng sinh học và các hệ sinh thái cung cấp cho con người thức ăn, không khí và nước sạch, nguyên liệu cho may mặc, y tế, hay thậm chí là nơi trú ẩn, bên cạnh phục vụ và đáp ứng những nhu cầu căn bản khác.
Khu vực ASEAN chỉ chiếm 3% tổng diện tích bề mặt trái đất, nhưng lại là nơi cư ngụ của 19% các loài động, thực vật và các sinh vật biển đã được Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế phát hiện và ghi nhận.
Đây là khu vực có tới 3 trong tổng số 17 nước đa dạng sinh học nhất thế giới: Malaysia, Indonesia và Phillipines. Không chỉ dừng lại ở đó, khu vực cũng là cái nôi hình thành một số cơ quan, tổ chức về sinh học - địa lý hay nhiều trung tâm tập trung nghiên cứu các loài chim, thực vật và côn trùng sinh sống ở phạm vi nhất định.
Do giáp ranh biên giới đất liền và biển nên các nước thành viên ASEAN thường có chung các loài động, thực vật mang tính đặc thù về sinh học so với các khu vực khác trên thế giới. Toàn bộ những điểm này đặt ASEAN vào vị thế của một khu vực trọng yếu đối với tính bền vững môi trường toàn cầu.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của khía cạnh này, Trung tâm đa dạng sinh học của ASEAN đã tổ chức cuộc thi ảnh cho các nhiếp ảnh gia chuyên và không chuyên từ 10 nước thành viên, nhằm khuyến khích họ lưu lại những khoảnh khắc minh chứng cho sự phong phú và độc đáo về đa dạng sinh học của chính khu vực.
Các bức ảnh dự thi theo chủ đề "Một ASEAN. Một Đa dạng sinh học", sẽ được tổng hợp sau hạn chót gửi bài dự thi là ngày 31/8 tới. Các tác phẩm được đánh giá trên các tiêu chí đúng chủ đề, bố cục, tính sáng tạo và kỹ thuật nhiếp ảnh, với giải thưởng cao nhất lên tới 1.500 USD.
Cuộc thi được đông đảo cộng đồng đánh giá là hoạt động bổ ích và lý thú, nâng cao nhận thức và ý thức của mỗi người đối với vấn đề đa dạng sinh học, bởi bảo vệ đa dạng sinh học chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta. (Báo Nghệ An 20/7) đầu trang(
Liên tiếp là địa phương dẫn đầu cả nước về tỷ lệ trồng rừng mới, với độ che phủ đạt 64%, song hiện nay tỉnh Tuyên Quang bị “tố” vì các dự án trồng rừng kém hiệu quả, nhiều nơi đã lợi dụng trồng mới để... phá rừng.
Theo báo cáo của Sở NNPTNT tỉnh Tuyên Quang, từ năm 2010 đến nay, trung bình mỗi năm tỉnh này trồng mới được từ 10.000 – 14.000ha rừng, nâng độ che phủ từ 58% lên 64% năm 2015 - đạt tỷ lệ cao nhất cả nước. Tuy nhiên, qua tìm hiểu thực tế, phóng viên NTNN nhận thấy nhiều con số báo cáo có vấn đề chưa rõ ràng.
Cụ thể, sở dĩ hàng năm Tuyên Quang có diện tích trồng rừng lớn và có độ che phủ cao nhất cả nước là bởi rừng được trồng đi trồng lại trên cùng một diện tích, nhưng vẫn được tính là trồng mới. Điều đáng nói nữa là, nhiều dự án trồng rừng đã ngang nhiên chặt hạ gỗ lớn tại rừng đặc dụng, rừng phòng hộ để trồng những cây gỗ non như keo, xoan, lát, mỡ…
Đơn cử như cuối năm 2009, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Na Hang cho trồng mới hơn 500ha rừng phòng hộ tại các xã Sơn Phú, Thanh Tương, Khâu Tinh… Tuy nhiên, sang đến năm 2010, khi kiểm kê lại đã có hơn 100ha rừng bị chết trắng, để lại những vùng đất trơ trọi mà trước đó nơi đây là rừng tạp, rừng tái sinh, gây thiệt hại hàng tỷ đồng.
Điều đáng nói là cùng diện tích trên, sau khi cây bị chết đã được trồng lại tới 2 lần nhưng vẫn được tính là “trồng mới”.
Đầu tháng 7, chúng tôi về xã Sơn Phú (Na Hang) và được người dân dẫn lên những quả đồi đã từng trồng xoan, mỡ, lát, nhưng theo quan sát của chúng tôi hiện chỉ còn vài cây còi cọc còn sót lại, chen lẫn rừng lau lách um tùm.
Ông Hà Văn Hạnh ở thôn Pắc Hẩu bức xúc nói: “Từ năm 2009 – 2012 họ đã phá rừng và trồng mới khoảng 30ha lát, mỡ ở đây. Nhưng các anh thấy đấy, tìm mãi mới thấy một cây lát, cây trồng không phù hợp, không hiệu quả, ấy vậy mà vẫn được nghiệm thu”.
Tại thôn Khuổi Hoi, tình trạng còn be bét hơn khi cả một cánh rừng rộng lớn đã được phát sạch, thân gỗ đã được lấy đi, chỉ còn trơ lại những gốc cây to cả người ôm bị đốt cháy nham nhở. Đưa mắt nhìn sang núi đằng xa, chúng tôi nghe rõ tiếng cưa máy đang réo và tiếng cây đổ rầm rầm. Một người dân ở đây cho biết, việc phá rừng để trồng mới này là do kiểm lâm chỉ đạo.
“Chúng tôi chỉ là người làm thuê, họ chỉ đến đâu chúng tôi chặt đến đó thôi”, một người dân cho hay. Tương tự lại xã Thanh Tương, người dân cũng phản ánh nhiều diện tích rừng có cây gỗ lớn cũng đã được phát quang để trồng mới…
Rời Na Hang, chúng tôi tìm đến các xã Thượng Lâm, Khuổi Hà (huyện Lâm Bình), nơi được cho là có nhiều diện tích trồng rừng kém hiệu quả, song năm nào cũng có kế hoạch trồng mới. Ông Trần Văn Lâm ở bản Phắt, xã Thượng Lâm cho biết, hiện ông được Ban quản lý rừng phòng hộ Lâm Bình giao quản lý 50ha rừng xoan, mỡ, lát, được trồng 6 năm trước.
“Đất ở đây không phù hợp với xoan, mỡ nên chết nhiều lắm, chỉ có lát còn sống được, nhưng phát triển rất chậm, không biết đến bao giờ mới được thu” – ông Lâm lo lắng.
Sau khi ghi nhận các ý kiến của người dân và tìm hiểu thực tế, phóng viên NTNN đã trao đổi với ông Nguyễn Xuân Hải – Trưởng phòng NNPTNT Lâm Bình. Nói về hiệu quả trong trồng rừng mới, ông Hải chỉ nói chung chung: “Do là huyện nghèo mới tách năm 2011, nên ngoài việc trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất cũng được lãnh đạo quan tâm. Tuy nhiên, đúng là kết quả không như mong muốn”.
Trong khi đó, ông Nguyễn Hữu Tình – Phó trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ Lâm Bình cho biết, hiện Ban đang quản lý 39.000ha rừng tự nhiên, ngoài ra còn quản lý và phát triển 2.000ha rừng phòng hộ mới trồng và 1.100ha rừng sản xuất.
Về nguyên nhân các dự án trồng rừng kém hiệu quả, ông Tình cho rằng: “Một phần do thời tiết khắc nghiệt, phần do thời điểm trồng chưa hợp lý, người dân trồng, chăm sóc chưa đúng kỹ thuật dẫn đến lượng cây trồng bị hao hụt nhiều”.
Về tình trạng tại các xã như Thanh Tương, Sơn Phú, Thượng Lâm… “lợi dụng” việc phát thực bì trồng rừng mới, nhiều người đã “tiện tay” chặt phá những cây gỗ lớn, quý, mà theo người dân có sự chỉ đạo của kiểm lâm, chúng tôi đã làm việc với ông Khổng Văn Quang – Hạt phó Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Na Hang.
Tại buổi làm việc, ông Quang khẳng định: “Rừng trồng mới ở Sơn Phú, Thanh Tương được thực hiện theo đúng chỉ đạo của UBND tỉnh là trồng ở những vùng đất trống”.
Tuy nhiên, khi chúng tôi đưa ra các chứng cứ đã thu thập được, thì ông Quang lại chống chế rằng: “Chúng tôi đã nhờ chính quyền địa phương họ thống kê những vùng không có rừng mới phát trồng mới. Có thể khi phát họ… nhầm vị trí. Nếu đúng họ chặt gỗ lớn để trồng rừng, chúng tôi sẽ xử lý”.
Ông Triệu Đăng Khoa – Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Tuyên Quang xác nhận, việc các diện tích trồng rừng lát, xoan, mỡ ở Na Hang, Lâm Bình… do cây không phù hợp dẫn đến chết, đã được đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh giám sát và xác nhận là có thực.
Ông Khoa cho hay: “Cây chết có rất nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân cơ bản do người dân trồng không đúng kỹ thuật, trồng chậm dẫn đến cây yếu, nên tỷ lệ sống thấp. Còn thông tin một số địa phương chặt phá rừng gỗ lớn để trồng rừng chúng tôi mới biết, sẽ cho kiểm tra, xử lý ngay”. (Dân Việt 20/7) đầu trang(
Liên tiếp những vụ lâm tặc tổ chức phá rừng quy mô lớn, hàng trăm m3 gỗ lậu được các đầu nậu đưa ra khỏi cửa rừng để tìm nơi tiêu thụ, trong khi chủ rừng, cán bộ kiểm lâm, các lực lượng được giao nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng cũng như chính quyền sở tại lại tỏ ra thiếu tinh thần trách nhiệm, lơ là kiểm tra, kiểm soát.
Đầu tháng 6/2015, tại khu vực biên giới Việt – Lào thuộc rừng phòng hộ xã Thanh Thủy, huyện Thanh Chương, Phòng cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường công an Nghệ An phá chuyên án “365G”, bắt giữ 06 đối tượng về hành vi khai thác rừng trái phép, thu giữ 35,4 m3gỗ.
Điều đáng nói là địa điểm khai thác gỗ trái phép xẩy tại khu vực vành đai biên giới – nơi lâu nay vẫn được xem là bảo vệ nghiêm ngặt khiến dư luận không khỏi bất ngờ.
Ông Phan Đình Hà – Phó chủ tịch UBND huyện Thanh Chương cho rằng: Vai trò của các lực lượng thực hiện chức trách của mình còn lỏng lẻo, vụ việc xẩy ra tại khu vực cửa khẩu Thanh Thủy, nằm trên vành đai biên giới, mà lại nằm ngay cạnh đồn biên phòng, rõ ràng là công tác quản lý người ra vào khu vực biên giới chưa tốt.
Sau vụ việc xẩy ra tại địa bàn xã Thanh Thủy, ngày 28/6, Phòng cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường công an Nghệ An tiếp tục phá chuyên án 615R, bắt quả tang 02 đối tượng Nguyễn Mộng Thạch, SN 1985 và Lô Hồng Thiện, SN 1993, đều trú tại xã Mậu Đức, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An về hành vi khai thác rừng trái phép cho việc khai thác lâm sản trái phép.
Địa điểm khai thác gỗ trái phép chỉ cách trung tâm xã Mậu Đức vỏn vẹn 10 km, các đối tượng ngang nhiên khai thác, vận chuyển gỗ ra khỏi rừng bằng phương tiện cơ giới trên tuyến đường độc đạo – nơi có lực lượng của Ban quản lý rừng phòng hộ, chính quyền địa phương và đặc biệt là trạm kiểm lâm địa bàn của Hạt kiểm lâm huyện Con Cuông chốt giữ, vậy vì sao vụ việc không được phát hiện?
Trả lời câu hỏi của PV, Ông Ngân Văn Dương – Phó chủ tịch UBND xã Mậu Đức, huyện Con Cuông cho biết: Trước khi xẩy ra vụ việc, cử tri cũng đã thắc mắc, chúng tôi cũng đã có ý kiến lên huyện, lên hạt kiểm lâm, giao ban tại xã chúng tôi cũng đã trao đổi với cán bộ ở trạm kiểm lâm địa bàn là rừng chúng ta đang có hiện tượng bị chặt phá, phải có biện pháp ngăn chặn, thế nhưng sự việc vẫn xẩy ra.
Trở lại vụ phá rừng tại tiểu khu 748 và 752 thuộc địa bàn xã Đôn Phục và xã Mậu Đức huyện Con Cuông, kết quả điều tra, xác minh ban đầu cho thấy, đối tượng chính trong vụ phá rừng là một đầu nậu chuyên mua bán gỗ lậu trên địa bàn xã Mậu Đức.
Trong khi 2 cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn nơi xẩy ra vụ việc, thì một người có quan hệ thông gia và một người là con rể của đối tượng khai thác gỗ trái phép. Như vậy, ngoài việc buông lỏng công tác quản lý, thiếu tinh thần trách nhiệm trong công tác quản lý bảo vệ rừng, cơ quan chức năng cần làm rõ, có hay không việc cán bộ trạm kiểm lâm tiếp tay, bảo kê cho lâm tặc phá rừng, buôn bán lâm sản trái phép.
Ngoài vụ phá rừng xẩy ra trên địa bàn huyện Con Cuông nói trên, từ đầu năm đến nay, riêng Phòng cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường công an Nghệ An đã phát hiện, bắt giữ và xử lý 28 vụ, 35 đối tượng, thu giữ gần 230m3 gỗ cùng nhiều phương tiện và tang vật phục vụ cho việc vận chuyển và khai thác lâm sản trái phép.
Tuy nhiên, theo lãnh đạo Phòng cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường công an Nghệ An, nhiều vụ việc bị cơ quan này phát hiện, bắt giữ và chuyển giao cho các đơn vị chức năng theo thẩm quyền nhưng việc xử lý còn bị xem nhẹ. Nhiều vụ việc kéo dài hàng năm nhưng cán bộ sai phạm vẫn chưa bị xử lý kỷ luật.
Việc kiểm tra, xác minh, làm rõ trách nhiệm, xử lý nghiêm đối với tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ trong công tác quản lý, bảo vệ rừng nhưng thiếu tinh thần trách nhiệm, không hoàn thành nhiệm vụ được giao, để xẩy ra tình trạng phá rừng nghiêm trọng kéo dài thực hiện chưa thực sự nghiêm túc.
Điển hình như vụ việc Nguyễn Trọng Độ trạm trưởng Trạm Quản lý rừng phòng hộ Cao Vều, xã Phúc Sơn, huyện Anh Sơn 7 người đốn hạ khoảng 1ha cây rừng với khối lượng 29,35m3 gỗ từ nhóm 5 – 8 tại tiểu khu 946 thuộc Rừng phòng hộ huyện Anh Sơn do đơn vị này trực tiếp bảo vệ, quản lý vào tháng 8 năm 2014 nhưng đến nay Nguyễn Trọng Độ vẫn tại vị mà chưa hề bị xử lý kỷ luật. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Nghệ An 20/7) đầu trang(
Theo Ban quản lý rừng đặc dụng Phong Quang (Hà Giang) cho biết: Vừa qua đơn vị đã bắt giữ 1 xe ô tô biển kiểm soát 14M – 3162, do Nguyễn Tiến Phong điều khiển, đang vận chuyển 9 thanh gỗ trai, nhóm IIA, có khối lượng 0,145m3.
Qua đấu tranh lấy lời khai, Phong khai chủ số gỗ trên là của ông Trần Hữu Khang, là Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Lùng Giàng B, xã Phong Quang, thuộc Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Phong Quang, Ban quản lý rừng đặc dụng Phong Quang. Ông Khang nhờ Phong chở 9 thanh gỗ trai về Hà Giang để… làm nhà.
Hiện vụ việc vẫn đang được các cơ quan chức năng điều tra, làm rõ. Sau khi được Ban quản lý và Hạt Phong Quang yêu cầu viết tường trình sự việc, Khang đã nhận do thiếu một ít gỗ làm nhà nên được một người dân sinh sống tại thôn Hoàng Lỳ Pả, xã Minh Tân (Vị Xuyên) cho số gỗ (0,145m3) đã để từ lâu trong gia đình. Vì thế khi nhờ được xe ô tô của Phong, Khang đã tự ý vận chuyển về nhà.
Hiện vụ việc vẫn đang được các cơ quan chức năng điều tra, làm rõ. (Tài Nguyên và Môi Trường 20/7) đầu trang(
Rừng ngập mặn xã Thụy Trường (Thái Thụy) có diện tích trên 1.400ha với nhiều loại động thực vật sinh sống. Đối với người dân nơi đây, rừng giống như “bức tường xanh” trước biển, bảo vệ họ bình an trong mùa mưa bão.
Còn với những du khách lần đầu đến đây sẽ có cảm giác vô cùng ngạc nhiên vì giữa một miền quê cò bay thẳng cánh như Thái Bình lại có cánh rừng ngập mặn xanh đến ngút ngàn. Trong cánh rừng ấy, mỗi khi chiều buông, hàng chục loại chim ríu ran bay liệng trên các ngọn cây bần, cây vẹt, tạo ra một không gian thoáng đãng, bình yên.
Theo người dân trong xã, trước đây, rừng ngập mặn ở Thụy Trường thưa thớt cây, cây bần, cây vẹt mọc thành từng chòm nhỏ, bà con chưa hiểu được tầm quan trọng của rừng nên thường chặt cành cây về làm củi khiến rừng đã thưa lại càng thưa hơn.
Mỗi khi có bão gió, sóng biển vỗ mạnh vào tận chân đê khiến người dân Thụy Trường nơm nớp nỗi lo đê vỡ. Năm 1994, được sự quan tâm của Hội Chữ thập đỏ tỉnh, Dự án trồng rừng ngập mặn phòng ngừa thảm họa do Hội Chữ thập đỏ Đan Mạch tài trợ được triển khai tại xã.
Ông Vũ Đình Sơn, Phó Ban Tuyên giáo Đảng ủy xã, một trong những người đi đầu trong phong trào trồng rừng ngập mặn ở Thụy Trường kể: Không khí trồng rừng lúc đó hăng hái lắm. Để có cây giống, giáo viên, học sinh Trường Trung học cơ sở Thụy Trường đã tổ chức lấy đất ven biển cho vào túi nilon làm bầu, ươm hạt.
Khi cây cao khoảng 40 - 50cm, xã giao cho các đoàn thể, nhất là Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ nhận cây giống, đem trồng, chăm sóc. Do sóng biển mạnh, người dân khi đi khai thác thủy hải sản trong rừng chưa có ý thức bảo vệ nên tỷ lệ cây trồng sống và sinh trưởng được trên bãi rất thấp, thường chỉ đạt khoảng 10 - 20%.
Tuy nhiên, với quyết tâm tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ rừng ngập mặn, hàng năm đều đặn trồng mới, trồng bổ sung những cây đã chết nên đến nay, đi dọc triền đê Thụy Trường sẽ thấy cánh rừng ngập mặn với chiều dài trên 4km, chiều rộng hàng trăm mét. Những cây bần, cây vẹt chùm rễ xum xuê, bám chặt vào lòng đất, gắn kết, tạo thành “bức tường xanh” kiên cố, bảo vệ hệ thống đê biển.
Ông Đồng Minh Chính, Phó Chủ tịch UBND xã Thụy Trường cho hay: Bên cạnh vai trò quan trọng là che chở, bảo vệ hệ thống đê biển trong mùa mưa bão, từ khi có rừng đến nay, rất nhiều loại chim, thủy hải sản đã về đây trú ngụ.
Mỗi buổi tối từ tháng 5 đến tháng 10, trong rừng ngập mặn Thụy Trường có rất đông người dân địa phương vào bắt còng gọng đỏ, cáy, cua, tôm, cá đem bán, lúc cao điểm có những ngày có hàng trăm người đi, sau mỗi chuyến đi đem lại cho người dân thu nhập khoảng 100.000 - 200.000 đồng. Các hoạt động này đều được xã quản lý, giám sát chặt chẽ nhằm bảo đảm cho sự ổn định và phát triển bền vững của rừng.
Rừng ngập mặn Thụy Trường tạo ra sự đa dạng sinh học, phòng, chống thiên tai, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nhiều hộ dân địa phương. Đây cũng là điểm đến hấp dẫn cho những du khách thích khám phá, trải nghiệm.
UBND xã Thụy Trường mong muốn cấp trên, các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tiếp tục quan tâm đầu tư kinh phí để bảo vệ, phát triển rừng ngập mặn Thụy Trường trở thành điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. (Báo Thái Bình 20/7) đầu trang(
Nếu như 6 tháng đầu năm nay, diện tích rừng bị chặt phá giảm 420ha thì diện tích rừng bị cháy tăng gấp 2 lần so với năm ngoái, lên tới 1.734ha.
Trên 71.000ha là diện tích rừng được trồng mới ở nước ta trong 6 tháng đầu năm 2015, không chỉ đạt kế hoạch mà diện tích này còn tăng cao hơn so với cùng kỳ năm ngoái. Trong số hơn 71.000ha diện tích rừng trồng mới này, Tuyên Quang là địa phương trồng được diện tích rừng tăng cao nhất với gần 11.000ha.
Nếu như 6 tháng đầu năm nay, diện tích rừng bị chặt phá giảm 420ha thì diện tích rừng bị cháy tăng gấp 2 lần so với năm ngoái, lên tới 1.734ha.
Thời tiết trong những ngày qua có những diễn biến phức tạp gây nguy cơ cao cho cháy rừng. Điển hình như việc cháy gần 200ha rừng tại ba xã thuộc thôn 3 xã Triệu Lộc (huyện Hậu Lộc) và Hoằng Trung, Hoằng Khánh (Hoằng Hóa, Thanh Hóa).
Do vậy, các địa phương cần tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ, điều tra, xử lý nghiêm minh, kịp thời các đối tượng phá rừng.
Tăng cường quản lý nhà nước về đất lâm nghiệp; kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm phá rừng, khai thác, buôn bán, vận chuyển, cất giấu lâm sản trái phép; cương quyết tổ chức cưỡng chế, giải tỏa, thu hồi diện tích rừng bị phá, bảo vệ màu xanh và đảm bảo môi trường sống trong sạch cho người dân… (VOV Giao Thông 20/7) đầu trang(
Một điều cũng đáng lo ngại khi hơn tuần nay đó là tình trạng rừng keo ngay khu vực cửa vào khu du lịch hồ Phú Ninh bị chặt phá không thương tiếc. Nhiều vạt keo lai chỉ một hai năm tuổi bị cưa ngang thân nằm vắt vẻo khắp nơi, cành nhánh đổ ra héo rũ.
Bà Nguyễn Thị Hạnh, người dân thôn Đại An, xã Tam Đại đang đi vớt vát loại củi này giãi bày: “Ai chặt phá keo rừng phòng hộ tui không biết, mà họ cũng đâu để cho tui biết. Còn tui già yếu cũng chỉ vào kiếm ít củi mà thôi”. Nhìn cây rựa trên tay bà, tôi biết bà nói thật bởi toàn bộ số keo bị đốn hạ theo quan sát của chúng tôi đều bị cưa máy tiện đứt hẳn hoi.
Tìm hiểu sự việc chúng tôi được biết, có một thực tế không phải bây giờ mà nhiều năm qua vẫn diễn ra đó là, tình trạng người dân quanh khu vực hồ Phú Ninh sản xuất bấp bênh, đời sống khó khăn đã bỏ ruộng vào rừng.
Có người dân thật thà, nếu không vào rừng kiếm củi mỗi ngày lấy chi nuôi con. Người có sức thì đi chặt gỗ bán, người già yếu đi nhặt củi kiếm ngày mấy chục ngàn đồng. Song không ít người mượn cớ nghèo khó để phá rừng, tận thu tất cả những gì có từ rừng phòng hộ Phú Ninh.
Một lãnh đạo Cty khai thác du lịch ở hồ Phú Ninh cho hay: Việc phát hiện tình trạng rừng keo bị chặt phá chúng tôi rất lo lắng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và hoạt động của khu du lịch, nhất là thời tiết nắng nóng hiện nay rất dễ xảy ra cháy rừng”.
Rõ ràng câu chuyện khai thác vàng trái phép, rồi chặt phá rừng keo ở khu du lịch rừng phòng hộ Phú Ninh (Quảng Nam) không là chuyện nhỏ mà cần có sự vào cuộc của cơ quan chức năng, hòng ngăn chặn, giảm thiểu những thiệt hại đáng tiếc khi thực tế không đóng khung mãi ở chuyện cảnh báo là chấm hết. (Công An TP.Đà Nẵng 20/7)
Cuộc thi được Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (thuộc Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam) phát động từ cuối tháng 11/2014 trên phạm vi cả nước với mong muốn nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc bào vệ động vật hoang dã, góp phàn bảo tồn hệ sinh học đa dạng của Viẹt Nam.
Sau ba tháng, đã có hơn 155.000 tác phẩm dự thi. Ban Tổ chức đã chấm và quyết định trao 14 giải thưởng cá nhân và 3 giải tập thể. Lễ trao giải sẽ được tổ chức vào ngày 22/7 tại Hà Nội. (Khoa Học Và Đời Sống 20/7)
Rừng giáp ranh luôn là trái bóng bị đá qua lại, lợi dụng cơ hội này lâm tặc, người dân biến rừng thành miếng mồi ngon. H. M'Đrắc (Đắc Lắc) là địa phương có rừng giáp ranh với 2 tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa nên công tác tuần tra bảo vệ cũng hết sức nan giải... Ngay khi tiếp xúc, Phó Hạt trưởng Hạt kiểm lâm H. M'Đrắc Lê Ngọc Tam khẳng định rằng với điều kiện tự nhiên hết sức khó khăn, lại là vùng giáp ranh nên công tác quản lý rừng của anh em gặp bất lợi.
Ngoài ra, với vùng đệm xuyên suốt các xã có điều kiện kinh tế khó khăn và đồng bào di cư tự do từ các tỉnh phía Bắc cũng là áp lực. M'Đrắc là một huyện vùng sâu vùng xa của tỉnh Đắc Lắc, cách trung tâm TP Buôn Ma Thuột 90 km về hướng đông.
Với diện tích tự nhiên 133,6 nghìn héc-ta, trong đó diện tích có rừng hơn 66 nghìn héc-ta , giáp ranh với các huyện Sông Hinh (Phú Yên), Khánh Vĩnh (Khánh Hòa). Con số được Hạt Kiểm lâm M'Đrắc cung cấp: từ năm 2012 đến năm 2014, tại vùng giáp ranh với H. Sông Hinh (Phú Yên) đã xảy ra 32 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu hơn 95 m3 gỗ, 7 xe độ và máy cưa.
Cũng trong thời gian này, tại địa phận giáp ranh với H. Khánh Vĩnh và Ninh Hòa (Khánh Hòa) tình hình vi phạm lâm luật cũng hết sức phức tạp với 49 vụ được phát hiện, 16 xe độ chế, 11 cưa máy... Những con số biết nói này đã một phần khái quát tình hình ở đây.
Ông Lê Ngọc Tam giải thích rằng nguyên nhân của các vụ việc này là do địa bàn giáp ranh có địa hình đồi dốc, nguy hiểm nên việc tuần tra rất khó khăn. Một thực tế là lâm tặc khai thác ở vùng rừng của tỉnh này, nhưng khi lực lượng chức năng phát hiện thì dạt qua tỉnh khác. Nhiều lúc anh em phát hiện, di chuyển lên đến hiện trường thì các đối tượng đã lẩn trốn hay bỏ sang địa phận khác.
Như đầu năm 2015, số vụ vi phạm lâm luật là 10 vụ, chủ yếu là bắt giữ lâm sản (gỗ) khi các đối tượng vận chuyển. Nhưng cũng vất vả lắm vì xe cộ dùng để chuyển gỗ là xe độ chế hay xe hết niên hạn sử dụng được mua từ các tỉnh khác. Khi phát hiện, lái xe bỏ của chạy lấy người là chuyện thường tình.
Một vấn đề khác cũng không kém phần nan giải mà lực lượng kiểm lâm ở đây phải đối mặt là tình trạng người dân địa phương phá rừng ở các vùng đệm để làm nương rẫy. Xã Ea Trang, dọc theo những tuyến đường người dân chặt phá cây, đốt bỏ thực bì để "điền" vào đó là lúa, ngô và sắn.
Thôn Ea Bra (Ea Trang) hình thành năm 2010, với 91 nóc nhà, 524 khẩu chủ yếu là đồng bào di dân từ hai tỉnh Lào Cai và Hà Giang với tình trạng thiếu đất canh tác nên việc phá rừng làm nương rẫy là không tránh khỏi. Nhiều hộ dân ở đây cho biết rằng việc phá rừng thuộc khu vực vùng đệm là điều vi phạm pháp luật, nhưng họ đành nhắm mắt làm liều, nếu không thì lấy đâu ra ngô, khoai ăn.
Mùa mưa năm 2015, xác định việc phá rừng làm nương rẫy là điểm nóng, Hạt Kiểm lâm H. M'Đrắc xây dựng nhiều phương án nhằm tuyên truyền cho người dân về vấn đề này. Kiểm lâm cơ sở và việc tăng cường kiểm lâm viên xuống địa bàn là một trong những kế hoạch được triển khai đầu tiên.
Việc thứ hai là kết hợp giữa lực lượng kiểm lâm ba tỉnh trong việc chia sẻ thông tin và hiệp đồng khi làm nhiệm vụ. Ông Tam lưu ý rằng để bảo vệ tốt rừng giáp ranh, cần thiết nhất là mối liên hệ chặt chẽ giữa các địa phương có rừng, nếu có sự vụ xảy ra thì không bị động và lâm tặc cũng không lợi dụng cơ hội này mà đào thoát. (Công An TP.Đà Nẵng 20/7) đầu trang(
Ngày 14-7, tại Tiểu khu 20, Vườn quốc gia Bù Gia Mập, Tổ kiểm lâm cơ động phối hợp với cộng đồng nhận khoán thôn Bù Lư, xã Bù Gia Mập đã mật phục, bắt gọn đối tượng Nguyễn Văn Hưng, sinh năm 1971, thường trú thôn 2 Bù Khơn, xã Đắk Ơ (Bù Gia Mập) về hành vi săn bắn động vật hoang dã trái phép.
Tại thời điểm bắt giữ, Hưng mang theo một súng săn tự chế, một bao đạn và 9 viên đạn hoa cải, cùng một số vật dụng như: gạo, thịt heo, quần áo... Trong quá trình vây bắt, đối tượng đã bỏ chạy sâu vào rừng khoảng 1km, tổ công tác rất kiên trì truy đuổi mới bắt được. Qua đấu tranh khai thác, đối tượng khai nhận vào rừng để bắn động vật.
Theo Ban quản lý Vườn quốc gia Bù Gia Mập, thời gian qua, nạn khai thác lâm sản gỗ tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập đã giảm đáng kể. Tuy nhiên, tình trạng khai thác lâm sản ngoài gỗ vẫn còn diễn ra, đặc biệt là săn bắt động vật hoang dã do rừng nằm gần khu dân cư và vùng đệm của vườn không còn rừng. (Báo Bình Phước 19/7) đầu trang(
Đó là nhiệm vụ chính mà UBND tỉnh giao cho tổ số 1 và tổ số 2 thực hiện công tác bảo vệ và phát triển rừng được tiến hành từ tháng 7 đến tháng 12.2015.
Trong thời gian này, tổ số 1 - do ông Huỳnh Ngọc Bảo, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh làm tổ trưởng), tiến hành kiểm tra, truy quét các điểm nóng về phá rừng, khai thác lâm sản vùng giáp ranh; phá rừng để lấn, chiếm đất lâm nghiệp trái phép; các cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản trên địa bàn huyện Phù Cát, Phù Mỹ, Hoài Nhơn, Hoài Ân, An Lão.
Tổ số 2 - do ông Nguyễn Thế Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh làm tổ trưởng), tiến hành kiểm tra, truy quét các điểm nóng về phá rừng, khai thác lâm sản vùng giáp ranh; phá rừng để lấn, chiếm đất lâm nghiệp trái phép; các cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản trên địa bàn TP Quy Nhơn, thị xã An Nhơn và các huyện: Tuy Phước, Tây Sơn, Vân Canh, Vĩnh Thạnh. (Báo Bình Định 19/7) đầu trang(
Tình trạng khai thác gỗ trái phép tại rừng đầu nguồn hồ chứa nước Đá Bàn (xã Ninh Sơn, TX.Ninh Hòa) thường xuyên xảy ra.
Cứ vào lúc trưa và chiều tối hàng ngày, một số lâm tặc dùng xe máy chở những khúc gỗ đã cưa từ rừng chuyển về xuôi. (Thanh Niên 20/7) đầu trang(
UBND TP.HCM đã yêu cầu UBND quận-huyện nơi có rừng tiếp tục tăng cường các biện pháp quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và cây phân tán năm 2014 - 2015.
Theo đó, UBND quận-huyện nơi có rừng cần phân công lực lượng ứng trực 24/24 giờ; bố trí lực lượng canh phòng ở những khu vực có nguy cơ cháy rừng cao; huy động các lực lượng tại chỗ xử lý ngay khi có cháy rừng, không để xảy ra cháy lớn; kiểm soát chặt chẽ người vào những khu vực rừng có nguy cơ cháy cao, tạm dừng các hoạt động xử lý thực bì bằng dùng lửa; tăng cường tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về phòng cháy, chữa cháy rừng trong cộng đồng dân cư.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các phương án bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng của các quận-huyện nơi có rừng; thường xuyên theo dõi thông tin cảnh báo cháy rừng... (Tuổi Trẻ 20/7) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Dọc vùng ven biển Ninh Ích (thị xã Ninh Hòa, Khánh Hòa), những cánh rừng ngập mặn đã bắt đầu vươn lên xanh tốt. Dưới tán rừng, các loài thủy sản được người dân thả nuôi đang mang lại hiệu quả cao.
Trên chiếc ghe nhỏ đưa chúng tôi len lỏi dưới những tán rừng đước, ông Nguyễn Văn Sang - người dân thôn Tân Đảo cho biết: “Rừng ngập mặn Ninh Ích đang được phục hồi từng ngày. Ngày xưa, nhà nhà thi nhau phá rừng để nuôi tôm; bây giờ, người dân đã biết trồng và bảo vệ rừng ngập mặn”.
Được sự vận động của chính quyền địa phương, ông Sang và nhiều hộ khác đã tiên phong trồng và bảo vệ rừng ngập mặn. Hiện nay, những vạt rừng ngập mặn đã hình thành trở lại, tán rừng rậm rạp là nơi trú ẩn và sinh sản cho nhiều loài hải sản...
Được biết, trước năm 1995, đầm Nha Phu có diện tích rừng ngập mặn nguyên sinh hơn 200ha. Khi phong trào nuôi tôm công nghiệp phát triển, đìa tôm phát triển đến đâu, rừng ngập mặn bị đốn hạ đến đó. Năm 2006, xã được Tổ chức Tokyo Marine Minchido phối hợp với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tài trợ để trồng tái tạo 5ha rừng.
UBND xã vận động nhân dân tự trồng, khoanh nuôi bảo vệ thêm 10ha. Đến nay, diện tích rừng ngập mặn ở Ninh Ích đã được phục hồi hơn 20ha, nhiều cây đã có đường kính thân hơn 20cm, cao hơn 5m.
Phục hồi, bảo vệ rừng ngập mặn, người dân Ninh Ích đang được rừng cho lộc. Từ ngày rừng đước được trồng và từng bước phục hồi, môi trường sinh thái ngập mặn ven đầm Nha Phu đã bắt đầu có những chuyển biến tích cực. Vào mùa mưa bão, người dân ở đây không còn lo lắng bờ đìa bị sóng gió, bão lụt, thủy triều gây xói lở.
Các loài thủy sản trong đầm và ở đìa nuôi tự nhiên của người dân cũng dần được phục hồi, sinh sôi. Chính vì vậy, nhiều ngư dân cho biết, họ sẽ tích cực bảo vệ, phục hồi rừng ngập mặn.
Theo ông Phạm Thúc - Chủ tịch Hội Nông dân xã Ninh Ích, nhiều mô hình khôi phục rừng đước ở 2 xã Ninh Ích và Ninh Lộc được người dân triển khai. Việc khôi phục rừng ngập mặn được thực hiện ngay trên diện tích ao đìa nuôi tôm bằng cách trồng đước kết hợp nuôi tôm, cua, cá theo kiểu tự nhiên.
Theo kế hoạch của UBND xã Ninh Ích, địa phương phấn đấu ít nhất 1 năm khôi phục được 1ha rừng ngập mặn bằng cách vận động người dân trồng đước ngay trên đìa nuôi thủy sản.
Ông Nguyễn Văn Phai (thôn Tân Đảo) cho biết: “Gia đình tôi có 2ha đìa. Do nuôi tôm thua lỗ liên tiếp nên một thời gian dài tôi để đìa hoang. Được sự vận động của xã, tôi đã trồng rừng ngập mặn trong đìa và bắt đầu kết hợp nuôi một số loài thủy sản. Ban đầu, tôi chỉ thả một ít cua, cá; sau thấy có hiệu quả nên thả nuôi với số lượng nhiều hơn.
Thủy sản nuôi dưới chân rừng ngập mặn ít bị dịch bệnh, cho thu hoạch quanh năm, tỷ lệ hao hụt thấp. Hàng ngày, tôi thu nhập khoảng 500.000 đồng từ việc bán cua, cá nên cuộc sống cũng ổn định...”.
Ông Nguyễn Văn Hoàng - một trong những hộ kết hợp trồng đước với nuôi tôm ở thôn Tân Đảo kể: Cách đây 4 năm, gia đình tôi đã đưa cây đước vào trồng ở đìa tôm, diện tích rừng ngập mặn được trồng chiếm 50% diện tích đìa nuôi. Cây đước đã giúp tôm ít bị dịch bệnh. Không những thế, các loại hải sản khác cũng sinh sôi rất nhiều dưới tán cây.
“Ngoài việc thu hoạch tôm nuôi, gia đình tôi còn có thêm nguồn thu từ ốc, cua... sinh sản tự nhiên. Thủy sản nuôi theo kiểu tự nhiên bán giá cao hơn so với nuôi công nghiệp”, ông Hoàng nói.
Theo nhiều nông dân xã Ninh Ích, việc nuôi trồng thủy sản dưới chân rừng ngập mặn chi phí đầu tư rất ít, chỉ tốn tiền mua con giống; thậm chí có hộ chỉ lấy hải sản khai thác được ngoài biển để thả vào đìa nuôi; nguồn thức ăn đã sẵn có dưới tán rừng. Tuy nhiên, người dân lại gặp khó khăn trong khâu thu hoạch, họ không thể thu hoạch đồng loạt mà phải đánh bắt hàng ngày.
Ông Phạm Ngọc Khánh - Phó Chủ tịch UBND xã Ninh Ích cho biết: “Từ khi rừng ngập mặn được phục hồi dần, có 10 hộ ở thôn Tân Đảo đã nuôi thủy sản ngay dưới chân rừng theo kiểu nuôi tự nhiên.
Hiện nay, diện tích nuôi theo cách này có gần 15ha, vừa giúp ổn định cuộc sống của người dân nhờ thu nhập khá, vừa bảo vệ được rừng ngập mặn. Thời gian tới, địa phương sẽ khuyến khích người dân triển khai cách nuôi này”. (Báo Khánh Hòa 20/7) đầu trang(
Do trên địa bàn quản lý có nhiều đồng bào dân tộc tại chỗ và di dân tự do bị thiếu đất sản xuất, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, lại nằm trong vùng giáp ranh giữa Bình Thuận và Lâm Đồng, nên rừng thường xuyên bị tác động xấu.
Mặt khác, các đối tượng lâm tặc rất hung hăng, xem thường pháp luật, dùng nhiều thủ đoạn chống đối lực lượng tuần tra, kiểm soát, dẫn đến công tác quản lý - bảo vệ rừng (QLBV) gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm.
Thế nhưng, với ý thức trách nhiệm được giao, những năm qua, đặc biệt là trong nhiệm kỳ 2010-2015, Chi bộ, Ban giám đốc Ban quản lý rừng Hòa Bắc - Hòa Nam đã lãnh, chỉ đạo tập thể CBCNV đơn vị phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương sở tại làm tốt công tác QLBV-PT rừng và an sinh xã hội (ASXH).
Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Chi bộ và các Nghị quyết quyết của Đảng bộ cấp trên, nhiệm kỳ 2005-2010, hàng năm Chi bộ Ban QLBV rừng Hòa bắc-Hòa Nam đều xây dựng Nghị quyết chuyên đề về QLBV-PT rừng.
Thực hiện Nghị quyết chuyên đề của Chi bộ, Ban giám đốc đã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện bằng những biện pháp, giải pháp phù hợp với đặc điểm tình hình của đơn vị địa phương, như: Thường xuyên củng cố, kiện toàn lực lượng làm công tác QLBV, xây dựng hệ thống trạm bảo vệ, đài quan sát, hệ thống biển báo cháy rừng, trang bị phương tiện phòng, chống cháy rừng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân hiểu biết Luật BV-PT rừng để nâng cao ý thức phòng, chống cháy rừng, tổ chức tập huấn nghiệp vụ QLBV rừng cho các đơn vị tập thể, các hộ dân nhận khoán QLBV rừng, phối hợp với các địa phương, các ngành chức năng tổ chức tuần tra, kiểm soát, phát hiện, lập biên bản vi phạm lâm luật và kiên quyết xử lỳ các đối tượng vi phạm Luật BV-PT rừng…
Bằng việc triển khai các biện pháp, giải pháp nói trên, 5 năm qua, Ban QLBV rừng Hòa Bắc - Hòa Nam đã tổ chức hàng chục đợt tuyên truyền lưu động, trong trường học, trong hội nghị cho hơn 1.330 lượt người dân và hàng ngàn lượt học sinh hiểu rỏ mục đích, ý nghĩa của việc QLBV rừng.
Cùng với đó, Ban đã triển khai 725 đợt tuần tra, kiểm soát, phát hiện, lập biên bản và xử lý đúng quy định pháp luật 264 vụ vi phạm Luật BV-PT rừng.
Ban cũng đã tổ chức đốt trước, làm giãm vật liệu cháy 38 ha/năm, tự đốt da beo 450 ha/năm, đốt trước thực bì 250 ha/năm, khoán PCC rừng 28,26 ha/năm, làm đường ranh cản lửa 50 k,/năm… Nhờ vậy, trong 5 năm qua, số vụ vi phạm lâm luật giảm so với 5 năm trước 111 vụ, số vụ cháy rừng giảm mạnh, không gây thiệt hại đáng kể.
Bên cạnh công tác QLBV, PCC rừng đạt kết quả khả quan như vừa nói, công tác lâm sinh cũng được Ban QLBV rừng Hòa Bắc - Hòa Nam thực hiện khá tốt. Theo số liệu thống kê, nhiệm kỳ 2010-2015, Ban đã trồng mới được 80,7ha rừng, tăng so với nhiệm kỳ trước 33,1 ha, nâng tổ diện tích rừng trồng của đơn vị lên gần 1.200 ha, tăng độ che phủ rừng trên địa bàn quản lý lên 97%.
Việc trồng rừng đúng quy trình kỷ thuật, cộng với việc tổ chức chăm sóc tốt rừng trồng (trong nhiệm kỳ chăm sóc được 240,2 ha) cho phép tỷ lệ rừng trồng sống 100% và phát triển tốt, rừng có chất lượng. Mặt khác, Ban cũng đã tiến hành giao khoán QLBV 8.685ha rừng cho 249 hộ dân, trong đó có 181 hộ đồng bào DTTS, 68 hộ nghèo người kinh, tạo công ăn việc làm ổn định, với mức thu nhập thêm 1,7 triệu đồng/hộ/tháng, để họ có điều kiện thoát nghèo.
Điều đáng nói nữa là: Không chỉ nỗ lực làm tốt công tác QLBV rừng-PT rừng, nhiệm kỳ 2010-2015, Ban QLBV rừng Hòa Bắc-Hòa Nam còn làm tốt công tác ASXH tại địa phương theo phương châm “Làm tốt công tác QLBV-PT rừng để có điều kiện làm tốt công tác ASXH, ngược lại làm tốt công tác ASXH để thúc đẩy công tác QLBV-PT rừng đạt kết quả”.
Thực hiện phương châm này, nhiệm kỳ qua, Ban đã chuyển đổi mục đích, khai hoang 27,4 ha đất, cấp cho 39 hộ dân thiếu đất sản xuất, cấp miễn phí 40.000 cây cà phê giống mới cho 154 hộ dân, làm mới 36 km đường GTNT, xây mới 4 Hội trường, 3 nhà mẫu giáo, 20 km đường dây trung-hạ thế, khoan 2 giếng lấy nước sinh hoạt, tưới tiêu cho người dân hai xã Hòa Bắc, Hòa Nam, với tổng kinh phí đầu tư trên 85 tỷ đồng.
Đặc biệt, Ban đã làm chủ đầu tư xây dựng hồ chứa nước ĐạR’bo với diện tích mặt hồ 15 ha và hệ thống kênh mương dẫn nước dài 10km tại xã Hòa Bắc, đám bảo nước tưới cho 215 ha cây nông nghiệp của địa phương.
Ngoài ra, Ban cũng đã tổ chức chăn nuôi bò, cá hồ trên lòng hồ thủy điện Hàm Thuận - Đa Mi để cải thiện thêm bữa ăn, chi trợ cấp, khen thưởng cho CBCNV và tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho các gia đình chính sách, thôn trưởng, già làng uy tín, có nhiều đóng góp cho đơn vị thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của đơn vị.
Cùng với đó, Ban cũng đã vận động CBCNV tích cực đóng góp tiền lương phụng dưỡng suốt đời một bà mẹ VNAH và đóng góp xây dựng Quỹ Đền ơn đáp nghĩa, Quỹ nạn nhân chất độc da cam, Quỹ Khuyến học-Khuyến tài, Quỹ xóa đói, giãm nghèo… tại địa phương.
Ông Trần Đình Nga - Bí thư Chi bộ, Giám đốc Ban QLBV rừng Hòa Bắc - Hòa Nam khẳng định: Với việc làm tốt công tác QLBV-PT rừng và ASXH, Ban QLBV rừng Hòa Bắc-Hòa Nam đã có những đóng góp trong việc phát triển nguồn tài nguyên rừng và thúc đẩy KT-XH của địa phương phát triển.
Mặt khác, đã tạo sự gắn kết của cán bộ, đảng viên, CNV trong việc xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể của đơn vị TSVM và vững mạnh toàn diện, xuất sắc 4 năm liền. Đây là cơ sở để Chi bộ, BGĐ, các tổ chức đoàn thể của Ban tiếp tục xây dựng TSVM, vững mạnh toàn diện, xuất sắc trong nhiệm kỳ 2015-2020, nhằm nâng cao năng lực lãnh; chỉ đạo, quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao của đơn vị. (Báo Lâm Đồng 20/7) đầu trang(
UBND TP Hội An (Quảng Nam) vừa Ban hành Quy chế Quản lý Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm - Hội An ( gọi tắt KSQ).
Theo đó, KSQ được quản lý theo cơ chế dựa trên mối liên kết của 4 lực lượng gồm Quản lý - Khoa học - Doanh nghiệp - Cộng đồng. Áp dụng 12 nguyên tắc “Tiếp cận hệ sinh thái”. Phải đảm bảo sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người. Thông qua quản lý KSQ để tăng cường tính thực thi pháp luật của nhà nước.
Được quản lý theo phương thức quản lý tổng hợp, mở, phối hợp đa ngành, đa lĩnh vực, đa đối tác đặt dưới sự quản lý thống nhất của UBND TP Hội An.
Đặc biệt nhấn mạnh trách nhiệm của cộng đồng dân cư địa phương trong việc tham gia bảo vệ và phát triển KSQ theo quy định của pháp luật và theo quy chế ban hành.
Theo đó, sẽ được tham gia, được thành lập và triển khai hoạt động các tổ chức tự quản theo quy ước cộng đồng để tham gia cùng Ban quản lý KSQ, các ngành và chính quyền các địa phương vào các hoạt động như: Góp ý xây dựng quy hoạch, kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn di sản văn hóa của KSQ.
Truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức, đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học về bảo tồn; tuần tra, bảo vệ KSQ và giám sát các hoạt động bảo tồn, phát triển, phát huy giá trị KSQ. Được hưởng lợi ích từ việc bảo tồn, phát triển, phát huy giá trị KSQ.
Việc ban hành quy chế quản lý KSQ góp phần giữ gìn hệ sinh thái đang có, từng bước phục hồi hệ sinh thái đã mất, bảo tồn được đa dạng sinh học, phát triển bền vững và phát huy tốt giá trị của KSQ cả về tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội và khoa học. (Văn Hóa 20/7) đầu trang(
Mới đây, tỉnh Đác Nông đã đồng ý chủ trương giao cho huyện Đác Song lập phương án giao đất, giao rừng cho dân quản lý, bảo vệ và trồng rừng.
Cùng với trách nhiệm, nghĩa vụ liên quan, các hộ nhận khoán sẽ được hưởng chính sách hỗ trợ theo quy định, đồng thời sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với thời hạn 50 năm và được xây dựng hàng quán theo quy hoạch của huyện.
Rừng thông phòng hộ cảnh quan dọc quốc lộ 14 đoạn qua huyện Đác Song, tỉnh Đác Nông, đang bị tàn phá nghiêm trọng, nhiều phương án quản lý, bảo vệ đã được áp dụng nhưng không thể ngăn chặn.
Huyện Đác Song đã nhiều lần cưỡng chế giả tỏa, tái trồng rừng trên diện tích người dân chặt phá lấy đất sản xuất, lấn chiếm làm lều quán, nhưng tình hình phá rừng, tái chiếm đất rừng vẫn tiếp tục diến biến hết sức phức tạp, thậm chí các đối tượng còn dùng thuốc hóa học để “bức tử” rừng thông…
Hiện tại, huyện Đác Song đang triển khai các quy trình để đến hết tháng bảy năm 2015 sẽ hoàn thành hồ sơ, tiến hành đo đạc, bàn giao rừng cho khoảng 100 hộ dân có nhu cầu nhận khoán quản lý, bảo vệ và trồng rừng.
Bên cạnh đó, Huyện đoàn Đác Song đã triển khai dự án “Cung đường thanh niên” dài hơn 20km qua địa bàn hai xã Trường Xuân và Nâm N’jang giao cho chi đoàn, đoàn cơ sở hai xã trực tiếp quản lý.
Theo đó, ngoài việc xây dựng pa nô, áp phích, các biển tuyên truyền trực quan, hàng tháng các chi đoàn sẽ trực tiếp phát dọn vệ sinh, tổ chức tuyên truyền vận động người thân và gia đình tham gia bảo vệ, quản lý rừng phòng hộ cảnh quan, góp phần tạo nên “cung đường đẹp nhất Tây Nguyên”. (Nhân Dân 20/7) đầu trang(
Phản ánh với Đoàn Giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004 - 2014, lãnh đạo nhiều địa phương phía Bắc bày tỏ lo ngại về một cuộc tranh chấp khó có hồi kết.
Tại hội thảo “Tình hình quản lý, sử dụng đất đai tại các lâm trường quốc doanh, thực trạng và những vấn đề đặt ra” do Chủ tịch Hội đồng Dân tộc K’sor Phước chủ trì, đại diện các địa phương khu vực phía Bắc nêu thực trạng hiện nay chưa có hướng dẫn để giải quyết phần diện tích đất đang có tranh chấp tại các lâm trường cũng như việc thanh lý tài sản trên đất rừng sau khi chuyển giao và cơ chế tích tụ đất rừng sản xuất...Kết quả của thực trạng trên là nhiều địa phương không dám nhận phần đất được giao lại, dẫn đến khó thu hút các cá nhân, doanh nghiệp có tiềm lực đầu tư vào những diện tích đất này.
Trong khi đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường chưa nắm chính xác con số diện tích các loại đất rừng do từng lâm trường quốc doanh quản lý.
Thực tế cho thấy, nếu những vướng mắc cũ trong sắp xếp, đổi mới lâm trường quốc doanh không được tháo gỡ, sẽ rất khó tạo được diện mạo mới cho lĩnh vực này.
Như tại Hà Nội, theo báo cáo của Tp.Hà Nội, tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp của Hà Nội là 28.851 ha, trong đó, diện tích đất có rừng là 24.301 ha, rừng trồng mới là 227 ha.
Qua kiểm tra, các nông, lâm trường thì thấy, nhiều đơn vị chưa thực hiện thủ tục thuê đất, giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chưa nộp tiền thuê đất, tiền sử dụng đất theo quy định, chưa rà soát diện tích đất đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng và cả diện tích không quản lý, sử dụng để bàn giao lại địa phương, dẫn đến hàng nghìn héc-ta đất trong thời gian dài không ai quản lý.
Nhiều diện tích đất bị lấn chiếm, tranh chấp, chuyển mục đích thành đất ở. Các hộ được giao khoán đất để sản xuất tự xây dựng nhà ở, chuyển nhượng trái phép. Có tới 6,9 triệu m2 đất bị sử dụng sai mục đích. Tình trạng lấn chiếm, mua bán trái phép diễn ra tràn lan tại hầu khắp các nông, lâm trường...
Hay như theo báo cáo của tỉnh Tây Ninh, việc tỉnh giao đất cho các nông, lâm trường quốc doanh trước đây chủ yếu theo quy hoạch trên bản đồ, chưa được đo đạc làm rõ ranh giới trên thực địa, đồng thời, một số nông, lâm trường do buông lỏng việc quản lý nên đã diễn ra tình trạng bao chiếm đất sản xuất trái phép, dẫn đến tranh chấp kéo dài, làm tình hình quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh ngày càng phức tạp.
Các địa phương đề nghị, sau đợt giám sát, cần có tiêu chí xác định rõ hiệu quả hoạt động, diện tích đất giao khoán thuộc quyền quản lý của lâm trường cũng như các căn cứ xác định quy mô của mỗi đơn vị.
Đồng thời, chỉ đạo sát sao việc thay đổi phương thức quản trị... Có như vậy, hiệu quả và chất lượng sắp xếp, đổi mới lâm trường quốc doanh mới đạt mục tiêu và mong muốn đề ra.
Theo tổng hợp của Đoàn giám sát cho thấy, sau hơn 10 năm thực hiện sắp xếp lại các lâm trường quốc doanh theo Nghị quyết số 28/NQ/TƯ ngày 16/6/2003 về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh của Bộ Chính trị và các nghị định của Chính phủ, hiện nay, cả nước có 148 công ty lâm nghiệp và 91 ban quản lý rừng phòng hộ.
Tổng diện tích rừng do các ban quản lý rừng phòng hộ và các công ty lâm nghiệp đang quản lý, sử dụng là hơn 3 triệu 500 nghìn héc-ta.
Trong quản lý và sử dụng đất đai, 25% nông, lâm trường đã chuyển sang giao đất có thu tiền hoặc thuê đất theo quy định của Luật Đất đai; 56% nông, lâm trường với 57% tổng diện tích đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; các nông, lâm trường đã bàn giao gần 532.000 héc-ta đất cho chính quyền địa phương quản lý để giao cho dân và đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng.
Việc rà soát hiện trạng sử dụng đất của các lâm trường mới chủ yếu thực hiện trên sổ sách mà không được rà soát trên thực địa.
Nhiều lâm trường sau khi được sắp xếp đã không thực hiện việc lập hoặc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất chi tiết để phù hợp yêu cầu nhiệm vụ mới sau khi sắp xếp; không rà soát xác định, cắm mốc và đo đạc ranh giới đất. Nhiều lâm trường chuyển đổi thành doanh nghiệp đã không làm thủ tục chuyển sang giao đất có thu tiền hoặc thuê đất theo quy định của Luật Đất đai.
Tại một số đơn vị sau khi cổ phần hóa, công tác quản lý đất đai vẫn tiếp tục lỏng lẻo, không được tăng cường. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các nông, lâm trường ở các địa phương còn chậm, đến nay còn 54,2% diện tích chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tình trạng tranh chấp, vi phạm Luật Đất đai trong các lâm trường vẫn còn phổ biến dưới nhiều hình thức. Việc bàn giao đất cho địa phương quản lý còn chậm, hiệu quả chưa cao. 10 năm qua, các nông, lâm trường đã chuyển giao một phần đất về cho chính quyền địa phương quản lý 883.012 héc-ta, thấp so với yêu cầu...
Tất nhiên, so với tình trạng cách đây 10 năm, cả nước có 39 tỉnh, thành có nông trường bị lấn chiếm đất; 24 tỉnh, thành có tranh chấp đất nông trường; 39 tỉnh, thành có lâm trường bị lấn chiếm đất và 24 tỉnh, thành có tranh chấp đất ở các lâm trường.
Khi quá trình sắp xếp, đổi mới chưa được triển khai, tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất của các nông, lâm trường trên toàn quốc diễn ra khá phổ biến, nhiều trường hợp kéo dài và phức tạp. Thì đến nay, tình trạng trên đã giảm đi nhiều nhưng bao giờ mới đi đến hồi kết của cuộc tranh chấp này vẫn đang là vấn đề còn bỏ ngỏ. (Cafeland 21/7) đầu trang(
Từ bé, PGS-TS Nguyễn Thị Bích Ngọc đã mơ ước được nối nghiệp cha (TS Nguyễn Chí Thanh - nguyên Trưởng phòng Bảo quản lâm sản, Viện Khoa học Lâm nghiệp, Bộ NNPTNT - người được tôn là “vua diệt mối VN”). Tình yêu và sự nỗ lực trong nghiên cứu khoa học đã giúp cô sinh viên Trường Đại học Lâm nghiệp ngày nào trở thành một trong những chuyên gia chính trong lĩnh vực bảo quản lâm sản ở VN.
Với cương vị Phó Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp VN, PGS-TS Nguyễn Thị Bích Ngọc đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tham gia đấu thầu và thực hiện thành công nhiều đề tài, dự án cấp nhà nước, cấp bộ...
Chỉ riêng năm 2014, viện đã thực hiện 82 nhiệm vụ khoa học công nghệ và môi trường (cấp nhà nước 14 đề tài, cấp bộ 48 đề tài, cấp viện 13 đề tài và cấp tỉnh 7 đề tài). Hầu hết các đề tài, dự án của viện được Hội đồng khoa học nghiệm thu đánh giá đạt loại khá trở lên.
Với nhiệm vụ chuyên môn, PGS-TS Nguyễn Thị Bích Ngọc là chủ nhiệm của nhiều dự án, đề tài khoa học mang lại hiệu quả cao khi áp dụng vào thực tiễn cuộc sống.
Dự án sản xuất thử cấp nhà nước “Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ, thiết bị sản xuất chế phẩm XM5 và ứng dụng để bảo quản gỗ rừng trồng sử dụng ngoài trời là trụ chống cho cây hồ tiêu, thanh long” (2006-2009) đã giúp gỗ rừng trồng được bảo quản có khả năng chống mối mọt và nấm mục tốt, kéo dài tuổi thọ sử dụng gấp 4-5 lần, hoàn toàn đáp ứng yêu cầu làm trụ chống cho hồ tiêu, thanh long.
Kết quả nghiên cứu này đã mở ra một giải pháp mới về sử dụng cây trụ chống có giá thành rẻ, thay thế cho cách dùng gỗ quý tự nhiên và trụ bêtông. Đề tài “Nghiên cứu công nghệ bảo quản, chế biến gỗ rừng trồng” (đề tài khoa học công nghệ trọng điểm cấp bộ) với việc nghiên cứu thành công 2 loại thuốc bảo quản lâm sản chứa hoạt chất là dầu vỏ hạt điều được Hội đồng KHCN của Bộ NNPTNT công nhận là tiến bộ kỹ thuật năm 2010.
2 loại thuốc bảo quản lâm sản mới này đã được Bộ NNPTNT cấp giấy phép đăng ký và đưa vào Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở VN… Từ những kết quả nghiên cứu và triển khai đạt được, chị Ngọc đã được nhận Giải thưởng Bông lúa vàng lần thứ nhất năm 2012 của Bộ NNPTNT.
Giống như cha mình, trước tình trạng nhiều loại lâm sản dễ bị sâu, nấm, côn trùng, hà biển và các yếu tố phi sinh vật như thời tiết, nhiệt độ, ánh sáng, lửa… làm hư hại, chị Ngọc đã chọn ngành bảo quản lâm sản làm hướng đi của mình. Việc nghiên cứu tìm giải pháp kéo dài tuổi thọ sử dụng cho các sản phẩm làm từ lâm sản trở thành mệnh lệnh, chiếm hết tâm huyết, công sức, thời gian của chị.
Đáp lại, chị Ngọc luôn tìm thấy niềm vui khi những kết quả nghiên cứu của mình và đồng nghiệp được ứng dụng trong cuộc sống thực sự mang lại hiệu quả cao, gắn bó, gần gũi với đời sống người dân; góp phần giải quyết nhu cầu bức thiết của xã hội.
Theo chị Ngọc, gỗ rừng trồng đang là nguồn nguyên liệu chính cho các nhu cầu sử dụng ở nước ta, nhưng lại có độ bền thấp hơn nhiều so với gỗ rừng tự nhiên. Cùng với đó là sức ép của yêu cầu từ thực tiễn cuộc sống đòi hỏi những kết quả nghiên cứu bảo quản lâm sản về sau phải tốt hơn và thân thiện, gần gũi hơn với môi trường.
Đây chính là áp lực lớn đối với những người làm nghiên cứu khoa học bảo quản lâm sản. Tuy nhiên, theo chị Ngọc, “chính những áp lực ấy lại trở thành động lực để những người làm công tác bảo quản lâm sản chung thủy, dấn thân với ngành nghề vì lợi ích người tiêu dùng và cả cộng đồng”. (Lao Động 21/7) đầu trang(
Theo báo cáo kiểm tra tại các địa phương của Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NNPTNT), trong thời gian qua các cơ quan quản lý các cấp (tỉnh, huyện, xã) chưa có sự phối hợp chặt chẽ trong quản ý giống mắc ca theo quy chế cây trồng lâm nghiệp.
Hiện nay trên địa bàn Tây Nguyên đang có nhiều hộ gia đình, cá nhân sản xuất nhỏ lẻ và các cơ sở gieo ươm, kinh doanh giống cây mắc ca. Tình trạng gieo ươm, mua bán giống mắc ca không có nguồn gốc diễn ra phổ biến có nguy cơ cho người trồng mắc ca trên diện rộng...
Trước thực trạng nói trên, Bộ NNPTNT vừa có văn bản đề nghị UBND các tỉnh Tây Nguyên khẩn trương phân công cơ quan quản lý cụ thể chịu trách nhiệm quản lý giống cây mắc ca. Kiểm tra, nắm bắt các cơ sở gieo ươm, kinh doanh giống mắc ca trên địa bàn bảo đảm thực hiện đúng quy định của pháp luật về quản lý giống cây trồng lâm nghiệp.
Bộ NNPTNT cũng yêu cầu các địa phương đình chỉ gieo ươm kinh doanh giống mắc ca mới không có trong doanh mục các giống được Bộ NNPTNT công nhận, không có nguồn gốc xuất xứ hợp pháp. Xử lý nghiêm các cơ sở gieo ươm, kinh doanh giống cây trồng vi phạm pháp luật về quản lý giống cây trồng... (Dân Việt 21/7) đầu trang(
Mới đây, Bộ NN&PTNT đã duyệt phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghiệp thuộc UBND tỉnh.
Theo đó sẽ chuyển các Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Liêu, Vân Đồn thành công ty cổ phần, trong đó Nhà nước sẽ nắm giữ cổ phần chi phối; còn các công ty TNHH MTV lâm nghiệp như: Cẩm Phả, Uông Bí, Tiên Yên, Ba Chẽ, Hoành Bồ thành công ty cổ phần Nhà nước không nắm giữ cổ phần chi phối. Duy chỉ Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đông Triều là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ để thực hiện nhiệm vụ sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích.
Như vậy có thể nói, đến thời điểm này, công tác cổ phần hoá các doanh nghiệp lâm nghiệp trên địa bàn đã cơ bản hoàn thành việc chuyển đổi mô hình với 7 công ty TNHH MTV lâm nghiệp chuyển đổi thành công ty cổ phần (riêng Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đông Triều vẫn giữ mô hình doanh nghiệp nhà nước), bước tiếp theo các công ty phải làm là tiến hành kiểm kê định giá doanh nghiệp.
Bởi đây là cơ sở xác định quy mô vốn điều lệ, cơ cấu cổ phần phát hành cũng như giá khởi điểm để thực hiện bán đấu giá cổ phần. Tuy nhiên qua nắm thực tế, hiện nay việc thực hiện khâu kiểm kê định giá doanh nghiệp đang gặp không ít khó khăn và tiến độ chậm.
Theo lý giải của các công ty trên, lý do chậm vì hiện nay vẫn chưa có quyết định cụ thể nào quy định về việc Nhà nước sẽ nắm giữ bao nhiêu phần trăm vốn ở mỗi công ty cổ phần. Bên cạnh đó, để kiểm kê định giá doanh nghiệp, các doanh nghiệp cần được chỉ định đơn vị tư vấn thực hiện định giá doanh nghiệp và các hướng dẫn cụ thể từ phía cơ quan quản lý nhà nước, tuy nhiên việc này lại tương đối chậm.
Cụ thể, liên quan đến quy định, định giá doanh nghiệp, đến trước tháng 7 vừa qua mới chỉ có một số hướng dẫn chung chung, chưa cụ thể. Phải tới gần đây nhất, liên Bộ NN&PTNT và Bộ Tài Chính mới có Thông tư liên tịch số 17 về xác định giá trị rừng, trong đó có đưa ra một số tiêu chí cần thiết. Thế nhưng doanh nghiệp lại vẫn chưa thực hiện được vì chưa được chỉ định đơn vị tư vấn.
Theo ông Nguyễn Văn Nhã, Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ, việc chậm định giá doanh nghiệp như hiện nay có nguy cơ làm chậm tiến độ triển khai việc sắp xếp, chuyển đổi mô hình của doanh nghiệp. Còn nếu trong trường hợp phải triển khai gấp gáp, vội vã sẽ khiến việc định giá qua loa, không chính xác, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của một trong 2 chủ thể là Nhà nước hoặc doanh nghiệp...
Thực tế việc kiểm kê định giá doanh nghiệp không chỉ đơn thuần kiểm kê định giá rừng mà cả định giá tài sản trên đất được giao doanh nghiệp quản lý. Riêng đối với kiểm kê định giá rừng, ngoài xác định diện tích, số lượng cây rừng như hoạt động kiểm kê thông thường còn phải tập trung xác định giá trị của rừng.
Muốn vậy, các đơn vị thực hiện phải tiến hành kiểm kê theo kiểu đi dọc lô, cắt chéo theo hình dấu nhân của lô rất mất thời gian và công sức. Theo tính toán của người trong nghề, nếu một nhóm (tối thiểu từ 3 thành viên trở lên) cùng tiến hành thì một ngày cũng chỉ có thể kiểm kê rừng với diện tích khoảng 30ha.
Bên cạnh đó, theo ông Phạm Quốc Diên, Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tiên Yên, mặc dù việc kiểm kê, xác định giá trị rừng không yêu cầu phải tiến hành trên toàn diện tích đất lâm nghiệp hiện có của mỗi đơn vị, song diện tích được kiểm kê cũng phải đảm bảo theo quy định là từ 15-20% tổng diện tích. Con số này trên thực tế rất lớn bởi hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều đang quản lý diện tích rừng lớn.
Chỉ tính riêng Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tiên Yên, vốn là doanh nghiệp có tổng diện tích quản lý trung bình trong nhóm 7 doanh nghiệp cổ phần hiện nay cũng đang quản lý 4.800ha, trong đó trên 3.500ha đất có rừng, tức là đơn vị tư vấn phải định giá rừng trên diện tích trong khoảng 500-700ha, mất khoảng 1-2 tháng.
Ngoài ra, nếu tới đây khi Nhà nước chỉ định đơn vị tư vấn và có các hướng dẫn một cách đầy đủ, chắc chắn đồng loạt 7 công ty TNHH MTV lâm nghiệp sẽ đều tiến hành kiểm kê rừng. Khi đó sẽ phát sinh vấn đề mới, đó là thiếu đơn vị tư vấn.
Theo đề án sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghiệp của tỉnh, đến quý II năm 2016, toàn bộ 7 doanh nghiệp cổ phần hoá đều phải hoàn thành nhiệm vụ này. Bởi vậy, thời điểm này việc kiểm kê định giá tài sản cần phải được khẩn trương tiến hành, tránh làm ảnh hưởng đến tiến độ chung của đề án. (Báo Quảng Ninh 20/7) đầu trang(
Các công ty xuất khẩu gỗ thể hiện kì vọng vào kết quả của kế hoạch tái cấu trúc ngành lâm nghiệp nhằm đảm bảo cho sự nhận diện của thương hiệu gỗ Việt Nam và mở rộng thị phần.
Tuy những nỗ lực tái cấu trúc đã bắt đầu từ 2 năm trước, Việt Nam dự kiến sẽ trở thành nhà xuất khẩu sản phẩm gỗ xẻ hợp pháp đến thế giới với sự hỗ trợ của Hiệp định đối tác tự nguyện về thực thi Lâm luật, quản trị và thương mại (VPA/FLEGT), dự kiến sẽ kí kết cuối năm nay.
Theo Tổng cục Lâm nghiệp Việt Nam, cơ quan này sẽ tạo những chương trình nhằm thúc đẩy các công ty chế biến gỗ hợp tác cùng người trồng rừng để phát triển khu vực nguyên liệu thô ổn định cho chế biến và xuất khẩu.
Bên cạnh đó, các khu vực chế biến gỗ chuyên biệt cũng sẽ được phát triển, đi cùng với việc thành lập các cơ sở cho xuất khẩu lâm nghiệp.
Gỗ làm nguyên liệu ở Việt Nam đến nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất, nhưng giá ổn định hơn so với hàng nhập khẩu và nguồn gốc rõ ràng.
Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp chế biến tăng sử dụng gỗ trong nước như nguyên liệu thô.
Giám đốc Công ty Cẩm Hà, xuất khẩu 70% sản phẩm gỗ đến EU, cho biết công ty mua 50% gỗ từ các nguồn trong nước mỗi năm.
Giám đốc công ty CP Lâm sản Xuất khẩu Đà Nẵng, công ty với doanh thu 3 triệu USD mỗi năm, cho biết công ty chỉ dùng gỗ trong nước với nguồn gốc hợp pháp làm nguyên vật liệu thô.
Cục Lâm nghiệp Việt Nam dự đoán Việt Nam sẽ có tổng diện tích 16,5 triệu héc-ta rừng trước 2020, trong đó 50% sẽ dùng cho sản xuất, trở thành nguồn cung ứng nguyên vật liệu thô quan trọng cho chế biến gỗ.
Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam cho biết lĩnh vực dự kiến sẽ mở rộng xuất khẩu đến các thị trường, bao gồm cả Ấn Độ, Trung Đông và Nam Mỹ.
Xa hơn, ngành dự kiến sẽ đạt kim ngạch xuất khẩu 7 tỉ USD trong năm nay.
Nửa đầu năm nay, xuất khẩu sản phẩm gỗ được dự doán ở mức 3,13 tỉ USD, tăng 8% so với cùng kì năm ngoái. (Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại Và Đầu Tư TP.HCM 20/7) đầu trang(
Ngày 14/7, tại Ban quản lý các dự án Lâm nghiệp, ông Vũ Xuân Thôn - Trưởng Ban đã có buổi tiếp đón và làm việc với Đoàn Công tác Ngân hàng tái thiết Đức (KfW) do ông Carsten Kilian, Chuyên gia cao cấp KfW làm trưởng đoàn.
Mục đích của đoàn công tác sang Việt Nam lần này là đánh giá kết quả triển khai bước đầu Dự án Quản lý rừng bền vững và đa dạng sinh học nhằm giảm phát thải CO2 (KfW8), tiếp tục đề xuất những hoạt động phối hợp hướng tới đẩy nhanh tiến độ trồng rừng và bảo vệ sự toàn vẹn của các hệ sinh thái cảnh quan ở vùng miền núi phía Bắc Việt Nam.
Trước đó, Đoàn đã có đợt thăm quan và làm việc trực tiếp tại tỉnh Lào Cai để thu thập kết quả, đánh giá việc triển khai bước đầu dự án tại tỉnh này.
Dự án KfW8 được thực hiện từ năm 2014 đến 2021 tại Yên Bái, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang và Bắc Kạn với mục tiêu dài hạn tăng cường tính đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái rừng và sự toàn vẹn của các hệ sinh thái cảnh quan ở vùng miền núi phía Bắc Việt Nam, đồng thời đóng góp vào sự thích ứng của khu vực đối với biến đổi khí hậu và hỗ trợ sinh kế của người dân địa phương.
Tại cuộc họp, ông Vũ Xuân Thôn đánh giá cao sự hợp tác toàn diện giữa Ban và Ngân hàng tái thiết Đức (KfW) trong sự nghiệp phát triển Lâm nghiệp Việt Nam, điều đó được thể hiện qua nhiều dự án trước đây mà hai bên có cơ hội phối hợp thực hiện.
Mối quan hệ này ngày một bền chặt khi hai bên tiếp tục triển khai thêm 2 dự án Lâm nghiệp là Dự án KfW8 và Dự án Bảo vệ và quản lý tổng hợp các hệ sinh thái rừng thuộc các tỉnh Quảng Nam, Kon Tum và Gia Lai (KfW10).
Đây là hai dự án đầu tư quan trọng góp phần duy trì tính toàn vẹn của hệ sinh thái và tính đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng tự nhiên ở các vùng miền núi phía Bắc Việt Nam, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên rộng lớn Việt Nam là những khu vực có nhiều tiềm năng trong phát triển Lâm nghiệp, còn nhiều khó khăn về kinh tế và cơ sở hạ tầng.
Theo đánh giá của Đoàn công tác, hai bên đã đạt được sự hợp tác thành công, bước đầu đưa dự án đi vào hoạt động thuận lợi với sự phối hợp chặt chẽ giữa các Ban quản lý Trung ương và địa phương cùng sự tham gia nhiệt tình của người dân.
Đoàn công tác đánh giá cao quyết tâm của phía Ban trong việc triển khai nhanh các thủ tục để đưa các hợp phần dự án vào thực hiện. Tại địa phương, công tác chuẩn bị nhân sự và bố trí vốn đã được khẩn trương thực hiện.
Cũng trong cuộc họp, hai bên đã đã trao đổi và đưa ra các giải pháp cụ thể để xây dựng và thực hiện kế hoạch phối hợp có hiệu quả trong triển khai thực hiện dự án. (Ban Quản Lý Các Dự Án Lâm Nghiệp 20/7) đầu trang(
CTCP Xuất nhập khẩu và Chế biến Gỗ Hưng Thịnh đăng ký thoái hơn 7 triệu cp (tỷ lệ 7.02%) của CTCP Tập đoàn Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành (HOSE: TTF). Được biết, thời gian giao dịch dự kiến từ 20/07 đến 18/08/2015. (Vietstock 21/7) đầu trang(
Các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất khẩu đồ gỗ cần chủ động liên kết với nông dân để tối ưu hóa lợi nhuận của các bên.
Chiến lược phát triển của ngành gỗ là giảm dần tỷ trọng gỗ nhập khẩu thông qua việc đẩy mạnh nguồn cung trong nước, đặc biệt từ rừng trồng, tạo nguyên liệu cho ngành chế biến đồ gỗ.
Từ thực tế thành công bước đầu của một số mô hình liên kết theo chuỗi sản phẩm lâm nghiệp, ngoài cơ chế khuyến khích của nhà nước, các doanh nghiệp (DN) sản xuất, chế biến, xuất khẩu đồ gỗ cần chủ động liên kết với nông dân để tối ưu hóa lợi nhuận của các bên, nhất là trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hiện nay.
Anh A Lăng Mười - Trưởng thôn Bút Nga, xã Sông Kôn, huyện Đông Giang (Quảng Nam) cho biết, thôn hiện có 46 hộ thì có tới 32 hộ nghèo. Những năm qua, nhờ trồng rừng xen canh nên nhiều hộ thoát nghèo và đỡ nghèo hơn. Tuy nhiên, diện tích đất rừng của mỗi hộ hiện nay còn thấp so với nhu cầu, chủ yếu rừng trồng là do đất cha ông để lại nên diện tích không đồng đều, trung bình mỗi hộ chỉ có 1 - 2 ha.
Không chỉ thiếu đất, thiếu vốn sản xuất, các hộ trồng rừng còn gặp khó khăn trong vận chuyển gỗ vì chưa có đường lâm nghiệp từ rừng ra nơi tập kết gỗ. Hầu hết người dân trong thôn Bút Nga cũng như xã Sông Kôn hiện nay tự thỏa thuận với tư thương để bán gỗ: “Rõ ràng là manh mún, thiếu tập trung. Khi cây đến tuổi, hai bên thống nhất với nhau giá bán xong, mới làm giấy xin khai thác”, anh A Lăng Mười cho hay.
Phân tích thông tin về sự manh mún, ông Đặng Công Quang, Phó TGĐ Công ty Lâm đặc sản xuất khẩu Quảng Nam ví von: “Trồng rừng ở ta bây giờ như trồng lúa. Bình quân mỗi hộ có trên dưới 1 ha rừng, mỗi nhà một mảnh. Đến khi khai thác cũng không đồng bộ, có cây trồng chưa đủ tuổi nhưng vì cần tiền, nhiều hộ vẫn cứ bán. Trong khi nguồn vốn ưu đãi hạn chế, kỹ thuật lạc hậu nên chất lượng, giá cả thấp.”
“Manh mún, đơn lẻ” không chỉ diễn ra ở một địa phương, ông Nguyễn Như Độ, Chi cục trưởng chi cục Kiểm Lâm Cà Mau cho biết: “Một trở ngại cho xu thế liên kết ở tỉnh này là diện tích giao khoán cho các hộ dân nhiều nhất từ 2- 4 ha đối với rừng đước; 3- 5 ha đối với rừng tràm tạo nên những mảnh rừng nhỏ, không tập trung”.
Đến nay cả nước đã giao đất, giao rừng cho hơn 2 triệu chủ rừng, bao gồm các DN, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. Theo ông Hứa Đức Nhị - nguyên Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, đa số chủ rừng hoạt động độc lập, chưa có sự liên kết. Nhiều quyền và nghĩa vụ của chủ rừng rất khó thực hiện đối với mỗi chủ rừng đơn lẻ, nhất là hộ gia đình, cá nhân.
Công ty Lâm đặc sản xuất khẩu Quảng Nam, một DN trực thuộc sở Nông nghiệp tỉnh, đã cổ phần hóa từ năm 2006. Công ty hiện có gần 1700 ha rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC) và đang quản lý 4.100 ha rừng trồng tại Quảng Nam và TP Đà Nẵng, trong đó nhiều diện tích theo hình thức khoán, đặt hàng với các hộ ở địa phương.
Với quy trình khép kín từ trồng rừng, khai thác, chế biến đến xuất khẩu, công ty luôn chủ động sản xuất các đơn hàng lớn, chủ động về giá sản phẩm vì có nguồn nguyên liệu ổn định. Riêng mặt hàng đồ gỗ ngoài trời, DN này xuất sang EU mỗi năm khoảng 4 triệu USD bằng gỗ hợp pháp theo quy chế gỗ của châu Âu.
Một mô hình nữa được coi là thành công bước đầu. Đó là mô hình hợp tác, liên kết giữa HTX dịch vụ sản xuất nông nghiệp Phú Hưng (Hải Lăng) với Công ty TNHH MTV Quảng Trị.
Theo khảo sát của Vụ Quản lý Sản xuất lâm nghiệp (TCLN), những năm qua, 30 hộ dân của HTX Phú Hưng cùng nhau trồng 275 ha rừng sản xuất gỗ lớn và trồng, chăm sóc 105 ha rừng thông lấy nhựa.
HTX làm đại diện, liên kết các hộ trồng rừng để được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC) nhằm giảm chi phí, nên đã có hàng nghìn ha rừng được cấp chứng chỉ này. Năm 2014, tổng doanh thu của HTX đạt 5,5 tỉ đồng, thu nhập của xã viên ổn định và tăng liên tục so với trước.
Để tiêu thụ được sản phẩm và giúp nông dân yên tâm lao động, Công ty TNHH MTV TM Quảng Trị liên kết với HTX Phú Hưng. Theo cam kết, Công ty ứng trước 4 triệu đồng/ha đối với diện tích rừng của các thành viên HTX chuyển từ rừng trồng gỗ nhỏ sang rừng trồng gỗ lớn và cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững.
Toàn bộ sản phẩm được DN thu mua với giá cao hơn so với thị trường từ 17%- 20% để sản xuất gỗ ghép thanh xuất khẩu sang EU, Hoa Kỳ và sản xuất viên gỗ nén năng lượng xuất khẩu sang Hàn Quốc.
Trên thực tế, mô hình hoạt động và liên kết như hai doanh nghiệp trên chưa nhiều. Đa số doanh nghiệp hiện vẫn mua nguyên liệu qua trung gian, còn người trồng rừng vẫn phải “tự bơi” nên hai bên chưa thể đạt tối đa lợi ích do các khâu của chuỗi giá trị lâm nghiệp bị cắt khúc.
Theo Vụ Quản lý sản xuất lâm nghiệp (Tổng cục Lâm nghiệp), hiện cả nước có gần 2 triệu ha rừng trồng là rừng sản xuất được giao cho các hộ gia đình, cá nhân. Cách làm này đang bộ lộ nhiều hạn chế, yếu kém, thu nhập và đời sống của đa số người dân vùng sâu, vùng xa còn gặp khó khăn, trong khi nhiều lâm trường, công ty lâm nghiệp nhà nước đổi mới chậm và tình trạng phá rừng trái phép vẫn tiếp tục xảy ra.
Sau 2 năm Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp được triển khai, đến nay vẫn còn 25 tỉnh, thành phố chưa phê duyệt đề án, kế hoạch hành động tái cơ cấu lâm nghiệp tại địa phương mình, do đó, mối liên hệ giữa sản xuất với tiêu thụ thường thông qua trung gian nên không ổn định, thiếu minh bạch và bị ép giá, ép cấp làm thiệt hại cho người sản xuất.
Mặt khác do tình trạng tranh mua, tranh bán vẫn tiếp diễn nên nhiều hợp đồng sản xuất, cung cấp nguyên liệu giữa người trồng rừng với DN không thực hiện được. Đây là những “lực cản” chủ yếu đối với chuỗi liên kết, hợp tác trong lâm nghiệp thời gian qua.
Theo Tổng cục Lâm nghiệp, ngoài việc tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn các chủ rừng liên kết, trong năm 2016, Bộ NN&PTNT sẽ nghiên cứu, xây dựng trình Chính phủ ban hành “Nghị định về phát triển rừng sản xuất gắn với chế biến và thương mại lâm sản”. Trong đó chú trọng khuyến khích phát triển kinh tế hợp tác và liên kết theo chuỗi sản phẩm trong lâm nghiệp.
Bộ cũng sẽ đề xuất Chính phủ tiếp tục thực hiện chính sách phát triển rừng sản xuất đối với một số hạng mục về xây dựng nguồn giống, hạ tầng kỹ thuật sản xuất giống chất lượng, đường lâm nghiệp, chi phí vận chuyển lâm sản, vì hiện nay nhiều tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp còn gặp khó khăn về nguồn vốn.
Từ kinh nghiệm thực tế của doanh nghiệp thực hiện mô hình liên kết, theo ông Đặng Công Quang, Phó TGĐ Công ty CP Lâm đặc sản xuất khẩu Quảng Nam: “Cần nhanh chóng sắp xếp, tạo cơ chế thuận lợi cho các nông, lâm trường, HTX trồng rừng. Khi đáp ứng yêu cầu về sản xuất theo chuỗi, nông dân vừa là cổ đông, vừa là người lao động, ngoài lương họ vẫn được hưởng cổ tức”.
Về sử dụng hiệu quả đất rừng, Phó Giám đốc sở NN&PTNT Tuyên Quang - Nguyễn Công Lâm, đề xuất: “Nhà nước cần có cơ chế khuyến khích tích tụ đất canh tác, đa dạng hình thức huy động vốn, đầu tư giống tốt, canh tác đúng kỹ thuật, kịp thời vụ là khâu then chốt quyết định sự thành công trong sản xuất rừng”.
Đối với DN, các chuyên gia về lâm nghiệp đưa ra “lời khuyên”: “Không có cách nào tốt hơn là các DN trên từng địa bàn phải chủ động làm nòng cốt trong mối liên kết với các nông hộ thông qua các tổ chức kinh tế hợp tác tự nguyện. Cần bắt đầu từ việc hỗ trợ đầu tư sản xuất, thực hiện bao tiêu sản phẩm nguyên liệu, chế biến sâu và phát triển thị trường ổn định, bền vững”.
Được biết, thời gian tới Hội Chủ rừng Việt Nam sẽ được thành lập để giúp chủ rừng nắm bắt thông tin các quy định về quản lý rừng; bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của chủ rừng trên cả nước, hướng tới mục tiêu bảo vệ và phát triển rừng bền vững. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 21/7) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, giá gỗ nguyên liệu để chế biến dăm XK như bạch đàn, keo lai được các công ty trên địa bàn tỉnh Bình Định thu mua ở mức ổn định 1,25 triệu đồng/tấn.
Ông Nguyễn Thế Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp (Sở NNPTNT Bình Định) cho biết, mức giá này tăng 200 ngàn đồng/tấn so với thời điểm cuối năm ngoái. Với mức giá cao và ổn định như trên, người trồng rừng đang có lãi trên 500 ngàn đồng/tấn gỗ nguyên liệu.
Từ đầu năm đến nay, các đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh đã khai thác được gần 4.000 ha rừng trồng với sản lượng gỗ nguyên liệu đạt trên 342,2 ngàn tấn. Theo kế hoạch trong năm 2015, toàn tỉnh sẽ khai thác trên 10.000 ha rừng sản xuất, tập trung tại địa bàn các huyện Vân Canh, Hoài Ân, Tây Sơn, Vĩnh Thạnh, Hoài Nhơn... (Nông Nghiệp Việt Nam 20/7) đầu trang(
Cố giữ kim ngạch, cố mở thị trường… đó là nhiệm vụ quan trọng của ngành gỗ không chỉ vì lợi ích riêng, mà còn vì cả nền kinh tế.
Nhìn trên số liệu thống kê trong gần một năm qua, cho đến cuối tháng 5/2015, ông Nguyễn Quốc Phương – Phó giám đốc Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại cho rằng, khi hàng loạt những mặt hàng xuất khẩu chủ lực đã sụt giảm kim ngạch nghiêm trọng, thì gỗ và sản phẩm từ gỗ vẫn tăng và trở thành “điểm sáng” trong bức tranh xuất khẩu.
Với những khả quan từ xuất khẩu gỗ, Bộ Công Thương và các hiệp hội, cũng như DN ngành gỗ đã rất tin tưởng đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu năm 2015 là 7,2 tỷ USD, tăng 800 triệu USD so với năm 2014.
Thế nhưng sang đến tháng 6, các DN xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ liên tục đưa ra những thông tin đáng lo ngại về sự đi xuống của kim ngạch. Số liệu của Tổng cục Hải quan cũng đã cho biết, tính đến 15/5/2015, kim ngạch xuất khẩu gỗ vẫn tăng, nhưng tính đến 15/6/2015, kim ngạch mới đạt 2,87 tỷ USD và giảm 12,6% so với cùng kỳ. Các DN và cả các hiệp hội đều cho rằng xuất khẩu gỗ nhiều khả năng không đạt mục tiêu của năm.
Nếu vậy, không chỉ ảnh hưởng đến từng DN và ngành gỗ, mà cao hơn còn ảnh hưởng lớn đến tổng kim ngạch xuất khẩu, cũng như bức tranh thương mại nói chung. Xin nhắc lại rằng, xuất khẩu gỗ tăng cũng giảm bớt cho sự chênh lệch về đóng góp vào xuất khẩu của DN Việt Nam so với khối DN FDI.
Cố giữ kim ngạch, cố mở thị trường… đó là nhiệm vụ quan trọng của ngành gỗ không chỉ vì lợi ích riêng, mà còn vì cả nền kinh tế, theo ông Nguyễn Tôn Quyền - Phó chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam.
Nếu năm 2000, xuất khẩu các mặt hàng gỗ chỉ đạt giá trị khoảng 219 triệu USD thì đến 2014, con số này đã lên tới 6,3 tỷ USD, chiếm khoảng 35% tổng tỷ trọng xuất khẩu ngành nông nghiệp. Xuất khẩu gỗ của Việt Nam hiện đứng thứ 6 thế giới, thứ 2 khu vực châu Á và đứng đầu trong khu vực Đông Nam Á.
Gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đã xuất khẩu sang hơn 120 quốc gia và thị trường chính là Hoa Kỳ, EU, Úc… Những dữ liệu nêu trên đã cho thấy phần nào một bức tranh toàn cảnh, trong đó ngành gỗ đang giữ vị trí ngày càng quan trọng góp phần phát triển kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo công ăn việc làm…
Với các hiệp định thương mại mới đã và sắp ký, “khiêm tốn mà nói, chúng tôi kỳ vọng đến 2020, con số xuất khẩu gỗ của Việt Nam sẽ ở mức 10-12 tỷ USD”, ông Quyền cho biết. Tuy nhiên, xuất khẩu gỗ lại đang gặp nhiều rào cản từ các hiệp định này, từ sự khó tính hơn của nước nhập khẩu và cũng vì chính sự khó khăn của các nước nhập khẩu ở EU.
DN ngành gỗ đều khẳng định thách thức lớn đang đặt ra và những áp lực cạnh tranh của DN ngành gỗ Việt Nam với DN ngoại ngày càng tăng. Một số nước trước đây là khách hàng nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam nhưng gần đây, họ lại là nhà xuất khẩu cạnh tranh mạnh với Việt Nam. Vậy là Việt Nam không những bị mất thị trường ở những nước này, mà còn thêm đối thủ cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Đã vậy, “sự biến động lớn giữa tỷ giá đồng EURO và đồng USD, cùng với tốc độ những khó khăn nội tại của nhiều nước trong khu vực EU đã khiến không ít khách hàng từ khu vực này liên tục đề nghị chúng tôi giảm giá hàng. Trong khi đó nguyên liệu nhập khẩu vẫn thanh toán bằng USD”, ông Nguyễn Tích Hoàn - Giám đốc Công ty Hoàng Phát cho biết.
Đại diện Công ty Thanh Thủy nói rằng, “cũng có một số khách hàng EU đã giảm lượng đặt hàng vì họ khó khăn quá”.
Ông Quyền cho biết, năm 2014, trong số 6,3 tỷ USD xuất khẩu gỗ thì số thanh toán bằng Euro cũng lên tới 800 triệu. “Rất may là ngành NH thời gian qua cũng có những hỗ trợ hiệu quả. Đơn cử như lãi suất vay ngoại tệ đã thấp hơn, trước đây khoảng 6%, giờ chỉ khoảng 5%”, ông Quyền cho biết.
Khó thì phải xoay. Một số DN xuất khẩu gỗ ở tỉnh Bình Định (trước đây chủ yếu làm hàng bàn ghế ngoài trời xuất sang EU) đang bắt đầu chuyển hẳn qua đầu tư làm bàn ghế trong nhà, xuất sang Mỹ, đồng thời tìm những đối tác mới.
Những yếu kém nội tại như trình độ quản trị của nhiều DN Việt Nam nói chung, trong ngành gỗ nói riêng, cũng là thách thức lớn. Trong khi đó, dây chuyền công nghệ sản xuất thì chủ yếu nhập từ Trung Quốc, chứ chưa dám nhập công nghệ tiên tiến, đòi hỏi đầu tư cao từ các quốc gia phát triển.
Dù còn rất nhiều điều phải lo nhưng ông Quyền cũng tỏ ra vui mừng khi cho biết, hiện đã có trên 20 DN 100% vốn trong nước (giá trị xuất khẩu hàng năm 40-50 triệu USD) đã mạnh tay đầu tư các dây chuyền công nghệ sản xuất hiện đại. Tuy nhiên để có thể nhân rộng, lan tỏa ra thì khá khó khăn, bởi “vốn đầu tư sẽ có từ đâu” luôn là yếu tố mấu chốt.
Và để xuất khẩu gỗ vượt qua được cuộc cạnh tranh, tiếp tục mở rộng thị trường, nắm bắt tốt các cơ hội mà các hiệp định thương mại mới mang lại, không thể không có sự hỗ trợ vĩ mô tầm Chính phủ. Theo ông Quyền đề nghị, đó là mở ra kênh vay vốn lãi suất thấp cho DN đầu tư công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh.
Đó còn là những chính sách để có thể quy tụ nên các trung tâm công nghiệp ngành gỗ, biến việc trồng rừng còn manh mún, phân tán hiện nay thành những “cánh rừng mẫu lớn”. Có như vậy mới hình thành được chuỗi sản xuất, tăng cường được tính liên kết, chia sẻ và hỗ trợ để ngành này phát triển. (Thời Báo Ngân Hàng 20/7) đầu trang(
Mặc dù đóng góp tới gần 60% giá trị xuất khẩu 6 tháng đầu năm của ngành gỗ cả nước, nhưng con số này có thể giữ vững hoặc tăng trong thời gian tới hay không là điều không dám chắc bởi hiện nay các DN gỗ Bình Dương vẫn chưa thoát khỏi cảnh “ăn đong” nguyên liệu.
Theo Hiệp hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương (BIFA), Bình Dương hiện có trên 500 DN chế biến và xuất khẩu gỗ. Trong đó, gồm 70% DN trong nước, 5% DN Nhà nước, phần còn lại là DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).
BIFA cho biết, những năm trước đây, các DN tỉnh Bình Dương chủ yếu nhập nguồn gỗ thô từ Campuchia, Lào nhưng hiện nay, do ảnh hưởng chính sách bảo vệ tài nguyên rừng của nước bạn, nguồn nguyên liệu phải nhập từ các nước Mỹ, Canada (chủ yếu là gỗ thông, gỗ tràm, gỗ sồi) nên phí sản xuất tăng cao, DN cũng mất nhiều thời gian hơn để đáp ứng đơn đặt hàng. Không ít DN chế biến gỗ rơi vào tình trạng có đơn hàng nhưng lại không có lợi nhuận.
Theo một số hội viên của BIFA, tình trạng khan hiếm cũng đẩy giá nguyên liệu ngày càng tăng cao, không ổn định. Chính vì vậy mà giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu không cao và quan trọng nhất là DN không chủ động được sản xuất.
Hiện giá gỗ nguyên liệu nhập khẩu rất cao, chiếm tới hơn 70% giá thành sản phẩm. Khó khăn nhất là các DN nhỏ do không có khả năng để mua được gỗ từ thị trường nước ngoài nên phải mua lại từ DN lớn với giá chênh lệch không ít.
Được biết, để giải quyết tình trạng thiếu nguyên liệu và tránh phụ thuộc nguồn nguyên liệu nhập, không ít DN đã tính đến việc đầu tư trồng rừng, chuẩn bị nguyên liệu cho lâu dài. Tuy nhiên, theo chia sẻ của đại diện Cty gỗ Trường Thành, việc đầu tư trồng rừng tại Việt Nam không dễ.
Theo tính toán, để đầu tư rừng nguyên liệu từ khi làm đất đến khi thu hoạch (khoảng 07 năm) thì DN phải đầu tư khoảng 1.000 USD/ha. DN trong nước không dễ gì đầu tư rừng bài bản như nước ngoài do thiếu vốn. Bên cạnh đó, việc xin cấp phép trồng rừng kéo dài 2-3 năm khiến không ít DN tâm huyết cũng phải nản lòng.
Còn theo Đại diện Cty CP chế biến gỗ Thuận An, một trong những rào cản mới đối với xuất khẩu đồ gỗ hiện nay là những chứng chỉ phát triển rừng bền vững (như chứng chỉ FSC). Bởi hầu hết những thị trường mà các DN Bình Dương xuất khẩu như EU, Mỹ… đều đòi hỏi phải có chứng chỉ này.
Chiến lược lâm nghiệp VN giai đoạn 2006-2020 đã xác định đến năm 2020 phấn đấu 30% diện tích rừng sản xuất (khoảng 2,6 triệu ha) có chứng chỉ rừng quốc tế. Thế nhưng hiện nay diện tích rừng có chứng chỉ của Việt Nam mới khoảng 20.000 ha, chưa thấm tháp vào đâu so với nhu cầu xuất khẩu.
Chủ tịch BIFA Huỳnh Quang Thanh cho rằng: “Đã đến lúc nên chuyển một phần cây cao su công nghiệp sang phục vụ nguồn nguyên liệu tại chỗ cho các DN gỗ. Đây là việc làm rất cần thiết, vì diện tích cây cao su tại Bình Dương lớn, trong khi tình hình giá mủ cao su rớt giá liên tục.
Bên cạnh đó, việc chuyển đổi mục đích sử dụng cây cao su không những đem lại lợi ích cho người dân tham gia trồng cao su, mà còn giải được bài toán nguồn nguyên liệu tại chỗ cho các DN giảm giá thành sản xuất, đủ sức cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài”.
Được biết, hiện nay diện tích cây cao su của Bình Dương và một số địa phương khác còn rất lớn, vòng đời của cây cao su cũng không quá dài (khoảng 30 năm) nên có thể nói đây là nguồn nguyên liệu tương đối dồi dào cho ngành chế biến gỗ của Bình Dương.
Theo Hiệp hội Cao su Việt Nam, thực tế, lượng gỗ cao su được chính các DN trong ngành cao su đưa vào chế biến ngày càng tăng. Thậm chí, thời gian qua, do lượng gỗ cao su bị hỏng đổ do thiên tai cũng như tái canh quá lớn khiến các cơ sở chế biến gỗ trong ngành cao su không sử dụng hết nguyên liệu phải đem đi xuất khẩu.
Trong năm tới, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam dự kiến sẽ thanh lý khoảng 30 nghìn ha cao su đã hết thời gian khai thác mủ để khai thác gỗ, lượng gỗ khai thác dự kiến lên tới 8-9 triệu m3 nên gỗ cao su càng dư thừa.
Hiện nay, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam nói riêng và các DN trong ngành cao su nói chung đang mong lượng gỗ nhập khẩu sẽ giảm bớt để các DN trong ngành chế biến, xuất khẩu gỗ sử dụng ngay nguyên liệu gỗ cao su trong nước, vừa giúp tiết kiệm chi phí lại giải quyết phần nào khó khăn cho ngành cao su. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 18/7) đầu trang(
Theo báo cáo của Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn, đến thời điểm này huyện Chợ Mới trồng rừng được 1.550ha/ 1.220ha kế hoạch, huyện Pác Nặm trồng rừng được 342ha/385ha kế hoạch.
Tính đến hết ngày 30/6, toàn tỉnh Bắc Kạn trồng được 5.730 ha rừng, đạt 71% kế hoạch. Trong đó diện tích rừng sản xuất đã trồng được trên 4.600 ha/6.500 ha kế hoạch; rừng phòng hộ 85 ha/190 ha kế hoạch; rừng phân tán 890 ha/1.295 ha kế hoạch.
Nguyên nhân là do giống quế chưa đủ tiêu chuẩn xuất vườn, một số nơi dừng cấp giống do thời tiết nắng nóng. Hiện nay, tỉnh đang chỉ đạo các huyện, thành phố tập trung chỉ đạo bà con đẩy nhanh tiến độ trồng rừng và phấn đấu trồng hoàn thành công tác trồng rừng trước ngày 20/7/2015. (Đài Phát Thanh và Truyền Hình Bắc Kạn 19/7) đầu trang(
UBND tỉnh đã phê duyệt 21 phương án trồng rừng thay thế với tổng diện tích 247 ha (bao gồm cả 3 loại rừng: Rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất).
Trong đó, diện tích chuyển sang làm thủy điện 52,3 ha; diện tích chuyển sang làm các công trình khác 194,7 ha. Tổng kinh phí trồng lại rừng hơn 13 tỷ đồng sẽ được các chủ đầu tư thực hiện trong 7 năm.
Hiện, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đã tổ chức kiểm tra các chủ đầu tư thực hiện trồng rừng thay thế. Qua kiểm tra cho thấy, toàn tỉnh đã có 93,8 ha rừng trồng thay thế, trong đó: Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và Phát triển Phúc Khánh (dự án thủy điện) đã trồng đủ diện tích 42,3 ha; Công ty Cổ phần Trường Giang (Sa Pa) trồng đủ 10,2 ha theo đúng kế hoạch. Nhiều chủ đầu tư đang trong quá trình triển khai, xây dựng và hoàn thiện hồ sơ thiết kế trồng rừng theo phương án của tỉnh đã phê duyệt. (Báo Lào Cai 19/7) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Phải nói ngay hai từ “lâm tặc” sử dụng ở đây là nói vui, chứ thực ra hoạt động khai thác và mua bán gỗ ở Panama mà người viết bài báo này được chứng kiến là hoàn toàn hợp pháp, có giấy phép khai thác và kinh doanh đàng hoàng.
Mới đây, theo chân một doanh nghiệp Việt Nam sang Panama tìm hiểu thị trường gỗ, tôi đã có dịp tận mắt chứng kiến một phương pháp khai thác gỗ cực kỳ ấn tượng, đó là cưa và nhổ gỗ dưới lòng hồ Bayamo, một hồ có diện tích lên tới trên 460 km vuông và có chỗ sâu tới trên 30 mét, cách trung tâm thủ đô Panama trên 100 cây số.
Dẫn chúng tôi đi là một phụ nữ trẻ, chỉ khoảng 30 tuổi, nhưng là bà chủ của một công ty khai thác gỗ nước ngoài lớn đã đấu thầu thành công việc khai thác gỗ ở một phần lòng hồ Bayamo, mà theo tính toán của doanh nhân Việt (xin phép chưa tiết lộ danh tính) số tiền đầu tư lên tới cả tỷ USD. Bà chủ trẻ này là hậu duệ đời thứ ba của một gia đình chuyên khai thác gỗ ở một nước châu Mỹ, đặc biệt ở dưới các lòng hồ.
Vượt qua một chặng đường xuyên qua những khu đất rừng mênh mông, nhà cửa thưa thớt, cuối cùng chúng tôi đã đến được bãi tập kết gỗ của “bà chủ nhỏ”, ở mép một hồ rộng như biển cả, sóng vỗ bập bềnh, nước trong leo lẻo. Là người đã buôn bán gỗ nhiều năm, nhưng doanh nhân người Việt vẫn không khỏi sững sờ trước lượng gỗ khổng lồ đã được khai thác.
Cứ cách vài chục mét là một bãi gỗ lớn, thân dài hơn chục mét, đường kính một người ôm không xuể, nối tiếp nhau, kéo dài trên một vùng đất mênh mông. Thôi thì đủ loại: chò chỉ, đinh, lim, sến, táu, dẻ, loại gì cũng có. Chưa hết, nhìn những cây gỗ ngập trong nước 40 năm giờ được đưa lên bờ, cắt khúc gọn ghẽ, doanh nhân Việt Nam ghé tai tôi nói thầm: "chất lượng gỗ này là nhất quả đất luôn"
Nghe đến đây, tôi lại nhớ tới hồi còn trẻ, ở thôn tôi có thói quen, sau khi chặt tre xong, để hết mối mọt, dân làng thường đem tre xếp dưới đáy ao, đắp bùn lên và ngâm trong một hai năm. Với xoan cũng vậy. Những cây tre già được ngâm dưới ao, khi vớt lên đều cứng và dai cực kỳ. Đằng này ngâm tới 40 năm thì chất lượng tuyệt hảo cũng phải thôi.
Nhìn bãi gỗ đầu thừa, đuôi thẹo thôi, với khối lượng cả nghìn tấn, nằm chỏng chơ cạnh mép nước, mấy người Việt Nam đã “nuốt nước bọt” ừng ực. “Những thứ này mà để làm thớt, đồ thủ công mỹ nghệ, con tiện cầu thang thì thôi rồi”, một người trong đoàn thốt lên.
Sau một tiếng đi thăm bãi gỗ, “cô chủ nhỏ” dẫn chúng tôi lên một con xuồng máy đang chờ sẵn ở mép hồ để ra khu khai thác. Chiếc xuồng được làm bằng hợp kim dày hơn đốt ngón tay (để không bị gỗ đâm thủng) do một thổ dân ở vùng Bayamo lái, “rẽ sóng ra khơi”. Nhìn ánh mắt ngạc nhiên của tôi, một thương nhân người Mexico đi cùng đoàn nói nhỏ: Trong hợp đồng đấu thầu khai thác gỗ ở đây, có điều khoản chính quyền địa phương và bên khai thác phải tạo công ăn việc làm cho người dân ở vùng lòng hồ, phần lớn là thổ dân và một phần nhỏ của tiền đấu thầu phải trả cho cộng đồng dân cư ở đây.
Đi xuồng máy chừng 20 phút, với tốc độ khá cao, chúng tôi đã tiến gần đến vùng khai thác, nơi có độ sâu chừng 20-30 mét. Thực chất lòng hồ là một cánh rừng nguyên sinh với rất nhiều gỗ quý. Khi chính phủ Panama xây dựng công trình thủy điện ở Bayamo, cách nay 40 năm, toàn bộ cánh rừng này đã bị nhấn chìm trong nước, biến thành một đập nước khổng lồ.
Những năm lại đây, lá và cành nhỏ của cây bị mục làm tăng nguy cơ ô nhiễm nước, nên chính phủ Panama đã cho phép đấu thầu khai thác gỗ, một mặt để tận dụng một nguồn gỗ khổng lồ còn dưới nước, và mặt khác làm sạch môi trường. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có ba đời khai thác gỗ, nữ đối tác của phía Việt Nam cũng là người đã sáng tạo ra một phương pháp cưa gỗ dưới nước độc đáo, được giải thưởng quốc tế.
“Chúng tôi sẽ cho mọi người xem hai cách khai thác gỗ: một là chặt gỗ dưới nước bằng cưa thủy lực và hai là dùng rô-bốt, như một chiếc máy xúc, nhổ cả cây lên”, nữ chủ nhân giới thiệu. “Cái nhà nổi mà các anh nhìn thấy chính là một điểm khai thác gỗ đấy", cô gái nói tiếp.
"Ở phía trên có hai người, còn ở dưới lòng hồ có hai thợ lặn. Trước khi dùng máy thủy lực để cưa, hai thợ lặn sẽ cột cây gỗ vào một cái phao dài 3-4 mét, to bằng thùng phi ở đoạn giữa. Khi cưa xong, cây gỗ sẽ trồi lên khỏi mặt nước, cảnh rất ấn tượng. Ai có máy quay và máy ảnh thì hãy sẵn sàng nhé”.
Quả nhiên, chỉ sau 5-6 phút chờ đợi, bất ngờ chúng tôi nhìn thấy một cây gỗ khổng lồ, như một con quái vật, lao lên khỏi mặt nước, phải tới 10 mét trên cao, rồi đổ vật xuống nước, nhưng bị phao giữ lại, nổi lập lờ. Hai người trên nhà nổi có nhiệm vụ dẫn gỗ vào một bên cạnh, chờ xà lan kéo vào bờ. Trung bình một ngày, bốn người này khai thác được 40-50 cây.
Phương pháp thứ hai “hiện đại hơn”. Một chiếc máy xúc khổng lồ, thân dài khoảng 20m, được gắn với một rô-bốt máy ngoạm mà các càng đều có máy định vị, dò sóng sonar, máy quay dưới nước. Các càng này có thể ôm trọn một thân cây lớn và nhấc cả cây, lẫn gốc rễ và cành, ra khỏi mặt đất, dù lớn đến đâu. Chúng tôi đã may mắn chụp được thời khắc cây được nhổ lên khỏi mặt nước mà không phải chờ đợi gì nhiều.
Trung bình một ngày, mỗi rô-bốt có thể nhổ 150 cây gỗ. Tính chung cả hai phương pháp, mỗi ngày công ty này có thể khai thác gần 200 cây gỗ, vậy mà hợp đồng khai thác là những 12 năm (đã thực hiện được hai năm). Như vậy đủ biết dưới lòng hồ này, số lượng gỗ nhiều như thế nào.
Rời Panama, nhà doanh nghiệp Việt Nam rất hài lòng với kết quả đạt được, còn tôi cũng vui mừng được biết thêm một công nghệ khai thác gỗ mới, độc đáo và ít biết. Là người ngoại đạo, tôi chợt nghĩ, không biết dưới lòng hồ đập Hòa Bình, Ba Bể và Trị An, có còn nhiều gỗ không nhỉ? Và không biết ở Việt Nam, đã có ai nghĩ ra cách khai thác gỗ này chưa? (Tiền Phong 17/7) đầu trang(
Với vẻ đẹp hoang sơ và nhiều loài đặc hữu, quần đảo Galapagos của Ecuador mới đây đã được độc giả tạp chí Mỹ Travel Leisure bình chọn là quần đảo đẹp nhất thế giới.
Nằm trong hệ thống khu bảo tồn quốc gia của Ecuador và là địa danh đầu tiên được UNESCO đưa vào danh sách di sản thế giới (năm 1978), quần đảo Galapagos là điểm du lịch nổi tiếng với nhiều loài sinh vật đặc hữu không tìm thấy ở bất kì nơi nào khác trên thế giới.
Galapagos là quần đảo tuyệt đẹp, thiên đường của động vật hoang dã, thuộc đất nước Ecuador. Hòn đảo này nằm biệt lập ngoài Thái Bình Dương, cách Ecuador tới 600 dặm.
Quần đảo Galapagos được phát hiện bởi giám mục De Berlanga (người Tây Ban Nha), khi ông đi truyền giáo, bị bão đánh dạt vào hòn đảo này từ năm 1535. Ông đã được vinh danh là người phát hiện ra vùng đất tuyệt đẹp, với những con rùa khổng lồ. Ông gọi hòn đảo này là Đảo Rùa, mà theo tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là Galapagos.
Đảo Galapagos gồm 13 đảo lớn, 6 đảo nhỏ và hơn 100 núi đá trọc nhô lên khỏi mặt nước. Quần đảo nằm trên xích đạo này được hình thành bởi các vụ phun trào núi lửa cách đây 3 triệu năm. Do nằm ở xích đạo, vừa mang tính nhiệt đới, vừa ôn đới, lại hàn đới, nên động thực vật vô cùng phong phú. Loài rùa khổng lồ còn sót lại trên hòn đảo này như chứng nhân cho lịch sử từ khi đảo mới hình thành.
Với khí hậu cận nhiệt đới, quần đảo Galapagos được biết đến với hệ sinh thái, động - thực vật hết sức phong phú và đa dạng. Nơi đây có đến 600 loài thực vật, 400 loài cá, 58 loài chim, 22 loài bò sát và 6 loài động vật có vú, trong đó có rất nhiều loài động vật đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Nổi tiếng nhất trong các loài động thực vật ở đây chính là loài rùa khổng lồ Galapagos có tuổi thọ đến 150 năm và cân nặng đến 400kg, đang thuộc diện được theo dõi đặc biệt. Cùng với đó là những đàn hải âu bay rợp mặt nước, những chú chim cánh cụt, sư tử biển, hải cẩu ngộ nghĩnh... Tất cả tạo nên sự thú vị, ngỡ ngàng cho du khách đặt chân đến Galapagos.
Du khách có thể chọn các tuyến du lịch kết nối giữa các đảo để có thể thưởng thức cảnh quan thiên nhiên đẹp đẽ tại các đảo thuộc Galapagos. Mỗi hòn đảo tại đây đều mang lại cho du khách những điểm kỳ thú, vô cùng đặc biệt.
Không chỉ thế, Galapagos còn khiến du khách thích thú bởi có rất nhiều bãi biển đẹp thơ mộng với bãi cát trắng xóa chạy dài, rất phù hợp với các hoạt động tắm biển, picnic, bơi thuyền, lướt ván...
Du khách sẽ cảm thấy rất tuyệt vời khi được hòa mình vào đại dương bao la, thỏa sức khám phá, tìm hiểu cuộc sống phong phú, đa dạng của các loài động vật biển như cá heo, cá voi, rùa biển, chim cánh cụt…
Ngoài ra, Galapagos còn thu hút khách du lịch bởi vẻ đẹp thiên nhiên sinh động cùng với sự sống yên bình trên đảo. Du khách có thể thoải mái hòa mình vào thiên nhiên, ngắm nhìn hay vô tư vui đùa cùng những sinh vật đáng yêu ở trên đảo.
Chắc chắn quần đảo Galapagos sẽ là một trong những điểm đến tuyệt vời nhất mà du khách có thể lựa chọn khi đến Ecuador. (Công Lý 18/7) đầu trang(
Ngày 17-7, Tập đoàn công nghiệp hàng không Trung Quốc đã bắt đầu lắp ráp chiếc thủy phi cơ nội địa lớn nhất thế giới mang tên AG-600 đầu tiên tại thành phố Chu Hải, tỉnh Quảng Đông.
Với 4 động cơ phản lực cánh quạt, đây sẽ là loại thủy phi cơ lớn nhất thế giới, vượt qua cả thủy phi cơ ShinMaywa US-2 của Nhật Bản và Beriev Be-200 của Nga, ông Huang Lingcai, thiết kế trưởng của dòng thủy phi cơ này cho biết.
Theo thiết kế, AG-600 có thể chở 50 người khi thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm và cứu nạn. Để dập tắt cháy rừng, nó có thể lấy 12 tấn nước vào 4 khoang chứa trên máy bay từ mặt hồ hoặc biển trong vòng chưa đến 20 giây và phun xuống các đám cháy. Tải trọng tối đa của máy bay khi cất cánh đạt 53,5 tấn và phạm vi hoạt động là khoảng 4.500 km.
Tổng giám đốc Tập đoàn công nghiệp hàng không Trung Quốc Qu Jingwen cho biết: “Kể từ ngày đầu phát triển, AG-600 đã được thiết kế cho thị trường toàn cầu. Chúng tôi tự tin về triển vọng trên thị trường của nó, bởi vì những đặc điểm kỹ thuật chung của máy bay, như trọng lượng cất cánh tối đa và tầm hoạt động, tốt hơn so với các thủy phi cơ khác trên thế giới”.
“Một số quốc gia có nhiều đảo, như Malaysia và New Zealand, đã bày tỏ sự quan tâm tới thủy phi cơ AG-600, và chúng tôi đang đàm phán với họ”, ông tuyên bố tại buổi lễ bắt đầu lắp ráp ở Chu Hải.
Trong khi đó, tập đoàn chế tạo máy bay này cũng đã nhận được 17 đơn đặt hàng từ các công ty trong nước.
Nhà thiết kế Huang Lingcai cho biết, thủy phi cơ AG-600 sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát cháy rừng, tìm kiếm cứu hộ hàng hải, vận tải người và hàng hóa, và thực thi pháp luật trên biển.
Dự án phát triển thủy phi cơ AG-600 đã được nước này khởi động từ tháng 9-2009. Chuyến bay đầu tiên của AG-600 dự kiến diễn ra vào nửa đầu năm sau.
Ông Leng Yixun, giám đốc phụ trách sản phẩm hàng không thuộc Tập đoàn công nghiệp hàng không Trung Quốc cho biết, nước này sẽ cần ít nhất 100 thủy phi cơ trong vòng 15 năm tới. (An Ninh Thủ Đô 19/7) đầu trang(
Vùng đất này là nơi sinh sống của vô số loài rắn độc, trong đó có loài rắn hổ mang chúa khổng lồ.
Western Ghats (Ấn Độ), là vùng đất rộng mênh mông, bao quanh dãy núi chạy dọc bờ biển phía tây nam Ấn Độ. Đây là vùng đất bí ẩn nhất thế giới. Vùng đất này rộng tới 16.000 km2, được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Đây là vùng đất cực kỳ đa dạng sinh học. Có vô số loài vẫn chưa được khám phá ở đây.
Western Ghats nổi tiếng là vương quốc của loài rắn hổ mang chúa khổng lồ. Rắn hổ mang chúa xuất hiện khá phổ biến ở vùng Đông Nam Á, tuy nhiên, ở các nước này, loài hổ mang chúa đang dần suy kiệt bởi sự săn bắt và thu hẹp môi trường sống.
Hiện Western Ghats được coi là nơi mà số lượng loài hổ mang chúa còn nhiều nhất thế giới. Nhiều khu bảo tồn rắn hổ chúa đã được quy hoạch ở Western Ghats để bảo tồn loài rắn này. Việc bảo tồn loài hổ chúa ở Western Ghats rất thuận lợi, bởi người dân Western Ghats rất tôn trọng rắn hổ chúa, coi chúng như thần linh, không bao giờ giết loài rắn này.
Môi trường sống phù hợp, được bảo vệ nghiêm ngặt, nên hổ chúa ở Western Ghats có điều kiện phát triển rất tốt, đạt kích thước cực đại. Chúng sống được tới 30 năm và chúng không bao giờ ngừng phát triển. Đó chính là lý do có thể gặp những con rắn chúa khổng lồ ở Western Ghats.
Các nhà khoa học nghiên cứu về hổ chúa từ khắp thế giới đã đến vùng đất này và ghi nhận hổ chúa ở đây có thể đạt kích cỡ tới 7m, nặng gần 20kg.
Western Ghats là nơi ẩm ướt nhất hành tinh. 40% lượng nước của Ấn Độ được cung cấp bởi những con sông, suối bắt nguồn từ Western Ghats. Môi trường ẩm ướt phù hợp với rất nhiều loài bò sát, gồm những loài có nọc độc, trong đó, hổ mang chúa thống trị các loài. Vì thế Western Ghats còn được coi là vùng đất chết chóc.
Từ nhiều năm nay, cư dân đã mở rộng môi trường sống vào vùng lõi Western Ghats. Nhiều ngôi làng đã mọc lên bên trong Western Ghats. Nhưng điều đặc biệt, là người dân và loài hổ chúa đã chấp nhận sống chung với nhau.
Hổ mang chúa là loài ăn thịt đồng loại, đặc biệt ưa thích rắn săn chuột, nên chúng cũng tìm về các ngôi làng để săn mồi. Mỗi năm, rắn hổ chúa thay da 4-5 lần. Sau khi thay da, chúng thường tìm nơi ấm áp để trú ẩn. Những ngôi nhà của con người là môi trường lý tưởng để chúng trú ngụ, chờ đợi lớp da mới cứng cáp hơn.
Thế nên, việc các cư dân phát hiện hổ mang chúa trong bếp, trong phòng ngủ, trên mái nhà là việc xảy ra hàng ngày. Người dân và loài rắn chúa có thể chung sống hòa bình, chấp nhận để chúng ở nhờ trong thời gian mới thay da. Con người không tấn công chúng, nên chúng cũng không có lý do gì để tấn công lại.
Những gia đình nào sợ hãi loài hổ chúa, không muốn chúng ở trong nhà, thì có thể gọi nhân viên của các khu bảo tồn đến bắt chúng thả vào rừng. (Kiến Thức 19/7) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||