|
Ngày 20 tháng 07 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Từ đầu năm đến nay, huyện Chư Pah đã phát hiện và bắt giữ 8 vụ vi phạm Luật Phát triển và Bảo vệ rừng, trong đó có 1 vụ đặc biệt nghiêm trọng xảy ra tại Tiểu khu 187-xã Hà Tây. Tổng tiền thu phạt và bán lâm sản nộp ngân sách huyện hơn 161 triệu đồng.
Các vụ vi phạm đã bị cơ quan điều tra khởi tố, điều tra theo đúng quy định. Đồng thời, huyện Chư Pah đã giao các vụ vi phạm này cho các cơ quan chức năng tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm các tổ chức, cá nhân liên quan đến vụ việc.
Được biết, UBND huyện Chư Pah đã chỉ đạo các ngành chức năng, nhất là các chủ rừng tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy rừng nên trong trong mùa khô đã không xảy ra cháy rừng. Đồng thời tăng cường tuần tra, kiểm soát, phòng-chống lâm tặc nhằm hạn chế tối đa tình hình khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. (Báo Gia Lai 18/7) đầu trang(
Tại Đồng Nai, một rừng dầu cổ thụ quy mô 3 hecta hiện diện ngay khu vực TP Biên Hòa đang được người dân nơi đây chung tay tích cực bảo vệ.
Những người dân sống ở đây sẵn sàng di chuyển nhà cửa sang một khu vực khác sinh sống để tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của rừng dầu này. (VTC14 18/7) đầu trang(
Khi những đàn ong theo chủ từ trong Nam di cư ra, lao xao trong những cánh rừng keo tràm ở vườn nhà, người dân xã Hương Hòa, Hương Phú (huyện Nam Đông) cũng đã học được nghề nuôi ong, giảm bớt cuộc việc dựa vào rừng để làm sinh kế.
Trò chuyện về nghề nuôi ong ở Hương Hòa, ông Trần Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Nông dân xã bảo rằng: “Nuôi ong ở đây đầu tiên là những cán bộ trong xã sau rồi mới đến dân. Vào mùa hè, những bầy ong “di cư” theo người nuôi từ trong Nam ra gửi ở các vườn hoa lấy mật, một số anh em có người bà con bỏ lại cho vài đàn nuôi thử, không ngờ ong phát triển tốt nên giữ lại nuôi luôn.”
Để khuyến khích người dân nuôi ong, ngày quay lấy mật đầu tiên, những cán bộ này phải “trình diễn” ở ngay UBND xã để cho bà con đến xem. Mật được “bán tươi” cho thương lái đến mua, người dân mới tin vào nghề nuôi ong có thể thay đổi tập quán canh tác, sản xuất của họ. Cũng từ đó, họ lặng lẽ đến nhà cán bộ học cách nuôi ong, phát triển đàn ong ngay tại vườn tràm, keo nhà mình.
Từ nhiều năm nay, bà con Hương Hòa vốn quen với việc trồng rừng, cao su và khai thác lâm thổ sản phụ để sống. Việc sống dựa vào rừng, trồng rừng kinh tế nhiều lúc cũng gây “xung đột” với những diện tích rừng tự nhiên. Rồi khi bà con có nhu cầu sửa nhà, đóng chuồng lợn… cũng phải lên rừng kiếm gỗ, chặt cây. Khi có nghề nuôi ong, bà con hai thôn 9 và 10 Hương Hòa ít phụ thuộc vào rừng hơn, họ chú tâm phát triển đàn ong, quay lấy mật đều đặn bán cho thương lái.
Ông Lê Xuân Dương (thôn 10, xã Dương Hòa), một hộ nuôi ong cho biết: “Nếu tính lợi nhuận kinh tế khai thác lâm, thổ sản so với nghề nuôi ong lại không bằng mà còn vất vả, nguy hiểm hơn nhiều. Nhiều hộ dân bị chính quyền nhắc nhở. Trong khi nuôi ong, một năm có thể thu nhập bình quân trên dưới 1,2 triệu đồng/đàn, trừ chi phí lãi từ 500-700 nghìn/đàn. Chỉ cần vài chục đàn là bà con có thể ổn định sản xuất, không còn sống phụ thuộc vào rừng nữa.”
Sau thời gian “bén rễ” trên vùng đất Hương Hòa, đến nay địa phương này đã có 15 hộ nuôi với tổng số 800 đàn ong, tập trung chủ yếu ở hai thôn 9 và 10.
Hộ ông Nguyễn Văn Hòa (thôn 9) nuôi 120 đàn tại vườn tràm keo của gia đình, giá cả thị trường ổn định, ông thu lãi trên dưới 100 triệu đồng/vụ nuôi. Theo ông Hòa, nuôi ong đòi hỏi nguồn vốn đầu tư vào thấp, khá ít rủi ro nhưng nguồn mật thương phẩm bán rất được giá (hiện giá mật 45 nghìn/kg). Cứ 1 đàn ong phát triển tốt, gặp điều kiện thuận lợi vào mùa nắng, 1 năm có thể tách làm nhiều đàn. Vì thế người nuôi nếu nắm vững kỹ thuật thì có thể dễ dàng phát triển đàn ong nuôi của mình.
Tại Hương Hòa, trong 15 hộ nuôi ong, có hộ nuôi từ 20-30 đàn nhưng cũng có hộ nuôi từ 100-120 đàn. Nuôi ong ở vùng đất Hương Hòa, Hương Phú nói riêng và Nam Đông nói chung một vụ nuôi chỉ được 6-7 tháng. Vào mùa mưa, các hộ nuôi phải gửi đàn ong đi các tỉnh khác để chăm sóc, lấy mật. Bởi thế, những hộ nuôi có đàn ong lớn đến vài trăm mới đủ điều kiện gửi đi khác tỉnh khác nuôi.
Ông Diệp Minh Khanh, một hộ dân nuôi ong ở thôn 10 nhẩm tính: “Với 40 đàn, chi phí thức ăn nuôi ong được tính cho một tuần gồm 4kg bột (giá 100 nghìn đồng), 8kg đường (giá 120 nghìn đồng), 1kg phấn hoa (giá 200 nghìn đồng), 1 lon sữa (giá 17 nghìn đồng), thuốc (giá 100 nghìn đồng). Một vụ nuôi tốn gần 20 triệu tiền thức ăn. Với sản lượng mật 1 đàn cho khoảng 25-30 lít/năm với giá mật như hiện nay thì người nuôi luôn có lãi.”
Ông Phan Gia Điền, Phó Chủ tịch UBND xã Hương Hòa khẳng định: “Từ việc nuôi tự phát nhưng giờ được đầu tư bài bản nên bà con nuôi ong ở địa phương đã có thu nhập ổn định, giảm bớt sự phụ thuộc vào rừng. Hàng năm, thông qua chương trình xây dựng nông thôn mới, huyện Nam Đông cũng trích kinh phí từ ngân sách 35 triệu đồng để hỗ trợ cho bà con nuôi ong.”
Tại xã Hương Phú, mô hình nuôi ong cũng mới triển khai với 5 hộ nuôi khoảng 90 đàn ở thôn Đa Phú. Ông Trần Bảo Thắng, Chủ tịch UBND xã Hương Phú cho biết: “Mô hình nuôi ong không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao mà còn giúp địa phương giảm bớt sự lấn chiếm đất rừng từ những gia đình mới tách hộ, không có việc làm ổn định, chủ yếu sống dựa vào rừng.” (Báo Thừa Thiên Huế 18/7) đầu trang(
Tây Nguyên có tổng diện tích đất tự nhiên hơn 5.600.000ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên hơn 2.600.000ha. Những năm gần đây, các tỉnh Tây Nguyên chuyển đổi rừng ồ ạt để trồng cây công nghiệp, xây dựng công trình thủy điện, thủy lợi, giao thông... đã làm mất hàng chục ngàn héc-ta rừng phòng hộ. Trong khi đó, các chủ dự án không chịu trồng rừng thay thế như họ đã hứa trước khi nhận dự án.
Báo cáo của Bộ NN-PTNT tại cuộc họp Ban chỉ đạo Nhà nước về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng (giai đoạn 2011 - 2020) lần thứ VIII cho biết: Từ năm 2008 - 2014, diện tích rừng tự nhiên của Tây Nguyên giảm từ 2.639.087ha xuống còn 2.253.809ha (giảm 358.797ha). Trong đó, rừng giảm 94.817ha (chiếm 26,4%) do chuyển đổi trồng cao su, cây công nghiệp và cây ăn quả; giảm 33.706ha (chiếm 9,39%) do chuyển đổi xây dựng thủy điện, công trình giao thông và công trình công cộng…
Theo Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Hà Công Tuấn, việc chuyển đổi rừng ồ ạt đã làm giảm sút nghiêm trọng diện tích và chất lượng rừng Tây Nguyên. Do nôn nóng trong việc phát triển kinh tế - xã hội địa phương, việc thực hiện các dự án chuyển đổi rừng, nhất là các dự án chuyển đổi rừng trồng cao su, đã triển khai ồ ạt và không tuân thủ các quy định của Nhà nước.
Trách nhiệm thuộc về chính quyền địa phương khi tổ chức triển khai nhiều dự án chưa đúng với quy định của Nhà nước về vấn đề quy hoạch, đánh giá tác động môi trường, tổ chức tận thu gỗ…
Cũng theo Thứ trưởng Hà Công Tuấn, ở một số địa phương còn có hiện tượng “lách luật” trong việc giao rừng khi chia nhỏ dự án dưới 1.000ha, cho dù trong vùng cùng chuyển đổi có quy mô hàng ngàn héc-ta, hoặc giao cho doanh nghiệp tự khảo sát và lập dự án. Trong khi đó, một số địa phương còn buông lỏng quản lý và không kiểm tra năng lực tài chính của các doanh nghiệp được giao rừng.
Một số chủ dự án thiếu năng lực tài chính, thiếu nhân lực lao động khi tham gia thực hiện dự án. Nhiều chủ dự án để cán bộ làm ngơ, tiếp tay cho hành vi phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép.
Còn ông Nguyễn Thanh Cao, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Kon Tum, cho rằng: Nguyên nhân làm diện tích rừng tự nhiên Tây Nguyên giảm dần chủ yếu do con người gây ra. Nếu như rừng bị cháy do thiên tai, hỏa hoạn mất một thì con người tàn phá mất mười.
Để dẫn chứng điều này, ông Cao đưa ra hiện trạng thực tế là ở những nơi có dân số thấp thì mật độ che phủ của rừng cao và ngược lại, ở những nơi dân số đông thì diện tích rừng suy giảm nghiêm trọng, bởi đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên đến nay vẫn còn canh tác bằng hình thức phát, đốt, chọc tỉa và đâu đó vẫn còn sống theo lối du canh, du cư.
Trong những năm qua, các dự án chuyển đổi rừng đã lấy đi hàng chục ngàn héc-ta rừng phòng hộ của Tây Nguyên nhưng việc trồng rừng thay thế hiện chỉ được thực hiện một cách “nhỏ giọt”. Tây Nguyên có 50 dự án thủy điện nên phải chuyển đổi hơn 8.000ha rừng, chiếm hơn 40% diện tích rừng bị chuyển đổi trong cả nước. Theo kế hoạch, năm 2014, tỉnh Đắk Nông phải trồng thay thế 2.000ha rừng tại các dự án thủy điện có sử dụng đất rừng.
Nhưng đến đầu năm nay, tỉnh chỉ mới trồng thay thế được 0,6ha tại các dự án thủy điện. Ông Nguyễn Đức Luyện, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông, cho biết: “Việc trồng rừng thay thế tại địa bàn tỉnh hiện rất phức tạp vì khó bố trí quỹ đất. Tất cả diện tích có thể trồng lại rừng đều bị người dân lấn chiếm, canh tác”.
Tại Đắk Lắk, việc trồng rừng thay thế tại các dự án thủy điện hiện chỉ thực hiện được 70ha, trong khi kế hoạch phải trồng mới 1.200ha. Ở tỉnh Gia Lai, các doanh nghiệp cũng chưa trồng đủ rừng thay thế tại các dự án chuyển đổi rừng.
Ông Đào Xuân Liên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai, trần tình: “Trong đề án đã phê duyệt, trong 3 năm từ 2012 - 2015, Tây Nguyên phải trồng mới khoảng 22.000ha rừng tại các dự án đã chuyển đổi mục đích sử dụng rừng. Diện tích lớn, phải trồng cấp tập trong thời gian ngắn nên rất khó thực hiện. Trong lúc đó, không phải doanh nghiệp nào cũng mặn mà với việc này”.
Theo GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung, Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng, quá trình chuyển đổi rừng sang trồng cao su và làm thủy điện thực hiện quá nhanh, diện tích rất lớn nhưng chưa có một đánh giá cụ thể về tính hiệu quả của từng dự án chuyển đổi sau 5 năm hoặc 10 năm.
Khi thấy không phù hợp thì các đơn vị xin chuyển đổi tiếp hay bán một phần đất trong dự án cũng có lợi nhuận. Nhiều địa phương chỉ nhìn thấy lợi ích trước mắt mà triển khai chuyển đổi ồ ạt. Hậu quả là đất nước, xã hội, người dân đành chịu mất rừng. Trong khi quá trình trồng rừng thay thế chỉ thực hiện “nhỏ giọt” nên tình trạng mất rừng chưa có điểm dừng. (Sài Gòn Giải Phóng 18/7) đầu trang(
Báo Quảng Bình nhận được ý kiến của một số người dân ở xã An Ninh (Quảng Ninh) phản ánh việc cơ quan chức năng ở huyện Quảng Ninh trong khi tiến hành bắt giữ gỗ lậu tại thôn Kim Nại, xã An Ninh đã có dấu hiệu dung túng cho việc sử dụng gỗ lậu.
Theo phản ánh của người dân, vào khoảng 17 giờ, ngày 14-7 người dân ở thôn Kim Nại chứng kiến cảnh lực lượng Kiểm lâm bao vây khu vực phía đông của đồi Bạch Đàn. Tại đây, lực lượng chức năng đã phát hiện khoảng 2m3 gỗ vô chủ và không có dấu búa kiểm lâm.
Điều ngạc nhiên là sau khi lực lượng Kiểm lâm dùng xe ô tô bốc xếp số gỗ này chở về Trạm Kiểm lâm Long Đại (thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Quảng Ninh) thì người dân chứng kiến lực lượng Kiểm lâm chỉ bốc đi 1/2 số gỗ tại bãi.
Cụ thể, sau khi lực lượng chức năng rời khỏi hiện trường đã để lại 7 súc gỗ (trong đó có 2 súc gỗ tròn và 5 súc gỗ vuông có đường kính khoảng 25cm và dài trung bình 3m). Khi lực lượng Kiểm lâm đang bốc gỗ lên xe thì có bà D. người trong thôn đến và tự nhận ½ số gỗ này là của mình.
Trao đổi về vấn đề bất thường trên, ông Nguyễn Xuân Hoàng, Trạm trưởng trạm Kiểm lâm Long Đại cho hay: "Trạm đã phối hợp với tổ Kiểm lâm cơ động của Hạt Kiểm lâm huyện Quảng Ninh để xử lý số gỗ lậu trên. Tuy nhiên, trong quá trình làm việc đã gặp khó vì đây là số gỗ của các hộ dân làm nhà...".
Còn ông Trương Ngọc Vũ, Trưởng ban chỉ huy quân sự xã An Ninh phân bua: "Lực lượng của xã chỉ hỗ trợ, còn về chuyên môn thuộc về lực lượng Kiểm lâm!".
Trước việc thu hồi gỗ vô chủ và không có dấu búa kiểm lâm nói trên theo kiểu “chiếu lệ”, ông Phan Mậu Phấn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Quảng Ninh cho biết: Theo hồ sơ tại Hạt, chiều tối 14-7 lực lượng Kiểm lâm đã thu giữ tại thôn Kim Nại gần 1m3 gỗ lậu vô chủ. Khi chúng tôi thông tin về việc lực lượng Kiểm lâm làm việc có dấu hiệu dung túng cho việc sử dụng gỗ lậu thì ông Phấn cho biết: "Sẽ cho kiểm tra lại".
Để tìm hiểu thêm vấn đề này, chúng tôi đã tiếp cận hiện trường bãi tập kết gỗ. Tại đây, như phản ánh của người dân: Có 7 súc gỗ còn sót lại ước gần 1m3. Bà D. tự nhận là chủ gỗ và cho biết: "Gia đình mua gỗ về chuẩn bị làm nhà và bị Kiểm lâm lấy đi 1/2, còn gỗ ngoài bãi là của ông Đ. một đầu nậu gỗ trong thôn !".
Trước sự việc nói trên, đề nghị Hạt kiểm lâm huyện Quảng Ninh vào cuộc xác minh làm rõ. (Báo Quảng Bình 18/7) đầu trang(
“Sau khi Pháp Luật TP.HCM đăng bài “Chủ rừng Sông Lũy vào cuộc” phản ảnh vấn nạn phá rừng tại rừng phòng hộ Sông Lũy (Bắc Bình), Chi cục Kiểm lâm Bình Thuận đã điều lực lượng kiểm lâm lên tiếp cận các điểm phá rừng này” - ngày 19-7, một nguồn tin cho biết.
Theo đó, một tổ kiểm lâm 10 người đã được đưa lên đóng chốt tại đỉnh Sa Mai. Tổ này sẽ được thay đổi luân phiên, có nhiệm vụ theo dõi, phát hiện, ngăn chặn số lâm tặc từ Ninh Loan, Đức Trọng (Lâm Đồng) sang.
Trong khi đó, Hạt Kiểm lâm huyện Bắc Bình và Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy cũng cử lực lượng đến ba điểm phá rừng tại các tiểu khu 70, 71 và 72 để đánh số, đo đếm trữ lượng gỗ bị thiệt hại nhằm củng cố hồ sơ xử lý.
Từ đầu năm 2015 đến nay, Pháp Luật TP.HCM đã phát hiện và phản ảnh 10 vụ phá rừng tại rừng phòng hộ Sông Lũy với trữ lượng gỗ bị thiệt hại lên đến hàng trăm m3. Hạt Kiểm lâm huyện Bắc Bình đã ra quyết định khởi tố vụ án ba vụ, tổ chức giám định thiệt hại bốn vụ. (Pháp Luật TP.HCM 20/7) đầu trang(
Ngày 19-7, Cục Kiểm lâm (Tổng cục Lâm nghiệp) cảnh báo, hiện 4 địa phương đang có nguy cơ cháy rừng, trong đó tỉnh Hòa Bình, Khánh Hòa có nguy cơ cháy rừng cấp 5-cấp cực kỳ nguy hiểm; Nghệ An, Phú Thọ có nguy cơ cháy rừng cấp 4-cấp nguy hiểm.
Ban chỉ đạo Nhà nước về Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 yêu cầu Ban chỉ đạo thực hiện Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng, Ủy ban nhân dân các cấp và chủ rừng thuộc các địa phương trên thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng theo quy định, bởi cháy rừng xảy ra thì hầu hết các kiểu rừng đều dễ bắt lửa với tốc độ lan tràn rất nhanh, gây thiệt hại lớn và khó khăn cho công tác chữa cháy rừng. (Quân Đội Nhân Dân 19/7) đầu trang(
Không có kho cất giữ, gần trăm mét khối gỗ thủy tùng (nhóm 1A đặc hữu quý hiếm) trị giá hàng chục tỷ đồng đang bị phơi nắng, phơi mưa dẫn đến mục rỗng, hư hại nghiêm trọng. Hơn 8 năm qua, các cơ quan chức năng vẫn đang loay hoay với biện pháp xử lý...
Trong các năm 2007-2009, tại các huyện Ea Hleo, Krông Búk, Krông Năng (tỉnh Đắk Lắk), cơn sốt gỗ thủy tùng bùng phát khiến mỗi mét khối gỗ được giới buôn bán gỗ lậu mua với giá lên đến hàng trăm triệu đồng. Mỗi ngày có hàng nghìn người dân lùng sục, lặn đào, khắp các ao hồ, sông suối để tìm những cây thủy tùng bị chết hoặc gỗ thủy tùng bị chặt bỏ, vứt đi từ nhiều chục năm trước.
Lực lượng kiểm lâm các huyện đã thu giữ được hơn 90m² gỗ thủy tùng từ các vụ vi phạm. Nhưng do không có kho bảo quản, toàn bộ số gỗ này đều bị phơi mưa, phơi nắng từ đó đến nay dẫn đến mục nát, chất lượng và giá trị giảm sút nghiêm trọng.
Ông Nguyễn Văn Tiếp, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Krông Năng (nơi thu giữ hơn 50m³ gỗ thủy tùng) cho biết, phần lớn số gỗ này đều do lực lượng kiểm lâm truy quét, thu giữ từ các “đầu nậu” mua bán gỗ, người dân khai thác trái phép từ những năm 2007-2009. “Do có đường kính gốc khá to, thân cây lớn nên không có kho nào chứa nổi, biết để ngoài trời là xuống cấp, hao mòn dần, giảm giá trị nhưng cũng đành chịu. Đã vậy, mỗi tháng hạt phải bỏ ra 300.000 đồng thuê người canh giữ tránh bị mất cắp”, ông Tiếp nói.
Tại các huyện Ea Hleo, Krông Búk… hàng chục mét khối gỗ thủy tùng được lực lượng chức năng thu giữ cũng lâm vào tình cảnh tương tự. Ông Võ Văn Tập, Chủ tịch UBND huyện Ea Hleo cho biết, trước thực trạng trên, UBND đã có tờ trình xin sử dụng số gỗ này làm nội thất các cơ quan của huyện, nhưng tỉnh không chấp thuận. Khi phát hiện gỗ bị mục nát nhiều hơn, huyện tiếp tục xin làm các công trình công cộng, tỉnh vẫn không đồng ý.
Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ có quy định: “Thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm 1A là tang vật xử lý tịch thu theo quy định hiện hành của Nhà nước thì được phép chế biến, kinh doanh vì mục đích thương mại”.
Nói về vấn đề trên, ông Y Sy HDớk, Chi Cục trưởng Kiểm lâm Đắk Lắk cho biết, Đắk Lắk là địa phương duy nhất có gỗ thủy tùng, chưa có tiền lệ xử lý, nên các cơ quan chức năng rất lúng túng.
“Quy định là vậy, nhưng khi áp dụng lại có nhiều ý kiến khác nhau. Sau nhiều cuộc họp bàn, nhiều văn bản tham mưu, mới đây UBND tỉnh Đắk Lắk quyết định cho bán đấu giá toàn bộ số gỗ trên. Tuy nhiên, Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Đắk Lắk lại không biết bán với giá nào, vì loại gỗ này không nằm trong danh mục giá do tỉnh ban hành. Cuối cùng, theo chỉ đạo của tỉnh, Sở NN&PTNT gửi văn bản đề nghị Bộ NN&PTNT cho cơ chế tiêu thụ, đồng thời quy định giá bán. Đến nay, bộ vẫn chưa trả lời nên gần 100m³ gỗ quý tiếp tục bị hư hỏng, hao mòn, giảm giá trị”, ông Y Sy HDớk cho biết thêm.
Không chỉ vấn đề ngân sách, mà đây là những khúc gỗ thủy tùng với kích thước cực lớn, không thể tìm được trên thế giới. “Theo tôi, đây là tang vật tịch thu đã xử lý hành chính, vì vậy nên cho phép các đơn vị chức năng bán thanh lý cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh đủ điều kiện, để tránh lãng phí tài nguyên của Nhà nước”, ông Y Sy HDớk kiến nghị.
Thủy tùng hay còn gọi là thông nước (tên khoa học là Glyptostrobus pensilis) thuộc nhóm 1A, là loại thực vật đặc hữu quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng trong Sách Đỏ thế giới, là một trong 10 loài thông được ưu tiên bảo tồn. Hiện Việt Nam có hai quần thể thủy tùng tự nhiên là Trấp Ksơ (xã Ea Hồ, huyện Krông Năng) và Ea Ral (xã Ea Ral, huyện Ea Hleo) với số lượng khoảng 250 cây phân bố trên diện tích 150ha. (Công An Nhân Dân 19/7) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đác Nông cho biết, sáu tháng đầu năm 2015, toàn tỉnh phát hiện và lập biên bản xử lý 507 vụ vi phạm lâm luật, tăng 46 vụ so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, phá rừng trái phép có 203 vụ, thiệt hại hơn 234 ha, tăng 162% so với cùng kỳ năm 2014; các địa phương có diện tích rừng bị phá với quy mô lớn như: thị xã Gia Nghĩa xảy ra 67 vụ với hơn 129 ha; huyện Đác Glong 35 vụ với hơn 63 ha; Đác Song 66 vụ với gần 19 ha rừng bị tàn phá…
Đến nay, cơ quan chức năng mới xử lý hành chính được 87 vụ với hơn 25 ha và chuyển điều tra hình sự 47 vụ với hơn 93 ha, còn tồn đọng 69 vụ với 115 ha vẫn chưa được xử lý. Điều đáng nói, một số địa phương được xem là điển hình về công tác quản lý bảo vệ rừng trước đây trong sáu tháng đầu năm nay lại dẫn đầu về số vụ và diện tích rừng bị phá.
Nguyên nhân được xác định, một số chủ rừng đã buông lỏng trong công tác quản lý; chính quyền cấp huyện, xã chưa thực hiện hết trách nhiệm, còn buông lỏng trong công tác chỉ đạo quản lý; việc sắp xếp, chuyển đổi mô hình quản lý tại các lâm trường tạo nên tâm lý buông lỏng, lơ là, thậm chí lợi dụng tình hình để trục lợi. (Nhân Dân 18/7) đầu trang(
Ngày 17/7, Công an TP Tam Kỳ, Quảng Nam, cho biết đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và đang truy bắt Nguyễn Văn Quý (40 tuổi, trú xã Sơn Kim 1, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh), là đối tượng điều khiển ôtô con mang BKS 80B-3555 (biển số giả), vận chuyển 16 đoạn ngà voi, gây TNGT tại TP Tam Kỳ, vào chiều 7/6 như Báo Công An Nhân Dân đã thông tin
Kết quả điều tra ban đầu cho thấy, sau khi gây ra va chạm với xe máy và xe khách đang đậu, 2 người đàn ông đi trên ôtô biển số giả 80B – 3555 đã bê 5 bao tải màu trắng ra khỏi xe, thuê xe ôm chở đến một khu đất cách nơi xảy ra tai nạn khoảng 500m.
Tuy nhiên, khi chở chuyến xe thứ ba, người chạy xe ôm thấy vật trong bao tải giống ngà voi nên đã điện báo cho cơ quan Công an và 2 đối tượng đã bỏ trốn. Công an TP Tam Kỳ niêm phong, thu giữ số hiện vật trên đưa về cơ quan để điều tra.
Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện trên xe có hợp đồng mua bán phương tiện giữa chủ xe người Lào với một người Việt Nam tên là Duyên. Lần theo dấu vết, cơ quan Công an đã làm rõ, Duyên là đối tượng có tiền án, tiền sự về hành vi mua bán trái phép động vật hoang dã và đã bán ôtô trên cho Nguyễn Văn Quý.
Đối tượng Quý là tài xế ôtô mang biển số giả 80B-3555; cũng là tay buôn động vật hoang dã “có tiếng” tại Hương Sơn, Hà Tĩnh. Tuy nhiên, sau khi vụ vận chuyển ngà voi bị phát hiện, Quý đã bỏ trốn khỏi địa phương. (Công An Nhân Dân 18/7) đầu trang(
Sau một số năm phát triển ồ ạt, hiện nay, phần lớn các cơ sở gây nuôi động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã đi vào thoái trào, nhiều hộ bỏ trống chuồng. Tuy nhiên việc làm này vẫn cần quản lý chặt chẽ của cơ quan chức năng.
Nhiều năm trước, khi gấu, cá sấu, rắn, kỳ đà, nhím... được coi là những loài vật nuôi "hái" ra tiền, trên địa bàn tỉnh có hàng nghìn hộ gây nuôi, xuất bán sang thị trường Trung Quốc. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, giá rắn thương phẩm chỉ còn bằng 1/4 trước đây, trứng rắn không tiêu thụ được, các loại động vật khác cũng không có người mua khiến nhiều hộ tự chuyển đổi sang mô hình khác.
Theo Hạt Kiểm lâm huyện Lục Ngạn, đến tháng 4-2015, trên địa bàn huyện chỉ còn 46 cơ sở nuôi động vật hoang dã với gần 11,5 nghìn cá thể, chủ yếu là các loại rắn như hổ mang, ráo trâu, ráo thường, hươu sao, lợn rừng, nhím. So với những năm trước, số lượng cá thể gây nuôi giảm hơn 40%, riêng số lượng nhím giảm đến 99%.
Ở huyện Lạng Giang, năm 2014, trên địa bàn có hơn 60 cơ sở gây nuôi động vật hoang dã với gần 3 nghìn cá thể. Nay chỉ còn gần 10 cơ sở với hơn 500 cá thể, tất cả đều trong tình trạng hoạt động cầm chừng vì giá bán sụt giảm, sản phẩm không có đầu ra.
Theo Chi cục Kiểm lâm, toàn tỉnh hiện có hơn 300 hộ, cơ sở gây nuôi động vật hoang dã với khoảng 23 nghìn cá thể chủ yếu là gấu, nhím, tắc kè, hươu sao, rắn hổ mang, cá sấu, công, chim trĩ đuôi đỏ, kỳ đà hoa... tập trung chủ yếu tại các huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Yên Thế, TP Bắc Giang. Số lượng cơ sở gây nuôi và cá thể có xu hướng tiếp tục giảm trong thời gian tới.
Đáng chú ý, trong số động vật hoang dã đó có 13 cá thể gấu ngựa được các hộ dân nuôi nhốt tại huyện Lạng Giang, TP Bắc Giang, Việt Yên đang nằm trong nhóm nguy cấp, quý hiếm đặc biệt đã được Cục Kiểm Lâm gắn chíp quản lý. Một chủ hộ nuôi gấu trên địa bàn huyện Lạng Giang cho biết, trước đây nuôi gấu lấy mật cho thu nhập cao.
Thế nhưng, hiện nay việc lấy mật, vận chuyển, buôn bán, sử dụng các sản phẩm từ gấu đều bị cấm, mật gấu nuôi không có tác dụng như người ta vẫn tưởng nên nguồn thu từ gấu không còn. Nhưng do đã bỏ ra một số tiền lớn đầu tư ban đầu, nhiều hộ rơi vào cảnh "bỏ thì thương, vương thì tội" khi phải cố nuôi.
Theo quy định, khi gây nuôi gấu, các hộ phải được Chi cục Kiểm lâm thẩm định nguồn gốc, cấp phép; gây nuôi các loại động vật hoang dã quý hiếm khác phải đăng ký với hạt kiểm lâm cấp huyện. Thực hiện chức năng quản lý, các hạt kiểm lâm thường xuyên kiểm tra, lập sổ theo dõi số lượng, diễn biến quá trình sinh trưởng, phát triển của vật nuôi.
Đồng thời, hướng dẫn người dân xây dựng chuồng trại, chấp hành đầy đủ các thủ tục hành chính liên quan đến vật nuôi, tuyệt đối không để vật nuôi sổng thoát ra môi trường; nghiêm cấm hành vi săn bắt động vật hoang dã từ tự nhiên về gây nuôi.
Ông Hà Minh Quý, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: "Không chỉ quản lý chặt chẽ các cơ sở gây nuôi, ngăn cấm tình trạng vận chuyển, mua bán, sử dụng trái phép động vật hoang dã, Chi cục Kiểm lâm còn thường xuyên tuyên truyền, vận động các hộ giao nộp gấu, động vật nguy cấp để gửi đến các trung tâm cứu hộ.
Hiện nay do các mô hình gây nuôi không cho hiệu quả kinh tế nên đa số các hộ đồng thuận chủ trương này nhưng họ đều yêu cầu được hỗ trợ chi phí đầu vào, chăm sóc. Trong khi đó, quy định hiện hành không có cơ chế này nên đến nay vẫn chưa có trường hợp vật nuôi nào được cứu hộ".
Gây nuôi động vật hoang dã từng đem lại thu nhập cao cho nhiều người. Tuy nhiên, khi không còn hiệu quả kinh tế như trước, vật nuôi lại trở thành gánh nặng với chính các hộ. Ngoài ra, các loại rắn hổ mang hiện vẫn đang được nuôi với số lượng lớn, nếu không được quản lý chặt chẽ sẽ có nguy cơ thoát ra môi trường tự nhiên gây nguy hiểm cho người và vật nuôi khác, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
Vì vậy, công tác tuyên truyền, quản lý việc gây nuôi động vật hoang dã cần được quan tâm đúng mức. Đối với các loài động vật nguy cấp đặc biệt như gấu, các cơ quan chức năng cần xây dựng chính sách cứu hộ phù hợp, bảo vệ, bảo tồn những cá thể, nguồn gen quý hiếm. (Báo Bắc Giang 17/7) đầu trang(
Làm nghề kiểm lâm 40 năm nay, công việc thường xuyên của ông Lò Văn Du, kiểm lâm địa bàn xã Chiềng Kheo, huyện Mai Sơn (Sơn La) là đến từng xóm, bản làng vùng sâu, vùng xa của huyện Mai Sơn để tuyên truyền vận động người dân tham gia bảo vệ rừng.
Theo ông Du, bên cạnh các chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác quản lý và bảo vệ rừng thì giải pháp bền vững là làm sao để người dân ý thức được quyền lợi và trách nhiệm của mình khi gắn bó với rừng. Do đó, công tác tuyên truyền luôn được ông xem là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu.
Ông tâm sự: Qua thời gian phụ trách địa bàn lâu năm ở cơ sở, mình phải luôn bám sát địa bàn, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của nhân dân, từ đó tạo điều kiện cho cơ sở để thu hút người dân hiểu được tác dụng của nó thì mới huy động được lực lượng nhân dân tại địa phương đưa vào công tác quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả.
Dân trí của mỗi vùng một khác cho nên trong công tác tuyên truyền cũng phải phù hợp với điều kiện của từng địa phương, có thể là trao đổi trực tiếp hoặc trên hội nghị hay tại các buổi trao đổi các nhóm hộ hoặc ở 1 số tiểu khu nào đó.
Địa hình núi rừng xa xôi, hiểm trở nhưng công việc bắt buộc người kiểm lâm địa bàn như ông Du phải nắm chắc cơ sở, lội vào tận rừng sâu để kiểm tra thực địa. Với ông, hàng ngàn ha rừng ở các xã Chiềng Kheo, Chiềng Dong, Chiềng Ve... không còn lạ lẫm. Năm tháng lặn lội khắp các bản làng xa xôi, gắn bó với đồng bào Thái, Mông giúp ông nắm được nhiều nguồn tin quan trọng.
Theo ông, rừng ở Mai Sơn không còn cảnh triệt hạ ngang nhiên như trước. Số vụ phá rừng và khối lượng gỗ bị tịch thu đã giảm đáng kể và quan trọng hơn là nhận thức của bà con nhân dân trong việc bảo vệ rừng đã nâng lên một cách rõ rệt.
Ông Du cho biết thêm: Để tập trung được sức dân và ủng hộ công tác bảo vệ rừng, cơ bản nhất là công tác tuyên truyền làm sao để nhân dân hiểu được tác dụng của rừng đối với con người để từ đó nhân dân người ta hiểu và có ý thức trong công tác quản lý và bảo vệ rừng cao hơn.
Nếu mình không tuyên truyền để nhân dân hiểu được mà kiểm lâm địa bàn đó để nhân dân chặt phá rừng thì người kiểm lâm đó phải chịu trách nhiệm trước nhà nước về công tác quản lý bảo vệ rừng, là do mình không tuyên truyền đến nơi đến trốn nên không huy động được nhân dân tham gia bảo vệ rừng.
Để góp phần làm tốt công tác quản lý và bảo vệ rừng, ông Du vận dụng linh hoạt phương châm 3 cùng: cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân. Đồng thời, ông luôn có những tham mưu kịp thời cho chính quyền địa phương về xây dựng phương án quản lý, bảo vệ rừng, phát hiện và ngăn chặn kịp thời tình trạng phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép.
Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng, Chiềng Kheo luôn đi đầu về diện tích và độ che phủ rừng ở Mai Sơn, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của người kiểm lâm phụ trách địa bànLò Văn Du.
Ông Bùi Minh Hải, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mai Sơn nhận xét: Đối với anh Lò Văn Du là kiểm lâm phụ trách địa bàn xã Chiềng Kheo, tuy địa bàn có diện tích rừng lớn nhưng anh vẫn luôn bám sát cơ sở, tham mưu cho cấp ủy chính quyền địa phương, tham mưu cho tập thể lãnh đạo Hạt; có những cách làm hay, kinh nghiệm mới, là một người có bề dày kinh nghiệm đã truyền đạt lại những cách làm hay cho anh em cán bộ mới vào nghề.
Không trạm chắn ba-ri-e, không trụ sở ổn định, chỗ làm việc của những người kiểm lâm địa bàn như ông Du là tá túc nhờ nhà dân, trường học, trụ sở UBND xã. Bám dân, bám bản, xa gia đình là những điều đã trở nên quá quen thuộc với ông và những người đồng nghiệp. Dẫu vậy, ông Lò Văn Du vẫn mang trong mình bầu nhiệt huyết, giữ rừng để bảo vệ môi trường xanh.
Nghề nào cũng có thử thách, đặc thù riêng. Hình ảnh người kiểm lâm địa bàn với màu áo xanh sống trong lòng dân, lặng lẽ giữ bình yên cho những cánh rừng sẽ mãi là ấn tượng đẹp với nhiều người. (Đài Phát Thanh Truyền Hình Sơn La 17/7) đầu trang(
Trong những ngày gần đây, trên các tuyến đường trung tâm TP.Biên Hòa (Đồng Nai) tiếp tục xuất hiện nhiều người bày bán công khai các loại động vật hoang dã, ở đây là những loài rắn cực độc như: rắn cạp nong, cạp nia, rắn hổ, rắn lục...
Khoảng tầm 8 giờ sáng đến 11 giờ trưa, trên đường Võ Thị Sáu (đoạn gần cầu Đồng Tràm, KP1, phường Thống Nhất, TP. Biên Hòa), có 2 thanh niên bày ra vỉa hè một cái lồng sắt đựng đủ các loại rắn độc kèm theo tấm bảng ghi chữ “Rắn miền tây".
Mặc dù đàn rắn hơn chục con, đủ loại như: rắn hổ hành, hổ đất, hổ mèo... có con nhỏ từ 200 – 400 gram, có con nặng gần cả ký bị nhốt trong lồng lưới, nhưng khi có ai đến gần chúng lập tức thè lưỡi, phùng mang và thậm chí nhảy bổ lên để mổ khiến người xem khiếp vía hết hồn.
Người thanh niên tên S.K.L, quê tỉnh Trà Vinh cho biết số lượng rắn này đều được bắt trong môi trường tự nhiên ở các cánh rừng tràm, đồng ruộng ở miệt Cà Mau, Đồng Tháp...Tùy theo từng chủng loại rắn độc, hay cực độc mà người bán báo giá dao động từ 500 - 800.000 đồng/ ký.
Khi chúng tôi hỏi thăm có bán rắn hổ mang không, anh S.K.L tiết lộ: rắn hổ mang là loại rắn quý, cấm bán triệt để nhưng nếu có nhu cầu mua anh ta sẽ cho số điện thoại di động cá nhân và việc “giao dịch” mua bán “rắn độc” sẽ diễn ra tại nhà người mua cho an toàn. Để “ngụy trang” đối phó với lực lượng chức năng , hai thanh niên này cũng bày bán cái loại rắn “hiền” như: rắn bông súng, rắn nước...
Trong khi đó, trên tuyến đường đường Nguyễn Ái Quốc (đoạn trước cổng nhà thờ giáo xứ Đại Lộ, khu phố 7, phường Tân Biên), cũng có một phụ nữ bày ra sát lề đường mấy chiếc túi lưới đựng toàn rắn lục và rắn ri cóc.
Người phụ nữ luôn miệng mời gọi mọi người mua rắn lục về ngâm rượu uống trị bệnh tê thấp nhức mỏi, mua rắn ri cóc về nấu cháo hay hầm canh đu đủ trị bệnh còi xương(?!). Lời rao hấp dẫn thu hút khá nhiều người đi đường dừng lại chỉ trỏ, hỏi mua.
Được biết các loài rắn độc như : hổ mang, hổ đất, hổ chúa, chàm quạp, cạp nia, cạp nong, rắn lục... có tên trong danh mục những động vật hoang dã, nguy cấp, cấm hoặc hạn chế săn bắt, mua bán vì mục đích thương mại. Việc mua bán mà không trình được giấy tờ chứng mình nguồn gốc xuất xứ là bất hợp pháp.
Trường hợp săn bắt, giết, vận chuyển, mua bán sẽ bị xử lý hình sự. Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi thì hoàn toàn không thấy bóng dáng cơ quan chức năng của Biên Hòa (Đồng Nai) đến nhắc nhở và xử lý các điểm buôn bán rắn độc công khai ngay giữa đường phố như thế này. (Pháp Luật TP.HCM 17/7) đầu trang(
Ngày 16-7, ông Nguyễn Hữu Hiệp - Chánh Văn phòng UBND quận 12 (TP.HCM) thông tin với báo chí đến nay quận vẫn chưa xác định được nguyên nhân rắn lục đuôi đỏ xuất hiện nhiều trong thời gian qua trên địa bàn quận.
Theo ông Hiệp, để xác định được nguyên nhân thì cần có thời gian dài và đội ngũ cán bộ nắm vững về chuyên môn nhưng hiện nay UBND quận không đáp ứng được những yêu cầu này. Vì thế quận chủ yếu làm công tác tuyên truyền để người dân phòng tránh bị cắn và cách sơ cứu khi bị rắn cắn.
Đến nay quận thống kê được tám trường hợp người dân đập chết rắn lục đuôi đỏ, trên địa bàn phường An Phú Đông nhiều nhất với số lượng năm con, phường Thạnh Xuân hai con và Thạnh Lộc một con. Có hai trường hợp bị rắn lục đuôi đỏ cắn và hiện nay tình trạng sức khỏe của hai người này đã ổn định. (Công Lý và Xã Hội 17/7) đầu trang(
Sáng 15.7, Đội phòng chống ma túy Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị, phối hợp với Đồn biên phòng Tam Thanh (đóng tại huyện Hướng Hóa), phát hiện tại thôn Xi Kơ Keo (xã Xy, huyện Hướng Hóa) hơn 41m³ gỗ được giấu ở một bãi sát rừng. Số gỗ trên chủ yếu là sú và kền được cưa xẻ với nhiều kích thước khác nhau.
Ông Phan Văn Thảo (trú thôn Xi Kơ Keo) đến nhận 11m3 gỗ là của mình, nói là mua về làm nhà, nhưng không xuất trình được giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của số gỗ trên.Lực lượng chức năng đã lập biên bản, đưa toàn bộ số gỗ về đơn vị, tiếp tục xử lý.
Được biết, đây là số gỗ do “lâm tặc” khai thác ở Lào vận chuyển về, tập kết sát biên giới, sau đó lợi dụng địa hình rừng núi và đêm khuya để vận chuyển đi tiêu thụ. (Công An Tp.HCM 18/7) đầu trang(
Kiểm tra một kiện quà biếu được gửi qua đường chuyển phát nhanh từ Pháp về, Chi cục Hải quan Chuyển Phát Nhanh- Cục Hải quan TP.HCM phát hiện bên trong chứa ngà voi châu Phi.
Theo tin Chi cục Hải quan Chuyển Phát Nhanh, bưu kiện nên trên thể hiện trên vận đơn là quà biếu, trọng lượng 19kg, được gửi từ Pháp về Việt Nam theo số vận đơn EB642067849FR cho người nhận ở quận Ngô Quyền, TP.Hải Phòng.
Qua phân tích hình ảnh máy soi, phát hiện trong kiện hàng có dấu hiệu nghi vấn là ngà voi, Chi cục Hải quan Chuyển Phát Nhanh đã mở kiểm tra thực tế, phát hiện có vật phẩm màu trắng ngà, có dạng hình cong gồm một đầu lớn và một đầu nhọn trên bề mặt có chạm trổ 6 chú voi con, trọng lượng 1,4 kg.
Trưng cầu giám định vật phẩm trên tại Viện sinh học nhiệt đới thuộc Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam cho kết quả là ngà voi châu Phi – thuộc danh mục động vật hoang dã bị đe dọa tiệt chủng, nghiêm cấm xuất xuất khẩu, nhập khẩu… quy định tại Nghị định 82/2006/NĐ-CP ngày 10-6-2006 của Chính phủ. (Hải Quan 16/7) đầu trang(
Đến với Khu du lịch sinh thái Vường chim thung Nham (Thung Chim), xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, du khách sẽ có cảm giác như đang lạc vào thiên đường của các loài chim với vô vần loài bay lượn rợp trời, hay ríu ran trên những cành cây.
Nằm trong lõi của quần thể danh thắng Tràng An, được bao quanh bởi các dải rừng nhiệt đới trên dãy núi đá vôi với nhiều thung lũng và hang động, Thung Nham sở hữu cả vẻ đẹp kì vĩ lẫn cái đẹp tinh tế. Du khách tha hồ du lịch văn hóa, tâm linh cùng du sơn ngoạn thủy với cảnh quan hùng vĩ và đa dạng sinh học đẹp đến nao lòng.
Ấn tượng đầu tiên khi đến Thung Nham là được tận mắt thấy vô số loài chim đậu kín các cành cây, khi mùa nghịch lúc lại nhảy múa. Theo thống kê Thung Nham là ngôi nhà chung của khoảng 46 loài chim, trong đó có một số loài trong Sách đỏ Việt Nam, 109 loài thực vật thuộc 46 họ, 150 loài động vật bao gồm 58 loài cá, 7 loài lưỡng cư, 10 loài động vật có vú, 8 loài bò sát …
Tại đây, du khách sẽ được đi thuyền len lỏi dưới tán rừng ngập nước để quan sát đàn chim. Ban ngày, chúng đi kiếm ăn, khi hoàng hôn buông dần, từng đàn chim quay về, bay trắng cả vùng trời. sương mù bao phủ toàn bộ khu vực lúc hoàng hôn, càng tạo cho xứ sở của các loài chim vẻ đẹp tinh tế.
Trên nền nước biếc, trong không gian yên tĩnh, tiếng mái chèo khua vọng lại từ vách đá hòa vào tiếng ríu rít gọi bầy của các loài chim tạo nên một bản giao hưởng thiên nhiên khó quên.
Không chỉ choáng ngợp bởi vẻ đẹp của các loài chim, khi theo chiếc thuyền nan dạo chơi, du khách còn cảm nhận được nét đẹp nguyên sơ kỳ thú. Đó là những khu rừng ngập nước chìm trong cảnh sác thiên nhiên tuyệt đẹp và vẻ đẹp hoang dã của các hang động như động Vái Giời, Tiên Cá, Thủy Cung, Ba Cô, hang Bụt, và hòa mình vào khung cảnh lãng mạn trong thung lũng tình yêu của Thung Nham.
Tin chắc, bạn sẽ phải trầm trồ về những kiến tạo của Mẹ Thiên nhiên. Rời thuyền đi dạo trên bờ, du khách hãy đến với vườn cây ăn quả, tham quan cây đuối ngàn năm, cây đa trăm tuổi, khu nuôi trồng thủy sản.
Sau chuyến thưởng ngoạn, các “thượng đế” có thể thư giãn trong các ngôi nhà sàn ẩn dưới tán cây xanh giữa thung lũng đẹp như tiên cảnh và thưởng thức cấc món ăn ẩm thực dân dã đồng quê như lợn cắp nách, gà đồi, cá hồ tự nhiên, măng vầu, rau rừng … và thả hồn vào bản nhạc thiên nhiên hoang dã trong không gian tĩnh mịch của thung lũng Đồi Nham. (Kinh Tế Và Đô Thị Cuối Tuần 18/7) đầu trang(
Từ năm 2007 đến nay, mỗi năm, bờ biển Cà Mau bị sạt lở bình quân 15 m, có đoạn đến 50 m, làm mất hơn 300 ha rừng phòng hộ
Bờ biển Tây dài hơn 350 km từ Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang) đến Mũi Cà Mau (tỉnh Cà Mau) đang hứng chịu sức tàn phá nặng nề của sóng biển. Dù nhiều năm qua, các ngành chức năng từ trung ương đến địa phương đã ra sức phòng hộ, gia cố nhưng vẫn còn một số nơi chưa khắc phục được do thiếu kinh phí.
Theo Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh Cà Mau, từ năm 2007 đến nay, mỗi năm, bờ biển ở đây bị sạt lở bình quân 15 m, có đoạn đến 50 m, làm mất hơn 300 ha rừng phòng hộ.
Bờ biển Tây qua tỉnh Cà Mau dài 147 km nhưng hiện có đến 40 km là vùng nguy hiểm do sạt lở. Trong đó, 17 km là đặc biệt nghiêm trọng, thuộc các xã Khánh Tiến (huyện U Minh), Khánh Bình Tây (huyện Trần Văn Thời), xã Tân Hải (huyện Phú Tân), xã Đất Mũi (huyện Ngọc Hiển).
Để đối phó với tình trạng này, tỉnh Cà Mau đã xây dựng gần 18 km bờ kè ở nhiều vị trí xung yếu với tổng mức đầu tư 511 tỉ đồng từ ngân sách nhà nước, chương trình đê biển và biến đổi khí hậu. Ngoài ra, tỉnh này đang kiến nghị trung ương xem xét, bố trí thêm vốn xây dựng tuyến kè ngầm tạo bãi dài 15 km ở những khu vực xung yếu tạo điều kiện cho cây mắm tái sinh, khôi phục rừng phòng hộ ven biển, bảo vệ bền vững đê biển Tây. Bình quân 1 km kè tạo bãi tốn trên 30 tỉ đồng.
Ông Tô Quốc Nam, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) tỉnh Cà Mau, nhận định mùa mưa bão năm nay, do triều cường thường xuyên dâng cao kết hợp mưa giông và sóng mạnh, có thể đai rừng phòng hộ vùng biển phía Tây sẽ bị phá hủy, sóng biển tác động trực tiếp vào thân đê gây sạt lở. Hậu quả, không chỉ tốn kém khắc phục sạt lở mà còn ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất, sinh hoạt của người dân ở những khu vực này.
Trong khi đó, Kiên Giang hiện có khoảng 30 km bờ biển đang bị xói lở mạnh. Tỉnh này cũng đang kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành trung ương bổ sung hơn 3.000 tỉ đồng từ nay đến năm 2020 cho các chương trình hộ đê, khôi phục rừng phòng hộ ven biển.
Theo báo cáo của UBND tỉnh Kiên Giang, nhiều năm qua, tỉnh này đã chủ động triển khai các chương trình bảo vệ, phát triển rừng, đầu tư xây dựng tuyến đê biển cùng với hệ thống cống trên đê để điều tiết nước phục vụ sản xuất lúa, nuôi tôm và phòng chống thiên tai. Tuy nhiên, do thiếu vốn nên chương trình này triển khai rất chậm.
Trong đó, 6 dự án xây dựng các công trình ứng phó với biến đổi khí hậu thì gần như chưa triển khai do đang chờ vốn. Riêng công tác trồng và bảo vệ rừng phòng hộ, từ năm 2010 đến nay, chỉ trồng được 47 ha. Trong khi đó, tình trạng xói lở bờ biển diễn biến hết sức phức tạp nhưng vẫn chưa có biện pháp hạn chế, khắc phục.
Tại buổi làm việc mới đây với UBND tỉnh Kiên Giang về tình hình sản xuất nông nghiệp, thực hiện các dự án đầu tư xây dựng ứng phó với biến đổi khí hậu và diễn biến xói lở bờ biển, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cho rằng những năm qua, do lượng phù sa đổ về ĐBSCL giảm khoảng 80% đã gây sạt lở ven biển ở khu vực này với tốc độ ngày càng nhanh.
Vì vậy, các địa phương cần tiếp tục củng cố đê biển theo Chương trình 667 về đầu tư xây dựng các cống quy mô lớn để chủ động kiểm soát mặn, lũ và bảo đảm nước cho sản xuất. “Đây là một vấn đề lớn cho phát triển bền vững trong thời gian tới của ĐBSCL” - Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nhấn mạnh.
Phó Thủ tướng cũng đề nghị Bộ NN-PTNT tìm giải pháp để hướng dẫn các địa phương quy hoạch, thiết kế hệ thống đê; xử lý xói lở, phục hồi rừng ngập mặn ven biển. Bộ Kế hoạch và Đầu tư sớm trình suất đầu tư điều chỉnh vốn trồng rừng tùy theo thực tế bồi lắng hay sạt lở.
“Đối với những đê đã lún, không bảo đảm thì phải ưu tiên gia cố. Nếu không xử lý vấn đề ngoài đê thì sau đó, chúng ta sẽ phải xử lý bên trong đê, phải di dời hàng loạt hộ dân làm ảnh hưởng đến đời sống của họ” - Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chỉ đạo. (Người Lao Động 17/7) đầu trang(
Hơn 1 tuần sau khi phát hiện sự việc, lực lượng chức năng vẫn đang ‘bó tay’ trong việc di chuyển số gỗ bị chặt phá ra khỏi rừng. Được biết, lâm tặc đã ngang nhiên chặt hạ những cây sa mu cổ thụ rồi xẻ thành từng tấm ngay tại chỗ.
Trao đổi với PV sáng 17.7, Chi cục trưởng chi cục kiểm lâm Nghệ An Lê Cao Bính cho biết, khoảng 200m3 khối gỗ sa mu do lâm tặc chặt phá hiện vẫn chưa thể đưa ra khỏi rừng.
Số gỗ này đang nằm nguyên ở hiện trường, tại khoảnh rừng thuộc địa bàn xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong.
Theo ông Bính, hiện trường nơi lâm tặc chặt phá là khu vực rừng núi hiểm trở, rất khó đi lại. Để vận chuyển từng đó gỗ về xuôi trung tâm Quế Phong là cực khó.
Khu vực này qua Lào lại rất gần và dễ di chuyển hơn. “Hiện chúng tôi đang xin ý kiến địa phương để tìm cách đưa gỗ ra khỏi rừng”, ông Bính cho biết.
Trước đó như Lao Động đưa tin, ngày 8.7, đoàn kiểm tra liên ngành gồm Đồn biên phòng Hạnh Dịch, Hạt kiểm lâm khu bảo tồn Pù Hoạt, CA huyện Quế Phong và công an Hạnh Dịch bắt quả tang 5 đối tượng khai thác lâm sản trái phép trong khu bảo tồn.
Tại đây, 3 cây sa mu lớn có đường kính khoảng 2 – 2,7m đã bị chặt phá, trong đó 2 cây đã bị đón hạ và cắt khúc, xẻ thành tấm ngay tại chỗ. Cây thứ 3 đang bị chặt dở dang. Mỗi thân cây cao khoảng 30m. Đây là loại gỗ thuộc nhóm 2A quý hiếm.
5 đối tượng đã bị công an Quế Phong khởi tố, bắt giam gồm Lương Văn Tâm (SN 1975), Vi Văn Hoài (SN 1979), Lữ Văn Dương (SN 1976), Vi Văn Bình (SN 1994) đều trú tại xã Thông Thụ (huyện Quế Phong) và Cao Minh Quyết (SN 1986), trú tại xã Châu Cường, huyện Quỳ Hợp.
Được biết, khoảnh rừng bị chặt phá thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt nhưng đã được giao lại cho các đơn vị khác quản lý. (Lao Động 17/7) đầu trang(
Sau khi lên kịch bản rồi dụ các cán bộ kiểm lâm Thanh Hóa “vào tròng” để quay clip, một số đối tượng đã tới Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa uy hiếp rồi sau đó nhắn tin tống tiền hàng tỉ đồng.
Ngày 17-7, thông tin từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa cho biết đơn vị đang tiếp tục theo dõi, tìm hiểu việc một nhóm người "dựng kịch bản" tới các đơn vị kiểm lâm quay clip rồi sau đó tống tiền với số tiền nhiều tỉ đồng.
Thông tin cho biết, trong thời gian qua có một nhóm người tới các đơn vị thuộc Chi cục Kiểm lâm quản lý đặt vấn đề mua và được vận chuyển gỗ qua địa bàn. Tuy nhiên, trong lúc làm việc, nhóm người này đã bí mật mở máy ghi âm, máy quay mini ghi lại buổi làm việc. Nhóm này lên kịch bản trước sau đó dụ các cán bộ kiểm lâm “vào tròng” rồi tổng hợp clip quay trở lại tống tiền.
Khoảng đầu tháng 5-2015, sau khi làm việc với Đội kiểm lâm cơ động số 2 (đóng tại huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa), nhóm này đã tới làm việc với Chi cục kiểm lâm, cho xem clip và nói một số cán bộ kiểm lâm có biểu hiện tiêu cực và đưa ra những đề nghị, điều kiện vô lý, mang tính chất tống tiền.
“Nhóm người này đã nhắn tin tới số lãnh đạo yêu cầu phải chi 2 đến 3 tỉ đồng việc này mới được bỏ qua. Chi cục đã định báo công an bắt các đối tượng này nhưng thấy họ dừng lại nên chúng tôi chưa báo” - ông Lê Quốc Việt, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa, cho hay.
Các đối tượng khả nghi tên là Khánh, Phương, Thắng và Hoàn. Khi không thực hiện được việc tống tiền, các đối tượng trên đã câu kết với một người tự xưng là phóng viên của một tạp chí về pháp luật đến cơ quan để làm việc.
“Người này xưng là Lê Minh T., đi cùng một người xưng Huy có trình thẻ nhân viên của tạp chí, một giấy giới thiệu với nội dung: “Tạp chí trân trọng giới thiệu đồng chí Lê Minh T. đến Chi cục kiểm lâm Thanh Hóa liên hệ giới thiệu thông tin trên tạp chí”. Giấy giới thiệu cũng ghi rõ: “Đề nghị cán bộ không được liên hệ các nội dung khác”. Giấy giới thiệu là thế, nhưng trong buổi làm việc, những người này liên tục đề cập tới vấn đề đơn thư tố cáo, clip ghi lại những tiêu cực của cán bộ kiểm lâm, yêu cầu giải trình làm rõ trách nhiệm, có văn bản trả lời” - ông Việt cho biết thêm.
Trước tình hình trên, ngày 26-6, Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa đã có công văn gửi Tổng biên tập tạp chí trên để xác minh phóng viên trên và kiểm tra thông tin. Sau đó, có người gọi điện thoại tự xưng là Tổng biên tập tạp chí trên để gây áp lực.
Đến ngày 6-7, tạp chí trên đã có công văn trả lời Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa với nội dung: Ông Lê Minh T. được cấp thẻ nhân viên của tạp chí để ra vào cơ quan, đây không phải là thẻ phóng viên.
Ngày 18-5, tạp chí có cấp giấy giới thiệu cho ông T. đến Chi cục kiểm lâm Thanh Hóa với nội dung “liên hệ giới thiệu thông tin trên tạp chí, phần ghi chú ghi: “ Đề nghị cán bộ không được liên hệ các nội dung khác với nội dung đã ghi trên”.
Ngoài nội dung ghi trên giấy, tạp chí không cử ông T. đi làm việc nội dung khác. Số điện thoại gọi tới Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa không phải là số điện thoại của Tổng biên tập tạp chí. Tờ tạp chí này cũng cho biết đang xác minh để xử lý.
Cũng theo công văn trên, sau khi nhận được thông tin từ Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa, tạp chí đã yêu cầu ông T. giải trình và ông T. đã nhận sai. Do đó, tạp chí này chấm dứt hợp đồng với ông Lê Minh T. từ ngày 1-7, đồng thời thu hồi toàn bộ giấy tờ, thẻ cơ quan.
Liên quan đến những cán bộ kiểm lâm bị tố cáo có biểu hiện tiêu cực, ông Việt cho biết đã kiểm điểm trách nhiệm những người này. (Người Lao Động 17/7) đầu trang(
Sáng ngày 16/7/2015, Hạt kiểm lâm huyện tổ chức hội nghị tuyên truyền công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng năm 2015 tại xã Tịnh Trà.
Tại hội nghị, báo cáo viên đã triển khai cho các hộ dân của xã Tịnh Trà nội dung Luật bảo vệ và phát triển rừng, Nghị định của Chính phủ về phòng cháy chữa cháy, Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính về quản lý, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, Thông tư về việc hướng dẫn thực hiện khai thác tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ.
Triển khai cho người dân nắm được công tác phòng cháy rừng, khuyến cáo cho người dân biết được cách dự báo cháy rừng, phân vùng được trọng điểm cháy rừng để phòng cháy cho tốt; nâng cao công tác tuyên truyền để về tuyên truyền lại cho nhân dân trong toàn xã; cách xây dựng đường băng cản lửa khi có xảy ra cháy rừng; các biện pháp quản lý nguồn vật liệu cháy ở trong rừng.
Mục đích của hội nghị nhằm giúp tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho cán bộ, nhân dân, cộng đồng dân cư thôn, chủ rừng hiểu rõ các quy định của nhà nước về công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng.
Từ đó nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng của nhân dân; nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động ngăn ngừa các nguy cơ cháy rừng, tổ chức chữa cháy kịp thời khi xảy ra cháy rừng, không để cháy lây lan gây cháy lớn, hạn chế thấp nhất số vụ cháy rừng và giảm thiểu những thiệt hại do cháy rừng gây ra trong mùa nắng nóng năm 2015. (Báo Quảng Ngãi 17/7) đầu trang(
Một nghiên cứu về biến đổi khí hậu cho thấy thời gian cháy rừng trên toàn cầu đã kéo dài thêm gần 20% trong 35 năm qua do nhiệt độ trung bình đã tăng lên. Tình trạng cháy rừng đã diễn ra trên 29,6 triệu km2 (11,4 triệu dặm vuông) của bề mặt thảm thực vật của Trái đất.
Một nhóm các nhà khoa học ở Hoa Kỳ và Ôx-trây-li-a cho biết: “Chúng tôi đã chỉ ra rằng những thay đổi thời tiết bề mặt trong vòng một nửa thập kỷ qua đã khiến thời gian cháy rừng kéo dài hơn”.
Các nhà nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu khí hậu và 3 chỉ số về nguy cơ cháy rừng để tạo ra một cái nhìn tổng quan về độ dài thời gian diễn ra cháy rừng từ năm 1979-2013.Thời tiết là nguyên nhân lớn nhất tạo nên rủi ro cháy rừng: nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa và tốc độ gió, tất cả đều ảnh hưởng đến tần số và cường độ của các trận cháy rừng.
Những yếu tố này đều bị ảnh hưởng bởi khí hậu thay đổi. Cháy rừng làm diện tích rừng bị suy giảm và đặt ra một mối đe dọa đến tính mạng con người, tài sản và thiên nhiên.Báo cáo cho biết khoảng 350 triệu ha rừng bị cháy mỗi năm. Việc ứng phó với cháy rừng tiêu tốn của Mỹ khoảng 1,7 tỷ USD (1,5 tỷ euro) mỗi năm trong thập kỷ qua và Canada là khoảng 1 tỷ USD. Tổng chi phí ứng phó với cháy rừng tại Ôx-trây-li-a vào năm 2005 ước tính đạt gần 9,4 tỷ USD, tương đương 1,3% tổng sản phẩm quốc nội.
Trong thời gian nghiên cứu, diện tích đất toàn cầu trải qua nhiều năm nóng bất thường tăng 6,3% mỗi thập kỷ. Các nhà nghiên cứu cảnh báo: “Nếu xu hướng này tiếp tục, nguy cơ khả năng cháy rừng tăng cao có thể tác động đến hệ thống kinh tế-xã hội, sinh thái và khí hậu toàn cầu”.
Trong một nghiên cứu riêng biệt trên cùng tạp chí, các nhà khoa học cho biết gần hai phần ba đại dương đã trải qua tác động ngày càng tăng từ các hoạt động của con người trong 5 năm 2008-2013. Tình trạng này đã được thúc đẩy chủ yếu bởi áp lực biến đổi khí hậu như những bất thường về nhiệt độ mặt nước biển, axit hóa đại dương và bức xạ tia cực tím. (Bộ NN&PTNN 17/7) đầu trang(
Vào 8 giờ 30 phút , ngày 16/7, Đội XDPT và PTC về an ninh trật tự Công an huyện Anh Sơn (Nghệ An) phối hợp với Ban công an xã Vĩnh Sơn và Ban công an xã Long Sơn bắt quả tang 04 đối tượng vận chuyển Lâm sản trái phép trên sông Lam (đoạn đi qua xã Vĩnh Sơn và xã Long Sơn).
Qua kiểm tra, 4 đối tượng được xác định là Trần văn Nga (SN 1959, trú tại xã Đặng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An), Nguyễn Văn Hùng (SN 1958, trú tại xã Lưu Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An), Nguyễn Văn Ky (SN 1953, trú tại xã Hưng Long, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An) và Lê Văn Khẹt (SN 1982, trú tại Lạng Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An)
Tang vật thu giữ tại hiện trường có khoảng 20m3 gỗ các loại.
Hiện tại, Đội XDPT và PTC về an ninh trật tự Công an huyện Anh Sơn đang làm thủ tục hồ sơ trình lên Công An tỉnh Nghệ An , Phòng PV 28-CAT biết để theo dõi và chỉ đạo xử lý theo pháp luật. (Tuổi Trẻ Thủ Đô 17/7) đầu trang(
Thời gian gần đây do các lực lượng chức năng kiểm soát chặt chẽ tuyến đường bộ, các đối tượng buôn bán lâm sản đã chuyển hướng hoạt động với hình thức đưa gỗ, động vật hoang dã bất hợp pháp vận chuyển bằng tàu nhiều hơn, trước tình hình đó, ngày 06/5/2015, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam và Cục Kiểm lâm đã ký kết Quy chế phối hợp số 1082/QCPH - ĐS-KL nhằm kiểm tra vận chuyển trên đường sắt quốc gia.
Trên cơ sở đó Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa và Xí nghiệp khai thác đường sắt Hà Thanh tiến hành ký Kế hoạch phối hợp số 19/ KH-CNKTĐS-CCKL ngày 10/6/2015 về việc phối hợp kiểm tra, kiểm soát vận chuyển lâm sản, động vật rừng trên tuyến đường sắt qua địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
Để Kế hoạch sát với thực tiễn lãnh đạo hai cơ quan và các đơn vị phối hợp đã trực tiếp khảo sát và thống nhất nội dung phối hợp trong đó nêu rõ:
1. Chi nhánh khai thác Đường sắt Hà Thanh và Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa có trách nhiệm thông tin kịp thời cho nhau các quy định của pháp luật liên quan đến quản lý lâm sản, Động vật rừng (ĐVR).
2. Phối hợp trong việc chia sẻ thông tin về đối tượng buôn bán, vận chuyển lâm sản, ĐVR từ các nhà Ga trên địa bàn Thanh Hóa lên các chuyến tầu; thông tin đối tượng vi phạm trên các tàu chở hàng, tàu chở khách; thông tin về số hiệu tàu, ga xuất phát hoặc điểm bốc xếp lâm sản, ĐVR lên tàu; giờ chạy tàu; số hiệu toa hàng hoặc toa hành khách có đối tượng vi phạm;
3. Phối hợp trong việc trao đổi thời gian kiểm tra hàng lâm sản, giám sát hàng lâm sản đã ký hợp đồng vận chuyển bốc lên toa xe;
4. Phối hợp trong việc kiểm tra, kiểm soát khi hàng lâm sản đã được đưa lên tàu;
5. Phối hợp trong việc kiểm tra hàng lâm sản tại các nhà Ga, trước khi hành khách lên tàu;
6. Phối hợp trong việc thanh toán các chi phí hợp lý trong quá trình bắt giữ, xử lý vi phạm;
7. Phối hợp trong việc giao ban, sơ kết, tổng kết thực hiện kế hoạch hàng quý, 6 tháng, cả năm; báo cáo kết quả thực hiện cho Tổng công ty Đường sắt Việt Nam và Cục Kiểm lâm theo quy định;
Bên cạnh đó Lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm đã thống nhất chỉ đạo Hạt Kiểm lâm các huyện Tĩnh Gia, thành phố Thanh Hóa, Kiểm lâm Ven Biển và Hạt Kiểm lâm Hà Trung có trách nhiệm phối hợp với các nhà Ga và Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR số 01 nắm bắt thông tin và xử lý kịp thời khi có dấu hiệu buôn bán vận chuyển lâm sản trái phép trên tuyến đường sắt qua địa bàn các đơn vị phụ trách. (Kiểm Lâm Thanh Hóa 16/7) đầu trang(
Theo thông tin chúng tôi nắm được, hầu như cứ cuối tuần có một số người chở ra thị trấn Pác Miầu vài xe gỗ. Lân la mãi, chúng tôi cũng biết được lịch của chuyến hàng này sẽ xuất phát vào tối 31/5.
Qua tìm hiểu thông tin, chúng tôi được biết, để qua mặt cơ quan chức năng, vào buổi chiều, các xe tải từ thị trấn Pác Miầu sẽ di chuyển vào xã Nam Cao chở gỗ ra thị trấn vào ban đêm. Con đường độc đạo để ra Pác Miầu phải qua cây cầu treo bắc qua sông Gâm ở đầu thị trấn.
Biết được thông tin đêm 31/5 sẽ có xe chở gỗ nhưng không biết họ chở ra vào thời gian nào, cả nhóm chúng tôi đã chia ra mỗi điểm một người đến nắm tình hình, người ở trước Hạt Kiểm lâm, người ở đầu cầu treo bắc qua sông Gâm, người ẩn mình trong nương ngô xanh tốt ven đường, điện thoại lúc này được trưng dụng thành bộ đàm để thông tin.
Sau gần 4 giờ đồng hồ mai phục, đến khoảng 21 giờ, một xe tải 2,5 tấn chở gỗ dạng ván xuất hiện, quan sát từ xa thấy trên xe có khá nhiều gỗ. Đến đầu cầu, chiếc xe này dừng lại, ngay lập tức 3 xe tải khác đã chờ sẵn trên Quốc lộ 34 ở đầu cầu bên thị trấn sang san gỗ từ xe tải đó.
Hàng chục thanh niên ở quán nước đầu cầu nhanh chóng lên xe san gỗ sang các xe khác vì cầu chỉ có thiết kế trọng tải 1,5 tấn. Chứng kiến cảnh này, chúng tôi ngay lập tức báo cho Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Bảo Lâm bằng điện thoại, ông nghe máy và nói sẽ cho người đến kiểm tra, xử lý ngay. Tuy nhiên, khoảng 30 phút sau, không hề có bóng dáng kiểm lâm đến kiểm tra, dù trụ sở Hạt cách đó chỉ khoảng 1km.
Sau khi san hạ tải xong số gỗ, hai xe tải leo dốc và quay trở lại xã Nam Cao; còn hai xe khác chất đầy gỗ qua cầu về thị trấn Pác Miầu. Điều đáng nói, xe gỗ qua cửa Hạt Kiểm lâm nhưng không hề thấy ai kiểm tra, dù trước đó chúng tôi đã báo với lực lượng này. Theo chân hai xe tải thấy họ chở gỗ vào con đường dẫn thẳng lên UBND huyện Bảo Lâm rồi mất hút trong màn đêm của núi rừng…
Sáng hôm sau, chúng tôi quay trở lại nơi hai chiếc xe tải chở gỗ lên thì chỉ còn lại dấu vết của những bánh xe qua lại làm cỏ giập nát. Và chiếc xe tải được ghi hình tối hôm trước đang đỗ tại một quán ăn gần đó, gỗ đã được chuyển ra khỏi xe.
Ở thị trấn Pác Miầu, chúng tôi được cung cấp thêm thông tin từ một số người bán hàng trong khu chợ hải sản tươi sống, tại trung tâm Pác Miầu có một số đối tượng đang cất giấu gỗ ở đó.
Theo quan sát, khu chợ rộng hàng nghìn mét vuông với hàng trăm gian hàng nhưng số người bán rất ít. Tại góc chợ có một xưởng xẻ với nhiều gỗ nghiến dạng tròn và hộp được cất giấu tại một trạm điện gần đó.
Không chỉ vậy, bên trong góc chợ còn nhiều tấm gỗ dạng sập dày khoảng 10cm, rộng 90cm, dài khoảng 2m được phủ bạt cẩn thận, quanh đó là nhiều ván gỗ và các thanh xếp chồng lên nhau.
Cách chợ hải sản tươi sống Pác Miầu không xa còn một xưởng đóng đồ gỗ mộc khác cũng đang cất giấu hàng chục mét khối gỗ dạng thớt và lục bình, ván gỗ cũng được che bạt xanh phủ kín cẩn thận.
Vì sao việc vận chuyển, buôn bán, cất giấu, dự trữ gỗ trái phép trong nhà dân mà không bị cơ quan chức năng của huyện Bảo Lâm xử lý? Kinh tế nông thôn sẽ tiếp tục thông tin. (Kinh Tế Nông Thôn 18/7) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Năm 2015, huyện Mường Lát được giao kế hoạch trồng 3.500 ha rừng. Đến thời điểm này, toàn huyện mới trồng được 1.117 ha, đạt 31,9% kế hoạch và bằng 71% so với cùng kỳ năm 2014.
Nguyên nhân được xác định là do công tác chỉ đạo thực hiện kế hoạch trồng rừng gặp nhiều khó khăn; việc lập hồ sơ thiết kế, chuẩn bị hiện trường của các Ban Quản lý Dự án (BQLDA) trồng rừng 147 trên địa bàn huyện còn chậm, mới thiết kế được 2.201 ha, trong đó có một số BQLDA trồng rừng 147 chưa tổ chức cho nhân dân trồng rừng.
Để đẩy nhanh tiến độ trồng rừng trong vụ thu, phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2015, huyện Mường Lát đang đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân tích cực tham gia trồng rừng.
Phối hợp với Đoàn Chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội huyện Mường Lát chỉ đạo các BQLDA trồng rừng 147 tập trung mọi nguồn lực, bảo đảm cung ứng đủ nguồn cây giống để khi thời tiết thuận lợi nhân dân tiến hành trồng rừng. Các BQLDA trồng rừng 147 phối hợp với chính quyền các xã, thị trấn rà soát diện tích đất trống đủ điều kiện để thiết kế trồng rừng... (Báo Thanh Hóa 18/7) đầu trang(
Các công ty lâm nghiệp ở Đắc Lắc không dám nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì sợ mắc nợ với nhà nước.
Tỉnh Đắc Lắc hiện có 23 công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng được Nhà nước giao quản lý bảo vệ và sử dụng hơn 500 nghìn ha đất và rừng. Số diện tích này đã được đo đạc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tuy vậy, theo ông Bùi Thanh Lam, Giám đốc Sở Tài nguyên môi trường Đắc Lắc, do sợ mắc nợ tiền thuê đất, các công ty lâm nghiệp không dám nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích của đơn vị mình. Vì nếu nhận, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục thuê đất theo đúng quy định của pháp luật.
Thực tế đã có 3 công ty lâm nghiệp ở huyện Ea Súp đang mắc nợ gần 50 tỷ đồng. Không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng, các công ty lâm nghiệp sẽ không thực hiện được đầy đủ các quyền và nghĩa vụ về quản lý đất đai, hạn chế trong việc bảo vệ phát triển rừng.
Về sự bất cập này, ông Bùi Thanh Lam, cho biết: “Chúng tôi đã xác lập cả 3 loại đất rồi, nhưng mà họ lại không nhận. Ví dụ đất rừng trồng thì họ nhận vì có thể còn liên doanh liên kết hay vay vốn được, chứ còn đất rừng tự nhiên thì họ không nhận, bởi vì nếu nhận vào thì phải ký hợp đồng kể cả thuê đất kể cả thuê rừng theo thông tư 07 liên bộ nên họ không làm.
Và có một số đơn vị nhận thì bây giờ lại mắc nợ với nhà nước. Điều này cũng phản ánh những chính sách của chúng ta có những cái không đồng bộ và bất cập, ảnh hưởng đến sự quản lý bảo vệ rừng hiệu quả kinh tế sử dụng đất của các đơn vị”. (VOV Giao Thông 18/7) đầu trang(
Qua kiểm tra của cơ quan chức năng, bên cạnh những cơ sở sản xuất cây giống lâm nghiệp (CGLN) đảm bảo các điều kiện về sản xuất cây giống, vẫn còn nhiều cơ sở, vườn ươm hoạt động không có giấy phép, nguồn gốc cây giống không rõ ràng, kém chất lượng, ảnh hưởng đến chất lượng rừng trồng. Vì vậy yêu cầu đặt ra là phải siết chặt quản lý chất lượng CGLN.
Phong trào trồng rừng phát triển mạnh nên nhiều tổ chức, cá nhân đã đua nhau xây dựng cơ sở sản xuất CGLN; số cơ sở sản xuất CGLN có xu hướng ngày càng tăng cả về số lượng và quy mô sản xuất.
Theo Sở NN&PTNT, Bình Định là tỉnh có phong trào trồng rừng kinh tế khá mạnh ở khu vực Duyên hải miền Trung với hơn 100 ngàn ha rừng trồng. Hằng năm, diện tích rừng trồng mới, khai thác trồng lại trên địa bàn tỉnh trên dưới 10.000 ha, nhu cầu về cây giống cho công tác trồng rừng ước khoảng 20 triệu cây/năm.
Ông Nguyễn Thế Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp (thuộc Sở NN&PTNT) cho biết: Hiện nay, toàn tỉnh có 112 đơn vị đăng ký sản xuất kinh doanh CGLN, tăng thêm 6 đơn vị so với thời điểm tháng 4.2014. Hiện các cơ sở sản xuất CGLN trong tỉnh đã xây dựng được 114 vườn ươm, với tổng diện tích 72,5 ha, năng lực sản xuất khoảng 200 triệu cây giống/năm.
Hầu hết các đơn vị sản xuất cây giống bằng phương pháp giâm hom đối với cây keo lai; một số đơn vị sản xuất cây giống keo lai, bạch đàn từ nuôi cấy mô và sản xuất các loài cây bản địa như phi lao, keo lá tràm, thông Caribe, sao đen, bời lời... từ hạt giống.
CGLN trên địa bàn tỉnh khá đa dạng về chủng loại, giá cả phải chăng, nên được các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trồng rừng trong và ngoài tỉnh tin dùng. Riêng đối với vườn cung cấp hom keo lai, toàn tỉnh có 128 nguồn giống với tổng diện tích 43,6 ha dùng để sản xuất cây con bằng phương pháp giâm hom, năng lực cung cấp 140 triệu hom/năm.
Hiện nay, ngoài thị trường các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên như: Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk, Lâm Đồng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, các cơ sở sản xuất CGLN trong tỉnh còn cung ứng một lượng lớn cây giống cho các công ty, đơn vị trồng rừng tại các tỉnh Nam Lào.
Các cơ sở sản xuất kinh doanh CGLN trên địa bàn tỉnh phát triển mạnh là điều đáng mừng. Tuy nhiên, đáng quan ngại là do chạy theo lợi nhuận, một số cơ sở sản xuất chưa thực hiện nghiêm túc quy chế quản lý CGLN theo quy định của Bộ NN&PTNT; tình trạng xuất bán cây giống nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận nguồn gốc giống vẫn còn xảy ra tại một số địa phương.
Vào mỗi vụ trồng rừng, lại xuất hiện tình trạng thương lái vận chuyển nhiều loại CGLN không rõ nguồn gốc xuất xứ đi tiêu thụ với giá khá rẻ. Một số hộ trồng rừng vì ham rẻ nên mua phải cây giống trôi nổi, chất lượng kém, gây ảnh hưởng đến chất lượng rừng trồng.
Trước vụ trồng rừng năm nay, trên địa bàn thôn Phú Kim - xã Cát Trinh và xã Cát Hanh (Phù Cát) vẫn còn một số hộ sản xuất CGLN không có nguồn gốc, xuất xứ; hộ sản xuất không có giấy phép sản xuất kinh doanh nhưng chưa được cơ quan chức năng xử lý.
Theo cơ quan chuyên môn, nếu người trồng rừng sử dụng CGLN kém chất lượng thì hậu quả mang lại rất lớn, vì CGLN có chu kỳ phát triển khá dài, phải mất từ 3-4 năm sau mới phát hiện được. Việc kiểm soát chặt chẽ các cơ sở sản xuất CGLN là vấn đề đáng được quan tâm và phải được duy trì thường xuyên.
Song cái khó của cơ quan chuyên môn được giao quản lý lĩnh vực này (Chi cục Lâm nghiệp) lại không có lực lượng thanh tra. Do vậy, công tác quản lý CGLN gặp rất nhiều khó khăn; việc kiểm tra, xử lý các cơ sở vi phạm trên lĩnh vực CGLN lâu nay chưa được quan tâm đúng mức.
Nhằm chấn chỉnh tình trạng trên, mới đây, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) đã có văn bản đề nghị Sở NN&PTNT các tỉnh, thành phố tăng cường công tác kiểm soát, nâng cao chất lượng CGLN trước khi bước vào vụ trồng rừng mới. Tổ chức quản lý, kiểm soát nghiêm ngặt nguồn gốc CGLN từ khâu thu hoạch vật liệu giống, cấp chứng nhận nguồn gốc lô giống, quản lý sản xuất cây con ở vườn ươm, cấp giấy chứng nhận nguồn gốc cây con tới khâu lưu thông đến chân lô trồng rừng.
Nghiêm cấm không sử dụng các lô giống không rõ nguồn gốc xuất xứ; phải xử lý, tiêu hủy tất cả các lô giống không rõ nguồn gốc khi phát hiện. Phải đình chỉ sản xuất hoặc thu hồi giấy phép đối với những cơ sở không đủ điều kiện...
Ông Nguyễn Thế Dũng cho biết: Thực hiện chỉ đạo của Tổng cục Lâm nghiệp, Chi cục sẽ tham mưu Sở NN&PTNT thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành, phối hợp với Phòng NN&PTNT các huyện và chính quyền địa phương tiến hành kiểm tra tình hình sản xuất kinh doanh và thực hiện các quy định của Nhà nước trên lĩnh vực sản xuất CGLN trên địa bàn tỉnh.
Chi cục sẽ thường xuyên tuyên truyền, khuyến cáo người trồng rừng không mua, không sử dụng các CGLN không rõ nguồn gốc, xuất xứ để trồng rừng; tăng cường việc cấp giấy chứng nhận CGLN trước khi xuất vườn. “Hiện nay, Chi cục Lâm nghiệp cũng đang tiến hành cơ cấu lại bộ máy theo hướng sáp nhập với Chi cục Kiểm lâm; sau khi sáp nhập, sẽ có lực lượng thanh tra, pháp chế quản lý chặt chẽ các cơ sở sản xuất CGLN” - ông Dũng cho biết thêm.
Trong vụ trồng rừng năm nay, toàn tỉnh có kế hoạch trồng 8.500 ha rừng tập trung, gồm 1.015 ha rừng phòng hộ, 7.485 ha rừng sản xuất. Ðến giữa tháng 7, các cơ sở sản xuất CGLN trên địa bàn tỉnh đã tổ chức gieo ươm được gần 120 triệu cây giống các loại, đáp ứng đủ nhu cầu cây giống phục vụ trồng rừng năm 2015. Trong đó, keo lai hom 114 triệu cây, keo lai cấy mô 5,45 triệu cây, sao đen 850 ngàn cây, phi lao 350 ngàn cây, thông Cariber 140 ngàn cây… (Báo Bình Định 16/7) đầu trang(
Qua 4 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, thực tiễn đã nảy sinh nhiều vấn đề cần điều chỉnh, trong đó mức chi trả quá thấp, sự chênh lệch mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng bình quân đã làm giảm sự nhiệt tình của người dân trong việc bảo vệ rừng cũng như hiệu quả của chính sách.
Trên cả nước, Phú Thọ có mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng bình quân là 772.916 đồng/ha/năm, Lai Châu là 342.734 đồng/ha/năm, đây là những tỉnh có mức chi trả cao nhất cả nước. Trong khi đó, một số tỉnh rất thấp, như Đồng Nai chỉ có 32.500 đồng/ha/năm, Cao Bằng 38.000 đồng/ha/năm, Bình Thuận 69.000 đồng/ha/năm.
Đã thấp, tiền dịch vụ môi trường rừng lại có nhiều sự chênh lệch. Trong cùng một lưu vực sông, nhưng giữa 2 tỉnh tiền dịch vụ môi trường rừng cũng có sự chênh lệch. Theo báo cáo của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Đồng Nai và Vườn quốc gia Cát Tiên, mức tiền dịch vụ môi trường rừng mà tỉnh Lâm Đồng chi trả cho các hộ dân huyện Cát Tiên là 400.000 đồng/ha/năm, trong khi đó ở bờ sông đối diện, các hộ dân của tỉnh Đồng Nai chỉ nhận được 50.000 đồng/ha/năm, ít hơn 8 lần, gây ra sự so sánh và thắc mắc.
Mặc dù cùng nằm trong một tỉnh, nhưng sự chênh lệch mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng bình quân có nơi lên đến hàng trăm lần giữa các lưu vực sông. Cụ thể tại tỉnh Bình Định, mức chi trả chênh lệch lên đến 330 lần (604.690 đồng/1.828 đồng), tại Điện Biên, mức chênh lệch là 310 lần (256.000 đồng/826 đồng).
Với mức chi trả thấp và chênh lệch như trên, chính sách không những không mang lại hiệu quả và lợi ích cho người dân, mà còn gây nên sự so sánh giữa các hộ gia đình cùng tham gia nhận khoán bảo vệ rừng, một số nơi đã thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng nhưng rừng vẫn tiếp tục bị phá.
Việc điều chỉnh mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là cần thiết, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của các địa phương và phát huy ý nghĩa xã hội, nhân văn của chính sách. Tại dự thảo nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 99/2010/NĐ-CP, một phương án được đưa ra là trích một phần kinh phí (không quá 20%) tổng số tiền ủy thác chuyển về Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh trong năm để lập quỹ dự phòng và điều tiết, trong đó 5% dự phòng để hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, khô hạn, 15% điều tiết, hỗ trợ công tác bảo vệ và phát triển rừng và điều tiết cho những diện tích rừng ở các lưu vực cơ mức chi trả thấp hơn mức hỗ trợ của ngân sách nhà nước cho bảo vệ rừng.
Nếu đề xuất này được chấp thuận, sẽ tạo điều kiện cho các địa phương có thêm nguồn lực để xử lý, điều tiết, hỗ trợ cho các vùng rừng thuộc các lưu vực có mức chi trả thấp hơn so với mức hỗ trợ của ngân sách nhà nước, động viên người dân bảo vệ, phát triển rừng và tích cực thực hiện chính sách.
Tuy nhiên, việc sửa đổi này cũng sẽ ảnh hưởng đến một bộ phận người dân bị giảm bớt tiền chi trả mà vốn dĩ họ được hưởng. Tuy vậy, phương án này vẫn có thể khả thi khi nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 99 được ban hành, nguồn tiền thu từ dịch vụ môi trường rừng sẽ tăng lên, vẫn có nguồn chi trả tăng thêm cho toàn bộ diện tích rừng có cung ứng dịch vụ, vẫn là nguồn động viên khuyến khích các chủ rừng và những hộ nhận khoán bảo vệ rừng thực hiện cung ứng dịch vụ môi trường rừng.
Theo tổng kết, có 4 phương thức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đang thực hiện ở các tỉnh. Trong đó, cách chi trả đối với từng lưu vực hồ thủy điện chiếm đến 80,1% diện tích rừng được bảo vệ bằng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, đây lại là cách chi trả có sự chênh lệch cao (có nơi đến hơn 300 lần) gây thắc mắc lớn nhất giữa các cộng đồng. (Dân Việt 19/7) đầu trang(
Nghị định 99 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng không chỉ làm tăng độ che phủ rừng, mà còn thúc đẩy nghề rừng phát triển. Thời gian qua, ở Lai Châu hàng nghìn hộ đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) đã thoát nghèo, ổn định cuộc sống nhờ dịch vụ môi trường rừng.
Tỉnh Lai Châu có hơn 430 nghìn ha rừng được chi trả tiền dịch vụ theo Nghị định 99 của Chính phủ. Mỗi năm, tỉnh thu từ dịch vụ môi trường rừng gần 200 tỷ đồng. Số tiền này, phần lớn được chi trả cho các hộ dân trực tiếp tham gia khoanh nuôi, bảo vệ và phát triển rừng.
Chúng tôi lên xã miền núi Mù Cả, huyện Mường Tè là một trong những xã có diện tích rừng lớn nhất tỉnh Lai Châu (hơn 38 nghìn ha). Năm 2014, xã được chi trả gần 12 tỷ đồng từ tiền dịch vụ môi trường rừng. Với 440 hộ dân trong toàn xã nhận khoanh nuôi, bảo vệ rừng được thụ hưởng, bình quân mỗi hộ có thu nhập khoảng 27 triệu đồng/năm, đã góp phần giúp bà con dân tộc Hà Nhì xóa đói, giảm nghèo.
Trưởng bản Gia Tè, xã Mù Cả, Lý Hà Xá cho biết: Trước đây, bản mình nghèo lắm, năm nào Nhà nước cũng phải hỗ trợ gạo cứu đói giáp hạt. Mấy năm trở lại đây, có tiền nhờ rừng, dân bản bớt khó khăn, không còn lo đói mùa giáp hạt nữa; giờ cả bản chỉ còn ba hộ nghèo.
Tương tự xã Mù Cả, xã Pú Đao, huyện Nậm Nhùn cũng được hưởng lợi từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng của Chính phủ. Mặc dù mức bình quân thu nhập từ rừng của các hộ dân ở đây không cao như xã Mù Cả (khoảng 20 triệu đồng/hộ/năm), song ở xã Pú Đao có những bản như Nậm Pì, mỗi hộ dân thu nhập trung bình gần 40 triệu đồng/năm, thậm chí, có hộ thu nhập 60 triệu đồng/năm. Đây là khoản thu lớn giúp bà con ổn định cuộc sống và yên tâm gắn bó lâu dài với rừng.
Giám đốc Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng Lai Châu Nguyễn Trọng Lịch cho biết: Sau bốn năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh, các vụ cháy rừng, vi phạm về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng giảm rõ rệt; độ che phủ rừng tăng từ 41% năm 2011 đến 45% năm 2014.
Đời sống của bà con được cải thiện. Nhiều nơi như xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, bà con yêu cầu không nhận gạo cứu đói giáp hạt vì đã có tiền dịch vụ môi trường rừng. Hàng nghìn hộ đồng bào DTTS vùng sâu, vùng xa của huyện Mường Tè nhờ có rừng mà nguồn thu ổn định, với mức bình quân 21 triệu đồng/hộ/năm...
Chủ tịch UBND xã Mù Cả Lý Khai Hòa cho biết, mỗi năm tỷ lệ hộ nghèo của xã giảm khoảng 5%; có được kết quả đó, một phần đóng góp không nhỏ là nguồn thu nhập từ rừng của người dân. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng của Chính phủ đã và đang giúp cho đồng bào DTTS vùng sâu, vùng xa của Lai Châu có thêm nguồn thu ổn định, vươn lên thoát nghèo. (Nhân Dân 19/7) đầu trang(
6 tháng đầu năm 2015, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) thực hiện đúng quy định về quản lý tiền, phát huy vai trò phát triển lâm nghiệp của tỉnh.
Quỹ đã nghiệm thu thanh toán tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) năm 2014 cho các đơn vị chủ rừng; xây dựng kế hoạch thu - chi tiền chi trả DVMTR năm 2015. Qua kiểm tra nghiệm thu tại các đơn vị chủ rừng cho thấy, hầu hết đã quản lý, bảo vệ tốt diện tích rừng được giao, rừng ít bị tác động, đủ điều kiện được thanh toán tiền chi trả DVMTR theo quy định.
Lãnh đạo quỹ còn phổ biến nâng cao nhận thức về chính sách chi trả DVMTR thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; tuyên truyền lưu động tại các xã Đăng Hà (Bù Đăng), Đắk Ơ, Bù Gia Mập của huyện Bù Gia Mập... đồng thời đôn đốc các đơn vị sử dụng DVMTR thanh toán tiền đúng quy định.
Theo đó, 6 tháng qua, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng đã thu tiền chi trả DVMTR 13,127 tỷ đồng. Trong đó, tiền DVMTR của quý 1/2015 thu hơn 4 tỷ đồng, còn lại là thu nợ của các năm trước. Riêng thu tiền chi trả DVMTR quý 2/2015 được thực hiện trong tháng 7-2015.
Việc thu tiền chi trả DVMTR từ các đơn vị sử dụng được thực hiện tốt. Hiện một số đơn vị sản xuất nước sạch tại các tỉnh Bình Dương, Tây Ninh, Long An sử dụng nguồn nước sông Bé, sông Sài Gòn, sông Đồng Nai có lưu vực thuộc tỉnh Bình Phước nhưng vẫn chưa ký được hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR với Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam nên không có nguồn thu bổ sung. (Báo Bình Phước 18/7) đầu trang(
Nhiều cây mắc ca người dân đang trồng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ra quả rất kém, khác xa so với kỳ vọng ban đầu về loại cây này.
Báo Tuổi trẻ dẫn lời TS Y Ghi Niê, Chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Đắk Lắk cho hay: "Có những cây người dân trồng thu được không quá 3kg quả/cây/vụ. Trong khi đó, cây mắc ca khi ra bói phải thu 3kg và sau đó thu được từ 15kg quả/cây/vụ mới đạt”.
Cũng theo ông Y Ghi Niê, hiện tỉnh Đắk Lắk có khoảng 115ha mắc ca, trong đó 61ha người dân đã có thể kinh doanh nhưng cho quả rất ít. Số còn lại hiện chưa ra hoa, quả.
Thực tế này đã từng được nhiều nhà khoa học cảnh báo trước đó. GS Đinh Xuân Bá, Giám đốc Trung tâm Sinh học ứng dụng SECOIN, một nhà toán học đã bỏ nhiều công sức nghiên cứu và thu thập các số liệu cơ sở của quốc tế và chứng minh có một sự hoang tưởng về các dữ liệu với loại cây này.
Theo đó, ông đã tính toán để xem nếu trồng 100.000 ha mắc ca thì sau 10 năm có thu nhập trung bình trong 1 năm là bao nhiêu USD.
GS Bá dẫn các số liệu tin cậy thì một ha trồng được 312 cây (mật độ trồng 8x4m), một số liệu khác thì một ha trồng được 416 cây (mật độ trồng 6x4m), theo nguồn báo Nhandan thì tại Tây Nguyên VN một ha trồng thí điểm có hơn 200 cây. Vậy tạm lấy con số trung bình là một ha có 300 cây mắc ca.
Một nguồn khác cũng đưa ra số liệu đối với một cây mắc ca, trong 4 năm đầu ta chưa thu hoạch được hạt nào. Đến năm thứ 5 thì thu hạt được 1 kg/cây, năm thứ 10 thu được 10kg/cây.
"Vậy tính cả 10 năm thì thu được trung bình mỗi năm là 3,2kg/cây, (không phải là 70kg/cây như nhiều thông tin đã nói)", GS Bá nói thẳng.
Ông nhấn mạnh: "Cần phải có nhìn nhận khách quan hơn với những thông tin đưa ra từ các dự án trồng cây mắc ca để dư luận và người dân biết trước để chủ động phòng ngừa những rủi ro khi quyết định trồng cây này".
Ông Cao Chí Công, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) vào tháng 3/2015 cũng từng thẳng thắn, cây mắc ca là loại cây có tiềm năng ở nước ta, tuy nhiên, thông tin trong thời gian vừa qua nói cây trồng này là “tỷ đô” hay “nữ hoàng” là chưa có cơ sở.
"Có thể nghĩ đến khả năng người bán giống tự nâng giá trị của cây này lên. Muốn đánh giá cụ thể phải trồng khảo nghiệm, trồng nhân rộng ở các vùng sinh thái khác nhau, từ đó mới có thể nhận xét chính xác về cây trồng này. Bộ mới chỉ trồng thử nghiệm, chưa đánh giá được nên không thể có chủ trương trồng mở rộng mắc ca", ông Công khẳng định. (Đất Việt 18/7) đầu trang(
Theo kế hoạch trong năm 2015, tổng diện tích trồng rừng thay thế trên địa bàn tỉnh là hơn 3.691 ha. Trong đó, diện tích do các công ty thủy điện triển khai thực hiện là 3.196 ha; diện tích chuyển sang mục đích khác là hơn 495 ha.
Tính đến hết tháng 6/2015, các đơn vị chức năng mới bàn giao hiện trường cho những đơn vị triển khai trồng rừng thay thế được 1.730 ha. Như vậy, diện tích hiện chưa xác định được quỹ đất vẫn còn tới hơn 1.465 ha.
Trước thực trạng này, Sở Nông nghiệp-PTNT hiện đang phối hợp với UBND các huyện, thị xã và đơn vị chủ rừng tiếp tục rà soát nhằm xác định cụ thể vị trí, diện tích, ranh giới đất đủ điều kiện trồng rừng sớm bàn giao cho các đơn vị triển khai trồng rừng. (Báo Đắk Nông 17/7) đầu trang(
Thường thì đến mùa mưa mới là mùa trồng rừng. Thế nhưng có những nông dân lại chọn mùa khô nắng cháy để trồng rừng. Cách làm tưởng chừng như trái ngược này lại mang đến hiệu quả bất ngờ…
Trong khi những nông dân khác sau khi khai thác keo xong phải đợi đến mùa mưa mới tiến hành trồng thì ông Nguyễn Văn Tại, thôn Hội Đức, xã Tịnh Hiệp (Sơn Tịnh) lại làm ngược lại.
Ông không bỏ đất trống đến mùa mưa mới trồng rừng mà mạnh dạn bỏ ra hàng trăm triệu đồng để thuê máy đào, máy xúc móc hết các gốc cây vừa mới khai thác và tiến hành xới cho đất tơi xốp để trồng keo.
Tuy nhiên, để cây keo sống và phát triển được trong mùa khô thì cần phải có những cách làm sáng tạo. Vì vậy để trồng được 17ha rừng ở trên núi cao, bên cạnh việc thuê máy đào, máy xúc đào gốc, xới đất thì ông Tại còn thuê máy đào hố sẵn. Cứ cách 2m đào một hố, độ sâu khoảng 60cm. Đặc biệt, trước khi trồng keo, ông Tại nhúng nước cho thật ướt bịch cây giống.
Bởi theo ông, nếu nhúng kỹ, khi trồng xuống, lượng nước chứa trong bịch sẽ giữ cho cây có nguồn nước lâu hơn, giúp cây nhanh bén rễ. Ngoài ra, nhờ đào hố sâu theo kiểu ruộng bậc thang nên khi có mưa giông là nước sẽ chảy xuống các gốc cây. Kèm theo đó là chất mùn cũng sẽ được tích tụ lại mà không bị chảy trôi. Từ đó cây giữ được độ ẩm lâu hơn và phát triển nhanh hơn.
Ông Tại chia sẻ: “Thấy tôi trồng rừng giữa lúc trời đang nắng nóng ai cũng bảo tôi bị khùng. Họ bảo, khi không tiền của không để trong nhà lại đem vứt ra rừng. Tuy nhiên tôi tin tưởng vào cách làm của mình sẽ đem lại hiệu quả nên quyết tâm làm”.Không chỉ có cách làm sáng tạo, mà nhìn cách trồng rừng của ông Tại rất chuyên nghiệp. Để có đường chở keo giống khi trồng cũng như sau này khai thác, ông Tại thuê xe ủi mở đường đi trong rẫy keo của gia đình.
Tuy nhiên, để chống xói mòn, trôi đường khi mùa mưa đến, ông làm mương thoát nước hai bên. Mặt khác, xung quanh bìa rẫy keo rộng 17ha của mình, ông cho đào đường thông hào rộng 2m, sâu hơn 1m để phòng chống cháy rừng.
“Đất rừng của mình nhiều, bao nhiêu tiền của, công sức trong đó, nếu không có biện pháp phòng chống cháy rừng, lỡ như rừng bên cạnh bị cháy mà cháy lan sang mình thì khổ”, ông Tại lý giải.
Không có nhiều vốn và nhiều đất rừng như ông Tại, nhưng ông Nguyễn Tài, xã Hành Nhân (Nghĩa Hành) cũng trồng rừng giữa mùa khô theo cách thủ công của nhà nông. Ông Tài cho biết: “Để giữ ẩm cho cây lúc mới trồng, tôi thường lấy đá chèn xung quanh gốc cây. Sau khi trồng cây xuống được vài ba ngày, mình chịu khó bỏ ra mấy buổi để gánh nước tưới cho cây.
Tuy có vất vả nhưng làm nông thì phải chịu khó chứ trồng xong rồi bỏ đó thì làm sao mà có thu. Mặc dù vậy nhưng vì keo là loại cây trồng ít cần nước nên mỗi cây chỉ cần tưới một ca là đủ. Do đó, công bỏ ra cũng không nhiều mấy, nhưng hiệu quả lại cao.
Dưới cái nắng bỏng rát của những ngày hè, nhiều địa phương đang nỗ lực tìm kiếm các biện pháp chống hạn cho cây trồng thì chỉ cần một cơn mưa giông là rừng keo của ông Tài và ông Tại đã xanh mướt.
Nhìn những rừng keo bạt ngàn vươn lên khỏe khoắn, ít ai nghĩ rằng đó là những rừng keo được trồng vào thời điểm nắng nóng của mùa hè. “Mới chỉ trồng được 2 tháng nhưng keo của tôi đã xinh hơn keo của họ trồng vào mùa mưa năm trước. Thấy rẫy keo của tôi ai cũng thích. Giờ họ không còn nói tôi khùng nữa rồi”, ông Tại nói.
Theo ông Tại, mặc dù keo của ông trồng vào mùa khô nhưng tỷ lệ sống tới 95%, năng suất luôn đạt cao hơn so với trồng rừng vào mùa mưa. Bởi trồng rừng vào mùa mưa thì cây dễ sống nhưng lại gặp lạnh làm cho khó phát triển. Hơn nữa trồng keo vào mùa mưa sẽ bị bệnh phấn trắng. Đây là loại bệnh tưởng chừng đơn giản nhưng ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng của cây trồng.
Một khi đã mắc bệnh thì cây sẽ mất sức, cứ đứng mãi mà không lớn. Do đó, với “cách làm ngược”, trung bình 1ha keo của ông Tại luôn đạt từ 110 – 120 tấn, cao hơn 30 – 40 tấn/ha so với những nông dân trồng rừng khác.
Ngoài ra, để lấy lại hơn 200 triệu đồng đã bỏ ra để đầu tư vào trồng rừng, ông Tại tiến hành trồng xen canh cây mì vào keo. Theo tính toán của ông Tại, với 17 ha đất trồng keo, ông trồng xen mì sẽ thu trên 250 tấn mì. Với giá bán 1.000 đồng/kg là ông cũng đã thu lãi trên 200 triệu đồng.
Mặc dù có những cách đầu tư khác nhau, nhưng cả ông Tài và ông Tại đều áp dụng phương pháp trồng thưa. Nghĩa là mỗi cây phải cách nhau 2m. Vì chỉ có trồng thưa thì cây mới phát triển đều, tránh tình trạng cây quá to, còn cây lại còi cọc. Mặt khác, trồng thưa sẽ giúp cho việc tỉa cành, bón phân cũng dễ dàng hơn.
Ông Tài cho biết: “Với 1ha đất, tôi chỉ trồng khoảng 3.200 cây là đủ. Trong khi đó, cũng với diện tích trên, những người bên cạnh lại trồng tới 5.500 – 5.700 cây. Tuy nhiên, đến khi thu hoạch, keo tôi bán được 140 triệu đồng, còn keo của người khác thì chỉ bán được có gần 80 triệu đồng”. (Báo Quảng Ngãi 16/7) đầu trang(
(BGĐT) - Theo Chi cục Lâm nghiệp (Sở Nông nghiệp và PTNT), đến nay toàn tỉnh Bắc Giang đã trồng được 5 nghìn ha rừng tập trung (đạt 100% kế hoạch năm); 1,5 triệu cây phân tán (đạt 150% kế hoạch).
Do có mưa, hạt kiểm lâm các huyện tích cực triển khai những dự án hỗ trợ giống, phân bón giúp người dân trồng rừng thuận lợi. Ngoài ra, nhiều hộ dân huyện Sơn Động và Lục Ngạn đang trồng lại diện tích rừng đã khai thác.
Năm nay, toàn tỉnh phấn đấu trồng hơn 6 nghìn ha, bằng 120% kế hoạch năm. (Báo Bắc Giang 17/7) đầu trang(
Trong thời gian gần đây, tại Gia Lai nhiều doanh nghiệp đã tự ý chuyển đổi một diện tích được giao trồng cao su sang mở trang trại bò, trồng mía…. Trong khi đó, nhiều hộ dân lại rơi vào khó khăn vì không có đất sản xuất.
Đến các vùng trồng cây cao su ở Gia Lai, nhắc đến cây chủ lực này, hầu hết chúng tôi đều nhận lại tiếng thở dài ngao ngán của người dân. Công nhân đi cũng khó, ở cũng không xong, khi đồng lương quá thấp.
Khó khăn nhất vẫn là các hộ người dân tộc thiểu số không có đất canh tác. Do không có đất, họ chỉ xin vào làm công nhân thời vụ, nhưng với đồng lương ít ỏi thì rất khó lòng mà đảm bảo được cuộc sống.
Đi quanh các xã Glar, Ia Băng, Trang, Ia Pếch… thuộc huyện Đăk Đoa, nhiều gia đình mà cả nhà cùng làm công nhân cao su đều đã xin nghỉ do đồng lương quá thấp, không thể bám trụ. Cũng có những gia đình chỉ để lại một người làm, còn những thành viên khác xin nghỉ để chuyển sang nghề khác mưu sinh.
Báo cáo của HĐND tỉnh Gia Lai nêu rõ, theo quy hoạch phát triển cao su trên địa bàn tỉnh, tính đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, trên địa bàn 13 huyện, thị, thành phố trong tỉnh được chuyển từ đất lâm nghiệp, đất rừng nghèo sang trồng cao su với diện tích 66.457ha, trong đó đất rừng tự nhiên nghèo 51.547ha.
Theo đó, UBND tỉnh Gia Lai đã cấp phép cho 44 dự án trồng cao su trên đất có rừng tự nhiên nghèo với tổng diện tích hơn 32.555,6ha, hiện đã tiến hành trồng cao su được hơn 25,547ha. Vẫn còn 7.008,2ha đất khai hoang chưa trồng, diện tích chưa khai hoang 4.913,5ha. Cử tri của nhiều huyện đang mong muốn diện tích này được các doanh nghiệp đến nay vẫn chưa trồng cao su giao lại đất cho dân canh tác.
Theo kết quả giám sát của HĐND tỉnh Gia Lai, việc triển khai dự án trong 7 năm qua chưa đạt được hiệu quả về kinh tế xã hội, chưa đạt được mục tiêu đề ra như: Giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người đồng bào dân tộc thiểu số; xây dựng cơ sở hạ tầng; một số diện tích để xảy ra tình trạng tranh chấp đất giữa doanh nghiệp và người dân.
Nhiều doanh nghiệp tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phá vỡ quy hoạch, tự ý trồng mía, trồng cỏ, xây trại nuôi bò trên diện tích đất được giao trồng cao su, tình trạng này có xu hướng gia tăng.
Qua 7 năm triển khai dự án, theo quy định, đến nay các doanh nghiệp chưa phải nộp một khoản tiền nào vào ngân sách nhà nước về đất. Trong khi đó, khoản tiền từ việc bán gỗ, củi tận thu trên diện tích khai hoang vẫn còn nợ ngân sách hơn 8 tỷ đồng.
Theo đánh giá của HĐND tỉnh Gia Lai, nguyên nhân chính vẫn là triển khai dự án còn chủ quan, nóng vội, chạy theo thành tích để đạt số lượng, diện tích; nhiều doanh nghiệp chưa chú trọng thực hiện các cam kết và mục đích của dự án. (Đời Sống Và Pháp Luật 18/7; Dân Trí 19/7) đầu trang(
Báo cáo công tác 6 tháng đầu năm 2015, công tác QLBVR của Vườn quốc gia Bạch Mã đã đi vào nề nếp và đạt hiệu quả tốt. Từ đầu năm đến nay, Vườn đã tổ chức 70 đợt tuần tra kiểm soát, truy quét tại rừng, bình quân mỗi đợt từ 4-5 ngày.
Hạt Kiểm lâm Vườn đã thụ lý 34 vụ vi phạm (đã xử lý 28 vụ, 06 vụ đang chuẩn bị hồ sơ), chuyển hồ sơ truy cứu trách nhiệm hình sự 01 vụ khai thác rừng trái phép tại tiểu khu 222, xã Xuân Lộc, huyện Phú Lộc, TT Huế.
Công tác PCCCR đã được Vườn chú trọng, làm tốt các công tác dự phòng và công tác chuẩn bị nên từ đầu năm đến nay chưa xảy ra một vụ cháy nào trên địa bàn của Vườn quản lý.
Vườn đã chủ động phối hợp với chính quyền địa phương các vùng giáp ranh như Thị trấn Phú Lộc, xã Lộc Trì, Xuân Lộc, Lộc Hòa để kịp thời ngăn chặn tình trạng lấn chiếm đất rừng tự nhiên để trồng rừng. Vườn đã xây dựng các quy chế phối hợp với các Chi cục Kiểm lâm Thừa Thiên Huế và Quảng Nam, quy chế phối hợp trách nhiệm trong công tác quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học cho 15 xã, các ban quản lý rừng phòng hộ và các ban ngành liên quan như công an, hạt kiểm lâm trên địa bàn của 03 huyện.
Việc xây dựng bản đồ tuần tra theo tuyến và mở sổ nhật ký tiểu khu cho các trạm trên địa bàn huyện Nam Đông đã góp phần theo dõi diễn biến rừng và quản lý rừng hiệu quả hơn
Công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng 06 tháng đầu năm 2015, các tổ bảo vệ rừng đã tổ chức khoảng 4 đợt/tháng để tuần tra tại rừng, mỗi đợt tuần tra tử 20-25 người. Trong quá trình tuần tra, lực lượng khoán bảo vệ rừng đã xử lý một số tang vật vi phạm tại rừng như huỷ lán trại, lâm sản vi phạm cũng như nắm bắt tình hình, cung cấp tin báo cho trạm kiểm lâm Núi Mang để có hướng xử lý kịp thời.
Xác định công tác tuyên truyền vận động nhân dân tham gia bảo vệ rừng là nhiệm vụ trọng tâm của của Vườn. Từ đầu năm 2015 đến nay, ban giáo dục môi trường đã đăng tin bài trên trang website Vườn nhằm giới thiệu hình ảnh và các hoạt động của Vườn cho bạn bè du khách trong nước và quốc tế.
Thành lập và tổ chức hoạt động “Câu lạc bộ kiểm lâm tí hon” tại trường các trường học. Thông qua câu lạc bộ, các em học sinh sẽ hiểu hơn về những mối nguy hại đang đe dọa đến sự phát triển của rừng, hệ động thực vật, môi trường. Từ đó, tự bản thân các em sẽ nói lên mong muốn của mình, kêu gọi và vận động gia đình và những người xung quanh giảm thiểu những tác động xấu, nâng cao ý thức bảo tồn thiên nhiên.
Về công tác lâm sinh, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế. Vườn đã hoàn thành hồ sơ thiết kế các công trình lâm sinh năm 2015 (trồng rừng phục hồi sinh thái: 42,5 ha, chăm sóc rừng trồng phục hồi sinh thái và băng xanh cản lửa: 181,7 ha; vườn ươm cây bản địa).
Xây dựng báo cáo đánh giá kết quả các công trình lâm sinh từ năm 2011 – 2015 và hoàn chỉnh Dự án bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2016 – 2020 thuộc dự án bảo vệ phát triển rừng VQG Bạch Mã giai đoạn 2011 – 2020. Xây dựng Bảo tàng của Vườn, tham gia các hoạt động đặt bẫy ảnh.
Bên cạnh đó Vườn còn phối hợp, hợp tác nghiên cứu với Viện Sinh thái nghiên cứu tính đa dạng của các loài côn trùng ở Việt Nam, Viện Bảo tàng Việt Nam nghiên cứu thực vật Vườn Quốc gia Bạch Mã.
Về du lịch sinh thái, sáu tháng đầu năm 2015 Vườn tiếp tục phối hợp với công ty DVDL Thanh Tâm Lăng Cô cải thiện điều kiện hạ tầng và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch. Kết quả, sáu tháng đầu năm 2015 Vườn đã đón tiếp được 5.110 lượt khách đến tham quan tại Bạch Mã.
Vườn tiếp tục phối hợp với trường Cao đẳng nghề du lịch thực hiện các hợp phần của dự án ProdeTour-Huế, đưa vào hoạt động Trung tâm du khách, Hải Vọng Đài và dịch vụ vui chơi giải trí trên không.
Về công tác phát triển cộng đồng , tiếp tục kiểm tra, đánh giá hoạt động đã thực hiện tại 25 thôn thuộc xã vùng đệm VQGBM theo QĐ 24 /2012/QĐ-TTg ngày 6/1/2012 của Thủ tướng chính phủ với tổng kinh phí hỗ trợ cho 1 tỷ đồng/25 thôn.
Vườn cũng tìm kiếm thêm các nguồn tài trợ để nhân rộng các mô hình điển hình như mô hình Biogas, mô hình chăn nuôi cá nước ngọt, mô hình chăn nuôi lợn nái, mô hình chăn nuôi dê, mô hình trồng tre lấy măng.
Vườn luôn thường xuyên chú trọng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ theo nguồn quy hoạch, ưu tiên cho lực lượng cán bộ, Đảng viên trẻ có trình độ, có năng lực, có đủ bản lĩnh chính trị vững vàng, có đủ phẩm chất đạo đức cách mạng. Trong 6 tháng đầu năm, ở cấp cơ sở đã điều động 35 lượt cán bộ, viên chức; bổ nhiệm 11 trường hợp cán bộ viên chức.
Sáu tháng cuối năm 2015, để hoàn thành tốt mục tiêu đề ra, Vườn tăng cường công tác phối hợp với các đơn vị ban ngành trên địa bàn triệt phá các điểm nóng về khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản, động vật hoang dã trái phép. Ngăn chặn kịp thời tình trạng lấn chiếm đất rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn Vườn.
Xây dựng phương án và tổ chức thực hiện chế độ”Luân phiên thường xuyên có lực lượng kiểm lâm bám sát tiểu khu rừng, tuần tra bảo vệ rừng tận gốc, bảo vệ cây đứng”. Tiến hành xây dựng Nhật ký tiểu khu rừng cho các địa bàn trên toàn Vườn, Tăng cường công tác pháp chế thanh tra, chủ động triển khai công tác PCCCR để không xảy ra vụ cháy rừng nghiêm trọng nào trên địa bàn.
Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục người dân và các em học sinh tham gia bảo vệ rừng, làm tốt các chương trình phát triển sinh kế cho người dân. Triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở phục vụ cho công tác bảo tồn, bảo tàng. Triển khai công tác lâm sinh đúng tiến độ.
Thành lập trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật rừng. Tiếp tục hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước để tranh thủ các nguồn lực và trí lực đẻ xây dựng, bảo tồn đa dạng sinh học của Vườn theo hướng phát triển bền vững.
Về công tác du lịch sinh thái, Vườn sẽ tiếp tục tăng cường công tác quảng bá, nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch tại Bạch Mã, tiếp tục tìm kiếm đối tác, kêu gọi đầu tư để thực hiện Quy hoạch chi tiết du lịch sinh thái ở Bạch Mã, phát triển dịch vụ du lịch sinh thái theo hướng cho thuê môi trường.
Tiếp tục kết hợp với các công ty lữ hành xây dựng các tour tuyến để mở rộng hoạt động dịch vụ, tăng lượng khách đến Bạch Mã và đáp ứng nhu cầu tham quan của khách. (Vườn Quốc Gia Bạch Mã 17/7) đầu trang(
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã và đang có những chuyển biến tích cực, nhận thức các chủ rừng, hộ nhận khoántrong công tác quản lý rừng, bảo vệ và phát triển rừngtừng bước được nâng cao. Đặc biệt, chính sách này đã góp phần tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân sống gần rừng, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Từ khi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) ra đời, các chủ rừng là tổ chức nhà nước được Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tăng cường giao khoán, mở rộng diện tích khoán bảo vệ rừng.
Năm 2012, diện tích giao khoán của các Ban Quản lý (BQL) rừng chỉ gần 37,4 ngàn ha thì đến năm 2015 con số này đã là hơn 70,5 ngàn ha, tăng 33,1 ngàn ha; số hộ nhận khoáncũng tăng lên 2.023 hộ. Tương tự, các công ty lâm nghiệp tăng 6,3 ngàn ha diện tích khoán so với diện tích đã khoán trước đây và tăng 788 hộ nhận khoán.
Như vậy, sau 4 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR thì diện tích giao khoán, mở rộng phát triển rừng được nâng lên 69,8 ngàn ha, số hộ nhận khoán và nhóm hộ, cộng đồng dân cư tăng 2.881 hộ so với trước đây.
Theo ông Võ Văn Hạnh-Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, trên địa bàn tỉnh hiện có 38 chủ rừng là tổ chức nhà nước (19 BQL rừng, Vườn Quốc gia, Khu Bảo tồn Thiên nhiên; 11 Công ty Lâm nghiệp) với diện tích rừng cung ứng dịch vụ là 332.001 ha; 87 UBND xã có diện tích rừng cung ứng là 160.410 ha và 7 chủ rừng là cộng đồng dân cư thôn với diện tích 3.202 ha.
Hiện có 26 cơ sở sử dụng DVMTR gồm 40 nhà máy thủy điện với công suất 2.124 MW, nguồn thu bình quân 65 tỷ đồng/năm.Tổng thu tiền DVMTR từ năm 2011-2014 là 209,2 tỷ đồng. Đến thời điểm hiện tại, đã chi đủ 100% cho chủ rừng tiền DVMTR đã thu các năm 2011-2014 với số tiền 170,5 tỷ đồng với đơn giá chi trả cho hộ nhận khoán thấp nhất là 200.000 đồng/ha, cao nhất 342.000 đồng/ha.
Đây là nguồn tài chính quan trọng kết hợp với nguồn vốn ngân sách góp phần đảm bảo nhu cầu công tác quản lý, bảo vệ rừng. Đặc biệt, đã tháo gỡ khó khăn về tài chính đối với các công ty lâm nghiệp không có chỉ tiêu khai thác gỗ; UBND xã có tiền triển khai công tác bảo vệ rừng; các hộ nhận khoán bảo vệ rừng có thu nhập cải thiện đời sống.
Các chủ rừng là hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn và hộ nhận khoán bảo vệ rừng cũng được hưởng toàn bộ tiền DVMTR được chi trả. Trên địa bàn tỉnh có 7 cộng đồng dân cư thôn là chủ rừng, Mang Yang (3 làng), thị xã Ayun Pa và huyện Phú Thiện (4 làng) với tổng kinh phí chi trả 4 năm qua là 676 triệu đồng.
Chủ rừng là tổ chức nhà nước được chi trả cao nhất trên 20 tỷ đồng (Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh). Từ nguồn tiền này, các chủ rừng đã chủ động chi trả cho các hộ nhận khoán bảo vệ rừng và các nhiệm vụ chi thiết yếu cho công tác quản lý bảo vệ rừng.
Cũng theo ông Hạnh, hiện nay diện tích khoán bảo vệ rừng của các chủ rừng là tổ chức nhà nước chiếm khoảng 23,8%. Trong đó, các BQL đã khoán 33,1%, các công ty lâm nghiệp khoán 6,2%, UBND cấp xã hợp đồng bảo vệ rừng với nhóm hộ, cộng đồng dân cư chiếm khoản 18,9% so với diện tích đang quản lý.
Tuy vậy, tốc độ và quy mô giao khoán, hợp đồng bảo vệ rừng như hiện nay chưa đạt yêu cầu mà chính sách đề ra cũng như chỉ đạo của tỉnh trong việc tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, tạo thu nhập cho người dân sống gần rừng, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Bên cạnh đó, mức tính chi phí trên 1 ha/năm của các BQL rừng gấp 1,7 lần so với mức chi phí của các công ty lâm nghiệp trong khi chức năng, nhiệm vụ giống nhau chỉ khác nhau về loại hình tổ chức.
Một bất cập khác là diện tích rừng giao cho cấp xã tương đối lớn trong khi lực lượng cấp xã không phải chủ rừng và chưa đáp ứng tốt về yêu cầu, nhiệm vụ trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Cụ thể, 2 xã có diện tích rừng trên 10.000 ha; 8 xã có có diện tích từ 5.000 ha đến dưới 10.000 ha và 10 xã có diện tích dưới 5.000 ha.
Do vậy, UBND tỉnh cần có giải pháp giảm diện tích rừng giao cho xã quản lý (dưới 3.000ha là phù hợp), thu hồi diện tích còn lại giao cho chủ rừng là các tổ chức nhà nước hoặc thành lập mới Ban Quản lý Rừng mới để quản lý.
Ngoài ra, vẫn còn tồn tại nữa hiện nay là tỷ lệ phân chia tiền DVMTR thuộc lưu vực liên tỉnh còn chưa hợp lý trong thực tế đối với các thủy điện bậc thang và chưa tương đồng với chính sách thuế tài nguyên nước. Đơn cửtrên một lưu vực sông chính tiền DVMTR được phân chia: cao nhất 22%, thấp nhất 15,6%, bình quân 18,5% trong khi tỷ lệ phân chia thuế tài nguyên nước: cao nhất 50%, thấp nhất 30%, bình quân 39%.
Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cho biết thêm, Gia Lai hiện có 90 xã quản lý khoảng 190.000 ha diện tích rừng trong lưu vực chi trả, trong khi chính sách xác định UBND các xã không phải là chủ rừng và thực hiện hỗ trợ trong chi trả là chưa thật hợp lý.Mặt khác công tác quản lý, sử dụng tiền chi trả theo đặc thù loại hình của xã là một cấp ngân sách cũng chưa được hướng dẫn cụ thể. Các công ty lâm nghiệp không có chỉ tiêu khai thác, tiền DVMTR được chi trả chủ yếu bố trí cho hoạt động của đơn vị, nên công tác khoán quản lý và bảo vệ rừng chậm được triển khai… (Báo Gia Lai 17/7) đầu trang(
Hội thảo Thành lập VQG Thất Sơn và đề án thí điểm giao VQG Thất Sơn cho doanh nghiệp quản lý do UBND tỉnh An Giang tổ chức vào ngày 17.7 tại TP.Long Xuyên. Không chỉ bày tỏ thái độ không đồng tình, mà nhiều cán bộ lãnh đạo và người dân tỉnh An Giang còn bày tỏ lo ngại việc thành lập Vườn quốc gia (VQG) Thất Sơn theo cách làm của đề án này sẽ dẫn đến nhiều hậu quả khó lường…
Theo đề án của UBND tỉnh An Giang (năm 2013), thành lập VQG Thất Sơn 7.352ha trên phạm vi 8 núi không liền kề thuộc hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên gồm: Cô Tô, Phú Cường, Cấm, Dài, Dài Năm Giếng, Két, Tượng, Nước và thí điểm giao VQG cho Cty TNHH Đầu tư công nghiệp Hòa Hiệp (Hòa Hiệp) quản lý. Nhưng tại hội thảo, đại diện nhiều ban ngành, nhất là quân sự đã cực lực phản đối.
Nguyên chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Minh Nhị đã làm nóng hội trường với góp ý mạnh mẽ: “Là người có nhiều năm chuyên trách quản lý nông nghiệp và trồng và bảo vệ rừng ở An Giang và là người sinh ra và lớn lên ở Bảy Núi trải qua các biến cố lịch sử về “Dân tộc, Tôn giáo, Biên giới”, tôi khẳng định: Không nên có chủ trương thành lập VQG Thất Sơn và càng không tán thành giao cho doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp Nhà nước quản lý”.
Cụ thể hơn, Thiếu tướng Lê Hoàng Phúc - Chỉ huy trưởng BCH Quân sự tỉnh An Giang nhấn mạnh: Vùng Thất Sơn có vị thế quan trọng về quân sự và phòng thủ quốc gia, vì vậy quan điểm của BCH quân sự tỉnh An Giang và Quân khu 9 cương quyết không đồng tình với việc thành lập VQG”.
Kết quả khảo sát 550 hộ gia đình tại 14 xã nằm trong vùng quy hoạch VQG của Chi cục Kiểm lâm An Giang cho thấy có đến 98% người dân không đồng tình với việc thành lập VQG Thất Sơn.
Phát biểu kết luận hội thảo, Phó chủ tịch UBND tỉnh An Giang Lê Văn Nưng cho biết: “Đây là dự án có nhiều ý kiến không đồng tình nên lãnh đạo tỉnh sẽ cân nhắc thận trọng, nhưng quan điểm cá nhân tôi là thà chấp nhận kinh tế phát triển chậm đi một tí nhưng đảm bảo được yếu tố dân sinh, ổn định xã hội… chứ không đánh đổi yếu tố kinh tế bằng mọi giá”.
Tại hội thảo, nhiều đại biểu khẳng định: Đây là chủ trương xuất phát từ một vài cá nhân, chưa bàn bạc và thống nhất trong nội bộ, thậm chí khi “ngoài ngõ đã tường” mà nhiều thành viên trong BTV Tỉnh ủy chưa rõ… Nhưng quan trọng hơn là do đề án này còn quá nhiều “mập mờ”.
Nguyên Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Minh Nhị đặt ra hàng loạt câu hỏi: “Không thấy nói đầu vào và đầu ra của dự án là gì? Hạch toán tài chính và lợi ích của nhà đầu tư là gì mà giao cho DN? và DN sẽ trả tiền dự án này cho ai? có bảo đảm không bán dự án lòng vòng và rốt cuộc có đi theo số phận như một số dự án ở miền ngoài như vụ “Đèo Hải Vân”? Nhiều đại biểu cũng chưa an lòng với cách điều hành: Giao cho Cty Hòa Hiệp lập luận chứng khoa học làm cơ sở thành lập VQG Thất Sơn.
Phải chăng điều này đã dẫn đến thiếu sót về khoa học cơ bản, như: Định danh tên khoa học của loài căm xe là Afzelia xylocarpa, thực chất đây là tên khoa học của loài gõ đỏ…? Điều khiến nhiều đại biểu băn khoăn là việc “vừa đá bóng vừa thổi còi” có biến VQG thành khu dịch vụ du lịch lớn của DN?
Theo quy hoạch, VQG Thất Sơn có 3 phân khu chức năng, trong đó phân khu Hành chính - Dịch vụ lên đến 2.609ha, chiếm 35,5% diện tích VQG (lớn gần 1,3 lần so với diện tích phân khu bảo vệ nghiêm ngặt) và bao trùm toàn bộ núi Cấm, “nóc nhà” của ĐBSCL và địa danh “hot” của du lịch cả nước. (Lao Động 18/7) đầu trang(
UBND tỉnh Phú Yên vừa phê duyệt dự án trồng rừng phòng hộ ven biển với tổng kinh phí đầu tư 51,33 tỷ đồng. Dự án thực hiện từ nay đến năm 2020 tại các huyện Đông Hòa, Tuy An và thị xã Sông Cầu.
Theo đó, từ nay đến năm 2016 trồng mới 330 ha rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát; phục hồi rừng phòng hộ bằng phương pháp trồng bổ sung hơn 235 ha; trồng 20 ha rừng ngập mặn tại khu vực vịnh Xuân Đài và đầm Cù Mông (thị xã Sông Cầu), hỗ trợ chủ rừng bảo vệ hơn 80 ha rừng phòng hộ ven biển tại xã An Ninh Đông (huyện Tuy An). (Nhân Dân 17/7) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Đến ngày 18-7, đám cháy rừng ở phía Nam bang California - Mỹ chỉ mới bị khống chế khoảng 5% dù có đến 1.000 lính cứu hỏa trực chiến cùng nhiều thiết bị hiện đại.
Đám cháy bùng lên vào chiều 17/7 ở vùng đồi khô hạn thuộc hạt Bernardino, sau đó lan rộng hơn 1.400 ha và bao vây đường liên bang số 15 nối 2 thành phố Los Angeles (bang California) và Las Vegas (bang Nevada). Hàng trăm người trên đường này - đoạn qua đèo Cajon - cuống cuồng bỏ xe chạy tháo thân. Đến tối cùng ngày, ít nhất 20 chiếc xe các loại và 4 ngôi nhà bị phá hủy. Rất may mắn, chỉ có 2 người bị thương do hít phải khói.
Cũng tại Nam California hôm 17/7, một đám cháy rừng xảy ra ở khu vực núi San Gabriel, khiến hàng trăm người cắm trại bỏ chạy. Vào thời điểm này, bang California của Mỹ đang hạn hán nghiêm trọng và nguy cơ cháy rừng ở mức rất cao.
Trong khi đó, Hy Lạp cũng đang vật lộn với các đám cháy rừng quanh thủ đô Athens và một số khu vực miền Nam, làm nhiều người dân phải rời bỏ nhà cửa. Cảnh sát cho biết tổng cộng 52 vụ cháy được ghi nhận từ đảo Evia, Đông Bắc Athens cho tới phía Nam bán đảo Peloponnese.
Một nạn nhân 58 tuổi đã thiệt mạng do hít nhiều khói, ngoài ra không có thêm trường hợp thương vong nào được báo cáo. Thủ tướng Hy Lạp Alexis Tsipras hôm 17-7 kêu gọi người dân bình tĩnh, đồng thời kêu gọi Liên minh châu Âu (EU) trợ giúp.
Người phát ngôn cơ quan cứu hỏa Hy Lạp cho biết nước này đề nghị châu Âu đưa 4 máy bay chữa cháy đến. Trước mắt, Pháp đã phái 2 máy bay chữa cháy và 1 máy bay giám sát đến Hy Lạp. (Tin Tức 19/7; VTC News 19/7; Nười Lao Động 18/7) đầu trang(
Ngày 17/7, Bộ Môi trường Brazil cho biết sẽ sử dụng thiết bị máy bay không người lái (drone) để giám sát các hoạt động chặt phá rừng trái phép tại vùng rừng nhiệt đới Amazon.Chương trình mang tên Ecodrones, do Bộ Môi trường và Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) đồng thực hiện, sẽ cho phép truyền tải trực tiếp những hình ảnh thu được từ hiện trường, nhằm ngăn chặn những hành động khai thác gỗ trái phép cũng như những vụ cháy rừng.
Ecodrones có 3 thiết bị, một đã được cấp phép bay trong khi 2 chiếc còn lại đang chờ giấy phép của Cơ quan hàng không dân sự quốc gia Brazil.
Mỗi thiết bị có thể bay liên tục trong 4 giờ trong vòng bán kính 80km.
Dự án cũng nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật của trường Đại học liên bang Goiás, miền trung Brazil và tổ chức quốc tế Conservation Drones, chuyên cung cấp thiết bị phục vụ bảo vệ rừng.
Rừng rậm nhiệt đới Amazon thuộc lưu vực sông Amazon ở Nam Mỹ. Với diện tích gần 7 triệu km2, rừng Amazon trải dải trên lãnh thổ của 8 nước gồm Brazil, Peru, Bolivia, Ecuador, Colombia, Venezuela, Guyana và Suriname, trong đó, 60% diện tích rừng nằm trên lãnh thổ của Brazil.
Amazon được coi là lá phổi của Trái Đất và là ngôi nhà sinh thái của hàng nghìn loài động thực vật. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nạn phá rừng, khai thác gỗ bất hợp pháp, khai thác mỏ đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ sinh sinh thái khu rừng lớn nhất Nam Mỹ này.
Đặc biệt, tỷ lệ phá rừng tại khu rừng nhiệt đới lớn nhất thế giới trong năm 2014 lên tới gần 6.000 km2. (Vietnam + 18/7) đầu trang(
Người dân Hy Lạp lâm vào tình cảnh "đã nghèo còn mắc cái eo" khi nhiều cư dân hôm 17.7 phải vội vàng sơ tán khỏi nhà vì cháy rừng dữ dội lan tới tận ngoại ô thủ đô Athens, thiêu rụi nhiều nhà cửa.
Gió mạnh, trời nắng nóng, khô hanh là nguyên nhân gây ra cháy rừng trên diện rộng ở ngoại ô Athens và vùng Peloponnese, phía Nam Hy Lạp ngày 17.7, khiến nhiều người dân phải bỏ nhà cửa đi sơ tán trong bối cảnh đang điêu đứng vì khủng hoảng kinh tế. Trong ảnh, hàng loạt chiếc ô tô tại một bãi đỗ xe bị thiêu rụi vì cháy rừng lan tới khu dân cư ở thị trấn Neapoli, vùng Peloponnese, phía Nam Hy Lạp ngày 17.7.
Người dân địa phương ra sức dập cháy rừng, ngăn ngọn lửa lan tới các khu dân cư ở Neapoli, phía nam Hy Lạp. Hôm qua, cháy rừng ở ngoại ô Athens đã lan tới các khu dân cư, khiến nhiều người phải bỏ nhà cửa, sơ tán khẩn cấp
Thủ tướng Alexis Tsipras đã phải "cầu cứu" các thành viên Liên minh châu Âu (EU) để đối phó với "giặc lửa". Đồng thời, ông cũng cho biết, chính quyền Athens đã triển khai Lục quân cùng các đơn vị Không quân tích cực hỗ trợ lực lượng phòng cháy chữa cháy dập tắt cháy rừng.
Tất cả chúng ta cần phải giữ bình tĩnh. Toàn bộ lực lượng chữa cháy cùng các đơn vị Lục quân và Không quân đã được huy động để đối phó với cháy rừng", ông Tsipras trấn an người dân. Cả thủ đô Athens đang bị "tấm chăn khói khổng lồ" do cháy rừng dữ dội tạo ra, bao phủ khiến bầu không khí rất ngột ngạt.
Lực lượng chữa cháy và binh sĩ Hy Lạp đã phải thức suốt đêm để dập tắt các đám cháy rừng dữ dội tại các vùng Kareas, Malakasa, Neapoli, Lakonia và Spathovouni cũng như ngoại ô Athens.
Hy Lạp đã đề nghị EU hỗ trợ 4 trực thăng để hỗ trợ công tác cứu hộ. Bộ Nội vụ Pháp cho biết, họ đã triển khai 2 máy bay phun nước Canadair và một máy bay trinh sát tới hỗ trợ Hy Lạp ngay sau lời "cầu cứu" của Thủ tướng Tsipras.
Trong khi đó, Ủy viên EU về vấn đề Viện trợ Nhân đạo và Quản lý Khủng hoảng, ông Christos Stylianides cho hay, EU sẵn sàng giúp đỡ Hy Lạp đối với với thảm họa tự nhiên này. (24 Giờ 18/7) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||