Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 15 tháng 01 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢNG LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Thanh tra Sở TN&MT Đà Nẵng vừa đề xuất: Đối với khu biệt thự của hộ ông Phan Như Thạch (nguyên Giám đốc Công an Quảng Nam), đề nghị buộc tháo dỡ phần xây dựng không phù hợp quy hoạch; phần phù hợp, xem xét lập thủ tục giao đất có thu tiền sử dụng...
Với biệt phủ của đại gia khai khoáng Ngô Văn Quang, buộc tháo dỡ các hạng mục ảnh hưởng dòng chảy của suối, các hạng mục không phù hợp quy hoạch; Phần phù hợp quy hoạch, cho xem xét lập hồ sơ dự án du lịch để Nhà nước lập thủ tục cho thuê đất…
Tuy kiến nghị xử lý “phạt rồi cho tồn tại” như trên, nhưng kết luận của Thanh tra Sở TN&MT thành phố Đà Nẵng (sau khi đi kiểm tra thực tế tại hiện trường ở rừng Hải Vân mới đây) lại khẳng định những sai phạm về xây dựng ở khu vực rừng Hải Vân là rất nghiêm trọng và kéo dài…
Sáng 14/1, trở lại rừng Hải Vân, chứng kiến hai biệt phủ nguy nga của ông Phan Như Thạch và ông Ngô Văn Quang cửa đóng then cài im lìm. Được biết công việc xây dựng đang được tạm dừng ở cả hai nơi.
Theo Thanh tra Sở TN&MT: Với khu biệt thự của gia đình ông Thạch, qua kiểm tra và đo đạc, riêng 4 ngôi nhà ở (trong quần thể biệt thự) có diện tích khoảng 447m2, bao gồm: 1 ngôi nhà rường gỗ có diện tích 178m2, 1 nhà biệt thự 198m2, 2 nhà phụ có tường xây mái đúc với diện tích khoảng 71m2.
Ngoài ra, còn có sân vườn, chòi tượng, tường rào bằng gạch cao 2,5m xây bọc ba hướng của lô đất. Diện tích sử dụng lô đất khoảng 3.700m2. Đáng chú ý, diện tích này chỉ tính trong phạm vi hàng rào xây và kè đá, riêng phía bắc tiếp giáp đồi thông không thể xác định vì không có ranh giới.
Biệt phủ của ông Ngô Văn Quang ở khu vực đồi Chim Chim (thuộc tiểu khu 11, rừng đặc dụng Nam Hải Vân), quy mô còn khủng hơn nhiều. Khu đất có diện tích khoảng 17.000m2 (chưa xác định cụ thể vì phần tiếp giáp rừng thông không có ranh giới). Phía trong biệt phủ được bao bọc bởi tường gạch cốt sắt, cao gần 3m có tới 18 căn nhà đã xây trên diện tích khoảng 1.400m2, gồm: 5 nhà rường gỗ, diện tích 436m2, 1 mái nhà tôn, tường tôn có diện tích 137m2, 5 nhà tường xây mái đúc có diện tích khoảng 396m2; 7 nhà tường xây mái ngói có diện tích 442m2.
Ngoài ra, còn có ao cá 600m2, 3 chòi tượng, nhiều bờ kè bê tông, đá cùng nhiều hạng mục khác đang được hoàn thiện. Bờ rào 3 mặt quây quanh khu biệt phủ dài gần nửa km, có tới 6 cổng ngõ. Trong đó, cổng chính hướng về ngôi chùa đối diện được chạm khắc khá công phu. Ngoài ra, “đại gia” Quang còn đổ tiền xây dựng một con đường bê tông từ QL1A tới khu biệt phủ, dài gần 1km, rộng 3 - 5m.
Theo hồ sơ, dù chưa được cơ quan nhà nước nào cấp phép nhưng hộ ông Phan Như Thạch vẫn tự ý xây khu biệt thự khang trang. Đội Kiểm tra quy tắc đô thị quận Liên Chiểu phối hợp với Hạt Kiểm lâm Liên Chiểu (đơn vị chịu trách nhiệm quản lý) nhiều lần lập biên bản đình chỉ, đề nghị chủ hộ giữ nguyên trạng, cung cấp hồ sơ nhưng phía gia đình ông Thạch vẫn không chấp hành. Đến ngày 25/8/2013, chủ hộ cam kết xin được giữ nguyên trạng, đồng thời liên hệ cơ quan có thẩm quyền để xin lập thủ tục. Trong trường hợp không xin được sẽ tự ý tháo dỡ theo quy định của pháp luật.
Còn biệt phủ của đại gia khai khoáng Ngô Văn Quang xây dựng trái phép từ năm 2010 đến nay, nhiều lần ngành chức năng tới kiểm tra nhưng đều bất lực. Theo Hạt Kiểm lâm, trong năm 2010, khu đất rộng 17.000m2 này đã xây dựng 1 nhà tạm mái lá, 1 nhà lục giác, công trình ao cá và hệ thống tường rào, đường sá…
Tháng 5/2011, Hạt Kiểm lâm và UBND phường Hòa Hiệp Bắc phối hợp kiểm tra phát hiện khu đất đã mọc thêm 5 ngôi nhà. Đoàn yêu cầu đình chỉ nhưng chủ hộ không đến, không chấp hành. Ngày 30/5/2011, đoàn kiểm tra tiếp tục phát hiện khu biệt phủ xây dựng rầm rộ, gồm 2 trụ sắt lớn, nhà bát giác rường gỗ; đến ngày 16/6/2011, Hạt Kiểm lâm tiếp tục lập biên bản đình chỉ thêm 1 nền bê tông, 10 trụ thép đang xây; tiếp đó, ngày 27/6/2011, khi nhiều công trình trong khu đất này được ngang nhiên xây dựng rầm rộ, đoàn chức năng tiếp tục lập biên bản đình chỉ nhưng chủ hộ không chấp hành. Theo ông Ngô Văn Cương, em trai ông Quang, đến thời điểm này biệt phủ đã được đầu tư khoảng 100 tỷ đồng.
Ngày làm việc giữa đoàn kiểm tra của Sở TN&MT với hộ gia đình ông Thạch mới đây, chủ hộ đồng ý để cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai và xây dựng. Đồng thời kiến nghị nếu phù hợp quy hoạch cho phép được hoàn tất thủ tục. Tương tự, đại diện ông Ngô Văn Quang là ông Cương cũng xin được chấp nhận xử phạt hành chính, đồng thời hoàn thiện thủ tục nếu phù hợp quy hoạch.
Trao đổi với PV, ông Nguyễn Điểu – Giám đốc Sở TN&MT Đà Nẵng cho hay, hiện Sở đã trình công văn tham mưu xử lý vụ việc qua UBND thành phố. Từ công văn tham mưu của các sở, ngành liên quan, UBND thành phố ra quyết định xử lý vụ việc, trình Thành ủy, HĐND trước khi ban hành. Khi được hỏi về công tác tham mưu, ông Điểu nói: “Cái này nhạy cảm lắm, chưa thể nói được. Khi nào lãnh đạo thành phố có kết luận thì biết”. (Tiền Phong 15/1) đầu trang(
Ngày 14 -1, ông Ngũ Văn Hợi, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Hàm Tân (Chi cục Kiểm lâm Bình Thuận) cho biết đang cho hai kiểm lâm viên Đặng Quốc An và Lê Quốc Vân thuộc tổ kiểm lâm cơ động Hạt Kiểm lâm Hàm Tân làm tường trình về việc tự ý dẫn xe chở gỗ vi phạm đi “giấu”.
Khoảng 7 giờ 30 ngày 12-1, sau khi nhận được tin báo, Tổ kiểm lâm cơ động của Hạt Kiểm lâm Hàm Tân đi tuần tra, phát hiện xe ô tô BKS 49C - 026.62 do tài xế Ngô Xuân Việt (trú tỉnh Lâm Đồng) điều khiển, đang dừng trên Quốc lộ 1, trước cây xăng Thanh Thuận (xã Sông Phan, huyện Hàm Tân).
Lúc kiểm tra tài xế chưa xuất trình được giấy tờ liên quan đến lâm sản nên tổ công tác yêu cầu đưa phương tiện về tổ để kiểm tra. Tại đây, lái xe có trình một hóa đơn giá trị gia tăng do Công ty TNHH Ngô Thùy Trang (xã Đĩnh Lạc, huyện Di Linh, Lâm Đồng) xuất và một bảng kê lâm sản có xác nhận của Hạt kiểm lâm Di Linh (tỉnh Lâm Đồng).
Tổ công tác tiến hành kiểm tra số lâm sản trên xe thì thấy không phù hợp với hồ sơ lâm sản xuất trình nên đã tiến hành lập biên bản và yêu cầu tài xế liên hệ với chủ hàng để tiếp tục xử lý vụ việc.
Ông Hợi cho hay: “Sai sót của anh em là lúc đang lập biên bản thì nhận được thông tin có một chiếc xe nữa đang đi tới nên anh em đã lập biên bản xe 49C - 026.62 rồi tự ý mang xe đi “giấu” và tiếp tục chặn bắt xe khác mà không báo cáo với lãnh đạo”.
Lúc đưa xe đi “giấu”, kiểm lâm viên Đặng Quốc An ngồi trong ca bin xe cùng tài xế, riêng Lê Quốc Vân điều khiển xe máy chạy dẫn đường. Tuy nhiên, xe chạy tới trạm CSGT Hàm Tân (thuộc xã Tân Đức, huyện Hàm Tân) thì bị lực lượng công an bắt giữ.
Theo nguồn tin của PV, sau khi lập biên bản và mang xe “giấu” trước quán cà phê Góc Phố (thị trấn Tân Minh, huyện Hàm Tân) gần nửa ngày, thì xe 49C - 062.62 tiếp tục được hai kiểm lâm An và Vân “hộ tống” đi “giấu”. Đến 21 giờ ngày 12-1, lúc lực lượng công an kiểm tra, kiểm lâm viên Lê Quốc Vân đã xuống xuất trình toàn bộ giấy tờ, có thể hiện số lâm sản là 20 phách gỗ.
Tuy nhiên, qua kiểm tra thực tế lực lượng chức năng phát hiện trên xe có chứa tới 46 phách gỗ hình hộp. Công an huyện Hàm Tân đã tiến hành lập biên bản và tạm giữ xe ô tô vi phạm cùng toàn bộ số gỗ trên. (Người Lao Động 14/1) đầu trang(
Điểm nóng về buôn bán gỗ nghiến dạng thớt trên Quốc lộ 6 tại khu vực dốc 82, tiểu khu 14, thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La lại diễn biến phức tạp vào dịp cuối năm.
Dưới vỏ bọc là các quán nước ven đường, các đối tượng đã chào bán thớt nghiến công khai. Qua một buổi kiểm tra mới đây, lực lượng kiểm lâm Mộc Châu đã thu giữ hơn 30 chiếc thớt gỗ nghiến vô chủ được cất giấu tinh vi trong hốc cây, hang đá gần khu vực dốc 82.
Tình trạng này đã diễn ra nhiều năm nay, lực lượng kiểm lâm huyện Mộc Châu đã phối hợp với chính quyền địa phương vào cuộc với nhiều biện pháp quyết liệt, xử lý nghiêm tình trạng khai thác, buôn bán vận chuyển gỗ nghiến lậu, song được một thời gian ngắn tình trạng này lại tái diễn. Vì lợi nhuận từ khai thác, buôn bán thớt nghiến, các đối tượng đã trở nên manh động, coi thường pháp luật và có lúc có nơi đã chống trả cả lực lượng chức năng.
Ông Lê Văn Dũng, Hạt phó Hạt kiểm lâm Mộc Châu, tỉnh Sơn La cho biết: “Khối lượng gỗ vận chuyển, mua bán chủ yếu bằng ngựa và các xe máy vận chuyển về. Nơi tập kết thớt chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa. Mỗi gia đình mang về một ít rồi tái chế, sau đó mang bán với khối lượng nhỏ lẻ. Hạt Kiểm lâm Mộc Châu đã tăng cường phối hợp với chính quyền địa phương, các tiểu khu họp để triển khai nhiều biện pháp, vận động bà con chuyển hướng ngành nghề kinh doanh”. (VOV 14/1) đầu trang(
Những ngày qua, người dân ở ấp 2, xã Nhị Bình (H.Hóc Môn, TP.HCM) lo lắng về việc con khỉ của gia đình bác sĩ V. nuôi bị tuột dây xích, chạy khắp xóm rượt cắn người.
Hôm 13/1, trả lời PV, ông Nguyễn Thanh Quang (dân phòng tổ 6, ấp 2) cho biết con khỉ trên là của bác sĩ V. nuôi mấy năm nay tại địa phương. Tuy nhiên, ông V. không sống ở đây mà giao cho một người khác trông coi. Mỗi khi khỉ sổng chuồng, các hộ dân xung quanh phải đóng cửa vì gặp người là khỉ lao vào cắn.
Trước đó, con khỉ này từng sổng chuồng lao vào cắn ông H. (một người dân địa phương) gây đứt gân tay. Ngày 10.1 vừa qua, con khỉ trên tiếp tục sổng chuồng rượt đuổi người khắp xóm. Quá bức xúc, người dân đã đánh chết khỉ.
Trao đổi với PV, ông Đào Văn Đang, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm TP.HCM, cho biết: “Những trường hợp nuôi động vật hoang dã cá biệt mà không có biện pháp bảo đảm an toàn, gây nguy hiểm cho người dân trên địa bàn TP là những hộ nuôi trái phép, tự phát. Hiện nay cơ quan chức năng không cấp phép cho loại hình nuôi động vật hoang dã”.
Ông Đăng cũng cho biết nếu ai phát hiện những hộ nuôi động vật hoang dã trái phép, gây nguy hiểm cho hàng xóm, khu phố thì cần báo ngay cho cơ quan chức năng, sẽ cử lực lượng kiểm tra và có biện pháp xử lý ngay. (Thanh Niên 14/1) đầu trang(
Chiều 14-1, ông Lê Xuân Lâm, Cán bộ phụ trách Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi (trực thuộc tổ chức Wildlife At Risk (WAR) và Chi cục kiểm lâm TP.HCM) cho biết vừa tiếp nhận cứu hộ 30 cá thể tê tê (nặng 129,8 kg) từ Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, Công an TP.HCM (PC49). Trong đó có 3 cá thể bị thương nặng như: mất chân, mất đuôi.
Theo ông Lâm đây là một trong những vụ tiếp nhận tê tê lớn nhất từ trước đến nay tại trung tâm. Số tang vật được lực lượng chức năng thu giữ của các đối tượng mua bán động vật hoang dã trái phép. Hiện các cơ quan chức năng đang điều tra và xử lý vụ việc.
Tê tê là loại động vật hoang dã quý hiếm cần được bảo vệ và cấm mua bán. (Pháp Luật TP.HCM 15/1) đầu trang(
Tê tê – loài động vật hoang dã quý hiếm của Việt Nam đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao do nạn săn bắt, vận chuyển, buôn bán và tiêu thụ trái phép. Nhu cầu tiêu thụ vảy và thịt tê tê để làm thuốc đông y và thực phẩm đang ngày càng gia tăng tại Việt Nam.
Ngoài ra, Việt Nam cũng bị coi là điểm trung chuyển buôn lậu tê tê lớn trong khu vực. Thời gian gần đây, các cơ quan chức năng đã triệt phá rất nhiều vụ buôn bán, vận chuyển tê tê số lượng lớn.
Trước thực trạng đáng báo động đó, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) vừa ra mắt một phim ngắn truyền thông mới với sự tham gia của BTV Hoài Anh, Ban thời sự, Đài Truyền hình Việt Nam nhằm kêu gọi cộng đồng không tiêu thụ tê tê và thông báo các vi phạm về tê tê tới đường dây nóng miễn phí 1800 1522.
Phim ngắn thể hiện thực trạng mạng lưới tội phạm vận chuyển, buôn bán trái phép tê tê đang diễn ra ngày một phức tạp và bất chấp pháp luật, đe dọa đến sự sống còn của tê tê.
Trong phim ngắn, BTV Hoài Anh đã nhấn mạnh mối liên hệ giữa việc buôn bán động vật hoang dã và các nhóm tội phạm có tổ chức; đồng thời lên tiếng cảnh báo cộng đồng: “Nếu bạn mua vảy tê tê hoặc ăn thịt tê tê trong các nhà hàng đồng nghĩa với việc bạn đang trực tiếp tham gia vào mạng lưới tội phạm này”. (An Ninh Thủ Đô 14/1) đầu trang(
Ngày 14-1 tin từ Đội Cảnh sát giao thông 1-48 (thuộc Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Nghệ An) cho biết, đơn vị này vừa bắt giữ một phụ nữ đang có hành vi vận chuyển 10kg nghi là sừng bò tót đi tiêu thụ.
Theo đó, vào sáng ngày 13-1, một tổ công tác của đơn vị đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát thì nhận được tin báo của người dân về việc có một phụ nữ "đang vận chuyển sừng tê giác đi tiêu thụ". Ngay sau đó, tổ công tác đã tiến hành chốt chặn trên QL 48 thuộc địa bàn xã Diễn Đoài, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Khoảng 9h sáng cùng ngày, tổ công tác phát hiện một phụ nữ đang điều khiển xe máy Ari Blade mang BKS 37P - 982.02  có biểu hiện nghi vấn, đã yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Qua đó phát hiện tên xe có một bao tải màu trắng, trong đó có đựng 8 chiếc sừng động vật hoang dã, nghi là sừng bò tót có trọng lượng 10kg.
Danh tính người phụ nữ sau đó được làm rõ là Lê Thị Phượng (SN 1990) trú xóm 10, xã Diễn Lâm, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Tại cơ quan công an  Phượng khai vận chuyển thuê số sừng động vật trên cho một người đàn ông lạ mặt với giá 500.000 đồng.
Hiện Đội CSGT 1-48 đã lập văn bản và bàn giao đối tượng cùng tang vật cho cơ quan chức năng tiếp tục điều tra làm rõ. (An Ninh Thủ Đô 14/1) đầu trang(
Báo Lao Động & Đời sống đăng bài “Hàng trăm người dân ồ ạt phá rừng keo, đánh cán bộ lâm trường trọng thương” phản ánh sự việc hàng trăm người dân xã Châu Lộc, huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) kéo nhau lên phá keo mới trồng của Lâm trường Đồng Hợp, đánh một số cán bộ lâm trường trọng thương.
Ngày 31.12.2014, Sở NNPTNT Nghệ An có công văn số 3879 gửi Báo Lao Động & Đời sống khẳng định, nội dung bài báo là có thật. Hàng trăm hộ dân thuộc các xóm Íng, Khục, Đan xã Châu Lộc đã dùng gậy, tuýp sắt đánh cán bộ và bảo vệ của lâm trường, làm một đồng chí phó giám đốc bị thương khá nặng, hủy hoại 31.000 cây keo, tương đương 18ha, thiệt hại 163 triệu đồng.
Sở NNPTNT Nghệ An kiến nghị các cơ quan chức năng điều tra, xử lý các đối tượng vi phạm theo quy định của pháp luật, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch trồng rừng trên diện tích đã xử lý thực bì. Sở NNPTNT Nghệ An cảm ơn và mong báo tiếp tục phối hợp thông tin, tuyên truyền. (Lao Động 15/1) đầu trang(
Vùng đới bờ (được tính từ bờ biển ra 6 hải lý) tỉnh Quảng Ngãi rộng khoảng 2.000km2; được coi như tấm thảm dệt bởi các hệ sinh thái và nguồn tài nguyên đa dạng, cung cấp không gian sống cho các loài, trong đó có con người.
Tuy nhiên, vùng đới bờ đang ngày càng suy kiệt do tình trạng “mạnh ai nấy làm”. Việc khai thác, đánh bắt hải sản ven bờ là một trong những nguyên nhân khiến nguồn lợi hải sản bị cạn kiệt.
Rừng ngập mặn ở Quảng Ngãi đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ môi trường vùng đới bờ. Rừng có các loại cây nhiệt đới và cây bụi có rễ mọc từ trầm tích nước mặn vùng ven biển, như cây bần, trang, mắm, đước…, là một hệ sinh thái độc đáo, vừa cung cấp nhiên liệu, dược liệu, thực phẩm cho cộng đồng dân cư ven biển, vừa là bức tường xanh vững chắc chống gió bão, sóng thần, sạt lở, làm sạch môi trường ven biển, hạn chế xâm nhập mặn, bảo vệ nước ngầm, tích lũy cacbon, giảm khí CO2, duy trì đa dạng sinh học.
Tuy nhiên, diện tích rừng ngập mặn đang giảm mạnh do sự xâm hại nghiêm trọng từ việc phát triển nuôi trồng thủy sản tự phát của người dân cũng như sự tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu và nước biển dâng cao.
Theo thống kê của Chi cục Biển và Hải đảo tỉnh Quảng Ngãi, đến nay, Quảng Ngãi chỉ còn hơn 197ha rừng ngập mặn ven biển, giảm gần 120ha so với cuối năm 2002. Một yếu tố cũng ảnh hưởng rất lớn đến môi trường vùng đới bờ là tình trạng khai thác rừng phòng hộ ven biển ồ ạt, dùng điện, thuốc nổ để đánh bắt cá vùng ven bờ…
Quảng Ngãi có khoảng 5.500 chiếc tàu thuyền thì vẫn còn trên 1.100 chiếc có công suất dưới 20CV, các loại thuyền này chủ yếu đánh bắt ở vùng đới bờ, làm cạn kiệt nguồn lợi thủy, hải sản và gây hại đến môi trường.
Để sử dụng bền vững nguồn tài nguyên vùng đới bờ, cần phải bảo vệ môi trường vùng ven bờ; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, trang bị cơ sở vật chất. Các địa phương, ngành cần khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, như ngăn chặn sự khai thác trái phép các rạn san hô, rong mơ; khoanh vùng nơi khai thác, nơi cần bảo vệ.
Đồng thời sớm quy hoạch vùng nuôi tôm trên cát lẫn vùng triều để bảo vệ cồn cát ven biển; phục hồi dải rừng phòng hộ trên cồn cát, nguồn lợi thủy sản, tài nguyên nước và cảnh quan thiên nhiên cũng như các giá trị văn hóa, lịch sử tại vùng ven bờ.
Nhiệm vụ cấp bách hiện nay là các cấp, ngành; các đơn vị địa phương phải bảo vệ diện tích rừng, trồng bổ sung rừng và giao cho cá nhân, cộng đồng quản lý… Có như vậy, rừng ngập mặn mới đem lại lợi ích, hạn chế sự tác động của thiên nhiên gây nên xói mòn dọc triền đê bờ biển, bờ sông và các vùng dân cư lân cận ven biển. (Tuổi Trẻ 14/1) đầu trang(
Do nghi ngờ anh Võ Văn Bằng vận chuyển thú rừng trái phép, 4 cán bộ kiểm lâm huyện Tánh Linh đã áp sát, giật chìa khóa xe máy của anh bằng, dẫn đến chuyện nổ súng bừa bãi trong khi thi hành công vụ.
Về vụ việc trên, Luật sư Nguyễn Anh Tuấn cho biết: Tôi cho rằng, việc lực lượng kiểm lâm huyện Tánh Linh bắn 2 phát súng vào mồm và mang tai nghi phạm (anh Bằng) ở cự ly gần là hành vi dùng vũ lực nằm ngoài trường hợp pháp luật cho phép.
Nói cách khác, trong trường hợp này, 4 cán bộ kiểm lâm hoàn toàn có thể khống chế một mình anh Bằng, không cần thiết phải nổ súng. Hành vi bắn người của kiểm lâm đã gây thương tích và tâm lý hoảng sợ cho anh Bằng.
Mặc dù với động cơ thi hành công vụ, không có tư thù cá nhân, nhưng người bắn anh Bằng đã cố ý dùng vũ khí có độ sát thương cao và trong trường hợp pháp luật không cho phép nổ súng. Do vậy, cá nhân anh ta phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi gây thương tích cho người khác trong khi thi hành công vụ.
Khi có kết quả giám định tỉ lệ thương tật của anh Võ Văn Bằng từ 31% trở lên, cơ quan CSĐT hoàn toàn có thê truy cứu trách nhiệm hình sự cán bộ kiểm lâm nổ súng về tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ.
Khoản 1, Điều 107 Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào trong khi thi hành công vụ dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỉ lệ thương tật từ 31 % trở lên, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm. (Đời Sống & Pháp Luật 14/1, tr12) đầu trang(
Theo báo cáo của Tạp chí Tội phạm học châu Á: “Việc tiêu thụ các loài động vật nguy cấp, quy hiếm ở Việt Nam, tăng mạnh vào dịp Tết Nguyên đán...”.
Mặc dù có những quy định cấm không dược mua bán hay nhận quà biếu là sản phẩm từ động vật hoang dã, song sẽ khó có thể giảm tình trạng tiêu thụ nếu người dân không có nhận thức đầy đủ và các cơ quan chức năng chưa xử lý nghiêm về vấn đề này.
Theo kết quả khảo sát của Viện Xã hội học - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, hành vi tiêu thụ sản phẩm từ động vật hoang dã rất phổ biến, số người đã từng sử dụng thực phẩm, thuốc và đồ trang trí làm từ động vật hoang dã chiếm khoảng 70%. Trong đó, nhóm tuổi càng cao thì tỷ lệ sử dụng thực phẩm càng thấp nhưng tỷ lệ sử dụng các loại thuốc chế biến từ những loài nguy cấp, quý hiếm lại rất cao.
GS.TS Đặng Nguyên Anh, Viện trưởng Viện Xã hội học cho biết, chính niềm tin sử dụng các sản phẩm từ động vật hoang dã mang lại sức khỏe, thậm chí chữa được nhiều bệnh nan y được lưu truyền qua nhiều thế hệ cũng như việc tiếp cận nguồn cung khá dễ dàng đã khiến người tiêu dùng tìm đến sản phẩm từ động vật hoang dã.
Đối với những sản phẩm thuốc từ động vật hoang dã, rất ít người sử dụng vì lời khuyên của bác sĩ hay theo tài liệu sách báo mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm hoặc theo lời khuyên từ bạn bè, đồng nghiệp. Đây cũng là lý do giải thích, vì sao dù người dân nhận thức được sự cần thiết phải bảo vệ động vật hoang dã, song việc sử dụng các loại thực phẩm, thuốc từ những loài này vẫn diễn ra phổ biến.
Không chỉ có quan niệm sai lầm về công dụng của thực phẩm, thuốc chữa bệnh từ loài quý hiếm, theo nhiều chuyên gia, người dân hiện vẫn chưa nhận thức đầy đủ về các loại động vật hoang dã cần được bảo vệ. Phần đông đều cho rằng, nguyên nhân trực tiếp dẫn tới tình trạng suy giảm động vật hoang dã ở Việt Nam là do săn bắn hoặc buôn bán mà ít người chú ý tới một nguyên nhân sâu xa hơn xuất phát tò việc tiêu dùng các sản phẩm này.
Mặt khác, rất ít người biết tên và nội dung các văn bản pháp luật quan trọng liên quan đến bảo vệ động vật hoang dã, thậm chí không ít người nhận định, hành vi tiêu thụ sản phấm như: Ngà voi, mật gấu, sừng tê giác không hề vi phạm pháp luật và không bị xử phạt. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo vệ động vật hoang dã đã trở thành ưu tiên hành động trong thời gian qua, song chưa đạt hiệu quả.
Trước tình trạng buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã ngày càng tăng, Nhà nước đã ban hành các chế tài xử phạt vi phạm hành chính cũng như có quy định về xử lý hình sự đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã. Tuy nhiên, một số chuyên gia cho rằng, chế tài xử phạt còn nhẹ, chưa tương xứng với hành vi vi phạm là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các đối tượng buôn bán và vận chuyển động vật hoang dã, bởi lợi ích thu được từ buôn bán trái phép động vật hoang dã là rất lớn.
Trên thực tế, buôn bán động vật hoang dã đem lại lợi nhuận khổng lồ ước tính chỉ sau buôn bán trái phép chất ma túy. Theo thống kê, tổng doanh thu hàng năm từ buôn bán động vật hoang dã trái phép ở Việt Nam khoảng 66,5 triệu USD.
Cũng theo bà Nguyễn Thị Vân Anh, đại diện Cục Bảo tồn đa dạng sinh học (Bộ Tài nguyên và Môi trường) các loài động vật nguy cấp, quý hiểm là hàng hóa cấm lưu hành trên thị trường, do đó không thể căn cứ vào giá thị trường để tham chiếu xử phạt. Thực tế đã chứng minh, hầu hết các vụ việc không xử lý được vì không xác định được giá trị làm căn cứ vi phạm.
Mới đây, theo thống kê của Cục Kiểm lâm - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hành vi vi phạm quy định về quản lý và bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm trên cả nước trong 5 năm qua đã xảy ra 5.376 vụ, bình quân mỗi năm khoảng 1.095 vụ. Tuy nhiên, số liệu này chưa đầy đủ bởi thực tế còn nhiều vụ buôn bán, vận chuyển trái phép động vật hoang dã chưa bị phát hiện, bắt giữ.
Bên cạnh đó, số vụ bị xử lý hình sự đối với các đối tượng vi phạm còn khiêm tốn so với số lượng vụ việc được phát hiện. Trong đó, nguyên nhân là do các văn bản pháp luật về bảo tồn động vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm còn nhiều điểm vướng mắc.
Hy vọng bằng công tác đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về động vật hoang dã cũng như việc siết chặt công tác quản lý hoạt động săn bắn, tiêu thụ, buôn bán động vật hoang dã, người dân sẽ đón một cái Tết xanh, đầy ý nghĩa, không còn những món quà biếu từ thịt rừng, sừng tê giác, mật gấu... (Bảo Vệ Pháp Luật 16/1, tr3) đầu trang(
Để phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong công tác quản lý, bảo vệ rừng (QLBVR), thời gian qua, bên cạnh phát huy tốt vai trò chủ đạo trong quản lý Nhà nước về lĩnh vực này, lực lượng kiểm lâm tỉnh cũng đã tăng cường công tác phối kết hợp để đẩy mạnh hoạt động kiểm tra, giám sát hoạt động khai thác, mua bán và vận chuyển lâm sản thuộc địa bàn quản lý.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong năm 2014, lực lượng kiểm lâm trên địa bàn đã phối hợp với các địa phương, đơn vị chức năng lập kế hoạch và tổ chức được hơn 2.769 đợt tuần tra, truy quét tại các “điểm nóng” về phá rừng, khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản.
Qua đó, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện và lập biên bản 1.097 vụ vi phạm lâm luật. Bên cạnh đó, lực lượng kiểm lâm tỉnh còn phối hợp với các ngành liên quan như công an, bộ đội biên phòng, đoàn 12 các cấp và các đơn vị chủ rừng để thường xuyên nắm bắt, kiểm tra, kiểm soát, bảo vệ rừng dọc khu vực biên giới.
Qua công tác kiểm tra, kiểm soát, lực lượng chức năng đã phát hiện 186 vụ vi phạm lâm luật khu vực biên giới, trong đó địa bàn huyện Đắk Mil: 87 vụ; Tuy Đức: 62 vụ; Chư Jút: 8 vụ và Đắk Song: 29 vụ. Để nâng cao hiệu quả các đợt tuần tra, truy quét các điểm nóng về vi phạm lâm luật, lực lượng kiểm lâm đã thường xuyên phối hợp với chính quyền địa phương, cơ quan chức năng và người dân từ khâu rà soát, nắm bắt tình hình, lập phương án đến triển khai thực hiện, xử lý vi phạm.
Vì thế, những vụ việc được phát hiện, lập biên bản cơ bản đã được xử lý đúng quy trình, đối tượng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác QLBVR. Trong năm 2014, từ việc tăng cường công tác phối hợp giữa kiểm lâm và lực lượng công an, nhiều chuyên án lớn, những vụ việc phức tạp liên quan đến quản lý rừng, đất rừng trên địa bàn tỉnh đã được xử lý hiệu quả, tạo đồng thuận cao trong quần chúng nhân dân.
Ngoài việc tăng cường phối hợp với các địa phương, đơn vị trong tỉnh, thời gian qua, Chi cục Kiểm lâm tỉnh cũng đã thực hiện có hiệu quả quy chế phối hợp QLBVR vùng giáp ranh của tỉnh với các tỉnh bạn.
Cụ thể, trong năm 2014, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã phối hợp với lực lượng kiểm lâm các huyện Bù Gia Mập, Bù Đăng, Vườn quốc gia Bù Gia Mập (Bình Phước) tổ chức được 28 đợt tuyên truyền lưu động về pháp luật liên quan đến QLBVR; 9 đợt tuần tra, truy quét, phát hiện và phá bỏ nhiều lán trại dựng trái phép trong rừng, thu giữ hàng chục bẫy thú rừng…
Ngoài ra, lực lượng kiểm lâm tỉnh cũng đã phối hợp với kiểm lâm các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk  tổ chức được 37 lượt hội họp tuyên truyền cấp thôn, bon và gần 20 đợt tuần tra, kiểm soát hoạt động vận chuyển, mua bán lâm sản vùng giáp ranh.
Qua công tác phối hợp thực hiện nhiệm vụ, không chỉ ý thức, trách nhiệm của đại bộ phận nhân dân về quản QLBVR giữa các tỉnh có vùng giáp ranh được nâng cao mà còn kịp thời phát hiện và xử lý nhiều vụ vi phạm lâm luật.
Điển hình như mới đây, qua công tác phối hợp tuần tra khu vực giáp ranh, lực lượng kiểm lâm vườn quốc gia Yok Đôn (Đắk Lắk) và Hạt Kiểm lâm huyện Chư Jút (Đắk Nông) đã phát hiện và lập biên bản xử lý 1 vụ vận chuyển lâm sản trái phép, thu giữ gần 1,5 m3 gỗ hương nhóm II và 1 xe ô tô vận chuyển lâm sản trái phép.
Không chỉ hoạt động khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép khu vực giáp ranh giữa tỉnh ta với tỉnh bạn thời gian qua được hạn chế, qua công tác phối hợp, nhiều vụ việc liên quan đến lấn chiếm, tranh chấp đất đai giữa các bên cũng từng bước được giải quyết ổn thỏa, tạo môi trường thuận lợi cho người dân khu vực giáp ranh phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống và tích cực tham gia công tác bảo vệ, phát triển rừng.
Theo đánh giá của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định nhưng công tác phối, kết hợp trong QLBVR có lúc, có nơi vẫn chưa thực sự thường xuyên, thiếu tính đồng bộ. Một số địa phương, đơn vị vẫn có suy nghĩ “khoán trắng” nhiệm vụ này cho kiểm lâm nên trong phối hợp thực hiện nhiệm vụ còn mang tính hình thức.
Vì thế, thời gian tới, Chi cục Kiểm lâm tỉnh sẽ tiếp tục tham mưu, chủ động đẩy mạnh việc thực hiện các nội dung về quy chế phối hợp đã ký kết giữa kiểm lâm và các địa phương, đơn vị, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả trong QLBVR trên địa bàn tỉnh. (Báo Đắc Nông 14/1)đầu trang(
Xã Pha Mu (huyện Than Uyên) có 5 thôn bản, trên 160 hộ, 865 nhân khẩu với 2 dân tộc: Thái, Mông cùng chung sống. Xã có tổng diện tích đất tự nhiên trên 11.920ha; diện tích đất có rừng trên 2.200ha, trong đó rừng tự nhiên gần 1.902ha, rừng trồng 32,6ha.
Anh Lò Văn Thoong - Phó Chủ tịch UBND xã, Trưởng Ban Chỉ đạo Phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) xã Pha Mu cho biết: “Để thực hiện hiệu quả công tác bảo vệ rừng (BVR) - PCCCR, xã chủ động xây dựng, bổ sung kế hoạch BVR - PCCCR và cử các lực lượng rà soát, xác định những vùng trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng trên địa bàn.
Kiện toàn Ban Chỉ đạo PCCCR xã (gồm 17 thành viên), 1 tổ xung kích PCCCR và 5 tổ xung kích bảo vệ rừng ở các thôn, bản. Với phương châm “phòng cháy hơn chữa cháy” từ đầu mùa khô đến nay, Ban Chỉ đạo PCCCR xã tổ chức 5 buổi tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, các quy định của địa phương về BVR - PCCCR và tổ chức cho các hộ gia đình trong xã ký cam kết bảo vệ rừng. Xã tổ chức hội nghị triển khai công tác phòng cháy rừng đến các thôn, bản; phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên phụ trách các địa bàn tập trung chỉ đạo thực hiện các biện pháp theo kế hoạch đề ra. Các lực lượng tăng cường tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn tình trạng người dân vào rừng chặt cây lấy gỗ, khai thác lâm sản trái phép…
Trong các ngày nắng nóng, khô hanh kéo dài, các tổ, đội xung kích, lực lượng dân quân tự vệ, công an xã phân công lực lượng thường trực 24/24 giờ; chỉ đạo các thôn, bản chuẩn bị sẵn sàng dụng cụ như: dao phát, cuốc, xẻng… để khi có cháy rừng xảy ra có thể huy động tối đa lực lượng, trang thiết bị tham gia chữa cháy. Cùng với đó, chỉ đạo các thôn, bản phát dọn thực bì và làm đường băng cản lửa theo đúng quy định.
Đến thăm bản Pá Khoang vào những ngày cuối năm, ấn tượng bởi màu xanh ngút ngàn của những cánh rừng nơi đây. Tìm hiểu chúng tôi được biết, bản có 34 hộ, gần 200 nhân khẩu. Dân bản nhận khoanh nuôi, bảo vệ gần 500ha rừng. Do đặc thù là bản vùng cao, chủ yếu là đất rừng, ít ruộng nước nên bản xác định việc bảo vệ rừng để phát huy nguồn lợi từ rừng là một trong những nhiệm vụ quan trọng.
Trưởng bản Lý A Cớ cho biết: “Bản xác định: để làm tốt công tác BVR - PCCCR, người dân phải hiểu rõ lợi ích từ rừng đối với gia đình và thôn, bản. Do đó, tại các buổi họp, bản mời cán bộ kiểm lâm địa bàn xuống tuyên truyền cho Nhân dân hiểu lợi ích từ rừng, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, hướng dẫn Nhân dân quy trình đốt nương. Bản thành lập tổ xung kích bảo vệ rừng (gồm 10 người) thay phiên nhau trực hàng ngày. Từ khi nhà nước thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (bình quân mỗi hộ được chi trả khoảng 5 triệu đồng/năm), bà con thêm yên tâm, phấn khởi và hăng hái bảo vệ rừng”.
Được biết, trong năm 2012 và 2013, Nhân dân trong xã đã nhận trên 1 tỷ 889 triệu đồng tiền dịch vụ môi trường rừng. Do đó, ý thức của mỗi người dân trong BVR - PCCCR dần nâng cao. Từ năm 2010 đến nay, trên địa bàn xã chỉ xảy ra 3 vụ cháy thảm cỏ, tỷ lệ che phủ rừng tăng.
Thời gian tới, xã Pha Mu sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền và triển khai hiệu quả các biện pháp BVR - PCCCR, nhằm hạn chế thấp nhất số vụ cháy rừng và thiệt hại do cháy rừng gây ra. (Báo Lai Châu 14/1) đầu trang(
Ngay từ đầu mùa khô năm nay, các cơ quan, đơn vị quản lý rừng và các địa phương của tỉnh Lâm Đồng đã triển khai xây dựng các phương án phòng chống cháy rừng, đầu tư cho phương tiện và lực lượng tham gia phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn.
Trong đó 38 cơ quan, đơn vị quản lý rừng được phê duyệt tổng kinh phí gần 13,9 tỷ đồng cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô 2015.
Số kinh phí trên được các đơn vị quản lý rừng đầu tư mua dụng cụ, trang thiết bị, sửa chữa phương tiện phục vụ phòng cháy, chữa cháy rừng; làm mới và sửa chữa lán canh lửa tạm thời, chòi canh lửa cố định; làm mới hệ thống biển báo cấm lửa, phòng cháy, chữa cháy rừng; công tác thu thập số liệu khí tượng, in bản đồ; tuần tra, kiểm tra phòng cháy, chữa cháy rừng và các hoạt động tập huấn, diễn tập, tuyên truyền về phòng cháy, chữa cháy rừng.
Ngoài các đơn vị thuộc tỉnh quản lý, Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà cũng đang tiến hành lập dự án đầu tư tăng cường năng lực quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng cấp bách cho vườn quốc gia này, để trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư thẩm định theo quy định.
Lâm Đồng có diện tích tự nhiên 977.354 ha, trong đó diện tích đất có rừng 580.870 ha, chiếm 59,43% diện tích đất tự nhiên. Trong năm 2014, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng được chú trọng, các cấp, các đơn vị đã chủ động xây dựng phương án và triển khai đến các địa bàn, thôn buôn trên toàn tỉnh nhằm nâng cao ý thức của người dân, đơn vị trong việc bảo vệ và phòng chống cháy rừng. Số vụ cháy rừng và diện tích rừng bị cháy giảm so với cùng kỳ, không để xảy ra cháy lớn.
Mùa khô năm 2013 – 2014, trên địa bàn tỉnh xảy ra 40 vụ cháy liên quan đến đất rừng (giảm 52 vụ so với cùng kỳ năm trước), diện tích cháy 131,5 ha (giảm 66,8 ha); trong đó có 11 vụ cháy rừng với diện tích 24,16 ha, với 7 vụ cháy rừng trồng (14,86 ha), 4 vụ cháy rừng tự nhiên (9,3 ha); còn lại là 29 vụ cháy thảm cỏ (107,4 ha). Số vụ cháy đều được phát hiện và tổ chức lực lượng chữa cháy dập tắt kịp thời, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra. (Tin Môi Trường 10/1) đầu trang(
14/1, công an xã Quảng Minh (thị xã Ba Đồn, Quảng Bình) cho biết chính quyền địa phương và gia đình đã tiếp nhận thi thể, tổ chức an táng cho ông Hoàng Quang Huy (51 tuổi, trú thôn Tây Minh Lệ, xã Quảng Minh) - phu trầm bị tử vong trong vụ sập hầm ở khu rừng thuộc tỉnh Kon Tum.
Trước đó, ông Huy cùng cha con ông Phạm Văn Thương (53 tuổi), Phạm Anh Tuấn (25 tuổi, xã Quảng Sơn) và 3 phu trầm ở xã Quảng Minh vào vùng rừng tỉnh Kon Tum tìm trầm. Khi phát hiện một gốc cây cổ thụ bị mục nên bàn nhau chia 2 nhóm tìm cách đào hầm lấy trầm.
Ngày 9/1, trong lúc đang đào đường hầm dưới quả đồi thì bất ngờ đất đá sập xuống khiến ông Huy và Tuấn bị chôn vùi, tử vong tại chỗ. "Theo các phu trầm, khi xảy ra vụ việc, ông Thương may mắn đào đất chui lên trên nên thoát chết", ông Nguyễn Trọng Tài - Trưởng công an xã Quảng Minh - cho biết.
Sau đó, ông Phạm Văn Thương đã gọi các phu trầm trong nhóm đến đào đất, trình báo nhà chức trách để tìm cách cứu hai nạn nhân nhưng mọi việc đã quá muộn. (Nông Thôn Ngày Nay 14/1, tr2) đầu trang(
Từ nhỏ, Y Quyết Rya (9 tuổi, buôn Đôn, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, Đắk Lắk) đã yêu voi đến lạ lùng. Hàng ngày, cậu bé lân la khắp các khu du lịch để nói chuyện với voi, có lúc còn khóc khi thấy voi bị thương.
Thấy Y Quyết có tố chất đặc biệt, cậu ruột Y Thế Knul (40 tuổi, trú cùng buôn) đã dày công đào tạo cậu bé thành một quản tượng nổi tiếng với khả năng bắt voi đi, đứng, rẽ trái, rẽ phải… dễ như trở bàn tay. Cũng chính Y Quyết trở thành niềm hy vọng của buôn làng trong việc tiếp bước các bậc tiền bối lưu truyền, phát huy nét văn hóa voi vốn làm nên danh tiếng ở vùng đất Buôn Đôn huyền thoại.
Khi PV tìm đến nhà quản tượng nhí, anh Y Thế cho biết: “Nó đang chơi với voi Gen, muốn tìm nó phải đến đồi Tâm Linh ở Khu rừng sinh thái Bản Đôn ấy”. Nói rồi, Y Thế dẫn PV đến chỗ Y Quyết. Trước mắt là một người chỉ huy voi oai hùng. Cậu bé nằm trên lưng chú voi 35 tuổi, liên tục ra hiệu để con vật đi sang trái, sang phải, nơi có nhiều lá cây để voi ăn.
Lát sau, Y Quyết lại điều voi đến hồ. Cậu bé đưa tay khoát nước, còn tay kia kỳ cọ, tắm rửa khắp cơ thể voi. Voi Gen khoái chí vươn vòi phun từng luồng nước trắng xóa làm Y Quyết ướt nhễ nhại. Đáp lại, cậu bé ôm chặt Gen, miệng nhoẻn cười khúc khích. Tiếng cười sảng khoái chen lẫn tiếng voi gầm rú vang khắp đại ngàn heo hút. “Đưa Gen lên bờ đi. Ngâm nước lâu nó sẽ lạnh đấy”, anh Y Thế nhắc nhở. Dứt lời, cậu bé thì thầm vào tai voi vài ba câu. Lập tức, voi Gen nhấc mình, đồng thời quay đầu sang phải tiến vào bờ.
“Giờ đây, mọi thao tác như chăm sóc, điều khiển voi, Y Quyết đã thành thạo hết. Nhưng nó chưa thể mang voi vào rừng cột vì đường xa, dây xích lại quá nặng so với sức của cháu. Trên thực tế, Y Quyết thay PV điều khiển voi chở gần trăm lượt khách, tên tuổi được nhiều người biết đến. Trong buôn, ngoài nó PV chưa thấy ai ngang tuổi có thể làm được như vậy”, anh Y Thế hồ hởi khoe.
Y Quyết được người cậu truyền dạy kỹ năng làm quản tượng khi cậu bé vừa lên 7 tuổi. Hồi ấy, Y Thế được giao quản lý chú voi Gen của khu du lịch sinh thái nên mỗi khi đi làm, anh đều dẫn Y Quyết theo. “Ban đầu, cháu chỉ được tiếp xúc để voi quen hơi. Khi voi Gen đã biết và thân thiện, cậu mới cho cháu dẫn voi tập đi và đưa voi ra hồ uống nước, dần dà thì được tập cưỡi, tắm rửa, vệ sinh cho voi. Khi đã làm chủ được voi, cháu mới được tập chở khách”, Y Quyết nhớ lại.
Nghe Y Quyết kể, Y Thế vội chen ngang: “Hồi tập cho nó làm quản tượng, tôi theo sát nó mọi lúc. Nó dẫn voi tập đi, tập cưỡi, tôi đều kè kè bên cạnh để đề phòng sự cố. Sau gần 1 năm rưỡi đào tạo, thấy cháu đã làm chủ được voi, các thao tác điều khiển đã nhuần nhuyễn thì tôi mới để cho nó chở khách”.
Đang nói chuyện, Y Quyết mời PV trèo lên lưng voi để cậu trổ tài. Thấy khách nghi ngại, Y Quyết cười xuề, đồng thời lên tiếng trấn an: “Không sao đâu chú. Đã có cháu rồi”. Dứt lời, Y Quyết quay sang bảo voi Gen: “Ngồi yên để mấy chú trèo lên Gen nhé”. Như hiểu được chỉ thị của quản tượng nhí, voi Gen vui vẻ tiếp nhận bằng cách ngoe nguẩy đôi tai. Lúc cả đoàn đã yên vị, Y Quyết vỗ nhẹ vào đầu voi, đồng thời gằn giọng: “Hăng”. Voi Gen lập tức bước đi. Chú voi chở PV lướt đi êm ru trên con đường bê tông. “Bày chú điều khiển voi với nhé”, PV nói với Y Quyết.
Cậu bé nhìn PV lắc đầu: “Chưa được đâu chú. Phải có thời gian mới được. Lúc đầu, chú phải dành thời gian giao tiếp, làm quen với voi để 2 bên hiểu nhau. Voi rất hiểu tính người. Chú phải thuộc các khẩu ngữ như: “Hăng”: đi; “Trum”: quỳ xuống; “Hau”: dừng lại; “Truth”: đứng dậy… mới điều khiển được. Thế nhưng, cái quan trọng nhất là phải làm quen với voi trước”. Lúc voi Gen chở đoàn băng cắt qua vạt rừng, PV bắt chước vỗ vào voi, đồng thời lớn tiếng hô: “Hau” nhưng chú voi vẫn lững thững bước đi. Y Quyết quay sang cười: “Cháu nói có sai đâu”.
Trò chuyện với PV, Y Quyết cho biết, trong thời gian làm quản tượng, điều cậu sợ hãi, buồn rầu nhất chính là việc bản thân bị voi xa lánh mà không biết lý do. Chuyện xảy ra mấy tháng trước, lúc Y Quyết vào rừng thì voi Gen bỗng dưng đưa vòi xua cậu ra xa. Y Quyết thử tiến lại thì voi Gen hung hãn rượt theo. Nghĩ mình làm gì sai khiến Gen giận, Y Quyết ba chân bốn cẳng chạy một mạch về tìm cậu Y Thế.
“Gặp tôi, nó òa khóc, nước mắt chảy lấm lem, còn đôi mắt đỏ lừ. Tôi cười, bảo Y Quyết không làm gì sai cả. Nó truy nếu không làm sai thì sao voi Gen không cho gần. Tôi giải thích voi Gen đến mùa động dục nên hung dữ, không muốn tiếp xúc với ai là điều bình thường. Để nó tin, tôi cũng vào rừng thì voi Gen cũng phản ứng tương tự. Thấy thế nó mới vui vẻ trở lại”, anh Y Thế nhớ lại.
Mang chuyện Y Quyết mới tí tuổi đầu nhưng có tài điều khiển voi, bà H’Hóa Byă (buôn trưởng buôn Đôn) mắt rực sáng: “Chao ôi! Thằng bé thật đặc biệt. Khi nhiều đứa trẻ thấy voi đã sợ thì Y Quyết lại rất gần voi. Nó cũng hay tâm sự, còn xem con vật này như bạn thân. Bây giờ, Y Quyết đã biết điều khiển, chăm sóc voi, chúng tôi mừng và tự hào vô cùng. Tôi từng lo sau này du khách đến buôn Đôn, sẽ không có ai kể cho khách biết về cách chăm sóc, huấn luyện, điều khiển voi nữa. Bây giờ có Y Quyết, tôi tin truyền thống thuần dưỡng voi sẽ được tiếp tục lưu truyền ở vùng đất thiêng này”.
Chính Y Thế cũng là người nắm rõ nhất sự đặc biệt của Y Quyết. Hồi trước, nhà Y Thế có nuôi 2 con voi nhưng đến năm 2007 thì cũng lần lượt về với Giàng (cách nói về cái chết của đồng bào Ê Đê nơi đây). Những chú voi của nhiều người khác trong buôn cũng cảnh ngộ. Phần voi ít, phần do lương thấp nên số quản tượng trụ được với nghề chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Lo sợ nghề quản tượng bị mai một, Y Thế tính chuyện tìm người truyền dạy để có người kế thừa, lưu giữ nét văn hóa độc đáo này. Tiêu chí được anh đưa ra là phải yêu và quý mến voi, muốn gắn bó với nghề quản tượng. “Tôi dành nhiều thời gian để quan sát, theo dõi 20 đứa cháu thì thấy Y Quyết đáp ứng những tiêu chuẩn trên”, anh Y Thế nói.
Hồi đó, Y Quyết trong mắt cậu ruột là cậu bé gầy gò, người đen nhẻm nhưng lại có niềm đam mê voi đến mãnh liệt. Có lần, Y Quyết đi học về vội bỏ sách vở vào nhà rồi đi theo đoàn voi trong khu du lịch, có bữa mải chơi quên cả bữa ăn. Bố mẹ cho tiền, Y Quyết không ăn hàng mà bỏ heo đất tiết kiệm để mua voi gỗ về chơi, có đêm ngủ còn ôm để nói chuyện.
“Tôi nhớ nhất vẫn là câu chuyện xảy ra 3 năm trước. Hồi ấy, voi Gen bị một con voi rừng tấn công làm bị thương ở tai và đuôi. Biết chuyện, nó khóc thảm thiết, còn bảo tôi đi mua thuốc bôi cho voi. Tôi bảo không ăn thua, phải chữa bằng cây rừng mới lành. Biết tôi vào rừng hái lá, nó cương quyết đi theo, lúc về thì thức trắng đêm cùng tôi nấu thuốc, mồ hôi chảy nhễ nhại. Cũng chính nó mang thuốc vào rừng để tôi chữa cho voi. Ngày voi hết bệnh, nó mừng hơn nhặt được tiền. Qua vụ này, tôi chợt nhận ra Y Quyết có đủ tố chất để nối nghiệp tôi trở thành một quản tượng trong tương lai”, anh Y Thế hồi tưởng.
Y Thế tìm gặp Y Quyết để hỏi có muốn theo nghiệp mình không. “Vừa dứt câu, nó trả lời ngay: Làm quản tượng là ước mơ của đời con. Cậu hãy giúp con thực hiện ước mơ của mình. Tôi bảo sẽ vất vả. Y Quyết cương quyết theo đến cùng. Tôi cũng tìm gặp chị H’Bút Sali Ryă (28 tuổi, mẹ Y Quyết) để nói kế hoạch truyền dạy Y Quyết thành một quản tượng. Nghe thế, H’Bút gật gù, bảo ủng hộ quyết định của con. Thế là tôi bắt tay truyền dạy cho Y Quyết cách tiếp cận, điều khiển voi và cháu đã áp dụng thành công như bây giờ”, anh Y Thế kể.
Lúc Y Quyết điều khiển voi chở PV đi dạo, Y Thế ngồi trên đồi, đôi mắt nhìn xa xăm vào những cánh rừng bạt ngàn. Anh liên tục hút thuốc, thi thoảng lại đưa tay chùi nhẹ trên khóe mắt. Tiến lại, PV phát hiện anh đang khóc, nước mắt chảy giàn dụa trên khóe mi. Hỏi lý do, anh bảo: “Cứ nghĩ lũ trẻ mải chơi, không ai chịu theo nghề quản tượng để gìn giữ văn hóa tổ tiên. Bây giờ có Y Quyết kế tục, tôi thấy nét văn hóa voi buôn Đôn được lưu truyền nên vui mừng ấy mà”. (Sài Gòn Giải Phóng 15/1, tr6) đầu trang(
Văn hóa là phạm trù thuộc về con người, phân biệt con người với tự nhiên, đưa con người “thoát ra” khỏi tự nhiên để thành Người; là dấu vết của con người in lên tự nhiên. Các nghiên cứu văn hóa đã chia thế giới ra làm hai phần: Tự nhiên và Văn hóa. Tự nhiên là những gì chưa thành văn hóa. Văn hóa là những gì không phải tự nhiên.
Lâu nay, ai cũng biết rừng là tự nhiên, tức là không phải văn hóa theo cách hiểu thông thường. Quan niệm rừng là tự nhiên là quan niệm vẫn đúng. Nhưng từ đó mà cho rằng rừng không phải là văn hóa thì lại không đúng. Trong quan niệm chia thế giới thành hai phần, tự nhiên và văn hóa, thì rừng là vùng trùng lắp, vừa là tự nhiên vừa là văn hóa. Vì vậy, vai trò của rừng quan trọng như vai trò của tự nhiên cộng với vai trò của văn hóa. Nói cách khác, rừng còn quan trọng hơn tự nhiên và cũng quan trọng hơn văn hóa. Rất đặc biệt.
Như chúng ta đã biết, thuở xa xưa, khi bắt đầu xuất hiện con người, từ sự tiến hóa của một loài vượn người thông qua lao động và các sinh hoạt cộng đồng, con người từ trong rừng sâu hun hút bước ra, tụ tập lại bên các dòng suối, dòng sông, người hóa một không gian rừng để thành làng, rồi sau đó tiếp tục di chuyển xuống đồng bằng và ra biển. Vậy là con người, đồng thời với con người là văn hóa, đã khởi nguyên từ rừng. Nói các khác, rừng là “chiếc nôi” mà từ đó con người được sinh ra, lớn dần lên.
Cho đến ngày nay, đồng bào ở miền núi nhiều nơi vẫn còn giữ phong tục “bỏ mả”. Khi con người mất đi, sau một thời gian không lâu sẽ làm lễ trả họ về với núi rừng, nơi từ đó con người đã bước ra, để họ hóa thân trở lại với rừng, hóa thân vào từng ngọn cỏ cành cây, để cho cỏ cây cũng có linh hồn, để có không gian sinh tồn của con người giàu tính nhân văn.
Rừng thiêng đã góp phần cho ổn định xã hội, yên vui cho cuộc sống con người. Đồng bào miền núi một số nơi đã biết răn bảo nhau cùng bảo vệ các loài cây có bộ rễ giữ nước tốt, dù đó chỉ là thứ cây gỗ tạp; biết cúi lạy cây trước khi chặt về làm nhà, bề ngoài là chuyện thần linh, nhưng bên trong sâu xa là văn hóa ứng xử với rừng.
Rừng Tây Nguyên là không gian sinh tồn của đồng bào bản địa. Rừng không chỉ cho con người cái ăn, cái mặc mà còn nuôi dưỡng tâm hồn cho phong phú và chân thiện hơn. Âm nhạc, hội họa, thi ca, điêu khắc… của Tây Nguyên phản ánh cuộc sống của con người gắn bó trong máu thịt với tự nhiên bao la và chân thật. PV đã nghe chuyện anh bộ đội trốn đơn vị chạy về thăm làng và thăm rừng cho đỡ nhớ rồi trở lại công tác và chiến đấu anh dũng cùng đồng đội của mình.
Một tiếng suối róc rách, tiếng con chim, con thú, tiếng mưa rừng và cả mảnh trăng cuối rừng kia nữa… tất cả đều là cuộc sống tâm hồn của con người. Không chỉ Tây Nguyên đâu, không chỉ miền núi đâu. PV có biết mấy người bạn tốt quê ở Hà Nội, ở thành phố Hồ Chí Minh, khi đi xa, sống xa, cả không gian và năm tháng, các anh ấy vẫn nhớ hoài trong ký ức về hàng cây cuối phố, với bóng mát, màu xanh, hương thơm dịu nhẹ và cả những kỷ niệm của hai người hò hẹn. Những hàng cây cuối phố ấy, và những công viên cây xanh nữa, tự khi nào không biết, đã ở trong tâm hồn các anh và góp phần làm nên nhân cách.
Mà không riêng ở Việt Nam ta đâu. Ở châu Âu cũng vậy. Một lần khi đến Luân-đôn, chúng tôi hỏi một người Anh ở thủ đô của họ có những công trình văn hóa nào mà chúng tôi nên đến tham quan. Ông ấy kể trước tiên là một rừng cây (có người còn gọi là khu rừng nguyên sinh) và sau đó mới đến các công trình khác. Tại Paris và Ki-évcũng nghe người Pháp và người Ucraina nói về sự yêu thích của họ đối với những rừng cây trong thành phố. Người ta nói và tự hào Ki-év là một thành phố xanh, nơi có rừng trong phố và phố trong rừng.
Một lần khác, đến Mát-xcơ-va, đi thăm 6 công trình văn hóa nổi tiếng, trước khi về nước, một ông bạn người Nga nói “Tiếc quá, không còn thời gian nữa để tôi đưa các anh đi xem các cánh rừng ven đô Mát-xcơ-va. Chưa đến đó, các anh chưa hiểu hết được tâm hồn Nga của chúng tôi đâu”. Nghe ông nói vậy, nhớ lại một mảng văn học, nghệ thuật Nga rất nổi tiếng về “Mùa hè rớt”, “Mùa thu vàng”, “Mùa lá đỏ” và “Mùa lá đổ” có ngọn nguồn từ những cánh rừng Nga. Ở nước Áo cũng vậy, nơi đây là một trong số các trung tâm du lịch và chiếc nôi của nền âm nhạc thế giới, Mô-da và Bét-tô-ven đã sống và sáng tác âm nhạc, người ta đã yêu quý và bảo vệ các rừng cây là di sản quốc gia.
Tại châu Âu, ở các trung tâm – khu phố bán tranh vẽ, có lần đã thử đếm và phân tích xem người ta đã vẽ những gì. Bảy mươi phần trăm là rừng và làng, mười phần trăm là người đẹp, hai mươi phần trăm là còn lại là các đề tài khác. Không thấy người ta vẽ phố, mặc dù đang ở giữa khu phố chọc trời. Có chăng chỉ là một vài góc phố cổ, như những hồi ức. Không phải nói chuyện người ta đã vẽ gì mà muốn nói những gì đã làm cho tâm hồn người nghệ sĩrung động để họ thể hiện trong những bức vẽ rất có hồn. Rừng và làng vẫn là thứ hấp dẫn nhất, hơn gấp nhiều lần so với người đẹp.
Vậy đó. Cho nên, rừng là văn hóa. Ứng xử với rừng như thế nào đó là biểu hiện văn minh hay dã man. Nghĩ mà tiếc cho rừng đại ngàn ở Tây Nguyên gần như đã mất, cũng có nghĩa là xóa bỏ phần rất quan trọng của nền tảng văn hóa; tiếc cho những hàng cây xanh dọc phố đã bị chặt đi, tiếc cho việc quy hoạch các khu phố không có các rừng cây, để môi trường ấy ngày đêm bền bỉ và cần mẫn làm cho tâm hồn con người phong phú hơn lên, chân thiện hơn lên.
Việc quy hoạch các đô thị không nên bắt đầu bằng xây dựng cái gì ở đâu, tận dụng không gian tối đa, mà trước tiên hãy bắt đầu tính những chỗ không xây gì cả, chừa cho các rừng cây, không sợ dư thừa lãng phí không gian. Bởi đó là không gian sống. Đừng để cho các khối bê tông chèn ép con người, làm cho con người trở nên bé nhỏ lại. (Văn Hóa 14/1, tr8) đầu trang(

QUẢNG LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Văn phòng báo Đại Đoàn Kết tại Quảng Nam nhận được đơn kiến nghị của nhiều hộ dân ở khu vực thủy điện Sông Tranh 2 thuộc huyện Bắc Trà My (Quảng Nam) về việc đất rừng của họ trúng vào dự án xây dựng công trình thủy điện này nhưng đất không được công nhận bồi thường.
Do đó từ năm 2007 đến nay các hộ này khiếu nại kéo dài, đâm đơn ra tòa nhưng quyền lợi của họ vẫn không được giải quyết.
Theo đơn trình bày, vào năm 1995-1996 các hộ tham gia các dự án trồng rừng với Lâm trường Trà My cũ, nay là Ban quản lý dự án trồng rừng Sông Tranh với diện tích cụ thể là: Nguyễn Nam Mạnh 4,2ha, Nguyễn Nam Đô 3,3ha, Nguyễn Thanh Đổi 3,2ha (3 hộ này là dân tộc Cadong), Trần Mùi 1,5ha, Nguyễn Xuân Tâm 7,7ha (trong đó có 3ha của ông Hồ Văn Trí nhưng ông này bỏ đi khỏi địa phương và ông Tâm quan lý sử dụng đất vào năm 1997). Thế nhưng khi thực hiện công trình Thủy điện Sông Tranh 2 (TĐST2) họ không được bồi thường.
Theo các hộ kể trên,  năm 2007 các diện tích đất trên trúng vào dự án xây dựng công trình TĐST2 nhưng đất không được bồi thường là hết sức vô lý, trong khi tại địa phương có 33 hộ tham gia các dự án trồng rừng với Lâm trường như các hộ chúng tôi, thì đã có 27 hộ đã được bồi thường về quyền sử dụng đất.
Đáng nói là từ chính quyền địa phương đến Mặt trận và các tổ chức đoàn thể cũng như già làng, trưởng bản công nhận đúng thủ tục, các cơ quan chức năng của huyện Bắc Trà My cũng đã nhiều lần tổ chức nhiều đoàn kiểm tra, xác minh và đều kết luận: Nguồn gốc quản lý sử dụng đất nêu trên là của các hộ gia đình này.
Luật sư Phạm Xuân Linh- Văn phòng Luật sư Phụng Công thuộc Đoàn luật sư TP Đà Nẵng khẳng định: "Căn cứ vào khoản 5 Điều 9 Quyết định số 23/2010/QĐ-UBND ngày 30/9/2010 của UBND tỉnh Quảng Nam quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương có điều kiện KT-XH khó khăn ở miền núi, hải đảo, nay được UBND cấp xã xác nhận là người sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp được bồi thường, hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật. Xã Trà Bui, huyện Bắc Trà My, thuộc vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ. Như vậy, 5 hộ dân nói trên cần xem xét đền bù đất cho họ”.
Qua quá trình tìm hiểu vụ việc phóng viên có trong tay nhiều văn bản, như biên bản các cuộc họp, kết luận, báo cáo, thông báo, tờ trình của Hội đồng tư vấn đất đai xã Trà Bui. Thậm chí huyện đã lập phương án bồi thường bổ sung trình các cấp phê duyệt.
Cụ thể tại các biên bản cuộc họp của Hội đồng tư vấn đất đai xã Trà Bui vào các ngày 9-5-2012 và ngày 6-5-2014 đều cho rằng: "Đất của các hộ dân nói trên liên quan đến rừng thuộc dự án 327, 661 là của người dân khai phá và sản xuất, không có tranh chấp”. Hay tại Báo cáo số: 44/BC-BQL ngày 05/4/2007 BQL TRST, về việc giải quyết việc hưởng lợi các dự án trồng rừng bị ngập nước lòng hồ TĐST2 cũng khẳng định: "Đất rừng trồng nguyên trước đây là đất rẫy của dân, chủ dự án vận động nhân dân tham gia trồng rừng nên các hộ được hưởng lợi về đất rừng”.
Văn bản số: 1006/UBND-HĐ ST2 ngày 03/10/2012 của ông Đặng Phong lúc bây giờ là Chủ tịch UBND huyện Bắc Trà My, về việc trả lời đơn phản ánh, kiến nghị của ông Nguyễn Nam Mạnh cũng cho rằng: "Căn cứ kết luận của Hội đồng tư vấn đất đai xã Trà Bui, Hội đồng bồi thường hạ tầng và tái định cư công trình TĐST2, huyện đã lập phương án bồi thường bổ sung diện tích đất trên trình UBND, Sở TN-MT thẩm định và phê duyệt tại Tờ trình số 25/TTr-HĐ ST2 ngày 26-9-2012”.
Đặc biệt, UBND huyện Bắc Trà My đã ban hành Quyết định số: 635/QĐ-UBND ngày 8-4-2014 thành lập Tổ công tác để thẩm tra, xác minh về nguồn gốc quản lý sử dụng đất của các hộ gia đình nói trên. Trên cơ sở đó, ngày 28-8-2014 UBND huyện có Thông báo số: 212/TB-UBND về kết luận của Phó Chủ tịch thường trực UBND huyện Nguyễn Nhuần nêu rõ: "Có đầy đủ cơ sở pháp lý để xác nhận đây là đất sản xuất thuộc quyền sở hữu sử dụng của các hộ dân nêu trên”.
Quá trình khiếu nại kéo dài không có kết quả, 5 hộ dân nói trên quyết định đâm đơn ra tòa án khiếu kiện, thế nhưng theo ông Trần Mùi: "Khi tòa án đang thụ lý vụ án thì UBND  tỉnh Quảng Nam lại có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam tạm đình chỉ vụ án. Thế là chúng tôi lại chờ mà không biết chờ đến bao lâu. Trong khi đó gia đình tôi không có đất sản xuất, hàng ngày sinh sống bằng nghề sông nước, đời sống vô cùng vất vả”.
Qua tìm hiểu được biết, đúng là UBND tỉnh Quảng Nam có văn Công văn số: 3927/UBND-NC ngày 23-9-2014, về việc đề nghị tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Theo đó văn bản này khẳng định: "UBND tỉnh xem xét xử lý, trả lời dứt điểm các nọi dung khiếu nại, kiến nghị của 5 hộ dân, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các hộ dân theo quy định pháp luật hiện hành và tình hình thực tế của địa phương, thời gian dự kiến trong tháng 10-2014”. Thế nhưng đến hôm nay đã bước vào năm 2015 vụ việc vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.
Đáng nói là đời sống của các hộ dân này đều khó khăn, 3 hộ là đồng bào dân tộc Cadong, 1 người bị cụt một cánh tay, gia đình nhiều nhân khẩu (mỗi gia đình từ 8 đến 11 nhân khẩu), thiếu đất sản xuất, có người làm thuê hay làm nghề bươn chải sông nước để kiếm sống. Nhưng quan trọng là vụ việc khiếu nại, khiếu kiện của họ gần 10 năm qua vẫn chưa được giải quyết dứt điểm, trong khi họ đã đổ mồ hôi công sức khai phá bấy lâu nay. (Đại Đoàn Kết 15/1) đầu trang(
Anh Nguyễn Văn Thoại, quê thôn Nà Cọ, thị trấn Du, huyện Phú Lương (Thái Nguyên) đầu tư hơn 400 triệu đồng mua sắm máy móc, thiết bị bóc gỗ, lên thôn Cảm Lẹng, xã Nông Thịnh, huyện Chợ Mới (Bắc Cạn) thuê đất mở xưởng bóc gỗ ngay cạnh quôc lộ 3.
Anh thuê sáu người trực tiếp đứng máy, trả lương 4,5 triệu đồng/tháng; năm người vận chuyển gỗ bóc đi phơi, đóng gói, trả lương gần ba triệu đồng/tháng. Mỗi ngày, xưởng tiêu thụ 10 m3 gỗ keo có đưòng kính từ 7 cm đến 17 cm của nhân dân địa phương. Gỗ bóc sản xuất đến đâu tiêu thụ hết đến đấy. Tính ra, sau khi trừ tiền thuê nhân công, tiền điện, mỗi ngày hoạt động của xưởng thu lãi khoảng một triệu đồng.
Cách đó không xa, xưởng gỗ bóc của anh Trần Ngọc Hoàng ở thôn Bản Còn, xã Nông Thịnh có quy mô lớn hơn, mỗi ngày thu mua khoảng 15m3 gỗ để đưa vào chế biến thành gỗ bóc. Nông dân thôn Bản Còn và các thôn lân cận vận chuyển gỗ keo đến xưởng của anh Hoàng bán với giá bình quân 900 nghìn đồng/m3. Loại có đường kính 15 - 16 cm, thẳng, anh còn thu mua với giá 1,2 triệu đồng/m3. Nông dân bán cả vạt rừng anh Hoàng cũng mua, thuê người khai thác, vận chuyển về xưởng chế biến.
Cũng như nhiều nông dân khác, ông Nông Văn Khá ở xã Nông Thịnh có vạt rừng keo rộng 0,5 ha trồng được năm năm, cây nào to thì đường kính khoảng 12 -13 cm. Con đi học, tháng nào cũng cần tiền nên ông chặt bán từ gần một năm trước, đến nay đã gần hết.
Kỹ sư lâm nghiệp Lê Viết Thái - Chủ tịch HĐQT Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn cho biết: "Các xưởng gỗ bóc không phải đóng thuế, không phải đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cho người lao động... nên họ có điểu kiện mua gỗ với giá cao hơn so giá mua của Công ty CP Sahabak. Vì thế, nông dân toàn chặt gỗ rừng trồng bốn, năm tuổi bán cho các xưởng gỗ bóc.
Trong khi đó, đối với rừng keo từ năm thứ năm đến năm thứ tám (đến tuổi khai thác), là khoảng thời gian sinh trưởng nhanh nhất, sinh khối tăng gấp hơn hai lần so bốn năm trước. Việc nông dân chặt hạ khi rừng được bốn, năm năm tuổi không khác nào "bán lúa non".
Vốn đầu tư một xưởng gỗ bóc chỉ khoảng 400 triệu đồng, công nghệ đơn giản, gỗ bóc sản xuất ra đến đâu bán hết đến đấy và có lãi cao nên các xưởng gỗ bóc trên địa bàn tình Bắc Cạn đang mọc lên như nâm sau mưa. Cạnh các ngả đường, dọc quốc lộ 3, các tuyến tỉnh lộ từ thị xã Bác Cạn đến các huyện, ở đâu cũng thấy xưởng gỗ bóc, nguyên liệu là gỗ keo khai thác trên các cánh rừng trồng.
Gỗ rừng trồng bốn, năm tuổi bắt đầu bước vào thời kỳ sinh khối lớn thì nông dân chặt hạ, không những gây thiệt hại về kinh tế, tài nguyên rừng mà còn làm cho đất bị bạc màu, khiến nghề rừng phát triển không bền vững.
Là người được đào tạo về lâm sinh, có nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp, ông Thắng phân tích: "Keo trồng được bốn năm mới bắt đẩu khép tán, khi đó mặt đất không bị mưa bào mòn. Đồng thời, rừng bốn tuổi trở lên mới rụng nhiều lá để tạo lớp mùn làm "giàu" cho đất thì lại bị chặt "trắng" để trồng rừng mới. Như thế đất lâm nghiệp vốn có độ dốc lúc nào cũng bị mưa bào mòn sẽ bạc màu, "sa mạc" hóa, sau hai chu kỳ theo cách nghĩ của nông dân (khoảng 8-10 năm) thì đến chu kỳ thứ ba rừng sẽ không phát triển được nữa. Lúc đó, nông dân sẽ là người phải lĩnh hậu quả".
Với 70% diện tích tự nhiên là đất lâm nghiệp để trồng rừng sản xuất, tỉnh Bắc Cạn xác định, trồng rừng là hướng phát triển kinh tế lâu dài, xóa đói, giảm nghèo bền vững cho nông dân. Trên thực tế, nông dân khai thác rừng khi chưa đến chu kỳ đã vô tình gây thiệt hại kinh tế cho chính mình và làm cho đất lâm nghiệp bị "sa mạc" hóa.
Thế nhưng, tình trạng này chưa được các cấp, các ngành chức năng quan tâm. Đại diện lãnh đạo các huyện Bạch Thông, Chợ Mới, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Cạn đều cho rằng: Vẫn biết rừng trồng bốn, năm tuổi đã bị khai thác sẽ gây thiệt hại kép. Nhưng đất lâm nghiệp đã giao đến hộ, rừng kinh tế do nông dân trồng, họ có quyền định đoạt, chặt bán bất cứ lúc nào, cơ quan chức năng không cách nào ngăn chặn được. (Thời nay 15/1, tr8) đầu trang(
TS. Nguyễn Thị Thanh Thủy, phó viện trưởng Viện hải dương học Nha Trang đã nghiên cứu, triển khai 2 mô hình phục hồi rừng ngập mặn với đa loài cây ngập mặn (các loài đước, đưng, vẹ dù, mắm trắng, mắm biển) tại đầm Thủy Triều, gồm: Mô hình phục hồi rừng ngập mặn với sự tham gia của chính quyền, cộng đồng (1,2 ha vùng nuôi tôm ở Cam Hòa và 1 ha đìa bỏ hoang tại Cam Hải); mô hình phục hồi rừng ngập mặn với sự tham gia của doanh nghiệp (Nhà máy đường Khánh Hòa) tại 1,5 ha bãi triều Cam Thành Bắc.
Sau 20 tháng trồng, đước đôi có tỷ lệ sống từ 80,33 - 88% (tại Cam Hòa, Cam Hải và Cam Thành Bắc) và mắm trắng (tại Cam Thành Bắc) có tỷ lệ sống 96% sau 7 tháng trồng. Đây là lần đầu tiên tại Khánh Hòa đã thử nghiệm thành công mô hình phục hồi rừng ngập mặn đa loài ở bãi triều được cải tạo thể nền với sự tham gia của doanh nghiệp.
Từ kết quả nghiên cứu, triển khai, TS. Nguyễn Thị Thanh Thủy đề xuất về quản lý 1 ha rừng ngập mặn tự nhiên và 30 ha thảm cỏ biển ở Cam Hải Đông và ưu tiên phục hồi, quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn, thảm cỏ biển tại một số vùng của Khánh Hòa (gồm Khu bảo vệ hệ sinh thái biển Mỹ Ca, vùng phục hồi và quản lý rừng ngập mặn Tân Đảo - Ninh Ích, Khu phục hồi và quản lý hệ sinh thái biển Xuân Tự - Xuân Hà (Vạn Hưng), Khu phục hồi và quản lý hệ sinh thái biển Tuần Lễ - Vạn Hưng.  (Khoa Học Phổ Thông 14/1)đầu trang(
Cả trăm xe tải chở gỗ Lào đang kẹt cứng ở Cửa khẩu quốc tế La Lay (tỉnh Quảng Trị). Một lượng rất lớn gỗ nhập khẩu khác có nguy cơ bị dồn ứ tại các cửa khẩu sau khi Bộ Tài chính yêu cầu phải kiểm tra 100% mặt hàng này.
PV nhận được thông tin từ nhiều doanh nghiệp ở miền Trung, phản ánh việc hàng loạt xe tải chở gỗ nhập khẩu từ Lào bị dồn ứ ở các cửa khẩu. Tình trạng này thậm chí còn có thể kéo dài sau khi Bộ Tài chính có công văn yêu cầu kiểm tra 100% mặt hàng này lúc nhập, xuất khẩu.
Đầu tháng 1/2015, nhóm PV trực tiếp có mặt tại Cửa khẩu quốc tế La Lay (tỉnh Quảng Trị). Tại đây, phóng viên ghi nhận hàng loạt xe tải chở gỗ tròn nối đuôi kéo dài nằm chết dí ở hai đầu cửa khẩu. Nhiều tài xế đành căng bạt dưới gầm xe ăn nghỉ để chờ đợi.
Theo thông tin từ các doanh nghiệp, số gỗ bị dồn ứ tại đây đã gần nửa tháng và vẫn chưa biết lúc nào được thông quan. Lý do là lượng hàng quá lớn, quân số hải quan không thay đổi trong khi yêu cầu của Bộ Tài chính lại phải bốc dỡ, kiểm tra 100% khiến doanh nghiệp thực sự như ngồi trên đống lửa.
Ông Trần Phát Đạt, Chủ tịch Hội doanh nghiệp huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) sốt ruột dẫn đoàn đến mục sở thị lô gỗ đang chết dí đầu cửa khẩu La Lay. 38 xe gỗ của công ty ông về đây từ ngày 29/12/2014 nhưng vẫn dồn ứ, chưa thể thông quan.
“Mỗi ngày tôi mất 2 triệu cho mỗi xe gỗ ở đây và vẫn chưa biết bao giờ mới thông quan được. Đây là lô hàng nhỏ, sắp tới còn những lô hàng lớn với hàng trăm xe gỗ. Cái quan trọng là hàng hóa bị kẹt khiến các kế hoạch sản xuất, hợp đồng với đối tác bị ảnh hưởng. Việc làm của các công nhân, lao động ở đơn vị cũng bị đe dọa nếu nguyên liệu không có để phục vụ sản xuất”, ông Trần Phát Đạt sốt ruột cho biết.
Không riêng gì ông Đạt, nhiều doanh nghiệp khác ở Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Trị... cũng rơi vào cảnh ngồi trên đống lửa khi hàng loạt xe gỗ bị kẹt cứng ở cửa khẩu. Tình hình có thể trở nên căng thẳng khi tết Nguyên đán đã cận kề.
Theo tìm hiểu, ngày 30/12/2014, Bộ Tài chính ban hành công văn số 19128/BTC-TCHQ do Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn ký gửi Cục Hải quan và Cục thuế các tỉnh thành. Công văn về việc ‘Xử lý thuế hàng nhập khẩu nhưng tái xuất quá 365 ngày’ được cho là lý do khiến một lượng lớn gỗ nhập khẩu đang dồn ứ tại La Lay và những nơi khác.
Tại văn bản này, Bộ Tài chính yêu cầu Cục Hải quan các tỉnh không thực hiện hoàn thuế đối với các mặt hàng rượu, bia, thuốc lá, gỗ nhập khẩu sau đó tái xuất nhưng quá hạn 365 ngày. Trong thời hạn 365 ngày, thì phải kiểm tra 100% lô hàng khi nhập khẩu và tái xuất mới xét hoàn thuế cho các mặt hàng này.
Ông Trần Phát Đạt cho biết thêm, công văn nêu trên đang thực sự gây khó cho cả doanh nghiệp và lực lượng hải quan.
“Gỗ là mặt hàng phục vụ sản xuất không chịu thuế nhập khẩu nhưng lại được gộp chung vào với rượu, bia, thuốc lá để quản lý là không đúng với pháp luật hiện hành, cụ thể là Nghị định 87 của Chính phủ. Hai nữa, trong các quy định của Chính phủ về việc hoàn thuế không quy định thời gian, ngày tháng hoàn thuế, bởi việc đó phụ thuộc vào đầu ra của hàng hóa. Nếu không bán được hàng thì đương nhiên hàng bị ứ đọng, thậm chí nhiều năm. Quy định không được hoàn thuế khi quá hạn 365 ngày là phi thực tế và trái luật”, ông Đạt cho biết.
Đáng chú ý, việc Bộ Tài chính yêu cầu phải kiểm tra 100% lô hàng nhập, xuất đã khiến cho các DN phải khóc ròng và cơ quan hải quan cũng rất khó thực thi. Và thực tế đã gây cản trở thông quan hàng hóa, ùn ứ ở cửa khẩu.
“Quy định thông quan hàng hóa chỉ trong thời gian 8 tiếng, nếu lâu hơn thì không quá 2 ngày. Nếu kiểm hóa 100% lô hàng thì sẽ trái với những cải cách hành chính, hải quan điện tử lâu nay đang áp dụng. Những lô hàng lớn buộc phải mất thời gian dài kiểm tra khi DN phải bốc dỡ toàn bộ xuống để cán bộ hải quan kiểm tra từng thanh gỗ. Điều này là không thể thực hiện khi lực lượng, phương tiện, bến bãi hiện nay tại các cửa khẩu không thể đáp ứng. Đề nghị Bộ Tài chính xem xét và sửa đổi”, ông Đạt nói thêm.
Trong khi đó, theo ghi nhận của VietNamNet, lực lượng hải quan tại các cửa khẩu cũng gặp rất nhiều khó khăn với yêu cầu của Bộ Tài chính.
“Nghiệp vụ hải quan có các tiêu chí phân luồng, quan điểm là phải rút ngắn thời gian thông quan ngắn nhất có thể. Xu hướng cải cách thủ tục hành chính của chính phủ cũng như yêu cầu của Tổ chức thương mại thế giới, hải quan thế giới là phải rút ngắn thời gian làm thủ tục”, ông Nguyễn Quang Long, Phó chi cục trưởng Chi cục Hải quan La Lay cho biết.
Theo ông Long, một khi cơ quan quản lý cấp trên có công văn chỉ đạo thì hải quan buộc phải thi hành. Tuy nhiên, ông cho biết thêm thời gian thông quan sẽ phải kéo dài nên việc hàng hóa ách tắc là chuyện tất yếu.
Ông Long cũng cho hay, hiện những vướng mắc, khó khăn khách quan trong quá trình thực hiện chỉ đạo này đã được Chi cục Hải quan La Lay báo cáo lên Cục Hải quan Quảng Trị, và Cục cũng đã có báo cáo gửi Tổng cục Hải quan.
“Thực tế trong quản lý có nhiều văn bản không phù hợp (thực tế) nên mình (hải quan) phản hồi, nếu đúng thì sẽ phải điều chỉnh, sửa đổi. Lực lượng hải quan cũng không phải chỉ xử lý mỗi rượu bia, thuốc lá và gỗ, mà còn rất nhiều công việc quan trọng khác”, ông Long cho biết. (VietnamNet 12/1; Bảo Vệ Pháp Luật 16/1, tr12) đầu trang(
Chiều 13/1, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị triển khai kế hoạch thực hiện Dự án tổng điều tra, quy hoạch rừng. Các ông Hoàng Viết Đường-Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Lê Cao Bính-Phó giám đốc Sở NN&PTNT chủ trì hội nghị.
Theo kế hoạch, dự án sẽ gồm 3 hợp phần gồm: Điều tra rừng, kiểm kê rừng và xây dựng hồ sơ quản lý rừng. Mục đích nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu rừng và đất lâm nghiệp đạt độ tin cậy, chính xác cao, phục vụ tốt cho công tác quy hoạch bảo vệ phát triển rừng và thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn toàn tỉnh.
Bên cạnh đó, qua điều tra, quy hoạch rừng, hệ thống bản đồ, cơ sở dữ liệu được thống nhất về biện pháp kỹ thuật, phần mềm quản lý; hiện trạng rừng được tổng hợp theo loài cây, trữ lượng gắn với chủ quản lý (hộ gia đình, cá nhân, các tổ chức) theo ranh giới xã, huyện, tỉnh.
Dự án chủ yếu đầu tư về kinh phí kiểm kê rừng cho chủ rừng nhóm 1 (hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, UBND xã), còn chủ rừng nhóm 2 (chủ rừng là tổ chức BQL rừng, Công ty lâm nghiệp) chủ yếu hỗ trợ về mặt kỹ thuật. Tổng dự toán được duyệt là trên 38 tỷ 930 triệu đồng, trong đó kiểm kê chủ rừng nhóm 1 (NSNN) trên 26 tỷ đồng (ngân sách T.Ư cấp 70% và ngân sách địa phươg hỗ trợ 30%); kiểm kê chủ rừng nhóm 2 (NSNN, tổ chức) trên 12 tỷ đồng.
Đến nay, các đơn vị liên quan đã triển khai thực hiện một số phần việc quan trọng trong hai hợp phần điều tra và kiểm kê rừng, như: Chuẩn bị các điều kiện về vật tư, thiết bị kỹ thuật, phân công cán bộ kỹ thuật để triển khai tại các địa phương, tiếp nhận hồ sơ tài liệu ranh giới diện tích của các chủ rừng nhóm 2, trong đó tập trung triển khai tại hai huyện điểm Thanh Chương và Nam Đàn; thành lập ban chỉ đạo và tổ kiểm kê rừng cấp tỉnh, ban hành quy chế hoạt động, xây dựng phương án kiểm kê rừng trình UBND tỉnh phê duyệt...
Phát biểu kết luận hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh nêu rõ: Theo kế hoạch của tỉnh, công tác điều tra rừng phải hoàn thành trước 30/4/2015 để bàn giao bản đồ, danh mục lô, phiểu biểu kiểm kê cho tổ kiểm kê rừng cấp tỉnh, huyện, xã thực hiện, đối với hai huyện triển khai thí điểm là Nam Đàn và Thanh Chương phải hoàn thành trước tháng 3/2015.
Việc kiểm kê rừng được thực hiện tại hai huyện điểm vào tháng 4/2015, còn 19 huyện, thành, thị còn lại thực hiện từ tháng 5 đến tháng 9/2015. Để triển khai và hoàn thành đúng kế hoạch, các địa phương và đơn vị liên quan cần tập trung chuẩn bị đầy đủ vật tư, thiết bị; tổ chức tuyên truyền, phổ biến chủ trương và mục đích của kiểm kê rừng đến người dân; rà soát, xác định hệ thống ranh giới rừng và đất rừng... (Báo Nghệ An 13/1) đầu trang(
Thực hiện Đề án 430 về giao rừng, cho thuê rừng, đến nay, toàn tỉnh đã giao 31.201 ha rừng tự nhiên cho cộng đồng dân cư, nhóm hộ, lực lượng vũ trang và hộ gia đình quản lý, bảo vệ, đạt 93,4% kế hoạch của Đề án.
Diện tích và chất lượng rừng giao được đơn vị tư vấn, kiểm lâm viên địa bàn, người nhận rừng, hội đồng giao rừng xã tham gia xác định tại hiện trường, đảm bảo người dân nhận rừng nắm được ranh giới, tình hình rừng được giao.
Cùng với giao rừng, các địa phương tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gắn với rừng trên 50% diện tích rừng đã giao. (Báo Thừa Thiên Huế 13/1) đầu trang(
Ngày 14-1, ông Lê Đức Vinh - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa chủ trì buổi làm việc với Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh để nghe báo cáo việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh.
Đến nay, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh đã ký hợp đồng ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với 1 cơ sở sản xuất thủy điện, 7/10 cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch, 2/5 cơ sở dịch vụ du lịch.
Tính đến ngày 12-1, đã thu được gần 1 tỷ đồng tiền sử dụng dịch vụ môi trường rừng, số tiền chưa thu được theo kế hoạch năm 2014 là gần 5,3 tỷ đồng (do chưa ký được hợp đồng ủy thác, hiện đang chờ UBND tỉnh có ý kiến chỉ đạo).
Năm 2015, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh sẽ tiếp tục đôn đốc các đối tượng sử dụng dịch vụ môi trường rừng kê khai, nộp tiền theo quy định; tiến hành chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho các chủ rừng theo kế hoạch…
Ông Lê Đức Vinh yêu cầu, thời gian tới, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng cần tiếp tục đôn đốc các đơn vị chưa tiến hành việc ký kết hợp đồng ủy thác, chưa nộp tiền dịch vụ môi trường rừng tiếp tục ký kết hợp đồng, nộp tiền chi trả.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát lại những đối tượng phải nộp tiền dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh để tiến hành ký kết hợp đồng và thu tiền, tạo sự công bằng giữa các đơn vị.… (Báo Khánh Hòa 14/1) đầu trang(
Theo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (Sở Nông nghiệp-PTNT) thì Đắk Nông là tỉnh được đánh giá có tiềm năng về thực hiện chính sách chi trả DVMTR với nguồn thu trung bình mỗi năm khoảng 50 tỷ đồng, đứng thứ 5/53 tỉnh, thành phố trong cả nước.
Trong năm 2014, nguồn thu dịch vụ từ lĩnh vực này đã có sự tăng mạnh do làm tốt công tác khảo sát, khai thác tốt nguồn thu theo quy định. Cụ thể, trong năm, toàn tỉnh thu được hơn 65,4 tỷ đồng từ DVMTR, đạt 121% kế hoạch đề ra. Trong đó, thu ủy thác qua quỹ Trung ương là hơn 45,4 tỷ đồng và thu nội tỉnh là 20 tỷ đồng.
Từ nguồn thu này, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh đã đẩy mạnh công tác giải ngân cho các đơn vị chủ rừng kịp thời, đúng đối tượng. Đến nay, đơn vị đã chi trả được 68,7 tỷ đồng cho các chủ rừng thuộc đối tượng thụ hưởng với tổng diện tích rừng nghiệm thu hơn 150.000 ha; trong đó, chi cho 19 đơn vị chủ rừng là đơn vị quốc doanh với số tiền 59,8 tỷ đồng, 21 đơn vị ngoài quốc doanh với số tiền gần 3,7 tỷ đồng, 8 đơn vị chủ rừng là lực lượng vũ trang với số tiền 2,9 tỷ đồng và 34 hộ gia đình cá nhân nhận khoán quản lý rừng với số tiền hơn 271 triệu đồng.
Từ nguồn quỹ này, các đơn vị hưởng lợi đã kịp thời đầu tư cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng như tăng cường lực lượng quản lý, bảo vệ; tuyên truyền, nâng cao nhận thức về quyền lợi, nghĩa vụ về bảo vệ rừng và trồng, chăm sóc rừng…
Đặc biệt, đối với người dân nhận quản lý, bảo vệ rừng thì thu nhập tăng thêm từ nguồn quỹ đã cụ thể hóa giá trị lao động của họ trong nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng, tạo thêm điều kiện, động lực để họ gắn bó với công việc, nhiệm vụ được giao. Còn đối với các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong điều kiện cân đối nguồn kinh phí gặp khó khăn do chủ trương đóng cửa rừng thì đây là nguồn tài chính quan trọng để các đơn vị tiếp tục duy trì hoạt động trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Để phát huy tốt nguồn quỹ đúng mục đích, thời gian qua, ngoài việc tăng cường công tác khảo sát, xác định diện tích rừng thuộc diện chi trả, cơ quan chức năng cũng đã thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát tình hình quản lý, sử dụng nguồn quỹ để kịp thời chấn chỉnh những bất cập như chi sai đối tượng, chậm trễ so với thời gian quy định…
Từ đây, công tác giải ngân nguồn quỹ đã từng bước đi vào nền nếp, đúng tiến độ, kế hoạch. Bên cạnh đó, đối với những trường hợp chưa đáp ứng đủ nguồn, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã tham mưu cho tỉnh sử dụng linh hoạt nguồn quỹ dự phòng để chi tạm ứng cho các đơn vị.
Đơn cử, trong năm 2014, tỉnh đã ứng gần 3 tỷ đồng từ nguồn quỹ dự phòng DVMTR chi cho 7 đơn vị chủ rừng để kịp thời triển khai nhiệm vụ. Đối với đối tượng chi trả tiền dịch vụ, đơn vị thường xuyên đôn đốc công nợ, đồng thời đẩy nhanh tiến độ nghiệm thu số lượng, chất lượng rừng tham gia cung ứng dịch vụ để làm cơ sở cho các đối tượng thực hiện thanh quyết toán.
Có thể thấy, ngoài lợi ích trực tiếp là tăng cường thêm nguồn kinh phí, đằng sau đó thì DVMTR còn khẳng định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của các đối tượng trong khai thác, quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.  (Báo Đắc Nông 14/1) đầu trang(
Tại phân xưởng Công ty TNHH Chế biến gỗ An An đã diễn ra buổi lễ bế giảng khóa đào tạo cho 250 lao động nghề chế biến gỗ năm 2014 do Trung tâm khuyến công và tư vấn phát triển công nghiệp phối hợp với Trường Trung cấp nghề tổ chức.
Khóa đào tạo kéo dài 6 tháng chia làm 2 khóa (khóa 1 từ tháng 6-9, khóa 2 từtháng 9-11), các học viên vừa học vừa thực hành thực tế trên sản phẩm đều này đã tạo điều kiện cho người lao động được tiếp cận sớm nhất với môi trường làm việc, sau khi kết thúc khóa học các học viên được cấp Chứng chỉ nghề căn cứ trên kết quả kiểm tra cuối khóa. Số lao động sau khi hoàn thành khóa đào tạo được nhận vào làm việc tại Công ty với mức lương cơ bản từ 3.5 triệu đến 4 triệu đồng/người/tháng.
Đề án đã góp phầnmang lại hiệu quả kinh tế xã hội một cách thiết thực, trang bị những kiến thức cơ bản cho người lao động, đáp ứng được nhu cầu nhân lực có tay nghề từ chính nhu cầu thực tế của Công ty. (Công Thương 14/1, tr14) đầu trang(
Vừa qua, một số hộ dân ở thôn Thọ Thắng, xã Quỳnh Thọ, huyện Quỳnh Lưu đã có đơn thư phản ánh xưởng chế biến gỗ dân dụng của ông Trần Quang Cừ gây ô nhiễm tiếng ồn và không khí, khiến một số người dân sống xung quanh mắc bệnh lạ và tử vong.
Vậy, thực hư chuyện xưởng gỗ gây chết người tại xã Quỳnh Thọ ra sao, PV đã tìm hiểu sự việc.
Thực hiện phong trào xây dựng làng nghề và làng có nghề, những năm qua, xã Quỳnh Thọ cố gắng xây dựng thôn Thọ Thắng trở thành làng nghề sản xuất mộc dân dụng và mỹ nghệ, tạo việc làm và tăng thu nhập cho bà con. Nắm bắt được chủ trương đó, vào năm 2009, anh Trần Quang Cừ đã xây dựng 1 xưởng chế biến gỗ dân dụng, chuyên sản xuất bàn thờ ông thần tài, thần địa.
Quy mô nhà xưởng của gia đình rộng khoảng 900 m2, tạo việc làm thường xuyên cho 30 công nhân với mức lương 3 triệu đồng/người/tháng. Công suất chế biến hàng năm đạt khoảng 50 - 60 m3 gỗ.
Tuy nhiên, thời gian gần đây, nhiều hộ dân trên địa bàn phản ánh, xưởng gỗ của anh Cừ hoạt động hết công suất, các loại máy kêu rú, gây tiếng ồn nghiêm trọng, ảnh hưởng các hộ dân ở xung quanh. Đặc biệt là ảnh hưởng đến việc học tập và nghỉ ngơi của các cháu đang học tại Trường Mầm non Quỳnh Thọ nằm ngay cạnh xưởng gỗ. Cá biệt, có trường hợp chị Trần Thị Hằng còn gửi đơn lên các cấp, tố cáo chồng chị chết là do hít phải khí độc của xưởng gỗ. Tuy nhiên, khi xác nhận thông tin tại Công an xã Quỳnh Thọ, sự việc chưa tới mức nghiêm trọng như vậy.
Ông Hồ Văn Quang, Trưởng Công an xã Quỳnh Thọ cho biết: “Có một số ý kiến phản ánh của cử tri về xưởng chế biến gỗ của anh Cừ gây tiếng ồn, thậm chí làm chết người. Thực tế, sau khi có phản ánh, UBND xã Quỳnh Thọ đã thành lập Đoàn kiểm tra và làm việc với anh Cừ.
Qua kiểm tra một số điểm tồn tại, UBND xã đã giao anh Cừ phải tìm cách khắc phục như nâng tường rào lên cao, bắn lưới tôn để che chắn bụi và nâng ống khói của lò sấy gỗ lên cao 13 m. Tuy nhiên, khi đi kiểm tra thực tế và qua thông tin phản ánh của nhân dân thì thấy, việc sản xuất tại xưởng gỗ anh Cừ vẫn ít nhiều gây tiếng ồn và khí bụi. Nhưng mức độ để dẫn đến chết người thì chưa có cơ sở pháp lý để xác định”.
Theo quan sát của PV tại hiện trường, xưởng mộc nhà anh Cừ chỉ sản xuất gỗ thô sau đó chuyển sản phẩm ra cơ sở 1 tại TP Hà Nội để trang trí. Cơ sở của anh không phun hóa chất hay dầu vécni nên chuyện ông Trần Văn Vịnh (chồng chị Trần Thị Hằng), hàng xóm anh Cừ chết do hít phải khí độc từ xưởng gỗ là không có cơ sở. Còn về việc ô nhiễm khí bụi và tiếng ồn thì ngay khi nhận được ý kiến phản ánh của người dân, anh Cừ đã cho lắp đặt 2 hệ thống hầm hút bụi, mạt gỗ.
Hệ thống hầm hút bụi này có thể hút được khoảng 80% bụi gỗ nên đã phần nào khắc phục được tình trạng không khí bị nhiễm bụi. Bên cạnh đó, anh Cừ cũng đã đóng mái tôn sắt che kín tường bao để giảm thiểu ô nhiễm tiếng ồn của các loại máy cưa. Cùng với đó, xưởng gỗ cũng quy định lại giờ làm việc đối với công nhân, buổi sáng từ 7 - 11 giờ và chiều từ 14 - 17 giờ để tránh gây tiếng ồn, làm ảnh hưởng đến giờ ăn nghỉ của các cháu học tại Trường Mầm non Quỳnh Thọ.
Trao đổi với PV, anh Cừ, chủ xưởng gỗ Thơ Cừ, thôn Thọ Thắng, xã Quỳnh Thọ cho biết: “Ở đây là cơ sở 2 chứ không phải cơ sở 1 nên không có việc sản xuất phun sơn. Bởi vậy, chuyện gây khí độc là không có. Còn ai sống cũng phải làm ăn, người làm việc này, người làm việc khác. Cơ sở của chúng tôi là một cơ sở sản xuất đơn thuần như bao cơ sở khác của làng nghề. Bây giờ tôi nói làm gỗ mà không ảnh hưởng thì không phải. Nhưng trong quy trình sản xuất, làm sai ở đâu ta khắc phục ở đó. Còn việc ô nhiễm tiếng ồn, khí bụi cơ sở cũng đã khắc phục trong khả năng có thể”.
Như vậy, chuyện xưởng gỗ gây ô nhiễm khí độc làm chết người ở xã Quỳnh Thọ là chưa có cơ sở. Tuy nhiên, đã hoạt động chế biến gỗ thì việc ô nhiễm tiếng ồn và khí bụi là không thể tránh khỏi. Bản thân anh Cừ và hơn 10 cơ sở sản xuất đồ mộc tại làng nghề Thọ Thắng cũng biết điều đó. Thế nhưng, vì “miếng cơm manh áo”, họ vẫn phải sản xuất.
Thiết nghĩ, để giải quyết “bài toán” này, các cấp, các ngành ở huyện Quỳnh Lưu cần có phương án cụ thể, quy hoạch hệ thống làng nghề xa khu dân cư để vừa phát triển kinh tế địa phương, đồng thời cũng bảo vệ cuộc sống cho nhân dân. (Công An Nghệ An 14/1) đầu trang(
Năm 2014 xã An Tân đã trồng 50/40 ha rừng đạt 125% so với kế hoạch của UBND xã đề ra. Qua kiểm tra tỷ lệ cây trồng sống chiếm 85%. Nhờ chăm sóc tốt rừng trồng trong những năm trước, năm 2014 một số hộ dan trên địa bàn xã đã có thu nhập cao từ việc khai thác rừng trồng.
Trong năm toàn xã đã khai thác 1.187 ha keo lai, 30,5m3  cây sầu đâu. Bên cạnh đó ngay từ đầu năm UBND xã đã kiện toàn BCĐ phòng cháy, chữa cháy rừng từ xã đến thôn, tiến hành quy hoạch , bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2020, tiến hành kiểm tra, xử lý tình hình phát rừng làm rẫy lấn chiếm đất lâm nghiệp tại 2 tiểu khu 22 và 33.
Qua kiểm tra đã xác định 8 đối tượng vi phạm lấn chiếm đất lâm nghiệp tại 2 tiêu khu 22 và 33  với diện tích 8,1ha, xử lý hành chính 8/8 trường hợp với số tiền 7.700.000đ nộp vào ngân sách xã. Việc thực hiện cấp giấy Chứng nhận quyền sử dựng đất lâm nghiệp cũng được nâng cao.
Trong năm đã có 19 hồ sơ xin cấp giấy hiện nay đã xét duyệt 15 hồ sơ đủ điều kiện với diện tích 23ha. (Anlao.binhdinh.gov.vn 13/1) đầu trang(
Những năm gần đây, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Bông (Công ty Lâm nghiệp Krông Bông) đã tiến hành thuê đất trống, đồi trọc của người dân địa phương để trồng rừng nguyên liệu; việc làm này bước đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế cho cả doanh nghiệp và người dân có đất cho thuê.
Công ty Lâm nghiệp Krông Bông được Nhà nước giao quản lý và bảo vệ gần 28,5 nghìn ha rừng, trong đó rừng sản xuất là trên 19,4 nghìn ha, còn lại là rừng phòng hộ. Những năm qua, ngoài việc thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng thì công ty còn tiến hành trồng rừng nguyên liệu nhằm tạo thêm nguồn thu cho đơn vị; tạo thêm công ăn việc làm cho cán bộ nhân viên viên Công ty và những hộ dân sống gần rừng.
Trước đây, công ty thực hiện việc liên kết trồng rừng với các hộ dân địa phương. Nhưng việc liên kết này phát sinh nhiều “rắc rối” cho cả doanh nghiệp lẫn người dân nên từ năm 2009,  Công ty bắt đầu chuyển sang thuê đất của người dân tại địa phương để trồng rừng.
Theo đó, Công ty đã thỏa thuận thuê đất trống, đồi trọc của người dân đang bỏ hoang với giá từ 6-10 triệu đồng /ha tùy từng loại đất trong thời gian 10 năm để trồng rừng nguyên liệu. Tính đến nay, Công ty đã thuê được hơn 1.000ha đất của một số hộ dân ở các xã Yang Mao, Hòa Phong, Cư Pui, Cư Drăm, Dang Kang ...
Việc cho doanh nghiệp thuê đất đã mang lại nhiều lợi ích cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương. Các hộ có đất cho thuê có thêm một khoản tiền kha khá ngay để mua phân bón, vật nuôi hay đầu tư cho con cái ăn học. Công ty cũng tạo việc làm lúc nông nhàn cho các hộ, bằng cách khoán trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng trên chính diện tích đất mà họ đã cho thuê.
Việc trồng cây keo lai có tác dụng cải tạo đất rất tốt, nên sau 1 hoặc 2 chu kỳ người dân có thể nhận lại đất đã cho thuê để phát triển sản xuất. Gia đình ông Nguyễn Đình Chiến ở  xã Dang Kang (huyện Krông Bông) có hơn 5 ha đất sản xuất, trong đó, 3 ha ta là đất đồi dốc trồng hoa màu nhưng kém hiệu quả. Khi Công ty Lâm nghiệp Krông Bông có chủ trương thuê đất để trồng rừng sản xuất thì gia đình ông đã làm đơn cho thuê lại diện tích đất bạc màu này và được Công ty thanh toán tiền đầy đủ một lần.
“Với  30 triệu đồng từ tiền cho công ty thuê đất, tôi đã đầu tư mua phân bón, heo, gà về để chăm bón cây trồng và phát triển chăn nuôi. Sau 2 luân kỳ (10 năm), tôi sẽ nhận lại đất từ công ty để tiếp tục canh tác vì đất đã được cải tạo màu mỡ”, ông Chiến cho biết.
Anh Bùi Văn Hưng, Trưởng phòng Trồng trọt Công ty nhận định: “Diện tích đất bạc màu khi trồng cây keo sẽ góp phần chống xói mòn, cải tạo đất, sau khi hết thời gian cho công ty thuê đất người dân có thể canh tác hoa màu hiệu quả cao hơn trên diện tích đất này. Ngoài ra, một héc-ta rừng trồng nguyên liệu trong một luân kỳ 5 năm (từ khi trồng cho đến khi thu hoạch) cần đến 200 ngày công lao động, do đó với diện tích hơn 1.700ha rừng nguyên liệu của công ty đã tạo ra nhiều việc làm cho nhiều lao động ở địa phương”.
Ông Y Bê, Buôn phó buôn Tliêr (xã Hòa Phong) hợp đồng với công ty chăm sóc bảo vệ 301 ha rừng trồng. Với diện tích này, ông thuê lại những người dân trong buôn đi làm. “ Mỗi ngày công lao động bà con được trả từ 110-130 ngàn đồng ngày. Công việc nhận chăm sóc rừng trồng cho Công ty đã tạo thêm việc làm cho bà con trong buôn, góp phần cải thiện cuộc sống” - ông Y Bê phấn khởi khoe.
Theo tính toán của Công ty, sản lượng gỗ của 1ha keo lai sau một chu kỳ kinh doanh (5 năm) từ 120 - 150 m3. Với giá bán ở thời điểm hiện tại khoảng từ 50-55 triệu đồng/ha, sau khi trừ chi phí còn lãi khoảng trên 7-10 triệu đồng. Hiện nay, Công ty có hơn 1.700 ha rừng trồng nguyên liệu (gồm thuê của dân 1.000ha và 700ha đất của Công ty) mỗi năm công ty khai thác khoảng được 300 ha rừng, mang lại doanh thu gần 3 tỷ đồng.
Ông Bùi Quốc Tuấn - Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Krông Bông khẳng định:  “Thuê đất của người dân để trồng rừng sản xuất là điểm khác biệt so với các công ty lâm nghiệp khác trên địa bàn tỉnh. Việc thuê đất trồng rừng của Công ty Lâm nghiệp Krông Bông đã nhận được sự đồng thuận cao của chính quyền địa phương và người dân vì nó mang lại lợi ích cho các bên”. (Báo Đắc Lắc 14/1) đầu trang(
Ngày 14/1, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Huỳnh Khánh Toàn thống nhất giao cho Ban quản lý dự án trồng rừng huyện Thăng Bình triển khai trồng rừng bổ sung diện tích rừng trồng dự án PACSA không thành rừng tại thôn Nghĩa Hòa, xã Bình Nam, huyện Thăng Bình (đã được UBND tỉnh giao tại Công văn số 3930/UBND-KTN ngày 10/10/2013) để thay thế diện tích rừng chuyển mục đích sử dụng xây dựng thủy điện Tà Vi.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Ban quản lý dự án trồng rừng huyện Thăng Bình khẩn trương phối hợp với Chi cục Lâm nghiệp xây dựng hồ sơ thiết kế - dự toán trồng rừng trình cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt để kịp triển khai trong mùa vụ trồng rừng đầu năm 2015.
Công ty TNHH Nước Vin có trách nhiệm nộp tiền trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển mục đích sử dụng xây dựng thủy điện Tà Vi (theo hồ sơ thiết kế - dự toán được duyệt) về Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh để cấp phát cho đơn vị thi công triển khai trồng rừng kịp thời vụ.
Sở Nông nghiệp và PTNT chịu trách nhiệm phê duyệt hồ sơ thiết kế - dự toán trồng rừng đảm bảo theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước; đồng thời, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai trồng rừng nêu trên theo đúng quy định, yêu cầu kỹ thuật, chất lượng và tiến độ đề ra. (Quangnam.gov.vn 14/1) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Một tòa án ở Kenya vừa tuyên xử một người đàn ông Việt tên Bui Dong 5 năm tù giam về tội sở hữu trái phép một số bộ phận động vật hoang dã.
Tân Hoa xã hôm 4.1 dẫn lời giới công tố Kenya cho hay Dong bị bắt trong lúc qua cổng kiểm tra an ninh tại một sân bay ở Kenya hồi năm ngoái để bay đến thủ đô Bangkok của Thái Lan. Khi đó, giới chức an ninh đã phát hiện Dong mang theo 2 miếng da voi và 2 răng sư tử.
Dong có thể không ngồi tù nếu chịu nộp phạt khoảng 11.000 USD (hơn 234 triệu đồng). Đối tượng săn thú trái phép thường giết voi và tê giác để lấy ngà, sừng và bán lại cho những người muốn làm đồ trang sức hoặc thuốc trị bệnh.
Nạn giết voi, tê giác và những động vật hoang dã khác đang gây ra tác hại lớn tới ngành du lịch của những quốc gia châu Phi như Kenya nên giới chức đã tăng cường giám sát đối tượng buôn lậu động vật hoang dã. (Thanh Niên 14/1) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng