|
Ngày 16 tháng 01 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Ngày 15-1, một nguồn tin cho biết về vụ phá rừng có dấu hiệu bảo kê ở khu vực rừng Nà Dệt, Giếng Cọp mà đã phản ánh, đoàn kiểm tra liên ngành, Sở NN&PTNT tỉnh Bình Thuận vừa có báo cáo ban đầu về vụ phá rừng nghiêm trọng này.
Theo báo cáo, vụ phá rừng có dấu hiệu hình sự nên Sở kiến nghị UBND tỉnh thống nhất chuyển hồ sơ cho công an giải quyết theo thẩm quyền.
Kiểm tra thực địa, đoàn kiểm tra liên ngành xác định có hơn 1.000 cây gỗ bị triệt hạ trên diện tích 38 ha ở khu vực Nà Dệt, đồi Vĩ Sắt, Giếng Cọp và Tà Nớ. Các khu vực này nằm trên địa bàn xã Hàm Thạnh, Hàm Cần của huyện Hàm Thuận Nam.
Toàn bộ gỗ bị hạ đều là cây rừng tự nhiên thuộc lâm phần quản lý của Công ty TNHH Lâm nghiệp Bình Thuận. Thế nhưng trong suốt thời gian dài, đơn vị trực tiếp quản lý là Xí nghiệp lâm nghiệp Hàm Thuận Nam không có báo cáo nào về vụ phá rừng.
Đoàn kiểm tra đã làm việc với ông Lê Văn Tuân (ngụ Gia An, Tánh Linh). Ông Tuân thừa nhận đã trực tiếp thuê, trả tiền cho thợ cưa, người bốc vác để hạ rừng tại bốn khu vực trên. Tuy nhiên, ông cũng chỉ là người làm thuê theo giao khoán của ông Trần Hải Dương, nhân viên Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Móng Ca Pét.
Theo thỏa thuận, ông cưa hạ toàn bộ những cây gỗ có đường kính từ 6 cm trở lên, không phân biệt gỗ gì. Cây rừng sau khi triệt hạ được cắt khúc theo quy cách 80-85 cm rồi dùng xe cải tiến chở ra bãi tập kết ở đầu bìa rừng, sau đó xe tải vào chở đi tiêu thụ. Lượng gỗ mà các thợ cưa của ông đốn hạ, cắt khúc cho ông Dương khoảng 680 ster.
Ông Tuân và một số lâm tặc cũng khai nhận: Thỉnh thoảng ông Ngô Văn Phong, Phó Giám đốc Xí nghiệp lâm nghiệp Hàm Thuận Nam, và nhân viên có đến khu vực khai thác để giám sát, không cho cưa hạ cây thuộc lâm phần của Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Móng Ca Pét nằm giáp ranh.
Một điều trùng hợp khác là trong thời gian đoàn kiểm tra liên ngành xác minh vụ phá rừng trên thì Đội Cảnh sát kinh tế Công an huyện Hàm Thuận Nam cung cấp hồ sơ liên quan đến ông Đinh Lê Giang, cán bộ kiểm lâm thuộc Đội Kiểm lâm cơ động Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Thuận.
Theo khai nhận của ông Giang, trong tháng 10 và 11-2012, ông có đến khu vực rừng bị triệt hạ thỏa thuận mua gỗ loại nhỏ của ông Dương để bán chất đốt. Tổng cộng ông đã mua của ông Dương gần 200 ster củi, vận chuyển 13 chuyến bằng xe tải mang về Phan Thiết bán cho một doanh nghiệp.
Trong thời gian vận chuyển, xe tải 60N-1985 do ông Giang thuê chở gỗ bị Công an huyện Hàm Thuận Nam bắt giữ vì vận chuyển lâm sản trái phép. Truy tìm nguồn gốc lâm sản, Công an huyện Hàm Thuận Nam đã triệu tập ông Ngô Văn Phong, Phó Giám đốc Xí nghiệp lâm nghiệp Hàm Thuận Nam, đến làm việc. Ông Phong thừa nhận thiếu trách nhiệm để rừng bị phá và cam đoan sẽ tăng cường giám sát, không để xảy ra việc phá rừng tương tự.
Tuy nhiên, theo Sở NN&PTNT, sau đó việc khai thác trái phép vẫn tiếp diễn trên địa bàn do ông Phong phụ trách. Theo báo cáo, ông Phong đã buông lỏng quản lý để các đối tượng thực hiện hành vi vi phạm trong thời gian dài, gây thiệt hại nghiêm trọng tài nguyên rừng và có dấu hiệu liên quan với các đối tượng tổ chức phá rừng, khai thác lâm sản trái phép.
Về lời khai “thỉnh thoảng ông Phong và nhân viên có đến khu vực khai thác để giám sát” của ông Tuân và một số lâm tặc với đoàn kiểm tra, ông Phong đã phủ nhận.
Tương tự, ông Trần Hải Dương, nhân viên Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Móng Ca Pét, cũng không thừa nhận đứng ra thuê lâm tặc triệt hạ rừng trái phép, bán gỗ cho kiểm lâm Đinh Lê Giang. Theo đoàn kiểm tra, với thẩm quyền, nghiệp vụ, đoàn kiểm tra chưa đủ cơ sở để kết luận lâm tặc và cán bộ bảo vệ rừng móc nối phá rừng nên cần chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để làm rõ.
Theo Sở NN&PTNT, để xảy ra vụ việc, trách nhiệm chính thuộc về Xí nghiệp lâm nghiệp Hàm Thuận Nam và Công ty TNHH Lâm nghiệp Bình Thuận nên cần xử lý theo quy định. Riêng hành vi mua bán lâm sản trái phép của ông Đinh Lê Giang, Sở NN&PTNT sẽ chỉ đạo kiểm điểm, xử lý theo thẩm quyền. (Pháp Luật TP.HCM 16/1) đầu trang(
Với đề án “Cải tạo thay thế cây xanh đô thị”, lần đầu tiên, Hà Nội sẽ thực hiện công tác chỉnh trang hệ thống cây xanh một cách đồng bộ và bài bản…
Theo thống kê của Sở Xây dựng, cây xanh Hà Nội được trồng trên 500 tuyến phố và có tới hơn 100 chủng loại. Trước đây, có những tuyến phố như Lý Thường Kiệt, Hai Bà Trưng - vốn được coi là có hệ thống cây xanh đẹp - nhưng cũng có tới 20 loài khác nhau. Ngoài những loại vốn quen thuộc như sấu, xà cừ cổ thụ, còn rất nhiều loại không có trong danh mục như dâu da, đề, bông gòn, dướng, vống, muồng, nhội…
Không chỉ “thập cẩm” về chủng loại, những cây này cũng “lôm côm” về kích thước, “nhấp nhô” về chiều cao gây mất mỹ quan đô thị. Thậm chí nhiều cây còn có dáng nghiêng, đổ, nguy cơ bật gốc rất cao vì rễ ăn nổi và dễ bị sâu mọt. Bên cạnh đó, việc quản lý chăm sóc hay cắt tỉa những cây này cũng khó khăn và tốn kém. Tình trạng này diễn ra ở hầu hết các tuyến phố do người dân trồng tự phát hoặc việc thay thế các cây bị gãy đổ thiếu quy hoạch, thống nhất.
Ông Nguyễn Xuân Hưng - Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Công viên cây xanh cho biết, 9 quận nội thành hiện có hơn 44 nghìn cây các loại. Trong đó, xà cừ vốn là loại cây xanh lâu năm quen thuộc của Hà Nội nhưng lại có bộ rễ chùm rất tốn đất và dễ bị đổ khi gặp gió lớn.
Rễ cây này còn bị xâm hại khi nhiều đơn vị chức năng thực hiện cải tạo lòng đường, vỉa hè, làm các tuyến cống hoặc đặt cáp ngầm. Người dân xây dựng nhà cửa cũng khiến các cây này xu hướng ngả ra lòng đường. “Đây chính là lý do để Công ty công viên cây xanh rà soát, đề xuất thay thế dần các cây xanh không đảm bảo an toàn cho dù đó là những cây cổ thụ lâu năm” - ông Nguyễn Xuân Hưng nói.
Cũng theo ông Nguyễn Xuân Hưng, những cây xanh cần được thay thế không thuộc nhóm các loại cây trồng trong đô thị. Ví dụ, đường Nguyễn Trãi hiện có gần 600 cây được trồng ven đường và dải phân cách thì ngoài xà cừ còn có cả keo, bàng, dâu da, trứng cá, xoan. Đây là những loại cây giòn, dễ gãy, sâu mục, ảnh hưởng đến ATGT và mất mỹ quan đô thị.
Theo đề án “Cải tạo thay thế cây xanh đô thị”, tất cả những cây xanh không đúng chủng loại cây đô thị, không theo quy hoạch của tuyến phố, cây nghiêng, đổ, cong, xấu hoặc cản trở giao thông sẽ được chặt hạ và thay thế. Cây thay thế phải đảm bảo một số yêu cầu như: Cao từ 6-8m, có đường kính tối thiểu 10cm, dáng cây phải thẳng, phân cành cao, cân đối, không sâu bệnh, hoa đẹp, chịu được thời tiết khắc nghiệt và ít rụng lá trơ cành, xanh tốt quanh năm. Với những tuyến phố có chiều dài dưới 2km, chỉ trồng 1 loại cây. Nếu dài trên 2km, có thể trồng 2 loại nhưng tùy theo cung đường.
Cũng theo đề án này, đã có gần 300 trong tổng số hơn 500 cây trên tuyến đường Nguyễn Trãi - Trần Phú được thay thế, 80 cây không phù hợp về kích thước, chủng loại được đánh về vườn ươm Cầu Diễn để tiếp tục chăm sóc, phục hồi.
Tuy nhiên, theo Công ty Công viên cây xanh, quá trình thực hiện đề án của thành phố đang bị chậm tiến độ do vấp phải sự phản đối của một số hộ dân. Cụ thể tại tuyến đường Nguyễn Trãi, có 23 vị trí công nhân của Công ty không thể thực hiện được do người dân không đồng thuận.
Trong thời gian tới, Công ty Công viên cây xanh sẽ phối hợp với các đơn vị liên quan để hoàn thành trước Tết Âm lịch việc chặt hạ và thay thế cây xanh trên tuyến phố Huế - Hàng Bài (127 cây), tuyến phố Nguyễn Chí Thanh (96 cây). Tất cả những cây này đều được thay thế hoàn toàn bằng cây giáng hương. Chặt hạ xong, sẽ thực hiện ngay công tác trồng cây, bó vỉa gốc cây để đảm bảo mỹ quan đô thị. (An Ninh Thủ Đô 16/1, tr12) đầu trang(
Tỉnh Hòa Bình hiện có 134.960,1 ha rừng tự nhiên, trong đó, vùng trọng điểm cháy rừng ở cấp độ cực kỳ nguy hiểm là 68.464 ha, cấp độ nguy hiểm là 123.958 ha.
Hiện nay, thời tiết đang bước vào mùa hành khô, cùng với thói quen đốt nương làm rẫy và xử lý thực bì không đúng quy định của người dân, nguy cơ cháy rừng luôn tiềm ẩn đối với nhiều cánh rừng trên.
Theo các cơ quan chức năng của tỉnh Hòa Bình, thời điểm dễ xảy ra cháy rừng trên địa bàn tỉnh thường kéo dài 6 tháng, bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau. Thậm chí nguy cơ cháy rừng có thể xảy ra vào tháng 5 hoặc tháng 6 của năm sau, vì đây là thời điểm chuyển mùa thời tiết vẫn còn khô hạn.
Ông Lê Minh Thủy, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Hòa Bình cho biết, lượng mưa liên tiếp từ ngày 9 - 11/1 đã xua đi nguy cơ cháy rừng cấp độ 5 ở các huyện Đà Bắc và Mai Châu.
Tuy nhiên, vẫn phải đề cao cảnh giác vì trên địa bàn tỉnh còn 5.870,7 ha rừng tre nứa rất dễ cháy, rừng trồng có 104.972,7 ha, trong đó còn nhiều diện tích rừng mới trồng từ 1 - 3 năm, cây chưa khép tán, cộng thêm thảm thực bị bì xâm lấn. Thời tiết đang bước vào mùa hanh khô, người dân vẫn phát nương đốt rẫy tự phát, nên nguy cơ cháy rừng còn tiềm ẩn cao.
Ông Nguyễn Văn Đinh, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Đà Bắc cho biết, ngoài việc tuyên truyền kịp thời và thường xuyên tới người dân và các chủ rừng, cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn và chính quyền cơ sở, trưởng xóm phải phối hợp chặt chẽ giám sát việc đốt nương làm rẫy của người dân, đặc biệt là ở các cánh rừng trồng giang, trồng nứa của người dân.
Trong điều kiện chưa đủ kinh phí để làm các đường băng trắng cản lửa, việc làm này phải được tiến hành thường xuyên, quy trách nhiệm của cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn nếu để xảy ra cháy rừng.
Khó khăn trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng hiện nay của Hòa Bình là địa hình hiểm trở, phương thức canh tác trồng rừng lạc hậu và kinh phí thấp. Do đó chưa thu hút được người dân tham gia quản lý, bảo vệ rừng.
Diện tích rừng trồng thường nhỏ lẻ, do vậy nếu để mỗi chủ rừng tự đầu tư xây dựng công trình phòng cháy chữa cháy rừng là điều rất khó thực hiện. Theo số liệu thống kê của Chi cục kiểm lâm tỉnh Hòa Bình, từ năm 2003 đến nay, Hòa Bình đã xảy ra 85 vụ cháy rừng, gây thiệt hại khoảng 504 ha rừng các loại.
Ông Nguyễn Văn Dũng, Trưởng Ban chỉ đạo kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Hòa Bình, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho biết, sẽ tập trung chỉ đạo lực lượng kiểm lâm thực hiện trọng tâm 3 nhóm chỉ tiêu cụ thể, xây dựng hệ thống công trình phòng cháy chữa cháy rừng cho cả 3 loại rừng với tổng diện tích 239.932,8 ha, tập trung ở 150 xã có rừng dễ cháy.
Trong các nhóm giải pháp thực hiện phương án phòng cháy chữa cháy rừng của tỉnh sẽ đảm bảo cả về chính sách, giải pháp khoa học công nghệ và đổi mới hình thức tuyên truyền tới mọi tầng lớp nhân dân, đồng thời thành lập lực lượng phòng cháy chữa cháy rừng từ cấp tỉnh đến cơ sở. (Tin Tức 16/1) đầu trang(
Hiện Tây Nguyên bắt đầu bước vào mùa nắng nóng nên UBND tỉnh đã chỉ đạo các địa phương, chủ rừng chủ động triển khai các biện pháp phòng chống cháy rừng, đặc biệt đối với 300.000 ha rừng thuộc những vùng trọng điểm dễ cháy.
Tỉnh đã củng cố trên 82 Ban phát triển rừng và 580 tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng các địa phương, đồng thời, tổ chức tuyên truyền, ký cam kết với các gia đình đồng bào các dân tộc thiểu số ở gần rừng, trong rừng thực hiện các biện pháp phòng chống cháy rừng, phát triển rừng, thu gom các vật liệu dễ cháy.
Các địa phương, chủ rừng trên địa bàn đã đầu tư tu bổ, sửa chữa, làm mới hàng trăm ki-lô-mét đường băng cản lửa và hàng chục chòi canh, cọc tiêu, biển báo phòng chống cháy rừng.
Tại các vùng rừng trọng điểm dễ cháy, các địa phương, chủ rừng bố trí người trực 24/24 giờ để khi phát hiện sự cố có biện pháp khoanh vùng, chống cháy kịp thời. (Công An TP.Đà Nẵng 15/1) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm đánh giá: Đến hết ngày 12-1, toàn tỉnh đã có nhiều ngày dài không mưa, thời tiết khô hanh kéo dài, có nguy cơ xảy ra cháy rừng cấp V - cấp cực kỳ nguy hiểm.
Các khu vực có nguy cơ cháy rừng cao là Lộc Ninh, Bù Đăng, Phước Long, Bình Long, Đồng Phú. Ở các khu vực này nếu xảy ra cháy rừng đều dễ bắt lửa và tốc độ lan rất nhanh, khó kiểm soát.
Chi cục kiểm lâm đã yêu cầu các đơn vị chủ rừng tổ chức thực hiện tốt phương châm 4 tại chỗ: Lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ và chỉ huy tại chỗ. Ngoài ra, để sẵn sàng ứng phó khi tình huống xấu xảy ra, ngành kiểm lâm đã thực hiện xong các công trình phòng chống cháy rừng như đường băng cản lửa, hố chứa nước, kênh mương cản lửa, chủ động trước các điều kiện nhằm hạn chế thấp nhất tình trạng cháy rừng có thể xảy ra.
3 tỉnh khác trong khu vực Tây Nguyên và Đông Nam bộ cũng đang đối mặt với nguy cơ cháy rừng cấp V là Đắk Lắk, Đồng Nai và Bình Thuận. (Báo Bình Phước 15/1) đầu trang(
Ngày 12/12/2014, Ban quản lý rừng phòng hộ Yên Thành, tỉnh Nghệ An có báo cáo về tình trạng có một nhóm quặng tặc hoạt động tinh vi vào ban đêm nhằm tránh cơ quan chức năng.
Cụ thể, trong thời gian cuối năm 2014, đầu năm 2015, tình trạng khai thác khoáng sản trái phép tại khu vực đồi Kên Kên (thuộc tiểu khu 877A, khoảnh 2, lô 1 - Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Yên Thành), thuộc địa bàn quản lý hành chính xã Tiến Thành diễn ra khá phức tạp.
Và mới đây nhất vào ngày 10/12/2014, Ban quản lý rừng phòng hộ Yên Thành đã phối hợp với Công an xã Tiến Thành kiểm tra hiện trường. Qua kiểm, đột nhập đột xuất cơ quan chức năng đã phát hiện tại hiện trường, ngoài những hầm hố cũ, các đối tượng quặng tặc tiếp tục đào bới thêm trên một số diện tích mới khác của vùng đồi Kên Kên.
Các đối tượng đào thêm 3 hầm khác nhau, đi sâu vào lòng núi gần 6m, rộng 1m, cao 1m đồng thời phát hiện 80 bao xi măng đựng đất có lẫn khoáng sản được cất dấu tại lán trại gần đó của hộ gia đình ông Trần Vũ Lai (chủ rừng sát khu vực khai thác).
Ngay lập tức, đoàn công tác đã tiến hành tháo dỡ lán trại, tịch thu một số dụng cụ và vứt bỏ số bao bì nói trên. Ban quản lý rừng phòng hộ Yên Thành cho biết, khu vực khai thác thường có gần 10 người do ông Trần Văn Lợi (trú xã Phúc Thành) cầm đầu tổ chức khai thác. Sau đó vận chuyển bằng xe máy số khoáng sản nói trên đến nhà ông Lợi (tại xóm Liên Sơn, xã Phúc Thành).
Cũng trong báo cáo này ghi: Theo nhận định thì vấn đề khai thác khoáng sản trái phép tiếp tục hoạt động theo chiều hướng phức tạp, ngoài những đối tượng nói trên còn nhiều đối tượng khác cùng thực hiện khai thác khoáng sản trái phép nên có khả năng sẽ xảy ra tranh chấp và gây mất an ninh trật tự trên địa bàn.
Ngày 14/1/2015, trao đổi với PV Dân trí, ông Phan Tiến Sỹ - Trưởng ban quản lý rừng phòng hộ Yên Thành, cho biết: “Tình trạng khai thác khoáng sản trái phép nói trên là có thật. Tuy nhiên những năm trước thì khá nhiều. Nhưng hiện còn một số hộ dân khai thác nhỏ lẻ và đã bị cơ quan chức năng vào cuộc nên đã giảm hẳn. Hiện khu vực đất đồi Kên Kên đã được phê duyệt cho một dự án trồng nguyên liệu”. (Dân Trí 14/1) đầu trang(
Trong thời gian gần đây, có nhiều cơ sở nuôi động vật hoang dã hung dữ như voi, hổ, gấu, cá sấu, trăn, rắn trên toàn quốc không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, không thực hiện đúng các quy trình về quản lý, nuôi, chăm sóc, đã đe doạ đến tính mạng, an toàn của người dân. Đặc biệt có một số cơ sở đã để động vật hoang dã tấn công gây thương vong cho người.
Để ngăn chặn tình trạng này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa gửi Chỉ thị 393 tới các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng địa phương thực hiện các giải pháp tạo sự chuyển biến tích cực trong quản lý các trại nuôi, hoạt động mua bán, sử dụng động vật hoang dã.
Các địa phương tổ chức kiểm tra, rà soát toàn bộ các cơ sở nuôi động vật hoang dã hung dữ đặc biệt là đối với những loài như voi, hổ, gấu, cá sấu, trăn, rắn trên địa bàn, bao gồm cả những cơ sở là vườn thú, biểu diễn xiếc; kiên quyết thu hồi giấy chứng nhận đăng ký trại nuôi và tịch thu những các thể động vật hoang dã hung dữ của những cơ sở không đảm bảo yêu cầu về an toàn, tiêu chuẩn chuồng trại theo quy định.
Quy hoạch các cơ sở nuôi động vật hoang dã trên địa bàn, từng bước di dời các trại nuôi động vật hoang dã hung dữ ra khỏi khu dân cư và những nơi có nguy cơ bị ảnh hưởng do thiên tai, làm động vật sổng ra ngoài môi trường có kiểm soát.
Thường xuyên tổ chức các đợt kiểm tra, giám sát, phát hiện kịp thời, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, nuôi, mua, bán, vận chuyển, sử dụng trái phép động vật hoang dã.
Ban hành quy định cụ thể về điều kiện nuôi các loài động vật hoang dã, trong đó có các biện pháp phòng ngừa rủi ro phù hợp với thực tế địa phương và các quy định của pháp luật; chủ động ứng phó kịp thời với tình trạng động vật tấn công người hoặc thoát khỏi môi trường có kiểm soát. (Tin Tức 16/1; Tiền Phong 16/1) đầu trang(
Rạng sáng 15/1, tại km 380 trên tuyến QL 1A (đoạn qua địa phận huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa), lực lượng CSGT Thanh Hóa phát hiện xe tải mang BKS 29C- 024.49 chở 7 cá thể tê tê còn sống.
Thông tin ban đầu từ cơ quan công an cho biết: Chiếc xe tải trên do Dương Quốc Hương (SN 1973, trú tại Đại Hưng, Mỹ Đức, Hà Nội) điều khiển theo hướng Nam – Bắc vi phạm luật giao thông. Qua kiểm tra, CSGT đã phát hiện trên xe có chở một ba lô to, bên trong đựng 7 cá thể tê tê còn sống (tương đương 44kg).
Ngay sau đó, lực lượng CSGT đã phối hợp với cơ quan chức năng tiến hành lập biên bản, bàn giao 7 cá thể tê tê để xử lý vụ việc theo quy định. (Tiền Phong 15/1) đầu trang(
Chiều 15/1, bằng các biện pháp nghiệp vụ, lực lượng chức năng tỉnh Bắc Kạn tiếp nhận tin báo về việc phát hiện xe tải thùng mang BKS 29C-231.96 có biểu hiện nghi vấn đang vận chuyển hàng lậu.
Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (Công an tỉnh Bắc Kạn) phối hợp với Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (Bộ Công an) đã có mặt tại Khách sạn Bắc Kạn có địa chỉ tại Tổ 8, Phường Đức Xuân để kiểm tra.
Tại đây, lực lượng chức năng đã phát hiện và thu giữ tang vật gồm một cá thể hổ đông lạnh đã được xẻ làm 5 phần, tổng trọng lượng là 303kg. Con hổ đông lạnh này được đối tượng đựng trong 5 bao tải khác nhau, bên ngoài quấn bằng lõi chăn bông rồi được cất giấu, ngụy trang dưới một lớp mùn cưa dày trong thùng xe tải.
Ngoài ra, lực lượng chức năng còn tiến hành thu giữ thêm 2 bao tải xương động vật có trọng lượng 53kg, 3kg cao, 3kg mai rùa, 2 chiếc cân, 1 bộ bếp, nồi chuyên dụng dùng để nấu cao.
Lái xe được Phạm Minh Long (SN 1972, trú tại xã Xuân Quan, huyện Văn Giang, Hưng Yên) khai nhận được một số đối tượng thuê vận chuyển số hàng trên. Khi đang vận chuyển lên Khách sạn Bắc Kạn thì bị lực lượng chức năng ập vào bắt giữ.
Lãnh đạo phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, Công an tỉnh Bắc Kạn cho biết, đã tiến hành lập biên bản tạm giữ lái xe cùng tang vật để tiếp tục đấu tranh làm rõ. (Dân Trí 16/1; Đại Đoàn Kết 16/1, tr10) đầu trang(
15.1, ni sư Thích Nữ Thuần Tâm (Chùa Từ Thuyền, phường 2, TP.Đà Lạt, Lâm Đồng) cho biết khi lên viếng mộ người thân tại nghĩa trang Du Sinh (phường 4, TP.Đà Lạt), ni sư đã bị một chú khỉ hoang lao tới tấn công.
Theo ni sư Thuần Tâm, chú khỉ khá to, ngồi trên các phần bia mộ cao quan sát trước khi tấn công. Ni sư dùng đá ném để đuổi nhưng chú khỉ vẫn lao tới, chỉ khi ni sư dùng cán cuốc (mang đi dọn cỏ mộ) chống lại thì chú khỉ này mới chịu bỏ đi.
Cách đây vài ngày, chị N.T.T.T (ngụ đường Bà Triệu, TP.Đà Lạt), khi lên viếng mộ người thân cũng bị chú khỉ này tấn công. Người dân cho biết chú khỉ đực này xuất hiện tại nghĩa trang Du Sinh hơn 2 tháng nay và chỉ “nhắm” vào phụ nữ mà tấn công. Nếu thấy có đàn ông, chú khỉ liền tránh đi.
Cũng theo ni sư Thuần Tâm, cách đây khoảng 2 tháng một ni sư ở chùa Hương Quang (phường4, Đà Lạt) cũng bị chú khỉ hoang này cắn vào chân bị thương.
Người dân đã phản ánh vụ việc với Ban Quản lý nghĩa trang Du Sinh Chiều 15.1, ông Đào Quang Lâm, Trưởng ban quản lý nghĩa trang TP.Đà Lạt (thuộc Công ty TNHH một thành viên Dịch vụ đô thị Đà Lạt), xác nhận trong nghĩa trang Du Sinh có chú khỉ đực hoang thường xuyên tấn công phụ nữ.
Ban quản lý nghĩa trang Du Sinh nhiều lần phục bắt chú khỉ nhưng vẫn chưa bắt được. Ông Lâm cho biết sẽ phối hợp với Hạt kiểm lâm Đà Lạt để phục bắt chú khỉ này. (Thanh Niên 16/1) đầu trang(
Chiều 15.1, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Hà Công Tuấn ký công văn có ý kiến chính thức gửi các địa phương: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Phú Yên trước tình trạng rắn lục đuôi đỏ xuất hiện bất thường.
Bộ NN-PTNT kết luận loài rắn trên được các chuyên gia xác định chủ yếu là rắn lục đuôi đỏ, có tên khác là rắn lục mép trắng, rắn lục tre (tên khoa học là Trimeresurus albolabris thuộc họ rắn lục Viperidae).
Đây là loài phổ biến, phân bố rộng ở khắp các tỉnh, thành phố tại VN. Rắn lục đuôi đỏ có khả năng sinh sản nhanh. Mùa giao phối từ tháng 3 - 5, sinh sản vào tháng 8 - 11. Theo Bộ NN-PTNT, rắn lục đuôi đỏ xuất hiện nhiều trong thời gian vừa qua có thể do điều kiện thời tiết ấm áp hơn.
Các trận lũ lớn trước đây đã mang theo một số cá thể rắn lục từ vùng thượng lưu xuống đồng bằng, gặp điều kiện thuận lợi phát triển, gia tăng nhanh về số lượng. (Thanh Niên 16/1) đầu trang(
Chiều 11/1, một cậu bé 3 tuổi ở Hóc Môn (TP HCM) khi chơi đùa trong vườn đã bị con gấu nuôi nhốt của gia đình cắn đứt lìa tay.
Theo ghi nhận của Cơ quan Công ước về thương mại quốc tế các loài hoang dã Việt Nam (CITES) phía nam, con gấu này không nằm trong hồ sơ quản lý của Chi cục Kiểm lâm TP HCM.
"Hậu quả như trên hoàn toàn có thể xảy ra trong thời gian tới bởi vẫn còn nhiều hộ dân nuôi động vật hoang dã ngay trong khuôn viên sinh hoạt của gia đình", tiến sĩ Tuấn Bendixsen, trưởng đại diện Tổ chức động vật châu Á, giám đốc Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam, cảnh báo.
Theo ông Tuấn, môi trường sống của gấu không phải là nuôi nhốt. Chuồng trại nuôi gấu của người dân thường không đạt chuẩn. Có con gấu bị nhốt trong cũi sắt chỉ khoảng một mét vuông, trong khi ngoài tự nhiên chúng di chuyển 5 km một ngày. Những yếu tố này khiến chúng bị căng thẳng và dễ tấn công người. Ông Tuấn Bendixsen cho rằng, trên thực tế có rất nhiều gấu nuôi không được gắn chip và không có hồ sơ quản lý.
Phong trào nuôi gấu lấy mật bắt đầu nở rộ ở Việt Nam cách đây hơn chục năm, dù hành vi này bị cấm. Năm 2005, có tới 4.600 con gấu được nuôi tại nhà dân. Số này được bắt từ tự nhiên hoặc nhập khẩu trái phép từ các nước xung quanh như Lào, Campuchia, hoặc tại các khu rừng ở Việt Nam. Toàn bộ cá thể gấu trên đều không có hồ sơ và nguồn gốc rõ ràng.
Trước tình trạng này, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn đã trình Thủ tướng ban hành quyết định siết chặt quản lý gấu bằng cách gắn chíp và lập hồ sơ từng cá thể, giao cho người dân nuôi hết đời. Khi không nuôi nữa, các hộ dân chỉ được trao trả lại nhà nước một cách vô điều kiện chứ không được buôn bán vận chuyển vì mục đích thương mại.
Đến nay, theo Cơ quan CITES Việt Nam (Tổng Cục lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp) số lượng gấu nuôi nhốt tại hộ dân đã giảm đáng kể khi việc quản lý loài này ngày càng chặt chẽ. Bên cạnh đó, số gấu ngoài tự nhiên gần như tuyệt chủng, số gấu già đã chết dần, người dân không còn tin tưởng vào tác dụng của mật gấu khiến các hộ nuôi gấu với mục đích thu lợi dần dần từ bỏ.
"Việt Nam còn 1.800 con gấu được nuôi tại hộ dân. Chúng được gắn chip và lập hồ sơ theo dõi bởi Chi cục kiểm lâm địa phương", Giám đốc CITES nói và cho biết nếu người dân giao nộp, CITES sẽ nhận lại và đưa về các trung tâm cứu hộ. Địa phương có hộ dân nuôi gấu nhiều là Quảng Ninh, Nghệ An, Bình Dương, TP HCM, Hà Nội. (VnExpress 15/1) đầu trang(
Từ năm 1994, với sự hỗ trợ của chính phủ Nhật Bản, các cấp hội chữ thập đỏ (CTĐ) trên địa bàn Hà Tĩnh đã trồng mới và trồng dặm gần 1.000 ha rừng ngập mặn (RNM).
Sau 20 năm, những tưởng diện tích này sẽ thực sự trở thành tấm lá chắn bảo vệ đê kè và sự bình yên cho người dân vùng ven biển trước thảm họa thiên tai, nhưng do nhiều nguyên nhân, diện tích RNM trên địa bàn Hà Tĩnh hiện chỉ còn khoảng 465 ha.
Chuyến công tác về các vùng ven biển để tìm hiểu đời sống dân sinh của bà con nơi cửa sóng vào những ngày cuối năm đã để lại nhiều băn khoăn, day dứt, đó là nguy cơ biến mất của RNM. Nhìn trên bản đồ, sắc xanh RNM đang dần bị thu hẹp và không ít nơi đã hoàn toàn biến mất.
Ông Trần Văn Tình - Chủ tịch Hội CTĐ huyện Cẩm Xuyên cho biết: “Ước tính cả trồng mới và trồng dặm thì diện tích RNM ở Cẩm Xuyên có khoảng 323 ha, trải dài trên địa bàn 7 xã vùng ven biển. Thế nhưng, đến thời điểm hiện tại, diện tích rừng còn sống và phát triển chỉ còn khoảng 50 ha. Nguyên nhân chủ yếu là do cây trồng không phù hợp với thổ nhưỡng, triều cường; sâu bọ phá hại. Phần còn lại là do không có kinh phí bảo vệ, một số nơi còn thiếu sự quan tâm của chính quyền địa phương, ý thức của người dân trong công tác bảo vệ rừng chưa cao”.
Cùng một nỗi lo, bà Trần Thị Thanh - Phó Chủ tịch Hội CTĐ huyện Thạch Hà cho biết: Tổng diện tích RNM của huyện trước đây khoảng 250 ha nhưng nay chỉ còn 90 ha. Hiện tại, Thạch Sơn là xã có diện tích RNM phát triển lớn nhất ở Thạch Hà với khoảng 70 ha. Tuy nhiên, sự may mắn này là cá biệt, bởi theo người dân địa phương, rừng ở đây chủ yếu phát triển tự nhiên. Hơn nữa, khu vực này xa nơi chăn thả trâu, bò; quá trình ngọt hóa sông Nghèn khiến lượng hải sản giảm nên hạn chế được tình trạng thuyền bè vào khai thác.
Nằm cạnh Thạch Sơn nhưng RNM ở Thạch Long lại có số phận bi đát. Tính cả diện tích trồng mới và trồng dặm, RNM nơi đây có 15 ha, tuy nhiên, do điều kiện thổ nhưỡng và một số người dân chặt cây để cho thuyền bè vào ra… nên đến nay chỉ còn 3-4 ha. Tuy vậy, “số phận” diện tích rừng này cũng bấp bênh bởi người dân địa phương đang ý định thuê mặt nước để nuôi trồng thủy sản.
Ông Nguyễn Trung Hoa - người từng làm công tác bảo vệ RNM ở xã Thạch Long băn khoăn: “Từ khi có RNM và đê ngăn mặn, người dân vùng sông nước như chúng tôi không còn phải lo lắng nhiều mỗi khi nghe đài báo bão, bởi đã có rừng che chở. Nhưng, do không được bảo vệ, chăm sóc nên diện tích ngày càng bị thu hẹp. Với tình trạng này thì chỉ một thời gian ngắn nữa, chắc rằng, RNM ở Thạch Long sẽ bị xóa sổ”.
Nỗi lo của người dân hưởng lợi không phải là không có căn cứ bởi trên thực tế, có rất nhiều địa phương như Cẩm Lĩnh (Cẩm Xuyên), Thạch Kênh (Thạch Hà)… với diện tích trồng mới và trồng dặm lên đến hàng chục ha nhưng nay đã bị xóa sổ hoàn toàn. Còn ở các xã có RNM, diện tích cũng chỉ còn 30-40%.
Về những khó khăn trong công tác bảo vệ RNM, bà Trần Thị Thanh cho biết: “Từ sự hỗ trợ của dự án, hội có nhiệm vụ trồng rừng và trả tiền công chăm sóc, bảo vệ đến khi cây phát triển. Sau 3 năm khi dự án kết thúc, rừng được giao lại cho địa phương hưởng lợi quản lý. Thế nhưng, khi kinh phí không còn, chính quyền địa phương chưa thực sự quan tâm thì vấn đề bảo vệ và phát triển RNM vẫn đang là bài toán khó”.
Được biết, thời gian qua, Chính phủ đã có văn bản về việc công nhận RNM là một thực thể rừng. Thế nhưng, đến nay, ở Hà Tĩnh, các ngành chức năng vẫn chưa có sự quan tâm vào cuộc nên công tác bảo vệ và phát triển diện tích RNM gặp nhiều khó khăn. Một số người dân chưa hiểu hết tầm quan trọng của RNM; những hành động chặt phá rừng vẫn còn diễn ra. Thêm vào đó, nạn sâu bệnh phá hại cũng là một trong những mối đe dọa sự sinh tồn của những “bức tường xanh”.
Ông Nguyễn Trung Hoa (Thạch Long) cho biết: “Khi cây chết hàng loạt, chúng tôi đã báo cáo với hội cấp trên và cũng đã có đoàn cán bộ về lấy các mẫu đất, nước, sâu bọ... để nghiên cứu nhưng cuối cùng không thấy họ quay lại. Người dân đành bó tay khi kinh phí trồng dặm không có, việc tìm kiếm giống cũng hết sức khó khăn”. Trong lúc các ngành chức năng, cấp ủy, chính quyền vẫn chưa có động thái nào thì RNM vẫn đang từng ngày, từng giờ chết dần, chết mòn; người dân vùng ven sông vẫn phải đối mặt với nỗi lo xói lở đê điều, triều cường khi mùa mưa bão đến.
Trong chuyến đi của mình, chúng tôi thấy le lói niềm hy vọng trước sáng kiến của xã Cẩm Lộc (Cẩm Xuyên) trong công tác bảo vệ rừng. Chủ tịch Hội CTĐ xã Lê Thanh Toàn cho biết: “Tổng diện tích trồng mới và trồng dặm RNM của chúng tôi là 36 ha, do chất đất, triều cường và độ mặn nên hiện chỉ còn 26 ha, nhưng phát triển rất tốt. Có được điều này, một phần do ý thức của người dân, nhưng điều quan trọng là nhờ sự quan tâm của chính quyền địa phương”.
Cách làm của xã Cẩm Lộc hết sức đơn giản, đó là giao cho 3 hộ dân trực tiếp quản lý, khai thác thủy, hải sản tự nhiên và bảo vệ rừng. Mỗi năm, xã trả mỗi hộ 150-200 kg thóc và cứ 2 năm lại thay đổi người quản lý. Ngân sách bỏ ra không nhiều, nhưng sự quan tâm ấy cùng với ý thức về tầm quan trọng từ những cánh rừng chắn sóng là động lực để người dân nơi đây hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Thiết nghĩ, bảo vệ rừng là trách nhiệm của toàn xã hội, nhưng trước hết vẫn là sự vào cuộc của chính quyền địa phương và ý thức của người dân vùng hưởng lợi, có như thế, RNM mới có thể tránh được nguy cơ bị xóa sổ. (Báo Hà Tĩnh 16/1) đầu trang(
Sau một thời gian kiên trì tuần tra, mật phục, vào một ngày cuối năm 2014, tổ chốt chặn do UBND huyện Hòa Vang phối hợp các cơ quan liên quan triển khai tại tiểu khu 20, rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa, khu vực giáp ranh lâm phận tỉnh Thừa Thiên-Huế, phát hiện bắt quả tang các đối tượng đang vận chuyển gỗ từ nơi khai thác trái phép ra điểm tập kết.
Một người nhanh chân chạy thoát, 2 người bị bắt giữ là Lê Văn Mai và Trần Đợi, người chạy thoát là Huỳnh Quang Cơ trú huyện Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế.
Những ngày liên tiếp sau đó, qua tuần tra kiểm soát, tổ chốt chặn phát hiện 15 cây gỗ đường kính 45 - 58cm tại khoảnh 2 và 5, tiểu khu 20 đã bị chặt hạ, trong đó 9 cây gỗ gõ (nhóm 2a), 6 cây xoan đào; gỗ đã chuyển đi hết. Tổng khối lượng gỗ bị khai thác trái phép 30,89m3, trong đó hơn 17m3 gõ.
Rừng đặc dụng Đà Nẵng ở khu vực giáp ranh lâm phận tỉnh Thừa Thiên-Huế đã và đang bị tàn phá hết sức nghiêm trọng. Khu vực có nhiều cây gỗ bị chặt hạ sát với rừng trồng của Công ty CP VINAFOR. Nơi 15 cây gỗ to vừa bị chặt hạ gần cuối năm 2014 vừa qua, chỉ cách Trại Tôn, nơi tổ chốt chặn đứng chân khoảng 2-3km. Điều này chứng tỏ, những kẻ phá rừng rất liều lĩnh, coi thường lực lượng kiểm lâm chốt chặn tại khu vực đó.
Việc vận chuyển gỗ từ nơi khai thác trái phép ra điểm tập kết chủ yếu bằng sức người. Những kẻ trực tiếp phá rừng đa số người từ địa phương khác đến, lập lán trại ăn ở trong rừng nhiều tuần liền, chuyên săn tìm gỗ quý chặt hạ, xẻ thành phách. Sau đó, chúng giao những phách gỗ này cho đối tượng chuyên vận chuyển từ nơi khai thác ra điểm tập kết.
Đối tượng vác thuê chủ yếu người địa phương. Tại điểm tập kết, chúng giao lại cho những người chuyên vận chuyển về xuôi bằng bè trên sông hoặc ô-tô. Vụ bắt giữ 2 đối tượng vừa qua, chỉ là những người vác gỗ thuê. Còn những kẻ chủ mưu phá rừng và vận chuyển gỗ về xuôi thì đã cao chạy xa bay.
Rừng đặc dụng Bà Nà- Núi Chúa chỉ vỏn vẹn hơn 26.000ha và liên tục bị tàn phá ở cả 4 phía. Chỉ hơn 1 tháng nữa là đến Tết Nguyên đán, Chi cục Kiểm lâm, Ban Quản lý Rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa và các địa phương có rừng sớm triển khai kế hoạch tuần tra, truy quét chống chặt phá rừng và vận chuyển lâm sản, săn bắt động vật hoang dã trái phép từ nay đến sau Tết Nguyên đán, góp phần bảo vệ tài nguyên rừng vùng giáp ranh. (Báo Đà Nẵng 15/1) đầu trang(
Thực hiện Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tăng cường công tác tuyên truyền; phối hợp với các cơ quan chức năng thanh, kiểm tra các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình kinh doanh, chế biến lâm sản trên địa bàn, nhất là làng nghề thuộc các xã, thị trấn: An Tường, thị trấn Yên Lạc, Thanh Lãng, Trung Hà…
Năm 2014, qua công tác kiểm tra, kiểm soát, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện và xử lý 26 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Trong đó, có một vụ phá rừng trái pháp luật; 8 vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép; 5 vụ khai thác rừng, khai thác gỗ; 2 vụ vi phạm quản lý, bảo vệ động vật hoang dã; 10 vụ vi phạm thủ tục hành chính trong mua bán, vận chuyển lâm sản. Tổng số lâm sản tịch thu 12,092m3 gỗ các loại; trong đó, 9,338m3 gỗ tròn; 2,754m3 gỗ xẻ; 45kg nhựa thông; 12 kg rắn hổ mang thường; 1,2kg rùa lá...
Bên cạnh đó, thực hiện Thông tư 01/2012/TT-BNNPTNT về xác nhận nguồn gốc lâm sản hợp pháp, năm 2014, lực lượng kiểm lâm đã xác nhận gần 8.000 m3 gỗ các loại, trong đ, gần 3.384m3 gỗ tròn; hơn 4.580m3 gỗ xẻ. (Báo Vĩnh Phúc 15/1) đầu trang(
Năm 2014, Hạt Kiểm lâm huyện Nguyên Bình xử lý 24 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu 40,8 m3 gỗ các loại, xử phạt hành chính hơn 44 triệu đồng.
Trong đó, 5 vụ phá rừng, 5 vụ khai thác rừng trái phép, 3 vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, 7 vụ vi phạm khác, 4 vụ cháy rừng tự nhiên và rừng trồng tại các xã: Mai Long, Quang Thành và thị trấn Nguyên Bình, thiệt hại 12,6 ha.
Phối hợp với các xã, thị trấn tổ chức trên 200 cuộc tuyên truyền phổ biến các văn bản quy định về phát triển rừng cho hơn 40.000 người dân tại 210 xóm, tổ dân phố. Phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức diễn tập chữa cháy rừng tại 5 xã: Quang Thành, Thành Công, Phan Thanh, Minh Thanh và thị trấn Tĩnh Túc.
Tổ chức 2 lớp tập huấn tại 2 xã: Quang Thành, Phan Thanh về phòng cháy chữa cháy rừng cho 60 cán bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ, Ban Quản lý rừng đặc dụng Phja Oắc - Phja Đén, Trạm Kiểm lâm Phja Đén, Ban Chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng cấp xã, trưởng các thôn, xóm. (Báo Cao Bằng 14/1) đầu trang(
Theo dự báo, mùa khô năm nay sẽ có nhiều diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra các vụ cháy rừng. Để chủ động phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR), Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tham mưu cho UBND các huyện, thị xã, thành phố kiện toàn ban chỉ đạo về bảo vệ và phát triển rừng, ban chỉ huy về các vấn đề cấp bách trong PCCCR cấp xã và các chủ rừng.
Lực lượng kiểm lâm huấn luyện nghiệp vụ, kỹ năng PCCCR cho các chủ rừng và lực lượng tham gia chữa cháy rừng ở địa phương. Với vùng có nguy cơ cháy cao, vào thời gian cao điểm, Chi cục tổ chức cán bộ trực 24/24 giờ theo dõi, tiếp nhận thông tin cháy rừng, chủ động về lực lượng và phương tiện sẵn sàng ứng cứu khi có cháy rừng xảy ra; tiếp tục hoàn thiện quy chế phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm, công an, quân đội trong công tác PCCCR và bảo vệ rừng (BVR).
Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho nhân dân là nhiệm vụ được ngành kiểm lâm cũng như các cấp chính quyền, địa phương trong tỉnh đặt lên hàng đầu. Năm qua, Chi cục đã tổ chức 5 lớp tập huấn nâng cao năng lực nghiệp vụ công tác quản lý BVR, PCCCR, thanh tra, pháp chế cho 175 học viên gồm cán bộ, công chức kiểm lâm địa bàn, tổ trưởng tổ tuần tra BVR, trưởng các thôn, bản và các chủ rừng thuộc huyện Văn Yên, Văn Chấn, Trạm Tấu.
Ngoài ra, Chi cục và hạt kiểm lâm các huyện, thị xã, thành phố đã triển khai 200 hội nghị tuyên truyền về công tác PCCCR tại các huyện, thị xã, thành phố đặc biệt tại các xã trọng điểm cháy rừng, in ấn 10.000 tờ rơi tuyên truyền, ký cam kết BVR và PCCCR tới 75.000 lượt người, tổ chức họp dân, hướng dẫn kỹ thuật đốt nương, làm rẫy, làm đường băng cản lửa cho 25.000 lượt người...
Ông Vũ Thanh Bình - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Trạm Tấu cho biết: "Huyện có hơn 37.000ha rừng tự nhiên và 5.000ha rừng trồng, nằm trên địa bàn 11 xã. Với diện tích rừng rộng lớn, cộng thêm địa hình phức tạp nên công tác PCCCR gặp không ít khó khăn. Vì vậy, huyện đã đề ra các phương án cụ thể trong thực hiện nhiệm vụ BVR và PCCCR nhằm giảm thiểu thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra".
Với mục tiêu BVR tận gốc, đơn vị đã chỉ đạo các trạm kiểm lâm, kiểm lâm địa bàn tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về PCCCR cho người dân bằng nhiều hình thức như lồng ghép với các cuộc họp thôn, bản, tuyên truyền trực tiếp đến những hộ sống gần rừng…; đồng thời, xây dựng phương án PCCCR cấp huyện, cấp xã ngay từ đầu năm với phương châm "4 tại chỗ" (lực lượng tại chỗ, chỉ huy tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ) và "4 sẵn sàng" (chỉ huy sẵn sàng, lực lượng sẵn sàng, phương tiện hậu cần sẵn sàng, thông tin liên lạc sẵn sàng).
Cùng với đó, đối với những diện tích đất rừng phòng hộ đã được Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện ký hợp đồng giao khoán cho các hộ dân, lực lượng chức năng đã kịp thời hướng dẫn bà con các biện pháp PCCCR một cách hiệu quả.
Là huyện có diện tích rừng lớn của tỉnh. Mù Cang Chải đã kiện toàn lại các ban chỉ đạo PCCCR, các tổ, đội chữa cháy; tăng cường phối hợp giữa 3 lực lượng: kiểm lâm, công an, quân đội về công tác quản lý BVR và PCCCR, tổ chức trực, tuần tra 24/24 giờ, sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ theo phương châm "4 tại chỗ".
UBND huyện đã chỉ đạo các xã trên địa bàn kiểm tra các diện tích rừng có nguy cơ cháy cao, hướng dẫn các chủ rừng về công tác vệ sinh, chăm sóc rừng trồng và mang các vật liệu dễ cháy ra khỏi phạm vi rừng; đặc biệt, duy trì tổ chức ký cam kết không vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng với các hộ dân sống gần rừng; tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền dưới nhiều hình thức trong cộng đồng dân cư, các cơ quan, trường học trên địa bàn để mọi người nhận thức rõ công tác PCCCR là góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
Cùng với Trạm Tấu, Mù Cang Chải, tất cả các địa phương khác trên địa bàn tỉnh đều có sự chuẩn bị tốt cho công tác PCCCR, sẵn sàng ứng phó với mùa khô năm nay nhằm hạn chế thấp nhất tình trạng cháy rừng xảy ra. (Báo Yên Bái 14/1) đầu trang(
Trước tình trạng người dân vào rừng thu hái các loại quả, hạt của cây: Dổi, say, ươi, khai thác cây si đỏ, đu đủ rừng, gỗ đổi màu trái phép, ảnh hưởng đến tài nguyên và đa dạng sinh học, ...
UBND tỉnh vừa có công văn yêu cầu các sở ngành, địa phương tăng cường triển khai các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn, xử lý kịp thời tình trạng khai thác lâm sản phụ trái phép.
Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu UBND các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo các cơ quan chức năng và chủ rừng tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân địa phương tích cực tham gia bảo vệ rừng, không được chặt hạ cây để thu hái quả trái phép; kiểm tra, ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm các đối tượng có hành vi xâm hại đến rừng theo quy định.
Giao Sở NN-PTNT chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm, các ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ, công ty TNHH MTV lâm nghiệp xác định vùng rừng có phân bố các loại cây trên để thường xuyên tổ chức lực lượng tuần tra, truy quét, ngăn chặn hiệu quả các đối tượng vào rừng xâm hại cây rừng trái phép… (Báo Đắc Lắc 14/1) đầu trang(
14-1, Ban quản lý dự án khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng tổ chức hội thảo xây dựng kế hoạch hoạt động năm 2015. Tham dự có các thành viên trong Ban chỉ đạo dự án và đại diện lãnh đạo các sở, ngành, đơn vị, địa phương liên quan.
Năm 2014, dự án khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng (PN-KB) đã triển khai có hiệu quả nhiều hoạt động nhằm cải thiện năng lực và công tác quản lý Vườn Quốc gia PN-KB, khôi phục và bảo vệ rừng, nâng cao công tác thực thi pháp luật, cải thiện sinh kế và một số hoạt động khác của Hợp phần GIZ.
Theo đó, dự án đã hỗ trợ Vườn Quốc gia về cung cấp trang thiết bị và xây dựng cơ sở hạ tầng như: Xây dựng và mua sắm trang thiết bị cho các Trạm Kiểm lâm, trang bị 2 ca nô tuần tra bảo vệ rừng trên đường sông, xây dựng trung tâm giáo dục về đa dạng sinh học và nâng cao nhận thức...
Dự án đã tổ chức các cuộc họp thôn, xã tuyên truyền nâng cao nhận thức về bảo tồn cho người dân và các cộng đồng tại 13 xã vùng đệm. Thông qua công tác tuyên truyền, bà con dân tộc thiểu số đã có ý thức trồng rừng và bảo vệ rừng, chính quyền và nhân dân các xã vùng đệm đã được nâng cao nhận thức về công tác bảo tồn và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Về công tác giao rừng cho cộng đồng quản lý, trong năm 2014, các địa phương vùng dự án đã thực hiện giao đất giao rừng cho 12 cộng đồng thôn, bản với diện tích trên 2.580ha. Tính từ khi triển khai dự án đến cuối năm 2014, dự án đã giải ngân 5.300.000 euro, đạt 42% kế hoạch toàn dự án, riêng năm 2014 tỷ lệ giải ngân đạt 63%.
Tại hội thảo, các đại biểu đã thảo luận về kế hoạch hoạt động cụ thể trong năm 2015 theo hướng tập trung quyết liệt để hoàn thành các mục tiêu tổng thể của dự án. Cụ thể, dự án sẽ tiếp tục hỗ trợ Vườn Quốc gia PN-KB thực hiện một số hoạt động được lựa chọn từ kế hoạch quản lý Vườn đã được UBND tỉnh phê duyệt, thực hiện các thủ tục để bổ sung khối lượng giao đất giao rừng năm 2015 với diện tích trên 1.000ha, triển khai thực hiện gói hỗ trợ sinh kế thân thiện với đa dạng sinh học cho người dân vùng đệm, tăng cường công tác thực thi pháp luật khu vực Vườn Quốc gia thông qua các hoạt động: Thiết lập và vận hành hệ thống Smart tại Vườn Quốc gia và vùng đệm, xây dựng cẩm nang tuần tra bảo vệ rừng và quy trình vận hành chung về thực thi pháp luật... (Báo Quảng Bình 14/1) đầu trang(
Với điều kiện khí hậu khắc nghiệt khiến số diện tích rừng ở khu vực Cao nguyên đá khá ít, chính vì vậy công tác bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Đồng Văn luôn được coi trọng.
Ngay từ đầu năm, Ban Quản lý bảo vệ và phát triển rừng của huyện đã phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành đến cơ sở vận động, tuyên truyền cho người dân nắm bắt về công tác phòng, chống cháy rừng, Luật Bảo vệ rừng.
Trong năm 2014 đã tuyên truyền cho 7.343 lượt người ở 19 xã, thị trấn qua đó nâng cao nhận thức của đồng bào về giá trị của rừng trên khu vực Cao nguyên đá. Để việc bảo vệ rừng được triển khai có hiệu quả, hàng năm Ban quản lý đều phối hợp với các xã, thị trấn giao khoán cho các hộ thực hiện chăm sóc và bảo vệ được 9.971,3 ha rừng, đạt 100% kế hoạch; diện tích khoanh nuôi phục hồi rừng tái sinh tự nhiên là 9.125 ha; chăm sóc rừng trồng 4 năm là 188 ha, rừng 3 năm là 80 ha, rừng 2 năm là 20 ha, rừng cảnh quan là 100 ha và trồng được 30 nghìn cây phân tán tại các xã, thị trấn: Phố Bảng, Sủng Là, Ma Lé, Sính Lủng, Lũng Phìn.
Nhận định về công tác bảo vệ rừng, Phó trưởng Ban Quản lý và bảo vệ rừng huyện Đồng Văn, Đàm Thu Hiền cho biết: “Hàng năm, Ban Quản lý phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện thực hiện nghiệm thu các diện tích rừng, về cơ bản các hộ đều tự giác tham gia công tác bảo vệ rừng coi đây như một công việc thường xuyên. Cụ thể, hàng năm đều thực hiện phát băng cản lửa để ngăn cách với các nương, rẫy; chặt tỉa, chăm sóc đối với rừng trồng 3 lần/năm và đối với rừng khoanh nuôi là 2 lần/năm. Dù điều kiện địa hình ở huyện có nhiều núi đá gây khó khăn cho việc đi lại, diện tích rừng chia cắt cách xa nhau song người dân đã cố gắng vượt qua những khó khăn đó”.
Nhờ có sự hỗ trợ của Nhà nước theo định mức là 300 nghìn đồng/ha/năm tiền công chăm sóc đối với rừng tự nhiên; 200 nghìn đồng/ha/năm đối với việc khoanh nuôi phục hồi rừng tái sinh và 15 kg gạo/ha/năm với tổng số gạo cấp phát đợt I là 191,698 tấn, đợt II là 93,752 tấn cho 19 xã, thị trấn nên đã động viên được các hộ nhận khoán chăm sóc và bảo vệ rừng.
Bên cạnh đó, để giảm lượng tiêu thụ gỗ rừng làm củi đun của người dân địa phương việc xây dựng bếp đun cải tiến được triển khai rộng rãi ở các xã, thị trấn. Tính đến hết năm 2014 đã xây được 6.642 bếp. Vì hầu hết người dân ở đây chủ yếu sử dụng củi để đun nấu nên trước đây số lượng củi chặt từ rừng về hàng năm là khá lớn, nhưng từ khi có bếp đun cải tiến thì khối lượng củi đun đã giảm xuống 2/3.
Theo chị Mỷ, một người dân ở xã Sính Lủng cho biết: “Nhà tôi dùng bếp đun cải tiến đã 2 năm rồi, được hỗ trợ 800 nghìn đồng để xây dựng bếp. Bếp này tốt hơn bếp củi trước kia nhiều vì tiết kiệm được củi và không phải tốn thời gian đi lên rừng chặt củi nữa. Khả năng giữ nhiệt của bếp cũng tốt, có thể tận dụng để đun nấu cho sinh hoạt hàng ngày, nấu cám cho bò, nấu rượu”.
Việc bảo vệ rừng gắn với phát triển bếp đun cải tiến là một mô hình phù hợp và có hiệu quả tại Đồng Văn, góp phần không nhỏ vào công tác bảo vệ rừng ở huyện. (Dongvan.hagiang.gov.vn 14/1) đầu trang(
Thời gian trước Tết Nguyên đán, hoạt động khai thác, vận chuyển lâm sản và động vật rừng trái phép thường diễn biến phức tạp. Trước tình hình này, ngành Nông nghiệp tỉnh đã triển khai nhiều biện pháp tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng (QL-BVR).
Theo báo cáo của Sở NN-PTNT, năm 2014, Sở NN-PTNT đã chỉ đạo các Hạt Kiểm lâm (KL) tăng cường cán bộ đứng chân địa bàn, tham mưu chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch và thực hiện công tác QL-BVR; phối hợp với lực lượng Công an, Quân đội và các hội đoàn thể tổ chức 394 đợt tuyên truyền phổ biến Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BV-PTR), thu hút 27.036 chủ rừng, các doanh nghiệp kinh doanh chế biến gỗ, nhà hàng, dịch vụ và nông dân các địa phương trong tỉnh tham gia.
Lực lượng KL và các ngành chức năng đã tiến hành điều tra, thu thập danh sách các đối tượng phá rừng ở một số địa phương có điểm nóng khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản và động vật rừng trái phép, tổ chức cho 979 hộ dân ký cam kết BVR.
Sở NN-PTNT cũng đã chỉ đạo Hạt KL các huyện: Vân Canh, Tây Sơn, An Lão, Vĩnh Thạnh, Hoài Ân, Đội KL cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) tăng cường lực lượng để ngăn chặn tình trạng khai thác gỗ trái phép tại các khu rừng phòng hộ, rừng giáp ranh giữa các huyện và tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp tại các địa phương.
Năm 2014, Hạt KL các địa phương đã tổ chức 1.243 đợt tuần tra, kiểm tra rừng; tổ chức 458 đợt tuyên truyền, phổ biến hướng dẫn các chủ rừng thực hiện các biện pháp QL-BVR và PCCCR. Tuy vậy, tình trạng lấn chiếm đất rừng, chặt phá, khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép và tình trạng cháy rừng vẫn còn diễn biến phức tạp ở nhiều nơi.
Trong năm, lực lượng KL đã phát hiện 95 vụ phá rừng phòng hộ với tổng diện tích 60,716 ha tại các huyện Vĩnh Thạnh, Phù Cát, Hoài Ân, Vân Canh; kiểm tra, phá hủy 282 lò hầm than; 31.370 kg than hầm và 36 lán trại; gỡ bỏ 483 bẫy thú rừng; tạm giữ 59,805 m3 gỗ các loại, 16 ster củi cùng 103 phương tiện, dụng cụ, máy móc của các đối tượng phá rừng.
Tình hình cháy rừng cũng diễn biến hết sức phức tạp tại nhiều địa phương trong tỉnh, đã xảy ra 57 vụ cháy rừng, tăng 50 vụ so với năm trước, tổng thiệt hại 414,24 ha rừng. Hạt KL các huyện và Đội KL cơ động - PCCCR đã xử phạt hành chính 598 vụ và xử lý hình sự 5 vụ vi phạm Luật BV-PTR.
Theo đánh giá của ngành Nông nghiệp tỉnh, nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do đời sống sản xuất của người dân sống gần rừng gặp nhiều khó khăn; lợi ích của việc trồng rừng nguyên liệu giấy là rất lớn; nhu cầu về đất canh tác, sản xuất nương rẫy của đồng bào dân tộc thiểu số tăng, trong khi đất sản xuất ở một số địa phương miền núi, vùng cao bị thu hẹp bởi các dự án thủy điện, nên người dân đã lấn chiếm đất và chặt phá cây rừng để trồng rừng sản xuất.
Hơn nữa, chính quyền một số địa phương còn buông lỏng công tác QL-BVR, chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp. Các chủ rừng chưa đủ năng lực để quản lý, bảo vệ diện tích rừng được giao khoán; các cơ quan quản lý nhà nước chưa quản lý hiệu quả việc sử dụng, sang nhượng, lấn chiếm trái phép đất lâm nghiệp; công tác tổ chức giao khoán QL-BVR cho hộ gia đình, cá nhân ở một số nơi chưa tốt.
Trong khi đó, việc xử lý các đối tượng có hành vi xâm hại rừng ở cơ sở còn chưa kiên quyết… Do vậy, tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép và tình trạng cháy rừng trong năm 2014 diễn biến phức tạp.
Ông Huỳnh Ngọc Bảo, Phó Chi cục trưởng Chi cục KL tỉnh, cho biết: Chúng tôi đã xây dựng kế hoạch kiểm tra, truy quét ngăn chặn tình trạng phá rừng, khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản và động vật rừng trái phép trong thời gian trước, trong và sau Tết Nguyên đán Ất Mùi năm 2015.
Chi cục đã chỉ đạo lực lượng KL phối hợp với các ngành, hội, đoàn thể, các chủ rừng, chính quyền các địa phương tăng cường tuyên truyền, vận động nhân dân sống gần rừng về các quy định QL- BVR, PCCCR bằng nhiều hình thức, để người dân hiểu và chấp hành. Hạt KL các huyện, thành phố, các đội KL cơ động phối hợp với đoàn kiểm tra liên ngành và chính quyền các địa phương, các chủ rừng triển khai lực lượng tuần tra, truy quét, chốt chặn tại các điểm nóng phá rừng; kiểm tra các nhà hàng, khách sạn và các cơ sở chế biến, kinh doanh động vật rừng có dấu hiệu trái với các quy định của Nhà nước.
Chi cục cũng đã thành lập tổ công tác trực tiếp kiểm tra, chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tổ chức thực hiện kế hoạch đề ra và yêu cầu Hạt KL các địa phương phối hợp với ngành chức năng điều tra, xác minh làm rõ, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định của pháp luật trên lĩnh vực QL-BV-PTR và quản lý lâm sản.
Để công tác QL-BVR đạt hiệu quả, bên cạnh sự nỗ lực của ngành chức năng, chính quyền các địa phương cũng cần đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao ý thức BVR cho mỗi người dân, từng bước xã hội hóa công tác QL-BVR.
Mặt khác, các địa phương phải thực hiện tốt việc giao đất, giao rừng, có chính sách khuyến khích người dân trồng rừng; quy hoạch lại vùng nương rẫy cấp cho người dân sản xuất lâu dài, đồng thời hướng dẫn các biện pháp quản lý, chăm sóc, BVR trồng, để người dân có điều kiện sống được nhờ nhận khoán BVR và gắn bó với rừng. Một khi đời sống của người dân được cải thiện, rừng đã có chủ sẽ hạn chế được tình trạng rừng bị xâm hại. (Báo Bình Định 15/1) đầu trang(
Xã Đa Mi (Hàm Thuận Bắc) có 14.538 ha đất tự nhiên, trong đó 9.715 ha rừng, chiếm hơn 66% diện tích tự nhiên.
Những năm qua Đa Mi liên tục đẩy mạnh phòng chống phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, tuy nhiên không phải lúc nào rừng cũng được bảo vệ tốt bởi địa hình hết sức phức tạp, lại giáp ranh với nhiều địa phương của tỉnh bạn, những nơi mà số người phá rừng chuyên nghiệp khá đông, thường xuyên sang Đa Mi để khai thác gỗ lậu.
Trong năm 2014, cấp ủy Đảng và chính quyền Đa Mi xác định: Cần tăng cường giáo dục ý thức bảo vệ rừng trong dân; ổn định nơi sản xuất và chỗ ở cho người dân trong xã. UBND xã Đa Mi đã phối hợp với Ban quản lý rừng phòng hộ Hàm Thuận - Đa Mi, xây dựng phương án phòng chống cháy rừng, bảo vệ rừng giáp ranh.
Theo đó, Đa Mi thường xuyên theo dõi nắm bắt, phát hiện sớm những nơi rừng bị xâm hại, có kế hoạch nhổ bỏ các loại cây trồng trên đất rừng bị lấn chiếm trái phép; thông qua nguồn tin của dân, ngăn chặn từ đầu những âm mưu phá rừng...
Kết quả, trong cả năm 2014, xã Đa Mi nhổ bỏ cây trồng trên 14 ha đất rừng bị lấn chiếm, trong đó có một số diện tích đất rừng thuộc tiểu khu 165 A - B và 166 vùng rừng giáp ranh. Chỉ để xảy ra 8 vụ vi phạm về rừng, giảm 8 vụ so với năm 2013. Trong đó, có 4 vụ khai thác lâm sản trái phép, 3 vụ vận chuyển lâm sản trái phép...
Từ đầu năm 2014 đến nay không xảy ra vụ cháy rừng nào trong phạm vi quản lý của xã. Đã xử lý 14 trường hợp lấn chiếm đất lâm nghiệp ngoài quy hoạch, đất rừng phòng hộ, rừng sản xuất, với diện tích 42.147,74m2...
Có thể nói, năm 2014, rừng Đa Mi được bảo vệ khá tốt. Trong năm 2015, UBND xã Đa Mi đặt mục tiêu hạn chế tối đa số vụ phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp. Đa Mi đang hướng tới tổ chức sản xuất hiệu quả, tạo ra lượng nông sản hàng hóa ngày càng tăng, thu nhập người dân ngày một khá hơn để ngày càng ít người nghĩ đến việc phải vào rừng khai thác gỗ, củi lậu. (Báo Bình Thuận 16/1) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Bộ Tài chính vừa có công văn giải đáp những vướng mắc liên quan đến việc thực hiện kiểm tra thực tế 100% các lô hàng gỗ nhập khẩu theo công văn 19128/BTC-TCHQ ngày 30/12/2014 dẫn đến tình trạng ách tắc các xe tải chở gỗ nhập khẩu từ Lào tại cửa khẩu La lay (Quảng Trị).
Theo Bộ Tài chính, công văn 19128/BTC-TCHQ chỉ áp dụng đối với trường hợp hàng hóa là thuốc lá, rượu, bia, gỗ có rủi ro cao khi nhập khẩu theo loại hình nhập kinh doanh sau đó xuất đi nước thứ ba do có liên quan đến việc hoàn thuế nhập khẩu và không thu thuế khi tái xuất.
Do vậy, đối với trường hợp này phải thực hiện kiểm tra hải quan 100% để phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại. Bộ Tài chính khẳng định: Điều này thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và cần thiết phải thực hiện. Việc kiểm tra này cũng không ảnh hưởng đến những doanh nghiệp nhập khẩu gỗ để chế biến, sản xuất, kinh doanh trong nước. Do vậy, không ảnh hưởng đến việc làm, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp như một số doanh nghiệp đã phản ánh với báo chí.
Được biết, trước thực tế tại cửa khẩu La Lay, Tổng cục Hải quan đã kịp thời có công văn hướng dẫn Cục Hải quan Quảng Trị. Theo đó, khi cơ quan Hải quan làm thủ tục nhập khẩu đối với các lô hàng gỗ theo loại hình nhập kinh doanh, việc phân luồng tờ khai nhập khẩu thực hiện theo nguyên tắc quản lý rủi ro theo quy định hiện hành.
Cơ quan Hải quan chỉ thực hiện việc chuyển luồng để kiểm tra thực tế 100% hàng hóa nhập khẩu trong trường hợp phát hiện doanh nghiệp nhập khẩu có dấu hiệu vi phạm, gian lận thương mại, buôn lậu đối với lô hàng nhập khẩu.
Trường hợp doanh nghiệp tái xuất hàng hóa có nguồn gốc nhập khẩu sang nước thứ ba thì cơ quan Hải quan kiểm tra thực tế 100% các lô hàng gỗ để thực hiện việc đối chiếu mô tả hàng hóa trên tờ khai nhập khẩu với thực tế hàng hóa tái xuất, xác định sự phù hợp về đối tượng, chủng loại… giữa lô hàng gỗ xuất khẩu với lô hàng trước đây nhập khẩu theo đúng quy định hiện hành. (Chính Phủ 15/1, Đại Đoàn Kết 16/1, tr3) đầu trang(
Sáng 15/1 tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức hội thảo quốc tế lần thứ 4 “Kết nối các đối tác về rừng” với sự tham gia của 22 quốc gia là thành viên Chương trình hỗ trợ rừng và trang trại của Tổ chức Nông Lương Liên Hợp quốc.
Các tham luận tại hội thảo cùng chia sẻ những mô hình kinh doanh thành công các sản phẩm từ rừng ở các quốc gia thành viên, đồng thời đề xuất một số giải pháp tháo gỡ khó khăn về cơ chế, chính sách về bảo vệ rừng bền vững và hỗ trợ nông dân trồng rừng và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp do nông dân hoặc nhóm hộ quản lý.
Tại Việt Nam, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm đến lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn với nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ nông dân phát triển nông, lâm nghiệp gắn với bảo vệ và phát triển rừng.
Hội Nông dân Việt Nam đã tổ chức nhiều chương trình giúp hội viên nông dân phát triển các mô hình kinh tế, giúp nông dân xóa đói giảm nghèo, giảm phá rừng, tăng độ che phủ rừng, ứng phó với biến đổi khí hậu.
Bà Vũ Lê Y Voan, Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam cho biết hàng trăm nghìn hộ nông dân đã được giao đất, giao rừng, làm giàu từ rừng và canh tác nông nghiệp trên đất đồi rừng. Trồng rừng và phát triển các sản phẩm gỗ và ngoài gỗ cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu đã trở thành phương thức sản xuất hiệu quả, giúp cho hàng triệu hộ nông dân ở các vùng rừng núi thoát nghèo, cải thiện đời sống, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội nông thôn, đặc biệt ở các vùng miền núi, các vùng khó khăn.
Hội thảo là dịp Hội Nông dân Việt Nam và các hội viên học tập và chia sẻ kinh nghiệm kinh doanh thành công sản phẩm lâm nghiệp của các nước thành viên thuộc chương trình như: Guatemala, Kenya, Bolivia, Canada, Phần Lan, Philippines, Indonesia, Trung Quốc, Lào… góp phần nâng cao cấp độ kinh doanh sản phẩm lâm nghiệp bền vững từ cộng đồng, địa phương, đến quốc gia.
Bà Vũ Lê Y Voan chia sẻ đây là sự kiện để kết nối các tổ chức của những người sản xuất rừng từ cộng đồng ngày càng lớn mạnh và phát triển cả về sản xuất và tiếp cận thị trường; tạo sự gắn bó và hợp tác tốt hơn mạng lưới các tổ chức hoạt động vì sự phát triển của rừng và cộng đồng, nâng cao đời sống của người dân gắn với rừng, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên, ứng phó với biến đổi khí hậu.
Chương trình Kết nối các đối tác về rừng được thành lập năm 2007 trên phạm vi toàn cầu, với sự tham gia của các đối tác có cùng mục đích hỗ trợ các doanh nghiệp quy mô nhỏ hoạt động trong lĩnh vực về rừng do địa phương quản lý. (Chính Phủ 15/1) đầu trang(
Ngày 15-1, UBND tỉnh cho biết vừa chấp thuận đầu tư Dự án Nhà máy sản xuất các sản phẩm từ gỗ có tổng vốn đầu tư khoảng 16 tỷ đồng do Công ty TNHH Nguyên liệu giấy Thượng Hải làm chủ đầu tư.
Dự án trên có diện tích khoảng 25.000 m2 tại khu quy hoạch Cụm Công nghiệp Ba Động, xã Ba Động, huyện Ba Tơ, với công suất 40.000 tấn thành phẩm/nămGiai đoạn 1 dự kiến sẽ được thực hiện từ 2015 đến hết 2017. Thời gian hoạt động của dự án là 49 năm. (Đại Đoàn Kết 16/1, tr6) đầu trang(
Thời gian vừa qua Thời Việt nhận được đơn kiến nghị của gia đình ông Lương Văn Hoạt, bà Nguyễn Thị Mý cư trú tại thôn Phe xã Vân Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
Năm 1995, gia đình ông Lương Văn Hoạt, bà Nguyễn Thị Mý được UBND huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang cấp cho một mảnh đất lâm nghiệp nằm ở số sổ 62, thuộc lô 12, khoảnh 25 diện tích là 1,4 ha tại thôn Phe và ngày 26-08-1995, UBND huyện Sơn Động đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Lâm Nghiệp (hay còn gọi là bìa xanh) với quyền sử dụng 50 năm theo đúng như Nghị định số 02 năm 1994 của Chính Phủ, về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
Sau khi nhận đất lâm nghiệp gia đình ông Hoạt, bà Mý đã thực hiện đúng chính sách của nhà nước trong việc trồng cây phủ xanh đất trống đồi trọc.
Theo trình bày của ông Hoạt, bà Mý vào năm 2008, xuất hiện 10 hộ gia đình ở xã khác về cư trú xây dựng nhà ở ngay trên thửa đất của ông Hoạt, mà trước đó đã được UBND huyện Sơn Động cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Lâm Nghiệp. Đến lúc này, ông Hoạt mới biết thửa đất trên của ông đã được UBND huyện Sơn Động cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) cho các hộ gia đình trên.
Ông Hoạt hết sức bất ngờ, khi mảnh đất của mình giờ đã chuyển sang tên cho người khác mà UBND xã không có thông báo, niêm yết công khai, không có giấy tờ thu hồi đất và cũng không có bất kỳ thông báo nào với gia đình ông Hoạt về việc thu hồi đất. Cho rằng, việc cấp sổ đỏ cho 10 hộ gia đình trên là có uẩn khúc, mờ ám, không hợp pháp nên đã xảy ra trường hợp suốt 6 năm qua ông Hoạt luôn cầm đơn đi tìm công lý. Ông Hoạt gửi đơn lên huyện, tỉnh nhưng sự việc vẫn chưa được giải quyết triệt để.
Sau khi nhận được đơn thư khiếu nại, cầu cứu của gia đình ông Lương Văn Hoạt và vợ là bà Nguyễn Thị Mý, PV đã có hai buổi làm việc với ông Ngọc Minh Phụng, Trưởng phòng Tài Nguyên Môi Trường huyện Sơn Động và Ông Nguyễn Trường Sinh Chủ tịch UBND xã Vân Sơn.
Cả hai ông Phụng và ông Sinh đưa ra lí do vì sao mà phía chính quyền đã tiến hành cấp 10 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 10 hộ gia đình khác. Các ông đưa ra các lí do chính: Mảnh đất mà ông Lương Văn Hoạt được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp năm1995, trước đó đã có ông Đỗ Hải Hiền đến khai hoang, ông Hiền đã có giấy viết tay bán cho các hộ trước 1995. Và ông Lương Văn Hoạt đã chuyển nhượng mảnh đất lâm nghiệp trên cho ông Lê Minh Chiến, nên mảnh đất đó xem như không thuộc quyền sở hữu của ông Hoạt. Hiện tại, mảnh đất trên gia đình ông Hoạt đang diễn ra sự tranh chấp đất đai với bà Mã Thị Thụ.
UBND xã Vân Sơn đưa ra lí do “Đất lâm nghiệp trên, ông Hoạt đã bán cho ông Lê Minh Chiến, nên ông Hoạt không còn quyền lợi trên mảnh đất đó” là không thuyết phục. Năm 1998, gia đình ông Hoạt gặp khó khăn về kinh tế nên đã chuyển nhượng 1,2 ha đất cho ông Lê Minh Chiến. Ngày 13-08-2001, ông Chiến làm thủ tục sang tên và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) với diện tích 12.600 m2. Do điều kiện kinh tế khó khăn ngày 22-11-2010, ông Chiến và vợ đã lập Giấy ủy quyền sử dụng đất (thực chất là giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất) cho ông Lương Văn Hoạt và vợ là bà Nguyễn Thị Mý.
Căn cứ theo giấy nêu trên, thì ông Hoạt và bà Mý có toàn quyền sử dụng và định đoạt đối với thửa đất của ông Chiến. Gia đình ông Chiến và gia đình ông Hoạt có nguyện vọng ký lại giấy chuyển nhượng nêu trên, tuy nhiên, do đất đang có tranh chấp nên không thể chứng thực vào giấy tờ chuyển nhượng theo đúng quy định của pháp luật. Và người dân cũng đang rất mong mỏi các cơ quan chức năng giải quyết sự việc nêu trên thấu tình, đạt lý được an tâm sinh sống, làm ăn.
Để làm rõ vấn đề mảnh đất ông Hoạt đã có người khai phá trước năm 1995, PV đã trao đổi với ông Vi Văn Viên, Trưởng thôn Phe, xã Vân Sơn. Ông Viên cho biết: “Trước năm 1995, mảnh đất mà anh Hoạt được cấp giấy sử dụng đất lâm nghiệp lúc đó chưa có ai đến ở và khai phá. Ông Hiền có khai phá một cái ao. nhưng lại nằm phía bên dưới đường 31. Phía trên đường chưa có ai khai phá”.
Qua quan sát của PV nhận thấy, một số ngôi nhà của 10 hộ dân đều mới xây dựng, không có dấu hiệu nào chứng tỏ chúng được xây dựng hay đã được sử dụng từ trước đây như các cán bộ xã Vân Sơn đã nêu. PV có đề nghị UBND xã Vân Sơn, cung cấp các loại giấy tờ, bản đồ địa chính thôn Phe trước năm 1995, chứng minh mảnh đất lâm nghiệp của ông Hoạt trước năm 1995 đã có người ở.
Ông Nguyễn Trường Sinh Chủ tịch UBND xã Vân Sơn không chứng minh được. Ông Sinh cho biết: “Tất cả những giấy tờ, bản đồ dưới phòng tài nguyên môi trường huyện đều nắm giữ, anh xuống đó sẽ có thôi”.
Được sự giới thiệu của ông Sinh, PV tìm đến Phòng Tài nguyên Môi trường huyện Sơn Động, ông Ngọc Minh Phụng cho biết: “Trước năm 1995, xã Vân Sơn chưa có bản đồ địa chính và đến tận bây giờ vẫn chưa hoàn thiện được bản đồ của xã”. Khi PV đề cập những giấy tờ thể hiện việc mua bán giữa ông Hiền và 10 hộ dân kia, ông Phụng cho hay: “Chúng tôi không có, cái đó bên thanh tra huyện giữ”.
Sang bên thanh tra huyện hỏi, một cán bộ cho biết: “Người giữ hồ sơ giấy tờ liên quan đến vụ việc trên đã đi vắng, chúng tôi sẽ chuyển toàn bộ giấy tờ đó xuống tòa soạn báo của các anh qua đường bưu điện”. Nhưng đến nay tòa soạn báo vẫn chưa nhận được những giấy tờ trên.
Trên cơ sở xét đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Mý, UBND huyện Sơn Động đã ban hành quyết định hành chính số 2726/QĐ-UBN ngày 08/07/2013, về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị Mý, thì nguồn gốc sử dụng đất hiện nay của 10 hộ gia đình nêu trên đều là nhận chuyển nhượng hoặc được tặng cho.
Tuy nhiên, hồ sơ mà đoàn thanh tra huyện Sơn Động căn cứ vào chỉ là các giấy tờ viết tay, và các lời khai của 10 hộ dân đang sử dụng đất có tranh chấp hiện tại. Có quá nhiều vấn đề mà Đoàn thanh tra bỏ qua khi tiến hành thu thập các chứng cứ, tài liệu để xác minh, làm rõ vấn đề.
Việc đoàn thanh tra không tiến hành họp thôn để lấy ý kiến nhân dân về nguồn sử dụng đất, cũng như không cho hai bên tranh chấp có cơ hội tiến hành đối chất với nhau, mà chỉ dựa trên các giấy tờ viết tay đã không tạo ra cơ sở vững chắc cho Quyết định giải quyết khiếu nại.
Thời điểm xác lập chính xác các giấy tờ viết tay nêu trên cũng không được khẳng định. Đoàn thanh tra đã bỏ qua công đoạn kiểm tra, thậm chí là giám định về thời gian hình thành của các loại giấy tờ đó.
Nếu căn cứ theo Quyết định giải quyết khiếu nại thì 10 hộ dân đang sử dụng đất tranh chấp đều sử dụng đất ổn định từ trước ngày 15/10/1993. Sử dụng đất thì phải thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng đất, là đóng thuế nhà đất (nay là đóng thuế sử dụng đất phi nông nghiệp) tuy nhiên, Đoàn thanh tra đã không thu thập các Biên lai thu tiền sử dụng đất của các hộ dân. Cho dù các hộ dân không còn giữ thì vẫn có thể kiểm tra tại UBND xã Vân Sơn nhưng Đoàn thanh tra vẫn bỏ qua.
Quy trình thực hiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử đụng đất bắt buộc phải thực hiện niêm yết công khai 15 ngày tại UBND xã, để xác định tình trạng tranh chấp. Tuy nhiên, trong hồ sơ của Đoàn thanh tra không đề cập tới văn bản quan trọng này, và khi phóng viên liên hệ để được cung cấp thì cũng không được hồi âm.
Từ những lý do nêu trên có thể thấy, Quyết định giải quyết khiếu nại nêu trên có quá nhiều thiếu sót và không có tính thuyết phục đối với người khiếu nại, do đó dẫn đến tình trạng ông Lương Văn Hoạt, bà Nguyễn Thị Mý vẫn tiếp tục gửi đơn khiếu nại đến các cơ quan chức năng để kêu cứu. (Thời Việt 14/1) đầu trang(
Trong quá trình rà soát thực hiện giao đất lâm nghiệp cho nhân dân ở huyện Quỳ Châu đã phát hiện tình trạng chuyển nhượng "chui" giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng, sau đó chuyển đổi trái phép mục đích sử dụng từ những năm trước đây...
Tình trạng chuyển nhượng “chui” đất rừng, sau đó tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng được phát hiện ở địa bàn xã Châu Hạnh. Theo các ông bà: Hà Văn Linh, Lim Thị Tường, Bùi Văn Yến, Vi Thị Luyến (là Trưởng bản, Bí thư chi bộ, người có uy tín của bản Pà Cọ, bản Kẻ Nính, xã Châu Hạnh) cho biết, trong thời gian qua, họ cùng cán bộ cơ sở đã thực hiện rà soát, lập danh sách những gia đình chưa có đất lâm nghiệp để chính quyền huyện, xã tiến hành giao đất theo kế hoạch đề ra.
Qua rà soát thì từ những năm 2003 - 2004, có nhiều hộ gia đình đã được giao đất rừng theo Nghị định 163 của Chính phủ, tuy nhiên, khoảng năm 2010 - 2011, phần lớn đã đem bán cho một doanh nghiệp với giá rất rẻ.
Về địa phương này, qua tìm hiểu, xác minh thì tình trạng chuyển nhượng “chui” giấy chứng nhận QSD đất rừng là có thật. Năm 2003, nguyên trưởng bản Kẻ Nính, ông Lê Văn Bình từng được giao 23 ha rừng tự nhiên nằm sát địa bàn xã Châu Thuận. Đến năm 2011, do gặp khó khăn, ông đã bán giấy chứng nhận QSD đất rừng cho một người có tên là Giang.
Ông Bình nói: “Năm 2003, tôi được tham gia giao đất rừng tự nhiên cho người dân trong bản. Việc giao đất là với mục đích để người dân tham gia khoanh nuôi bảo vệ rừng. Tôi được giao 23 ha rừng. Nhưng vì phải “cắm” nhà cho ngân hàng để lấy tiền chữa bệnh cho con. Đến kỳ trả nợ, do không có tiền nên đành phải bán rừng lấy tiền trả nợ. Tôi đã bán 20/23 ha để lấy 30 triệu đồng...”.
Theo anh Hoàng Văn Toán (công dân bản Kẻ Nính), năm 2011, bố anh là ông Hoàng Văn Hùng đã bán giấy chứng nhận QSD đất rừng cho ông Giang. Anh Toán cho biết: “Gia đình tôi được cấp 2 giấy chứng nhận QSD đất rừng tự nhiên. Một giấy chứng nhận mang tên tôi, giấy còn lại mang tên bố. Cách đây khoảng 4 năm, gia đình làm nhà, do thiếu tiền mua ngói nên bố tôi đã bán giấy chứng nhận của ông cho ông Giang với số tiền khoảng 4 - 5 triệu đồng gì đó”.
Cũng vì bí tiền đưa con đi viện, ông Mạc Văn Hóa - Phó bản Kẻ Nính đã bán giấy chứng nhận QSD đất rừng mang tên con trai là Mạc Văn Ân cho ông Giang.Ở Kẻ Nính, ông Vi Văn Thành là một trong những người còn lưu giữ được đầy đủ giấy tờ mua bán giấy chứng nhận QSD đất rừng. Ông Thành được cấp giấy chứng nhận QSDĐ số 00374 ngày 24/9/2004, diện tích 37,2 ha đất rừng tại các lô 58, 160, 394, 391 thuộc địa bàn xã Châu Hạnh; mục đích sử dụng là rừng tự nhiên sản xuất.
Do khó khăn, năm 2011, ông Thành bán cho ông Giang lô 58 có diện tích 19,7 ha với số tiền 13 triệu đồng. Giấy chứng nhận QSDĐ của ông Thành đã giao cho bên mua; ông được giữ bản phô tô, trên đó có dòng chữ: “Lô đất thửa 58 này DT 197.463m2 đã bán cho anh Phan Bá Giang - Giám đốc Công ty Nghệ An Xanh”, bên cạnh đóng dấu công ty.
Theo Trưởng bản Kẻ Nính, ông Bùi Văn Yến: “Sự việc chuyển nhượng đất rừng tự nhiên không chỉ xảy ra ở hai bản Pà Cọ, Kẻ Nính mà có cả ở các bản lân cận như Định Tiến, Tà Cọ. Số lượng gia đình đã bán lên đến hàng trăm, riêng bản Kẻ Nính tôi đã thống kê được 25 hộ...”. Với Trưởng bản Pà Cọ, ông Hà Văn Linh: “Ở Pà Cọ có khoảng 45 hộ đã bán giấy chứng nhận QSD đất rừng. Đây là số chúng tôi thống kê được, thực tế có thể cao hơn...”.
Theo cán bộ, nhân dân ở địa bàn Pà Cọ, Kẻ Nính, sau khi thu gom được giấy chứng nhận QSD đất rừng, ông Giang đã đưa máy móc, thiết bị mở đường vào các vùng rừng, tự ý tiến hành chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng. “Họ thuê hàng chục nhân công phát quang diện tích rừng, dựng nhà, trồng keo lên đó...” - Trưởng bản Kẻ Nính, ông Bùi Văn Yến khẳng định.
Theo chân người dân Pà Cọ, Kẻ Nính, PV đi sâu vào trong những vùng rừng của xã Châu Hạnh, đến khu vực khe Nhôm là nơi “ông Giang cho người phát quang rừng, làm nhà, trồng keo”. Sau gần 1 giờ đồng hồ vào đến nơi. Ở đây, rừng núi hoang vu, xen lẫn những vạt rừng nứa lùng, cây thân gỗ nhỏ là những mảng đồi trắng do bị xẻ phát. Một số vùng bị xẻ phát đã được trồng keo thay thế. Cây keo đã lên cao chừng 1m. Dưới chân đồi, có một ngôi nhà sàn rộng 4 gian. “Đó là ngôi nhà ông Giang dựng lên cho nhân công ở để bảo vệ rừng trồng” - một người dân cho biết.
Tại ngôi nhà sàn này có một người đàn ông chừng hơn 40 tuổi là em vợ của ông Giang, ở đây để trông coi. Hỏi chuyện, người đàn ông này cho biết, hầu hết cả khu vực rừng này đã thuộc quyền sở hữu của ông Giang, kéo dài cho tới sát xã Châu Thuận. “Anh Giang mua lại đất rừng của dân được nhà nước cấp cho. Không biết chính xác bao nhiêu nhưng nhiều lắm, hàng mấy trăm ha. Anh ấy thuê máy mở đường vào đây cũng hết nhiều tiền lắm. Một giờ máy đến 700 - 800 nghìn đồng. Khi có đường mới đưa nhân công vào phát quang, trồng keo” - anh này “hồn nhiên”.
Hỏi ông Giang là người như thế nào mà mua được đất rừng của người dân Châu Hạnh, anh ta nói: “Cũng là người huyện này nhưng ở dưới Châu Bình...”. Liên hệ với lãnh đạo xã Châu Bình để tìm hiểu về người có tên là Giang và Công ty cổ phần Nghệ An Xanh thì được xác nhận tại bản 3-2, xã Châu Bình có công dân tên là Phan Bá Giang, mở Công ty cổ phần Nghệ An Xanh nhưng không thấy hoạt động.
Thời điểm năm 2011, UBND huyện Quỳ Châu đã nắm bắt được thông tin về tình trạng mua bán, chuyển nhượng “chui” giấy chứng nhận QSD đất rừng được cấp theo NĐ163. Vì vậy, năm 2012, UBND huyện Quỳ Châu đã có Công văn số 162/UBND.TNMT về việc chuyển nhượng QSD đất lâm nghiệp.
Theo đó, yêu cầu chủ tịch các xã, thị trấn không được xác nhận cho việc chuyển nhượng QSD đất lâm nghiệp; giao cho Văn phòng đăng ký QSD đất không thụ lý hồ sơ chuyển nhượng QSD đất lâm nghiệp của các hộ gia đình đã được cấp theo NĐ 163.
Ông Ngô Đức Thuận - Phó Chủ tịch UBND huyện Quỳ Châu cho biết: “Chúng tôi đã lường trước hậu quả của việc mua bán, chuyển nhượng trái phép đất lâm nghiệp, thế nên đã ban hành văn bản này để ngăn chặn. Chỉ cho phép các hộ gia đình được cấp QSD đất lâm nghiệp chuyển nhượng khi họ không còn nhu cầu sử dụng do chuyển đổi nghề nghiệp hoặc hết tuổi lao động được UBND xã, thị trấn xác nhận. Xẩy ra sự việc này là hậu quả của tình trạng mua bán chui lủi trước đây...”.
Theo Nghị định 163, việc Nhà nước giao đất lâm nghiệp quy hoạch xây dựng, phát triển rừng sản xuất cho hộ gia đình, cá nhân là để sử dụng ổn định, lâu dài với mục đích sản xuất lâm nghiệp kết hợp phòng hộ, ổn định môi trường sinh thái; Luật Đất đai các thời kỳ cũng quy định rõ về việc chuyển nhượng giấy chứng nhận QSDĐ; Tại Thông tư số 24/2013/TT-BNNPTNT ngày 6/5/2013 của Bộ NN&PTNT cũng quy định rõ về trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng.
Ông Phan Đức Đồng, Chủ tịch UBND huyện Quỳ Châu, khẳng định: “Theo quy định của pháp luật, bên cạnh việc thực hiện giao đất, cấp giấy chứng nhận QSD đất rừng cho nhân dân; hướng dẫn nhân dân thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, sản xuất lâm nghiệp, chính quyền cấp huyện có trách nhiệm chỉ đạo các lực lượng trên địa bàn bàn phát hiện, ngăn chặn kịp thời những hành vi xâm hại rừng. Huyện Quỳ Châu đã từng xử lý một số vụ việc liên quan tương tự.
Vì vậy, UBND huyện sẽ giao Hạt Kiểm lâm xuống các địa bàn này để kiểm tra làm rõ, tiến hành gọi hỏi đối tượng, sai phạm đến đâu sẽ xử lý đến đó theo quy định của pháp luật. Đồng thời, sẽ tập trung cho công tác tuyên truyền để người dân có nhận thức đúng đắn khi được Nhà nước giao đất, giao rừng. Không thể để tồn tại việc mua bán, chuyển nhượng trái phép đất lâm nghiệp và tùy tiện thay đổi mục đích sử dụng đất rừng...”. (Báo Nghệ An 15/1) đầu trang(
13-1, UBND tỉnh đã thống nhất giao cho các BQL rừng phòng hộ: A Vương, Đăk Mi, Sông Kôn, Sông Tranh, Phú Ninh, Nam Sông Bung, Bắc Sông Bung và các BQL Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, Khu bảo tồn loài Sao La làm chủ đầu tư để triển khai Dự án cắm mốc ranh giới các loại rừng thuộc lâm phận quản lý theo đề nghị của Sở NN&PTNT.
Theo đó, yêu cầu các chủ đầu tư có trách nhiệm lập đầy đủ hồ sơ, thủ tục theo đúng quy định trình cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt để tổ chức thực hiện. Sở NN&PTNT chịu trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra việc lập thủ tục và tổ chức triển khai thực hiện của các chủ đầu tư đảm bảo đúng quy định hiện hành của Nhà nước. (Công An TP.Đà Nẵng 15/1) đầu trang(
Thực hiện chủ trương di chuyển các hộ dân sinh sống, làm vườn, trồng rừng ra khỏi khu vực lòng hồ Yên Lập, ngay từ năm 2008, UBND tỉnh đã có phương án thu hồi đất, rừng và chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với các hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trong rừng phòng hộ hồ Yên Lập.
Đến năm 2012, 24 hộ dân được các cơ quan nhà nước giao đất, cho mượn đất và hợp đồng trồng rừng trong rừng phòng hộ hồ Yên Lập (có giấy tờ hợp lệ) đã được hưởng chính sách này.
Cùng thời điểm đó một số hộ gia đình khác được xác định cũng có cây trồng trên đất rừng phòng hộ hồ Yên Lập song đều là tự ý đến trồng rừng, không được các cấp chính quyền, cơ quan liên quan cho phép nên mặc dù có kiến nghị bồi thường, hỗ trợ song chưa được xem xét giải quyết. Mới đây, xét thấy các hộ dân nói trên có cây trồng phù hợp với quy hoạch của rừng phòng hộ nên UBND tỉnh đã tái khởi động lại việc xem xét hỗ trợ hộ dân có cây trồng trên đất rừng phòng hộ Yên Lập.
Theo đó trung tuần tháng 12 vừa qua, UBND tỉnh đã cấp kinh phí 250 triệu đồng để kiểm tra hiện trạng rừng phòng hộ hồ Yên Lập phục vụ công tác tổng hợp kết quả làm cơ sở lập phương án hỗ trợ hộ. Đồng thời các lực lượng chức năng cũng khẩn trương triển khai các hoạt động kiểm kê, xác minh thông tin của các hộ dân liên quan.
Theo ông Mạc Văn Xuyên, Chi cục phó, Chi cục Kiểm lâm tỉnh, hiện đơn vị đã tiếp nhận 144 trường hợp hộ dân thông báo có cây trồng trên đất rừng phòng hộ hồ Yên Lập và đề xuất được xem xét hỗ trợ. Trong đó chủ yếu là các hộ dân của 2 địa phương huyện Hoành Bồ và TX Quảng Yên. Ngay sau đó đơn vị đã phối hợp chặt chẽ với các địa phương thành lập tổ công tác làm việc cụ thể với từng hộ dân để xác định các thông tin liên quan cần thiết.
Được biết từ cuối tháng 12 vừa qua, tổ công tác đã mời các hộ dân đến cam kết, kê khai và chứng minh cụ thể về nguồn gốc, vị trí, diện tích, loại cây, mật độ cây… đồng thời tổ chức kiểm tra trực tiếp tại hiện trường nhằm đối chiếu với nội dung các hộ dân đã kê khai. Tuy nhiên việc này đang gặp không ít khó khăn, nhất là trong việc kiểm tra hiện trường thực tế.
Nguyên nhân khó khăn do từ sau khi UBND tỉnh di chuyển các hộ dân sinh sống, làm vườn, trồng rừng ra khỏi khu vực lòng hồ Yên Lập từ năm 2008 đến nay các hộ dân không được tác động vào rừng. Hiện nay hiện trạng rừng rất rậm rạp, cây rừng các loại phát triển phủ kín lối đi nên rất khó xác định vị trí và kiểm đếm số cây. Phương pháp kiểm đếm là khoanh ô tiêu chuẩn để từ đó xác định cho toàn lô.
Tuy nhiên, không phải vị trí, diện tích nào cũng có thể áp dụng được phương pháp này bởi trải qua nhiều năm, dưới tác động của tự nhiên cây rừng phát triển không đồng đều, mật độ người dân trồng ban đầu cũng không giống nhau. Bởi vậy đối với những trường hợp không thể khoanh ô tiêu chuẩn được thì chỉ còn cách duy nhất là đếm từng cây một. Trong khi đó với tổng số 144 hộ dân có đơn kiến nghị nói trên thì số lượng cần xác minh lớn; nội dung cần kiểm tra đối chiếu phức tạp; địa điểm kiểm tra chủ yếu ở lòng hồ Yên Lập trong khi phương tiện đi kiểm tra duy nhất là tàu…
Tất cả những khó khăn trên nguy cơ khiến cho công tác kiểm đếm, xác định các thông tin của các hộ dân có cây trồng trên đất rừng phòng hộ hồ Yên Lập kéo dài, tốn kém. Tuy nhiên, với sự nỗ lực, cố gắng và phương pháp làm việc trách nhiệm, khoa học, các lực lượng chức năng, địa phương tham gia đã và đang đẩy nhanh tiến độ công việc, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ trên trong quý I này.
Được biết sau khi hoàn tất khâu kiểm kê, xác định nói trên, Chi cục Kiểm lâm tỉnh sẽ tổng hợp kết quả, là cơ sở để UBND tỉnh lập phương án hỗ trợ cụ thể cho từng hộ dân. Tinh thần mức hỗ trợ sẽ theo Quyết định số 1977/QĐ-UBND ngày 19-6-2008 của UBND tỉnh, tức đối với các trường hợp sử dụng đất rừng phòng hộ hồ Yên Lập không được các cơ quan nhà nước cho phép nhưng đã trồng cây phù hợp với quy hoạch cây trồng rừng phòng hộ thì được hỗ trợ bằng 70% giá trị cây trồng. (Báo Quảng Ninh 15/1) đầu trang(
Năm 2015, toàn tỉnh phấn đấu trồng mới 14.000 ha rừng; trong đó có 13.500 ha rừng tập trung, 500 ha rừng phân tán; diện tích khai thác gỗ là 8.800 ha, sản lượng gỗ khai thác đạt 660.000 m3.
UBND tỉnh giao UBND các huyện, thành phố chỉ đạo, điều hành công tác sản xuất giống cây lâm nghiệp và trồng rừng trên địa bàn theo đúng quy trình kỹ thuật, tạo vùng nguyên liệu tập trung phục vụ công nghiệp chế biến; tập trung rà soát, thiết kế đủ diện tích trồng rừng; quản lý chặt chẽ việc khai thác gỗ rừng trồng sản xuất trên địa bàn theo quy định, đảm bảo gỗ nguyên liệu cung ứng cho Nhà máy Giấy và bột giấy An Hòa.
Sở Nông nghiệp và PTNT kiểm tra, hướng dẫn, chỉ đạo các công ty lâm nghiệp, ban quản lý dự án bảo vệ và phát triển rừng cơ sở rà soát, bố trí đủ điều kiện và lập hồ sơ thiết kế trồng rừng đúng quy trình kỹ thuật. (Báo Tuyên Quang 16/1) đầu trang(
Những quả đồi trọc đang dần dần được phủ lên một màu áo màu xanh của xoan, lát mang theo hy vọng về giấc mơ thoát nghèo của người Mông nơi đại ngàn Mường Lát (Thanh Hóa).
Sự đổi thay hiện hữu từng ngày trên mảnh đất huyện miền núi xa xôi. Để đến được Mường Lát phải vượt qua cung đường gần 300 km và sau gần 1 ngày lắc lư trên "con ngựa sắt" cùng các chiến sĩ bộ đội biên phòng thì "cổng trời" cũng hiện ra với không gian núi rừng bao la, bạt ngàn màu xanh của xoan, lát.
Anh Phạm Trung Tuyến ở Pom Bui, khu 3, thị trấn Mường Lát cho biết: “Hằng năm, sau Tết cổ truyền là mùa đi rẫy, bà con trong bản đốt rừng để trồng lúa, ngô chứ không biết trồng cây xoan, lát đâu. Từ năm 2012, Nhà nước cho cây, rồi cử cán bộ hướng dẫn kỹ thuật trồng nên bà con mới biết trồng đấy chứ! Dân bản chẳng ai nghĩ đến chuyện có một ngày những quả đồi, khu rừng bị “cạo trọc”, giờ thành khu rừng xanh, chờ ngày thu hoạch”.
Dự án trồng rừng 147 được Ban Chỉ đạo Phát triển KT-XH huyện Mường Lát khởi xướng từ năm 2012. Sau gần 3 năm phát triển, đến nay toàn huyện đã trồng được hơn 11.000 ha xoan, lát. “Có được kết quả trên, yếu tố tuyên truyền rất quan trọng. Chúng tôi phối hợp với chính quyền các xã Tam Chung, Nhi Sơn, Trung Lý... đến tận hộ dân vận động, khuyến khích đồng bào tham gia trồng rừng. Mưa dầm thấm lâu, cuối cùng cũng thành công”, một chiến sỹ biên phòng nói....
Ông Nguyễn Đức Quyền, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa, Trưởng BCĐ Phát triển KT-XH huyện Mường Lát cho biết, ngay sau khi Chính phủ có chủ trương về việc hỗ trợ nông dân chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng SX, Thanh Hóa căn cứ điều kiện đất đai, khí hậu cụ thể từng địa phương để lựa chọn cây trồng sao cho phù hợp. Với huyện Mường Lát cây chủ lực là xoan và lát. Đến cuối năm 2011, UBND tỉnh tổ chức thành lập các đoàn công tác trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn người dân về kỹ thuật và chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng SX.
“Nhờ sự kiên trì của các cấp chính quyền và người dân mà diện tích đất trống đồi núi trọc được phủ xanh. Nếu thuận lợi, chỉ sau 3 - 4 năm nữa không ít đồng bào Mông ở Mường Lát sẽ thoát nghèo bền vững từ rừng xoan, lát này”, ông Quyền nói. Mặc dù diện tích rừng trồng còn khiêm tốn, nhưng việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng khu vực miền núi mang ý nghĩa rất quan trọng, góp phần giúp bà con dân bản chuyển đổi nhận thức, tích cực tham gia đăng ký và trồng rừng trên đất nương rẫy trồng lúa, ngô, sắn kém hiệu quả.
Chủ tịch UBND huyện Mường Lát, Cao Văn Cường cho biết: "Sắp tới huyện sẽ tiếp tục vận động bà con mở rộng diện tích trồng xoan, lát với mục tiêu là phủ xanh toàn bộ diện tích rừng trên địa bàn. Đây không chỉ là mục tiêu giúp dân thoát nghèo mà còn tác động trực tiếp đến bảo vệ môi trường, chống xói mòn, góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu".
Theo tính toán của người dân, sau 6 - 7 năm trồng xoan, lát sẽ cho thu hoạch cao hơn nhiều so với trồng ngô, lúa nương rẫy. Việc trồng xoan còn có thể kết hợp với chăn nuôi gia súc dưới tán rừng và trồng cỏ nuôi bò. Đây là một chủ trương đúng đắn, thích hợp với điều kiện tự nhiên tại một huyện vùng cao như Mường Lát.... (Nông Nghiệp VN 15/1) đầu trang(
Thực hiện Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Ngân Sơn khóa XX (nhiệm kỳ 2011 - 2015) về thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, trọng tâm là phát huy tiềm năng thế mạnh trong sản xuất nông, lâm nghiệp và phát triển kinh tế rừng, đến nay, huyện Ngân Sơn đã trồng mới được hơn 4.000ha rừng, nâng độ che phủ rừng lên 68%.
Tỷ lệ rừng trồng mới năm sau cao hơn năm trước, đời sống của người trồng, quản lý chăm sóc rừng đã được nâng cao hơn.
Thực hiện Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Ngân Sơn khóa XX (nhiệm kỳ 2011 - 2015) về thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, trọng tâm là phát huy tiềm năng thế mạnh trong sản xuất nông, lâm nghiệp và phát triển kinh tế rừng, đến nay, huyện Ngân Sơn đã trồng mới được hơn 4.000ha rừng, nâng độ che phủ rừng lên 68%.
Tỷ lệ rừng trồng mới năm sau cao hơn năm trước, đời sống của người trồng, quản lý chăm sóc rừng đã được nâng cao hơn.Ngân Sơn là huyện vùng cao, thực trạng đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, chủ yếu dựa vào sản xuất nông lâm nghiệp. Diện tích đất lâm nghiệp của huyện có trên 56.402ha, chiếm hơn 87% diện tích đất tự nhiên, đây thực sự là tiềm năng, thế mạnh của địa phương nếu được khai thác tốt.
Những năm qua, với chủ trương, chính sách của Nhà nước đối với công tác quản lý và phát triển rừng, huyện đã coi đây là một nhiệm vụ trọng tâm của cấp ủy, chính quyền và người dân. Đặc biệt, Dự án bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020 đã được huyện Ngân Sơn cụ thể bằng Nghị quyết trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội qua từng năm và trong cả nhiệm kỳ.
Thực trạng trong công tác phát triển rừng của huyện những năm qua được đánh giá là đã có sự nỗ lực rất lớn ở tất cả các cấp, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành chức năng và chính quyền các xã, thị trấn. Đến nay, phần lớn diện tích rừng và đất lâm nghiệp của huyện đã được giao cho các tổ chức và hộ gia đình, cá nhân quản lý.
Theo đó, ý thức của người dân đối với công tác trồng rừng ngày càng được nâng cao. Việc tổ chức triển khai trồng rừng cũng như đầu tư cho trồng rừng đã được huyện quan tâm chỉ đạo sát sao. Cụ thể, ngay từ khi có Quyết định 147/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phát triển rừng sản xuất, huyện đã thành lập Ban chỉ đạo, Ban quản lý dự án và Ban phát triển rừng từ huyện xuống đến các thôn, bản.
Huyện cũng đã ban hành Nghị quyết về đẩy mạnh công tác trồng rừng giai đoạn 2011 - 2015 với mục tiêu đề ra trung bình mỗi năm trồng mới 1.800ha rừng; đồng thời ban hành Chỉ thị về công tác trồng rừng, trên cơ sở chỉ tiêu được giao hàng năm; xây dựng kế hoạch và giao chỉ tiêu trồng rừng cụ thể cho các xã, thị trấn; phân công nhiệm vụ cho các đồng chí lãnh đạo trong ban thường vụ, huyện ủy viên thường xuyên xuống địa bàn chỉ đạo, kiểm tra tiến độ trồng rừng.
Trung bình mỗi năm, huyện Ngân Sơn được giao chỉ tiêu trồng mới trên 1.000ha rừng. Tính từ năm 2011 tới nay, huyện được giao chỉ tiêu trồng mới trên 5.000ha rừng, cùng với đó là giải ngân nguồn vốn trung ương đạt trên 7 tỷ đồng và ngân sách địa phương hơn 1 tỷ đồng cho công tác trồng rừng.
Mặc dù kết quả trồng rừng của huyện Ngân Sơn chưa thực sự như mong muốn, kết quả còn thấp hơn so với chỉ tiêu và Nghị quyết huyện giao nhưng cũng cần ghi nhận những nỗ lực trong công tác trồng rừng của huyện những năm qua bởi rất nhiều những nguyên nhân được cho là ảnh hưởng trực tiếp tới tiến độ thực hiện kế hoạch giao như diện tích thiết kế trồng rừng không thực hiện còn lớn, tỷ lệ loài cây trồng rừng chưa đáp ứng được theo định hướng cơ cấu loài cây trồng với trồng rừng thâm canh của tỉnh (cây thông chiếm 75% diện tích, cây mỡ 25% diện tích rừng trồng).
Bên cạnh đó, một số xã chưa chú trọng tới công tác trồng rừng nên công tác chỉ đạo, triển khai chưa hiệu quả, việc tuyên truyền, vận động người dân ở các thôn, bản tham gia trồng rừng còn hạn chế.
Để từng bước tháo gỡ những khó khăn trong công tác trồng rừng, huyện đã có những giải pháp khắc phục như việc xin được cải tạo những diện tích đã được quy hoạch trồng rừng nhưng có trữ lượng vượt quá tiêu chí cải tạo để trồng mới. Một số diện tích rừng trồng đã tới thời kỳ khai thác nhưng không có đường lâm nghiệp để vận chuyển, đây cũng là một trong những nguyên nhân nhiều năm qua người dân ở các khu vực vùng sâu, vùng xa chưa thực sự tích cực trồng rừng.
Bên cạnh những chủ trương, chính sách về phát triển rừng, công tác tổ chức, triển khai hướng dẫn cho người dân trồng rừng, huyện cũng đang tích cực tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong việc giao đất, giao rừng cho người dân quản lý nhưng chỉ được khoanh nuôi, bảo vệ, việc phát triển trồng rừng thực hiện được ít.
Đặc biệt, vụ trồng rừng năm 2014, huyện Ngân Sơn đã thực hiện vượt chỉ tiêu kế hoạch giao, với tổng diện tích trồng được 1.499ha, đạt 115% kế hoạch. Đây cũng là năm huyện chỉ đạo và đổi mới tích cực nhất ở các khâu nhằm hoàn thành kế hoạch.
Ông Hà Tấn Tùng – Phó Trưởng phòng NN&PTNT huyện cho biết: Năm nay, huyện đã chỉ đạo chặt chẽ từ khâu đăng ký, thiết kế đến giao nhận giống và đưa vào trồng; quản lý sát sao và gắn trách nhiệm với những người đứng đầu ở địa phương về chỉ tiêu trồng rừng. Việc giao nhận giống được người dân đến tận vườn kiểm tra, chọn lựa kỹ để đảm bảo cây giống đạt chất lượng tốt, tỷ lệ sống cao.
Có thể nói, sau 4 năm thực hiện Nghị quyết về trồng rừng của địa phương đã đạt được những kết quả đáng mừng. Đến nay, hầu hết các xã, thị trấn của huyện đã thành lập được các Ban phát triển rừng, trồng rừng đã trở thành phong trào của mỗi địa phương, diện tích rừng trồng mới không ngừng được tăng cao, nhiều hộ trồng rừng đã có thu nhập từ rừng vươn lên thoát nghèo, các sản phẩm từ rừng đã đóng góp không nhỏ cho ngân sách địa phương.
Với lợi ích về kinh tế - xã hội, môi trường, công tác trồng rừng đang là một trong những nhiệm vụ quan trọng hiện nay đối với cấp ủy, chính quyền và người dân huyện Ngân Sơn nhằm mục tiêu đến năm 2015, huyện phấn đấu trồng mới được 9.000ha rừng. (Báo Bắc Kạn 14/1) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Đầu năm 2015, trong một chuyến khảo sát khu vực Allan Hills tại Nam Cực, các nhà khoa học thuộc trường Đại học Sienna, Italy đã phát hiện ra một khu rừng hóa thạch chưa từng được biết tới.
Nguồn tin từ hãng thông tấn ANSA cho biết, trong chuyến khảo sát thuộc chương trình nghiên cứu quốc gia về Nam Cực, bốn nhà khoa học Italy đã tìm thấy tại khu vực nghiên cứu rất nhiều thân cây bị cháy và hóa thạch, bước đầu được xác định có niên đại từ kỷ Trias, cách đây khoảng 250 triệu năm.
Những dấu vết còn lại cho thấy khu vực rừng cổ đại này đã trải qua một trận cháy lớn trong quá khứ. Điều này đã đặt ra những câu hỏi và nhiều giả thuyết lý thú đối với các nhà nghiên cứu.
Franco Talarico, một thành viên của nhóm nghiên cứu đã thông tin từ hiện trường cho biết rằng có rất nhiều dấu vết trầm tích của than trên một khoảng diện tích lớn, tuy nhiên lại bố trí theo một trật tự nhất định; đây dường như là những thân cây bị cháy và hóa thạch.
Từ đó, nhóm nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết rằng một đám cháy cực lớn đã thiêu trụ cánh rừng kỷ Trias trên diện rộng. Tuy nhiên, nguyên nhân của đám cháy từ kỷ Trias vẫn còn là một bí ẩn dù đó có thể là do nham thạch phun trào sau những đứt gẫy về địa chất hoặc do ảnh hưởng của thiên thạch khổng lồ rơi xuống trái đất.
Đến nay, các nhà khoa học trên thế giới đều rất quan tâm nghiên cứu về địa chất tại khu vực Allan Hills ở Nam Cực, nơi được xác định đã có một mảnh thiên thạch có nguồn gốc từ một ngọn núi lửa phun trào trên Sao Hỏa từ 4 tỷ năm trước rơi xuống. (VietnamPlus 13/1; Tài Nguyên Môi Trường 15/1, tr16) đầu trang(
Con bướm được phát hiện trong bảo tàng ở bang Pennsylvania, Mỹ, mang đặc điểm của cả giống đực và giống cái.
Chris Johnson làm việc cho triển lãm bảo tàng của Đại học Drexel, thành phố Philadelphia. Tháng 10 năm ngoái, ông phát hiện con bướm lưỡng tính khi nó từ từ sải rộng đôi cánh với những đặc điểm khác thường.
Cá thể này được cho là thuộc loài Lexias pardalis. Hai cánh phải của nó có màu nâu, lốm đốm vàng và trắng, hay những đặc điểm của con cái. Trong khi đó, cánh trái mang đặc thù của con đực với màu sắc tối hơn, nổi bật là ba màu xanh lá cây, xanh dương và tía.
"Cánh phải có hình thù khác biệt so với cánh trái. Trong khi màu sắc cơ thể của nó được chia theo chiều dọc, với mỗi nửa mang đặc điểm của con đực và con cái", IB Times dẫn thông báo của bảo tàng viết.
Nhà nghiên cứu Jason Weintraub nhận định đây hiện tượng lưỡng tính gynandromorphy. "Lưỡng tính gynandromorphy thường dễ được nhận biết nhất ở chim và các loài bướm. Khi đó, cá thể sẽ mang đặc điểm của cả hai giống, biểu hiện ở màu sắc khác nhau. Nó có thể là kết quả từ sự phân tách không thành công nhiễm sắc thể giới tính trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển", Weintraub nói.
Con bướm được đưa đến bảo tàng cùng nhiều cá thể khác từ một trang trại ở đảo Penang, Malaysia. Nó sẽ được trưng bày từ 17/1 đến 16/2. (Tài Nguyên Môi Trường 15/1, tr16) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||