|
Ngày 13 tháng 08 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Một vụ vận chuyển trái phép sản phẩm động vật hoang dã, nghi là ngà voi và sừng tê giác, với số lượng lớn từ châu Phi về Hà Nội qua đường hàng không vừa bị Hải quan Nội Bài và lực lượng chống buôn lậu phát hiện, bắt giữ.
Theo thông tin ban đầu, tối 12/8, lực lượng chống buôn lậu của Hải quan Hà Nội, Chi cục Hải quan cửa khẩu Sân bay quốc tế Nội Bài và Đội Kiểm soát chống buôn lậu khu vực phía Bắc (Đội 1) - Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan), Cục Cảnh sát Phòng, chống tội phạm buôn lậu (Tổng cục Cảnh sát), tiến hành khám xét 4 kiện hành lý có dấu hiệu nghi vấn được vận chuyển theo chuyến bay quốc tế về Hà Nội theo lịch trình từ châu Phi qua Hàn Quốc về Việt Nam.
Lực lượng chức năng phát hiện bên trong các kiện hành lý này là 49 khúc sừng động vật, nghi là ngà voi, với tổng trọng lượng 95,54kg và 1 sừng, nghi là sừng tê giác, trọng lượng 4,76kg.
Cơ quan chức năng xác định, thẻ hành lý của 4 kiện hàng nêu mang tên hai đối tượng là Phạm Văn Luật và Vũ Thanh Hưng.
Sáng 13/8, số tang vật này đã được lực lượng chức năng gửi mẫu trưng cầu giám định của Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật (Bộ Tài nguyên và Môi trường).
Đây là vụ vận chuyển trái phép sản phẩm động vật hoang dã thứ hai trong 4 tháng qua và là vụ vận chuyển có số lượng lớn nhất từ nước ngoài về Hà Nội, được các lực lương chức năng phát hiện, bắt giữ.
Trước đó, vào ngày 16/4, Hải quan Nội Bài đã phát hiện, bắt giữ 65,42kg ngà voi và sừng tê giác vận chuyển theo đường hàng không từ Pháp về Nội Bài, Hà Nội.Theo một cán bộ chống buôn lậu, sừng tê giác và ngà voi được xác định là hàng hóa thuộc diện cấm nhập khẩu, nằm trong danh mục các loài động thực vật hoang dã thuộc quản lý của Công ước về buôn bán quốc tế các loại động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (Cites). Hiện nay, giá chợ đen có thể lên tới 133USD mỗi gram sừng tê giác. Còn giá ngà voi, đặc biệt là ngà voi châu Phi có thể vào khoảng 2100 USD/kg.
Như vậy, 4 kiện hàng trên, nếu vận chuyển trót lọt qua cửa khẩu hải quan và đem bán trên thị trường thì có giá trị lên đến hàng chục tỷ đồng.
Vụ việc đang được tiếp tục điều tra làm rõ. (Vietnam + 13/8) đầu trang(
Tỉnh ủy Đác Nông vừa thông báo kết luận của Thường trực Tỉnh ủy về kết quả điều tra, xử lý việc hủy hoại rừng, lấn chiếm đất rừng thuộc lâm phần quản lý của Công ty TNHH MTV Gia Nghĩa (Công ty Gia Nghĩa).
Theo đó, thời gian qua, việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TU của Tỉnh ủy về ngăn chặn phá rừng, phát triển rừng giai đoạn 2013-2015, còn hạn chế, yếu kém. Một số cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các ngành chức năng, các công ty lâm nghiệp, các chủ rừng còn buông lỏng quản lý; mô hình quản lý, bảo vệ rừng còn bất cập, tình trạng dân di cư tự do chưa được kiểm soát chặt chẽ và sắp xếp ổn định… dẫn đến tình trạng hủy hoại rừng, lấn chiếm đất rừng với số lượng lớn kéo dài mà không có biện pháp ngăn chặn và xử lý hiệu quả.
Sau kết quả kiểm kê rừng, phát hiện rừng bị mất lớn, riêng lâm phần của Công ty Gia Nghĩa để mất hơn chín nghìn ha rừng, và đầu năm 2015, xảy ra vụ phá rừng nghiêm trọng tại các tiểu khu thuộc lầm phần của Xí nghiệp Lâm nghiệp Nghĩa Tín và Xí nghiệp Lâm nghiệp Đác Ha.
Để ngăn chặn hiệu quả, xử lý nghiêm những sai phạm này, Thường trực Tỉnh ủy giao cho Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo các sở ngành liên quan thực hiện nghiêm túc công tác quản lý, bảo vệ rừng và phát triển rừng. Giao UBND tỉnh chỉ đạo Thanh tra, Công an và các cơ quan chức năng hoàn thành kế hoạch thanh tra, điều tra, khởi tố, xử lý nghiêm các nhân, đơn vị quản lý rừng để xảy ra sai phạm.
Chọn điểm nóng tại lâm phần quản lý của Công ty Gia Nghĩa để khởi tố hình sự, xét xử các trường hợp sai phạm trong việc quản lý bảo vệ rừng, để xảy ra phá rừng…
Riêng công tác giao khoán quản lý bảo vệ rừng theo Chương trình 135 thành lập chuyên án riêng, thanh tra, điều tra, xử lý thật cụ thể từng đơn vị chủ rừng, từng cá nhân làm sai quy định. Đặc biệt, tập trung làm rõ chủ rừng, cán bộ, nhân viên quản lý để xảy ra tiêu cực… (Nhân Dân 12/8) đầu trang(
Khảo sát cho thấy, khoảng 21-26% dân số của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phải chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn và nước biển dâng.
Bà Rịa - Vũng Tàu là địa phương chịu 2 tác động rõ ràng nhất của biến đổi khí hậu là nước biển dâng gây ngập và xâm nhập mặn.
Theo Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam thì diện tích có nguy cơ ngập chiếm 5,9% diện tích tự nhiên của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tương ứng với mực nước biển dâng là 1m.
Theo đó, thành phố Vũng Tàu, huyện Tân Thành và một phần của thành phố Bà Rịa là những nơi có nguy cơ ngập nặng nhất. Trong đó, 4 hệ sinh thái bị ngập nhiều nhất là rừng phòng hộ tự nhiên, rừng trồng phòng hộ, hệ sinh thái nuôi trồng thủy sản và hệ sinh thái nuôi trồng thủy sản nước lợ.
Hiện tượng ngập sẽ kéo theo quá trình xâm nhập mặn diễn ra mạnh hơn. Những vùng ngập mặn cũng tập trung tại 3 địa phương trên, trong đó nghiêm trọng nhất là thành phố Vũng Tàu và huyện Tân Thành.
Kết quả khảo sát cho thấy, mức độ ảnh hưởng đến dân số do nước biển dâng và xâm nhập mặn là khoảng 21-26% dân số của tỉnh. Trong đó, khu vực dân cư chịu ảnh hưởng nhiều nhất là các hộ dân sống ở các dải ven biển. (VOV Giao Thông 13/8) đầu trang(
Như Đại Đoàn Kết đã phản ánh, thời gian qua lâm tặc, vàng tặc đã ngang nhiên tàn phá môi trường danh lam thắng cảnh quốc gia hồ Phú Ninh.
Sau khi báo đăng, chúng tôi tiếp tục nhận được thông tin và thật đáng lo ngại những cánh rừng thông Caribe hàng chục năm tuổi cũng bị lâm tặc tấn công.
Để tìm hiểu vấn đề chúng tôi lặn lội vào các cánh rừng thông Caribe nằm trong địa phận rừng phòng hộ Phú Ninh thuộc tầm kiểm soát của Ban quản lý rừng phòng hộ Phú Ninh tại Tiểu khu 592 thuộc xã Tam Xuân 2, huyện Núi Thành, Quảng Nam. Những cây thông trồng và chăm sóc hàng chục năm mới đến thời kỳ khai thác lấy nhựa, cũng là những lá chắn gió bão, giữ môi trường sinh thái cho khu vực danh thắng quốc gia, giờ đã bị lâm tặc hóa kiếp thân tàn trơ gốc.
Tại đây, phóng viên chứng kiến hàng chục gốc thông Caribe có đường kính từ 40 đến 50cm bị lâm tặc triệt hạ. Nhiều cây chỉ còn trơ lại gốc nằm nhô lên trên mặt đất, có cây vừa bị đốn hạ, cành lá vứt ngổn ngang.
Điều đáng nói, không chỉ lâm tặc tấn công các cánh rừng thông Caribe, mà Công ty TNHH MTV Tiến Thiên Tân, có trụ sở tại xã Tam Xuân 2, huyện Núi Thành, Quảng Nam là đơn vị trúng thầu khai thác mủ thông với số lượng hơn 6.500 cây tại 28 lô thuộc khoảnh 5, Tiểu khu 592 cũng đã sai phạm trong quá trình khai thác, bảo vệ rừng.
Cụ thể Công ty này đã khai thác vượt mức hàng ngàn cây thông kể cả những cây thông chưa đến độ tuổi khai thác vẫn bị cạo vạch lấy mủ, nguy cơ chết là rất cao.
Trước sự việc này, ông Trần Tiến, Giám đốc Công ty TNHH MTV Tiến Thiên Tân thừa nhận rằng, có việc khai thác mủ thông vượt quy định khoảng 2.000 cây dưới đường kính theo quy định là 25cm. Nhưng việc khai thác này là do nhân công của đơn vị làm sai, một phần theo thiết kế lúc đấu thầu không rõ ràng, chỉ giao rừng trên giấy chứ không ai đi đếm từng cây, không đo đạc trước.
“Cả rừng núi bao la, chúng tôi cũng không quản được hết nhân công. Sau khi lực lượng chức năng phát hiện lập biên bản, tôi đã cho công nhân lập tức tháo bỏ hết tất cả các máng hứng nhựa thông từ các cây khai thác sai quy định. Nhưng thật tình, sai ở đây cũng có một phần trách nhiệm của lực lượng chức năng từ thiết kế ban đầu lúc đấu thầu chưa quy định rõ ràng…” - ông Tiến nói
Trước sự việc trên, ông Phan Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam cho biết: “Về rừng thông Caribe ở Tiểu khu 592 bị chặt phá và khai thác mủ vượt quy định, Chi cục đã giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ Phú Ninh và Hạt kiểm lâm huyện Núi Thành là hai đơn vị quản lý khu vực này tiến hành kiểm tra ngay sự việc và thông tin với báo chí.
Ngành kiểm lâm cương quyết như vậy, sao “máu” rừng vẫn chảy, có hay không việc kiểm lâm địa bàn bảo kê cho lâm tặc? Ông Tuấn khẳng định: “Không có chuyện bảo kê cho lâm tặc. Nhưng phải thấy cái khó ở đây, lâm tặc rất manh động, chúng ẩn náu trong rừng khai thác cất giấu gỗ ở sâu trong rừng, sau đó vận chuyển từng khúc ra ngoài. Khi lực lượng phát hiện thì chúng vứt xe bỏ chạy để lại tang vật nên khó xử lý. Ngoài ra, bọn chúng đi từng nhóm nhiều người, còn lực lượng kiểm lâm địa bàn chỉ có 2 người tuần tra, nếu phát hiện cũng phải tìm cách đối phó với lâm tặc mới bắt tại trận được. Thậm chí có lúc lâm tặc còn tấn công kiểm lâm để tẩu tán gỗ. Hiện Chi cục đang tham mưu cho UBND tỉnh Quảng Nam ban hành văn bản quy định về việc bảo vệ rừng được chặt chẽ hơn” .
Qua đó cho thấy, ngành kiểm lâm có chức năng quản lý, bảo vệ rừng, nhưng càng ngày lâm tặc càng manh động. Lực lượng kiểm lâm quá mỏng, trang thiết bị còn thiếu thốn, diện tích rừng quá lớn. Do đó để giữ được rừng thì cần mạnh tay hơn với lâm tặc. (Đại Đoàn Kết 13/8) đầu trang(
Thường trực Tỉnh ủy Đắc Nông giao chỉ đạo các sở ngành liên quan thực hiện nghiêm túc công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Tỉnh ủy Đắc Nông vừa thông báo kết luận của Thường trực Tỉnh ủy về kết quả điều tra, xử lý việc hủy hoại rừng, lấn chiếm đất rừng thuộc phần quản lý của Công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên Gia Nghĩa (Công ty Gia Nghĩa).
Kết luận nêu rõ, việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 11 của Tỉnh ủy về ngăn chặn phá rừng, phát triển rừng giai đoạn 2013-2015 còn hạn chế, yếu kém. Một số cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các ngành chức năng, các công ty lâm nghiệp, các chủ rừng còn buông lỏng quản lý; mô hình quản lý, bảo vệ rừng còn bất cập, tình trạng dân di cư tự do chưa được kiểm soát chặt chẽ… dẫn đến tình trạng hủy hoại rừng, lấn chiếm đất rừng với số lượng lớn kéo dài mà không có biện pháp ngăn chặn, xử lý hiệu quả.
Sau kết quả kiểm kê rừng, cơ quan chức năng tỉnh Đắc Nông đã phát hiện diện tích rừng bị mất lớn. Riêng lâm phần của Công ty Gia Nghĩa đã để mất hơn 9.000 ha rừng; đầu năm 2015 tiếp tục xảy ra các vụ phá rừng nghiêm trọng tại các tiểu khu thuộc lầm phần Xí nghiệp lâm nghiệp Nghĩa Tín và Xí nghiệp lâm nghiệp Đắc Ha…
Để ngăn chặn hiệu quả, xử lý nghiêm những sai phạm này, Thường trực Tỉnh ủy Đắc Nông giao Ban cán sự Đảng Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo các sở ngành liên quan thực hiện nghiêm túc công tác quản lý, bảo vệ rừng và phát triển rừng; giao Ủy ban Nhân dân tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng điều tra, khởi tố, xử lý nghiêm các cá nhân, đơn vị sai phạm.
Trong đó, đặc biệt chọn điểm nóng tại lâm phần quản lý của Công ty Gia Nghĩa để khởi tố hình sự, xét xử các trường hợp sai phạm trong việc quản lý bảo vệ rừng, để xảy ra phá rừng… (Đài Tiếng Nói Việt Nam 12/8) đầu trang(
Ngày 11-8 UBND xã Kim Thủy (Lệ Thủy) cho biết, một số đối tượng ở bản Rum-Ho, Trung Đoàn, Mít cùng một số lâm tặc ở Quảng Trị ra trạm bảo vệ rừng Cầu Khỉ thuộc rừng phòng hộ Động Châu ở Tây Trường Sơn đánh đập, hành hung một số cán bộ bảo vệ rừng.
Cụ thể, các đối tượng gồm Hồ Mua, Hồ Tý, Hồ Triển, Hồ Trinh, Hồ Đua... là người địa phương thường hay khai thác lâm sản trái phép đã cùng 16 đối tượng khác ở Quảng Trị vào trạm bảo vệ rừng Cầu Khỉ phá hoại tài sản, đánh cán bộ bảo vệ rừng, khống chế, bắt giữ người trái phép.
Ông Đào Duy Đài, Trạm trưởng Trạm bảo vệ rừng Cầu Khỉ tường trình tại cơ quan chức năng: Các đối tượng trên vào trạm của đơn vị, khống chế trạm trưởng, đánh ông Đài, sau đó vào bếp đập vỡ ly uống nước của trạm. Tiếp đến, chúng bắt giữ ông Đài buộc ra một quán tạp hóa ở bản Ho-Rum xã Kim Thủy, bắt trả tiền ăn, tiền nhậu của chúng với 800.000 đồng.
Trước đó vào cuối tháng 6-2015 ông Đài cùng một số cán bộ bảo vệ rừng ở Cầu Khỉ phát hiện một số đối tượng chặt hạ 3 cây gỗ gõ quý hiếm, chúng xẻ thành 14 phác loại lớn, sự việc được báo cáo kiểm lâm và số gỗ được thu hồi. Khi gỗ bị bắt, các đối tượng trên vào trạm yêu cầu lấy gỗ nhưng không được đáp ứng nên lao vào hành hung, đập phá trạm bảo vệ rừng, bắt ông Đài trả 800.000 đồng tiền quán nêu trên.
“Các đối tượng nói đó tiền mua xăng cho cưa, tiền thức ăn chúng mua để đi rừng”- Ông Đài cho biết thêm. Hiện cơ quan công an đang tiếp tục điều tra sự việc. (Phương Nam 11/8) đầu trang(
Mới đây tại tỉnh Bình Thuận đã diễn ra hội nghị sơ kết thực hiện Quy chế phối hợp quản lý, bảo vệ rừng vùng giáp ranh giữa Bình Thuận và Lâm Đồng, từ tháng 6/2014 đến tháng 6/2015.
Ông Phạm S- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng và ông Huỳnh Thanh Cảnh- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận đồng chủ trì hội nghị. Tham dự còn có đại diện lãnh đạo một sở, ngành, địa phương vùng giáp ranh 2 tỉnh, các ban quan lý rừng phòng hộ, chi cục kiểm lâm, hạt kiểm lâm thuộc các huyện Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Tánh Linh, Đức Linh...
Từ tháng 6/2014 đến nay, cơ quan chức năng Bình Thuận đã phát hiện, bắt giữ và xử lý 121 vụ vi phạm về phá rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép...Xử lý hành chính 116 vụ, tịch thu 185,77 m3 gỗ các loại, xử lý hình sự 5 vụ. Tổ chức 20 đợt tuyên truyền với hơn 1.100 lượt người tham gia; tổ chức cho 269 hộ dân sống ven rừng, gần rừng ký cam đoan, cam kết bảo vệ rừng.
Phía Lâm Đồng đã bắt giữ và xử lý 147 vụ vi phạm, chủ yếu là các hành vi khai thác lâm sản trái phép; tổ chức được 26 đợt tuyên truyền với trên 1.000 lượt người tham gia. Qua công tác tuyên truyền, giáo dục đã góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư tham gia bảo vệ và phát triển rừng, hạn chế đáng kể tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản, lấn chiếm đất lâm nghiệp, cháy rừng tại khu vực giáp ranh.
Tuy nhiên, tình hình vi phạm về phá rừng, khai thác, mua bán, cất giấu, vận chuyển lâm sản trái phép tại các khu vực giáp ranh vẫn còn xảy ra và diễn biến phức tạp; nhiều vụ vi phạm nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn đến tài nguyên rừng, nhưng các cơ quan chức năng chưa phát hiện, ngăn chặn kịp thời.
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, lãnh đạo 2 tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận đánh giá cao các đơn vị chức năng của 2 tỉnh trong việc tăng cường truy quét các đối tượng vi phạm; đẩy mạnh công tác tuyên truyền. Đồng thời nhấn mạnh, các đơn vị, địa phương cần tiếp tục tuyên truyền, vận động nhân dân vùng giáp ranh bảo vệ rừng.
Sở Nông nghiệp& PTNT 2 tỉnh tham mưu lãnh đạo tỉnh xây dựng một số chốt bảo vệ rừng; nâng cấp từ chốt thành trạm. Lực lượng chống phá rừng, bảo vệ rừng của mỗi tỉnh chủ động tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát tại gốc nhằm ngăn ngừa vi phạm xảy ra... (Báo Bình Thuận 12/8) đầu trang(
Để bảo vệ rừng nhất là rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, huyện Lâm Bình đã chú trọng chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia bảo vệ rừng; đồng thời, tổ chức tuần tra, phát hiện xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Giai đoạn 2011-2014, huyện đã trồng mới gần 4.300 ha rừng, nâng độ che phủ của rừng đạt trên 70% diện tích tự nhiên và đang là địa phương có độ che phủ rừng cao nhất tỉnh hiện nay.
Đến nay, huyện đã hoàn thành thực hiện Đề án giao rừng trồng gắn với giao đất lâm nghiệp thuộc Chương trình 327 và Dự án 661 đã quy hoạch lại rừng sản xuất và giao đất cho các hộ dân. Toàn huyện hiện đã có 40 tổ chức, cá nhân, hộ dân tham gia nhận khoán với tổng diện tích trên 4.400 ha; khoán bảo vệ rừng phòng hộ tự nhiên gần khu dân cư cho 44 hộ với tổng diện tích bảo vệ là trên 7.000 ha.
Theo ông Nông Giang Nam, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện, đơn vị đang quản lý, bảo vệ trên 64.296 ha rừng. Do lực lượng của đơn vị còn mỏng (trung bình mỗi cán bộ quản lý gần 2.500 ha rừng) nên đơn vị xác định công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về rừng cho người dân là giữ vị trí hàng đầu.
Các cán bộ kiểm lâm phụ trách các xã thường xuyên bám sát địa bàn, xuống các thôn, bản tuyên truyền cho người dân hiểu được các chính sách, pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng. Bên cạnh đó, các vụ vi phạm lâm luật đều được xử lý nghiêm minh tạo tính răn đe nên tình trạng khai thác rừng trái phép, các vụ phá rừng làm nương rẫy trên địa bàn đã giảm hẳn.
6 tháng đầu năm 2015, huyện đã trồng mới 855 ha rừng, đạt 100% kế hoạch, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2014. Cùng với đó, lực lượng kiểm lâm huyện đã phối hợp với các UBND xã tổ chức 116 buổi tuyên truyền pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng cho gần 6.000 lượt người; tổ chức ký cam kết không vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng giữa 75 trưởng thôn, bản với Chủ tịch UBND các xã, giữa 5.346 chủ hộ dân với trưởng thôn, bản.
Thông qua công tác nắm bắt thông tin, chủ động đấu tranh, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm lâm luật, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện và xử lý 54 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Hình thức vi phạm chủ yếu là vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép, khai thác rừng trái pháp luật...
Hạt Kiểm lâm huyện cũng đã thu giữ hơn 54 m3 gỗ các loại, tịch thu 13 phương tiện gồm máy cưa, súng săn; xử phạt hành chính 52 vụ với tổng tiền nộp ngân sách Nhà nước là gần 59 triệu đồng.
Để công tác bảo vệ và phát triển rừng đạt kết quả tốt, thời gian tới các lực lượng chức năng huyện Lâm Bình tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Lực lượng Kiểm lâm tích cực phối hợp với các đơn vị liên quan tăng cường công tác tuần tra, chủ động nắm chắc thông tin kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. (Báo Tuyên Quang 12/8) đầu trang(
Lãnh đạo TPH CM đã khen thưởng Thảo Cầm viên Sài Gòn vì thành tích lai tạo giống hổ trắng quý hiếm thành công.
Sáng 12/8, Chủ tịch UBND TP HCM Lê Hoàng Quân đã khen thưởng đột xuất Công ty TNHH MTV Thảo Cầm viên Sài Gòn (Thảo Cầm viên Sài Gòn) về thành tích lai tạo giống hổ trắng quý hiếm thành công.
Ông Phan Việt Lâm, Giám đốc Thảo Cầm Viên Sài Gòn cho biết: “Việc hổ trắng sống tốt và sinh đẻ thành công 3 chú hổ con chứng tỏ loài hổ trắng quý hiếm đã thích nghi với khí hậu miền Nam Việt Nam. Trong thời gian tới chúng tôi sẽ tiếp tục đặt mục tiêu bảo tồn, nhân giống bảo vệ các gen, nhất là động vật quý hiếm”.
Hiện nay, Thảo Cầm Viên Sài Gòn với diện tích 17 ha hàng năm thu hút gần 2,4 triệu lượt khách tham quan. Thảo Cầm Viên Sài Gòn đã xây dựng được một bộ sưu tập rất phong phú với gần 1.000 loài thực vật thuộc hơn 100 họ và khoảng 123 loài động vật thuộc các lớp chim, thú, bò sát. Trong đó có hơn 20 loài thực vật và hơn 100 loài động vật nằm trong danh sách các loài quý hiếm của Việt Nam và thế giới.
Cách đây 5 năm, Thảo Cầm Viên Sài Gòn nhập hổ bố (tên là Lem) và hổ mẹ (tên là Luốc) từ vườn thú Elmvale (Canada) về thuần dưỡng. Đây là loài hổ trắng có nguy cơ tuyệt chủng, đang đứng hàng đầu trong danh sách những loài cần được bảo vệ.
Loài hổ trắng hiện nay phân bố ở khu vực Bangaledesh, Ấn Độ, Bhutan, Trung Quốc, Nepal. Theo Quỹ bảo vệ động vật hoang dã (WWF) số lượng hổ từ năm 1900 đến năm 2013 giảm từ 100.000 xuống 3.200 con. (Giao Thông 12/8) đầu trang(
Đàn dê của nhà ông Tuấn Anh có hình dáng kỳ lạ. Màu lông và bờm của những con dê này gần giống sư tử.
Trưa 12/8, PGS-TS Lê Xuân Thám, Giám đốc Sở KH&CN Lâm Đồng cho biết, đoàn cán bộ của Sở và Viện Khoa học Tây Nguyên vừa đi khảo sát đàn dê lạ ở Khu du lịch Làng Cù Lần trên địa bàn thôn Suối Cạn, xã Lát, Lạc Dương, Lâm Đồng.
Ông Văn Tuấn Anh, chủ đàn dê cho biết hai năm trước, khi vào vùng đồng bào dân tộc K’Ho ở thôn Long Lanh (xã Đạ Chais, Lạc Dương), ông phát hiện trên đồng cỏ có những con dê hình thù khác lạ. Bà con K’Ho kể rằng những con dê này do dê nhà giao phối với sơn dương (động vật quý hiếm nhóm IB, có tên trong sách đỏ Việt Nam) sinh ra. Chúng được nuôi thả rông, ban đêm tự đào hang để ngủ như sơn dương.
Ông Tuấn Anh liền mua một cặp dê đã trưởng thành về nuôi, sau đó mua thêm một con dê đực thả rông của một hộ người K’Ho ở huyện Đam Rông (Lâm Đồng) về nuôi chung. Hai năm nay, đàn dê nhanh chóng nhân đàn lên 19 con, trong đó có 7 con cái, đa số có hình dáng, màu lông và bờm gần giống sư tử.
Cũng theo ông Tuấn Anh, đàn dê rất dễ nuôi, thích ở rừng, ăn cỏ tạp, đào hang để ngủ, Những đêm sáng trăng , chúng ra khỏi hang và kéo nhau lên đổi gặm cỏ. Điều đặc biệt nữa là chúng rất khỏe, không hề bị bệnh như dê nuôi nhốt và rất nhát, thấy người là bỏ trốn vào hang. Tuy nhiên cũng có lúc chúng khá hung dữ, húc bất cứ ai đến gần; số còn lại thì lại khá nhút nhát,.
Trao đổi với phóng viên, TS Thám nói nhìn bề ngoài đây là đàn dê có hình dáng lạ, lông và bờm rất đẹp, khỏe mạnh, thể hiện tính hoang dã rất cao. Với các yếu tố lông dày, bờm dài, sừng cong…, những con dê này rất gần gũi với động vật hoang dã.
Chắc chắn đây là dê lai nhưng chưa khẳng định được là lai với loài gì. Nếu đúng đàn dê có nguồn gốc lai từ sơn dương của rừng quốc gia Bidoup - Núi Bà thì đây là vốn quý, cần phải bảo tồn và phát triển. Sắp tới Sở KH&CN sẽ phối hợp với một cơ quan nghiên cứu ở TPHCM và chủ đàn dê lấy mẫu giám định lại nguồn gien để có cơ sở xác định đây là dê lai với động vật hoang dã hay dê bản địa.
Cán bộ chuyên nghiên cứu động vật hoang dã của Viện nghiên cứu khoa học Tây nguyên cũng cho biết mặc dù đã từng đi khắp các tỉnh ở Tây Nguyên nhưng đây là lần đầu tiên được nhìn thấy đàn dê có hình dáng và màu lông tựa như sư tử thế này. Có thể dùng sinh học phân tử để nghiên cứu di truyền ADN nhằm tìm hiểu nguồn gốc lai của đàn dê này. (Tiền Phong 12/8) đầu trang(
Bảo vệ rừng là trách nhiệm của toàn dân, bảo vệ rừng gắn với phát triển, sử dụng rừng là vấn đề luôn được các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân quan tâm.
Việt Nam rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu. Câu nói đó của cha ông đã được bao thế hệ người Việt Nam truyền miệng với lời nhắn nhủ :”Phải biết bảo vệ rừng, biển, đất như những tài sản quý giá nhất của Quốc gia”.
Bảo vệ rừng là trách nhiệm của toàn dân, bảo vệ rừng gắn với phát triển, xử dụng rừng bên vững là vấn đề luôn được các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân quan tâm.
Những chính sách quản lý sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường và đất rừng đều đã được ban hành và đã thực hiện trong nhiều năm qua. Tuy nhiên thực tế công tác quản lý và sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường và đất rừng vẫn đang gặp nhiều khó khăn, bất cập, hiệu quả sử dụng đất thấp, kết quả sản xuất kinh doanh chưa tương xứng với nguồn lực tài nguyên được nhà nước giao quản lý sử dụng, công tác bảo vệ và phát triển rừng như phòng chống cháy rừng, trồng mới diện tích rừng, giao đất rừng cho dân vẫn chưa thực sự hiệu quả. (VOV Giao Thông 12/8) đầu trang(
Trong cái nắng khốc liệt, xứ Thạch Hóa (Tuyên Hóa, Quảng Bình) như nung trong lò lửa. Núi đá vôi giữa thung lũng Thiết Sơn hấp nhiệt, nguồn nước bốc hơi nhanh chóng. Nguyễn Thanh Tú lo lắng gùi từng can nước vào hốc đá gần hang ngủ của loài voọc Hà Tĩnh, tiếp nước cho chúng vào sáng sớm. Anh sợ chúng chết khát.
Mới ở đầu xã bên ngoài quốc lộ 12A hỏi nhà anh Tú đâu, người dân nhiệt tình chỉ tay, nhiệt tình hướng dẫn. Chị Thanh bán quán nói luôn: “Chú đi hết năm cây số, vô đến Thiết Sơn, hỏi nhà anh Tú voọc là ai cũng biết”. Quả nhiên, khi lọt vào thung lũng này, hỏi đến tên anh Tú thôi, ai cũng nói, Tú voọc hay Tú vượn có nhà gần mé núi đó.
Anh kể về cuộc đời của anh, mới sinh đã có đàn voọc quý, chúng có mặt từ khi làng chưa hình thành nơi này. Tuổi thơ của Tú lớn lên với những ngọn lèn Tang Bồng, Hung Cù, Đá Trắng... cứ mùa hè thì ngày tắm thác Phú Hội, tối về nghe voọc hót. Tiếng hót của chúng vang vang đến ám ảnh. Có lẽ vì vậy mà anh bằng mọi giá nghĩ cách bảo vệ loài này.
Nói chuyện với chúng tôi, anh trổ hết các hiểu biết bản địa về voọc Hà Tĩnh, về thức ăn, cách thức sinh con, con mẹ chăm sóc con non như thế nào. “Con đầu đàn thường xuất hiện và canh chừng ở cái cây cao nhất để cả đàn bứt lá ăn. Nếu có động, nó rung lên và hét to rồi chạy nhanh vào các hốc đá để cả đàn đi theo.
Ở đây nay có nhiều đàn voọc nên chúng thường hay tranh giành lãnh địa của nhau, lâu lâu vẫn có hai đàn giáp lá cà dọa nhau bằng số lượng cá thể trong đàn, sau đó chúng dọa nhau bằng hú hét, bên nào hét dài hơi, to hơn thì bên đó thắng. Nhưng hai bên đồng đều thì con đầu đàn của hai phía lao vào đánh nhau. Chúng đánh nhau trối chết, con đầu đàn nào thua, trở thành voọc cô đơn.
Đàn thắng thu nạp hết con non, con cái, con đực chưa trưởng thành vào đàn nó và uy lực được tăng thêm, lãnh thổ được mở rộng”, anh Tú kể. Hiểu đến tập tính như thế nên dân làng gọi anh là người voọc hay người vượn một cách trìu mến.
Năm 2012, Nguyễn Thanh Tú về hưu, toàn tâm toàn ý đi chăn voọc quý. Lúc đó cứ nghe tin ở đâu có người săn bắn khét tiếng, anh đều đi điều tra thật kỹ. Chiếc điện thoại cũ xưa dùng ghi âm và quay độ phân giải thấp anh thâu lại lời nói của các thợ săn khét tiếng khi chúng khoe khoang thành tích săn bắn.
Thu xong, hôm sau anh mời đi uống nước nói chuyện, rồi mở cho thợ săn trộm nghe với lời hứa nếu dừng săn bắn voọc quý, clip này sẽ không bao giờ chuyển đi cho ai, nếu săn bắn trộm nữa thì sẽ nộp hết cho cơ quan công an để họ xử lý theo pháp luật. Làm thế mà cũng cả chục kẻ chuyên săn trộm bạt mạng phủ phục trước mặt anh.
Nhưng anh vẫn phải vào rừng mỗi ngày. Cứ sáng mắt, trời mưa phùn hay lũ lụt anh đều lội vào cánh rừng quen thuộc, mặc cho sên vắt, mặc cho đá tai mèo sắc nhọn, mặc cho rắn độc luôn rình rập. Vợ anh can ngăn, rằng thú trong rừng, làm răng mà giữ được, họ bắt thì làm răng mà bảo vệ.
Trách cứ anh bỏ việc nhà, không quan tâm việc gì. Rồi khi anh được nhà nghiên cứu sinh vật rừng Lê Trọng Trãi nể phục, tặng ống nhòm, vợ anh cũng giấu đi khiến anh không yên chuyện. Bỏ nhà vào rừng mấy ngày liền, vợ hiểu ra mới nhờ người đưa ống nhòm vào rừng cho Tú canh voọc.
Nguyễn Thanh Tú lo lắng gùi từng can nước vào hốc đá gần hang ngủ của loài voọc Hà Tĩnh, tiếp nước cho chúng vào sáng sớm. Anh sợ chúng chết khát. Tú leo lên núi cao, nơi có các hang đá, dốc từng cốc nước vào các miệng phễu có đáy, đổ đầy ở đó, hôm sau lên tiếp, nước có bữa cạn khô, có bữa còn dưới đáy, chứng tỏ loài voọc và một vài loài khác vẫn uống.
Khi những cơn mưa rải rác hắt xuống, Tú mới thôi gùi nước cho voọc và lúc đó, anh phát hiện ra, loài voọc còn một cách lấy nước nữa để sinh tồn; hớp từng giọt sương đọng lại trên cành lá.
Bao nhiêu năm ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng, tốn kém sức lực và kinh tế, nhưng anh Tú vẫn một mực bảo vệ, giữ gìn loài linh trưởng là linh hồn phúc lành của làng. Dù ai nói gì, châm chọc thế là điên, là khùng anh vẫn cười tươi, bỏ ngoài tai.
Người dân vẫn nói, từ ngày có anh Tú bảo vệ được đàn voọc mà chúng sinh sôi từ vài chục con đến hơn 115 con, tách thành cả mười mấy đàn. Có đàn lớn hai mươi con, có đàn nhỏ gần mươi con, còn trung bình từ 10-15 con. Từ công lao của Tú mà đàn voọc Hà Tĩnh nay đã mến người hơn những năm trước, chúng vào sát nhà dân dưới mái núi kiếm ăn và có khi còn xuống cạnh bể nước để giải khát.
Theo chân anh Tú 5 ngày, tưởng như phải bỏ cuộc thì ngày thứ 6 và thứ 7, đúng hai ngày cuối cùng của khoảng thời gian đã định, người dân chăn bò, làm ruộng gần đó gọi điện thoại dồn dập báo chúng ra ăn một cách tự nhiên. Cụ Đồng bảo: “Rứa là chúng tin các chú rồi mới dạn dĩ ra lại đấy”.
Anh Tú dùng ống nhòm, trên cao tít tắp hàng trăm mét, một cá thể hiện ra ở mỏm đá rất oai vệ. Anh nhìn ra con đầu đàn bởi đuôi dài, mình to, cái má trắng hai bên cực kỳ nổi bật và đám lông trên đầu hình chóp nhọn trông oai phong kỳ lạ. Nó ra quan sát những con người như chúng tôi phía dưới.
Nó nhìn thấy mấy nông dân dùng bò bừa luống lạc, mấy người đàn bà đang bứt cỏ, có người đang vác cày về nhà. Còn anh Tú như thường lệ gặp chúng, lại mở loa ngoài bản nhạc anh thích về núi rừng cho chúng nghe cùng. Anh kể: “Nhiều bữa, mở nhạc, cả đàn kéo xuống cách mình chỉ 5-10 mét thôi. Có bữa mở nhạc mệt quá, thiếp ngủ, chúng xuống mở cái mũ úp trước mặt trêu nữa”.
Khi đã tạo dựng cho đàn voọc có không gian yên tâm, anh Tú tiến thêm một bước nữa là phải bảo vệ chúng an toàn hơn. Đầu năm 2015, anh vào Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình, báo cáo về đàn voọc quý mà trên thế giới loài này chỉ còn sống phần lớn ở Quảng Bình, một ít ở Quảng Trị và phía Lào.
Ông Phạm Hồng Thái, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh quá bất ngờ, đi thực địa rồi thốt lên: “Tôi không tin vào mắt mình ở đây có vài trăm cá thể voọc Hà Tĩnh quý hiếm. Tận thấy mới biết, Nguyễn Thanh Tú tận tâm tận lực như thế nào. Cả nước e chỉ có một người dám chăn được voọc quý. Một con người vì môi trường, vì động vật hoang dã hết mình mà chúng tôi rất trân trọng”.
Ngày nay Tú không cô đơn một mình để giữ voọc mà còn có người làng như Nguyễn Văn Nam, Nguyễn Văn Hồng, Nguyễn Văn Sử cùng tham gia với anh. Bởi họ biết, chúng như “thần” hộ mệnh của làng. Khi voọc được bảo vệ thì các loài chim, chồn, cáo cũng được bảo vệ theo. Thế nên vào xứ này cứ như đi trong khu vườn cổ tích, tiếng chim đủ loại líu lo vang cả đất trời.
Chia tay xứ núi với những cái tên lạ đến da diết; Dàn Vượn, Tang Bồng, Sẩm Mè... mà yên tâm có một người lính rời quân ngũ về làng giữ cho loài quý hiếm sách đỏ cơ hội sống bền vững đến mai sau. (Văn Hóa 12/8) đầu trang(
Ngày 10.8, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Thị Thu Hà đã ký Quyết định số 2796/QĐ-UBND phê duyệt Dự án (DA) nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2017-2020.
Theo đó, tổng mức đầu tư cho DA này là 36,38 tỉ đồng từ nguồn vốn ngân sách Trung ương hỗ trợ theo Quyết định số 1938/QĐ-TTg ngày 28.10.2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án nâng cao năng lực PCCCR giai đoạn 2014-2020.
DA sẽ đầu tư mua sắm các phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật, xây dựng cơ sở vật chất cho lực lượng kiểm lâm và các lực lượng phối hợp trong công tác bảo vệ rừng và PCCCR. Hỗ trợ củng cố tổ chức, nâng cao năng lực cho lực lượng PCCCR từ tỉnh đến huyện, xã.
Đặc biệt là lực lượng chuyên ngành để có đủ khả năng kiểm soát cháy rừng, giảm nguy cơ cháy rừng kịp thời, hiệu quả. (Báo Bình Định 12/8) đầu trang(
Vườn Quốc gia Bù Gia Mập (Bình Phước) vừa tiếp nhận 1 cá thể vượn đen má vàng và 1 cá thể chà vá chân đen quý hiếm do người dân tự nguyện bàn giao.
Chà vá chân đen (Pygathrix nigripis) được anh Lê Anh Tuấn (SN 1985) ở thị trấn Đức Phong, huyện Bù Đăng nuôi nhốt. Sau đó anh biết được loài này nằm trong sách Đỏ và thuộc nhóm cấm nuối nhốt nên đã liên lạc và chuyển giao cho VQG Bù Gia Mập cứu hộ để thả về rừng. Cá thể chà vá chân đen này nặng khoảng 1,5 kg.
Trước đó, anh Lê Bá Nam (SN 1984) ở khu 5, phường Thác Mơ, thị xã Phước Long (Bình Phước) cũng bàn giao 1 cá thể vượn đen má vàng (Nomascus Gabriellae) nặng khoảng 3 kg (anh Nam mua của người dân địa phương về nuôi nhốt, sau đó tự nguyện giao nộp cho VQG để cứu hộ).
Vượn đen má vàng và chà vá chân đen thuộc nhóm IB động vật hoang dã quý hiếm, nghiêm cấm khai thác và sử dụng vì mục đính thương mại. (Nông Nghiệp Việt Nam 12/8) đầu trang(
Trong những năm qua, tình trạng chặt phá rừng đã và đang có nhiều diễn biến phức tạp. Bên cạnh những áp lực về gia tăng dân số, yêu cầu bức thiết về đất ở và đất canh tác, còn có một nguyên nhân quan trọng khác dẫn tới tình trạng phá rừng tràn lan ở nhiều địa phương trên cả nước là món lợi lớn thu được từ việc khai thác, buôn bán các loại lâm sản, nhất là các loại gỗ quý.
Theo thống kê, trung bình mỗi năm cả nước mất gần 32.000 ha rừng, trong đó nguyên nhân lớn là do nạn chặt phá rừng trái phép. Dù Chính phủ đã triển khai thực hiện các chương trình phủ xanh đất trống, đồi trọc nhưng diện tích rừng trồng mới vẫn không bù lại được diện tích rừng đã bị tàn phá.
Đất trống, đồi trọc xuất hiện ngày càng nhiều, kéo theo vô số hệ lụy, điển hình là tình trạng lũ lụt, hạn hán bất thường diễn ra ở nhiều địa phương khắp các vùng, miền trong cả nước. Rất nhiều cây gỗ quý, có tuổi đời hàng chục, thậm chí hàng trăm năm đã bị “lâm tặc” ngang nhiên đốn hạ.
Cùng với việc trồng mới, công tác bảo vệ, giữ gìn màu xanh của rừng đóng vai trò hết sức quan trọng. Không thể phủ nhận một thực tế là, trong “cuộc chiến” bảo vệ rừng, lực lượng kiểm lâm chính là những người “đứng mũi chịu sào”. Mặc dù lực lượng mỏng, trang thiết bị kỹ thuật để thực thi nhiệm vụ còn thiếu thốn, lại thường phải quản lý một địa bàn rộng nhưng nhiều cán bộ kiểm lâm vẫn cần mẫn với nghề, âm thầm chịu đựng gian khổ, sống heo hút giữa rừng sâu để bảo vệ rừng.
Vì những món lợi lớn, “lâm tặc” đã tìm mọi cách chống đối lực lượng kiểm lâm. Trong khi lực lượng kiểm lâm còn mỏng, trang thiết bị, phương tiện làm việc còn hạn chế thì “lâm tặc” thường trang bị máy móc hiện đại phục vụ việc chặt phá rừng, thậm chí luôn thủ sẵn trong người nhiều loại vũ khí nguy hiểm như dao, kiếm, súng…, sẵn sàng chống trả lực lượng kiểm lâm.
Cũng bởi vậy mà trong không ít cuộc đối đầu với “lâm tặc”, các cán bộ kiểm lâm bị rơi vào “thế yếu”. Để bảo vệ, giữ gìn màu xanh của những cánh rừng, không ít mồ hôi và cả máu của lực lượng kiểm lâm đã đổ xuống.
Tuy nhiên, đáng buồn là, bên cạnh những cán bộ kiểm lâm tận tụy, tâm huyết với nghề thì vẫn có một bộ phận không nhỏ đã bị tha hóa, biến chất. Họ “nhắm mắt” làm ngơ để “lâm tặc” ngang nhiên hoành hành, thậm chí có một số trường hợp còn trực tiếp tham gia tiếp tay vận chuyển gỗ lậu cho “lâm tặc”. Nhà nước giao cho lực lượng kiểm lâm quản lý, bảo vệ rừng nhưng một bộ phận trong số đó lại làm cho rừng xanh đang từng ngày “chảy máu”.
Không ít vụ việc kiểm lâm tiếp tay cho “lâm tặc” trong thời gian qua cho thấy, vẫn còn nhiều bất cập trong công tác bảo vệ rừng tại địa phương. Dù biết rằng, đó chỉ là “những con sâu làm rầu nồi canh” nhưng vấn đề là, phải có những biện pháp quyết liệt để loại bỏ những “con sâu” ấy. (Công An Nghệ An 12/8) đầu trang(
Theo Hạt kiểm lâm Tuy Phong, những tháng đầu năm nay, vùng rừng nội địa thường xuyên bị các đối tượng chủ yếu là công dân các xã Phong Phú, Vĩnh Hảo, Vĩnh Tân, Phú Lạc và Liên Hương đến chặt phá, khai thác trái phép.
Qua điều tra nắm tình hình, lực lượng chức năng mới phát hiện thêm 16 đối tượng là công dân Phan Dũng tham gia chặt phá rừng trên chính lâm phận được giao khoán cho đồng bào Phan Dũng quản lý. Đáng chú ý là những nhóm đối tượng ở xã Phong Phú, đây là những đối tượng hết sức liều lĩnh, manh động, thường xuyên tổ chức khai thác, vận chuyển gỗ ra khỏi rừng vào ban đêm, gây không ít khó khăn cho lực lượng bảo vệ rừng khi giáp mặt.
Bên cạnh đó, tại vùng rừng giáp ranh, các đối tượng là công dân các địa phương lân cận cũng thường xuyên thăm dò và xâm nhập trái phép vào khu vực rừng của huyện để khai thác gỗ quý hiếm có giá trị kinh tế cao, vận chuyển về Lâm Đồng tiêu thụ.
Tại hội nghị sơ kết chống phá rừng 6 tháng đầu năm, lãnh đạo UBND huyện đã yêu cầu Ban chỉ huy bảo vệ rừng phòng cháy chữa cháy huyện cần tích cực phối hợp với các ngành, các địa phương tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật liên quan đến Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Phối hợp với các đơn vị chủ rừng, các xã có rừng vận động các hộ gia đình sống gần rừng cam kết không tham gia phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép trên địa bàn huyện. Kịp thời dự báo các cấp cháy rừng và thực hiện nghiêm các quy định phòng cháy, chữa cháy rừng.
Quan trọng nhất là các lực lượng chức năng phải thường xuyên duy trì việc trao đổi thông tin về diễn biến tình hình phá rừng tại các khu vực trọng điểm. Thống nhất biện pháp, thời gian tổ chức truy quét để ngăn chặn nạn phá rừng, vận chuyển trái phép lâm sản. (Báo Bình Thuận 12/8) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, do nắng hạn kéo dài người dân không có nước để sản xuất, đời sống của một số hộ dân gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, nhiều người lên rừng kiếm củi, cộng với đối tượng phá rừng chuyên nghiệp nên nạn phá rừng ở Phan Dũng - Phong Phú ngày càng "nóng lên".
Đây là khu vực có địa hình hiểm trở, chia cắt bởi nhiều sông suối, đồi núi cao, xa khu dân cư. Nhiều tuyến giáp ranh với Đức Trọng - Lâm Đồng, Ninh Sơn - Ninh Thuận. Thời gian gần đây có thêm tuyến đường thuộc Dự án JICA (dự án khoanh nuôi tái sinh rừng) dài khoảng 10 km, thông tuyến từ hồ Phan Dũng đến khu vực Tà Hoàng nằm trong diện tích rừng của Ban quản lý rừng phòng hộ Tuy Phong. Khu vực này có trữ lượng gỗ tương đối nhiều, chưa tác động, đường sá đi lại dễ dàng, tạo thuận lợi cho đối tượng phá rừng hoạt động trái phép.
Đối tượng phá rừng chủ yếu ở xã Phong Phú, một số ở Vĩnh Hảo, Phan Dũng. Đối tượng phá rừng dùng máy cưa, đèn đội đầu chặt hạ gỗ vào ban đêm, sau đó dùng xe độ, chế vận chuyển lâm sản ra khỏi rừng ngay trong đêm để né tránh lực lượng chức năng.
Mỗi ngày có hàng chục chiếc xe độ, nối đuôi nhau chở lâm sản ra khỏi rừng. Khi gặp lực lượng bảo vệ rừng đối tượng này rất manh động, liều lĩnh, cản đường, huy động nhiều người nhằm tẩu tán tang vật...
Xe độ chở gỗ từng tốp 4 - 5 chiếc, phóng với tốc độ cao, lao vun vút trên đường. Ai gặp phải cũng phải tránh xa vì sợ nguy hiểm. Theo người dân, tình trạng lâm tặc từ Lâm Đồng, Ninh Thuận đến Phan Dũng phá rừng đã diễn ra nhiều năm nay bất chấp sự ngăn chặn của chính quyền địa phương.
Trước tình hình đó, Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với các đơn vị chủ rừng và 2 xã Phong Phú, Phan Dũng thành lập tổ liên ngành gồm: Kiểm lâm, chủ rừng, công an xã, đóng chốt tại dốc Hố Nai xã Phong Phú. Tổ chức kiểm tra, tuần tra ngăn chặn (24/24 giờ) tình trạng tập kết, vận chuyển lâm sản trái phép trên tuyến đường Phong Phú - Phan Dũng, các tuyến đường có sẵn trong rừng, sông, suối ven rừng liền kề với các hộ dân.
Hỗ trợ kịp thời khi có yêu cầu của các đơn vị chủ rừng trong việc tăng cường kiểm tra, truy quét tại các khu vực rừng có nguy cơ bị tàn phá. Lực lượng chức năng đã xử lý 8 vụ vi phạm, tịch thu 0,698m3 gỗ các loại, gỗ không định hình, hình thù phức tạp 123 kg (nhóm 1), than hầm 1.256 kg, 7 xe máy độ chế.
Qua đó, hỗ trợ đồng bộ cho công tác bảo vệ rừng tận gốc. Đến thời điểm này, tình hình khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép nội huyện giảm nhiều, tạm ổn định. Nhưng vẫn còn một số người dân khó khăn về kinh tế vẫn lén lút vào rừng kiếm củi vận chuyển về địa phương để tiêu thụ. (Báo Bình Thuận 12/8) đầu trang(
Tỉnh Tuyên Quang có trên 445.000 ha đất lâm nghiệp, độ che phủ rừng đạt trên 64% và là một trong những tỉnh có độ che phủ rừng cao nhất nước.
Tuy nhiên, theo điều tra của ngành Kiểm lâm, hiện trên địa bàn toàn tỉnh có hơn 226.000 ha rừng ở những khu vực dễ cháy. Trong khi đó, trang thiết bị thì thiếu, nhận thức của người dân về công tác phòng, chống cháy rừng còn nhiều hạn chế.
Để chủ động phòng chống cháy rừng trong mùa khô năm nay, tỉnh Tuyên Quang đang chỉ đạo các ngành chức năng và địa phương thực hiện các biện pháp phòng chống cháy rừng, theo phương châm “4 tại chỗ”, yêu cầu các chủ rừng phối hợp chặt chẽ với lực lượng kiểm lâm thường xuyên kiểm tra nghiêm ngặt trên các vùng trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng, phát hiện kịp thời điểm cháy và xử lý tình huống hiệu quả.
Bên cạnh đó, tỉnh Tuyên Quang cũng đang thực hiện dự án “Nâng cao năng lực phòng, cháy rừng”, với tổng vốn đầu tư khoảng 10 tỉ đồng với nhiều hạng mục về trang thiết bị, xây dựng các chòi canh lửa, các biển báo cấp độ cháy rừng…
Theo thống kê, trong năm 2014 và 5 tháng đầu năm 2015, toàn tỉnh Tuyên Quang đã xảy ra 5 vụ cháy rừng, với tổng diện tích bị thiệt hại hơn 3,5 ha. Tuy nhiên khi xảy ra các vụ cháy, Ban chỉ đạo phòng chống cháy rừng các địa phương đã huy động lực lượng tại chỗ chữa cháy kịp thời, nên đã hạn chế tối đa thiệt hại. (Đài Phát Thanh – Truyền Hình Sóc Trăng 12/8) đầu trang(
Vườn Quốc gia Cát Bà nằm trong vùng lõi của Khu Dự trữ sinh quyển của thế giới - quần đảo Cát Bà có hệ thực vật đặc trưng với rất nhiều loài quý hiếm, đặc hữu.
Tuy nhiên, số lượng nhiều loài cây gỗ quý hiếm tại đây đang giảm do tình trạng khai thác, cháy rừng, đốt nương làm rẫy… vẫn thường xuyên xảy ra. Vườn đang nỗ lực bảo tồn các nguồn gen thực vật quý hiếm.
Kết quả điều tra gần đây của VQG Cát Bà đã ghi nhận có 19 loài cây gỗ quý hiếm trên đảo Cát Bà. Trong đó có 17 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, 2 loài nằm trong Sách Đỏ thế giới năm 2007 (cây kim giao và cây sưa). So với số loài cây gỗ quý hiếm trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2003 (52 loài), số lượng loài cây gỗ quý hiếm đã bị giảm đi nhiều.
Trong số 19 loài cây quý hiếm hiện còn tồn tại, 6 loài có số lượng trên 1.000 cây là xương cá, cà ổi vọng phu, màu cau trắng, giổi xương, rẫm, kim giao. Các loài có số lượng dưới 250 cây là trám đen, rau sắng, trầm hương. Loài màu cau trắng có số lượng nhiều nhất với hơn 6.600 cây, trữ lượng gần 3.700 m3.Còn lại ít nhất là trầm hương, cả đảo Cát Bà chỉ còn 7 cây, trữ lượng chưa đến 1 m3.
Quần đảo Cát Bà là nơi có tầm quan trọng đặc biệt về bảo tồn đa dạng sinh học.Hệ sinh thái nơi đây chủ yếu là rừng nghèo trên núi đá vôi, mang nhiều tính đặc trưng của hệ sinh thái thực vật vùng đảo.
Do vậy, hệ thực vật trên đảo Cát Bà có nhiều tính đặc hữu và quý hiếm riêng biệt so với hệ thực vật trong đất liền. Thế nhưng, VQG Cát Bà đã và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên đa dạng sinh học vô giá này.
Ở đảo Cát Bà, các loài thực vật có giá trị cao về sử dụng và kinh tế đã bị khai thác mạnh vào thời gian trước năm 1986, khi VQG Cát Bà còn là Lâm trường. Tình trang khai thác này diễn ra mạnh ở một số khu vực như xã Việt Hải, Gia Luận, trung tâm VQG Cát Bà… Kể từ khi thành lập VQG Cát Bà (năm 1986) đến nay, tình trạng khai thác giảm nhiều nhưng vẫn tương đối phức tạp.
Theo KS. Đỗ Xuân Thiệp, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm VQG Cát Bà, mối tác động chính và nghiêm trọng nhất đối với các loài cây gỗ quý hiếm tại đảo Cát Bà là tình trạng khai thác gỗ, củi, cây cảnh. Người dân địa phương thường khai thác một số loài cây quý hiếm để lấy gỗ như giổi lông, giổi xương, lát hoa, gội nếp, màu cau trắng... Họ dùng gỗ quý này để làm nhà và đóng các đồ dùng trong gia đình như giường, tủ, bàn, ghế…
Những năm gần đây, với sự kiểm soát chặt chẽ của lực lượng chức năng nên tình trạng khai thác này xảy ra nhỏ lẻ và ít hơn. Nhưng tình trạng khai thác gỗ củi thì phức tạp hơn. Đa phần các hộ dân sống xung quanh vùng đệm VQG Cát Bà đều sử dụng nguồn đốt chính là củi. Mỗi năm, người dân trên đảo sử dụng 2.220 ster củi (tương đương hơn 1.500 m3).
Bên cạnh đó, một số cây gỗ quý hiếm cho lâm sản ngoài gỗ như rau sắng, trám đen, vương tùng… cũng bị người dân khai thác để phục vụ nhu cầu cuộc sống hằng ngày như làm thực phẩm, thuốc chữa bệnh, làm các vật dụng trong nhà…
Một số năm gần đây, ở Cát Bà còn xuất hiện tình trạng người dân vào rừng khai thác cây cảnh để bán, trong đó có cả những gốc cây của các cây gỗ quý hiếm. Hằng năm, cơ quan chức năng xử lý hàng chục vụ khai thác cây cảnh, tịch thunhiều gốc cây cảnh các loại.
KS. Đỗ Xuân Thiệp cũng cho biết, VQG Cát Bà có nhiều cửa ngõ để xâm nhập nên công tác phòng chống cháy rừng gặp nhiều khó khăn. Vào mùa hanh khô, nguy cơ xảy ra cháy rừng ở nơi đây thường rất cao. Hầu như năm nào cũng có cháy rừng, chủ yếu là do người dân địa phương gây nên. Bên cạnh đó, rừng Cát Bà mọc trên núi đá, nhiều trường hợp cháy rừng do sét đánh vào núi đá gây cháy. “Vì thế, nhiều khi giữa trời mưa mà lại có cháy rừng”, anh Thiệp kể.
Rừng tại đảo Cát Bà chủ yếu là rừng thứ sinh nghèo trên núi đá vôi. Sau khi cháy rừng, lớp thảm thực vật bị suy giảm nghiêm trọng hoặc mất đi, để khôi phục trở lại thành rừng thường rất lâu, có khi sẽ mãi mãi không phục hồi lại được trạng thái như cũ.
Không chỉ có nạn khai thác trái phép và cháy rừng, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất lâm nghiệp sang đất nông nghiệp, đốt nương làm rẫy của người dân địa phương cũng góp phần làm giảm số lượng và trữ lượng của các loài cây gỗ quý hiếm. Những năm gần đây, sự gia tăng dân số trên đảo Cát Bà làm tăng nhu cầu sử dụng đất SX nông nghiệp, dẫn đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất ồ ạt.
Công tác bảo tồn một số loài cây gỗ quý hiếm trên đảo Cát Bà gặp không ít khó khăn. Một số loài số lượng còn ít, khả năng ra hoa kết quả ít nên cây tái sinh tự nhiên bằng hạt kém. Vì thế, việc thu thập hạt giống, quả giống để thử nghiệm nhân giống và trồng mở rộng không hề dễ dàng. Thêm vào đó, trên địa hình núi đá vôi, ít đất như ở Cát Bà cũng rất khó để gây trồng các loài cây này.
Tuy vậy, VQG Cát Bà đang có nhiều nỗ lực để bảo tồn các loài cây quý hiếm bằng nhiều biện pháp khác nhau. Cùng với việc tuần tra kiểm soát nghiêm ngặt, tăng cường phòng chống cháy rừng, đẩy mạnh tuyên truyền đến người dân, Vườn đang đề xuất kế hoạch bảo tồn đối với từng loài cụ thể.
Có loài thì bảo tồn tại chỗ, tiến hành các biện pháp lâm sinh, có loài thì thử nghiệm gieo ươm, gây trồng… Từ đó, Vườn cung cấp giống và kỹ thuật gây trồng các loài cây gỗ quý hiếm cho người dân địa phương trồng tại khu đất rừng mà họ được giao khoán hoặc bán cho khách du lịch…
Một số loài cây quý có hình thái đẹp, tán rộng sẽ được trồng làm cây che bóng, cây cảnh quan ven đường như lát hoa, giổi lông, giổi lụa, re hương…Ngoài ra, các loài cây bản địa quý hiếm khác như gội nếp, chò đãi, lát hoa, màu cau trắng, trám đen… sẽ được sử dụng để trồng mới và nâng cao chất lượng rừng trồng.
VQG Cát Bà cũng đang đề nghị UBND thành phố Hải Phòng cho xây dựng hệ thống quản lý, bảo tồn cây gỗ quý hiếm bằng công nghệ GIS. (Nông Nghiệp Việt Nam 13/8) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Ba Chẽ là một huyện có nhiều khó khăn, dân tộc thiểu số chiếm trên 80%. Kinh tế chậm phát triển nhất so với các địa phương khác của tỉnh. Tuy nhiên trong 5 năm gần đây, huyện đã từng bước khai thác tiềm năng thế mạnh của địa phương tập trung cho phát triển nông - lâm nghiệp, trồng mới 15.746ha rừng.
Do đó, kinh tế lâm nghiệp của huyện đã phát triển mạnh, hoàn thành cơ bản công tác giao đất, giao rừng bổ sung. Huyện cũng tích cực triển khai việc đa dạng hoá cây trồng lâm nghiệp, tăng thêm diện tích sản xuất các loại cây trồng có giá trị kinh tế và phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng địa phương, như cây thông, sa mộc, quế, keo… Từ đó, huyện đã thu hút doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh phát triển kinh tế rừng.
Trong sản xuất nông nghiệp gắn với đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, hình thành các vùng sản xuất sản phẩm hàng hoá tập trung có giá trị kinh tế cao, như ba kích, trà hoa vàng, tre mai lấy măng... Tổng diện tích gieo trồng hàng năm bình quân đạt 2.141ha. Sản lượng cây trồng các loại đều tăng, đặc biệt là tổng sản lượng lương thực bình quân đạt gần 5.400 tấn/năm.
Đồng thời, các doanh nghiệp trên địa bàn đã chú trọng đổi mới mẫu mã, bao bì, đa dạng chủng loại, xây dựng thương hiệu sản phẩm địa phương, gắn với tuyên truyền quảng bá, giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm, đến nay nhiều sản phẩm của huyện đã được khách hàng ưa chuộng. Tại Hội chợ OCOP Quảng Ninh năm 2015, sản phẩm của huyện đã đạt doanh thu cao nhất trong các địa phương tham gia hội chợ.
Đặc biệt, trong Nghị quyết Đại hội xác định mục tiêu nhiệm kỳ 2015-2020, phát triển quy mô sản xuất hàng hoá nông nghiệp tập trung, nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp, đưa kinh tế lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong sản xuất lâm - nông nghiệp của huyện. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu này, ngay từ những ngày đầu cả hệ thống chính trị và người dân trên địa bàn đang tích cực triển khai, đưa nghị quyết của Đại hội vào cuộc sống.
Bà Đinh Thị Vỹ, Phó Chủ tịch UBND huyện cho biết: Huyện có thế mạnh về rừng và đất rừng, tài nguyên khá dồi dào đất lâm nghiệp là 55.273,48ha, chiếm 90,8% diện tích tự nhiên, điều kiện khí hậu thổ nhưỡng rất phù hợp cho phát triển trồng rừng.
Chính vì vậy, các nhiệm vụ theo Nghị quyết Đại hội XXIV, nhiệm kỳ 2015-2020 đề ra đã thực hiện trong năm 2015 như: Đã quy hoạch vùng sản xuất hàng hoá nông nghiệp tập trung huyện Ba Chẽ đến năm 2020; ban hành cơ chế chính sách khuyến khích phát triển sản xuất hàng hoá nông nghiệp chủ lực huyện Ba Chẽ, giai đoạn 2015-2016; tập trung chỉ đạo phát triển các sản phẩm chủ lực của địa phương, nâng quy mô cây trồng; tập trung chỉ đạo phát triển kinh tế lâm nghiệp đẩy nhanh tiến độ trồng rừng mới trong năm.
Qua đó, hiện huyện đã quy hoạch các vùng trồng rừng nguyên liệu tập trung với 29.360ha (thông, keo, sa mộc, quế, lim). Vùng trồng dược liệu tập trung: 2.500ha; vùng chăn nuôi tập trung; vùng trồng cây nông nghiệp chủ lực (trồng thanh long: 100ha, trồng mía tím: 100ha, vùng trồng tre mai: 300ha); vùng nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi: 2.600ha.
Đã trồng 3.010ha/3.250ha = 92,6% kế hoạch năm 2015. Tiếp tục chỉ đạo hoàn thành kế hoạch trồng rừng mới vào vụ thu. Triển khai một dự án nuôi cua thương phẩm tại xã Nam Sơn, quy mô 0,5ha; triển khai thực hiện mô hình trồng thanh long ruột đỏ theo phương pháp làm giàn với quy mô 500m2/hộ tại thôn Nam Hả ngoài, xã Nam Sơn. Trồng cây dược liệu diệp hạ châu đắng tại xã Đồn Đạc và xã Thanh Sơn…
Để phát huy thế mạnh địa phương, trong nhiệm kỳ 2015-2020, huyện Ba Chẽ sẽ tiếp tục triển khai có hiệu quả các giải pháp quản lý bảo vệ rừng gắn với đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp. Trong đó, huyện đặc biệt chú trọng tới việc thực hiện Đề án giao đất, giao rừng bổ sung cho nhân dân (hiện có 8/8 xã đã và đang triển khai giao trên thực địa).
Bên cạnh việc thực hiện tốt các cơ chế chính sách của tỉnh trong hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, huyện sẽ triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm phát huy vai trò chủ thể của người dân, xoá bỏ tâm lý trông chờ ỷ lại, tự vươn lên thoát nghèo. Với những quyết tâm ngay từ đầu và đi kèm với những giải pháp phù hợp, thế mạnh địa phương tiếp tục được phát huy.
Trong tương lai không xa, bức tranh kinh tế của huyện Ba Chẽ trong nhiệm kỳ tới sẽ khởi sắc một cách toàn diện. (Báo Quảng Ninh 12/8) đầu trang(
Sau khi tham khảo các nhà khoa học, thành phố Hà Nội đã quyết định chọn lát hoa là cây chủ đạo trồng thay cây mỡ trên đường Nguyễn Chí Thanh.
Ngày 30/7, Sở Xây dựng Hà Nội đã thông tin về việc thay thế, trồng mới cây xanh lấy bóng mát trên đường Nguyễn Chí Thanh. Theo đó, từ ngày 1/8 đơn vị chức năng tiến hành chặt hạ cây gỗ mỡ trên tuyến đường Nguyễn Chí Thanh và thay bằng cây lát hoa.
Lát hoa (hay còn gọi là cây lát xoan, xoan lát) là cây gỗ lớn có chiều cao tới 30m, đường kính tới 80cm, lá non có màu đỏ. Cây mọc nhanh, thân thẳng, tán rộng hình cầu, gỗ tốt, ít bị mối mọt và chống chịu được với mưa bão.
Lát hoa ưa đất tơi xốp, ẩm, nhiều mùn, đất còn tính chất đất rừng, phát triển tốt trên đất feralit phát triển trên đá mẹ granit, đá vôi. Tuynhiên, trong thực tế của nhiều năm trở lại đây, cây Lát hoa đã được đựa trồng trên nhiều chân đất khác nhau, từ đất thịt, thịt pha, cát pha, thậm chí trên vùng đất cát nghèo dinh dưỡng ở độ cao dưới 100 m, vẫn thấy cây sinh trưởng, phát triển khá tốt.
Ở Việt Nam, lát hoa thường phân bố tự nhiên ở các tỉnh miền Bắc và bắc miền Trung, từ Lạng Sơn đến Hà Tĩnh và hiện nay được trồng làm cây bóng mát hoặc trồng thành rừng kinh tế ở một số nơi.
Về lý do chọn cây lát hoa trồng tại đường Nguyễn Chí Thanh, Giáo sư, tiến sỹ Vũ Hoan, Chủ tịch Hội liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật thành phố Hà Nội thông tin, ngày 25/6 đã có hội thảo xin ý kiến các nhà khoa học, các chuyên gia hàng đầu và nhất trí chọn 5 loại cây đô thị có thể trồng tại Hà Nội gồm: Sấu, dầu rái, sao đen, hương vườn và lát hoa.
Cả 5 loại cây trên đều phù hợp, tuy nhiên, hiện tại cây lát hoa là lựa chọn tốt nhất, bởi vì chúng ta có đủ cây giống và tiến hành trồng ngay bây giờ mà không cần phải chờ đến mùa xuân như các cây còn lại. Mặt khác, lát hoa là cây sinh trưởng tốt, nên cuối năm có thể tạo tán và cho bóng mát”.
Từ đặc tính dễ trồng, sinh trưởng tốt, lại có tán rộng, thân thẳng, ít bị mối mọt và chống chịu được mưa bão, các nhà khoa học, chuyên gia đã chọn lát hoa làm cây trồng chủ đạo trên đường Nguyễn Chí Thanh.
Nhưng xét trên nhiều yếu tố, cây lát hoa có nhiều đặc tính phù hợp nhất ở thời điểm này: cây cao tới 30m, đường kính khoảng 80cm, thân thẳng, tán rộng, dày, cây mọc nhanh, gỗ tốt, ít bị bị mối mọt, chịu được mưa bão, giống cây dễ kiếm. Đặc biệt, cây lát hoa đã được trồng nhiều tại một số tuyến phố trên địa bàn Hà Nội.
Năm 2009, khi hoàn thiện Đại lộ Thăng Long, toàn bộ tuyến đường đã được trồng cây lát hoa và cây sinh trưởng tốt. Hiện cây, lát hoa vừa qua được triển khai trồng ở 1 số đường Trần Phú, Kim Mã, Nguyễn Thái Học… sinh trưởng tốt, tạo cảnh quan đẹp cho Thủ đô. (Tin Tức Việt Nam 12/8) đầu trang(
Sáng nay 30/7, Hội đồng thẩm định phương án trồng rừng thay thế đã họp và thống nhất thông qua phương án trồng rừng thay thế đối với các dự án đã và đang được triển khai, gồm: dự án xây dựng Đồn Biên phòng Đăk Bô tại xã Bù Gia Mập, huyện Bù Gia Mập; dự án xây dựng Nhà máy xi măng Bình Phước tại xã Thanh Lương, huyện Bình Long; dự án di dời ổn định dân di cư tự do và hỗ trợ định cư đồng bào dân tộc thiểu số huyện Bù Đăng thuộc dự án xây dựng thủy điện Cần Đơn.
Theo đó, Hội đồng thẩm định thống nhất phương án trồng rừng thay thế thuộc dự án xây dựng Đồn Biên phòng Đăk Bô trên diện tích 5ha, tại khoảnh 7 tiểu khu 210 thuộc xã Lộc Thiện, huyện Lộc Ninh.
Loài cây trồng là Keo lai (thuần loài), mật độ 1.666 cây/ha. Thời gian trồng từ tháng 8/2015. Tổng kinh phí trồng rừng gần 420 triệu đồng do Bộ Chỉ huy quân sự Bộ đội Biên phòng tỉnh đầu tư và tự trồng .
Thống nhất phương án trồng rừng thay thế thuộc dự án xây dựng Nhà máy xi măng Bình Phước trên diện tích 100 ha, tại hoảng 3 và 5, tiểu khu 102 thuộc xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh. Loài cây trồng là Keo lai (thuần loài), mật độ 1.666 cây/ha.
Thời gian trồng từ tháng 8/2015. Tổng kinh phí gần 8,5 tỷ đồng, do Công ty xi măng Hà Tiên đầu tư 100% vốn và nộp vào ngân sách để UBND tỉnh giao cho đơn vị có năng lực trồng rừng triển khai.
Thống nhất phương án trồng rừng thay thế đối với dự án hỗ trợ di dân, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số huyện Bù Đăng, thuộc dự án thủy điện Cần Đơn trên diện tích 150 ha, tại vùng bán ngập lòng hồ thủy điện Cần Đơn, huyện Bù Đốp. Loài cây trồng là Gáo nước, mật độ 625 cây/ha (thuần loài). Thời gian trồng từ tháng 8/2015 đến tháng 8/2016. Tổng kinh phí 12 tỷ 600 triệu đồng, do Công ty thủy điện Cần Đơn đầu tư và tự trồng.
Hội đồng thẩm định yêu cầu đối với 3 phương án trồng rừng nói trên đều phải quan tâm đến chất lượng cây giống, chú ý xây dựng đường băng cản lửa, đảm bảo trồng hoàn thành trong thời gian từ 1-2 năm và có 3 năm chăm sóc. Đối với chủ đầu tư cam kết nộp tiền do không có đủ điều kiện trồng rừng thì cần sớm nộp tiền vào ngân sách để UBND tỉnh chỉ định đơn vị khác triển khai trồng rừng kịp tiến độ.
Hội đồng thẩm định phương án trồng rừng thay thế gồm đại diện lãnh đạo các cơ quan: Sở NN&PTNT, Sở KH&ĐT, Sở TN&MT, Liên hiệp các hội KH&KT, Chi Cục lâm nghiệp, UBND Lộc Ninh, Hạt kiểm lâm huyện Lộc Ninh. (Quỹ Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng Bình Phước 11/8) đầu trang(
Tỉnh Cà Mau đang triển khai kế hoạch trồng rừng phòng hộ ven biển, phấn đấu năm 2015 trồng 1.000 ha rừng mới, tập trung ven tuyến đê biển Đông và ven biển Tây, bao gồm các huyện Ngọc Hiển, Phú Tân, U Minh và Trần Văn Thời. Từ đầu năm đến nay, các đơn vị, địa phương đã trồng mới 500 ha rừng, đạt 50% chỉ tiêu đề ra.
Bên cạnh đó, cơ quan chức năng tỉnh Cà Mau quan tâm công tác quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ ven biển, tuyên truyền để người dân có ý thức bảo vệ rừng. Nhờ đó, thời gian gần đây tình trạng phá rừng phòng hộ giảm đi đáng kể. Cùng kỳ năm trước mỗi ngày, hàng chục vụ vi phạm rừng bị phát hiện nay trong một tuần không phát hiện vụ vi phạm nào.
Ông Trần Tuấn, nguyên Giám đốc Vườn quốc gia Mũi Cà Mau cho biết, vào thời điểm những năm 90, trước áp lực phá rừng phòng hộ nuôi tôm, lực lượng bảo vệ vườn quốc gia mất ăn mất ngủ. Nhưng nay, mọi chuyện đã khác, người dân ý thức hậu quả của phá rừng, bà con tích cực tham gia với chính quyền trồng rừng.
Làm tốt bảo vệ và trồng rừng mới nên rừng phòng hộ ven biển tỉnh Cà Mau đang được hồi phục, góp phần giữ cân bằng môi trường thiên nhiên, đồng thời chống sạt lở đê biển hiệu quả.
Theo ông Nguyễn Văn Chính, người dân xã Viên An huyện Ngọc Hiển, trồng rừng trước hết đem lại lợi ích cho người dân. Bởi có rừng đê biển không bị sạt lở, cải thiện môi trường. Hàng năm, ông Chính tích cực tham gia trồng rừng.
Tỉnh Cà Mau có bờ biển dài tới 252 km, phía Đông giáp tỉnh Bạc Liêu, phía Tây Nam giáp ranh tỉnh Kiên Giang. Diện tích rừng phòng hộ ven biển của Cà Mau 30.000 ha. Cây rừng phòng hộ ven biển chủ yếu là cây mắm, cây đước, cây vẹt…có sức chống chọi với sóng biển tốt. Nơi nào rừng phòng hộ phát triển tốt nơi đó ít bị sạt lở và ngược lại. (Tin Môi Trường 12/8) đầu trang(
Với người Tây Nguyên, rừng là máu thịt, là nguồn cội. Rừng vây bọc lấy con người, đi vào tận sâu thẳm tâm hồn người. Rừng là nơi khơi nguồn và cất giữ tâm linh, rừng mang bóng dáng của tổ tiên ông bà.
Khi con người bắt đầu cất tiếng khóc chào đời đã được cha mẹ dạy cho cách thức dệt vải bằng cách làm một khung dệt nhỏ xíu đặt vào tay cô con gái hay cây ná xinh xắn đặt vào tay cậu con trai cùng bao lời nhắn gửi trong lễ khai tâm.
Đến tuổi cập kê, bó củi hứa hôn sẽ là tiêu chí để mọi người đánh giá sự đảm đang, khéo léo của người con gái; chiếc gùi được đan tinh xảo, đẹp mắt sẽ là bằng chứng về sự trưởng thành của người con trai. Và đến khi con người giã từ cuộc sống, những cột nhà mồ, những ngôi nhà mồ, những tượng mồ… lại là nơi trú ngụ của linh hồn, lại đồng hành với linh hồn người chết về với thế giới của tổ tiên ông bà.
Rừng gần gũi là vậy nhưng đối với người Tây Nguyên, rừng còn là nỗi ám ảnh dị nghĩa. Người ta thường nhắc nhở nhau “không được đi vào rừng khi đêm xuống” hoặc khi vì một lý do nào đó không thể trì hoãn, người ta thường đặt một chiếc lá khô lên đầu khi đi ra ngoài vào ban đêm hòng che chở cho linh hồn không bị các thần làm hại. Rừng không chỉ là nơi cư trú của cây cỏ và muông thú, mà rừng còn là nơi cư trú đặc biệt của các Yang.
Trong tư duy “hiện thực huyền ảo” của mình, người Tây Nguyên luôn tin rằng khắp nơi đều có Yang ngự trị. Con người tự sáng chế ra những nỗi hoảng sợ và các thần linh cũng như những phương cách hoá giải thần linh và trừ tà.
Vì vậy, trong bất cứ công việc gì, từ chặt cây làm nhà cho đến dựng nhà, từ phát rừng làm rẫy cho đến dựng kho thóc, từ ngả cây làm quan tài cho đến đẽo tượng nhà mồ, cột nhà mồ… người Tây Nguyên đều phải thực hiện những nghi lễ hiến sinh để cầu xin sự an lành, “tạ tội” với thần linh hay thậm chí là sự “đánh lừa” các vị thần.
Người già trong làng thường cất giữ trong ký ức của mình những câu chuyện huyền thoại về các vị thần rừng, những sự trừng phạt khủng khiếp đối với những kẻ ngạo mạn dám diễu cợt thần linh, những kiêng kị để tránh làm phật lòng thần, những thực hành truyền thống để duy trì sự bền vững, trường tồn của cộng đồng. Tính chất lưỡng đôi khiến rừng vừa trở nên gần gũi lại cũng đầy huyền bí, vừa hữu ích nhưng cũng không hoàn toàn vô hại.
Với người Tây Nguyên, khi bắt đầu tìm đất lập làng mới cũng là lúc người ta tìm cho làng của mình khu rừng thiêng, nơi đó hoặc là khu rừng đầu nguồn nước, rừng trên chóp núi để giữ nước, chống xói mòn với những câu chuyện được thêu dệt về nữ thần Nước xinh đẹp làm cho con người lạc lối trong rừng bằng giọng hát mê hồn của mình; hoặc là khu rừng dùng làm nghĩa địa chung của cả làng mà người Tây Nguyên vẫn quen gọi là “rừng ma” - nơi chẳng mấy ai bén mảng tới. Người ta sợ linh hồn của người chết, nhất là chết dữ, quẩn quanh nghĩa địa sẽ làm hại những ai xâm phạm vào thế giới riêng của nó.
Rừng thiêng với tính thiêng bao bọc quanh nó nên con người thường kiêng dè không dám vào đấy chặt phá hay đốt rừng làm rẫy cho nên đó thường là những khu rừng nguyên sinh, những khu rừng già khó đoán tuổi. Người Tây Nguyên vẫn truyền nhau những kiêng kị như không được xâm phạm đến rừng thiêng và không được chôn chung nghĩa địa với làng khác, khu rừng thiêng dùng làm nghĩa địa phải nằm thấp hơn khu đất làng.
Nếu vi phạm, cả cộng đồng sẽ phải nhận lấy sự trừng phạt ghê sợ từ thần linh, hoặc đau ốm bệnh tật, hoặc những tai nạn chết người… Từ những quan niệm và cách hiểu như vậy nên rừng của người Tây Nguyên luôn được bảo vệ cẩn thận vì nó gắn với ông bà tổ tiên, gắn với sinh mệnh, với sự trường tồn của cộng đồng. Bảo vệ rừng, với đồng bào, vừa là trách nhiệm vừa là nghĩa vụ thiêng liêng.
Có thể thấy rằng với cách “thiêng hóa” những cánh rừng, người Tây Nguyên từ ngàn đời nay đã xây dựng được mối quan hệ bền vững với tự nhiên. Điều đó đã thể hiện nét độc đáo trong cách thức ứng xử văn hoá với môi trường, trong cách thức trao truyền những tri thức bản địa truyền thống cho những thế hệ kế tiếp. Đấy chính là chiều sâu cơ bản của văn hoá Tây Nguyên.
Hiện nay rừng Tây Nguyên đang mất dần, những khu rừng thiêng không còn dáng vẻ thâm u của nó, rừng đang bị khai thác và xâm hại không theo quy luật khai thác và bảo vệ mà mang nặng tính phá hoại, ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống và sự sinh tồn của tộc người. Rõ ràng khi rừng không còn; khi rừng đang ngày một xa con người thì văn hoá rừng ngày một nhạt nhoà trong tâm thức con người.
Để bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống của người Tây Nguyên thì cằn cỗi chính là bảo tồn không gian văn hóa, không gian sinh tồn của các tộc người. Như vậy sâu xa hơn chính là việc khôi phục lại đất rừng, khôi phục lại những cánh rừng, khôi phục lại tính thiêng của rừng trong tâm thức của chính những tộc người bản địa.
Chỉ trên cơ sở đó cội nguồn văn hoá tộc người mới hồi sinh. Làm được điều này, không ai khác chính là những chủ thể văn hoá nơi đây. Chính họ mới là chuyên viên thực sự của nền văn hoá của chính mình. Chỉ có họ mới xác định được nó là gì, hiểu mình phải làm gì và nên như thế nào.
Ý thức được tầm quan trọng của rừng sẽ giúp họ có thái độ tích cực với tài nguyên rừng, với những gì thân thiết gắn với cuộc sống của họ. (Phương Nam 11/8) đầu trang(
Với phương thức Nhà nước hỗ trợ cây giống, kỹ thuật và lương thực trong bảy năm, người dân bỏ công sức trồng, chăm sóc, bảo vệ và hưởng lợi từ rừng kinh tế, đã tạo động lực cho đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) vùng cao Lào Cai trồng hàng trăm ha rừng sa mộc và trẩu, phủ xanh nương rẫy nghèo kiệt, hoang hóa, tạo sinh kế bền vững.
Chúng tôi đến thôn Dì Thàng, xã Thải Giàng Phố, huyện Bắc Hà (Lào Cai), những triền núi xanh mướt cây sa mộc bốn tuổi, cao hơn đầu người lớn, tỏa cành lá khép tán, phủ xanh đất cằn cỗi trên núi cao, độ dốc lớn. Chị Ly Thị Cở, chủ nhân của hơn một ha rừng ở đây cho biết: Trước đây, nơi này là những quả đồi trơ trọc, hoang hóa chỉ có lau lách và cỏ bụi, do bà con người Mông, Dao, Xa Phó… có tập quán phát rừng làm nương, được vài vụ lúa, ngô, khi đất bạc màu, nghèo kiệt thì bỏ hoang hóa.
Gia đình chị có hơn một ha đồi nương, chỉ chuyên trồng ngô lai, do độ dốc lớn, mưa nhiều khiến đất bạc màu dần, năng suất giảm cho nên vợ chồng và con cái phải đi làm thuê mới đủ ăn. Cái vòng luẩn quẩn phát nương làm rẫy, đói nghèo cứ bám chặt, không thoát ra được. Từ năm 2011, được Nhà nước hỗ trợ gạo để trồng rừng, cuộc sống gia đình chị Cở đã đổi khác, không còn lo thiếu ăn, không phải đi làm thuê vất vả.
Chị Cở nhận cây giống sa mộc do Hạt Kiểm lâm huyện Bắc Hà cung ứng, cán bộ kỹ thuật của Hạt tận tình hướng dẫn cách trồng và chăm sóc nên tỷ lệ cây sống cao, hơn 90%. Chị Cở cho biết: Điều yên tâm nhất của gia đình là được Nhà nước hỗ trợ gạo trong thời gian trồng rừng, không lo đói, nên sẵn sàng chuyển đổi nương rẫy nghèo kiệt sang trồng rừng kinh tế để phủ xanh đất trống, tạo nguồn thu nhập ổn định, bền vững. Đã bốn năm nay, hằng năm, gia đình chị được nhận gần 700 kg gạo, bảo đảm đủ lương thực cho bốn người dùng trong năm.
Đến thôn Na Măng, xã Tả Gia Khâu, huyện Mường Khương, chị Ly Sù Dín, phấn khởi cho biết: "Nhà mình có 0,8 ha nương trồng lúa, ngô không có hiệu quả vì thiếu nước, thấy cán bộ kiểm lâm và cán bộ xã đến nhà bảo cho cây giống, hỗ trợ gạo để trồng rừng và mai sau được thu hoạch, mình bàn với vợ con làm theo. Gia đình mình và bà con được cán bộ hướng dẫn và cùng trồng rừng. Bốn năm nay, nhà mình đã nhận đủ số gạo hỗ trợ để yên tâm chăm sóc, bảo vệ rừng".
Bà con người DTTS ở xã Tả Gia Khâu chọn cây trẩu để trồng trên vùng đất khô cằn, đang có nguy cơ sa mạc hóa cao do khí hậu khắc nghiệt, khô hạn kéo dài. Cây trẩu thích nghi với vùng đất khô hạn, tốc độ sinh trưởng nhanh hơn so với các loài cây khác. Ngoài tác dụng phủ xanh, chống sa mạc hóa, tạo nguồn sinh thủy, cây trẩu còn giúp người dân có thêm nguồn thu nhập từ bán quả và hạt (giá bán hạt trẩu cả vỏ là 10 nghìn đồng/kg, hạt đã bóc vỏ là 20 nghìn đồng/kg).
Bên cạnh đó, bà con tập trung trồng cây sa mộc và cây tốc xi dương- đây là hai loài cây bản địa, thích nghi rất tốt với vùng đất dốc, khô hạn kéo dài, cho gỗ tốt nhưng thời gian sinh trưởng khá lâu, ngoài 15 năm mới cho thu hoạch gỗ. Sau bốn năm thực hiện dự án, huyện Mường Khương đã trồng được 150 ha rừng thay thế, mang mầu xanh trở lại với những vùng đất khô cằn.
Để giúp người dân vùng cao chuyển đổi nương rẫy nghèo kiệt và không bỏ nương rẫy hoang hóa, Nhà nước hỗ trợ gạo trong thời gian bảy năm đầu, với tiêu chuẩn 700 kg/ha/năm, bảo đảm lương thực cho đồng bào trồng rừng thay thế.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lào Cai, đến nay đã giao tận tay người dân tham gia dự án này 866 tấn gạo, bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng. Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lào Cai Nguyễn Văn Vui khẳng định: Có nguồn gạo hỗ trợ, đồng bào DTTS sẵn sàng và yên tâm chuyển đổi nương rẫy kém hiệu quả sang trồng rừng kinh tế, làm thay đổi tập quán canh tác lạc hậu và định hướng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp bền vững trên đất dốc, tạo thu nhập ổn định và cao hơn.
Ở tỉnh Lào Cai, do độ dốc lớn, mưa xói mòn, rửa trôi lớp đất màu nên chỉ sau ba đến bốn vụ trồng ngô, sắn…là đất bạc màu, không thể canh tác nông nghiệp cho hiệu quả kinh tế, vì vậy người dân bỏ nương rẫy. Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lào Cai, toàn tỉnh hiện có 11.356 hộ gia đình canh tác trên diện tích hơn 21 nghìn ha đất lâm nghiệp, trong đó có hàng nghìn ha đất nương rẫy nghèo kiệt bị bỏ hoang hóa.
Năm 2009, UBND tỉnh Lào Cai phê duyệt dự án trồng rừng thay thế nương rẫy, theo đó, sẽ thực hiện chuyển 5.953 ha nương rẫy sang trồng rừng kinh tế, nhằm thực hiện Chương trình trồng mới năm triệu ha rừng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất trống đồi núi trọc, góp phần ổn định cuộc sống, tạo việc làm và nâng cao thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp cho đồng bào DTTS ở vùng núi cao.
Dự án được thực hiện tại ba huyện nghèo (theo Chương trình 30a của Chính phủ), có nguy cơ sa mạc hóa cao, đó là: Bắc Hà, Si Ma Cai và Mường Khương. Toàn tỉnh hiện có gần 600 hộ tham gia trồng rừng thay thế nương rẫy nghèo kiệt, hoang hóa, bước đầu đạt kết quả tốt.
Tại huyện Bắc Hà, từ năm 2010, thực hiện chủ trương trồng rừng thay thế nương rẫy của Đảng và Nhà nước, huyện triển khai thí điểm tại năm xã trọng điểm là: Thải Giàng Phố, Tà Chải, Bảo Nhai, Nậm Mòn và Na Hối. Đây là những xã khó khăn, đất trống đồi núi trọc nhiều, nguồn sinh thủy kém, nguy cơ sa mạc hóa cao. Ban đầu, người dân chưa mặn mà với việc trồng rừng do những thôn, bản có nương rẫy đều nằm ở vùng sâu, vùng xa, địa hình đi lại khó khăn, diện tích manh mún, nhỏ lẻ. Hạt Kiểm lâm huyện đã phối hợp với các xã xuống tận thôn bản tuyên truyền, vận động người dân trồng rừng.
Đến nay, đồng bào đã tin tưởng, hưởng ứng làm theo và đạt những kết quả bước đầu. Chỉ sau 5 năm thực hiện, những diện tích nương ngô, lúa kém hiệu quả và đất đồi bỏ hoang trước đây đã được phủ xanh bởi cây sa mộc, một loài cây sống khỏe trên vùng đất có độ dốc lớn, khô cằn, nhiều sỏi đá.
Hiện tại, huyện Bắc Hà có 186 hộ tham gia dự án trồng rừng thay thế nương rẫy và đã trồng được 142 ha rừng sa mộc với tỷ lệ cây sống hơn 90%, cây sinh trưởng tốt, đang vào kỳ khép tán, che phủ đất trống khô cằn. Ở huyện vùng cao Si Ma Cai, trơ trọc nhiều núi đá, có hơn 120 hộ tham gia trồng 76 ha rừng phủ xanh nương rẫy hoang hóa.
Điều quan trọng là ý thức bảo vệ rừng của người dân được nâng cao rõ rệt. Ông Vàng A Dí, ở xã Bản Mế, huyện Si Ma Cai cho biết, từ khi trồng rừng sa mộc, ý thức bảo vệ rừng của người dân Bản Mế cũng khác trước. Bà con trong xã thống nhất đề ra một bản quy ước, nhà nào thả rông trâu, bò chỉ cần chui vào rừng là bị phạt. Quy ước là một con phạt 100 nghìn, 50 nghìn cho người dắt trâu ra khỏi rừng, 50 nghìn cho quỹ thôn. Trâu bò ăn cây, phá hỏng cây thì phạt 100 nghìn đồng/cây.
Vì thế, từ hồi trồng rừng thay thế nương rẫy đến nay chỉ khoảng 10 người bị phạt, chưa ai bị phạt đền cây vì trâu, bò vừa vào rừng đã có người dắt ra rồi.
Trao đổi ý kiến với chúng tôi, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lào Cai Tô Mạnh Tiến khẳng định: Chủ trương hỗ trợ gạo ăn giúp người dân trồng rừng thay thế nương rẫy là đúng với thực tế và trúng với tâm tư, nguyện vọng của đồng bào các DTTS vùng núi cao, hạn chế tối đa phát rừng làm nương lấy lương thực, nâng cao ý thức bảo vệ rừng, tạo sinh kế ổn định và bền vững cho người dân địa phương.
Tỉnh và các ngành chức năng tiếp tục tập trung tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực thay thế làm nương rẫy sang trồng rừng; hướng dẫn người dân về kỹ thuật trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, đặc biệt là tuyên truyền, vận động để người dân hiểu rõ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, tạo điều kiện ổn định và phát triển kinh tế từ rừng một cách bền vững.
Tuy nhiên, ông Tiến băn khoăn, sau bảy năm khi dự án kết thúc, bà con không còn được hỗ trợ gạo, trong khi cây chưa đến tuổi khai thác thì chuyện thiếu lương thực sẽ tái diễn; bởi sau bảy năm, cây sa mộc mới đạt khoảng 10cm đường kính thân.
“Chúng tôi đang kiến nghị cấp trên có khoản hỗ trợ nào đó để sau bảy năm này thì người dân có thu nhập tiếp để bảo vệ rừng tốt hơn”- Ông Tiến cho biết. Theo ông Tiến, để tạo nguồn thu sớm từ rừng cho người dân, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lào Cai cần chỉ đạo các địa phương trong vùng dự án trồng rừng hỗn giao, đa mục đích; đưa loài cây bản địa vào trồng xen ghép, thí dụ cây sơn tra (táo mèo) và cây trẩu.
Cây sơn tra và cây trẩu lớn nhanh, chỉ sau từ năm đến bảy năm có thể thu hoạch quả bán làm dược liệu, đồ uống và lấy tinh dầu; đồng thời nghiên cứu những loại cây giá trị kinh tế cao như: Cây hồi Lạng Sơn, cây hạt dẻ Trùng Khánh, cây trám đen… để trồng thử nghiệm. (Nhân Dân 13/8) đầu trang(
Đề án giao đất gắn với giao rừng, cho thuê rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) lâm nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh (gọi tắt là Đề án GĐGR), giai đoạn 2013 – 2015 đang tiến tới hạn chót. Thế nhưng, đến thời điểm hiện tại, nhiều nội dung công việc vẫn đang dang dở, tất cả các địa phương đều chậm tiến độ... Nguy cơ “lỗi hẹn” thời điểm về đích của một chính sách lớn đang hiện hữu.
Được xác định là một trong những huyện trọng điểm triển khai thực hiện đề án này nhưng đến nay, Vũ Quang vẫn là huyện có tiến độ GĐGR, cấp GCNQSD đất lâm nghiệp chậm nhất tỉnh. Theo phương án, Vũ Quang có 10 xã thực hiện với tổng diện tích 6.318 ha và đến nay, mọi đầu việc đều chưa đạt yêu cầu.
Dù đã đến hạn chót nhưng khâu đầu tiên là đo vẽ địa chính, đánh giá đặc điểm khu rừng ở 6 xã vẫn chưa hoàn thành với tổng diện tích còn lại là 720 ha. Đến hết tháng 6/2015, UBND huyện chưa nhận và thẩm định được bất cứ bộ hồ sơ nào để cấp GCNQSD đất lâm nghiệp cho các hộ dân, cộng đồng có rừng.
Tại Hương Khê, đến thời điểm này, ở các xã vẫn còn 838 ha chưa đo vẽ địa chính và đánh giá đặc điểm khu rừng, số diện tích được huyện thẩm định kết quả đo vẽ chỉ mới đạt 3.327/8.657 ha cần thực hiện, Sở TN&MT cũng mới chỉ thẩm định 1.442 ha để huyện cấp GCNQSD đất lâm nghiệp cho 413 hộ, còn 1.976 hộ và cộng đồng chưa được cấp giấy.
Theo phản ánh của chuyên viên phụ trách nội dung này của Phòng TN&MT huyện thì: Hiện nay, toàn bộ hồ sơ thẩm định xong đều đã được cấp giấy, muốn cấp tiếp thì phải chờ các đơn vị tư vấn hoàn thành các phần việc của họ, nhưng hiện các đơn vị này cũng đang gặp khó khăn.
Mặt khác, những tranh chấp do lấn chiếm và giao khoán chưa được giải quyết triệt để, việc xử lý số diện tích cắt chuyển từ các chủ rừng nhà nước về chính quyền địa phương giao cho dân gặp nhiều vướng mắc cũng đang tác động không nhỏ tới tiến độ chung...
Do nhiều nguyên nhân khác nhau nên 10 huyện, thị còn lại cũng không đáp ứng được yêu cầu (trừ thành phố Hà Tĩnh đã hoàn thành với diện tích thực hiện chỉ 69 ha, giao cho 2 hộ). Ban đầu, toàn tỉnh có 147 xã xây dựng phương án GĐGR với tổng diện tích 54.607 ha nhưng trong quá trình thực hiện đã soát xét lại và rút xuống còn 140 xã với tổng diện tích 50.937 ha. Trong số diện tích giảm, có nhiều xã gặp vướng mắc do chồng lấn quy hoạch, chồng lấn đất rừng.
Theo đăng ký, huyện giao khoán nhiều nhất là Kỳ Anh với gần 16.649 ha cho 7.315 hộ, tiếp đến là Hương Khê với 8.567 ha cho 7.729 hộ, Hương Sơn với 7.459 ha cho 6.937 hộ, Vũ Quang 6.318 ha cho 5.598 hộ, Thạch Hà 4.101 ha cho 4.032 hộ. Các huyện có diện tích thực hiện ít là Lộc Hà, Nghi Xuân, Đức Thọ, thành phố Hà Tĩnh...
Theo kế hoạch, hết quý II năm nay, toàn tỉnh phải cấp GCNQSD đất 25.960 ha đất lâm nghiệp, song, đến nay mới thẩm định được 11.674 ha cho 5.666 hộ, cộng đồng ở 35 xã thuộc 9 huyện, thị, thành phố. Trong số này chỉ có 6.834 ha của 3.263 hộ ở 31 xã được cấp bìa, đạt 26% kế hoạch và 13,4% diện tích thực tế giao. Dù đã đôn đốc, chỉ đạo nhiều lần nhưng vẫn còn Cẩm Xuyên, Can Lộc, Vũ Quang, Nghi Xuân, Đức Thọ chưa thực hiện cấp GCNQSD đất lâm nghiệp.
Khi nhận thấy chậm tiến độ, UBND tỉnh đã có Văn bản 418 ngày 27/1/2015 chỉ đạo thực hiện kế hoạch khung và yêu cầu phải hoàn tất việc đo vẽ trước ngày 30/4/2015, thế nhưng, đến hết tháng 6/2015, toàn tỉnh mới thực hiện đo vẽ được gần 47.000 ha cho gần 19.000 hộ, vẫn còn gần 4.000 ha nằm ở 32 xã của 8 huyện chưa thực hiện xong, trong đó, nhiều nhất là Kỳ Anh, Hương Khê, Hương Sơn, Vũ Quang. Cũng với tinh thần chỉ đạo quyết liệt đó, UBND tỉnh đã giao UBND các huyện, thị kiểm tra thẩm định, trình Sở TN&MT phê duyệt kết quả đo vẽ cho 43.076 ha trước ngày 30/6 nhưng kết quả vẫn đạt thấp.
Theo đó, tại thời điểm trên, các huyện, thị mới nộp lên 25.755 ha cho 10.514 hộ và sở chuyên môn này mới chỉ kiểm tra, phê duyệt được hơn 13.000 ha ở 9 huyện (đạt 30,3% kế hoạch).
Theo ông Hồ Minh Kiên - Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Thạch Hà thì “Trong thực hiện đề án GĐGR, các đơn vị tư vấn có vai trò gần như quyết định ở mọi vấn đề, mọi công đoạn”. Theo đánh giá, hầu hết các đơn vị tư vấn thực hiện nhiệm vụ này trên địa bàn tỉnh ta đều thiếu nhân lực, máy móc thiết bị đo đạc không đảm bảo, chất lượng hồ sơ xây dựng thấp nên phải chỉnh sửa nhiều lần, kết quả thực hiện đì đẹt.
Ông Đặng Ngọc Sơn – Giám đốc Sở NN&PTNT từng điểm mặt, chỉ tên nhiều đơn vị tư vấn thuộc diện này như: Đoàn Điều tra quy hoạch nông lâm nghiệp Hà Tĩnh làm ở huyện Cẩm Xuyên, Vũ Quang và Thạch Hà; Công ty Môi trường đô thị làm ở Kỳ Anh; Đoàn Điều tra quy hoạch nông lâm Nghệ An làm ở Nghi Xuân; Xí nghiệp Tài nguyên môi trường 1 và Xí nghiệp Tài nguyên môi trường 6 làm ở Hương Khê...
Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Hương Khê - Nguyễn Cự Duẩn cho rằng: “Tư vấn làm việc kém hiệu quả, chất lượng không đảm bảo, công việc ách tắc nhưng vẫn phải để họ làm vì không có đơn vị khả thi hơn để thay thế. Nếu tìm được thì cũng chậm tiến độ so với mặt bằng chung, bởi họ không thể tiếp nối khối lượng công việc của đơn vị trước mà phải làm lại từ đầu và hiệu quả thì cũng chưa biết thế nào. Mặt khác, nhiều địa phương đã cho tư vấn tạm ứng tiền nên việc thay thế lại càng khó khăn hơn”.
Vấn đề kinh phí cũng là điều đáng nói. Toàn tỉnh cần 47.277 triệu đồng, trong đó, ngân sách tỉnh hỗ trợ 16.657 triệu đồng, ngân sách huyện 10.252 triệu đồng và của nhân dân 20.095 triệu đồng. Thế nhưng, đến hết quý II, các địa phương mới chỉ huy động được 17.304 triệu đồng, trong đó, tỉnh và huyện bố trí gần 11 tỷ đồng, còn lại là thu từ các hộ dân.
Ngoài nguồn của tỉnh còn khá khiêm tốn thì nhiều huyện đang bố trí kinh phí trên giấy tờ hoặc với số lượng rất ít. Riêng nguồn thu từ các hộ dân, hiện nhiều địa phương chưa thực hiện, chờ cấp xong bìa mới thu, một số nơi khác cũng chỉ thu tạm ứng nên tỷ lệ huy động rất thấp.
Làm việc với các cơ quan chuyên môn và chính quyền ở một số địa phương, chúng tôi nhận thấy công tác giải ngân nguồn tiền này cũng đang có vấn đề và nếu không có sự hướng dẫn xử lý, thống nhất chung thì sẽ nảy sinh những khó khăn mới.
Ông Vương Khả Ninh – Giám đốc Kho bạc Nhà nước Thạch Hà cho biết: “Hiện, Thạch Hà đã huy động được 1.433 triệu đồng từ các nguồn và đã cho các đơn vị tư vấn tạm ứng 350 triệu đồng theo lệnh chi tài chính. Số tiền còn lại chưa giải ngân vì hầu như các đơn vị tư vấn chưa làm hồ sơ thanh toán, một số đã có thì hồ sơ chưa đảm bảo, chưa đủ điều kiện giải ngân…”. Qua tìm hiểu được biết, đây cũng là tình trạng chung ở nhiều địa phương trong toàn tỉnh...
Mặt khác, theo Nghị định 63 của Chính phủ quy định chi tiết về một số điều của Luật Đấu thầu thì đối với những xã ký hợp đồng tư vấn trên 500 triệu đồng phải tổ chức đấu thầu, nhưng thực tế thì các xã không thực hiện. Điều này đã và đang gây ra những vướng mắc mới trong quá trình giải ngân nguồn vốn.
Thực tế cho thấy, việc thực hiện đề án GĐGR giai đoạn 2013 - 2015 đang có nhiều vấn đề cần phải tập trung giải quyết, xử lý. Để một chính sách lớn của tỉnh được thực hiện đảm bảo tiến độ, chất lượng, mục đích, ý nghĩa, các khó khăn, vướng mắc cần được tập trung tháo gỡ; các lực lượng tham gia cần phải thể hiện tinh thần trách nhiệm cao.
Điều này thuộc phạm vi, thẩm quyền, nhiệm vụ của chính quyền các cấp, ngành NN&PTNT, ngành TN&MT, các đơn vị tư vấn tham gia ký hợp đồng thực hiện. Hy vọng rằng, vấn đề GĐGR sẽ được bàn bạc, giải quyết một cánh thấu đáo để đảm bảo quyền lợi cho các hộ dân và cộng đồng có rừng. (Báo Hà Tĩnh 13/8) đầu trang(
Giai đoạn 2011 - 2015, tỉnh ta phát huy hiệu quả lợi thế rừng và đất rừng để phát triển kinh tế lâm nghiệp. Các giải pháp phát triển kinh tế lâm nghiệp là đẩy mạnh liên kết phát triển vùng nguyên liệu với doanh nghiệp chế biến và từng bước mở rộng diện tích rừng kinh doanh gỗ lớn...
Để khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai phát triển kinh tế rừng, ngày 2-8-2011 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XV) đã có Kết luận số 30-KL/TU về nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020. Thực hiện kết luận trên tỉnh đã chỉ đạo các cấp, ngành từng bước hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động của các đơn vị, cá nhân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng.
Trong đó tập trung vào nhiều nội dung quan trọng như đổi mới các doanh nghiệp lâm nghiệp; hoàn thiện hệ thống sản xuất giống cây trồng lâm nghiệp từ tỉnh đến cơ sở; ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng; thu hút đầu tư, huy động nguồn lực của các thành phần kinh tế đầu tư phát triển kinh tế lâm nghiệp; chi trả dịch vụ môi trường rừng...
Đồng thời, tập trung thực hiện có hiệu quả các quy hoạch về bảo vệ và phát triển rừng, như: Quy hoạch kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh giai đoạn 2011 - 2020; rà soát cơ cấu, thực hiện quy hoạch lại 3 loại rừng đặc dụng, phòng hộ, sản xuất; Quy hoạch phát triển lâm nghiệp tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2011 - 2020; Quy hoạch, bảo tồn và phát triển rừng bền vững các khu rừng đặc dụng tỉnh; Quy hoạch vùng gỗ nguyên liệu cho các Nhà máy Bột giấy và Giấy An Hòa; Giấy Bãi Bằng; Công ty cổ phần Xi măng Tuyên Quang...
Tiếp đó, HĐND tỉnh đã có Nghị quyết số 18 về quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh giai đoạn 2011 - 2020, xác định rõ, tỉnh tiếp tục thiết lập hệ thống quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững diện tích đất lâm nghiệp; đẩy mạnh phát triển các vùng nguyên liệu thâm canh tập trung theo hướng sản xuất hàng hóa, đảm bảo cung cấp nguyên liệu ổn định cho Nhà máy Bột giấy và Giấy An Hòa và các nhà máy chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh.
Mỗi năm, mục tiêu của tỉnh là hoàn thành trồng mới từ 13.000 - 15.000 ha rừng; đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý, áp dụng các giải pháp lâm sinh hữu hiệu nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng, rút ngắn chu kỳ kinh doanh, nâng cao giá trị thu nhập trên đất sản xuất lâm nghiệp.
Sau khi hoàn thành kế hoạch phân 3 loại rừng, diện tích rừng đặc dụng toàn tỉnh là 48.899,7 ha, chiếm 11% diện tích đất lâm nghiệp; rừng phòng hộ có 138.442,5 ha, chiếm 31%; rừng sản xuất có 258.505,7 ha chiếm 58%. Theo đó, đã điều chỉnh diện tích rừng phòng hộ trồng theo Chương trình 327, Dự án 661 sang quy hoạch lại là rừng sản xuất là 23.379,22 ha.
Để người trồng rừng hưởng lợi từ rừng, yên tâm gắn bó với rừng, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 65/QĐ-CT ngày 17-3-2010 và Quyết định số 1770/QĐ-CT ngày 31-12-2012 về việc điều chỉnh quy hoạch phân 3 loại rừng; các đơn vị liên quan cũng đã xây dựng phương án giao rừng trồng thuộc Chương trình 327 và Dự án 661 đã quy hoạch lại là rừng sản xuất sau điều chỉnh phân 3 loại rừng theo các quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang.
Giai đoạn 2011 - 2015, toàn tỉnh trồng được 70.540 ha rừng tập trung, bình quân mỗi năm trồng trên 13.000 ha rừng. Tính đến thời điểm hiện nay toàn tỉnh có 411.818 ha rừng, tăng thêm 21.670 ha so với năm 2010, đáp ứng yêu cầu phát triển lâm nghiệp hài hòa giữa mục đích kinh tế và phòng hộ môi trường.
Xác định việc sản xuất giống cây lâm nghiệp trên địa bàn là yếu tố quan trọng cho kinh tế rừng phát triển, các đơn vị chức năng trên địa bàn các huyện, thành phố đã tiến hành kiểm tra và cấp giấy chứng nhận cho các vườn ươm đủ điều kiện sản xuất kinh doanh cây giống.
Theo thống kê, hiện toàn tỉnh có 22 vườn ươm cây giống có chứng nhận đủ tiêu chuẩn sản xuất giống, đảm bảo giống tốt đáp ứng nhu cầu trồng rừng. Thông qua chính sách thu hút đầu tư, nhiều doanh nghiệp chế biến đi vào sản xuất nâng cao giá trị gỗ rừng trồng và khép kín chu trình tạo lập sự gắn kết trong sản xuất giữa vùng nguyên liệu với nhà máy chế biến.
Trong tổng số 5 nhà máy, cơ sở chế biến đã được tỉnh quy hoạch vùng nguyên liệu, đến nay đã có Nhà máy Bột giấy và Giấy An Hòa ban hành cơ chế liên doanh phát triển vùng nguyên liệu.
Thực hiện Quyết định số 65 và Quyết định số 1770 của Chủ tịch UBND tỉnh về phương án giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp, một đại diện Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết đã phê duyệt Phương án giao rừng trên địa bàn 104/104 xã với diện tích 13.689,09 ha. Đến ngày 30-5 - 2015, diện tích đã bàn giao cho người dân là 9.781,98 ha/10.366,05 ha, đạt 94,37% kế hoạch, trong đó diện tích đã cấp giấy là 7.778,27 ha, đạt 56,82% kế hoạch.
Cụ thể, thành phố Tuyên Quang bàn giao được 286,41 ha; Lâm Bình bàn giao được 247,78 ha; Nà Hang bàn giao được 2.461,15 ha; Chiêm Hóa bàn giao được 1.661,78 ha; Hàm Yên bàn giao được 3.653,17 ha; Sơn Dương bàn giao được 2.407,52 ha; Yên Sơn bàn giao được 2.971,29 ha.
Bên cạnh trồng rừng, công tác bảo vệ rừng được tỉnh đặc biệt coi trọng. Trong 5 năm qua, cùng với việc bảo vệ diện tích rừng hiện có, lực lượng kiểm lâm đã tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý vi phạm về lâm luật. Cụ thể, trong 5 năm, lực lượng kiểm lâm xử lý 5.302 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, nhờ đó rừng được bảo vệ tốt hơn.
Để tiếp tục nâng cao giá trị rừng, các đơn vị chức năng đã tập trung nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào trồng, chăm sóc rừng. Theo ông Nguyễn Văn Minh, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp, các dự án, đề tài khoa học trong trồng rừng như: mô hình trồng rừng kinh doanh gỗ lớn kết hợp với kinh doanh gỗ nguyên liệu giấy; ứng dụng khoa học công nghệ vào trồng và thâm canh cây keo; sử dụng giống chè Shan đưa vào trồng rừng phòng hộ; xác định tuổi khai thác hợp lý của cây keo lai làm nguyên liệu giấy; trồng rừng thâm canh bằng giống keo hạt cung cấp nguyên liệu gỗ xẻ; áp dụng khoa học và công nghệ trồng rừng lấy gỗ chế biến gia dụng và xây dựng từ giống keo nhập ngoại... đều hướng tới mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất lâm nghiệp.
Phấn đấu nâng cao giá trị kinh tế rừng, nâng cao giá trị khai thác từ 60-70 m3/chu kỳ lên 100 m3/chu kỳ, theo Quyết định số 774/QĐ-BNN-TCLN ngày 18-4-2014 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về Phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng sản xuất giai đoạn 2014 - 2020, tỉnh ta triển khai mô hình trồng rừng kinh doanh gỗ lớn kết hợp với kinh doanh gỗ nguyên liệu giấy tại các công ty lâm nghiệp.
Mô hình kinh doanh gỗ lớn kết hợp với kinh doanh nguyên liệu giấy, hiện nay Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Sơn Dương đã trồng được 10,7 ha keo tai tượng, đạt 107% kế hoạch.
Theo chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT, Công ty đã đăng ký trồng 10 ha rừng kinh doanh gỗ lớn và 10 ha chuyển hóa rừng kinh doanh gỗ lớn kết hợp với kinh doanh nguyên liệu giấy. Hơn 10 ha rừng trồng gỗ lớn đều là giống keo tai tượng nhập ngoại được Công ty nhập từ Úc về, bảo đảm chất lượng cây giống; mật độ trồng 1.100 cây/ha. Tỉnh đã triển khai đến 5 Công ty Lâm nghiệp thực hiện với tổng diện tích gần 40 ha.
Trong quá trình trồng, áp dụng chế độ thâm canh, không tỉa thưa, tuổi khai thác có thể để từ 12 đến 18 năm. Ngoài ra, các công ty còn thực hiện chuyển hóa rừng gỗ lớn từ rừng nguyên liệu giấy. Tuổi rừng thực hiện chuyển hóa rừng trồng từ 3 đến 4 tuổi, mật độ để lại nuôi dưỡng từ 400 đến 600 cây/ha.
Mô hình trồng rừng gỗ lớn là một trong những giải pháp nhằm tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh tế của rừng trồng theo hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng và sản phẩm gỗ chế biến từ rừng trồng, tạo vùng nguyên liệu tập trung, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến đồ gỗ xuất khẩu, giảm dần nhập khẩu gỗ nguyên liệu và góp phần nâng cao thu nhập và đời sống cho người trồng rừng... thông qua hiệu quả của mô hình, Chi cục Lâm nghiệp có những tham mưu, đề xuất với UBND tỉnh về chủ trương nhân rộng mô hình kinh doanh gỗ lớn trên địa bàn tỉnh.
Nhờ thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng, gắn với triển khai các biện pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp, tăng cường trồng rừng sản xuất, tỉnh ta luôn đảm bảo độ che phủ của rừng trên 60%, trở thành một trong những tỉnh đứng đầu cả nước về độ che phủ của rừng.
Nhiều năm qua, giá trị sản xuất lâm nghiệp tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 32,8%/năm; hoàn thành mục tiêu thu hút hơn 90.000 lao động tham gia sản xuất lâm nghiệp. (Báo Tuyên Quang 12/8) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Á châu trong vài thập niên qua đã đưa hàng trăm triệu người thoát cảnh nghèo túng, nhưng nó cũng ảnh hưởng to lớn đến sự đa dạng sinh học của khu vực.
Tại cuộc họp ở Bangkok đầu tuần này của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN), các chuyên gia cảnh báo rằng nếu các nước trong khu vực không hợp tác với nhau để tăng cường việc bảo vệ các hệ sinh thái, hàng trăm loại cây cối và động vật sẽ bị tuyệt chủng.
Á châu giờ đây chiếm tới 40% sản lượng kinh tế toàn cầu và hai phần ba của tổng số tăng trưởng kinh tế toàn thế giới. Khoảng 60% dân số thế giới sinh sống ở Á châu, trong đó số dân ở đô thị lên tới 1 tỉ 900 triệu người và theo dự kiến sẽ tăng tới 3 tỉ 300 triệu vào năm 2050.
Nhưng sự phát triển nhanh chóng của kinh tế cũng mang lại những ảnh hưởng tiêu cực.
Hơn 1.400 loại cây cối và động vật được xem là có nguy cơ tuyệt chủng ở mức rất cao. Khoảng 95% các rạn san hô ở Đông Nam Á bị đe dọa. Những khu rừng ngập mặn, có thời che phủ hàng chục ngàn km bờ biển ở Á châu, đang bị thu hẹp nhanh hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới.
Ông Chương Tân Thắng, Chủ tịch IUCN, nói rằng các hệ sinh thái của trái đất giờ đây không còn có thể chịu đựng những mối căng thẳng mỗi ngày một nhiều và cần có những nỗ lực mới của các chính phủ để ngăn chận thiệt hại.
Ông Chương nói: "Chúng ta có thể duy trì về lâu về dài với phương thức sản xuất hiện nay không? Chúng ta có thể duy trì mức tiêu thụ hiện nay không? Do đó cần có ý chí chính trị, cần có sự nhận thức chung, cần có sự thay đổi giá trị. Chúng ta phải xem xét lại, chúng ta phải phản tỉnh, chúng ta phải thay đổi mô hình sản xuất, chúng ta phải thay đổi mô hình tiêu thụ, chúng ta phải xây dựng những xã hội bao gồm mọi thành phần.
Trong thông cáo kết thúc hội nghị, IUCN hối thúc các chính phủ, khu vực tư nhân và các tổ chức phi chính phủ hợp tác chặt chẽ hơn nữa để tìm kiếm những giải pháp cho các cộng đồng và môi trường thiên nhiên.
Tuy nhiên, theo ông Yeshey Dorji, Bộ trưởng Nông nghiệp Lâm nghiệp Bhutan, thách thức hiện này là làm thế nào để vượt qua những sự tính toán ngắn hạn về mặt kinh tế, là những sự tính toán thường gây phương hại cho những nỗ lực bảo tồn thiên nhiên.
Ông Dorji cho biết: "Những sự suy sét này chủ yếu là nhắm tới những thành quả kinh tế ngắn hạn. Tôi nghĩ rằng đó là thách thức lớn nhất cho mục tiêu bảo tồn. Những lợi ích kinh tế ngắn hạn là động lực chính của những hoạt động như săn bắt trái phép và buôn lậu".
Giám đốc Khu vực Á châu của IUCN, bà Aban Marker Kabraji, cho rằng năm 2015 đánh dấu một bước ngoặt cho Á châu với một nỗ lực cấp bách để gặt hái những sự sáng tạo đã giúp cho Á châu phát triển kinh tế trong 50 năm qua và dùng nó để giúp ích cho cả thiên nhiên lẫn con người.
Hội nghị kéo dài 3 ngày ở Bangkok là một sự kiện chính trước Đại hội Bảo tồn Thế giới, gồm 88 nước thành viên, sẽ được tổ chức tại Hawaii vào tháng 9 năm 2016. (Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ 13/8) đầu trang(
Chú gấu đen bị khoảng 10 con hổ bao vây, tấn công và không có cơ hội sống sót.
Ngày 12.8, báo chí Trung Quốc đưa tin một chú gấu đen 3 tuổi trong Công viên Động vật Hoang dã Thượng Hải ở nước này đã thiệt mạng sau khi vô tình rơi vào "ổ phục kích" của một đàn hổ dữ.
Chú gấu đen có tên là Tiểu Hắc Hùng này chưa từng nhìn thấy hổ bao giờ trong đời mình, và lần đầu tiên chú nhìn thấy hổ cũng là lúc chú bị tấn công và chết thảm.
Các quan chức Công viên Động vật Hoang dã Thượng Hải cho biết vụ tấn công xảy ra vào hôm thứ Hai vừa rồi, khi Tiểu Hắc Hùng đi lang thang trong công viên và lọt vào “trận địa” của khoảng 10 con hổ.
Các quan chức này cho biết bình thường hổ là loài hoạt động riêng lẻ, nhưng trong môi trường nuôi nhốt, chúng có xu hướng tập hợp thành một đàn để phối hợp bắt mồi. Những con hổ này tạo thành thế bao vây rất bài bản, khiến Tiểu Hắc Hùng không có cơ hội sống sót.
Nỗ lực giải cứu của các nhân viên Công viên Động vật Hoang dã Thượng Hải đã thất bại khi những con hổ này quá hung hãn và lao vào cắn xé Tiểu Hắc Hùng từ nhiều hướng. Toàn bộ diễn biến cuộc "phục kích" này đã được một du khách ghi lại bằng camera.
Nhà chức trách cho hay nhiều khả năng Tiểu Hắc Hùng đã đi lạc vào khu nhốt hổ vì một nhân viên đã vô tình để mở cánh cửa dẫn đến khu vực này. Công viên hoang dã này cho biết họ sẽ lắp đặt các camera giám sát tại khu vực nhốt hổ để giám sát chặt chẽ hơn những con vật săn mồi này, đề phòng các sự cố tương tự tái diễn. (Dân Việt 12/8; Kiến Thức 13/8) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||