|
Ngày 14 tháng 08 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Chiều ngày 12-8, Chi cục kiểm lâm tỉnh Đồng Tháp đã tiến hành bàn giao con chim bồ nông chân xám, loài động vật quý hiếm nằm trong sách đỏ cần được bảo vệ của Việt Nam cho Vườn quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp. (Tuổi Trẻ 14/8) đầu trang(
Ngày 13/8 - ngày thứ 2 xét xử sơ thẩm (lần 2) vụ 4 cựu công an “ăn chặn” trầm kỳ với phần lớn nội dung thẩm vấn hôm nay xoáy vào việc bán và chia tiền hai đoạn trầm kỳ.
Theo cáo trạng, tối ngày 26/9/2012 tại rừng Gộp Ngà (Sơn Trung, Khánh Sơn, Khánh Hòa), nhóm tìm trầm kỳ của các ông Nguyễn Ngọc Thừa (Quảng Nam) và Trần Văn Khánh (Khánh trắng, Khánh Sơn) đào được một cục trầm kỳ. Nhóm ông Thừa sợ bị nhóm khác cướp, nên đã giao cục trầm kỳ cho bị cáo Trần Lệ Kiên. Ngày 27/9/2012, bị cáo Nguyễn Thành Trung điện thoại cho Kiên và bị cáo Vũ Anh Trung, hỏi về đoạn trầm kỳ này.
Tối cùng ngày, bị cáo Thành Trung đến quán cà phê Góc Núi ở thị trấn Tô Hạp gặp bị cáo Anh Trung, bị cáo Nguyễn Hồng Hà, ông Trần Văn Khánh… Bị cáo Thành Trung bảo Trần Văn Khánh giao đoạn trầm kỳ cho ông ta mang đi bán và đưa tỷ lệ ăn chia: Đội liên ngành 40%, nhóm Khánh – Thừa 40%, nhóm bị cáo Luân Văn Nam 20%. Sau khi thống nhất, bị cáo Anh Trung gọi điện thoại cho bị cáo Lệ Kiên mang đoạn trầm kỳ đến bỏ vào trong một xe ô tô đang đậu ở trước quán, để bị cáo Thành Trung mang đi bán.
Ngày 28/9/2012, bị cáo Thành Trung nói bán được cục trầm kỳ với giá 3,8 tỷ đồng đưa cho nhóm của ông Khánh 1,6 tỷ đồng, đưa cho bị cáo Vũ Anh Trung 1,4 tỷ đồng để chia cho các thành viên đội liên ngành, đưa cho nhóm của bị cáo Luân Văn Nam 800 triệu đồng.
Cũng trong tối 26/9/2012, nhóm của ông Huỳnh Trung Nghĩa (ở Gồ em, Vạn Ninh, Khánh Hòa) đào được 1 cục trầm kỳ. Bị cáo Luân Văn Nam đòi ông Nghĩa đưa cục trầm kỳ cho mình. Chiều ngày 30/9/2012, bị cáo Thành Trung gọi bị cáo Nam và Hoàng Xuân Vương đến quán cà phê Điểm Hẹn, thị trấn Tô Hạp, yêu cầu giao đoạn trầm kỳ mà nhóm Nam cất giữ cho Trung mang đi bán. Nguyễn Thành Trung đã thông qua Phạm Thanh Túc (Cam Lâm, Khánh Hòa), Phạm Thanh Tùng (Q. Tân Bình, TP Hồ Chí Minh) để bán đoạn trầm kỳ cho Bùi Khắc Dũng (TP Hồ Chí Minh) với giá 350 triệu đồng…
Bị cáo Vũ Anh Trung khai, tối ngày 27/9/2012 ở quán cà phê Góc Núi bị cáo Thành Trung đề ra tỷ lệ ăn chia 40 – 40 – 20, khai việc ngày 28/9 bị cáo Thành Trung đưa cho bị cáo Anh Trung 1,6 tỷ đồng ở góc đường gần huyện đội Khánh Sơn. “Sau này mọi người có dặn nhau không nói về việc gặp nhau ở quán cà phê Góc Núi, để nhẹ đi”. Bị cáo Anh Trung khai.
Bị cáo Hồng Hà cũng khai nhận phần lớn nội dung cáo trạng liên quan tới mình, trừ hai câu nói. Theo cáo trạng, tối ngày 26/9/2012, sau khi giữ đoạn trầm kỳ của nhóm Gồ em, bị cáo Nam đã đưa đoạn trầm kỳ cho bị cáo Hồng Hà, bị cáo Hồng Hà nói “mày cầm đi, cục hàng này chú cháu mình chia nhau”, đồng thời dặn mọi người không được báo lãnh đạo việc đội liên ngành giữ các đoạn trầm kỳ. Tại tòa, bị cáo Hồng Hà khai rằng mình không nói như vậy, chỉ nói với bị cáo Nam là “giữ lấy hàng, sau này có ai hỏi thì trả lại”.
Bị cáo Trần Lệ Kiên khai, đoạn trầm kỳ bị cáo giữ của nhóm Nguyễn Ngọc Thừa - Trần Văn Khánh dài khoảng 60cm, nặng gần 1kg, theo dân tìm trầm có trị giá khoảng 7 – 8 tỷ đồng. Tối 27/9/2012, Kiên đã mang đoạn trầm kỳ này bỏ vào ghế sau một xe xe ô tô đã mở cửa sẵn ở trước quán cà phê Góc Núi.
Bị cáo Luân Văn Nam khai nhận, chiều ngày 30/9/2012 được gọi tới quán cà phê Điểm Hẹn gặp bị cáo Thành Trung, sau đó bị cáo Thành Trung đã nhận đoạn trầm kỳ mà nhóm Nam giữ để mang đi bán.
Do một số nhân chứng vắng mặt, thẩm phán chủ tọa phiên tòa Trần Hữu Viên đã công bố lời khai của các nhân chứng này.
Theo lời khai của ông Trần Văn Khánh, tối ngày 27/9/2012 tại quán cà phê Góc Núi, ông Khánh đòi lại cục “hàng”, nhưng bị cáo Thành Trung nói “tụi mày không tin tao à, để tao đi bán”, rồi đưa tỷ lệ ăn chia 4 – 4 - 2. Do “hàng” không nằm trong tay, ông Khánh đành chấp nhận. Sáng ngày 28/9/2012, bị cáo Thành Trung gọi điện thoại cho ông Khánh, nói giá “hàng” là 4,8 tỷ đồng/kg, “hàng” có trọng lượng 0,85kg, được giá 4 tỷ đồng.
Ông Khánh báo cho ông Thừa, lúc đầu ông Thừa không chấp nhận giá đó, vì ông biết đoạn trầm kỳ có thể bán được khoảng 8 tỷ đồng. Nhưng sau ông Thừa phải chấp nhận, vì đã lỡ giao khúc trầm kỳ cho người ta rồi. Chiều hôm đó, nhóm ông Khánh nhận được 1,6 tỷ đồng…
Bị cáo Luân Văn Nam khai, sau khi vụ án được khởi tố, đã có người gọi điện thoại dặn bị cáo như vậy. Do đó, tại phiên tòa sơ thẩm (lần 1) bị cáo đã khai một số tình tiết không đúng, có lợi cho bị cáo Thành Trung (Trung hí). “Lúc đó tôi khai không đúng vì chưa nhận thức đúng và bị áp lực”. Bị cáo Luân Văn Nam nói.
Bà Nguyễn Thị Phương, mẹ bị cáo Lệ Kiên khai, đầu tháng 10/2012 bị cáo Thành Trung gọi điện bảo Kiên xuống nhà ông Xuân, cán bộ công an Khánh Sơn có nhà ở thành phố Cam Ranh. Bà Phương bảo Kiên không đi, nhưng Kiên cứ đi nên bà bảo Kiên chở bà theo. Tại đây bà Phương không biết bị cáo Thành Trung và Kiên bàn bạc gì.
Tuy nhiên tại Tòa, bị cáo Lệ Kiên khai rằng ở nhà ông Xuân, bị cáo Thành Trung có dặn cách khai báo đối phó với cơ quan điều tra. Theo đó, sẽ khai là một người Quảng Nam mang trầm kỳ đi bán, một người Quảng Nam khác mang cho tiền.
Ông Trần Văn Khánh cũng khai, một ít ngày sau khi chia tiền, bị cáo Thành Trung gọi ông Khánh xuống nhà ông Xuân, bảo ông Khánh nhận việc bán trầm kỳ, vì là dân nên bán không sao. Ông Khánh sợ nên không đồng ý. (Tiền Phong 13/8) đầu trang(
Để cho ra đời thành công ba chú hổ trắng quý hiếm là một sự thành công rất lớn của ban lãnh đạo, cán bộ Thảo Cầm Viên Sài Gòn, trong đó phải kể đến những người ngày đêm theo dõi, chăm sóc.
Để hiểu hơn về cuộc sống của những chú hổ trắng quý hiếm tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn, phóng viên Infonet đã có cuộc gặp gỡ những người làm công tác chăm sóc, nuôi dưỡng hổ tại đây.
Bà Phạm Diệp Ngân - Giám đốc Xí nghiệp động vật, phụ trách mảng động vật của Thảo Cầm Viên Sài Gòn chia sẻ: “Ngoài kiến thức chuyên ngành thì những người làm công tác chăm sóc động vật tại Thảo Cầm Viên đều có lòng đam mê, yêu thương động vật mới vượt lên những khó khăn trở ngại. Hổ trắng quý hiếm thời gian đầu đưa về Thảo Cầm Viên Sài Gòn cần sự thích nghi trong việc phát triển và tăng trưởng tốt vì vậy đòi hỏi người cán bộ kỹ thuật phụ trách công tác nuôi dưỡng phải có sự hiểu biết và sự tận tâm vì hổ là loài sống đơn độc, khi nó đến tuổi trưởng thành thì nó không ở chung nên người cán bộ kĩ thuật cần phải nhận biết được thời điểm hổ mang giống, chu kỳ để lựa chọn thời điểm thích hợp thả giống”.
"Trong quá trình hổ mang thai chúng tôi đã lên một kế hoạch chế độ dinh dưỡng chăm sóc đặc biệt, bổ sung một số loại thuốc bổ, tăng thêm khẩu phần ăn cho hổ mẹ. Những ngày hổ gần sinh sản chúng tôi cử người túc trực, nếu quan sát hổ có triệu chứng khác lạ sẽ có phương án xử lý kip thời", bà Ngân cho biết thêm.
Ông Phan Việt Lâm – Giám đốc Công ty TNHH MTV Thảo Cầm Viên Sài Gòn cho biết: "Thời gian đầu khi hổ mới sinh chúng tôi đã gắn camera theo dõi chặt chẽ 24/24 giờ. Khi phát hiện một chú hổ trắng yếu hơn, không giành bú sữa mẹ, đặc biệt theo tập tính chọn lọc tự nhiên thì hổ mẹ thích chăm những con khỏe mạnh nên chúng tôi quyết định bắt chú hổ bị bỏ rơi ra nuôi bộ.
Lúc đầu hổ con có vẻ thiếu sữa, chúng tôi kịp thời cho hổ uống những loại sữa ngoại nhập tốt nhất, chuyên dành cho họ mèo. Thời gian đầu cần độ béo phát triển thì chúng tôi nghiên cứu công thức đến nay chúng tôi rất vui mừng vì chú hổ nuôi bộ phát triển khỏe mạnh thậm chí có phần vượt trội hơn hai con mẹ nuôi.
Tuần trước chúng tôi đã kiểm tra sức khỏe toàn diện và cân thử một con nặng 3,7 kg, một con 3,8 kg. Còn về con hổ được nuôi bộ thì sức khỏe tăng vọt hơn nặng đạt 4,1 kg. Đến thời điểm này cả 3 chú hổ phát triển khỏe mạnh, rất tốt. Trong thời gian tới chúng tôi sẽ tiếp tục đặt mục tiêu bảo tồn, nhân giống bảo vệ các gen nhất là động vật quý hiếm" - ông Lâm cho biết thêm.
Cũng theo ông Lâm thì khó khăn ban đầu là khi hổ mẹ bỏ con cán bộ phải bắt ra nuôi bộ. Khó khăn tiếp theo là trong quá trình nuôi bộ phải theo dõi kĩ sức khỏe của hổ con bởi vì nó không được sự chăm sóc của con mẹ thì bản năng nó sẽ nhút nhát hơn do tác động môi trường bên ngoài.
Hiện nay hổ mẹ và hổ con đều có người chăm sóc, nuôi dưỡng riêng. Một ngày hổ mẹ ăn 2 lần (buổi sáng và buổi chiều) vệ sinh chuồng trại luôn đảm bảo sạch sẽ, thông thoáng với nhiệt độ khoảng 28 – 29°C. Riêng chú hổ nuôi bộ một ngày uống sữa 6 cữ (cách 4 tiếng cho uống sữa một lần, lượng sữa tăng lên theo từng giai đoạn) đặc biệt phải có một người chịu trách nhiệm chính để làm công tác chăm sóc cả ngày lẫn đêm.
Cách đây 5 năm, Thảo Cầm Viên Sài Gòn nhập hổ bố (tên là Lem) và hổ mẹ (tên là Luốc) từ vườn thú Elmvale (Canada) về thuần dưỡng. Đây là loài hổ chỉ sống ở khu vực Bangaledesh, Ấn Độ, Bhutan, Trung Quốc, Nepal. bảo vệ hàng đầu. Theo Quỹ bảo vệ động vật hoang dã (WWF) số lượng hổ từ năm 1900 đến năm 2013 giảm từ 100.000 xuống 3.200 con.
Đây là loài hổ trắng có nguy cơ tuyệt chủng, đang đứng hàng đầu trong danh sách những loài cần được bảo vệ. Hơn nữa Việt Nam không phải là nơi phân bố tự nhiên của loài động vật này. Do đó quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng hổ trắng gặp rất nhiều khó khăn.
Hiện nay Thảo Cầm Viên Sài Gòn đã xây dựng được một bộ sưu tập rất phong phú với gần 1.000 loài thực vật thuộc hơn 100 họ và khoảng 123 loài động vật thuộc các lớp chim, thú, bò sát. Trong số này có hơn 20 loài thực vật và hơn 100 loài động vật nằm trong danh sách các loài quý hiếm của Việt Nam và Thế Giới. Thảo Cầm Viên Sài Gòn với diện tích 17 ha hằng năm thu hút gần 2,4 triệu khách tham quan. (Bộ Thông Tin Và Truyền Thông 14/8) đầu trang(
Di sản Thiên nhiên thế giới Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (tỉnh Quảng Bình) không chỉ độc đáo và đẹp nhất thế giới về sự kiến tạo kasrt (ngày 05/7/2003, VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đã được công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới với tiêu chí địa chất và địa mạo) mà còn đa dạng về sinh học.
Với địa hình được bảo phủ bởi các kiểu rừng kín thường xanh và rừng kín bán thường xanh, phần lớn còn nguyên sinh đã tạo cho Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng những giá trị đa dạng sinh học phong phú mang tính toàn cầu.
Theo nghiên cứu khoa học “Những giá trị nổi bật toàn cầu hướng tới việc ghi danh Di sản thế giới Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng lần thứ hai về tiêu chí đa dạng sinh học” của Nguyễn Quốc Dựng và Đinh Huy Trí đã nhấn mạnh: Quá trình phát triển những giá trị nổi bật về địa chất địa mạo và khí hậu thủy văn (ở VQG PN – KB) đã tạo ra môi trường lý tưởng cho đa dạng sinh học và cũng là một bộ phận hữu cơ của giá trị nổi bật mang tính toàn cầu. Phong Nha – Kẻ Bàng là một mẫu điển hình về đa dạng sinh học của vùng sinh thái dãy Trường Sơn, là nơi được xác định là một trong 200 trung tâm có giá trị đặc biệt về đa dạng sinh học trên thế giới”.
Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng được thiên nhiên ban tặng một tài nguyên vô cùng quý giá, nơi đó chứa đựng tính đa dạng của các hệ sinh thái tự nhiên. Bao gồm các hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi, hệ sinh thái rừng trên núi đất và vùng chuyển tiếp, hệ sinh thái sông suối, hệ sinh thái hang động và các hệ sinh thái thứ sinh. Đây là một bộ máy hoàn chỉnh cho quá trình đồng tiến hóa của động vật, thực vật tại thành những mắt xích và mạng lưới thức ăn bền vững trong mội trường tự nhiên.
Đặc biệt, kiểu rừng nhiệt đới thường xanh chủ yếu cây lá kim với ưu thế loài Bách xanh núi đá và dưới tán là các các loài lan hài phân bổ trên núi đá vôi ở độ cao trên 700 -1.000m là kiểu rừng độc nhất vô nhị không tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác trên trái đất. Bên cạnh đó, còn có 15 kiểu rừng khác đã đem lại tính đa dạng của các hệ sinh thái, có ý nghĩa toàn cầu đối với bảo tồn đa dạng sinh học.
Cho đến nay, các nhà khoa học đã xác định tại VQG PN - KB có 2.694 loài thực vật bậc cao có mạch, 862 loài động vật có xương sống, 369 loài côn trùng sinh sống. Trong đó có tới 116 loài thực vật và 129 loại động vật được ghi trong sách Đỏ Việt Nam và sách Đỏ của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN).
Bên cạnh đó, sự đa dạng về sinh cảnh núi đá vôi, hang động, núi đất… là điều kiện lý tưởng cho 9/21 loài sinh trưởng (43% linh trưởng của Việt Nam) sinh sống. Nơi đây có các phân loài linh trưởng đặc hữu quý hiếm của dãy Trường Sơn sinh sống là: Voọc Hà Tĩnh, Voọc Chà vá chân nâu, Vượn Siki, Vượn đen má trắng; trong đó có 1 phân loài là Voọc Hà Tĩnh chỉ tìm thấy ở vùng núi đá vôi Phong Nha – Kể Bàng và vùng lân cận.
Đặc điểm về vị trí địa lý đã tạo cho Phong Nha – Kẻ Bàng trở thành một địa điểm quan trọng đối với công tác bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu, là nơi có mặt của 419 loài thực vật đặc hữu của Việt Nam (trong đó có 28 loài lan), có 2 loài mới Bách xanh núi đá đặc hữu, chỉ thấy ở Vườn quốc gia Phong Nha –Kẻ Bàng. Có 41 loài động vật đặc hữu cho dãy Trường Sơn, trong đó có 30 loài đặc hữu cho Việt Nam, đặc biệt có tới 23 loài đặc hữu hẹp mới chỉ tìm thấy ở Vườn quốc gia PN – KB.
Ngoài ra, trong 10 năm trở lại đây, các nhà khoa học đã phát hiện 1 loài thực vật, 2 loài chim, 17 loài bò sát, 2 loài lưỡng thê, 12 loài và phân loài cá, 2 loài bướm mới cho khoa học, 2 loài côn trùng… Đặc biệt, các nhà khoa học đã ghi nhận mẫu chuột đá Lào (thuộc giống Laonestes) ở Phong Nha –Kẻ Bàng, đây là một loài thú cổ đã bị tuyệt chủng.
Các nhà khoa học cũng đã ghi nhận tại Vườn Quốc gia PN – KB đã có 153 loài thú, thuộc 93 họ và 11 bộ, trong đó có 53 loài có giá trị bảo tồn cao, 37 loài có tầm quan trọng bảo tồn cấp toàn cầu và 47 loài có tầm quan trọng bảo tồn cấp quốc gia. Khảo sát khu hệ động vật không xương sống hang động tại Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng và khu vực mở rộng, các nhà khoa học đã thu được 730 cá thể trưởng thành bao gồm 83 loài, 55 họ, 24 bộ, 7 lớp động vật không xương sống. Có 212 loài và phân loài cá nằm trong 38 họ thuộc 10 bộ khác nhau…
Với diện tích núi đá vôi và thảm thực vật rừng nguyên sinh rộng lớn đã tạo ra cho khu hệ Dơi của Vườn quốc gia đa dạng nhất ở Việt Nam với 46 loài, chiếm 43% tổng số loài của Việt Nam. Đây là một trong những điểm có tiềm năng lớn nhất Việt Nam và thế giới về bảo tồn các loài dơi…
Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được công nhận Di sản thiên nhiên thế giới lần thứ hai, là cơ sở, động lực để Quảng Bình tiếp tục bảo vệ toàn vẹn nguồn tài nguyên thiên nhiên với các hệ sinh thái rừng đa dạng và phong phú, các loài động thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng; khai thác thế mạnh của cảnh quan thiên nhiên để phát triển du lịch, sinh kế cho cư dân trong vùng, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Vào lúc 12 giờ 24 phút ngày 03/7/2015 (tức 17 giờ 24 phút theo giờ Việt Nam), tại kỳ họp lần thứ 39 tại Bonn, Cộng hòa Liên bang Đức, với sự nhất trí hoàn toàn của các quốc gia thành viên Ủy ban Di sản thế giới (WHC), Vườn Quốc gia (VQG) Phong Nha - Kẻ Bàng đã được Tổ chức Giáo dục - Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới lần thứ hai theo 02 tiêu chí “là những ví dụ nổi bật đại diện cho các quá trình sinh thái và sinh học trong sự tiến hóa và phát triển của các hệ sinh thái trên cạn, nước ngọt, biển và ven biển và các cộng đồng động thực vật (tiêu chí IX) và “sở hữu các môi trường sống tự nhiên quan trọng và có ý nghĩa nhất đối với việc bảo tồn tại chỗ đa dạng sinh học, kể cả những nơi sở hữu các loài bị đe dọa có giá trị nổi bật Toàn cầu xét dưới góc độ khoa học hoặc bảo tồn” (tiêu chí X).
Đây là một trong 02 hồ sơ Di sản thiên nhiên được duyệt trong tổng số 5 hồ sơ đệ trình lần này. Ủy ban Di sản Thế giới cũng chấp thuận mở rộng Vườn Quốc gia từ diện tích 85,754 ha lên 123,326 ha. (Đại Đoàn Kết 13/8) đầu trang(
Mỗi năm có hàng trăm ngàn con cá voi, cá heo, rùa biển và các loài động vật khác chết do ăn phải túi nylon vì chúng nhầm lẫn với thực phẩm.
Túi nylon từ lâu đã trở thành vật dụng không thể thiếu trong cuộc sống con người. Thế nhưng vật liệu này bị cảnh báo là một trong những loại rác thải khó phân hủy, gây nguy hại đến môi trường và sức khỏe.
Theo thống kê từ Cơ quan Bảo vệ môi sinh Hoa Kỳ, mỗi năm có hơn 380 tỉ túi nylon được sử dụng ở nước này. Còn tại Đài Loan, con số trên ở mức 20 tỉ, Nhật Bản là 300 tỉ, Úc là 6,9 tỉ. Ở châu Phi, túi nylon phổ biến đến mức họ có một ngành tiểu thủ công nghiệp dệt ra nón, túi xách và nhiều loại hàng hóa khác từ việc thu gom túi nylon. Việc xả các loại túi nylon thậm chí còn diễn ra phổ biến ở Nam Cực.
Theo David Barnes, một nhà khoa học hàng hải thuộc đoàn khảo sát Nam cực Anh, túi nylon không còn là hiếm. Chúng đã có mặt ở khắp khu vực này từ những năm cuối thập niên 1980.
Tại Việt Nam, một quốc gia đang phát triển mạnh mẽ nhưng đi cùng với đó là những vấn đề liên quan đến môi trường. Trong Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn 2050 do Chính phủ ban hành có nêu vấn đề hạn chế sử dụng túi nylon. Theo đó, mục tiêu đến năm 2020 là giảm 65% khối lượng túi nylon sử dụng tại các siêu thị và trung tâm thương mại so với năm 2010 và đến năm 2025 là 85%.
Để đạt mục tiêu trên, Chính phủ đề ra nhiều giải pháp, trong đó có việc tuyên truyền nâng cao nhận thức; xây dựng và thực hiện các chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng ở các trường học, cộng đồng dân cư, cơ sở kinh doanh… Đồng thời khuyến khích cộng đồng tham gia vào các hoạt động phân loại tại nguồn; giảm thiểu, tái chế tái sử dụng chất thải rắn; hạn chế sử dụng túi nylon, không đổ rác bừa bãi; đưa giáo dục môi trường vào các cấp học với nội dung và thời lượng phù hợp với nhận thức của từng lứa tuổi.
Cùng với chiến dịch giảm thiểu sử dụng túi nylon diễn ra trên cả nước, UBND TP.HCM đã có chỉ thị về tăng cường công tác quản lý sử dụng và thải bỏ túi nylon trên địa bàn TP. Một trong những mục tiêu quan trọng là trong năm nay, chúng ta hướng tới giảm 40% lượng túi nylon tại siêu thị, trung tâm thương mại.
Ông Nguyễn Văn Phước, Phó Giám đốc Sở TN&MT TP.HCM, cho biết hiện trên địa bàn TP có hơn 80% các siêu thị lớn, trung tâm thương mại, hệ thống nhà sách đang sử dụng các loại túi nylon tự phân hủy hay những loại túi thân thiện môi trường. Đặc biệt, một số siêu thị tận dụng thùng giấy thừa cho khách để hàng, một số khác lại mua túi nylon tự phân hủy hoặc sử dụng các bao gói thân thiện môi trường.
Song song với nỗ lực của cơ quan chức năng, cộng đồng dân cư TP luôn ý thức cùng nhau thay đổi thói quen tiêu dùng nhằm đẩy lùi túi nylon nguy hại ra khỏi cuộc sống sinh hoạt hằng ngày. Tuy nhiên, việc thay đổi thói quen hoàn toàn cần phải có thời gian thực hiện.
Một số mẹo nhỏ Sở TN&MT TP.HCM tư vấn bạn:
- Tránh mua sản phẩm được đóng gói trong các loại bao bì bằng nylon, hãy tìm mặt hàng đựng trong lọ thủy tinh, hộp hay các vật liệu thân thiện môi trường. Điều này không chỉ giúp chúng ta giảm sử dụng nylon mà cũng là thông điệp mạnh mẽ gửi đến các nhà sản xuất.
- Sử dụng túi vải: Giữ một chiếc túi vải trong cốp xe để sử dụng khi bạn đi mua sắm (nhớ làm sạch chiếc túi sau mỗi lần sử dụng).
- Bỏ qua các loại nước đóng trong chai nhựa. Mặc dù chúng thuận tiện nhưng đây là một trong năm loại rác phổ biến nhất trên các bãi biển.
- Tái chế: Hãy suy nghĩ về việc tái sử dụng vật phẩm thay vì bỏ đi hoặc mua cái mới.
- Hãy mang theo chiếc cốc có thể tái sử dụng nhiều lần khi bạn mua cà phê.
- Hãy mặc quần áo làm từ chất liệu thiên nhiên, tránh pha trộn thêm chất liệu nylon.
- Hạn chế sử dụng các loại đũa, muỗng, chén, dĩa… dùng một lần.
- Khi dùng bữa ở ngoài, hãy mang theo vật dụng đựng thức ăn thừa về nhà, đừng bỏ chúng đi. Hãy nhớ rằng còn rất nhiều trẻ em không có đủ thức ăn mỗi ngày. (Pháp Luật TP.HCM 13/8) đầu trang(
Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân khẳng định sáng 12-8, rằng Thảo Cầm Viên Sài Gòn sẽ được gìn giữ như một lá phổi xanh của thành phố và hoàn toàn không có chuyện di dời như một số thông tin đồn thổi lâu nay.
Phát biểu tại buổi lễ khen thưởng đột xuất công ty TNHH MTV Thảo Cầm Viên Sài Gòn về thành tích lai giống, trong đó đặc biệt đã nuôi dưỡng và cho sinh sản thành công ba hổ con Bengal trắng từ hai con hổ được nhập từ Canada năm 2010, ông Quân đánh giá cao vai trò của Thảo Cầm Viên trong quá trình đô thị hoá của thành phố.
Trước những thông tin về việc thành phố sẽ di dời Thảo Cầm Viên Sài Gòn đi nơi khác, ông Lê Hoàng Quân khẳng định rằng sẽ không có chuyển di dời Thảo Cầm Viên Sài Gòn. Cùng với các công viên khác của thành phố, Thảo Cầm Viên Sài Gòn tạo nên lá phổi xanh cho thành phố, đồng thời nơi đây còn là một trường học sinh động cho học sinh, sinh viên và mọi người trong việc tìm hiểu về thiên nhiên, ông Quân cho biết.
"Với tốc độ đô thị hóa như hiện nay, không thể xem thường những công viên như thế này được, mà phải biết bảo vệ, phát huy vai trò của nó để những thế hệ tiếp theo không chỉ sống trong một thế giới ảo trên internet mà có không gian để thực tế, học tập, nghiên cứu", ông Quân nói.
Theo ông Phan Việt Lâm, Giám đốc Công ty TNHH MTV Thảo Cầm Viên Sài Gòn, hiện Thảo Cầm Viên Sài Gòn có diện tích 17ha, với 1.000 loài thực vật thuộc 100 họ và 123 loài động vật, trong đó có hơn 20 loài thực vật và 100 loài động vật nằm trong danh sách các loài quý hiếm của Việt Nam và thế giới.
Thảo Cầm Viên Sài Gòn đã nuôi và sinh sản thành công nhiều loại động vật quý hiếm như trĩ sao, cá sấu nước mặn, hổ Đông Dương… và mới nhất là cho sinh sản thành công hổ trắng Bengal, hiện chỉ còn khoảng 3.000 con trên thế giới. Đây là loài hổ đứng hàng đầu trong danh sách những loài động vật cần được bảo vệ, ông Lâm cho biết thêm.
Trong năm 2014, Thảo Cầm Viên Sài Gòn đã đón 2,4 triệu lượt du khách đến tham quan, học tập, nghiên cứu với doanh thu khoảng 66 tỉ đồng. Năm 2014 cũng là năm Thảo Cầm Viên Sài Gòn - hiện là một trong 10 thảo cầm viên lâu đời nhất trên thế giới - có số lượng khách và doanh thu cao nhất trong vòng 20 năm trở lại đây, ông Lâm cho hay. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 12/8; Thanh Niên 13/8) đầu trang(
Thảo Cầm viên Sài Gòn đã được hình thành cách nay 151 năm, là một trong 10 công viên lâu đời nhất trên thế giới, nơi lưu giữ nhiều loại động, thực vật quý hiếm thậm chí có những loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Mới đây, Thảo Cầm viên Sài Gòn đã ghi thêm một kỳ tích khi nhân giống thành công ba con hổ Bengal lông trắng.
Trong khi người dân TP Hồ Chí Minh hồ hởi đón nhận thông tin về ba thành viên hổ Bengal lông trắng mới sinh, thì hơn một tháng qua, cán bộ, kỹ sư Công ty TNHH MTV Thảo Cầm viên Sài Gòn (Thảo Cầm viên Sài Gòn) phải ngày đêm chăm sóc sức khỏe, bảo vệ an toàn cho chúng.
Tiến sĩ Phan Việt Lâm, Giám đốc Thảo Cầm viên Sài Gòn cho biết, đây là một kỳ tích, nhưng việc chăm sóc, nuôi dưỡng trong mấy ngày đầu gặp nhiều khó khăn vì có một con trong đàn bị yếu. Theo tập tính của động vật hoang dã và cũng là sự chọn lọc tự nhiên, hổ mẹ sẽ bỏ nuôi con yếu, chỉ nuôi các con khỏe.
Đây là loài hổ trắng quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng, đứng đầu trong danh sách những loài cần được bảo vệ. Do đó, đơn vị phải nuôi con yếu bằng các loại sữa, kể cả bình dành riêng cho mèo, để cho hổ con bú. Sau thời gian nỗ lực chăm sóc, hai con hổ con đều khỏe và đã biết chơi đùa với mẹ. Qua kiểm tra sức khỏe toàn diện và cân thử, một con đạt 3,7 kg và con kia nặng 3,8 kg. Riêng con được nuôi bằng sữa ngoài, sức khỏe tốt hơn, cân nặng đạt 4,1 kg.
Cách nay 5 năm, Thảo Cầm viên Sài Gòn đã nhập hai con hổ lông trắng (một hổ đực và một hổ cái) từ vườn thú Elmvale (Ca-na-đa) về thuần dưỡng. Đây là loài hổ phân bố và sinh sống tại các nước như: Băng-la-đét, Ấn Độ, Bu-tan, Trung Quốc, Nê-pan. Theo thống kê của Quỹ Bảo vệ động vật hoang dã thế giới (WWF), số lượng hổ từ năm 1900 đến 2013 giảm từ 100.000 con xuống 3.200 con và đang có nguy cơ tuyệt chủng.
Do đó, việc nuôi dưỡng cặp hổ trắng sống khỏe mạnh đến nay là đã thành công, nay chúng lại sinh được ba hổ con lông trắng là rất hiếm. Điều này cho thấy loài hổ Bengal đã thích nghi tốt với khí hậu của miền nam nước ta.
Giám đốc Xí nghiệp Động vật của Thảo Cầm viên Sài Gòn Phạm Diệp Ngân “bật mí”, ngoài con đực được nuôi theo chế độ đặc biệt, hai con do hổ mẹ trực tiếp nuôi cũng được lắp ca-mê-ra theo dõi 24/24 giờ để theo dõi tình trạng sức khỏe của cả hổ mẹ, hổ con.
Du khách đến tham quan hai con hổ trắng mới sinh cũng có thể theo dõi trực tiếp bằng màn hình lớn ngay trước cửa chuồng hổ mẹ. Những người may mắn còn có thể chạm tay vào con hổ con, nhiều người không khỏi ngạc nhiên, trầm trồ vì chúng quá dễ thương.
Trước đó, Thảo Cầm viên Sài Gòn đã nuôi sinh sản thành công nhiều loài động vật quý hiếm như: Trĩ sao, cá sấu nước mặn, vẹt trắng của Ô-xtrây-li-a và hổ Đông Dương. Hiện, Thảo Cầm viên Sài Gòn có bộ sưu tập rất phong phú với gần 1.000 loài thực vật thuộc hơn 100 họ và 123 loài động vật thuộc các lớp chim, thú, bò sát.
Trong số này có hơn 100 loài động vật nằm trong danh sách các loài quý hiếm của Việt Nam và thế giới. Về thực vật, có 20 loài thực vật quý hiếm, nhiều cây đã “thọ” hơn 200 tuổi như: Sao, Dầu, Gõ đỏ, Giáng hương, Lòng mang lá cò ke, cây Mét… có thể đưa vào danh sách cây di sản.
Thành tích nuôi, cho sinh sản thành công nhiều loài quý hiếm, đặc biệt là ba con hổ lông trắng của tập thể cán bộ, kỹ sư, nhân viên Thảo Cầm viên Sài Gòn đã được UBND thành phố Hồ Chí Minh khen thưởng đột xuất, tặng Bằng khen và năm triệu đồng. Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh Lê Hoàng Quân cho rằng, thành công này là cơ sở cung cấp cho các nhà nghiên cứu, đồng thời phải lập hồ sơ đăng ký nhãn hiệu hàng hóa “nhân giống” để các bộ, ngành trong nước và thế giới biết đến Thảo Cầm viên Sài Gòn.
Đây cũng là thông điệp, cam kết mạnh mẽ của thành phố nói riêng, Việt Nam nói chung trong việc nỗ lực chăm sóc, bảo vệ các loài động vật quý hiếm, động vật hoang dã và bảo vệ môi trường thiên nhiên; kiên quyết đấu tranh với vấn nạn săn trộm, dùng các bộ phận động vật như sừng tê giác, cao hổ… làm thuốc bất hợp pháp.
Suốt 40 năm qua, kể từ khi miền nam được giải phóng, đất nước thống nhất, Thảo Cầm viên Sài Gòn là địa chỉ lý tưởng để nhiều trường đại học như Nông Lâm, Khoa học Tự nhiên, Y dược... triển khai nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về động, thực vật. Nhiều kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng trong thực tiễn, góp phần vào việc bảo vệ giống loài, bảo tồn nguồn gen và duy trì sự đa dạng các loài trong tự nhiên.
Thảo Cầm viên Sài Gòn cũng hợp tác với các chuyên gia Vườn thú Munster (Cộng hòa Liên bang Đức) để huấn luyện sáu con voi châu Á biểu diễn cho du khách xem miễn phí vào mỗi thứ bảy, chủ nhật hằng tuần; trao đổi với Vườn thú Xin-ga-po để nhận hai đôi hổ Đông Dương với hy vọng sẽ thành lập một trung tâm nhân giống, bảo tồn loài này trong thời gian tới...
Kể từ khi thành lập vào năm 1864 đến nay, dù diện tích có lúc rộng, khi hẹp; các loài thú khi ít, khi nhiều…, nhưng thời nào, Thảo Cầm viên Sài Gòn cũng là nơi được đông đảo người dân thành phố và du khách chọn làm địa chỉ tham quan, tìm hiểu các loài chim muông, cây cỏ.
Tiến sĩ Phan Việt Lâm cho rằng, thực chất Thảo Cầm viên Sài Gòn chủ yếu mang tính phục vụ, đối tượng chính là các cháu thiếu nhi. Vào những ngày cuối tuần, ngày lễ lớn trong năm, các cháu thiếu nhi có thể tham quan, chụp hình, thậm chí vuốt ve với một số loài thân thiện như dê lùn, cừu… như những loài thú cưng nuôi tại nhà. Số lượng khách đến Thảo Cầm viên Sài Gòn cũng tăng nhanh.
Nếu như năm 2004 là 600.000 lượt người, thì năm 2014 đã có là 2,4 triệu lượt khách tham quan, đạt doanh thu 66 tỷ đồng, cao nhất trong 20 năm trở lại đây. Tuy nhiên, hiện nay 300 cán bộ, nhân viên Thảo Cầm viên Sài Gòn đang gặp khó khăn do chuyển sang cơ chế tự thu, tự chi.
Để Thảo Cầm viên Sài Gòn tiếp tục phát triển, Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh Lê Hoàng Quân cho rằng, với lợi thế của mình, Thảo Cầm viên Sài Gòn cần khai thác, phát huy tốt lợi thế, tiềm năng sẵn có của mình. Mỗi năm chỉ đón 70 đến 80 nghìn học sinh, (so với hàng triệu học sinh của thành phố) đến tham quan, học tập là quá khiêm tốn.
Cần quan tâm hơn nữa để giới trẻ đến tham quan, tìm hiểu, học tập…, từ đó có chuyển biến về nhận thức trong việc chăm sóc, bảo vệ các loài động, thực vật quý hiếm. Về lâu dài, để các em quen dần, tôn trọng và sống gần gũi, thân thiện với môi trường tự nhiên.
Với tốc độ đô thị hóa chóng mặt như hiện nay thì Thảo Cầm viên Sài Gòn là nơi lý tưởng lưu giữ các giá trị văn hóa khá độc đáo của thành phố và cả nước. Do đó, cần nâng cao chất lượng phục vụ, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. “Thành phố dứt khoát không di dời, không cắt đất công viên này để chuyển thành bất động sản, mà chỉ tôn tạo cho tốt lên”, đồng chí Lê Hoàng Quân khẳng định. (Nhân Dân 13/8) đầu trang(
Từ ngày 11 đến 14 tháng 8 năm 2015, Chi Cục Kiểm lâm vùng IV và Hiệp hội bảo tồn đông vật hoang dã (WCS), Chương trình Việt Nam tổ chức khóa tập huấn nhằm nâng cao năng lực về nhận dạng loài, các sản phẩm động vật hoang dã (ĐVHD) thường bị buôn bán trái phép và tăng cường thực thi pháp luật xử lý vi phạm cho các cán bộ kiểm lâm, hải quan, cảnh sát kinh tế, cảnh sát môi trường và bộ đội biên phòng của hai tỉnh Đăk Nông và Bình Phước.
Khai mạc khóa tập huấn, ông Ngô Tiến Dũng – Phó chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm vùng 4 cho biết: Trong những năm qua, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ở Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp Việt nam, tạo được sự chuyển biến tích cực về số lượng, chất lượng ngày càng tăng, đạt độ che phủ trên cả nước là 41% .
Tuy số vụ vi phạm lâm luật giảm đáng kể nhưng vẫn còn nhiều điểm nóng, việc chuyển đổi tái cơ cấu các Công ty lâm nghiêp còn nhiều vấn đề bất cập khó khăn, phức tạp dẫn dến diện tích rừng bị xâm hại, làm suy giảm diện tích rừng tự nhiên. Tình trạng này dẫn đến vùng phân bố của các loài động vật hoang dã bị ảnh hưởng và nguy cơ bị bắt rất lớn. Trong khi đó công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm buôn bán động vật hoang dã ngày càng phức tạp khi các đối tượng dùng thủ đoạn ngày càng tinh vi. Theo thống kê của Cục Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), trong 5 năm qua đã xảy ra 5.376 vụ vi phạm quy định về quản lý và bảo vệ ĐVHD quý hiếm trên cả nước, bình quân mỗi năm xảy ra khoảng 1.095 vụ. Số động vật hoang dã và động vật rừng nguy cấp, quý hiếm tịch thu từ các vụ vi phạm bị phát hiện trên cả nước khoảng gần 60 nghìn con các loại. Tuy nhiên, số liệu này chưa đầy đủ bởi thực tế còn nhiều vụ buôn bán, vận chuyển trái phép ĐVHD chưa bị phát hiện, bắt giữ.
Xác định công tác khắc phục những tồn tại, hạn chế bất cập để nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các lực lượng chức năng đáp ứng yêu cầu quản lý lâm nghiệp trên địa bàn là nhiệm vụ ưu tiên trong giai đoạn 2014 – 2020, Chi cục kiểm lâm vùng IV đã cùng Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã (WCS) – Chương trình Việt Nam tổ chức khóa tập huấn cho 30 học viên là các cán bộ đến từ các cơ quan kiểm lâm, hải quan, cảnh sát kinh tế, cảnh sát môi trường và bộ đội biên phòng của hai tỉnh Đăk Nông và Bình Phước, nhằm đóng góp xây dựng khung pháp lý liên quan đến kiểm soát buôn bán ĐVHD trái phép.
Phần quan trọng trong khóa tập huấn này là củng cố kỹ năng của các học viên trong việc định danh loài, các bộ phận và sản phẩm ĐVHD thường bị buôn bán trái phép; Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến động vật hoang dã; các kỹ năng điều tra, xử lý liên quan đến hoạt động buôn bán động vật hoang dã; xây dựng được kế hoạch truy quét trong thực tế triển khai tại hiện trường. Điều này sẽ hỗ trợ có hiệu quả trong việc đấu tranh với tội phạm buôn bán ĐVHD tại các địa phương.
Trong khóa tập huấn, các cán bộ thực thi pháp luật đã được các chuyên gia từ Viện sinh thái học miền Nam, Thảo cầm viên Sài Gòn và Chương trình bảo tồn rùa Châu Á (ATP) hướng dẫn định danh hàng trăm loài và sản phẩm ĐVHD thuộc bốn nhóm linh trưởng, thú móng guốc, thú ăn thịt nhỏ và bò sát, mô tả bằng hình ảnh và bằng chỉ dẫn làm nổi bật các đặc điểm nhận dạng để có thể xác định nhanh, cơ bản mẫu vật thuộc loài nào mà chưa cần có kiến thức chuyên sâu về loài.
Ông Ngô Tiến Dũng đánh giá cao chất lượng của khóa tập huấn và khẳng định đây là cơ hội để các học viên củng cố và tăng cường kiến thức và kỹ năng liên quan, mở rộng mối quan hệ hợp tác giữa các cơ quan chức năng trong hai tỉnh Đăk Nông-Bình Phước cũng như trong phạm vi 11 tỉnh của Chi cục kiểm lâm vùng IV.
Đây là tiền đề góp phần hỗ trợ lực lượng Kiểm lâm thực hiện thành công Đề án kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Kiểm lâm giai đoạn 2014 – 2020 theo quyết định số 1920/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 24/10/2014. (Tin Môi Trường 13/8) đầu trang(
Sáng ngày 13/8, dưới sự chủ trì của đồng chí Hoàng Viết Đường - Phó chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng BCĐ kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, UBND tỉnh có buổi làm việc để xem xét, xử lý các nội dung liên quan đến tình trạng khai thác rừng trái phép mà báo chí phản ánh trong thời gian qua.
Tham dự buổi làm việc có các thành viên BCĐ kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh, đại diện lãnh đạo UBND và Hạt kiểm lâm các huyện Thanh Chương, Con Cuông, Anh Sơn, Quế Phong và Tương Dương.
Theo báo cáo của các cơ quan chức năng, thực tế, thời gian qua trên địa bàn tỉnh xảy ra một số vụ khai thác rừng trái phép như vụ việc 5 đối tượng dùng cưa xăng khai thác 23,07m3 gỗ ( bao gồm cả gỗ tròn và gỗ xẻ) tại rừng phòng hộ thuộc khoảnh 7, tiểu khu 1002 xã Thanh Thủy, huyện Thanh Chương (trên vành đai biên giới Việt Lào) bị các lực lượng chức năng phát hiện vào ngày 7/7/2015.
Vụ việc khai thác, tập kết trái phép 23,97m3 gỗ tròn, 1,97m3 gỗ xẻ bao gồm táu muối, vạng, ràng ràng, dẻ, trám... xảy ra tại xã Đôn Phục và Mậu Đức, huyện Con Cuông bị phát hiện vào ngày 28/6/2015. Vụ việc phá rừng xảy ra tại khoảnh 9,13 tiểu khu 946,947 thuộc quy hoạch rừng phòng hộ xã Phúc Sơn, Anh Sơn được phát hiện vào ngày 02/8/2014 thu giữ 29,35m3 gỗ các loại. Vụ việc lâm tặc đốn hạ 3 cây gỗ Samu dầu xảy tại khoảnh 11 tiểu khu 59 xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong, nằm trên vành đai biên giới Việt Lào được phát hiện vào ngày 03/7/2015...
Các sự việc trên đã được một số cơ quan thông tấn báo chí địa phương và trung ương đóng trên địa bàn phản ánh và UBND tỉnh đã kịp thời chỉ đạo Sở NN và PTNT, Chi cục kiểm lâm và các đơn vị liên quan xác minh làm rõ các vấn đề báo chí nêu; triển khai các giải pháp bảo vệ rừng và khắc phục những tồn tại yếu kém trong công tác bảo vệ rừng tại gốc; đồng thời kiểm điểm trách nhiệm của chính quyền địa phương và những thiếu sót của lực lượng kiểm lâm trong công tác bảo vệ rừng.
Tại buổi làm việc, đồng chí Hoàng Viết Đường - Phó chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm của các đơn vị liên quan khi để xảy ra các sự việc trên. Từ đó, rút kinh nghiệm và có giải pháp điều chỉnh các phương án bảo vệ rừng hiệu quả.
Sau khi nghe ý kiến của các thành viên trong BCĐ kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, các đơn vị liên quan, các địa phương để xảy ra hiện tượng khai thác rừng trái phép trên địa bàn, kết luận tại buổi làm việc, đồng chí Hoàng Viết Đường lưu ý: Mặc dù có sự nỗ lực nhưng các biện pháp bảo vệ rừng hiện nay chưa hiệu quả.
Xảy ra nhiều vụ chặt phá rừng gần trụ sở chính quyền xã, huyện, gần trạm bảo vệ kiểm lâm nhưng chưa được xử lý kịp thời. Nguyên nhân là do công tác kiểm kê, kiểm đếm rừng hạn chế; ý thức, trách nhiệm của lực lượng chức năng, chính quyền xã, huyện, trạm, hạt kiểm lâm trong công tác bảo vệ rừng chưa cao; sự phối hợp các ngành chưa đồng bộ, thông tin cập nhật chưa kịp thời; nhiều vụ việc xử lý chưa nghiêm, chưa phát huy tác dụng răn đe ....
Đồng chí Phó chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu: Chi cục Kiểm lâm tỉnh tập trung rà soát lại đội ngũ cán bộ; kiên quyết đưa ra khỏi ngành những cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm đạo đức nghề nghiệp; các đơn vị liên quan quan tâm hơn đến công tác cán bộ; xử lý nghiêm trách nhiệm người đứng đầu, cá nhân phụ trách nếu để xảy ra khai thác, chặt phá rừng trong lâm phần được giao quản lý; xử lý nghiêm, dứt điểm các vụ vi phạm khai thác, vận chuyển gỗ trái phép đảm bảo sự tôn nghiêm của pháp luật.
Các đơn vị kiểm lâm, công an, quân sự, biên phòng tăng cường tuần tra, kiểm soát, phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành vi khai thác rừng trái phép. Các địa phương chủ động tăng cường phối hợp, trao đổi thông tin, hỗ trợ tích cực cho các lực lượng chức năng trong công tác bảo vệ phát triển rừng tại địa bàn; Chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền, xã hội hóa bảo vệ, phát triển rừng; làm việc với các huyện giáp ranh biên giới Việt Nam - Lào để có giải pháp quản lý, bảo vệ rừng khu vực biên giới. (Báo Nghệ An 13/8; Nghệ An 24 Giờ 13/8) đầu trang(
“Không có tiền chi trả từ dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), chúng tôi cũng phải có trách nhiệm quản lý bảo vệ rừng được giao thật tốt. Trước mắt chưa hưởng lợi trực tiếp về kinh tế, nhưng thế hệ con cháu chúng tôi sẽ được hưởng. Và hơn lúc nào hết, chúng ta đang được hưởng lợi rất lớn về môi trường từ rừng”. Đó là tâm sự của Cộng đồng Trưởng quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) thôn Tân Mỹ- Đỗ Đình Khang trong cuộc chuyện trò với chúng tôi.
Đầu năm 2012, Cộng đồng QLBVR thôn Tân Mỹ, xã Phong Mỹ (Phong Điền) được Nhà nước giao quản lý bảo vệ 547,2 ha rừng tự nhiên. Lúc đó, diện tích này thuộc rừng nghèo, nằm ở vùng sâu vùng xa, lực lượng kiểm lâm không thể quản lý xuể.
Ông Đỗ Đình Khang nhớ lại, lúc nghe Nhà nước có chủ trương giao rừng tự nhiên cho cộng đồng quản lý hầu hết người dân không ai trong thôn muốn nhận. Vì lúc đó, mức độ phá hoại quá lớn, cả làng đều đi gỗ. Vì thế, kiểm lâm cùng với chính quyền xã phải tổ chức nhiều cuộc họp thôn, họp dân để tuyên truyền vận động đi đến thống nhất tiếp nhận.
Thực ra, khi cộng đồng thôn Tân Mỹ nhận quản lý bảo vệ rừng thì mục tiêu đặt ra là làm để cho đời con đời cháu hưởng lợi. Vì theo tính toán trữ lượng gỗ, phải 15 năm sau mới hưởng lợi được từ việc khai thác tỉa. Ông Khang cho biết, toàn thôn có 334 hộ, thì hiện tại đã có 217 hộ thành viên nằm trong cộng đồng QLBVR của thôn. Ngoài lực lượng hùng hậu này, chúng tôi còn mua tin từ những người chuyên vào rừng khai thác lá nón.
Cứ một tin báo có người hoặc hiện tượng phá rừng, chúng tôi sẵn sàng trả 150 nghìn đồng/tin. Nhờ vậy, ban quản lý đã kịp thời ngăn chặn, tịch thu gỗ khai thác và làm công tác tư tưởng tránh tái phạm lần sau. Hiện, chúng tôi cũng khuyến khích người dân vào rừng khai thác lâm sản phụ như lá nón, mây để vừa có nguồn thu nhập, hạn chế khai thác trái phép gỗ rừng và cũng làm tai mắt giúp ban quản lý cộng đồng giữ rừng chặt hơn.
Với những nỗ lực, ý thức trách nhiệm từ phía cộng đồng Nhân dân, từ đầu năm 2015 đến nay, qua các đợt tuần tra hằng tháng, lực lượng tuần tra không phát hiện dấu vết mới về phá rừng, chỉ có một vài trường hợp nhỏ lẻ không đáng kể. Đánh giá qua những đợt kiểm tra gần đây, tình trạng gây hại rừng do cộng đồng thôn quản lý đã hạn chế từ 85-95%, mức độ phát triển của cây rừng xấp xỉ khoảng 3% so với những năm trước.
Tháng 2/2015, khi được Qũy Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh chi trả 54,7 triệu đồng phí DVMTR cho năm 2014, cộng đồng QLBVR thôn Tân Mỹ đều rất phấn khởi. Ông Khang kể, suốt 3 năm chúng tôi phải nợ dân. Nợ từ công cán cho đến tiền mượn tạm của từng hộ. Hồi đó, để có kinh phí phục vụ điều hành và chi phí cơm nước, xăng xe huy động dân vào rừng để đẩy đuổi lâm tặc, giữ rừng suốt mấy năm, thôn phải đứng ra mượn mỗi hộ dân 100 nghìn đồng thành lập quỹ. Nhờ có số tiền này mà ban điều hành đắp đổi chi dùng trong thời gian qua, nhưng tính ra vẫn còn âm.
Dự kiến trong năm 2015, cộng đồng QLBVR thôn Tân Mỹ sẽ được chi trả DVMTR trên diện tích 547,2ha với số tiền khoảng trên 71 triệu đồng. BQL dự trù ưu tiêu dành 70-75% số tiền trên để phục vụ tuần tra bảo vệ với tần suất 1 tháng vào rừng tuần tra 4 lần, được chia đều 2 tổ, mỗi tổ từ 5- 7 người. Số còn lại chi cho mua sắm tư trang, dụng cụ như áo quần, giày dép, rựa... và 10% phục vụ chi trả cho ban điều hành.
Nếu trong năm 2015, tình hình không có lâm tặc vào rừng quấy phá, ban điều hành sẽ giảm số người và số lần tuần tra và dành số tiền dôi dư để trồng dặm thêm cây gỗ như sao, huện... ở những khu vực còn đất trống.
Năm 2012 và 2013, toàn xã Phong Mỹ có 6 cộng động thôn, bản được giao QLBVR với diện tích hơn 1.819ha, trong đó cộng đồng thôn Tân Mỹ có diện tích được giao lớn nhất. Tính đến nay, toàn huyện Phong Điền có 13 cộng đồng dân cư thôn, bản thuộc 3 xã Phong Sơn, Phong Xuân, Phong Mỹ được giao QLBVR với tổng diện tích 3.358,9ha.
Năm 2014, Quỹ bảo vệ về phát triển rừng tỉnh chi trả DVMTR cho cộng đồng, nhóm hộ 3 xã kể trên. Năm 2015, các cộng đồng dự trù được chi trả từ nguồn nước sạch là 130 nghìn đồng/ha và 2 nhóm hộ ở Phong Sơn trả theo lưu vực dự kiến 44,615 nghìn đồng/ha.
Theo đánh giá của Hạt Kiểm lâm Phong Điền, việc chi trả DVMTR đem lại điều kiện thuận lợi, giúp bà con có kinh phí và động lực trong công tác QLBVR. Vì rừng tự nhiên được giao cho bà con chủ yếu là rừng nghèo, chưa có khả năng hưởng lợi trước mắt về mặt kinh tế.
Tuy nhiên, để việc chi trả DVMTR đạt hiệu quả cao hơn, theo đề xuất của Hạt Kiểm lâm, cần kêu gọi đầu tư nhiều dự án sau giao rừng để phát triển kinh tế. Nên có phương án giao cho các cộng đồng những vùng đất trống liền kề để trồng các lâm sản, hoặc trồng xen các loài lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng, giúp người dân kiếm thêm thu nhập, yên tâm làm tốt công tác BVR. (Báo Thừa Thiên Huế 13/8) đầu trang(
Đến Tràm Chim ngày này, du khách sẽ được hòa mình vào vùng đất trời trong xanh gió mát để cảm nhận vẻ đẹp mà thiên nhiên ban cho nơi này. Trải ra trước mắt chúng ta là sen, súng, lúa trời (lúa ma), năng, lác cùng các loài động thực vật và chim muông...
Nằm lọt thỏm giữa vùng đất trũng ngập nước của Đồng Tháp Mười, vườn Tràm Chim - Tam Nông, thuộc tỉnh Đồng Tháp có diện tích tự nhiên 7.612 ha, thuộc địa phận 5 xã: Tân Công Sinh, Phú Đức, Phú Thọ, Phú Thành, Phú Hiệp và thị trấn Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp. Nơi đây có cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp với bao la sông nước, rừng tràm xanh ngút ngàn và thảm thực vật phong phú với hơn 130 loài khác nhau.
Vùng đất “sáu tháng đồng khô cỏ cháy, sáu tháng nước ngập trắng đồng” này cũng chính là nơi cư trú của hàng trăm loài động vật có xương sống, hàng chục loài cá và hơn 198 loài chim nước, chiếm khoảng 1/4 số loài chim hiện có ở Việt Nam.
Để được hòa mình vào vùng đất và trời xanh gió mát, du khách đến đây sẽ cảm nhận thấy vẻ đẹp mà thiên nhiên ban cho nơi này khi trải ra trước mắt ta là sen, súng, lúa trời (lúa ma), năng, lác… cùng các loài động thực vật và chim muông như cò, diệc, vịt trời, cồng cộc…
Và mới đây khu Vườn quốc gia Tràm Chim vừa được thế giới công nhận là khu Ramsar vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế về mặt đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên.
Hiện tại ở Việt Nam hiện có ba khu Ramsar gồm: vùng bãi bồi cửa sông ven biển thuộc vườn quốc gia Xuân Thủy (tỉnh Nam Định), vùng ngập nước Bàu Sấu thuộc vườn quốc gia Cát Tiên (tỉnh Đồng Nai) và khu hồ Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn). Có thể nói, sau khi được công nhận, Vườn quốc gia Tràm Chim sẽ trở thành khu Ramsar thứ 4 của Việt Nam.
Với diện tích gần 7.500ha nằm trong vùng đất Đồng Tháp Mười, Vườn quốc gia Tràm Chim còn được xem là một trong 8 khu vực bảo tồn các loài chim quan trọng nhất của Việt Nam, nhất là loại sếu đầu đỏ mỗi năm có khoảng 100 con bay về cư ngụ và tìm mồi củ năng để ăn.
Cảnh tượng kỳ thú và đặc sắc nhất ở Tràm Chim có lẽ là “vũ điệu ngày hè” của những chú sếu đầu đỏ, loài chim quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng, nằm trong sách đỏ Việt Nam và thế giới. Những đàn chim quí bay rợp cánh rừng tràm ngút tầm mắt sẽ để lại những ấn tượng khó quên trong lòng du khách khi đến thăm Vườn quốc gia Tràm Chim. (Dân Việt 13/8) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngày 13-8, ông Hồ Quang Bửu, Chủ tịch UBND Huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam cho biết, Huyện đã trình Thủ tướng Chính Phủ Đề án bảo tồn và phát triển cây Sâm Ngọc Linh (sâm Việt Nam) tỉnh Quảng Nam đến năm 2030.
Theo đó, đề án được chia ra làm 2 giai đoạn, giai đoạn 1 từ 2016-2020 sẽ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng vùng sâm; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung; bảo tồn giống và phát triển vùng nguyên liệu sâm; công tác truyền thông về cây sâm.
Giai đoạn 2 từ 2020-2030 tổ chức di thực phát triển trồng sâm ra 7 xã của huyện với diện tích 30.000ha (hiện tại Nam Trà My chỉ có 34,5ha); phát triển ngành công nghiệp chế biến sâm; phát triển du lịch gắn với phát triển rừng sâm ngọc linh.Tổng mức đầu tư của 2 giai đoạn này cần khoảng 9.467 nghìn tỷ đồng.
Sâm Ngọc Linh ở Nam Trà My được biết đến là một sản phẩm dược liệu quý, hiếm và có giá trị kinh tế cao từ 20-50 triệu đồng/1kg. (Đại Đoàn Kết 14/8) đầu trang(
UBND TP Cần Thơ đã có công văn yêu cầu UBND quận Bình Thủy không công nhận kết quả gói thầu duy tu cây xanh năm 2015 của Công ty cổ phần Việt Tí, đồng thời tổ chức đấu thầu lại vì công ty này chưa đủ ba năm kinh nghiệm trong việc tham gia đấu thầu. (Tuổi Trẻ 14/8) đầu trang(
Năm 2015, tỉnh Gia Lai thực hiện kế hoạch trồng lại 1.000ha rừng thay thế cho những vùng rừng trước đây đã “nhường chỗ” cho việc thi công các công trình thủy điện, thủy lợi.
Hầu hết diện tích rừng trồng thay thế bằng 2 loại giống chủ lực là thông 3 lá và giống thông Caribê. Các đơn vị có kế hoạch trồng rừng thay thế trong năm nay đều chủ động giống cây trồng và chuẩn bị tốt khâu làm đất như phát dọn thực bì, đào hố... nên toàn bộ diện tích trồng rừng ở vùng Tây Trường Sơn đúng thời vụ, đúng kỹ thuật và đang phát triển tốt.
Để đảm bảo tiến độ trồng rừng thay thế theo kế hoạch đã đề ra, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh cũng đã chi tạm ứng cho 9 đơn vị với số tiền 6,4 tỷ đồng để trồng khoảng 700ha rừng trong năm 2015. (Tin Tức 14/8) đầu trang(
Đến nay, tỉnh Bắc Cạn đã trồng được hơn 70 nghìn ha rừng sản xuất, trong đó khoảng 20 nghìn ha đã vào chu kỳ cho khai thác, số còn lại được trồng trong 5 năm trở lại đây. Rừng sản xuất được trồng nhiều, nhưng hầu hết các nhà máy, cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh lại đang rất thiếu nguyên liệu.
Công ty cổ phần Sahabak tại Khu công nghiệp Thanh Bình hiện nay có hơn 250 công nhân, mỗi năm cần khoảng 10 nghìn khối gỗ nguyên liệu để chế biến gỗ ghép thanh. Thời gian đầu hoạt động, doanh nghiệp mua gỗ keo, mỡ rừng trồng ở các địa phương trong tỉnh để sản xuất, nhưng hai năm trờ lại đây, nguyên liệu trên địa bàn không đủ, công ty này phải vào nhiều tỉnh miền trung tìm mua gỗ cao-su về để duy trì sản xuất.
Công ty cổ phần Tracimexco ở xã Xuât Hóa, TP Bắc Cạn, cũng trong hoàn cảnh tương tự. Với quy mô 260 công nhân, mỗi năm công ty cần khoảng 30 nghìn khối gỗ keo, mỡ, bồ đề để sản xuất đũa xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản. Thế nhưng sau hai năm hoạt động, từ năm 2015 doanh nghiệp này phải sang tận tỉnh Tuyên Quang mua gỗ, vận chuyển về đẻ chế biến.
Công ty cổ phần Sahabak và Công ty cổ phần Tracimexco là hai doanh nghiệp có quy mô chế biến gỗ lớn nhất tỉnh, tính toán xây dựng nhà máy tại Bắc Cạn, tỉnh được coi là có trữ lượng gỗ rừng trồng lớn nhằm sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ. Nhưng trên thực tế, chỉ sau vài ba năm đi vào hoạt động, lượng gỗ trên địa bàn không đáp ứng đủ nhu cầu, hai doanh nghiệp này phải tìm mua gỗ nguyên liệu ở các tình xa chở về sản xuất dẫn đến tình trạng tăng chi phí đầu vào.
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Bắc Cạn còn có hơn 50 cơ sở gỗ bóc, xưởng sản xuất đũa, sơ chế gỗ...
Những cơ sở này xuất hiện ở hầu hết các địa phương trong tỉnh, len lỏi vào tận bìa rừng, gần nguồn nguyên liệu, không phải vận chuyển xa nên có thể mua gỗ của dân với giá cao. Tuy nhiên, những cơ sở sản xuất này cũng đang đứng trước thực trạng nguồn cung nguyên liệu giảm.
Những năm qua, bên cạnh việc thực hiện chính sách trồng rừng sản xuất theo Quyết định 147 của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Bắc Cạn còn ban hành chính sách hỗ trợ thêm về giống, công thiết kế, công trồng nhằm khuyến khích người dân phát triển rừng sản xuất. Nhờ đó, tỉnh đã trồng được khoảng 55 nghìn ha rừng, dự kiến sẽ cho khai thác trong ba năm tới. Bên cạnh đó, Bắc Cạn còn có gần 20 nghìn ha rừng trồng bằng các chương trình, dự án khác đã cho khai thác. Tuy nhiên, có một thực tế cần nhìn nhận là chất lượng rừng trồng thấp.
Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bắc Cạn Ngô Chí Thanh cho biết: "Công ty chúng tôi đầu tư trồng rừng sản xuất theo đúng quy trình, đến chu kỳ khai thác, bình quân thu được 100 khối gỗ/ha. Người dân nhiều nơi trồng rừng sản xuất theo lối quảng canh, sản lượng gỗ thu được chỉ đạt 40-50 khối gỗ/ ha".
Ở các huyện Chợ Đồn, Chợ Mới, TP Bắc Cạn có nhiều cơ sở chế biến gỗ khá thuận tiện trong việc khai thác, vận chuyển. Sản lượng rừng trồng của người dân ở đây đạt 60-70 khối gỗ/ha. Nhưng ở nhiều nơi khác, sau khi được Nhà nước đầu tư trồng rừng, được nghiệm thu thanh toán tiền công trồng là người dân ít quan tâm, hằng năm không phát dọn, chăm sóc, dẫn đến tình trạng rừng bị gia súc phá hoại, phát triển kém, sản lượng gỗ rất thấp.
Còn ở các huyện Ba Bể, vùng sâu Bạch Thông, Ngân Sơn, Pác Nặm... có hàng nghìn ha rùng trồng đã đến chu kỳ khai thác nhưng người dân "bỏ đó". Nguyên nhân chủ yếu là ở những vùng này không có đường lâm nghiệp để vận chuyển gỗ. Nếu thuê khai thác, thuê người vận chuyển đến vị trí có đường ô-tô thì chi phí đội lên rất cao, người trồng rừng bị lỗ.
Rất nhiều nơi không có đường lâm nghiệp đang là bài toán khó đối với việc khai thác rừng trồng tại tỉnh Bắc Cạn, khi ba năm tới, mỗi năm sẽ có hàng chục nghìn ha rừng sản xuất đến chu kỳ khai thác. Thực trạng này đã tác động trở lại đối với chất lượng rừng trồng.
Nông dân nhiều nơi biết chắc rằng đến khi rừng cho khai thác cũng không cách nào vận chuyên đi tiêu thụ nên lơ là, không quan tâm chăm sóc nên chất lượng rừng thấp. Trong khi đó, các nhà máy, cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn tính thì đang trong tình trạng thiếu nguyên liệu ngàv càng trầm trọng. (Báo Thời Nay 13/8) đầu trang(
UBND tỉnh Đăk Nông vừa ban hành quyết định giải quyết đơn khiếu nại (lần 2) của ông Nguyễn Văn Thiếp, xã Nâm N’Jang, huyện Đăk Song về nội dung cưỡng chế giải tỏa nhà không đền bù, hỗ trợ về đất và tài sản trên đất.
UBND tỉnh công nhận nội dung quyết định cưỡng chế của Chủ tịch UBND huyện là đúng quy định vì hộ ông Thiếp cố tình lấn chiếm, mua bán đất lâm nghiệp để xây dựng nhà, sản xuất…
Theo trình bày của ông Thiếp, diện tích 3.000m2 đất tại Tiểu khu 1615 là do ông khai phá từ năm 1995. Đến năm 1998 làm nhà ở tạm và năm 2012 xây dựng nhà cấp 4 có diện tích 70m2. Tuy nhiên, ông không cung cấp các giấy tờ khai hoang được địa phương xác nhận.
Qua kiểm tra thực địa bằng máy định vị, toàn bộ thửa đất của ông thuộc rừng phòng hộ do Chi cục Kiểm lâm tỉnh quản lý. Hành vi lấn chiếm đất rừng, tự chuyển đổi mục đích sử dụng đất của ông Thiếp đã bị các cơ quan chức năng như xử phạt.
Do ông Thiếp không tự giác tháo dỡ nhà cửa, tài sản, UBND huyện Đăk Song đã tiến hành các biện pháp theo quy định của pháp luật để cưỡng chế.
Việc giải quyết khiếu nại sau này của UBND tỉnh cũng tuân thủ đầy đủ các quy định và khẳng định khiếu nại không có cơ sở.
Chỉ tịch UBND tỉnh Đăk Nông cũng đã quyết định giải quyết khiếu nại với nội dung tương tự của các hộ: Lê Văn Lý, Nguyễn Thị Đông, Đinh Văn Viện, Hoàng Văn Tuệ (cùng trú ở thôn Boong Rin, xã Nâm N’Jang) và bác đơn của họ. Vụ việc cũng xuất phát từ mua bán, lấn chiếm đất rừng trái phép để làm nhà và trồng cây cối; đến khi bị cưỡng chế lại đòi bồi thường, bố trí tái định cư… (Thanh Tra 14/8) đầu trang(
Từ miền xuôi lên miền núi khai hoang với hai bàn tay trắng, nhờ ý chí vươn lên cộng với tinh thần ham học hỏi, chăm chỉ lao động đã giúp gia đình ông Phạm Văn Uyển (1961) ở thôn Nà Ngà, xã Đại Sảo (Chợ Đồn), vươn lên có cuộc sống khá giả, thoát nghèo bền vững...
Lập gia đình năm 1982, lúc đó hai vợ chồng ông còn trẻ, chưa có kinh nghiệm trong cuộc sống, cũng như trong lao động sản xuất nên gia đình gặp không ít khó khăn, cuộc sống vất vả, thiếu thốn. Cả tài sản chỉ có căn nhà nhỏ và mảnh ruộng hơn 1 "bung". Nhưng không vì thế mà ông nản lòng, bằng ý chí, nghị lực và bản tính cần cù, vợ chồng ông đã động viên nhau vượt qua những khó khăn và quyết tâm lao động sản xuất, vươn lên ổn định cuộc sống.
Theo chân ông Phạm Văn Uyển, chúng tôi được tận mắt thấy cánh rừng bạt ngàn màu xanh của gia đình. Chỉ tay lên chỗ khu đất trống còn hơn chục cây trám, ông Phạm Văn Uyển cho biết: Trước kia chỗ này là diện tích trồng quế gia đình trồng từ năm 1991 theo dự án PAM. Năm đó, lần đầu tiên trồng quế, cũng thấy mình quá "liều" khi trồng hẳn 4 héc ta. Nhưng giờ nghĩ lại nếu năm đấy không trồng rừng thì cũng không biết trồng cây gì và liệu cuộc sống sẽ ra sao.
Những năm trước đây, sản xuất lâm nghiệp chưa được bà con chú trọng, với suy nghĩ trồng có khi lên đến cả chục năm mới được khai thác thì lấy đâu tiền, ra sức mà làm. Thị trường giá gỗ rừng trồng cũng còn thấp, không ổn định, thu nhập từ việc trồng rừng sản xuất sau một chu kỳ của người dân vì thế mà cũng không được cao. Khi đó, người dân không ai mặn mà với việc trồng rừng. Thế mới hiểu vì sao ông Uyển lại bảo bản thân mình "liều" khi trồng 4 héc ta quế vào những năm 1991 – 1992.
Những khó khăn ấy không làm chùn ý chí của ông Phạm Văn Uyển. Sau nhiều đêm trăn trở và rút kinh nghiệm qua sản xuất thực tế, ông đã nhận thức được vấn đề quyết định sự thành và bại trong sản xuất lâm nghiệp, đó là phải đặc biệt quan tâm đến khâu chọn giống và phải tích cực chăm sóc sau khi trồng.
Sử dụng giống có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, trồng rừng đúng quy trình kỹ thuật mới có thể đưa năng suất rừng tăng lên, góp phần phát triển kinh tế gia đình. Năm 2013, gia đình ông trồng tiếp 5 héc ta quế, đầu năm 2015 trồng thêm 2,5 héc ta quế nữa. Đến nay, gia đình ông có trên 10 héc ta rừng quế, mỡ... Ngoài ra ông còn trồng xen cả trám trắng, 100 gốc hồi.
Mời chúng tôi chén nước chè xanh, ông Phạm Văn Uyển chia sẻ: kinh nghiệm trồng rừng: Trồng rừng thành công hay thất bại thì giống là yếu tố quyết định. Đặc biệt sau khi trồng phải thường xuyên chăm sóc. Khâu chăm sóc trong năm đầu tiên sau khi trồng là cực kỳ quan trọng bởi nếu cây không được chăm sóc rất dễ bị chết hoặc có sống cũng còi cọc, chậm phát triển, năng suất thấp. Ngoài ra, thì trồng cây không được quá thưa, cũng không được quá dày, bởi thưa quá khiến năng suất gỗ đạt thấp, cây sẽ bị đổ, gãy; nếu trồng quá dày, cây sẽ khó phát triển.
Nhờ kiên trì học hỏi, áp dụng kỹ thuật, chỉ sau một chu kỳ, năng suất rừng ông trồng tăng lên nhiều. Gần 20 năm, người nông dân ấy đã gắn bó cuộc sống của mình với rừng. Ông Phạm Văn Uyển phấn khởi khoe: Tháng 3/2014, gia đình tôi vừa cho khai thác 1,9 héc ta quế trồng từ năm 1991, thu về được 400 triệu đồng sau khi trừ chi phí.
Mấy năm gần đây, giá quế trên địa bàn tỉnh có chiều hướng tăng ổn định. Đất trồng tốt, cây phát triển đều thì chỉ 10 năm cây đã cho khai thác. Cây to sẽ cho khai thác từ 40 -50 kg vỏ. Với giá bán bây giờ là từ 15 – 17 nghìn đồng/kg thì mỗi cây quế như vậy riêng phần vỏ sẽ thu được từ 750 – 800 nghìn đồng/cây; lá quế cũng bán được 1.000 đồng/kg.
Với phương châm lấy ngắn nuôi dài, để phát triển kinh tế gia đình một cách bền vững, tận dụng nguồn lao động lúc nông nhàn, gia đình ông Phạm Văn Uyển còn đầu tư chăn nuôi 03 con trâu, nuôi cá, và nuôi 10 thùng ong mật để thêm thu nhập trang trải sinh hoạt hàng ngày và có thêm vốn đầu tư cho trồng rừng (Riêng thu nhập từ nuôi ong mật và hơn 100 gốc hồi đã mang lại cho ông từ 60 -70 triệu đồng/năm).
Kiên trì tập trung phát triển kinh tế từ trồng rừng sản xuất đã giúp gia đình ông Phạm Văn Uyển không chỉ thoát nghèo mà còn vươn lên làm giàu. Giờ đây, gia đình ông đã có điều kiện mua sắm các vật dụng đắt tiền phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Không chỉ lo phát triển kinh tế của gia đình, ông cũng thường xuyên giúp đỡ, chia sẻ người dân trong phát triển kinh tế vườn đồi.
Có thế thấy, mô hình kinh tế của ông Phạm Văn Uyển là một điển hình trong việc dám nghĩ, dám làm trong phát triển kinh tế từ đáng để học hỏi… (Báo Bắc Kạn 13/8) đầu trang(
Báo Quảng Bình nhận được ý kiến của bạn đọc đề nghị được thông tin về kết quả trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri trước kỳ họp thứ 15, HĐND tỉnh khóa XVI về việc đề nghị tỉnh hỗ trợ kinh phí giao đất, giao rừng, kinh phí chuyển rừng nghèo kiệt sang trồng rừng kinh tế cho các xã để thực hiện việc giao đất, giao rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng cho hộ gia đình quản lý và sử dụng.
Vấn đề này, Sở Nông nghiệp-Phát triển Nông thôn (NN-PTNT) đã có văn bản gửi cho kỳ họp thứ 15, HĐND tỉnh khóa XVI trả lời như sau:
Về kinh phí giao rừng: Theo quy định tại Thông tư số 38/2007/TT-BNN, ngày 25-4-2007 của Bộ NN-PTNT về hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn thì ngân sách Nhà nước đảm bảo cho việc giao rừng, cho thuê rừng. Năm 2012, thực hiện Thông tư số 38/2007/TT-BNN của Bộ NN-PTNT và sự chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở NN-PTNT đã xây dựng hoàn thành đề án giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2012-2020.
Tuy nhiên, do nguồn kinh phí để thực hiện đề án rất lớn. Mặt khác, đến nay tỉnh ta chưa được triển khai điều tra, kiểm kê rừng và đất lâm nghiệp nên UBND tỉnh chưa phê duyệt đề án giao rừng, cho thuê rừng. Hiện Sở NN-PTNT đang tích cực liên hệ với Bộ NN-PTNT, Bộ Tài chính để sớm được phê duyệt và triển khai phương án tổng điều tra, kiểm kê rừng của tỉnh làm cơ sở để thực hiện việc giao rừng, cho thuê rừng.
Về kinh phí chuyển rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng rừng (cải tạo rừng): Việc cải tạo rừng tự nhiên sản xuất nghèo kiệt được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 23/2013/TT-BNNPTNN, ngày 4-5-2013 của Bộ NN-PTNT và không nằm trong các hạng mục lâm sinh được Nhà nước hỗ trợ từ nguồn kinh phí sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng. Do vậy, kinh phí để thực hiện cải tạo rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng là do chủ rừng tự chủ. (Báo Quảng Bình 13/8) đầu trang(
Đoàn KT-QP 327 vừa phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật lâm sinh (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) mở 8 lớp tập huấn khuyến lâm cho gần 300 bà con các dân tộc trên địa bàn dọc tuyến biên giới tỉnh Quảng Ninh và đội ngũ cán bộ, tri thức trẻ tình nguyện của Đoàn để thực hiện Dự án bảo vệ và phát triển rừng khu vực vành đai biên giới.
Trong thời gian gần 20 ngày, đối tượng tham gia các lớp tập huấn được giới thiệu về quy mô của Dự án bảo vệ và phát triển rừng khu vực vành đai biên giới gồm: Bảo vệ trên 4.800ha rừng hiện có, trên 1.400 ha rừng tự nhiên khoanh nuôi, trên 2.000 ha rừng trồng mới, trên 800 ha dải rừng trồng biên giới sau thời gian chăm sóc; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên gần 1.700 ha, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp trồng bổ sung 423 ha; trồng mới gần 720 ha rừng; trồng rừng dải hành lang cây chỉ thị dọc biên giới với các loại cây: Tre gai 85 km; thông mã vĩ, thông nhựa, sa mộc 424 ha; trồng 14.400 cây phân tán. Dự án còn đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ lâm sinh gồm các hạng mục: Xây dựng 5km đường lâm nghiệp kết hợp phòng cháy, chữa cháy rừng; 20 km đường ranh cản lửa; 15 bảng nội quy bảo vệ rừng; 4 chòi canh lửa; 3 trạm bảo vệ rừng; nâng cấp 2 ha vườn ươm và xây dựng 1 hồ đập nhỏ.
Cùng với đó bà con được thông tin về quyền lợi, trách nhiệm khi tham gia dự án và được giới thiệu kỹ thuật gây trồng, chăm sóc, thu hoạch, giá trị kinh tế của một số loài cây lâm nghiệp như: Cây tre gai, thông đuôi ngựa, hồi, ba kích, sa nhâm tím và một số loại cây ăn quả có giá trị cao.
Dự án nhằm xây dựng dải rừng vành đai, dải cây xanh chỉ thị dọc chiều dài biên giới tạo ra hệ thống mốc giới xanh đặc biệt khác với nước bạn, nâng độ che phủ của rừng lên 90% vào năm 2020, phát huy chức năng phòng hộ đầu nguồn, phát triển kinh tế lâm nghiệp, tạo việc làm góp phần phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, tăng cường an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường sinh thái trên toàn tuyến biên giới Việt - Trung thuộc địa bàn tỉnh Quảng Ninh. (Báo Quân Khu 3 12/8) đầu trang(
Các nhà đầu tư đang ồ ạt đổ vào Phú Quốc khiến quy hoạch chung xây dựng của huyện đảo này phải điều chỉnh cục bộ theo hướng giảm đất rừng phòng hộ, đất nông nghiệp thành đất du lịch.
Hiện nay, một số nhà đầu tư đã “nhảy vào” các dự án cực lớn - hàng tỉ đô la Mỹ - ở đảo ngọc Phú Quốc. Báo cáo mới đây của UBND huyện Phú Quốc (Kiên Giang), cho thấy: dự án casino tại Bãi Dài vừa quy hoạch đã có nhà đầu tư cam kết đầu tư không dưới 4 tỉ đô la Mỹ; dự án cáp treo từ An Thới ra đảo Hòn Thơm và khu nghỉ dưỡng trên đảo này cũng có nhà đầu tư hứa đầu tư trên 10.000 tỉ đồng; dự án vườn thú ở Cửa Cạn cũng đã có nhà đầu tư hứa đầu tư 150 triệu đô la Mỹ…
Được biết, để thu hút được các nhà đầu tư lớn nói trên, chính quyền huyện đảo Phú Quốc đã đề xuất tỉnh Kiên Giang kiến nghị Chính phủ điều chỉnh cục bộ Quy hoạch chung xây dựng đảo Phú Quốc - theo hướng tăng diện tích đất cho du lịch (hơn 2.000 héc ta) và giảm diện tích đất nông nghiệp và đất rừng phòng hộ (hơn 2.000 héc ta) - và đã được chấp thuận.
Mới hồi giữa tháng 6-2015, Chính phủ đã đồng ý cho Phú Quốc điều chỉnh tăng diện tích đất du lịch từ 3.861 héc ta lên 4.003 héc ta (tăng 142 héc ta); tăng đất khu phức hợp du lịch, dịch vụ và dân cư từ 1.235 héc ta lên 3.325 héc ta (tăng 2,090 héc ta); đồng thời giảm đất rừng phòng hộ từ 7.038 héc ta còn 6.666 héc ta (giảm 372 héc ta), giảm đất nông nghiệp từ 5.813 héc ta còn 3.953 héc ta (giảm 1.860 héc ta).
Theo điều chỉnh quy hoạch cục bộ đã được phê duyệt, đảo Phú Quốc có thêm một số khu du lịch mới cũng như có sự điều chỉnh một số khu du lịch đã được quy hoạch.
Cụ thể, khu nghỉ dưỡng cao cấp Bãi Dài (567 héc ta, ở bờ biển phía tây đảo) ngoài sân golf, resort… được bổ sung thêm casino; khu nghỉ dưỡng Vũng Bàu (bờ biển phía tây đảo) được mở rộng diện tích thêm 141 héc ta (từ 394 héc ta lên 535 héc ta); khu nghỉ dưỡng Cửa Cạn (bờ tây đảo) cũng tăng diện tích từ 102 héc ta lên 250 héc ta…
Ngoài ra, điều chỉnh quy hoạch cục bộ này cũng bổ sung thêm khu dịch vụ du lịch giải trí phức hợp và sân golf Đồng Cây Sao và Bắc sông Cửa Cạn (phía đông và bắc bãi Cửa Cạn) với quy mô 2.090 héc ta; giữ nguyên diện tích khu du lịch nghỉ dưỡng Bãi Đá Chồng (phía đông bắc đảo) nhưng bỏ chức năng casino…
Bình luận về việc điều chỉnh quy hoạch cục bộ đảo Phú Quốc, KTS Ngô Viết Nam Sơn, người từng tham gia tư vấn trong quá trình lập quy hoạch chung xây dựng Phú Quốc trước đây, nói: “Việc quy hoạch Phú Quốc theo hướng phát triển du lịch dịch vụ là đúng. Vấn đề là có quá nhiều dự án lớn, công trình kiên cố như thế thì yếu tố bảo vệ cảnh quan tự nhiên cần phải được chú ý”. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 13/8) đầu trang(
Khu du lịch có sự góp vốn của vợ quan chức cấp huyện và cấp xã.
Mới đây, Sở Xây dựng TP Đà Nẵng phát hiện một phần đất trồng rừng biến thành đất du lịch tại Khu du lịch (KDL) Ngầm Đôi (xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang) do gia đình bà Lê Đình Thủy Châu làm chủ đầu tư.
Theo quyết định của UBND huyện Hòa Vang, vào tháng 5-2010, diện tích đất chính quyền giao cho gia đình bà Châu thuê làm KDL Ngầm Đôi là hơn 1,8 ha. Từ tháng 6-2010, hộ bà Châu đã được UBND huyện Hòa Vang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đăng ký kinh doanh dịch vụ du lịch hộ gia đình. Quyết định này do ông Huỳnh Minh Nhơn - Chủ tịch huyện khi đó ký (ông Nhơn đã mất).
Gần đây, Sở Xây dựng TP Đà Nẵng phát hiện khu vực này đang tổ chức hoạt động kinh doanh du lịch khoảng 5 ha và phần mở rộng mới ra suối nước khoảng 2,6 ha, tổng cộng là 7,6 ha.
Sau khi rà soát, tháng 1-2015, UBND huyện Hòa Vang cho biết phần đất ngoài quyết định giao đất ban đầu mà KDL này sử dụng là phần đất rừng của ông Mạc Như Giác (chồng bà Châu), bà Nguyễn Thị Mai (vợ ông Huỳnh Minh Nhơn) và bà Trương Thị Lâm (vợ một quan chức xã Hòa Phú).
Qua tìm hiểu của PV, từ 27-1-2003, UBND huyện Hòa Vang đã giao cho ba cá nhân trên 15 ha đất rừng để trồng cây lâm nghiệp tại khu vực Ngầm Đôi (xã Hòa Phú). Nhưng một phần diện tích này lại bị “hô biến” vào KDL trên.
Mặt khác, trên thực tế KDL Ngầm Đôi do bà Châu đứng tên nhưng còn có sự góp vốn của bà Nguyễn Thị Mai và vợ của một quan chức xã Hòa Phú. Ngày 13-8, trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, vợ chồng bà Châu thừa nhận thông tin này là đúng.
Ông Giác cũng cho hay năm 2010 gia đình ông được UBND huyện Hòa Vang cấp phép làm 1,8 ha. “Cấp phép là như vậy nhưng mình đâu có làm tới 1,8 ha đâu, chúng tôi không hề lấn sang đất rừng” - ông Giác nói.
Lý giải về diện tích mở rộng trong KDL, ông Giác cho hay sau nhiều đợt kiểm tra tháng 7-2014, UBND TP có văn bản giao Sở Xây dựng hướng dẫn KDL lập hồ sơ trình duyệt nên ông thuê đơn vị tư vấn thiết kế làm quy hoạch. “Trong hồ sơ có diện tích mở rộng thêm hơn 5 ha nữa. 5 ha này là mình xin phép, nếu được thì làm tiếp còn không thì thôi” - ông Giác nói.
Khi đề cập đến kết luận của các sở chuyên môn Đà Nẵng rằng huyện Hòa Vang không có chức năng cấp phép cho KDL, ông Giác nói: “Chúng tôi là người dân thì làm sao biết được. Chuyện cấp phép là của chính quyền. Nếu sai là chuyện của chính quyền chứ. Chúng tôi chỉ nghĩ là làm KDL dân dã để phục vụ người dân thôi” - ông Giác nói.
Giám đốc Sở TN&MT TP Đà Nẵng Nguyễn Điểu khẳng định: “UBND huyện Hòa Vang ban hành quyết định thu hồi, cho thuê đất để xây dựng KDL cho bà Châu khi chưa được phê duyệt quy hoạch là không phù hợp. Chủ đầu tư tự ý mở rộng diện tích KDL sang cả phần diện tích đất rừng của các hộ lân cận là vi phạm quy định về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất”.
Ông Điểu cũng cho hay việc cấp đất của huyện Hòa Vang là không đúng. “Quy hoạch của TP đâu có chỗ để làm KDL ở Ngầm Đôi. Đây là đất rừng, việc này phải rà soát thật kỹ” - ông Nguyễn Điểu nói.
Nhìn nhận về sự vụ này, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Huỳnh Đức Thơ cho biết việc UBND huyện Hòa Vang ra quyết định thu hồi đất, cho thuê đất rừng làm KDL Ngầm Đôi là trái quy định, không đúng thẩm quyền. “Đây là cái sai của huyện chứ không phải của chủ đầu tư.
Anh Nhơn (ông Huỳnh Minh Nhơn, nguyên Chủ tịch UBND huyện Hòa Vang) giờ mất rồi nhưng phải xử lý các cán bộ đã tham mưu cho lãnh đạo UBND huyện Hòa Vang ra quyết định cấp đất rừng cho doanh nghiệp kinh doanh KDL khi chưa có sự đồng ý của UBND TP” - ông Thơ cho hay.
Một lãnh đạo khác của UBND TP Đà Nẵng cũng cho biết TP đang giao các sở, ban ngành có liên quan tiến hành giải quyết vụ việc. (Pháp Luật TP.HCM 14/8) đầu trang(
Dự án chuyển đổi 50.000 ha rừng nghèo sang trồng cao su tại Gia Lai triển khai năm 2008. Sau 7 năm thực hiện, Dự án xuất hiện nhiều vấn đề: hiệu quả kinh tế - xã hội từ Dự án vẫn chưa đạt được như mục tiêu đề ra; tình trạng tranh chấp đất trong vùng Dự án không được giải quyết triệt để; nhiều diện tích đất rừng tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng, hàng nghìn ha đất khai hoang bị bỏ không gây lãng phí tài nguyên.
Thực hiện Dự án, UBND tỉnh Gia Lai đã nhanh chóng cấp phép 44 dự án cho 17 doanh nghiệp. Hàng chục ngàn ha rừng tự nhiên bị đốn hạ để thay thế bằng cao su. Tuy nhiên, do công tác khảo sát bước đầu được tiến hành quá vội vàng và chủ quan nên đã để lại nhiều hậu quả.
Nằm trong Dự án chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su của Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 2008, tỉnh Gia Lai được phân chỉ tiêu 50.000 ha/100.000 ha của toàn khu vực Tây Nguyên. Để thực hiện Dự án, UBND tỉnh Gia Lai đã cho phép 44 dự án trồng cao su trên đất có rừng tự nhiên nghèo, cho 17 doanh nghiệp thuê đất trồng cao su trên địa bàn 5 huyện Chư Prông, Chư Pưh, Đức Cơ, Ia Pa và Ia Grai, với diện tích 32.555,6 ha. Tổng kinh phí đầu tư hơn 4.670,2 tỷ đồng.
Sau 7 năm thực hiện, đến nay các doanh nghiệp đã khai hoang 27.642 ha, diện tích đã trồng cao su 25.547,4 ha, 7.008 ha diện tích đất khai hoang chưa trồng, diện tích chưa khai hoang 4.913,5 ha. Điều đáng nói, nhiều diện tích đất của người dân (phần lớn là của người đồng bào dân tộc thiểu số) bị thu hồi đã gây ra nhiều bất ổn về kinh tế, xã hội ngay tại khu vực Dự án. Cho đến nay, tình trạng tranh chấp đất đai trong vùng Dự án giữa người dân với doanh nghiệp vẫn đang diễn ra và chưa được giải quyết triệt để như tại xã Ia Blứ (huyện Chư Pưh), xã Đăk Djrăng (huyện Mang Yang), xã Ia Lâu (huyện Chư Prông)…
Dự án được kỳ vọng, tuy nhiên ngay từ khi bắt đầu triển khai thực hiện từ các bước như điều tra rừng, khảo sát thổ nhưỡng, khí hậu cũng như khai hoang, trồng thử nghiệm xem có phù hợp hay không…, đều được làm một cách qua quýt, đối phó để doanh nghiệp nhanh chóng được giao đất, giao rừng, tiến hành khai thác gỗ, lấy đất trồng cao su. Theo đó, hàng chục ngàn ha rừng bị phá trụi, rừng bị cạo trắng, bất chấp các hệ lụy về môi trường và sinh thái tự nhiên. Kéo theo đó, “lâm tặc” càng có cơ hội để khai thác gỗ trái phép ở những diện tích rừng nằm gần khu vực Dự án.
Chính công tác điều tra, khảo sát được làm một cách qua quýt, đối phó dẫn đến những hệ lụy khôn lường. Những diện tích rừng có đất không phù hợp như rừng khộp, nghèo dinh dưỡng, nền đất cát pha, xen lẫn đá sỏi, tầng canh tác mỏng, một số lô có tầng đá ban dày, vùng đất thấp, trũng bị ngập úng vào mùa mưa, hạn hán vào mùa khô… cũng đã bị cạo trắng để trồng cao su.
Đã có 2.598,8/25.547,4 ha cao su bị chết và kém phát triển, chiếm 10,2% diện tích. Một số diện tích có chất lượng sinh trưởng, phát triển kém, tỷ lệ sống đạt thấp (65%), có lô bị chết hoàn toàn. Có vườn cây cao su trồng 7 năm nhưng năng suất và chất lượng mủ thấp hơn mức bình thường.
Có lô cao su đã trồng đi, trồng lại nhiều lần nhưng cây cao su vẫn không thể phát triển. Diện tích này tập trung chủ yếu tại địa bàn các xã Ia Mơr (huyện Chư Prông), Ia Pnôn (huyện Đức Cơ), Pờ Tó (huyện Ia Pa), Ia Blứ (huyện Chư Pưh) của các đơn vị như Công ty Cao su Chư Sê, Công ty Cổ phần Trồng rừng Công nghiệp Gia Lai (Hoàng Anh Gia Lai) Công ty Quang Đức.
Khi được tham gia Dự án, các doanh nghiệp cam kết với UBND tỉnh Gia Lai sẽ hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng vùng dự án 188,5 tỷ đồng, hỗ trợ an sinh xã hội gần 60 tỷ đồng… Tuy nhiên, trong khảo sát mới đây của Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai về Kết quả giám sát Dự án Chuyển đổi 50.000 ha rừng nghèo sang trồng cao su, các doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng (nhà ở cho công nhân, khu làm việc của dự án…), nhưng đó mới chỉ là đầu tư cho doanh nghiệp, chứ không phải đầu tư cho địa phương.
Ngoài ra, nhiều tuyến đường giao thông bị hư hỏng, xuống cấp trong quá trình khai hoang, kiến thiết cơ bản do vận chuyển khối lượng lớn gỗ củi tận thu từ rừng, vận chuyển cây con, phân bón của doanh nghiệp. Điều đặc biệt, qua 7 năm thực hiện Dự án, UBND tỉnh Gia Lai vẫn chưa thu được tiền thuê đất của doanh nghiệp nộp vào ngân sách Nhà nước. Trong khi đó, khoản tiền bán gỗ, củi trên diện tích khai hoang vẫn còn nợ ngân sách tỉnh trên 8 tỷ đồng.
Dự án được kỳ vọng sẽ mang lại những hiệu quả to lớn về kinh tế xã hội như: giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trong vùng Dự án, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng - an ninh trên tuyến biên giới…
Nhưng tại thời điểm này, hiệu quả chẳng đến đâu. Cộng với khủng hoảng của ngành cao su do giá mủ cao su xuống quá thấp đã khiến các doanh nghiệp gặp khó khăn, Dự án ì ạch trong giai đoạn sắp phá sản. (Tài Nguyên Và Môi Trường 13/8) đầu trang(
Liên quan đến vụ một số công dân thôn Đèo Gia, xã Đèo Gia cản trở người thi hành công vụ diễn ra cuối tháng 7 (Báo Bắc Giang điện tử đã đưa tin), ngày 12-8, Chủ tịch UBND huyện Lục Ngạn Trần Quang Tấn tổ chức đối thoại với người dân thôn Đèo Gia.
Tham dự có Phó Chủ tịch UBND huyện Lê Bá Thành; lãnh đạo một số phòng, đoàn thể huyện, xã và đại diện hơn 200 hộ dân trong thôn.
Các ý kiến tại hội nghị phân tích những vấn đề liên quan đến việc người dân lấn chiếm đất công, trồng cây trái phép; công tác giao đất lâm nghiệp trên địa bàn… Sau khi làm rõ những vấn đề liên quan, Chủ tịch UBND huyện Lục Ngạn Trần Quang Tấn khẳng định: Sẽ chỉ đạo bộ phận chuyên môn giao ngay 377 ha đất lâm nghiệp cho các hộ dân theo đề án đã được duyệt.
Các hộ nhận đất, trồng rừng sẽ được hỗ trợ gạo theo đúng quy định hiện hành. Các đối tượng tự ý lấn chiếm đất lâm nghiệp, cản trở người thi hành công vụ sẽ bị xem xét mức độ vi phạm và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. (Báo Bắc Giang 13/8) đầu trang(
Người dân sống dưới tán rừng ngập mặn thuộc quyền quản lý của Công ty TNHH - MTV Lâm nghiệp Ngọc Hiển (gọi tắt là Công ty Lâm nghiệp Ngọc Hiển) có nhiều niềm hạnh phúc đan xen.
Lý do bởi họ được lãnh đạo công ty tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho dân vươn lên thoát nghèo. Với điều kiện thiên nhiên ưu đãi, thời gian qua Công ty Lâm nghiệp Ngọc Hiển đã áp dụng và chuyển giao nhiều mô hình làm ăn, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân nhận đất, nhận rừng. Trong đó đáng kể đến là mô hình nuôi tôm sinh thái dưới tán rừng. Đây là mô hình đã và đang mở ra hướng đi mới cho người dân vùng rừng ngập mặn.
Ông Trần Ngọc Thảo – Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Ngọc Hiển khẳng định: “Từ ngày áp dụng mô hình mới này, đời sống của người dân thay đổi một cách rõ rệt, cả về vật chất lẫn tinh thần. Đặc biệt hơn, qua đó ý thức giữ bảo vệ rừng của bà con được nâng cao hơn, khi mà không còn lo chuyện thiếu ăn”.
Một tính hiệu đáng vui mừng được minh chứng cụ thể là nhờ làm tốt công tác tuyền truyền, giúp dân từng bước thoát nghèo đã khiến cho nạn chặt phá cây rừng không xảy ra. Những cánh rừng một màu xanh biếc đang từng ngày tươi tốt dưới sự chăm sóc và bảo vệ của chủ rừng và người dân nhận đất rừng.
Ông Tạ Văn Tiền, ngụ ấp Chà Là xã Tam Giang, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau hồ hởi: Nhờ được công ty giao 10ha rừng nuôi nuôi tôm sinh thái, gia đình tôi đã thoát nghèo.
Theo ông Thảo: Sau khi bàn giao đất rừng cho người dân, lãnh đạo công ty thành lập và đặc cử cán bộ chuyên môn trực tiếp hướng dẫn dân trồng mới và cách chăm sóc và bảo vệ rừng. Ngoài ra, công ty còn kết hợp Công ty cổ phần Chế biến thủy sản và Xuất nhập khẩu Cà Mau cấp con giống tôm sạch và hướng dẫn cách nuôi tôm sinh thái khoa học cho bà con.
“Với cách làm này, người dân có thể yên tâm, không còn lo chuyện được mùa mất giá. Vì con tôm khi đến ngày thu hoạch đã có đơn vị bao tiêu sản phẩm, với giá cao” – ông Thảo nói.
Hàng ngàn hộ dân nhận đất rừng từ phía công ty cho biết, với cách làm của lãnh đạo công ty đã mang lại kết quả mỹ mãn. Người dân không còn phá rừng vì miếng ăn, trái lại họ còn góp sức bảo vệ phát triển rừng ngập mặn, bảo vệ tài nguyên môi trường.
Ông Trần Ngọc Thảo kỳ vọng rằng: Trong tương lai không xa, rừng ngập mặn do công ty quản lý, kết hợp với mô hình nuôi tôm sinh thái sẽ trở thành điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước. Mở ra hướng phát triển kinh tế tươi sáng cho vùng đất cực nam của Tổ quốc. (Dân Việt 14/8) đầu trang(
Ngày 13-8, UBND tỉnh Quảng Ngãi cho biết, vừa phê duyệt dự án đầu tư trồng rừng ngập mặn ven biển ở các xã, huyện Bình Sơn.
Theo đó, dự án do Sở TN&MT làm chủ đầu tư, triển khai tại các xã ven biển huyện Bình Sơn, với tổng diện tích thực hiện dự án 107,448 ha, tổng vốn đầu tư hơn 21 tỷ đồng, thời gian thực hiện dự án năm 2015 – 2019. UBND tỉnh giao Sở TN&MT triển khai thiết kế bản vẽ thi công, dự toán và thực hiện các hạng mục công việc theo đúng các quy định hiện hành của Nhà nước. (Đại Đoàn Kết 13/8) đầu trang(
Theo ông Tô Quốc Nam – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cà Mau, tỉnh đang sử dụng chính vật liệu tại địa phương trong việc ứng phó với nước biển dâng giúp giảm chi phí rất nhiều. Ông Nam cho biết trong các năm qua do tính cấp bách bảo vệ đê biển trước hiểm họa biến đổi khí hậu, nước biển dâng nên nhà nước đã đầu tư xây dựng dạng kè ngầm tạo bãi giảm sóng với kết cấu bằng cọc tròn BTCT chèn đá hộc.
Dạng kè này khi xây dựng xong đã phát huy tác dụng tốt như chắn sóng gây bồi tạo điều kiện để khôi phục lại rừng phòng hộ để chắn sóng bảo vệ lâu dài cho đê biển tuy nhiên dạng kè này có suất đầu tư tương đối cao do đó nếu xây dựng để đáp ứng nhu cầu chắn sóng, bảo vệ và phục hồi lại rừng phòng hộ cho đê biển thì vốn đầu tư sẽ rất lớn nên đòi hỏi phải có những giải pháp mới nhằm hạ thấp vốn đầu tư như giải pháp kè ngầm bằng vật liệu địa phương.
Ưu điểm của biện pháp này là khả năng bị lún thấp tính ổn định cao, chịu và giảm sóng tốt; Bản thân kết cấu cho nước và phù sa đi qua tốt, tạo điều kiện để trao đổi nước và phù sa bồi lắng tạo điều kiện cho cây ngập mặn của rừng phòng hộ phát triển tốt; Việc thi công tương đối đơn giản ở điều kiện thi công trong nước cách chân đê từ 100m đến 250m về phía biển (cao trình mặt đất trung bình từ 0,5m đến -1,0m), ít phụ thuộc vào chế độ triều; Vật liệu để kết cấu kè là cọc bê tông cốt thép phía trong chèn bó tràm do đó sử dụng được vật liệu địa phương làm giảm giá thành công trình; Kinh phí đầu tư tương đối thấp khoảng 13 tỷ đồng/1km dài.
Tuy nhiên, còn nhược điểm do lớp bó tràm phía trên lâu ngày sẽ bị mục hoặc sinh vật biển xâm thực do đó định kỳ phải thay và bổ sung lớp cừ này. (Bộ Thông Tin Và Truyền Thông 13/8) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||