Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 12 tháng 02 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Cuối năm 2014, Báo Lao Động đã phản ánh tình trạng lâm tặc hoành hành trong rừng sinh thái Bản Đôn (xã Krông Na, huyện Buôn Đôn) do cty TNHH MTV caosu Đắc Lắc (Dakruco) quản lý. Từ đó đến nay, các cơ quan chức năng ở Đắc Lắc quyết liệt vào cuộc, nhưng rừng vản tiếp tục tàn phá. Bất ngờ, mới đây Dakruco có văn bản lí trình, cho rằng cty... không phải là đơn vị chủ rừng.
Tháng 5.2005, UBND tỉnh Đắc Lắc có quyết định cho Dakruco thuê hơn 1,300ha rừng tự nhiên, trong đó có 20ha đất quốc phòng tại xã Krong Na để thực hiện dự án Khu du lịch sinh thái - văn hóa Bản Đôn, Dakruco thành lập chi nhánh Trung tâm Nghỉ dưỡng sinh thái và spa Bản Đôn để quản lý dự án. Năm 2011, Dakruco cổ phần hóa chi nhánh này, thành Cty CP TMDL Bản Đôn. Sau khi cổ phần hóa, trung tâm du lịch hoạt động kém hiệu quả, buông lỏng quản lý khiến 1.300ha rừng bị tàn phá nặng nề.
Ngày 2.2.2015, ông Nguyễn Hoài Dương - Phó Giám đốc Sở NNPTNT Đắc Lắc cho biết, tình trạng phá rừng tại đây diễn ra nghiêm trọng hơn, không khác gì rừng vô chủ. Ông Dương còn liệt kê hàng loạt vụ phá rừng được cư quan chức năng phát hiện.
Trước tình trạng trên, các cơ quan chức năng như Chi cục Kiểm lâm, Sở KHĐT, Sở TNMT, Huyện ủy và UBND huyện Buôn Đôn đã quyết liệt vào cuộc, hỗ trợ và hướng dẫn Dakruco triển khai phương án bảo vệ rừng. Đến ngày 17.9.2014, lực lượng của UBND huyện Buôn Đôn phát hiện Dakruco không thực hiện, tiếp tục buông lỏng công tác bảo vệ rừng. Do vậy UBND huyện đã có văn bản đề nghị UBND tỉnh Đắc Lắc xem xét trách nhiệm của Dakruco và Cty CP TMDL Bản Đôn, thu hồi toàn bộ diện tích rừng.
Về phía Chi cục Kiểm lâm Đắc Lắc, ngày 11.12.2014,cũng đã có báo cáo gửi Sở NNPTNT, đề nghị sở tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo xem xét, làm rõ trách nhiệm của Dakruco do để rừng bị khai thác trái phép trong một thời gian dài mà không có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn. Trường hợp Dakruco không có khả năng tổ chức quản lý, bảo vệ rừng thì có thể xem xét thu hồi...
Điều bất ngờ, ngày 11.12.2014, Dakruco có giải trình gửi các cơ quan chức năng, trong đó khẳng định mình... không phải đơn vị quản lý rừng. Các lý do được Dakruco nêu tại văn bản này là: Cty đã có tờ trình đề nghị UBND tỉnh thu hồi diện tích rừng nói trên, Cty đã bàn giao thực địa và toàn bộ hồ sơ liên quan cho Cty CP TMDL Bản Đôn, Cơ quan CSĐT Công an huyện Buôn Đôn (khi điều tra một vụ phá rừng) cũng xác định trách nhiệm chủ rừng thuộc Cty CP TMDL Bản Đôn chứ không phải Dakruco...
Dakruco còn cho rằng, các cơ quan chức năng đã có sự nhầm lẫn khi gọi Cty CP TMDL Bản Đôn là đơn vị thành viên của Dakruco, hỏi Dakruco chỉ là cổ đông (lớn) nên không thể can thiệp, chi đạo Cty CP TMDL Bản Đôn được. "Từ những căn cứ pháp lý nêu trên cho thấy công tác quản lý bảo vệ diện tích rừng trên thuộc về Cty TMDL Bản Đôn" - Dakruco giải trình.
Ngày 27.1, thêm một đoàn công tác do Chi cục Kiểm lâm chủ trì lại xác lập biên bản làm việc với Dakruco và Cty CP TMDL Bản Đôn. Ông Trương Văn Trưởng - Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đắc Lắc - kết luận: "Chù quản lý rừng vẫn là Dakruco, trách nhiệm để mất rừng thuộc vổ Cty CPTMDLBản Đôn". Còn nguyên nhân của sự nhùng nhằng trách nhiệm, đoàn công tác xác định do Cty CP TMDL Bản Đôn chậm trễ nộp hồ sơ để Sở TNMT tham mưu UBND tỉnh ra quyết định cho thuê rừng, hạn đến ngày 13.2 phải báo cáo.
Một khu du lịch thường xuyên không hoạt động, chỉ có 3 bảo vệ trông coi tài sản, không có lực lượng bảo vệ rừng... đã cho thấy tinh thần trách nhiệm, năng lực của Cty CP TMDL Bản Đôn. Vậy Cty này tiếp tục xin thuê hơn 1.300ha rừng ở Bản Đôn để làm gì? (Lao Động 12/2) đầu trang(
Sáng 12/2, ông Lê Hồng Sơn - Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật – Bộ Tư pháp lên tiếng vụ Chi cục Kiểm lâm Bắc Ninh bán 42 cá thể tê tê vào đầu tháng 2/2015.
Trước đó, trong trong văn bản báo cáo gửi UBND tỉnh của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Ninh ngày 6/2, về việc xử lý vụ vi phạm vận chuyển động vật rừng nhận bàn giao của C49 – Bộ Công an, Chi cục Kiểm lâm Bắc Ninh viện dẫn quy định tại Nghị định số 32/2006/NĐ-CP để xác định 42 cá thể tê tê java thuộc nhóm IIB – nhóm động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng và mục đích thương mại.
Chi cục Kiểm lâm Bắc Ninh cho rằng, 42 cá thể tê tê java không thuộc điều chỉnh của Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.
Cho nên, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Ninh đã định giá 42 cá thể tê tê có khối lượng 201kg để bán ra thị trường với mức giá 1,2 triệu đồng/kg.
Về vấn đề này, Cục trưởng Lê Hồng Sơn cho biết, theo Khoản 2, điều 2 của Nghị định 32/2006/NĐ-CP, thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được phân thành hai nhóm.
Theo Nghị định này, nhóm 2 – hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loại thực vật rừng, động vật rừng có giá trị về khoa học, môi trường hoặc có giá trị về kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên.
Danh mục ban hành kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, xác định bộ tê tê thuộc nhóm IIB (số thứ tự 25).
Tuy nhiên ngày 12/11/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 160/2013/NĐ-CP về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp quý hiếm được ưu tiên bảo vệ, trong đó 42 cá thể tê tê bị Chi cục Kiểm lâm Bắc Ninh “thanh lý” cho các nhà hàng trên địa bàn thuộc danh mục loài nguy cấp quý hiếm được ưu tiên bảo vệ (số thứ tự 45).
Tại thời điểm, Chi cục Kiểm lâm Bắc Ninh thanh lý 42 cá thể tê tê, Nghị định số 160/2013/NĐ-CP đã có hiệu lực từ ngày 1/1/2014. Do đó, Chi cục Kiểm lâm Bắc Ninh phải xử lý theo nội dung Nghị định mới đã có hiệu lực pháp luật.
Do đó, đối với hai văn bản quy phạm pháp luật quy định một đối tượng đang có hiệu lực pháp luật thì người quản lý mà cụ thể ở đây là Chi cục Kiểm lâm Bắc Ninh phải xác định được những nội dung, quy định nào trái với Nghị định mới thì phải bãi bỏ.
Quan điểm của Cục trưởng Lê Hồng Sơn về vụ 42 cá thể tê tê là phải xử lý theo Bộ luật Hình sự. (VOV 12/2) đầu trang(
11/2, TAND tỉnh Quảng Bình tiếp tục phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án” cướp gỗ huê” tại VQG Phong Nha – Kẻ Bàng.
Bước sang ngày làm việc thứ 3, đại diện VKSND tỉnh Quảng Bình nêu quan điểm luận tội và đề nghị mức án cụ thể với 14 bị cáo trong vụ án “cướp gỗ huê” tại VQG Phong Nha – Kẻ Bàng. VKS đề nghị toà phạt bị cáo Nguyễn Văn Hiệu mức án 13 năm tù, Hồ Văn Phương 12 năm tù; Nguyễn Văn Quân 11 năm tù; Hồ Xuân Thiện 10 năm tù, bị cáo Phan Văn Cảm, Lê Anh Vũ, Nguyễn Văn Cương, Mai Hữu Sỹ, Lê Ngọc Lâm, Lê Bá Quyết, Nguyễn Ngọc Hoàn cùng mức án 9 năm tù; bị cáo Hoàng Văn Thành, Nguyễn Xuân Qúy và Nguyễn Văn Tiến mức án 8 năm tù.
Tuy nhiên, sau khi bào chữa cho các bị cáo, nhiều luật sư cho rằng lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra có nhiều nghi vấn, có dấu hiệu chỉnh sửa, đồng thời các luật sư đều yêu cầu HĐXX xem xét lại, có luật sư còn cho rằng nên trả hồ sơ vụ án để điều tra lại.
Tất cả các luật sư bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa hôm nay đều không đồng tình với cáo trạng của VKSND tỉnh Quảng Bình và cho rằng, hành động của các bị cáo là “mua” chứ không phải “cướp”. Cũng tại đây, các luật sư yêu cầu đại diện VKSND tỉnh này làm rõ hành vi cấu thành tội “cướp tài sản” mà cơ quan này đã cáo buộc với các bị cáo. Theo quan điểm của các luật sư, hồ sơ vụ án hiện không đủ căn cứ để chứng minh các bị cáo đã “cướp tài sản”.
Với tư cách là luật sư bào chữa cho bị cáo Hồ Xuân Thiện, Luật sư Ngô Văn Xảo cho rằng: “Kết luận của cơ quan điều tra là không đúng, bởi hành động “cướp” theo quy định của luật là phải làm tê liệt đối phương, để đối phương không thể chống cự được và bị lấy tài sản. Thực tế, nhóm của anh Toàn (bị hại - PV) có số lượng người đông hơn (22 người) trong khi nhóm bị cáo chỉ có 14 người, sao các bị cáo có thể khống chế làm tê liệt các bị hại để thực hiện hành vi cướp được?”.
Luật sư Xảo cũng cho rằng, những tang vật như dao, gậy thu được thì đó là những vật dụng đi rừng của các bị cáo để tránh thú dữ, sử dụng trong việc chặt gỗ, phát đường đi… chứ không thể kết luận đó là tang vật dùng để uy hiếp bị hại.
Nhiều luật sư cũng cho rằng lời khai của anh Phạm Văn Toàn như hồ sơ thể hiện là vô lí. Luật sư nêu ra tình tiết, sự việc xảy ra ban ngày với một người bình thường mà toàn bộ 14 bị cáo "đi cướp" mà bị hại Toàn lại không nhận ra được người đã trói mình.
Đồng thời, các luật sư bào chữa cũng đã phân tích mối quan hệ giữa các bị hại với các bị cáo, lập luận, nếu là hành vi “cướp”, tại sao nhóm của anh Toàn lại cùng uống rượu, ăn mì tôm với nhóm của Hiệu, và sau khi bị cướp lại không viết đơn tố cáo lên cơ quan điều tra. Ngoài ra, tại phiên tòa, các luật sư đều đặt câu hỏi, nếu là cướp, tại sao các bị cáo lại cho bị hại Toàn số tiền 390 triệu đồng, chỉ có bán mới trả tiền chứ ai lại đi cho số tiền lớn như vậy?
Riêng đối với luật sư Nguyễn Cường, người bào chữa cho bị cáo Phan Văn Cảm lại cho rằng, VKSND tỉnh Quảng Bình không đủ căn cứ để chứng minh các hành vi của bị cáo và cho rằng chứng cơ duy nhất tại phiên tòa hôm nay chỉ dựa vào bản cung của các bị cáo là thiếu chứng cớ, vật chứng, nhân chứng… để cấu thành tội phạm đối với các bị cáo.
Cũng theo luật sư Cường, dây dù để trói bị cáo và cây dao là được lấy tại nhà của một bị cáo, nhưng trong bản cáo trạng lại ghi là lấy ở hiện trường. Cùng với đó, luật sư Cường còn nghi ngờ, biên bản khám nghiệm hiện trường của cơ quan điều tra thiếu sự minh bạch, bản hỏi cung thì có dấu hiệu sửa chữa, chênh lệch ngày tháng?
Cũng tại phiên tòa hôm nay, nhiều luật sư còn cho rằng, biên bản khám nghiệm hiện trường của cơ quan điều tra thiếu tính pháp lí và biện luận, rất lâu sau đó mới đi khám nghiệm trường, nhưng khi đi lại không có nhân chứng chỉ có cơ quan công an, kiểm lâm và công an xã.
Kết thúc ngày làm việc thứ 3, sau khi nghe lời bào chữa cho các bị cáo của các luật sư, HĐXX đã kết thúc phần tranh luận. Sáng 12/2, phiên tòa sẽ tiếp tục làm việc. Dân trí sẽ tiếp tục cập nhật thông tin phiên xử. (Dân Trí 11/2) đầu trang(
Trước kia họ từng xách cưa, đục vào rừng khai thác gỗ trái phép nhưng nay họ đã ý thức được việc giữ rừng để rồi tự nguyện đi tuần tra, bảo vệ những cánh rừng có nguy cơ bị tàn phá. Người dân gọi họ bằng cái tên thật trìu mến: Đội “kiểm lâm không lương”.
Theo dấu chân của đội trưởng Nguyễn Văn Bồng (65 tuổi), chúng tôi về khóm 7, thị trấn Khe Sanh và dạo qua một vòng xã Tân Liên (huyện Hướng Hóa, Quảng Trị), nơi từng có nhiều khu rừng bị tàn phá thành đồi trọc…
Sớm tinh mơ, đội “kiểm lâm không lương” đã bày biện lễ vật cúng mở cửa rừng. Họ thành kính chắp tay khấn vái “thần rừng”, mong phù hộ cho sức khỏe để bảo vệ được nhiều cánh rừng khỏi sa vào tay “lâm tặc”. Kết thúc buổi lễ, người đội trưởng thắp hương đọc lời cầu khấn, sau đó mọi người chia nhau tản ra những khu rừng được dự đoán có nguy cơ bị phá trong ngày.
Theo chân nhóm tuần tra của người đội trưởng, được nghe ông rủ rỉ kể chuyện đến với nghề. Từ ngày xuất ngũ, ông đã có nhiều năm làm thợ sơn tràng. Ngày thường đốn củi khô bán khắp các chợ và quán xá trong làng xã, hết đợt lại đi làm thuê khắp hang cùng ngõ hẻm. Chỉ đến khi Lâm trường huyện Hướng Hóa vận động chiến dịch “trồng cây thông lấy nhựa”, xem như ông mới có một công việc ổn định.
Gia đình ông đấu thầu, trồng được mấy hecta thông. Qua mấy năm chăm sóc, bắt đầu được khai thác nhựa thông. Được Lâm trường giao khoán khai thác lượng nhựa thông, ngay từ buổi đầu, những người như ông Bồng đã thành lập một đội với hai nhiệm vụ: Thứ nhất là khai thác để lấy nhựa; thứ hai, kết hợp với cán bộ lâm trường bảo vệ những khoảnh rừng được giao.
“Chú thấy đó, đội khai thác nhựa thông của chúng tôi lên đến 14 thành viên, mỗi anh em đều được phân một khu vực cụ thể, có người lên tới 4-5ha... Hàng ngày, công việc của chúng tôi là đi cạo nhựa, vì vậy cây thông nào chúng tôi cũng biết, có xê dịch gì là trực tiếp báo cáo với Lâm trường ngay”, giọng người đội trưởng hào sảng.
Khi người dân có rừng thông để trồng trọt làm kinh tế cũng là lúc “lâm tặc” hoạt động trên diện rộng với các chiêu bài như: Trộm nhựa, đốn nhiều cây thông đang phát triển về làm đồ sinh hoạt hoặc củi đun.
Một đồng nghiệp của ông Bồng chêm vào câu chuyện, cho biết trước đây rừng thông thường xuyên bị xâm phạm. Người dân trong vùng hạ cây xẻ ván đóng chuồng gà, chuồng lợn. Có đám liều lĩnh hơn còn vác cả cưa, đục vào “xẻ thịt” rừng thông bán làm ván xây dựng cho những ông chủ ngoài thị trấn.
Đây là khu vực rừng trồng, hầu hết các cây đều gần 30 tuổi, một vòng tay người lớn ôm không xuể. Thế nên, chỉ cần hạ một cây, “lâm tặc” đã kiếm được một món hời khá lớn. Ngoài nhiệm vụ khai thác, đội “kiểm lâm” còn kiêm luôn nhiệm vụ bảo vệ rừng. Tất cả họ đều từng đi rừng lâu năm, hiểu biết hết mọi ngõ ngách của nhiều khu rừng trên địa bàn huyện Hướng Hóa.
Ngày trước, họ chỉ mang một cây rựa đi để bảo vệ rừng, nhưng  nay, do “lâm tặc” ngày càng hung hãn, họ phải trang bị thêm nhiều “đồ nghề”. Không thể thiếu là một đàn chó săn cực kỳ tinh khôn. Chỉ cần thấy hơi người lạ, chúng sủa ầm ĩ cả một khoảng rừng. Mỗi thành viên trong nhóm đều sở hữu vài chú chó như thế.
Theo chia sẻ, đàn chó săn của ông Nguyễn Văn Tuân là đông đảo, thiện chiến nhất.  Nhiều lần chúng đã làm cho “lâm tặc” phải khiếp vía. Như để biểu diễn, chỉ sau vài tiếng huýt sáo và tiếng “xuỵt” từ chủ nhân, đàn chó đã thi nhau quần thảo, dữ tợn nhe nanh, sủa vang cả một vạt rừng.
Ông Tuân tâm sự: “Làm nghề gì cũng khổ chú à, địa hình ở đây dốc lắm, đi đứng không cẩn thận là ngã dúi dụi. Khó khăn vậy mà chỉ cần sơ hở một chút, “lâm tặc” lại kịp đốn một cây mang đi. Chúng tôi sống nhờ rừng, cứ chặt phá tràn lan như thế gia đình lấy gì mà sống. Thế nên cố bảo nhau ra sức mà giữ gìn, chả đòi lương bổng hay trợ cấp gì cả”.
Trong lúc trò chuyện, có thành viên trong đội còn bồi hồi về quá khứ: “Lúc trước bọn tôi là “lâm tặc” cả đó, ngày xưa có biết gì đâu… thiếu củi là vào rừng chặt phá, thiếu chỗ trồng cây là đi khai hoang bừa bãi. Giờ nghĩ lại thấy mình có lỗi với rừng nên phải chú tâm bảo vệ, cũng là trả nợ rừng mà thôi”.
Chiến tranh đi qua gần 40 năm. Đội “kiểm lâm” có những người từng là lính Trường Sơn. Tất cả họ đều ý thức được rừng quan trọng thế nào ở thời chiến cũng như thời bình. Chính nhờ họ, những cây thông trước đây thường xuyên ứa nhựa vì bị cạo trộm, giờ vết thương gần như đã lành. Những cánh rừng hoang từng bị tàn phá nay đã được phủ xanh mát bằng những đồi thông ngút ngàn.
Vừa rảo bước, người đội trưởng vừa “bật mí”: “Chú biết tại sao cả mấy anh em không ngại khó, ngại khổ để bảo vệ rừng thông này không? Đó là bởi mơ ước một ngày nào đó, miền biên ải này sẽ là “Đà Lạt thứ hai” với thông reo vi vu trong sương rừng, khí núi. Đà Lạt đẹp và thơ mộng nhờ những cánh rừng thông. Ở đây cũng vậy, thông rất nhiều nên chúng tôi muốn giữ vẻ đẹp cho con cháu sau này”.
Giấc mơ của những người quanh năm ẩn mình trong rừng chỉ đơn giản như vậy. Dù nhiều người chưa bao giờ đi ra địa phận tỉnh, chứ đừng nói được đến thành phố  Đà Lạt nổi tiếng mộng mơ kia.
Đi vòng vèo một hồi xuyên qua cánh rừng cũng là lúc đồng hồ điểm 12h trưa. Đội “kiểm lâm” bắt đầu lấy điện thoại thông báo tập trung về địa điểm đầu xuất phát. Tại đây, họ đã làm tạm một căn chòi dùng để nghỉ, thay phiên nhau trực trong đêm để chống lâm tặc. Trong căn chòi, một thành viên đang chuẩn bị bữa cơm trưa đạm bạc. Những người còn lại vắn tắt thông báo cho nhau nghe tình hình của buổi tuần rừng.
Bỗng từ xa xa, có nhiều cụ cao niên trong thôn Đại Thủy (xã Tân Liên) đến góp vui.  Các cụ cho biết nghe nói có nhà báo đến để viết về đội “kiểm lâm không lương” nên phải đến nói giúp. Theo đó, nhờ có các anh mà hiện tượng gỗ thông bị cưa xẻ và tuồn ra ngoài giảm hẳn, chặt “đứt đuôi” bọn phá rừng.
Cụ ông Lê Quận Thám (thôn Duy Hòa), hiện là Chủ tịch Hội Người mù huyện Hướng Hóa tâm sự: “Tôi mù lòa đến nay đã mấy chục năm. Thời mắt còn sáng, những cây thông mới bén rễ, giờ đã ôm một vòng không hết. Có được cơ ngơi như hôm nay đâu phải đơn giản. Rừng có sẵn phải giữ đã đành, rừng trồng cũng phải giữ, không thì “lâm tặc” nó đốn sạch”.
Những thành viên của đội “kiểm lâm” dù cuộc sống còn nghèo nhưng ai cũng có tình yêu rừng tha thiết. Thông thường, nếu hạ trót lọt một cây thông khoảng một vòng tay ôm, có thể đủ tiền uống rượu cả tháng. Vài ba gùi củi thông giữa thời buổi khó khăn cũng là cách đỡ đần cho gia đình, vợ con.
Tuy nhiên, những người như ông Bồng, ông Tuân hay các thành viên trong đội đều tâm niệm rằng mình là những “kiểm lâm”. Họ bảo vệ rừng “không công” với hy vọng một mai không xa, vùng đất đầy nắng và gió Lào này sẽ trở thành những cánh rừng bạt ngàn đẹp đẽ. (Pháp Luật VN 12/2) đầu trang(
“Người kiểm lâm coi rừng như nhà của mình. Chúng tôi rất vui khi thấy rừng ngày một thêm xanh, thấy những chính sách khuyến khích, đầu tư phát triển vốn rừng của Đảng, Nhà nước. Mỗi khi thấy rừng bị tàn phá, chúng tôi cũng đau như một phần tài sản của mình đang bị mất đi”.
Đó là tâm sự của ông Phạm Ngọc Cừ - Bí thư Đảng ủy, Phó Chi cục trưởng chi cục Kiểm lâm Sơn La, khi trao đổi với phóng viên Dân Việt về nhiệm vụ bảo vệ rừng mà Nhà nước giao phó.
Là tỉnh có diện tích đất lâm nghiệp lớn nhất miền Tây Bắc (hơn 900.000ha), trong đó có hơn 600.000ha đất rừng, đó là lợi thế của Sơn La. Nhưng lợi thế ấy đến hôm nay vẫn chỉ là “lợi thế tiềm năng”, chứ nếu nhìn ở góc độ rừng với bát cơm manh áo hàng ngày của nông dân thì còn nhiều việc phải bàn. Nói cách khác, người nông dân Sơn La gặp khó khăn trong sự mưu sinh chính bởi từ lợi thế đất rừng ấy vì vùng sơn cước hơn 1 triệu dân này có diện tích đất sản xuất khá chật hẹp.
Trong khi có những bản “không hề có lấy mét vuông đất sản xuất nào, nhưng nếu đụng đến đất rừng là vi phạm pháp luật, đi tù như chơi, nên chúng tôi chỉ biết đi làm thuê, làm mướn để kiếm sống qua ngày” –ông Hà Văn Hợp, dân bản Tường Cơi, xã Mường Cơi, huyện Phù Yên, Sơn La chia sẻ.
Với nhiều nông dân khác, tuy đất sản xuất không phải là quá cấp thiết nhưng với nhu cầu phát triển của cuộc sống, diện tích đất sản xuất hiện có cũng chỉ đủ để họ duy trì mức sống khỏi đói. Anh Giàng A Nua, dân bản Săn Cài, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ bảo: Nếu mỗi hộ khoảng 5-6 nhân khẩu mà có 1-2ha đất nương, không có vốn và kiến thức để làm kinh tế trang trại, thì làm tốt cũng chỉ khỏi đói. Dân ở đây hầu hết đều lao động nông nghiệp thuần túy nên chỉ biết trồng cây ngô, sắn, dong rềng thôi. Vì thế muốn khá lên, mỗ hộ phải có từ 3-5ha đất nương…”
Khát vọng có nhiều đất sản xuất luôn đặt ra thách thức với những người kiểm lâm và thật sự không dễ giải quyết bởi sự xâm lấn đất rừng ấy diễn ra một cách lẻ tẻ với số lượng nhỏ, rất khó kiểm soát. Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Mộc Châu - anh Đào Mạnh Phong từng tâm sự: Tôi không sợ lâm tặc cầm cưa bằng nông dân lấn rừng bằng dao, cuốc. Bởi một lẽ đơn giản: Phát hiện và xử lý lâm tặc dễ hơn, được sự ủng hộ của người dân cao hơn, hiệu quả xử lý cũng nhanh hơn…”.
Tại huyện Mai Sơn, khi nói về việc xử lý người dân vi phạm đất rừng, ông Nguyễn Văn Kỳ - Hạt trưởng kiểm lâm cho biết: Trong những năm qua chúng tôi đã xử lý rất nhiều vụ vi phạm đất rừng nhưng việc thu hồi tiền phạt thì vướng lắm bơi dân nghèo, lấy gì mà thu, lấy gì mà cưỡng chế…
Không chỉ chuyện dân phá rừng làm nương, những hành vi đe dọa đến rừng ở Sơn La rất đa dạng và phức tạp: Khai thác, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán lâm sản, động vật rừng trái phép, săn bắn trộm; thách thức, trực tiếp hoặc gián tieps đe dọa, chống lại kiểm lâm vẫn thường xuyên xảy ra. Rồi đến mưa  bão, gió Lào nắng nóng, cháy rừng do đốt nương… Bởi thế, việc canh giữ an toàn những cánh rừng ở Sơn La là gánh nặng không nhỏ với lực lượng kiểm lâm trong điều kiện thiếu cả về con người và phương tiện, trang thiết bị.
Vượt lên những khó khăn đó, lực lượng kiểm lâm Sơn La không chỉ gắng sức bảo vệ rừng mà còn tích cực nghiên cứu, tham mưu cho lãnh đạo ngành và địa phương để có những cơ chế, chính sách thiết thực giúp nông dân vượt khó.
Ông Sòi Ngọc Dũng - Chi cục trưởng kiểm lâm Sơn La cho biết: Với trong ngành, để khắc phục tình trạng thiếu biên chế, thiếu phương tiện, chúng tôi áp dụng biện pháp động viên, khích lệ đi kèm với tuyên truyền, hướng dẫn và kiểm tra đánh giá năng lực cán bộ, kiểm lâm viên một cách nghiêm túc. Từ đó tạo ra động lực cho toàn thể anh em vươn lên. Với hơn 64.000 chủ rừng, hàu hết là nông dân thì chúng tôi cũng nghiên cứu để đề xuất những giải pháp tháo gỡ khó khăn cho họ. Chúng tôi hiểu gánh nặng mưu sinh của nông dân và trách nhiệm của mình. Vì vậy, đi đôi với tuyên truyền, tăng cường kiểm tra, giám sát, xử phạt thì chúng tôi cũng đã có nhiều đề xuất với cấp trên gỡ khó cho nông dân: Thực hiện cấp gạo hỗ trợ trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng, thực hiện nghiêm việc chi trả phí dịch vụ môi trường rừng, thực hiện trồng rừng kinh tế, rừng sản xuất.
Nói về việc trồng và bảo vệ rừng, ông Phạm Văn Hợi - Chủ tịch UBND xã Chiềng Hắc, huyện Mộc Châu cho biết: Đến nay, hầu hết các cán bộ xã, bản và người dân trong xã đều đã ý thức được rừng là của mình, mình là chủ rừng. Vì thế trong 2 năm vừa qua, người dân trong xã chúng tôi đã tham gia trả lại những diện tích đất rừng bị xâm chiếm làm nương và đóng góp công sức trồng mới hàng trăm ha rừng.
Việc trồng rừng này theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng trồng, nhà nước hỗ trợ cây giống, đo đạc, thiết kế và hướng dẫn kỹ thuật. Dân chúng tôi lấy đất nương của mình, bỏ công ra trồng và chăm sóc. Khi cây cho thu gỗ, chúng tôi có quyền thu hoạch và bán những sản phẩm này dưới sự cho phép và hướng dẫn của kiểm lâm.  Việc làm này giúp nông dân chúng tôi không mắc nợ với rừng, giúp tăng độ che phủ của rừng và mang lại cho nông dân trồng rừng lợi ích chính đáng, có nguồn thu cụ thể với số lượng lớn. Khi rừng là của dân thì dân cũng không còn phải nhăm nhe chặt trộm cây gỗ, kiếm mấy cành củi như xưa nữa.
Chỉ vài ba năm nữa, nhà ai muốn làm cả cái nhà gỗ to cũng không còn phải lo tiền trăm, tiền tỷ đi mua gỗ lậu. Khi ấy gỗ, củi đều lấy từ rừng của nhà mình. Dân khai thác lâm sản trên rừng với tư cách chủ rừng chứ không phải tiều phu, lâm tặc. Vì thế nhiều hộ trồng hét diện tích đã đăng ký, lại xin cây giống trồng tiếp làm công ty cung ứng cây giống “cháy cả giáo án” đấy. (Dân Việt 11/2) đầu trang(
Để chủ động trong chỉ đạo, ứng phó kịp thời với nguy cơ xảy ra cháy rừng trong điều kiện thời tiết khô hạn, nắng nóng hiện nay, đặc biệt là trong thời gian trước, trong và sau Tết Nguyên đán năm 2015, Ủy ban Nhân dân tỉnh Gia Lai vừa có Công điện yêu cầu Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố; thủ trưởng các sở, ban ngành có liên quan thực hiện ngay một số biện pháp cấp bách phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR).
Theo đó, thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Tổng cục Lâm nghiệp, UBND tỉnh Gia Lai về việc triển khai các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô năm 2015; Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo Ban Chỉ huy PCCCR triển khai phương án bảo đảm lực lượng, phương tiện, dụng cụ chữa cháy rừng; thực hiện nghiêm túc công tác trực PCCCR và sẵn sàng huy động phương tiện, các lực lượng ứng phó trong trường hợp cháy rừng xảy ra; quản lý chặt chẽ việc đốt thực bì trong sản xuất nương rẫy và đốt đồng cỏ trong thời kỳ cao điểm của mùa khô…
Bên cạnh đó, Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh tăng cường kiểm tra, đôn đốc các huyện, thị xã thành phố và các đơn vị chủ rừng trong công tác PCCCR mùa khô năm 2015, Chủ động tham mưu cho UBND tỉnh các giải pháp PCCCR hiệu quả. Các Hạt Kiểm lâm huyện, thị xã; Đội Kiểm lâm Cơ động và PCCCR số 2 và các đơn vị chủ rừng luôn chủ động trong công tác PCCCR và sẵn sàng tham gia chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra; Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, phổ biến pháp luật về bảo vệ rừng và PCCCR cho người dân sống trong rừng và gần rừng; Các vụ cháy rừng xảy ra trên địa bàn phải được phát hiện kịp thời và dập tắt đám cháy ngay khi nguồn lửa mới phát sinh không để xảy ra cháy lớn…
Đồng thời, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, Công an tỉnh phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT (trực tiếp là Chi cục Kiểm lâm), UBND các huyện, thị xã, thành phố huy động lực lượng của đơn vị mình tham gia chữa cháy rừng khi có cháy rừng xảy ra. (Đài PTTH Gia Lai 10/2) đầu trang(
UBND tỉnh vừa ban hành Quy định mức chi cho các tổ chức, cá nhân được huy động hoặc tự nguyện tham gia ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng trái pháp luật và chữa cháy rừng; mức hỗ trợ để Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn tổ chức bảo vệ rừng tại cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Theo đó, quy định này áp dụng cho tất cả các tổ chức và cá nhân (bao gồm cả  lực lượng Công an, Quân đội, Kiểm lâm) được cấp có thẩm quyền huy động hoặc tự nguyện tham gia ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng trái pháp luật và chữa cháy rừng; Ủy ban nhân dân cấp xã có rừng trực tiếp quản lý trong phạm vi tỉnh Quảng Ngãi.
Quy định cụ thể các mức chi cho các tổ chức, cá nhân được huy động hoặc tự nguyện tham gia ngăn chặn chặt phá rừng trái pháp luật và chữa cháy rừng; mức hỗ trợ cho UBND cấp xã tổ chức bảo vệ rừng tại cơ sở.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/02/2015. (Quangngai.gov.vn 11/2) đầu trang(
Phú Yên: Vận chuyển gỗ lậu, hai đối tượng bị xử phạt 125 triệu đồng
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên Nguyễn Ngọc Ẩn ký hai quyết định xử phạt vi phạm hành chính 50 triệu đồng đối với 2 ông Nguyễn Văn Tiến và Đào Duy Thanh về hành vi vận chuyển lâm sản trái quy định pháp luật.
Văn phòng UBND tỉnh Phú Yên cho biết, ngày 9/2, Phó Chủ tịch Nguyễn Ngọc Ẩn đã ký hai quyết định xử phạt vi phạm hành chính 50 triệu đồng đối với ông Nguyễn Văn Tiến, 32 tuổi, trú ở thôn Định Phong, xã An Nghiệp, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên; xử phạt 75 triệu đồng đối với ông, 47 tuổi, trú ở thôn 11, xã Nam Bình, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
Cả hai đối tượng nêu trên đều bị xử phạt về hành vi vận chuyển lâm sản trái quy định pháp luật. (Công An Nhân Dân 11/2) đầu trang(
Dưới đây là bài viết trên báo Thanh Niên của tác giả Kiều Thị Ngọc Lan, một nhà giáo đang sống và làm việc tại TP.HCM.
Trong câu chuyện chém lợn và gần đây nhất là câu chuyện 3 tấn mèo bị cảnh sát môi trường tiêu hủy, tôi cho rằng mấu chốt vấn đề cần tranh luận có lẽ là ứng xử với loài vật (animal ethics) và câu chuyện về mối quan hệ giữa người và vật (animal-human relation).


Vậy thì chém lợn, tiêu hủy và chôn sống 3 tấn mèo là đúng hay là sai, xét từ phạm trù đạo đức (ethics, moral philosophy)? Cũng từ góc độ này, các câu hỏi có thể được đặt ra, đó là: Liệu chúng ta có quyền đối xử với loài vật như với một thứ thấp hèn, hạ đẳng hay không? Nếu có thì chúng ta và loài vật khác nhau ở đâu để dẫn tới việc chúng ta cho rằng chúng ta cao quý hơn loài vật? Nếu không thì thừa nhận quyền của loài vật như thế nào? Và nếu như loài vật cũng có quyền (giống như chúng ta có quyền con người) thì chúng ta cần có nghĩa vụ ứng xử như thế nào đối với chúng?
Ngoài ra, có sự khác biệt gì không trong ứng xử với động vật hoang dã, động vật gây nguy hiểm cho tính mạng con người và ứng xử với vật nuôi (ví dụ, chó, mèo)? Tiếp nữa, chúng ta cân bằng thế nào giữa các quyền của mỗi cá thể (individual rights) khi các quyền ấy mâu thuẫn nhau?
Chẳng hạn, nếu chúng ta cho rằng động vật nào cũng có quyền được sống, thế thì tại sao chúng ta có quyền ăn thịt một số động vật mà không bị lên án, nhưng khi ăn thịt một số động vật khác thì chúng ta lại bị lên án? Mặt khác, nếu động vật cũng có quyền được sống, vậy thì quyền sống của con người có được bảo vệ không khi quyền ấy bị đe dọa bởi động vật?
Gần đây tôi nghe trên BBC Radio (ngày 4.2.2015) câu chuyện một thợ săn người Uganda đã săn lùng và giết chết bằng được một con cá sấu bởi vì con cá sấu đó đã ăn thịt vợ bác cùng đứa con 8 tháng chưa kịp chào đời. Vậy thì việc giết một con cá sấu vì nó đe dọa tính mạng con người là đúng hay sai? Và, liệu có thể so sánh việc giết con cá sấu ăn thịt người với việc giết chết (chém chết) một con lợn không (chưa) gây hại gì đến ai cũng như việc tiêu hủy 3 tấn mèo có thể có nguy cơ gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng (dù chưa được kiểm chứng)?
Những phán xét thuộc phạm trù đạo đức (moral judgements), theo nhà triết học James Rachels (1993), không nên là những phán xét dựa trên sự yêu ghét cá nhân, cảm tính. Chẳng hạn, nếu như bạn không thích một tách cà phê, bạn có thể nói rằng bạn không thích và bạn không cần phải có lý do bào chữa cho việc bạn không thích. Bạn cũng không thể bắt tất cả mọi người phải cảm nhận theo cách của bạn: cùng ghét cà phê.
Tương tự, nếu bạn không thích việc chém lợn, bạn cũng không nên cưỡng ép mọi người phải căm ghét việc chém lợn. Hay nếu như bạn ghét ăn thịt mèo, bạn cũng không thể bắt người khác phải ghét ăn thịt mèo như bạn. Thế nhưng, nếu như bạn đặt vấn đề việc chém lợn, việc ăn thịt mèo, việc tiêu hủy mèo, là sai (morally wrong) thì đó không còn là sự yêu ghét cá nhân, cảm tính nữa. Và nếu bạn đưa ra được những lý do để chứng minh cho nhận định đó, và những người phản đối bạn không đưa ra được những lập luận thuyết phục hơn thì họ buộc phải chấp nhận rằng việc chém lợn là sai. Thí dụ, một trong những lý do thông thường vẫn được đưa ra để biện minh cho việc con người có quyền định đoạt sinh mệnh của loài vật là bởi vì con người có ngôn ngữ và năng lực tư duy.
Thế nhưng, nhà triết học Jeremy Bentham (thế kỷ 18) đã thách thức lập luận nói trên bằng các nghi vấn: Có thật sự động vật không có năng lực tư duy? Có thật sự động vật không biết nói? Có thật sự động vật không biết chịu đựng sự đau đớn? Ngày nay, khoa học đã chứng minh rằng động vật có khả năng suy nghĩ, thể hiện suy nghĩ theo cách riêng của chúng, và cũng có ngôn ngữ theo cách riêng của chúng. Như vậy, ngôn ngữ và khả năng suy nghĩ không phải là khả năng chỉ có ở loài người, và do đó, không thể là lý do để biện minh cho sự khác biệt giữa người và vật.
Giáo sư Clare Palmer (Đại học Texas, Austin, Mỹ) và giáo sư Peter Sandøe (Đại học Copenhagen, Đan Mạch) trong cuốn Animal Welfare (tạm dịch Phúc lợi động vật) đã cho rằng cái gọi là đúng và sai trong câu chuyện ứng xử với loài vật không phải là một “factual question” (loại câu hỏi có thể trả lời bằng thực chứng, bằng cách cân đong đo đếm). Hai học giả này đã tổng kết lại 5 quan điểm ứng xử với loài vật, đó là:
Thứ nhất, tuyệt đối độc tôn lợi ích của con người. Theo đó, trong ứng xử với loài vật, lợi ích của con người phải được đặt lên trên hết. Loài vật không thể và không bao giờ được coi là ngang bằng với con người.
Thứ hai, bắt nguồn từ lý thuyết “telos” của Aristotle, quan điểm thứ hai cho rằng trong ứng xử với loài vật, cái quan trọng là hiệu quả, là đích đến. Do vậy, việc giết chóc, chém giết loài vật có thể chấp nhận được nếu nó giúp cho sự sinh tồn của loài người. Tuy nhiên, ngoài lợi ích của con người, quan điểm này cũng xem xét đến việc giảm thiểu sự đau đớn cho loài vật. Theo đó, giết chết loài vật không phải là hành vi sai trái, nhưng sẽ là sai trái khi nó gây ra sự đau đớn cho loài vật.
Thứ ba, từ góc độ quyền của động vật (animal rights view), các nhà triết học, đạo đức học, và khoa học cho rằng động vật có nhu cầu, sở thích, và cũng có quyền (chẳng hạn, quyền được trải nghiệm cuộc sống, quyền được tự do sống, hay thậm chí quyền tự vệ). Luận điểm này nhấn mạnh rằng động vật là những sinh vật có cảm giác (sentient), cũng biết trải nghiệm các cung bậc cảm xúc và cũng biết đau đớn. Do vậy, quyền, nhu cầu, sở thích của loài vật cần phải được tôn trọng.
Thứ tư, quan điểm thứ tư cho rằng dù mỗi loài là mỗi cá thể nhưng vẫn có sợi dây liên hệ giữa cảm xúc của con người với cảm xúc của loài vật. Chẳng thế mà, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều câu chuyện về mèo cứu chủ, chó cứu chủ, mèo sưởi ấm cho em bé bị bỏ rơi, mèo là bạn của người già cô đơn. Có nghĩa là ở đây, phúc lợi của con người (human welfare) đã không thể tách rời với phúc lợi của động vật (animal welfare). Do vậy, hành vi đạo đức đúng đắn trong ứng xử với loài vật nên là sự cảm thông và quan tâm, chăm sóc lẫn nhau.
Thứ năm, quan điểm tôn trọng tự nhiên (respect for nature) cho rằng trong ứng xử với loài vật thì việc bảo vệ chúng khỏi họa tuyệt chủng mới là quan trọng nhất. Theo quan điểm này, chúng ta có thể giam giữ một con vật trong vườn thú để bảo tồn nòi giống cho chúng cho dù việc giam giữ này có thể mang đến sự bất tiện hay gây khó chịu cho con vật đó.
Tôi cho rằng những căn cứ mà tổ chức Animal Asia hay các nhà kêu gọi quyền của động vật đưa ra là dựa trên quan điểm thứ ba, quan điểm thừa nhận động vật cũng có khả năng cảm nhận, cảm giác như con người, và vì vậy chúng nên được đối xử bình đẳng và chúng không đáng phải chịu đựng sự đau đớn.Trong khi đó, phần lớn chúng ta đang đứng ở quan điểm thứ nhất để đối thoại. Vì vậy mà chúng ta không thể tìm được tiếng nói chung.
Ở một xứ sở văn minh như nước Úc, tôi vẫn thỉnh thoảng thấy kangaroo bị xe cán chết và hất lên lề đường. Tôi thậm chí đã chụp được một vài bức ảnh như vậy. Thịt kangaroo ở Úc vẫn bị xẻ bán hàng loạt và xuất sang các nước châu Âu. Tôi thậm chí cũng từng thử ăn thịt kangaroo. Nhưng sau khi nhìn thấy kangaroo thì tôi đã từ bỏ việc ăn thịt con vật này bởi vì tôi thấy chúng quá dễ thương. Tất nhiên, đây là lựa chọn ứng xử của cá nhân tôi. Tôi không thể cấm những người khác không ăn thịt kangaroo. Vấn đề ở đây là dù ăn thịt kangaroo nhưng người Úc vẫn quan tâm đến việc không làm cho con vật ấy phải chịu đựng sự hành hạ và đau đớn. Trong khi đó, ở Việt Nam, khái niệm phúc lợi động vật vẫn còn là một thứ rất xa lạ.
Trở lại với câu chuyện lễ hội chém lợn ở làng Ném Thượng. Tôi hiểu rằng mỗi vùng, mỗi nước sẽ có những phong tục, tập quán khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Các cụ làng Ném Thượng vẫn khăng khăng giữ tục lệ xưa cũ và tôi đồng ý là chúng ta không thể dùng tư duy đám đông để cưỡng ép một bộ phận thiểu số dân làng Ném Thượng tuân theo. Tuy nhiên, trong câu chuyện này, có lẽ chúng ta cũng nên bàn đến cách chúng ta tư duy về tính phổ quát (universalism) và tư duy về tính cá biệt (relativism) bởi theo tôi, hai cách tư duy này đều khiếm khuyết.
Tôi không ủng hộ tư duy phổ quát theo kiểu “nước ngoài làm vậy, trong nước mình cũng phải làm theo như vậy”. Tôi không cho rằng chúng ta cứ nhất thiết phải học theo phương Tây thì mới gọi là văn minh. Nhưng tôi cũng thấy cách tư duy cá biệt theo kiểu nhân danh truyền thống, pháp luật, văn hóa của một vùng miền, một quốc gia, là không thuyết phục, là thiếu tính phản biện. Hai cách tư duy nói trên, xét cho cùng, đều là tư duy đối lập (oppositional thinking), tức là kiểu tư duy hoặc là chỉ có anh đúng hoặc là chỉ có tôi đúng. Với kiểu tư duy đối lập này, chúng ta sẽ tạo ra những tranh cãi miên man bất tận (bởi vì hoặc là anh đúng hoặc là tôi đúng) nhưng sẽ khó có thể tìm được tiếng nói chung để giải quyết bất kỳ mâu thuẫn nào.
Với câu chuyện tiêu hủy 3 tấn mèo khi chưa có giấy chứng nhận kiểm dịch, ở góc độ pháp trị, tôi cho rằng đây là hành vi nóng vội, chủ quan. Ở góc độ đạo đức, tôi cho rằng đây là cách ứng xử tuyệt đối độc tôn lợi ích của con người. Ở góc độ nhận thức luận, tôi cho rằng đây là minh chứng cụ thể của tư duy nhị nguyên (binaristic thinking), tức là tư duy theo trật tự cao thấp, đối lập, trong đó con người được coi là trung tâm, là cao quý còn loại vật là hạ đẳng. Lối tư duy này đã bị phê phán và bị thách thức từ rất lâu bởi triết học hậu nhân sinh, hậu cấu trúc.
Cái khoảnh khắc mà Jacques Derrida (2008) cảm thấy mình trần trụi và xấu hổ là khi ông bắt gặp ánh nhìn của một chú mèo. Đó cũng chính là khoảnh khắc mà Derrida chợt nhận ra rằng đã có thể từ rất lâu rồi, động vật đã nhìn chúng ta, theo cái cách của chúng, để rồi chúng đã bóc mẽ sự yếu đuối và làm trào dâng nỗi hổ thẹn trong chúng ta. Vậy thì, đã bao giờ chúng ta thử nhìn, thử ứng xử với loài vật dưới con mắt của chính chúng, thay vì con mắt của chúng ta? Một số bạn bè tôi nói rằng họ yêu mến chú chó, chú mèo của họ. Họ dắt chó mèo đi cắt ống dẫn trứng, thắt buồng dẫn tinh. Họ lo sợ rằng nếu không làm như vậy, chó mèo của họ sẽ đi hoang, sẽ bị bắt cóc và sẽ trở thành mồi nhậu.
Tôi không phê phán cách ứng xử đó bởi vì tôi biết các quán nhậu thịt chó mèo vẫn mọc ra đầy rẫy và tất cả các chú mèo nhà tôi đều đã trở thành mồi nhậu do tôi không đưa mèo đi triệt sản. Nhưng tôi cũng tự hỏi rằng liệu sự bảo vệ đó là dựa trên nhu cầu và khao khát của chính chúng ta hay là từ chính động vật (from the animal’s eyes theo Derrida)?
Lại nhớ, trong phim Bicentenial Man (tạm dịch Người 200 tuổi), người máy Andrew đã ra tòa để đòi quyền con người. Tòa hỏi căn cứ vào đâu để tòa có thể công nhận quyền con người. Andrew đã lần lượt minh chứng rằng mình cũng có cảm xúc, cũng biết đau đớn, yêu thương, cũng biết ăn, ngủ, và cũng không bất tử. Cuối cùng, tòa đã buộc phải công nhận Andrew là con người, và cái giờ phút Andrew-người máy trở thành Andrew-người cũng chính là giờ phút khi mà ranh giữa người-vật-máy hoàn toàn bị xóa nhòa…(Thanh Niên 11/2) đầu trang(
Đột kích điểm nóng khai thác gỗ lậu tại một xã vùng biên
Những năm qua, khu vực tiếp giáp huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) và huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình) đã trở thành điểm nóng khai thác, tàn phá rừng của lâm tặc.
Sau khi nắm bắt được tình trạng khai thác gỗ lậu ở địa bàn xã Hương Lâm, huyện Hương Khê nóng trở lại, PV báo Đời sống và Pháp luật đã có cuộc thâm nhập và tìm hiểu một đường dây khai thác gỗ lậu hết sức tinh vi thuộc địa bàn này. Để có mục sở thị về thực trạng gỗ lậu nơi đây, chúng tôi đã phải vượt quảng đường khá xa. Qua đó đã ghi nhận được những chiêu thức khai thác và vận chuyển gỗ trái phép hết sức tinh vi của một số người dân bản địa.
Hương Lâm vốn là một địa danh nổi tiếng bởi từng được biết đến như một điểm nóng về gỗ lậu. Những đầu nậu cộm cán trong nghề buôn lậu gỗ lậu ở đây cũng khá nhiều. Hình ảnh đầu tiên, khi đến với xã vùng núi là cảnh tượng gỗ lậu có mặt ở khắp nơi. Hàng đống gỗ lộ thiên hai bên đường, trong mỗi khu vườn, từ đầu làng đến cuối xóm. Nếu vào đây lần đầu cũng rất dễ bắt gặp những người đàn ông trung tuổi đang vận chuyển một vài cây gỗ lớn, thoạt nhìn qua cũng đoán được những cây gỗ này còn tươi, vừa mới được đốn hạ từ một khu rừng nào đó. Và gỗ lậu xuất hiện ở Hương Lâm như một phần tất yếu của cuộc sống.
Đến địa điểm đầu tiên của xã Hương Lâm, PV đã bắt gặp ngay một tốp khoảng 5 người đàn ông đang dùng xe cải tiến hì hục đẩy những khúc gỗ lớn từ dưới chân núi lên. Thấy vậy, PV dừng chân bên đường, tiến đến để hỏi đường nhưng khi thấy người lạ, một thanh niên đã dừng công việc của mình, xông thẳng vào quát tháo, xua đuổi vì lo sợ một điều gì đó(?).
Theo một đầu nậu cộm cán trong nghề buôn lậu gỗ nay đã hoàn lương, từ ngày xưa, người dân xã Hương Lâm sống chủ yếu dựa vào rừng và nay vẫn vậy. Hết rừng gần thì họ tìm rừng xa, vào Quảng Bình hoặc vượt biên giới sang tận Lào để khai thác gỗ, nuôi sống gia đình.“Cách đây 5 năm về trước gỗ được khai thác, vận chuyển, hay mua bán ở Hương Lâm đều diễn ra công khai, không lén lút. Chính quyền, các cơ quan chức năng ở đây, hình như xem đó là điều đương nhiên và tất yếu. Nhưng hai năm qua, các cơ quan làm chặt nên đã lắng xuống một thời gian, mới đây điểm nóng này bắt đầu đã trở lại”, người đàn ông này cho biết.
Điều đáng nói ở đây, khi gỗ ở trên rừng được người dân vận chuyển về thì ngay sau đó những đầu nậu gỗ sẽ tìm đến để ra giá. Những đầu nậu sẽ tìm mọi thủ đoạn tinh vi để đưa gỗ ra khỏi vùng giáp ranh đầy nhạy cảm này.
Được biết, hơn 2/3 số người dân thuộc xã Hương Lâm kinh tế đều phụ thuộc vào gỗ và rừng. Chính vì khai thác rừng một cách tàn khốc, không theo một cách thức nào nên rừng ở Hương Lâm đã được người dân nơi đây cạo trọc từ nhiều năm trước. “Hiện nay, gỗ ở những cánh rừng thuộc Hương Lâm và một số xã lân cận đã không còn một gốc nào. Gỗ chủ yếu được người ta khai thác từ những cánh rừng của Quảng Bình và Lào. Nhiều nhất, tập trung nhất vẫn là những cánh rừng của huyện Tuyên Hóa, thuộc vùng giáp ranh giữa Quảng với Hà Tĩnh. Vùng rừng này có nhiều loại gỗ quý như: sến, táu, de, lim…”.
Ông Nguyễn Huy Lợi, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh cho biết, khu vực xã Hương Lâm, từ nhiều năm nay luôn được coi là một điểm nóng về khai thác gỗ trái phép. Mới đây, vào rạng sáng ngày 8/2/2015, lực lượng kiểm lâm và bộ đội biên phòng Hà Tĩnh trong quá trình tuần tra, đã phát hiện 220 bê gỗ quý, đang được bọn lâm tặc tập kết dọc bờ sông Rào, thuộc xã Hương Lâm. Số gỗ vô chủ trên, được bọn lâm tặc khai thác ở một khu vực rừng sát biên giới Việt - Lào thuộc tỉnh Quảng Bình. Lợi dụng những ngày giáp tết Nguyên Đán, bọn chúng đã vận chuyển gỗ bằng đường sông, đưa qua địa phận huyện Hương Khê để tiêu thụ thì bị phát hiện. (Đời Sống Pháp Luật 12/2) đầu trang(
Nhằm kịp thời động viên các chiến sỹ kiểm lâm đang làm nhiệm vụ bảo vệ rừng trong dịp tết Nguyên đán Ất Mùi, ngày 10/02, ông Nguyễn Đình Quang, Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã đến thăm và tặng qua các cán bộ, chiến sỹ Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Na Hang. 



Huyện Na Hang hiện có trên 54.000 ha rừng, trong đó diện tích rừng đặc dụng là 23.000 ha, cùng với đó là hệ thảm động thực vật phong phú và đa dạng, với nhiều loại gỗ quý, nhiều loại động vật đã có tên trong sách đỏ thế giới. Để quản lý, bảo vệ và phát triển sự đa dạng của hệ động thực vật trong các cánh rừng, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Na Hang hiện có 6 trạm và 13 chốt với trên 70 cán bộ kiểm lâm và nhân viên viên tuần rừng.
Tại những địa điểm đến thăm, sau khi nghe báo cáo tình hình và công tác chuẩn bị đón Tết Nguyên đán Ất Mùi, ông Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã ghi nhận và biểu dương những kết quả đã đạt được trong công tác bảo vệ rừng của cán bộ, chiến sỹ kiểm lâm đang làm nhiệm vụ tại các trạm, chốt. Đồng thời đề nghị cán bộ, chiến sĩ Kiểm lâm rừng đặc dụng Na Hang tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. (Đài PTTH Tuyên Quang 11/2) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo các chuyên gia nông nghiệp, dù có nhiều tiềm năng nhưng việc phát triển ồ ạt cây mắc ca ở Việt Nam có thể làm vỡ quy hoạch, mất cân đối cung - cầu.
Thời gian gần đây, dư luận đang nhắc nhiều tới một loại cây được mệnh danh là “nữ hoàng” của các loại quả khô. Cũng có người cho rằng, nó có thể trở thành một loại cây tỉ USD, giúp tăng hiệu quả sản xuất của ngành nông nghiệp - cây mắc ca. Điều này một lần nữa lại được khẳng định trong một cuộc hội thảo vừa được tổ chức tại Lâm Đồng vào tuần trước đưa ra nhiều ý kiến sẽ phát triển cây mắc ca trở thành cây công nghiệp chiến lược mới, mang lại giá trị cao.
Mắc ca có nguồn gốc xuất xứ từ các rừng cận nhiệt đới châu Úc. Khi được chuyển về trồng ở Hawaii, Mỹ, nó trở thành sản phẩm được xuất khẩu với quy mô lớn. Theo nghiên cứu của các chuyên gia, nhân hạt mắc ca có chứa nhiều đường bột, chất khoáng, vitamin, với hàm lượng dầu tới 78%, cao hơn lạc, hạt điều. Các chuyên gia còn so sánh 2 thìa cà phê bột mắc ca có lượng canxi nhiều gấp 3 lần 1 cốc sữa đầy.
Ngoài ra, hạt mắc ca còn có công dụng trong việc giảm cholesterol, chữa các bệnh về trầm cảm, bổ xương, khớp, giúp tăng cường trí nhớ…
Hiện, 1kg hạt mắc ca được bán với giá 3,5 USD. Australia hiện đang nắm giữ 40% sản lượng hạt mắc ca cung cấp cho toàn thế giới, với tổng giá trị thương mại lên tới khoảng 200 triệu USD/năm. Tiếp theo là Hawaii, Nam Phi và nhiều nước ở châu Phi.
Với nhiều công dụng trong sức khỏe, hạt mắc ca đang rất được ưa chuộng tại thị trường Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Do vậy, một số nước ở châu Á như Trung Quốc, Thái Lan đang đưa vào sản xuất loại cây này.
Tại Việt Nam, cây mắc ca được đưa giống về từ Australia vào năm 2004, nhưng sau khi khảo nghiệm, đến năm 2013, 10 giống mắc ca đạt chất lượng mới được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép đưa vào trồng. Và thực tế ở Tây Nguyên, những cây mắc ca đã cho thu hoạch.
Quả mắc ca hiện được bán với giá khoảng 150.000 đồng/kg, chủ yếu để làm giống. Theo tính toán, giá trị này cao gấp 2 lần so với chè và 3 lần so với cà phê. Điều kiện sinh thái của khu vực Tây Nguyên được đánh giá là phù hợp nhất với cây mắc ca. Do đó, cây mắc ca đã xuất hiện ở cả 5 tỉnh Tây Nguyên, với diện tích hơn 1.600 ha.
Mắc ca là 1 trong 7 cây lâm sản ngoài gỗ, trong nhóm 25 cây chủ lực của ngành nông nghiệp. Nó có thể trở thành cây công nghiệp chiến lược mới, mang về hàng tỉ USD, tiến tới mở rộng diện tích trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, đó cũng mới chỉ là những kỳ vọng, còn trên thực tế đã có nhiều bài học kinh nghiệm về việc ồ ạt trồng, vỡ quy hoạch, mất cân đối cung - cầu, ép giá của các mặt hàng nông sản. Nhiều chuyên gia nông nghiệp và các nhà khoa học nhấn mạnh việc phát triển cây mắc ca ở Việt Nam thành cây công nghiệp chiến lược mới là không thể nóng vội. Bởi dù có nhiều tiềm năng nhưng việc làm này ở Việt Nam vẫn còn không ít rào cản. (VTV 12/2) đầu trang(
5/02 tại Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR số 1, Cụm thi đua số 2 gồm 07 đơn vị là: Đội Kiểm lâm CĐ và PCCCR số 1, Hạt Kiểm lâm TP Thanh Hóa, Tĩnh Gia, Nông Cống, Ven Biển, Hà Trung và Thọ Xuân đã tổ chức hội nghị ký kết giao ước thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2015.
Tham dự và chỉ đạo hội nghị có ông Mai Hữu Phúc, Phó Chi cục trưởng; Lê Xuân Cả, Trưởng phòng QLBVR; Thủ trưởng, Chủ tịch BCH Công đoàn của 07 đơn vị trong Cụm thi đua số 2. Ông Nuyễn Văn Hùng – Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR số 1, Cụm trưởng Cụm thi đua số 2 thông qua Kế hoạch hoạt động công tác thi đua Cụm số 2 năm 2015; Phát động phong trào thi đua năm 2015 và Bản giao ước thi đua năm 2015.
Hội nghị đã thảo luận về phát động phong trào thi đua năm 2015; giao ước thi đua năm 2015 của Cụm, bám sát các quan điểm chỉ đạo của Chi cục trưởng và BCH công đoàn Chi cục Kiểm lâm phát động, các đơn vị trong Cụm thi đua số 2 đã triển khai thực hiện nghiêm túc, tạo không khí sôi nổi, hăng say lao động cho CB CC, VC, LĐHĐ. Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trong Cụm, hội nghị đã thảo luận thống nhất mục tiêu, chỉ tiêu, nội dung thi đua và những giải pháp thực hiện của Cụm năm 2015.
Sau khi thảo luận, Thủ trưởng các đơn vị trong Cụm đã đi đến thống nhất và ký kết giao ước thi đua năm 2015 và phấn đấu đạt Cụm dẫn đầu trong phong trào thi đua của lực lượng Kiểm lâm năm 2015. (Kiểm Lâm Thanh Hóa 10/2) đầu trang(
Sáng 11/2, UBND tỉnh Nghệ An tổ chức hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết 30 của Bộ Chính trị, Nghị định 118 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty TNHH MTV nông lâm nghiệp tỉnh Nghệ An.
Ông Hoàng Viết Đường- Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị.
Tại hội nghị, các đại biểu đã nghe Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quán triệt và triển khai Nghị quyết 30 của Bộ Chính trị và Nghị định 118 của Chính phủ, Thông tư 02 của Bộ NN&PTNT về sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty TNHH MTV nông lâm nghiệp và hướng dẫn các đơn vị xây dựng đề án chuyển đổi...
Đại diện Sở Tài nguyên - Môi trường, Tài chính, Lao động - Thương binh và Xã hội cũng đã hướng dẫn về đo đạc, lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thuê đất, xác định giá trị doanh nghiệp, xử lý các vấn đề tài chính trước và sau khi chuyển đổi doanh nghiệp, chế độ với người lao động dôi dư khi sắp xếp, chuyển đổi…
Kết luận tại hội nghị, ông Hoàng Viết Đường - Phó Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở NN&PTNT phối hợp với các sở, ngành liên quan trong quá trình thực hiện sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty TNHN MTV nông lâm nghiệp. Các công ty TNHH MTV nông lâm nghiệp cần nghiên cứu kỹ Nghị quyết 30 của Bộ Chính trị và Nghị định 118 của Chính phủ, Thông tư 02 của Bộ NN&PTNT để biết đơn vị nằm trong danh mục, loại hình nào để đề xuất đưa các phương án cho ban chỉ đạo của tỉnh. Cần rà soát các vướng mắc giữa đơn vị với địa phương, doanh nghiệp, xác định giá trị của đơn vị... , yêu cầu Ban chỉ đạo tập trung thực hiện để đến tháng 9 năm 2015 sẽ hoàn thành việc sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả của các công ty TNHH MTV nông lâm nghiệp tỉnh Nghệ An. (Báo Nghệ An 11/2) đầu trang(
“Năm Thanh niên tình nguyện 2014”, Tỉnh Đoàn Bắc Kạn tổ chức trồng được 2.274 ha rừng, trong đó 1.734 ha rừng tập trung và 540 ha cây phân tán, vượt kế hoạch đề ra là 74 ha.
Anh Đặng Đức Chiến, Phó Bí thư Tỉnh Đoàn cho hay, để có được kết quả trên, từ cuối năm 2013, Tỉnh Đoàn rà soát thực trạng diện tích đất và phối hợp với Sở NN& PTNT tỉnh ban hành kế hoạch trồng rừng sản xuất, trồng cây phân tán và ươm giống cây lâm nghiệp. “Căn cứ vào diện tích rừng thực tế, Tỉnh Đoàn phân bổ chỉ tiêu cho các huyện, thị xã hợp lý, thống nhất. Từ đó, các huyện, thị đoàn chỉ đạo đoàn các xã, phường, thị trấn vận động đoàn viên thanh niên (ĐVTN) đăng ký trồng rừng sản xuất. Đoàn cấp xã chỉ đạo các chi đoàn lập danh sách ĐVTN làm chủ hộ và gia đình có ĐVTN đảm nhận”, anh Chiến chia sẻ quá trình chỉ đạo trồng rừng.
Các huyện, thị đoàn phối hợp với ngành nông nghiệp tổ chức các buổi tập huấn về tận xã, hỗ trợ thêm kinh phí giúp các ĐVTN nắm vững kỹ thuật trồng rừng ươm giống cây lâm nghiệp. Nhờ sự quan tâm, chỉ đạo sát sao đó, ĐVTN hăng hái tham gia, số lượng đăng ký vượt cả chỉ tiêu đề ra (chỉ tiêu trồng 2.200 ha, diện tích thực tế trồng được 2.274ha). “Nhờ được hướng dẫn kỹ thuật, nên cây trồng được các bạn ĐVTN chăm sóc, phát triển tốt. Sau một năm, nhiều diện tích đồi núi trọc đã được phủ kín bằng màu xanh tràn đầy sức sống”, anh Chiến nói.
Cùng với việc trồng và phát triển rừng, công tác bảo vệ rừng cũng được đoàn thanh niên các cấp trong tỉnh chú trọng. Rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng đặc dụng, rừng sản xuất được thanh niên cùng với nhân dân và lực lượng chức năng bảo vệ nghiêm ngặt. Thông qua các các sinh hoạt Đoàn, chi Hội, các đồng chí cán bộ Đoàn đã lồng ghép các chương trình tuyên truyền công tác bảo vệ và trồng rừng, vì thế trong những năm trở lại đây tình trạng thanh niên phát nương làm rẫy giảm hẳn.
Năm 2015, Tỉnh Đoàn Bắc Kạn tiếp tục chỉ đạo trồng 2.000 ha rừng sản xuất, trồng cây phân tán, góp phần xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. (Tiền Phong 12/2) đầu trang(
11/2, UBND tỉnh Quảng Nam đã phê duyệt Phương án hỗ trợ kinh phí giao khoán rừng đến nhóm hộ thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2014.
Theo đó diện tích giao khoán rừng 80.061ha/245 nhóm hộ/3.862 hộ. Đơn vị thực hiện giao khoán rừng gồm có các ban quản lý rừng phòng hộ: Đăk Mi, Sông Tranh, Bắc Sông Bung, Nam Sông Bung; Khu Bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, Vườn Quốc gia Bạch Mã và các Hạt kiểm lâm: Bắc Trà My, Đại Lộc. Tổng số tiền chi trả hỗ trợ giao khoán rừng hơn 1,2 tỷ đồng, chi từ nguồn kinh phí hoạt động (10%) của Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh.
Để tổ chức thực hiện, UBND tỉnh giao Sở NN-PTNT chủ trì, phối hợp với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Quảng Nam triển khai việc hỗ trợ kinh phí giao khoán rừng theo chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đúng quy định hiện hành. (Nông Nghiệp VN 12/2) đầu trang(
Thái Nguyên: Triển khai Tết trồng cây Đời đời nhớ ơn Bác Hồ
Thực hiện Tết trồng cây do Bác Hồ khởi xướng, những năm qua, các địa phương, cơ quan, đơn vị và nhân dân trong tỉnh đã tích cực hưởng ứng tham gia.
Bình quân hằng năm, toàn tỉnh trồng được trên 5.000ha rừng và gần 1 triệu cây phân tán góp phần nâng độ che phủ của rừng lên 51,4%. Qua đó có thể khẳng định, Tết trồng cây Đời đời nhớ ơn Bác Hồ đã trở thành nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam nói chung và đồng bào các dân tộc trong tỉnh nói riêng.
Thực hiện Chỉ thị số 10415 ngày 27-12-2014 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về phát động Tết trồng cây Đời đời nhớ ơn Bác Hồ nhân dịp Xuân Ất Mùi năm 2015, Sở Nông nghiệp và PTNT đã có văn bản  đề nghị các địa phương, cơ quan đơn vị trong tỉnh, vận động mọi tầng lớp nhân dân tham gia trồng cây, trồng rừng và bảo vệ rừng, không để xảy ra tình trạng phá rừng, đốt rừng và buôn bán lâm sản trái phép; chuẩn bị các điều kiện tốt nhất để thực hiện Tết trồng cây và Dự án Hàng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ. Dự kiến trong dịp này, toàn tỉnh trồng 1,6 triệu cây phân tán. (Báo Thái Nguyên 11/2) đầu trang(
Ở Việt Nam, duy nhất chỉ một nhà sư được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học - Công nghệ) cấp bằng độc quyền sáng chế là thượng tọa Thích Huệ Đăng (thế danh Nguyễn Văn Sáu) ở chùa Thanh Quang, Đà Lạt (Lâm Đồng)...
Chùa Thanh Quang nằm kề hồ Tuyền Lâm. Nơi đây cũng chính là Cty TNHH Xuất khẩu hoa lan Thanh Quang nổi tiếng.
Thượng tọa Thích Huệ Đăng ở Lâm Đồng là người vốn rất nổi tiếng trong việc trồng hoa lan cao cấp và thầy càng nổi tiếng hơn khi năm 2012 được cấp bằng sáng chế độc quyền với công trình “Quy trình trồng cây sâm Ngọc Linh nuôi cấy mô”.
Nhớ lần đầu gặp thầy Huệ Đăng (cách nay khoảng mười năm), tôi được vị sư tuổi 65 này đưa cho hai tấm danh thiếp; tấm thứ nhất ghi: “Giáo hội Phật giáo Việt Nam, giảng sư Thích Huệ Đăng - Ủy viên Ban Hoằng pháp Trung ương, giảng viên cao đẳng chuyên khoa Phật học...”, tấm thứ hai: “Cơ sở sản xuất hoa lan Đà Lạt Thanh Quang; chuyên cung cấp địa lan, phong lan, hồng môn...”.
Thầy Huệ Đăng đi tu từ khá sớm, đến nay đã có hơn 50 năm tu hành. Trước, thầy tu trong một ngôi chùa ở tỉnh Đồng Nai. Đến năm 1985, thầy Huệ Đăng lên Đà Lạt mở tịnh thất và trồng hoa lan.
Ở Đà Lạt khoảng mười năm về trước thật khó tìm ra một vườn hoa lan bảng A lên đến vài chục ngàn chậu như vườn hoa của cơ sở sản xuất hoa lan Thanh Quang của thầy Huệ Đăng.
Những năm 80, vào các dịp tết, khi thị trường hoa lan còn hẹp, thầy Huệ Đăng cùng với các đệ tử đã từng chở cả xe tải hoa lan xuống TP.HCM để triển lãm và bán lấy tiền.
Trước câu hỏi khá thẳng thắn của tôi liên quan đến chuyện “tham - sân - si”, vị sư trả lời: “Con người chúng ta có toàn quyền lựa chọn cho mình con đường đau khổ hay hạnh phúc, vì Vạn pháp là do tâm sanh. Chính bản thân ta quyết định vận mệnh của mình chứ không phải một ai khác.
Có nghĩa là tự ta lựa chọn con đường bản năng với tham - sân - si, hoặc là vươn lên để tự tại. Và, đạo không thể tách khỏi đời”.
Thầy Huệ Đăng nói tiếp: “Hành đạo mà chẳng giúp gì được cho đời thì vô nghĩa. Hành đạo không thể xa rời thực tế. Bởi vì đạo Phật của con người là từ chân tâm của con người phát ra.
Nếu không có con người thì làm sao có đạo Phật, vì đạo Phật là đạo của người, muốn hiện thực được đạo thì phải lấy ở nơi người tự chứng...”.
Mấy chục năm qua, với “lý lẽ” ấy, vị sư già này đã ngày ngày làm vườn, chăm lan, đêm về gõ mõ tụng kinh và viết sách. Thầy bảo rằng do vốn không “trường” như những người kinh doanh lan khác ở Đà Lạt nên cách làm của thầy là lấy ngắn nuôi dài: Trồng hồng môn (thu hoạch nhanh) để nuôi hoa lan, lấy hoa lan để viết sách... Với lại, theo cách nghĩ của thượng tọa Thích Huệ Đăng là “trồng hoa lan để góp phần tôn vinh cái đẹp của Đà Lạt”.
Thầy nói thêm: “Tình đời nóng lạnh để trừng tâm. Gió sương bên đường để hiểu tâm. Điều quan trọng là làm ra đồng tiền có đúng tâm và sử dụng đồng tiền đó có mất tâm hay không!”. Đến lúc này, vườn lan Thanh Quang của thượng tọa Thích Huệ Đăng có đến 100.000 chậu (một con số mơ ước của giới kinh doanh hoa lan Đà Lạt), mà hầu hết chỉ toàn lan bảng A, trong đó có nhiều giống nhập về từ Úc, Hà Lan...
Hơn thế, cách nay khoảng chục năm, thượng tọa Thích Huệ Đăng còn tiến hành một nghiên cứu tuy không lớn về quy mô nhưng về ý nghĩa của công trình này lại rất lớn, rất thiết thực trong việc bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường: Thay thế giá thể trồng lan từ cây dớn (lấy từ rừng) bằng giá thể vỏ cà phê - một thứ phế thải trong sản xuất nông nghiệp thường gây ô nhiễm môi trường. Và thầy đã thành công!
Ngày nay, đến Cty Xuất khẩu hoa lan Thanh Quang do thượng tọa Thích Huệ Đăng làm giám đốc, không ai mà không bất ngờ khi ngay trong ngôi chùa này (cũng là cơ sở trồng hoa, trồng sâm) lại có một cơ sở nghiên cứu nuôi cấy mô thực vật hiện đại với đội ngũ nhân viên là những nhà khoa học khá đông đến như vậy!
Từ cơ sở nuôi cấy mô dưới sự chỉ huy của thượng tọa - giám đốc Thích Huệ Đăng, đến nay đã có hàng trăm ngàn cây sâm giống từ nuôi cấy mô trong phòng thí nghiệm được chuyển đi khắp nơi để trồng.
Điều thú vị là từ phòng nuôi cấy mô của thầy Huệ Đăng, đã có cả chục ngàn cây sâm giống chở ngược về Kon Tum - quê hương của cây sâm Ngọc Linh để trồng.
Có thể nói, sự thành công của thượng tọa Thích Huệ Đăng trong việc di thực được giống sâm Ngọc Linh từ núi Ngọc Linh (Kon Tum) về Đà Lạt là việc làm có một ý nghĩa rất đặc biệt. Hành trình đi tìm cây sâm Ngọc Linh của nhà sư Thích Huệ Đăng được tiến hành lần đầu tiên vào năm 2008.
Chuyến đi lần ấy của thầy Huệ Đăng cùng các đệ tử dẫu nếm trải nhiều gian nan nhưng vị sư già cảm thấy rất vui khi nhìn thấy cây con đầu tiên trên đỉnh Ngọc Linh có độ cao trên 2.500m và phát tâm nguyện: Đưa bằng được cây sâm Ngọc Linh về Đà Lạt và đưa vào phòng thí nghiệm để nhân giống nhằm tạo ra nguồn dược liệu dồi dào phục vụ mọi người.
Kết quả chuyến đi đầu tiên với số lượng 10 cây giống được mang về vẫn chưa đủ để phục vụ cho việc nghiên cứu, do vậy ngay vào năm sau - 2009, thầy Huệ Đăng cùng đệ tử tiếp tục hành trình sang liên sơn Ngọc Linh thuộc vùng Quảng Nam để di thực tiếp 100 cây giống.
Bắt đầu từ đây, cùng với việc trồng lan quy mô lớn, thượng tọa Thích Huệ Đăng còn bắt tay vào việc nghiên cứu nhân giống cây sâm Ngọc Linh bằng phương pháp vô tính hoàn toàn sạch bệnh.
Phòng thí nghiệm của Cty Xuất khẩu hoa lan Thanh Quang được tiếp tục đầu tư mở rộng. Và ba năm sau đó, sự thành công đã đến với thầy và các cộng sự.
Thầy cho biết: “Tôi đã sang tận Hàn Quốc - xứ sở của sâm để nghiên cứu, học hỏi cách nhân giống loại cây này, và cuối cùng tôi đã chọn phương pháp nhân giống vô tính”.
Đến nay, đã có hàng trăm ngàn cây giống của thứ “thần dược” này được “sinh ra” từ phòng thí nghiệm của thầy Huệ Đăng, đồng thời cũng đã có năm, bảy chục ngàn cây giống được đưa đi các nơi để trồng.
Thầy Huệ Đăng nói: “Tôi muốn ngày càng có nhiều người “sở hữu” những dược phẩm được bào chế từ sâm Ngọc Linh. Và điều đó chỉ có được khi cây sâm Ngọc Linh trở nên phổ biến chứ không phải là thứ “thần dược” như hiện tại”.
Cho đến lúc này, lịch sử Phật giáo Việt Nam đã lưu vào trang vàng của mình một cái tên duy nhất của một vị sư đầu tiên trở thành nhà khoa học được cấp bằng sáng chế từ một công trình nghiên cứu có ý nghĩa rất đặc biệt cho cộng đồng xã hội: Thượng tọa Thích Huệ Đăng, thế danh Nguyễn Văn Sáu!
Quả thật ở Đà Lạt, không phải bất kỳ ai làm nông nghiệp công nghệ sạch cũng đều hướng đến mục tiêu duy nhất là phát triển kinh tế. Trong những người làm nông nghiệp công nghệ cao không chỉ vì kinh tế mà còn vì những lẽ khác, vì sự phát triển chung cho Đà Lạt thì những kỹ sư Nghiêm Văn Minh, luật sư Nguyễn Quốc Minh và thượng tọa Thích Huệ Đăng mà chúng tôi đề cập là những điển hình! (Vietnamnet 12/2) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Vùng biển Caribbean gần quần đảo Bahamas có một đàn lợn hoang dã sinh sống. Chúng không chỉ biết bơi mà còn bơi điệu nghệ, thu hút sự chú ý của nhiều du khách. (Zing 11/2) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang