|
Ngày 13 tháng 02 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Chiều tối 12-2, ông Nguyễn Vũ Khôi, Giám đốc của Tổ chức WAR đã nhờ phóng viên Pháp Luật TP.HCM mua lại một con cá trê lạ do người dân bắt được trên sông Sài Gòn.
Người bắt được con cá này là anh Nguyễn Hồng Sơn ( sống tạm trên ghe ở khu vực cầu Bến Phân, quận Gò Vấp), làm nghề đánh bắt cá ở địa bàn TP.HCM.
“Tôi thả lưới bắt được con cá này vào ngày hôm qua, tại khúc sông gần cầu Bình Triệu. Thấy nó đẹp quá nên tôi giữ lại để bán cho những người nuôi cá cảnh cho được giá”, anh Sơn nói.
Anh Sơn cho biết, mấy chục năm đánh bắt cá ở sông Sài Gòn, đây là lần đầu tiên anh bắt được cá trê có màu sắc lạ như thế này.
Theo qua quan sát của chúng tôi, con cá trê này có màu trắng hồng, nặng khoảng 2 kg, hiện vẫn còn rất khỏe mạnh.
Nhận được thông tin từ phóng viên Pháp Luật TP.HCM, ông Nguyễn Vũ Khôi đã quyết định mua con cá này để phục vụ công tác nghiên cứu, bảo tồn.
“Qua miêu tả, tôi đoán con cá này có thể bị “bạch tạng” do đột biến gien. Tuy nhiên, phải đợi đến ngày mai (13-2), các chuyên gia của chúng tôi sẽ xem kỹ mới có thể đưa ra nhận định chính xác hơn”, ông Khôi nói.
Tối cùng ngày, con cá trê lạ đã được chúng tôi đưa về trụ sở của WAR tại quận Bình Thạnh (TP.HCM). Cho đến lúc này con cá vẫn bơi lội tung tăng.
Biết người mua nhằm mục đích nghiên cứu, ông Sơn chỉ bán với giá 300 nghìn đồng. (Đời Sống Pháp Luật + Người Đưa Tin + VTC 13/2; Pháp Luật TPHCM 12/2) đầu trang(
Huyện Tân Sơn có diện tích lâm nghiệp chiếm trên 80% diện tích lại giáp ranh với 5 huyện, trong đó có 3 huyện tỉnh ngoài gồm Đà Bắc (Hòa Bình), Phù Yên (Yên Bái), Văn Chấn (Yên Bái).
Ngoài ra trên địa bàn còn có Vườn quốc gia Xuân Sơn, Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Bứa, hai công ty lâm nghiệp cùng hoạt động quản lý rừng và đất rừng. Đây hầu hết là địa hình miền núi cao, chủ yếu tập trung đồng bào dân tộc ít người sinh sống, trong đó có nhiều hộ có quan hệ dòng tộc, nhiều mối quan hệ làm ăn, sinh sống đan xen liên huyện, liên tỉnh.
Điều này có nhiều ưu điểm xây dựng tình nghĩa, tương trợ nhau trong làm ăn, sinh sống xây dựng cộng đồng song cũng dễ tạo phức tạp trong quản lý địa bàn vùng giáp ranh, nhất là đối với rừng, đất rừng. Để nâng cao hoạt động quản lý bảo vệ xã hội nói chung quản lý bảo vệ rừng nói riêng đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành chức năng với nhau.
Thực tế trải qua hàng chục năm cho thấy do đặc thù vùng cộng đồng dân cư có đông đồng bào thiểu số sinh sống ở miền núi còn lưu giữ nếp sống du canh, du cư, cộng với cuộc sống khó khăn nên việc xâm canh đốt rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản trái phép… dễ xảy ra nếu không quản lý tốt.
Để hạn chế tình trạng xâm canh, xâm cư, nhất là vi phạm lâm luật, Hạt kiểm lâm đã phối hợp với các ngành chức năng của huyện Tân Sơn tham mưu với cấp ủy, chính quyền xây dựng quy ước phối hợp quản lý vùng giáp ranh với các địa phương tỉnh bạn, các đơn vị lâm nghiệp trên các lĩnh vực quản lý địa giới hành chính, bảo vệ an ninh trật tự, bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, xây dựng khối đại đoàn kết, tương trợ nhau.
Trong đó quy định rõ các bên tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhân dân vùng giáp ranh có ý thức tôn trọng địa giới vùng giáp ranh được Chính phủ quy định theo Chỉ thị 364/CP năm 1991; thường xuyên phối hợp kiểm tra, phát hiện ngăn chặn kịp thời hiện tượng xâm canh, xâm cư, có biện pháp giải quyết, xử lý đúng quy định pháp luật các trường hợp vi phạm.
Đặc biệt với công tác bảo vệ rừng ngoài tôn trọng địa giới hành chính còn phải tuyên truyền để người sống ở vùng giáp ranh có ý thức quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng. Chính quyền các xã và kiểm lâm các huyện cùng nhau lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Chính phủ về tăng cường biện pháp cấp bách bảo vệ rừng, xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý bảo vệ rừng, ngăn chặn, truy quét các tổ chức, cá nhân có hành vi phá hoại rừng, khai thác, mua bán, tàng trữ, vận chuyển lâm sản trái phép; kịp thời nắm bắt tình hình thông báo kịp thời cho nhau các diễn biến liên quan có biện pháp giải quyết… Hàng năm các huyện họp đánh giá kết quả phối hợp 1-2 lần, các trạm kiểm lâm thường xuyên tuần tra, trao đổi nắm thông tin.
Trên cơ sở quy ước phối hợp, Hạt kiểm lâm huyện đã chỉ đạo các trạm kiểm lâm phối hợp với các xã giáp ranh đẩy mạnh thực hiện tốt các Chỉ thị 12, 08, 04 của Thủ tướng Chính phủ; thường xuyên kiểm tra, giám sát, đôn đốc cơ sở thực hiện nghiêm phương án bảo vệ, phát triển rừng và PCCCR; quy ước bảo vệ rừng. Đặc biệt kiểm lâm giữ vai trò chủ đạo triển khai, thực hiện các quy chế phối hợp giữa kiểm lâm huyện với Vườn quốc gia Xuân Sơn, Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Bứa, kiểm lâm 5 huyện giáp ranh; làm tốt chức năng tham mưu, thực hiện hoạt động kiểm tra liên ngành về quản lý bảo vệ rừng do Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì và thường xuyên đẩy mạnh hoạt động tuần tra, kiểm soát ngăn chặn vi phạm. Trong đó đặc biệt quan tâm tập trung ở những địa bàn một số vùng giáp ranh địa dư rộng, có nhiều hộ dân tộc sinh sống hay xảy ra vi phạm lâm luật như khu vực các xã Đồng Sơn, Trung Sơn, Thu Cúc...
Do chủ động tuần tra, phối hợp nên hàng năm đã kịp thời phát hiện nhiều hộ xâm canh phát rừng làm nương rẫy, tuyên truyền, ngăn chặn không cho tái diễn. Đặc biệt hoạt động khai thác lâm sản trái phép hạt kiểm lâm không chỉ phát hiện ngăn chặn có hiệu quả nhiều vụ khai thác, buôn bán trái phép, mà còn kịp thời có biện pháp xử lý một số đối tượng lợi dụng khai thác lâm sản trái phép ở vùng giáp ranh phù hợp, được huyện bạn đánh giá cao.
Riêng năm 2014 đã phát hiện bắt, xử lý hành chính 8 vụ phá rừng, khai thác vận chuyển mua bán lâm sản trái phép; riêng khu vực giáp ranh huyện Đà Bắc có 3 vụ, trong đó có một vụ lập hồ sơ chuyển công an huyện bạn xử lý, ngăn chặn hiệu quả các vi phạm lâm luật.
Đánh giá về hoạt động phối hợp quản lý vùng giáp ranh, ông Phạm Văn Vững, Phó Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Tân Sơn cho biết: Quy chế phối hợp tạo thuận lợi rất lớn để lực lượng kiểm lâm phát huy vai trò nòng cốt trong bảo vệ rừng, tham mưu với cấp ủy, chính quyền, nhất là phối hợp với cơ sở, vùng giáp ranh để ngăn chặn, xử lý vi phạm kịp thời, hiệu quả.
Nhờ thực hiện tốt quy chế phối hợp mà tình trạng vi phạm trên địa bàn đã giảm hẳn, số vụ phát rừng làm nương rẫy, khai thác, mua bán lâm sản trái phép, nhất là cháy rừng đã giảm hẳn. Đây là cơ sở quan trọng để thực hiện quản lý, bảo vệ rừng bền vững và phát huy vai trò của kiểm lâm.
Từ kết quả của các năm phối hợp quản lý bảo vệ rừng Hạt chỉ đạo các trạm kiểm lâm địa bàn tiếp tục rà soát lại quy ước, quy chế phối hợp giữa kiểm lâm với các địa phương, các đơn vị nhất là địa bàn vùng giáp ranh… để tham mưu, đề xuất bổ sung quy ước, quy chế hoàn thiện; đồng thời có biện pháp đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, tuần tra, phối hợp để thực hiện quy chế có hiệu quả thực hiện quản lý bảo vệ rừng tận gốc, góp phần giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn. (Báo Phú Thọ 12/2) đầu trang(
Vài tháng gần đây người dân huyện Thăng Bình, Quế Sơn, Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam luôn thắc mắc không hiểu vì sao nhiều xe chở gỗ keo quá khổ chạy trên quốc lộ 14E, đoạn qua chắn barie của một trạm kiểm lâm thuộc Hạt kiểm lâm huyện Hiệp Đức mà vẫn được phía cơ quan chức năng cho phép đi qua, dù biết rằng các xe này có vi phạm.
Trao đổi về vấn đề này, Hạt trưởng hạt kiểm lâm huyện Hiệp Đức- ông Trần Văn Thời cho biết:” Phía kiểm lâm không có thẩm quyền bắt xe quá khổ, quá tải. Chúng tôi, chỉ kiểm tra các xe qua lại để ngăn chặn các trường hợp vận chuyển gổ trái phép, còn vấn đề trên là thuộc thẩm quyền của phía công an giao thông và thanh tra giao thông…”.
Bên cạnh đó, ông Thời cũng than thở, chắn barie của trạm trên quốc lộ 14E hoạt động 24/24. Nhiều anh em túc trực liên tục, tuy nhiên, chỉ vì làm đúng thẩm quyền nên nhiều người thấy xe quá khổ đi qua, cũng chỉ kiểm tra giấy tờ và cho đi. Vì thực tế, xe chở keo quá khổ có thể quan sát thấy được là rất nhiều. Còn về vấn đề quá tải thì phải có sự can thiệp từ phía thanh tra giao thông mới rõ.
Theo tìm hiểu, trạm kiểm lâm có chắn barie hoạt động xuyên suốt đêm ngày trên quốc lộ 14E, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam. Từ khi đưa vào hoạt động, trạm kiểm lâm này hoạt động rất hiệu quả. Cụ thể, trong năm 2014, nhờ có chắn barie, các cán bộ kiểm lâm kiểm tra, phát hiện, tịch thu 17 khối gỗ vận chuyển trái phép được cất giấu trên các xe ô tô tải mỗi khi di chuyển qua khu vực.
Bên cạnh đó, vừa qua, các cán bộ kiểm lâm cơ động tại địa bàn qua tuần tra, mai phục đã bắt giữ 2 xe vận chuyển hàng chục khối gỗ trái phép qua địa bàn. Đặc biệt, hai xe này nguỵ trang rất khôn khéo, bằng cách dùng gỗ keo che chắn, bao bọc bên ngoài, nhằm qua mắt lực lượng kiểm lâm.
Trong thực tế, tại các điểm triển khai cân tải trọng tại quốc lộ 1A luôn có sự phối hợp hiệu quả giữa phía cơ quan công an giao thông và thanh tra giao thông. Tuy nhiên, tại trạm, chỉ có lực lượng kiểm lâm túc trực kiểm soát 24/24. Vì vậy, những lúc phát hiện xe quá khổ, quá tải, các cán bộ kiểm lâm đành ngậm ngùi cho đi vì không có thẩm quyền bắt giữ. (Lao Động 12/2) đầu trang(
Nhiều chuyên gia lên tiếng: Cần hạn chế đến mức tối thiểu việc đốn hạ, xâm hại cây xanh ở TP.HCM.
“Cây xanh ở đoạn đường này không hiểu vì sao lại bị đốn sạch. Mỗi khi chạy xe qua đây tôi có cảm giác trống vắng như thiếu đi thứ gì đó” - anh Trần Văn Minh, phường Thạnh Lộc, quận 12, TP.HCM, bày tỏ khi thấy hai hàng cây trên đường Nguyễn Oanh (đoạn từ ngã tư Phan Văn Trị đến vòng xoay Nguyễn Oanh - Quang Trung, quận Gò Vấp) đã bị đốn hết.
Một cán bộ Công ty TNHH MTV Công viên Cây xanh TP.HCM cho biết việc đốn hạ cây xanh ở đường Nguyễn Oanh nhằm phục vụ việc thi công cầu vượt ở khu vực này trong thời gian tới. “Đường Nguyễn Oanh chủ yếu là cây phượng vĩ nên đốn cũng không tiếc lắm. Tuy nhiên, theo phương án xây cầu, rồi đây nhiều cây sao ở đường Phạm Ngũ Lão cũng bị đốn. Anh em từng chăm sóc hàng cây sao này ai cũng tiếc đứt ruột vì nó là một trong những hàng cây đẹp nhất TP. Đường không có cây xanh cũng giống người không mặc áo, nhìn kỳ lắm. Nhưng biết làm sao được!” - vị này bày tỏ.
Nhiều người thường xuyên đi qua đường Trần Quốc Hoàn, quận Tân Bình cũng không khỏi bùi ngùi khi thấy hàng cây ở đây dần biến mất. “Thấy cây bị đốn, tôi chạy ra hỏi nguyên do thì được công nhân giải thích là đốn để làm vỉa hè. Nếu chỉ làm lại vỉa hè có nhất thiết phải đốn cây nhiều như thế không?” - chị Cẩm Loan, nhà ở đoạn đối diện công viên Hoàng Văn Thụ, thắc mắc.
Nhắc đến chuyện đốn cây để làm vỉa hè, kỹ sư Trịnh Kiểm (Hiệp hội Công viên cây xanh Việt Nam) lại bức xúc: “Có lần tôi xuống TP Cần Thơ thấy người ta lắp cái cống thoát nước đụng phải gốc cây, đơn vị thi công phải đào đường nhánh để tránh. Vậy mà ở TP.HCM không hiểu sao làm lại cái vỉa hè họ cũng đốn cây vô tội vạ”.
Nói về hàng cây xà cừ ở đường Tôn Đức Thắng, quận 1 sắp tới bị đốn hạ để xây cầu Thủ Thiêm 2, ông Kiểm càng chua xót: “Tôi chưa thấy con đường nào ở Việt Nam có hàng cây đẹp như thế. Tôi không rõ phương án xây cầu như thế nào nhưng nếu đốn cây thì quả là đáng tiếc”.
Theo tìm hiểu, để thực hiện công trình cải tạo nâng cấp vỉa hè ở cửa ngõ sân bay Tân Sơn Nhất, Khu quản lý Giao thông đô thị số 1 (gọi tắt Khu 1, thuộc Sở GTVT TP) đã cấp phép cho đốn hạ đến 116 cây xanh. Ngoài những cây xanh bị đốn hạ “hợp pháp” còn có hơn 150 cây xanh bị đơn vị thi công vỉa hè xâm hại.
Một kỹ sư của Công ty Công viên Cây xanh cho biết những cây xanh ở khu vực công viên Hoàng Văn Thụ đều đã bị xâm hại bộ rễ, tuy hiện chưa có biểu hiện gây mất an toàn nhưng về sau này rất nguy hiểm. “Khi bộ rễ cây bị xâm hại, tổn thương, nấm bệnh cũng sẽ tấn công làm cây suy yếu dần. Do đó, sau này những cây xanh bị xâm hại rất dễ ngã đổ thình lình, gây tai nạn cho người đi đường” - vị này phân tích.
Kỹ sư Trịnh Kiểm bất bình: “TP đang thiếu cây xanh trầm trọng, nếu chỉ làm vỉa hè mà phải đốn cây hàng loạt là quá vô lý. Cây xanh đâu chỉ có ý nghĩa về mặt cảnh quan, cho bóng mát, bảo vệ môi trường mà còn đem lại nhiều ý nghĩa về mặt tinh thần. Nếu cứ lấy lý do kỹ thuật, chỉ muốn tiện lợi cho việc thi công thì làm sao bảo vệ cây được. Muốn bảo vệ cây, ngoài hiểu biết người làm công tác quản lý phải có “tình yêu” với nó thì mới được!”.
Đồng quan điểm, TS Trần Viết Mỹ, Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật lâm nghiệp TP.HCM, nhấn mạnh: “TP đang thiếu mảng xanh nên quan điểm của tôi là khi thực hiện các công trình phải cân nhắc, cố gắng hạn chế đến mức tối thiểu việc đốn hạ cây”.
Trước tình trạng các công trình xây dựng đốn cây quá nhiều trong thời gian gần đây, kỹ sư Trịnh Kiểm cho biết đã huy động nhiều đồng nghiệp cùng góp tay bảo vệ cây xanh. Sắp tới, có thể ông sẽ đề xuất thành lập hội bảo vệ cây xanh, nhất là cây cổ thụ, quý hiếm ở TP.HCM. “Khi có hội này, đơn vị nào muốn đốn cây phải trải qua quá trình phản biện khắt khe. Như thế sẽ hạn chế được việc đốn cây vô tội vạ” - ông Kiểm nói. (Pháp Luật TPHCM 13/2) đầu trang(
Một ngày cận tết, tôi bất ngờ nhận được điện thoại của anh Trịnh Xuân Tự, Phó trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim (Lâm Đồng): “Chú có đi rừng với tụi anh không? Vào cùng đồng bào dọn dẹp rừng để chuẩn bị đón tết”. Nghe có vẻ lạ, tôi hỏi lại: “Tết thì phải dọn dẹp nhà cửa, mua quần áo mới chứ sao lại dọn rừng?”. “Thì chú cứ đi rồi khắc biết”. Vậy là chúng tôi lên đường…
Khu vực rừng Đarahoa, thuộc địa phận xã Đạ Sar, huyện Lạc Dương (tỉnh Lâm Đồng) là nơi anh Tự muốn dẫn tôi đến. Trước đây, khu vực này vốn là “điểm nóng” về tệ nạn phá rừng và khai thác khoáng sản trái phép đã khiến các nhà chức trách đau đầu. Gửi tạm xe vào nhà người dân, chúng tôi men theo lối mòn đi thẳng vào rừng sâu. Nhìn những cây thông xanh mướt đứng ung dung, tự tại khiến lòng người thật nhẹ nhõm. Lội bộ được một lúc khá lâu, tôi bất chợt nhìn thấy những đám khói đang tỏa khắp cánh rừng.
“Cháy rừng thì phải” - tôi kêu lên. Anh Tự không nói gì mà đưa tay mình chỉ về phía trước. Tôi đưa mắt nhìn theo và thấy khoảng hơn hai chục người đồng bào dân tộc thiểu số đang ẩn hiện trong đám khói sương mịt mù.
Thấy chúng tôi đến, một người đàn ông đứng tuổi chạy lại hồ hởi: “A! Cán bộ vào xem bà con chuẩn bị cho rừng đón tết à?”. Anh Tự giải thích với tôi: “Hôm nay bà con cùng nhau vào rừng dọn dẹp, phát quang và đốt thực bì để rừng được thông thoáng, tránh bị cháy vào mùa khô”. “Thế còn chuyện cho rừng đón tết?” - tôi hỏi.
Người chào hỏi chúng tôi lúc đầu là ông Lơ Mu Ha Bock (tổ 6, xã Đạ Sar) nói: “Rừng cũng như nhà của đồng bào mình. Đón tết thì phải dọn nhà sạch sẽ chứ”.
Thấy tôi hơi đăm chiêu, ông K’ Long Ha Giắck (thôn 6, xã Đạ Sar) giải thích thêm: Trước đây chúng tôi sống theo kiểu du canh, du cư nên hay phá rừng để trồng trọt. Nhưng từ khi Nhà nước quan tâm ổn định cuộc sống, rồi giao cho quản lý và bảo vệ rừng (QLBVR), được hưởng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) nên cuộc sống ngày càng ổn định. Ngược với phong tục đốt, phá rừng làm nương rẫy như những năm trước, nay đồng bào đã biết bảo vệ rừng, cho rừng sinh sôi nảy nở và rừng cũng giúp đồng bào có đời sống ấm no.
Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim hiện đang quản lý hơn 43.000ha rừng phòng hộ và rừng sản xuất nằm trên địa bàn 5 xã và một thị trấn thuộc huyện Lạc Dương. Theo anh Tự, diện tích rừng ở đây được quản lý, bảo vệ khá tốt là nhờ chính sách giao khoán QLBVR cho người dân. Đáng mừng nhất, tình trạng đốt phá rừng làm nương rẫy nay đã giảm đáng kể.
“Hiện nay, các gia đình trong các thôn thuộc xã Đa Sar và các xã khác đã cùng nhau thành lập các nhóm bảo vệ rừng với 10 - 15 hộ tham gia. Nhiệm vụ của nhóm là luân phiên tổ chức tuần tra, canh gác để bảo vệ rừng được giao. Dân làng còn cải tạo đất sản xuất trên những nương rẫy cũ để đưa vào trồng các loại cây lương thực ngắn ngày hoặc trồng các loại cây lâm nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế, thêm thu nhập” - anh Tự phấn khởi.
Đặc biệt, chương trình giao khoán QLBVR được ưu tiên cho những hộ thiếu đất sản xuất, đông con, gia đình neo đơn đã có tác động tích cực đến đời sống của người dân. Như hộ ông Ha Giắck có tới 6 người con, gia đình chỉ có 1ha cà phê, trước đây cuộc sống gặp nhiều khó khăn. Sau khi tham gia chương trình QLBVR với hơn 20ha rừng, mỗi hécta, ông nhận được 450.000 đồng/năm, công thêm việc gia đình ông tích cực chăn nuôi, trồng cây ngắn ngày dưới tán rừng hiện cuộc sống gia đình đã ổn định.
Còn như gia đình ông K’Soanh (55 tuổi ở thôn Tu Pó) bản thân ông đau yếu, cuộc sống hết sức khó khăn, không có lao động chính để đứng ra nhận rừng, nhưng ông vẫn được QLBVR xem xét cho nhận 22ha rừng, bởi ông còn người con có sức khỏe để đi rừng. Nếu ngày trước, gia đình ông K’Soanh khó khăn đến nỗi thường xuyên thiếu gạo ăn. Thì nay, sau vài năm nhận QLBVR theo chương trình chi trả DVMTR, không những cái ăn đã được giải quyết mà còn mua được cả xe máy, tivi và sửa sang nhà cửa tươm tất hơn. Trung bình mỗi hộ nhận khoán bảo vệ rừng nhận được khoảng 10 triệu đồng/năm, với số tiền này đã góp phần giải quyết rất nhiều công việc trong gia đình.
Mặc dù hiện các hộ gia đình đang tất bật, hối hả để lo chuẩn bị tết, nhưng những hộ nhận QLBVR vẫn thường xuyên đôn đốc nhau thường xuyên kiểm tra, bảo vệ những cánh rừng mình đang quản lý. “Ngày thường cũng như lễ tết, chúng tôi không bao giờ quên nhiệm vụ của mình mà còn tích cực hơn để rừng được bình yên đón tết cùng đồng bào chúng tôi” - ông Ha Bock tâm sự. (Sài Gòn Giải Phóng 13/2) đầu trang(
Nếu như nhiều năm trước, người dân không mấy mặn mà từ việc nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng thì thời gian gần đây, phương thức này đang nhận được sự tham gia của nhiều hộ gia đình vì họ thực sự đã được hưởng lợi từ rừng.
Thời gian qua, huyện Tuy Đức đã tiến hành đo đạc, xây dựng đề án và bàn giao 3.906 ha rừng và đất rừng cho cộng đồng dân cư quản lý, bảo vệ. Cụ thể, huyện đã bàn giao 1.016 ha rừng, đất rừng cho cộng đồng 2 bon Bu Nơ A và Bu Nơ B, thuộc xã Quảng Tâm; bon Mê Ra và Bu Dưng xã Đắk R’tíh 1.110 ha; cộng đồng bon Bu Kon, xã Đắk R’tíh 1.198 ha và tạm giao cho cộng đồng bon Bu Nung, xã Quảng Trực là 581 ha.
Qua công tác kiểm tra, giám sát cho thấy, diện tích rừng đã giao về cho cộng đồng dân cư nơi đây đều được quản lý, bảo vệ khá tốt. Ngoài việc thường xuyên kiểm tra, giám sát từ phía chính quyền địa phương, sở dĩ công tác giao khoán rừng cho các hộ dân quản lý, bảo vệ có hiệu quả là nhờ Nhà nước đã có những chính sách hợp lý cho người dân.
Cụ thể, hầu hết diện tích rừng giao khoán trên hiện đã được huyện Tuy Đức đo đạc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân. Ngoài ra, cùng với nguồn kinh phí hỗ trợ hàng năm theo quy định, người dân nhận khoán cũng có thêm nguồn thu sản phẩm phụ từ rừng và canh tác trên diện tích đất không có rừng. Bên cạnh đó, họ còn được hưởng một phần kinh phí thu được mỗi lần Nhà nước khai thác tỉa thưa rừng.
Chưa kể đến, đối với các hộ dân nhận khoán rừng thuộc diện hưởng lợi từ nguồn dịch vụ chi trả môi trường rừng, mỗi năm, họ còn có thêm một khoản tiền không nhỏ. Đơn cử như trên địa bàn xã Quảng Khê (Đắk Glong) hiện có 5 tổ nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng. Ngoài các khoản kinh phí hỗ trợ theo quy định, hàng năm, từ quỹ chi trả dịch vụ môi trường rừng, mỗi ha nhận khoán, người dân được nhận về bình quân 460 ngàn đồng.
Theo UBND xã Quảng Khê thì bình quân, mỗi năm, một hộ nhận khoán cũng thu về gần 10 triệu đồng từ quỹ dịch vụ chi trả môi trường rừng. Điều đáng nói là từ khi có thêm khoản tiền này, các hộ nhận khoán không chỉ có nguồn thu đáng kể mà còn nâng cao trách nhiệm trong công tác phối hợp tuần tra, kiểm soát, bảo vệ rừng.
Rõ ràng, thực hiện chủ trương giao khoán rừng cho cộng đồng, các hộ dân quản lý, bảo vệ đã và đang cho thấy những hiệu quả tích cực, vì là người địa phương, sống gần rừng nên rất thuận lợi trong việc tham gia kiểm tra, kiểm soát và giữ rừng.
Hơn thế, khi Nhà nước đã đảm bảo được các chính sách phù hợp về kinh phí cho các hộ nhận khoán, những thuận lợi đó sẽ càng được phát huy, nâng cao vai trò phối kết hợp giữa lực lượng chức năng, chính quyền và người dân trong công tác quản lý, bảo vệ rừng một cách hiệu quả. (Báo Đắc Nông 12/2) đầu trang(
Đóng cửa rừng, nhu cầu sử dụng gỗ tăng cao, cần tiền tiêu trong dịp Tết - là những nguyên nhân chính khiến công tác quản lý, bảo vệ rừng tại các địa phương có diện tích rừng lớn ngày càng trở nên phức tạp.
Tại huyện Khánh Vĩnh - khu vực luôn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn trong suốt thời gian qua, nay lại thêm căng thẳng. Số vụ khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép bị phát hiện ngày một nhiều. Chính vì vậy, công tác kiểm soát lâm sản đang được lực lượng chức năng tăng cường, nhằm hạn chế các vụ phá rừng diễn ra trong dịp Tết.
Lượng gỗ thu giữ ngày một nhiều; các biên bản xử lý vi phạm liên tục được gửi về cho lực lượng kiểm lâm. Chỉ trong vài tuần gần đây, lực lượng chức năng đã kiểm tra và lập biên bản 15 vụ vi phạm; tịch thu trên 24m3 gỗ, tạm giữ nhiều phương tiện tham gia vận chuyển. Sự gia tăng của các vụ vi phạm trong thời điểm cận tết ở Khánh Vĩnh là điều đã được dự báo từ trước.
Ông Nguyễn Văn Thanh, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Khánh Vĩnh cho biết như mọi năm công tác vận chuyển lâm sản sôi động nhất là những ngày cuối năm, 1 số đối tượng lâm tặc lợi dụng các ban ngành đang công tác để vận chuyển lâm sản. Hạt đã cho anh em truy quét, nhằm hạn chế khai thác lâm sản, không cho lâm tặc đưa lâm sản ra khỏi rừng.
Các vụ phá rừng ở Khánh Vĩnh hiện tập trung chu yếu tại 4 xã cánh Tây và dọc tuyến đường Khánh Lê - Lâm Đồng. Lợi dụng đời sống người dân trong vùng còn khó khăn, chủ yếu dựa vào rừng, cần tiền để chi tiêu trong dịp tết nên các đối tượng lâm tặc đã thuê bà con tham gia khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép.
Cùng với đó, tuyến đường sông bắt nguồn từ khu vực xã Khánh Thượng đang trở thành tuyến huyết mạch để các đối tượng thực hiện vận chuyển lâm sản xuôi về đến Diên Khánh để tiêu thụ. Lực lượng chức năng gặp rất nhiều khó khăn trong việc kiểm soát tình hình.
Ông Nguyễn Văn Thịnh, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh chia sẻ khó khăn nhất của Trạm là không có phương tiện, khi thuê thì các phương tiện hay từ chối. Ở Trạm, điều kiện sinh hoạt cũng thiếu thốn.
Theo nhận định của lực lượng Kiểm lâm, càng gần đến ngày giáp Tết, tình hình phá rừng ở Khánh Vĩnh càng thêm phức tạp. Do vậy, Hạt Kiểm lâm cùng với chính quyền địa phương và các chủ rừng đã có kế hoạch, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động người dân không tham gia khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. Đồng thời, tổ chức các đợt tuần tra, kiểm soát, truy quét sâu vào rừng, đẩy đuổi các đối tượng lâm tặc ra khỏi rừng để ổn định tình hình.
“Hạt tổ chức truy quét, cắm chốt và phối với các cơ quan, đơn vị để ngăn chặn tình trạng phá rừng và vận chuyển lâm sản trong dịp Tết" - Ông Nguyễn Văn Thanh, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Khánh Vĩnh cho biết thêm.
Nhiều điểm nóng khai thác lâm sản đã được lực lượng kiểm lâm thống kê, rà soát, và có phương án ngăn chặn. Bên cạnh đó, hạt cũng có kế hoạch, phân công lực lượng chốt chặn ngay trong những ngày Tết Nguyên đán. Với tinh thần vui xuân nhưng không quên nhiệm vụ, lực lượng chức năng ở Khánh Vĩnh đang nỗ lực để giữ vững sự ổn định cho những cánh rừng nơi đây. (ANTV 13/2; Đài PTTH Khánh Hòa 11/2) đầu trang(
Ban Cán sự đảng Bộ GTVT vừa có Văn bản số 32SY/VP BCS ngày 05/02/2015 yêu cầu thực hiện Hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương về công tác tuyên truyền việc thực hiện không buôn bán, tiêu thụ bất hợp pháp động vật, thực vật hoang dã.
Theo đó, Ban Tuyên giáo Trung ương yêu cầu:
- Các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị-xã hội tiếp tuc chỉ đạo việc thực hiện các kế hoạch đã đề ra về tuyên truyền và ngăn ngừa việc buôn bán, tiêu thụ trái phép các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật, thực vật hoang dã trong dịp Tết Nguyên đán năm 2015 sắp tới và kế hoạch tuyên truyền lâu dài, thường xuyên việc thực hiện không buôn bán, tiêu thụ bất hợp pháp động vật, thực vật hoang dã theo tinh thần Nghị quyết số 24-NQ/TW “về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”;
- Có các biện pháp thiết thực, hiệu quả thúc đẩy việc thực hiện chủ trương của Đảng trong lĩnh vực bảo vệ các loài hoang dã trên cả hai mảng công việc chính là tuyên truyền, giáo dục và thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ động vật, thực vật hoang dã; cần thực hiện việc tuyên truyền sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân về tác hại của việc buôn bán, tiêu thụ trái phép động vật, thực vật hoang dã song song với việc kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, để có thể ngăn ngừa hiệu quả nạn buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ trái phép động vật, thực vật hoang dã; Hằng năm, Ban cán sự đảng các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy chỉ đạo sơ kết nhằm thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công tác tuyên truyền bảo vệ động vật, thực vật hoang dã và báo cáo kết quả về Ban Tuyên giáo Trung ương. (Bộ GTVT 12/2) đầu trang(
5 năm qua, những người dân ở xã Hương Sơn và Hương Lộc (huyện miền núi Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên - Huế) chưa nhận được bất kỳ một lợi ích nào từ việc bảo vệ rừng cộng đồng. Động cơ duy nhất để các hộ dân nhận rừng là để được khai thác một phần lâm sản khi rừng già. Nhưng đó chỉ là cái mà người dân mong, chứ theo người cho biết thì cũng chưa có bất cứ một văn bản nào cho phép.
Khi giao rừng, vấn đề quyền lợi cho người dân không được xác định rõ ràng nên đến nay, nghĩa vụ người dân vẫn thực hiện nhưng quyền lợi thì chưa được hưởng. Rừng được giao về trong cộng đồng, các gia đình tham gia vào dự án rừng cộng đồng hàng tháng luân phiên nhau tuần tra bảo vệ. Thế nhưng, rút cục họ đang làm việc không công.
Cũng theo nhiều người dân địa phương, nếu cứ tiếp tục như vậy thì không biết liệu 5 hay 10 năm sau, không hỗ trợ gì cho người dân thì người dân có tiếp tục làm công việc này nữa hay không bởi họ vẫn phải chạy kiếm cái ăn hằng ngày. Về vấn đề này, ông Trương Xàng, Phó Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Nam Đông xác nhận: "Chính sách hưởng lợi từ rừng tự nhiên vẫn chưa rõ khiến cơ quan chức năng rất khó khi thực hiện. Luật không quy định rõ cơ quan nào xác định trữ lượng, đánh giá thẩm định, cho phép khai thác. Đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có hỗ trợ gì cho người dân để bảo vệ rừng”.
Trên địa bàn huyện miền núi Nam Đông có nhiều diện tích đất rừng tự nhiên thuộc diện rừng nghèo kiệt không có khả năng phát triển.Tuy nhiên, khi quy hoạch thì những diện tích này lại không được công nhận là rừng nghèo kiệt. Sở dĩ có điều này là do luật quy định, rừng có từ 50m3/ha gỗ thì không phải là rừng nghèo kiệt. Thực tế, rừng chỉ cần vài ba cây gỗ lớn là đã đủ tiêu chí này. Và hiển nhiên là diện tích đất rừng này không được chuyển đổi sang rừng sản xuất.
Thực tế này đã tồn tại ở địa phương từ lâu, biết là rừng nghèo kiệt, muốn xin để chuyển đổi mục đích sang trồng cây keo, cao su… nhưng chính quyền không thể cấp phép. Vì người dân hưởng lợi quá ít từ rừng nên một số hộ dân quản lý rừng ở đây đã tự ý chuyển đổi trái phép đất lâm nghiệp trong rừng được giao sang trồng keo.
Không hưởng lợi nhiều từ rừng, rừng chưa tạo sinh kế giúp người dân thoát nghèo không phải là câu chuyện chỉ xảy đến với người dân vùng núi Nam Đông, ông Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn cho biết: Chính sách GĐGR có góp phần cải thiện thu nhập cho đồng bào thiểu số nhưng không nhiều, sinh kế cơ bản của đồng bào thiểu số không dựa vào rừng. Ước tính thu nhập của các nhóm hộ gia đình làm lâm nghiệp cho thấy, đa số họ thuộc diện nghèo hoặc cận nghèo. Muốn cải thiện sinh kế phải dựa vào các nguồn khác, chủ yếu dựa vào trồng trọt, chăn nuôi hoặc nghề nghiệp khác như cán bộ, giáo viên, có nơi đi xuất khẩu lao động…
Theo ông Sơn, trước thực trạng "đầu tư” vào rừng không có lãi nên đã xảy tra trường hợp nhiều hộ được giao/khoán phá rừng đã lấn chiếm rừng để trồng các loại cây công nghiệp hoặc chuyển rừng phòng hộ thành rừng trồng hoặc chuyển đất lâm nghiệp thành đất nông nghệp để dễ dàng nhượng bán cho người khác chỉ vì họ chẳng thể sống bằng nghề rừng.
Để tránh tình trạng đất rừng bị chuyển đổi mục đích, những cánh rừng phòng hộ dần biến mất, ông Sơn đề nghị, đối với nhóm dân tộc thiểu số (DTTS) có truyền thống sống gắn bó chặt chẽ với rừng và môi trường tự nhiên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần xem xét giao rừng phòng hộ, rừng đặc dụng cho cộng đồng quản lý, bảo vệ và hưởng lợi phù hợp tập quán, cánh tác của họ. Cần hỗ trợ đặc biệt cho đối tượng này để nâng cao chất lượng cuộc sống họ mới yên tâm chăm sóc và bảo vệ rừng.
Để phát triển sinh kế bền vững cho những người giữ rừng, chính quyền địa phương cần khuyến khích, hỗ trợ phát triển nông lâm kết hợp, có thể kết hợp với chăn nuôi và trồng các cây nông nghiệp thích hợp, phát triển các sản phẩm như nấm, măng tre, dược liệu… để người dân có thêm thu nhập. Thậm chí, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần xem xét chuyển đổi diện tích đất lâm nghiệp nghèo kiệt không thích hợp sang đất nông nghiệp tạo điều kiện cho người dân phát triển các sinh kế khác. (Đại Đoàn Kết 12/2) đầu trang(
Nhiều đối tượng thu mua thịt heo nái già giá rẻ về chế biếnthành các loại thịt rừng hạng sang như thịt heo rừng, thịt đà điểu, thịt nhím…
Nhiều bạn đọc bày tỏ lo ngại "Thịt heo nái làm giả thịt nhím ra sao, độc hại thế nào?" sau khi Pháp Luật TP.HCM đưa tin “Tiêu hủy gần nửa tấn thịt heo nái giả thịt nhím”.
“Theo trình bày của chủ lô hàng, anh ta mua thịt heo nái về cắt lát rồi rưới máu của con nhím lên để biến thành thịt nhím”, một cán bộ tham gia kiểm tra điểm kinh doanh thịt heo làm giả thịt nhím ở một điểm kinh doanh trên đường số 16, khu phố 3, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức ( TP.HCM) tiết lộ.
Theo vị cán bộ trên, do tại thời điểm kiểm tra, không phát hiện có huyết nhím tại cơ sở kinh doanh sản xuất nên trong biên bản không thể hiện được thông tin này. “Chúng tôi chỉ xác định thịt được đóng gói dán nhãn thịt nhím trên bao bì là thịt heo nái. Đây là thịt mua trôi nổi, không có giấy kiểm dịch, không đảm bảo vệ sinh nên phải tịch thu tiêu hủy”, vị này giải thích thêm.
Qua tìm hiểu, được biết trước đây tại địa bàn quận Thủ Đức, Đội 2, Phòng cảnh sát môi trường – Công an TP.HCM cũng đã từng phối hợp với lực lượng thú y, phát hiện tại phường Linh Trung có ba điểm kinh doanh thịt heo nái không rõ nguồn gốc, phải tịch thu tiêu hủy.
“Điều bất thường là tại các điểm kinh doanh này có hơn 100 kg thịt heo được thui vàng da. Chắc chắn việc thui vàng da là nhằm mục đích làm giả thịt thú rừng. Tuy nhiên, do không có bằng chứng nên rất khó xác định hành vi làm giả thịt này”, một cán bộ tham gia buổi kiểm tra các điểm kinh doanh thịt không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm nói trên, nhớ lại.
Vị này cho biết, qua điều tra, thu thập thông tin để triệt phá các điểm kinh doanh “thịt đểu”, các trinh sát đều nghe nói đến chiêu thức “muốn làm giả thịt con gì thì phải rưới máu con đó lên. Tuy nhiên, cách thức chế biến cụ thể ra sao thì trước giờ chưa có đơn vị này bắt được quả tang.
Nhiều lần trao đổi với PV về các điểm kinh doanh thịt thú rừng ở TP.HCM, ông Nguyễn Đình Cương, nguyên Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP.HCM cho rằng, hầu hết đây là bán “thịt giả”. Ông giải thích: “Khi bán cho khách hàng thì họ nói đây là thịt heo rừng, thịt nai, thịt nhím… Nhưng khi bị bắt thì họ nói đây chỉ là thịt heo nhà, việc thui cho vàng da chỉ nhằm mục đích làm cho thịt ngon hơn. Thực tế, đó chỉ là thịt heo nên chức năng xử lý thuộc về bên cơ quan thú y”.
Theo ông Cương, điểm chung của những điểm kinh doanh “thịt giả” là mua thịt heo nái già, giá rẻ về thui vàng da rồi cắt thành những miếng thịt cho giống thịt của con thú này, thú kia.
Còn theo các nguồn tin từ cảnh sát môi trường, để biến thịt heo thành thịt thú rừng, các đối tượng kinh doanh chắc chắn phải có “bí quyết” trong việc chế biến. “Có thể họ dùng máu thịt thú rừng hay hóa chất để tẩm ướp vào thịt heo sao cho giống thịt thú rừng nhất. Tuy nhiên, các chất tẩm ướp này là chất gì thì đến nay vẫn chưa có đơn vị chức năng nào xác định được”, một cảnh sát môi trường, chia sẻ.
Nhiều cán bộ thú y cũng nhìn nhận, trong thời gian qua, hầu hết các vụ phát hiện làm thịt giả, cơ quan chức năng chỉ xác định được nguyên liệu là thịt heo nái không được kiểm dịch còn cách chế biến làm giả thịt ra sao thì vẫn chưa xác định.
“Hiện nay, các loại thịt thường dễ bị làm giả đó là thịt heo rừng, thịt nai, thịt đà điểu, thịt nhím… Nguyên liệu để làm các loại thịt này thường là thịt heo nái già. Thịt heo này thường mua trôi nổi với giá rẻ để chế biến bán lại giá cao, thu lợi nhiều. Các loại thịt làm giả đều không đảm bảo diều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, có nguy cơ gây độc hại cho người dử dụng”, một cán bộ thú y, nhận định. (Pháp Luật TP.HCM 13/2) đầu trang(
Vườn Quốc gia (VQG) Xuân Thuỷ nằm ở huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định; phía nam cửa Ba Lạt, nơi sông Hồng đổ ra biển Đông. Từ tháng 1/1989, VQG Xuân Thuỷ là vùng ngập nước đầu tiên của Đông Nam Á tham gia Công ước quốc tế RAMSAR; được UNESCO công nhận là vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng năm 2004.
Vườn có diện tích vùng lõi 7.100 ha, là nơi sinh sống của 120 loài thực vật, hơn 500 loài động vật và 30 loài bò sát và lưỡng cư; đáng chú ý là 220 loài chim, thuộc 41 họ, 13 bộ. Hàng năm từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, hàng chục ngàn cá thể chim di cư tránh rét từ phương Bắc đã chọn nơi đây để dừng chân, kiếm ăn. Trong đó, đã ghi nhận nhiều loài chim trong sách đỏ quốc tế như: Choắt lớn, Rẽ mỏ thìa, Cò thìa, Mòng biển mỏ ngắn, Cò lạo Ấn Độ…
Vùng đệm của vườn có diện tích 7.200 ha nằm trên địa bàn 5 xã: Giao Thiện, Giao An, Giao Hải, Giao Lạc và Giao Xuân; có tiềm năng phát triển kinh tế với nhiều loại hình: Nuôi ngao, tôm, nuôi ong lấy mật, trồng nấm, khai thác rau câu… Đáng chú ý, sản lượng nuôi ngao ở khu vực này được xếp loại hàng đầu cả nước, ổn định khoảng 12.000 tấn với mức thu nhập từ 150 đến 200 tỷ đồng/năm. Nhiều năm qua, nguồn lợi thuỷ sản đã nuôi sống và mang lại thu nhập cao cho hàng ngàn người dân địa phương.
Nơi đây, biển giao hoà với rừng, “chim trời, cá nước” giao hoà với hình ảnh con người mưu sinh. Những mô hình sinh thái, nuôi trồng thuỷ sản kết hợp với bảo vệ rừng, đã tạo nên bức tranh sinh động về vùng quê điển hình ở cửa sông ven biển miền Bắc. (ThienNhien.Net 13/2) đầu trang(
Hằng năm các tuyến rừng phòng hộ tiếp giáp với nước bạn Lào thuộc huyện Hương Khê (Hà Tĩnh), huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình) đã trở thành những điểm nóng khai thác rừng của lâm tặc. PV báo Người đưa tin đã có cuộc thâm nhập, tìm hiểu 1 đường dây khai thác gỗ lậu hết sức tinh vi ở xã Hương Lâm.
Hương Lâm vốn là một địa danh nổi tiếng, từng được biết đến như một điểm nóng về gỗ lậu.Sau khi nắm bắt được tình trạng khai thác gỗ lậu ở địa bàn xã Hương Lâm, đang nóng trở lại, PV đã vượt một quảng đường khá xa để tận mục sở thị về thực trạng gỗ lậu nơi đây. Qua đó, đã ghi nhận được những chiêu thức khai thác và vận chuyển gỗ trái phép hết sức tinh vi của một số người dân bản địa.
Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt PV khi có mặt tại xã vùng núi là cảnh tượng gỗ lậu có mặt ở khắp nơi. Hàng đống gỗ lộ thiên hai bên đường, trong mỗi khu vườn, từ đầu làng đến cuối xóm. Đi dọc trên đường, người chứng kiến còn dễ dàng bắt gặp những người đàn ông trung tuổi đang vận chuyển một vài cây gỗ lớn mà thoạt nhìn qua cũng đoán được những cây gỗ còn tươi, vừa mới được đốn hạ từ một khu rừng nào đó. Ở Hương Lâm, gỗ lậu xuất hiện như một phần tất yếu của cuộc sống.
Ngay sau khi tới điểm đầu tiên của xã Hương Lâm, phóng viên đã bắt gặp một nhóm khoảng 5 người đàn ông đang dùng xe cải tiến hì hục đẩy những khúc gỗ lớn từ dưới chân núi lên. Thấy vậy, PV dừng chân và tiến đến hỏi đường nhưng khi thấy người lạ, một thanh niên trong nhóm đã xông thẳng vào quát tháo, xua đuổi vì lo sợ một điều gì đó (?).
Theo chân một đầu nậu cộm cán trong nghề buôn lậu gỗ nhưng nay đã hoàn lương, được biết từ ngày xưa, người dân xã Hương Lâm sống chủ yếu dựa vào rừng và nay vẫn vậy. Hết rừng gần, họ tìm rừng xa, vào Quảng Bình hoặc vượt biên giới sang tận Lào để khai thác gỗ, nuôi sống gia đình. “Cách đây 5 năm về trước, gỗ được khai thác, vận chuyển, hay mua bán ở Hương Lâm đều diễn ra công khai, không lén lút. Chính quyền, các cơ quan chức năng ở đây, hình như xem đó như là điều đương nhiên và tất yếu. Nhưng hai năm qua, các cơ quan làm chặt nên đã lắng xuống một thời gian, mới đây điểm nóng này bắt đầu đã trở lại”, đầu nậu cộm cán đã hoàn lương cho biết.
Điều đáng nói, khi gỗ ở rừng được người dân vận chuyển về thì ngay sau đó những đầu nậu gỗ sẽ tìm đến để ra giá. Bằng những thủ đoạn tinh vi, những đầu nậu này sẽ tìm cách đưa gỗ ra khỏi vùng giáp ranh đầy nhạy cảm này.
Qua tìm hiểu được biết, kinh tế của hơn 2/3 hộ dân ở xã Hương Lâm đều phụ thuộc vào gỗ và rừng. Chính vì khai thác rừng một cách tàn khốc, không theo một cách thức cụ thể mà rừng ở Hương Lâm đã bị người dân cạo trọc từ nhiều năm trước. “Hiện nay, gỗ ỡ những cánh rừng thuộc Hương Lâm và một số xã lân cận đã không còn một gốc nào. Gỗ chủ yếu được người ta khai thác từ những cánh rừng của Quảng Bình và Lào. Nhiều nhất, tập trung nhất vẫn là những cánh rừng của huyện Tuyên Hóa, thuộc vùng giáp ranh giữa Quảng với Hà Tĩnh. Vùng rừng này có nhiều loại gỗ quý như: sến, táu, de, lim…”. (Người Đưa Tin 12/2) đầu trang(
Khánh Hòa: Gia tăng vận chuyển lâm sản vào cuối năm
Đóng cửa rừng, nhu cầu sử dụng gỗ tăng cao, cần tiền tiêu trong dịp Tết - là những nguyên nhân chính khiến công tác quản lý, bảo vệ rừng tại các địa phương có diện tích rừng lớn ngày càng trở nên phức tạp.
Tại huyện Khánh Vĩnh - khu vực luôn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn trong suốt thời gian qua, nay lại thêm căng thẳng. Số vụ khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép bị phát hiện ngày một nhiều. Chính vì vậy, công tác kiểm soát lâm sản đang được lực lượng chức năng tăng cường, nhằm hạn chế các vụ phá rừng diễn ra trong dịp Tết.
Lượng gỗ thu giữ ngày một nhiều; các biên bản xử lý vi phạm liên tục được gửi về cho lực lượng kiểm lâm. Chỉ trong vài tuần gần đây, lực lượng chức năng đã kiểm tra và lập biên bản 15 vụ vi phạm; tịch thu trên 24m3 gỗ, tạm giữ nhiều phương tiện tham gia vận chuyển. Sự gia tăng của các vụ vi phạm trong thời điểm cận tết ở Khánh Vĩnh là điều đã được dự báo từ trước.
Ông Nguyễn Văn Thanh, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Khánh Vĩnh cho biết như mọi năm công tác vận chuyển lâm sản sôi động nhất là những ngày cuối năm, 1 số đối tượng lâm tặc lợi dụng các ban ngành đang công tác để vận chuyển lâm sản. Hạt đã cho anh em truy quét, nhằm hạn chế khai thác lâm sản, không cho lâm tặc đưa lâm sản ra khỏi rừng.
Các vụ phá rừng ở Khánh Vĩnh hiện tập trung chu yếu tại 4 xã cánh Tây và dọc tuyến đường Khánh Lê - Lâm Đồng. Lợi dụng đời sống người dân trong vùng còn khó khăn, chủ yếu dựa vào rừng, cần tiền để chi tiêu trong dịp tết nên các đối tượng lâm tặc đã thuê bà con tham gia khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép.
Cùng với đó, tuyến đường sông bắt nguồn từ khu vực xã Khánh Thượng đang trở thành tuyến huyết mạch để các đối tượng thực hiện vận chuyển lâm sản xuôi về đến Diên Khánh để tiêu thụ. Lực lượng chức năng gặp rất nhiều khó khăn trong việc kiểm soát tình hình.
Ông Nguyễn Văn Thịnh, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh chia sẻ khó khăn nhất của Trạm là không có phương tiện, khi thuê thì các phương tiện hay từ chối. Ở Trạm, điều kiện sinh hoạt cũng thiếu thốn.
Theo nhận định của lực lượng Kiểm lâm, càng gần đến ngày giáp Tết, tình hình phá rừng ở Khánh Vĩnh càng thêm phức tạp. Do vậy, Hạt Kiểm lâm cùng với chính quyền địa phương và các chủ rừng đã có kế hoạch, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động người dân không tham gia khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. Đồng thời, tổ chức các đợt tuần tra, kiểm soát, truy quét sâu vào rừng, đẩy đuổi các đối tượng lâm tặc ra khỏi rừng để ổn định tình hình.
“Hạt tổ chức truy quét, cắm chốt và phối với các cơ quan, đơn vị để ngăn chặn tình trạng phá rừng và vận chuyển lâm sản trong dịp Tết" - Ông Nguyễn Văn Thanh, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Khánh Vĩnh cho biết thêm.
Nhiều điểm nóng khai thác lâm sản đã được lực lượng kiểm lâm thống kê, rà soát, và có phương án ngăn chặn. Bên cạnh đó, hạt cũng có kế hoạch, phân công lực lượng chốt chặn ngay trong những ngày Tết Nguyên đán. Với tinh thần vui xuân nhưng không quên nhiệm vụ, lực lượng chức năng ở Khánh Vĩnh đang nỗ lực để giữ vững sự ổn định cho những cánh rừng nơi đây. (ANTV 13/2; Đài PTTH Khánh Hòa 11/2) đầu trang(
Bộ GTVT tuyên truyền việc thực hiện không buôn bán động vật hoang dã
Ban Cán sự đảng Bộ GTVT vừa có Văn bản số 32SY/VP BCS ngày 05/02/2015 yêu cầu thực hiện Hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương về công tác tuyên truyền việc thực hiện không buôn bán, tiêu thụ bất hợp pháp động vật, thực vật hoang dã.
Theo đó, Ban Tuyên giáo Trung ương yêu cầu:
- Các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị-xã hội tiếp tuc chỉ đạo việc thực hiện các kế hoạch đã đề ra về tuyên truyền và ngăn ngừa việc buôn bán, tiêu thụ trái phép các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật, thực vật hoang dã trong dịp Tết Nguyên đán năm 2015 sắp tới và kế hoạch tuyên truyền lâu dài, thường xuyên việc thực hiện không buôn bán, tiêu thụ bất hợp pháp động vật, thực vật hoang dã theo tinh thần Nghị quyết số 24-NQ/TW “về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”;
- Có các biện pháp thiết thực, hiệu quả thúc đẩy việc thực hiện chủ trương của Đảng trong lĩnh vực bảo vệ các loài hoang dã trên cả hai mảng công việc chính là tuyên truyền, giáo dục và thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ động vật, thực vật hoang dã; cần thực hiện việc tuyên truyền sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân về tác hại của việc buôn bán, tiêu thụ trái phép động vật, thực vật hoang dã song song với việc kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, để có thể ngăn ngừa hiệu quả nạn buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ trái phép động vật, thực vật hoang dã; Hằng năm, Ban cán sự đảng các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy chỉ đạo sơ kết nhằm thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công tác tuyên truyền bảo vệ động vật, thực vật hoang dã và báo cáo kết quả về Ban Tuyên giáo Trung ương. (Bộ GTVT 12/2) đầu trang(
Thừa Thiên - Huế: Khi người dân không sống được bằng nghề rừng
5 năm qua, những người dân ở xã Hương Sơn và Hương Lộc (huyện miền núi Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên - Huế) chưa nhận được bất kỳ một lợi ích nào từ việc bảo vệ rừng cộng đồng. Động cơ duy nhất để các hộ dân nhận rừng là để được khai thác một phần lâm sản khi rừng già. Nhưng đó chỉ là cái mà người dân mong, chứ theo người cho biết thì cũng chưa có bất cứ một văn bản nào cho phép.
Khi giao rừng, vấn đề quyền lợi cho người dân không được xác định rõ ràng nên đến nay, nghĩa vụ người dân vẫn thực hiện nhưng quyền lợi thì chưa được hưởng. Rừng được giao về trong cộng đồng, các gia đình tham gia vào dự án rừng cộng đồng hàng tháng luân phiên nhau tuần tra bảo vệ. Thế nhưng, rút cục họ đang làm việc không công.
Cũng theo nhiều người dân địa phương, nếu cứ tiếp tục như vậy thì không biết liệu 5 hay 10 năm sau, không hỗ trợ gì cho người dân thì người dân có tiếp tục làm công việc này nữa hay không bởi họ vẫn phải chạy kiếm cái ăn hằng ngày. Về vấn đề này, ông Trương Xàng, Phó Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Nam Đông xác nhận: "Chính sách hưởng lợi từ rừng tự nhiên vẫn chưa rõ khiến cơ quan chức năng rất khó khi thực hiện. Luật không quy định rõ cơ quan nào xác định trữ lượng, đánh giá thẩm định, cho phép khai thác. Đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có hỗ trợ gì cho người dân để bảo vệ rừng”.
Trên địa bàn huyện miền núi Nam Đông có nhiều diện tích đất rừng tự nhiên thuộc diện rừng nghèo kiệt không có khả năng phát triển.Tuy nhiên, khi quy hoạch thì những diện tích này lại không được công nhận là rừng nghèo kiệt. Sở dĩ có điều này là do luật quy định, rừng có từ 50m3/ha gỗ thì không phải là rừng nghèo kiệt. Thực tế, rừng chỉ cần vài ba cây gỗ lớn là đã đủ tiêu chí này. Và hiển nhiên là diện tích đất rừng này không được chuyển đổi sang rừng sản xuất.
Thực tế này đã tồn tại ở địa phương từ lâu, biết là rừng nghèo kiệt, muốn xin để chuyển đổi mục đích sang trồng cây keo, cao su… nhưng chính quyền không thể cấp phép. Vì người dân hưởng lợi quá ít từ rừng nên một số hộ dân quản lý rừng ở đây đã tự ý chuyển đổi trái phép đất lâm nghiệp trong rừng được giao sang trồng keo.
Không hưởng lợi nhiều từ rừng, rừng chưa tạo sinh kế giúp người dân thoát nghèo không phải là câu chuyện chỉ xảy đến với người dân vùng núi Nam Đông, ông Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn cho biết: Chính sách GĐGR có góp phần cải thiện thu nhập cho đồng bào thiểu số nhưng không nhiều, sinh kế cơ bản của đồng bào thiểu số không dựa vào rừng. Ước tính thu nhập của các nhóm hộ gia đình làm lâm nghiệp cho thấy, đa số họ thuộc diện nghèo hoặc cận nghèo. Muốn cải thiện sinh kế phải dựa vào các nguồn khác, chủ yếu dựa vào trồng trọt, chăn nuôi hoặc nghề nghiệp khác như cán bộ, giáo viên, có nơi đi xuất khẩu lao động…
Theo ông Sơn, trước thực trạng "đầu tư” vào rừng không có lãi nên đã xảy tra trường hợp nhiều hộ được giao/khoán phá rừng đã lấn chiếm rừng để trồng các loại cây công nghiệp hoặc chuyển rừng phòng hộ thành rừng trồng hoặc chuyển đất lâm nghiệp thành đất nông nghệp để dễ dàng nhượng bán cho người khác chỉ vì họ chẳng thể sống bằng nghề rừng.
Để tránh tình trạng đất rừng bị chuyển đổi mục đích, những cánh rừng phòng hộ dần biến mất, ông Sơn đề nghị, đối với nhóm dân tộc thiểu số (DTTS) có truyền thống sống gắn bó chặt chẽ với rừng và môi trường tự nhiên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần xem xét giao rừng phòng hộ, rừng đặc dụng cho cộng đồng quản lý, bảo vệ và hưởng lợi phù hợp tập quán, cánh tác của họ. Cần hỗ trợ đặc biệt cho đối tượng này để nâng cao chất lượng cuộc sống họ mới yên tâm chăm sóc và bảo vệ rừng.
Để phát triển sinh kế bền vững cho những người giữ rừng, chính quyền địa phương cần khuyến khích, hỗ trợ phát triển nông lâm kết hợp, có thể kết hợp với chăn nuôi và trồng các cây nông nghiệp thích hợp, phát triển các sản phẩm như nấm, măng tre, dược liệu… để người dân có thêm thu nhập. Thậm chí, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần xem xét chuyển đổi diện tích đất lâm nghiệp nghèo kiệt không thích hợp sang đất nông nghiệp tạo điều kiện cho người dân phát triển các sinh kế khác. (Đại Đoàn Kết 12/2) đầu trang(
'Hóa phép' thịt heo nái thành đủ loại thịt hạng sang
Nhiều đối tượng thu mua thịt heo nái già giá rẻ về chế biếnthành các loại thịt rừng hạng sang như thịt heo rừng, thịt đà điểu, thịt nhím…
Nhiều bạn đọc bày tỏ lo ngại "Thịt heo nái làm giả thịt nhím ra sao, độc hại thế nào?" sau khi Pháp Luật TP.HCM đưa tin “Tiêu hủy gần nửa tấn thịt heo nái giả thịt nhím”.
“Theo trình bày của chủ lô hàng, anh ta mua thịt heo nái về cắt lát rồi rưới máu của con nhím lên để biến thành thịt nhím”, một cán bộ tham gia kiểm tra điểm kinh doanh thịt heo làm giả thịt nhím ở một điểm kinh doanh trên đường số 16, khu phố 3, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức ( TP.HCM) tiết lộ.
Theo vị cán bộ trên, do tại thời điểm kiểm tra, không phát hiện có huyết nhím tại cơ sở kinh doanh sản xuất nên trong biên bản không thể hiện được thông tin này. “Chúng tôi chỉ xác định thịt được đóng gói dán nhãn thịt nhím trên bao bì là thịt heo nái. Đây là thịt mua trôi nổi, không có giấy kiểm dịch, không đảm bảo vệ sinh nên phải tịch thu tiêu hủy”, vị này giải thích thêm.
Qua tìm hiểu, được biết trước đây tại địa bàn quận Thủ Đức, Đội 2, Phòng cảnh sát môi trường – Công an TP.HCM cũng đã từng phối hợp với lực lượng thú y, phát hiện tại phường Linh Trung có ba điểm kinh doanh thịt heo nái không rõ nguồn gốc, phải tịch thu tiêu hủy.
“Điều bất thường là tại các điểm kinh doanh này có hơn 100 kg thịt heo được thui vàng da. Chắc chắn việc thui vàng da là nhằm mục đích làm giả thịt thú rừng. Tuy nhiên, do không có bằng chứng nên rất khó xác định hành vi làm giả thịt này”, một cán bộ tham gia buổi kiểm tra các điểm kinh doanh thịt không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm nói trên, nhớ lại.
Vị này cho biết, qua điều tra, thu thập thông tin để triệt phá các điểm kinh doanh “thịt đểu”, các trinh sát đều nghe nói đến chiêu thức “muốn làm giả thịt con gì thì phải rưới máu con đó lên. Tuy nhiên, cách thức chế biến cụ thể ra sao thì trước giờ chưa có đơn vị này bắt được quả tang.
Nhiều lần trao đổi với PV về các điểm kinh doanh thịt thú rừng ở TP.HCM, ông Nguyễn Đình Cương, nguyên Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP.HCM cho rằng, hầu hết đây là bán “thịt giả”. Ông giải thích: “Khi bán cho khách hàng thì họ nói đây là thịt heo rừng, thịt nai, thịt nhím… Nhưng khi bị bắt thì họ nói đây chỉ là thịt heo nhà, việc thui cho vàng da chỉ nhằm mục đích làm cho thịt ngon hơn. Thực tế, đó chỉ là thịt heo nên chức năng xử lý thuộc về bên cơ quan thú y”.
Theo ông Cương, điểm chung của những điểm kinh doanh “thịt giả” là mua thịt heo nái già, giá rẻ về thui vàng da rồi cắt thành những miếng thịt cho giống thịt của con thú này, thú kia.
Còn theo các nguồn tin từ cảnh sát môi trường, để biến thịt heo thành thịt thú rừng, các đối tượng kinh doanh chắc chắn phải có “bí quyết” trong việc chế biến. “Có thể họ dùng máu thịt thú rừng hay hóa chất để tẩm ướp vào thịt heo sao cho giống thịt thú rừng nhất. Tuy nhiên, các chất tẩm ướp này là chất gì thì đến nay vẫn chưa có đơn vị chức năng nào xác định được”, một cảnh sát môi trường, chia sẻ.
Nhiều cán bộ thú y cũng nhìn nhận, trong thời gian qua, hầu hết các vụ phát hiện làm thịt giả, cơ quan chức năng chỉ xác định được nguyên liệu là thịt heo nái không được kiểm dịch còn cách chế biến làm giả thịt ra sao thì vẫn chưa xác định.
“Hiện nay, các loại thịt thường dễ bị làm giả đó là thịt heo rừng, thịt nai, thịt đà điểu, thịt nhím… Nguyên liệu để làm các loại thịt này thường là thịt heo nái già. Thịt heo này thường mua trôi nổi với giá rẻ để chế biến bán lại giá cao, thu lợi nhiều. Các loại thịt làm giả đều không đảm bảo diều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, có nguy cơ gây độc hại cho người dử dụng”, một cán bộ thú y, nhận định. (Pháp Luật TP.HCM 13/2) đầu trang(
Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ, nơi giao hoà giữa con người và thiên nhiên
Vườn Quốc gia (VQG) Xuân Thuỷ nằm ở huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định; phía nam cửa Ba Lạt, nơi sông Hồng đổ ra biển Đông. Từ tháng 1/1989, VQG Xuân Thuỷ là vùng ngập nước đầu tiên của Đông Nam Á tham gia Công ước quốc tế RAMSAR; được UNESCO công nhận là vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng năm 2004.
Vườn có diện tích vùng lõi 7.100 ha, là nơi sinh sống của 120 loài thực vật, hơn 500 loài động vật và 30 loài bò sát và lưỡng cư; đáng chú ý là 220 loài chim, thuộc 41 họ, 13 bộ. Hàng năm từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, hàng chục ngàn cá thể chim di cư tránh rét từ phương Bắc đã chọn nơi đây để dừng chân, kiếm ăn. Trong đó, đã ghi nhận nhiều loài chim trong sách đỏ quốc tế như: Choắt lớn, Rẽ mỏ thìa, Cò thìa, Mòng biển mỏ ngắn, Cò lạo Ấn Độ…
Vùng đệm của vườn có diện tích 7.200 ha nằm trên địa bàn 5 xã: Giao Thiện, Giao An, Giao Hải, Giao Lạc và Giao Xuân; có tiềm năng phát triển kinh tế với nhiều loại hình: Nuôi ngao, tôm, nuôi ong lấy mật, trồng nấm, khai thác rau câu… Đáng chú ý, sản lượng nuôi ngao ở khu vực này được xếp loại hàng đầu cả nước, ổn định khoảng 12.000 tấn với mức thu nhập từ 150 đến 200 tỷ đồng/năm. Nhiều năm qua, nguồn lợi thuỷ sản đã nuôi sống và mang lại thu nhập cao cho hàng ngàn người dân địa phương.
Nơi đây, biển giao hoà với rừng, “chim trời, cá nước” giao hoà với hình ảnh con người mưu sinh. Những mô hình sinh thái, nuôi trồng thuỷ sản kết hợp với bảo vệ rừng, đã tạo nên bức tranh sinh động về vùng quê điển hình ở cửa sông ven biển miền Bắc. (ThienNhien.Net 13/2) đầu trang(
Xâm nhập thế giới gỗ ngầm ở một xã vùng biên
Hằng năm các tuyến rừng phòng hộ tiếp giáp với nước bạn Lào thuộc huyện Hương Khê (Hà Tĩnh), huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình) đã trở thành những điểm nóng khai thác rừng của lâm tặc. PV báo Người đưa tin đã có cuộc thâm nhập, tìm hiểu 1 đường dây khai thác gỗ lậu hết sức tinh vi ở xã Hương Lâm.
Hương Lâm vốn là một địa danh nổi tiếng, từng được biết đến như một điểm nóng về gỗ lậu.Sau khi nắm bắt được tình trạng khai thác gỗ lậu ở địa bàn xã Hương Lâm, đang nóng trở lại, PV đã vượt một quảng đường khá xa để tận mục sở thị về thực trạng gỗ lậu nơi đây. Qua đó, đã ghi nhận được những chiêu thức khai thác và vận chuyển gỗ trái phép hết sức tinh vi của một số người dân bản địa.
Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt PV khi có mặt tại xã vùng núi là cảnh tượng gỗ lậu có mặt ở khắp nơi. Hàng đống gỗ lộ thiên hai bên đường, trong mỗi khu vườn, từ đầu làng đến cuối xóm. Đi dọc trên đường, người chứng kiến còn dễ dàng bắt gặp những người đàn ông trung tuổi đang vận chuyển một vài cây gỗ lớn mà thoạt nhìn qua cũng đoán được những cây gỗ còn tươi, vừa mới được đốn hạ từ một khu rừng nào đó. Ở Hương Lâm, gỗ lậu xuất hiện như một phần tất yếu của cuộc sống.
Ngay sau khi tới điểm đầu tiên của xã Hương Lâm, phóng viên đã bắt gặp một nhóm khoảng 5 người đàn ông đang dùng xe cải tiến hì hục đẩy những khúc gỗ lớn từ dưới chân núi lên. Thấy vậy, PV dừng chân và tiến đến hỏi đường nhưng khi thấy người lạ, một thanh niên trong nhóm đã xông thẳng vào quát tháo, xua đuổi vì lo sợ một điều gì đó (?).
Theo chân một đầu nậu cộm cán trong nghề buôn lậu gỗ nhưng nay đã hoàn lương, được biết từ ngày xưa, người dân xã Hương Lâm sống chủ yếu dựa vào rừng và nay vẫn vậy. Hết rừng gần, họ tìm rừng xa, vào Quảng Bình hoặc vượt biên giới sang tận Lào để khai thác gỗ, nuôi sống gia đình. “Cách đây 5 năm về trước, gỗ được khai thác, vận chuyển, hay mua bán ở Hương Lâm đều diễn ra công khai, không lén lút. Chính quyền, các cơ quan chức năng ở đây, hình như xem đó như là điều đương nhiên và tất yếu. Nhưng hai năm qua, các cơ quan làm chặt nên đã lắng xuống một thời gian, mới đây điểm nóng này bắt đầu đã trở lại”, đầu nậu cộm cán đã hoàn lương cho biết.
Điều đáng nói, khi gỗ ở rừng được người dân vận chuyển về thì ngay sau đó những đầu nậu gỗ sẽ tìm đến để ra giá. Bằng những thủ đoạn tinh vi, những đầu nậu này sẽ tìm cách đưa gỗ ra khỏi vùng giáp ranh đầy nhạy cảm này.
Qua tìm hiểu được biết, kinh tế của hơn 2/3 hộ dân ở xã Hương Lâm đều phụ thuộc vào gỗ và rừng. Chính vì khai thác rừng một cách tàn khốc, không theo một cách thức cụ thể mà rừng ở Hương Lâm đã bị người dân cạo trọc từ nhiều năm trước. “Hiện nay, gỗ ỡ những cánh rừng thuộc Hương Lâm và một số xã lân cận đã không còn một gốc nào. Gỗ chủ yếu được người ta khai thác từ những cánh rừng của Quảng Bình và Lào. Nhiều nhất, tập trung nhất vẫn là những cánh rừng của huyện Tuyên Hóa, thuộc vùng giáp ranh giữa Quảng với Hà Tĩnh. Vùng rừng này có nhiều loại gỗ quý như: sến, táu, de, lim…”. (Người Đưa Tin 12/2) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Thực hiện Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), vừa qua UBND tỉnh đã có quyết định phê duyệt Đề án thực hiện chính sách chi trả DVMTR tỉnh Quảng Ninh giai đoạn đến năm 2020.
Đây là cơ sở quan trọng để triển khai nghị định một cách hiệu quả, góp phần quản lý, bảo vệ, phát triển rừng một cách bền vững.
Theo Nghị định 99 của Chính phủ, các bên sử dụng DVMTR phải chi trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ. Các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ DVMTR sẽ phải trả tiền DVMTR tính bằng 1-2% doanh thu thực hiện trong kỳ. Các cơ sở sản xuất thuỷ điện, mức chi trả 20 đồng/Kwh điện thương phẩm; các cơ sở sản xuất nước sạch 40 đồng/m3 nước thương phẩm. Cơ sở sản xuất công nghiệp, dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thuỷ sản cũng phải trả tiền DVMTR...
Với hơn 310.000ha rừng, Quảng Ninh là một trong những địa phương có diện tích rừng, độ che phủ rừng lớn trong cả nước. Xác định được tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 3696/UBND-NLN2 ngày 19-9-2011 về Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh và Quyết định số 3322/QĐ-UBND ngày 31-12-2014 phê duyệt đề án thực hiện chính sách chi trả DVMTR tỉnh Quảng Ninh giai đoạn đến năm 2020.
Theo đó, mục tiêu của việc triển khai Nghị định 99 nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân đối với sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng; huy động các nguồn lực xã hội để bảo vệ và phát triển rừng; đảm bảo cho người lao động trực tiếp tham gia hoạt động sản xuất, bảo vệ, phát triển rừng được chi trả giá trị của rừng do mình tạo ra, đúng giá trị của rừng đem lại cho xã hội.
Cùng với đó, thực hiện chính sách chi trả DVMTR nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, sử dụng và bảo vệ, phát triển rừng cho các chủ rừng, góp phần thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp.
Tại Quyết định 3322, UBND tỉnh đã xác định rõ, các đối tượng sử dụng dịch vụ môi trường rừng sẽ thực hiện việc chi trả trong năm 2015 và các đối tượng sử dụng dịch vụ môi trường rừng chi trả đến năm 2020; xác định diện tích lưu vực cung ứng DVMTR; hệ số quy đổi; các đối tượng cung ứng DVMTR; giá trị chi trả môi trường rừng và kế hoạch chi trả cho từng giai đoạn một cách cụ thể.
Theo đó, tổng diện tích cung ứng DVMTR trong toàn tỉnh được xác định là trên 13 lưu vực, với diện tích cung ứng quy đổi là 156.365ha với 2 nhóm cung ứng DVMTR gồm: Nhóm các hộ gia đình, hợp tác xã, cộng đồng thôn và UBND cấp xã; nhóm thứ 2 là 97 chủ rừng gồm các ban quản lý rừng phòng hộ đặc dụng, công ty lâm nghiệp, các đơn vị lực lượng vũ trang, doanh nghiệp.
Đối tượng sử dụng DVMTR thực hiện chi trả từ năm 2015 bao gồm: Nhà máy Thuỷ điện Khe Soong, thuộc Công ty CP An Sinh Lộc với công suất thiết kế 3,6MW, nằm trên lưu vực sông Tiên Yên; Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh với 9 đơn vị thành viên; Công ty CP Phát triển Tùng Lâm nằm trong ranh giới của Rừng Quốc gia Yên Tử. Tổng giá trị thu từ các đơn vị sử dụng DVMTR này qua tính toán sơ bộ ban đầu là 5,2947 tỷ đồng.
Giá trị chi trả DVMTR sẽ được tính toán và thay đổi hàng năm tuỳ thuộc vào sản lượng điện, sản lượng nước thương phẩm và doanh thu du lịch của năm đó theo giá trị thực mà các đơn vị sử dụng DVMTR đạt được. Cùng với đó, UBND tỉnh cũng sơ bộ xác định hơn 90 đối tượng sử dụng DVMTR tiềm năng với giá trị chi trả hàng trăm tỷ đồng.
Ông Phạm Văn Thanh, Chuyên viên kỹ thuật, Chi cục Lâm nghiệp cho hay: Thực hiện chính sách chi trả DVMTR sẽ là bước đột phá trong việc giải quyết nhiều vấn đề, trong đó trọng tâm là 3 vấn đề cơ bản về môi trường, kinh tế và xã hội, góp phần giảm thiểu mất rừng, suy thoái rừng và nâng cao chất lượng rừng, làm tăng khả năng phòng hộ của rừng, đảm bảo cân bằng sinh thái giảm thiểu biến đổi khí hậu, hạn chế hạn hán, lũ lụt. Chính sách này sẽ tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức và sẽ tăng cường sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa đơn vị chủ rừng với chính quyền địa phương trong công tác bảo vệ rừng, tổ chức thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ phát triển rừng bền vững.
Thông qua chính sách này sẽ tạo ra mối liên kết mang tính bền vững giữa người sử dụng và người cung ứng DVMTR. Các chủ rừng, người bảo vệ rừng cũng thông qua đó hiểu được giá trị DVMTR do mình tạo ra để trở thành hàng hoá và thấy được trách nhiệm và quyền lợi của việc cung ứng dịch vụ. Người sử dụng dịch vụ phải chi trả tiền và nhận thức được việc đầu tư bảo vệ rừng chính là đầu tư vào sản xuất, là sự bền vững của các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, khu du lịch sinh thái và nước sạch phục vụ cho sản xuất và đời sống của con người.
Tuy nhiên, cũng theo đánh giá của ngành chức năng, hiện nay việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh còn gặp một số khó khăn. Trước tiên, phải kể đến hiện nay Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh mới chỉ có một cán bộ kiêm nhiệm nên khó khăn trong việc triển khai thực hiện. Mức thu phí chi trả DVMTR thấp, trong khi đó diện tích chi trả lớn.
Ví dụ, đối với Nhà máy Thuỷ điện Khe Soong với mức thu 20 đồng/m3 nước, tổng mức thu/năm khoảng 165 triệu đồng, trong khi đó tổng diện tích chi trả khoảng 50.000ha gồm toàn bộ lưu vực đầu nguồn sông Tiên Yên. Việc chi trả chia ra đối với mỗi chủ rừng là quá thấp. Mỗi chủ rừng khi thực hiện chi trả phải đầy đủ hồ sơ bao gồm hợp đồng khoán bảo vệ rừng; hợp đồng chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Đối với Công ty CP Phát triển Tùng Lâm và Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh cũng tương tự, kinh phí chi trả của các đơn vị này đối với DVMTR không lớn nhưng lưu vực, diện tích rừng quá lớn và các chủ rừng thuộc đối tượng cần chi trả thì quá nhiều cũng gây khó khăn cho việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR. (Báo Quảng Ninh 12/2) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt danh mục Dự án "Lồng ghép bảo tồn đa dạng sinh học, thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lý rừng bền vững cảnh quan Trung Trường Sơn Việt Nam”.
Dự án do Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) tài trợ thông qua Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).
Dự án nhằm tăng cường quản lý và duy trì tính toàn vẹn sinh thái của hệ thống khu bảo tồn và vùng xung quanh tại cảnh quan Trung Trường Sơn của Việt Nam; bảo đảm dịch vụ hệ sinh thái rừng bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng Trung Trường Sơn, đem lại lợi ích sinh kế cho cộng đồng địa phương góp phần tăng trưởng kinh tế khu vực.
Dự án gồm 2 hợp phần: 1- Tăng cường lập kế hoạch và quản lý đa dạng sinh học và rừng trong và xung quanh khu bảo tồn tại cảnh quan Trung Trường Sơn; 2- Các biện pháp bảo tồn cảnh quan ở cấp cộng đồng tại các khu bảo tồn và vùng xung quanh khu bảo tồn nhằm cung cấp tài chính bền vững và giảm phát thải khí nhà kính.
Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chủ quản. Các địa phương tham gia thực hiện Dự án gồm: Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam. Thời gian thực hiện Dự án dự kiến từ năm 2015 đến năm 2018.
Kinh phí thực hiện Dự án là 4.544.954 USD, trong đó vốn ODA do GEF tài trợ không hoàn lại thông qua ADB là 3.794.954 USD; vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam là 750.000 USD (của Bộ Tài nguyên và Môi trường: 100.000 USD, của Quảng Trị: 230.100 USD, của Thừa Thiên - Huế: 189.800 USD, của Quảng Nam: 230.100 USD). (Nhân Dân 13/2; Chính Phủ 12/2) đầu trang(
12.2, theo nguồn tin của Báo Lao Động, trung tướng Trình Văn Thống (Phó tổng cục trưởng Tổng cục An inh II, Bộ Công an) đã có văn bản gửi lãnh đạo các tỉnh, thành phố cả nước, khuyến cáo dấu hiệu lừa đảo của công ty Rừng Toàn Cầu và khối liên doanh (các công ty có liên kết với Rừng Toàn Cầu). Công ty Rừng Toàn Cầu đã từng được Báo Lao Động có loạt bài điều tra phản ánh về sự làm ăn mập mờ… khó hiểu !
Văn bản của Bộ Công an cho biết, trong thời gian vài năm trở lại đây ở nhiều tỉnh thành trong cả nước xuất hiện hoạt động của Công ty CP phát triển kinh tế rừng bền vững Toàn Cầu (thường gọi là Rừng Toàn Cầu) và khối liên doanh khác.
Khối liên doanh gồm các công ty, như công ty CP đầu tư xây dựng và phát triển Hiển Vinh, công ty CP đầu tư xây dựng thương mại và XNK Phúc Thịnh, công ty CP đầu tư và phát triển kinh tế rừng bền vững Toàn cầu, công ty TNHH lâm nghiệp Tân Phú, công ty CP quốc tế đầu tư và phát triển Minh Cường, công ty CP phát triển đại chúng bền vững quỹ môi trường xanh Toàn Cầu, công ty CP phát triển bền vững Nông Lâm nghiệp Việt Nam, công ty CP phát triển bền vững Bình Minh…
Công ty Rừng Toàn Cầu và khối liên doanh nhiều công ty khác đã mở văn phòng đại diện, chi nhánh ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước. Khối này đã có những hoạt động như: tổ chức các hội thảo, tuyên truyền có nguồn vốn lên đến hàng chục tỷ đôla Mỹ, làm từ thiện bằng cổ phiếu, thu gom giấy tờ đất đai của nhiều người.
Theo Tổng cục An ninh II, Bộ Công an, Công ty Rừng Toàn Cầu và khối liên doanh không có năng lực tài chính như ông bà chủ công ty này rêu rao. Công ty hoạt động có nhiều dấu hiệu sai phạm, như giả mạo công văn của Văn phòng Chính phủ, xin thuê đất và thu gom sổ đỏ ở các địa phương, tuyên truyền có nguồn tiền “ảo” lên đến hàng chục tỉ đô, thành lập công ty có đề cập vốn điều lệ lên đến hàng ngàn tỉ đồng nhưng các thành viên không góp vốn, tự ý phát hành cổ phiếu, cổ phần khống, ký kết hợp đồng đầu tư, tài trợ, từ thiện bằng cổ phiếu khống cho nhiều cá nhân, doanh nghiệp… nhằm mục đích lừa đảo.
Riêng tại TP.HCM đã thu hồi giấy phép kinh doanh của công ty Rừng Toàn Cầu và công ty TNHH lâm nghiệp Tân Phú…
Tuy nhiên, Bộ Công an cho biết, Công ty Rừng Toàn Cầu và một số công ty thuộc nhóm này vẫn hoạt động thu gom hồ sơ lập dự án vườn ươm và cấp giấy chứng nhận sở hữu cổ phần khống để thu tiền của người dân.
Do vậy, Bộ Công an cảnh báo đến các tỉnh thành, tăng cường các biện pháp tuyên truyền, hạn chế những người dân, doanh nghiệp sập bẫy của Công ty Rừng Toàn Cầu và khối liên doanh. Các địa phương cả nước cần kiểm tra, ngăn chặn Công ty Rừng Toàn Cầu và khối liên doanh tổ chức hội nghị tại địa phương, tăng cường các hoạt động kiểm tra, xử lý nghiêm, rút giấy phép kinh doanh, hoạt động của tổ chức có tên là Rừng Toàn Cầu và khối liên doanh. (Người Lao Động 13/2; Lao Động 12/2) đầu trang(
Thời gian qua, công tác trồng, chăm sóc, quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn Lệ Thủy thường xuyên được quan tâm, thực hiện có hiệu quả. Thống kê năm 2014, toàn huyện đã trồng mới được 1.000ha rừng tập trung (kế hoạch là 700ha).
Diện tích rừng được chăm sóc ở thời điểm hiện tại là 9.020ha, khoanh nuôi, bảo vệ 33.000ha. Cũng trong năm 2014, sản lượng gỗ khai thác trên địa bàn Lệ Thủy ước đạt 65.300m3, khai thác trên 1.000 tấn nhựa thông; giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng 8% so với năm 2013.
Năm 2015 này, huyện Lệ Thủy tiếp tục tăng cường quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp; kiên quyết ngăn chặn và đẩy lùi nạn phá rừng, lấn chiếm đất rừng. Đồng thời tích cực trồng rừng kinh tế, trồng cao su theo kế hoạch, phấn đấu diện tích rừng trồng tập trung đạt từ 500-700ha, giá trị sản xuất lâm nghiệp tiếp tục tăng từ 7-8% so với năm 2014. (Báo Quảng Bình 12/2) đầu trang(
Macadamia còn được gọi là cây Maca, đang được các phương tiện truyền thông ở nước ta coi là "cây trồng tỷ đô", hoặc "cây hoàng hậu" bị nông dân "hững hờ". Vậy, giá trị và giá cả thực tế của cây này ra sao, khả năng phát triển ở Việt Nam như thế nào?
Theo GS. Lê Đình Khả- Hội KHKT Lâm nghiệp VN, Macadamia là cây ăn quả thân gỗ có giá trị kinh tế cao, đầu tư trồng macadamia phải sau 6-7 năm mới có lãi, song vẫn chưa đến điểm hòa vốn. Đây là điều mà người đầu tư cần tính đến trước khi trồng.Dân trí xin trích đăng một số thông tin từ bài viết giới thiệu toàn diện về loài cây này của ông: "Trồng Macadamia ở Việt Nam".
Macadamia là tên do nhà thực vật học người Đức Ferdinand Von Muller đặt năm 1857 để tưởng nhớ người bạn là tiến sỹ John Macadam, nhà khoa học người Scotlent. Macadamia là tên chi và cũng là tên loài cây có giá trị dinh dưỡng cao nhất là Macadamia integrifolia Maiden & Betche. Đây là loài cây ăn quả thân gỗ thường xanh cao 2-12 m, thuôc nhóm quả hạch, hạt có vỏ cứng, tỷ lệ nhân (kernel) trong hạt 30 - 50%, tỷ lệ dầu trong nhân 71- 80%, trong đó chủ yếu là axit béo chưa no, rất có giá trị. Nhân hạt macadamia được dùng làm nhân bánh ngọt, nhân socola, kem, bánh hộp, mỹ phẩm, hoặc ăn trực tiếp ở dạng đồ hộp.
Tại Việt Nam, Macadamia được trồng thử tại Ba Vì từ năm 1994. Năm 1999 một số cây đã bắt đầu có quả. Năm 2010 cây sai quả nhất đã có 10 kg hạt. Cây đã được trồng khảo nghiệm ở nhiều nơi tại nước ta, trong đó một số nơi đã thu được kết quả rất khả quan, điển hình là vườn Macadamia trồng xen Cà phê do TTG phối hợp với gia đình ông Nguyễn Văn Cúc xây dựng từ năm 2004 ở thôn Lộc Xuân, xã Phú Lộc, huyện Krông Năng ở Đắc Lắc.
Đến nay đã có 10 giống macadamia được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận để phát triển vào sản xuất tại Krông Năng (Đắc Lắc) và Ba Vì (Hà Nội). Dự án "trồng sản xuất thử nghiệm một số giống macadamia (OC, 246, 816, 849) tại Tây Nguyên" cũng được Bộ Khoa học và Công nghệ cho thực hiện từ năm 2012.
Để trồng Macadamia có hiệu quả cần hiểu biết đặc điểm sinh thái, một số vấn đề về kỹ thuật trồng, kết quả khảo nghiệm giống trong thời gian qua ở nước ta.
Macadamia thích hợp ở nơi có nhiệt độ trung bình hàng năm 20 - 25oC, không sương muối, nhiệt độ mùa đông trên 15oC, không dưới -1oC trong thời kỳ ra lá non và ra hoa, mặc dù có thể chịu được nhiệt độ 5oC trong thời gian ngắn, và không bị ẩm ướt kéo dài trong mùa xuân để không bị tàn lụi hoa (blossom blight), song cũng không quá nóng (mùa hè không quá 35oC). Vì nhiệt độ quá thấp thì cây bị chết, nhiệt độ quá cao cây sinh trưởng kém, tỷ lệ rụng quả sớm cao, kích thước hạt nhỏ, và có thể bị cháy lá.
Ngoài ra, khi bị gió mạnh cành macadamia rất dễ bị gãy, quả dễ bị rụng, vì thế cần tránh nơi có gió mạnh, đặc biệt là tránh nơi có gió lào khô nóng trong mùa xuân hè.Macadmia có thể trồng trên các loại đất trung tính có độ dốc dưới 15o, sâu hơn 1m, không bị ngập, thoát nước tốt và giàu mùn. Trên các loại đất này Macadamia có sinh trưởng tối ưu, năng suất cao, ít bị bệnh tàn lụi cây và ít bị bệnh loét thân. Tránh trồng Macadamia trên đất glây nặng và bị ngập úng trong mùa mưa.
Từ các đặc điểm nói trên có thể thấy nơi trồng macadamia thích hợp ở nước ta là một số tỉnh ở Tây Nguyên, Bắc Trung bộ và Bắc bộ. Những nơi không nên trồng macadamia là những nơi quá nóng (nhiệt độ trung bình hàng năm trên 25oC) như các tỉnh Nam Trung bộ, Nam bộ, và những nơi quá lạnh (nhiệt độ trung bình hàng năm dưới 20oC, nhiệt độ trung bình tháng trong mùa đông-xuân dưới 15oC) ở vùng núi cao phía Bắc, hay những nơi có gió Lào trong mùa xuân hè.
Giống là khâu quan trọng nhất cho bất cứ một loài cây trồng nào, đặc biệt là cây lấy quả lâu năm. Trồng macadamia chỉ thành công sau khi có kết quả khảo nghiệm giống, biết được giống nào có thể trồng ở đâu. Chính vì thế từ năm 2002 -2003 đến năm 2012 một loạt khảo nghiệm giống macadamia đã được xây dựng tại một số vùng sinh thái chính ở nước ta.
Bộ NN&PTNT đã có quyết định số 2039 và 2040/QĐ-BNN-TCLN ngày 1 tháng 9 năm 2011 công nhận các giống 695, 741, 800, 842 và 900 của Công ty CP Xuất nhập khẩu nông lâm sản chế biến cho vùng Ba Vì (Hà Nội) và những nơi có điều kiện sinh thái tương tự; các giống OC, 246, 816, 849 cho vùng Krông Năng (Đắc Lắc) và Daddow (65QĐ-BNN-TCLN) cho vùng Ba Vì (Hà Nội) của Viện Nghiên cứu Giống và CNSH Lâm nghiệp (QĐ65). Đây là những giống có năng suất 5 - 7 kg hạt/cây/năm sau 5 - 6 năm trồng.
Tại Australia, quê hương của loài cây này, tính chung trong cả 20 năm gần đây thì giá hạt macadamia cả vỏ chưa bao giờ vượt quá 3,60 AD/kg, nghĩa là lúc thấp nhất 27.500 VND/kg, cao nhất chưa vượt quá 65.900 VND/kg.
Một vườn quả macadamia 20 ha thì 3-4 năm đầu chưa có thu nhập, phải đầu tư 28,5 triệu đồng/ha, đến năm thứ 7 có thể thu lãi 2,6 triệu đồng/ha (chưa phải điểm hòa vốn), năm thứ 15 có thể thu lãi 78,2 triệu đồng/ha. Một số nơi có thể có lãi trước 7 tuổi, song nhìn chung phải sau 8 - 10 năm mới có thu nhập ổn định.
Giá hạt macadamia trên thế giới tuy có thay đổi, song tương đối ổn định giữa các năm và giữa các nước (khoảng 30.000-50.000 đồng/kg),đầu tư trồng macadamia phải sau 6-7 năm mới có lãi, song vẫn chưa đến điểm hòa vốn. Đây là điều mà người đầu tư cần tính đến trước khi trồng.
Kết luận, Macadamia là cây ăn quả thân gỗ có giá trị kinh tế cao, đã được một số nước trồng ở quy mô sản xuất. Cây này được đưa vào nước ta từ đầu những năm 1990, đã được trồng khảo nghiệm ở nhiều nơi, trong đó tại Krông Năng (Đắc Lắc) là nơi có triển vọng nhất, sau đó là một số nơi ở miền Bắc và Bắc Trung bộ. Các tỉnh miềm Nam, Nam Trung bộ và duyên hải miền Trung, những nơi có nhiệt độ trung bình hàng năm trên 25oC và những nơi có gió Lào trong mùa nở hoa, không phù hợp với Macadamia.Trồng macadamia bằng cây hạt năng suất chỉ bằng 1/4 đến 1/2 năng suất trồng bằng cây ghép của những giống cao sản đã được đánh giá qua khảo nghiệm và đã được Bộ NN&PTNT công nhận thích hợp với từng vùng sinh thái.
Trồng macadamia phải có đầu tư thích đáng, 4-5 năm đầu chưa có thu hoạch, phải đầu tư chăm sóc là chính, sau 6 - 7 năm mới có lãi.
Trong các giống đã đưa vào nước ta, tại những nơi có điều kiện lập địa phù hợp với Macadamia cũng chỉ có một số giống thích hợp nhất, có năng suất cao. Trước khi trồng trên diện rộng cần khảo nghiệm hoặc trồng thử trên lập địa có tính đại diện và cần tìm hiểu đặc điểm sinh thái, năng suất và giá cả để tính toán đầu tư hợp lý. (Dân Trí 13/2) đầu trang(
Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ: “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân” Tết trồng cây đầu xuân luôn được Đảng bộ, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể trong tỉnh quan tâm, trở thành nét đẹp văn hóa mỗi dịp Tết đến xuân về.
Theo ông Lê Văn Minh, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, những năm qua người dân sống ở các địa phương có đất lâm nghiệp, vùng chuyển đổi ruộng trũng sang nuôi trồng thủy sản tích cực tham gia trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, cây phân tán,… Nhờ vậy, cơ bản 645,3 ha đất lâm nghiệp trong tỉnh được phủ xanh bằng nhiều loại cây ăn quả, keo, thông, và các loại cây bản địa có giá trị kinh tế cao như: Lim, lát, dổi, muồng, long não…
Ở đô thị, cây xanh được trồng dọc theo những tuyến đường, trong công viên, khuôn viên cơ quan đơn vị trường học, vườn hoa, khu vui chơi giải trí, khu dân cư tập trung... vừa làm đẹp cho những con đường, những ngôi nhà, những công trình mới, vừa là một chiếc “máy điều hoà” giúp cho con người có được bầu không khí trong lành.
Năm 2014, mặc dù gặp không ít khó khăn do kế hoạch trồng rừng tỉnh giao muộn; vốn đầu tư chậm; đất quy hoạch cho phát triển lâm nghiệp bị sói mòn; thời tiết khô hạn… song với sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành, sự ủng hộ của chính quyền các địa phương, cùng sự tham gia tích cực của các hộ gia đình, toàn tỉnh trồng mới 7,7 ha rừng tại các khu di tích, cải tạo nâng cấp được 11,2 ha rừng với những giống cây ươm bằng mô, hom có thời gian sinh trưởng ngắn, tỷ lệ cây sống cao, sinh trưởng, phát triển tốt; chăm sóc rừng 116,9 ha, khoán bảo vệ 430 ha rừng. Công tác quản lý bảo vệ rừng được thực hiện khá tốt, không để xảy ra tình trạng chặt phá rừng, lấn chiếm khai thác đất lâm nghiệp ở mức độ lớn và phức tạp.
Cùng với trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc, toàn tỉnh còn trồng 358.000 cây xanh phân tán các loại, đạt 100% kế hoạch năm. Chỉ riêng Tết trồng cây Xuân Giáp Ngọ trồng được gần 30.000 cây xanh các loại. Ngoài ra, bằng nguồn vốn sự nghiệp lâm nghiệp, toàn tỉnh triển khai 7 điểm mô hình trồng cây, trồng được 20.000 cây xanh các loại với tỷ lệ cây sống đạt xấp xỉ 100%, hiện đang sinh trưởng và phát triển tốt.
Nhìn lại kết quả trồng cây năm 2014 cho thấy việc tổ chức được thực hiện tiết kiệm và hiệu quả hơn. Tuy số lượng cây trồng mới giảm nhiều nhưng tỷ lệ cây sống sau khi trồng tăng hơn nhiều so những năm trước, đạt hơn 90%. Các địa phương không chỉ tập trung trồng mới mà còn chú trọng chăm sóc thường xuyên số cây trồng trước đó đang trong thời kỳ sinh trưởng, phát triển.
Một mùa xuân nữa đang đến, công tác chuẩn bị cho Tết trồng cây đang được các địa phương tích cực triển khai với mục tiêu trồng mới 14,5 ha, chăm sóc 58 ha, bảo vệ 445,9 ha rừng, trồng mới 400.000 cây phân tán, triển khai 8 điểm trồng cây lâm nghiệp bằng vốn hỗ trợ của Nhà nước. Để Tết trồng cây được thực hiện hiệu quả, tiết kiệm, các cấp chính quyền cần quan tâm lựa chọn cây giống có chất lượng tốt, phù hợp điều kiện của từng địa phương, việc trồng cây phải đi đôi với bảo vệ, chăm sóc.
Đối với cây trồng trong dịp lễ phát động phải là những cây lâu năm, có giá trị kinh tế và cảnh quan. Cây ăn quả cần chú ý tìm các giống mới có giá trị kinh tế cao, thị trường tiêu thụ thuận lợi. Cây phân tán thì tùy thuộc vào vị trí, địa điểm trồng và điều kiện thực tế để lựa chọn cho phù hợp.
Các cơ quan, đơn vị, trường học cần tăng cường tuyên truyền về ý nghĩa của Tết trồng cây để nâng cao ý thức của mỗi người trong việc trồng, giữ gìn và bảo vệ cây xanh. Quan trọng hơn, tỉnh cần xem xét chính sách hỗ trợ cây giống, các địa phương thực hiện cơ chế khoán trồng, chăm sóc, bảo vệ, khai thác để người dân tích cực hưởng ứng, tham gia thiết thực vào phong trào hữu ích này. (Báo Bắc Ninh 12/2) đầu trang(
Để chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu UBND tỉnh Kiên Giang chỉ đạo tập trung bảo vệ rừng ngập mặn ven biển hiện có, từng bước đầu tư khôi phục diện tích rừng ngập mặn ven biển đã bị suy thoái; đẩy mạnh xã hội hóa trong công tác trồng, khôi phục rừng ngập mặn, gắn với chính sách quản lý khai thác phù hợp.
Đây là ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải trong chuyến thăm và làm việc tại tỉnh Kiên Giang về tình hình sản xuất nông nghiệp, công tác thủy lợi và ứng phó biến đổi khí hậu. (Chính Phủ 12/2) đầu trang(
Năm 2015, huyện Hàm Yên có kế hoạch trồng mới 2.300 ha rừng, trong đó 2.200 ha rừng tập trung, 100 ha rừng phân tán. Hiện các xã, thị trấn và các công ty, đơn vị liên quan đã chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho công tác trồng rừng.
Ngay từ cuối năm 2014, UBND huyện đã xây dựng kế hoạch và giao chỉ tiêu trồng rừng cụ thể đến các đơn vị và địa phương trên địa bàn, tiếp tục triển khai đề án giao rừng theo dự án gắn với giao đất, giao rừng cho nhân dân. Bên cạnh đó, huyện tiếp tục thực hiện cơ chế, chính sách hỗ trợ trồng rừng sản xuất tập trung và trồng cây phân tán, chỉ đạo các cơ quan chức năng tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn, kiên quyết không để các hộ gia đình sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích để trồng cây nông nghiệp ngắn ngày.
Các đơn vị gieo ươm cây giống trên địa bàn huyện đã chuẩn bị trên 2,5 triệu cây giống, trong đó chủ yếu là keo. Trung tâm Nghiên cứu và Thực nghiệm cây nguyên liệu giấy Hàm Yên là một trong những đơn vị gieo ươm cây giống cung cấp cho người trồng rừng trên địa bàn; theo kế hoạch, năm nay Trung tâm sản xuất 330.000 cây keo lai, 160.000 cây keo hạt.
Ngoài keo lai và keo hạt, năm nay trung tâm cũng đã gieo ươm thành công 200.000 cây keo mô. Ưu điểm của keo mô so với keo sản xuất bằng phương pháp giâm hom là rất sạch bệnh, cây sinh trưởng phát triển tốt, ít bị đổ ngã khi gặp thời tiết bất lợi, thêm vào đó, năng suất của keo mô cao gấp 3 lần keo giâm hom, đây cũng là tiền đề để đơn vị hình thành cùng cây nguyên liệu có sinh khối lớn trên địa bàn.
Ông Nguyễn Văn Tiếp, Phó Chủ tịch UBND xã Thành Long cho biết, năm nay xã có kế hoạch trồng mới 217 ha rừng. Hiện xã đang tập trung đôn đốc các thôn bản chuẩn bị sẵn các điều kiện để trồng rừng như phát dọn thực bì, cuốc hố trồng, chuẩn bị phân bón... Đối với các diện tích rừng đã đến tuổi thu hoạch, các chủ rừng chủ động khai thác để giải phóng đất, để sẵn sàng trồng rừng ngay sau dịp Tết Nguyên đán.
Theo anh Bùi Văn Ngoan, Trưởng thôn Đoàn Kết 3, thôn có 100% đồng bào Cao Lan nên việc vận động người dân trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng phải rất kiên trì, cả thôn hiện có gần 95 ha rừng sản xuất. Đã có một số hộ có diện tích rừng lớn, có thu nhập ổn định từ rừng như Thạch Văn Huân, Hoàng Văn Sườn... Năm 2014, thôn đã hoàn thành 12,5 ha/8 ha kế hoạch giao nên phát huy kết quả này, năm nay xã giao kế hoạch trồng mới 10 ha, nhưng chúng tôi phấn đấu hoàn thành vượt chỉ tiêu.
Cùng với trồng rừng, công tác bảo vệ rừng cũng được huyện Hàm Yên chú trọng. Hiện diện tích rừng của huyện Hàm Yên là trên 50.114 ha, trong đó rừng phòng hộ là 8.630 ha, rừng sản xuất là 41.483 ha. UBND huyện chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với chính quyền các xã, thị trấn đẩy mạnh công tác tuyên truyền về Luật Bảo vệ và phát triển rừng đến toàn thể nhân dân, triển khai việc ký cam kết bảo vệ rừng đến từng hộ, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm. Đối với những trường hợp phát rừng lấn chiếm đất làm nương, lấn chiếm đất rừng trồng các loại cây ngắn ngày như sắn... phải kiên quyết xử lý. (Báo Tuyên Quang 13/2) đầu trang(
Theo kế hoạch, trong dịp Tết trồng cây xuân Ất Mùi toàn tỉnh phấn đấu trồng 650ha rừng tập trung, 517 ngàn cây phân tán, tạo đà để năm 2015 toàn tỉnh hoàn thành kế hoạch trồng 1,055 triệu cây phân tán, 6.484ha rừng tập trung.
Trong đó trồng theo chương trình bảo vệ, phát triển rừng là 3.431ha, trồng rừng nguyên liệu giấy 1.543ha. Thời gian phát động, tổ chức tết trồng cây kéo dài trong 1 tháng, bắt đầu từ ngày 24/2/2015 (tức ngày mùng 6 tháng Giêng năm Ất Mùi) đến ngày 24/3/2015; ngày phát động Tết trồng cây dự kiến vào mùng 6 tháng Giêng. Cũng vào dịp đó, Tết trồng cây xuân Ất Mùi - 2015 của Quốc gia cũng sẽ được tổ chức tại tỉnh ta.
Đây là sự kiện chính trị lớn, có ý nghĩa với nhân dân Đất Tổ và đồng bào cả nước nhằm tiếp tục kỷ niệm những ngày lễ lớn và tiến hành đại hội Đảng các cấp; thi đua phấn đấu hoàn thành toàn diện kế hoạch 5 năm 2010-2015, mở đầu kế hoạch 5 năm giai đoạn 2015-2016 xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước CNH-HĐH.
Do Tết Ất Mùi năm nay được nghỉ dài ngày, sau tết còn dư âm lễ hội đồng thời với đó là thời điểm tập trung hoàn thành kế hoạch, đúng tiến độ gieo cấy lúa xuân và trồng các cây rau, màu, thực hiện nhiều nhiệm vụ kinh tế, xã hội, an ninh trật tự khác… nên các ngành, các địa phương phải chuẩn bị chu đáo, chỉ đạo tích cực, sát sao để hoàn thành tốt Tết trồng cây.
Để hoàn thành mục tiêu, tổ chức “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” xuân Ất Mùi và kế hoạch trồng cây, trồng rừng năm 2015 đảm bảo hiệu quả, chất lượng, trước hết các địa phương, các đơn vị, cơ quan, doanh nghiệp… cần đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền ý nghĩa, hiệu quả kinh tế và tác dụng nhiều mặt của việc trồng cây, trồng rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn gen và tính đa dạng sinh học của rừng; phổ biến kinh nghiệm và giới thiệu gương người tốt, việc tốt, các mô hình trồng rừng đạt hiệu quả kinh tế, các tổ chức, cá nhân điển hình tiêu biểu trong việc phát triển kinh tế đồi rừng và quản lý bảo vệ tài nguyên rừng làm cơ sở nhân rộng phong trào.
Một nhiệm vụ hết sức quan trọng là công tác chuẩn bị lễ ra quân và thực hiện kế hoạch năm 2015. Ngay khi triển khai “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ”, từng địa phương, đơn vị cần rà soát quy hoạch và hiện trạng quỹ đất lâm nghiệp trên địa bàn, phân bổ chi tiết cho các xã, phường, thị trấn đơn vị; cụ thể hoá địa điểm trồng cây, trồng rừng, nhất là địa điểm phát động Tết trồng cây, đồng thời khẩn trương thực hiện khảo sát, thiết kế, lập dự toán, xử lý thực bì, cuốc hố, chuẩn bị đầy đủ vật tư phân bón, cây giống, nhân lực... đảm bảo kế hoạch. Qua nhiều năm phát triển lâm nghiệp, đến nay tỉnh ta đã lựa chọn, sản xuất được bộ giống cây lâm nghiệp đa dạng, chất lượng, thích hợp với yêu cầu trồng cây bóng mát, cây ăn quả, rừng sản xuất và rừng phòng hộ…Để nâng cao chất lượng trồng cây, trồng rừng các địa phương, các đơn vị cần chú ý ngay từ khâu quản lý giống, đảm bảo lựa chọn cây trồng phù hợp, có kế hoạch ký kết hợp đồng cung ứng, dịch vụ cây giống với cơ sở sản xuất, kinh doanh có uy tín, đủ điều kiện để đưa được nhiều cây tốt vào trồng, tạo điều kiện nâng cao chất lượng, hiệu quả trồng cây, trồng rừng sau này. Ở đây cần chú ý, mặc dù đã trải qua nhiều năm thực hiện Tết trồng cây, nhiệm vụ trồng rừng, song nhiều nơi kỹ thuật trồng, chăm sóc vẫn chưa đảm bảo nên năng suất, hiệu quả rừng trồng chưa như mong muốn. Đây là vấn đề quan trọng cần rút kinh nghiệm và đổi mới để góp phần tái cơ cấu ngành.
Vì vậy, trong chương trình trồng cây, trồng rừng năm nay, với việc cây trồng phân tán, ngoài lựa chọn cây giống phù hợp, kỹ thuật trồng đảm bảo sau khi trồng phải phân công theo dõi, chăm sóc để cây sống, phát triển tốt; đối với rừng trồng tập trung cần tổ chức tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, giám sát chặt chẽ từ khâu trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, áp dụng các biện pháp trồng rừng thâm canh bón lót và bón thúc phân đầy đủ, trồng dặm để đảm bảo mật độ, chăm sóc đủ lần; phòng cháy, chữa cháy rừng chu đáo, bảo vệ rừng sau trồng...
Qua nhiều năm phát triển, vai trò của rừng với kinh tế, xã hội trên địa bàn đã mang lại nhiều lợi ích, từ đó tác động đến nhận thức và tinh thần trách nhiệm phát triển lâm nghiệp của các tầng lớp nhân dân, các doanh nghiệp. Đây là thuận lợi cơ bản để huy động nhiều nguồn lực tham gia phát triển lâm nghiệp, tạo điều kiện để toàn tỉnh phấn đấu hoàn thành thắng lợi kế hoạch sản xuất lâm nghiệp năm 2015, duy trì và nâng cao độ che phủ rừng đạt gần 51%, đưa lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đưa Phú Thọ trở thành địa phương có màu xanh rừng phong phú, đa dạng, xứng đáng với vị thế vùng Đất Tổ. (Báo Phú Thọ 13/2) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Đền Hổ hay Wat Pha Luang Ta Bua tọa lạc ở quận Saiyok của tỉnh Kanchanaburi, Thái Lan, cách biên giới với Myanmar khoảng 38km (24 dặm), được thành lập vào năm 1994. Nơi đây hiện nuôi hàng trăm con hổ lớn, trở thành điểm thu hút khách du lịch của Thái Lan.
Điểm đặc biệt trong đền chính là khu bảo tồn động vật hoang dã, bao gồm rất nhiều hổ, phần lớn trong số đó là những con hổ Đông Dương.
Bắt đầu tiếp nhận hổ từ năm 1999, tính đến nay, tổng số hổ sống tại đền đã tăng lên hơn 100 con và ngôi đền đã phát triển thành một nơi trú ẩn dành cho động vật hoang dã được cứu hộ.
Các chuyên gia cho rằng số hổ ở đây đa phần là hổ Đông Dương, ngoại trừ Mek là một chú hổ Bengal. Một số là hổ Mã Lai, trong khi nhiều con có thể được lai chéo.
Mới đây, sau khi có những ý kiến cho rằng những con hổ ở đây đã bị dùng thuốc nhằm làm giảm sự hung dữ, cán bộ bảo vệ động vật hoang dã Thái Lan đã kiểm tra và kết luận hơn 100 con hổ tại đền đều được chăm sóc rất tốt. (HN Mới 13/2) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||