|
Ngày 11 tháng 08 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Từ thông tin của anh T., chúng tôi đã tìm cách liên lạc với người buôn gỗ tên D. ở thị trấn Bảo Lạc và được trùm buôn gỗ này chia sẻ cách “làm luật” với cơ quan chức năng.
Sau nhiều lần hẹn, chúng tôi đã có cuộc gặp với đầu nậu tên T. C. D. (SN 1983), trước đây làm cán bộ trong ngành viễn thông của huyện Bảo Lạc, giờ đã chuyển sang công tác tại cơ quan khác cũng trên địa bàn huyện.
Vẫn trong vai những người tìm mua gỗ, chúng tôi hỏi về gỗ ở vùng này, D. cho biết, nhiều người ở thị trấn Bảo Lạc đã lấy gỗ chỗ anh, nếu chuyển ra khỏi địa phương với số lượng ít thì toàn đi chui, không làm luật, khi thì chuyển bằng xe máy, khi bằng xe bán tải.
D. kể tiếp, ở thị trấn Bảo Lạc có ông chủ khách sạn Đ.T. đã lấy của D. một tấn bừu gỗ kháo để đóng một bộ bàn ghế và ốp tường trong phòng khách của khách sạn, ngoài ra ông này còn lấy gỗ về ốp toàn bộ văn phòng làm việc của doanh nghiệp do ông làm chủ.
Như muốn tạo lòng tin với chúng tôi, D. dẫn về ngôi nhà 3 gian cũ kỹ, rồi giới thiệu đây là nhà của anh, bên trong là bộ bàn ghế bằng bừu kháo, anh cho biết có người đã trả giá 160 triệu đồng nhưng anh không bán. Sau khi cho chúng tôi xem bộ bàn ghế, D. dẫn chúng tôi sang quán phở T.T., đây là quán phở do gia đình anh quản lý. Tại đây, D. trưng bày một bừu gỗ kháo, thông đỏ, một khúc gỗ ngọc am. Theo D. thì đây chỉ là hàng trưng bày, để khi khách vào ăn, nghỉ nếu muốn mua thì bán. Nhờ chiêu này, D. đã có nhiều phi vụ làm ăn trót lọt.
Chưa hết, xem xong mẫu gỗ ở nhà, D. đề nghị chúng tôi theo vào xã, nơi anh đang thu gom gỗ đã đặt cọc và để ở nhà dân tại thôn Tua Tổng, xã Xuân Trường. Di chuyển khoảng 20km từ thị trấn vào Xuân Trường giữa trưa nắng, D. dẫn chúng tôi vào hai hộ dân tại Tua Tổng, dưới sàn nhà là hàng tấn gỗ mà D. tiết lộ đó là bừu nghiến, thông đỏ, kháo. Nếu muốn mua thêm chỉ cần đặt tiền vài ngày là có hàng chục tấn.
Chúng tôi chê những loại gỗ này đắt quá, muốn mua gỗ nghiến cho rẻ thì D. bảo: Gỗ nghiến lấy bao nhiêu cũng được, nhưng phải báo trước để tôi đi xem, vì loại gỗ này phải vào Bảo Lâm, hoặc sang Hà Giang mới có. Ở đây gỗ ngọc am còn khoảng 10 tấn, gần đây người ta rất hay mua bừu kháo, dạ hương, gù hương… để đóng bàn ghế nên tôi hay buôn bán loại này.
“Năm 2014, tôi đã chuyển hai chuyến về thành phố Cao Bằng cho con của một lãnh đạo ở tỉnh, còn vận chuyển sang Thông Nông và sang biên giới Trung Quốc thì nhiều lắm”, D. nói.
“Làm thế nào để đưa gỗ ra khỏi huyện, tỉnh mà không bị cơ quan chức năng thu giữ, xử lý?”, tôi hỏi, D. nhanh nhảu đáp: “Nếu buôn qua biên giới thì chủ yếu qua các cửa khẩu nhỏ, khi chở gỗ đến đây chỉ cần gọi ông đồn trưởng đồn biên phòng ra xem gỗ và mặc cả về giá, hai bên thống nhất là cho qua thôi, trung bình mỗi chuyến phải mất cho ông ấy 4 triệu đồng”.
“Hai chuyến năm ngoái tôi vận chuyển về thành phố, làm luật mỗi chuyến hết 30 triệu đồng. Khi mình đưa tiền xong, nếu chuyển gỗ cho họ chỉ cần báo biển số xe và giờ chạy là xong”, D. nói.
Nếu không muốn chuyển gỗ về tỉnh thì còn một đường đi khác nữa là từ Bảo Lạc ra Nguyên Bình, đến đoạn nhà nghỉ Phia Boóc rẽ phải qua đèo rồi sang thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn và về xuôi. Hoặc qua Bảo Lâm rồi sang Bắc Mê, tỉnh Hà Giang, ở đây có nhiều tuyến đường có thể làm đường đi của gỗ”, D. cho biết.
Rõ ràng việc quản lý khai thác gỗ ở đây còn nhiều vấn đề phải bàn nhưng ông Hoàng Phượng Vỹ, cán bộ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng lại khẳng định: Trên địa bàn không có điểm nóng về chặt phá rừng trái phép, chỉ có một số người dân có nhu cầu chặt gỗ làm nhà, những cây mới hiện không có, chỉ những cây bị người dân chặt cách đây hàng chục năm?!.
Đây chưa phải là câu trả lời thỏa đáng bởi từng ngày từng giờ, “máu rừng” vẫn chảy. Thiết nghĩ, chính quyền sở tại cần vào cuộc quyết liệt để giải quyết dứt điểm tình trạng này, giữ lại màu xanh cho những cánh rừng. (Kinh Tế Nông Thôn 11/8) đầu trang(
Cuối tuần qua, Hội đồng Khoa học và Công nghệ tỉnh vừa tổ chức xét duyệt đề cương dự án “Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý và bảo vệ rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng” do kỹ sư Đoàn Ngọc Thân, Chi cục Kiểm lâm tỉnh làm chủ nhiệm.
Dự kiến, trong 2 năm, dự án sẽ thực hiện các nội dung nghiên cứu là ứng dụng công nghệ thông tin địa lý (GIS) và công nghệ thông tin định vị toàn cầu (GPS), phần mềm diễn biến rừng, cảnh báo cháy rừng vào công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Qua đây, dự án còn tập huấn kiến thức công nghệ thông tin để nâng cao năng lực cho 15 cán bộ ngành kiểm lâm về quản lý về bảo vệ rừng để phòng chống cháy rừng hiệu quả hơn. (Báo Hậu Giang 10/8) đầu trang(
Hàng chục cây thông có tuổi đời 30, 40 năm của rừng đầu nguồn khu vực giáp ranh với tỉnh Lâm Đồng đã bị chặt hạ không thương tiếc. Một Trưởng phòng bảo vệ và quản lý rừng và một Trưởng trạm bảo vệ rừng đã bị đình chỉ công tác.
Tiểu khu 122 thuộc lâm phần do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ninh Sơn (Ninh Thuận) quản lý đang là điểm nóng phá rừng ở tỉnh Ninh Thuận. Điểm nóng này nằm trên địa bàn xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, giáp ranh với xã Đa Quyn, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Tại đây, hàng chục cây thông có đường kính một người ôm hàng chục năm tuổi bị đốn hạ còn trơ gốc. Rải rác đây đó là những mảnh ván bìa bị lâm tặc bỏ lại.
Điều đáng nói là từ điểm khai thác ra đến xã Đa Quyn, huyện Đức Trọng chỉ có một con đường độc đạo. Trên con đường này lại có Trạm quản lý và bảo vệ rừng Ma Bó. Đó là trạm gần nhất, cách điểm phá rừng chừng 15 km, thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Tà Năng của tỉnh Lâm Đồng. Thế nhưng không hiểu vì sao gỗ vẫn đưa được ra khỏi rừng một cách an toàn?
Ông Hoàng Trung Kiên, Phó trưởng trạm bảo vệ rừng Sông Tân, Ninh Thuận cho biết: Do lực lượng mỏng và không có bất cứ công cụ hỗ trợ nào trong tay, điều kiện sinh hoạt lại cô lập, hết sức khó khăn, nên những cán bộ quản lý rừng này đã bị đe dọa và có thể đối mặt với nhiều nguy hiểm.
Trong khi đó, ông Vương Đại Chí, cán bộ của Trạm quản lý và bảo vệ rừng Ma Bó cho biết, khu vực xảy ra phá rừng thuộc lâm phần của tỉnh Ninh Thuận, nên khi phát hiện, lực lượng của trạm không thể lập biên bản xử lý tại hiện trường. Theo quy định, Trạm Ma Bó chỉ có thể phối hợp với các lực lượng ở huyện Đức Trọng phục bắt khi lâm tặc chở gỗ đi qua địa bàn. Trong khi đó, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ninh Sơn lại cho rằng do lực lượng bảo vệ rừng của mình vừa mỏng lại vừa yếu, hơn nữa, đây lại là khu vực giáp ranh nên rất khó quản lý.
Theo quan sát của chúng tôi tại hiện trường cho thấy, nhóm lâm tặc đã dùng cưa máy chuyên nghiệp để khai thác gỗ ở khu vực này. Những cây thông to lớn sau khi bị hạ, được lâm tặc vạt bỏ bốn góc bìa, trở thành những hộp gỗ vuông vức, rồi vận chuyển ra khỏi rừng về Đức Trọng, Lâm Đồng, dấu cưa còn rất mới. Nhiều gốc thông to bằng hai người ôm bị triệt hạ vẫn còn chảy nhựa. Bìa gỗ thông nằm la liệt, hết chòm này sang chòm khác, trên một diện tích rộng lớn.
Về vấn đề này, ông Trịnh Minh Hoàng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận cho biết: “Hiện nay tỉnh đang điều động các lực lượng liên quan tới công tác quản lý, bảo vệ rừng như sự hỗ trợ của Công an, lực lượng Kiểm lâm sở tại của địa bàn để cùng lên phối hợp với lực lượng này để đủ ngăn chặn kịp không cho tình trạng này tái diễn và đảm bảo lực lượng xử lý các đối tượng lâm tặc khi vào rừng”.
Liên quan đến vụ phá rừng thông hàng chục năm tuổi tại tiểu khu 122 thuộc lâm phần quản lý của Công ty TNHH MTV Ninh Sơn, ông Lê Xuân Kiên, Trưởng phòng Quản lý và Bảo vệ rừng và ông Tôn Thất Hoài Nhân, Trưởng trạm Bảo vệ rừng Tà Nôi, Ma Nới đã bị đình chỉ công tác, đồng thời phải giải trình cụ thể, chi tiết về việc để lâm tặc tàn phá rừng thông nhưng không xử lý kịp thời.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận cũng đã báo cáo UBND tỉnh về vụ phá rừng nói trên, đồng thời thành lập tổ liên ngành kiểm kê khối lượng gỗ bị khai thác trái phép, lập hồ sơ, điều tra, xử lý nghiêm các đối tượng liên quan theo quy định của pháp luật. (Văn Hóa 10/8) đầu trang(
Vingoup đang xúc tiến dự án vườn bách thú hoang dã diện tích 500 ha nằm trên địa bàn 2 xã Gành Dầu và Cửa Cạn tại Phú Quốc.
Vườn bách thú hoang dã Phú Quốc có quy mô lớn thứ 2 trên thế giới, với các loài động vật, thực vật đặc trưng của khắp châu lục trên thế giới cũng như ở trong nước. Khi được đầu tư xây dựng hoàn thành sẽ là cơ hội, tiềm năng, lợi thế, tạo thêm sức bật phát triển đảo ngọc Phú Quốc nổi trội cạnh tranh so với những khu du lịch lớn trong cả nước và so với khu vực như Phuket (Thái Lan), Bali (Indonesia)...Được biết, cuối năm nay Vingroup sẽ khai trương dự án này.
Ngoài vườn thú hoang dã Phú Quốc, Vingroup cũng đang đầu tư khu Vinpearl Phú Quốc tại Bãi Dài, xã Gành Dầu quy mô hơn 300 ha, tổng vốn đầu tư trên 1 tỷ USD. Hiện nay dự án đã hoàn thành giai đoạn 1 và đang triển khai giai đoạn 2, đây là dự án du lịch lớn nhất ở Phú Quốc tính đến thời điểm này. (Cafef 10/8) đầu trang(
Xưa nay người ta vẫn nói chăn bò chứ động vật hoang dã, lại là linh trưởng cứ thấy bóng người liền mất dạng trong lùm cây rậm rạp trên núi cao làm sao có thể đi chăn được. Ấy vậy mà ở làng Thiết Sơn, trên xã rẻo cao Thạch Hóa (Tuyên Hóa, Quảng Bình), anh Nguyễn Thanh Tú lại đi chăn voọc vốn nhiều người chỉ mới biết trong sách đỏ. Anh chăn giữ đàng hoàng một loài quý hiếm trên thế giới chỉ có ở đất Quảng Bình.
Thung lũng Thiết Sơn nằm sâu trên thượng nguồn sông Gianh đoạn thác Phú Hội đẹp kỳ lạ. Bên trong cất giấu vô số bí mật về các ngọn núi hình tháp nhọn, hình bát úp nằm trên miền đất cổ xưa Thạch Hóa. Chúng xen lẫn ruộng đồng, làng mạc chẳng khác gì bức tranh thủy mặc. Trong các ngọn núi đầy huyền bí đó, có một loài linh trưởng quý hiếm đang được bảo vệ tránh họa tuyệt chủng bởi một người đàn ông hiền lành như... voọc.
Lạc vào thung lũng Thiết Sơn như lạc vào xứ sở chưa bao giờ được gặp. Núi non hùng vĩ, thượng nguồn sông Gianh thủy mặc ân cần ôm ấp xóm làng bé nhỏ nép mình dưới núi. Những ngọn lèn Dàn Vượn, Nước Lặn, Khe Đá, Hung Cùng, Sẩm Mè, Cửa Hung, Cây Gạo, Tang Bồng... sừng sững cao vút cùng hệ thực vật cây xanh lút mắt. Người làng kể, các cổ núi ở đây có mặt lâu hơn cả bậc đến khai canh.
Cụ Nguyễn Văn Đồng, 77 tuổi kể, ngày xưa, cha ông đến lập làng mấy trăm năm trước thấy chốn này an toàn, không lo bị giặc giã tấn công vì núi non hiểm trở. Có biến thì vô núi hoặc theo thuyền ngược thác lên sâu hơn trong rừng. Chốn này thanh bình, núi thì đen nên đặt là Thiết Sơn. Trong núi vô số chim chóc, muông thú nên cha ông chúng tôi chọn đất cất nhà, sống hòa thuận với các loài ở đây.
“Con người làm ruộng, làm rẫy, trồng ngô trỉa lạc, gieo lúa bón khoai mà hoang thú không tàn phá. Đặc biệt có loài khỉ đen thấy người lại xuống lân la ăn gần, làm bạn, vào tận nhà dân để chơi rất đề huề. Cha ông bầy tui ở đây truyền miệng, nhiều bầy khỉ đen xuống ruộng ngô, rẫy lạc, khi con người thu hoạch chúng ngửa tay xin, không hề lấy cắp bất cứ hoa màu mô. Người cứ cho, chúng chìa tay xin, khi no căng rồi thì lên núi nghỉ ngơi. Rứa nên các họ hàng ở bản quán ni đều thống nhất coi đó là phúc lành cho dân xứ này. Xem con vật đó là bạn thân chí cốt giữa chốn rừng rú hoang vu này”, cụ Đồng kể thêm.
Với cụ Đồng hay nhiều dân làng khác gọi chúng là vượn hoặc khỉ. Riêng anh Tú, mấy năm nay đã xem đó là loài Voọc Hà Tĩnh. Bởi anh từng được huấn luyện nhận dạng động vật hoang dã quý hiếm của các tổ chức bảo tồn quốc tế. Và các giao ước rõ ràng trong các dòng họ cam kết thuận hòa với thảo dã núi rừng cũng như loài linh trưởng hiền lành này. Bởi đó là phúc của bậc khai canh dựng làng để lại cho con cháu an cư đến ngày nay.
Nhưng không may, loài khỉ đen mà dân làng gọi tên đầy thân thuộc ấy đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong một thời gian dài vào những năm 70-80 của thế kỷ trước. Câu chuyện với người chăn voọc quý Nguyễn Thanh Tú hằn lên ký ức đau thương của loài linh trưởng này một thời. Anh lớn lên với những nọn lèn hùng vĩ, gắn chặt với bao gia đình voọc từ khi chúng mới sinh đến lúc chúng chết đi. Người làng anh, dân Thiết Sơn nghĩa tình với chúng đến diết da. Có nhiều con voọc già qua đời, nếu phát hiện, nó được chôn cất đàng hoàng.
Có một truyền thuyết ở đây được kể, ngày xưa, khi giặc giã xâm chiếm, người trong vùng bị trúng cung tên rút vô núi, loài voọc đi theo. Chúng cũng bị thương một vài con. Những cá thể khỏe mạnh trong đàn chuyền cành bứt lá đắp vết thương cho con nằm trong hang, chúng được cứu sống. Con người làm theo và có thành quả thoát chết. Từ đó, mối quan hệ giữa loài linh trưởng này với người dân càng khăng khít hơn.
Thế mà những năm Nguyễn Thanh Tú đi bộ đội biên phòng, ở quê nhà xuất hiện không ít kẻ săn trộm vào vùng Thiết Sơn săn bắt. Chỉ lúc nghỉ phép anh về quê, lang thang hết hẻm núi này đến hẻm núi khác mới có cơ hội giúp chúng phần nào. Lúc đó anh đau đớn nhận ra: “Từ chỗ chúng rất thích gần con người, vì săn trộm mà voọc quý thấy tôi cũng lánh xa. Nhiều lần vào rừng, leo lên các ngọn núi đá vôi, thấy voọc mẹ chết khô, voọc con bấu vào đấy tàn sức, cũng chết luôn. Có những đàn voọc bị bắt bẫy chỉ còn một con cô đơn, bơ vơ bị dính bẫy phanh, cụt chân. Có những đàn tháng trước còn thấy, tháng sau đã biến mất hoàn toàn. Quần thể voọc thời những năm 80 của thế kỷ trước đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng mà không có cách gì cứu nguy”.
Những tháng năm đó anh là sĩ quan biên phòng miệt biên giới Việt - Lào. Nhiều khi lòng như lửa đốt, phải xin đổi phép sớm để đi thăm đàn voọc ngày mỗi hiếm dần trên núi rừng bản quán của làng. Tiếng hú của chúng ngày một thưa vắng, làng buồn như xứ vô âm. Nhìn cảnh đó, người già trong làng cũng héo hắt.
Bố anh mất năm 1982, trước lúc lâm chung, ông truyền lại với Tú: “Làng miềng có cái phúc là ở với khỉ đen, chúng hiền lành, giúp tổ tiên biết đất đai màu mỡ mà định cư, biết cây thuốc trên rú mà chữa bệnh. Chừ chúng bị săn trộm, bị bắt nhiều. Con phải mần răng mà giúp chúng. Cứu chúng là cứu phúc lành cho làng. Giúp chúng là giúp cho núi rừng quê ta có tiếng hú, tiếng hót của chúng để con người làm bạn mà đi rẫy đi nương không bị cô đơn, xa lánh. Từ ngày có chúng, mùa màng tươi tốt, ngày chúng xa dần con người, cái rẫy ngô, rẫy lạc cũng bị khắc nghiệt mà thua thiệt. Con phải cứu cái phúc của làng”.
Nghe lời cha, Nguyễn Thanh Tú tranh thủ những ngày nghỉ phép trong năm, có khi xin nghỉ cuối tuần để về quê vào rừng đi gỡ bẫy phanh. Cứ thấy người lạ vào rừng, Tú lại đẩy đuổi cho bằng được. Có khi xô xát, có khi bị đánh trả, có khi bị đánh hội đồng dằn mặt giữa đường, Tú vẫn không hề chùn bước. Anh vẫn vào rừng gỡ bẫy dây phanh, lấy đinh gắn trên các cành cây cao, chặt phá các quây lưới của bọn bẫy trộm đặt trong hang.
Chuyên gia sinh vật rừng Lê Trọng Trãi đánh giá: “Đây là loài linh trưởng bị đe dọa toàn cầu ở mức Nguy cấp (Endangered), đặc hữu của Việt Nam và Lào, chỉ có tại vùng núi đá vôi Quảng Bình và Quảng Trị (nhưng quần thể ở Quảng Trị nhỏ do diện tích vùng sống nhỏ). Quần thể lớn nhất ở VQG Phong Nha-Kẻ Bàng. Loài voọc Hà Tĩnh được GS Đào Văn Tiến (ĐH Tổng hợp HN), chuyên gia hàng đầu về thú của Việt Nam, công bố loài mới năm 1970”.
Giới chuyên gia về thú Việt Nam thống nhất rằng, loài này không sinh sống ngoài tự nhiên ở vùng núi Hà Tĩnh. Nhưng vì sao nó lại đặt tên là voọc Hà Tĩnh thì người săn được mẫu vật có thể là gốc gác Hà Tĩnh vào vùng Tân Ấp, Kim Lũ nơi giáp Hà Tĩnh săn bắn và cung cấp mẫu vật này cho các nhà khoa học tiếp cận đầu tiên nên nó có tên voọc Hà Tĩnh. (Văn Hóa 10/8) đầu trang(
Ngày 10.8, Viện KSND tối cao đã hoàn tất cáo trạng truy tố 2 bị can nguyên là cán bộ kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa về tội nhận hối lộ, gồm: Lê Đức Hải (36 tuổi, nguyên Trạm trưởng, Đội Kiểm lâm cơ động và PCCC rừng số 1) và Lê Văn Hải (41 tuổi, nguyên Phó đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động và PCCC rừng số 1).
Theo cáo trạng, sau khi nhận được đơn tố giác của một doanh nghiệp (DN) ở Nghệ An, 17 giờ 30 ngày 1.8.2014, Cơ quan CSĐT, Bộ Công an đã bắt quả tang Lê Đức Hải đang nhận 100 triệu đồng từ DN.
Đáng chú ý, khi bị bắt, Lê Đức Hải đã có hành vi chống đối, bỏ chạy và vứt số tiền nhận hối lộ nhằm phi tang. Qua điều tra, các cơ quan tố tụng xác định, Đức Hải đã lợi dụng chức vụ quyền hạn để nhũng nhiễu, gây khó khăn và gợi ý DN đưa hối lộ.
Cụ thể, khi phát hiện chiếc ô tô của một DN tại Nghệ An có dấu hiệu sai phạm, Đức Hải đã yêu cầu DN này phải hối lộ 60 triệu đồng để không bị kiểm tra hàng hóa vi phạm trên xe. Trong số 100 triệu đồng Lê Đức Hải đã nhận, cơ quan tố tụng làm rõ 40 triệu đồng là do DN nhờ Đức Hải nộp phạt vi phạm.
Đối với Lê Văn Hải, tuy không trực tiếp sách nhiễu, đòi DN đưa hối lộ nhưng khi được Lê Đức Hải hỏi ý kiến nhận tiền bồi dưỡng để giải quyết cho xe vận chuyển lâm sản vi phạm được ra sớm thì đã đồng ý. Hai bị can này còn thống nhất chia phần với nhau mỗi người 30 triệu đồng.
Liên quan đến vụ án này, các cơ quan tố tụng cũng đã thống nhất gửi văn bản đề nghị Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa xử lý hành chính 3 cán bộ kiểm lâm của Đội Kiểm lâm cơ động và PCCC rừng số 1 vì đã có hành vi làm trái quy định nhà nước trong việc lập hồ sơ xử lý vi phạm. (Thanh Niên 11/8; Công An Nhân Dân 10/8) đầu trang(
Tại lễ bế mạc Diễn đàn môi trường sinh viên châu Á (ASEP) 2015 ở ĐH Quốc gia Hà Nội sáng 9-8, 72 sinh viên đến từ sáu quốc gia Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia và Campuchia chia thành 12 nhóm thuyết trình về các ý tưởng bảo vệ môi trường và tính đa dạng sinh học.
Thông điệp chủ đạo của các nhóm là thúc đẩy hợp tác quốc tế, tăng cường phát triển du lịch sinh thái, giáo dục ý thức người dân và khách du lịch, tăng cường thực thi pháp luật...
Nhiều nhóm thể hiện bài thuyết trình rất sinh động, chẳng hạn như đọc rap hô khẩu hiệu bảo vệ môi trường, đóng vai nông dân trồng lúa, hoa màu kiên quyết không sử dụng thuốc trừ sâu, thay vào đó sử dụng phân hữu cơ.
Có nhóm thuyết trình bằng cách giả định làm một kênh truyền hình tivi phỏng vấn chuyên gia, người dân về các vấn đề môi trường.
Tuy nhiên dựa trên các tiêu chí súc tích, sáng tạo và hiệu quả, ban giám khảo đã trao giải đặc biệt cho mô hình AEC của nhóm sáu sinh viên Fukai Miki (ĐH Waseda), Kwon Ji-hae (ĐH Hàn Quốc), Zulkifli Muhammad Haikal (ĐH Malaya), Phạm Thị Thu Hà (ĐH Quốc gia Hà Nội), Yu Shuo (ĐH Thanh Hoa, Trung Quốc) và Loek Sreyleak (ĐH Hoàng gia Phnom Penh).
ACE là từ viết tắt của Raising Awareness (nâng cao nhận thức), Multi Cooperation (hợp tác nhiều bên) và Laws Enforcement (Thực thi luật pháp). ASEP 2015 diễn ra từ ngày 3 đến 9 - 8 tại Việt Nam.
Các sinh viên tham gia diễn đàn đã có những chuyến thăm và nghiên cứu về bảo tồn tính đa dạng sinh học, phát triển kinh tế - xã hội ở vườn quốc gia Cúc Phương, vịnh Hạ Long, quần đảo Cát Bà, trồng cây và thăm Bảo tàng Dân tộc học ở Hà Nội. (Tuổi Trẻ 10/8) đầu trang(
Gần đây, nhiều núi, đồi ở hồ Phú Ninh (Quảng Nam) bị vàng tặc, lâm tặc cày xới, xả chất thải trực tiếp ra môi trường, làm ảnh hưởng đến danh lam thắng cảnh hồ Phú Ninh.
Những ngày đầu tháng Tám, phóng viên NTNN đã cùng với đại diện của Công ty Du lịch Hùng Cường (đơn vị khai thác du lịch ở hồ Phú Ninh) đi thị sát tình trạng hồ Phú Ninh, nơi đang bị xâm hại, tàn phá. Khu vực dưới núi Lăng Ông Nghè (thuộc xã Tam Thạnh, huyện Núi Thành) như một chiến trường, đầy chất thải bùn, đất đỏ.
Tiến sâu hơn vào rừng khoảng vài trăm mét, một trại của vàng tặc vừa bị lực lượng chức năng đẩy đuổi, máy móc còn nằm ngổn ngang. Người dẫn đường cho biết, tình trạng khai thác vàng và khai thác rừng trái phép đang diễn ra phức tạp ở các khu vực núi trong lòng hồ Phú Ninh.
Lực lượng chức năng khó đẩy đuổi triệt để vì hai đối tượng này dựa vào rừng núi để lẩn tránh khi bị truy quét. Khi lực lượng rút lui, các đối tượng lại xuất hiện, phá môi trường.
“Khu vực núi Lăng Ông Nghè này bị vàng tặc cày xới khoảng nửa tháng nay. Họ làm rất công khai, đưa máy móc lên trên núi để tổ chức xay quặng. Họ còn đắp cả một con đập nhỏ để lấy nước lọc xái quặng thu vàng, thải nước đãi vàng trực tiếp ra môi trường, dẫn đến ô nhiễm nguồn nước ở hồ Phú Ninh – nguồn nước sinh hoạt của người dân nhiều địa phương Quảng Nam” –người dẫn đường cho biết.
Rời khu vực Lăng Ông Nghè, chúng tôi tiếp tục qua một núi khác đối diện. Tại đây mấy chục cây bạch đàn cổ thụ có đường kính từ 40 - 50cm vừa bị lâm tặc đốn hạ, những gốc cây còn tươm nhựa. Sau khi đốn hạ xong, lâm tặc chỉ lấy thân cây, còn ngọn cây được vứt lại la liệt.
Một lãnh đạo Công ty Du lịch Hùng Cường lo ngại vàng tặc dùng hóa chất độc hại để xử lý vàng rồi thải ra gây ảnh hưởng đến nguồn nước hồ Phú Ninh. Đây không những là hồ thủy lợi mà còn là nơi cung cấp nước sạch cho cả TP.Tam Kỳ. “Trong khi đơn vị đang tìm cách bảo tồn danh thắng hồ Phú Ninh thì lâm tặc, vàng tặc lại tàn phá rừng, tàn phá môi trường. Vấn đề khai thác vàng trái phép và chặt phá rừng trái phép ở rừng phòng hộ Phú Ninh đang trở nên cấp thiết, cần sự vào cuộc quyết liệt hơn của cơ quan chức năng…” – đại diện Công ty Hùng Cường nói.
Làm việc với PV NTNN, ông Nguyễn Xuân Phước - Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Phú Ninh thừa nhận, thời gian gần đây tại khu vực đồi, núi trong lòng hồ Phú Ninh xảy ra tình trạng khai thác vàng, phá rừng trái phép nghiêm trọng. Trong quý I.2015, Ban đã phát hiện 11 vụ phá rừng, lập hồ sơ chuyển cơ quan chức năng xử lý 2 vụ, trong đó diện tích rừng bị xâm hại 6,418ha, thu giữ 2 mô tô là phương tiện lâm tặc dùng vận chuyển gỗ.
Mới đây nhất, vào ngày 17.7, Ban đã phối hợp Đồn công an Phú Ninh cùng lực lượng kiểm lâm huyện tổ chức truy quét tại tiểu khu 599, khu vực núi Lăng Ông Nghè. Khi lực lượng chức năng có mặt, máy khai thác vàng trái phép vẫn còn nổ nhưng vàng tặc đã cao chạy xa bay. Tại đây, lực lượng đã phá hủy 2 máy móc làm vàng, hàng trăm mét dây nước, lán trại và tạm giữ một chiếc ghe nằm dưới bãi nghi là của vàng tặc dùng làm phương tiện vận chuyển xái quặng.
“Dù lực lượng kiểm lâm liên tục tổ chức tuần tra, truy quét nhưng vẫn không dẹp nổi vì địa bàn rộng lớn (hơn 11.000ha) trong khi chỉ có 5-6 cán bộ kiểm lâm” - ông Nguyễn Xuân Phước thừa nhận.
Ông Nguyễn Xuân Phước cho biết: “Ban quản lý rừng phòng hộ Phú Ninh phát hiện “lâm tặc”, “vàng tặc” cũng chỉ được phép lập biên bản và chuyển qua kiểm lâm hay công an xử lý, chứ Ban không có chức năng xử lý. Cũng vì địa hình rất phức tạp, Ban đã kiến nghị cho thành lập Hạt Kiểm Lâm rừng phòng hộ Phú Ninh, nhưng 2 năm nay chưa được chấp nhận…”. (Dân Việt 10/8) đầu trang(
Liên quan đến vụ xây dựng trái phép trên núi Hải Vân (phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu), UBND quận này đã có báo cáo kiểm điểm, chỉ rõ trách nhiệm của cá nhân, tập thể trình UBND TP.Đà Nẵng. Có điều, kết quả xử lý này không hề “tương xứng” với hậu quả để lại. Không chỉ vậy, đằng sau vụ việc này tồn tại lỗ hổng lớn trong công tác phối hợp quản lý đất đai.
Biệt thự của ông Phan Như Thạch (nguyên Giám đốc Công an tỉnh Quảng Nam) và ông Ngô Văn Quang (Giám đốc một Công ty khai thác vàng ở Quảng Nam) xây dựng trái phép trị giá hơn 100 tỉ đồng. Riêng quần thể biệt thự của ông Quang là 100 tỉ đồng. Đây là khối tài sản lớn của xã hội mà UBND TP buộc phải tháo dỡ. Tuy nhiên, ngoài thừa nhận chưa quyết liệt xử lý, để sự việc kéo dài thì UBND quận chỉ nhận khuyết điểm, rút kinh nghiệm trước UBND TP. Các cơ quan liên quan gồm Phòng TNMT, Phòng Kinh tế, Đội quy tắc đô thị, Văn phòng quận Liên Chiểu, UBND phường Hòa Hiệp Bắc cũng chỉ bị kiểm điểm, rút kinh nghiệm.
Tương tự, Chi cục Kiểm lâm cũng chỉ kiểm điểm ông Phan Thế Dũng - nguyên Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Liên Chiểu đương chức trong thời gian biệt thự xây dựng trái phép và một Phó Hạt trưởng phụ trách Trạm kiểm lâm Suối Lương...
Không chỉ vậy, tại báo cáo số 432 ngày 29.6.2015 của Chi cục Kiểm lâm gửi Sở NNPTNT nêu rõ, tổng số các hồ sơ giao khoán rừng và đất lâm nghiệp tại khu vực Nam Hải Vân là 189 hồ sơ, với tổng diện tích giao khoán là 667,96ha. Ngoài 2 biệt thự của ông Thạch, ông Quang xây dựng trái phép thì có đến 17 trường hợp khác xây dựng nhà lán trại, mái tôn trên đất được giao khoán theo Nghị định 01 của Chính phủ. Các trường hợp này kiểm tra, xử lý thế nào, vẫn chưa được công khai cho công luận biết!
Sau vụ xây dựng biệt thự trái phép, Báo Lao Động số ra ngày 6.8 tiếp tục có bài điều tra, phanh phui nhiều diện tích đất rừng chạy dọc lên hầm đường bộ Nam Hải Vân bị cán bộ “đứng chân” nhiều năm nay, trong khi người dân địa phương muốn có mảnh đất “cắm dùi” không hề dễ. Lãnh đạo Hạt Kiểm lâm Liên Chiểu đinh ninh rằng, căn cứ Luật Bảo vệ phát triển rừng thì kiểm lâm chỉ có chức năng quản lý tài nguyên rừng, tài sản trên đất chứ không quản lý đất, thì ngược lại, ông Trương Việt - Chủ tịch UBND phường Hòa Hiệp Bắc - lên tiếng: “Giấy tờ giao đất đâu mà tôi biết!”.
Vì sao lại tồn tại lỗ hổng này trong công tác phối hợp quản lý đất đai? Thực tế, từ năm 1995, việc giao khoán đất rừng cho các cá nhân, hộ gia đình do Ban Quản lý rừng đặc dụng Nam Hải Vân (thuộc Chi cục Kiểm lâm, đã giải thể) thực hiện theo Nghị định 01, sau này là Nghị định 135 của Chính phủ. Chính vì có được “đặc quyền” này nên trong một thời gian dài, nhiều diện tích đất rừng bị giao khoán vô tội vạ nhưng không được giám sát.
Mãi đến ngày 27.8.2013, UBND TP.Đà Nẵng phê duyệt quy hoạch 3 loại rừng trên địa bàn giai đoạn 2011-2020 thì mới “lòi” ra tiêu cực. Theo quyết định này thì đất dưới chân đèo Nam Hải Vân (kể cả khu biệt phủ của “đại gia” vàng Ngô Văn Quang xây dựng trái phép trên đồi Chim Chim) thuộc đất khác.
Đất khác do địa phương quản lý nên phải bàn giao lại cho phường Hòa Hiệp Bắc. Vì “rối như tơ” và cần “đổ” thời gian xử lý hậu quả hợp đồng giao khoán cũ nên đến nay, việc bàn giao chỉ mới ở bước kiểm tra và số hóa trên bản đồ, trên cơ sở hồ sơ lưu trữ Nghị định 01 và 135... Kế đến, bước nan giải nhất là phải xác định tính pháp lý đối với các hồ sơ, đánh giá hiện trạng, mục đích sử dụng đất rừng đối với các hồ sơ chuyển nhượng, cho thuê, hợp đồng ủy quyền...
Ông Nguyễn Điểu - GĐ Sở TNMT TP.Đà Nẵng - khẳng định: “Lúc đó, là đất lâm nghiệp nên khi giao đất, kiểm lâm toàn quyền quản lý, họ không nói gì nên tôi không hề biết. Thời gian qua, phát hiện xây dựng lung tung trên đất thì mới biết các ông (kiểm lâm - PV) làm sai”.
Còn ông Trương Việt - Chủ tịch UBND phường Hòa Hiệp Bắc - thì nói thẳng: “Trong đất đó có gì, kiểm lâm phải xử lý, kiểm lâm giao đất cho người ngoài địa phương mà để vậy bàn giao lại là không dễ gì chúng tôi nhận”. (Lao Động 10/8) đầu trang(
Voọc mũi hếch (VMH) là một trong những loài linh trưởng quý hiếm nhất trên thế giới hiện nay và là loài đặc hữu của Việt Nam. Trái đất hiện chỉ còn khoảng 200 cá thể VMH thì riêng Hà Giang có khoảng 180 cá thể.
Qua hơn 10 năm được các nhà khoa học theo dõi, được cộng đồng bảo vệ đã cho thấy những dấu hiệu hồi sinh của loài vật có nguy cơ tuyệt chủng này. Song bên cạnh đó, vẫn còn những nỗi lo về sự sinh tồn của loài linh trưởng này.
Theo ghi nhận của các nhà khoa học, người dân, ở Hà Giang hiện có khoảng 180 cá thể VMH. Trong đó, tại Khu bảo tồn thiên nhiên Khau Ca gồm các xã Tùng Bá, Minh Sơn và Yên Định của 2 huyện Vị Xuyên và Bắc Mê có khoảng 150 cá thể VMH. Đặc biệt trên khu vực Cao nguyên đá Đồng Văn, tại khu vực rừng Phòng hộ đầu nguồn ở các xã Cao Mã Pờ, Tùng Vài và Tả Ván của huyện Quản Bạ, có khoảng 30 cá thể…
Quá trình theo dõi của các nhà nghiên cứu cho thấy những dấu hiệu hồi sinh của VMH trên địa bàn Hà Giang. Nếu như từ năm 2002, mới ghi nhận có khoảng 60 cá thể VMH thì sau 13 năm, đến nay đã ghi nhận đến 180 cá thể, tăng gấp 3 lần. Đó là một tín hiệu hết sức đáng mừng với một loài linh trưởng đang có nguy cơ bị tuyệt chủng. Anh Hoàng Văn Tuệ, Trưởng Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Khau Ca khẳng định, một trong những dấu hiệu cho thấy sự hồi sinh của VMH chính là việc ghi nhận những cá thể bán trưởng thành và cá thể vọc non trong những đàn VMH.
Theo ghi nhận của BQL khu bảo tồn thiên nhiên Khau Ca, tháng 3.2015 đã 4 lần phát hiện VMH với số lượng từ 7 – 114 cá thể. Trong đó, ngày 18.3.2015 đã phát hiện đàn VMH có số lượng 98 con, trong đó có 9 cá thể bán trưởng thành và 2 cá thể non. Đến tháng 5.2015, trong nhiều lần phát hiện VMH, đã ghi nhận một số cá thể vọc non ở rừng Khau Ca.
Với các nhà nghiên cứu, kết quả trên phần nào cho thấy nỗ lực của lực lượng kiểm lâm, cấp ủy, chính quyền địa phương. Cùng với sự hỗ trợ của Tổ chức bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế (FFI), đã hỗ trợ Hà Giang triển khai các biện pháp tuyên truyền bảo vệ dựa vào cộng đồng.
Một điều đáng mừng đối với sự hồi sinh của VMH ở Hà Giang, đó là trong nhiều năm qua, chưa ghi nhận trường hợp nào săn bắt, giết hại VMH. Tuy nhiên, trước sự tác động tiêu cực của con người, như việc khai thác lâm sản trái phép, khai thác lâm sản ngoài gỗ với không ít vụ vi phạm đã được phát hiện ở các khu vực rừng Khau Ca và rừng phòng hộ đầu nguồn ở Cao Mã Pờ, Tả Ván và Tùng Vài đã làm thu hẹp sinh cảnh của các loài động vật hoang dã và VMH.
Bên cạnh đó, những hoạt động hàng ngày của người dân như việc làm nương sát rừng, việc trồng thảo quả hay đặc biệt là vấn đề khai thác mỏ ở các khu vực ở xã Tùng Bá, Minh Sơn và một số khu vực khác trong tương lai đã và sẽ làm ảnh hưởng đến môi trường sống của VMH.
Theo kiến nghị từ các địa phương khu vực có VMH sinh sống cho rằng, rừng bao đời nay gắn với người dân và người dân sống gần rừng đời sống còn khó khăn. Để bảo vệ rừng, giúp VMH phát triển, rất cần có sự hỗ trợ về sinh kế cho người dân. Cùng với đó, chúng ta cần nhanh chóng hoàn thành thực hiện quy hoạch chi tiết các khu vực rừng đặc dụng theo Nghị định 117/2010 của Chính phủ.
VMH là loài linh trưởng quý hiếm, đang bị đe dọa và được ưu tiên bảo vệ. Trong nhiều năm qua, rất đáng mừng là chúng ta chưa ghi nhận trường hợp nào săn bắt, giết hại VMH. Trong điều kiện của một địa phương khó khăn như Hà Giang, rất cần có thêm sự hỗ trợ, trách nhiệm của các cấp, ngành, các tổ chức và xã hội để bảo vệ và hồi sinh VMH, loài linh trưởng đặc hữu của Việt Nam. (Tài Nguyên Và Môi Trường 10/8) đầu trang(
Dù người dân đã phản đối yêu cầu không được chặt hạ rừng phi lao gần trăm tuổi ven biển ở xã Kỳ Nam (thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh) để nuôi tôm, cá nhưng phía Cty Grobest vẫn tiến hành đốn hạ để triển khai dự án. Sự việc khiến dư luận địa phương rất bức xúc, hoang mang, lo ngại khi mùa mưa bão về nhà cửa, tính mạng không biết sẽ ra sao. Đại diện chi bộ thôn nơi rừng bị đốn hạ cho biết đã gửi đơn "kêu cứu" ra Trung ương
Như Báo Lao Động đã phản ánh trước đó, những ngày giữa tháng 7 vừa qua, rừng phi lao ven biển ở bãi Cửa Ngâm thuộc thôn Minh Huệ, xã Kỳ Nam đã bị Cty Grobest (trụ sở TPHCM) chặt hạ, khiến người dân địa phương vô cùng bức xúc. Thời điểm chặt hạ, theo ông Đặng Đình Dích - Bí thư Đảng ủy xã Kỳ Nam, rất nhiều người dân ra ngăn cản.
Đại diện UBND xã Kỳ Nam cũng ra đình chỉ dừng ngay việc chặt hạ rừng phi lao vì phía Cty Grobest đã chặt vi phạm vào hành lang 30m có rừng phi lao mà trước đó xã đã yêu cầu. Theo ông Bùi Văn Chuổng - Phó Chủ tịch UBND xã Kỳ Nam, sau khi đình chỉ, xã đã kiểm điểm và thống kê có gần 300 gốc phi lao bị chặt hạ.
Vài tuần sau khi rừng phi lao bị chặt hạ, PV Báo Lao Động quay trở lại hiện trường mà trước đó Cty Grobest đã đốn hạ rừng phi lao, lúc này số cây phi lao nằm phía ngoài chắn sóng còn rất ít. Theo một người dân, sau thời điểm mà PV tiếp cận, rừng phi lao đó vẫn tiếp tục bị chặt.
Ông Nguyễn Mạnh Mầng - Trưởng thôn Minh Huệ - cho biết, rừng phi lao ven biển ở bãi Cửa Ngâm được thế hệ ông cha trồng hơn 100 năm trước. Rừng có vai trò như một tấm áo giáp che chắn sóng biển, gió, bão để bảo vệ cho không chỉ người dân thôn Minh Huệ mà cả toàn dân xã Kỳ Nam. Thời chiến, rừng là nơi dân quân, bộ đội mai phục, trú ẩn để chiến đấu ngoan cường chống địch.
Theo ông Mầng, trước khi chặt phá rừng phi lao, tháng 6.2015, đại diện thị xã Kỳ Anh có cuộc làm việc với xã Kỳ Nam để thông tin về việc Cty Grobest triển khai dự án nuôi tôm trên địa bàn xã. Khi đó tất cả 6 trưởng thôn trong xã đều phản đối việc chặt rừng phi lao nuôi tôm. Thế nhưng, vừa qua phía Cty Grobest vẫn đốn hạ rừng phi lao đó khiến người dân và đại diện chi bộ thôn rất bức xúc.
"Đảng nhà nước cứ kêu gọi trồng cây gây rừng, bảo vệ môi trường. Thế mà ở đây họ cho tàn phá rừng để nuôi tôm. Cái này chúng tôi rất xót xa. Phá hoại rừng này, chúng tôi không thể chấp nhận được" - ông Mầng bức xúc.
Về vấn đề rừng phi lao bị đốn hạ thêm, sau thời điểm UBND xã Kỳ Nam đình chỉ Cty Grobest đã chặt lấn vào phạm vi 30m có cây tính từ hành lang chắn sóng vào, ông Nguyễn Đình Vin - Chủ tịch UBND xã Kỳ Nam cho biết, hiện Công an xã đang xác minh xem người dân hay người của Cty Grobest đã đốn hạ để xử lý.
Chiều ngày 9.8, ông Trần Xuân Phượng - Phó Chủ tịch UBND thị xã Kỳ Anh - cũng xác nhận có việc đổ lỗi cho nhau giữa người dân và người của Cty Grobest trong việc chặt hạ thêm cây phi lao ở xã Kỳ Nam. Sự việc hiện đang giao xác minh, làm rõ.
Trong khi đó, ông Nguyễn Mạnh Mầng - Trưởng thôn Minh Huệ khẳng định không có việc người dân chặt cây phi lao ven biển. "Tôi khẳng định người dân sẽ không bao giờ chặt", ông Mầng nói. Cũng theo ông Mầng, hiện Chi bộ thôn Minh Huệ đã gửi đơn "kêu cứu" lên Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Tổng Bí thư về việc rừng phi lao ven biển của thôn bị chặt hạ để cho doanh nghiệp thực hiện dự án nuôi tôm, cá. (Lao Động 10/8) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Nhiều năm liền, Ban Quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) huyện Lang Chánh là điểm sáng về công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng, góp phần tích cực trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương.
Từ năm 2007, BQLRPH huyện Lang Chánh được giao nhiệm vụ triển khai trồng rừng nguyên liệu tại 4 xã khó khăn của huyện là Trí Nang, Giao Thiện, Tân Phúc và Quang Hiến cùng với chính sách phát triển rừng sản xuất, giai đoạn 2007 - 2015.
Do địa bàn các xã rộng, địa hình tương đối phức tạp, bị chia cắt bởi đồi núi cao và hệ thống sông suối…nên khó khăn cho việc trồng rừng. Trước thực trạng trên, BQLRPH huyện Lang Chánh đã phối hợp với chính quyền các địa phương tổ chức tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, vận động nhân dân tham gia trồng rừng. Đồng thời, bám sát địa bàn hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng nguyên liệu cho nhân dân.
Đến thời điểm này, BQLRPH huyện Lang Chánh đã trồng được gần 1.000 ha rừng, trong đó rừng sản xuất là 822,28ha, rừng phòng hộ là 176,9ha. Ban quản lý đã thực hiện mô hình chuyển hóa 10ha rừng trồng gỗ nguyên liệu sang kinh doanh rừng gỗ lớn. Để thực hiện tốt dự án bảo vệ rừng, phát triển rừng, đơn vị đã tiến hành thiết kế, lập dự toán trình duyệt cấp trên cho các hạng mục: bảo vệ rừng, chăm sóc rừng trồng, ổn định hợp đồng khoán cho 275 hộ dân và 38 hộ gia đình cán bộ công nhân viên trong đơn vị thực hiện.
Cũng bắt đầu từ năm 2007 BQLRPH huyện Lang Chánh đã xây dựng vườn ươm cây giống mỗi năm gieo ươm trên 1,2 triệu cây giống các loại, gồm cây keo, cây lát, cây xoan, trương vân, trò, lim xanh, mỡ... đảm bảo cung ứng đủ 100% nhu cầu trồng rừng của huyện Lang Chánh với diện tích trồng mới 500ha rừng mỗi năm.
Anh Nguyễn Công Tính, xã Trí Nang cho biết: Gia đình trồng keo theo Chương trình dự án 147 được trên 30 ha từ những năm 2008. Được BQLRPH Lang Chánh cung ứng cây giống, phân bón và hướng dẫn kỹ thuật trồng cây kịp thời nên keo sinh trưởng và phát triển tốt. Đến thời điểm này gia đình tôi đang thu hoạch lứa keo đầu tiên. Dự tính 1ha thu được từ 60 đến 80 triệu đồng.
Được biết, năm 2007, toàn xã Trí Nang chỉ trồng từ 4 - 5 ha rừng một năm. Đến nay xã đã có trên 180 ha rừng trồng của dự án (gồm cả rừng phòng hộ và rừng nguyên liệu). Từ hiệu quả trồng rừng của dự án mang lại, nhiều hộ dân trong xã đã tự bỏ vốn trồng rừng thêm được 80 ha, đưa tổng diện tích rừng nguyên liệu của xã trên đạt 200 ha. Xã Giao Thiện từ khi thực hiện dự án trồng rừng từ BQLRPH huyện đã trồng được trên 150 ha rừng nguyên liệu, góp phần từng bước giúp nhiều hộ dân vươn lên thoát nghèo bền vững.
Cùng với làm tốt công tác trồng rừng nguyên liệu, BQLRPH huyện Lang Chánh còn thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng. Đến nay Ban quản lý có 4 trạm quản lý, bảo vệ rừng đặt tại các xã Trí Nang, Quang Hiến, Tân Phúc và Giao Thiện. Tất cả các trạm thường xuyên phối hợp với các lực lượng của địa phương tuần tra, bảo vệ rừng định kỳ.
Công tác bảo vệ rừng được cập nhật báo cáo trong ngày theo “đường dây nóng” trực tiếp cho giám đốc Ban quản lý, để đơn vị nắm tình hình và có phương án xử lý kịp thời. Ngoài ra BQLRPH Lang Chánh còn hoàn thành công tác cắm mốc ranh giới giữa khu vực rừng giáp ranh với khu dân cư và tổ chức các đợt phát quang đường ranh giới
Đầu năm 2015 đơn vị đã tiến hành đầu tư thêm dây chuyền chế biến gỗ rừng trồng gồm: Trạm biến áp điện, máy xẻ, máy bóc, máy băm dăm và bàn cân điện tử 100 tấn với quy mô công suất sản xuất 50.000m3 gỗ nguyên liệu/năm, việc đầu tư dây chuyền chế biến gắn với khai thác rừng trồng đã thu hút và tạo việc làm ổn định cho trên 150 lao động với mức thu nhập bình quân 4 đến 5 triệu đồng/người/tháng, đồng thời đơn vị cũng thu hút từ 150 đến 200 người tham gia trồng rừng, chăm sóc rừng theo mùa vụ.
Với những kết quả đã đạt được từ chương trình dự án trồng rừng, chăm sóc rừng, BQLRPH Lang Chánh đã và đang phát huy hiệu quả, giữ vững màu xanh của rừng, góp phần vào công tác xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn huyện. (Văn Hóa Và Đời Sống Thanh Hóa 10/8) đầu trang(
Ngày 9/8, Trung tâm Công tác xã hội Thanh niên TPHCM (thuộc Thành Đoàn TPHCM) phối hợp với công ty TNHH Khỏe Đẹp tổ chức chương trình “Hành động cho hành tinh xanh” trong việc bảo vệ môi trường.
Theo đó, từ nay đến năm 2020, hai bên sẽ tổ chức các hoạt động tuyên truyền bảo vệ môi trường, vận động người dân tham gia mô hình “Công viên không rác”; tổ chức vẽ tranh, các trò chơi cổ động giữ gìn vệ sinh môi trường công cộng và đặc biệt là trồng 50.000 cây xanh tại TPHCM và các tỉnh lân cận… với tổng số tiền khoảng 500 triệu đồng. (Tiền Phong 10/8) đầu trang(
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Mai Anh Nhịn đã ký ban hành Quyết định số 1588/QĐ-UBND phê duyệt Dự án gây bồi tạo bãi, trồng cây ngập mặn bảo vệ đê biển từ Bình Sơn đến Bình Giang, huyện Hòn Đất, địa điểm lập dự án tại khoảnh 3 tiểu khu Bình Giang và Khoảnh 1 tiểu khu Bình Sơn thuộc xã Bình Sơn và Bình Giang.
Mục tiêu tạo thêm các đai rừng phòng hộ ven biển bền vững, có tác dụng chắn sóng, hạn chế sạt lở, xâm nhập mặn, bảo vệ các công trình đê kè biển, các khu nuôi trồng thủy sản, mở rộng diện tích hệ sinh thái rừng ven biển, sử dụng đa mục tiêu, nâng cao hiệu quả kinh tế; nâng cao nhận thức của người dân và cán bộ địa phương về giá trị và tầm quan trọng của trồng rừng bảo vệ.
Cụ thể trồng mới được 50 ha rừng ngập mặn, tạo đai rừng ngập mặn bảo vệ 6 km đê biển từ xã Bình Sơn đến xã Bình Giang; xây dựng 7.990 m tường mềm giảm sóng, gây bồi và bảo vệ cây mới trồng; tăng tốc độ ổn định bãi bồi, chống xói lở bờ biển; giảm chi phí tu bổ, nâng cấp đê biển hàng năm.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Mai Anh Nhịn đã ký ban hành Quyết định số 1589/QĐ-UBND phê duyệt Dự án gây bồi tạo bãi, trồng cây ngập mặn bảo vệ đê biển xã Nam Thái, huyện An Biên, địa điểm lập dự án tại tiểu khu 26, khoảnh 1 và khoảnh 2 xã Nam Thái.
Mục tiêu tạo các đai rừng phòng hộ ven biển bền vững, có tác dụng chắn sóng, chắn gió bão, hạn chế sạt lở, xâm nhập mặn, bảo vệ các công trình đê kè biển, các khu nuôi trồng thủy sản. Mở rộng diện tích hệ sinh thái rừng ven biển góp phần giảm thiểu sự phát sinh khí thải nhà kính thông qua việc tăng bể hấp thụ khí C02, ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Tăng thu nhập cho người dân vùng ven biển thông qua các hoạt động nuôi trồng thủy sản bán thâm canh trong diện tích rừng ngập mặn, sử dụng đa mục tiêu, nâng cao hiệu quả kinh tế. Cụ thể xây dựng được 3.320 m tường mềm giảm sóng, gây bồi và bảo vệ cho toàn bộ diện tích cây mới trồng; trồng thành công 35 ha rừng ngập mặn đảm bảo tỉ lệ sống trên 85% tạo các đai rừng bảo vệ được 3 km đê biển phía trong dải trồng rừng ngập mặn; tăng tốc độ ổn định bãi bồi, chống xói lở bờ biển; giảm chi phí tu bổ đê điều hàng năm.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Mai Anh Nhịn đã ký ban hành Quyết định số 1590/QĐ-UBND phê duyệt Dự án khôi phục và phát triển rừng phòng hộ ven biển tỉnh giai đoạn 2015-2020. Địa điểm lập dự án tại vùng rừng phòng hộ ven biển tỉnh Kiên Giang với chiều dài 208 km, kéo dài từ Mũi Nai (thị xã Hà Tiên) đến cống Tiểu Dừa (huyện An Minh), tiếp giáp tỉnh Cà Mau.
Phạm vi đầu tư là phần diện tích rừng và đất lâm nghiệp được quy hoạch rừng phòng hộ ven biển do Ban Quản lý rừng Hòn Đất - Kiên Hà, Ban Quản lý rừng An Biên - An Minh quản lý, thuộc địa giới hành chính của thị xã Hà Tiên và 4 huyện: Kiên Lương, Hòn Đất, An Biên và An Minh. Đai rừng phòng hộ ven biển được xác định từ đê quốc phòng hướng ra biển đến mức thuỷ triều kiệt bình quân nhiều năm. Tổng diện tích tự nhiên vùng dự án 9.077,44 ha.
Nhu cầu vốn đầu tư khôi phục và phát triển rừng phòng hộ ven biển tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2015-2020 là 114,4 tỷ đồng. (Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Kiên Giang 10/8) đầu trang(
Trong 5 năm qua, sản xuất nông nghiệp của huyện Mù Cang Chải có bước tăng trưởng vượt bậc, từng lĩnh vực đã gắn với thế mạnh của địa phương, trong đó kinh tế rừng và chăn nuôi đại gia súc đã góp phần ổn định cuộc sống cho nhân dân. Công tác chăm sóc, bảo vệ nguồn lợi, phát huy thế mạnh từ rừng góp phần làm thay đổi nhận thức của nhân dân, cải tạo tập quán du canh, du cư, phá rừng làm nương của đồng bào.
Toàn huyện trồng mới 3.740ha, đến nay tổng diện tích rừng đạt gần 73.900ha, nâng độ che phủ của rừng lên 61%. Các địa phương tích cực vận động nhân dân quản lý, khai thác có hiệu quả 1.700ha cây sơn tra, chăm sóc 1.421ha cây thảo quả và 755,7ha chè mang lại nguồn thu hàng chục tỷ đồng mỗi năm. Bước đầu các giải pháp và chính sách huyện đưa ra cho thấy phù hợp, khuyến khích việc trồng cây sơn tra, cây thảo quả trong diện tích rừng phòng hộ giúp người dân bảo vệ rừng và có thu nhập ổn định, gắn bó lâu dài với rừng.
Nhận thấy lợi thế của huyện có 87,5% số hộ làm nông nghiệp, có trên 80% diện tích tự nhiên là rừng và đất rừng nhưng việc phát triển kinh tế hộ gắn với kinh tế đồi rừng chưa thực sự phát triển. Người dân chưa có thu nhập đáng kể bằng nghề rừng, nhiều người coi nghề rừng và làm rừng là nghề làm thêm, làm thuê lấy tiền từ các chương trình dự án, chưa gắn bó với rừng.
Khoản thu nhập từ sơn tra tương đối lớn nhưng chủ yếu từ cây mọc tự nhiên, có sẵn đã mang lại thu nhập đáng kể cho người dân các xã có diện tích tập trung như Nậm Khắt, Nậm Có, La Pán Tẩn, Lao Chải. Cây thảo quả được trồng có diện tích lớn tập trung nhiều ở Cao Phạ, Nậm Có, Nậm Khắt, La Pán Tẩn và Chế Tạo nhưng phát triển tràn lan, mang tính tự phát.
Người dân làm theo kinh nghiệm là chính, giá trị thực tế chưa cao, chưa kích thích được sản xuất ổn định. Từ thực trạng đó, UBND huyện Mù Cang Chải đã phê duyệt Đề án “Quản lý cây thảo quả, cây Sơn tra gắn với phát triển kinh tế đồi rừng huyện Mù Cang Chải giai đoạn 2014 - 2020”.
Đề án khẳng định cây thảo quả và cây sơn tra hoàn toàn phù hợp với điều kiện tự nhiên và hiện trạng rừng của huyện, đảm bảo cho việc phát triển của cây thảo quả, sơn tra nhằm phát huy tiềm năng lợi thế kinh tế đồi rừng; giá trị mang lại góp phần quan trọng vào công cuộc xóa đói giảm nghèo của huyện; kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hái đơn giản, kinh phí đầu tư trên một đơn vị diện tích không nhiều, thời gian cho thu hoạch nhiều năm và được người dân tích cực hưởng ứng.
Phân tích rõ những tồn tại, nhược điểm trong quá trình phát triển cây thảo quả và cây sơn tra, huyện Mù Cang Chải đã đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp đối với công tác quản lý quy hoạch, cơ chế chính sách, về giống và kỹ thuật, sơ chế bảo quản và thị trường tiêu thụ.
Mục tiêu là quản lý tốt diện tích thảo quả hiện có, không khuyến khích mở rộng thêm diện tích và nâng cao năng suất chất lượng thảo quả. Với cây sơn tra sẽ mở rộng diện tích bởi đây là cây đa tác dụng, vừa có giá trị kinh tế, vừa có thác dụng phòng hộ. Mục tiêu trồng phải theo đúng quy hoạch 3 loại rừng, đảm bảo sự phù hợp giữa điều kiện tự nhiên và đặc tính sinh thái của cây sơn tra, gắn trách nhiệm của người dân trong công tác bảo vệ rừng.
Từ năm 2010 đến nay, Mù Cang Chải đã triển khai thực hiện tốt các chính sách, làm chuyển đổi nhận thức của nhân dân trong chăn nuôi nên đàn gia súc chính của huyện tăng trưởng trung bình 6,5%/năm và đạt 56.500 con; đàn gia cầm tăng bình quân 10,4%/năm, đạt 164.000 con. Người dân được hướng dẫn kỹ thuật làm cây rơm để dự trữ thức ăn cho trâu, bò trong mùa đông và phòng dịch cho trâu, bò; làm chuồng nuôi nhốt cho trâu, bò xa nhà, không để ảnh hưởng đến môi trường sống và biết trồng cỏ voi để chủ động nguồn thức ăn trong chăn nuôi. Huyện đã tranh thủ các chương trình, dự án hỗ trợ cho người dân mua trâu, bò giống.
Từ cuộc vận động “ba xanh”, “năm không, năm có”, đồng bào đã từng bước chuyển từ chăn thả tự do truyền thống sang hình thức nuôi nhốt, đông đàn. Với mục tiêu đến 2020 nâng tổng đàn gia súc chính đạt trên 70.000 con, tổng đàn gia cầm đạt trên 200.000 con, nâng cao chất lượng, hiệu quả trong chăn nuôi, huyện Mù Cang Chải tiếp tục xây dựng Đề án “Phát triển chăn nuôi hàng hóa giai đoạn 2015 - 2020 và định hướng đến năm 2025“ theo hướng các hộ, nhóm hộ vừa và nhỏ, đồng thời đầu tư thực hiện chuyển đổi phương thức chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp thay thế phương thức chăn nuôi truyền thống.
Huyện cũng sẽ tập trung cho việc phát triển đàn trâu, đàn lợn địa phương, đàn dê, gà đen, xây dựng mô hình Hợp tác xã nuôi ong lấy mật...
Việc xây dựng và triển khai Đề án “Quản lý cây thảo quả, cây sơn tra gắn với phát triển kinh tế đồi rừng huyện Mù Cang Chải giai đoạn 2014 - 2020” và “Phát triển chăn nuôi hàng hóa giai đoạn 2015 - 2020 và định hướng đến năm 2025“ sẽ trở thành khâu đột phá trong sản xuất nông, lâm nghiệp, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, từng bước đưa Mù Cang Chải thoát nghèo bền vững. (Báo Yên Bái 10/8) đầu trang(
Thời gian qua, diện tích trồng cây keo trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) tăng nhanh. Ngoài phát huy hiệu quả trên diện tích đất lâm nghiệp với đồi, dốc cao, việc phát triển cây keo cũng đặt ra một số vấn đề cần quan tâm.
Gặp chúng tôi khi đang chở keo giống về trồng, ông Nguyễn Văn Huy (xã Khánh Nam) cho biết: “Hiện nay, giá keo nguyên liệu khá cao, khoảng 1 triệu đồng/tấn, nếu chăm sóc tốt có thể đạt 70-80 tấn/ha. Sau khi trừ chi phí đầu tư, người dân thu trung bình 30-40 triệu đồng/ha. Vì vậy, nhiều hộ ở Khánh Nam đã tập trung chăm sóc để keo đạt sản lượng cao nhất khi khai thác.
Không chỉ vậy, những diện tích đất ở khu vực sườn đồi, có độ dốc cao, người dân cũng chuyển từ trồng bắp, mì sang trồng keo. Năm nay, gia đình tôi trồng thêm khoảng 1,5ha keo, nâng tổng số diện tích keo lên hơn 4ha”.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, diện tích keo tại xã Khánh Nam đã tăng mạnh trong khoảng 3 năm trở lại đây. Trên đất lâm nghiệp, trước đây, người dân trồng mì, bắp, mía, hiện nay đã chuyển sang trồng keo. Năm nay, xã sẽ phát triển thêm khoảng 35ha keo ở vùng đồi dốc để phấn đấu phủ kín diện tích đất lâm nghiệp khoảng 1.200ha.
Tại xã Khánh Trung, để cây keo phát huy hiệu quả, chính quyền địa phương đã vận động người dân chỉ trồng keo trên diện tích đất lâm nghiệp, không trồng trên đất nông nghiệp. Theo ông Huỳnh Văn Thúc - Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch UBND xã Khánh Trung, trong tổng số khoảng 1.700ha đất sản xuất, địa phương đang phát triển khoảng 250ha keo lai.
Do hiện nay đã vào mùa mưa nên nhiều người dân đang tập trung trồng rừng sản xuất. “Năm nay, người dân địa phương đã 3 lần trồng rừng; 2 lần trước do nắng hạn gay gắt nên nhiều diện tích keo mới trồng bị chết. Hiện nay, ngoài việc trồng lại diện tích keo bị chết, nhiều hộ cũng phát dọn nương rẫy để trồng mới”, ông Thúc nói.
Nhiều người trồng keo cho biết, đất đồi dốc (đất lâm nghiệp) canh tác cây sắn, cây mì kém hiệu quả hơn so với trồng keo. Việc trồng cây keo lai giâm hom có nhiều ưu điểm vượt trội như: dễ trồng, cây phù hợp với nhiều loại đất, không ngại độ dốc, kỹ thuật chăm sóc đơn giản, giá bán cây đứng tại rừng dao động từ 50 đến 60 triệu/ha (lãi bình quân đạt 6 đến 10 triệu đồng/ha/năm).
Ngoài ra, tốc độ sinh trưởng và khả năng cho sinh khối khá lớn, trung bình chu kỳ của cây keo lai giâm hom chỉ khoảng 4 năm có thể khai thác được. Tuy nhiên, nếu trồng keo trên đất nông nghiệp thì hiệu quả khai thác, sử dụng đất không cao khi so sánh với các loại cây trồng khác như: mía, cây ăn quả… Chính vì vậy, người dân chủ yếu trồng keo trên đất lâm nghiệp.
Theo thống kê của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Khánh Vĩnh, diện tích cây keo nguyên liệu tăng liên tục trong những năm qua. Đến nay, địa phương đã phát triển được 2.700ha keo lai giâm hom. Dự kiến, trong năm nay, huyện sẽ phát triển thêm khoảng 600ha. Trong đó, diện tích trồng keo theo Chương trình 147 khoảng 80ha, số còn lại do người dân tự đầu tư, đã có khoảng 60% số hộ trên địa bàn huyện lựa chọn cây keo để trồng.
Một trong những vấn đề khiến người trồng keo lo lắng là chu kỳ phát triển của cây keo khá dài, sớm nhất cũng phải 4 năm mới cho khai thác, nên việc trồng keo sẽ khiến cho đời sống của nhiều hộ, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số gặp khó khăn trước mắt. Ông Cao Tiêu (xã Khánh Trung) cho biết: “Gia đình tôi chỉ có 1ha đất sản xuất, nếu toàn bộ để trồng keo thì 4 năm mới cho thu hoạch. Trong khi chờ thu hoạch keo, cuộc sống hàng ngày của tôi phải chờ vào số tiền làm thuê, làm mướn…”.
Được biết, khi trồng keo, xã và huyện đã hướng dẫn người dân trồng xen canh bắp, đậu để tăng thêm thu nhập. Thế nhưng, từ kinh nghiệm thực tế của mình, ông Tiêu cho rằng, chỉ có thể xen canh các loại cây trồng khác trong 5-6 tháng đầu, lúc keo mới trồng, khi cây keo bắt đầu phát triển thì không thể tiếp tục trồng xen canh.
Theo ông Lưu Nguyên - Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Khánh Vĩnh, thời gian qua, việc phát triển cây keo lai được địa phương rất quan tâm tìm biện pháp để đảm bảo hiệu quả cho người dân. Hiện nay, khó khăn lớn nhất nằm ở khâu tiêu thụ, bởi keo trên địa bàn được thu mua chủ yếu từ 2 doanh nghiệp chế biến dăm gỗ xuất khẩu.
Điều này dễ dẫn đến tình trạng cung vượt quá cầu; khi đó có thể keo sẽ mất giá, việc bỏ keo để chạy theo cây trồng khác rất dễ xảy ra. “Huyện đã đề nghị các công ty thu mua nguyên liệu từ rừng trồng có các chính sách đầu tư và hợp đồng bao tiêu sản phẩm từ rừng trồng. Mặt khác, địa phương khuyến khích các doanh nghiệp đến Khánh Vĩnh đầu tư xây dựng cơ sở thu mua và xây dựng nhà máy chế biến keo nguyên liệu để nâng cao hiệu quả, giúp người dân an tâm trồng rừng”, ông Nguyên cho biết.
Để cây keo mang lại hiệu quả cao nhất, UBND huyện Khánh Vĩnh đã chỉ đạo cơ quan chuyên môn và chính quyền cơ sở tập trung tuyên truyền, vận động và khuyến khích người dân chỉ trồng cây keo trên đất lâm nghiệp để góp phần phát triển rừng, tăng độ phe phủ rừng; tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân, phát triển vùng nguyên liệu tại chỗ phục vụ cho công nghiệp chế biến. (Báo Khánh Hòa 11/8) đầu trang(
Ngày 8 tháng 8 năm 2015, Đoàn kinh tế Quốc Phòng 326 - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Sơn La đã triển khai dự trồng rừng tại bản Nà ẳn xã Mường Lạn, huyện Sốp Cộp.
Tham gia trồng rừng cùng với cán bộ, chiến sĩ, tri thức trẻ Đoàn 326 còn có hơn 60 đoàn viên thanh niên của Đoàn xã Mường Lạn và các hộ gia dân tham gia dự án. Đây là dự án trồng rừng do Đoàn kinh tế Quốc Phòng 326 làm chủ đầu tư, theo đó 80 hộ dân của bản Nà Ẳn xã Mường Lạn tham gia dự án sẽ trồng 104 ha cây Thông, được hỗ trợ mỗi 1 ha 15 triệu đồng, sau 4 năm sẽ bàn giao cho nhân dân tự chăm sóc, quản lý và khai thác.
Để động viên, khuyến khích bà con nhân dân tham gia trồng rừng, lãnh đạo Đoàn kinh tế Quốc phòng 326 đã đến tặng quà cho bà con bản Nà Ẳn và đoàn viên thanh niên xã Mường Lạn.
Đây là dự án nhằm phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, cải tạo môi trường, tạo việc làm cho người dân, góp phần xóa đói giàm nghèo bền vững tại địa phương. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sơn La 10/8) đầu trang(
Sẽ chuyển một phần rừng phòng hộ xung yếu sang sản xuất, khai thác - Ông Nguyễn Bá Ngãi.
Ông Nguyễn Bá Ngãi - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) cho biết, Bộ NN&PTNT sẽ phối hợp với địa phương rà soát một phần diện tích rừng phòng hộ xung yếu chuyển sang khai thác sản xuất, kết hợp vừa sản xuất vừa phòng hộ
Phó Tổng cục trưởng Tổng cục lâm nghiệp giải thích, đây không phải là chủ trương mới, Bộ chỉ làm rõ hơn Quyết định Chính phủ vừa ban han.
Theo đó, Quy chế quản lý rừng phòng hộ mới bãi bỏ, thay đổi rất nhiều điều tại Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 về Quy chế quản lý rừng. Quy chế mới này quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng và hưởng lợi từ rừng phòng hộ, đầu tư phát triển rừng phòng hộ.
“Người đông, đất thì hẹp không nhất thiết phải để diện tích rừng phòng hộ ít xung yếu chỉ là rừng phòng hộ. Chúng ta có thể kết hợp một công đôi việc vừa đưa vào khai thác sản xuất vừa làm rừng phòng hộ”, ông Ngãi nói.
Theo ông Ngãi, quy định trước đây sử dụng khái niệm tuyệt đối hóa rừng phòng hộ nhất thiết chỉ là rừng phòng hộ; rừng sản xuất chỉ là rừng sản xuất nhưng nay không cần phải tuyệt đối hóa khái niệm đó nữa.
Sau khi rà soát, Bộ giao cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh có trách nhiệm tham mưu giúp UBND tỉnh, thành phố quản lý nhà nước về rừng phòng hộ trên địa bàn cấp tỉnh.
Theo đó, địa phương được toàn quyền tổ chức việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ; Thành lập, sát nhập, chia tách và giải thể các Ban quản lý (BQL) khu rừng phòng hộ theo quy định của pháp luật.
Tổ chức việc phân loại rừng, xác định ranh giới, xác lập các khu rừng phòng hộ của địa phương theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc giao, cho thuê, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng rừng phòng hộ, công nhận quyền sử dụng rừng phòng hộ theo quy định của pháp luật; việc lập và quản lý hồ sơ giao, cho thuê rừng và đất rừng phòng hộ trên địa bàn;...
Việc đưa rừng phòng hộ vào sản xuất sẽ dựa trên nhưng tiêu chuẩn định hình rừng phòng hộ về lượng mưa, loại đất, tầng đất, độ dốc, từ đó sẽ có kế hoạch sử dụng khai thác, sản xuất cho phù hợp. (Đất Việt 10/8) đầu trang(
Ngành gỗ Việt Nam có tốc độ tăng trưởng cao trong kim ngạch xuất khẩu bảy tháng đầu năm 2015 nhưng theo một số đánh giá vẫn khó duy trì tốc độ này cho đến cuối năm nay.
Cục hải quan báo cáo ngành đã có tốc độ tăng trưởng 8,4% về giá trị, đạt 3,7 tỉ USD. Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc là ba thị trường xuất khẩu lớn nhất cho sản phẩm gỗ Việt Nam, chiếm 66,3% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu.
Phó chủ tịch Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam cho biết ngành gỗ trong nước đã đạt tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ từ năm 2000; có sự gia tăng trong tổng kim ngạch xuất khẩu từ mức 294 triệu USD năm 2000 đến 6,2 tỉ USD năm 2014, với tốc độ tăng trưởng bình quân 15% mỗi năm.
Trong năm nay, ngành kì vọng đạt giá trị kim ngạch 7,2 tỉ USD, và Việt Nam sẽ có thể trở thành nhà xuất khẩu sản phẩm gỗ lớn thứ tư thế giới, sau Trung Quốc, Ý và Đức.
Kết quả xuất khẩu tốt đẹp đó là nhờ chất lượng sản phẩm gỗ Việt Nam cao, với các loại sản phẩm được sản xuất từ gỗ xẻ hợp pháp. Trong năm ngoái, nhiều nhà nhập khẩu gỗ đã đặt hàng sản phẩm Việt Nam thay vì nhập khẩu từ Trung Quốc, do chi phí lao động tăng cao tại Trung Quốc.
Các doanh nghiệp địa phương đã sử dụng lợi thế của mình để mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng công suất sản xuất và sản xuất sản phẩm giá trị gia tăng cao từ nguyên vật liệu địa phương.
Bên cạnh đó, nhu cầu cao từ thị trường thế giới và các thỏa thuận của các hiệp định thương mại tự do dự kiến sẽ tăng cơ hội cho nhà sản xuất gỗ trong nước mở rộng thị trường của mình.
Nhu cầu với sản phẩm gỗ tại các thị trường truyền thống, như Hàn Quốc và Liên minh châu Âu, và kể cả tại các thị trường lớn, như Hoa Kỳ và Nhật Bản, đều tăng trong 7 tháng đầu năm nay.
Nhiều nhà sản xuất đã kí hợp đồng sản xuất thêm sản phẩm vào cuối năm nay.
Trong tương lai gần, 5 thị trường xuất khẩu hàng đầu cho sản phẩm gỗ Việt Nam là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và Liên minh châu Âu.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp tiếp tục phải đối mặt nhiều khó khăn để tăng trưởng nhanh hơn, như biến động phức tạp của tỉ giá hối đoái và nguồn cung nguyên vật liệu thô không ổn định.
Phó giám đốc Tổng công ty lâm nghiệp Việt Nam (Vinafor) cho biết liên minh châu Âu là một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của của Việt Nam nhưng sự suy giảm về giá trị đồng Euro đã khiến nhiều nhà nhập khẩu nước ngoài giảm nhập khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam và buộc các nhà xuất khẩu địa phương phải giảm giá thành để cạnh tranh.
Bên cạnh đó, sự tăng giá của đồng USD đã đẩy chi phí nguyên vật liệu thô lên cao, khiến lợi nhuận doanh nghiệp suy giảm hoặc thậm chí lỗ.
Ngoài ra, các nhà sản xuất trong nước hiện đang phải nhập khẩu 70% nguyên vật liệu thô trong khi chi phí đầu vào của than, điện và nước tiếp tục tăng. Tính cạnh tranh của các sản phẩm gỗ Việt Nam thấp hơn sản phẩm từ các quốc gia khác như Myanmar, Malaysia và Indonesia. Bộ Nông nghiệp đang phải phát triển rừng trồng để đảm bảo đủ nguồn cung nguyên liệu thô cho ngành. (Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại Và Đầu Tư TP.HCM 10/8) đầu trang(
Tính đến tháng 7-2015, diện tích trồng rừng trên địa bàn toàn tỉnh đã bằng 100% so cùng kỳ năm 2014 (trong đó trồng được 380ha rừng phòng hộ, đặc dụng; 11.315ha rừng sản xuất).
Trồng được 317.600 cây phân tán các loại; sản xuất được trên 34 triệu cây giống các loại như: Keo, thông, sa mộc, hồi, quế và một số loài cây khác. Khai thác gỗ rừng trồng 199.800m3, bằng 101% so với cùng kỳ; khai thác thu mua nhựa thông 10.340 tấn, bằng 100,5% so cùng kỳ (trong đó trong tỉnh 1.950 tấn, bằng 154,8% so với cùng kỳ, thu mua tỉnh ngoài 8.390 tấn). (Báo Quảng Ninh 10/8) đầu trang(
Theo kế hoạch, trong năm 2015, toàn tỉnh phấn đấu trồng 1.000 ha rừng tập trung và 3.691 ha rừng thay thế. Với diện tích này, nếu không có sự quyết tâm, quyết liệt từ các cơ quan chức năng và chính các đơn vị được giao nhiệm vụ, nhất là việc tháo gỡ những vướng mắc, bất cập lâu nay thì công tác trồng rừng lại “ghi nhận” thêm một năm gặp khó.
Đến nay, Sở Nông nghiệp - PTNT đã chỉ đạo Chi cục Lâm nghiệp tiến hành rà soát và xác định diện tích, vị trí trồng rừng, giao cho các đơn vị chủ rừng thực hiện theo kế hoạch.
Theo đó, ngoài 1.000 ha rừng trồng tập trung, Sở Nông nghiệp-PTNT cũng đã rà soát và giao kế hoạch trồng rừng thay thế diện tích rừng xây dựng 16 công trình thủy điện trên địa bàn tỉnh cho 13 chủ đầu tư nhà máy thủy điện với diện tích hơn 2.753 ha/3.691 ha theo kế hoạch.
Hiện nay, các đơn vị được giao trồng rừng tập trung và trồng rừng thay thế đã và đang xây dựng và hoàn thiện phương án trồng rừng để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Ngoài ra, một số đơn vị đã chủ động trồng rừng ngay đầu mùa mưa.
Điển hình như Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng, sau khi được Công ty Thủy điện Đồng Nai bỏ kinh phí thuê trồng, trong lúc đang chờ cơ quan chức năng phê duyệt phương án, đơn vị đã chủ động trồng được hơn 85 ha rừng thay thế.
Được biết, một số đơn vị khác trong lúc chờ phê duyệt phương án cũng đã chủ động trích kinh phí để trồng rừng ngay đầu mùa mưa.
Tuy nhiên, số đơn vị này cũng không nhiều và diện tích rừng đã trồng trong năm nay đến thời điểm này cũng còn rất “khiêm tốn” so với kế hoạch giao.
Đơn cử như riêng Công ty Thủy điện Đồng Nai được giao 5 địa điểm trồng rừng thay thế tại các địa bàn của những đơn vị quản lý gồm: Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng; Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đắk N’tao; Xí nghiệp Lâm nghiệp Đắk Ha; Xí nghiệp Lâm nghiệp Quảng Khê; Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Sơn với tổng diện tích là hơn 2.775 ha.
Do không có nhân lực cũng như chuyên môn trong công tác trồng rừng nên đơn vị chỉ đảm nhận trồng khoảng 20 ha, diện tích còn lại, Công ty đã chọn phương án bỏ tiền thuê các đơn vị có nhân lực, chuyên môn trồng rừng. Thế nhưng, đến nay, mặc dù đã giữa mùa mưa nhưng tiến độ trồng rừng theo kế hoạch đa phần vẫn đang nằm trên phương án.
Không riêng gì Công ty Thủy điện Đồng Nai, đa phần các đơn vị, địa phương được giao kế hoạch trồng rừng hiện chỉ mới thực hiện đến công đoạn hoàn thành phương án, gửi cơ quan chức năng phê duyệt. Vì thế, công tác trồng rừng trong năm nay nhiều khả năng sẽ chậm tiến độ. Bởi vì, mùa mưa năm nay dự kiến kết thúc sớm hơn những năm trước, trong khi diện tích rừng trồng theo kế hoạch lại rất lớn.
Chưa kể đến, mặc dù đã xác định được diện tích, địa điểm nhưng một số đơn vị được giao kế hoạch trồng rừng thay thế vẫn chưa nhiệt tình trong việc triển khai, bố trí kinh phí và xây dựng phương án thực hiện. Nhiều đơn vị được giao nhiệm vụ trồng rừng vẫn còn tâm lý trồng theo kiểu “cho xong nhiệm vụ” nên nhiều diện tích rừng trồng triển khai chậm vào cuối mùa mưa sẽ không đảm bảo chất lượng.
Bên cạnh đó, các diện tích đưa vào kế hoạch trồng rừng hiện nay phần lớn đã bị người dân lấn chiếm, canh tác nên khi triển khai phương án gặp rất nhiều khó khăn; nhiều diện tích muốn trồng thì phải tiến hành giải tỏa, trả lại hiện trạng.
Từ những khó khăn trên, hiện Chi cục Lâm nghiệp đang tăng cường công tác phối hợp, tích cực tham mưu cho Sở Nông nghiệp - PTNT để có hướng tháo gỡ, khắc phục.
Mặt khác, Chi cục cũng thường xuyên tăng cường công tác hướng dẫn, đôn đốc các đơn vị chủ rừng rà soát, xác định chính xác vị trí, diện tích, ranh giới đất đủ điều kiện trồng rừng trên bản đồ và thực địa, tránh tình trạng xảy ra những phát sinh ngoài kế hoạch.
Ngoài ra, đơn vị cũng tăng cường giám sát, theo dõi chất lượng cây giống, kỹ thuật trồng và kế hoạch bảo vệ, chăm sóc của các đơn vị nhằm đảm bảo ở mức cao nhất có thể về tiến độ, hiệu quả và chất lượng rừng trồng. Thế nhưng, thực tế cho thấy, với tiến độ này, nếu phấn đấu, toàn tỉnh cũng chỉ đạt khoảng 50% diện tích rừng trồng được giao trong năm theo kế hoạch. Nếu vậy, khả năng lại thêm một năm nữa, kế hoạch trồng rừng không đạt mục tiêu đề ra là rất lớn. (Báo Đắk Nông 10/8) đầu trang(
Là 1 trong 10 tỉnh, thành được triển khai Dự án trồng rừng ngập mặn giảm thiểu rủi ro thảm họa tại Việt Nam do Hội Chữ Thập đỏ Đan Mạch và Nhật Bản tài trợ. Đến nay, sau gần 20 năm triển khai, những cánh rừng ngập mặn trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đã và đang phát huy hiệu quả tích cực, góp phần vào việc phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương.
Hiện nay, hàng trăm hecta rừng ngập mặn tại khu vực bãi bồi ven biển do Hội chữ thập đỏ tỉnh, Bộ đội Biên phòng và huyện Kim Sơn trồng từ năm 1997 đã và đang phát triển xanh tốt, có tác dụng bồi cao nền đất, hình thành nên một “bức tường xanh” vững chắc bảo vệ đê biển.
Qua các mùa bão lũ, triều cường, các đoạn đê biển có rừng ngập mặn che chắn đều không bị sạt lở, góp phần phòng ngừa thảm họa thiên nhiên. Chân đê được bồi tụ thêm đất giúp cho đê ngày càng vững chắc, giảm đáng kể chi phí tu bổ đê điều hàng năm, bảo vệ tốt cuộc sống của người dân vùng thường xuyên bị đe dọa bởi thiên tai.
Để tiếp tục duy trì tính hiệu quả bền vững của Dự án, đặc biệt là thực hiện Đề án của Chính phủ về bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015 – 2020, Hội Chữ thập đỏ tỉnh tiếp tục phối hợp với các đơn vị, đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân, nhất là cộng đồng dân cư vùng Dự án thấy được lợi ích trước mắt và lâu dài của việc trồng rừng ngập mặn, từ đó tích cực, chủ động tham gia trồng, bảo vệ rừng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Ninh Bình 10/8) đầu trang(
Việc doanh nghiệp đầu tư vào trồng rừng luôn được tỉnh Bắc Kạn khuyến khích, nhắm khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai. Thế nhưng, tại xã Tân Sơn, huyện Chợ Mới, nhiều hộ dân lại phản ứng khi các ngành chức năng và chính quyền địa phương đến làm việc giao đất cho doanh nghiệp, tình trạng này đang gây khó khăn cho Công ty Cổ phần thương mại và đầu tư Đa Phương, khi đã được UBND tỉnh đồng ý cho đầu tư vào trồng rừng tại xã Tân Sơn, huyện Chợ Mới.
Tân Sơn là một xã còn nhiều khó khăn của huyện Chợ Mới, diện tích tự nhiên có khoảng hơn 6 nghìn ha, trong đó diện tích nông, lâm nghiệp chiếm 60%; tỷ lệ hộ nghèo chiếm trên 33%. Đất lâm nghiệp khá lớn nhưng chưa được khai thác có hiệu quả.
Qua khảo sát thực trạng một số doanh nghiệp đã có hướng đầu tư phát triển trồng rừng tại xã Tân Sơn, nhằm phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, nâng cao sản lượng rừng trồng, góp phần cải thiện môi trường sinh thái, phát triển kinh tế cho người dân.Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vướng mắc, bởi người dân nhận thức chưa được rõ về sự liên kết hưởng lợi từ việc trồng và chăm sóc rừng giữa doanh nghiệp với người dân, chính vì vậy đã dẫn tới những khó khăn trong việc bàn giao diện tích đất trồng rừng cho doanh nghiệp vào đầu tư.
Năm 2012 UBND tỉnh đã có quyết định về việc thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư đã cấp ngày 01/8/2007 cho Công ty cổ phần Hoàng Long thực hiện dự án trồng rừng, khoanh nuôi, phục hồi rừng tại 3 xã trên địa bàn huyện Chợ Mới trong đó có xã Tân Sơn, với lý do nhà đầu tư vi phạm tiến độ triển khai thực hiện dự án theo quy định, vi phạm Luật Đầu tư năm 2005.
Thời gian gần đây, có một doanh nghiệp là Công ty Cổ phần thương mại và đầu tư Đa Phương xin được phép đầu tư trồng rừng tại huyện Chợ Mới. UBND tỉnh đã chấp thuận và ban hành Quyết định số 2297/QĐ-UBND ngày 16/12/2014 về việc giao đất cho công ty để thực hiện dự án trồng và chăm sóc rừng, trong đó có phần đất thuộc xã Tân Sơn.
Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đầu tư, chủ đầu tư đã ký hợp đồng với Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Bắc Kạn để rà soát thực địa phạm vi khu đất của UBND tỉnh thu hồi trước đây từ Công ty Hoàng Long giao nay đang giao cho UBND xã Tân Sơn quản lý để xác định diện tích và loại đất. Căn cứ kết quả rà soát, thống nhất diện tích với UBND xã, chủ đầu tư đã lập hồ sơ đất đai theo quy định và chuyển đến Sở Tài nguyên và Môi trường. Sở đã tiếp nhận và tổ chức kiểm tra, xác minh thực địa.
Qua kết quả kiểm tra tại xã Tân Sơn cho thấy trong quá trình rà soát đất đai để lập hồ sơ chủ đầu tư và UBND xã loại bỏ những diện tích đất do UBND xã quản lý nhưng người dân đã sử dụng để trồng rừng, sản xuất nông nghiệp, diện tích xin giao thuê đất còn 736,8ha, hiện trạng phần lớn diện tích là đất có cây tự nhiện, phục hồi sau làm nương rẫy, một số vị trí là núi đá, đất trống.
Nguồn gốc đất đai của khu đất đơn vị xin giao, cho thuê là đất được UBND tỉnh thu hồi từ Công ty Hoàng Long giao cho UBND xã Tân Sơn quản lý, tại thời điểm kiểm tra khu đất này chưa cấp đất cho dân sử dụng.
Tỉnh đã quyết định cấp đất, nhưng Công ty Đa Phương lại vẫn đang gặp phải khó khăn do một số hộ dân hiện đang canh tác trên diện tích đất thuộc UBND xã quản lý không đồng ý trả đất theo quyết định của tỉnh.
Tân Sơn có 6 thôn, thì có 2 thôn liên quan đến diện tích thu hồi là thôn Nặm Dất và Phja Rạ, hiện có khoảng 20 hộ dân đang canh tác trên diện tích đất mà UBND xã Tân Sơn đang quản lý.
Theo ông Hoàng Phúc Trường-Trưởng thôn Nặm Dất cho biết: Toàn thôn có 80 hộ dân, còn 27 hộ nghèo, chủ yếu là đồng bào dân tộc Dao, quanh năm sống bằng nương rẫy và bám vào rừng để sinh sống. Thấy đất trống, đồi trọc người dân tự giác canh tác từ nhiều năm nay.
Bây giờ các ngành chức năng đến làm việc yêu cầu dân bàn giao lại đất canh tác cho UBND xã Tân Sơn để xã bàn giao lại cho doanh nghiệp Đa Phương thì hầu hết không đồng tình ủng hộ, vì với dân trí còn thấp, người dân chỉ biết sống ‘vịn” vào rừng, nay doanh nghiệp vào muốn đầu tư trồng rừng nhưng dân nhất định “giữ” đất đang canh tác, họ sợ doanh nghiệp vào đầu tư dân lại bị phụ thuộc. Mọi người mong tỉnh, các cấp, các ngành và chính quyền địa phương xã Tân Sơn xem xét để người dân trong thôn được phép trồng rừng theo hộ cá nhân...
Về mặt pháp lý thì những hộ dân tại thôn Nặm Dất và Phja Rạ đang canh tác trên diện tích đất thuộc UBND xã Tân Sơn quản lý thì không có quyền đòi hỏi gì khi tỉnh tiến hành thu hồi đất để cấp cho doanh nghiệp vào đầu tư trồng rừng. Vì người dân chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên, cái cần xem xét ở đây là ở chỗ người dân hai thôn này đang còn rất nghèo, đất canh tác quá ít, chính vì vậy việc xã đã tạo điều kiện cho người dân trồng rừng và làm nương rẫy trên diện tích đất do xã quản lý cũng không hẳn sai. Nhưng khi đã tỉnh ban hành quyết định để doanh nghiệp vào đầu tư trồng rừng thì địa phương phải tiến hành thu hồi và bàn giao đất.
Thực tế không đơn giản như vậy, ngày 21/7/2015 Sở Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì tổ chức việc rà soát đất tại thôn Nặm Dất, xã Tân Sơn. Trong quá trình rà soát thực địa, đa số các hộ dân đến tham gia đã bức xúc, có ý kiến không nhất trí bàn giao đất cho Công ty Cổ phần thương mại và đầu tư Đa Phương và không nhất trí thực hiện rà soát tại thực địa, cán bộ của xã Tân Sơn tham gia trong tổ rà soát trước việc các hộ dân bức xúc cũng không thể giải thích và vận động, tuyên truyền cho bà con.
Việc rà soát đất đai tại xã Tân Sơn thực sự gặp khó khăn khi người dân phản đối. Mặc dù Sở Tài nguyên và Môi trường đã vào cuộc quyết liệt nhưng vẫn không thể giao đất để doanh nghiệp đầu tư trồng rừng.
Đến thời điểm này, những vướng mắc trong việc giao đất trồng rừng cho Công ty Cổ phần thương mại và dịch vụ tại xã Tân Sơn vẫn chưa được giải quyết.
Theo đồng chí Nông Văn Chí-Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho biết: Vướng mắc này, trước tiên phải được tháo gỡ chính từ doanh nghiệp đầu tư, đẩy mạnh tăng cường công tác tuyên truyền, vận động sâu sát từ chính quyền đến người dân, để họ nhận thức được lợi ích từ doanh nghiệp và người dân, đặc biệt sự hưởng lợi của người dân từ việc trồng rừng.
Về phía tỉnh sẽ chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, chính quyền xã Tân Sơn, tổ chức các cuộc họp đi đến thống nhất, tuyên truyền, phân tích rõ cho người dân trong việc canh tác sử dụng đất lâm nghiệp khi chưa được cấp chứng nhận, đồng thời động viên để người dân hiểu rõ việc giao diện tích cho doanh nghiệp trong đó người vẫn tiếp tục được trồng và bảo vệ rừng, tăng thu nhập nhằm xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, bảo đảm quyền và lợi ích của người dân.
Về phía chủ đầu tư là Công ty Cổ phần thương mại và đầu tư Đa Phương cũng mong muốn được triển khai thực hiện dự án trên địa bàn xã Tân Sơn theo diện tích UBND tỉnh đã ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất. Tuy nhiên, việc đầu tư chỉ có thể làm được khi có sự phối kết hợp tốt từ phía Đảng ủy, UBND và nhân dân xã Tân Sơn.
Theo đồng chí Triệu Văn Sơn-Chủ tịch UBND xã Tân Sơn cho biết: Việc để người dân canh tác trên diện tích đất lâm nghiệp mà xã đang quản lý là vì thấy các hộ còn quá nghèo, địa phương muốn tạo điều kiện cho người dân có điều kiện sản xuất, ổn định đời sống, mặc dù họ chưa được cấp chứng nhận sử dụng đất trên đó. Trước đấy, Công ty Cổ phần Hoàng Long đến làm việc với xã, với dân nhưng do doanh nghiệp chưa thực sự quyết tâm vào việc trồng rừng.
Đến nay, lại có doanh nghiệp Đa Phương vào đầu tư UBND tỉnh đã ban hành quyết định, nhưng người dân chưa muốn bàn giao cho doanh nghiệp, đó cũng là điều bất lợi khi doanh nghiệp vào trồng rừng nếu không được sự đồng tình ủng hộ của người dân 2 thôn Phja Rạ và Nặm Dất. Về phía UBND xã nhất trí và đồng tình ủng hộ doanh nghiệp vào đầu tư, xã tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền đến từng hộ dân để họ sớm bàn giao đất.
UBND xã cũng đề nghị doanh nghiệp phải có kế hoạch cụ thể làm việc với UBND xã, bà con các thôn liên quan về cơ chế chính sách hưởng lợi cho người dân, khi bà con được hưởng lợi kinh tế, doanh nghiệp đầu tư sẽ được thuận lợi hơn.
Tiềm năng hàng đầu của Bắc Kạn là đất đai và kinh tế lâm nghiệp. Việc tỉnh ban hành quyết định cho doanh nghiệp thuê đất đầu tư trồng rừng là đúng chủ trương đã được xác định, nhằm thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào trồng rừng, khai thác tiềm năng đất đai của địa phương. Vấn đề ra khi tổ chức thực hiện cần sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất từ tỉnh đến cơ sở và vận động được người dân hiểu rõ mục đích và tích cực ủng hộ.
Phía doanh nghiệp đầu tư cũng phải có phương án sản xuất, trồng rừng cụ thể, trong đó có cơ chế liên kết với dân, bảo đảm cho người dân địa phương khi tham gia cùng doanh nghiệp được hưởng lợi xứng đáng. Có như vậy người dân mới thấy rõ được vai trò, trách nhiệm của mình trong việc cùng doanh nghiệp trồng, chăm sóc bảo vệ rừng rừng.
Mọi vướng mắc cần được họp bàn kỹ với dân để tháo gỡ, tạo sự đồng thuận. Mặt khác, địa phương và người dân cũng không nên đưa ra những đòi hỏi quá đáng, làm ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư của tỉnh, gây khó khăn cho các cấp, ngành chức năng, làm khó cho doanh nghiệp, dẫn đến các nhà đầu tư ngại vào Bắc Kạn. (Báo Bắc Kạn 10/8) đầu trang(
Do phát triển ồ ạt, thiếu nghiên cứu thị trường, từ đầu năm trở lại đây, các doanh nghiệp sản xuất viên gỗ nén mùn cưa gặp nhiều khó khăn.
Tại Công ty Năng Lượng Xanh chuyên sản xuất viên gỗ nén, 1 năm trước đây, công ty này làm được bao nhiêu bán hết bấy nhiêu đó cho đối tác Hàn Quốc, với giá khoảng 3,4 triệu đồng/tấn, thậm chí, công ty còn không đủ hàng để bán, các đối tác tranh nhau mua. Nhưng giờ đây, máy móc để không, hàng trăm tấn viên nén mùn cưa tồn kho. Khách chỉ trả giá 1,4 triệu đồng/tấn - thấp hơn giá thành sản xuất.
Trong khi đó, tại Công ty Đại Cát, kho hàng giờ là nơi chứa 700 tấn mùn cưa - nguyên liệu để làm viên gỗ nén còn tồn từ đầu năm. Công ty không dám sản xuất nữa vì tồn mùn cưa còn hơn tồn viên gỗ nén.
Theo đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp sản xuất viên gỗ nén miền Bắc, hiện có tới 90% số doanh nghiệp sản xuất đang lâm vào nguy cơ phá sản do không thể xuất khẩu được. Số còn lại chỉ hoạt động cầm chừng, muốn tồn tại đành chấp nhận bán lỗ.
Tình trạng trên là hệ lụy của việc doanh nghiệp thành lập ồ ạt như "nấm sau mưa", khi thấy đối tác Hàn Quốc sang hỏi mua quá nhiều về viên gỗ nén. (Đài Truyền Hình Việt Nam 10/8) đầu trang(
Hầu hết các doanh nghiệp khai thác titan trên địa bàn huyện Phù Mỹ (Bình Định) đã hạn khai thác. Thế nhưng, việc hoàn thổ và trồng rừng đến nay các doanh nghiệp vẫn không chịu thực hiện khiến chính quyền địa phương bất lực, còn người dân thì bức xúc.
Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bình Định, toàn tỉnh có 18 công ty được phép khai thác khoáng sản titan. Trong đó, huyện Phù Mỹ có 17 công ty, huyện Phù Cát có 2 công ty (trong đó 1 công ty khai thác ở 2 huyện Phù Cát và Phù Mỹ. Tổng diện tích cấp phép khai thác titan là hơn 1.463 ha với 729,77 ha đã khai thác.
Theo quy định, các doanh nghiệp các doanh nghiệp này sau khi khai thác titan xong phải hoàn thổ, trồng lại dừng bảo vệ môi trường. Thế nhưng, trên thực tế trong tổng số hơn 729 ha đã khai thác titan thì diện tích mà các doanh nghiệp hoàn thổ và trồng lại rừng chỉ chiếm khoảng 50%.
Tại điểm nóng xã Mỹ Thành (huyện Phù Mỹ) là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp khai thác titan hoạt động. Toàn xã có 15 công ty được Bộ TN&MT và UBND tỉnh Bình Định cấp phép với diện tích hơn 1.062,82 ha. Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các doanh nghiệp đã hết hạn khai thác đã đi khỏi địa phương nhưng các doanh nghiệp này không chịu hoàn thổ, trồng cây xanh theo quy định.
Ông Ngô Hải - Chủ tịch UBND xã Mỹ Thành cho biết: Hầu hết công ty, doanh nghiệp khai thác trên địa bàn xã đã hết hạn khai thác và không gia hạn khai thác. Thế nhưng, đến nay tất cả các doanh nghiệp không chịu hoàn thổ, trồng lại rừng, nếu có cũng chỉ miễn cưỡng, làm qua loa. Địa phương thường kiểm, nhắc nhở các doanh nghiệp nhưng họ vẫn làm lơ. Trong khi đó, thẩm quyền xử lý của địa phương có giới hạn nên đành “bó tay”.
Liên quan đến việc các doanh nghiệp khai thác titan không chịu hoàn thổ, trồng rừng, mới đây UBND tỉnh Bình Định vừa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty cổ phần Kim Triều và Công ty cổ phần An Trường An, mỗi công ty 350 triệu đồng vì đã không hoàn thổ, trồng cây phục hồi môi trường sau khai thác ti tan. Đồng thời, yêu cầu hai công ty này phải khôi phục hiện trạng trước ngày 30/8/2015. (Báo Xây Dựng 10/8) đầu trang(
Tính đến hết tháng 7/2015, Ban quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn đã tổ chức giao khoán 3.241ha rừng, đạt 86,2% kế hoạch.
Theo đó, đơn vị đã tổ chức giao rừng trên bản đồ và ngoài thực địa đối với 3.241ha cho 21 nhóm hộ thuộc 4 xã: Hương Sơn; An Phú; An Tiến và Hùng Tiến. Bên cạnh đó, công tác hỗ trợ phát triển cộng đồng dân cư vùng rừng đặc dụng Hương Sơn theo Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ được thực hiện tốt.
Đến nay, 22/22 thôn đã hoàn thành việc xây dựng kế hoạch dự toán kinh phí. Trong đó có 7 thôn đã được nghiệm thu và giải ngân, 7 thôn đã xong và đang chuẩn bị thanh quyết toán, các thôn còn lại đang tiến hành triển khai kế hoạch. (Kinh Tế Và Đô Thị 10/8) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Cơ quan chức năng của Bỉ mới đây đã thu giữ một khối lượng cá huỳnh quang biến đổi gen nhập khẩu do lo ngại chúng có thể gây nguy hại cho môi trường, đặc biệt làm ảnh hưởng đến tính đa dạng sinh học, thậm chí gây tác dụng xấu tới sức khỏe của người dân và vật nuôi.
Cá bị thu giữ thuộc loài Danio rerio có màu sắc khác nhau và đến từ Sri Lanka.
Cá huỳnh quang hay còn gọi là cá huỳnh quang biến đổi gen (GloFish) là một trong các loại cá cảnh nước ngọt được hình thành do công nghệ biến đổi gen. Những con cá mang màu sắc nhân tạo hoặc biến đổi gen đều bị cấm ở Bỉ và trong toàn Liên minh châu Âu (EU).
Ngoài ra, tạo màu nhân tạo cho cá là một hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến việc bảo vệ động vật. Để tạo màu cho cá cảnh, người ta sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau, từ việc nhúng hóa chất trong nước đến việc tiêm phẩm màu cho cá. Phương pháp này không chỉ gây đau đớn cho cá mà có thể khiến chúng bị chết và lừa dối người mua.Một cách nhuộm màu khác cho cá là tiến hành các thao tác di truyền. Điều này khiến cá giống như các sinh vật biến đổi gen. (Vietnam + 10/8) đầu trang(
Theo thông tin từ Ủy ban bảo tồn cá và động vật hoang dã vùng Florida, thứ bảy vừa qua, khi đang bơi trên sông Wekiva, một con sông nổi tiếng tại Floria, cô Rachael Lilienthal đã bị một con cá sấu tấn công.
Nghe thấy tiếng thét, những người lái ca nô và chèo thuyền gần đó kéo đến tìm hiểu và chứng kiến cảnh tượng con cá sấu tấn công người phụ nữ 37 tuổi này. Một nhân chứng tại hiện trường đã dùng mái chèo đánh thật mạnh vào con “quái vật” khi nó đang giằng co với cô gái.
Rachael bị cắn ít nhất hai lần và vết thương nặng nhất là ở cánh tay phải, phía trên khủy tay. Con cá sấu này dài 2.7m và nặng gần 136kg đã bị bắt và bắn vào 12h30 hôm qua. Cứu tinh của Rachael đã đưa cô lên bờ và gọi cho 911.
“Bạn chỉ có thể nhìn thấy một ít máu và xương. Không còn lại cái gì khác” – Theo anh Richard Ward.
Jakob Frick cho biết, anh đang đi ca nô với bạn thì nhìn thấy người phụ nữ đang bơi dưới nước. “Chúng tôi nhìn thấy hàm răng trên cánh tay cô ấy. Nó bắt đầu xoay vòng và kéo cô ấy xuống nước rồi ngoi lên lại. Cô ấy la thét rất nhiều” – Jakob Frick kể lại.
Có một biển cảnh báo đây là khu vực có cá sấu và rắn ở bên ngoài. Sau tai nạn, cô Racheal đã mất một phần cánh tay bên dưới khủy tay. Đêm qua, cô ấy được giữ lại chăm sóc tại trung tâm y tế khu vực Orlando. (Pháp Luật TP.HCM 10/8) đầu trang(
6 kẻ bị cáo buộc săn trộm hổ đã bị cảnh sát Bangladesh bắn chết ngày hôm qua 9-8 tại một khu vực thuộc rừng ngập mặn lớn nhất thế giới.
Theo AFP, 6 tên săn trộm thiệt mạng trong cuộc đấu súng với cảnh sát địa phương trên một con sông thuộc rừng Sundarbans - nơi sống của loài hổ Bengal cực kỳ quý hiếm.
Cảnh sát trưởng địa phương, Harendranath Sarker kể lại: “Những tên săn trộm bắn chúng tôi trước khi chúng phát hiện cảnh sát đang đột nhập vào sào huyệt của chúng ở sông Mandarbaria. Cảnh sát buộc phải bắn trả. 6 tên săn trộm đã thiệt mạng trong cuộc đấu súng”.
Tại hiện trường, cảnh sát tìm thấy da của 3 con hổ Bengal trưởng thành, 4 khẩu súng trường và một khẩu súng lục.
Cũng theo ông Sarker, chiến dịch truy quét những kẻ săn trộm bắt đầu sau cuộc khi Bộ Lâm nghiệp Bangladesh tiến hành khảo sát số lượng hổ hoang dã. Kết quả đáng báo động khi số lượng hổ bị sụt giảm nghiêm trọng tại một trong những nơi được xem là khu bảo tồn động vật hoang dã quý hiếm lớn nhất thế giới.
Sundarbans được xem là một trong những môi trường sống cuối cùng còn lại trên thế giới của loài hổ Bengal.
Các quan chức đổ lỗi sự sụt giảm hổ là do nguồn thức ăn của chúng suy giảm và nạn săn trộm. (Tuổi Trẻ 10/8) đầu trang(
Vào đợt gió mùa, những cánh rừng trên dãy núi Western Ghats, Ấn Độ, có thể gây ngạc nhiên cho khách du lịch khi phát sáng một cách kỳ lạ.
Nằm trong 8 khu đa dạng sinh học lớn trên thế giới, Western Ghats là ngôi nhà của những cánh rừng mưa phong phú nhất hành tinh với hệ động thực vật đặc thù dồi dào. Hàng năm, khi gió mùa tràn về từ tháng 6 đến tháng 10, cả cánh rừng sẽ phát sáng màu xanh lá cây nhạt giống ánh đèn huỳnh quang.
Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng kỳ lạ này là do một loại nấm phát quang mọc trên vỏ cây và cành mục dưới nền đất rừng. Nấm phát quang chỉ tồn tại ở nơi có độ ẩm phù hợp trong những cánh rừng lâu năm thuộc vùng khí hậu nhiệt đới và ôn đới.
Trong khi các sinh vật biển phát quang tương đối phổ biến, hiện tượng phát sáng ở sinh vật sống trên đất liền hiếm gặp hơn. Hai loài được biết đến nhiều nhất là đom đóm và sâu.
Các nhà khoa học đã tìm thấy gần 100.000 loại nấm phát quang, nhưng chỉ có một vài loại đủ lớn để con người có thể dễ dàng nhìn thấy. Loại nấm mọc ở Western Ghats thuộc họ Mycena genus, gồm những cây nấm cực nhỏ giống rêu. Lý do chúng phát sáng vẫn là một điều bí ẩn. (VnExpress 10/8) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||