Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 10 tháng 08 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Hàng loạt cây sưa đỏ, hốc trồng sắn dây của người dân ở xã Kênh Giang (thị xã Chí Linh) và xã Lê Ninh (xã Kinh Môn) đã bị kẻ xấu phá hoại gây thiệt hại nghiêm trọng.
Anh Nguyễn Văn Sơn trú tại thôn Lê Xá, xã Lê Ninh, huyện Kinh Môn (Hải Dương) cho biết: Gia đình anh thuê 14,4 ha đất khu vực ngoài đê sông Kinh Thầy thuộc thôn Lê Xá, xã Lê Ninh, huyện Kinh Môn và thôn Tân Lập, xã Kênh Giang, thị xã Chí Linh để trồng cây lấy gỗ như sưa đỏ, lát hoa... Đêm 30/7, rạng sáng 31/7, kẻ xấu đã vào khu vực bãi đất nhà anh thuê ở khu vực thôn Lê Xá, xã Lê Ninh để chặt phá 1.600 cây sưa đỏ và 25 cây Lát hoa.
Số cây sưa đỏ này đã được anh Sơn trồng và chăm bón đã hơn 18 tháng có tổng trị giá trên 100 triệu đồng. Số cây Lát hoa nhiều cây có đường kính trên 15cm và có trị giá khoảng 200 nghìn đồng/cây.
Ngay sau đó, gia đình anh Sơn đã thông báo cho chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng vụ việc trên. Anh Sơn cũng cho biết: Trước đó, vào chiều 30/7, phát hiện có tàu khai thác cát trái phép trên sông Kinh Thầy thuộc địa phận xã Kênh Giang vào hút cát trái phép ở ngay phần đất bãi mà anh Sơn thuê để trồng cây, anh Sơn đã ra nhắc nhở là không được hút cát ở đây vì sẽ khiến phần đất của gia đình anh thuê bị sạt lở xuống sông.
Sau đó, chiếc tàu hút cát đã bỏ đi cùng những lời đe dọa đối với anh Sơn của những người trên tàu và ngay đêm 30/7, vụ phá hoại đã diễn ra.
Không dừng tại đó, đến đêm 6/8, kẻ xấu lại vào khu đất của ông Nguyễn Văn Vụ, trưởng thôn Tân Lập, xã Kênh Giang, thị xã Chí Linh và phá 44 hốc trồng sắn dây của gia đình ông Vụ. Ông Vụ cho biết, đến tháng 11/2015, các hốc sắn dây trên sẽ cho thu hoạch và theo giá thị trường thì chúng có giá khoảng 30 triệu đồng.
Ông Vụ cũng cho biết thêm: Ông và anh Sơn là những người thường xuyên ra nhắc nhở, xua đuổi tàu cát vào hút cát trái phép trên sông Kinh Thầy thuộc khu vực xã Kênh Giang bởi hoạt động hút cát đã khiến đất sản xuất ở ven sông Kinh Thầy bị sạt lở nghiêm trọng. Vụ việc đang khiến người dân nơi đây hết sức lo lắng cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.
Được biết, sông Kinh Thầy đoạn qua xã Kênh Giang là một trong những điểm nóng khai thác cát trái phép. Các lực lượng chức năng đã tăng cường tuần tra, kiểm soát nhưng vẫn chưa hiệu quả. Đặc biệt từ ngày 28/6 đến nay thường xuyên có 3 tàu cát với tải trọng lớn có thể hút từ 700m3 đến 1.000m3/tàu thường xuyên hoạt động ở khu vực này.
Hiện các cơ quan chức năng đang khẩn trương điều tra, làm rõ vụ việc. (Thể Thao Và Văn Hóa 9/8) đầu trang(
Ông Trần Ngọc Ty, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm thị xã An Nhơn, cho biết: Trong tháng 7.2015, Hạt Kiểm lâm thị xã đã tăng cường tuần tra, kiểm soát, phát hiện 7 vụ vận chuyển lâm sản trái phép, thu giữ hơn 8,7m3 gỗ xẻ nhóm IIA, nâng số vụ phát hiện vi phạm lâm luật từ đầu năm đến nay lên 28 vụ, thu giữ trên 16 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 310 triệu đồng, trong đó tiền bán tang vật, phương tiện tịch thu 304 triệu đồng, còn lại từ xử phạt hành chính. (Báo Bình Định 7/8) đầu trang(
Chiều 8.8.2015, Tổ chức Động vật Châu Á (AAF) và Tổ chức Thay đổi vì Động vật (CFAF) đã tiến hành lễ khánh thành công trình hàng rào điện khu chăm sóc voi tại Vườn Thú Hà Nội. Đây là một phần của chương trình hợp tác hỗ trợ của AAF và CFAF với Vườn Thú Hà Nội trong 2 năm qua, nhằm cải thiện phúc lợi cho các cá thể động vật đang được chăm sóc tại Vườn Thú Hà Nội.
Hàng rào điện khu voi có 4 dây, cao 2m, với tổng chiều dài lắp đặt 180 m, được các nhân viên của AAF, các tình nguyện viên, và nhân viên vườn thú lắp đặt trong 2 tuần, giúp đảm bảo an toàn cho voi và khách thăm quan.
Quan trọng hơn cả, là việc hệ thống hàng rào điện giúp 3 cá thể voi Châu Á được tự do di chuyển trong khu bán hoang dã rộng gần 1.500m2 đầy cỏ xanh. Trước đó, một cá thể voi (được đặt tên là Thái) đã ở Vườn thú Hà Nội từ năm 2010, còn 2 cá thể voi (có tên là Banang và H Khun) được chuyển từ Đắk Lắk về từ năm 2014. Tại đây, cả 3 cá thể voi cái này bị giới hạn trong những xích dài 1 mét - được buộc vào phần mắt cá chân. Qua nhiều năm, xích cứa vào chân voi, đến nỗi chân của chúng đã có những vết sẹo.
Công trình này đồng thời cũng hỗ trợ các cán bộ nhân viên chuyên trách tại vườn thú tiết kiệm thời gian và nâng cao hiệu quả công việc. Theo Tiến sĩ Jill Robinson MBE - sáng lập viên kiêm Tổng Giám đốc điều hành của AAF - Vườn Thú Hà Nội và các chuyên gia của AAF và CFAF đang có kế hoạch ghép nhóm 3 cá thể voi vào cuối năm 2015 này.
Mặc dù luôn mong muốn động vật được sống trong môi trường hoang dã - nhưng trong điều kiện thực tế hoạt động của vườn thú, việc cải tạo môi trường sống hiện tại và tạo cho chúng nhiều sự tự do nhất trong môi trường nuôi nhốt hiện là cách thức hỗ trợ động vật hiệu quả.
Ông Đặng Gia Tùng - Chủ tịch Công ty TNHH một thành viên Vườn Thú Hà Nội - cho biết: Vườn Thú Hà Nội là một trong những vườn thú nổi tiếng nhất Việt Nam, nhưng do nguồn kinh phí hạn hẹp và thiếu nhân viên có năng lực chuyên môn cao, vườn thú chưa thực hiện được chuyên môn cần thiết để cho phép voi đi lại mà không phải xích.
Với những nỗ lực chung, từ tháng 4.2013, AAF và CFAF đã hợp tác với Vườn Thú Hà để giới thiệu về phương thức làm giàu cho động vật, các cấu trúc chuồng phù hợp với từng loài và huấn luyện nhân viên về chăm sóc động vật phù hợp với điều kiện thực tế. (Lao Động 8/8; Pháp Luật TP.HCM 8/8) đầu trang(
Ngày 6 tháng 8 năm 2015, Ban chỉ đạo diễn tập huyện Tân Phước chọn xã Thạnh Hòa tổ chức diễn tập phòng chống cháy rừng có thực binh năm 2015.
Tình huống giả định, vào khoảng 10 giờ ngày 6 tháng 8 năm 2015, tại ấp Hòa Đông xã Thạnh Hòa, người dân đi làm đồng sơ ý quăng tàn thuốc gây ra cháy khu vực rừng phòng hộ của xã. Khi xảy ra cháy, các hộ dân sống khu vực gần đó phát hiện, tri hô và huy động các hộ dân xung quanh dùng cây dập lửa nhưng không thành; lúc này, người dân báo cáo với Ban chỉ huy phòng chống cháy rừng của xã yêu cầu chi viện lực lượng và phương tiện hỗ trợ.
Xã đã huy động 2 máy chữa cháy của xã và gần 20 lực lượng công an, quân sự đến cùng nhân dân dập tắt đám cháy. Qua thời gian khoảng 30 phút đám cháy đã được dập tắt, không để lây lan sang các khu vục khác.
Buổi diễn tập nhằm tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền, Ban chỉ đạo phòng cháy chữa cháy rừng các cấp, nhất là cán bộ và nhân dân nâng cao cảnh giác, chủ động trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại địa phương. (Ban Tuyên Giáo Tỉnh Ủy Tiền Giang 8/8) đầu trang(
Trong  các ngày từ 12 -15 /8, tại TP. Hồ Chí Minh sẽ diễn ra Hội nghị Thượng đỉnh Thanh niên Toàn cầu Mùa hè 2015. Dự kiến buổi lễ sẽ có 160 đại biểu thanh thiếu niên đến từ 5 quốc gia trong khu vực ASEAN.
Tiếp nối thành công của sự kiện Mùa đông vào tháng 1/2015 tại Hà Nội, sự kiện Hành động vì Trái đất – Hội nghị Thượng đỉnh Thanh niên Toàn cầu (GYS), một sáng kiến của Hemispheres Foundation, một doanh nghiệp xã hội phi lợi nhuận có trụ sở tại Singapore, sẽ mang thông điệp Quản lý Nguồn nước và Đa dạng Sinh học tới Hội nghị Thượng đỉnh Thanh niên Toàn cầu Mùa hè 2015.
Với chủ đề Quản lý Nguồn nước và Đa dạng Sinh học, GYS Mùa hè 2015 sẽ truyền cảm hứng cho các đại biểu trẻ với độ tuổi từ 11 tới 21, đến từ Brunei, Campuchia, Indonesia, Myanmar và Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của các nhà môi trường học, các nhà giáo dục, doanh nhân và các nhà nghiên cứu, sẽ cùng hợp tác tại địa phương cũng như trên toàn cầu trong việc lên kế hoạch và triển khai các sáng kiến đột phá giúp giải quyết những thách thức về môi trường tự nhiên.
Bà Ann Phua, chủ tịch Hemispheres Foundation nói: “Tại Hội nghị, các đại biểu sẽ cùng đưa ra lời cam kết Hành động vì Trái đất, thực hiện giảm thiểu chất thải, khí gây hiệu ứng nhà kính nhằm duy trì mức tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu ở mức dưới 2 độ C”.
Trong khuôn khổ chương trình 4 ngày, các đại biểu sẽ đến tham quan Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng, Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, tham gia chương trình giao lưu với trường THPT chuyên Lê Hồng Phong và chiến dịch giảm thiểu rác thải tại một trung tâm thương mại tại TP. Hồ Chí Minh. Các đại biểu cũng sẽ tham gia gây quỹ cho Trung tâm nuôi dưỡng trẻ em bị nhiễm HIV tại Hải Phòng, Việt Nam thông qua hoạt động chụp ảnh từ thiện tại sự kiện. Ngày cuối cùng của Hội nghị sẽ là cơ hội để các đại biểu trình bày ý tưởng sáng tạo về giải pháp bảo vệ môi trường trước ban giám khảo và khán giả.
Tổng học bổng trị giá mười nghìn đô la Singapore sẽ được trao cho các dự án thắng cuộc nhằm hỗ trợ việc thực hiện dự án và tham gia thuyết trình tại GYS tiếp theo ở Indonesia. Buổi hòa nhạc Hành động vì Trái đất sẽ đánh dấu sự kết thúc của GYS Mùa hè 2015.
Hội nghị Thượng đỉnh Thanh niên Toàn cầu là một diễn đàn quốc tế dành cho dành cho giới trẻ giao lưu, thảo luận và đưa ra sáng kiến về các giải pháp bền vững nhằm bảo vệ trẻ em, nguồn nước sạch và môi trường tự nhiên khỏi sự phá hủy.
Với chủ đề Đừng lãng phí, giới trẻ sẽ được hướng dẫn bởi các nhà môi trường, giáo dục, doanh nhân và nghiên cứu, để cùng hợp tác trong nước và quốc tế trong việc lập kế hoạch và thực hiện các ý tưởng sáng tạo nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường.  (Tài Nguyên Và Môi Trường 8/8) đầu trang(
3 chú hổ trắng quý hiếm lần đầu tiên được sinh ở Thảo Cầm Viên Sài Gòn, TP.HCM từ cặp hổ bố mẹ nuôi thuần dưỡng. Sau 1 tháng mỗi con hổ trắng con nặng từ 3,7-4,1kg.
Sáng 9.8 hàng trăm người đã đổ về Thảo Cầm Viên Sài Gòn dự “sinh nhật” tròn 1 tháng tuổi 3 chú hổ trắng được sinh từ cặp hổ bố mẹ nuôi ở Thảo Cầm Viên.
Ông Phan Việt Lâm – Giám đốc Công ty TNHH MTV Thảo Cầm Viên Sài Gòn cho biết, cách đây 6 năm, cặp hổ bố mẹ khoảng 2 tuổi được đưa từ vườn thú Elmvale (Canada) về Thảo Cầm Viên Sài Gòn thuần dưỡng. Sau thời gian phối giống, đến nay việc nhân giống đã có kết quả và 3 chú hổ con ra đời.
“3 chú hổ con được sinh ra ở Thảo Cầm Viên Sài Gòn, điều này chứng tỏ những chú hổ trắng quý hiếm đã thích nghi với khí hậu miền Nam Việt Nam. Những ngày đầu, chúng tôi gặp khó khăn trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng 3 chú hổ con, phải nhập sữa riêng để cho các hổ con bú. Trung bình mỗi ngày cho hổ con bú từ 7-8 lần. Trong thời gian tới, chúng tôi luôn đặt mục tiêu phải bảo tồn nhân giống bảo vệ các gen nhất là động vật này”, ông Lâm chia sẻ.
Cũng theo ông Lâm, kiểm tra sức khỏe toàn diện và 3 con hổ con nặng từ 3,7kg-4,1kg. Đến thời điểm này, cả 3 chú hổ phát triển khỏe mạnh, rất tốt.
Hổ trắng là loài hổ quý hiếm chỉ sống ở khu vực Bangaledesh, Ấn Độ, Bhutan ít được nhìn thấy trong tự nhiên, đang có nguy cơ tiệt chủng cao. Theo Quỹ bảo vệ động vật hoang dã (WWF) số lượng hổ từ năm 1900 đến 2013 giảm từ 100.000 xuống 3.200 con, chủ yếu được nuôi trong các vườn thú. (Dân Việt 9/8; Thanh Niên 9/8; Một Thế Giới 9/8) đầu trang(
Ông Nguyễn Đình Thương, Trưởng Ban Quản Lý rừng phòng hộ huyện Tam Đường (Lai Châu) cho biết, công tác tăng cường quản lý, bảo vệ phát triển rừng là một giải pháp hữu hiệu để giảm nhẹ hậu quả thiên tai.
Vìe vậy, để làm tốt công tác bảo vệ rừng đầu nguồn, cần tạo điều kiện để gnười dân tham gia giữ rừng sống được từ rừng hoặc xây dựng các phương án sản xuất để người dân sống được, bằng cách cho khai thác củi khô, cho phép trồng xen các loại cây dược liệu dưới tán rừng để tăng thu nhập... Từ đó, mới có hiệu quả trong việc vận động bà con, dòng họ, cộng đồng tham gia bảo vệ, chăm sóc rừng.
Bên cạnh đó, việc chi trả dịch vụ môi trường rừng cũng đã góp phần nâng cao đời sống vật chất cho đồng bào, giúp đồng bào dân tộc có ý thức trách nhiệm với rừng. Tuy nhiên, việc chi trả dịch vụ môi trường rừng theo giá hiện nay khá thấp, Chính Phủ cần xem xét, điều chỉnh hoặc sửa đổi Nghị định 99 cho phù hợp với thực tế. (Dân Tộc Và Phát Triển 7/8) đầu trang(
Ngày 7.8, Đoàn kiểm tra liên ngành Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) của tỉnh đã tổ chức hội nghị triển khai kế hoạch kiểm tra, ngăn chặn các tổ chức, cá nhân phá hại rừng và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) tại các địa phương trong tỉnh.
Tại hội nghị, Đoàn kiểm tra liên ngành BV&PTR tỉnh đã phân chia và giao nhiệm vụ cụ thể cho hai tổ công tác BV&PTR. Theo đó, từ tháng 7 đến tháng 12.2015, tổ số 1 (do ông Huỳnh Ngọc Bảo, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh làm Tổ trưởng) kiểm tra, truy quét các điểm nóng về phá rừng, khai thác lâm sản vùng giáp ranh; phá rừng để lấn, chiếm đất lâm nghiệp trái phép; các cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản trên địa bàn huyện Phù Cát, Phù Mỹ, Hoài Nhơn, Hoài Ân, An Lão. Tổ 2 (do ông Nguyễn Thế Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh làm Tổ trưởng) kiểm tra, truy quét các điểm nóng về phá rừng, khai thác lâm sản vùng giáp ranh; phá rừng để lấn, chiếm đất lâm nghiệp trái phép; các cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản trên địa bàn TP Quy Nhơn, thị xã An Nhơn và các huyện: Tuy Phước, Tây Sơn, Vân Canh, Vĩnh Thạnh. Các tổ có thể trực tiếp kiểm tra hoặc phối hợp với Đoàn kiểm tra liên ngành của huyện, thị xã thực hiện nhiệm vụ, báo cáo cho Đoàn kiểm tra BV&PTR của tỉnh.
Đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh yêu cầu việc kiểm tra, ngăn chặn các hoạt động khai thác, mua bán, vận chuyển, cất giữ lâm sản; phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép phải được tổ chức triển khai đồng bộ, khẩn trương và liên tục, có sự chỉ đạo phối hợp kịp thời của chính quyền địa phương; đánh giá đúng thực trạng về tình hình quản lý, phát triển, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn tỉnh; tìm ra nguyên nhân, trách nhiệm quản lý của các đơn vị và địa phương để đề ra biện pháp khắc phục, ngăn chặn tinh trạng nói trên trong thời gian tới.
Tháng 12.2015, Đoàn kiểm tra sẽ tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm, báo cáo cho Ban chỉ đạo BV&PTR tỉnh. (Báo Bình Định 7/8) đầu trang(
Với diện tích khi mới trồng trên 400 ha, sau hơn 30 năm, đến nay rừng thông phòng hộ cảnh quan Quốc lộ 14 đoạn qua huyện Đắk Song (tỉnh Đắk Nông) chỉ còn khoảng 200 ha.
Những cánh rừng thông rậm rạp, xanh tươi kéo dài hàng chục km trước đây nay chỉ còn lại những khoảnh nhỏ, đan xen với nương rẫy do người dân xâm lấn, rừng loang lổ như da báo. Thông ngã đến đâu, cây công nghiệp mọc lên đến đó. Đây là hệ quả của việc buông lỏng quản lý, chưa có biện pháp hữu biệu để bảo vệ rừng thông trong những năm qua.
Khi đi trên Quốc lộ 14 qua 2 xã Nâm N'Jang và Trường Xuân (huyện Đắk Song), không khó khăn khi nhìn thấy hàng chục nghìn cây thông gần 40 năm tuổi, đường kính 30-50cm đã bị đầu độc, hủy hoại và chết khô. Dọc theo Quốc lộ 14, suốt quãng đường gần 30 km từ xã Nâm N'Jang đến cuối xã Trường Xuân hầu như đâu đâu cũng có hàng loạt cây thông chết. Khu vực ít thì có vài cây, khu vực nhiều thì có hàng trăm cây thông đang chết đứng; nhiều vạt rừng, thông chết không còn cây nào.
Khu vực có cây thông chết là những nơi có mặt tiền Quốc lộ hoặc sát với nương rẫy người dân. Và thông chết đến đâu, thì cà phê, hồ tiêu, hoa màu thay thế đến đó. Trước đây, những kẻ phá rừng giết chết cây thông để xâm chiếm đất rừng bằng cách gọt vỏ cho thông chết dần rồi đốn hạ, thực hiện "vây, lấn, tấn, phá, triệt, diệt" rừng thông. Thời gian gần đây, những cây thông nằm sát nương rẫy của người dân cũng bị tận diệt bởi thủ đoạn đầu độc bằng hóa chất. Thông bị khoan lỗ và đổ hóa chất làm cho cây chết dần chết mòn.
Dọc theo đường vào bản Đắk Lép, xã Nâm N'Jang (kế bên Quốc lộ 14), hàng chục nghìn gốc thông nằm dọc theo tuyến đường với chiều dài khoảng 2,5 km đã bị đầu độc làm chết đứng. Theo một số người dân sống lâu năm tại khu vực này, trước đây khi dân cư thưa thớt thì thông dày đặc, rừng thông lúc nào cũng xanh lá.
Lúc đó, bà con chỉ khai hoang dưới chân đồi để trồng cà phê nhưng sau này hồ tiêu được giá nên bà con cứ lấn dần lên khu vực rừng thông, rồi chặt phá, thông cứ thế chết dần. Cũng theo bà con nơi đây, từ khi con đường vào bản Đắk Lép hoàn thành (khoảng được gần 1 năm) thì những cây thông dọc theo trục đường bắt đầu bị đầu độc, chặt phá ồ ạt.
Như vậy, có thể nói, việc mở rộng đường và để mở rộng diện tích đất nông nghiệp tại đây đã đặt dấu chấm hết cho vạt rừng xanh ngút ngàn. Hàng chục nghìn cây thông với đường kính gốc trên 30cm, nhiều cây có đường kính đến 50cm đã vĩnh viễn bị xóa xổ. Theo Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Song, số thông bị hủy hoại này diện tích lên đến hàng chục ha.
Ông Lâm Văn Trung, một người dân xã Nâm N'Jang cho biết: “Nhìn thấy rừng thông bị phá, tôi thấy rất đau lòng. Vì cảnh quan môi trường và cuộc sống của con người, khu này chẳng khác gì một lá phổi cho xã Nâm N'Jang”.
Theo lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Song, nguyên nhân của việc mất rừng thông phòng hộ cảnh quan Quốc lộ 14 là do người dân diệt thông để lấy đất canh tác và làm nhà, nhất là vùng đất mặt đường thuận lợi cho việc kinh doanh buôn bán. Việc rừng thông bị bức tử bằng hóa chất rất khó phát hiện.
Trước đây, rừng thông liền vùng nay chỉ còn manh mún, rải rác và đan xen với nương rẫy, nhà ở của người dân, lại kéo dài trên 20 km nên việc bảo vệ, canh giữ rất khó khăn. Hơn nữa, những đối tượng phá rừng thường tiến hành khoan và đổ hóa chất để diệt thông vào ban đêm. Khi phát hiện ra, các đối tượng vứt các dụng cụ rồi bỏ trốn nên cán bộ kiểm lâm khó bắt quả tang và xử lý.
Về việc này, ông Nguyễn Văn Thịnh, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Đắk Song cho biết: "Đối với diện tích rừng thông bị đầu độc chết, kiểm lâm đã tham mưu cho UBND huyện thành lập Đoàn 12 (Đoàn công tác liên ngành thực hiện Chỉ thị 12 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách để bảo vệ rừng) đi kiểm tra, rà soát tất cả diện tích này.
Đối với diện tích bị mất ở mức xử lý hành chính thì Hạt Kiểm lâm sẽ lập hồ sơ để xử lý hành chính. Còn đối với diện tích trên mức xử lý hành chính, có dấu hiệu hình sự thì sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng khám nghiệm hiện trường, giám định thiệt hại và các thủ tục liên quan để khởi tố vụ án. Hiện nay, Đoàn 12 cũng đang tích cực vào cuộc với lực lượng công an truy tìm các đối tượng này để xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm răn đe những đối tượng khác cũng như bảo vệ rừng thông và cảnh quan môi trường".
Ông Lê Viết Sinh, Phó Chủ tịch UBND huyện Đắk Song cho biết: “Rừng phòng hộ cảnh quan Quốc lộ 14 bị người dân xâm canh, lấn chiếm và phá hại rất nhiều. Lực lượng chức năng và chính quyền các cấp đã vào cuộc rất mạnh mẽ, tuy nhiên những đối tượng phá rừng rất tinh vi, thường phá rừng thông một cách nhỏ lẻ, kéo dài và thực hiện vào ban đêm nên việc phát hiện, ngăn chặn hết sức là khó”.
UBND huyện Đắk Song đã chỉ đạo lực lượng công an lập chuyên án điều tra để hạn chế, ngăn chặn tình trạng phá rừng. Huyện sẽ tăng cường công tác tuyên truyền để người dân nâng cao ý thức và chung tay với chính quyền bảo vệ rừng; cố gắng ngăn chặn, phục hồi diện tích rừng đã bị tàn phá.
Tuy nhiên, các ngành chức năng của tỉnh và chính quyền địa phương cần thực hiện các biện pháp mạnh tay hơn nữa, nhanh chóng xử lý nghiêm các đối tượng tàn phá rừng thông. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân liên quan đến việc để mất rừng cũng cần được làm rõ và phải xử lý nghiêm minh trước khi những vạt rừng thẳng tắp, cao vút được ví đẹp như tranh vẽ bị bức tử tới cây cuối cùng. (Tin Tức 8/8) đầu trang(
“Họ phá rừng rất giỏi. Dân di cư phá rừng vào ban đêm, mỗi thân cây họ chỉ cưa 1/2, thường cưa ở chân và sườn rừng. Sau một đêm, gió thổi mạnh là cây tự đổ. Rừng cứ thế mất dần theo chân dân di cư tự do” – anh Lò Văn Thành – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Mường Nhé cho biết.
Theo anh Thành, rừng ở Mường Nhé không có gỗ quý, chủ yếu là gỗ tạp nên không có “lâm tặc” chuyên nghiệp. Các đối tượng phá rừng chủ yếu là người Mông di cư tự do, phá rừng để làm nương rẫy và lấy gỗ làm nhà. Thời điểm rừng bị tàn phá nhiều nhất là vào tháng 3-4, khi người dân di cư bắt đầu làm nương rẫy vụ mới.
Phó Chủ tịch UBND huyện Mường Nhé Thào A Dế cho biết, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2015, đã có hơn 143,1058ha rừng bị phá, trong đó thiệt hại nặng nhất là rừng ở xã Leng Su Sìn với diện tích rừng lên đến 66,7475ha. Các vụ vi phạm hầu hết đã xác lập được hồ sơ vi phạm theo đúng quy định nhưng chưa phát hiện được đối tượng. Một số vụ đã phát hiện đối tượng vi phạm nhưng qua điều tra không xác định được địa chỉ, tên tuổi thật của đối tượng do đối tượng khai báo bằng tên và địa chỉ giả mạo.
Lý giải nguyên nhân các vụ phá rừng, ông Thào A Dế cho rằng, đó là do tình trạng di cư tự do của đồng bào người Mông. “Đại đa số các vụ phá rừng khi bị phát hiện, đối tượng đều thuộc dân di cư tự do, không rõ tên tuổi, địa chỉ, gây khó khăn trong công tác quản lý, điều tra và bảo vệ rừng. Nhiều địa bàn, rừng sắp bị mất trắng vì dân di cư tự do. Họ phá rừng để làm nương, chỉ sau 2-3 vụ, đất bạc màu, họ lại kéo nhau đi nơi khác và lại phá rừng” – ông Thào A Dế nói thêm.
Năm 2012, khi chia tách Mường Nhé thành 2 huyện Mường Nhé và Nậm Pồ, dân số huyện Mường Nhé còn 32.977 khẩu. Tuy nhiên, đến nay trên địa bàn huyện thực tế có 38.202 khẩu. Số dân di cư tự do đến Mường Nhé chiếm hơn 50%, chủ yếu là người Mông từ các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Lào Cai… Diện tích đất sản xuất ngày càng thiếu dẫn tới đa số người dân di cư tự do tổ chức phá rừng, lấn chiếm đất rừng để canh tác, sản xuất nương rẫy.
Đặc biệt, tại điểm bản Cà Là Pá (xã Leng Su Sìn), khi mới thành lập bản từ những năm 2006-2008 chỉ có 30 hộ với hơn 100 khẩu. Đến nay, theo thống kê chưa đầy đủ, bản có hơn 350 hộ với hơn 2.300 khẩu. Chính áp lực về gia tăng số hộ, số nhân khẩu này đã kéo theo các hệ lụy về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, kéo theo đó là tình trạng chặt phá rừng trái pháp luật.
Anh Vàng Thông Va, 36 tuổi, nhà ở bản Cà Là Pá cho biết, gia đình anh di cư từ Điện Biên Đông đến Cà Là Pá từ năm 2008-2009. Thấy ở đây đất đai mầu mỡ, điều kiện khí hậu thuận lợi nên gia đình định cư luôn, không di cư nữa. Đến nay, anh đã có nhà cửa ổn định, con cái đi học, vợ đi làm nương, còn anh đi làm thợ mộc với ngày công từ 100-200 nghìn/ngày.
Trước tình trạng phá rừng ở Leng Su Sìn thời gian qua, anh Va cho biết: “Dân di cư tự do từ nơi khác tới bản khá đông. Họ di cư về đây vài tháng rồi lại đi. Có nhiều hộ vào sâu trong rừng, lập lán, ngày phát nương, tối đến dùng cưa xăng phá rừng. Họ phá rất nhanh, mỗi đêm nhiều ha rừng biến mất. Không phải rừng của họ nên họ phá tràn lan, ảnh hưởng rất lớn tới dân sở tại. Trung bình 1 hộ 5 khẩu thì cần phải có 5ha mới đủ. Vì nhu cầu của cuộc sống, họ phá rừng để lấy đất canh tác. Người dân đã định cư ổn định ở bản Cà Là Pá thì bảo vệ rừng rất tốt bởi họ ý thức được cuộc sống của mình gắn với rừng”.
“Rừng đã phá xong rồi. Là lực lượng chuyên trách giữ rừng, chúng tôi đau xót lắm. Quản lí diện tích rừng trên 72.000 ha nhưng lực lượng kiểm lâm quá mỏng, chỉ có tất cả 22 người. Theo quy định, mỗi kiểm lâm viên quản lí 1.000 ha rừng. Thế nhưng, vì không đủ người nên có khu vực, kiểm lâm viên của chúng tôi phải quản lí trên 10.000 ha, ví dụ như ở xã Mường Nhé. Địa bàn quá rộng khiến nhiều nơi quản lí không nổi” – anh Thành thừa nhận.
Rừng ở Mường Nhé bị phá trái pháp luật vẫn diễn ra chủ yếu ở khu vực rừng sản xuất, đặc biệt là các vị trí có rừng giáp ranh với diện tích sản xuất nương rẫy của nhân dân tại các xã. Mục đích phá rừng trái pháp luật để lấy đất sản xuất phục vụ nhu cầu sinh sống của hộ gia đình, trồng cây nông nghiệp. Đáng lưu ý là tại các điểm di cư tự do, người dân thường bị các đối tượng lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để truyền đạo trái pháp luật và dụ dỗ đồng bào gây rối trật tự, lôi kéo người vượt biên trái phép.
Phụ trách địa bàn nóng là xã Leng Su Sìn, kiểm lâm viên Lù Văn Thanh cho biết, các đối tượng phá rừng rất tinh vi. Ở một số điểm, người dân lấn chiếm đất bằng hình thức ken cây cho chết hoặc chặt từng đám nhỏ sau đó trồng xen cây lương thực trên đất lấn chiếm. Họ thường lợi dụng dịp nghỉ Tết để phá, chủ yếu phá vào ban đêm để tránh sự chú ý của lực lượng chức năng. Do đi thành nhóm 30-50 người nên khi kiểm lâm phát hiện, các đối tượng sẵn sàng chống trả.
Chính quyền địa phương có biết việc phá rừng? Câu trả lời là có. “Biết nhưng không biết làm thế nào” có lẽ là cụm từ chính xác nhất để nói về sự lo lắng và bối rối của chính quyền huyện Mường Nhé khi làn sóng di cư tự do của người Mông vẫn nhằm về nơi cực Tây Tổ quốc này.
Một khi việc di cư còn diễn ra thì rừng còn bị tàn phá. Khi cán bộ địa phương đến vận động họ quay về quê cũ thì họ đưa ra cái lý rằng “tên bắn đi không quay lại” để tiếp tục ở lại phá rừng và tranh giành đất đai với dân địa phương, tạo ra các mâu thuẫn. Không ít trường hợp kẻ xấu lợi dụng mâu thuẫn này để tạo thành “điểm nóng” về tranh chấp đất đai, gây mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Trao đổi với phóng viên Báo CAND, Đại tá Nguyễn Ngọc Trường - Trưởng Công an huyện Mường Nhé cho biết, tình trạng di cư tự do vào địa bàn huyện Mường Nhé vẫn diễn biến phức tạp. Năm 2013, có 40 hộ với 275 khẩu, năm 2014 có 11 hộ với 61 khẩu di cư tự do vào Mường Nhé. Trong 2 năm, chính quyền huyện Mường Nhé đã tiến hành di chuyển 17 hộ di cư tự do với 85 khẩu về nơi xuất cư, nhưng sau đó nhiều hộ gia đình đã quay trở lại.
Từ tháng 1/2015 đến nay, lực lượng chức năng đã phát hiện 45 hộ với 193 khẩu di cư vào địa bàn, UBND huyện và các lực lượng trong huyện đã thành lập nhiều tổ liên ngành vận động đưa dân về nơi xuất cư. Tuy nhiên, đa số các hộ dân đều cố tình bỏ trốn hoặc không chấp hành, không thu xếp đồ đạc, lên xe trở về nơi xuất cư. Nhiều hộ về nơi xuất cư, nhưng sau đó tiếp tục quay trở lại địa bàn huyện Mường Nhé…
Trên nhiều chặng đường của Mường Nhé, chúng tôi bắt gặp nhiều khoảnh rừng đã bị đốt làm nương rẫy, nhiều nơi dân vẫn đang trong quá trình vừa chặt cây, vừa làm nương. Nhiều khoảnh rừng lúa nương đã bắt đầu xanh tốt.
Rừng mất, trong khi đó một vài vụ nương đi qua, dân di cư lại bỏ đi tìm vùng đất mới, nhiều cánh rừng khác tiếp tục rơi vào cảnh tàn phá không thương tiếc. Rừng Mường Nhé vẫn đang bị tàn phá theo nhiều hình thức khác nhau; hoặc là phá trắng, hoặc là biến rừng giàu thành rừng nghèo. Trước thực trạng trên, nếu tỉnh Điện Biên không có biện pháp quyết liệt, ngăn chặn kịp thời thì hàng chục nghìn ha rừng, trong đó có cả rừng Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé sẽ còn tiếp tục bị xâm hại. (Công An Nhân Dân 8/8) đầu trang(
Lực lượng liên ngành các địa phương vừa tham gia truy quét, đẩy đuổi đối tượng khai thác khoáng sản trái phép và ngăn chặn tình trạng phá rừng làm vàng.
Trong các chiến dịch truy quét ở vùng lõi Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, vùng giáp ranh, các ngành kiểm lâm, tài nguyên - môi trường, công an, quân đội… đều tham gia. Ba năm trở lại đây, thực hiện tinh thần chỉ đạo của UBND tỉnh, lực lượng kiểm lâm ngoài chức năng bảo vệ rừng còn trực tiếp giữ tài nguyên khoáng sản. Để thăm dò trữ lượng vàng tại những nơi thâm sơn cùng cốc, đối tượng phải mở đường, kéo theo hệ lụy phá rừng.
Trước mùa mưa, các ngành chức năng của huyện Bắc Trà My, Nam Trà My, Phước Sơn, Đông Giang và Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sông Thanh đều xây dựng phương án và triển khai kiểm tra, truy quét tình trạng khai thác lâm, khoáng sản trái phép có tác động đến rừng ở các “điểm nóng” như khu vực giáp ranh giữa huyện Nam Trà My và huyện Tây Trà (Quảng Ngãi); địa bàn các xã Đăk Pre, Đăk Pring thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh.
Đầu tháng 8, bất ngờ mật phục ở sông Bua, vùng giáp ranh giữa xã Trà Giáp (Bắc Trà My), xã Trà Vân (Nam Trà My) với huyện Sơn Tây (Quảng Ngãi), lực lượng chức năng 2 huyện Nam Trà My và Tây Trà phát hiện và tạm giữ hàng chục “vàng tặc”. Theo ông Hồ Văn Thới - Trưởng Công an xã Trà Vân, khu vực suối Đa chảy ra sông Bua thuộc xã Trà Vân lâu nay tồn tại dai dẳng các nhóm đào đãi vàng trái phép.
Lợi dụng địa bàn giáp ranh, các đối tượng lén lút, di chuyển địa bàn hoạt động, gây khó cho lực lượng truy quét. Việc chặn đứng “vàng tặc” tại đây đã thể hiện quyết tâm giữ tài nguyên khoáng sản của chính quyền vùng giáp ranh.
Ông Lê Viết Mai – Đội trưởng Đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 1 (Chi cục Kiểm lâm tỉnh) cho biết, trong tuần mở chiến dịch truy quét ở các huyện Phước Sơn, Nam Giang, Hiệp Đức, Bắc Trà My, Đại Lộc, đơn vị đã tịch thu gần 26m3 gỗ các loại, đẩy đuổi hàng trăm đối tượng ra khỏi rừng. Đấu tranh với đối tượng khai thác lâm sản, kết hợp truy quét khoáng sản trái phép được xác định như nhiệm vụ “2 trong 1” của kiểm lâm.
Tình trạng đào đãi vàng, thiếc trái phép gây ô nhiễm nguồn nước, xáo trộn an ninh trật tự địa phương, tàn sát nhiều cánh rừng nguyên sinh ngày càng diễn biến phức tạp. Theo ông Phan Tuấn - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, lực lượng kiểm lâm ngoài tham gia giữ bình yên cho rừng còn phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng tuyên chiến với tình trạng “chảy máu” tài nguyên khoáng sản. Nhiều vụ tận thu vàng trái phép trong rừng được kiểm lâm phát hiện, đề xuất xử lý kịp thời. (Báo Quảng Nam 7/8) đầu trang(
Là huyện miền núi, Cẩm Khê có hơn 6.280ha rừng, trong đó chủ yếu là rừng trồng (chiếm hơn 5.100ha) thường xuyên chịu sự tác động của con người. Những năm trước chưa trồng keo hạt ngoại, chất lượng các cây trồng khác kém, bên dưới tế guột, chè vè, lau nhiều nên những ngày nắng nóng rất dễ xảy ra cháy rừng.
Trong những năm gần đây thời tiết diễn biến bất thường, phức tạp, nắng nóng khô hạn kéo dài nên nguy cơ xảy ra cháy rừng càng cao. Vì vậy, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) luôn được huyện chú trọng.
Để làm tốt công tác PCCCR huyện xác định ý thức tự bảo vệ rừng của người dân là quan trọng, công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về rừng, PCCCR được huyện chỉ đạo thường xuyên.
Với vai trò là lực lượng nòng cốt trong công tác bảo vệ và phát triển rừng, Hạt kiểm lâm Cẩm Khê luôn chú trọng nâng cao chất lượng tuyên truyền bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, đặc biệt phát huy tốt phương tiện truyền thanh cơ sở phản ánh về công tác quản lý bảo vệ rừng, PCCCR tới mọi tầng lớp nhân dân.
Để công tác tuyên truyền PCCCR có hiệu quả trong những năm qua lực lượng kiểm lâm đã phát hàng nghìn tờ gấp nói về bảo vệ rừng, PCCCR cho các chủ rừng, học sinh ở các xã trọng điểm về rừng. Hạt Kiểm lâm đã phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng nhắc nhở mọi người đi vào rừng không đem lửa gây cháy rừng vào những ngày nắng nóng kéo dài.
Trong 5 năm qua Hạt Kiểm lâm đã phối hợp với các xã: Hương Lung, Đồng Lương mở 3 lớp hướng dẫn về công tác quản lý bảo vệ, kỹ thuật trồng và PCCCR. Hạt cũng đã phối hợp với các trường phổ thông cơ sở tổ chức 42 buổi cho hơn 14 nghìn học sinh và giáo viên tham gia nội dung tuyên truyền về rừng với cuộc sống.
Phối hợp với Ban chỉ huy quân sự huyện và các xã tổ chức 53 buổi tuyên truyền sâu về công tác PCCCR cho lực lượng dân quân tự vệ. Thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về rừng đã tạo sự chuyển biến tích cực tới cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương nhất là nhân dân vùng sâu, vùng xa nơi có nhiều rừng và đất lâm nghiệp.
Đồng chí Nguyễn Văn Viễn - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Cẩm Khê cho biết: “Lực lượng kiểm lâm huyện còn mỏng, trong tổng số 11 người (kể cả hợp đồng) có 7 kiểm lâm địa bàn. Vì vậy, nếu không có sự vào cuộc của các cấp chính quyền thì công tác PCCCR thực sự rất khó khăn.
Cùng với đẩy mạnh công tác tuyên truyền, trong năm qua Hạt Kiểm lâm đã phối hợp với chính quyền địa phương củng cố 11 Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong công tác bảo vệ rừng và PCCCR cấp xã, các tổ đội PCCCR; sử dụng có hiệu quả 11 suất hợp đồng bảo vệ rừng mùa hanh khô theo Thông tư số 12/TT-BTC-BTBXH”. Hàng năm, lực lượng kiểm lâm thường xuyên tu sửa 10km đường băng trắng cản lửa đã phát huy được tác dụng ngăn lửa khi xảy ra cháy rừng; tiến hành tu sửa và xây mới 7 bảng áp phích và 3 bảng panô sắt phục vụ công tác tuyên truyền.
Trong 5 năm qua, huyện cũng đã tổ chức thành công 2 cuộc diễn tập PCCCR ở xã Hương Lung và Tiên Lương; trong đó 1 cuộc diễn tập cấp xã, 1 cuộc diễn tập cấp huyện do tỉnh chỉ đạo được đánh giá cao.
Do làm tốt công tác bảo vệ rừng và PCCCR trên địa bàn chỉ xảy ra 3 vụ cháy rừng và đều được phát hiện và chữa cháy kịp thời không để xảy ra thiệt hại lớn. (Báo Phú Thọ 7/8) đầu trang(
Thực hiện Kế hoạch liên tịch của Phòng Tư pháp và Ban Thường trực Ủy ban MTTQVN huyện Hiệp Đức về việc triển khai thực hiện Đề án “Tiếp tục xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng khu dân cư giai đoạn 2013-2016”, ngày 04/8/2015, Thường trực UBMTTQVN huyện và Phòng Tư pháp phối hợp với UBND xã Hiệp Thuận tổ chức ra mắt mô hình điểm về “Bảo vệ, phát triển rừng và tài nguyên rừng” tại địa phương.
Với mô hình này, Phòng Tư pháp và Ban Thường trực Ủy ban MTTQVN huyện sẽ chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan tổ chức tuyên truyền pháp luật về bảo vệ, phát triển rừng và tài nguyên rừng tại địa bàn xã Hiệp Thuận nhằm nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật và vận động nhân dân trong việc bảo vệ và phát triển rừng.
Đây là một trong những mô hình thiết thực nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án trên tại địa phương. (Sở Tư Pháp Quảng Nam 7/8) đầu trang(
Trong 7 tháng năm 2015, toàn tỉnh xảy ra 1.179 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR), tăng về số vụ (26 vụ) và diện tích (59,732 ha) so cùng kỳ năm 2014. Trong đó, phá rừng trái phép 320 vụ, chiếm 27,14%; riêng tháng 7 có 64 vụ, tăng 35 vụ, và vẫn diễn ra những vụ “nổi cộm”.
Mặc dù tỉnh tích cực chỉ đạo, các ngành chức năng cùng một số địa phương có nhiều chuyển biến trong công tác BV&PTR, nhưng phải nhìn nhận thẳng thắn rằng, vẫn còn nhiều nơi chưa quyết liệt và rốt ráo, nhất là những trọng điểm.
Trong tháng 7, số vụ vi phạm Luật BV&PTR tăng cả về diện tích lẫn số vụ, chủ yếu ở các địa phương Bảo Lâm, Bảo Lộc, Đức Trọng, Đạ Tẻh, Lạc Dương...
Với huyện Bảo Lâm, trong tháng 7, điển hình nhất là vụ 5 đối tượng ken cây, đổ hóa chất hủy hoại rừng thông 3 lá tại tiểu khu (TK) 444 xã Lộc Ngãi, do Công ty TNHH An Nguyễn thuê. Việc hủy hoại rừng thông tại đây đã diễn ra từ trước, Hạt Kiểm lâm huyện phát hiện và lập biên bản ngày 20/4, nhưng chưa phát hiện được đối tượng vi phạm.
Ngày 24/7, phối hợp điều tra, Công an huyện và Hạt Kiểm lâm Bảo Lâm đã bắt giữ được 5 đối tượng vi phạm, gồm Vũ Văn Thanh (nhân viên bảo vệ của Công ty An Nguyễn), Vũ Tuấn Chung, Nguyễn Hữu Long, Vũ Tuấn Long, Vũ Quốc Long. Diện tích rừng bị hủy hoại 3,440ha; lâm sản thiệt hại 84 cây thông với khối lượng 50,727m3.
Cũng tại TK này, trước đó (đêm 29/6), Hạt Kiểm lâm Bảo Lâm mật phục bắt quả tang đối tượng Nguyễn Văn Cao ken cây đổ hóa chất, cưa hạ cây rừng, hủy hoại rừng thông tự nhiên, khối lượng lâm sản thiệt hại còn tại hiện trường 22,895m3 (không tính khối lượng đã bị đốt tiêu hủy và lấy đi khỏi hiện trường). Cả 6 đối tượng nói trên, cơ quan chức năng đã bắt, khởi tố và đang hoàn tất hồ sơ truy tố xét xử trước pháp luật.
Còn trong 6 tháng, một số vụ khác như: vụ ken cây làm thiệt hại 9,5ha tại Công ty An Nguyễn; vụ phá 1,8ha rừng phòng hộ trên lâm phần Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Lộc Bắc. Hai vụ phá rừng tập thể của 34 hộ đồng bào dân tộc thiểu số xã Lộc Bắc ở TK 431, diện tích bị thiệt hại 26.100m2, lâm sản thiệt hại 163,465m3.
Kế đó là vụ chặt hạ gỗ dổi tại TK 375 xã Lộc Bảo do cộng đồng thôn 2 và 3 quản lý, diễn ra trong thời gian nhiều năm, số dổi phát hiện tại hiện trường 40 cây, khối lượng đo được 77m3 gỗ tròn...; 2 vụ chặt hạ trái phép 306 cây thông tại TK 466, 469 xã Lộc Tân do Ban QLRPH Đam Bri quản lý, tổng diện tích thiệt hại 9.800m2; gần 112m3. Công an tỉnh và huyện, ngành liên quan đã tìm được 3 thủ phạm, khởi tố bị can, bắt tạm giam đối tượng Trương Mạnh Hùng, Quách Hải Tô...
Ở địa bàn huyện Lạc Dương, tình trạng người dân di cư tự do để phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp đang diễn biến hết sức phức tạp. Đó là bà con dân tộc gốc Tây Nguyên ở xã Đạ Long, huyện Đam Rông vi phạm tại TK 26 và 27 với hơn 26,6ha (Báo Lâm Đồng đã phản ánh) và ở xã Mê Linh, huyện Lâm Hà vi phạm tại TK 111A xã Lát. Đặc biệt, vụ san ủi đất trái phép trên lâm phần của Công ty TNHH Thủy điện và du lịch sinh thái Thác Rồng thuê để thực hiện dự án đầu tư.
Kiểm tra ban đầu, diện tích bị san ủi trái phép 18.000m2, trong đó 9.397m2 đất có rừng. Ngày 8/5/2015, tình trạng ken cây hủy hoại rừng ở Lạc Dương vẫn chưa chấm dứt, điển hình là vụ Nguyễn Văn Dũng thực hiện tại TK 143 do BQLRPH Đa Nhim quản lý. Diện tích rừng bị tác động 6.270m2; 32 cây thông 3 lá bị cưa hạ với khối lượng 12,748m3. Hạt Kiểm lâm Lạc Dương đã khởi tố vụ án và chuyển hồ sơ qua cơ quan công an điều tra xử lý.
Địa bàn Lâm Hà nổi cộm nhất là tình hình phá rừng, khai thác rừng trái phép tại 3 xã Phúc Thọ, Phú Sơn và Phi Tô. Đó là TK 286A xã Phúc Thọ do BQLRPH Lán Tranh quản lý. Tổng diện tích rừng bị phá trong 2 vụ hơn 12.000m2, số gỗ thiệt hại còn lại tại hiện trường 25,382m3. Tại TK 262A xã Phi Tô có 7.218m2 rừng thông bị ken và khai thác trái phép. Đối tượng là một số hộ đồng bào dân tộc thôn buôn Chuối, xã Mê Linh thực hiện. Tại TK 219 xã Phú Sơn do BQLRPH Nam Ban quản lý, diện tích rừng bị phá 1,922ha.
Ngoài ra, một số vụ khai thác gỗ trái phép như: ở Di Linh, 139 cây dầu bị khai thác với 198,209m3 tại TK 703, 704 do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tam Hiệp quản lý; hơn 42,046m3 gỗ thông 3 lá và 2 lá tại TK 606 xã Đinh Tranh Thượng do BQLRPH Tân Thượng quản lý.
Còn ở Đạ Tẻh, tại TK 527 do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đạ Tẻh và Công ty TNHH Hoàng Minh Hồng quản lý, số lượng gỗ khai thác trái phép thống kê tại hiện trường 188,388m3 từ nhóm V-VIII. Các vụ khai thác rừng trái phép đã được cơ quan chức năng khởi tố án hình sự và đang điều tra mở rộng.
Như đã nêu, việc chỉ đạo công tác quản lý, bảo vệ rừng của tỉnh thời gian qua rất quyết liệt, kịp thời, với tinh thần là cả hệ thống chính trị các cấp phải nhận thức và hành động bằng trách nhiệm cao nhất. Riêng UBND tỉnh, từ tháng 2 đến tháng 7, tính sơ bộ đã có tới 24 văn bản chỉ đạo, trong đó hầu hết cụ thể từng vụ việc.
Theo đó, Chi cục Kiểm lâm ban hành 28 văn bản cụ thể hóa để các đơn vị liên quan triển khai thực hiện. Tuy nhiên, để xẩy ra nhiều vụ phá rừng điển hình ngoài những nguyên nhân khách quan như đối tượng vi phạm liều lĩnh, manh động và thực hiện những hành vi tinh vi..., vấn đề cần bàn là nguyên nhân chủ quan.
Đó là trách nhiệm quản lý nhà nước chưa được quan tâm đúng mức đang là thực tế tại một số UBND, nhất là cấp cơ sở. Tại các địa phương này, vai trò chỉ đạo của Đảng chưa phát huy cao; công tác phối hợp giữa địa phương với các ngành chức năng, giữa các đoàn thể còn thiếu đồng bộ; hình thức và nội dung tuyên truyền giáo dục pháp luật cho người dân chưa hiệu quả và thiếu thuyết phục...
Câu chuyện về năng lực quản lý còn hạn chế của đơn vị chủ rừng vẫn đang là thực trạng phải nghiêm túc khắc phục. Qua các vụ điển hình nêu trên cho thấy, hầu hết chủ rừng không phát hiện, ngăn chặn kịp thời. Việc quản lý lâm phần lỏng lẻo, thậm chí còn có cả người của chủ rừng vi phạm.
Một số vụ vi phạm Luật BV&PTR cũng bộc lộ tính thiếu đồng bộ, chưa kịp thời, thiếu chủ động trong phối hợp giữa kiểm lâm - chủ rừng - chính quyền địa phương cấp xã; ngành kiểm lâm và công an một số nơi vẫn hoạt động theo thời vụ, chưa đạt được sức mạnh tổng lực. Nhiều vụ phá rừng xảy ra còn cho thấy năng lực lập hồ sơ của cơ quan chức năng không hội đủ các yếu tố cần và đủ của pháp luật quy định, dẫn đến xử lý khó, giảm nhiều tính răn đe, tính giáo dục của pháp luật.
Quá trình xử lý một số vụ việc của các ngành chức năng vẫn còn chưa nghiêm minh, chưa đạt được tính thượng tôn pháp luật nên đối tượng vẫn coi thường pháp luật, vẫn tiếp tục tái phạm, và tái phạm nghiêm trọng hơn...
Trao đổi với Chi cục phó Kiểm lâm Võ Danh Tuyên, chúng tôi rất đồng tình quan điểm của ông. Đó là, nếu mọi cấp, mọi ngành, mọi đơn vị quán triệt thực sự sâu sắc Chỉ thị 30-CT/TU của Tỉnh ủy Lâm Đồng và theo đó thực hiện nghiêm Chỉ thị này thì chắc chắn tài nguyên rừng sẽ giảm bớt rất nhiều sự xâm hại.
Đã đến lúc không chỉ nhấn mạnh công tác quản lý BVR là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, mà cấp tỉnh, cấp huyện và các ngành liên quan cần tăng cường đưa nội dung này vào nội dung thi đua khen thưởng, kỷ luật kịp thời, phải đạt được sức tác động thực sự. (Báo Lâm Đồng 7/8) đầu trang(
Ngày 7/8, tại huyện Mèo Vạc, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Giang phối hợp với Ủy ban Nhân dân huyện Mèo Vạc tổ chức lễ công bố Quyết định số 372/QĐ-UBND ngày 05/3/2015 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang về việc phê duyệt Đề án Khu bảo tồn thiên nhiên Chí Sán, huyện Mèo Vạc.
Theo ông Nguyễn Đức Vinh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Giang, khu bảo tồn thiên nhiên Chí Sán có tổng diện tích gần 5.500ha thuộc địa bàn 6 xã thuộc huyện Mèo Vạc. Đây là đề án do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Giang làm chủ đầu tư. Đến nay, đề án đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thẩm định.
Khu bảo tồn thiên nhiên Chí Sán được thành lập nhằm bảo tồn các hệ sinh thái rừng, trong đó có trên 73% diện tích rừng kín thường xanh; bảo tồn và phát triển các loài động thực vật, đặc biệt là các loài động thực vật quý hiếm; tăng cường khả năng phòng hộ đầu nguồn và bảo vệ môi trường; góp phần vào công cuộc bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong khu vực miền núi biên giới phía Bắc nói riêng và Việt Nam nói chung.
Ngay sau khi được thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Chí Sán, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Giang sẽ phối hợp với các đơn vị tư vấn lập quy hoạch chi tiết và dự án đầu tư xây dựng phát triển Khu bảo tồn thiên nhiên. Đồng thời sở triển khai các chương trình của đề án như bảo vệ và phát triển rừng; nghiên cứu khoa học; đào tạo nâng cao năng lực; tuyên truyền giáo dục; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng; đầu tư trang thiết bị; hỗ trợ vùng đệm và chương trình phát triển du lịch sinh thái và giáo dục môi trường.
Ông Nguyễn Minh Tiến, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang cho biết, để Khu bảo tồn triển khai thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ được giao, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang sẽ chỉ đạo các sở, ban, ngành của tỉnh phối hợp có hiệu quả với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Chí Sán khẩn trương triển khai thực hiện quy hoạch; thực hiện hiệu quả chính sách đầu tư phát triển vùng đệm rừng đặc dụng gắn với lồng ghép các chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới tại địa phương.
Bên cạnh đó, yêu cầu cấp ủy, chính quyền huyện Mèo Vạc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, phòng cháy chữa cháy rừng và thực hiện các biện pháp ngăn chặn sự xâm hại rừng đặc dụng Khu bảo tồn thiên nhiên Chí Sán, nâng cao nhận thức bảo tồn thiên nhiên; bảo tồn và phát triển các loài động thực vật quý hiếm... (Vietnam + 8/8) đầu trang(
Không được hưởng lợi từ rừng được giao quản lý, bảo vệ nhưng vẫn phải thực hiện trách nhiệm của chủ rừng là nguyên nhân khiến người dân tại nhiều địa phương bỏ rơi và muốn trả lại rừng được giao.
Mạng lưới Đất rừng (Forland) và Trung tâm Phát triển nông thôn miền Trung (Crd) vừa hoàn tất nghiên cứu tham vấn cộng đồng và hộ gia đình về chính sách giao rừng trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 trên cơ sở khảo sát thực tế tại nhiều tỉnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, qua gần 10 năm triển khai, chính sách này bộc lộ rất nhiều bất cập, không phù hợp với thực tiễn.
Vấn đề nổi cộm hiện nay ở nhiều tỉnh là giao rừng không gắn liền với giao đất. Tại Thừa Thiên- Huế, đến nay tỉnh đã giao hơn  19.000ha rừng cho người dân quản lý bảo vệ, trong đó cộng đồng được giao hơn 14.000ha, nhóm hộ hơn 4.000ha và hộ gia đình hơn 1.000ha. Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát tại các huyện A Lưới và Nam Đông, rất nhiều hộ gia đình và nhóm hộ mặc dù đã được giao rừng từ  từ lâu nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp (sổ đỏ). Đây cũng là thực trạng chung tại nhiều tỉnh khác.
Việc chậm cấp sổ đỏ đất lâm nghiệp đã gây khó khăn cho hoạt động bảo vệ rừng của người dân được giao rừng. Người dân chưa đủ cơ sở pháp lý để chứng minh họ là chủ rừng nên không thể ngăn chặn, xử lý vi phạm các trường hợp khai thác lâm sản trái phép trong rừng được giao, thậm chí còn bị các đối tượng vi phạm đe dọa, hành hung. Tình trạng này gây ảnh hưởng tiêu cực đến tinh thần và niềm tin của người dân nhận rừng.
Tại nhiều địa phương, người dân còn bị mất rừng sau khi được giao. Đơn cử như 12 hộ dân tộc Tày ở thôn Than, xã Tân Pheo (Đà Bắc, Hòa Bình) được giao 225ha rừng tự nhiên và đã được cấp sổ đỏ từ hơn 15 năm nay. Vậy nhưng, vừa qua diện tích rừng này bị tỉnh thu hồi giao lại cho Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh mà không báo trước và không được đền bù.
Cũng tại huyện này, rừng sản xuất đã giao cho hộ gia đình bị quy hoạch sang rừng phòng hộ đã khiến rất nhiều hộ dân bỗng dưng mất rừng. Ngoài ra, việc người dân không được hỗ trợ nguồn lực cần thiết ban đầu khiến việc bảo vệ, phát triển rừng được giao của họ gặp rất nhiều khó khăn là thực trạng phổ biến tại các tỉnh.
Kết quả khảo sát tại nhiều tỉnh cho thấy, người dân được giao rừng chưa được hưởng lợi gì từ những khu rừng được giao. Do không được hưởng lợi trong một thời gian dài nhưng vẫn phải thực hiện trách nhiệm của chủ rừng nên người dân đã bày tỏ sự chán nản, nhiều hộ bỏ rơi rừng, thậm chí đòi trả lại rừng được giao.
Đơn cử như tại xã Hương Lộc (Nam Đông, Thừa Thiên- Huế), 58 hộ gia đình được giao rừng tự nhiên với diện tích được giao của mỗi hộ là từ 5-20ha. Tuy nhiên, sau 10 năm nhận rừng, hầu hết các hộ dân này không còn quan tâm đến diện tích rừng được giao, nhiều hộ từ năm 2012 đến nay không một lần ghé thăm rừng.
Một tình trạng phổ biến khác tại nhiều tỉnh là do không được cơ quan nào cấp phép tận thu gỗ nên người dân đành để gỗ mục ở trong rừng. Việc khai thác gỗ thương mại của chủ rừng rất khó thực hiện do những quy định chồng chéo. Khi xử lý lâm tặc khai thác gỗ trái phép, chủ rừng cũng không được hưởng lợi gì.
Ngoài ra, đang có sự phân biệt về chính sách hỗ trợ quản lý, bảo vệ rừng giữa chủ rừng là UBND xã và chủ rừng là người dân. Cụ thể, các diện tích rừng do UBND các xã quản lý thì được nhà nước hỗ trợ kinh phí quản lý bảo vệ là 100.000 đồng/ha/năm, còn rừng giao cho nhóm hộ thì không được nhà nước hỗ trợ đồng nào. Không sống được nhờ rừng nên nhiều nơi người dân lại trở thành kẻ phá rừng mà mình được giao bảo vệ.
Ông Đinh Quang Long- Phó Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Hòa Bình, bày tỏ: “Cần thiết phải có những chính sách hậu giao rừng, trả kinh phí cho cộng đồng, dựa vào cộng đồng, chứ để như tình trạng hiện nay thì ở Hòa Bình không ai còn muốn tham gia bảo vệ rừng nữa”.
Thực tế trên cho thấy Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 vẫn mang tính chất khung và thiếu cụ thể, tính minh bạch và khả thi chưa cao, và đang có sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa luật này với một số luật chuyên ngành. Trên cơ sở đó, Tổng cục Lâm nghiệp đã đề xuất xây dựng dự án Luật Lâm nghiệp để thay thế cho Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004. (Dân Việt 8/8) đầu trang(
Xen kẽ các chuyến tham quan Vườn quốc gia Cúc Phương và vịnh Hạ Long là những buổi thảo luận nhóm sôi nổi của 72 bạn trẻ các nước tham gia Diễn đàn môi trường sinh viên châu Á (ASEP) 2015, như những sứ giả môi trường thật sự.
Ở đó, họ đã đem những kiến thức, kinh nghiệm về bảo vệ môi trường của nước mình chia sẻ và thảo luận với bạn bè các nước, trong đó có những nhận xét về môi trường của VN rất đáng suy ngẫm.
Tại Vườn quốc gia Cúc Phương, sau khi tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hà, cán bộ Trung tâm Nghiên cứu tài nguyên và môi trường ĐH Quốc gia Hà Nội, trình bày về công tác bảo tồn các động vật linh trưởng, rùa, gấu, các hoạt động phát triển kinh tế trong vùng.
TS Hà cho biết công tác bảo tồn vẫn còn gặp nhiều thách thức, trong đó nổi cộm là vấn nạn săn bắt trộm, buôn lậu động vật hoang dã và khai thác gỗ trái phép.
Bạn Hasumi Nemani từ ĐH Waseda (Nhật Bản) đặt câu hỏi Việt Nam đã áp dụng những biện pháp gì để ngăn chặn nạn săn bắn và khai thác trái phép động thực vật quý hiếm.
TS Hà cho biết cách phổ biến nhất là tăng cường tuần tra và giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân nhưng các biện pháp này chưa hiệu quả vì nguồn lực Việt Nam vẫn còn thiếu và yếu.
Ngay lập tức, Yali Peng đến từ ĐH Thanh Hoa (Trung Quốc) đặt câu hỏi về vai trò của luật pháp trong việc ngăn chặn tình trạng săn bắt, khai thác động vật hoang dã trái phép.
TS Hà nói Việt Nam có rất nhiều quy định và luật lệ nhưng vấn đề lớn nhất là do Việt Nam là quốc gia đang phát triển nên chưa có đủ nguồn lực để thực thi luật pháp và tuyên truyền phổ biến nâng cao nhận thức của người dân.
Sau khi tham gia khu bảo tồn rùa và linh trưởng ở Vườn quốc gia Cúc Phương, đoàn gồm sinh viên sáu nước châu Á tiếp tục di chuyển đến vịnh Hạ Long để tìm hiểu công tác bảo tồn tính đa dạng sinh học, giá trị môi trường, những thách thức giữa bảo tồn và phát triển ở kỳ quan thiên nhiên này.
Trả lời câu hỏi của một bạn sinh viên rằng điều khó khăn nhất trong công việc bảo tồn là gì, GS Nguyễn Hoàng Trí - tổng thư ký Ủy ban con người và sinh quyển, cho biết đó là công tác di dân và tạo công ăn việc làm cho những người dân này.
GS Trí nói đây là một công việc vô cùng tốn kém. Ông dẫn ví dụ Vườn quốc gia Cúc Phương là một ví dụ rất thành công trong việc bảo tồn tính đa dạng sinh vật nhưng lại không thành công trong công tác di dân.
Tìm hiểu và bảo vệ
 môi trường: sao lại là người trẻ? Với câu hỏi này, Sreyleak, đang học ngành khoa học môi trường ĐH Hoàng gia Phnom Penh (Campuchia), cho biết: “Tôi nghĩ người trẻ phải có trách nhiệm gìn giữ, bảo vệ môi trường cho thế hệ tương lai, trong đó có người thân của họ.
Ngoài ra môi trường cũng là một phần cuộc sống của họ. Con người không thể sống nếu không có môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Tuổi thọ cũng sẽ không kéo dài nếu sống trong một môi trường ô nhiễm và sẽ rất khó phát triển kinh tế nếu không có môi trường và tài nguyên thiên nhiên”.
Trong khi đó, Kwon Ji-hae (đến từ Hàn Quốc) cho biết Hàn Quốc là quốc gia phát triển kinh tế mạnh nhưng nhiều công ty và người dân chỉ chú trọng phát triển kinh tế mà không quan tâm đến các vấn đề môi trường.
Do vậy thế hệ trẻ chúng tôi ý thức rằng chúng tôi phải có trách nhiệm thay đổi việc này, làm sao để hài hòa được phát triển kinh tế và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội.
Ở Hàn Quốc có sự khác biệt lớn về vấn đề môi trường ở nông thôn và thành thị. Vì thế Chính phủ Hàn Quốc đang có chính sách thúc đẩy du lịch đến các vùng quê.
Trong những chuyến đi trải nghiệm thực tế này, trẻ em đến các nông trại, tiếp xúc với động vật để nuôi dưỡng tình yêu thiên nhiên và ý thức bảo vệ môi trường.
Nhận xét về vấn đề môi trường của Việt Nam, Kwon Ji-hae nói rằng theo quan sát và kiến thức của bạn ấy, tính đa dạng sinh học của Việt Nam lớn hơn rất nhiều so với Hàn Quốc.
Tại Việt Nam, nhiều người sống gần thiên nhiên hơn và vì thế lại nảy sinh một khác biệt là nhiều người ở Việt Nam kiếm sống từ tài nguyên thiên nhiên hơn. Kwon Jihae cho rằng đây là một trong những thách thức lớn của Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề môi trường.
Yuta Matsumura, ngành thương mại ĐH Waseda (Nhật Bản), cũng cho biết hiện anh và các bạn vẫn thường tham gia những chương trình tình nguyện như trồng cây, nhặt rác tại đất nước mình. Ví dụ, khách du lịch vứt rác rất nhiều trên núi Phú Sĩ nên sinh viên và người trẻ tình nguyện được huy động để dọn dẹp.
Những hoạt động tình nguyện này giúp anh hiểu nhiều về môi trường hơn và có ý thức giữ gìn, phục hồi môi trường và giữ môi trường xanh sạch đẹp cho thế hệ tương lai. Về những gì đã thấy, Yuta Matsumura nói anh cảm thấy danh thắng vịnh Hạ Long rất đẹp, “nhưng sao có nhiều rác quá?”!
Ông Shinya Wako, phó chủ tịch Tập đoàn AEON, đơn vị thành lập Quỹ môi trường AEON - nhà tài trợ cho ASEP, cho biết mục đích chính của ASEP là hướng các nhà lãnh đạo tương lai về các vấn đề bảo tồn môi trường.
Ông Wako nói qua thảo luận, các sinh viên có thể nhận ra có những vấn đề môi trường mà một nước không thể giải quyết mà cần sự hợp tác của nhiều nước.
Sinh viên Việt Nam tiếp thu được gì? Bạn Nguyễn Phương Nhung, sinh viên ĐH Quốc gia Hà Nội, tiết lộ trước khi khai mạc ASEP 2015, mỗi sinh viên nhận được một bài tập lớn chủ đề “Làm thế nào để cân bằng giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội ở nước bạn?”.
Phương Nhung nói bài thuyết trình của nhóm sinh viên Việt Nam nhấn mạnh thực tế Việt Nam có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú song việc khai thác và sử dụng vẫn còn lãng phí...
Phương Nhung chia sẻ qua thảo luận với sinh viên các nước, cô học được những bài học kinh nghiệm khá hay và có thể áp dụng đối với Việt Nam.
Chẳng hạn như ở Nhật, chính phủ cấp giấy chứng nhận môi trường cho các công ty đạt chuẩn và người tiêu dùng chỉ tin tưởng những công ty nào có giấy chứng nhận này hay ở Trung Quốc, chính quyền áp dụng những hình phạt nghiêm khắc với các công ty, tổ chức sử dụng tài nguyên quá quy định.
Trong khi đó, bạn Nguyễn Khánh Toàn, sinh viên ngành khoa học quản lý ĐH Quốc gia Hà Nội, cho biết Toàn ấn tượng nhất với chia sẻ của một người bạn Nhật về việc phát triển kinh tế bền vững gắn với bảo vệ môi trường.
Người bạn Nhật của Toàn cho biết Chính phủ Nhật chú trọng sản xuất những công nghệ mới thân thiện với môi trường giúp tăng năng suất cho nông dân.
Ngoài ra, nông dân được trả công cao để không nghĩ đến việc sử dụng những hóa chất gây hại cho môi trường. Toàn hi vọng Việt Nam có thể áp dụng kinh nghiệm này. (Tuổi Trẻ 7/8) đầu trang(
Vì nghe theo đồn thổi về công dụng của sừng tê giác nên nhiều người đã biến sừng trâu thành sừng tê giác để bán cho nhiều đại gia ở TP. Hồ Chí Minh. Thậm chí có những người ở ngay miền núi hoang vu của Tây Nguyên cũng dính quả lừa vì muốn được chữa hết các bệnh hiểm bằng sừng tê giác.
Ông Trần Văn Vinh, ở xã Ea Nuôl (huyện Buôn Đôn, Đắk Lắk) đến giờ vẫn chưa quên bị dính cú lừa đau đớn cách đây không lâu khi mua phải sừng tê giác rởm, dẫu ông Vinh đã từng giáp mặt với tê giác thật cách đây rất lâu. Ông Vinh kể: “Thời tôi còn thanh niên, ở Vườn quốc gia Yook Đôn (Đắk Lắk) còn có tê giác, khi ấy núi rừng hoang vu nên có lần tôi cũng đã được nhìn thấy tê giác rồi, nhìn ngắm rất lâu sừng của nó. Nhưng thời ấy nạn săn động vật hoang dã không như bây giờ nên chúng tôi chỉ ngắm nhìn vậy thôi”.
Gần đây sức khỏe của ông Vinh xuống dốc, nhiều căn bệnh trong người cứ tự nhiên mà phát ra. Nghe nhiều người đồn thổi sừng tê giác có công dụng khá đặc biệt, có thể chữa được bá bệnh nên khi nghe hai đối tượng là Trần Đức Bình (43 tuổi) và Đỗ Xuân Bảy (41 tuổi) nói mình có sừng tê giác chính hiệu.
Không những thế bọn Bình còn quảng cáo, đã từng dùng thử và ngay cả bệnh ung thư cũng khỏi. Nếu ông Vinh muốn mua, Bình và Bảy sẽ bán cho một ít, không phải chiếc sừng nguyên vẹn nhưng công dụng vẫn rất tốt. Nhất là đối với các bệnh về xương khớp, suy hô hấp nặng mà ông Vinh đang mắc phải.
Về nhà tìm hiểu các thông tin về sừng tê giác trên mạng và đối chiếu với hình ảnh sừng tê giác mình đã thấy, với sừng tê giác của Bình và Bảy tiếp thị, ông Vinh đồng ý mua với giá 165 triệu đồng để chữa “bá bệnh”. Tuy nhiên, mài ra uống một thời gian bệnh vẫn hoàn bệnh, không hề có chút thuyên giảm nào cả.
Ông Vinh tiếp tục uống thêm một thời gian, vẫn không khỏi nên mang chiếc sừng tê giác đi nhờ người kiểm nghiệm thì hóa ra đó chỉ là chiếc sừng trâu. Ông Vinh đã tố hai kẻ lừa đảo lên Công an huyện Buôn Đôn. Công an Buôn Đôn điều tra, phát hiện thêm Bình và Bảy đã dùng đủ chiêu trò tiếp thị để bán một chiếc sừng tê giác rởm cho ông Nguyễn Mừng, ở Ea Wer, huyện Buôn Đôn, với giá gần 130 triệu đồng.
Đầu tháng 7/2015, ông Lê Văn Minh, ở đường Hoàng Văn Thụ (TP. Hồ Chí Minh) sau khi nghe quảng cáo về công dụng đặc biệt của sừng tê giác được săn bắt và đưa qua đường biên giới ở Tây Nguyên cũng lặn lội lên mua. Đối tượng bán sừng tê giác cho ông Minh quảng cáo rằng loại sừng này không thua gì thần dược cả, uống vào là có công hiệu ngay, bệnh tật nào rồi cũng bị đẩy lùi hết, không cần dùng đến các loại thuốc tây y.
Cuộc giao dịch diễn ra chóng vánh trong đêm, ông Minh bỏ 50 triệu đồng mua, mua về uống đã gần 10 ngày, nhưng không có công hiệu, mang đi nhờ kiểm tra thì là sừng trâu, liên lạc với đối tượng đã bán sừng... trâu cho mình thì số điện thoại không liên lạc được, ông Minh cũng không hề biết nhà các đối tượng đó ở đâu.
Bà Nguyễn Thị Linh, ở quận Tân Phú (TP. Hồ Chí Minh) cũng dính quả lừa đớn đau. Bà cho biết, cách đây hơn 2 tháng được một đối tượng là Đoàn Duy Định (quê ngoài Bắc) cho thử một ít sừng tê giác thì thấy có công hiệu thật nên sau đó mua thì Định lại mang sừng giả ra bán cho khách nên sử dụng mãi cũng không có kết quả. Không chỉ buôn sừng tê giác mà Định còn trộn cả đồ giả vào bán cho khách.
Theo TS Trần Văn Hậu, người chuyên nghiên cứu về các bài thuốc từ sừng tê giác thì, nếu nói sừng tê giác có khả năng chữa bách bệnh là hoàn toàn chưa có cơ sở khoa học, thực tiễn cũng không có công dụng như thế. Hơn nữa đó lại là động vật quý hiếm đang cần được bảo tồn, cấm săn bắt. Nói chữa được cả bệnh ung thư và các bệnh hiểm nghèo khác chỉ là hoang tưởng mà thôi.
Cũng theo ông Hậu, người ta từng thử nghiệm tác dụng trị liệu của sừng tê giác đã được thực hiện vào năm 1983 do các nhà nghiên cứu tại Hãng dược phẩm hàng đầu Hoffmann-LaRoche, và sau đó 25 năm là một nghiên cứu của Hội Động vật học London. Cả hai nghiên cứu đi đến kết luận tương tự: Sừng tê giác không chứa các hoạt chất đặc biệt nào có khả năng trị bệnh. Đặc biệt là các bệnh hiểm nghèo. Chính vì vậy nên xưa nay nhiều người tin vào sừng tê giác cũng chỉ là những tin đồn và truyền miệng trong dân gian mà thôi.
Nhiều tài liệu y học khác cũng chưa chứng minh được sừng tê giác có khả năng chữa bách bệnh. Tuy chưa có chứng minh rõ ràng bằng y học, nhưng nhiều người bán thuốc Bắc vẫn đinh ninh rằng, sừng tê giác được sử dụng trong gần 70 bài thuốc cổ dùng để trị các chứng viêm nhiệt; các trường hợp sốt cao, vật vã, mê sảng, co giật, phát cuồng, cầm máu và cường dương.
Với các thuốc nổi tiếng, công hiệu cao như: An cung ngưu hoàng hoàn, tử tuyết đan, tê giác hoàn, tê giác địa hoàng giải độc... mà các thầy thuốc đông y không ai không biết đến. Khi chưa có thuốc kháng sinh hiện đại, một số trường hợp nhiễm trùng yếm khí như cam tẩu mã phải dùng đến sừng tê giác mới có công hiệu.
Ðặc biệt, được dùng trong các bệnh dịch như: Viêm não, nhiễm trùng nhiễm độc sốt cao, liệt dương và nhiều chứng viêm nhiễm khác. Cũng bởi vì vậy, nên khi nghe vị thuốc nào có thành phần sừng tê giác sẽ được rất nhiều người lùng mua.
Theo khai nhận của ông trùm sừng tê giác Đoàn Duy Định, sừng tê giác chủ yếu được buôn từ bên kia biên giới về bán. Thỉnh thoảng hàng khan hiếm có nhiều khách hỏi mua thì mới độn một ít sừng trâu vào sau khi làm một vài thủ thuật để cho giống như sừng tê giác, chứ không mấy khi bán hàng giả cả. Còn đối với Đỗ Xuân Bảy, “kỹ nghệ” để biến sừng trâu thành sừng tê giác với gã khá thuần thục.
Gã cho biết, thường thì từng sợi, từng thớ của sừng tê giác to và thô hơn so với sừng trâu, bò. Sừng trâu, bò có nguồn gốc từ sọ nên khi để khô thường có vết nứt đồng tâm giống như vòng tròn tăng trưởng phía trong, còn sừng tê giác không có dấu hiệu này. Để biến sừng trâu thành sừng tê giác thông thường phải bôi dầu và sáp lên sừng trâu; để tạo lông cứng ở gốc sừng trâu, bò cho giống với đặc tính của sừng tê giác, hoặc lấy lông cứng của loài khác rồi dính vào đó bằng keo công nghiệp.
Cấu tạo sừng trâu, bò ở giữa có lõi trắng, phải nhuộm sừng trâu, sừng bò cho nó đen tuyền hết cả. Có những trường hợp để chắc ăn Bảy cùng đồng bọn còn sử dụng phần gốc sừng là của tê giác thật, có da và lông phủ hẳn hoi, sau đó khéo léo mài giũa, ghép phần ngọn là sừng trâu vào.
Tuy nhiên, theo Bảy thì nhiều cao thủ khác còn có nhiều cách biến hóa tinh vi hơn. Có điều bi hài là nhiều người lùng mua sừng tê giác để chữa bách bệnh và dính phải sừng trâu nhưng những đối tượng sừng sỏ trong việc buôn bán sừng tê giác cả thật lẫn giả như Đoàn Duy Định lại không mấy tin vào điều này. Định từng thừa nhận, chỉ đi buôn bán, vận chuyển chứ chưa sử dụng sừng tê giác dù trong người vẫn có một số vấn đề không tốt về sức khỏe.
Nhiều người chuyên nghiên cứu về sừng tê giác còn cho biết, các đối tượng biến sừng trâu thành sừng tê giác vẫn lén lút giao bán cho nhiều người hiện nay, nhất là TP. Hồ Chí Minh còn có chiêu thức mua một số hóa chất và dung dịch giống như sữa để tẩm vào sừng trâu. Khi mài ra thì có màu sữa giống như sừng tê giác thật để đánh lừa người mua. (Dân Sinh 7/8) đầu trang(
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa đã tiến hành khởi tố vụ án “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ” xảy ra tại xã Phước Đồng, TP. Nha Trang hồi cuối năm 2014.
Sáng 7.8, đại tá Lê Như Toản-người phát ngôn Công an tỉnh Khánh Hòa xác nhận thông tin trên. “Vụ này đang tiến hành, hiện chưa khởi tố bị can”, đại tái Toản cho biết thêm.
Trước đó, vào trung tuần tháng 11 năm 2014, phóng viên Báo Lao Động từ Hà Nội kết hợp với Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) đã trực tiếp vào thành phố Nha Trang, điều tra thông tin về một đường dây buôn bán, chế tác rùa biển khổng lồ.
Chiều 19.11.2014, các trinh sát của Phòng 3, Cục Cảnh sát môi trường phối hợp với công an địa phương bất ngờ tấn công vào 2 tổng kho của một cơ sở chế tác đồ mỹ nghệ ở xã Phước Đồng, TP Nha Trang.
Tại đây, lực lượng công an phát hiện và thu giữ hàng nghìn tiêu bản cá thể rùa biển- động vật quý hiếm được bảo vệ nghiêm ngặt. Theo đánh giá ban đầu, đây là đường dây chuyên săn bắt, chế tác, tiêu thụ rùa biển quý hiếm có quy mô lớn nhất từ trước đến nay.
Một tháng sau, cũng từ tin cấp báo của PV Báo Lao Động, ngày 19.12, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về môi trường (PC49), Công an tỉnh Khánh Hòa tiến hành kiểm tra đột xuất một trại chăn nuôi lợn ở xã Phước Đồng và phát hiện 4 kho chứa xác rùa biển khác.
Các kho này được xác định là do Hoàng Tuấn Hải (SN 1972) ở xã Phước Đồng, TP Nha Trang cùng đồng bọn tàng trữ, cất giấu trái phép. Theo nhận định ban đầu, rùa biển ở đây gồm: vích, tráng bông, đồi mồi, thuộc loài sinh vật biển cấm săn bắt, buôn bán, vận chuyển và sử dụng.
Ngoài ra, tại các kho của Hải, cơ quan công an còn thu giữ nhiều cá thể trai tai tượng (thường gọi là sò tượng) bị khai thác trái phép. Đây cũng là loài thủy sinh quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng ở mức cực kỳ nguy cấp, đã được đưa vào Sách đỏ VN và Danh mục loài cực kỳ nguy cấp của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế. (Lao Động 7/8) đầu trang(
TAND Tối cao buộc UBND tỉnh Tiền Giang hủy quyết định trái pháp luật và trả lại lô gỗ cho một thợ mộc nhưng sau hai năm phơi nắng, mưa, gỗ chỉ còn là đống củi. Vì thế, người thợ mộc từ chối nhận lại và cho biết sẽ kiện tiếp.
Sáng 9-8, ông Trần Hữu Phúc (ngụ xã Phước Thạnh, TP Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang) cho biết trước đó, ông Cao Văn Thật, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, đã giao cho ông quyết định trả lại lô gỗ này và toàn bộ chứng từ nguồn gốc.
Tuy nhiên, ông Phúc chỉ nhận quyết định trả tang vật, từ chối nhận lại lô gỗ với lý do: “Hai năm trước, kiểm lâm giữ gỗ của tôi mà bây giờ trả lại là đống… củi nên tôi không đồng ý nhận”.
Ông Phúc cho biết chi cục kiểm lâm bắt lô gỗ, gây thiệt hại cho ông nên sẽ khởi kiện tiếp đề nghị bồi thường. Cụ thể, ông đề nghị tòa buộc chi cục kiểm lâm trả lại lô gỗ đúng với hiện trạng ban đầu chứ không phải đống củi. Ngoài ra, tiền mua gỗ này ông vay của người khác có lãi suất, đã trả gần 2 năm nay gần 70 triệu đồng.
Như Báo Người Lao Động đã thông tin, hai năm trước, khi ông Phúc phát hiện một số cán bộ Chi cục Kiểm lâm Tiền Giang có hành vi "giải cứu" hơn 123 mét khối gỗ lậu nên âm thầm thu thập chứng cứ để tố cáo.
Khi ông Phúc mua 6,8 mét khối gỗ Gõ mật có nguồn gốc hợp pháp về sử dụng liền bị chi cục trên bắt giữ và tham mưu UBND tỉnh ra quyết định tịch thu, xử phạt 150 triệu đồng.
Ông Phúc kiện ra tòa thì được TAND Tối cao xử buộc UBND tỉnh Tiền hủy quyết định xử phạt trái pháp luật và trả lại số gỗ trên. Trong khi đó, việc ông Phúc tố cáo chi cục kiểm lâm giải cứu 123 mét gỗ lậu và thanh tra Sở Nông nghiệp - Phát triển Nông thôn kết luận là đúng sự thật nhưng không xử lý kỷ luật bất cứ cán bộ kiểm lâm nào. (Người Lao Động 9/8) đầu trang(
Thời gian gần đây, nhiều núi, đồi ở khu vực danh thắng quốc gia hồ Phú Ninh (Quảng Nam) liên tục bị vàng tặc, lâm tặc cày xới, nước thải đào đãi vàng thải trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm nguồn nước.
Đầu tháng 8, có mặt tại khu vực núi lăng ông Nghè thuộc địa phận xã Tam Thạnh, huyện Núi Thành. Đây là khu vực nằm ngoài khơi lòng hồ Phú Ninh. Khi chúng tôi cho ghe máy tấp vào chân núi thì chứng kiến môi trường ở đây bị tàn phá tan hoang không khác gì bãi chiến trường.
Chất thải bùn, đất đỏ do vàng tặc khai thác xả ra nhuộm đỏ cả khu vực. Thậm chí có cả bản doanh của vàng tặc để ăn ở khai thác vàng trái phép. Đất đai bị cày xới, nhưng hầm hố sâu hắm, máy móc bị các lực lượng chức năng phá hủy còn nằm ngổn ngang, cây cối ngã đổ la liệt…
BQL rừng phòng hộ Phú Ninh cho biết, liên tục mở các đợt truy quét nhưng vàng tặc vẫn lén lút hoạt động. Như đợt tổ chức truy quét tại 2 bãi vàng Núi Chúa, thuộc khoảnh 4, tiểu khu 614 và bãi vàng Cầu Dây, thuộc khoảnh 3, tiểu khu 614.
Khi thấy lực lượng chức năng, khoảng 20 đối tượng vàng tặc đã bỏ chạy. Tổ công tác đã lập biên bản kiểm tra, đánh sập các hầm vàng phá hủy 2 máy nổ, 2 máy phát điện, 4 máy nghiền đá, 1 máy bơm hơi, 2 dàn đãi vàng cơ giới, hàng trăm mét dây ống để bơm hơi; Đốt 3 lán trại và các vật dụng phục vụ đào đãi vàng khác.
Mới nhất, ngày 17/7/2015, tổ công tác của BQL rừng phòng hộ phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức đợt kiểm tra, truy quét tại khu vực lăng ông Nghè.
Người dẫn đường cho chúng tôi khẳng định: Cảnh tan hoang tại khu vực lăng ông Nghè là do vàng tặc tàn phá trong thời gian qua. Nóng nhất trong vòng 2 tháng lại đây. Họ khai thác vàng trái phép theo kiểu “đánh du kích”, nghĩa là lúc có lực lượng chức năng thì họ chạy vào ẩn nấp trong rừng sâu và tẩu tán tài sản bằng ghe, thuyền. Khi lực lượng rút lui, họ lại xuất hiện tàn phá môi trường.
Đáng nói, họ làm công khai, đưa máy móc lên trên núi để tổ chức xay quặng, họ còn đắp cả một con đập để lấy nước lọc xái quặng thu vàng, nước thải trực tiếp ra môi trường. Nếu không ngăn chặn kịp thời thì có nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ở hồ Phú Ninh.
Điều đáng nói, đây không phải là lần đầu vàng tặc tổ chức khai thác vàng trái phép trong khu vực lăng ông Nghè. Càng đáng lo khi nguồn nước hồ Phú Ninh không chỉ cung cấp nước tưới cho trên 23.000 ha diện tích đất ruộng và hoa màu và còn phục vụ nước sinh hoạt cho trên hàng chục nghìn người dân vùng hạ du.
Trước thực trạng khai thác trái phép ở Quảng Nam, Chủ tịch UBND tỉnh – ông Đinh Văn Thu cũng đã có Công văn  yêu cầu Chủ tịch UBND các huyện Núi Thành, Phú Ninh chỉ đạo các ngành chức năng và địa phương liên quan khẩn trương tổ chức lực lượng kiểm tra, truy quét, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân khai thác lâm, khoáng sản trái phép trên địa bàn theo đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, có biện pháp quản lý chặt chẽ, không để tái diễn.
Chúng tôi tiếp tục tới các khu rừng đối diện với lăng ông Nghè và tận mắt chứng kiến những cây rừng có đường kính từ từ 50cm trở lên vừa bị lâm tặc đốn hạ. Sau khi đốn hạ xong, lâm tặc cưa lấy thân cây, dùng ghe vận chuyển đi tiêu thụ, những phần thân cây và nhánh cành còn lại nằm la liệt.
Có cả khu vực cây bị đốn hạ không thương tiếc, những gốc cây còn tươm nhựa, lá cây còn xanh, gãy đổ ngổn ngang. Còn tại tuyến đường đi vào khu trung tâm dịch vụ du lịch Hùng Cường thì các cây thông Caribe hàng chục năm tuổi xem như lâm tặc đã “căn bản” đã phá xong.
Trả lời câu hỏi của phóng viên về tình trạng phá rừng trầm trọng trong khu vực danh thắng quốc gia hồ Phú Ninh, ông Nguyễn Xuân Phước, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Phú Ninh (BQL) phân trần: “Do địa hình quản lý quá rộng lớn lên đến hơn 11.000ha, nhưng lực lượng quá mỏng, chỉ có 5-6 cán bộ nên cho dù liên tục tổ chức tuần tra, truy quét vẫn không dẹp nổi. Đó là chưa nói còn thiếu trang thiết bị, mỗi lần tuần tra cần đến phương tiện đi lại trên hồ cũng vất vả lắm. Đặc biệt, nếu BQL phát hiện lâm, vàng tặc cũng chỉ được phép lập biên bản và chuyển qua Kiểm lâm hay công an xử lý, chứ BQL không có chức năng xử lý họ”.
Ông Phước cũng xác nhận, trong quý I/2015, BQL đã phát hiện 11 vụ phá rừng, đã lập hồ sơ chuyển cơ quan chức năng xử lý 2 vụ, trong đó diện tích rừng bị xâm hại 6,418ha, phương tiên tạm giữ 2 xe mô tô.
Còn một lãnh đạo của Công ty Du lịch Hùng Cường lo ngại: “Trong khi, đơn vị đang tìm cách bảo tồn danh thắng hồ Phú Ninh, bảo tồn động vật hoang dã, cây cối, thì lâm tặc lại tàn phá rừng. Rõ ràng câu chuyện khai thác vàng trái phép và chặt phá rừng ở rừng phòng hộ Phú Ninh rất nóng, cần sự vào cuộc quyết liệt hơn của cơ quan chức năng để ngăn chặn”.
Qua tìm hiểu phóng viên được biết, trước đây, ngày 11/9/2001 UBND tỉnh Quảng Nam có Quyết định thành lập Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ Phú Ninh. Tuy nhiên, sau đó Hạt Kiểm lâm này bị giải thể, chức năng xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản được giao về 2 Hạt Kiểm lâm huyện Núi Thành và huyện Phú Ninh thực hiện.
Cho nên dù có bắt lâm tặc hay vàng tặc, BQL không có quyền xử lý vi phạm mà phải báo hoặc chuyển Hạt Kiểm lâm và Công an các huyện liên quan để giải quyết. Vấn đề này lâm tặc, vàng tặc biết được nên càng coi thường BQL rừng.
“Trước những khó khăn và ý thức trách nhiệm bảo vệ rừng phòng hộ, BQL rừng đã kiến nghị với các ngành chức năng cho thành lập Hạt kiểm lâm rừng phòng hộ Phú Ninh, nhưng hai năm nay chưa được chấp nhận” - ông Phước nói.
Việc tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng, cần xem xét thành lập lại Hạt kiểm lâm rừng phòng hộ Phú Ninh cùng với đó là việc kiện toàn, nâng cao năng lực cho các lực lượng bảo vệ rừng và xử lý kịp thời, dứt điểm các vụ vi phạm pháp luật về đất đai, những trường hợp lấn chiếm đất lâm nghiệp, khai thác rừng trái phép tại lưu vực rừng phòng hộ Phú Ninh để bảo vệ được danh lam thắng cảnh quốc gia này. (Đại Đoàn Kết 9/8) đầu trang(
Nhận được tin báo, êkip giải cứu lập tức đi xe hơi ra Đà Nẵng làm thủ tục tiếp nhận voọc con. Bởi nếu không biết cách chăm sóc, voọc con sẽ chết, trong khi là loài quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Sáng 9-8, tiến sĩ Phan Việt Lâm, giám đốc Công ty TNHH MTV Thảo Cầm Viên Sài Gòn, cho biết đại diện công ty mới tiếp nhận giải cứu một con voọc chà vá chân nâu quý hiếm (khoảng 4 tháng tuổi) từ Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng.
Ông Mai Khắc Trung Trực, phó giám đốc Xí nghiệp động vật (Công ty TNHH MTV Thảo Cầm Viên Sài Gòn), cho biết nhận tin báo ngày 5-8, ông Trực cùng một bác sĩ thú y sử dụng xe cơ quan nhanh chóng ra TP Đà Nẵng làm thủ tục tiếp nhận voọc con. Bởi nếu không biết cách chăm sóc, voọc con sẽ chết, trong khi là loài quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Lúc 19g ngày 5-8, nhóm ông Trực đi trong đêm, đến 22g30 ngày hôm sau (6-8) xe đến nơi. Nhóm đã đến tận nhà một cán bộ Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng làm thủ tục nhận voọc con trong đêm. Sau đó, mọi người thuê khách sạn ngủ lại chăm sóc bởi voọc con sức khỏe rất yếu.
Mọi người mua găng tay cắt làm áo ấm, đo nhiệt độ khách sạn, không mở máy lạnh. Cứ 4-5 tiếng phải cho bú một lần bằng sữa bình (khoảng 40-50cc). Trong quá trình ngủ, do hiểu tính voọc con bản năng luôn bám lấy voọc mẹ ngay trong lúc ngủ nên ông Trực phải đóng vai “mẹ voọc”.
Đến hôm sau, mọi người lên xe trở về Sài Gòn. Trên xe không mở máy lạnh để voọc con giữ nhiệt.
Theo ông Trực, năm 2010 Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng cũng bàn giao một voọc con yếu ớt cho Thảo cầm viên Sài Gòn nuôi dưỡng. Đến nay voọc con đã trưởng thành và “kết duyên” với một voọc cái của Vườn quốc gia Cúc Phương. (Tuổi Trẻ 9/8) đầu trang(
Chiều 8-8, Hạt Kiểm lâm huyện Nam Đông (Thừa Thiên - Huế) cho biết, vừa thu giữ ba phương tiện xe mô-tô “độ chế” của lâm tặc khi đang vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn xã Thượng Quảng (Nam Đông).
Qua kiểm tra ba xe mô-tô vận chuyển 12 phách gỗ, trong đó tám phách gỗ kiền (thuộc nhóm 2) và bốn phách gỗ đào (nhóm 5), tất cả đều không có nguồn gốc hợp pháp, không có chủ.
Các đối tượng vận chuyển gỗ trái phép sau khi bỏ lại phương tiện, đã trốn khỏi hiện trường. Hiện, Hạt Kiểm lâm huyện đã đưa toàn bộ số phương tiện và lâm sản nói trên về trụ sở cơ quan để xử lý. (Nhân Dân 9/8) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Thảo quả là loại cây thích nghi ở vùng núi cao, sinh trưởng và phát triển tốt dưới tán rừng. Xã Nậm Ty huyện Hoàng Su Phì là xã có khí hậu mát mẻ rât phù hợp cho việc phát triển cây thảo quả.
Những năm trước đời sống của bà con nhân dân trong xã còn gặp nhiều khó khăn  nên việc tìm tòi các mô hình phát triển kinh tế đã được bà con nơi đây đặc biệt trú trọng. Việc trồng và phát triển cây thảo quả dưới tán rừng là việc làm để phát triển kinh tế hiệu quả mang lại đời sống cao cho bà con nơi đây.
Với mô hình trồng thảo quả dưới tán rừng thì ở xã Nậm Ty, Hoàng Su Phì gia đình ông Sùng Chủ Sìn là hộ đầu tiên  trồng cây thảo quả đem lại hiệu quả và cho thu nhập cao.
Những năm trước gia đình ông Sùng Chủ Sìn chủ yếu sống dựa vào nghề nông, trồng cây lúa, cây ngô, vất vả làm lụng nhưng nguồn thu nhập chẳng được là bao, cuộc sống gia đình thì luôn vướng vào cảnh khó khăn thiếu thốn. Để có được thành công từ mô hình trồng thảo quả dưới tán rừng như ngày hôm nay, Ông Sùng Chủ Sìn đã dám nghĩ, dám làm đi đầu trong xã về việc trồng thảo quả để vươn lên thoát nghèo và làm giàu. Đồng thời góp phần quan trọng trong việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên địa bàn xã và xây dựng quê hương ngày càng phát triển, đăc biệt là trong giai đoạn xây dựng nông thôn mới hiện nay.
Từ thành công của mô hình trồng thảo quả này của gia đình ông Sìn mà nhiều hộ gia đình trong thôn, trong xã đã đến học hỏi về kinh nghiệm, kỹ thuật trồng cây thảo quả, cách chế biến sấy quả. Cũng từ đây mà Đảng ủy, chính quyền xã Nậm Ty huyện Hoàng Su Phì đã có những định hướng trong thời gian tới để bà con nhân dân trong xã tiếp tục cùng nhau trồng và phát triển cây thảo quả để giảm nghèo và phát triển kinh tế gia đình bền vững.
Tiềm năng về giá trị kinh tế của cây thảo quả đã tác động tích cực đến ý thức của người dân trong công tác bảo vệ rừng, không chỉ giữ rừng già, rừng tự nhiên để nâng cao độ che phủ của rừng đặc biệt là khu rừng phòng hộ mà còn chủ động trồng mới vườn rừng để nâng cao thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo.
Và cùng với giá trị kinh tế, việc trồng thảo quả đem lại nhiều lợi ích như việc chống xói mòn đất trong mùa mưa, chống cháy rừng trong mùa khô, bảo vệ nguồn nước. Ngoài ra việc trồng xen kẽ cây thảo quả còn có tác dụng cải tạo, tăng độ phì nhiêu cho đất.
Cây thảo quả đã và đang là loại cây trồng chủ lực để xã Nậm Ty huyện Hoàng Su Phi thúc đẩy kinh tế phát triển, giúp dân xóa đói giảm nghèo ổn định. Từ hiệu quả thực tế, trong thời gian tới đảng bộ xã Nậm Ty sẽ tiếp tục tập chung chỉ đạo bà con nhân dân trong xã phát huy tiềm năng thế mạnh của địa phương để đưa cây thảo quả thành cây mũi nhọn.
Đồng thời từng bước hình thành vùng chuyên canh để đưa sản phẩm nông sản này trở thành hàng hóa đem lại nguồn thu ổn định cho nhân dân. (Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Hà Giang 9/8) đầu trang(
Cty TNHH MTV Ngọc Hưng (trụ sở tại thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị) vừa gửi đơn khiếu nại khẩn cấp lên các cơ quan trung ương về việc doanh nghiệp này vì liên quan đến một vụ án hình sự mà bị ngâm suốt 4 năm qua, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về con người, tài sản, hoạt động sản xuất kinh doanh…
Ngày 6.4.2012, Cục Điều tra chống buôn lậu - Tổng cục Hải quan ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với Cty Ngọc Hưng về tội “Buôn lậu” xảy ra tại cảng Đà Nẵng. Theo tài liệu của cơ quan điều tra Bộ Công an, vào cuối năm 2011, Trương Huy Liệu - Phó giám đốc Cty Ngọc Hưng - đã mua lô gỗ trắc và giáng hương của các đối tượng Đen và Hóm ở Savanakhẹt (Lào), sau đó bán lại cho Li Zhen Zhu (người Trung Quốc). Lô gỗ được vận chuyển trên 13 xe ôtô, nhập cảnh vào Việt Nam qua cửa khẩu Lao Bảo, rồi xuất khẩu qua cảng Đà Nẵng.
Tại công văn số 231/C46 (P10) ngày 6.6.2012 của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ (C46) Bộ Công an gửi Tổng cục Hải quan về việc từ chối khởi tố vụ án này đã nêu rõ: “Công ty Ngọc Hưng chỉ có hành vi khai báo không đúng với số lượng, chủng loại gỗ so với thực tế xuất khẩu theo quy định trách nhiệm của người khai báo tại Điều 23 Luật Hải quan, nhưng những sai phạm này không trái với quy định của Nhà nước về công tác quản lý xuất, nhập khẩu những sản phẩm này. Do vậy, chưa đủ yếu tố cấu thành tội buôn lậu quy định tại Điều 153 BLHS”. Bất chấp kết luận này, vụ án sau đó vẫn được chuyển cho C44 Bộ Công an điều tra.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, hoạt động nhập khẩu gỗ từ Lào vào Việt Nam rồi xuất khẩu sang nước thứ 3 là mặt hàng không thuộc danh mục Nhà nước cấm nhập khẩu, cấm xuất khẩu. Mặt khác, lô gỗ được khẳng định là có nguồn gốc từ Lào, chứ không phải là gỗ từ rừng tự nhiên trong nước.
Hồ sơ tại cơ quan chức năng hải quan các cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, cảng Cửa Việt, cảng Đà Nẵng đều cho thấy, khi nhập khẩu lô gỗ từ Lào vào Việt Nam, Cty Ngọc Hưng đã mở tờ khai hàng hóa nhập khẩu số 1505/NK/KD/B033 ngày 17.12.2011, và khi xuất khẩu lô gỗ nói trên sang Hồng Kông - Trung Quốc, Cty Ngọc Hưng đã mở tờ khai hàng hóa xuất khẩu số 849/XK/KD/C32D ngày 19.12.2011. Do vậy, không thể quy kết tội danh buôn lậu cho Cty Ngọc Hưng và những người liên quan trong vụ nhập khẩu, xuất khẩu 13 xe ôtô gỗ từ Lào này.
Đại biểu Quốc hội Lê Như Tiến - Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Trị - tại kỳ họp Quốc hội thứ IX đã chất vấn Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang (ngày 15.6.2015) về những vấn đề “nổi cộm” của vụ án này. Theo đó, đại biểu Lê Như Tiến chất vấn 3 nội dung gồm: Một, vụ án Cty Ngọc Hưng kéo dài từ năm 2012 do Cục Điều tra chống buôn lậu - Tổng cục Hải quan khởi tố tội buôn lậu tại cảng Đà Nẵng, chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra C44 Bộ Công an, bắt tạm giam ông Trương Huy Liệu - Phó giám đốc Cty Ngọc Hưng - 12 tháng để điều tra.
Ngày 30.10.2014, Tòa án Nhân dân thành phố Đà Nẵng đã xét xử sơ thẩm, nhưng chưa có cơ sở để kết tội buôn lậu theo Điều 153 BLHS, tòa đã trả hồ sơ cho cơ quan điều tra để điều tra lại. Hai, trong quá trình điều tra, cán bộ điều tra viên C44 có dấu hiệu ép cung nhân viên Cty Ngọc Hưng Trần Văn Quang phải treo cổ tự tử, có di thư để lại.
Ba, trong lúc vụ án đang điều tra chưa được tòa án xét xử nhưng cơ quan điều tra C44 đã bán lô hàng 535,800m3 gỗ, đây là tang vật vụ án, chưa được tòa án xét xử. Hiện nay, dư luận, doanh nghiệp và người dân rất bất bình, kêu oan.
Về việc bán tháo lô gỗ trắc tang vật, ông Trương Huy Liệu nói: “Khoản 1 Điều 76 Bộ Luật TTHS quy định: Việc xử lý vật chứng do cơ quan điều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Tòa án hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử. Tuy nhiên, khi vụ án chưa được đưa ra xét xử, thì C44 đã bán lô gỗ tang vật với giá 63,9 tỉ đồng, chưa bằng 1/5 giá thị trường”.
Ngày 16.7, ông Trương Huy Liệu - bị can trong vụ án nêu trên - đã ký đơn khiếu nại lần thứ 3 gửi Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao khẳng định, ông và vợ ông là Trần Thị Dung - Giám đốc Cty Ngọc Hưng, bị can trong vụ án - không phạm tội buôn lậu như Vụ 1 Viện KSND Tối cao đã truy tố, thương vụ nhập khẩu, xuất khẩu lô gỗ nêu trên là hoạt động kinh doanh phù hợp pháp luật Việt Nam.
Ông Liệu cũng cho rằng, Vụ 1 Viện KSND Tối cao đã vi phạm thời hạn trả hồ sơ điều tra bổ sung theo quy định của pháp luật. Khoản 2 Điều 121 Bộ Luật TTHS về “Thời hạn điều tra bổ sung” quy định: “Trong trường hợp vụ án do Tòa án trả lại để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung là không quá 1 tháng”. Thế nhưng, vụ án của ông Trương Huy Liệu đã bị TAND thành phố Đà Nẵng trả hồ sơ từ ngày 31.10.2014, đến nay đã 8 tháng trôi qua nhưng vẫn chưa được đưa ra xét xử lại.
Trong đơn gửi các cơ quan trung ương, ông Trương Huy Liệu cũng đã đính kèm nhiều hồ sơ tài liệu chứng minh việc cáo buộc “số hàng hóa (gỗ nhập khẩu) của Cty Ngọc Hưng không có nguồn gốc hợp pháp” như quyết định khởi tố vụ án của Cục Điều tra chống buôn lậu - Tổng cục Hải quan là vô lý và trái pháp luật. Thực tế, sau hơn 3 tháng giữ lô hàng gỗ trắc nói trên tại Đà Nẵng, Cục Điều tra chống buôn lậu - Tổng cục Hải quan đã không xác lập được một văn bản nào để chỉ ra rằng, Cty Ngọc Hưng có hành vi vi phạm, dù chỉ là vi phạm về hành chính.
Tại các quyết định số 188/C44 và số 189/C44 ngày 19.11.2012, C44 khởi tố bị can đối với ông Trương Huy Liệu và vợ là Trần Thị Dung với lý do “Đã có hành vi không khai so với thực tế tên hàng, chủng loại, số lượng, trọng lượng, khối lượng gỗ giáng hương, gỗ trắc xẻ, sản phẩm gỗ trắc và khai khống khối lượng gỗ trắc tận dụng khi xuất khẩu từ Việt Nam sang Hồng Kông - Trung Quốc”.
Như trên đã nói, chính C46 đã từ chối khởi tố vụ án vì cho rằng “những sai phạm này không trái với quy định của Nhà nước” và “chưa đủ yếu tố cấu thành tội buôn lậu”. Ông Trương Huy Liệu cho rằng, giả sử rằng ông có hành vi vi phạm như cáo buộc nêu trên thì cũng chỉ bị xử phạt hành chính trong lĩnh vực hải quan vì như Cty Ngọc Hưng chỉ vi phạm về khai hải quan và khai thuế hàng hóa trong quá trình khai báo xuất khẩu, nhập khẩu.
“Vụ án về tội buôn lậu xảy ra tại cảng Đà Nẵng có dấu hiệu oan sai đã quá rõ ràng và kéo dài đã quá nhiều năm (4 năm), kính đề nghị Viện trưởng Viện KSND Tối cao ban hành quyết định đình chỉ vụ án để trả lại quyền, lợi ích hợp pháp cho vợ chồng chúng tôi và Cty TNHH MTV Ngọc Hưng”, trao đổi với phóng viên Lao Động & Đời Sống ngày 3.8 ông Trương Huy Liệu cho biết, ông đã gửi yêu cầu đó đến Viện trưởng Viện KSND Tối cao nhiều lần nhưng không được phúc đáp theo quy định.
Xử phạt đối với hành vi không khai hoặc khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, được hoàn, không thu: Ngoài việc phải nộp đủ số tiền thuế theo quy định, người nộp thuế còn bị phạt 10% số tiền thuế khai thiếu hoặc số tiền được miễn, giảm, được hoàn, không thu khai tăng nếu có một trong các hành vi sau đây: Không khai hoặc khai sai tên hàng, chủng loại, số lượng, trọng lượng, chất lượng, trị giá, mã số hàng hóa, thuế suất, xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà cơ quan Hải quan phát hiện trong quá trình thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu” (Khoản 4 (b) Điều 9 Nghị định số 18/2009/NĐ-CP ngày 18.2.2009 của Chính phủ quy định về “Vi phạm về khai hải quan và khai thuế”) (Lao Động 9/8) đầu trang(
Sở NN&PTNT Lâm Đồng cho biết, từ đầu tháng 7 đến nay, các đơn vị làm lâm nghiệp trong tỉnh đã tiến hành giải tỏa được gần 50ha đất rừng bị lấn chiếm (chủ yếu là để trồng cây công nghiệp dài ngày).
Dự kiến, trong mùa mưa này, toàn bộ gần 50ha đất rừng bị lấn chiếm đã được giải tỏa sẽ được đưa vào trồng rừng. Cùng với giải tỏa đất rừng bị lấn chiếm, cũng cũng từ đầu tháng 7 đến nay, lực lượng kiểm lâm và các đơn vị chủ rừng phát hiện và lập biên bản 203 vụ vi phạm lâm luật; trong đo, hành vi mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép chiếm phần lớn (90 vụ), số còn lại là khai thác rừng trái phép (44 vụ) và phá rừng trái phép (64 vụ).
Đặc biệt, trong số 193 cụ đã xử lý (trong tổng số 203 vụ phát hiện), số vụ phải xử lý hình sự chiếm đên 8 vụ. Qua xử lý, cơ quan chức năng đã tịch thu 100 phương tiện và 248m3 gỗ các loại; tổng số tiền thu nộp ngân sách nhà nước là 1,3 tỷ đồng. (Nông Thôn Ngày Nay 8/8) đầu trang(
Sáng ngày 8/8, hàng nghìn người đã tham dự trồng cây tại Trung tâm thương mại Aeon Mall Long Biên-Hà Nội mang tên “Cánh rừng quê hương Aeon”.
Đến dự có đại diện Bộ Công thương, Đại sứ quán Nhật Bản, lãnh đạo Tập đoàn Aeon và đông đảo thanh thiếu nhi. Cùng tham gia trồng cây còn có sinh viên đại diện 6 quốc gia đang tham gia chương trình Diễn đàn giao lưu môi trường châu Á lần thứ 4 như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia, Campuchia, VN.
Trong ngày 8/8, đã có 5000 cây xanh gồm 27 chủng loại khác nhau được trồng trên khuôn viên của Aeon Mall. Những người tham dự lễ trồng cây còn được các chuyên gia hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc cây xanh, bảo vệ môi trường.
Tại Việt Nam, trong vòng 3 năm từ 2010-2013, Quỹ môi trường Aeon đã thực hiện trồng 70 000 cây xanh tại Huế và đang tiếp tục kế hoạch 3 năm trồng tại vườn quốc gia Ba Vì-Hà Nội. Hoạt động Lễ trồng cây mang tên “Cánh rừng Aeon” được khởi xướng từ năm 1991 tại Trung tâm thương mại Aeon ở Malaysia và lần đầu tiên tổ chức tại Nhật Bản vào năm 1992. Đến nay, Quỹ môi trường Aeon đã trồng được 10 triệu cây xanh tại nhiều quốc gia. (Tiền Phong 8/8) đầu trang(
Năng suất rừng thấp, chất lượng giảm, người trồng bán gỗ non gây lãng phí tài nguyên... là những bất cập mà ngành lâm nghiệp của tỉnh đang phải đối mặt.
Lâu nay, kinh tế các địa phương miền núi trong tỉnh chủ yếu dựa vào rừng, xem rừng là con đường xóa đói giảm nghèo hiệu quả. Ngành lâm nghiệp quy hoạch lại 3 loại rừng, ưu tiên phát triển vùng cây nguyên liệu phục vụ chế biến công nghiệp. Phần lớn nông dân trồng rừng theo phong trào, theo thị trường cung - cầu. Ở khu vực miền núi, rừng nguyên liệu trồng thông thường 5 năm là khai thác, hiếm tìm thấy rừng hơn 10 năm tuổi. Người dân bán non rừng sản xuất để có chi phí tái đầu tư, đồng thời tránh rủi ro về thời tiết gió bão.
Ông Alăng Mười - Trưởng thôn Bút Nga, xã Sông Kôn (huyện Đông Giang) cho biết, thôn có 46 hộ thì đến 32 hộ nghèo. Nhờ trồng rừng xen canh nên nhiều người đỡ nghèo hơn. Mỗi hộ chỉ trồng bình quân 1 - 2ha, chu kỳ trồng 5 năm là bán sạch. Đồng bào bán sớm rừng để có vốn xoay xở, đầu tư lại. Tại làng không có rừng gỗ lớn.
Địa hình, đất đai miền núi, trung du chia cắt, mỗi nhà sở hữu một mảnh, lô trồng rừng. Đến thời kỳ thu hoạch thì thiếu đồng bộ, có rừng chưa đủ tuổi nhưng vì cần tiền, người trồng vẫn bán. Trong khi đó, nguồn vốn ưu đãi hạn chế, kỹ thuật lạc hậu nên chất lượng, giá cả thấp. Thực tế, chủ yếu người trồng rừng và tư thương tự “thuận mua vừa bán” chứ ít có doanh nghiệp đứng ra cam kết tiêu thụ. Vì lẽ đó mà thị thường gỗ nguyên liệu “nóng lạnh” bất thường.
Theo chính quyền xã Sông Kôn, ngoài thiếu đất, vốn sản xuất, các hộ trồng rừng còn gặp khó khăn trong khâu vận chuyển gỗ do chưa có đường lâm nghiệp từ rừng ra nơi tập kết. Rừng trồng gỗ lớn cho giá trị kinh tế cao hơn, nhưng vì nghèo nên dân chấp nhận khai thác non. Ở các địa phương trung du, ít có nhiều cánh rừng keo gỗ lớn.
Tại huyện Phú Ninh, theo ông Trần Ngọc Bằng - Trưởng phòng NN&PTNT huyện Phú Ninh, trong chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp, địa phương tính toán hình thành vùng nguyên liệu gỗ phục vụ cho chế biến sâu, nâng cao giá trị gỗ. Tuy nhiên, loay hoay nhiều năm rừng khai thác chủ yếu phục vụ cho các nhà máy dăm gỗ. Phát triển rừng trồng gỗ lớn vẫn còn là… ước mơ.
“Cơ bản là thiếu giống chất lượng. Trong số hàng chục hộ, doanh nghiệp sản xuất ươm giống thì chỉ có duy nhất đơn vị được chứng nhận đạt chất lượng. Chu kỳ khai thác rừng ngắn, dân không chịu đầu tư rừng gỗ lớn vì đời sống khó khăn, chính sách khuyến lâm chưa phát huy hiệu quả. Nguyên nhân căn cốt vẫn là thiếu sự liên kết giữa doanh nghiệp và người trồng rừng” - ông Bằng phân tích.
Nhiều doanh nghiệp gia nhập sân chơi lớn, song rất “thận trọng”  trong lộ trình phát triển rừng đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế. Như Công ty CP Lâm đặc sản xuất khẩu Quảng Nam, doanh nghiệp cổ phần hóa từ năm 2006, hiện mới có gần 1.700ha rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững.
Ông Huỳnh Tấn Đức - Giám đốc Sở NN&PTNT nhìn nhận: “Ngành đang khủng hoảng nghiêm trọng rừng trồng gỗ lớn. Bán rừng non là lãng phí tài nguyên, không phải là sự lựa chọn phát triển lâm nghiệp bền vững. Chính sách khuyến lâm phải giúp người dân thay đổi tư duy sản xuất, kéo dài thời gian thu hoạch rừng”. Thực tế đã xảy ra nghịch lý, doanh nghiệp trồng rừng bán gỗ dăm ra nước ngoài với giá thấp, còn doanh nghiệp chế biến gỗ phải nhập khẩu nguyên liệu gỗ với giá cao.
Quảng Nam có thế mạnh kinh tế rừng, với tổng diện tích 477.000ha rừng sản xuất, trữ lượng gỗ khoảng 30 triệu mét khối và 50 triệu cây tre nứa. Thế nhưng, diện tích được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững còn quá ít ỏi. Thiếu vốn, đất, giống chất lượng… được xem như những rào cản dẫn đến con đường bán rừng non nhanh nhất. Hàng chục nghìn héc ta rừng trồng là rừng sản xuất được giao cho các hộ, cá nhân.
Người dân phần lớn còn nghèo, thiếu vốn trồng rừng, trong khi đó các lâm trường, công ty lâm nghiệp nhà nước chậm đổi mới. Công ty CP Lâm đặc sản Quảng Nam đề xuất, Nhà nước khẩn trương thực thi đồng bộ các chính sách phát triển lâm nghiệp bền vững như sắp xếp, tạo cơ chế thuận lợi cho các nông, lâm trường, hợp tác xã trồng rừng. Khi đáp ứng yêu cầu về sản xuất theo chuỗi, nông dân vừa là cổ đông, vừa là người lao động, ngoài tiền công họ vẫn được hưởng cổ tức.
Ngành lâm nghiệp tỉnh đang tái cấu trúc mạnh mẽ, thực hiện chính sách phát triển rừng sản xuất đối với một số hạng mục về xây dựng nguồn giống, hạ tầng kỹ thuật sản xuất giống chất lượng, đường lâm nghiệp, chi phí vận chuyển lâm sản. Theo ông Lê Minh Hưng - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, thời gian tới, ngành sẽ chỉ đạo tập trung phát triển rừng trồng gỗ lớn, theo hình thức chế biến sâu, liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân, tìm kiếm thị trường ổn định.
Xã hội hóa phát triển nghề rừng từ tạo vùng nguyên liệu đến khai thác, tiêu thụ, chế biến; giảm dần đầu tư của Nhà nước. Về lâu dài, không thể lãng phí tài nguyên đất đai, “ăn non” rừng cây được. Phải mạnh dạn thay đổi tư duy trồng rừng, phấn đấu nâng cao năng suất các loài keo 50 - 60m3/ha lên tối đa 150m3/ha, bằng việc sử dụng giống chất lượng. (Báo Quảng Nam 7/8) đầu trang(
Ngày 24-9-2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) (gọi tắt là Nghị định 99).
Sau hơn bốn năm triển khai thực hiện, chính sách chi trả DVMTR đã khẳng định hướng đi đúng đắn, mang lại những hiệu quả nhất định, từng bước đi vào cuộc sống, tạo lập nên một nguồn lực tài chính mới, ngoài ngân sách, mang tính ổn định, bền vững, phục vụ công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Qua đó, góp phần tạo nhiều việc làm, cải thiện sinh kế, tăng thu nhập, nâng cao đời sống của người làm nghề rừng và đồng bào các dân tộc ở các vùng miền núi. Tuy nhiên, đây là một chủ trương, chính sách mới, nên việc thực hiện không thể tránh khỏi những bất cập, hạn chế nảy sinh từ thực tiễn.
Để giải quyết những bất cập quy định tại Nghị định 99 này, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 99. Theo đó, một trong những nội dung sửa đổi lần này là điều chỉnh mức chi trả tiền DVMTR đối với cơ sở sản xuất thủy điện từ 20 đồng/kW giờ lên 36 đồng/kW giờ và cơ sở sản xuất nước sạch từ 40 đồng/m3 lên 52 đồng/m3, nhằm bảo đảm tính khách quan, công bằng và dựa trên tỷ lệ giá điện, giá nước sạch biến động tương ứng với giá bán lẻ điện bình quân từ năm 2008 đã tăng từ 890 đồng/kW giờ lên 1.622,05 đồng/kW giờ (tăng 1,8 lần), giá nước sạch bình quân đã tăng từ 7.072 đồng/m3 lên 9.122 đồng/m3 (tăng 1,3 lần).
Dự thảo lần này cũng quy định rõ: Đối với diện tích rừng có mức chi trả DVMTR vượt quá hai lần mức hỗ trợ của ngân sách nhà nước cho bảo vệ rừng, cho phép Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, điều tiết cho những diện tích rừng có cung ứng DVMTR có mức chi trả thấp hơn mức hỗ trợ của ngân sách nhà nước cho bảo vệ rừng.
Đối với các chủ rừng là tổ chức, tổ chức khác được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng theo quy định của pháp luật, tiền DVMTR được coi là nguồn thu của chủ rừng; chủ rừng được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về tài chính phù hợp đối với từng loại hình tổ chức.
Trường hợp có thực hiện khoán bảo vệ rừng, thì được sử dụng 10% số tiền trên để thực hiện các công việc kiểm tra, giám sát, nghiệm thu, đánh giá chất lượng, số lượng rừng để thanh toán tiền DVMTR hằng năm và tổ chức các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng. Số tiền còn lại (90%), được dùng để chi trả cho các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn nhận khoán bảo vệ rừng…
Vậy, việc điều chỉnh này có tác động như thế nào đến các mặt của cuộc sống?
Tác động đến kinh tế, xã hội và môi trường: Việc điều chỉnh này sẽ tăng nguồn thu tiền DVMTR từ khoảng 1.000 tỷ đồng/năm hiện nay lên khoảng 1.800 tỷ đồng/năm. Đây sẽ là nguồn tài chính rất quan trọng để quản lý, bảo vệ tốt hơn 5,78 triệu ha rừng cung ứng DVMTR, đơn giá chi trả bình quân trên một ha rừng sẽ tăng từ 170 nghìn đồng/ha lên khoảng 310 nghìn đồng/ha, góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng, giảm diện tích mất rừng, tăng độ che phủ rừng, nâng cao chất lượng rừng, cải thiện môi trường sinh thái.
Tạo việc làm, tăng thu nhập và tạo động lực, khuyến khích chủ rừng, người dân tham gia bảo vệ rừng từ 1,8 triệu đồng/hộ/năm lên khoảng 3,2 triệu đồng/hộ/năm, góp phần cải thiện sinh kế cho người dân, giảm tỷ lệ hộ nghèo, làm chuyển biến về nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng.
Tác động đến hệ thống pháp luật: Nghị định sửa đổi, bổ sung Chính sách chi trả DVMTR, góp phần hoàn thiện, khắc phục một số bất cập, hạn chế Nghị định 99 của Chính phủ, bảo đảm tính hiệu lực, thống nhất của hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý quan trọng, tác động tích cực để các cơ quan quản lý nhà nước, các bên cung ứng và sử dụng DVMTR và các tổ chức, cá nhân thực hiện chính sách chi trả DVMTR.
Qua đó, góp phần củng cố và phát triển lành mạnh “thị trường cung ứng dịch vụ hàng hóa môi trường rừng” trong lĩnh vực lâm nghiệp, phù hợp với xu thế mới, xã hội hóa trong việc huy động các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển ngành lâm nghiệp nói riêng, bảo đảm tuân thủ các quy luật kinh tế, cơ chế thị trường của nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành phần.
Tạo hành lang pháp lý, khẳng định quyền của các chủ rừng, quyền của bên có cung ứng DVMTR, họ xứng đáng phải được bên sử dụng chi trả tiền DVMTR theo thị trường cung ứng dịch vụ hàng hóa môi trường rừng.
Tác động đến quyền và nghĩa vụ của tổ chức, công dân: Đối với người tiêu dùng, khi điều chỉnh mức chi trả tiền DVMTR sẽ làm tăng giá bán điện thương phẩm thêm 16 đồng/kW giờ, giá bán nước sạch thêm 12 đồng/m3 và người sử dụng điện, nước phải trả thêm một khoản tiền nhỏ. Thí dụ: Hộ sử dụng điện 50 kW giờ/tháng thì phải trả thêm một khoản tiền là 800 đồng/tháng, hộ sử dụng 100 kW giờ/tháng thì phải trả thêm 1.600 đồng/tháng, hộ sử dụng 200 kW giờ/tháng thì phải trả thêm 3.200 đồng/tháng; hộ gia đình bốn người sử dụng nước trong định mức 16m3 nước/tháng thì phải trả thêm 192 đồng/tháng, hộ sử dụng 20 m3 nước/tháng thì phải trả thêm 240 đồng/tháng, hộ sử dụng 30 m3 nước/tháng thì phải trả thêm 360 đồng/tháng.
Với số tiền phải trả thêm cho thấy, các hộ sử dụng điện, nước sinh hoạt với số lượng thấp sẽ không làm ảnh hưởng tới cuộc sống của họ, thậm chí khi điều chỉnh mức chi trả tiền DVMTR thì các đối tượng này lại được hưởng lợi nhiều nhất vì đa số họ là chủ rừng, là bên cung ứng DVMTR.
Đối với một số ngành sản xuất có tiêu thụ điện năng lớn như ngành thép thì số tiền phải trả thêm cho một tấn thép là 7.200 đồng, chiếm tỷ trọng là 0,04% giá thành sản xuất thép; số tiền phải trả thêm cho một tấn xi-măng là 1.600 đồng, chiếm tỷ trọng là 0,12% giá thành sản xuất xi-măng.
Qua phân tích, đánh giá những tác động trên cho thấy, việc điều chỉnh mức chi trả tiền DVMTR đối với cơ sở sản xuất thủy điện từ 20 đồng/kW giờ lên 36 đồng/kW giờ và cơ sở sản xuất nước sạch từ 40 đồng/m3 lên 52 đồng/m3 không ảnh hưởng nhiều đến đời sống người dân và các ngành sản xuất, ngược lại nó có ý nghĩa quan trọng đối với toàn xã hội nói chung và ngành lâm nghiệp nói riêng.
Hy vọng rằng, Nghị định sửa đổi, bổ sung này sẽ sớm được ban hành trong thời gian tới, đáp ứng nhu cầu, mong mỏi của các chủ rừng, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn nhận giao khoán bảo vệ rừng ở các vùng miền núi, giúp họ từng bước cải thiện cuộc sống, yên tâm, gắn bó với rừng. (Nhân Dân 8/8) đầu trang(
Công an tỉnh Nghệ An đã khởi tố bà Hoàng Thị Oanh, Phó Giám đốc Công ty TNHH Tám Oanh (huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An) và là một nữ đại gia lầm sản có tiếng ở Nghệ An, về hành vi trốn thuế.
Chiều ngày 7-8, đại tá Nguyễn Xuân Thiêm, Trưởng phòng Cảnh sát điều traCông an Nghệ An, cho biết cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam 3 tháng đối với Hoàng Thị Oanh (44 tuổi, Phó giám đốc Công ty TNHH kinh doanh xuất nhập khẩu lâm sản Tám Oanh) về hành vi trốn thuế.
Trước đó, như Báo Người Lao Động đã đưa tin, vào sáng ngày 30-7, Phòng cảnh sát kinh tế Công an Nghệ An cho biết đơn vị này vừa có quyết định khởi tố vụ án, bắt khẩn cấp bà Hoàng Thị Oanh (44 tuổi trú tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An), Phó giám đốc Công ty TNHH kinh doanh xuất nhập khẩu lâm sản Tám Oanh, có trụ sở tại xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu, để điều tra làm rõ hành vi trốn thuế.
Theo đó, vào sáng ngày 30-7, sau một thời gian dài lập chuyên án theo dõi hành vi trốn thuế của Công ty TNHH kinh doanh xuất nhập khẩu lâm sản Tám Oanh, gần 30 cảnh sát kinh tế phối hợp với nhà chức trách huyện Diễn Châu đã bao vây căn nhà 3 tầng của bà Oanh. Phát hiện công an, nữ đại gia lâm sản này đã có hành vi tẩu tán tài liệu nên bị cơ quan công an đã bắt giữ.
Được biết Công ty TNHH kinh doanh xuất nhập khẩu lâm sản Tám Oanh thành lập từ năm 2007 do Cao Đức Tám (chồng bà Oanh) làm giám đốc, bà Oanh làm phó giám đốc. Ngành nghề chính là kinh doanh lâm sản với nguồn gỗ chính là nhập gỗ từ Lào về, sau đó được chế biến rồi bán trong nước và xuất khẩu sang Trung Quốc.
Đây là công ty kinh doanh lâm sản có tiếng ở Nghệ An. Theo cơ quan công an, công ty này đang bị điều tra về việc để tiền ngoài sổ sách, nghi vấn chuyển tiền bán hàng vào tài khoản cá nhân, không đăng ký với ngành thuế là 120 tỉ đồng, số tiền công ty này có dấu hiệu trốn thuế từ 20-30 tỉ đồng.
Trước đó, vào tháng 6-2014, công ty này đã từng bị truy thu 419 triệu đồng tiền thuế sau đợt thanh tra của Chi cục thuế huyện Diễn Châu. (Người Lao Động 8/8) đầu trang(
Với suy nghĩ trồng rừng lấy... củi đốt, sau gần chục năm vất vả, kiên trì, gia đình bà Trần Thị Khương (SN 1953), trú xã Vĩnh Ninh (huyện Quảng Ninh, Quảng Bình) đã trở thành “tỷ phú” giữa quê nghèo.
Khắp cả xã Vĩnh Ninh nói riêng và huyện Quảng Ninh nói chung, nhắc đến bà Khương, người phụ nữ làm kinh tế giỏi thì ai cũng biết đến, bà không những là tấm gương điển hình trong phát triển kinh tế mà còn góp phần tạo công ăn việc làm cho hàng chục công nhân ở địa phương.
Ngôi nhà khang trang và bề thế của gia đình bà Trần Thị Khương nằm sát con đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại. Trong dáng vẻ nhanh nhẹn, hoạt bát, bà Khương vừa rót nước với khách, vừa nói: “Ở cái chốn hoang vu này, ngày xưa có ai thèm ngó ngàng gì tới, bởi đụng đâu là gặp bom đạn ở đó. Nhưng vợ chồng tôi vốn liều lĩnh, dám nghĩ, dám làm nên ngay khi nhà nước giao đất, chúng tôi đồng ý nhận luôn”.
Năm 1973, bà Khương lập gia đình với ông Lê Văn Tuy (SN 1954), một người thanh niên cùng quê mới từ chiến trường trở về. Cũng như bao hộ gia đình khác, vợ chồng bà Khương suốt ngày quần quật ngoài đồng nhưng cũng chẳng thể nào đủ ăn. Nhất là khi 4 đứa con lần lượt ra đời thì cái nghèo, cái khó ngày thêm dai dẳng.
“Năm 1992, giữa lúc khó khăn trăm bề, chúng tôi được nhà nước vận động nhận đất rừng khai hoang, phục hóa. Thấy chúng tôi nhận mảnh đất này làm ăn, rất nhiều người tỏ ra ái ngại, khuyên can chúng tôi chuyển sang chỗ khác an toàn hơn”, bà Khương tâm sự.
Với ý nghĩ, cứ làm việc siêng năng, có tâm thì trời sẽ không phụ công, vợ chồng bà Khương bắt tay vào công việc khai hoang, phát quang bụi rậm để trồng cây. “Thấy vợ chồng tôi trồng rừng, nhiều người tò mò hỏi trồng nhiều để làm gì?; tôi trả lời, trồng để lấy củi đốt; nghe tôi trả lời như vậy, họ nói lại, sáng sớm đánh bò vào rừng chở một xe bò củi về thì đốt một năm không hết”.
Nói về câu chuyện của vợ mình, ông Lê Văn Tuy giải thích: “Sở dĩ có câu chuyện đó, bởi trước đây chưa có ai thu mua gỗ về làm giấy, nên rừng trồng ra không biết để làm gì. Còn vợ chồng tôi thì nghĩ, mình trồng rừng trước tiên để phủ xanh đất trống, đồi núi trọc theo chủ trương của nhà nước, hoặc thi thoảng có ai cần mua gỗ xây dựng thì mình bán cho họ lấy vài đồng nuôi con cái ăn học, còn lại mình làm củi đốt”.
Được một năm,vợ chồng bà Khương thấy người dân trồng rừng ngày một nhiều, trong khi đó nguồn cây giống thì khan hiếm nên quyết định chuyển sang đầu tư vườn ươm cây giống cung cấp cho các hộ gia đình trong vùng. Với sự nhạy bén trong cách nghĩ, cách làm, chẳng mấy chốc vườn ươm cây giống của gia đình bà đã mang về khoản thu nhập lớn, giúp cải thiện đời sống gia đình.
Từ thành công của mô hình vườn ươm, năm 1996, bà Khương bắt tay vào trồng rừng với quy mô lớn. Đầu tiên phải kể đến thành công trong việc trồng 200ha rừng chắn cát ven bờ biển Hải Ninh (xã Hải Ninh, huyện Quảng Ninh) cho nhà nước.
Nói về dự án trồng rừng cho nhà nước, bà Khương bùi ngùi cho biết: “Để trồng được 200ha đất rừng chắn cát, tôi đã phải bỏ ra rất nhiều tâm huyết, công sức. Có những lúc, nhìn thấy hàng nghìn cây giống bị chết khô trên vùng cát khô cằn, tôi đã định bỏ cuộc. Nhưng rồi tôi lại nghĩ mình sẽ làm được, làm cho đến khi thành công thì mới được dừng lại”.
Trời không phụ lòng người, bằng ý chí, sự nỗ lực của bản thân và gia đình, đến năm 1996, gia đình bà Khương đã giao toàn bộ 200ha rừng chắn cát cho nhà nước. Không chỉ dừng lại ở đó, đến nay, gia đình bà còn sở hữu trong tay hơn 80ha rừng tràm và cao su đang trong giai đoạn phát triển tốt, chờ thu hoạch.
“Năm 2000 là dấu mốc không thể nào quên đối với gia đình tôi, bởi đó là lần đầu tiên, tôi bán được 2ha gỗ cho một nhà máy làm giấy với giá 2 triệu đồng. Mặc dù số tiền đó rất nhỏ so với giá trị của 2ha rừng, nhưng vợ chồng tôi vẫn thấy vui mừng và hạnh phúc, bởi công sức mình bỏ ra cũng đến ngày được nhận thành quả”, bà Khương nhớ lại.
Với nguồn lực đất đai sẵn có, bà Khương bàn với chồng mở rộng diện tích chăn nuôi thành mô hình trang trại. Đến nay, trang trại của bà đã có 70 con lợn nái, 1.500 con lợn thịt và trên 10.000 con gà. Mô hình trang trại giúp gia đình bà thu về mỗi năm hàng trăm triệu đồng tiền lãi.
Người dân ở xã Vĩnh Ninh, ai ai cũng nể phục vợ chồng bà Khương đã vượt khó làm giàu ngay trên chính quê hương của mình. Không chỉ làm kinh tế giỏi, gia đình bà Khương còn góp phần tạo công ăn việc làm cho hàng chục người dân địa phương với thu nhập từ 4 triệu đến 5 triệu đồng một tháng.
Anh Phạm Văn Thưởng (SN 1991, xã Vĩnh Ninh), công nhân làm việc tại trang trại của bà Khương cho biết: “Tôi làm việc tại trang trại đã được 4 năm với mức thu nhập ổn định 4 triệu động/tháng. Tất cả công nhân ở đây đều được gia đình bà Khương cưu mang, tạo công ăn việc làm để nuôi sống gia đình”.
“Quá trình làm kinh tế, gia đình tôi được rất nhiều cán bộ các tỉnh quan tâm, đến chia sẻ các kinh nghiệm làm mô hình trang trại. Đặc biệt, gia đình chúng tôi đã hai lần vinh dự được đón Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan tới thăm”, bà Khương phấn khởi cho biết.
Từ mảnh đất khô cằn với đầy rẫy bom đạn nằm sâu dưới lòng đất, bằng sự siêng năng và một ý chí kiên cường, nhẫn nại, đến nay, mảnh đất ấy đã trở nên trù phú, được phủ một màu xanh bạt ngàn của cây cối. Bà là điển hình trong làm ăn kinh tế giỏi, xứng đáng là tấm gương sáng để mọi người cùng noi theo. (Người Đưa Tin 8/7) đầu trang(
Chủ trương giao đất, giao rừng cho nhân dân hai xã miền núi Trường Sơn và Trường Xuân, trong đó có đồng bào dân tộc Vân Kiều nhận được sự đồng thuận của người dân và thực sự trở thành hướng thoát nghèo nhanh và bền vững đối đồng bào.
Hai xã miền núi Trường Xuân và Trường Sơn nằm về phía Tây của huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) địa hình rừng núi hiểm trở, giao thông chia cắt đi lại khó khăn, diện tích đất tự nhiên trên 93.000 ha, chiếm 78% tổng diện tích toàn huyện. Dân số 2 xã có 1.651 hộ, 6.542 nhân khẩu gồm hai dân tộc Kinh và Vân Kiều sinh sống. Trong đó, đồng bào Vân Kiều có 781 hộ với 3.154 nhân khẩu.
Những năm qua, được sự quan tâm lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, sự hỗ trợ của các cấp, các ngành, các chương trình dự án nên cuộc sống của người dân đã có sự chuyển biến đáng ghi nhận. Tuy nhiên so với mặt bằng chung của huyện, đời sống của nhân dân hai xã miền núi Trường Xuân, Trường Sơn, đặc biệt là các hộ đồng bào dân tộc Vân Kiều còn gặp rất nhiều khó khăn vất vả.
Người dân nơi đây có nguồn thu nhập chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, nhưng diện tích đất sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, năng suất sản lượng lương thực còn phụ thuộc vào điều kiện thời thời tiết nên đạt thấp, chưa đáp ứng được nguồn lương thực tự cung tự cấp tại chỗ. Nguồn lương thực chủ yếu dựa vào sự hỗ trợ của Nhà nước, nhất là đối với các hộ đồng bào dân tộc Vân Kiều.
Hơn nữa, một bộ phận đồng bào dân tộc còn mang nặng tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chính sách của Nhà nước, chưa phát huy hết nội lực. Bên cạnh đó, người dân nơi đây còn thiếu đất sản xuất, diện tích đất lâm nghiệp chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân.
Trong chương trình hành động của mình, Đảng bộ huyện Quảng Ninh đã xây dựng Nghị quyết chuyên đề về ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội cho vùng đồng bào thiểu số giai đoạn 2011 - 2015. Chủ trương giao đất, giao rừng cho dân thực sự trở thành cứu cánh, định hướng thoát nghèo nhanh và bền vững đối với đồng bào.
Theo đó, rừng được chuyển giao lại cho cộng đồng, rừng đưa về tận từng hộ gia đình. Cuộc sống âm no hạnh phúc đang đến với các bản làng và trong mỗi gia đình đồng bào dân tộc Vân Kiều.
Ông Nguyễn Ngọc Thụ - Phó Chủ tịch UBND huyện Quảng Ninh cho biết: “Chủ trương giao đất, giao rừng cho bà con đồng bào 2 xã miền núi Trường Sơn và Trường Xuân nhận được sự đồng thuận của nhân dân, tạo điều kiện để bà con yên tâm định canh, định cư, đầu tư phát triển sản xuất".
Đến nay, huyện Quảng Ninh đã giao 2.905 ha rừng tại hai xã Trường Xuân và Trường Sơn. Trong 2.000 ha được giao cho xã Trường Sơn có 1.300 ha rừng cộng đồng ở các thôn, bản Khe Cát, Cổ Tràng, Sắt, Long Sơn và Trung Sơn, số diện tích còn lại được giao đến tận hộ gia đình; giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 525 hộ với diện tích 1.527 ha để khoanh nuôi, bảo vệ và trồng rừng kinh tế.
Chủ trương giao đất, giao rừng qua thực tế rất hợp lòng dân, người dân phấn khởi chăm lo trồng cây gây rừng, bảo vệ và chăm sóc rừng. Cả cộng đồng cùng chung tay bảo vệ rừng, không ai có thể vào phá hoại trong diện tích rừng thuộc quyền sở hữu của đồng bào, của cộng đồng làng bản, theo đó độ che phủ của rừng ngày càng tăng lên.
Ông Hồ Văn Bền - Trưởng bản Cổ Tràng, xã Trường Sơn phấn khởi "Nhận được sổ đỏ của Nhà nước bàn giao rừng cộng đồng, bà con dân bản vui mừng lắm. Bà con phấn khởi chăm lo trồng cây gây rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng. Bản cũng đã xây dựng quy ước và thành lập ban bảo vệ rừng cộng đồng, thay nhau canh giữ góp phần hạn chế được tình trạng chặt phá rừng".
Sau khi nhận rừng, đất rừng, UBND huyện Quảng Ninh đã hỗ trợ cây giống, hướng dẫn các thôn, bản đã nhanh chóng bắt tay vào khoanh nuôi, bảo vệ rừng cộng đồng bằng quy ước được cộng đồng thôn, bản thảo ra và thông qua. Đất rừng giao đến từng hộ dân, bà con trồng keo, sắn, tràm, lấy ngắn nuôi dài.
Có thể khẳng định rằng, chủ trương giao đất, giao rừng cho nhân dân hai xã miền núi trong đó có đồng bào dân tộc Vân Kiều thực sự trở thành hướng thoát nghèo nhanh và bền vững đối với người dân.
Hai xã miền núi Trường Sơn, Trường Xuân có tiềm năng rừng khá lớn, đời sống chủ yếu của người dân phụ thuộc vào rừng. Để góp phần tăng thu nhập cho người dân địa phương, cùng với việc tiếp tục giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình và cộng đồng, cần có biện pháp hỗ trợ đồng bào sản xuất, tiến tới xây dựng mô hình kinh tế rừng bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống cho bà con.
Bằng những định hướng và giải pháp sát thực, tin tưởng rằng trong tương lại, tình hình kinh tế xã hội 2 xã miền núi huyện Quảng Ninh sẽ trở thành một hình thức kinh tế chủ đạo nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi tiếm năng, thế mạnh trên lĩnh vực nông nghiệp nông thôn miền núi, mang lại cuộc sống ấm no, đầy đủ hơn cho người dân nơi đây, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn ngày càng đổi mới. (Trung Tâm Khuyến Nông Quốc Gia 6/8) đầu trang(
Thực hiện Quyết định số 2247/QĐ-UBND ngày 09/10/2014 của UBND tỉnh Thái Nguyên V/v phê duyệt Phương án kiểm kê rừng của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014-2015 theo Quyết định số 594/QĐ-TTg ngày 15/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ.
Để thực hiện có hiệu quả công tác kiểm kê rừngtỉnh Thái Nguyên, từ ngày 16 đến 29/ 7/2015 Ban chỉ đạo Kiểm kê cấp tỉnh (trực tiếp là Chi cục Kiểm) đã tổ chức tập huấn xong các tập huấn về biện pháp kỹ thuật kiểm kê rừng tại các huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh Thái Nguyên
Lớp tập huấn nhằm trang bị những kiến thức cơ bản về các biện pháp kỹ thuật kiểm kê rừng cho cán bộ kỹ thuật Tổ kiểm kê rừng của các huyện, thành phố, thị xã và các xã, thị trấn, đơn vị chủ rừng, cán bộ kỹ thuật Kiểm lâm… trọng tâm của lớp tập huấn là việc kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung thông tin cho các lô rừng, thống kê diện tích, trữ lượng rừng và đất chưa có rừng theo trạng thái rừng, nguồn gốc rừng và mục đích sử dụng của từng chủ rừng, từng đơn vị hành chính và đơn vị quản lý rừng.
Tham gia lớp tập huấn, các học viên còn được tổ chức thực hành kiểm kê rừng ở một số xã cụ thể để hiểu rõ hơn cách thức và các bước thực hiện kiểm kê rừng. Thông qua thực hành sẽ giải quyết một số tình huống, tồn tại và vướng mắc có thể gặp phải trong quá trình tổ chức, triển khai thực hiện kiểm kê rừng tại địa phương và đơn vị mình.
Theo kế hoạch đề ra, toàn tỉnh Thái Nguyên phấn đấu đến 30/9/2015 hoàn thành công tác Kiểm kê rừng. (Kiểm Lâm Thái Nguyên 7/8) đầu trang(
Bộ NN&PTNT vừa ban hành hướng dẫn tạm thời kỹ thuật sản xuất cây mắc ca, đây là hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật đầu tiên cho mắc ca phát triển tại Việt Nam.
Theo tiêu chuẩn này, mắc ca phải được trồng ở những nơi có nhiệt độ thích hợp nhất, vào khoảng 20 độ C – 25 độ C, với lượng mưa bình quân năm từ 1600 mm – 2500 mm. Đồng thời, nơi trồng cần cao hơn 10 m – 20 m so với mặt nước biển và ít có gió phơn, sương muối và mưa phùn.
Mắc ca thích hợp nhất với những nơi có độ dày tầng đất trên 50 cm, thoát nước tốt và giàu hữu cơ. Không được trồng mắc ca ở những nơi đất cát, ngập úng hoặc chua phèn. Địa hình thích hợp nhất là bằng phẳng (độ dốc dưới 20 độ).
Hướng dẫn của Bộ NN&PTNT cũng đưa ra cách thức cụ thể về kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp ghép, kỹ thuật trồng và chăm sóc.
Đặc biệt trong kỹ thuật thu hái và sơ chế bảo quản hạt yêu cầu khi quả chín rụng xuống đất phải thu hoạch ngay. Sau đó phải bóc vỏ trong vòng 24 giờ và đưa vào làm khô, không làm hạt xây xát ảnh hưởng đến chất lượng nhân.
Hạt cần chế biến ngay, nếu chưa thể làm ngay cần được bảo quản bằng cách cho vào thùng nhựa, thùng tôn có nắp đậy kín hoặc cho vào túi hút chân không, bảo quản nơi thoáng mát. Hạt được làm khô tự nhiên có thời gian bảo quản và cất trữ không quá 6 tháng, hạt làm khô nhân tạo thì có thời gian cất trữ lâu hơn. (Sài Gòn Giải Phóng 7/8) đầu trang(
Theo thông tin từ Chi cục Lâm Nghiệp Bắc Kạn, tính đến cuối tháng 7 toàn tỉnh đã trồng được gần 6.500/ 8000 ha rừng, đạt 81% kế hoạch. Những diện tích còn lại phấn đấu hoàn thành trước ngày 15 tháng 8.
Trong đó trồng rừng phòng hộ là hơn 100 ha; rừng sản xuất đạt hơn 5.200 ha; trồng rừng phân tán và các dự án khác gần 1.200 ha. Các huyện có diện tích trồng rừng đạt cao là: Chợ Đồn, Bạch Thông, Chợ Mới...
Theo lãnh đạo Chi cục Lâm Nghiệp Bắc Kạn, thời gian qua, các địa phương đã tập trung chỉ đạo bà con nông dân trồng rừng, tuy nhiên do trùng vào thời gian gieo cấy vụ xuân nên hơn 1500 ha vẫn chưa trồng xong.
Hiện nay, các địa phương đang tích cực chỉ đạo bà con nông dân tranh thủ thời tiết thuận lợi tiếp tục chủ động trồng rừng, phấn đấu trước 15 tháng 8 toàn tỉnh sẽ hoàn thành trồng rừng mới. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 8/8) đầu trang(
Trong 7 tháng đầu năm Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Sơn La đã tiến hành giải ngân được 85 tỷ đồng cho 52.174 chủ rừng với diện tích 519.365 ha trên địa tỉnh, đạt 92% kế hoạch.
Thông tin trên được ông Lương Thái Hùng, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Sơn La cho biết. Tỉnh Sơn La đã tổ chức hội nghị tại 2 huyện biên giới Sông Mã và Sốp Cộp thuộc lưu vực sông Mã, và tổ chức trên 30 hội nghị tuyên truyền cấp xã tại 12 huyện, thành phố trong tỉnh nhằm tuyên truyền sâu rộng về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Đồng thời tập huấn cho cán bộ cơ sở xã, bản và các chủ rừng quán triệt Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ, các Quyết định, Kế hoạch, Văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh Sơn La để tạo sự đồng thuận cao trong xã hội.
Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Sơn La đã ký 22 hợp đồng ủy thác dịch vụ môi trường rừng với các công ty, nhà máy thủy điện vừa và nhỏ thuộc địa bàn nội tỉnh, đôn đốc các công ty nhà máy nộp tiền về Quỹ theo quy định, để từ đó nhằm đảm bảo quyền lợi của các chủ rừng, đặc biệt là đồng bào ở các thôn, bản vùng sâu, vùng xa, vùng cao biên giới của tỉnh.
Hiện nay, Sơn La đang chi trả dịch vụ môi trường rừng với đơn giá 211.000 đồng/ha/năm cho các chủ rừng thuộc lưu vực sông Đà; 4.600đồng/ha/năm (nguồn thu năm 2013) và 9.300đồng/ha/năm (nguồn thu năm 2014) cho các chủ rừng thuộc lưu vực sông Mã.
Theo ông Hùng, tuy số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng không lớn, phần nào cải thiện được đời sống của người làm nghề rừng, cái được lớn nhất là góp phần nâng cao nhận thức và ý thức quản lý bảo vệ rừng của các chủ rừng được tốt hơn.
Qua đó chủ rừng đã quan tâm thường xuyên tuần tra canh gác rừng của mình được giao và có trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ rừng của cộng đồng. Tình trạng chặt phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép từ đầu năm đến nay đã giảm đáng kể. (Tin Tức 7/8) đầu trang(
CCI, NCT, VE2, NSC, GDT, KDC, ASP, NNC, BHX, TMX, NHC... thông báo chốt danh sách cổ đông để thanh toán cổ tức bằng tiền...
Ngày 27/8/2015, Công ty Cổ phần chế biến Gỗ Đức Thành (mã GDT-HOSE) tạm ứng cổ tức đợt 1/2015 bằng tiền với tỷ lệ 15%/cổ phiếu (1 cổ phiếu được nhận 1.500 đồng). Ngày đăng ký cuối cùng: 13/8/2015. (VnEconomy 10/8) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Tuần qua, cả thế giới tiếc thương cho cái chết đau lòng của con sư tử nổi tiếng nhất Zimbabwe.
Sự ra đi của nó lại một lần nữa khiến người ta lo ngại về nạn săn trộm tại châu Phi, đẩy các loài vật đến bên bờ vực tuyệt chủng.
Sư tử Cecil (13 tuổi) là một trong những con vật được yêu mến nhất tại Công viên quốc gia Hwange, Zimbabwe. Không những là một trong những biểu tượng của quốc gia châu Phi này, Cecil còn là đối tượng nghiên cứu trong dự án bảo tồn loài sư tử của các nhà khoa học tại trường Đại học Oxford (Anh).
Dù nổi tiếng như vậy nhưng Cecil lại có một "cái kết" rất bi thảm. Cuối tháng Bảy vừa qua, nó đã bị một nhóm thợ săn dụ tới một khu vực cách công viên khoảng 1,5km rồi giết hại bằng cung tên và súng trường. Sau đó, họ còn chặt đầu, lột da nó để làm kỷ niệm. Sau nhiều ngày điều tra, cơ quan chức năng Zimbabwe đã phát hiện người đứng sau vụ này là một nha sĩ người Mỹ tên là Walter Palmer. Ông là một người có niềm đam mê săn bắn và thường chụp ảnh với các “chiến công” để khoe trên Facebook. Theo thông tin từ các nhà chức trách Zimbabwe, vị nha sĩ người Mỹ đã bỏ ra đến 55 nghìn USD để thực hiện chuyến đi săn sư tử tại quốc gia này.
Dù đã xuất trình đầy đủ giấy phép săn bắn và khẳng định rằng mình không hề biết hai người đồng hành trong nhóm là những kẻ săn trộm nhưng Walter Palmer vẫn trở thành tâm điểm chịu đựng cơn phẫn nộ của người dân toàn cầu. Trên các trang mạng xã hội, người ta liên tục chia sẻ những hình ảnh mà ông Palmer khoe thành quả đi săn trước đó và gọi đây là "kẻ đáng ghét nhất thế giới".
Phòng khám nơi ông làm việc cũng đã phải đóng cửa vì có quá nhiều người đến biểu tình. Họ đặt những con thú bông ở đây để tạo nên một đài tưởng niệm tạm thời cho Cecil và dán hình con sư tử này ở khắp mọi nơi. Một người biểu tình chia sẻ: "Tôi sẽ không đời nào để một kẻ có vấn đề về đạo đức chăm sóc răng cho mình. Biết đâu, sau khi gây mê, tôi sẽ bị lột da và khi tỉnh dậy chỉ nhận được một lời xin lỗi".
Cái chết của sư tử Cecil như một hồi chuông báo động về nạn săn trộm tại châu Phi. Theo số liệu của Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Thế giới (WWF), cách đây gần một thế kỷ, số lượng sư tử ở châu Phi rơi vào khoảng 200 nghìn cá thể. Tuy nhiên, cho đến nay, con số ấy giảm xuống chỉ còn 30 nghìn con.
Tại Zimbabwe, số lượng nhân viên kiểm lâm quá mỏng đã khiến cho nạn săn trộm tại quốc gia này ngày càng hoành hành. Trong vụ việc vừa qua, các nhà chức trách tại Công viên quốc gia Hwange (nơi Cecil sinh sống) cũng chẳng thể kiểm soát hoạt động của chú sư tử này, dù cho nó đã được gắn chip theo dõi. Gần một tuần sau khi Cecil bị hạ sát, người ta mới phát hiện ra xác của nó và tiến hành điều tra vụ việc.
Không chỉ với riêng sư tử, nạn săn bắn bừa bãi cũng đẩy loài tê giác và voi ở châu Phi tiến gần hơn đến bờ vực tuyệt chủng. Các nhà bảo tồn động vật cho biết số voi trên thế giới hiện nay chỉ còn khoảng 500 nghìn cá thể trong khi con số này vào năm 1900 là 10 triệu con. Năm 2014 cũng là một năm "ác mộng" đối với loài tê giác khi hơn 1.100 cá thể đã bị giết hại trên toàn lục địa đen.
Lợi nhuận khổng lồ từ việc bán ngà voi (làm đồ trang trí) và sừng tê giác (làm thuốc) cho các "tay chơi" tại một số nước châu Á khiến cho bọn săn trộm ngày càng hoạt động táo tợn hơn. Dù WWF, Tổ chức cứu trợ động vật hoang dã (WildAid) và rất nhiều tổ chức khác đã thực hiện các dự án tuyên truyền, phân tích cho người dân tại các quốc gia châu Á rằng thành phần cấu tạo của sừng tê giác hoàn toàn giống tóc và móng tay con người nhưng kết quả thu được vẫn không mấy khả quan.
Các sáng kiến về việc gắn chip theo dõi lên con vật, tiêm thuốc độc vào sừng tê giác đã được áp dụng nhưng số lượng các cá thể bị săn trộm mỗi ngày vẫn rất đáng báo động. Cuối cùng, một số quốc gia đã phải chủ động cắt bỏ, tiêu hủy sừng và ngà của tê giác và voi để bảo vệ chúng khỏi những tay săn trộm. Theo đó, đơn vị kiểm lâm tại các vườn quốc gia sẽ lái máy bay trực thăng và bắn đạn chứa thuốc mê vào các cá thể. Họ sẽ nhẹ nhàng cưa một phần lớn sừng, ngà mà không làm tổn thương đến phần da trên miệng của các con vật đang "ngủ ngon".
Dù các tổ chức bảo tồn thừa nhận rằng sáng kiến này có phần cực đoan nhưng nó lại đang là biện pháp tốt nhất để giúp những loài vật này tránh khỏi ánh mắt nhòm ngó của bọn săn trộm vào thời điểm hiện tại. (Bộ Thông Tin Và Truyền Thông 8/8) đầu trang(
Ba hòn đảo rắn nổi tiếng nhất trên thế giới không chỉ là nơi sinh sống của hàng ngàn con rắn mà nơi đây cũng là thủ phủ của những loại rắn độc nhất, nọc độc của chúng có thể giết chết người ngay lập tức.
Đảo Chappell (Australia): Đảo rắn Chappell nổi tiếng là hòn đảo sinh sống của rắn hổ khổng lồ. Những con rắn hổ ở đảo Chappell thường rất lớn, dài từ 1,8 mét - 2,1m, thậm chí là 2,4m. Trong khi những con rắn ở vùng Yorke, Ayre Penisula và Kangaroo Island và một số hòn đảo khác chỉ có kích thước nhỏ, thi thoảng mới có con có chiều dài tới 0,9m.
Ngoài kích cỡ nổi trội, rắn hổ khổng lồ đảo Chappell còn được cho là có khả năng sản xuất lượng độc tố lớn nhất trong các loài rắn hổ đen. Trung bình nó có thể tạo ra khoảng từ 74 mg đến 388 mg khi tấn công nạn nhân. Dù thành phần độc tố của nó tương tự như các con rắn hổ ở đất liền nhưng để chữa trị vết cắn do rắn hổ Chappell cắn thì nạn nhân cần phải được tiêm gấp đôi lượng thuốc kháng độc so với thông thường.
Đảo Western Ghats (Ấn Độ): Đảo Western Ghats (Ấn Độ), hòn đảo thức được cho là vương quốc của loài hổ mang chúa. Không khó để bắt gặp những con hổ mang chúa "khủng" có trọng lượng lên tới 30 kg.
Western Ghats được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, là vùng đất chưa từng bị con người xâm phạm. Có vô số loài vẫn chưa được khám phá ở đây.
Hiện Western Ghats được coi là nơi mà số lượng loài hổ chúa còn nhiều nhất thế giới.
Nhiều khu bảo tồn rắn hổ chúa đã được quy hoạch ở Western Ghats để bảo tồn loài rắn này. Việc bảo tồn loài hổ chúa ở Western Ghats rất thuận lợi, bởi người dân Western Ghats rất tôn trọng rắn hổ chúa, coi chúng như thần linh, không bao giờ giết loài rắn này.
Đảo Iiha da Queimada Grande (Brazil): Iiha da Queimada Grande là một hòn đảo rộng 45 ha, nằm lẻ loi ở Nam Đại Tây Dương và cách bờ biển sao Paulo 35 km. Với vẻ đẹp bình yên này, nơi đây đáng ra là một trong những điểm đến thu hút khách du lịch bậc nhất ở Brazil nếu không chứa tới hơn 400.000 con rắn cực độc.
Trước đây, hòn đảo này mang tên “Đảo Cháy” do ngư dân đã có gắng chiếm bờ biển bằng cách đốt rừng và đuổi động vật hoang dã vào trong rừng sâu, nhưng với sự hiện diện của vô vàn loài rắn độc, nơi đây được biết đến nhiều hơn với tên “Đảo rắn”.
Hòn đảo này nổi tiếng là nơi sinh sống duy nhất của loài rắn hổ lục đầu vàng độc nhất thế giới. Trên đảo có nhiều loài rắn này tới mức cứ một mét vuông có tới 1 - 5 con hổ lục đầu vàng. Loại rắn này khi trưởng thành có thể dài hơn nửa mét và nọc độc mạnh hơn 5 lần so với nọc rắn trong đất liền, do chúng chỉ ăn chim thay vì ăn động vật có vú.
Rắn hổ lục đầu giáo vàng là một trong những ngoài rắn độc nhất thế giới có nọc không chỉ phá hủy cơ thể mà còn làm tan thịt con mồi cũng như con người nếu như bị cắn.
Rắn hổ lục đầu giáo vàng có tên khoa học là Bothrops insularis. Sở dĩ loài rắn này có tên gọi như vậy là do màu sắc da bụng vàng óng như màu vàng kim loại và chiếc đầu nhọn như mũi giáo đặc trưng. Chúng có chiều dài trung bình là 70cm nhưng cũng có thể đạt tối đa là khoảng 120cm.
Theo nghiên cứu của nhà sinh vật học Ludwig Trutnau, tỷ lệ tử vong nếu bị rắn hổ lục đầu giáo vàng cắn là 7% nếu không được điều trị và 3% nếu được điều trị kịp thời. Các triệu chứng nhiễm nọc độc của rắn đầu giáo vàng bao gồm: phù nề, đau cục bộ, buồn nôn, nôn mửa, tụ máu, nôn và tiểu ra máu, chảy máu trong ruột, suy thận, xuất huyết não và hoại tử cơ nặng nề. (Tin Mới 8/8) đầu trang(
Hình ảnh những chú báo đốm mạnh mẽ trong khu rừng ở Honduras - nơi được “mệnh danh” là thủ đô bạo lực của thế giới có thể sẽ không còn trong tương lai do hoạt động của tội phạm ma túy gia tăng.
Thực tế cho thấy, nhiều băng đảng ma túy lớn đã “rửa tiền” bằng cách đầu tư vào nông nghiệp và chính điều này làm hủy hoại môi trường tự nhiên khiến động vật hoang dã không có nơi an toàn để trú ẩn.
Honduras và Guatemala được coi là “tâm chấn” của hoạt động buôn bán ma túy toàn cầu. Đây cũng là những nơi mà môi trường thiên nhiên đang bị biến đổi nhiều nhất ở Mỹ Latinh. Trong năm 2012, chính phủ Mỹ cho biết, 75% các chuyến bay buôn lậu cocaine đến Mỹ có liên quan đến Honduras. Ma túy từ Honduras chiếm số lượng hàng đầu trong tổng số ma túy buôn lậu vào Mỹ. Lực lượng an ninh Honduras đã xác định và triệt phá được nhiều vụ buôn lậu ma túy lớn trên lãnh thổ quốc gia.
“Hoạt động của các băng đảng ma túy ở Honduras chắc chắn ảnh hưởng đến việc bảo tồn động vật hoang dã nói chung, báo đốm nói riêng. Tiền từ hoạt động mua bán ma túy được “hợp pháp hóa” thông qua chăn nuôi đại gia súc ngay cả trong khu vực bảo tồn thiên nhiên. Sự kết hợp giữa cocaine và bò có thể nghe rất kỳ lạ nhưng chăn nuôi đã được chứng minh là giải pháp lý tưởng để rửa tiền của tội phạm ma túy”, Jorge Guardia, nhà bảo vệ môi trường thuộc một tổ chức phi chính phủ (NGO) hoạt động ở Honduras nói.
Jorge Guardia cho biết thêm, điều rất đáng lo ngại là nhiều người dân địa phương đã “tiếp tay” cho tội phạm ma túy rửa tiền bằng cách bán đất cho tội phạm, mặc dù có vùng đất nằm trong khu vực bảo tồn và không được phép bán. “Những kẻ buôn lậu ma túy thường xuyên tìm cách mở rộng diện tích đất đai. Điều này bắt buộc phải tìm đến những khu vực mới, xa trung tâm. Chúng thường trả rất nhiều tiền để người dân hoặc các quan chức địa phương đồng ý bán đất”, Jorge Guardia cho biết.
Khu dự trữ sinh quyển Rio Platano, một Di sản văn hóa thế giới nằm trong La Mosquitia cũng đang “mất dần, mất mòn” vào tay tội phạm ma túy. “Có những tay buôn ma túy đã mua các khu vực ở La Mosquitia để đầu tư nông nghiệp”, James Adams, nhà tự nhiên học, sống gần Rừng quốc gia Pico Bonito nói. “Không ai ngăn cản điều đó. Họ đang cần hợp pháp hóa khoản tiền kiếm được vào chăn nuôi gia súc và họ cần đất”.
Trong bài viết có tên “Tội phạm ma túy phá rừng: tội phạm và chính sách”, Giáo sư Kendra McSweeney, giảng viên địa lý tại Đại học Ohio đăng tải trên tạp chí khoa học Science nhận định, tội phạm ma túy thường thích “ẩn mình”, hoạt động tại địa bàn vùng sâu vùng xa để tránh sự kiểm soát của Chính phủ. Họ nhanh chóng đưa vật liệu, xây dựng những con đường bí mật và đường băng tại khu vực xa xôi để phục vụ rửa tiền thông qua nông nghiệp.
Giáo sư McSweeney cho biết thêm, thịt gia súc được nuôi ở Honduras thường được xuất khẩu sang Mexico. Santiago Ochoa, một nhà bảo vệ thiên nhiên nói rằng, “giờ đây, nếu đi qua một số khu vực ở Honduras, bạn sẽ nhìn thấy nhiều đường băng được xây dựng. Khi đường băng xuất hiện, điều đó cũng đồng nghĩa rằng, môi trường sống sẽ bị hủy hoại. Môi trường sống không còn, các loài động vật hoang dã chắc chắn sẽ biến mất”.
Nhà sinh vật học Ochoa cho rằng, dễ dàng nhận thấy môi trường sống của động vật hoang dã đang bị hủy hoại trong tay các trùm ma túy nhưng để đấu tranh ngăn chặn tình trạng này lại là câu chuyện khác. “Các thành viên của chúng tôi đã bị tấn công. Họ có thể giết người bất cứ lúc nào”, ông Ochoa nói. Jose Alexander Gonzalez, một nhân viên kiểm lâm đã bị sát hại trên con phố ở Puerto Lempira, Honduras vào một buổi chiều tháng 5 năm ngoái.
Đến nay, vẫn chưa xác định được danh tính của những kẻ đi xe máy tấn công Jose Alexander Gonzalez.“Cuộc chiến ma túy ở Honduras đang rất nóng bỏng. Nó gây nên nỗi sợ hãi đối với những người có nghĩa vụ thực thi luật pháp bảo tồn thiên nhiên hoang dã” - Guardia nói - “Trong nhiều trường hợp, khi cán bộ kiểm lâm theo đuổi vụ việc liên quan đến tội phạm môi trường, điều đó đồng nghĩa với việc họ đang phải đối đầu với các trùm ma túy, bên cạnh đó là rất nhiều mối quan hệ phức tạp với các quan chức chính phủ. Nhân viên kiểm lâm tuần tra đang đặt cược mạng sống của mình. Các băng đảng ma túy đã thắng trên nhiều phương diện”.
Theo ông Guardia, thì lực lượng mỏng, cùng nhiều bất cập trong quy định về thực hiện công vụ khiến công tác đấu tranh với tội phạm ma túy gặp nhiều khó khăn. Trước những thông tin trên, quan chức Honduras nói rằng, quốc gia này đang tiến hành nhiều giải pháp chống ma túy cũng như bảo vệ thiên nhiên hoang dã.
Oscar Rueda, điều phối viên của Trung tâm Bảo tồn thiên nhiên Honduras cho biết, cơ quan ông đang triển khai dự án trồng lại cây tại các khu vực rừng bị phá với tổng diện tích là 1.500 ha trong năm nay.  (An Ninh Thủ Đô 9/8) đầu trang(
Ngày 7/8, một vụ cháy rừng lớn đã xảy ra ở khu vực miền tây Tây Ban Nha khiến 3.000 người phải sơ tán.
Chính quyền khu vực Extremadura cho biết vụ cháy bắt đầu từ ngày 6/8 ở vùng núi Sierra de Gata, thiêu trụi hơn 5.000 hecta rừng. Nhiều ngôi nhà cùng gia súc cũng bị thiêu rụi. Khoảng 300 lính cứu hỏa với sự hỗ trợ của máy bay phun nước đã được huy động để khống chế đám cháy.
Nguyên nhân vụ cháy rừng đang được điều tra, tuy nhiên qua điều tra ban đầu cho thấy dường như đây là hành động cố ý.
Trong khi đó, khoảng 600 lính cứu hỏa đang nỗ lực dập tắt 4 vụ cháy rừng khác đã thiêu trụi 620 hécta rừng ở khu vực đông nam Murcia. (Thể Thao Và Văn Hóa 9/8; Vietnam + 9/8) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang