Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 08 tháng 09 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Vườn quốc gia (VQG) U Minh Hạ vừa có tờ trình gửi UBND tỉnh Cà Mau xem xét, đề cử VQG thành Khu Ramsar, VQG này có tổng diện tích 8.527ha; nằm trên địa bàn các xã Khánh An (H.U Minh); Trần Hợi, Khánh Bình Tây Bắc (H.Trần Văn Thời), ngoài ra còn có hơn 25.000ha vùng đệm.
Đây là khu vực có hệ động thực vật đặc trưng vùng đất ngập nước trên lớp than bùn do xác thực vật tích tụ lâu năm tạo thành. Ngày 26.5.2009, VQG này được UNESCO đưa vào danh sách các khu dự trữ sinh quyển của thế giới. (Thanh Niên 6/9) đầu trang(
Lực lượng chức năng thuộc Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 4 vừa bắt tàu của thuyền trưởng người Campuchia chở gỗ trái phép.
Sáng 6/9, trên vùng biển Hà Tiên thuộc tỉnh Kiên Giang, lực lượng chức năng thuộc Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 4 đã tiến hành kiểm tra Tàu KK 20112 do ông Sorm Mao làm thuyền trưởng cùng với 3 thuyền viên đều mang quốc tịch Campuchia.
Tại thời điểm kiểm tra trên tàu chở 6m3 gỗ cẩm và gỗ hương, thuyền trưởng không xuất trình được bất cứ giấy tờ liên quan đến việc hành nghề trên biển và nguồn gốc số gỗ trên.
Hiện Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 4 đã đưa Tàu KK 20112 cùng các thuyền viên về cảng An Thới- Phú Quốc để tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ và tiến hành xử lý theo pháp luật. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 6/9; Đại Đoàn Kết 7/9) đầu trang(
Khi phong trào nuôi tôm thẻ chân trắng ngày một phát triển và lan rộng ra nhiều xã, rừng ngập mặn ở Quỳnh Lưu (Nghệ An) đang bị tàn phá không thương tiếc...
Rừng phòng hộ ven sông Mơ (rừng ngập mặn cửa biển) nằm trên địa bàn 2 xã Quỳnh Lương và Quỳnh Thanh (Quỳnh Lưu), có tổng diện tích trên 20 ha. Đây được xem là bức tường xanh vững chắc bảo vệ đê biển, hạn chế xói lở và các tác hại của bão lụt, thiên tai. Thế nhưng tấm lá chắn này đang bị hủy hoại không thương tiếc chỉ vì lợi ích của một vài nhóm người nuôi tôm.
Được biết, tình trạng một số hộ dân ở xã Quỳnh Thanh tiến hành chặt phá rừng ngập mặn diễn ra từ nhiều năm trước, nhưng mức độ không lớn. Sự việc ngày càng trở nên nghiêm trọng trong thời gian đây, khi mà phong trào nuôi tôm thẻ chân trắng ngày một phát triển mạnh và lan rộng ra nhiều xã quanh vùng. Theo đó, một số hộ dân ngang nhiên thuê máy móc, nhân công vào cày nát cả một vùng rừng ngập mặn của xã Quỳnh Lương. Nhóm người này ung dung cải tạo, đắp đập, be bờ trước sự bức xúc xen lẫn quan ngại của bà con trong vùng.
Theo quan sát của PV, hiện đã có 4-5 ha rừng trồng bị tàn phá nặng nề, không còn khả năng phục hồi. Do rừng bị chặt phá trong suốt thời gian dài đã tác động lớn đến dòng chảy, đồng thời gây nên sự bất ổn môi trường sống của thảm thực vật xung quanh, đe dọa diện tích rừng còn lại.
Trao đổi vấn đề này, ông Nguyễn Văn Tuệ, Chủ tịch UBND xã Quỳnh Lương thanh minh: “Các hộ dân ở xã Quỳnh Thanh tự ý chặt phá rừng phòng hộ ven sông Mơ để tiến hành nuôi tôm theo hình thức quảng canh là có thật. Chúng tôi đã nhiều lần cử lực lượng công an địa phương xuống ngăn chặn, nhưng vì họ là dân ở nơi khác đến, thành phần chủ yếu là người công giáo nên rất khó quản lý...”.
Chính quyền địa phương bất lực trong công tác quản lý bảo vệ rừng ngập mặn, còn các cấp, ngành liên quan thì thờ ơ đã tạo nên làn sóng phản ứng mạnh mẽ của nhân dân địa phương. Tại các cuộc kiến nghị cử tri, bà con xã Quỳnh Thanh đã nhiều lần bày tỏ quan điểm, họ kịch liệt phản đối và yêu cầu các hộ vi phạm phải nhanh chóng chấm dứt hành vi phá rừng nói trên.
Trước áp lực của dư luận, đầu tháng 7/2015, UBND huyện Quỳnh Lưu mới vào cuộc, cử đoàn kiểm tra (Phòng TN&MT, Kiểm lâm địa bàn) xuống hiện trường khảo sát, đánh giá tình hình và quyết định xử phạt hành chính... 1 trường hợp (?!).
Tình trạng tàn phá rừng ngập mặn để nuôi tôm trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu diễn ra nhiều năm nay, gây bức xúc trong dư luận. Do không được giải quyết triệt để nên thực trạng phá rừng ngập mặn để nuôi tôm đã lan ra các xã lân cận như Quỳnh Thuận, Sơn Hải, Quỳnh Minh...
Được biết, nhờ có được nguồn vốn tài trợ từ các dự án phi Chính phủ của Nhật Bản và Đan Mạch, nhiều năm trước đây, diện tích rừng ngập mặn ven sông, biển của Quỳnh Lưu không ngừng tăng lên và phát triển tốt. Lúc cao điểm, toàn huyện có trên 500 ha rừng ngập mặn và rừng phi lao ven biển. Tuy nhiên, gần đây diện tích rừng ngập mặn đang có xu hướng giảm mạnh, đến nay chỉ còn còn trên dưới 300 ha.
Nếu tình trạng phá rừng để nuôi tôm không được ngăn chặn kịp thời thì e rằng một ngày không xa, rừng phòng hộ ven sông, biển ở Quỳnh Lưu sẽ bị xóa sổ. (Nông Nghiệp Việt Nam 8/9) đầu trang(
Ngày 7-9, Vườn quốc gia Hoàng Liên và Công ty Lâm nghiệp Bảo Yên (Lào Cai) đã trao tặng 15 bếp sinh học Agrines và hơn 500 kg nhiên liệu là viên nén năng lượng cao cho các hộ gia đình đồng bào dân tộc Mông, ở xã Lao Chải, huyện Sa Pa, nhằm thay thế chất đốt bằng củi, hạn chế việc phá rừng ở vùng đệm của Vườn quốc gia Hoàng Liên.
Theo ông Đỗ Văn Dũng, Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Bảo Yên, bếp sinh học Agrines tiết kiệm tới 50% chi phí chất đốt và thời gian nấu so với bếp đun bằng củi, không có khói, dễ sử dụng và có độ bền cao. Giá mỗi chiếc bếp khoảng 500.000 đồng.
Điều đặc biệt, bếp sinh học sử dụng nguồn chất đốt là viên nén năng lượng cao, được sản xuất từ bìa bắp, vỏ gỗ, cành cây nhỏ, vụn gỗ, dăm bào… tức là nguồn phế thải từ các cơ sở sản xuất, chế biến gỗ. Để sản xuất viên nén năng lượng cao cung cấp cho người tiêu dùng, Công ty Lâm nghiệp Bảo Yên đã đầu tư hơn 10 tỷ đồng lắp đặt dây chuyền sản xuất viên nén năng lượng, tận dụng nguồn phế thải từ sản xuất, chế biến gỗ, tre, nứa… của Công ty, với công suất 12 nghìn tấn viên nén/năm. Viên nén năng lượng do Công ty Lâm nghiệp Bảo Yên sản xuất có nhiệt lượng hơn 4.000 calo, tỷ lệ tro dưới 2%, giá bán 3.000 đồng/kg, mỗi kg viên nén có thể đun nấu trong hai giờ liên tục.
Nhận thấy, lợi ích của bếp sinh học sử dụng viên nén năng lượng do Công ty Lâm nghiệp Bảo Yên sản xuất, Vườn quốc gia Hoàng Liên (Sa Pa - Lào Cai) đã liên kết, tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số (Mông, Dao, Giáy) đang sinh sống ở vùng ven, vùng đệm của Vườn quốc gia Hoàng Liên nên sử dụng loại bếp và nguồn chất đốt này, nhằm mục tiêu hạn chế phá rừng.
Ông Nguyễn Duy Thịnh, Phó Giám đốc Vườn quốc gia Hoàng Liên cho biết: “Hiện tại, ở các xã Hầu Thào, Lao Chải, Tả Van, Bản Hồ của huyện Sa Pa đang có hàng nghìn hộ dân sinh sống ở vùng ven và vùng đệm của Vườn quốc gia Hoàng Liên, sử dụng chất đốt hằng ngày từ gỗ, tre, nứa khai thác từ rừng tại đây. Chúng tôi chủ trương đưa bếp sinh học sử dụng viên nén năng lượng vào các hộ gia đình ở địa phương, vừa giải phóng sức lao động cho bà con, vừa góp phần bảo vệ rừng hiệu quả, bền vững”. (Nhân Dân 8/9) đầu trang(
Voọc là một loài linh trưởng quý hiếm, và nó cũng không thoát khỏi bàn tay con người. Chúng tôi tận mắt bắt gặp một vụ xẻ thịt voọc chà vá chân nâu (voọc ngũ sắc) quý hiếm...
Chúng tôi đang đi trên đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận thị trấn Vũ Quang, huyện Vũ Quang (Hà Tĩnh) thì một người cùng ngồi trên xe bán tải đề nghị dừng xe để ghé vào “nhà hàng voọc” tham quan.
Ông chủ nhà hàng tên K. dốc cái bao tải, đổ ra một con voọc đã chết ngoẻo. Tôi cúi xuống xem thì sực lên mùi hôi khó chịu. K. nói: “Mùi lông voọc còn hôi hơn mùi chồn chứ không phải mùi thịt ôi đâu. Con này vừa mới bắn chết đêm qua nên không cần bỏ tủ lạnh”.
Quá ngạc nhiên vì lần đầu nhìn thấy con voọc đẹp như tranh vẽ lại bị bắn chết nên ai cũng tò mò nhìn ngắm và xuýt xoa con thú quý. Tôi hỏi: “Đây là voọc Hà Tĩnh hay voọc chà vá chân nâu?”. K. nói: “Voọc chà vá chân nâu. Voọc ngũ sắc đấy. Thịt nó ngon hơn voọc Hà Tĩnh”.
Thấy tôi thắc mắc sao trông con voọc khá nhỏ. K bảo: “12kg là to rồi đấy. Tầm 15kg là loại voọc lớn nhất. Nhưng nhiều đợt tăm bở hơi tai cũng khó gặp. Con này thợ săn phải rình nó ngủ say trên ngọn cây cao mới bắn được”.
“Bắn trong Vườn quốc gia Vũ Quang ở ngay đây à?” - tôi hỏi tiếp. K. gật đầu và nói thêm: “Thuộc rừng Vũ Quang nhưng khu vực cheo leo sát biên giới Việt - Lào, cách đây khoảng 50km”.
Con voọc đã chết nhưng sắc màu lạ lẫm vẫn hiện sáng lung linh: chóp đỉnh đầu như dính một mũ bêrê màu đen mỏng mảnh. Khuôn mặt “tô” màu hồng nhạt loang đến mũi. Hai mi mắt và vùng cằm, miệng đều có màu trắng nhạt.
Toàn thân voọc phủ dày tấm áo lông nhiều màu. Hai cánh tay dài màu đen đến khuỷu tay chuyển màu trắng. Ngực từ màu đen đến màu xám trắng nối màu đen trên hai đùi. Đầu gối xuống cổ chân có màu nâu đỏ đậm như màu lông loài chim bã trầu. Cái đuôi thon dài hơn nửa mét màu trắng. Riêng lòng hai bàn tay, bàn chân như được đeo bốn cái găng bằng lớp da nâu sánh.
Đưa con voọc lên cao cho chúng tôi nhìn kỹ, K. nói: “Trước đây loài voọc này còn có cái đai lông màu trắng quanh bụng giống hệt cái thắt lưng, dân thợ săn quen gọi là voọc “lính”. Gần đây bỗng dưng không thấy bóng dáng voọc “lính” đâu nữa. Mỗi năm voọc chỉ đẻ một lần, mỗi lần đẻ một con vào cuối mùa xuân đầu mùa hạ mà thợ săn ngày một nhiều nên loài voọc này chắc đã bị tận diệt”.
Sau khi cân thử lần nữa, K. cầm cổ con voọc xách vào bếp để xẻ thịt. Chúng tôi lặng nhìn K. xẻ thịt voọc. K. bảo: “Voọc chà vá cùng họ với khỉ nhưng làm thịt lấy nguyên bộ da để nhồi bông thì mệt hơn nhiều”. Con voọc này có người mua bộ da 2 triệu đồng để nhồi bông nên mới bóc thế này, nếu không thì chỉ cần thui lông rồi cạo sạch là xong.
Sau khoảng 30 phút, hầu hết phần thân con voọc đã bóc tách rời khỏi bộ da. Nhìn chậu thịt, tôi hỏi: “Quán nằm gần vườn quốc gia, làm thịt voọc công khai thế này không sợ à?”. K. cười: “Quen biết nhau cả mà”.
Khi nghe tôi đề nghị K. bố trí cho tôi tham gia một chuyến săn voọc, K. liền bảo: “Không phải thợ săn chính hiệu không thể nào đi săn voọc. Thợ săn phải gùi lương thực, thực phẩm, đồ nghề đi tăm hàng tháng trời. Săn được con nào thì cho lính tráng mang “hàng” về ngay. Khi đã săn được kha khá, họ mới kết thúc chuyến đi chứ”.
K. còn cho biết thêm: “Thợ săn thú bao giờ vô rừng cũng mang theo chó săn. Tuy nhiên, riêng săn voọc thì phải đợi mùa. Mùa nắng nóng, voọc ở trong rừng sâu, nơi có nhiều hang đá lạnh nên rất khó tìm thấy để bắn. Mùa mưa lạnh voọc mới rời rừng sâu ra vùng có nhiều hoa trái, đó là mùa săn voọc bắt đầu.
Đi săn voọc thì thợ săn phải dựng lều, đóng chốt cách vùng rừng voọc trú ngụ dăm ba cây số. Từ đây thợ săn mới đi mai phục. Voọc là loài thú có thính giác rất đặc biệt. Hễ nghe một tiếng lá khô bị động là nó bay từ ngọn cây này sang ngọn cây kia ngay.
Nên một bước chân vô ý là có thể làm hỏng một bữa săn. Săn voọc cũng thất thường lắm, có đợt bắn được liên tục nhưng có đợt phải vài ba tháng mới hạ được một con”. Theo kinh nghiệm của K., muốn săn được voọc phải ngày ngủ, đêm thức. Biết voọc về, thợ săn phải nhất cử nhất động và đợi cho voọc ngủ say rồi mới bắn.
Khi tôi chuyển hướng sang hỏi “làm sao thợ săn mang lọt khẩu súng qua mắt các trạm gác kiểm lâm” thì K. chỉ cười cười...
Ngày 4-9, khi chúng tôi nêu tình trạng loài voọc ở Vườn quốc gia Vũ Quang bị bắn hạ và xẻ thịt với ông Đào Huy Phiên - giám đốc Vườn quốc gia Vũ Quang, ông Phiên thừa nhận có chuyện săn bắn voọc nhưng chưa thể bắt được một đối tượng nào.
Ông cho biết: “Tháng 9-2014 trong một cuộc truy đuổi thợ săn, kiểm lâm vườn quốc gia thu giữ được hai con voọc chà vá chân nâu, mỗi con trên 10kg. Do bị đuổi rát quá nên thợ săn ném lại hai con voọc này để thoát thân”.
Bàn về ý nghĩa cực quý hiếm của mười loài voọc đặc hữu, nằm trong danh mục nguy cấp của VN, trong đó voọc chà vá chân nâu cùng ba loài voọc khác như voọc Cát Bà, voọc mông trắng, voọc mũi hếch đang có nguy cơ bị diệt chủng rất cao, ông Phiên trăn trở: “Do người dân đi rừng không rành loài thú nào là động vật quý hiếm thuộc Sách đỏ của thế giới nên gặp là “xơi” ngay.
Vườn quốc gia rộng 57.000ha (10% diện tích tỉnh Hà Tĩnh), đa số rừng thuộc khu vực biên giới Việt - Lào nhưng chỉ có chín trạm, trại kiểm lâm canh giữ, cho nên thợ săn trốn tránh, chui lủi vác súng vô rừng thì rất khó phát hiện”.
Theo ông Phiên, bên cạnh tuần tra, kiểm soát, Vườn quốc gia Vũ Quang cần ráo riết tuyên truyền, giáo dục cho người dân biết voọc là động vật quý hiếm cần được ưu tiên bảo vệ. Nếu ai săn bắn, vận chuyển buôn bán chúng sẽ bị xử lý hình sự theo quy định của pháp luật. (Tuổi Trẻ 8/9) đầu trang(
“Hạt Kiểm lâm huyện Diễn Châu đã có văn bản kiến nghị UBND huyện Diễn Châu thành lập đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra Khu du lịch sinh thái Trại Bò ở xã Diễn Lâm - nơi vừa xảy ra hổ cắn cụt tay một phụ nữ”.
Chiều 7-9, ông Nguyễn Trọng Lễ, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Diễn Châu (Nghệ An), cho biết.
“Khu du lịch sinh thái Trại Bò có nhiều hạng mục và nuôi nhốt nhiều thú. Trước đây, chúng tôi và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Nghệ An cũng thường xuyên kiểm tra và thấy chuồng trại đầy đủ, được cấp phép nuôi hổ. Họ nuôi hơn 30 con hổ, hồ sơ đầy đủ lắm, chúng tôi cũng quản lý từ nhập khẩu và làm lý lịch từng con hổ một. Hiện họ đang hạn chế, không dám cho hổ sinh nhiều quá vì tốn kém. Một con hổ ăn mỗi ngày 5-7 kg thịt” - ông Lễ nói.
Chiều 6-9, chị Trần Thị Thanh Yến (21 tuổi, trú xã Lộc Thủy, huyện Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế) bị một con hổ trắng ở Khu du lịch sinh thái Trại Bò cắn nát tay trái. Hiện chị Yến vẫn phải cấp cứu tại BV Chấn thương Chỉnh hình Nghệ An. (Pháp Luật TP.HCM 8/9) đầu trang(
Tại khu du lịch sinh thái Trại Bò ở Nghệ An có 18 loài động vật quý với hơn 100 cá thể. Riêng hổ có 33 cá thể các loại, trong đó có 11 con hổ trắng xuất xứ từ Nam Phi và Cộng hòa Séc.
Tin tức cho hay, Dự án khu du lịch sinh thái Trại Bò (hay còn gọi là Khu sinh thái Mường Thanh) đóng tại xã Diễn Lâm, huyện Diễn Châu (Nghệ An) của "đại gia điếu cày" Lê Thanh Thản triển khai từ năm 2006, đến 2010 bắt đầu mở cửa đón khách. Tổng diện tích khu du lịch sinh thái Trại Bò rộng 100 ha, gồm 7 ha ao hồ, còn lại là đồi núi thấp.
Vào khoảng 10h30 ngày 23/8, chị Trần Thị Yến (21 tuổi) cùng gia đình đi tham quan khu vực nuôi hổ trắng. Thấy một số người cố trèo lên bức tường để xem hổ nên chị Yến cũng kê gạch, đứng vịn song sắt để ngó vào. Bất ngờ, một con hổ trắng đang nằm ngủ bỗng vùng dậy chồm lấy tay chị Yến đang níu ở song sắt.
Ngay sau đó, mọi người ôm lấy chị Yến để kéo ra nhưng con hổ vẫn cắn chặt bàn tay không chịu thả. Mãi đến khi đội bảo vệ phải lấy sào đâm thì mới đẩy con hổ đi ra, nhưng lúc đó cánh tay trái của chị Yến cũng đã đứt lìa.
Được biết, nơi chị Yến bị cắn lìa tay là khu nuôi nhốt hổ trắng được xây dựng cách đây mấy năm. Trước đó không lâu, Ban quản lý khu du lịch sinh thái Trại Bò đã cho hàn, gia cố các khung sắt bên ngoài để đảm bảo an toàn cho khách du lịch.
Các chuồng hổ là khung sắt cao khoảng 20 m, phía dưới được rào lưới B40 để ngăn du khách thò tay vào bên trong. Theo quan sát của PV, ở bên ngoài hàng rào có treo biển cảnh báo nhắc nhở du khách không đến quá gần hoặc trêu chọc các động vật nguy hiểm.
Nhìn bề ngoài những con hổ trắng này rất hiền, y hệt một chú mèo vô hại. Nhưng dù nuôi nhốt, hổ trắng vẫn là động vật hoang dã, việc chơi đùa cũng vô cùng nguy hiểm, thậm chí chúng sẵn sàng tấn công nếu cảm thấy bị đe dọa.
Theo một số công nhân, chị Yến gặp nạn là do đứng quá gần khu chuồng hổ, lại quá chủ quan vì nghĩ hổ trắng đang ngủ nên mới đưa điện thoại chụp ảnh, vì thế khi hổ vồ đã không kịp rút tay ra.
Theo thống kê, đến thời điểm hiện tại Khu du lịch sinh thái Trại Bò đang nuôi bảo tồn và sinh sản 18 loài động vật quý hiếm như hổ, gấu, tê giác, hà mã, bò tót, sư tử… với số lượng hơn 100 cá thể và 7 loài động vật thông thường khác.
Giá trị hàng đầu về mặt khoa học phải kể đến là 2 cá thể tê giác (1 con đực, 1 con cái) được nhập về từ Cộng hòa Nam Phi năm 2008. Sắp tới, đơn vị sẽ đưa về thêm nhiều loài động vật mới như hươu cao cổ, báo, beo, sư tử trắng và một số loài khác.
Trao đổi với PV, ông Nguyễn Văn Hải, Giám đốc khu du lịch sinh thái Trại Bò cho biết: Đây là tai nạn hi hữu duy nhất xảy ra từ trước đến nay. Sau khi xảy ra sự việc, khu du lịch đã nỗ lực đưa chị Yến đi cấp cứu và sẽ chi trả mọi chi phí điều trị cũng như hỗ trợ một khoản tiền nhất định cho chị Yến. Sau đó, khu du lịch đã tăng cường người hướng dẫn để tránh xảy ra việc đáng tiếc. (Người Đưa Tin 8/9) đầu trang(
Vào 18h ngày 7/9, một vụ cháy rừng thông nghiêm trọng đã xảy ra tại xã Thịnh Lộc (huyện Lộc Hà – Hà Tĩnh), thiêu rụi hơn 10 hec ta thông.
Theo người dân địa phương cho biết, họ phát hiện ngọn lửa bùng lên ở rừng thông tại khu vực rú Am, gần khu di tích Chùa Chân Tiên vào khoảng 18h hôm qua.
Nhận được tin báo UBND huyện Lộc Hà đã điều động hàng trăm cán bộ, chiến sĩ của lực lượng dân quân lực lượng kiểm lâm, Ban Quản Lí rừng phòng hộ Lộc Hà, cùng với nhiều người dân tại đây phối hợp tập trung chữa cháy.
Mặc dù nhân sự đông nhưng do trời tối, gió to, đám cháy bùng phát nhanh, lan rộng nên công tác chữa cháy gặp rất nhiều khó khăn.
Sau hơn 2h nỗ lực, lực lượng chức năng và người dân mới không chế được ngọn lửa. Theo thông tin ban đầu, đám cháy đã thiêu rụi hơn 10 hec ta thông. (Tiền Phong 8/9; Giáo Dục Và Thời Đại 8/9; Đời Sống Và Pháp Luật 8/9) đầu trang(
Bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, các đối tượng đã vận chuyển trái phép ngà voi lên biên giới để xuất sang Trung Quốc tiêu thụ với số lượng lớn…
Như tin tức báo Người Đưa Tin đã đưa, khoảng 21h30 ngày 13/8, tại khu vực tổ 29, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Công an thành phố Lào Cai nhận được nguồn tin báo từ quần chúng đã phát hiện, bắt giữ một đối tượng dùng xe máy biển kiểm soát 24B1 – 67.500 chở hai bao hàng có nhiều nghi vấn.
Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện bên trong 2 bao tải có chứa 43 sừng động vật (nghi là ngà voi) có trọng lượng 106kg. Tại cơ quan công an đối tượng vận chuyển tên là Lê Văn Tình (SN 1969), trú tại tổ 23, phường Phố Mới, thành phố Lào Cai. Thời điểm bị bắt, Tình đang vận chuyển cho chủ hàng là Tô Văn Ân (SN 1979), trú tại đội 8, xã Quang Kim, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
Tổ công tác đã tiến hành tạm giữ 2 đối tượng cùng vật chứng và yêu cầu 2 đối tượng này về trụ sở Công an thành phố Lào Cai để tiến hành điều tra xác minh làm rõ.
Ngay sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Lào Cai cũng vừa ra quyết định khởi tố đối tượng thứ 3 trong vụ án vận chuyển, buôn bán trái phép hơn 106 kg ngà voi từ Hà Nội lên Lào Cai. Đối tượng thứ 3 bị cơ quan điều tra khởi tố bắt tạm giam là Vũ Trường Tam, sinh năm 1984, trú tại tại huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
Theo cơ quan công an, đây là số ngà voi vận chuyển trái phép bị bắt giữ có trị giá khoảng 3 tỷ đồng, số ngà voi đang được vận chuyển trái phép qua biên giới sang tiêu thụ tại thị trường Trung Quốc.
Theo nguồn tin mà phóng viên nắm được, Vũ Trường Tam là người đã gom số ngà voi này cho các đối tượng khác để vận chuyển lên Lào Cai rồi đưa sang Trung Quốc tiêu thụ. Như vậy, đường dây này được hình thành xuyên Việt với mục đích vận chuyển trái phép ngà voi.
Sau khi gom được “hàng”, Tam sẽ liên hệ với ông "trùm" trên Lào Cai để vận chuyển cho số ngà voi này lên trên đó. Từ đó, các đối tượng này sẽ vận chuyển qua biên giới để xuất sang Trung Quốc Để nhằm thu lợi nhuận bất chính.
Đây không phải là vụ đầu tiên vận chuyển ngà voi trái phép qua biên giới. Rất nhiều vụ việc đã bị cơ quan Công an, Hải quan các cửa khẩu, sân bay phối hợp bắt giữ. Hầu hết, những đường dây này đều xuyên việt. Có thể, Việt Nam được coi là nơi trung chuyển cho đường dây vận chuyển trái phép ngà voi, động vật hoang dã xuyên quốc gia.
Trước đó, tại sân bay Tân Sơn Nhất, TP. Hồ Chí Minh, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay đã bắt giữ 1,39 kg sừng tê giác, 43,5 kg ngà voi dạng khúc, 3,68 kg sản phẩm chế tác từ ngà voi châu Phi, 1.000 cụm màn hình điện thoại Iphone và 193 cái điện thoại di động, laptop đã qua sử dụng. Các lô hàng này được vận chuyển từ châu Phi và Mỹ về Việt Nam để tiêu thụ.
Việc bắt giữ số ngà voi trái phép tại Lào Cai một lần nữa cho thấy đường dây vận chuyển trái phép số ngà voi này được hình thành khắp cả nước từ TP. Hồ Chí Minh, Đà Nắng, Hà Nội, Lào Cai…
Trở lại vụ việc vừa qua tại Lào Cai, các đối tượng gom và vận chuyển cho chủ hàng là Tô Văn Ân (SN 1979), trú tại đội 8, xã Quang Kim, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
Theo tìm hiểu của phóng viên, Tô Văn Ân sống ở địa bàn giáp biên giớiTrung Quốc nên rất có thể hắn đã móc nối với ông "trùm" bên Trung Quốc để thiết lập đường dây vận chuyển trái phép xuyên Việt này.
Hám lợi tiền bạc, Tô Văn Ân đã không làm ăn chân chính mà đi vào con đường trái phép. Theo nguồn tin mà phóng viên nắm được, trước đó, Tô Văn Ân làm nghề nương rẫy, thỉnh thoảng có đi vận chuyển thuê qua biên giới. Chính điều này đã giúp Ân móc nối và hình thành đường dây xuyên việt.
Nếu như, không được nguồn tin từ người dân cung cấp và bắt giữ các đối tượng, rất có thể 106 kg ngà voi trái phép kia sẽ được vận chuyển trót lọt qua biên giới.
Rất nhiều vụ vận chuyển trái phép ngà voi được phát hiện và bắt giữ, điều này đã khiến dư luận đặt ra câu hỏi số ngà voi ở đâu mà nhiều đến thế? Phải chăng số này được vận chuyển từ trong khu Tây Nguyên ra Hà Nội tập kết rồi vận chuyển lên Lào Cai tiêu thụ?
Bên cạnh đó, dư luận cho rằng, cần phải siết chặt lại công tác quản lý kiểm soát tại các cửa khẩu, sân bay để phát hiện, ngăn chặn kịp thời các vụ việc xảy ra.
Trong năm 2014 theo thống kê sơ bộ, Chi cục Hải quan Tân Sơn Nhất đã liên tục phát hiện và bắt giữ nhiều vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, tiến hành lập 282 biên bản vi phạm với trị giá tang vật hàng trăm tỷ đồng.
Riêng sản phẩm từ động vật hoang dã, cơ quan này đã phối hợp với các đơn vị phát hiện, bắt giữ 13,1kg sừng tê giác trị giá khoảng 15 tỉ đồng; 6 vụ việc vận chuyển trái phép ngà voi, tạm giữ 2 đối tượng, thu giữ 177 chiếc ngà voi với tổng trọng lượng 265kg; 100 sản phẩm thủ công mỹ nghệ làm từ ngà voi và 23,41kg sản phẩm chế tác từ ngà voi; tổng trị giá ước tính gần 26 tỷ đồng. (Người Đưa Tin 7/9) đầu trang(
Những năm qua, vùng đầm phá Tam Giang-Cầu Hai ở Thừa Thiên-Huế chịu tác động của nhiều yếu tố biến đổi khí hậu, nguồn lợi thủy sản ngày càng cạn kiệt, nhiều loài có giá trị kinh tế đang dần biến mất.
Thực trạng này đe dọa nghiêm trọng đến nguồn lợi thủy sản và hệ sinh thái, gây ảnh hưởng đến đời sống của các hộ dân làm nghề đánh bắt và khai thác trên vùng đầm phá. Trước thực trạng trên, tỉnh Thừa Thiên-Huế phối hợp với Trường Đại học Khoa học Huế thực hiện đề tài "Nghiên cứu ứng dụng bộ mô hình MIKE dự báo theo thời gian thực biến đổi của chế độ thủy văn và môi trường nước phục vụ cho phát triển bền vững kinh tế-xã hội vùng đầm phá Tam Giang-Cầu Hai."
Bằng phương pháp tiếp cận đa mục tiêu (thủy văn-sinh thái-kinh tế-xã hội-môi trường), tỉnh đã xây dựng được mô hình dự báo chất lượng nước trên nền mô hình MIKE (ứng dụng mô hình toán học dự báo xu thế biến đổi chất lượng nước), mở ra hướng mới trong việc nghiên cứu dự báo sự thay đổi dòng chảy và chất lượng nước trên lưu vực sông Hương và đầm phá Tam Giang-Cầu Hai.
Đồng thời, MIKE cũng làm cơ sở cho các nhà quản lý, nhà đầu tư có tầm nhìn chiến lược lâu dài trong công tác quy hoạch đối với các lưu vực sông Hương và đầm phá Tam Giang-Cầu Hai.
Tỉnh Thừa Thiên-Huế cũng đã phối hợp với các cơ quan chức năng triển khai thực hiện xây dựng 13 khu bảo vệ thủy sản trên đầm phá Tam Giang-Cầu Hai, với tổng diện tích bảo vệ nghiêm ngặt hơn 186ha đồng thời tiến hành quy hoạch, giải tỏa, sắp xếp nò sáo trên toàn vùng đầm phá; trao quyền quản lý mặt nước cho các chi hội nghề cá nhằm tăng cường công tác quản lý, bảo vệ bãi giống, bãi đẻ, bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
Huyện Quảng Điền giao cho 14 chi hội nghề cá ở các địa phương quản lý, bảo vệ, xây dựng quy chế hoạt động, phân định phạm vi khai thác đánh bắt nguồn lợi thủy sản cho từng loại nghề trên diện tích hơn 3.000ha diện tích mặt nước đầm phá Tam Giang-Cầu Hai. Tình trạng khai thác ồ ạt nguồn lợi thủy sản trên đầm phá Tam Giang-Cầu Hai hiện không còn xảy ra, nguồn lợi thủy sản dần được tái tạo. Ở đây, ngư dân được hướng dẫn về phương pháp bảo vệ, bảo tồn và tái tạo nguồn lợi thủy sản, trong đó có thả một lượng lớn cá dìa giống vào môi trường tự nhiên.
Việc bảo vệ nghiêm ngặt khu bảo vệ thủy sản tạo điều kiện các loại thảm thực vật, rong, cỏ... phát triển tốt. Đây chính là nguồn thức ăn và là nơi trú ẩn của các loại cá. Riêng tại các khu bảo vệ thủy sản Vũng Mệ xã Quảng Lợi và Cồn Máy bay xã Quảng Ngạn (huyện Quảng Điền), ngư dân vừa nâng cao ý thức bảo tồn đa dạng sinh học, vừa có thêm thu nhập từ hoạt động khai thác các nguồn lợi thủy sản mang lại.
Kết quả sau mỗi vụ thu hoạch, cộng đồng ngư dân địa phương quanh khu bảo vệ thủy sản Vũng Mệ và Cồn Máy bay đã thu lợi được vài trăm triệu đồng.
Bên cạnh đó, tỉnh Thừa Thiên-Huế cũng đang khuyến khích phát triển các nghề thân thiện với môi trường như nuôi rong câu, nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường, tạo sinh kế bền vững cho người dân.
Đối với các hoạt động du lịch sinh thái trong các khu bảo vệ thủy sản, tỉnh cho phép các địa phương tổ chức khai thác khi có sự tham gia và giám sát của cộng đồng ngư dân địa phương…
Hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai có diện tích hơn 22.000ha, lớn nhất Đông Nam Á. Trong vùng có 45 xã thuộc 5 huyện, thị xã (Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc), với gần 415.000 người sinh sống, bằng 36% dân số của toàn tỉnh.
Đây là vùng đầm phá vừa có diện tích lớn, vừa có tính đa dạng sinh học cao ở cả ba cấp độ sinh thái, loài và nguồn gen; có ý nghĩa lớn trong việc dự trữ sinh quyển, duy trì, bảo tồn đa dạng sinh học; đồng thời là vùng xung yếu về môi trường, nhạy cảm về sinh thái, nhất là đối với việc phát triển các ngành du lịch, nông nghiệp và thủy sản. (Vietnam + 7/9) đầu trang(
Tổ chức Động vật Châu Á vừa cứu hộ thành công một cá thể gấu ngựa tại xã Thượng Yên Công, Tp. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Chiều 7/9, Tổ chức Động vật Châu Á cho hay, cá thể gấu ngựa cái vừa được giải cứu thành công được đặt tên Honey, nặng khoảng 70 kg, nuôi nhốt từ khi còn nhỏ. Đây là những cá thể gấu được chủ nuôi tự nguyện giao nộp sau khi được các cơ quan chức năng của Tỉnh Quảng Ninh đặc biệt là UBND Tỉnh và Chi cục Kiểm lâm Quảng Ninh thuyết phục, vận động để đưa về Trung tâm Cứu hộ Gấu Việt Nam nuôi cứu hộ.
Quá trình cứu hộ cá thể gấu này được tiến hành đặc biệt khẩn trương ngay sau khi nhận được tintừ Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh vào chiều ngày 4/9. Tổ chức Động vật Châu Á đã nhanh chóng chuẩn bị các trang thiết bị, đồng thời cử các chuyên gia, bác sỹ và nhân viên chăm sóc của Trung tâm Cứu hộ Gấu Việt Nam cứu hộ gấu Honey ngay trong ngày hôm sau 5/9.
Ngay tại địa điểm cứu hộ, các cán bộ thú y của Tổ chức đã thực hiện khám sức khỏe tổng thể cho gấu, bao gồm kiểm tra răng, tai, mắt, nội soi ổ bụng, cơ khớp, lấy mẫu máu để giảm thiểu việc gây mê gây ảnh hưởng đến sức khỏe của gấu.
Cá thể gấu được đưa về Trung tâm Cứu hộ Gấu Việt Nam an toàn vào 19:30 tối cùng ngày. Theo đánh giá của Tổ chức Động vật Châu Á , sự thành công của công tác cứu hộ phụ thuộc rất nhiều vào sự hợp tác của chủ nuôi gấu, sự phối hợp nhiệt tình của các cơ quan chức năng, đặc biệt là sự hỗ trợ trực tiếp của Chi cục Kiểm lâm Quảng Ninh. Trong ngày cứu hộ gấu Honey, đại diện Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh, hạt Kiểm lâm Uông Bí, và chính quyền xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí cũng có mặt, cùng Tổ chức Động vật Châu Á hoàn thiện các thủ tục cứu hộ.
Theo Tổ chức Động vật Châu Á, kể từ tháng 11 năm 2014 tới nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã có 35 cá thể gấu bị chết. Tính đến gấu ngựa Honey, Tổ chức Động vật Châu Á đã cứu hộ được 17 cá thể gấu từ Quảng Ninh, cả tỉnh còn 16 cá thể gấu nuôi nhốt. Nạn gấu chết hàng loạt tại Quảng Ninh cũng phản ánh thực tế tồn tại trên cả nước.
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cung cấp tại thời điểm tháng 3/2015 cho biết 700 cá thể gấu đã chết chỉ trong vòng năm 2014 và hiện Việt Nam còn 1.245 cá thể gấu ngựa nuôi nhốt. (VietQ 7/9) đầu trang(
Quảng Trị là tỉnh có hệ đa dạng sinh học phong phú với hệ thực vật gần 2.500 loài bậc cao, trong đó có 51 loài quý hiếm đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam.
Bên cạnh đó, thành phần loài, nhóm động vật cũng rất đa dạng và chiếm tỷ lệ khá lớn phân bổ dọc theo dãy Trường Sơn và các vùng sinh thái đảo Cồn Cỏ. Do đó, hệ sinh thái các khu bảo tồn thiên nhiên và hệ sinh thái rừng ở Quảng Trị đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ nguồn nước, điều tiết dòng chảy ở các lưu vực, hạn chế lũ lụt, hạn hán và đặc biệt là bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH), giữ cân bằng môi trường sống.
Những năm qua, để bảo tồn ĐDSH tỉnh Quảng Trị đã thành lập được 3 khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) gồm: KBTTN Đakrông ở phía tây nam, KBTTN bắc Hướng Hoá ở phía tây bắc và Khu bảo tồn thiên nhiên đường Hồ Chí Minh ở huyện Hướng Hoá. Đây là nơi bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và ĐDSH bao gồm quần thể các động, thực vật quý hiếm như: Gà lôi lam mào trắng, voọc Hà Tĩnh, sao la, mang lớn, thỏ vằn, đinh tùng, lan hài, trầm hương...trong đó có nhiều loài động, thực vật đang bị đe dọa tuyệt chủng.
Trên thực tế những tác động của biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống con người cũng như ảnh hưởng đến công tác bảo tồn ĐDSH. Mức độ thiệt hại do lũ lụt và hạn hán ngày một nghiêm trọng do việc khai thác rừng đầu nguồn bất hợp lý… đã tác động đến thảm thực vật rừng, nơi giữ và cung cấp nguồn nước, đồng thời hạn chế xâm nhập mặn ở vùng hạ lưu.
Do vậy, nếu bảo vệ được rừng, sẽ góp phần bảo vệ đa dạng sinh học, làm cho môi trường được duy trì bền vững. Hiện nay ở Quảng Trị còn có khu rừng nguyên sinh Rú Lịnh (Vĩnh Linh) với diện tích 170 ha (trong đó khoảng 100 ha còn rừng). Đây là một khu rừng tự nhiên còn sót lại giữa đồng bằng. Rừng Rú Lịnh có thảm thực vật thuộc kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm với số loài phong phú, có nguồn gốc chủ yếu từ khu hệ thực vật cổ Á nhiệt đới.
Rú Lịnh hiện có trên 200 loài thuộc 72 họ, nhiều nhất là Euphorbiaceae (23 loài); Rubiaeae (10 loài); Lauraceae (8 loài). Trong đó có nhiều loài thân gỗ hiếm sống lâu năm như lim xanh, gụ lau, huỳnh, thị rừng, dẻ rừng; nhiều cây làm thuốc như trầm hương, ngũ gia bì...Đặc biệt, rừng Rú Lịnh còn có loại cây lịnh nước, một loại cây sinh thủy khá dồi dào; động vật trong Rú Lịnh có đến 73 loài.
Ngoài ra còn có đảo Cồn Cỏ với diện tích rừng trung bình khoảng hơn 220 ha mang đặc trưng đa dạng sinh học cao, đa dạng sinh cảnh, cấu tạo địa hình phức tạp. ĐDSH của hệ sinh thái trên cạn và hệ sinh thái biển ở đảo Cồn Cỏ khá đặc thù và phong phú nên hiện nay tỉnh Quảng Trị đang xây dựng Khu bảo tồn biển đảo Cồn Cỏ.
Trằm Trà Lộc ở Hải Xuân (Hải Lăng), đầm Hà Côộc ở Gio Mai (Gio Linh) là những khu rừng sinh thái và rừng ngập mặn được ví như “lá phổi xanh” giữ nguồn nước, tạo môi trường sinh thái trong lành cho người dân trong vùng. Đặc biệt với đầm Hà Côộc nhờ người dân địa phương xây dựng quy chế bảo vệ nên hệ thực vật và động vật ngày càng phong phú, là chốn trú ngụ bình yên của hàng chục đàn cò trắng sau một ngày rong ruổi kiếm ăn trở về.
Bên cạnh những nỗ lực trong việc xây dựng các KBTTT trong những năm qua tỉnh Quảng Trị đã và đang triển khai nhiều chương trình, dự án bảo tồn đa dạng sinh học, trong đó có dự án “Hành lang bảo tồn đa dạng sinh học tiểu vùng Mêkông mở rộng (BCC)” triển khai từ năm 2012 ở 12 xã của 2 huyện Đakrông và Hướng Hóa.
Dự án nhằm thiết lập hệ thống hành lang ĐDSH nhằm phục hồi và duy trì tính liên kết của hệ sinh thái trong khu vực (liên kết khu vực 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia); bảo đảm dịch vụ hệ sinh thái rừng bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng trung Trường Sơn, đem lại lợi ích sinh kế cho cộng đồng địa phương nhằm tăng trưởng kinh tế khu vực; xây dựng được kế hoạch quản lý và thực thi khung chính sách của Trung ương và địa phương nhằm đạt được tác động lâu dài của dịch vụ hệ sinh thái bền vững, kỳ vọng sẽ thiết lập được các hành lang ĐDSH với kế hoạch quản lý và đưa vào hoạt động trong năm 2018.
Tuy nhiên để hình thành được hành lang ĐDSH thì vấn đề quan trọng đầu tiên là quy hoạch sử dụng đất, các loại rừng, tài nguyên rừng và phải giữ được nguồn nước nên cần phải chú trọng bảo tồn nguồn nước khi thiết kế hành lang bảo tồn ĐDSH. Dự án sẽ hỗ trợ liên kết các cảnh quan rừng giàu ĐDSH ở miền Trung Việt Nam, nhằm tăng khả năng cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái cần thiết để phát triển bền vững sinh kế cộng đồng và tăng đầu tư cho các ngành thuỷ điện, giao thông, nước và an toàn thực phẩm. Dự án sẽ thúc đẩy việc sử dụng bền vững tài nguyên, phục hồi và tăng tính sản xuất của các khu vực cảnh quan này.
Mặc dù đã có những nỗ lực nhất định trong công tác bảo tồn ĐDSH nhưng do những hạn chế về kỹ thuật, quản lý, nguồn nhân lực, tài chính và đặc biệt là do nhận thức của cộng đồng nên hiệu quả bảo vệ ĐDSH vẫn chưa cao. Do đó, tỉnh Quảng Trị đang xây dựng bộ cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh và thống nhất về tính ĐDSH và nguồn tài nguyên sinh học trên lãnh thổ tỉnh Quảng Trị.
Dự kiến sẽ có 27 dự án triển khai tại các địa phương để bảo tồn và phát triển ĐDSH trên cạn và ĐDSH các vùng đất ngập nước, bảo tồn và phát triển tính ĐDSH nông nghiệp nhằm bảo tồn có hiệu quả hệ ĐDSH mang lại hiệu ích thiết thực đối với đờ i sống con người, đảm bảo sự phát triển bền vững của trái đất. Đặc biệt là bảo tồn, phục hồi bền vững nguồn tài nguyên ĐDSH của tỉnh, góp phần phát triển KT-XH, môi trường, xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. (Báo Quản Trị 7/9) đầu trang(
Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) đã từng là nơi có diện tích rừng ngập mặn (RNM) đứng thứ 2 thế giới sau RNM Amazôn. Nhưng hiện nay, tài  nguyên RNM ở đây đang biến đổi mạnh và chủ yếu theo hướng tiêu cực, gây ra những hậu quả xấu đối với môi trường sinh thái và nền kinh tế. Vì vậy, việc nghiên cứu sự biến đổi tài nguyên rừng ngập mặn ở ĐBSCL và định hướng bảo tồn, phát triển được đặt ra cấp thiết.
Với diện tích tự nhiên 39.734 km2, từ lâu ở ĐBSCL đã hình thành và phát triển các hệ sinh thái tự nhiên rất độc đáo. Đó là hệ sinh thái rừng Tràm U Minh, hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển, hệ sinh thái nông nghiệp. Tại đây có nhiều khu bảo tồn thiên nhiên, vườn chim, sân chim tự nhiên... rất hấp dẫn cho du lịch sinh thái. Đặc biệt, hệ sinh thái rừng ngập mặn ở các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre... có vai trò cực kỳ quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, giữ cân bằng môi trường sinh thái toàn khu vực. Vấn đề đặt ra hiện nay là cần quan tâm bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn ở ĐBSCL.
ĐBSCL hiện có khoảng 347.500 ha rừng các loại, trong đó rừng tự nhiên là 53.700 ha, rừng trồng là 294.500 ha. Như vậy, diện tích rừng che phủ trong toàn vùng đạt chưa đến 10% diện tích đất tự nhiên.
Trong đó, tổng diện tích rừng ngập mặn (chiếm cứ trên các bãi bồi phù sa ven biển, lưu vực của cửa sông thông ra biển và các đầm trũng nội địa) chưa đến 100.000 ha, tập trung ở các tỉnh Cà Mau (58.285 ha), Bạc Liêu (4.142 ha), Sóc Trăng (2.943 ha), Trà Vinh (8.582 ha), Bến Tre (7.153 ha), Kiên Giang (322 ha), Long An (400 ha)... Vùng rừng ngập mặn này luôn luôn chịu sự chi phối của thủy triều biển. Hệ thực vật rừng ngập mặn phổ biến ở vùng ven biển ĐBSCL là các loài mắm trắng, đước.
Những năm qua, rừng ngập mặn ven biển bị tác động làm suy giảm mạnh mẽ do các nguyên nhân: phá rừng làm ruộng rẫy, phá rừng lấy đất nuôi trồng thủy sản, phá rừng lấy củi, gỗ... Theo số liệu thống kê cho thấy, trong giai đoạn 1980-1995 các tỉnh ĐBSCL đã bị mất 72.825 ha rừng, bình quân hàng năm bị mất 4.855 ha với tốc độ 5%/năm.
Những năm gần đây, công tác bảo vệ và phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển được các tỉnh trong khu vực quan tâm thực hiện, đặc biệt là dự án trồng 5 triệu ha rừng của quốc gia và các dự án hợp tác quốc tế như: Dự án Phát triển và bảo vệ các vùng đất ngập nước ven biển tại các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh; Dự án Khu dự trữ quốc gia U Minh Thượng, Chương trình sử dụng bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học đất ngập nước khu vực sông Mê Công...
Tuy nhiên, những tác động tiềm ẩn vẫn đang tiếp tục đe dọa hệ sinh thái rừng ngập mặn ở ĐBSCL. Tình hình đó đòi hỏi phải có các giải pháp hữu hiệu trong quy hoạch các khu bảo tồn đất ngập nước ven biển, trong tổ chức khai thác kinh tế tài nguyên gắn liền với phát triển hệ sinh thái đặc thù này để bảo vệ và phát triển bền vững khu vực ĐBSCL.
Bảo vệ và phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển đang là một trong những yêu cầu cấp bách để đảm bảo sự phát triển bền vững khu vực ĐBSCL thời gian tới. Để đảm bảo yêu cầu, nhiệm vụ này, cần tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản sau đây: Quy hoạch môi trường trong phát triển KT-XH ở các vùng ven biển, đặc biệt là quy hoạch môi trường cho bảo vệ và phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn ở ĐBSCL, đảm bảo cho sự phát triển bền vững trong khu vực. Phân vùng sinh thái trong quy hoạch bảo tồn và phát triển các vùng đất ven biển, trong đó tập trung tiếp cận tổng hợp đa ngành, đa mục tiêu nông-lâm-ngư và bảo vệ môi trường trong mục tiêu phát triển KT-XH.
Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án bảo tồn và phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển, các dự án trồng mới và tái sinh rừng ngập mặn ven biển; nghiêm cấm bao ví bãi bồi cửa sông để nuôi trồng thủy sản làm hủy hoại diễn thế tự nhiên bồi tụ và phát triển rừng ngập mặn non trẻ. Đồng thời, tiến hành quy hoạch các khu bảo tồn đất ngập nước và bảo vệ đa dạng sinh học của vùng đất ngập nước, các sân chim tự nhiên, các rừng đặc dụng ngập mặn phòng hộ ven biển có giá trị như là lá chắn bảo vệ môi trường ở ĐBSCL.
Tiếp cận sinh thái để nghiên cứu sâu sắc mối quan hệ của các thành phần trong hệ sinh thái rừng ngập mặn, đặc biệt là thành phần các loài về đa dạng sinh học, môi trường sống,  điều kiện trú ngụ và phát sinh, phát triển của cả quần thể trong hệ sinh thái, để tăng cường các khả năng phát triển nguồn lợi về kinh tế và sinh thái trong khu vực. Đánh giá khả năng tự làm sạch và mức độ chịu tải của hệ sinh thái rừng ngập mặn nhằm tránh các tác động bất lợi đến hệ sinh thái, làm tổn thất các giá trị quý giá của hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển trong khu vực ĐBSCL.
Tăng cường vai trò quản lý nhà nước của các cấp chính quyền tại địa phương, đặc biệt là chính quyền cơ sở và cơ quan chuyên ngành lâm nghiệp, môi trường trong công tác bảo vệ và phát triển hiệu quả hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển ở khu vực ĐBSCL. Nhà nước cần phải nghiêm cấm mọi hoạt động khai thác gỗởcác vùng rừng tự nhiên. Mọi hành vi phá rừng bừa bãi phải được xử phạt thích đáng.
Tăng nhanh diện tích phủ xanh của thảm rừng ngập mặn phòng hộ ven biển, bảo vệ rừng ngập mặn khỏi nạn bị chặt phá làm củi, gỗ, nuôi trồng thủy sản. Theo dõi giám sát chất lượng thảm rừng ngập mặn đã bị suy giảm và các hệ sinh thái rừng ngập mặn để kịp thời xử lý các vấn đề gây tổn thất đến tài nguyên nước, tài nguyên đất và tài nguyên sinh học, đảm bảo cho độ ổn định của hệ sinh thái này.
Cần cấp thiết xây dựng một quy hoạch tổng thể sử dụng các vùng rừng ngập mặn, tiến hành khảo sát và nghiên cứu chi tiết về tình trạng hiện thời của rừng ngập mặn, diện tích ao nuôi tôm, diện tích đất lở, đất bồi ở tất cả các tỉnh ven biển có rừng ngập mặn thông qua ảnh vệ tinh, ảnh máy bay và nghiên cứu thực địa thực hiện bởi cán bộ chuyên môn. Các kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học cho quy hoạch tổng thể sử dụng đất, tài nguyên một cách hợp lý và bền vững ở các vùng ven biển.
Nghiên cứu phát triển các ngành nghề nuôi trồng thủy sản ở các vùng ven biển như nuôi sò, nuôi vạng hoặc các loài cá có giá trị kinh tế cao để dần dần thay thế cho nghề nuôi tôm ở các vùng rừng ngập mặn. Cũng cần thiết phải cải thiện cơ cấu và đa dạng hóa nuôi trồng thủy sản để đáp ứng nhu cầu khắt khe.
Bên cạnh đó, cần đi đôi giữa việc bảo vệ và phát triển rừng với các biện pháp quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội như: chiến lược về giải quyết việc làm với chính sách ưu tiên thu hút lao động dư thừa ở nông thôn (trẻ tuổi, học vấn thấp, không có nghề); đẩy mạnh khai thác tài nguyên du lịch ở các vùng RNM ở các khu bảo tồn, vườn quốc gia để tăng thêm thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân đồng bằng. (Hội Nông Dân Việt Nam 7/9) đầu trang(
Huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên có diện tích tự nhiên lớn nhất toàn tỉnh Điện Biên, gồm 157.372,94ha. Trong đó, diện tích có rừng 72.555,05ha, tỷ lệ độ che phủ của rừng đạt 46%.
Tuy nhiên, đó là con số thống kê báo cáo của Hạt Kiểm lâm Mường Nhé tính đến ngày 31-12-2014. Thực tế hiện nay, diện tích rừng ở Mường Nhé ngày càng bị thu hẹp bởi nạn di cư tự do của một số đồng bào dân tộc Mông, khiến nhiều cánh rừng bị “trảm” chỉ sau một đêm.
Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, từ năm 2013 đến nay, có trên 474ha rừng sản xuất và rừng phòng hộ bị chặt phá. Tính riêng từ đầu năm 2015 đến nay, có 143ha rừng ở Mường Nhé bị chặt phá. Điều này khiến cho lực lượng Kiểm lâm trên địa bàn dường như bất lực trước nạn phá rừng của dân di cư tự do tràn vào Mường Nhé trong suốt thời gian qua.
Ông Lù Văn Thanh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm, huyện Mường Nhé, cho biết: Từ đầu năm đến nay chúng tôi đã phát hiện 16 vụ phá rừng trái pháp luật, xảy ra ở các xã như: Leng Su Sìn, Chung Chải và Mường Nhé. Đối tượng phá rừng chủ yếu là người dân di cư tự do, cũng có một số phần tử là người dân sở tại, song mục đích phá rừng trái pháp luật chủ yếu người dân thiếu đất sản xuất.
Hình  thức phá rừng hiện nay ở Mường Nhé ngày một tinh vi; thường tổ chức vào ban đêm, cắt cử người cảnh giới. Có những cánh rừng ban ngày chúng tôi đi tuần tra vẫn còn xanh tốt, chỉ sau một đêm 3-4ha rừng bị “trảm” tan hoang. Nhiểu vị trí phá rừng phát hiện từ 15 – 20 người cùng phá rừng tập thể và sử dụng công cụ cơ giới (cưa xăng), khi bị phát hiện đối tượng tìm mọi cách lẩn trốn, chống lại người thi hành công vụ. Thậm chí, ở một số xã người dân lấn chiếm đất bằng cách ken cây cho chết hoặc chặt từng đám nhỏ sau đó trồng xen cây lương thực trên đất lấn chiếm.
Không những thế, các đối tượng vi phạm còn khai báo tên giả, địa chỉ giả để đánh lạc hướng các lực lượng chức năng, khiến việc xử lý gặp nhiều khó khăn và phức tạp. Chính vì vậy, huyện Mường Nhé mới chỉ xử lý được khoảng 30% trong tổng số các vụ phá rừng đã được phát hiện.
Mặc dù tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng ở Mường Nhé diễn ra khá gay gắt và phức tạp. Song việc giải tỏa, thu hồi diện tích rừng, đất rừng bị phá và lấn chiếm trái pháp luật để phục hồi dường như còn khó hơn gấp bội. Một mặt do chủ rừng và do chính quyền các cấp chưa thực hiện quyết liệt việc thu hồi diện tích đất, rừng bị tàn phá. Thứ nữa, do gặp phải một số đối tượng chống đối, ngăn cản của số đông các đối tượng khi bị giải tỏa, thu hồi đất lấn chiếm nên tình trạng lặp lại các vụ việc tương tự vẫn xảy ra và kéo dài trong nhiều năm không xử lý dứt điểm.
Cùng với đó, sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành, các lực lượng trong việc bảo vệ rừng chưa chặt chẽ. Không ít người cho rằng bảo vệ rừng là việc của kiểm lâm. Bên cạnh đó, UBND các xã được Nhà nước giao quản lý rừng nhưng không đủ điểu kiện về nhân lực, vật lực để tổ chức, triển khai mạnh mẽ công tác bảo vệ rừng. Đặc biệt với địa bàn luôn nóng về nạn di cư như Mường Nhé.
Mặt khác, lực lượng kiểm lâm trên địa bàn mỏng so với diện tích rừng, hiện nay mỗi kiểm lâm viên ở Mường Nhé đang phải quản lý trên 5.000ha rừng. Trong khi quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 07/2012/QĐ-TTg, ngày 08/12/2012 với đặc thù như huyện Mường Nhé, mỗi kiểm lâm viên chỉ quản lý từ 500 – 1.000ha rừng.
Nếu tính theo diện tích rừng của huyện Mường Nhé tại thời điểm này thì huyện cần có trên 50 kiểm lâm viên. Thế nhưng hiện nay, toàn bộ công chức của Hạt Kiểm lâm Mường Nhé có tổng số 23 người; một con số rất ít so với diện tích rừng của Mường Nhé 72.080ha rừng; đặc biệt Mường Nhé lại có đặc thù là vấn nạn di cư. (Tài Nguyên Và Môi Trường 7/9) đầu trang(
Nhày 4/9, phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi cảnh báo nguy cơ cháy rừng gần bể chứa nhà máy lọc dầu Dung Quất do người dân đốt dọn sau khi khai thác gỗ ở khu vực núi Nam Châm thuộc hành lang an toàn nhà máy lọc dầu.
Do vậy, UBND huyện Bình Sơn và Công ty lọc hóa dầu Bình Sơn sớm hoàn thành việc bồi thường, giải phóng mặt bằng hành lang an toàn và chuyển đổi khu vực rừng trên thành rừng phòng hộ. (Pháp Luật TP.HCM 5/9) đầu trang(
Từ 12 – 14/9/2015, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) – tổ chức hoạt động xã hội trong lĩnh vực bảo tồn động vật hoang dã tại Việt Nam – sẽ tổ chức chường trình tập huấn và tuyển tình nguyện viên.
Đây là cơ hội để các bạn trẻ được tham gia hoạt dộng xã hội ý nghĩa. Chương trình sẽ đem đến kiến thức bổ ích về thế giới động vật hoang dã cùng các kỹ năng giao tiêó, làm việc nhóm, tổ chức triển lãm... xem thêm thông tin chi tiết và đăng kí tham gia chương trình tại http://bit.ly/1MSjoYx. (Phụ Nữ Việt Nam 7/9) đầu trang(
Khoảng 8 giờ, ngày 4/9, tại chợ Tháp Mười (huyện Tháp Mười), lực lượng Công an tỉnh Đồng Tháp phối hợp với Công an thị trấn Mỹ An tiến hành kiểm tra phát hiện và bắt quả tang 4 đối tượng gồm: Huỳnh Văn Đạt, Lý Anh Huy, Võ Văn Thảo và Trương Thị Cẩm Thi, cùng ngụ thị trấn Mỹ An, huyện Tháp Mười có hành vi mua bán động vật hoang dã trái phép.
Tại hiện trường, lực lượng chức năng đã lập biên bản thu giữ trên 69kg rắn các loại. Lực lượng công an bàn giao cho Hạt Kiểm lâm huyện Tháp Mười thả các động vật nói trên về với thiên nhiên. (Báo Đồng Tháp 5/9; Công An Nhân Dân 5/9) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Từ nguồn tài chính chi trả của Nhà nước, người dân các địa phương miền núi hăng hái giữ rừng có trách nhiệm hơn. Lực lượng kiểm lâm dù đông đúc, tinh nhuệ cỡ nào, nhưng nếu không có sự hợp tác của người dân, cũng không thể nào kiểm soát nổi rừng.
Không thể phủ nhận tác dụng, hiệu ứng của việc giao rừng cho người dân bảo vệ. Đó là chủ trương mang lại nhiều lợi ích, là giữ được rừng bình yên và lớn hơn đảm bảo an sinh, giảm nghèo bền vững cho miền núi - vốn là khu vực đặc biệt khó khăn, đang rất cần những chính sách lớn mang tính đột phá.
Nhưng, câu chuyện giao phó tài sản thiên nhiên cho các “ông chủ lớn” (gồm ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, các nông - lâm trường) đến các “ông chủ nhỏ” (cộng động dân cư, nhóm hộ gia đình, cá nhân) của ngành nông nghiệp gợi nhiều suy ngẫm. Sự thật chứng minh rằng, diện tích rừng giao càng lớn thì mức độ xâm hại tài nguyên theo tỷ lệ thuận.
Đơn cử, chủ rừng quản lý hàng chục nghìn héc ta như Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh nhiều năm đã không thể xua đuổi được đối tượng khai thác lâm sản và khoáng sản trái phép. Hàng trăm héc ta rừng bị xâm hại để mở đường, khai thác lâm sản trái phép. Các vụ phá rừng quy mô lớn thời gian qua đều xảy ra ở các ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ. Gần đây nhất là “điểm nóng” rừng phòng hộ Phú Ninh. Cả doanh nghiệp và người dân cũng "đua nhau" tàn phá mảnh rừng mà Nhà nước đã giao cho họ trọng trách bảo vệ.
Vì sao các điều khoản ký kết trong hợp đồng giao khoán bị xem nhẹ? Ông Nguyễn Xuân Phước - Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Phú Ninh giải thích, lỗ hổng nằm ở chỗ, hợp đồng giao khoán chỉ ghi diện tích nào bị phá thì Nhà nước không chi trả tiền, vả lại chế tài xử lý cũng chưa rõ ràng nên chưa “trói” trách nhiệm người được giao giữ rừng.
Trong 11 nghìn héc ta rừng tại đây, có ít nhất 2.000ha đất rừng bị xâm hại, trồng cây trái phép nhưng nhiều năm chính quyền hai huyện Núi Thành, Phú Ninh và ngành lâm nghiệp vẫn chưa có biện pháp xử lý triệt để. Vị lãnh đạo chủ rừng này cũng thừa nhận nghịch lý, trong diện tích đã giao cho nhóm hộ trước đó đã bị phá để trồng keo và cũng có diện tích rừng tự nhiên bị triệt hạ sau khi giao. Sai sót có phần lỗi do phương pháp… đo đạc. Sâu xa hơn, phá rừng nơi đây dai dẳng, chính quyền lẫn các ngành chức năng không thể ngăn chặn tận gốc, các vụ việc xảy ra vừa qua chỉ là … giọt nước tràn ly.
Việc UBND tỉnh vừa có văn bản chỉ đạo các ngành liên quan, chính quyền địa phương tăng cường các biện pháp kiểm tra, xử lý hành vi phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép trên địa bàn tỉnh được xem như “mệnh lệnh” cứng rắn giải quyết hậu quả lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép để trồng rừng! (Báo Quảng Nam 7/9) đầu trang(
Bình Thuận là một trong các tỉnh có bờ biển dài, trước các tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH), nhiều vị trí bị xâm thực, sạt lở như: Bình Thạnh, Chí Công, Phước Thể (Tuy Phong); Phan Rí Thành, Hòa Thắng (Bắc Bình); Mũi Né, Thiện Nghiệp, Phú Hài, Tiến Thành (Phan Thiết); Thuận Quý, Tân Thành (Hàm Thuận Nam); Tân Tiến, Tân Bình (La Gi); Sơn Mỹ (Hàm Tân), bờ biển thuộc huyện đảo Phú Quý…
Những năm qua, được sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương, Tỉnh đã đầu tư xây dựng nhiều đoạn kè chống xâm thực bờ biển, góp phần khắc phục, bảo vệ bờ biển tại một số vị trí xung yếu. Song song đó, thực tiễn cho thấy, cùng với việc xây dựng kè chống xâm thực thì trồng rừng ven biển tạo ra các băng rừng chắn sóng bảo vệ bờ biển cũng là giải pháp rất quan trọng, nâng cao khả năng phòng hộ, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, góp phần giảm nhẹ thiên tai, cải thiện môi trường sinh thái.
Cụ thể, thời gian qua trên địa bàn huyện Phú Quý đã và đang triển khai thực hiện đề tài “Thử nghiệm trồng rừng ngập mặn trong các điều kiện khác nhau trên địa bàn huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận”. Theo đó, Trạm Nông Lâm nghiệp cũng đang tiến hành trồng thử nghiệm cây ngập mặn tại những vùng ven biển Phú Quý như: Lạch Dù, Hòn Tranh và Lỗ Sâu thuộc địa bàn xã Tam Thanh. Sau thời gian triển khai, Trạm Nông Lâm nghiệp đã trồng theo thiết kế và tiến hành trồng dặm tổng cộng 15.000 cây (bao gồm 3 loại cây: đước, đưng và mắm biển). Tuy mới trồng thử nghiệm cây ngập mặn ở đảo, nhưng tỷ lệ cây đước sống đạt trên 70%.
Hiện đơn vị đang tiếp tục duy trì công tác chăm sóc bảo vệ cây và theo dõi, đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và thích ứng của các loại cây này nhằm mở rộng diện tích tạo môi trường sinh thái trên các bãi đá ven biển, hình thành dãy cây xanh chắn sóng và tạo điều kiện cho các loài sinh vật biển trú ngụ, sinh trưởng.
Theo các chuyên gia nghiên cứu, một dải rừng ngập mặn ven biển dày 100 mét có thể hóa giải năng lượng sóng biển, giúp ngăn sự tàn phá của nước biển dâng, bảo vệ hữu hiệu dân cư, các khu du lịch, khu vực nuôi trồng thủy sản… ven biển. Rừng ven biển còn giúp hấp thụ khí gây hiệu ứng nhà kính, giúp giảm nhiệt bề mặt trái đất.
Từ thực tế đó, triển khai Đề án bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2014 - 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 120/QĐ-TTg ngày 22/01/2015 và tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ từ Trung ương của Chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu SP-RCC tại Công văn số 78/TTg-KTTH ngày 16/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ; Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, trong năm 2015 Sở Nông nghiệp và PTNT đã xây dựng, trình các Bộ ngành thẩm định nguồn vốn, phần vốn Trung ương hỗ trợ và trình UBND tỉnh phê duyệt Dự án trồng rừng ven biển chắn sóng, chắn cát để cải thiện môi trường sống và canh các của người dân địa bàn tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2015 – 2020 tại Quyết định số 2260/QĐ-UBND ngày 28/8/2015.
To đó, trong giai đoạn 2015-2020 triển khai trồng, chăm sóc và phục hồi rừng ven biển trên diện tích 470,7 ha thuộc địa bàn các huyện Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Tân, La Gi...và huyện đảo Phú Quý với đơn giá bình quân cho 01 ha từ 27 – 100 triệu đồng; Đặc biệt, đối với Đảo Hòn Cau thuộc huyện Tuy Phong và Huyện đảo Phú Quý – tỉnh Bình Thuận là các khu vực có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh của tỉnh và cả nước nên việc phát triển các đai rừng trên Đảo và Huyện đảo có tầm quan trọng đặc biệt nhằm tăng độ tán che phủ, đảm bảo chức năng phòng hộ, chắn gió, chắn cát bay, chắn sóng biển, điều hòa khí hậu, lưu giữ nguồn nước ngọt ngầm quý hiếm của Đảo, Huyện đảo góp phần phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ, yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay… (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bình Thuận 7/9) đầu trang(
Năm 2015, huyện Chợ Đồn  được giao chỉ tiêu trồng mới 1.230 ha rừng, trong đó trồng rừng tập trung 1.030 ha, rừng trồng phân tán 200ha. Kết thúc vụ trồng rừng, toàn huyện đã hoàn thành vượt 33% kế hoạch.
Bước vào vụ trồng rừng năm 2015, huyện Chợ Đồn đã tăng cường chỉ đạo cơ quan chuyên môn tập trung cấp giống cây cho nhân dân, đồng thời hướng dẫn cách trồng chăm sóc. Ban Quản lý dự án trồng rừng 147 huyện phối hợp chặt chẽ với cán bộ kiểm lâm trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc bà con đẩy nhanh tiến độ trồng rừng cũng như kiểm tra sát sao các khâu từ xử lý thực bì, cuốc hố, gieo ươm, chăm sóc cây giống đến trồng rừng.
Kết thúc thời vụ trồng rừng, toàn huyện đã trồng rừng mới được trên 1.640ha, đạt 133% so với kế hoạch được giao. Trong đó, diện tích trồng rừng sản xuất theo Dự án 147 được trên 1.400ha, trồng cây phân tán được trên 200 ha, trồng rừng phòng hộ được 22ha.
Năm nay, do chuẩn bị tốt các điều kiện trồng rừng, đặc biệt trong việc chủ động nguồn giống cây nên việc triển khai trồng rừng tại huyện Chợ Đồn diễn ra sớm và đạt kết quả cao. Ngay từ đầu tháng 3, người dân các địa phương như Đại Sảo, Bình Trung, Yên Nhuận, Nghĩa Tá đã tiến hành trồng rừng. Nhờ chủ động trồng sớm nên việc trồng xen canh cây lúa nương, cây sắn cao sản với rừng trồng đảm bảo kịp thời vụ, giúp nâng cao giá trị trên một đơn vị diện tích. Chợ Đồn luôn là địa phương có diện tích trồng xen canh cây ngắn ngày với rừng trồng cao nhất so với các địa phương khác trong tỉnh.
Hiện nay, song song với công tác chỉ đạo chăm sóc rừng trồng, huyện Chợ Đồn đang đôn đốc các địa phương rà soát, trồng tra dặm những cây con bị chết để chuẩn bị nghiệm thu vào tháng 9. Qua đánh giá của cơ quan chuyên môn, diện tích rừng trồng mới của huyện phát triển tốt, tỷ lệ cây sống đạt tiêu chuẩn cao. Đây là điều kiện để nhân dân trên địa bàn huyện tiếp tục phát triển nghề trồng rừng trong những năm tới. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Kạn 7/9) đầu trang(
Năm 2015, huyện Chợ Mới được giao trồng mới 1.500ha rừng, đến hết tháng 8, diện tích trồng rừng của huyện đã được hơn 2.060ha, vượt 37% so với kế hoạch. Hiện tại người dân huyện Chợ Mới đang tích cực chăm sóc diện tích rừng trồng mới.
Nhờ đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng tới toàn thể nhân dân, những năm gần đây, ý thức của người dân trên địa bàn huyện Chợ Mới về công tác trồng rừng đã có những bước chuyển biến tích cực. Bên cạnh đó, các cấp chính quyền cũng đặc biệt quan tâm, chỉ đạo công tác trồng rừng. Ngay sau khi kết thúc vụ trồng rừng năm trước, các ngành chuyên môn của huyện và các địa phương đã tập trung tiến hành rà soát, cho nhân dân đăng ký diện tích trồng rừng.
Từ đầu năm 2015, nhân dân các địa phương đã chuẩn bị phát dọn thực bì, khi thời tiết thuận lợi tiến hành cuốc hố đảm bảo theo đúng kỹ thuật do cán bộ chuyên môn hướng dẫn. Cùng với đó, cơ quan chuyên môn tiến hành cấp giống cho nhân dân, hướng dẫn cách trồng, chăm sóc đảm bảo cho cây sinh trưởng và phát triển tốt.
Năm nay, thời tiết có nắng nóng cục bộ nên thời vụ trồng rừng được kéo dài đến hết tháng 8. Huyện Chợ Mới vẫn là địa phương hoàn thành sớm nhất công tác trồng rừng với tổng diện tích thực hiện được 2.061ha, đạt 137% kế hoạch, trong đó rừng trồng theo Dự án 147 được trên 1.720ha, rừng trồng của Lâm trường huyện được 150ha và rừng trồng phân tán trong nhân dân được 190ha.
Nếu như trước đây, cây mỡ chiếm tỷ lệ đến hơn 60% thì năm nay chỉ còn gần 20%. Trong khi đó, cây keo được trồng nhiều nhất, chiếm trên 50% diện tích. Nguyên nhân của sự chuyển đổi cơ cấu giống này là do người dân lo ngại cây mỡ bị sâu ong gây hại, đến nay vẫn chưa có biện pháp phòng trừ hữu hiệu. Trong khi đó, giá trị kinh tế của cây keo đạt cao nên nhân dân đã chuyển sang trồng loại cây này. Ngoài ra, diện tích trồng cây quế cũng tăng so với những năm trước.
Hiện nay, người dân đang tập trung chăm sóc, trong đó chủ yếu là phát dọn cỏ và cây bụi quanh gốc để tránh sâu hại, đồng thời tiến hành trồng dặm những cây bị chết. Huyện Chợ Mới đã cung ứng đủ cây giống để bà con trồng dặm theo tỷ lệ quy định. Nhìn chung, những diện tích rừng trồng của huyện Chợ Mới đều sinh trưởng và phát triển tốt, đặc biệt là diện tích cây keo hom.
Hoàn thành vượt kế hoạch nhiệm vụ trồng rừng 2015, huyện Chợ Mới đang tiếp tục chỉ đạo các đơn vị, địa phương thực hiện tốt chăm sóc, tăng cường công tác bảo vệ rừng, đồng thời chuẩn bị cho nhân dân đăng ký diện tích rừng trồng mới cho năm 2016. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Kạn 7/9) đầu trang(
Các chính sách, kế hoạch đầu tư ngắn hạn, dài hạn của Trung ương giúp các địa phương miền núi phủ xanh đất trống đồi trọc, người dân có thể “lấy rừng nuôi rừng”. Tuy nhiên, lực cản lớn là nhiều dự án, công trình vẫn chậm “trả nợ” rừng xanh.
Từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24.9.2010 của Chính phủ, người dân sống ở lưu vực lòng hồ các thủy điện được nhận giao khoán bảo vệ rừng. Nguồn tài chính hỗ trợ được chi trả kịp thời càng khuyến khích người dân giữ rừng. Ở các huyện miền núi trong tỉnh, DVMTR còn tái đầu tư lại rừng để bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất, sinh hoạt của người dân; hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng và phát triển rừng bền vững.
Hai năm qua, tại huyện Nam Giang, hàng trăm hộ dân thuộc 10 thôn trên địa bàn 2 xã Tà Pơ và Chà Vàl đã nhận quản lý, bảo vệ 13.789ha rừng. Sau khi ký hợp đồng nhận giao khoán với Hạt Kiểm lâm huyện, các nhóm hộ cùng tham gia tuần tra, kiểm soát, bảo vệ rừng. Để khuyến khích người dân bản địa có vốn tích lũy, đại diện Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) trao các sổ tiết kiệm trị giá 400 triệu đồng cho 10 thôn phát triển sinh kế ban đầu.
Tại “điểm nóng” phá rừng dai dẳng trong Khu bảo tồn thiên nhiên sông Thanh, người dân sống ở vùng đệm cũng được hưởng lợi. Đến nay, chủ rừng đã giao khoán cho ít nhất 497 hộ chăm sóc, bảo vệ 8.055ha rừng. Theo Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng, ngoài nhận tiền hỗ trợ hằng năm, đồng bào dân tộc thiểu số còn tuân thủ giữ rừng theo các quy định của pháp luật hiện hành mà không hề phá vỡ luật tục; khuynh hướng phát triển rừng thân thiện với môi trường thể hiện đậm nét hơn. Để ngăn ngừa tình trạng lợi dụng nhận rừng để lén lút tận thu gỗ, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng đã yêu cầu người dân ký cam kết cụ thể.
Sau 1 năm, tổ công tác của đơn vị sẽ đánh giá kết quả khu rừng các nhóm hộ quản lý. Nếu giữ tốt thì mới thực hiện việc chi trả; ngược lại để xảy ra mất rừng, chủ rừng (là nhóm hộ được giao) phải chịu hậu quả. Đáng mừng là ở miền núi đến thời điểm này vẫn chưa có hộ, hoặc nhóm hộ nào bị xử lý hành chính hoặc hình sự.
Ông Hồ Văn Nghĩa (xã Phước Công, huyện Phước Sơn) đại diện cho 12 hộ nhận khoán bảo vệ gần 210ha rừng nằm trong Khu Bảo tồn thiên nhiên sông Thanh cho biết: “Có tiền giữ rừng bà con ưng cái bụng lắm. Rừng dù rộng nhưng chúng tôi tự cắt ra từng khu vực phân công giữ. Mỗi người sẽ chịu trách nhiệm trong lúc trực của mình. Nếu phát hiện lâm tặc phá rừng, nhóm hộ có trách nhiệm đồng loạt kéo đến xử lý kịp thời”.
Hiện nay, thông qua các dự án tài trợ, lồng ghép các nguồn vốn khác nhau, chính quyền các huyện Nam Trà My, Đông Giang, Phước Sơn… còn hỗ trợ cho người dân trồng thêm các loại cây dược liệu dưới tán rừng giao khoán để cải thiện thu nhập, làm giàu hệ sinh thái rừng.
Theo Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 24.1.2014 của Thủ tướng Chính phủ, đối với các dự án đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và đang thực hiện quy trình, thủ tục chuyển đổi diện tích đất lâm nghiệp có rừng sang mục đích khác, phải có phương án trồng rừng thay thế (TRTT) và hoàn thành việc TRTT ít nhất bằng diện tích đã chuyển đổi mục đích sử dụng cho dự án trong thời gian 18 tháng kể từ khi phương án trồng rừng được duyệt. Tuy nhiên, theo ngành lâm nghiệp, dù đã đưa ra “tối hậu thư”, nhưng hàng chục nhà máy thủy điện, các công trình khai khoáng… vẫn ì ạch TRTT. Thậm chí, không ít dự án lấy đi hàng trăm héc ta rừng qua nhiều năm vẫn chưa xong hồ sơ thủ tục “trả nợ” rừng.
Theo thống kê, tổng diện tích phải TRTT khi chuyển mục đích sang làm các công trình thủy điện trên địa bàn tỉnh hơn 1.371ha. Trong đó, diện tích đã phê duyệt phương án hơn 846ha. Riêng năm 2014, theo kế hoạch, diện tích trồng rừng thay thế trên toàn tỉnh hơn 770ha (diện tích chuyển mục đích sang làm thủy điện hơn 702ha), nhưng TRTT chỉ thực hiện được 23,8ha (đạt 3,4% so với kế hoạch năm). Hồi năm ngoái, lãnh đạo Sở NN&PTNT đưa ra mục tiêu, phấn đấu đến năm 2015 sẽ hoàn thành toàn bộ diện tích TRTT. Tuy nhiên, với tiến độ trồng rừng rất chậm như hiện nay, nhiều khả năng việc TRTT sẽ kéo dài đến năm 2016.
Những ngày cuối tháng 8, gần chục nhà máy khai thác khoáng sản ở các xã Phước Thành, Phước Hiệp (Phước Sơn) vẫn không đảm bảo tiến độ trồng bù hoàn rừng. Cá biệt có nhà máy chỉ mới lập phương án chứ chưa trồng được cây nào trên thực địa. Một bất cập khác, có địa phương còn chưa tìm ra quỹ đất để TRTT. Trong khi đó, theo Nghị quyết số 62/2013/QH 13 ngày 27.11.2013 của Quốc hội và Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 24.1.2014 của Thủ tướng Chính phủ, đối với các công trình thủy điện đã đưa vào vận hành khai thác phải hoàn thành việc trồng rừng thay thế trong năm 2015.
Về nguyên nhân TRTT trên địa bàn tỉnh đạt thấp, theo Bộ NN&PTNT lý giải, do chủ dự án lơ là, thiếu trách nhiệm trồng rừng; cơ quan quản lý lâm nghiệp và chính quyền địa phương buông lỏng kiểm tra, giám sát đối với các chủ dự án. Các chủ dự án sau khi chuyển mục đích sử dụng rừng đã không thực hiện quy định của pháp luật, khiến công tác TRTT không đạt kế hoạch đề ra. (Báo Quảng Nam 7/9) đầu trang(
Trước đây, chủ trương giao rừng tự nhiên cho cộng đồng quản lý gặp khá nhiều khó khăn bởi với người dân việc được hưởng lợi từ khai thác tỉa sau ít nhất 15 năm, trong lúc đa số rừng tự nhiên được giao là rừng cạn kiệt.
Thế nhưng, từ cuối năm 2014 đến nay, tại Thừa Thiên - Huế thông qua việc chi trả dịch vụ môi trường rừng cho các cộng đồng có rừng tự nhiên đã giúp các chủ rừng nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng.
Hơn 1 giờ luồn rừng, đi qua nhiều dốc núi khá cao, cách khu dân cư hơn 4,5 km những thành viên trong Ban quản lý rừng cộng đồng Bản Hạ Long, xã Phong Mỹ, huyện Phong Điền, Thừa Thiên - Huế mới đến được ranh giới của khu rừng tự nhiên được giao bảo vệ. Khá mệt bởi nắng nóng, đường dài nhưng các thành viên vẫn hết sức tích cực. Theo Ban quản lý Hạ Long, từ khi có thêm nguồn quỹ được chi trả từ dịch vụ môi trường rừng, việc tuần tra canh gác đã được anh em thực hiện quy cũ và chặt chẽ hơn.
Ông Lê Văn Lục - Trưởng Ban quản lý rừng cộng đồng bản Hạ Long, Phong Mỹ, Phong Điền, Tỉnh Thừa Thiên - Huế cho biết: "Thứ nhất, quá trình đi tuần tra, canh gác cũng có một nguồn kinh phí động viên cho bà con. Thứ hai trong các cuộc họp cũng có nguồn trích ra để hội họp, thứ ba nữa là bồi dưỡng cho các anh em ban quản lý. Từ khi có phí môi trường đến nay, trước đây bảo vệ đã tốt rồi, từ sau khi có phí môi trường bà con quản lý tốt hơn".
Thừa Thiên - Huế hiện có hơn 118.000 ha rừng tự nhiên được cung ứng dịch vụ môi trường rừng, chiếm hơn 41 % diện tích đất có rừng toàn tỉnh, tập trung ở các khu bảo tồn thiên nhiên, rừng phòng hộ ở các huyện A Lưới, Phong Điền, Nam Đông, Phú Lộc, Hương Trà và Hương Thủy, với tổng số 977 chủ  rừng. Theo đó, các chủ rừng tùy theo diện tích rừng tự nhiên đang quản lý để được chi trả mức phí từ 80 ngàn đồng - 600 đồng/ha, tùy theo theo đặc điểm từng lưu vực thủy  điện và nguồn nước. Riêng trong năm 2015 nguồn chi dịch vụ môi trường rừng lên đến 15 tỷ đồng.
Ông Nguyễn Bá Thạo - Phó hạt Trưởng hạt kiểm lâm Phong Điền, Thừa Thiên - Huế cho biết: "Cộng đồng đã xây dựng các kế hoạch  phối hợp với kiểm lâm địa bàn để tuần tra bảo vệ diện tích rừng được giao hàng tháng, các cộng đồng đã tổ chức giao ban  trực báo  tại ủy ban xã dưới sự chủ trì của UBND xã, hàng tháng có báo cáo diễn biến rừng xảy ra trên diện tích rừng được giao, theo chúng tôi đánh giá từ khi có qũy này công tác quản lý bảo vệ rừng tốt hơn nhiều so với trước đây".
TS Phạm Ngọc Dũng - Giám đốc Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng Thừa Thiên - Huế cho biết: "Nguồn tiền này họ sử dụng để thanh toán một phần chi phí công lao động, tiền nước uống cho việc đi tuần tra, canh gác, quản lý bảo vệ rừng. Phải nói kể từ khi có được tiền này, việc tuần tra, kiểm soát, quản lý, bảo vệ rừng được thực hiện thường xuyên và rất hiệu quả. Cộng đồng có ý thức hơn, phấn khởi hơn và có trách nhiệm hơn".
Dịch vụ môi trường rừng được trích từ nguồn thu của các đơn vị sử dụng nguồn nước, diện tích đất rừng để làm thủy điện hoặc cung cấp nước sạch và được chi trả lại cho việc bảo vệ và tái tạo các khu vực rừng tự nhiên, rừng phòng hộ đầu nguồn, nhằm đảm bảo cân bằng môi trường sinh thái. Với ý nghĩa đó việc cung ứng dịch vụ môi trường rừng tại Thừa Thiên - Huế thực sự có hiệu quả nhằm bảo vệ và phát triển rừng tự nhiên một cách bền vững. (ANTV 7/9) đầu trang(
UBND huyện Mang Yang ra văn bản khẳng định vụ việc có dấu hiệu lừa đảo, hồ sơ không rõ ràng để hợp thức hóa quyền sử dụng đất.
Thế nhưng, bất chấp chỉ đạo từ UBND tỉnh Gia Lai, huyện Mang Yang chưa thể thu hồi 200ha đất, trả cho 70 hộ dân. Bởi lẽ trước đó, huyện đã “lỡ” ký giấy xác nhận “đất hợp pháp” để cán bộ lâm trường bán đất cho người khác với giá hàng tỉ đồng.
Báo Lao Động số 143, 146, 152, 160 đã có các bài viết phản ánh về việc ông Phan Văn Phúc (SN 1970, nguyên cán bộ lâm trường huyện Mang Yang) và ông Nguyễn Duyên Nam (trú TT. Kon Dơng, huyện Mang Yang) làm giả giấy sang nhượng đất chiếm đoạt hơn 200ha đất của 70 hộ dân thôn 3, xã Đắk Jơ Ta (huyện Mang Yang). UBND tỉnh Gia Lai đã ra văn bản số 2616/UBND-NC yêu cầu Chủ tịch UBND huyện Mang Yang Nguyễn Như Phi xử lý vụ việc.
Phòng TNMT, thanh tra, CA huyện Mang Yang đã phát hiện việc cấp sổ đỏ 200ha đất có quá nhiều thiếu sót. Hồ sơ lưu trữ tại phòng TNMT huyện, chỉ có “đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất” của ông Phúc, Nam và “biên bản xét duyệt của Hội đồng Đăng ký đất của xã Ayun (nay tách thành xã Ayun và Đắk Jơ Ta).
Báo cáo số 51/CV-TNMT của phòng TNMT huyện Mang Yang nêu: Đất được ông Phúc, Nam khai là “tự khai hoang” nhưng thực tế nguồn gốc đất là chuyển nhượng.
Hồ sơ đề nghị cấp GCNQSD đất thiếu trình tự thủ tục, không đúng quy định, cụ thể: “Biên bản xét duyệt của Hội đồng Đăng ký đất của xã Ayun” chỉ có chủ tịch UBND xã, chủ tịch UBMTTQ xã, cán bộ địa chính xã thay vì phải có thêm cán bộ tư pháp xã, thôn trưởng nơi có đất; không có danh sách xét duyệt từng hộ mà chỉ ghi tổng số hộ được xét duyệt.
Kết thúc xét duyệt phải công khai danh sách trong thời gian 15 ngày tại trụ sở UBND xã và thôn có đất để người dân tham gia ý kiến nhưng không công khai; không lập biên bản kết thúc việc công bố công khai hồ sơ. Hội đồng đăng ký đất không tổ chức họp xét hồ sơ do trưởng phòng TNMT - thời điểm năm 2004 - soạn thảo, cán bộ địa chính không có bản đồ, không đi xác minh thực địa, không xác định được diện tích đất có thuộc đất rừng hay không.
Được phối hợp làm rõ vụ việc, Ban Quản lý rừng phòng hộ Mang Yang (thuộc Sở NNPTNT) khẳng định tại báo cáo số 87/BC-BQL: Tiểu khu 443 - nơi 200ha đất bị cán bộ lâm trường chiếm - không thuộc sự quản lý của BQLRPH Mang Yang. Bởi, người dân đã canh tác đất nông nghiệp, trồng rừng từ năm 1978. Theo đó, chủ sở hữu số đất trên là của 70 hộ dân.
Để “lách luật” ông Phúc và Nam đã tìm 15 người nhờ đứng tên để được cấp sổ đỏ cho 200ha đất (sau kiểm kê là 231,7ha) bởi quy định 1 sổ đỏ không quá 30ha. Khó hiểu là, với hàng loạt thiếu sót nghiêm trọng về thủ tục, trình tự nhưng cán bộ lâm trường dễ dàng “qua mặt” nguyên Trưởng phòng TNMT huyện Mang Yang - Trương Minh Thu để “hợp thức hóa” hoàn thiện thủ tục. Chủ tịch UBND huyện Mang Yang - Huỳnh Ngọc Tục (thời điểm năm 2004) “thản nhiên” buông bút ký, cấp sổ đỏ. Vụ việc bị phát giác, từ đất khai “tự khai hoang”, ông Phúc, Nam đã “linh hoạt” soạn trên dưới 70 bản photo đối phó ghi là “giấy sang nhượng đất”.
Vì là giấy sang nhượng giả nên theo ông Võ Lê Xuân Thiện - Trưởng phòng TNMT huyện Mang Yang, hồ sơ lưu trữ không có giấy sang nhượng gốc. Riêng Chủ tịch Huỳnh Ngọc Tục sau đó thăng chức làm GĐ Sở Công thương Gia Lai, ông Thu tiếp tục làm cấp dưới là Phó Chánh Thanh tra cùng sở. Vụ việc bị phát lộ, dư luận hồ nghi đã có sự “mờ ám” phía sau giữa cán bộ huyện và lâm trường?
Trao đổi với PV Báo Lao Động, Chánh Thanh tra huyện Mang Yang - Nguyễn Văn Mây khẳng định, UBND huyện sẽ thu hồi 17 sổ đỏ trên vì bị cấp sai quy trình.
Thế nhưng, trớ trêu ở chỗ, từ năm 2008-2011, Chủ tịch UBND huyện Mang Yang qua các thời kỳ, trong đó có ông Nguyễn Như Phi - nhiệm kỳ hiện tại - đã “lỡ” tay ký xác nhận, sang tên “đất hợp pháp” để ông Phan Văn Phúc bán cho ông Lê Ngọc Liên (SN 1945, trú TT. Phú Phong, huyện Tây Sơn, Bình Định) cùng 3 cộng sự 71ha đất với số tiền trên dưới 4,2 tỉ đồng. Có tiền trong tay, ông Phúc đã mua đất, xây nhà và phòng trọ cho thuê rồi định cư hẳn ở phường 2, quận Tân Bình, (TP.Hồ Chí Minh).
Bất chấp văn bản chỉ đạo phải báo cáo vụ việc trước ngày 30.7 của Ban Nội chính UBND tỉnh Gia Lai. UBND huyện Mang Yang đã phớt lờ, ra văn bản số 362/UBND-NC gửi UBND tỉnh “xin” kéo dài thời gian xử lý vì vụ việc “có tính chất phức tạp”. Việc lừa đảo đã rõ, vậy bao giờ huyện Mang Yang mới trả lại đất cho dân, chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra xử lý cán bộ lâm trường? (Lao Động 7/9) đầu trang(
Từng là ông “trùm” thôn tính cả một vùng đá đỏ, nay Phan Bá Giang (SN 1963, xóm Bình 3, xã Châu Bình, huyện Quỳ Châu, Nghệ An) lại làm giàu bằng cách trồng rừng trên chính vùng đất tan hoang ấy.
Ngày ấy, với tay nghề may khéo léo và tính chịu chơi của mình, anh Giang nhanh chóng làm quen được với nhiều người. Khi thấy nhiều người lên rừng chặt gỗ đem về xuôi bán được giá, Giang lại quyết định bỏ nghề may, rủ đám thanh niên trong làng cùng vào rừng chặt gỗ.
Anh Giang kể, ngày đầu mới sắm rìu đi chặt gỗ còn chưa phân biệt được đâu là gỗ quý. Sau khi tìm hiểu và biết mối tiêu thụ gỗ, anh mới bắt đầu thuê người dân bản địa lên rừng chặt cây, thuê người từ miền Bắc vào làm ăn ở đây, xẻ thành từng tấm rồi kéo xuống đường bán cho khách hàng tại huyện Quỳ Hợp (Nghệ An).
Đội quân Giang thuê lên đến vài chục người, chuyên đi khai thác, vận chuyển gỗ lậu, chỉ trong một thời gian ngắn Giang đã kiếm được khá tiền. Không những nổi tiếng về độ ăn chơi, lì lợm mà Giang còn khiến nhiều tay chơi trong vùng  phải kính nể về cách sống hết mình với anh em, chiến hữu. “Người có một khúc thì đâm chém chi mô. Mọi người nghe lời và nể phục tôi chỉ vì cái tính. Sống hết lòng với anh em thì họ cũng hết lòng với mình thôi”, Giang phân bua.
Độ ăn chơi và tiếng lì lợm của Giang ngày càng loang rộng cũng là lúc “cơn sốt” đá đỏ bắt đầu. Anh Giang cho biết, Khoảng những năm 1988, một nhóm người từ Hà Nội vào thuê người dân bản xứ đào bới khắp nơi tìm kiếm đá đỏ với giá rất cao. Hàng ngàn người dân từ khắp nơi đổ xô về vùng đất này để tìm cơ may đổi đời khiến vùng quê trở nên hỗn loạn, cướp giết lẫn nhau vì đá đỏ.
“Nói thật, lúc đó tôi cũng không quan tâm mà chỉ lo đi buôn gỗ thôi. Sau khi biết giá trị thực sự của đá đỏ cao hơn nhiều so với giá mà người dân bán ra, tôi mới dừng buôn gỗ, cho toàn bộ cánh thợ của mình chuyển sang đi săn đá”, anh Giang cho biết.
Lao vào giang hồ, Giang trở thành người chuyên hòa giải các vụ tranh chấp cho cả vùng đá đỏ đầy hỗn loạn. Không những cho người đi săn tìm đá, mà Giang còn cho người luôn sẵn sàng túc trực để mua lại đá của người dân vừa đào được rồi đem về tìm mối bán lại cho người nước ngoài.
Chuyến hàng đá đỏ đầu tiên mang lại lãi ròng cho Giang trên 1 tỷ đồng. Có tiền trong tay, Giang lại tiếp tục mở thêm các cửa hàng kinh doanh vàng, đá quý. Sau một thời gian, Giang trở nên giàu có với khối tài sản rất lớn.
Nắm trong tay khối tài sản kếch xù mà Giang nghĩ có tiêu xài cả đời cũng không hết nên anh bắt đầu lao vào con đường ăn chơi xa xỉ, cờ bạc. Gia đình khuyên can nhưng Giang không những không nghe mà còn dẫn đến cãi vã rồi chuyển ra ngoài ở riêng. Nhưng một năm sau đó, Giang đổ nợ, các cửa hàng kinh doanh đá quý cũng phải đóng cửa.
“Trong nhà chẳng còn một cái gì đáng giá, vì hổ thẹn nên anh ấy cũng không thể quay về nhà cũng chẳng dám ra ngoài gặp bạn bè. Cuộc sống lâm vào bế tắc khi cả hai vợ chồng đều không có gì để làm cả”, chị Lê Thị Ngà (vợ anh Giang) nhớ lại.
Hàng ngày, Giang phải lên rừng bóc măng đưa về cho vợ ra chợ bán lấy tiền mua gạo sống qua ngày. Thấy vợ có bầu nhưng vẫn không dám nghỉ ngơi Giang quyết định quay lại con đường buôn gỗ để vợ mình bớt cực nhưng bị chị Ngà khuyên can quyết liệt.
Chị Ngà cho biết, chấp nhận không quay lại làm nghề cũ nhưng anh Giang vẫn áy náy vì không lo nổi cho vợ con. Trong một lần đi bẻ măng ở huyện Quế Phong, chị thấy nhiều người thoát nghèo nhờ trồng rừng, trong khi đất rừng quê nhà lại để hoang nhiều, ý tưởng kiếm tiền mới lại lóe lên.
Ngay sau khi nghe vợ nói đến kế hoạch trồng rừng để thoát nghèo, Giang liền lập tức đi tìm hiểu ngay. “Cơn sốt đá đỏ đi qua đã khiến cho những cánh rừng nơi đây trở nên tan hoang. Chính tôi cũng có một phần lỗi tạo nên tình trạng  này nên khi nghe vợ nói đến kế hoạch trồng rừng tôi rất tò mò, hơn nữa là muốn làm một cái gì đó để chuộc lại những lỗi lầm mình gây ra trước đó”, anh Giang chia sẻ.
Sau khi trình bày nguyện vọng của mình, anh Giang được chính quyền địa phương giao cho 7 ha đất rừng bị tàn phá do cuộc đào bới tìm kiếm đá đỏ trước đó. Tiền không có, với 100.000 đồng ban đầu, anh chỉ có thể mua một 1 kg hạt keo giống và 1 ít bầu bọc để ươm cây giống. Với chiến thuật lấy ngắn nuôi dài, vừa trồng keo, anh vừa kết hợp trồng xen kẽ các loại cây hoa màu.
Thời gian đầu, thấy “đại ca Giang râu” lại xắn tay vác cuốc đi trồng rừng nhiều người vẫn không tin, một số người còn cười nhạo và cho rằng anh Giang lấy cớ trồng rừng để mưu tính một âm mưu gì mới. Nhưng rồi hơn 40 ha đất rừng từng bị tàn phá tan hoang đã được anh phủ xanh trong sự ngỡ ngàng, khâm phục của cả làng.
Cuối năm 2002, anh thu hoạch vụ keo đầu tiên bán được hơn 500 triệu đồng. Số tiền này so với trước đây của anh chẳng đáng là bao nhưng là đồng tiền kiếm được từ mồ hôi và nước mắt của hai vợ chồng khiến anh rất vui mừng. “Vui mừng vì sau nhiều năm vất vả cũng đã có được thành quả nhưng hai vợ chồng tôi chẳng dám tiêu một đồng nào mà dành tất cả số tiền đó để tiếp tục đầu tư vào trồng keo”, chị Ngà nói.
Rồi lần lượt từng người trong xã bắt đầu học theo “Giang râu” xin được cấp đất để trồng rừng. Nhiều người có đất nhưng lại không có vốn, anh Giang tìm đến tận nơi để hỗ trợ, bán nợ cây giống và hướng dẫn kỹ thuật cho họ. Sau khi người dân nhận được đất làm rừng từ dự án 327, những gia đình có đất rừng nhưng không có vốn để đầu tư, anh bàn bạc và mạnh dạn hợp tác đầu tư trồng rừng trên mảnh đất ấy, rồi chia lợi nhuận sau khi thu hoạch rừng với bà con có đất.
Theo anh Giang, trồng cây keo không phải đầu tư quá nhiều vốn lại nhanh cho thu hoạch. Để tiết kiệm thêm chi phí, sau mỗi lần thu hoạch keo anh thường cho đốt rừng, vừa lấy tro làm chất mùn cho đất, vừa để cây keo nảy mầm tự nhiên mà không cần phải mất công đi trồng lại.
“Cây keo có rất nhiều hạt, cứ mỗi năm như vậy hạt cây lại rơi xuống rồi vùi lấp trong đất rất nhiều. Mỗi lần thu hoạch xong tôi thường cho đốt rừng để làm nứt hạt cho keo lên tự nhiên. Với cách này, không những sẽ tiết kiệm được thời gian, chi phí mà cây keo còn có thể phát triển nhanh hơn việc đi trồng lại”, anh Giang hồ hởi chia sẻ.
Vừa nhận đất rừng, vừa hợp tác trồng rừng và chuyển đổi đất rừng từ những hộ không có khả năng để trồng rừng, đến nay “Giang râu” đã làm chủ hàng trăm ha rừng keo phủ khắp các huyện miền núi Nghệ An. Không những trồng keo mà hiện anh còn trồng 2 ha cam Xã Đoài và 4 ha gỗ sưa để thử nghiệm trên vùng đất mới.
Anh Giang không những là người tiên phong trồng keo mà còn hỗ trợ rất nhiều để người dân xã Châu Bình quyết tâm trồng rừng phủ kín những cánh rừng bị tàn phá trước đó. Hiện, anh Giang có trên 100 ha rừng keo trị giá rất lớn trong tổng số 3.000 ha rừng nguyên liệu của toàn xã.
Ông Lê Văn Huyên, Phó chủ tịch UBND xã Châu Bình hào hứng cho biết: “Vùng đất nham nhở một thời vì cơn sốt đá đỏ càn quét giờ đã thay đổi. Người dân đã bắt đầu vươn lên làm giàu bền vững từ trồng rừng”.
Nhìn cánh rừng keo xanh bạt ngàn ít ai có thể hình dung, chủ nhân của chúng từng một thời khét tiếng trong giới anh chị - “trùm đá đỏ Giang râu” (biệt danh của Phan Bá Giang). Là con thứ trong một gia đình đông con ở huyện Đô Lương (Nghệ An), gia đình lại khó khăn nên Phan Bá Giang phải tự mình kiếm kế sinh nhai từ nhỏ.
Năm 1984, Giang theo bố mẹ lên vùng kinh tế mới ở Quỳ Châu để lập nghiệp, cũng từ đây Giang bắt đầu lao vào con đường giang hồ, đã có lúc tiền nhiều như nước nhưng cuối cùng vẫn trắng tay. Giờ anh là chủ của 100 ha rừng, giàu lên nhờ trồng rừng... (Gia Đình Và Xã Hội 8/9) đầu trang(
Chẳng ai ngờ đến một ngày, người dân Sơn Trạch đã gác cưa, cởi bỏ tấm áo “lâm tặc” truyền đời để làm du lịch - một khái niệm mà mấy năm trước họ vẫn còn xa lạ.
Sơn Trạch nay được biết đến là xã trung tâm của Di sản thiên nhiên thế Phong Nha – Kẻ Bàng. Nhưng, cách đây khoảng 20 năm, Sơn Trạch đã từng được biết đến như là xứ sở của “lâm tặc”, gần như 100% người dân nơi đây quanh năm chỉ biết lầm lũi vào rừng khai thác lâm sản để kiếm sống.
Những cán bộ kiểm lâm công tác lâu năm ở Phong Nha – Kẻ Bàng kể lại rằng, khi Phong Nha – Kẻ Bàng trở thành khu bảo tồn vào năm 1994, họ là những cán bộ kiểm lâm đầu tiên được phân công đến đây để bảo vệ rừng. Ngày ấy, nhiều cán bộ kiểm lâm đã không ít lần đổ máu  nhưng vẫn không thể ngăn chặn được dòng người vào rừng khai thác lâm sản.
Phong Nha - Kẻ Bàng rộng hàng trăm ngàn hécta với nhiều loại gỗ quý. Ngày đó, hầu như 100% người dân  xã Sơn Trạch và các xã vùng lân cận đều vào rừng khai thác lâm sản. Thanh niên thì khai thác gỗ quý, tìm trầm. Người lớn tuổi, phụ nữ, trẻ con thì đặt bẫy bắt thú…Những lúc gỗ đắt, cả xã đi hết vào rừng, họ chặt phá, cưa xẻ thành từng phiến gỗ ngay trong rừng, rồi vận chuyển bằng thuyền, bằng gùi ra khỏi rừng để bán.
“Ngày đó cuộc chiến giữa kiểm lâm và “lâm tặc” là không cân sức. Mỗi lần lực lượng bảo vệ rừng bắt được gỗ hoặc lâm sản trái phép là y như rằng “lâm tặc” huy động lực lượng vào tận trụ sở kiểm lâm để cướp lại gỗ. Kiểm lâm ít người, “lâm tặc” thì cả làng, họ lao vào đánh, ném đá, thậm chí chém..., có nhiều vụ hàng chục chiến sĩ bị thương, nằm viện. Những cuộc giành giật, xô xát giữa kiểm lâm và lâm tặc xảy ra liên miên trong một thời gian dài” - ông Phan Hồng Thái, một cán bộ kiểm lâm công tác lâu năm ở Phong Nha – Kẻ Bàng nhớ lại.
Thế nhưng, câu chuyện về xứ “lâm tặc” Sơn Trạch như kể trên bây giờ đã trở thành quá vãng. Đến Sơn Trạch hôm nay, nếu đi tìm một “lâm tặc” đang hành nghề thì ai cũng cười tủm tỉm bảo: “Lâm tặc là tui nhưng bây giờ tui đã bỏ nghề rồi”. Ông Nguyễn Văn Hòa – Bí thư Đảng ủy xã Sơn Trạch tâm sự với chúng tôi rằng, chính bản thân ông cũng không thể nào tin được đến một ngày như hôm nay, người dân quê ông đã cởi bỏ được tấm áo “lâm tặc”, từ bỏ được cụm từ “lầm lũi Sơn Trạch” mà ngày đó có một bài báo đã giật tít như vậy để nói về cuộc sống lầm lũi mưu sinh trong rừng sâu…
Hồ Khanh (47 tuổi) - một người nông dân Sơn Trạch bây giờ đã rất nổi tiếng vì là người đầu tiên phát hiện ra hang động Sơn Đoòng lớn nhất thế giới, có lẽ cũng là người đầu tiên ở xứ này đoạn tuyệt với kiếp nợ “lâm tặc”. Năm 1991, trong một lần đạp rừng đi tìm trầm, tình cờ Hồ Khanh đã phát hiện ra hang động Sơn Đoòng nhưng sau đó anh đã quên không tìm đường trở lại được. Năm 2009, sau những lần được ông Howart Limbert - trưởng đoàn thám hiểm hang động Hoàng gia Anh nhờ dẫn đường đi thám hiểm hang động, Hồ Khanh trở nên yêu thích công việc này, yêu vẻ đẹp của núi rừng quê hương và cũng từ đó anh đoạn tuyệt với việc đi phá rừng...
Bây giờ  thì cái tên Hồ Khanh đã trở nên nổi tiếng toàn cầu. Cứ một bài báo quốc tế viết về hang động khổng lồ lớn nhất thế giới Sơn Đoòng đều kèm theo tên tuổi của Hồ Khanh, người phát hiện và là nhân vật dẫn đường số một ở khu vực Kẻ Bàng. Hiện nay, ngoài vai trò là tổ trưởng tổ porter (vận chuyển) ở Công ty Lữ hành Chua Me Đất -đơn vị đưa khách du lịch khám phá hang Sơn Đoòng, Hồ Khanh còn làm thêm 6 gian nhà trọ homestay phục vụ khách du lịch.
Nói về đội porter chuyên dẫn khách khám phá Sơn Đoòng, Hồ Khanh tự hào: “Vốn xuất thân là những “lâm tặc” nhưng bây giờ tham gia vào đội porter của Công ty Chua Me Đất dẫn khách khám phá Sơn Đoòng, chúng tôi đã được đào tạo thành những porter có đẳng cấp quốc tế. Chúng tôi cũng được đào tạo bài bản và đầy đủ về ứng xử, tiếng Anh, sử dụng thiết bị leo núi, sơ cấp cứu… Đặc biệt chúng tôi bắt buộc ký cam kết không vào rừng chặt cây, săn bắt thú. Hiện đội chúng tôi có hơn 150 người, đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, đơn cử như chuyến gùi hàng tấn thiết bị cho Hãng truyền hình ABC của Mỹ vào làm chương trình trực tiếp trong tháng 4 vừa qua”.
Anh Trần Văn  Luân (40 tuổi) vốn cũng là dân sơn tràng, có hàng chục năm đi rừng. Sống ở vùng ruộng ít, chỉ toàn rừng và núi đá vôi, từ nhỏ anh Luân đã thấy rất nhiều đàn ông trong thôn xóm vào rừng kiếm miếng cơm manh áo. Lớn lên, anh Luân cũng đi theo con đường ấy. Những lúc nông nhàn, anh lại vào rừng kiếm sống, đối mặt với nhiều nguy hiểm, nhưng cuộc sống không cải thiện là bao.
Từ năm 2014, anh Luân được tuyển vào làm porter tại Công ty Chua Me Đất, phục vụ du khách trong những chuyến thám hiểm hang động lớn nhất thế giới - Sơn Đoòng. “Mỗi chuyến đi, tôi phải vác khoảng 35-40kg hàng. Đi rừng lâu năm nên tôi quen mang vác nặng, chừng đó không là gì. Được làm porter, chúng tôi có thu nhập ổn định, không còn phải đi phá rừng nữa” -  anh Luân chia sẻ.
Trung tâm xã Sơn Trạch hơn 25 năm trước, trong trí nhớ của nhiều người  chỉ có vài ba căn nhà xây cấp bốn, còn lại toàn nhà lá, nghèo khó. Người lạ đến với Sơn Trạch ngày đó đa phần là các đầu nậu buôn bán gỗ, còn khách du lịch là một khái niệm xa lạ…
Ngày nay, trung tâm xã Sơn Trạch đã hình thành nên thị tứ sầm uất, những ngôi nhà lá nghèo nàn năm xưa đã được thay thế hoàn toàn. Dịch vụ homestay nở rộ, nhà hàng, khách sạn mọc lên san sát. Người dân Sơn Trạch chuyển sang làm nhiều nghề như: Chèo thuyền, chụp ảnh, làm porter… phục vụ du lịch.
Trong câu chuyện với chúng tôi, ông Nguyễn Văn Hòa - Bí thư Đảng ủy xã Sơn Trạch tự hào: “Nằm mơ cũng không thể tưởng tượng được ngày nay vùng đất cửa ngõ di sản Phong Nha-Kẻ Bàng có thể phát triển như thế này. Người dân Sơn Trạch đã thôi hẳn phá rừng và đang làm du lịch. Trước đây, người dân làm nông nghiệp không thể đủ ăn thì nay họ có thể làm giàu. Nhiều hộ nhờ trồng rau bán cho các nhà hàng phục vụ khách du lịch mà  giàu lên như các hộ bà Nguyễn Thị Hiệp, Nguyễn Thị Tuyết mỗi năm thu hàng trăm triệu đồng. Rồi các hộ ông Trương Văn Lư, ông Hoàng Văn Thái… thì phát triển chăn nuôi các con đặc sản như cá chình, dê núi…
Ngoài nguồn thu từ sản phẩm nông nghiệp, bây giờ nông dân cũng có thêm nguồn thu từ các khách muốn xuống ruộng làm đồng. Trước đây làm đồng cứ mong có ai đến giúp, giờ thì có khách nước ngoài đến nhổ lạc, trẩy ngô cùng, không những họ ưng bụng mà còn trả tiền để được làm.
Trên các nẻo đường làng xã Sơn Trạch  ngày nay, người dân đã quá quen hình ảnh người nước ngoài xa đạp xe, tản bộ, “phượt” bằng xe máy, hoặc tắm ở bất cứ nơi nào của dòng sông Son một cách tự nhiên. Người dân với du khách  trở nên thân thiện. Khách về ở trong nhà dân, ăn món ăn bản địa mộc mạc mà cả đời họ chưa biết đến ở bên kia bờ đại dương, như món lạc rang hay ngô luộc, khoai lang nướng...
Theo ông Hòa, trong hơn 11.000 dân xã Sơn Trạch, hiện có đến hơn 70% đã tham gia làm du lịch từ trực tiếp đến gián tiếp. Con cá, mớ rau, ruộng đồng, con trâu, con bò... tất tật liên quan đến ruộng vườn, đồng áng đều được đưa vào phục vụ khách du lịch. (Dân Việt 8/9) đầu trang(
Những tranh chấp đất đai, nhất là nơi giáp ranh đang gây nên những hậu quả ở nông thôn. Vụ việc nhẹ thì cũng khiến người dân không yên tâm sản xuất, bị đói nghèo giam hãm, nặng thì gia tộc, làng xóm không đoàn kết, thậm chí dẫn đến ẩu đả lẫn nhau.
Có những vụ tranh chấp đất đai kéo dài hàng chục năm gây bế tắc về hướng xử lý cho chính quyền, khiến người dân lúng túng trong việc tìm kiếm công ăn việc làm, đời sống khó khăn lận đận mãi. Tình trạng này đang diễn ra khá nóng bỏng, đặc biệt tại nhiều địa phương ở miền Trung – Tây Nguyên.
Từ những năm 1996, hàng trăm hộ dân ở huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) “góp đất” tham gia dự án trồng rừng 327. Từ năm 2004, khi Chương trình 327 chấm dứt, 658ha đất của hàng trăm hộ dân các xã của huyện Khánh Vĩnh đã bị chuyển hẳn cho lâm trường quản lý (nay là Công ty Trầm Hương).
Hàng trăm hộ “bỗng dưng” mất đất sản xuất, phải làm thuê trên chính mảnh đất của mình hoặc phải đi rất xa để khai hoang kiếm sống. Nỗi ấm ức mất đất đã thành mâu thuẫn giữa dân và đơn vị quản lý rừng. Hễ thấy có động thái gì của công ty trên mảnh đất của mình là họ lại khiếu nại.
Sau cả chục năm, qua nhiều nhiệm kỳ đốc thúc việc bóc tách đất lâm nghiệp, trả lại đất cho dân canh tác, ngày 13.12.2014, UBND tỉnh Khánh Hòa đã chỉ đạo khẩn về việc tổ chức thực hiện giao 319,5ha đất cho 639 hộ đồng bào DTTS nghèo thiếu đất sản xuất (đợt đầu).
Nhưng quá trình trả lại đất cho dân lại như hành động “châm ngòi” cho một cuộc tranh chấp mới, phức tạp và khó giải quyết hơn. Ông Nguyễn Trung – Trưởng thôn Hòn Lay, xã Khánh Hiệp, huyện Khánh Vĩnh cho biết, thời gian gần đây tại địa bàn thôn đã xảy ra tình trạng tranh chấp quyết liệt đất rừng 327. Có tổng cộng 8 hộ tại thôn tranh chấp lẫn nhau nhiều mảnh đất rừng 327 đã thu hoạch xong cây rừng.
Mâu thuẫn gay gắt, hai gia đình cùng dòng họ của bà Nguyễn Thị Phương và ông A Đap Y Nam đã xảy ra xung đột. Chồng của bà Phương bị hàng chục người nhà của ông A Đap Y Nam vác rựa rượt chém gây náo loạn cả làng xóm. Hộ bà Phương thì nói khu đất đó năm 2006 gia đình bà đưa vào tham gia dự án 327, nay dự án hoàn tất thì lấy lại. Còn gia đình ông A Đap Y Nam thì cho rằng, khu đất đó do ông cha để lại cho gia đình, trước năm 2006, nhà bà Phương đến chiếm… Xã hòa giải, yêu cầu các bên dừng mọi hoạt động trên đất tranh chấp, chờ giải quyết. Tuy nhiên, từ đó đến nay hai bên vẫn liên tục tranh chấp, hộ này vào trồng keo thì hộ kia vào nhổ cây và ngược lại.
Ngày 24.8, bà Nie H’Ruông – Chủ tịch UBND xã Khánh Hiệp cho biết, sau khi nhà nước thu hoạch xong cây trên đất rừng 327, tại xã đã xảy ra tranh chấp, xô xát giữa nhiều hộ tranh giành đất rừng 327. Hiện tại, xã nhận phương án thực hiện chia trả lại đất rừng 327 cho 41 hộ. Xã đã hòa giải, phân định xong 16 hộ, vẫn còn 25 hộ tranh chấp với nhau về diện tích nên xã đang xin cấp trên cho thêm thời gian để hòa giải, thuyết phục.
Mấu chốt của vấn đề là hầu hết các hộ đã làm thất lạc hợp đồng tham gia trồng rừng 327. Gần 20 năm, hiện trạng đất rừng đã đổi khác nhiều nên các hộ không nhớ rõ vị trí đất của mình. Điều đó làm cho sự tranh chấp càng lúc càng nhùng nhằng phức tạp, không có hướng giải quyết.
Sự tranh chấp đất đai dai dẳng nhất ở miền Trung liên quan đến địa giới hành chính là giữa hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế. Có nhiều thôn về địa giới thì thuộc tỉnh này nhưng về pháp lý lại thuộc tỉnh khác. Nguyên nhân chính là lãnh đạo của 2 tỉnh đã không tìm được tiếng nói chung.
Cụ thể, vào năm 1989, Quốc hội khóa VIII có nghị quyết chia tách tỉnh Bình Trị Thiên thành 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên- Huế. Từ tháng 9.1993, lãnh đạo 2 tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế đã tổ chức hội nghị hiệp thương để tìm ra giải pháp giải quyết tranh chấp đất đai ở vùng giáp ranh. Tuy nhiên, hội nghị này đã thất bại vì lãnh đạo 2 tỉnh không bên nào chịu nhường bên nào. Nhằm giải quyết bế tắc, Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên- Huế lúc đó là ông Phạm Bá Diễn đã làm công văn xin ý kiến của Chính phủ.
Trên cơ sở đó, ngày 22.11.1995, Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký Quyết định số 762/TTg phân định địa giới 2 tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên- Huế, chuyển 4 thôn Tân Phương Lang, Phú Xuân B, Phú Kinh và một phần thôn Câu Nhi của xã Hải Ba, huyện Hải Lăng về huyện Phong Điền và chuyển xã Hồng Thủy của huyện A Lưới về huyện ĐaKrông.
Tuy vậy đến nay, sau gần 20 năm, giữa 2 tỉnh vẫn chưa thống nhất được đường địa giới hành chính. Nguyên nhân là trong khi phía Thừa Thiên- Huế yêu cầu làm theo quyết định của Thủ tướng thì phía Quảng Trị lại yêu cầu phải thực hiện giải quyết tranh chấp theo nguyện vọng của người dân, tức là dân muốn theo tỉnh nào thì theo.
Mới đây, Chính phủ đã trình Quốc hội phương án giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính giữa Quảng Trị và Thừa Thiên- Huế. Tờ trình của Chính phủ đề nghị Quốc hội giao tỉnh Thừa Thiên- Huế quản lý toàn bộ hiện trạng đất đai và dân cư của xã Hồng Thủy và các thôn Phú Xuân B, Phú Kinh; giao tỉnh Quảng Trị quản lý các thôn Tân Phương Lang và Câu Nhi. Hiện phương án này đang chờ Quốc hội thông qua. (Dân Việt 7/9) đầu trang(
Ông Trần Anh Tuấn, Giám đốc công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Tam Hiệp, công ty được chuyển đổi từ Lâm trường Tam Hiệp trước đây, cho biết vấn đề nổi cộm nhất ở đây là tình trạng phá rừng, lấn chiếm, tranh chấp đất đai giữa người dân và lâm trường.
Hiện diện tích quản lý của Lâm trường Tam Hiệp là 26.624 ha. Trong đó, rừng phòng hộ 855 ha, 22.632 ha là rừng tự nhiên sản xuất, còn lại là các loại đất lâm nghiệp khác. Theo ông Tuấn Anh, Giám đốc công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Tam Hiệp, cho dù đến nay đã giao khoán bảo vệ 10.000 ha cho các hộ dân, thế nhưng tình trạng phá rừng, khai thác gỗ trái phép vẫn diễn ra thường xuyên.
Tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép, chủ yếu từ tiểu khu 678, 677 thuộc công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tam Hiệp - Di Linh về xã Ninh Loan để tiêu thụ đã xảy ra nhiều năm.
Ở khu vực giáp ranh này có tới 4 xưởng cưa, là nơi tiếp tay tiêu thụ gỗ trái phép. Thế nhưng, "Vì họ ở ngoài địa bàn của của Lâm trường, nên Lâm trường không thể ngăn chặn được", ông Tuấn Anh chia sẻ.
Trên địa bàn xã Tam Bố có 27.690 ha rừng, trong đó 25.000 ha thuộc công ty Lâm nghiệp Tam Hiệp quản lý. Ông KBrel, Chi hội trưởng Hội Nông dân thôn 4, xã Tam Bố, cho biết cả xã có 150 hộ nhận khoán bảo vệ rừng từ Lâm trường, với diện tích khoảng 3.000 ha. Tiền công bảo vệ rừng 200.000 đồng/ha/năm, bình quân mỗi hộ 20 ha, tiền công 1 năm chỉ khoảng 4 triệu đồng. Tiền công bảo vệ rừng quá thấp, rừng lại ở xa nên rất khó bảo vệ.
Ông KBrel cho biết: "Nhà mình nhận khoán bảo vệ 30 ha rừng, được trả mỗi năm 5 - 6 triệu đồng Mỗi tháng chỉ đi lên xem khu rừng đó có 3 lần thôi, mỗi lần đã mất 50.000 đồng tiền xăng chạy xe máy rồi. Mà cũng không thể đi hết được chỗ rừng mình nhận, chỉ đến đầu bìa rừng nơi mình nhận khoán bảo vệ, rồi về thôi. Người ta chặt cây trong rừng của mình nhiều lắm, làm sao mình biết hết được".
Ông Đào Văn Vị, Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch UBND xã Tam Bố, dẫn chúng tôi vào trong rừng, chỉ cho thấy những quả đồi đỏ quạch nằm giữa những đồi rừng thông xanh ngắt. Ông Vị cho biết cả xã có 1.700 hộ, dân số gần 7.000 khẩu, trong đó dân tộc Kho chiếm 42%.
Do các hộ gia đình đều đông con nên dẫn đến thiếu đất sản xuất, nhiều hộ đã lấn chiếm đất rừng để làm rẫy, chủ yếu là trồng cà phê. Họ không chỉ lấy đất để tự sản xuất, mà còn mua đi bán lại trái phép cho người ở nơi khác đến trồng cà phê.
Ông Trần Anh Tuấn cho biết tình trạng người dân phá rừng, lấn chiếm đất của Lâm trường, biến thành đất nông nghiệp một cách trái phép đang rất nóng. Từ năm 2014 đến nay đã xử phạt 145 hộ lấn chiếm đất, giải tỏa, thu hồi cưỡng chế 60 ha để tổ chức trồng rừng. Thế nhưng tính đến tháng 8/2015, có 3.120 ha đang bị tranh chấp, đó là đất rừng bị người dân chiếm dụng để trồng chủ yếu là cây cà phê. Vì diện tích này bị chiếm dụng đã nhiều năm, đến nay không thể thu hồi được.
Theo ông Tuấn, mâu thuẫn giữa sinh kế của người dân địa phương với nhiệm vụ bảo vệ rừng là bài toán không dễ giải. Công ty đã soạn thảo xong phương án sắp xếp đổi mới, đã trình lên cấp trên.
Trong đó, đề ra phương hướng sẽ quy hoạch lại diện tích đất. Với 3.120 ha đất lâm nghiệp mà người dân đã trồng cà phê nhiều năm thì không thể thu hồi được, nên sẽ giao về cho địa phương quản lý và buộc phải chuyển từ đất lâm nghiệp sang đất nông nghiệp.
Theo Văn bản Kết luận của Thanh tra của UBND tỉnh Lâm Đồng ngày 12/3/2015, về việc Thanh tra công ty Lâm nghiệp Tam Hiệp theo Quyết định số 55/QĐ-TTr, trong 2 năm 2013, 2014, công ty này hạch toán trên báo cáo tài chính chưa đúng quy định của Luật Thuế TNDN. Tình trạng rừng bị phá, bị mất đất rất nghiêm trọng.
Chánh Thanh tra tỉnh kiến nghị UBND huyện Di Linh có các biện pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền Luật Bảo vệ và Phát triển rừng nhằm nâng cao nhận thức của người dân.
Chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chức năng, UBND các xã Tam Bố, Gia Hiệp mạnh tay kiểm tra, truy quét, phát hiện và ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm tài nguyên rừng xảy ra trên địa bàn huyện. (Thời Báo Kinh Doanh 7/9) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Một người đàn ông Trung Quốc đã bị voi hoang giẫm chết vào ngày 7.9 khi đang đi bộ thể dục buổi sáng qua một khu rừng ở miền trung Ấn Độ.
Cảnh sát địa phương cho biết, sự việc xảy ra ngày 7.9 tại khu rừng Gharghoda ở bang Chhattisgarh, Ấn Độ. Nạn nhân được xác định là ông Jong Kitau, 41 tuổi, một kỹ sư người Trung Quốc làm việc cho một dự án thủy điện ở khu vực này.
Ông Jong Kitau và một đồng nghiệp cùng nhau chạy thể dục buổi sáng trong rừng, bất ngờ một con voi hoang dã xuất hiện và tấn công họ. Trong khi đồng nghiệp kịp bỏ chạy và chỉ bị thương nhẹ, ông Kitau đã bị con voi dữ tấn công và giẫm tới chết.
Theo Quỹ quốc tế  bảo vệ thiên nhiên (WWF), voi Ấn Độ có thể phát triển dài tới 6,4m, cao 3,5m và nặng tới 5 tấn.
Ấn Độ hiện có khoảng 25.000 cá thể voi đang sống trong môi trường hoang dã, nhưng số lượng của chúng đang suy giảm do nạn săn bắn trái phép và phá rừng. (24 Giờ 8/9 Tiền Phong 8/9) đầu trang(
Tượng Chúa Giê su cứu thế tại thành phố Rio de Janeiro của Brazil mới đây đã được thắp sáng bằng những hình ảnh tuyệt đẹp về khu rừng nhiệt đới Amazon. Đây là một trong những nỗ lực kêu gọi sự chú ý của dư luận đến việc bảo vệ các quần xã sinh vật phong phú Nam Mỹ nhân ngày Amazon - 5/9. (VTC 14 6/9) đầu trang(
Miền Viễn Đông nước Nga, gồm phần lớn khu vực phía đông hồ Baikal, có diện tích lớn gấp đôi Ấn Độ và là ngôi nhà của một số động vật quý hiếm nhất thế giới.
Hổ Amur chỉ còn tồn tại gần 500 con trong tự nhiên, sống chủ yếu ở phía nam miền Viễn Đông nước Nga. Một số lượng nhỏ được tìm thấy ở đông bắc Trung Quốc.
Cú bắt cá Blakiston chủ yếu ăn cá hồi, loài cá rất phổ biến ở những con sông phía nam miền Viễn Đông nước Nga. Những con cú cực lớn đang có nguy cơ tuyệt chủng này sống ở đây quanh năm, chống chọi các đợt nắng nóng mùa hè và không khí lạnh -30 độ C vào mùa đông.
Với số lượng ước tính chỉ còn 60-80 con sống rải rác trong những cánh rừng phía nam miền Viễn Đông nước Nga và Trung Quốc, báo Amur là loài thú họ mèo có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất thế giới.
Cò trắng phương Đông, một động vật có nguy cơ tuyệt chủng, xây những chiếc tổ lớn bằng que gậy trên cây dọc vùng đất thấp nhiều đầm lầy ở lòng chảo sông Ussuri và Amur, phía nam miền Viễn Đông nước Nga.
Sơn dương goral đuôi dài sinh sống chủ yếu ở phía nam miền Viễn Đông nước Nga. Khoảng 700-900 con náu mình trên những vách đá dốc đứng dọc vùng bờ Biển Nhật Bản để tránh thú dữ. Mặc dù có hình dáng giống dê, chúng có họ hàng gần với loài linh dương.
Lửng chó là thành viên duy nhất thuộc họ chó có hành vi ngủ đông.
Với sải cánh ba mét và cân nặng 11,5 kg, chim kền kền màu xám tro có kích thước rất lớn. Loài chim săn mồi này sống ở Trung Á, Mongolia và Trung Quốc. Một số nhỏ những con chim chưa trưởng thành sẽ trải qua mùa đông dọc vùng bờ Biển Nhật Bản ở phía nam miền Viễn Đông nước Nga.
Đại bàng biển Steller là loài đại bàng lớn nhất trên thế giới. Loài vật này sinh sống ở phía bắc miền Viễn Đông nước Nga, nhưng nhiều con trải qua mùa đông ở vùng bờ Biển Nhật Bản và ăn xác cá hồi di cư.
Vịt uyên ương, một loài có họ hàng gần với vịt gỗ Bắc Mỹ, sống trong những hốc cây và ăn hạt từ những cây sồi Mongolia.
Gấu đen châu Á, còn gọi là gấu ngựa, sống ở vùng đông nam châu Á và rất hiếm gặp ở Nga, nơi chúng đôi khi trở thành mồi săn của hổ Amur.
Khu vực phía nam miền Viễn Đông nước Nga có tính đa dạng sinh học lớn hơn bất kỳ vùng ôn đới nào trên thế giới. (VnExpress 7/9) đầu trang(
Các nhà khoa học Nam Phi phát hiện một số loài ếch ăn mọi con vật có kích thước nhỏ hơn chúng, thậm chỉ cả thịt đồng loại.
Theo Live Science, nghiên cứu trên do các nhà khoa học đại học Stellenbosch thực hiện, công bố hôm 25/8 trên tạp chí PeerJ.
Ếch ăn thịt đồng loại không phải chuyện hiếm. Thực tế, nhiều báo cáo cho thấy ếch ăn thịt "anh chị em họ" cùng loài. Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu nào về lý do chúng ăn thịt đồng loại, và chỉ xảy ra ở một số loài ếch.
"Có vẻ như chỉ cần đúng lúc đúng chỗ, ếch sẽ ăn bất cứ thứ gì di chuyển trước mắt," John Measey, chủ nhiệm đề tài, cho biết.
Ông quan tâm đến thức ăn của ếch khi nghiên cứu loài ếch có vuốt châu Phi (Xenopus laevis) ở mũi Cape, phía nam châu Phi. Measey và đồng nghiệp nhận thấy, những con ếch có vuốt này không phải loài bản địa và chúng ăn thịt những con ếch bản địa.
Họ phân tích số liệu 355 báo cáo về ếch, 1/5 trong đó ghi nhận ếch ăn thịt đồng loại, thường xảy ra khi một loài ếch xâm lấn địa bàn mới. Theo đó, khả năng ăn thịt đồng loại của chúng là 40%.
Theo Measey, giờ đây các nhà sinh học và bảo tồn thiên nhiên có thể khẳng định rằng, ếch xâm lấn là mối đe dọa với ếch bản địa và cần phải diệt trừ.
Một vài yếu tố khác cũng giúp dự đoán cách thức ếch ăn thịt đồng loại. Chẳng hạn như con ếch to hơn thường có xu hướng ăn thịt đồng loại. Cứ mỗi một mm kích thước lớn hơn, con ếch lại có thêm 2,8% khả năng ăn thịt đồng loại.
"Nếu đặt hai con ếch cạnh nhau, con này lớn hơn con kia 10 mm, nó sẽ có 28% khả năng ăn thịt đồng loại nhiều hơn so với con ếch nhỏ," Measey cho biết.
Yếu tố đa dạng sinh học cũng ảnh hưởng tới sự thèm ăn của chúng. Tại những địa điểm có càng nhiều loài ếch khác nhau sinh sống, chúng sẽ có xu hướng ăn thịt đồng loại cao hơn là khu vực chỉ có một vài loài cùng sống.
Tuy nhiên, một số loài ếch chỉ ăn thịt những con khác loài. Theo Measey, nó giống như con người ăn thịt bò, hoặc gà ăn sâu bọ. Trong nghiên cứu của Measey, số vụ ếch ăn thịt con khác loài gấp ba lần số vụ ăn thịt con cùng loài. Ông cho biết, sẽ tiếp tục nghiên cứu để tìm hiểu cách chúng phân biệt và ăn thịt con khác loài. (VnExpress 7/9) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang