|
Ngày 08 tháng 04 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
7/4, Cục Kiểm lâm - Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ NN&PTNT có công văn yêu cầu chi cục kiểm lâm các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường chỉ đạo, chấn chỉnh công tác xử lý vi phạm đối với động vật hoang dã.
Tình hình săn bắn, bẫy bắt, mua bán, kinh doanh, vận chuyển và tiêu thụ các loài động vật hoang dã trái phép trên địa bàn một số tỉnh, thành phố thời gian qua vẫn diễn biến phức tạp, dư luận phản ánh việc xử lý vi phạm đối với động vật hoang dã chưa nghiêm theo quy định pháp luật làm hạn chế răn đe, phòng ngừa vi phạm.
Cục Kiểm lâm đề nghị Chi cục kiểm lâm các địa phương xử phạt nghiêm các trường hợp vi phạm, đúng quy định tại Nghị định 157 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, đối với các hành vi vi phạm về động vật rừng.
Đối với hành vi vi phạm về bảo vệ động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, hiếm “được ưu tiên bảo vệ”, thì tổ chức điều tra, xác minh và xử lý nghiêm theo đúng quy định tại Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009).
Việc xử lý tang vật là động vật rừng sau tịch thu của các vụ xử phạt vi phạm hành chính phải thực hiện đảm bảo đúng quy định tại Thông tư số 90 ban hành ngày 28/8/2008 của Bộ NN&PTNT Hướng dẫn xử lý tang vật là động vật rừng sau xử lý tịch thu. (Nông Nghiệp VN 8/4; VOV 7/4)đầu trang(
Báo cáo tại cuộc họp về công tác phòng chống cháy rừng sáng 7/4, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kiên Giang cho biết, từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 16 vụ cháy rừng với diện tích 92,14 ha.
Huyện Phú Quốc xảy ra 11 vụ, cháy trên 20 ha; Hòn Đất 1 vụ, cháy 35,6 ha; U Minh Thượng 1 vụ, cháy 30 ha và Giang Thành 1 vụ, cháy 6,5 ha. Diện tích rừng bị cháy hầu hết đã giao khoán cho các tổ chức và cá nhân.
Cháy rừng do khô hạn, nắng nóng kéo dài bất thường so với nhiều năm trước. Trong khi dự báo cháy rừng đã báo động cấp V (cấp cực kỳ nguy hiểm), các chủ rừng vẫn chủ quan, thiếu tinh thần trách nhiệm, không đủ nguồn lực để thực hiện các biện pháp phòng chống cháy rừng.
Phó chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang, ông Mai Anh Nhịn, yêu cầu các ngành chức năng tăng cường biện pháp cấp bách phòng chữa cháy rừng; các chủ rừng chủ động giữ nước, bơm nước vào rừng; các lực lượng bảo vệ rừng phải túc trực ngay trong rừng 24/24.
Đặc biệt, từ nay đến hết mùa khô 2015, nghiêm cấm đốt dọn vườn rẫy, đồng cỏ, đồng ruộng; kiểm soát chặt chẽ người ra vào rừng…(Tiền Phong 8/4)đầu trang(
7/4, ông Trần Ngọc Thương, Phó GĐ Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Ngãi cho biết: “Việc huyện Ba Tơ cho phép Cty TNHH Hoàng Lâm Phú khai thác gần 600 cây thông cổ thụ tại xã Ba Tô và xã Ba Cung bán với giá gần 65 triệu là hoàn toàn sai về pháp lý, thủ tục. Huyện đã tự ý họp, tự đứng ra chủ trì, bán đấu giá cây thông mà không báo cáo tỉnh”.
Theo ông Thương, đáng ra huyện phải báo cáo UBND tỉnh và Sở để tham mưu sau đó mới thuê đơn vị tư vấn thiết kế rừng để thực hiện trồng lại.
UBND tỉnh Quảng Ngãi đã có văn bản yêu cầu UBND huyện Ba Tơ đình chỉ việc cấp khai thác chờ giải quyết. Sở NN&PTNT cũng đã giao cho Chi cục Kiểm lâm kiểm tra thẩm quyền và trình tự khai thác thông tại địa phương này.
Được biết sự việc xảy ra từ cuối năm 2014, được người dân phát hiện gần đây và trình báo chính quyền.(Tiền Phong 8/4)đầu trang(
Tổng cục Thủy sản - Bộ NN&PTNT nhận định, nguồn lợi thủy sản trên biển đang bị cạn kiệt nhanh chóng và rõ rệt.
Theo đó, nguồn lợi thủy sản đang suy giảm cả về chất lượng và giá trị, ảnh hưởng nghiêm trọng tới đa dạng sinh học cũng như sinh kế của người dân. Nguyên nhân là do tình trạng khai thác quá mức cho phép nên số lượng thủy sản được cập nhật vào “Sách đỏ Việt Nam” ngày càng nhiều. Không chỉ hải sản mà hiện nguồn thủy sản nước ngọt cũng đang ở mức “báo động đỏ”.
Trước thực trạng trên, nhiều chuyên gia cho rằng, cần xây dựng một chương trình và quỹ bảo vệ tái tạo nguồn lợi thủy sản Việt Nam. (An Ninh Thủ Đô 8/4)đầu trang(
Nằm trong thung lũng cá lóc ở Đắk Lắk, Khu bảo tồn lan rừng Troh Bư hiện có hơn 200 loài lan rừng, trong đó có nhiều loài đặc hữu. Nơi đây còn có 2 cổ vật độc nhất vô nhị ở Tây Nguyên: bộ chiêng đá khoảng 10 triệu năm tuổi và chiếc thuyền độc mộc đục từ thân cây khổng lồ.
Troh Bư (nghĩa là “thung lũng cá lóc” trong tiếng Êđê) nằm lọt giữa 4 buôn đồng bào Êđê, gồm Niêng 1, Niêng 2, Niêng 3 và Kó Đung thuộc xã Ea Nuôl, huyện Buôn Đôn. Thung lũng cá lóc xưa kia là khu rừng hoang đất đai màu mỡ, cây cối xanh tốt, nhưng rồi bị con người tàn phá trơ trọi. Rồi có một người cặm cụi vun xới suốt hai thập kỷ để tái tạo lâm cảnh, biến vùng đất khô nẻ, trơ trụi thành khu vườn tươi thắm.
Giữa mùa khô nắng rát, chúng tôi vào thung lũng cá lóc để được ngắm vườn lan rừng đang mùa hoa. Khu vườn xanh mướt, những giò lan bám chặt thân cây, hoa tỏa hương thơm dịu, ong rừng rộn ràng hút mật. Những cây gỗ quý đường kính 20-40cm mọc san sát. Trên thân cây, những khóm lan rừng như Thủy tiên, Bạch câu, Nghinh xuân… đua nhau mọc. Từ những giò hoa ban đầu mang từ nơi khác về, lan rừng ở đây đã tự sinh sôi.
Bên trong vườn lan, rẫy cà phê rộng 3 sào đang độ ngậm quả, ngôi nhà dài truyền thống Êđê thấp thoáng lộ ra, bên cạnh là hồ cá, chòi nuôi heo, gà rừng… Men theo con đường mòn tới cuối khu vườn, chúng tôi thấy một ngôi nhà kiến trúc Pháp cổ. Tầng dưới la liệt sách vở liên quan Tây Nguyên, gác trên trưng bày các hiện vật văn hóa như ghế K’pan, cối giã gạo, mõ trâu, gùi, chiêng…
Chúng tôi đặc biệt ấn tượng với bộ chiêng đá 24 món và chiếc thuyền độc mộc kích thước “khủng”. Bộ chiêng đá được chuyên gia đoán định có niên đại khoảng chục triệu năm, còn chiếc thuyền độc mộc dài 9m, rộng 1,75m, do cố nghệ nhân Nay Nen Lào, đệ nhất đẽo thuyền độc mộc ở Buôn Đôn, làm từ một thân cây gỗ sao khổng lồ trong vòng 6 tháng. “Tôi thấy mình có duyên với 2 món cổ vật văn hóa vô giá là bộ chiêng đá bazan và chiếc thuyền độc mộc cực kỳ hiếm này. Đã có nhiều người đến hỏi mua chiếc thuyền giá ngót nửa tỷ đồng nhưng tôi không bán”, chủ vườn lan, anh Đỗ Tuấn Hưng, nói.
Tốt nghiệp ngành kinh tế nông nghiệp, nhưng anh Đỗ Tuấn Hưng lại nối nghiệp cha làm lâm nghiệp. Công việc thường xuyên đi rừng càng làm anh thêm yêu rừng, mong muốn có một mảnh đất để trồng nhiều loại cây. Năm 1995, một người bạn thân rủ anh đến khu rẫy của gia đình ở buôn Niêng 3, xã Ea Nuôl chơi. Cả vùng Troh Bư lúc đó chỉ còn lại những quả đồi hoang, nơi thì vài ba cây rừng mọc, nơi lác đác mía trồng.
Bằng con mắt nghề nghiệp của người đi rừng, anh thấy vùng đất có địa thế đẹp, suối nước trong xanh, xung quanh là đồi thấp, ao hồ đầy nước thuận lợi để trồng nhiều loại cây. Anh tìm gặp già làng để hỏi gốc tích và càng yêu thích hơn khi được nghe kể về huyền thoại Troh Bư (ngày xưa có vùng đất bị Giàng phạt, khô hạn kéo dài, cư dân bỏ đi, cuối cùng tìm được thung lũng có suối đầy cá lóc).
Ấn tượng với huyền thoại bao nhiêu, anh Hưng lại càng thấy buồn bấy nhiêu khi thấy thung lũng cá lóc hoang tàn, xơ xác. Sau nhiều đêm trăn trở, anh nảy ra ý định hồi sinh vùng đất huyền thoại này thành nơi lưu giữ văn hóa Tây Nguyên. Anh đạp xe đến từng nhà dân vùng Troh Bư xin mua đất, rồi về rao bán 1 ha rẫy cà phê xanh tốt ở xã Ea Kao, thành phố Buôn Ma Thuột, vay mượn thêm để mua 5 ha đất ở Troh Bư.
Anh dành một phần đất để trồng cà phê, cây ăn trái, riêng phần đất còn một số cây rừng thì để nguyên, mua thêm những giống cây quý về trồng dặm. Anh xây dựng khu bảo tồn lan, sưu tầm hiện vật văn hóa dân gian về trưng bày…, với mong muốn tạo ra hình ảnh đa chiều về một Tây Nguyên thu nhỏ.
Khu rừng ngày càng xanh tốt, phong lan phát triển thành quần thể đa dạng. Anh quyết định chặt bỏ bớt cây cà phê và cây ăn trái để khu rừng phát triển tự nhiên, tạo môi trường cho lan rừng sinh sản. Cuối tuần, anh lại tìm đến cánh rừng nguyên sinh ở các huyện Ea Súp, Buôn Đôn tìm kiếm lan rừng mang về cấy lên cây. Thỉnh thoảng, anh ra chợ lan rừng ở đường Phan Đình Giót xem có loài lan nào đẹp, lạ thì mua về trồng. Thời gian đầu anh chưa có kinh nghiệm, nên những giò lan anh vất vả kiếm được lần lượt chết rũ.
“Lúc lan chết liên tục, tôi buồn nản lắm, nhưng rồi tình cờ tôi gặp một số người chơi lan rừng. Họ mách bảo kinh nghiệm, còn tôi đối chiếu với thực tế. Thế là tôi biết cách chăm sóc để lan rừng ngày càng sinh sôi. Nay vườn đã trở thành một khu bảo tồn lan rừng hẳn hoi nhé”, anh Hưng tự hào nói.
Anh Hưng quyết tâm làm sống lại vùng đất huyền thoại, xây dựng thành nơi lưu giữ văn hóa Tây Nguyên, nhưng túi tiền eo hẹp. Anh đành bán bớt 3 ha đất để có vốn xoay vòng, chỉ giữ thung lũng thấp nhất có 2 ha rừng tự nhiên với hơn 500 loài cây, trong đó có nhiều loài cây gỗ quý mà lâm tặc ngày đêm rình rập như giáng hương, cà chít, căm xe...
Đầu năm 2013, anh chính thức khai trương Khu bảo tồn lan rừng Troh Bư, đón du khách vào tham quan, ngắm lan rừng miễn phí. Riêng dịp Tết Ất Mùi vừa qua, Khu bảo tồn lan đón hơn 2.000 lượt du khách trong và ngoài nước, trong đó có cả chuyên gia nước ngoài.
Dạo quanh những con đường uốn lượn theo triền dốc, anh Đỗ Tuấn Hưng kể cho chúng tôi nghe huyền thoại Troh Bư. Ngày xưa, có vùng đất bị Giàng phạt, nhiều năm khô hạn không một giọt mưa, đất đai nứt nẻ, nguồn nước uống dần cạn kiệt. Không thể sản xuất, lương thực làm ra trước đó dùng lâu cũng hết, dân làng chia nhau vào rừng tìm rau, đào củ để mưu sinh qua ngày. Nhưng rồi, rau củ trong rừng cũng nhanh chóng bị khai thác hết, cây rừng chết dần, chim chóc, muông thú kéo nhau bỏ đi, dân làng không còn gì để ăn.
Già làng huy động đồng bào dâng lễ vật cúng tế thần linh nhiều lần, nhưng Giàng cũng chẳng ban mưa; cuối cùng, cả làng phải dắt nhau đi tìm vùng đất mới. Ngày đêm vượt núi, băng rừng, dù đã đi cách nơi ở cũ rất xa nhưng vẫn chỉ thấy rừng núi tiêu điều, cây cối xơ xác, đất đai khô khốc. Đoàn người ngày càng mệt mỏi, chán nản. Tuyệt vọng dừng chân nghỉ nơi đỉnh đồi, sáng dậy, dân làng thấy một thung lũng dưới chân núi, cây cối tươi xanh.
Dìu nhau xuống tận nơi, ai nấy đều vui mừng vì thấy khu rừng đất đai màu mỡ, hai dòng suối nhỏ nước chảy róc rách. Dừng chân bên suối, đưa tay vốc nước lên mặt cho tỉnh rồi chia nhau đi kiếm thức ăn, dân làng phát hiện thung lũng có rất nhiều cá lóc. Cả làng cùng nhau đắp bờ tát nước, bắt cá, nước càng cạn thì cá lóc hiện ra càng nhiều; cá lóc như từ dưới lòng đất chui lên, bắt mãi không hết. Trưa hôm đó, mọi người được ăn uống một bữa no nê. Điều kỳ diệu, ngày nào dân làng cũng bắt cá ăn nhưng cá vẫn nhiều nhung nhúc, trở thành nguồn sống của cả làng.
Quanh khu rừng còn có nhiều nguồn nước mạch chảy tự nhiên, đổ về con suối lớn thuận tiện cho cuộc sống sinh hoạt, trồng trọt. Nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào, nước uống mát lành. Cho rằng Giàng đã giúp mình, cả làng quyết định dừng chân, tổ chức cúng tạ Giàng và quyết định lập buôn trên vùng đất mới, đặt tên là buôn Niêng, dòng suối chảy qua buôn là suối Ea Nuôl, thung lũng đầy cá lóc là Troh Bư.
Ông Nguyễn Phú Hồng, cán bộ Văn phòng UBND xã Ea Nuôl, xác nhận, Khu bảo tồn lan rừng Troh Bư hiện có hàng trăm loài lan và nhiều hiện vật, sản phẩm văn hóa Tây Nguyên độc đáo. Mấy năm nay, vườn lan mở cổng miễn phí nên càng nhiều du khách xa gần đến tham quan. (Tiền Phong 8/4)đầu trang(
8-4, TAND tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử phúc thẩm đối với tám người cùng ngụ tại phường Long Bình, TP.Biên Hòa (Đồng Nai) về tội hủy hoại tài sản do đã chặt 12 cây tràm của Trung tâm Lâm trường Biên Hòa gây thiệt hại hơn 10 triệu đồng.
Trước đó, ngày 15-12-2014, TAND TP.Biên Hòa (Đồng Nai) đã đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm và tuyên phạt tù cả tám người. Cụ thể các bị cáo Đinh Trọng Thúc (48 tuổi), Vũ Thị Mộng Thu (49 tuổi), Ngô Quang Tuyên (35 tuổi), Vũ Thị Mộng Huyền (42 tuổi, em ruột Thu), và Nguyễn Thị Thu Hường (24 tuổi) bị tòa tuyên phạt mỗi bị cáo 5 tháng 4 ngày tù (bằng với thời gian tạm giam), thả tự do ngay tại tòa. Riêng bị cáo Nguyễn Tồn Chí (52 tuổi, chồng Thu) Nguyễn Thị Anh (42 tuổi, vợ Thúc), Đỗ Thị Le (64 tuổi, tất cả cùng ngụ TP.Biên Hòa) bị phạt 6 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
Sau khi TAND TP.Biên Hòa tuyên án, bảy bị cáo có đơn kháng cáo lên TAND tỉnh Đồng Nai kêu oan. Riêng bị cáo Nguyễn Tồn Chí không làm đơn kháng cáo.
Theo cáo trạng, ngày 26-10, Trạm trồng rừng Biên Hòa (nay là Trung tâm Lâm nghiệp Biên Hòa) ký hợp đồng giao 1ha đất tại tổ 23, khu phố 8, phường Long Bình, TP. Biên Hòa, Đồng Nai cho ông Ngô Văn Yến để ông này trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng cho đến khi thu hoạch sản phẩm sẽ được chia sản phẩm theo hợp đồng.
Ngày 4-12-2001, được sự đồng ý của Trung tâm Lâm nghiệp Biên Hòa, ông Yến chuyển nhượng lại hợp đồng trên cho ông Nguyễn Đức Hiền để tiếp tục chăm sóc, bảo vệ sinh và hưởng lợi sản phẩm trực tiếp với Trung tâm Lâm nghiệp Biên Hòa theo hợp đồng.
Tuy nhiên sau đó, ông Hiền lại sang nhượng trái phép khu đất này cho nhiều người khác. Nhưng người này lại tiếp tục sang nhượng lại cho người khác.
Ngày 13-10-2014, những người này đến chặt cây, dọn cỏ trên lô đất để sử dụng và cùng nhau góp 700.000 đồng thuê máy cưa cây tràm của Trung tâm lâm nghiệp Biên Hòa đã trồng trên lô đất từ năm 2001 thì bị Trung tâm lâm nghiệp Biên Hòa phát hiện, lập biên bản sự việc và chuyển hồ sơ cho Cơ quan CSĐT Công an TP. Biên Hòa điều tra xử lý.
Số cây tràm bị chặt này được xác định là 12 năm, đây là giai đoạn cây đang ở độ tuổi rừng gần thành thục. Trị giá 12 cây tràm đã bị chặt hạ có tổng trị là 10,694.167 đồng. Theo kết luận điều tra, hành vi của các bị can đã cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1, điều 143 BLHS.
Tuy nhiên tại phiên tòa các bị cáo cho rằng mình không phạm tội, bị oan vì những cây tràm mà họ thuê người cưa bỏ là những cây tràm tự mọc chứ không phải do lâm trường trồng. Hơn nữa xung quanh khu vực có tới hàng ngàn người cũng chặt cây tràm xây nhà nhưng không ai bị xử lý, các cơ quan chức năng cũng không có ý kiến gì. Như vậy là không công bằng với họ.
Trong khi đó luật sư Trần Vũ Hải, bào chữa cho tám bị cáo đưa ra hàng loạt vi phạm của cơ quan tiến hành tố tụng TP. Biên Hòa; chứng cứ vụ án được làm giả, không đúng sự thật; hành vi chặt phá cây rừng trồng (nếu có) chỉ vi phạm hành chính, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (định giá trên 10 triệu đồng)…
Phiên tòa phúc thẩm đang tiếp tục. (Pháp Luật TP.HCM 8/4)đầu trang(
4.4, ông Nguyễn Sơn Tùng, Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Thạnh, cho biết: Đơn vị vừa hoàn tất hồ sơ, chuyển giao cho Công an và Viện KSND huyện Vĩnh Thạnh thụ lý, điều tra vụ phá rừng trái pháp luật đối với ông Đinh Vân (SN 1975, trú thôn Hà Ri, xã Vĩnh Hiệp).
Theo ông Tùng, cuối năm 2014, UBND xã Vĩnh Hiệp phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện Vĩnh Thạnh tổ chức kiểm tra rừng tại khu vực Ô Bà Chiểu, khoảnh 7, tiểu khu 185 (xã Vĩnh Hiệp); qua đó, phát hiện ông Đinh Vân đã có hành vi phá rừng trái phép với diện tích thiệt hại 2.600m2, thuộc trạng thái rừng IIB (rừng sản xuất). UBND xã Vĩnh Hiệp đã lập biên bản vi phạm.
Trước đó, tháng 3.2014, qua kiểm tra, ngành chức năng huyện cũng từng phát hiện ông Đinh Vân có hành vi xâm hại, phá rừng trái phép trên diện tích 937m2. Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Thạnh đã ra quyết định xử phạt hành chính 7,5 triệu đồng và buộc trồng lại rừng, song đến nay, ông Vân vẫn chưa thi hành quyết định xử phạt. (Báo Bình Định 5/4)đầu trang(
Ngày 6.4, BQL rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim (Lạc Dương, Lâm Đồng) đã cùng các cơ quan chức năng huyện Lạc Dương tiến hành kiểm tra và ghi nhận: Hiện có ít nhất 34 cây thông ba lá tự nhiên nằm dọc theo tuyến đường 79 từ xã Đạ Sar đi xã Lát của huyện Lạc Dương có nguy cơ ngã đổ trong mùa mưa bão năm 2015 sắp đến.
34 cây thông này là những cây thông trưởng thành, nằm ngay bên vệ đường, ven vách núi, bị xói mòn (khó khắc phục được); có chiều cao trung bình 14m, đường kính trên dưới 1m. (Lao Động 7/4)đầu trang(
Trước thực trạng lấn chiếm đất rừng phòng hộ ven biển nuôi trồng thủy sản, UBND tỉnh Phú Yên đã chỉ đạo các ngành chức năng kiểm tra; đồng thời giao Chủ tịch UBND các địa phương xử phạt những tổ chức, cá nhân vi phạm, buộc khắc phục hậu quả.
Chính quyền các địa phương, trong đó có H. Đông Hòa đã kiểm tra, xử lý nhưng chưa kiên quyết.
Từ năm 1990-1991, khi nghề nuôi tôm bắt đầu phát triển, chính quyền địa phương cho phép nhân dân tận dụng mặt nước khu vực sông Ngọn (phía Đông xã Hòa Hiệp Nam, H. Đông Hòa) để làm hồ nuôi tôm. Thời gian đầu, người dân nuôi tôm bằng hình thức dựng đăng, vây lưới làm bờ ao nên vào mùa mưa lũ, các bờ ao bị phá hủy do dòng chảy mạnh.
Năm 2000, khi Nhà nước quy hoạch để chỉnh trị cửa sông Đà Nông và sau khi phân lạch sông Ngọn có chiều rộng mặt nước từ 80-120m cho tàu thuyền qua lại, địa phương tiếp tục cho nhân dân tận dụng mặt nước còn lại để nuôi trồng thủy sản. Năm 2010 triển khai dự án đo đạc Khu kinh tế Nam Phú Yên, đơn vị tư vấn là Xí nghiệp 103 thuộc Bộ TN&MT kiểm tra có 101 hồ nuôi trồng thủy sản với tổng diện tích hơn 66ha.
Theo quyết định phê duyệt quy hoạch nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2001-2010, định hướng đến năm 2020 của UBND tỉnh Phú Yên, thì diện tích hơn 66ha nuôi tôm ở khu vực sông Ngọn nằm trong quy hoạch nuôi trồng thủy sản nước lợ trên địa bàn H. Đông Hòa.
Tuy nhiên, đến ngày 13-5-2013, UBND tỉnh có quyết định phê duyệt, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2001-2010, định hướng đến năm 2020, thì diện tích nuôi tôm khu vực sông Ngọn nằm trong quy hoạch tổng thể của tỉnh, nhưng chưa xác định được diện tích, vị trí, mốc giới từng khu vực cụ thể. Đầu năm 2014, một số hộ dân tự ý dùng máy hút cát, gây xâm thực đất rừng, đất bằng và bãi bồi để nuôi trồng thủy sản.
Theo UBND H. Đông Hòa, đến thời điểm này có 40 hộ tự ý hút cát từ đất rừng phòng hộ và đất bằng do UBND xã Hòa Hiệp Nam quản lý với tổng diện tích bị ảnh hưởng lên đến gần 50.000m2.
Chủ tịch UBND xã Hòa Hiệp Nam, ông Đinh Thuận thừa nhận: “Mặc dù chính quyền địa phương thường xuyên kiểm tra, tịch thu nhiều máy móc, dụng cụ vi phạm. Tuy nhiên, vẫn chưa thể xử lý triệt để, do người dân lén lún dùng máy hút cát chạy bằng điện, nhất là vào ban đêm nên rất khó phát hiện”.
Đến cuối tháng 2-2015, UBND xã Hòa Hiệp Nam đã lập biên bản 30 trường hợp vi phạm với 37 hồ nuôi tôm, đồng thời ra các quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với các trường hợp này và yêu cầu khắc phục hậu quả trong vòng 10 ngày.
Tuy nhiên, đến nay chỉ có 15 trường hợp với 17 hồ có tổng diện tích 22.000m2 bị ảnh hưởng đã chấp hành nộp phạt tổng số tiền 42 triệu đồng; còn lại 15 trường hợp với 20 hồ chưa chịu nộp phạt với số tiền 53 triệu đồng. Ngoài ra, chưa có trường hợp nào chấp hành khắc phục hậu quả, nhưng UBND H. Đông Hòa vẫn chưa có biện pháp xử lý.
Đáng chú ý là trong số những người vi phạm không chấp hành có ông Phạm Rùm có 5 hồ nuôi tôm với tổng diện tích 12.532m2, trong đó 7.690m2 lấn chiếm đất rừng phòng hộ và đất bằng đã bị UBND xã ra quyết định xử phạt nhưng không chịu chấp hành và cũng chưa khắc phục hậu quả.
Liên quan đến vấn đề này, ông Nguyễn Phi Hổ - Phó Chủ tịch UBND H. Đông Hòa, cảnh báo: “Bà con hút cát không những dưới lòng sông để nâng đáy hồ, mà còn xâm thực đất rừng phòng hộ ven biển. Đây là nguy cơ rất lớn ảnh hưởng đến khu tái định cư Phú Lạc mà UBND tỉnh đang triển khai”.
Ngày 20-3-2015, UBND H. Đông Hòa đã có văn bản chỉ đạo các ngành chức năng và UBND xã Hòa Hiệp Nam phối hợp với Điện lực Đông Hòa ngừng cung cấp điện phục vụ nuôi trồng thủy sản khu vực sông Ngọn; tiếp tục xử lý các trường hợp đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng chưa thi hành; tạm giữ tang vật, phương tiện tại các hồ tôm; buộc khắc phục hậu quả nếu không sẽ tổ chức cưỡng chế, mọi chi phí do đối tượng vi phạm chi trả; kiểm tra, xem xét một số đối tượng cố tình hủy hoại đất với diện tích lớn, không có biện pháp khắc phục để lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự... Tuy nhiên, UBND H. Đông Hòa vẫn chưa đưa ra thời hạn xử lý dứt điểm.
UBND H. Đông Hòa đề nghị UBND tỉnh Phú Yên quy hoạch khu vực neo đậu tàu thuyền có kích thước từ 120-150m ở chính giữa lạch sông Ngọn với diện tích từ 59-74ha. Còn lại từ 100-170m cho phép quy hoạch vùng nuôi tôm với diện tích khoảng 60ha. Sau khi quy hoạch, cho người dân thuê diện tích mặt nước nuôi tôm cao triều, đồng thời xây kè chống sạt lở do thiên tai… (Công an Đà Nẵng 7/4, Nguyễn Nam)đầu trang(
Báo KH&ĐS có nhận được đơn của bà Lã Thị Mai trú tại thôn Nà Phai, xã Bắc Lãng, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn phản ánh về việc chính quyền địa phương xử phạt gia đình bà về tội phá rừng tư nhiên, mặc dù bà đã được Nhà nước câp sổ lâm nghiệp năm 1993 và đang chờ chính quyền cấp lại sổ khác từ năm 2006 đến nay.
Theo phản ánh của bà Lã Thị Mai thì gia đình bà có 4 thửa đất rừng ký hiệu số 83, 88, 90, 986, tại tiểu khu I, khe Ma. Khi được nhà nước giao sổ xanh, gia đình bà đã tích cực khoanh nuôi, bảo vệ và khai thác.
Để bảo vệ rừng, gia đình đã trồng nhiều loại cây như trám, bạch đàn keo trên thửa đất sổ 83. Năm 2006, Nhà nước chính thức giao đất cho bà. Trong biên bản bàn giao có ghi rõ thửa đất số 83. Sau đó, gia đình tiếp tục dầu tư nhiều tiền bạc, công sức để khoanh nuôi, abro vệ.
Thế nhưng trong quá trình làm sổ đỏ, gia đình sơ suất không kê thửa đất số 83 vào đơn xin. Do đó, một số cán bộ thôn muốn lấy thửa đất số 83 về làm đất cộng đồng, trong khi đó các quy định của Nhà nước không có một điều luật nào cho phép thôn, xã tự ý lấy đất của dân về làm đất cộng đồng. Khi thấy bà Mai chuẩn bị làm đất trồng rừng, cán bộ thôn đã viêt đơn lên xã nói gia đình bà Mai phá rừng tự nhiên. Khi có đơn thư, cán bộ xã đã ra công văn số 68 về việc "Đình chỉ phát và đốt rừng tự nhiên tại thửa đất số 83". Saư đó, ngay lập tức vào hiện trường đo, đếm tất cả số cây đã chặt và kết tội gia đình bà Mai "phá rừng tự nhiên".
Theo bà Mai, chính quyền chưa có quyết định nào về thu hồi sổ đỏ. Việc làm sổ đỏ lại do tổ chức phi chính phủ là Trung tâm quản lý bền vững tài nguyên và phát triển văn hóa cộng đồng Đông Nam Á (Cirum), hợp tác với chính quyền địa phương để làm lại sổ đỏ. Quá trình làm sổ đỏ, gia đình bà Mai vẫn chưa thấy chính quyền thông báo về thu hồi sổ xanh (sổ lâm nghiệp) đã cấp từ năm 1993. Trong thòi gian này, sổ xanh bà Mai vẫn dùng để thế chấp và vay vốn ngân hàng. Do đó, không thể nói sổ xanh không có hiệu lực.
Điều bất thường ở đây là trong biên bản bàn giao đất cho gia đình bà Mai có thửa đất số 83 và có xác nhận của ông trưởng thôn Lại Ngọc Tân về việc đất không có tranh chấp, không có rừng tự nhiên... Tuy nhiên, sau đó, ông Tân lại làm đơn phản ánh gia đình bà Mai phá rừng tự nhiên.
Theo hồ sơ, tại thửa đất số 83, gia đình bà Mai đã đầu tư nhiều lần và đã rất nhiều lần khai thác. Lần nào khai thác, gia đình đều viết đơn Đăng ký khai thác lâm sản có Bảng dự kiến sản phẩm khai thác do ông Đàm Văn Thành, Chủ tịch UBND xã xác nhận và kèm theo Biên lai thu thuế tài nguyên xác nhận bà Mai có nộp thuế đầy đủ cho Nhà nước.
Cũng theo bà Mai, do trong sổ xanh không ghi rõ ràng từng thửa đất, đến khi làm lại sổ đỏ mới đo đạc lại và chia thành các thửa, nhưng tất cả các thửa đất này vẫn nằm trong tiểu khi I. Do đó, khi gia đình bà Mai phát rừng bao gồm cả diện tích của các thửa đất khác, chính quyền địa phương chưa xác định ranh giới thửa đất mà quy gia đình bà Phai Mai phá hết toàn bộ cây tre và cây gỗ.
"Trên thực tế, diện tích thửa đất số 83 vẫn còn khoảng 2ha chưa chặt, trong khi đó còn rất nhiều diện tích đã trồng keo trước đó. Do vậy, toàn bộ diện tích đã chặt còn nằm ở các ô khác, cán bộ đã không nắm được mà kết tội cho tôi một cách trắng trọn và vô lý. Tôi rất mong cơ quan chức năng vào cuộc điều rõ về vấn đề này", bà Mai bày tỏ.
Trong thời gian chờ các cơ quan chức năng giải quyết, gia đình bà Mai phải chịu tổn thất nặng nề. Năm 2014, gia đình bà đã ươm lần 1 gần 6 vạn cây giống mà không được trồng, khiến cây giống hỏng hết. Tháng 1/2015, gia đình bà Mai tiếp tục ươm 4 vạn cây giống để chờ đợi được trồng. Tuy nhiên, do chính quyền không chịu xử lý khiến cỏ mọc cao, muốn trồng cây phải phát lại hoàn toàn. Bên cạnh đó, chi phí để chuẩn bị rừng trồng và chi phí mở đường cũng lên đến hàng trăm triệu đồng. Trong khi đó, số tiền vay mượn cứ liên tục "lãi mẹ đẻ lãi con", khiến cho gia đình lâm vào cảnh khốn cùng. (Khoa Học & Đời Sống 6/4)đầu trang(
6/4), triển lãm nghệ thuật lần đầu xuất hiện ở Việt Nam, mang tên “Cây phục sinh” sẽ diễn ra tại Laca 24 Lý Quốc Sư.
Triển lãm có sự tham gia của 12 nghệ sĩ thuộc nhóm Không gian 39: Lê Thiết Cương, Tào Linh, Nguyễn Phan Bách, Phương Bình, Tô Hiến Chiến, Đỗ Dũng, Lê Đình Nguyên, Phạm Trần Quân, Trần Nhật Thăng, Trần Gia Tùng, Trần Quang Vinh.
Triển lãm đặc biệt này chỉ diễn ra trong một đêm, với nhiều hoạt động độc đáo, như một bữa tiệc nghệ thuật đa dạng và thú vị với chủ đề chung là cây: Mỗi họa sĩ sẽ có một bức tranh và tượng về chủ đề cây trưng bày tại đây, đồng thời, trong triển lãm, sẽ có biểu diễn vẽ tranh trực tiếp trên người mẫu do nghệ sĩ Đức Phạm và Trần Nhật Thăng thực hiện. Ngoài ra, các kí họa/vẽ trực tiếp do tất cả các họa sĩ khác của nhóm Không gian 39 thực hiện. (Nông Thôn Ngày Nay 8/4)đầu trang(
Đầu năm đến nay, liên tục các đợt nắng nóng kéo dài làm cho các khu vực rừng trên huyện đảo Phú Quốc đứng trước nguy cơ xảy ra cháy. Trong số trên 36.000 ha rừng trên đảo Phú Quốc, hiện đã có 674 ha rừng đệm và phòng hộ đang có nguy cơ cháy cao.Nhằm hạn chế thiệt hại do cháy rừng gây ra, ngay từ đầu mùa khô, Huyện ủy, UBND huyện Phú Quốc đã chỉ đạo, các cơ quan, ban ngành cấp huyện, Kiểm lâm và 10 xã, thị trấn, trên đảo triển khai các biện pháp cấp bách PCCR.
Theo Ban chỉ huy chống cháy rừng (PCCR) huyện Phú Quốc, nguyên nhân các vụ cháy rừng thời gian qua có yếu tố khách quan là thời tiết hanh khô, mưa ít, độ ẩm không khí thấp, nên tiềm ẩn nguy cơ xảy ra cháy cao. Bên cạnh đó, diện tích rừng trên địa bàn lớn nhưng phân bổ rộng khắp. Người dân địa phương còn chủ quan, bất cẩn khi sử dụng lửa trong rừng như : đốt rẫy, vào rừng bắt cá, đốt đồng cỏ tạo thức ăn mới cho bò ăn...đây là những nguyên nhân chính gây cháy rừng nhiều năm nay, nhất là những ngày có gió to.
Một vấn đề khác, việc tuân thủ pháp luật của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng chưa nghiêm, nhận thức của một bộ phận nhân dân còn hạn chế, không thấy được mức độ nguy hiểm và tác hại của cháy rừng.
Theo nhận định của Ban Chỉ huy phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ huyện Phú Quốc, thì khó khăn lớn nhất trong ông tác PCCR của huyện hiện là: Nhiều diện tích rừng phòng hộ, rừng đệm được giao cho những dự án phát triển du lịch lại tiếp giáp với rừng nhưng một số nhà đầu tư không quan tâm chú trọng công tác PCCR, nên khi xảy ra cháy ở những khu vực này sẽ dễ cháy lan vào rừng rất khó quản lý. Tình trạng dân di cư bao chiếm, lấn chiếm đất rừng để làm rẫy, sang bán đất rừng trái phép.
Một bộ phận dân sống nghề rẫy, vườn là nguồn lực tác động vào rừng để đốt than, khai thác lâm sản để kiếm thu nhập, các hành động như đốt vườn, rẫy của các hộ dân sống ven rừng không kiểm soát được dẫn đến cháy lan vào rừng. Có người còn đốt đồng lấy cỏ cho gia súc ăn, đốt đồng chờ lấy nấm tràm, không chấp hành quy định PCCCR. Ngoài ra còn các yếu tố khác cũng gây ra cháy rừng như: vào rừng hái nấm, bắt cá đồng, đốt lấy mật ong, đốt đồng cỏ lấy cỏ non cho bò ăn. Hành động như vứt tàn thuốc vô ý của người dân vào rừng cũng là một nguy cơ gây cháy rừng.
Ông Huỳnh Long Hải, Hạt trưởng Hạt Kiểm Lâm, Phó trưởng ban thường trực Ban PCCR huyện Phú Quốc cho biết: Một trong những biện pháp kiểm soát, khống chế đám cháy lan rộng được huyện Phú Quốc thực hiện tốt trong nhiều năm qua đó là: Ủi các đường băng cản lửa, đường cơ động phòng cháy chữa cháy rừng rộng 8-12 mét ở khu vực trọng điểm và xử lý kỹ thuật các khu vực không cày, ủi được. Hiện đã cày ủi tu sửa, làm mới lại trên 31.000 m đường băng, đồng thời huy động 1134 người ở các tổ đội sẵn sàng tham gia chữa cháy, tăng cường trực ngày đêm để kịp thời phát hiện, xử lý các đám cháy.
Cũng theo ông Hải, Hạt Kiểm lâm huyện đã chủ động triển khai các biện pháp PCCCR theo phương châm “4 tại chỗ”. Đặc biệt là việc phối hợp chặt chẽ với lực lượng của địa phương và các đơn vị vũ trang đóng trên địa bàn dự án, từ đó đã làm hạn chế đến mức thấp nhất các thiệt hại do cháy rừng gây ra. (Tài Nguyên & Môi Trường 7/4)đầu trang(
Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (HST) biển (PES biển) được xem là cơ chế thúc đẩy việc tạo ra và sử dụng các dịch vụ sinh thái bằng cách kết nối người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ HST. Tuy nhiên khái niệm PES biển đối với Việt Nam còn khá mới, cần có những nghiên cứu để đánh thức những tiềm năng này.
Việt Nam có hệ thống các hệ sinh thái biển đa dạng, bao gồm 155.000 ha rừng ngập mặn, khoảng 1.300 km2 rạn san hô, gần 500 km2 đầm phá và khoảng 16.000 ha cỏ biển, nhiều khu vực bãi triều và cửa sông. Các hệ sinh thái này đã cung cấp nhiều dịch vụ quan trọng cho người dân, với khoảng 20 triệu người gián tiếp chịu tác động của các dịch vụ này, 8 triệu người nghèo trực tiếp sống phụ thuộc vào các hệ sinh thái.
Theo đánh giá của Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng, tổng giá trị các sản phẩm dịch vụ của hệ sinh thái rạn san hô của nước ta ước tính vào khoảng 100 triệu USD, trong đó 1 km2 rạn san hô có thể cung cấp lượng hải sản đánh bắt lên tới 10.000 USD. Tại đồng bằng sông Cửu Long, 1 km2 rừng ngập mặn có thể cung cấp lượng đánh bắt 450 kg hải sản. Mỗi năm, hệ sinh thái cỏ biển cung cấp lượng thủy sản và các dịch vụ có giá trị trên 20 triệu USD. Còn giá trị mà đầm phá mang lại ước tính lên đến trên 2.000 USD/ha.
Tiềm năng từ các hệ sinh thái biển mang lại là rất lớn, tuy nhiên cho đến nay tại Việt Nam, các nỗ lực phát triển thị trường hệ sinh thái mới chỉ tập trung vào việc đo đếm giá trị và phát triển thị trường cho các dịch vụ do rừng cung cấp. Trong khi đó, Việt Nam có khoảng 20 HST biển và ven bờ phân bố trên 1 triệu km2 diện tích ở Biển Đông cùng với đó là các dịch vụ HST kèm theo đảm bảo sự phát triển bền vững KT-XH quốc gia. Đặc biệt các hoạt động kinh tế biển có gắn kết chặt chẽ với việc khai thác và sử dụng các dịch vụ HST.
Theo các chuyên gia, việc áp dụng PES biển ở Việt Nam còn hạn chế về phạm vi và đối tượng áp dụng mới chỉ dừng ở việc thu phí dịch vụ tham quan các khu bảo tồn, tham quan du lịch; xây dựng các thương hiệu thủy hải sản…
Điển hình như tại Nha Trang hiện đang áp dụng hai loại phí tham quan cho khách du lịch gồm: Phí thắng cảnh được áp dụng cho toàn bộ du khách tham quan bằng tàu; phí bảo tồn được áp dụng cho các du khách tham gia các hoạt động tại vùng lõi của Khu bảo tồn như lặn có bình khí, mặt nạ snorkeling để ngắm san hô.
Ở vịnh Hạ Long trung bình một năm thu được 5,3 triệu USD từ các loại phí tham quan vịnh, các hang động trong vịnh và được giữ lại 45% cho các hoạt động quản lý vịnh. Còn tại VQG Côn Đảo, sự khác biệt rõ nhất với các khu bảo tồn khác là có bãi đẻ trứng tập trung của rùa biển nên hàng năm, nơi đây đón một lượng lớn khách tham quan. Kinh phí phục vụ cho công tác bảo tồn được thu từ rất nhiều nguồn như phí lưu trú, phí danh thắng, phí nghiên cứu khoa học...
Bên cạnh đó, VQG đã thí điểm thành lập Quỹ Bảo tồn rùa biển. Đây là Quỹ được thành lập từ nguồn ủng hộ, đóng góp tự nguyện của du khách và chỉ sử dụng cho mục đích bảo vệ các bãi đẻ trứng của rùa biển thuộc phạm vi VQG Côn Đảo.
Hiện nay, một số địa phương đang xây dựng các thương hiệu thủy sản xanh nhằm tôn vinh những sản phẩm áp dụng các biện pháp kỹ thuật nuôi trồng thân thiện với môi trường như nghêu Bến Tre, ngao Nam Định. Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà cũng đang xây dựng các sản phẩm mang danh hiệu và biểu tượng gắn với các tiêu chí BVMT biển như nước mắm, tu hài, bào ngư. Giá bán trên thị trường của các sản phẩm này đã bao gồm một phần phí để chi trả cho công tác bảo tồn tài nguyên sinh vật biển. Mặt khác, trên thị trường các sản phẩm này đang được người tiêu dùng ủng hộ do nhận thức người dân được nâng cao đối với các sản phẩm từ biển sạch, an toàn và thân thiện với môi trường.
UBND các huyện ven biển đã ký hợp đồng giao rừng ngập mặn ven biển: Người dân tham gia vào việc bảo vệ rừng ngập mặn được trả kinh phí bảo vệ rừng với mức chi trả của ngành nông nghiệp là 100.000 đồng/ ha/năm. Trên thực tế, định mức chi trả này là quá thấp. Do vậy, người dân thường kết hợp các hoạt động kinh tế khác như nuôi trồng, khai thác hải sản trong rừng ngập mặn và phát triển du lịch sinh thái.
Các chuyên gia cho rằng, để việc áp dụng PES một cách hiệu quả, các địa phương trong cả nước cần sớm có quy hoạch bảo tồn tổng thể ĐDSH trong đó có ĐDSH biển theo những quy định chung của Luật ĐDSH. Trong quy hoạch tổng thế phải xác định được các vùng sinh thái có tiềm năng PES biển, lượng hóa giá trị kinh tế của các HST biển. Đồng thời tạo thị trường trao đổi PES biển với việc xác định các đối tác cung cấp và sử dụng dịch vụ của các HST biển.
Cần thúc đẩy việc xây dựng các mô hình quản lý tổng hợp đới bờ do vùng bờ biển là khu vực có các hoạt động kinh tế, xã hội diễn ra năng động. Các công cụ quản lý tổng hợp đới bờ sẽ giúp dung hòa các lợi ích đa ngành; góp phần sử dụng có hiệu quả tài nguyên, các HST biển... BVMT và các dịch vụ HST biển; góp phần phát triển bền vững sinh kế vùng bờ, từng bước tiếp cận nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trường.(Tài Nguyên & Môi Trường 7/4)đầu trang(
Sáng 7-4, Đoàn liên ngành Ban chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh đã về kiểm tra công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng (QL-BVR và PCCCR) mùa khô năm 2014 – 2015 tại huyện Trảng Bom.
Theo báo cáo, Ban chỉ đạo PCCC và chỉ huy các vấn đề cấp bách về bảo vệ rừng huyện, để chủ động công tác QL-BVR và PCCCR trong mùa khô 2014 – 2015, huyện đã chỉ đạo các ngành chức năng phối hợp với các đơn vị chủ rừng, các xã xây dựng kế hoạch, phương án tác chiến và thực hiện tốt công tác phối hợp để kịp thời đối phó khi có tình huống xảy ra. Trong đó có việc xem trọng phương châm “4 tại chỗ”; đồng thời tiến hành thực hiện công tác tuyên truyền, kiểm tra về bảo vệ rừng và PCCCR. Vì thế, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện không xảy ra vụ cháy; rừng trên địa bàn được quản lý, bảo vệ tốt, không xảy ra tình trạng chặt phá rừng trái phép…
Hiện huyện Trảng Bom có gần 2.000ha đất rừng, đạt tỷ lệ che phủ của rừng 6,07%. Trong đó, rừng tự nhiên chiếm 2,78ha; còn lại rừng trồng trên 1.900 ha, tập trung chủ yếu tại các xã: Bắc Sơn, Bình Minh, Sông Trầu...
Qua thực tế kiểm tra, ông Trương Văn Tuấn, Phó trưởng phòng chữa cháy và cứu nạn cứu hộ Sở cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy tỉnh, Trưởng đoàn kiểm tra, đánh giá cao những mặt đã đạt được trong công tác bảo vệ rừng và PCCCR trên địa bàn huyện. Đồng thời, lưu ý huyện cần tiếp tục tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát những khu vực rừng dễ xảy ra cháy; xử lý các trường hợp vi phạm về PCCCR; tập huấn và hướng dẫn người dân trong công tác bảo vệ rừng và PCCCR…(Báo Đồng Nai 7/4)đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo Bộ Tài chính, cùng với việc tạm dừng khai thác chính rừng tự nhiên, việc thu thuế tài nguyên cao đã ảnh hưởng đến thu nhập của chủ rừng, từ đó, chưa khuyến khích chủ rừng tích cực tham gia quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tự nhiên.
Bộ Tài chính đang tổ chức lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 ngày 16/12/2013 của UBTV Quốc hội về việc ban hành Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên.
Tại dự thảo này, Bộ Tài chính đề xuất giảm mức thuế suất thuế tài nguyên đối với gỗ rừng tự nhiên từ mức trần như hiện hành xuống mức sàn trong khung thuế suất.
Cụ thể, gỗ nhóm I: giảm từ 35% xuống 25%; gỗ nhóm II: giảm từ 30% xuống 20%; gỗ nhóm III, IV: giảm từ 20% xuống 15%; gỗ nhóm V, VI, VII, VIII và các loại gỗ khác: giảm từ 15% xuống 10%.
Cũng theo Bộ Tài chính, các mức thuế suất thuế tài nguyên hiện hành đối với các sản phẩm khác của rừng tự nhiên đều đang ở mức sàn trong khung thuế suất.
Cụ thể, cành, ngọn, gốc, rễ: khung thuế suất từ 10-20%, mức thuế suất cụ thể là 10%. Tre, trúc, nứa, mai, giang, tranh, vầu, lồ ô: khung thuế suất từ 10-15%, mức thuế suất cụ thể là 10%.
Hồi, quế, sa nhân, thảo quả: khung thuế suất từ 10-15%, mức thuế suất cụ thể là 10%. Trầm hương, kỳ nam: khung thuế suất từ 25-30%, mức thuế suất cụ thể là 25%.
Sản phẩm khác của rừng tự nhiên: khung thuế suất từ 5-15%, mức thuế suất cụ thể là 5%. Riêng mức thuế suất đối với củi đang ở mức trần trong khung thuế suất (khung thuế suất đối với củi là từ 1-5%, mức thuế suất cụ thể là 5%).
Đối với các sản phẩm khác của rừng tự nhiên nói trên, Bộ Tài chính đề xuất giữ mức thuế suất như hiện hành (mức sàn) đối với: Cành, ngọn, gốc, rễ; Tre, trúc, nứa, mai, giang, tranh, vầu, lồ ô; Hồi, quế, sa nhân, thảo quả và các sản phẩm khác của rừng tự nhiên.
Riêng đối với củi, mặc dù mức thuế suất cụ thể đang ở mức trần trong khung thuế suất (5%), tuy nhiên, trên thực tế, việc phân biệt giữa củi với cành, ngọn, gốc, rễ là rất khó khăn. Do mức thuế suất cụ thể đối với cành, ngọn, gốc, rễ là 10% và không thể nâng mức thuế suất cụ thể đối với củi, vì vậy, Bộ Tài chính đề xuất giữ mức thuế suất của củi là 5% như hiện hành để đảm bảo phù hợp với mức thuế suất đối với cành, ngọn, gốc, rễ.
Ngoài ra, do trầm hương và kỳ nam là 2 loại tài nguyên quý hiếm, có giá trị lớn. Trong thời gian qua nhiều người dân bất chấp nguy hiểm vào rừng tìm kiếm trầm hương và kỳ nam, dẫn đến việc tàn phá cây rừng, làm cho loại cây tạo ra trầm hương có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Vì vậy, để bảo vệ, hạn chế khai thác tài nguyên quý hiếm, Bộ Tài chính đề xuất tăng mức thuế suất đối với trầm hương, kỳ nam từ 25% lên 30% (mức trần trong khung thuế suất).
Với việc điều chỉnh giảm thuế suất thuế tài nguyên đối với gỗ rừng tự nhiên như trên, theo Bộ Tài chính, số thu thuế tài nguyên dự kiến giảm khoảng 13,1 tỷ đồng.
“Mặc dù mức giảm 13,1 tỷ đồng là không nhiều đối với NSNN, nhưng lại là nguồn thu nhập đáng kể cho các chủ rừng, đặc biệt là đối với hộ gia đình, cá nhân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; từ đó góp phần ổn định cuộc sống của chủ rừng, giúp chủ rừng yên tâm, gắn bó lâu dài với rừng và tích cực đầu tư, bảo vệ, phát triển rừng, làm tăng chất lượng cũng như trữ lượng các sản phẩm rừng tự nhiên, gia tăng giá trị sản phẩm rừng tự nhiên khai thác. Theo đó, về lâu dài số thu NSNN sẽ tăng lên”, Bộ Tài chính cho biết.
Trước đó, số thu thuế tài nguyên đối với sản phẩm của rừng tự nhiên bình quân từ năm 2011 đến năm 2013 chỉ khoảng 166 tỷ đồng/năm, chiếm khoảng 0,38% tổng số thu thuế tài nguyên; 0,03% tổng thu thuế nội địa (không kể thu từ dầu thô); và chiếm khoảng 0,02% tổng thu ngân sách nhà nước.
Các khoản thu này chủ yếu từ việc tận thu, tận dụng các sản phẩm của rừng tự nhiên và thu từ các sản phẩm khác của rừng tự nhiên.
Cùng với đó, theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì hiện nay, 80% diện tích rừng tự nhiên hiện có là rừng nghèo và rừng non cần phải đầu tư dài hạn để bảo vệ và khoanh nuôi phục hồi rừng trong 30-35 năm tới mới có hy vọng có thể khai thác được.
Trong khi đó thu nhập của các chủ rừng là rất thấp, với mức thu nhập bình quân từ hoạt động giao khoán bảo vệ rừng hiện nay của mỗi hộ gia đình tối đa chỉ khoảng 6 triệu đồng/hộ/năm, trong khi khoản tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng chưa đến được hết với các chủ rừng.
Đồng thời, Chính phủ cũng đã có chủ trương cấm khai thác chính gỗ rừng tự nhiên trên phạm vi cả nước, việc khai thác chỉ được thực hiện tại các khu vực đã được phê duyệt phương án quản lý rừng bền vững và việc khai thác tận dụng trên diện tích rừng sản xuất được Nhà nước giao.
Vì vậy, cùng với chủ trương cấm khai thác như trên, việc quy định mức thuế suất thuế tài nguyên đối với các sản phẩm chính của rừng tự nhiên đều ở mức trần trong khung thuế suất như hiện hành đã phần nào ảnh hưởng đến thu nhập của các chủ rừng, chưa góp phần khuyến khích chủ rừng gắn bó với rừng, tích cực tham gia đầu tư, phát triển và bảo vệ rừng tự nhiên. (Thời Báo Tài Chính VN 8/4)đầu trang(
Việc quy hoạch ba loại rừng (đặc dụng, phòng hộ và sản xuất) của tỉnh Bắc Cạn đang bộc lộ những bất hợp lý, làm nhân dân bức xúc, gây khó khăn cho việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Thời gian vừa qua, việc Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bắc Cạn (Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn) khai thác rừng đầu nguồn để trồng rừng mới đã làm nhân dân xã Thanh Mai, huyện Chợ Mới bức xúc. Nguyên do, sau khi rừng bị khai thác trắng thì môi trường, môi sinh bị ảnh hưởng, đặc biệt là nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân dần cạn kiệt.
Lãnh đạo Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn giải thích: "Khu vực khai thác trắng đã được quy hoạch là rừng sản xuâ't nên công ty có quyền khai thác để trồng rừng mới". Giải thích và việc làm của Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn không sai, nhưng nó không phù hợp thực tế.
Ngược lại, trên địa bàn huyện Ngân Sơn, một sô' khu vực không có chức năng phòng hộ thi cơ quan chức năng lại phê duyệt là rừng phòng hộ. Với quy hoạch như vậy, chính quvển địa phương không dám giao đất cho dân trổng rừng, trong khi dân địa phương không có đâ't đê trổng rùng sản xuất.
Trước thực tê'này, UBND huyện Ngân Sơn kiến nghị UBND tỉnh rà soát lại quy hoạch ba loại rừng trên địa bàn huyện, khu vực nào đã quy hoạch là rừng phòng hô nhưng trên thực tế không cẩn thiết thì chuyển sang quy hoạch rừng san xuất để địa phương giao cho dân trồng rừng sản xuâ't, phát triển kinh tế.
Chi Cục trưởng Kiêm lâm Bắc Cạn Hoàng Văn Hải cho biết: "Quy hoạch rừng phòng hộ phải căn cứ độ cao, độ dốc và đầu nguồn sông, suối”. Như vậy, khu vực Thanh Mai mà quy hoạch rừng sản xuất là không phù hợp thực tế, vì rừng nằm ở đầu nguồn thì đáng lẽ ra phải quy hoạch là rừng phòng hộ.
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Bắc Cạn Nông Văn Chí thừa nhận: "Quy hoạch ba loại rừng trên địa bàn tỉnh đến nay có một số biểu hiện không còn phù hợp thực tiễn. Điển hình là đang có hàng trăm hộ dân tộc thiểu sô' sinh sống trên sườn núi cao, nơi có rừng nghèo kiệt quy hoạch là rừng phòng hộ. Người dân sông ở những nơi này không có ruộng, bà con cần có đâ't để trồng rừng kinh tế, trồng ngô để sống thì trong phạm vi nhất định phải chuyển thành rừng sản xuâ't".
Năm 2006, tỉnh Bắc Cạn thuê tư vấn lập quy hoạch ba loại rừng, năm 2007 UBND tỉnh Bắc Cạn đã phê duyệt quy hoạch này. Thực tế cho thấy, đơn vị lập quy hoạch chưa nghiên cứu kỹ thực tế, chưa lắng nghe ý kiến của chính quyền cơ sở và nhân dân địa phương, do vậy quy hoạch ba loại rừng đã bộc lộ những bât cập, làm nhân dân nhiều nơi bức xúc, gây khó khăn cho việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Điều này đã được chỉ ra khi Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Cạn vừa giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dựng đâ't lâm trường trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2004 -2014.
Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Cạn Phương Thị Thanh kiến nghị: "UBND tỉnh rà soát để quy hoạch lại ba loại rừng trên địa bàn tỉnh cho phù hợp với thực tê’'. Sau khi có kiến nghị này, UBND tỉnh Bắc Cạn đã chi đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Kiểm lâm và chính quyền các địa phương trong năm 2015 phải hoàn thành rà soát để quy hoạch lại ba loại rừng cho chuẩn xác, phù hợp.
Việc rà soát này là cần thiết và theo hướng, khu vực nào không cần thiết là rừng phòng hộ thì chuyển sang rừng sản xuất để phát triển kinh tế; ngược lại, khu vực nào có độ dô'c cao, đầu nguồn sông, suôi mà trước đây đã quy hoạch là rừng sản xuất thì nay phải quy hoạch là rừng đầu nguồn để có phương án trồng, tái sinh, bảo vệ rừng nhằm bảo đảm chức năng phòng hộ. (Thời Nay 6/4)đầu trang(
Trong giai đoạn 2015 – 2020, UBND tỉnh Đắk Nông sẽ đầu tư 1.133 tỷ đồng cho đề án quy hoạch và phát triển cây mắc ca trên địa bàn 5 xã: Đắk Búk So, Đắk R’tih, Quảng Tâm, Quảng Tân, Quảng Trực của huyện biên giới Tuy Đức.
Trong đó, vốn tín dụng hơn 512 tỷ đồng, vốn của doanh nghiệp gần 536 tỷ đồng, còn lại khoảng 85 tỷ đồng vốn Nhà nước hỗ trợ cho nông dân tham gia dự án. Đề án tham vọng Tuy Đức là huyện biên giới của tỉnh Đắk Nông có tổng diện tích 112.219 ha, trong đó đất lâm nghiệp 83.707,9 ha (chiếm 74,65%).
Đặc biệt, nhiều nơi trong huyện có độ cao trung bình trên 700 m so với mặt nước biển và nhiệt độ thấp 22,3°C như ở xã Quảng Trực, Đắk Búk So, Quảng Tâm, Đắk R’tíh, Quảng Tân. Đây là những vùng đất có điều kiện tự nhiên thuận lợi, tiềm năng và lợi thế phù hợp cho sự phát triển của nhiều loại cây trồng, trong đó có cây mắc ca.
Chính vì lẽ đó, sau một thời gian đưa vào nghiên cứu trồng khảo nghiệm cây mắc ca trên địa bàn huyện, UBND tỉnh Đắk Nông đã kí quyết định phê duyệt “Đề án quy hoạch và phát triển cây mắc ca trên địa bàn huyện Tuy Đức giai đoạn 2015 – 2020” với tổng nguồn kinh phí thực hiện 1.133 tỷ đồng.
Trao đổi với chúng tôi về đề án táo bạo này, ông Nguyễn Văn Bằng, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Nông cho biết: Đắk Nông là địa phương có nhiều tiềm năng và lợi thế trong việc phát triển nhiều loại cây trồng, tuy nhiên, do trình độ canh tác của người dân còn hạn chế nên việc phát huy các tiềm năng, lợi thế này chưa được khai thác có hiệu quả. Người dân chỉ tập trung ở một số loài cây chính, như: cà phê, cao su, hồ tiêu, điều…, giá trị thu được trên đơn vị diện tích chưa cao, chỉ 59,5 triệu đồng/ha.
Do đó, việc phê duyệt đề án quy hoạch và phát triển cây mắc ca trên địa bàn huyện Tuy Đức nhằm tạo thành vùng nguyên liệu tập trung phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng và đặc tính sinh thái của loài cây này là việc làm cấp thiết của UBND tỉnh. Tuy nhiên, việc phát triển cây mắc ca trên địa bàn huyện Tuy Đức phải theo hướng bền vững, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương, của tỉnh và xác định rõ trách nhiệm của địa phương trong việc hỗ trợ doanh nghiệp và người dân; đảm bảo hài hòa lợi ích doanh nghiệp và người dân.
Bên cạnh đó, vấn đề quy hoạch phát triển cây mắc ca phải đồng bộ, rõ ràng cho từng khu vực, tạo thành vùng nguyên liệu tập trung đủ lớn để gắn với công nghiệp chế biến, tạo ra sản phẩm hàng hóa xuất khẩu có sức cạnh tranh. Tham vọng của UBND tỉnh Đắk Nông là sẽ đưa huyện Tuy Đức trở thành một trong những thủ phủ về cây mắc ca của vùng Tây Nguyên. Song song với việc đầu tư mở rộng diện tích trồng cây mắc ca, UBND tỉnh sẽ chú trọng đẩy mạnh việc nghiên cứu thị trường tiêu thụ sản phẩm, đa dạng sản phẩm sau chế biến.
Cụ thể, trong giai đoạn 2016 – 2020 UBND tỉnh sẽ cấp phép cho Cty Cổ phần mắc ca Nữ Hoàng đầu tư xây dựng 1 nhà máy chế biến các sản phẩm từ cây mắc ca theo tiêu chuẩn quốc tế với công suất 18.800 tấn/năm. Bên cạnh đó, tại 5 xã trong vùng quy hoạch phát triển cây mắc ca của huyện Tuy Đức sẽ được bố trí 5 điểm thu mua tập trung cho bà con nông dân.
Theo ông Bằng, kể từ năm 2004, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên đã tiến hành trồng khảo nghiệm cây mắc ca trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, và đến năm 2006 đã nghiên cứu trồng thử nghiệm trồng xen mắc ca với một số cây công nghiệp. Kết quả bước đầu cho thấy, cây mắc ca sinh trưởng và phát triển khá tốt ở tất cả các mô hình trồng xen, đặc biệt là vùng có khí hậu lạnh như ở huyện biên giới Tuy Đức.
Cây mắc ca ghép sau 3 năm trồng đã bắt đầu cho trái và 5 – 6 năm là đã cho thu hoạch. Với mật độ trồng mắc ca từ 286 – 330 cây/ha thì từ năm thứ 8 trở đi đã có thể cho năng suất 3 – 5 tấn/ha/năm, lợi nhuận từ 200 – 350 triệu đồng/ha/năm. Nếu trồng xen trong vườn cà phê với mật độ từ 100 – 120 cây/ha thì giá trị thu được tăng thêm từ mắc ca trồng xen sẽ từ 80 – 160 triệu đồng và không làm ảnh hưởng tới cây trồng chính. Đến thời điểm hiện nay, đã có một số doanh nghiệp xin chủ trương đầu tư, phát triển cây mắc ca trên địa bàn tỉnh. Về lĩnh vực cung cấp cây giống, Cty Vina Macca sẽ cung cấp 500.000 cây giống tại khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của tỉnh.
Về đầu tư trồng mới, xây dựng nhà máy chế biến: Cty Cổ phần mắc ca Nữ Hoàng đã xin chủ trương cho phát triển vùng nguyên liệu giai đoạn 1 với quy mô 1.000 ha và đầu tư xây dựng một nhà máy chế biến với công suất 18.800 tấn/năm. Trong năm 2015, Cty Cổ phần mắc ca Nữ Hoàng đã lập dự án đầu tư trồng mới cây mắc ca giai đoạn 1 với diện tích ban đầu 200 ha và sẽ mở rộng lên đến quy mô 4.000 – 5.000 ha trong những năm tiếp theo. (Nông Nghiệp VN 8/4)đầu trang(
Đại diện Ban Chỉ đạo kê hoạch bảo vệ và phát triển rừng TP cho biết, trong năm 2015, Ban Chỉ đạo sẽ hoàn thành việc xây dựng kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng TP Hà Nội giai đoạn 2016 - 2020.
Dự kiến, kế hoạch bao gồm các nội dung chính: Thực hiện chuyển đổi rừng keo, bạch đàn sang trồng rừng theo hướng sinh thái trên diện tích rừng sản xuất. Thực hiện nâng cấp, làm giàu rừng đối với diện tích rừng keo, bạch đàn trên diện tích rừng phòng hộ. Trồng mới rừng sinh thái trên diện tích đất trống chưa có rừng. Điều chế rừng kết hợp cải tạo rừng trồng hỗn giao thông, keo để giảm nguy cơ cháy rừng. Đề xuất một số cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích phát triển rừng bền vững. (Kinh Tế & Đô Thị 7/4)đầu trang(
6.4, Cổng thông tin điện tử Văn phòng Bộ NNPTNT đã đăng tải ý kiến chính thức của Bộ trưởng Bộ NNPTNT Cao Đức Phát về việc phát triển cây mắc ca.
Bộ trưởng cho biết: Chủ trương của Bộ NNPTNT xem mắc ca là cây thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, có khả năng đem lại lợi ích kinh tế tốt. Đến nay, đã khẳng định mắc ca có thể trồng được ở một số vùng của Việt Nam và nước ta nên phát triển cây mắc ca như là một cây trồng hàng hóa mới. Tuy nhiên, trước mắt chủ trương là chỉ trồng ở những nơi đã khảo nghiệm thành công và các nơi có điều kiện tương tự, tập trung tại Tây Bắc và Tây Nguyên.
Đối với khâu giống, Bộ trưởng nêu rõ: Chỉ khuyến cáo cho nhân dân trồng những giống đã được Bộ NNPTNT công nhận là giống quốc gia hoặc giống tiến bộ kỹ thuật, theo các hướng dẫn về quy trình kỹ thuật của Bộ NNPTNT, hình thức có thể trồng tập trung hoặc trồng xen. Đồng thời, Bộ NNPTNT sẽ chỉ đạo các đơn vị tiếp tục nhập khẩu giống của các nước nhằm chọn tạo giống phù hợp cho từng vùng trồng tại Việt Nam. Sớm nghiên cứu hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng, sẽ ban hành quy trình kỹ thuật trong trung tuần tháng 5. Trong tháng 4, sẽ rà soát lại toàn bộ các chương trình, đề tài nghiên cứu về mắc ca để kịp thời điều chỉnh bổ sung, giao Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và các đơn vị khác tiếp tục thực hiện.
Về công tác quản lý giống, Bộ trưởng Cao Đức Phát giao: Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thời gian tới tiến hành tuyển chọn, giữ nguồn cây đầu dòng để nhân giống. Sở NNPTNT các tỉnh phải có trách nhiệm quản lý tới từng trại giống, chỉ cho bán các loại giống xác nhận từ các vườn được cho phép. Cấm tuyệt đối các hoạt động ươm giống, buôn bán giống chưa được cấp phép.
Về việc nhập khẩu giống mắc ca, Bộ NNPTNT nghiêm cấm và sẽ siết chặt các hoạt động nhập khẩu giống với mục đích thương mại khi chưa trải qua khảo nghiệm theo quy định về quản lý giống cây trồng. Bộ giao Tổng cục Lâm nghiệp phối hợp với các địa phương siết chặt, tuyệt đối cấm các cơ sở, đơn vị gieo giống từ hạt để bán cho dân và xem đây là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng và sẽ phải xử lý trước pháp luật. (Nông Nghiệp VN 7/4)đầu trang(
Là cây trồng lâu năm, thời gian cho thu hoạch dài, chọn giống là yêu cầu hàng đầu trong việc phát triển mắc ca. Chọn giống tốt ngay từ đầu có thể cho năng suất cao. Nhưng nếu chọn giống không đảm bảo chất lượng, người dân có thể tốn đến 5, 7 năm mới nhận ra giống xấu, phải dỡ bỏ, gây thiệt hại kinh tế nặng nề.
Cơn sốt mắc ca tại Tây Nguyên hiện nay đã khiến một số hộ kinh doanh vì ham lợi mà tung ra thị trường những loại cây giống không đảm bảo chất lượng.
Trên con phố Nguyễn Lương Bằng, thành phố Buôn Ma Thuột, Đắc Lắc, sơ bộ có khoảng vài chục điểm bán giống bán mắc ca đủ loại - từ ghép, đến thực sinh - không có kiểm duyệt của cơ quan chức năng.
Có kinh nghiệm trồng mắc ca 10 năm nay, và đã thử nhiều loại giống từ kho giống của Tổng cục lâm nghiệp, ông Nguyễn Văn Cúc, xã Phú Lộc, huyện Krông Năng - tỉnh Đắk Lắk cho biết, chọn giống là yếu tố quyết định đến sự thành bại của cây mắc ca. Nghe nói về câu chuyện người dân trồng mắc ca 7 năm chưa có quả, ông không khỏi băn khoăn.
Ông Cúc nói: Hiện nay cái giống là quan trọng nhất. Cũng đã có những người đến thăm cái vườn quả tôi thì bảo là có những vườn đến 7 năm chưa cho ra trái. Quan trọng là phải kiểm soát thế nào đó cho nó tốt cái giống. Chứ không để tràn lan lại khổ người dân.
Có hai phương pháp lai tạo giống là giống thực sinh - tức gieo từ hạt, và giống ghép. Kết quả khảo nghiệm cho thấy trong khi những cây giống thực sinh phải mất từ 5 đến 7 năm mới cho thu quả, và năng suất quả thấp, thì những cây ghép lại chỉ mất khoảng 3 năm là cho thu hoạch và với năng suất cao hơn - có cây lên đến 40kg hạt sau 6 năm tuổi.
Việt Nam hiện có hàng chục giống mắc ca khác nhau nhưng nguyên tắc cơ bản nhất khi chọn giống mắc ca là không chọn giống thực sinh - tức giống gieo từ hạt, mà chọn giống ghép từ những cây bố mẹ khỏe mạnh để đảm bảo năng suất của cây trồng.
Ông Hoàng Phúc, chuyên gia nghiên cứu mắc ca - chương trình hợp tác Việt Nam - Australia cho biết: Phải chọn giống ghép. Người ta ghép cây mục đích bảo tồn những tính trạng tốt. Nếu mà nhân giống từ vườn tốt thì anh sẽ được cả vườn tốt, năng suất cao.
Sau 20 năm nghiên cứu, hiện bộ giống của Việt Nam có khoảng trên 20 loại, được lựa chọn từ những giống tốt nhất từ Hawai, Trung Quốc, Australia, Thái Lan. Tuy nhiên bộ Nông nghiệp mới chỉ công nhận 10 giống. Mỗi bộ giống lại cho năng suất, và tính chất quả khác nhau, hàm lượng dầu trong hạt khác nhau, và đặc biệt là phù hợp với từng vùng địa hình khác nhau. Do vậy, việc lựa chọn giống mắc ca cần căn cứ trên các yếu tố địa lý, vùng miền và có sự tham vấn của chuyên gia khoa học để đạt hiệu suất cao nhất.
Ông Nguyễn Bồng Trúc Sơn, giám đốc trung tâm khuyến nông tỉnh Lâm Đồng nhấn mạnh: Khi bà con mua giống, chúng ta chú ý nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Không mua những cái giống trôi nổi thì đến năm bảy năm sau chúng ta hối hận cũng không kịp. Mua ở những nơi có chứng nhận của sở nông nghiệp, như viện Wasi ở Buôn Ma Thuột. Hay công ty Vina mắc ca thì đó là những nơi sở hữu giống đầu dòng đã được chứng thực.
Cơn sốt mắc ca tại Tây Nguyên đã khiến một số cơ sở bán giống chộp thời cơ đưa ra thị trường các loại giống tự sản xuất không đảm bảo chất lượng. Do vậy nhà nước cần sớm có những khuyến cáo cụ thể đến tận người dân, quản lý chặt chẽ việc phân phối giống để hạn chế việc “chạy đua” mua giống mắc ca không rõ nguồn gốc, dẫn đến tiền mất, tật mang, niềm tin đổ vỡ. (Đài Truyền Hình An Ninh 4/4)đầu trang(
Bộ nông nghiệp PTNT đã có sự phân công cho việc quản lí một số cây trồng, trong đó cây mắc ca được giao cho Viện Lâm nghiệp quản lí từ khâu nghiên cứu đến quy hoạch, phát triển, chiến lược phát triển, quản lí giống cây trồng.
Như vậy, cây mắc ca là cây lâm nghiệp, vì thế, việc trồng cây này vào đất lâm nghiệp là không phải làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng rừng. Tại thời điểm này, để đánh giá về hiệu quả của cây mắc ca tại Việt Nam thì có lẽ là hơi sớm. Sớm ở chỗ: giá của mắc ca trên thị trường Việt Nam hiện nay cao hơn so với ở Úc và giá trị đấy chưa phải là giá trị thực. Tuy nhiên, nó vẫn là cây có giá trị kinh tế cao so với các cây lâm nghiệp khác.
Qua báo chí, có một đề nghị với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa cây mắc ca trở thành cây lâm nghiệp chính, khi đó mới có đủ điều kiện pháp lí để quản lí chặt chẽ nguồn gốc của giống này theo chuỗi hành trình được. Chỉ có quản lí chặt chẽ theo chuỗi hành trình quản lí giống cây trồng, người nông dân mới bớt đi rủi ro về mặt kĩ thuật và sử dụng phải giống kém chất lượng.
Cá nhân tôi ủng hộ cho việc phát triển cây mắc ca. Tôi cũng xin nói thêm là nghiên cứu khảo nghiệm chỉ triển khai được ở một số mô hình thôi, ở một số điểm với diện tích rất hạn chế, những khảo nghiệm đó không thể kết luận cho cả một vùng rộng lớn.
Vì vậy, hiện nay, một số bà con đã trồng, ta lấy không gian thay thế cho thời gian, có thể sẽ đánh giá lại để tham gia vào định hướng trồng mắc ca. Để đảm bảo sự an toàn nhất thì trước mắt, các tỉnh Tây Bắc và Tây Nguyên phải có một quy hoạch cụ thể để định hướng phát triển cây mắc ca cho tỉnh mình. (Dân Việt 8/4)đầu trang(
Chương trình trồng cây phân tán được triển khai trên địa bàn tỉnh từ nhiều năm qua, được các cấp, các ngành và nhân dân quan tâm và hưởng ứng tham gia.
Hằng năm, vào dịp Tết Nguyên đán, phong trào trồng cây theo lời dạy của bác Hồ đã trở thành một nét đẹp của nhân dân trong tỉnh. Trong 5 năm qua, toàn tỉnh đã trồng được 1695,46 ha cây phân tán (quy đổi từ số cây ra diện tích: 1.650 cây/ha).
Phúc Thành là xóm có diện tích rừng trồng lớn của xã Hóa Trung (Đồng Hỷ), 50/249 ha và rừng cũng đã mang lại hiệu quả kinh tế cho không ít hộ dân nơi đây. Được biết, năm 2014, 4 ha rừng đến tuổi khai thác đã đem lại cho gia đình Phạm Trung An một khoản thu lớn: 170 triệu đồng. Trên diện tích rừng keo vừa khai thác, ông An đã thuê máy lật đất, đồng thời cuốc hố, chuẩn bị cho vụ trồng tới, mà theo ông, làm cách này sẽ khiến cây phát triển nhanh và rút ngắn được thời gian khai thác. Ông An cho hay: Có thể nói, nguồn lợi do rừng mang lại rất lớn, không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi trường sống cho con người.
Đặc biệt, từ năm 2011, Dự án trồng cây lâm nghiệp phân tán có sự tham gia của tổ chức Đoàn từ tỉnh đến xã nên đã huy động được đông đảo lực lượng đoàn viên, thanh niên tham gia. Năm 2011, tổng số cây trồng là 726,6 nghìn cây trên tổng số 685 nghìn cây theo kế hoạch, trong đó số cây được trồng trên đất công là 120.050 cây, còn lại trên đất vườn hộ. Lực lượng tham gia: có 444 hộ của 63 xóm, thuộc 18 xã trên địa bàn 5 huyện tham gia đăng ký trồng cây. Năm 2014, Trung tâm Khuyến nông tiếp tục phân bổ cho các huyện thành thị với diện tích 257 ha, trong đó, trồng cây phân tán trên đất vườn hộ 162 nghìn cây, tương đương với 98 ha; trồng cây phân tán trên đất công là 264 nghìn cây, tương đương với 159 ha, hoàn thành 100% kế hoạch.
Bà Đinh Thị Tâm, Phó Giám đốc cho biết: Năm 2015, thực hiện Quyết định số 2910 của UBND tỉnh, phân bổ chỉ tiêu trồng 1,6 triệu cây phân tán, hiện Trung tâm đã cung ứng được 250 nghìn cây cho các địa phương thực hiện chỉ tiêu giao, Trung tâm cũng đã phối hợp với Trạm Khuyến nông các địa phương triển khai kế hoạch tới cơ sở, vận động người dân và các tổ chức tham gia. Lợi thế của trồng cây phân tán là người dân có diện tích đất nhỏ lẻ, phân tán, không nằm trong quy hoạch trồng rừng tập trung được tham gia trồng rừng; trồng cây trên diện tích đất thuộc sở hữu của các tập thể, cơ quan, xí nghiệp, nhà máy, đơn vị quân đội.
Đồng chí Lê Minh Hiếu, Phó Trưởng ban Thanh niên, công nhân, nông thôn và đô thị Tỉnh đoàn cho hay: Nhận thức được ý nghĩa của việc trồng cây, trồng rừng nhằm bảo vệ môi trường sinh thái, làm đẹp cảnh quan đoàn viên, thanh niên các huyện thành, thị Đoàn, Đoàn các công ty đã hưởng ứng tham gia rất nhiệt tình. Trong đợt Tết trồng cây, đoàn viên thanh niên đã tham gia trồng 105 nghìn cây keo; trong đợt 2, dự kiến trồng trước ngày 15/4 là 110 nghìn cây keo trong đó Đoàn Thanh niên Công ty Gang thép Thái Nguyên 25 nghìn cây, Thị đoàn Sông Công 21 nghìn cây; Đoàn khối Doanh nghiệp 16 nghìn cây….
Các địa phương như huyện Đồng Hỷ, cùng với việc phấn đấu trồng mới gần 1.000 ha rừng tập trung, người dân cũng tham gia trồng 50 nghìn cây phân tán; Định Hóa: trồng cây phân tán và nhân dân tự trồng khoảng 100ha…
Trồng cây lâm nghiệp phân tán là dự án phát triển lâm nghiệp xã hội phù hợp với khả năng, điều kiện sản xuất và nhu cầu của người dân được các tổ chức xã hội nhiệt tình ủng hộ và tích cực tham gia. Chương trình không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế, mà còn góp phần làm đẹp cảnh quan môi trường, bảo vệ môi trường sống. Với chính sách hỗ trợ động viên hợp lý và hiệu quả, mục tiêu phát triển lâm nghiệp xã hội ngày càng được khẳng định thông qua chương trình trồng cây, trồng rừng. (Báo Thái Nguyên 2/4)đầu trang(
Chiều 2-4, đồng chí Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã đi kiểm tra việc thực hiện trồng rừng thay thế tại huyện Hoành Bồ thuộc Dự án Công viên nghĩa trang An Lạc của Công ty CP Tập đoàn Indevco trước khi được giao đất giai đoạn 2.
Sau khi đi kiểm tra thực tế, đồng chí Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh: Công viên nghĩa trang An Lạc là một trong những dự án trọng điểm của tỉnh; là công trình văn hóa tâm linh thân thiện với môi trường, đáp ứng nhu cầu an táng chung của các địa phương trong và ngoài tỉnh.
Đồng chí Đặng Huy Hậu yêu cầu, các sở, ngành của tỉnh tiếp tục tham mưu, đề xuất với UBND tỉnh về phương án trồng rừng thay thế theo quy định của pháp luật, trên quan điểm tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp thực hiện dự án và đảm bảo tiến độ đề ra. (Báo Quảng Ninh 2/4)đầu trang(
Với mô hình trồng mây, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng miền núi huyện Đakrông vừa có cơ hội cải thiện thu nhập vừa góp sức bảo vệ rừng.
Xưa nay, cuộc sống của người dân vùng cao gắn bó với nương rẫy. Sự nghèo đói đẩy nhiều người vào con đường khai thác lâm sản trái phép. Những cánh rừng nguyên sinh liên tục bị xâm phạm, “máu rừng” cứ chảy. Tuy nhiên, vào năm 2008, sau khi người dân các thôn bản ở huyện Đakrông được Tổ chức Birdlife International và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị giới thiệu việc khoán bảo vệ rừng gắn với mô hình trồng cây mây, nhiều cánh rừng trên khu vực đã được hồi sinh.
Mô hình trồng mây dưới tán rừng tại 2 thôn Cợp, xã Húc Nghì và Hà Vụng của xã Ba Lòng đã được triển khai. Tại thôn Hà Vụng, dự án triển khai trồng 5 ha do 5 gia đình quản lý. Tại thôn Cợp, có 8 gia đình đăng ký tham gia, trồng tổng cộng 16 ha mây. Trước khi triển khai mô hình, các cán bộ dự án đã tổ chức cho người dân đi tham quan, học tập mô hình trồng mây ở tỉnh Quảng Ngãi để “mắt thấy, tai nghe”, làm quen với những thao tác kỹ thuật cơ bản như: ươm giống, làm đất, trồng, chăm sóc cây mây... Bên cạnh đó, dự án còn tài trợ cho nhân dân phân bón, cây giống, dụng cụ sản xuất, tổ chức các lớp tập huấn và tư vấn kỹ thuật nói chung. Tổng kinh phí cho hoạt động trồng mây tại hai thôn lên đến trên 140 triệu đồng.
So với các loại thực vật khác, ưu điểm của cây mây là dễ trồng, phát triển nhanh, ít tốn công chăm sóc cũng như chi phí liên quan. Chỉ sau khoảng 4 năm, cây mây đã có thể thu hoạch. Mây càng già thì giá trị kinh tế càng cao. Bình quân 1 ha mây cho thu nhập gần 15 triệu đồng/năm. Ngoài nâng cao thu nhập, mở ra hướng sinh kế phù hợp cho hàng trăm hộ gia đình thì việc trồng mây còn đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc, bảo vệ rừng.
Tại Bản Cợp, xã Húc Nghì, từ chỗ chỉ có 8 hộ dân đăng kí trồng mây vào năm 2008 thì đến nay đã có hơn 50 hộ đăng kí , trồng được gần 70 hecta mây. Để người dân hiểu rõ những lợi ích trước mắt cũng như lâu dài do rừng mang lại cho người dân, chính quyền địa phương các cấp và lực lượng kiểm lâm đã đẩy mạnh công tác vận động tuyên truyền người dân tích cực tham gia bảo vệ rừng, không chặt phá rừng để đốt nương làm rẫy đồng thời các hộ gia đình có thể nhận khoán rừng tự nhiên để bảo vệ chăm sóc. Hiện nay diện tích mây nếp đã được người dân chăm sóc và đang phát triển tốt. Mặt khác, cây mây được trồng ở dưới tán rừng đầu nguồn, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao độ che phủ của rừng.
Anh Hồ Văn Thông chia sẽ : “ Hiện nay, toàn bản Cợp có hơn 66 hecta mây nếp, có 50 trên 71 hộ dân tham gia chăm sóc mây. Hiện cây mây đang phát triển tốt, khoảng vài năm nữa sẽ cho thu hoạch, khi có thu nhập từ cây mây bà con sẽ thôi không còn phá rừng làm rẫy, không còn khai thác rừng rừng bừa bãi nữa”.
Sự thành công của mô hình trồng mây dưới tán rừng đã tạo tiền đề để tổ chức Birdlife International nhận được sự tài trợ của Dự án Toyota. Qua đó, đến nay mô hình khoán bảo vệ rừng gắn với trồng cây mây đã được triển khai mở rộng tại nhiều xã của huyện Đakrông như Hướng Hiệp, A Ngo, Ba Nang,… Cũng như 2 mô hình ở thôn Cợp và Hà Vụng, người dân các thôn bản này sẽ được dự án cung cấp giống, dụng cụ trồng, hướng dẫn cách trồng và khai thác...
Như vậy, với mong muốn nâng cao kinh tế, cải thiện thu nhập cho bà con, đồng thời phát huy hiệu quả của công tác bảo vệ rừng, hàng nghìn cây mây đã được trao tận tay cho đồng bào miền núi huyện Đakrông. Trong nay mai, loài cây giữ rừng này sẽ góp phần làm thay đổi nhận thức cho bà con trong việc chọn hướng sinh kế phù hợp cũng như bảo vệ rừng bền vững. (Đài PTTH Quảng Trị 3.4)đầu trang(
Theo kế hoạch, năm 2015, tỉnh Lào Cai sẽ thực hiện trồng 2.650 ha rừng theo phương thức hỗ trợ sau đầu tư.
Toàn bộ diện tích rừng trồng theo phương thức hỗ trợ sau đầu tư được triển khai tại 3 huyện: Bảo Yên (1.850 ha), Bảo Thắng (600 ha), Văn Bàn (200 ha).
Hiện, ban quản lý rừng phòng hộ, công ty lâm nghiệp và hạt kiểm lâm các huyện đã tổ chức cho người dân thiết kế trồng mới, đảm bảo đúng tiến độ trồng rừng trong khung thời vụ.
Đây là năm đầu tiên tỉnh đồng ý chủ trương thí điểm trồng rừng theo phương thức hỗ trợ sau đầu tư. Theo đó, các hộ dân sẽ chủ động nguồn giống (mua giống ở những cơ sở sản xuất giống đạt tiêu chuẩn), trồng đảm bảo đúng hướng dẫn của cán bộ lâm nghiệp (mật độ, kỹ thuật chăm sóc, thời vụ) đến khi cây phát triển, các chủ rừng sẽ tiến hành nghiệm thu và hỗ trợ theo suất đầu tư định mức. (Báo Lào Cai 3.4)đầu trang(
Gần 329 ha rừng trồng của 57 hộ dân tại xã Lộc Bổn (Phú Lộc) được cấp chứng chỉ rừng (CCR) thí điểm thông qua Dự án phát triển ngành lâm nghiệp (WB3).
Ông Hồ Đa Thê, Trưởng thôn Bến Ván, kiêm nhóm trưởng nhóm CCR Bến Ván (xã Lộc Bổn, Phú Lộc) và nhiều hộ tham gia nhóm rất phấn khởi kể ra một vài hiệu quả ban đầu khi rừng trồng của họ được cấp CCR. Lật cuốn sổ ghi chép, ông Thê so sánh cặn kẽ giá lô gỗ có CCR đầu tiên được khai thác. Chỉ 2,94 ha rừng trồng của một số hộ tham gia nhóm CCR Bến Ván, nhưng số tiền bán được từ gỗ lấy ván là 1,067 tỷ đồng và gỗ dăm là 66 triệu đồng. So với gỗ thông thường bán ra bên ngoài, lãi ròng chênh lệch cao hơn 87 triệu đồng/ha. “Đấy chính là hiệu quả kinh tế minh chứng trước mắt”, ông Thê nói.
Phần lớn rừng trồng trên địa bàn tỉnh có chu kỳ khoảng 5 năm là đưa vào khai thác. Ở độ tuổi này cho năng suất từ 80 đến 90 tấn/ha. Tuy nhiên, một số lô rừng tham gia CCR ở xã Lộc Bổn có chu kỳ trồng 7 năm trở lên cho khối lượng khá cao. Đơn cử hộ ông Hồ Đắc Lực thu được 204,6 tấn/ha rừng trồng 8 năm tuổi. Hộ ông Nguyễn Văn Đổng thu được 366 tấn/1,26 ha (tương đương 290 tấn/ha) rừng 8 năm tuổi.
Qua trò chuyện, ông Hoàng Xuân Thành, thôn 4-KĐC Bến Ván cho biết, gia đình ông vừa khai thác 0,5 ha rừng có FSC (Hội đồng Quản trị rừng thế giới) 7 năm tuổi và bán với giá 140 triệu đồng, cao hơn vài chục triệu đồng so với giá gỗ rừng trồng tự do. Theo ông Thành, nhiều hộ tuy diện tích chỉ 0,5 hoặc 1ha, nhưng nhờ chăm sóc kỹ, thực hiện chế độ tỉa thưa đúng kỹ thuật, nên trữ lượng gỗ cũng như lợi nhuận tăng cao. Gỗ có CCR nếu đường kính từ 10-15cm có giá 1,35 triệu đồng/tấn, đường kính trên 15cm có giá 1,75 triệu đồng/tấn và trên 25cm có giá hơn 2,3 triệu đồng/tấn.
Khảo sát thực tế quá trình tham gia CCR, ông Phạm Đình Văn, Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và thuỷ sản, kiêm Phó Ban Quản lý Dự án WB3 tỉnh Thừa Thiên Huế cho rằng, bên cạnh những điều kiện cấp CCR rất khắt khe và được giám sát nghiêm ngặt trong thời hạn tham gia CCR, nhưng lợi ích đem lại cho các hộ trồng rừng theo FSC và đơn vị thu mua gỗ có CCR lại rất lớn.
Đó là hiệu quả kinh tế cao hơn, gỗ và các sản phẩm gỗ mộc được sản xuất từ gỗ rừng trồng có CCR được bán công khai trên thị trường các nước trên thế giới. Kèm theo đó là những lợi ích về mặt xã hội, về môi trường.
Thừa Thiên Huế có khoảng 94 nghìn ha rừng trồng. Nhiều diện tích trong số này đã được khai thác. Hiện, diện tích rừng trồng vẫn tiếp tục tăng bình quân mỗi năm khoảng 4.000ha, với sản lượng gỗ khai thác từ nguồn này bình quân gần 200 nghìn m3/năm, phục vụ đắc lực cho ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ. Song thực tế, gần như đến 90% gỗ này là gỗ nhỏ và được đưa vào sản xuất gỗ dăm, phần ít ỏi còn lại mới được đưa vào chế biến đồ mộc.
Đến nay, chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên đã được áp dụng. Điều này chắc chắn sẽ khiến nguồn nguyên liệu phục vụ hàng mộc gia dụng từ gỗ rừng tự nhiên sẽ khan hiếm, ảnh hưởng không nhỏ đến ngành công nghiệp chế biến đồ gỗ cũng như xuất khẩu. Nắm bắt xu hướng này, cũng như thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia về quản lý và phát triển rừng bền vững, theo ông Phạm Đình Văn, Dự án WB3 đang tiến đến mục tiêu cấp CCR cho từ 30% đến 40% trong tổng diện tích 13.689ha rừng trồng tham gia dự án. Chỉ riêng việc đầu tư trồng rừng chất lượng, lấy gỗ lớn không chỉ giúp người dân nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng giá trị rừng trồng mà còn là tiềm năng rất lớn phục vụ nhu cầu công nghiệp chế biến đồ gỗ, đáp ứng tiêu chí về môi trường bền vững.
Ông Lâm Quốc Dũng, cán bộ khuyến lâm Ban quản lý Dự án WB3 Thừa Thiên Huế cho rằng, từ khi xét cấp cho đến khai thác, rừng trồng theo FSC phải đảm bảo các quy định nghiêm ngặt về xã hội và môi trường. Trong đó phải cam kết thực hiện quản lý rừng trồng theo FSC gồm 10 nguyên tắc và 56 tiêu chí, phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phải hoạt động theo quy chế của nhóm hộ...
Chính vì phải tuân thủ các quy định của FSC nên nhiều hộ trồng rừng còn quan ngại và chưa mặn mà tham gia nhóm CCR hoặc trong quá trình tham gia thì xin rút giữa chừng bởi nhiều lý do. Ông Hồ Đa Thê, nhóm trưởng nhóm CCR Bến Ván đơn cử vài trường hợp không thể trụ được đã xin rút khỏi nhóm CCR để khai thác gỗ trước thời hạn.
Ông Thê lý giải, thay vì lâu nay người dân vẫn quen trồng với chu kỳ từ 4,5 đến 5 năm là khai thác, nhưng khi vào nhóm CCR đòi hỏi thời gian khai thác phải từ 7 đến 10 năm, nên một số gia đình gặp khó khăn về vốn. Tuy nhiên, để khắc phục tình trạng này, ngoài việc sàng lọc thật kỹ hộ trồng rừng đủ tiêu chuẩn, triển vọng đăng ký CCR, nhóm CCR Bến Ván đã thành lập quỹ nhóm, xây dựng kế hoạch, huy động nguồn hỗ trợ “lấy ngắn nuôi dài”, tránh tình trạng một số hộ xin rút giữa chừng, làm giảm diện tích cấp CCR. (Báo TT-Huế 2/4)đầu trang(./.
Biên tập: Diệu Huyền
|
|||