Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 05 tháng 08 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Sáng ngày 30/7, UBND huyện Mang Yang đã tổ chức khởi động Dự án “Bảo vệ và quản lý tổng hợp các hệ sinh thái rừng huyện Mang Yang”, gọi tắt là Dự án KfW 10.
Mục tiêu của dự án là bảo vệ, quản lý bền vững khoảng 20.000 ha rừng tự nhiên sản xuất tại 3 tỉnh Quảng Nam, Kon Tum và Gia Lai, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và đảm bảo thu nhập ổn định thường xuyên cho người dân ở 35 xã,với105 cộng đồng thôn, bản thông qua việc tạo ra sự đa dạng về các sản phẩm từ rừng.
Dự án KfW10 có thời gian thực hiện dự án là 7 năm, nhà tài trợ của Dự án là Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức thông qua Ngân hàng tái thiết Đức (KfW) và Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, với tổng vốn đầu tư của dự án trên 11,29 triệu EURO, trong đó vốn ODA do Chính phủ CHLB Đức tài trợ không hoàn lại 8 triệu EURO, tương đương 224 tỷ Việt Nam đồng; vốn đối ứng phía Việt Nam là 29% tương đương trên 3,29 triệu EURO, khoảng trên 92 tỷ Việt Nam đồng.
Đối với huyện Mang Yang, Dự án được triển khai với khoảng gần 1.500ha rừng tại 02 xã Lơ Pang và Kon Chiêng, đây là cơ hội để đồng bào dân tộc thiểu số nghèo vùng sâu, vùng xa nâng cao thu nhập thông qua việc bảo vệ, phát triển rừng và khai thác lâm sản bền vững. (Gia Lai TV 1/8) đầu trang(
Trong tháng 7 vừa qua, tại Công viên nước Hồ Tây, Câu lạc bộ tình nguyện viên Trung tâm Giáo dục thiên nhiên Việt Nam (ENV) Hà Nội  đã tổ chức trưng bày, giới thiệu, tuyên truyền về bảo vệ động vật hoang dã, đồng thời thu thập phiếu chia sẻ ý kiến và phiếu cam kết bảo vệ, chấm dứt nạn săn bắt gấu.
Đây là 1 trong 3 hoạt động thường niên của Câu lạc bộ (CLB) nhằm hỗ trợ các cơ quan chức năng trong công tác điều tra các vi phạm về động vật hoang dã trên địa bàn Thủ đô.
Theo đại diện của ENV, mạng lưới tình nguyện viên của ENV trải dài trên cả nước, tính đến tháng 5/2015, có hơn 5.200 thành viên ở khắp 33 tỉnh thành, với sự có mặt của 13 câu lạc bộ ở 13 thành phố lớn như: Thái Nguyên, Hải Phòng, Hà Nội, Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai và TP. Hồ Chí Minh. Được thành lập từ tháng 1 năm 2013 với hơn 20 thành viên nòng cốt, CLB vì môi trường Hà Nội đều là những người trẻ tuổi luôn thực hành tốt các kĩ năng đã được đào tạo, không ngại giờ giấc, thời tiết tham gia làm triễn lãm tích cực.
Các thành viên trong Câu lạc bộ đều mong muốn được góp một phần sức trẻ cho việc bảo vệ động vật hoang dã từ những việc nhỏ nhất.
Chị Ninh Phương Thảo – Điều phối mạng lưới tình nguyện của ENV cho biết, nhận thức của con người rất quan trọng, vì vậy, trong các công tác truyền thông, CLB luôn hướng tới việc làm thế nào để thay đổi được nhận thức cũng như hành vi của người sử dụng bởi để thay đổi được một thói quen là rất khó.
Cùng với sự phát triển của xã hội, nhận thức của mỗi người dân cũng sẽ có những thay đổi đáng kể về mọi mặt. Đây chính là điểm mà CLB quan tâm trong các chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức của mình.
Theo đại diện ENV, sự kiện này CLB tổ chức ở công viên, phạm vi tuyên truyền rộng nên các thành viên đều chấp hành theo sự phân chia công việc của Ban tổ chức để đạt được hiệu quả công việc tốt nhất.
Tại đây các tình nguyện viện đã tuyên truyền cho nhiều thành phần khách tham gia triển lãm đặc biệt là trẻ em  để các em tiếp thu và góp phần hình thành ý thức bảo vệ động vật hoang dã ngay từ nhỏ. Các thành viên của Câu lạc bộ đã rất cố gắng giải thích cặn kẽ cho cả những người chưa quan tâm đến bảo vệ động vật hoang dã.
“Chính sự kiên trì của các tình nguyện viên đã giúp cho phong trào bảo vệ động vật hoang dã được lan rộng trong cộng đồng hơn” - bạn Trần Văn Giàu, Trưởng nhóm Câu lạc bộ tình nguyện ENV Hà Nội chia sẻ.
Nhân dịp này, CLB đã thu hút hàng trăm người dân tìm hiểu, ký cam kết bảo vệ động vật hoang dã, không sử dụng các sản phẩm làm từ động vật hoang dã và tham gia các hoạt động như ghép tranh, trả lời câu hỏi… “Bản thân chúng ta không nên sử dụng ĐVHD làm thuốc hay đồ trang trí để giảm nhu cầu tiêu thụ và nâng cao ý thức bảo vệ ĐVHD cho những người xung quanh” – bạn Trần Thị Châm, 19 tuổi, Hà Nội chia sẻ xung quanh hoạt động triển lãm.
Hay như bạn trẻ thuộc thế hệ 8x Trần Sơn (Trương Định – Hà Nội) cũng  có hành động rất đáng ghi nhận, Sơn cho rằng: “Mỗi hoạt động của tổ chức ENV đều cần sự chung tay của nhiều người, là thế hệ trẻ Thủ đô chúng tôi hiểu những giá trị của ĐVHD thuộc về tự nhiên vì vậy phải ngăn chăn ngay các hoạt động săn bắn, nuôi nhốt trái phép… và phải có chế tài sử phạt nghiêm minh hơn nữa”.
Sau hoạt động triển lãm, CLB sẽ gửi báo cáo chi tiết cho Trung tâm giáo dục thiên nhiên ENV trụ sở ở Hà Nội về những nội dung đã triển khai, những khó khăn vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện, đồng thời đưa ra một số đề xuất nhằm mở rộng tổ chức CLB, một số mô hình, ý tưởng mới để thu hút tình nguyện viên, để triển khai các hoạt động tiếp theo. (Tài Nguyên Và Môi Trường 4/8) đầu trang(
Thời gian gần đây, trên địa bàn tỉnh Nghệ An liên tiếp những vụ lâm tặc tổ chức phá rừng quy mô lớn, trở thành thách thức đối với các cơ quan chức năng.
Liên tiếp trong tháng 5-2015, tỉnh Nghệ An rúng động bởi hàng loạt vụ chặt phá rừng nghiêm trọng. Các đối tượng không chỉ “tấn công” vào các khu rừng sản xuất mà những khu rừng gần biên giới, nơi được canh gác nghiêm ngặt cũng bị tàn phá. Tại xã Thanh Sơn, H. Thanh Chương, “lâm tặc” đã chặt hạ 20m3 gỗ nhóm II-IV.
Tiếp đó trên địa bàn xã biên giới Thanh Thủy, H. Thanh Chương, lâm tặc tiếp tục chặt hạ 27m3 gỗ táu. Tại khu vực rừng phòng hộ Cao Vều, H. Anh Sơn “lâm tặc” chặt hạ 20m3 thì tại H. Tương Dương lâm tặc cũng triệt hạ 25m3 gỗ pơmu ở rừng biên giới xã Tam Hợp.
Đầu tháng 6-2015, Phòng CSĐTTPVMT CA tỉnh Nghệ An lại tiếp tục bắt giữ 6 đối tượng, thu giữ 35,4 m3 gỗ khi các đối tượng này đang khai thác gỗ trái phép tại khu vực vành đai biên giới Việt – Lào thuộc rừng phòng hộ xã Thanh Thủy, H. Thanh Chương.
Ngày 28-6, Phòng CSĐTTPVMT CA Nghệ An tiếp tục phá thành công Chuyên án 615R, bắt quả tang 2 đối tượng Nguyễn Mộng Thạch và Lô Hồng Thiện (đều trú xã Mậu Đức, H. Con Cuông, Nghệ An) thu khoảng 40 m3. Kết quả điều tra, xác minh ban đầu cho thấy, đối tượng chính trong vụ phá rừng là một đầu nậu chuyên mua bán gỗ lậu trên địa bàn xã Mậu Đức.
Ngày 3-7, tỉnh Nghệ An một lần nữa xôn xao trước vụ lâm tặc tấn công rừng đặc dụng trong khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt. Bởi khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt là một trong ba vùng lõi thuộc Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An lưu giữ nhiều nguồn gen quý về động, thực vật, lại được Ban chỉ huy Quân sự H. Quế Phong, Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt chịu trách nhiệm bảo vệ.
Cụ thể, vào thời điểm trên tổ công tác liên ngành H. Quế Phong đã phát hiện 5 người đàn ông đang dùng cưa xăng cắt hạ 3 cây sa mu (thuộc nhóm 2A quý hiếm) tại vùng lõi rừng đặc dụng trong khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, xã Hạnh Dịch cách biên giới Việt - Lào khoảng 1 km.
Tại hiện trường, 2 cây sa mu hàng trăm năm tuổi, đường kính khoảng 2,5-2,8 m, cao 35- 40 m bị các đối tượng cắt hạ và đang tiếp tục chặt hạ cây thứ ba. Tổng số gỗ của cả ba cây sa mu bị khai thác trái phép khoảng 240 m3.
Theo thống kê của Phòng CSĐTTPVMT CA tỉnh Nghệ An, từ đầu năm đến nay, riêng đơn vị này đã phát hiện, bắt giữ và xử lý khoảng 29 vụ, bắt 37 đối tượng, thu giữ hơn 270m3 gỗ cùng nhiều phương tiện và tang vật phục vụ cho việc vận chuyển và khai thác lâm sản trái phép.
Rõ ràng tình trạng rừng bị chặt phá ngày càng nghiêm trọng, đáng báo động. Nguyên nhân một phần do nhận thức của người dân còn thấp, việc xử lý đối với các đối tượng “lâm tặc” vẫn chưa có tác dụng răn đe. Ngoài ra nhiều vụ vi phạm còn liên quan đến công tác quản lý nhưng việc xử lý chưa nghiêm, còn bị xem nhẹ cũng là một yếu tố khiến lâm tặc vẫn lộng hành.
Trở lại vụ đốn hạ gần 1 ha rừng phòng hộ Cao Vều vào tháng 8-2014 tại xã Phúc Sơn, H. Anh Sơn, dư luận chưa hết bức xúc bởi lẽ cơ quan chức năng đã có kết luận xác định ông Nguyễn Trọng Độ, Trạm trưởng Trạm Quản lý rừng phòng hộ Cao Vều, 7 người đốn hạ khoảng 1ha cây rừng với khối lượng 29,35m3 gỗ từ nhóm 5 – 8 tại tiểu khu 946 thuộc Rừng phòng hộ H. Anh Sơn do đơn vị này trực tiếp bảo vệ, quản lý thế nhưng không hiểu vì lý do gì mà đến nay ông Độ chưa hề bị xử lý?!
Dư luận chưa lắng xuống thì lại xảy ra vụ phá rừng tại tiểu khu 748 và 752 thuộc địa bàn xã Đôn Phục và xã Mậu Đức (H. Con Cuông). Đây được cho là vụ án phá rừng có quy mô lớn và trắng trợn nhất từ trước tới nay. Bởi lẽ địa điểm khai thác gỗ trái phép chỉ cách trung tâm xã Mậu Đức khoảng 10 km, các đối tượng ngang nhiên khai thác, vận chuyển gỗ ra khỏi rừng bằng máy kéo, các phương tiện cơ giới.
Để ra khỏi rừng các đối tượng này phải đi qua con đường duy nhất nơi có lực lượng của Ban quản lý rừng phòng hộ, chính quyền địa phương và đặc biệt là Trạm kiểm lâm địa bàn của Hạt kiểm lâm H. Con Cuông chốt giữ. Thế nhưng tại sao vụ việc lại không được phát hiện? Đây có phải đơn thuần là buông lỏng công tác quản lý, thiếu tinh thần trách nhiệm hay là bao che, tiếp tay cho lâm tặc?
Ông Ngân Văn Dương, Phó chủ tịch UBND xã Mậu Đức, H. Con Cuông khẳng định: Trong các cuộc tiếp xúc cử tri, họp hội đồng ở huyện, xã đã phản ánh tình trạng lâm tặc phá rừng, đề nghị phối hợp để ngăn chặn thế nhưng vụ việc vẫn xảy ra.
Ông Lê Minh Thông, chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Nghệ An, cho biết: “Hiện chúng tôi đang phối hợp với cơ quan công an, kiểm lâm để làm rõ những sai phạm của tập thể, cá nhân trong vụ tàn phá rừng này. Khi có kết luận, sẽ tổ chức kiểm tra quá trình chỉ đạo, điều hành của các tổ chức Đảng. Nếu phát hiện sai phạm sẽ xử lý nghiêm minh”.
Có thể thấy rằng, nhiều vụ việc khai thác rừng trái phép đã bị phát hiện, bắt giữ và chuyển giao cho các cơ quan chức năng xử lý theo thẩm quyền nhưng việc xử lý còn bị xem nhẹ. Nhiều vụ việc kéo dài hàng năm nhưng cán bộ sai phạm vẫn chưa bị xử lý kỷ luật.
Trong khi đó sự tồn tại của rừng đang đòi hỏi lực lượng bảo vệ rừng, những cơ quan quản lý cần phải siết chặt trách nhiệm của mình hơn nữa, để làm rõ sai phạm của tập thể, cá nhân, đặc biệt là người đứng đầu. (Công An Nhân Dân 4/8) đầu trang(
Liên tục mấy ngày qua, người dân ở xã Thường Phước 1, huyện Hồng Ngự (Đồng Tháp) bắt được loài cá “lạ”. Thân cá giống loài cá lóc, có vẩy, đầu giống cá sấu, mỗi con dài khoảng 7 – 8cm, nặng khoảng 2,5 - 4kg.
Ngày 30/7, ông Nguyễn Phước Em - ngụ ấp Chòm Xoài, xã Thường Phước 1 thả lưới trên sông bắt được con cá chiều dài khoảng 7 tấc, nặng 2,5kg. Ông Em bán cá cho người dân địa phương với giá 500.000 đồng. Trước đó, ngày 29/7, ông Lê Văn Thanh - ngụ ấp 1, xã Thường Phước 1 bắt được con cá nặng trên 3kg.
Ban đầu, Trạm Thủy sản huyện Hồng Ngự xác nhận, đây là loài cá sấu hỏa tiễn, có tên khoa học là Lepisosteus Oculatus Winchell, có nguồn gốc từ bắc Mỹ, là loài sinh vật nước ngọt, sống ở sông, ao hồ.
Theo ngành chức năng, đây là loài cá cảnh ngoại lai rất nguy hiểm, có hàm sắc bén, thức ăn của chúng là các loài cá con và các loài thủy cầm. Đặc biệt, cá sấu hỏa tiễn là loài cá ăn tạp, có khả năng tiêu thụ thức ăn rất nhanh.
Do đó, Trạm Thủy sản huyện Hồng Ngự khuyến cáo người dân khi bắt được cá có thể nuôi làm cảnh, không nên thả trở lại tự nhiên tránh gây nguy hại cho loài cá bản địa và làm ảnh hưởng đa dạng sinh học. (Dân Trí 3/8) đầu trang(
Sau một thời gian tạm lắng, gần đây, tình trạng xâm chiếm đất rừng phòng hộ ở thị trấn An Thới (huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang) có chiều hướng gia tăng. Tại nhiều ngọn núi thuộc rừng phòng hộ Phú Quốc trên địa bàn An Thới đang bị “cạo trọc” bởi các đối tượng lấn chiếm đất rừng, phá rừng để sang nhượng trái phép. Thực trạng nhức nhối này đã xảy ra dai dẳng nhiều năm nay.
Có mặt cùng đoàn cán bộ Chi Cục Kiểm lâm tỉnh Kiên Giang tại địa bàn Bãi Khem khu phố 6, khu phố 8, thị trấn An Thới, chúng tôi đã chứng kiến nhiều ha rừng đã bị các đối tượng bao chiếm đất rừng chặt phá, đốt...
Theo số liệu thống kê từ năm 2009 đến năm 2014, tại thị trấn An Thới cơ quan chức năng huyện Phú Quốc đã lập biên bản tổng cộng 26 vụ vi phạm pháp luật bảo về rừng với tổng diện tích rừng bị chặt phá là 19,026 ha.
Trong đó đã khởi tố 03 vụ án hình sự, xử lý vi phạm hành chính 4 vụ, 14 vụ chưa truy tìm được người vi phạm và 5 vụ bao chiếm 2,03 ha đất do Vùng 5 Hải quân quản lý.
Đặc biệt, có vụ mang cả xe cuốc, xe ủi vào san bằng nhiều diện tích đất rừng như trường hợp ông Nguyễn Trọng Toan phá 0,71ha; ông Nguyễn Trường Xoa phá 0,27 ha; bà  Trần Thị Ngọc phá rừng, bao chiếm đất cất nhà…
Tại khu vực ấp 7 đoạn từ ngã 4 Quốc tế đến ngang bãi rác, đi dưới đường cũng nhìn thấy hàng ngàn m2 rừng bị phát trống ruột trên núi, phía sau các rẫy nhà. Từ đầu năm 2015 đến nay, theo báo cáo của Ban Quản lý (BQL) Rừng phòng hộ Phú Quốc thì trên địa bàn thị trấn An Thới đã xảy ra 13 vụ vi phạm phá, lấn, chiếm rừng, diện tích 9,2 ha, trong đó 3 vụ có người nhận 0,8ha và 10 vụ không người nhận 8,4 ha.
Theo ông Dương Minh Tâm, Giám đốc BQL Rừng phòng hộ Phú Quốc thì hiện nay tình hình phá, lấn, chiếm đất rừng trên địa bàn thị trấn An Thới đang diễn ra hết sức phức tạp; hiện BQL đang tiếp tục tăng cường lực lượng phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức kiểm tra, rà soát lại toàn bộ các hành vi vi phạm để phát hiện xử lý.
Theo ông Huỳnh Long Hải, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Phú Quốc cho biết: “Hình thức phá, lấn, chiếm rừng đang diễn ra trên địa bàn hết sức tinh vi trên địa bàn thị trấn An Thới, các đối tượng lén lút vào phá rừng với mọi hình thức về giờ giấc không cố định, lợi dụng mọi sơ hở của lực lượng bảo vệ rừng, kể cả phát vào ban đêm và lợi dụng thời tiết mưa bão sau đó tiến hành đốt, trồng cây chiếm đất, khi kiểm tra phát hiện thì không người nhận, do đó rất khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và xử lý các vụ vi phạm trong thời gian qua.
Về nguyên nhân chủ yếu gia tăng tình trạng phá rừng tại các khu vực này là do từ khi quy hoạch các dự án, một số hộ dân vào phát dọn trồng cây chiếm đất để yêu cầu bồi hoàn và do tình hình biến động giá đất trong thời gian qua trên địa bàn huyện dẫn đến tình trạng người dân lén lút phát dọn sau đó sang bán trái phép đất lâm nghiệp”.
Hiện nay, các ngành chức năng tỉnh Kiên Giang và huyện Phú Quốc đang khẩn trương tập trung điều tra, xử lý các vụ bao chiếm đất rừng trên đảo ngọc Phú Quốc. (Tài Nguyên Và Môi Trường 4/8) đầu trang(
Trước đây, tình hình phá rừng giáp ranh tại hai tỉnh Ninh Thuận – Bình Thuận có nhiều diễn biến phức tạp. Các đối tượng phá rừng ngoài địa phương lập thành băng nhóm, tổ chức phá rừng rất tinh vi, có chiều hướng ngày càng gia tăng…
Trước tình hình đó, năm 2010 Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn hai tỉnh đã ký kết Quy chế phối hợp quản lý bảo vệ rừng giáp ranh giữa hai tỉnh Ninh Thuận – Bình Thuận. Nhờ sự vào cuộc tích cực của ngành chức năng hai tỉnh mà tình trạng phá rừng bước đầu có những kết quả đáng ghi nhận.
Bình Thuận và Ninh Thuận có phạm vi rừng giáp ranh trải dài khoảng 51km nằm trên địa bàn các huyện Tuy Phong (Bình Thuận) và huyện Ninh Sơn, Thuận Nam (Ninh Thuận). Khu vực giáp ranh có địa hình phức tạp, chia cắt, độ dốc cao, tài nguyên rừng còn tương đối phong phú với nhiều loài cây gỗ quý, có giá trị kinh tế như trắc, sơn huyết, trầm hương, gõ...
Chính vì vậy, nhiều đối tượng lâm tặc đã về đây để khai thác gỗ trái phép. Để hạn chế tình trạng này, lực lượng chức năng hai tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận đã triển khai thực hiện chế và kế hoạch phối hợp quản lý bảo vệ rừng vùng giáp ranh. Hàng quý tổ chức giao ban giữa kiểm lâm hai tỉnh để trao đổi bàn bạc, góp ý nhằm phối hợp thực hiện.
Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng của hai tỉnh, đặc biệt là kiểm lâm, quân đội, công an, chủ động cung cấp thông tin cho nhau trong việc tổ chức kiểm tra, truy quét chống phá rừng vùng giáp ranh.
Tuyên truyền giáo dục nhân dân vùng giáp ranh nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm bảo vệ rừng, tham gia tố giác đầu nậu phá rừng, không hợp tác, tiếp tay cho lâm tặc. Điều tra và xử lý nghiêm minh các đối tượng tổ chức khai thác, thuê mướn lao động và bao tiêu sản phẩm rừng trái phép. Bên cạnh đó, cấp ủy chính quyền địa phương vùng giáp ranh cũng tổ chức quán triệt Luật Bảo vệ và phát triển rừng cho cán bộ và nhân dân.
Từ đó, người dân đã tích cực tham gia vào công tác bảo vệ rừng. Nhờ thông tin từ người dân cung cấp, ngành chức năng hai tỉnh đã phát kiện kịp thời và có biện pháp truy quét, ngăn chặn có hiệu quả việc khai thác, vận chuyển, mua bán gỗ vùng giáp ranh.
Từ tháng 10/2014 đến tháng 5/2015, lực lượng kiểm lâm, bảo vệ rừng và cơ quan chức năng vùng giáp ranh giữa hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận đã phối hợp tổ chức 399 đợt truy quét việc khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản, phá rừng trái pháp luật trên vùng giáp ranh với 1.446 lượt người tham gia.
Trong các đợt truy quét, lực lượng chức năng đã phát hiện 220 vụ vi phạm và xử lý 218 vụ; tịch thu 36,71 m3 gỗ tròn và 19,268 m3 gỗ xẻ các loại, 115 xe mô tô và nhiều phương tiện vi phạm khác. Đầu năm 2015, trong quá trình tuần tra kiểm soát, tổ công tác huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận đã phát hiện và bắt giữ 1 đối tượng có hành vi khai thức rừng trái phép.
Đối tượng này là người dân xã Nhị Hà, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.  Trong qua trình tuần tra, tổ công tác của huyện Ninh Sơn cũng phát hiện một đối tượng người Bình Thuận tham gia cùng một số đối tượng ở Ninh Thuận và Lâm Đồng khai thác gỗ sao trái phép tại tiểu khu 118 xã Ma Nới, huyện Ninh Sơn, Ninh Thuận. Hiện các cơ quan chức năng huyện Ninh Sơn đang củng cố hồ sơ để đưa các đối tượng ra xét xử trước pháp luật.
Trong thời gian tới, các ngành chức năng hai tỉnh sẽ tiếp tục thực hiện quy chế và kế hoạch phối hợp đã ký kết, đồng thời tăng cường vai trò và trách nhiệm quản lý nhà nước về quản lý bảo vệ rừng cho chính quyền địa phương cấp xã.
Tăng cường công tác giáo dục pháp luật bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn, bản, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, quan tâm thực hiện các chính sách nâng cao đời sống kinh tế, xóa đói, giảm nghèo cho nhân dân. Đồng thời xem xét, sửa đổi, bổ sung những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện quy chế cho phù hợp với tình hình trong giai đoạn mới. (Báo Bình Thuận 4/8) đầu trang(
Trạm Kiểm lâm Bản Dõng là đơn vị trực thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Văn Chấn, được giao quản lý 9 xã và 1 thị trấn gồm: Tú Lệ, Nậm Búng, Gia Hội, Sùng Đô, Nậm Mười, Nậm Lành, Sơn Lương, Sơn A, Nghĩa Sơn và thị trấn Nông trường Liên Sơn.
Với chức năng và nhiệm vụ được giao, trong thời gian qua, Trạm Kiểm lâm Bản Dõng không những làm tốt công tác đôn đốc, hướng dẫn và kiểm tra công tác quản lý, bảo vệ rừng của các nhóm hộ nhận khoán bảo vệ rừng tự nhiên phòng hộ, rừng trồng phòng hộ, rừng tự nhiên sản xuất mà còn tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, điều động cán bộ kiểm lâm xuống địa bàn nắm bắt thông tin để ngăn chặn kịp thời các vụ khai thác, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép.
Tính đến 10/7, Trạm Kiểm lâm Bản Dõng phát hiện và xử lý 7 vụ vi phạm lâm luật, trong đó có 5 vụ vi phạm về vận chuyển lâm sản trái phép, 2 vụ cất giấu lâm sản trái phép, thu giữ 8,858m3 gỗ tạm thu giữ 3 xe máy, 2 ô tô, xử phạt hành chính nộp ngân sách Nhà nước 9 triệu đồng (Báo Yên Bái 4/8) đầu trang(
Liên tiếp những vụ lâm tặc tổ chức phá rừng quy mô lớn, hàng trăm mét khối gỗ lậu được các đầu nậu đưa ra khỏi cửa rừng để tìm nơi tiêu thụ, trong khi chủ rừng, cán bộ kiểm lâm, các lực lượng được giao nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng cũng như chính quyền sở tại không phát hiện trong một thời gian dài.
Đầu tháng 6/2015, tại khu vực biên giới Việt – Lào thuộc rừng phòng hộ xã Thanh Thủy, huyện Thanh Chương, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an Nghệ An phá Chuyên án “365G”, bắt giữ 06 đối tượng về hành vi khai thác rừng trái phép, thu giữ 35,4m3 gỗ.
Điều đáng nói là địa điểm khai thác gỗ trái phép xảy ra tại khu vực vành đai biên giới – nơi lâu nay vẫn được xem là bảo vệ nghiêm ngặt - khiến dư luận không khỏi bất ngờ.
Ông Phan Đình Hà – Phó Chủ tịch UBND huyện Thanh Chương cho rằng: Rõ ràng các lực lượng thực hiện chức trách của mình còn lỏng lẻo, vụ việc xảy ra tại khu vực Cửa khẩu Thanh Thủy, nằm trên vành đai biên giới, mà lại nằm ngay cạnh đồn biên phòng, rõ ràng là công tác quản lý người ra vào khu vực biên giới chưa tốt ...’’.
Sau vụ việc xảy ra tại địa bàn xã Thanh Thủy, ngày 28/6 Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an Nghệ An tiếp tục phá Chuyên án 615R, bắt quả tang 02 đối tượng Nguyễn Mộng Thạch, SN 1985 và Lô Hồng Thiện, SN 1993, đều trú tại xã Mậu Đức, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An về hành vi khai thác lâm sản trái phép.
Điều đáng nói là địa điểm khai thác gỗ trái phép chỉ cách trung tâm xã Mậu Đức vỏn vẹn 10km, các đối tượng ngang nhiên khai thác, vận chuyển gỗ ra khỏi rừng bằng phương tiện cơ giới trên tuyến đường độc đạo – nơi có lực lượng của Ban quản lý rừng phòng hộ, chính quyền địa phương và đặc biệt là Trạm kiểm lâm địa bàn của Hạt Kiểm lâm huyện Con Cuông  chốt giữ, vậy vì sao vụ việc không được phát hiện?
Trả lời câu hỏi của PV, ông Ngân Văn Dương – Phó Chủ tịch UBND xã Mậu Đức, huyện Con Cuông cho biết: Trước khi xảy ra vụ việc, cử tri cũng đã thắc mắc, chúng tôi cũng đã có ý kiến lên huyện, lên Hạt Kiểm lâm, giao ban tại xã chúng tôi cũng đã trao đổi với cán bộ ở Trạm kiểm lâm địa bàn là rừng chúng ta đang có hiện tượng bị chặt phá, phải có biện pháp ngăn chặn, thế  nhưng sự việc vẫn xảy ra.
Ông Lê Quang Hợp – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Con Cuông thừa nhận, để xảy ra sai phạm này, một phần do lỗi Kiểm lâm địa bàn không báo cáo, nhưng trong đó có lỗi của lãnh đạo hạt là đã không sát sao trong việc kiểm tra, kiểm soát.
Trở lại vụ phá rừng tại tiểu khu 748 và 752 thuộc địa bàn xã Đôn Phục và xã Mậu Đức, huyện Con Cuông, kết quả điều tra, xác minh ban đầu cho thấy, đối tượng chính trong vụ phá rừng là một đầu nậu chuyên mua bán gỗ lậu trên địa bàn xã Mậu Đức. Trong khi 2 cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn nơi xảy ra vụ việc thì một người có quan hệ thông gia và một người là con rể của đối tượng khai thác gỗ trái phép.
Như vậy, ngoài việc buông lỏng công tác quản lý, thiếu tinh thần trách nhiệm trong công tác quản lý bảo vệ rừng, cơ quan chức năng cần làm rõ có hay không việc cán bộ trạm kiểm lâm tiếp tay, bảo kê cho lâm tặc phá rừng, buôn bán lâm sản trái phép.
Ngoài  vụ phá rừng xảy ra trên địa bàn huyện Con Cuông nói trên, từ đầu năm đến nay, riêng Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an Nghệ An đã phát hiện, bắt giữ và xử lý 28 vụ, 35 đối tượng, thu giữ gần 230m3 gỗ cùng nhiều phương tiện và tang vật phục vụ cho việc vận chuyển và khai thác lâm sản trái phép...
Tuy nhiên, theo lãnh đạo Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an Nghệ An, nhiều vụ việc bị cơ quan này phát hiện, bắt giữ và chuyển giao cho các đơn vị chức năng theo thẩm quyền nhưng việc xử lý còn bị xem nhẹ. Nhiều vụ việc kéo dài, hàng năm nhưng cán bộ sai phạm vẫn chưa bị xử lý kỷ luật.
Việc kiểm tra, xác minh, làm rõ trách nhiệm, xử lý nghiêm đối với tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ trong công tác quản lý, bảo vệ rừng nhưng thiếu tinh thần trách nhiệm, không hoàn thành nhiệm vụ được giao, để xảy ra tình trạng phá rừng nghiêm trọng kéo dài, thực hiện chưa thực sự nghiêm túc.
Điển hình như vụ việc Nguyễn Trọng Độ, Trạm trưởng Trạm Quản lý rừng phòng hộ Cao Vều, xã Phúc Sơn, huyện Anh Sơn, 7 người đốn hạ khoảng 1ha cây rừng với khối lượng 29,35m3 gỗ từ nhóm 5 – 8 tại tiểu khu 946 thuộc Rừng phòng hộ huyện Anh Sơn do đơn vị này trực tiếp bảo vệ, quản lý vào tháng 8 năm 2014 nhưng đến nay Nguyễn Trọng Độ vẫn tại vị mà chưa hề bị xử lý kỷ luật.
Để ngăn chặn tình trạng khai thác rừng trái phép đang có chiều hướng ngày một gia tăng, ngoài xử lý các đối tượng trực tiếp vi phạm, tỉnh Nghệ An và các ngành, các cấp cần kiểm tra, xác minh, làm rõ trách nhiệm, xử lý nghiêm đối với tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng nhưng thiếu tinh thần trách nhiệm, không hoàn thành nhiệm vụ được giao, để xảy ra tình trạng phá rừng nghiêm trọng, kéo dài. (Pháp Luật Việt Nam 5/8) đầu trang(
Lúc 11 giờ 30, ngày 4/8, ngành Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng đã xác định được một cá thể voọc chà vá chân đen đã bị đối tượng Nguyễn Văn Tân bắn chết.
Đây là con voọc đực đã trưởng thành, nặng 6 kg, là nhóm IB theo quy định tại Nghị định 32/CP của Chính phủ và thuộc Danh mục loài nguy cấp quý hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Trước đó, lúc 23 giờ 10 phút, ngày 2/8, Công an xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng tuần tra phát hiện đối tượng Nguyễn Văn Tân, sinh năm 1987, hộ khẩu thường trú tại thôn 10C, xã Lộc Thành có dấu hiệu nghi vấn nên đã kiểm tra Tân. Tang vật thu được tại Nguyễn Văn Tân gồm 1 khẩu súng tự chế, 1 viên đạn đã nạp thuốc súng và 1 cá thể voọc chà vá chân đen đã chết.
Nguyễn Văn Tân khai đã dùng súng bắn chết con voọc này trong số 3 cá thể voọc tại khu vực thác bảy tầng thuộc thôn 4, xã Lộc Thành.
Cơ quan chức năng đang hoàn tất hồ sơ để khởi tố hình sự vụ án và bị can sớm nhất. (Bộ Thông Tin Và Truyền Thông 5/8) đầu trang(
Dù không quyết liệt truy đuổi, để lâm tặc cướp gỗ lậu nhưng Hạt Kiểm lâm huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam cho rằng đã làm hết trách nhiệm
Liên quan đến vụ lâm tặc cướp gỗ trước mặt hàng chục kiểm lâm viên, công an địa phương xảy ra đêm 29-7 tại khu vực sông Tranh (thuộc xã Hòa Hiệp, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam; Báo Người Lao Động đã liên tục phản ánh), Phòng An ninh Kinh tế Công an tỉnh Quảng Nam cho biết đang điều tra, làm rõ có hay không việc bảo kê cho lâm tặc của các cơ quan chức năng huyện Hiệp Đức.
Ngày 4-8, ông Đặng Văn Tiến, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Hiệp Đức, xác nhận hạt cũng đang khẩn trương điều tra, xử lý vụ việc này.
Địa điểm xảy ra vụ cướp gỗ thuộc khu vực bến Én, thôn 4, xã Hiệp Hòa - nơi giao nhau giữa sông Đắk Mi và sông Tranh đổ từ thượng nguồn về, nối với dòng Thu Bồn chảy thẳng ra biển.
Theo người dân địa phương, cứ tầm 15 giờ, các thủy điện bắt đầu xả nước thì nước sông Tranh dâng lên, lòng sông tại khu vực bến Én nới rộng khoảng 200 m, thuận tiện cho lâm tặc đưa gỗ vào bờ. “Nếu lực lượng chức năng quyết liệt hơn, sớm điều động các phương tiện hỗ trợ thì không thể xảy ra chuyện lâm tặc liều lĩnh cướp gỗ” - một người dân nhận xét.
Tuy nhiên, ông Đặng Văn Tiến cho rằng đây không phải là điểm tập kết gỗ thường xuyên của lâm tặc. Chỉ khi điểm tập kết ở phía dưới (xã Quế Ninh, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam) có lực lượng chốt chặn thì lâm tặc mới đưa gỗ vào đây. Về việc để lâm tặc cướp gỗ, ông Tiến giải thích là do đêm tối, trời mưa và vì thủy điện xả nước quá lớn, trong khi lực lượng chức năng không có phương tiện nên đành chịu. “Tôi khẳng định rằng không hề có chuyện bảo kê cho lâm tặc gì cả” - ông Tiến dứt khoát.
Chúng tôi đặt vấn đề: “Với vai trò của cơ quan quản lý, bảo vệ rừng,  Hạt Kiểm lâm huyện Hiệp Đức có làm hết trách nhiệm của mình?”. Ông Tiến cho rằng do nguyên nhân khách quan nên mới xảy ra sự việc, còn riêng các lực lượng chức năng đã làm hết trách nhiệm. Dù vậy, ông Tiến cũng nói thêm: “Khi thủy điện xả nước xuống, sông nước rộng mênh mông thì thử hỏi có ai dám chèo thuyền qua sông không? Lỡ chết người thì ai chịu trách nhiệm?”.
Trong khi đó, ông Nguyễn Tấn Phục - cán bộ Công an huyện Hiệp Đức, người trực tiếp được cử đến hiện trường - cho biết công an huyện chỉ được phân công nhiệm vụ bảo vệ gỗ ở bên này bờ sông. Với phía bờ bên kia sông, ông cũng chỉ nghe công an tỉnh nói lại là có gỗ. Ông Phục khẳng định rằng không hề có chuyện tiêu cực... (Người Lao Động 4/8) đầu trang(
Chiều 4.8 ông Nguyễn Ngọc Tài, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đăk G’Long (Đăk Nông) xác nhận thông tin về một kiểm lâm viên của đơn vị bị “lâm tặc” đánh gãy tay.
Hiện anh Phạm Văn Anh, kiểm lâm viên bị đánh, vẫn đang phải điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đăk Nông với đa chấn thương và gãy xương tay trái.
Trước đó, chiều 3.8, khi anh Phạm Văn Anh cùng tổ kiểm lâm làm nhiệm vụ tại trạm kiểm soát trên địa bàn xã Đăk Ha, huyện Đăk G’Long, phát hiện 3 thanh niên dùng xe công nông chở phân vào khu vực đất xâm canh của tiểu khu 1685 (thuộc lâm phần Xí nghiệp Lâm nghiệp Đăk Ha- Công ty TNHH MTV Gia Nghĩa).
Tổ kiểm lâm đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra, không cho xe đi vào khu vực nói trên nhưng 3 thanh niên này không chấp hành. Đồng thời liền sau đó, 3 thanh niên này đã bất ngờ dùng gậy tấn công tổ kiểm tra. Vụ việc đã khiến kiểm lâm viên Phạm Văn Anh ngã gục tại chỗ.
Hiện, cơ quan Công an huyện Đăk G’Long đang xác minh, điều tra làm rõ vụ việc. (24 Giờ 4/8; Người Lao Động 4/8; Đài Tiếng Nói Việt Nam 4/8; Công An Nhân Dân 4/8) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Tràm Chim (tỉnh Đồng Tháp) vừa tổ chức thả 3 cá thể trăn đất vào Vườn quốc gia Tràm Chim.
Mỗi con nặng từ 5 – 20kg (tổng cộng 41kg), do người dân ở tỉnh Kiên Giang tự nguyện đem đến thả về tự nhiên. Trước đó, Chi cục Kiểm lâm TP.HCM và Chi cục Kiểm lâm Đồng Tháp đã bàn giao cho Vườn quốc gia Tràm Chim 3 cá thể chim Ó cá và Diều hoa, mỗi con nặng trên 2kg.
Các con chim hoang dã quý hiếm này đã bị lực lượng Kiểm lâm TP.HCM phát hiện và bắt giữ của các đối tượng sản bắt và mua bán trái phép động vật hoang dã. (Nông Thôn Ngày Nay 1/8) đầu trang(
Dù bài học về vụ nuôi cá sấu khiến cho nhiều người nông dân ở Cà Mau và Bạc Liêu trắng tay cách đây chưa lâu, nhưng trước tình trạng người dân Đồng bằng sông Cửu Long ồ ạt nuôi trở lại khiến cho ngành chức năng lo lắng cảnh cũ lại tái diễn.
Bắt đầu mùa mưa ở khu vực ĐBSCL cũng là lúc bà con vùng này rục rịch vào vụ nuôi cá sấu. Qua tìm hiểu tại nhiều tỉnh, hiện bà con đã hoàn tất việc xây dựng và sửa sang chuồng trại và tìm mua con giống.
Hai năm nay ông Nguyễn Văn Lượm ở huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau có nuôi một hầm cá sấu với số lượng ít nhưng do lỗ nên ông không đầu tư nhiều. Tuy nhiên vụ này thấy bà con nuôi nhiều, giá cá cũng tăng cao nên ông Lượm đã đầu tư gần 100 triệu đồng xây thêm hai hầm nữa để lấy lại “vốn”.
Không riêng gia đình ông Lượm nhiều hộ dân khác ở Cà Mau cũng hoàn tất việc xây chuồng trại để cho kịp thời vụ. Việc xây dựng ồ ạt chuồng trại đã khiến cho ngành chức năng lo ngại, hiện nay nông dân đang ráo riết lùng mua cá sấu giống ở khắp nơi khiến cho giá cá sấu con tăng gấp đôi.
Cụ thể đầu năm nay giá cá sấu con ở vào khoảng 300 ngàn đồng/con, nhưng hiện nay có nơi lên đến 600 ngàn đồng/con, thậm chí không có con giống để mua. Do sốt con giống nên dù nguồn gốc cũng như chất lượng con giống không được bảo đảm.
Nhiều hộ dân thấy giá cá sấu con tăng cao, nhưng “đâm lao cũng phải theo lao” bởi đã trót đầu tư xây dựng hệ thống chuồng trại. Điều khiến cho chúng tôi bất ngờ khi tìm hiểu, nhiều người dân ở đây truyền tai nhau, nguyên nhân khiến cho giá cá sấu giống tăng, là do có sự xuất hiện của một nhóm thương lái người Việt móc nối, hay đi gom cá sấu con cho thương lái Trung Quốc. Ông Lượm thắc mắc: Điều lạ là nhóm thương lái này chấp nhận trả giá cao để mua cá sấu giống, khiến nông dân chúng tôi không thể theo nổi...
Theo thống kê của ngành nông nghiệp tỉnh Cà Mau, từ đầu năm đến nay toàn tỉnh có trên 200 hộ dân đăng ký mở trang trại nuôi cá sấu với số lượng hơn 4.000con. Ông Đỗ Văn Đồng, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau cảnh báo: Đó mới chỉ là con số bề nổi mà ngành chức năng nắm được nhờ người dân đăng ký. Còn thực tế lớn hơn nhiều, vì người dân nuôi tự phát không khai báo với ngành chức năng.
Ở Bạc Liêu, ông Lư Văn Tấn, hộ nuôi ở huyện Hồng Dân cho biết, giá cá sấu giống đang tăng đột biến, để có con giống, nhiều hộ nuôi phải sang các tỉnh lân cận như Kiên Giang, An Giang để tìm mua. Ông Tấn cũng như một số hộ dân ở vùng này thấy người ta nuôi cũng đầu tư nuôi.
Ông Lượng Ngọc Lân – Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Bạc Liêu thông tin: Trước đây ở Bạc Liêu chỉ có một vài hộ nuôi nhỏ lẻ, nhưng từ khi Cà Mau rộ lên phong trào nuôi cá sấu nên nhiều hộ dân lân cận với Cà Mau cũng đầu tư nuôi, giờ thành vùng nuôi ở huyện Hồng Dân, Vĩnh Lợi, Phước Long và TP. Bạc Liêu.
Toàn tỉnh Bạc Liêu hiện có 1.594 hộ nuôi cá sấu với tổng đàn 169.092 con. Chúng tôi lo ngại người dân ồ ạt nuôi trong khi đầu ra không có. Vì vậy thời gian qua chúng tôi đang kêu gọi nhà đầu tư, DN chế biến cá sấu để có nơi tiêu thụ sản phẩm, xây dựng trang trại sản xuất con giống phục vụ cho vùng nuôi…
Ông Đỗ Văn Đồng, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm nhớ lại: “Ở Cà Mau đã từng có nhiều hộ lâm nợ khi cá sấu nuôi được 7 hay 8 kg mỗi con thì bị dịch bệnh chết sạch. Nhiều hộ thoát qua nạn dịch bệnh thì giá cá thương phẩm ngoài thị trường bị thương lái ép giá rớt thảm hại.
Theo ông Đồng cho biết: Người nuôi muốn xuất khẩu cá sấu, phải chứng minh được nguồn gốc, xuất xứ hợp pháp, đúng tiêu chuẩn, đúng thế hệ F2 và có hạn ngạch…Thời gian qua cá sấu chủ yếu là xuất qua đường tiểu ngạch sang Trung Quốc. Nếu người dân tiếp tục nuôi ồ ạt theo kiểu tự phát, trong khi không có hợp đồng bao tiêu sản phẩm, thương lái trở kèo chỉ có đường trắng tay.
Ngành nông nghiệp ở các tỉnh ĐBSCL đang lo lắng về tình trạng ồ ạt nuôi cá sấu mà không theo hướng dẫn của chính quyền địa phương, đáng lo ngại là nguồn gốc con giống trôi nổi trên thị trường.
Những năm trước sau vụ lỗ “để đời” của nông dân theo con cá sấu và những khó khăn của đầu ra đối với con cá dữ này ngành chức năng các tỉnh như Cà Mau, Bạc Liêu, Đồng Tháp đã triển khai nhiều giải pháp như: Liên kết giữa người nuôi và DN chế biến các sản phẩm mỹ nghệ, gia tăng xuất khẩu chính ngạch, thành lập hiệp hội cá sấu... Tuy nhiên sản phẩm vừa không đạt hiệu quả dẫn tới mối liên kết này bị nới lỏng thậm chí không chặt chẽ. Trong khi người nuôi vẫn tiếp tục ồ ạt chạy theo phong trào.  (Dân Việt 4/8) đầu trang(
Trong một phóng sự gần đây, kênh Truyền hình Quốc hội Việt Nam đã phản ánh về việc người dân tại xã Nam Ninh, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng được giao bảo vệ rừng tự nhiên, nhưng quyền lợi không đi đôi với những trách nhiệm họ phải bỏ ra. Ghi nhận tiếp theo sẽ phản ánh cụ thể hơn nỗi khó khăn của người dân trong công tác bảo vệ rừng tự nhiên tại đây.
8 triệu đồng. Đó là khoản tiền mà hộ gia đình của ông Trương Văn Truyền, xã Nam Ninh, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng phải chịu xử phạt. Giống như nhiều hộ dân tại đây, ông Truyền được giao trông giữ rừng tự nhiên từ năm 2003.
Rừng cách xa nhà 50km, đường đi lại hiểm trở, trong mùa mưa vừa qua, vì không thường xuyên thăm nom, một phần đất rừng của ông bị một số người khu vực khác đến phá và trồng cây ngắn ngày. Sau khi phát hiện vụ việc, tự giác báo với chính quyền xã, ông Truyền bị thu giữ sổ đỏ và xử phạt hành chính
Nhận rừng từ năm 2003, nhưng phải đến năm 2014, các hộ tại đây nhận được phí dịch vụ môi trường rừng. Nhưng khoản tiền khá thấp so với những trách nhiệm. Nguyện vọng của người dân bây giờ là được chuyển đổi, làm giàu rừng hoặc được trả phí dịch vụ môi trường rừngnhiều hơn
Hiện nay diện tích rừng tự nhiên đang ngày càng bị thu hẹp, dẫn đến nhiều hiện tượng thiên tai như hạn hán và lũ lụt nghiêm trọng. Chủ trương giao rừng tự nhiên cho người dân trông giữ là việc vô cùng cần thiết.
Tuy nhiên, phí dịch vụ môi trường rừng thấp, trách nhiệm bảo vệ rừng không đi đôi với quyền lợi sẽ khiến người dân chán nản. Rất cần có những hoạch định chính sách cần thiết để người dân tại xã Nam Ninh, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng có thể làm tròn công tác giữ rừng và được nhận những quyền lợi hợp lý. (Truyền Hình Quốc Hội 2/8) đầu trang(
Thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ về chính sách hỗ trợ khoán chăm sóc, bảo vệ rừng (BVR), giao rừng và giao đất để trồng rừng sản xuất, từ năm 2009 đến nay, huyện Như Xuân đã được hỗ trợ hơn 5 tỷ đồng, cho gần 1.500 hộ tham gia trên diện tích 19.413 ha.
Các hộ nhận khoán BVR đã tổ chức các loại hình sản xuất  như: Chăn nuôi trâu bò, gà, dê và được hưởng toàn bộ giá trị sản phẩm, không xâm hại đến rừng và đất rừng. Vì vậy, đời sống của người được giao khoán rừng nâng lên; diện tích rừng trên địa bàn huyện luôn ổn định, phát triển, hạn chế thấp nhất tình trạng chặt phá rừng, khai thác lâm sản trái phép. (Báo Thanh Hóa 3/8) đầu trang(
Tại Bến Tre, Ban điều phối quốc gia chương trình rừng ngập mặn cho tương lai tại Việt Nam (MFF) vừa tổ chức tổng kết dự án rừng ngập mặn và biến đổi khí hậu tại 2 tỉnh: Bến Tre và Trà Vinh.
Ông Nguyễn Chu Hồi – Trưởng ban điều phối Quốc gia chương trình rừng ngập mặn cho tương lai, tiến sĩ Andrew Wyatt – Quản lý chương trình đồng bằng sông Cửu Long đến dự.
Dự án rừng ngập mặn và biến đổi khí hậu được thực hiện tại tỉnh Bến Tre và Trà Vinh với mục tiêu nhằm bảo tồn, phục hồi, giữ vững ổn định và bền vững hệ sinh thái ven biển, góp phần bảo vệ sản xuất, cơ sở hạ tầng; đồng thời nâng cao đời sống của người dân dưới tác động của biến đổi khí hậu.
Qua 3 năm thực hiện, dự án đã tài trợ xây dựng 12 dự án nhỏ tại 15 xã, thuộc 4 huyện: Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú – tỉnh Bến Tre và huyện Duyên Hải – tỉnh Trà Vinh, tổng kinh phí 5 tỷ đồng, với 330 hộ dân được hưởng lợi.
Trong đó, nổi bật là dự án du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng trong khu vực bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường tại xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú; cải thiện và nâng cao hiệu quả sản xuất kết hợp trong các khu rừng ngập mặn, xây dựng quy định về quản lý bảo vệ rừng kết hợp với thủy sản tại xã An Thủy, huyện Ba Tri; hệ thống quan trắc cảnh báo môi trường nước và dịch bệnh trong vùng nuôi tôm xen rừng tại xã Thạnh Phước, huyện Bình Đại…
Các dự án đã góp phần bảo vệ môi trường và hệ sinh thái rừng ngập mặn, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bến Tre 3/8) đầu trang(
Sáng 3/8 UBND tỉnh Đắk Lắk tổ chức họp trực tuyến báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh tháng 7 và triển khai nhiệm vụ những tháng cuối năm.
Hiện các địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk cơ bản hoàn thành kế hoạch gieo cấy lúa nước vụ hè thu năm 2015, đạt gần 96 % kế hoạch. Trong tháng vừa qua tỉnh có mưa lớn trên diện rộng gây ngập một số tuyến đường giao thông, xảy ra 145 vụ xâm hại tài nguyên rừng, tịch thu hơn 228 mét khối gỗ các loại.
Nhằm tăng cường công tác bảo vệ rừng các hạt - đội kiểm lâm, phòng cháy chữa cháy rừng và các ban quản lý rừng tập trung tổ chức thực hiện các biện pháp chống chặt phá rừng; các đường dây hành lang mua bán, vận chuyển gỗ, khai thác gỗ rừng, trụ tiêu trái phép. Bên cạnh đó ngành du lịch tỉnh Đắk Lắk đã hút khách trở lại, trong tháng 7 ước tính đón hơn 41 lượt khách du lịch trong và ngoài nước.
Đây là một điều đáng mừng để tỉnh tiếp tục phát huy thế mạnh về ngành du lịch tỉnh nhà. UBND tỉnh Đắk Lắk yêu cầu các sở, ngành, UBND huyện, thị xã, thành phố tiếp tục thực hiện nghiêm túc kế hoạch của tỉnh về chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh trong những tháng cuối năm. (Đài Truyền Hình Quốc Hội 3/8; Thanh Niên 4/8) đầu trang(
Tại khu vực rừng giáp ranh giữa hai huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận và huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, hàng loạt cây thông vài chục năm tuổi vừa bị triệt hạ để lấy gỗ.
Theo ghi nhận của phóng viên VTV, quang cảnh rừng thông tại tiểu khu 122 sau khi bị chặt phá, hiện chỉ còn phần gốc và ngọn thông sót lại. Hàng loạt cây thông lớn đã bị chặt phá và các đối tượng ngang nhiên cưa xẻ để lấy gỗ ngay tại rừng. Tình trạng này xảy ra cũng dễ hiểu, bởi khu vực giáp ranh từ phía Lâm Đồng vừa được khai hoang, giao đất sản xuất cho người dân.
Lợi dụng giao thông từ khu vực này thuận lợi, các đối tượng khai thác gỗ trái phép dễ dàng ra vào rừng, trong khi từ phía Ninh Thuận, lực lượng chức năng phải mất gần 2 ngày mới đến được nơi các đối tượng khai thác.
Ngay khi phát hiện rừng thông tại tiểu khu 122 bị xâm hại, Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Ninh Sơn đã tiến hành lập chốt tạm, tổ chức lực lượng ngày đêm bám trực để bảo vệ những cây thông lớn còn xót lại.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận cũng đã chỉ đạo Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Ninh Sơn tạm đình chỉ chức vụ Trưởng phòng quản lý bảo vệ rừng và Trạm trưởng trạm Tà Nôi để xem xét trách nhiệm của các cán bộ này trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Một đoàn công tác cũng vừa được thành lập để kiểm kê số lượng cây và khối lượng gỗ thông bị khai thác.
Hồ sơ liên quan đến vụ phá rừng khu vực giáp ranh hai tỉnh Ninh Thuận - Lâm Đồng đang được cơ quan chức năng tiếp tục điều tra, củng cố để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. (Đài Truyền Hình Việt Nam 5/8; Đài Tiếng Nói Việt Nam 4/8) đầu trang(
Đã có hàng trăm cây thông 30 năm tuổi ở tiểu khu 499 (huyện Đắk Đoa) và 501 (xã Đắk Djrăng, huyện Mang Yang) bị khoét gốc (ken cây). Cây chết đến đâu, người dân "khoanh vùng" chiếm đất để trồng tiêu đến đó.
Tại hai tiểu khu trên, những cây thông to lớn lần lượt bị khoét vỏ, nhựa ứa chảy từng dòng. Để cây nhanh chết, người dân dùng dao, rựa phạt phân nửa gốc, sau đó, đốt cháy đen sì. Trường hợp cây chưa chết, người dân ngang nhiên chặt hẳn hòng chiếm đất... được nhanh. Nhìn từ xa, loang lổ những khoảnh rừng khô héo, cháy vàng, thi thoảng xuất hiện những khoảnh trơ trọi gốc thông vừa đốn hạ.
"Người ta vạt gốc, rồi đốt tự khắc cây xì mủ chết và cứ thế... lấn đất" - anh Nguyên Thiệp (SN 1962, trú xã Đắk Djrăng), nói.
Ban đầu các hộ dân trồng chanh dây để chiếm đất, nếu cơ quan chức năng phát hiện thì nhổ bỏ, bởi chi phí ít. Khi chính quyền bị "qua mặt", mới tiến hành trồng trụ tiêu thay gốc thông bị san phẳng trước đó.
Trước những hình ảnh mà PV Báo Lao Động cung cấp, GĐ Sở NNPTNT tỉnh Gia Lai Trương Phước Anh khẳng định, vết ken cây là mới. Đồng thời cho rằng các ban, ngành liên quan cần phải kiểm tra, làm rõ.
Hiện tượng ken cây đã diễn ra từ nhiều năm nay, dai dẳng và phức tạp. Năm 2013, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai đã phải ra văn bản số 001/CCKL-TCXDLL yêu cầu kiểm điểm trách nhiệm tập thể, cá nhân lãnh đạo Hạt kiểm lâm huyện Mang Yang vì để xảy ra tình trạng phá rừng thông, lấn chiếm đất. (Lao Động 4/8) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Khi những loại cây sâm dây và sâm 7 lá hoa ngày càng bị cạn kiệt ở rừng thì đề án “Mở rộng vùng trồng cây dược liệu quý” do UBND huyện Phước Sơn thực hiện được xem rất cần thiết trong việc phát triển vùng dược liệu quý. Đây sẽ là cơ hội để đồng bào vùng cao Phước Sơn thoát nghèo.
Cây sâm dây, sâm 7 lá hoa dễ trồng, dễ chăm sóc và hiệu quả kinh tế cao nên nhiều người dân xã Phước Lộc (Phước Sơn) đã tự tìm hiểu cách trồng và làm giàu từ giống cây này. Không phải nhọc công mang gùi, vác cuốc vào rừng sâu lùng sục, giờ đây các hộ dân ở Phước Lộc có thể vào những vùng rẫy của nhà mình để đào củ sâm về bán quanh năm.
Ông Hồ Văn Hạnh (thôn 6, Phước Lộc) cho biết, trước đây cây sâm dây và sâm 7 lá hoa vốn được người dân trong vùng khai thác tự nhiên, theo đó nguồn tài nguyên cũng ngày một cạn kiệt dần.
Để giữ và phát triển nguồn cây dược liệu quý của vùng, UBND huyện Phước Sơn đã triển khai đề án “Mở rộng vùng trồng dược liệu quý” nhằm tạo điều kiện cho người dân làm kinh tế thoát nghèo. Gia đình ông vốn quanh năm thiếu ăn, luôn trông chờ vào hỗ trợ của Nhà nước, nhưng khi được hỗ trợ trồng cây dược liệu quý, ông trồng được khoảng 2 sào sâm dây, còn tới 3 tháng nữa là cho thu hoạch nhưng thương lái đã tới đặt cọc tiền để mua sâm.
“Đối với người dân vùng cao, quanh năm chỉ biết bám rẫy, nương, hiệu quả kinh tế không cao nên đây được coi là nguồn thu nhập đáng kể. Bà con trong vùng ai cũng biết giá trị của những loại cây trồng này, họ đều biết trồng và chăm sóc vườn sâm. Tính cả thôn 6 có 29 hộ dân thì hầu như nhà nào cũng đã có rẫy sâm, có nhà đến 2 - 3 rẫy” - ông Hạnh nói.
Tại thôn 5 (xã Phước Lộc), nhiều nông dân đang bận rộn vì phải vừa chăm sóc vừa thu hoạch rẫy sâm. Nắng đổ lửa, ông Hồ Văn Lá (người tiên phong trong việc di thực cây sâm ở đây) đang gùi bao sâm từ rẫy về. Ông cho biết, trước đây ông chỉ biết vào rừng lấy sâm về bán; giờ sâm trong rừng cạn kiệt, ông chuyển qua trồng sâm.
Ông nói: “Ban đầu cây chết nhiều, qua nhiều lần trồng thử, biết đặc tính của cây sâm ưa bóng râm, gần nguồn nước, giờ thì cây trồng sống tốt và đã cho thu hoạch mỗi tháng bán 20 - 30kg sâm. Sâm dây đang được thu mua mạnh, mỗi ký sâm dây tươi có giá 200 - 250 nghìn đồng, sâm dây khô có giá 0,8 - 1 triệu đồng/kg; còn sâm 7 lá hoa giá sâm tươi khoảng 700 - 800 nghìn đồng/kg; khô có giá khoảng 3,5 triệu đồng/kg. Hồi trước trồng sắn, lúa rẫy thu nhập đâu khá như bây giờ”.
Thấy hiệu quả kinh tế nên nhiều hộ khác chủ động biến đất rẫy trước đây trồng sắn, bắp trở thành vườn sâm. Theo nhiều nông dân, loại cây này dễ trồng, ưa bóng râm và gần nguồn nước. Từ hạt giống ban đầu, cây sẽ phát triển khá tốt, chỉ cần tỉa, phát dọn rẫy thường xuyên là được.
Ông Nguyễn Đức Toàn - Chủ tịch UBND xã Phước Lộc cho biết, từ những mô hình trồng cây dược liệu quý hiệu quả trên thực tế, xã Phước Lộc bắt đầu cho triển khai nhân rộng ở nhiều thôn khác trên địa bàn xã nhằm giúp bà con có thể phát triển kinh tế gia đình, vươn lên thoát nghèo bền vững.
Từ khi đề án “Mở rộng vùng trồng cây dược liệu quý” được UBND huyện Phước Sơn đưa vào thực hiện, tính đến nay, xã Phước Lộc có hơn 9ha sâm dây và khoảng 2ha sâm 7 lá hoa trồng tập trung chủ yếu ở thôn 5, thôn 6 và thôn 8A. Giá sâm dây và sâm 7 lá hoa trên thị trường rất cao và ổn định.
Đầu ra cho sản phẩm này sẽ càng mở rộng, vì nhu cầu sử dụng cây dược liệu quý trong và ngoài tỉnh khá lớn. Trong tương lai, chắc chắn cây dược liệu sẽ trở thành cây trồng chủ lực giúp người dân địa phương cải thiện thu nhập.
Theo ông Nguyễn Mạnh Hà - Chủ tịch UBND huyện Phước Sơn, trong bối cảnh kinh tế khó khăn, việc người dân di thực được cây sâm về trồng là điều đáng mừng, nhưng thực tế chỉ một số ít hộ làm được điều này, việc trồng mang tính nhỏ lẻ, manh mún trong khi địa phương còn nhiều vùng đất tiềm năng để nhân rộng... Hiện tại, người dân chủ yếu trồng tự phát, chưa có quy hoạch rõ ràng, sản phẩm thường bị tư thương ép giá.
“Chúng tôi mong muốn nhân rộng loại cây trồng này trên các thôn còn lại của xã Phước Lộc để giúp bà con phát triển kinh tế, tuy nhiên có khá nhiều khó khăn trong việc di thực cây sâm về trồng như nguồn giống, đất sản xuất và ý thức của người dân trong việc trồng và chăm sóc cây... Địa phương tiếp tục làm cầu nối để nông dân có thêm điều kiện tham gia trồng” - ông Hà nói.
Cũng theo ông Hà, khi đề án “Mở rộng vùng trồng cây dược liệu quý” thực hiện, địa phương đã cắt cử cán bộ kỹ thuật hướng dẫn bà con trồng và sẽ có nguồn hỗ trợ vốn ban đầu để người dân phát triển. Cạnh đó, ngành nông nghiệp huyện sẽ tiếp tục định hướng, quy hoạch xúc tiến sản xuất, tìm kiếm thị trường cho người nông dân yên tâm sản xuất.
“Hy vọng trong tương lai xã Phước Lộc sẽ trở thành vùng phát triển dược liệu quý không chỉ của huyện Phước Sơn mà còn của tỉnh. Đây sẽ là hướng đi phù hợp, cho kinh tế ổn định với nông dân vùng cao” - ông Hà nói thêm. (Báo Quảng Nam 1/8) đầu trang(
Huyện Định Hóa có trên 30,2 nghìn ha rừng, trong đó có gần 13,8 nghìn ha là rừng sản xuất. Trong những năm qua, kinh tế đồi rừng đã đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân trên địa bàn huyện. Từ những kết quả này, huyện tiếp tục đề ra những giải pháp nhằm tăng giá trị kinh tế và tính bền vững của việc trồng rừng.
Ông Lèng Văn Chí, một hộ dân ở xóm Làng Quàn, xã Tân Thịnh phấn khởi chia sẻ với chúng tôi về giá trị kinh tế từ kinh tế đồi rừng: Gia đình tôi có 15ha keo, năm 2013 và 2014, đã khai thác 10ha keo đã trồng trên 7 năm tuổi, cho thu nhập trên 60 triệu đồng/ha.
Nhờ vậy, gia đình đã xây dựng được ngôi nhà ở khang trang, mua sắm được nhiều tiện nghi sinh hoạt có giá trị. Năm nay, gia đình tiếp tục đầu tư để trồng lại keo trên phần đất đã khai thác. Ông Chí  khẳng định: Nếu kiên trì và gắn bó với rừng thì chắc chắn chúng ta sẽ giàu lên từ rừng...
Gia đình ông Chí là một trong số hàng nghìn hộ dân trên địa bàn huyện Định Hóa đã có nguồn thu nhập từ trồng rừng sản xuất. Nhận thức được lợi ích kinh tế từ việc trồng rừng, trung bình mỗi năm người dân Định Hóa đã trồng được khoảng trên 1.200ha rừng, diện tích đất trống, đồi núi trọc ở huyện đã cơ bản không còn; khai thác được khoảng 14 đến 16 nghìn m3 gỗ tròn.
Trồng rừng sản xuất phát triển đã kéo theo sự gia tăng về số lượng các cơ sở chế biến và kinh doanh gỗ. Hiện nay, Định Hóa có trên 300 doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh, chế biến gỗ.
Các cơ sở này đã góp phần tạo việc làm tại chỗ cho hàng nghìn lao động ở nông thôn với mức thu nhập bình quân từ 3 đến 4 triệu đồng/tháng. Nhờ vậy, giá trị sản xuất lâm nghiệp ở huyện không ngừng tăng lên theo từng năm, đến năm 2014 đã đạt 46 tỷ đồng.
Để phát triển rừng bền vững và cho giá trị kinh tế cao hơn, khoảng 2-3 năm trở lại đây, huyện Định Hoá đã lựa chọn đưa một số cây trồng có giá trị kinh tế cao vào trồng như: quế, lim, keo tai tượng giống nhập Australia, mỡ... Hiện nay, huyện đang xây dựng Dự án hỗ trợ và phát triển rừng bền vững.
Theo đó, từ nay đến năm 2020, sẽ trồng 280ha rừng hỗn giao theo hướng bền vững, mỗi năm trồng từ 50 đến 60ha, với chủ yếu là các loại cây trồng bản địa phù hợp với sinh thái vùng có giá trị sinh thủy, cảnh quan, đồng thời đem lại giá trị kinh tế cao gồm: lim, chò chỉ (hoặc cây giổi), đa xanh (hoặc đa chai) và mỡ, với mật độ 1.000 cây/ha.
Các hộ tham gia sẽ được tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc cây trồng, hỗ trợ cây giống, công lao động năm đầu và phân bón theo quy trình kỹ thuật. Cùng với đó, huyện cũng dự kiến trồng 2.000ha quế tại các xã nằm trong vùng quy hoạch gồm: Kim Sơn, Quy Kỳ, Tân Dương, Phượng Tiến, Tân Thịnh, Lam Vỹ, Linh Thông, Phúc Chu. Riêng năm 2016, huyện phấn đấu trồng 500ha quế. Các hộ tham gia trồng quế cũng được tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc, hỗ trợ giống cây, phân bón.
Tổng kinh phí thực hiện hỗ trợ dự tính vào khoảng 12 tỷ đồng. Ông Đàm Tiến Niên, Trưởng phòng Nông nghiệp và PTNT huyện cho biết: Dự kiến, huyện sẽ chỉ đạo các hộ dân tham gia trồng quế với mật độ từ 4.500 đến 6.000 cây/ha. Trong đó, huyện sẽ hỗ trợ khoảng 2.000 cây/ha, còn lại sẽ vận động động các doanh doanh nghiệp liên kết hỗ trợ thêm cây giống.
Theo tính toán ban đầu, khi cây quế trồng đến 5 năm tuổi, các hộ dân có thể khai thác chặt hoàn toàn khoảng 1.000 cây/ha (với nguồn thu nhập mỗi cây khoảng 20 nghìn đồng). Tương tự, các năm tiếp theo các hộ sẽ khai thác tiếp khoảng 1.000 cây/ha đến khi mật độ rừng Quế ở 1.000 cây/ha thì sẽ thực hiện khai thác lá và cành.
Sau 15 năm, có thể khai thác trắng đối với diên tích tích quế thuộc rừng sản xuất, khi ấy giá trị mỗi cây sẽ cho thu nhập khoảng 1,7 đến 2 triệu đồng.
Việc hỗ trợ phát triển rừng hỗn giao và rừng chất lượng cao từ nay đến năm 2020 được dựa trên cơ sở phát huy những tiềm năng, thế mạnh của Định Hoá về phát triển lâm nghiệp.
Qua đó, huyện cũng mong muốn tiếp tục nâng cao ý thức của người dân trong việc lựa chọn các cây trồng có giá trị kinh tế cao, nhằm tăng giá trị trên một diện tích rừng; tạo được nguồn sinh lợi bền vững cũng như nguồn sinh thủy phục vụ cho sản xuất và đời sống; từng bước cải thiện cảnh quan môi trường và giữ môi trường sinh thái. (Báo Thái Nguyên 4/8) đầu trang(
Những ngày này, tranh thủ thời tiết có mưa, đất ẩm, thuận lợi cho việc xuống giống, nhân dân huyện M’Đrắk đang tích cực tập trung trồng rừng theo kế hoạch.
Năm 2015, huyện M’Đrắk phấn đấu trồng 1.100 ha rừng (trong đó các công ty lâm nghiệp trồng 400 ha, nhân dân trồng 700 ha), tập trung ở các xã: Ea Trang, Cư Króa, Cư Mta, Cư Prao, Ea Riêng…
Để thực hiện tốt mục tiêu trồng rừng, trong thời gian qua, cấp ủy, chính quyền các xã đã tiến hành rà soát các diện tích đất có thể trồng rừng; vận động nhân dân đẩy nhanh việc phát dọn thực bì, làm đất, đào hố để sẵn sàng cho công tác trồng rừng ngay khi có mưa xuống thuận lợi cho cây trồng phát triển.
Thời vụ trồng rừng tại huyện M’Đrắk thường bắt đầu từ tháng 8 và kết thúc vào tháng 11 hằng năm (sau 1-2 tháng so các địa phương khác trên địa bàn tỉnh do mùa mưa đến muộn). Các giống cây được nhân dân đưa vào trồng chủ yếu là giống cây keo dăm hom, keo tai tượng, keo lai, keo tràm… với giá thị trường hiện nay từ 400 – 600 đồng/cây giống.
Được biết, năm 2014, huyện M’Đrắk đã trồng mới được 1.163 ha rừng, đạt 103%  kế hoạch; trong đó có 472,4 ha rừng trồng trong dân. (Đắk Lắk 24 Giờ 4/8) đầu trang(
Theo số liệu thống kê, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang các thị trường trong tháng 6/2015 đạt trị giá 569,35 triệu USD, tăng 5,0% so với tháng 5/2015; đưa tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam 6 tháng đầu năm 2015 đạt trên 3,17 tỷ USD, tăng 9,4% so với cùng kỳ năm 2014.
Mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam xuất khẩu sang khoảng 40 nước trên thế giới, so với cùng kỳ 2014 thiếu vắng thị trường Hungari và Ucraina. Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc là những thị trường chính xuất khẩu mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam, chiếm 66,3% tổng kim ngạch.
Trong 6 tháng đầu năm 2015, Hoa Kỳ tiếp tục dẫn đầu về kim ngạch với 1,20 tỷ USD, chiếm 38,1% thị phần, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính riêng trong tháng 6/2015, xuất khẩu mặt hàng này sang Hoa Kỳ đạt trị giá 235,76 triệu USD, tăng 10,5%, so với tháng 5/2015; các chủng loại sản phẩm chính xuất khẩu sang thị trường này gồm: giường, ghế bằng gỗ thông, bàn, tủ…
Đứng thứ hai sau Hoa Kỳ là thị trường Nhật Bản, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này trong 2 quí đầu năm 2015 đạt 470,39 triệu USD, tăng 3,0% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 14,8% tổng kim ngạch.
Trung Quốc đứng thứ ba về kim ngạch với 425,37 triệu USD, chiếm 13,4% tổng kim ngạch xuất khẩu, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc giảm 5,4% so với cùng kỳ năm 2014.
Nhìn chung, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong 6 tháng đầu năm 2015 hầu hết đều có mức tăng trưởng so với cùng kỳ năm ngoái; đáng chú ý là xuất khẩu sang thị trường Hy Lạp, tuy kim ngạch chỉ đạt 45,90 triệu USD nhưng có mức tăng cao nhất với 80,2%. Tiếp đến là sang các thị trường Mexico tăng 76,1%; Thái lan tăng 62,3%; Hy Lạp tăng 54,5%...
Ngược lại, xuất khẩu sang một số thị trường lại có kim ngạch sụt giảm như: Thụy Sỹ giảm 67,5%; sang Nga giảm 50,6%; sang Áo giảm 50,2% so với cùng kỳ. (VietnamExport 4/8) đầu trang(
UBND tỉnh Kiên Giang vừa ban hành Quyết định số 1529/QĐ-UBND phê duyệt Đề cương kỹ thuật và dự toán kinh phí Dự án khôi phục và phát triển rừng phòng hộ ven biển tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2015-2020.
Theo đề cương,dự án có quy mô trồng rừng trên các diện tích đất chưa có rừng, đất giao khoán bảo vệ rừng kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản giai đoạn 2015-2020 là 160 ha; Trồng rừng trên bãi bồi: Diện tích bãi bồi có khả năng trồng rừng trong giai đoạn 2015-2020 là 247,05 ha; Trồng rừng trên các bãi lở nhẹ: Tổng diện tích bãi lở nhẹ trong vùng dự án là 233,90 ha, trong giai đoạn 2015-2020 sẽ thực hiện trồng 38,34 ha rừng Mắm (phần diện tích có độ sâu ngập nước dưới 0,5 m).
Ngoài ra còn xây dựng mới 03 vườn ươm phục vụ công tác trồng rừng. Quy mô diện tích 05 ha/vườn ươm. Xây dựng mới 02 trạm quản lý bảo vệ rừng trên biển. Tổng chi phí xây dựng Đề cương kỹ thuật và dự toán kinh phí Dự án khôi phục và phát triển rừng phòng hộ ven biển tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2015-2020 là 1.039.784.000 đồng.
Việc xây dựng dự án nhằm mục đích quản lý, bảo vệ và phát triển diện tích rừng phòng hộ ven biển theo hướng bền vững, bảo vệ tài nguyên rừng đáp ứng mục đích kinh tế, xã hội, quốc phòng để nâng cao độ che phủ, chống xói mòn.
Trồng rừng ven biển nhằm khôi phục hệ sinh thái rừng ngập mặn, nâng cao độ che phủ, hạn chế tình hình nhiễm mặn, điều hoà khí hậu, hạn chế thiên tai, nâng cao tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng.
Xây dựng và phát triển rừng phòng hộ ven biển một cách bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái, chắn sóng lấn biển, hạn chế thiên tai, bảo vệ hệ thống đê và các hoạt động sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, tạo nguồn lợi kinh tế cao góp phần ổn định và phát triển kinh tế trong khu vực.
Nâng cao chất lượng rừng, sử dụng có hiệu quả diện tích rừng và đất lâm nghiệp vùng ven biển. Tạo công ăn việc làm, từng bước nâng cao đời sống cho người dân. (Tài Nguyên Và Môi Trường 4/8) đầu trang(
Tại cuộc họp Hội đồng Kiến trúc – Quy hoạch Đà Nẵng sáng 4/8, người ta bất ngờ nhận thấy không chỉ ở quận Liên Chiểu mà tại huyện Hòa Vang cũng có tình trạng cấp đất rừng làm khu du lịch trái quy định
Sáng 4/8, Hội đồng Kiến trúc – Quy hoạch Đà Nẵng đã họp, xem xét một số đồ án trên địa bàn TP. Tại đây, Giám đốc Sở Xây dựng Đà Nẵng Vũ Quang Hùng đã báo cáo nhiều vấn đề liên quan đến các vướng mắc tại dự án Khu du lịch sinh thái Ngầm Đôi (thôn Phú Túc, xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang) do bà Lê Đình Thủy Châu làm chủ đầu tư.
Theo hồ sơ do bà Châu cung cấp, UBND huyện Hòa Vang đã có các Quyết định 4285/QĐ-UBND (24/5/2010) thu hồi đất, cho bà Châu thuê đất để xây dựng khu du lịch Ngầm Đôi với diện tích 18.403,6m2; Quyết định 1085/QĐ-UBND (27/1/2003) thu hồi đất, giao đất để trồng cây lâm nghiệp cho ông Mạc Như Giác (là chồng bà Lê Đình Thủy Châu), bà Nguyễn Thị Mai và bà Trương Thị Lâm, diện tích 155.208m2.
Căn cứ các hồ sơ này, bà Châu đã tổ chức hoạt động khu du lịch Ngầm Đôi với khu vực đang kinh doanh du lịch khoảng 05 ha và phần mới mở rộng ra suối khoảng 2,6 ha. Theo báo cáo 06/BC-UBND (13/01/2015) của UBND huyện Hòa Vang, diện tích 7,6ha này gồm 18.403,6m2 đất du lịch của bà Châu và phần còn lại là đất lâm nghiệp do ông Mạc Như Giác, bà Nguyễn Thị Mai và bà Trương Thị Lâm quản lý, sử dụng.
UBND huyện Hòa Vang thống nhất chủ trương quy hoạch mở rộng khu du lịch Ngầm Đôi và đề nghị Sở Xây dựng tham mưu UBND TP Đà Nẵng hoàn thành các thủ tục về chọn địa điểm, lập và phê duyệt quy hoạch, làm cơ sở thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ theo quy định, tránh khiếu nại về sau đối với các hộ dân có đất, công trình trong khu vực mở rộng khu du lịch Ngầm Đôi.
Tuy nhiên Giám đốc Sở TN-MT Đà Nẵng Nguyễn Điểu nêu rõ, việc UBND huyện Hòa Vang ban hành Quyết định 4285/QĐ-UBND thu hồi đất, cho bà Châu thuê đất để xây dựng khu du lịch Ngầm Đôi khi chưa được phê duyệt quy hoạch là chưa phù hợp. Đồng thời, trong quá trình hoạt động, chủ đầu tư tự ý mở rộng diện tích khu du lịch sang phần diện tích đất rừng của các hộ lân cận là vi phạm quy định về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
Sở NN-PTNT Đà Nẵng thì đề nghị chủ đầu tư lập phương án trồng rừng thay thế trước khi các Sở tham mưu UBND TP chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang khu du lịch. Trong khu vực quy hoạch hiện có công trình cấp nước sinh hoạt Phú Túc nằm trên lưu vực suối Hương, chủ đầu tư cần lập phương án đảm bảo vệ sinh, an toàn nguồn nước, đảm bảo việc cung cấp nước sinh hoạt cho người dân tại khu vực, trình Sở TN-MT thẩm định, phê duyệt theo quy định.
Theo ông Đặng Thương, Phó Chủ tịch Thường trực UBND huyện Hòa Vang, khu du lịch Ngầm Đôi có xuất xứ đã trên 10 năm. Lúc bấy giờ, huyện Hòa Vang cơ bản là cấp đất cho một số người để tham gia trồng rừng. Sau đó những người này thấy có lợi thế về du lịch sinh thái nên đã đầu tư đường đi, một số lều chòi… để trở thành điểm du lịch.
“Nói chung là có quyết định giao đất của UBND huyện Hòa Vang. Hiện lượng khách đến đây rất đông, nhất là vào dịp cuối tuần nhưng nói chung về vấn đề thủ tục, pháp lý là chưa đảm bảo nên đề nghị TP hướng dẫn giúp cho doanh nghiệp tiếp tục tổ chức hoạt động. Còn sai trái là do thời gian trước đây!” – ông Đặng Thương nói.
“Sai trái là do trước đây?” – Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Huỳnh Đức Thơ hỏi rồi nói thêm: “Qua trường hợp này thì chưa biết huyện Hòa Vang và quận Liên Chiểu, ông nào “ngon” hơn ông nào. Cũng sai như nhau nhưng bây giờ ông Ngô Văn Quang phải tháo dỡ toàn bộ khu biệt phủ trên núi Hải Vân, còn chỗ này thì tạo ra hiện trạng khu du lịch thành chuyện đã rồi. Đây tiếp tục là bài học về quản lý đất đai!”.
Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng yêu cầu các sở, ngành hữu quan và huyện Hòa Vang: “Rà soát và có đề xuất biện pháp xử lý, kể cả xử phạt trường hợp này một cách thích đáng, chứ không thể chỗ thì nghiêm khắc, chỗ lại làm không nghiêm".
Ông Huỳnh Đức Thơ cũng chỉ rõ, việc UBND huyện Hòa Vang ra quyết định thu hồi đất, cho thuê đất rừng làm khu du lịch Ngầm Đôi là trái quy định, không đúng thẩm quyền. Đây là cái sai của huyện chứ không phải của chủ đầu tư. “Anh Nhơn (ông Huỳnh Minh Nhơn, nguyên Chủ tịch UBND huyện) mất rồi, song những ai tham mưu làm việc này thì cũng phải tính, phải có biện pháp. Cán bộ nào tham mưu cấp đất, giao đất trường hợp này, ở Liên Chiểu xử lý thế nào thì ở đây cũng làm y như thế!” – ông Huỳnh Đức Thơ nêu rõ.
Giám đốc Sở Xây dựng Đà Nẵng Vũ Quang Hùng cho rằng việc phát triển Khu du lịch Ngầm Đôi (diện tích 7,6 ha) tại xã Hòa Phú là phù hợp với định hướng quy hoạch của TP Đà Nẵng, phù hợp với quy hoạch chung được Thủ tướng phê duyệt.
Vì vậy đề nghị lãnh đạo TP giao Sở TN-MT đề xuất hướng xử lý việc chủ đầu tư sử dụng đất sai mục đích từ trước đến nay, đồng thời hướng dẫn bà Châu và các hộ đang sử dụng đất rừng thống nhất đại diện làm chủ đầu tư phù hợp Luật Đất đai, tránh khiếu kiện về sau trước khi lập thủ tục trình duyệt quy hoạch.
Tuy nhiên Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Huỳnh Đức Thơ yêu cầu UBND huyện Hòa Vang và Sở TN-MT thực hiện việc rà soát, kiểm tra, đánh giá, xử phạt rốt ráo rồi mới đề xuất hướng xử lý tiếp theo.
Diện tích nào giao trồng rừng và các hộ trên vẫn đang trồng rừng bình thường thì thôi, còn diện tích nào sử dụng sai mục đích thì phải xử phạt. Nếu chủ đầu tư chỉ xây dựng các chòi tạm trên đất rừng thì sai phạm không lớn, chỉ cần xử lý có mức độ, nhưng nếu xây dựng kiên cố thì phải xử lý nghiêm.
“Tôi thấy hình như các anh định đề xuất giao đất rừng trên đó làm du lịch luôn hay sao mà có phương án trồng rừng thay thế? Ai đồng ý cho mở rộng khu du lịch này đâu mà trồng rừng thay thế? Phải xử lý cái đã, còn tất nhiên, ở đó có thể hình thành khu du lịch ở quy mô như người ta nói hay không thì sẽ tính toán lại. Nếu thực sự có nhu cầu như thế thì sẽ xem xét điều chỉnh. Khi đó mới bàn đến chuyện thu hồi đất rừng, chuyển đổi mục đích đất rừng thành đất dịch vụ… Chuyện đó còn dài lắm!” – ông Huỳnh Đức Thơ nói. (Bộ Thông Tin Và Truyền Thông 4/8) đầu trang(
Nhóm hàng sản phẩm gỗ là thế mạnh xuất khẩu (XK) Việt Nam. Song, để tận dụng những cơ hội từ quá trình hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ, ngành gỗ cần chuyên nghiệp hóa từ khâu sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Giá trị XK đồ gỗ trong năm 2014 đạt 6,23 tỷ USD, dự kiến tăng lên 7 tỷ USD trong năm 2015. Đặc biệt, thị phần đồ gỗ của Việt Nam trên thế giới đạt 2,16%, đã có mặt trên 100 thị trường. Việt Nam đứng thứ 2 trong danh sách các quốc gia XK đồ gỗ nhiều nhất khu vực châu Á. Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản là 3 thị trường nhập khẩu (NK) gỗ lớn nhất của Việt Nam, chiếm 62,33% tổng kim ngạch XK đồ gỗ.
Nhu cầu gỗ của thế giới đang tăng cao cộng với nhiều FTA đã và đang chuẩn bị được ký kết sẽ là lợi thế XK cho các doanh nghiệp (DN) gỗ, nhất là khi thuế NK xuống 0%. Nhiều chuyên gia trong ngành gỗ nhận định, con số kim ngạch 10 tỷ USD vào năm 2020 của ngành gỗ Việt Nam là khả thi.
Ông Nguyễn Tôn Quyền- Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Viforest)- chia sẻ, Hàn Quốc là một trong những thị trường NK lớn của ngành gỗ Việt Nam, đặc biệt là dăm gỗ. Việc Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam- Hàn Quốc (VKFTA) được ký kết, Viforest kỳ vọng đồ gỗ Việt Nam vào Hàn Quốc sẽ có giá rẻ hơn, sức cạnh tranh nâng cao hơn.
Viện Nghiên cứu và phát triển ngành nghề nông thôn Việt Nam (VIRI) dự báo, EU và Bắc Mỹ sẽ là hai thị trường NK lớn nhất hàng thủ công mỹ nghệ, trong đó có mặt hàng gỗ của Việt Nam. Tuy nhiên, cả hai thị trường này đang ngày càng thắt chặt hơn các quy định về tiêu chuẩn NK đối với hàng thủ công mỹ nghệ đến từ các nước đang phát triển như Việt Nam.
Chẳng hạn, để đồ gỗ Việt Nam vào được thị trường EU khó tính, các DN buộc phải đáp ứng các điều kiện của Luật Hóa chất Reach với những phương pháp đánh giá độ nguy hại của các chất, được áp dụng tại tất cả 27 nước thuộc EU. Bên cạnh đó, các DN buộc phải dán nhãn FSC (Hội đồng quản lý rừng). Đây là hệ thống chứng nhận nhằm truy suất nguồn gốc hàng hóa.
Đây thực sự là một thách thức đối với các DN chế biến gỗ của Việt Nam, khi phần lớn DN có quy mô vừa và nhỏ, thường mua gỗ của dân không lưu lại hồ sơ, giấy tờ mua bán. Chưa kể, DN XK đồ gỗ của Việt Nam chủ yếu làm hàng gia công cho nước ngoài, nên giá trị mang lại thấp.
Theo Viforest, các DN Việt thua hẳn về thiết kế, nên việc hưởng lợi từ các giá trị gia tăng còn hạn chế. Sản phẩm làm ra khó thuyết phục khách hàng. Giải pháp của phần lớn DN Việt là thuê các chuyên gia thiết kế nước ngoài với chi phí cao và thiếu dấu ấn văn hóa Việt... (BizLive 4/8) đầu trang(
Thủ tướng: “Vì 3.200 người mà các đồng chí tiếp tục cho khai thác rừng thì không thể giữ rừng được đâu”.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đồng ý với đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Cao Đức Phát sẽ tiến hành rà soát lại diện tích rừng phòng hộ để tính toán tăng diện tích rừng kinh tế, vừa đáp ứng được môi trường xanh, vừa trực tiếp tăng thêm thu nhập cho người dân.
Thủ tướng một lần nữa nêu rõ quan điểm dứt khoát phải đóng cửa rừng, không cho khai thác: “Tôi yêu cầu dứt khoát đóng cửa rừng.
Các đồng chí năm nào đó nói là phải khai thác rừng, không khai thác rừng thì rừng cũng chết, rồi khai thác để phục vụ xây dựng nhà ở…nhưng thực sự là phá rừng.
Tôi hỏi lại vì sao cái này không dừng được, có một số lâm trường giao mô hình như doanh nghiệp tự cân đối, tự sống mà không khai thác rừng thì lấy gì sống.
Tôi hỏi bao nhiêu người thì có khoảng 3.200 người và một năm chi phí khoảng 100-200 tỷ đồng. Vì 3.200 người này mình để phá rừng hoài? Bây giờ kiên quyết đóng cửa rừng, dứt khoát không khai thác nữa! Chúng ta nhập gỗ để sử dụng.
Để giữ rừng, thì 3.200 người này, Bộ trưởng Cao Đức Phát sắp xếp lại, sử dụng Quỹ cổ phần hóa, sắp xếp doanh nghiệp để xử lý chính sách đàng hoàng đối với anh em chứ không phải đẩy ra đường.
Còn người ở Ban quản lý rừng để giữ rừng thì áp dụng chính sách hiện hành…Vì 3.200 người này mà các đồng chí tiếp tục cho khai thác rừng thì không thể giữ rừng được đâu.”
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp thu ý kiến tại phiên họp hoàn thiện tờ trình Chính phủ về Chương trình mục tiêu quốc gia trong gian đoạn tới trên tinh thần không bỏ nhiệm vụ nào nhưng phải hợp lý hóa các nhiệm vụ để khắc phục tình trạng trùng dẫm về nội dung và mục tiêu của chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là ở cơ sở. (Soha News 4/8) đầu trang(
Sáng ngày 28/7/2015, UBND huyện tổ chức Hội nghị Sơ kết công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm trên địa bàn huyện.
Tham dự cuộc họp có ông Trần Ngọc Diệp - Phó Chủ tịch UBND huyện - Chủ trì cuộc họp; Các thành viên Ban Chỉ huy các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng, chống phá rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; Chủ tịch UBND các xã, thị trấn.
Trong 6 tháng đầu năm 2015 công tác chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng được chú trọng, thực hiện nhiều biện pháp quyết liệt nhằm tăng cường thực hiện công tác bảo vệ rừng (BVR), chống phá rừng (CPR), phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) và chống lấn chiếm đất lâm nghiệp trên địa bàn quản lý.
Do đó tình hình vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng từng bước ổn định, hạn chế rõ rệt, số vụ vi phạm pháp luật giảm hẳn so với cùng kỳ năm 2014, trên địa bàn không xảy ra điểm nóng phá rừng; công tác phòng cháy chữa cháy rừng từng bước được nâng cao.
Trong 6 tháng đầu năm chỉ xảy 02 vụ phá rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 13.507 m2, trong đó: 01 vụ phá rừng diện tích 1.401 m3 thuộc đối tượng rừng sản xuất, tiểu khu 257, lâm phận do BQL rừng phòng hộ sông Móng Ca pét quản lý bảo vệ và 01 vụ phá rừng diện tích 12.160 m2 trong đó đối tượng rừng đặc dụng là 5.110 m2, đối tượng rừng sản xuất là 7.050 m2 thuộc tiểu khu 305b, lâm phận BQL khu BTTN Tà Kóu, thuộc địa giới hành chính xã Tân Thuận; xảy ra 22 vụ cháy rừng với tổng diện tích là 42.206 ha; trong đó, đối tượng rừng đặc dụng 38.971 ha, sản xuất 3.235 ha thuộc Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Tà Kóu quản lý, hiện trạng chủ yếu là cháy thực bì, cỏ khô; tăng 02 vụ (22/20), diện tích cháy rừng tăng 10,233 ha so cùng kỳ năm 2014 (cháy 20 vụ, diện tích cháy 31,973 ha); bắt giữ và xử lý hành vi mua bán vận chuyển, cất giữ lâm sản trái pháp luật được 07 vụ; hành vi vi phạm khác (vắng chủ) 20 vụ; lâm sản tịch thu là 42,149 m3  gỗ, tròn, xẻ các loại, trong đó: 38,629 m3 gỗ tròn, xẻ không thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm từ nhóm I đến nhóm VIII và 3,519 m3 gỗ tròn, xẻ thuộc loài nguy cấp, quý hiếm nhóm IIA; phương tiện, công cụ tịch thu gồm: 18 chiếc xe mô tô (xe tự chế) và 06 cái máy cưa xăng…; xử phạt hành chính và nộp vào ngân sách nhà nước là 213.000.000 đồng.
Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng 6 tháng đầu năm: Tình trạng khai thác lâm sản, phá rừng vẫn còn diễn ra.
Tình hình phá rừng, lấn chiếm, tái lấn chiếm đất lâm nghiệp chưa được xử lý dứt điểm, các vụ cháy rừng còn xảy ra ở một số khu vực trọng điểm; Việc xử lý về hành vi trồng cây Thanh long và các loài cây dài ngày khác trong khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Kóu còn lúng túng, chưa tìm ra giải pháp tốt nhất để ngăn chặn nên còn để kéo dài chưa xử lý được.
Một số đơn vị chủ rừng, đặc biệt một số chủ dự án còn chủ quan chưa thực hiện hết trách nhiệm của mình trong công tác quản lý BVR, công tác phối hợp chưa tốt, bố trí lực lượng mỏng, thiếu kiểm tra phát hiện để ngăn chặn kịp thời và báo cáo ngành chức năng xử lý các hành vi phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp; Tiến độ thực hiện công tác kiêm kê rừng còn chậm theo kế hoạch.
Lý do thời tiết mưa kéo dài, trang thiết bị cần thiết (máy định vị) để phục vụ cho công tác kiểm kê còn thiếu, không đủ để trang trải phục vụ trên các xã cùng một thời điểm, kinh phí không có để thực hiện việc kiểm kê.
Trong 6 tháng cuối năm cần tập trung thực hiện tốt các Chỉ thị, Kế hoạch của UBND tỉnh, Sở NN&PTNT, UBND huyện về công tác BVR-CPR-PCCCR trên cơ sở tiếp tục thực hiện các Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về công tác BVR; Tập trung tuyên truyền phổ biến pháp luật về quản lý bảo vệ rừng, đất lâm nghiệp và phòng cháy chữa cháy rừng để mỗi người dân nâng cao ý thức trách nhiệm  trong công tác bảo vệ rừng, tố giác các đối tượng xâm hại đến tài nguyên rừng; Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho lực lượng Kiểm lâm, BVR nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm, chuyên môn nghiệp vụ, ra sức rèn luyện phẩm chất đạo đức; kiên quyết chống các hiện tượng tiêu cực nhũng nhiễu gây mất lòng tin; Đôn đốc các đơn vị chủ rừng thường xuyên bố trí lực lượng tuần tra kiểm soát ngăn chặn rừng tận gốc và phối hợp UBND các xã nắm chắc các đối tượng chuyên nghiệp để có biện pháp giáo dục, ngăn chặn; lập hồ sơ ban đầu kịp thời đúng quy định để chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của Pháp luật; Tập trung tổ chức truy quét trên các địa bàn trọng điểm, các vùng giáp ranh với các huyện nhằm ngăn chặn và xử lý nghiêm mọi hành vi phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp; khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản, săn bắt động vật rừng, không để xảy ra điểm nóng.
Phối hợp tốt với các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương và các đơn vị chủ rừng để kịp thời ngăn chặn và xử lý nghiêm trước pháp luật đối với những đối tượng có hành vi vi phạm luật BV&PTR, đặc biệt là các đối tượng có hành vi chống người thi hành công vụ; Làm tốt công tác tổ chức xây dựng lục lượng, tăng cường vai trò lãnh đạo, trách nhiệm của thủ trưởng các đơn vị. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bình Thuận 1/8) đầu trang(
Với lợi thế diện tích lâm nghiệp lớn, thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp với trồng rừng nguyên liệu và khoanh nuôi bảo vệ rừng. Nhờ đó, kinh tế rừng kết hợp phát triển chăn nuôi quy mô gia trại ở Quỳ châu đạt hiệu quả cao, góp phần tích cực đẩy nhanh tiến độ giảm nghèo trên địa bàn.
Trở lại Châu Bình, vùng đất trước đây bị cày xới bởi tệ nạn khai thác đá đỏ dẫn đến rừng bị tàn phá nặng nề, bây giờ màu xanh đã được bao phủ của rừng. Thăm trang trại của anh Nguyễn Văn Phúc, bản Bình 2, trên diện tích 5 ha thuộc vùng khe đồi Triệu, lứa keo thứ 3 anh trồng 3,5 ha giờ đã khép tán cao quá đầu người.
Chủ trang trại Nguyễn Văn Phúc đưa ra phép tính: Cây keo lai đã thực sự trở thành cây giảm nghèo cho gia đình anh khi mới đây gia đình đã thu được hơn 200 triệu đồng sau 2 vụ thu hoạch. Để thử nghiệm một số loại cây trồng khác trên đất được giao quản lý, anh Phúc đầu tư trồng 1 ha chuối tiêu hồng kết hợp chăn nuôi trang trại lợn địa phương 35 con, tạo thành mô hình khép kín lâm nghiệp kết hợp chăn nuôi, khẳng định hướng đi phù hợp cho hiệu quả khá cao.
Trang trại của anh Nguyễn Văn Phúc là một trong số khá nhiều trang trại kinh tế lâm nghiệp kết hợp chăn nuôi cho hiệu quả ở xã Châu Bình. Là một xã có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế lâm nghiệp nên Châu Bình tập trung chỉ đạo thực hiện tốt công tác chăm sóc, khoanh nuôi, bảo vệ và trồng rừng.
Phong trào trồng rừng nguyên liệu đã trở nên mạnh mẽ, sâu rộng trong toàn dân, bình quân mỗi năm trồng được 600 ha vượt chỉ tiêu Nghị quyết đại hội (NQ giao 200 ha). Hiện tại Châu Bình đã trồng được 3.500 ha rừng tập trung và thu nhập từ lâm nghiệp đã chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu nông - lâm - thủy sản (chiếm 21%/ 44% cơ cấu).
Để lâm nghiệp tiếp tục đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của xã, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã nhiệm kỳ 2015 - 2020 tiếp tục định hướng ổn định diện tích rừng hiện có, tập trung đầu tư thâm canh, áp dụng các loại giống mới và các giải pháp KHKT để nâng cao năng suất bình quân hiện tại từ 120 tấn-150 tấn/ha lên 150 tấn - 180 tấn/ha.
Đồng chí Lê Văn Toan, Phó Chủ tịch UBND xã cho biết: Xã khuyến khích phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại theo phương thức nông - lâm - chăn nuôi kết hợp. Trên cơ sở những mô hình hiệu quả, Châu Bình sẽ nhân rộng để bà con trong xã học tập và làm theo.
Vượt dốc núi cao quanh co trong tiết nắng gắt, chúng tôi tiếp cận được khu rừng khoanh nuôi có tác động của gia đình anh Lương Văn Nam, bản Bẩn, xã Châu Thắng. Thật ấn tượng trên diện tích 4,7 ha vùng khe Xan mà gia đình anh nhận khoanh nuôi rừng đã khoác một màu xanh mướt, tràn sức sống. Những cây gỗ to cao vút, xen giữa là những bụi lùng thân cây thẳng tắp.
Anh Nam cho biết: Thu nhập từ lùng mỗi ngày khoảng 400.000 đồng. Ngoài ra, tận dụng lợi thế diện tích đất rừng, anh Nam phát triển chăn nuôi kết hợp làm ruộng nước: làm 6 sào ruộng lúa, đào ao thả cá, nuôi 5 con trâu và thả đàn vịt bầu...
Thu nhập tổng hợp từ các nguồn đã cho gia đình anh ổn định cuộc sống, lại có điều kiện để tập trung khoanh nuôi bảo vệ rừng tốt hơn. Tại bản Bẩn có 15 hộ nhận khoanh nuôi bảo vệ rừng như anh Nam đến nay kinh tế đều có thu nhập ổn định. Với lợi thế có vùng lùng nguyên liệu tập trung nên xã Châu Thắng không ngừng đẩy mạnh công tác khoanh nuôi bảo vệ rừng, giao đất giao rừng đến với các hộ dân.
Các bản Xẹt, bản Bẩn có diện tích lùng nhiều, xã phối hợp với Công ty TNHH Đức Phong tập huấn cho bà con phương thức vừa khoanh nuôi, vừa khai thác gắn với bảo vệ phát triển diện tích lùng tự nhiên. Đồng chí Sầm Văn Hùng, Phó Chủ tịch UBND xã cho biết: Đối với cây lùng, Châu Thắng có diện tích phân bố tập trung, nhất là loại cây chỉ thích hợp với khoanh nuôi bảo vệ nên xã chỉ đạo các hộ dân có rừng đồng loạt áp dụng theo phương thức này.
Không chỉ kinh tế lâm nghiệp đối với cây lùng mà Châu Thắng có đến 3.000 ha rừng/ gần 4.000 ha đất tự nhiên, do vậy chủ trương của xã kinh tế rừng vẫn là mũi chủ đạo, trong đó ưu tiên số 1 vẫn là công tác khoanh nuôi bảo vệ.
Quỳ Châu hiện có gần 77.000 ha đất lâm nghiệp, chiếm 72% diện tích đất tự nhiên. Còn nhớ, đã có thời điểm, rừng Quỳ Châu bị tàn phá do nạn phá rừng làm nương rẫy và tệ khai thác khoáng sản tràn lan trước đó. Tuy nhiên, nhờ thực hiện chủ trương đẩy mạnh công tác khoanh nuôi bảo vệ rừng, nên trong những năm gần đây, rừng được tái sinh nhanh, độ che phủ tăng lên.
Đặc biệt, thực hiện “Đề án nâng cao công tác quản lý rừng và phát triển rừng giai đoạn 2013 - 2015”, huyện Quỳ Châu đã rà soát chuyển đổi trên 5.000 ha rừng phòng hộ sang rừng sản xuất; đẩy nhanh tiến độ giao đất lâm nghiệp cho các hộ dân.
Đối với công tác khoanh nuôi bảo vệ rừng, chỉ đạo các chủ rừng khoanh nuôi, bảo vệ tốt diện tích rừng tự nhiên hiện có; lồng ghép các chương trình, dự án như Dự án 147, Dự án OXFAM về khoanh nuôi bảo vệ lùng, nhân giống lùng bằng phương pháp tách gốc 15 ha tại xã Châu Hạnh và Châu Thắng; đồng thời thực hiện đồng bộ các giải pháp trồng rừng theo Chương trình 661, nhờ đó, diện tích rừng trồng hàng năm đều tăng, trung bình mỗi năm, huyện trồng mới được gần 1.000 ha rừng tập trung, 60.000 - 85.000 cây phân tán, khoanh nuôi bảo vệ 20.000 - 25.000ha rừng.
Có thể nói, đến nay trồng rừng nguyên liệu đã phát triển khắp nơi trên địa bàn huyện Quỳ Châu. Năm 2010 diện tích trồng mới tập trung và trồng sau khai thác hơn 5.325ha, giai đoạn 2011-2015 đạt 6.725 ha, gồm các loại cây chủ lực như keo lai, tre, mét và các cây bản địa có giá trị kinh tế cao tập trung nhiều nhất ở các xã Châu Bình, Châu Hội, Châu Hạnh và Châu Bính. Bên cạnh trồng rừng thì việc khoanh nuôi bảo vệ được chú trọng đẩy mạnh, nhờ đó đã nâng độ che phủ rừng hiện nay đạt 78%, đạt mục tiêu Đại hội.
Theo tính toán của các hộ trồng rừng, với giá bán nguyên liệu như hiện nay thì mỗi ha rừng trồng nguyên liệu đến kỳ thu hoạch trung bình khoảng 60 triệu đồng/ha. Trừ chi phí giống, phân bón, công lao động và lãi suất vay vốn ngân hàng khoảng 20 triệu đồng, còn lãi 40 triệu đồng. Chưa kể thu nhập từ các loại cây trồng xen khi rừng chưa khép tán như rễ hương, sắn, dứa...
Như vậy, bình quân mỗi năm lãi hơn năm triệu đồng/ha mà chỉ mất công trồng và chăm sóc trong 3 năm đầu, những năm còn lại chỉ phải bảo vệ, có thể nói đây là khoản thu nhập không nhỏ đối với các hộ có đất rừng và khẳng định hiệu quả từ việc trồng rừng.
Để công tác trồng rừng, đặc biệt là rừng nguyên liệu đạt hiệu quả cao, Quỳ Châu chỉ đạo các đơn vị lâm nghiệp như Hạt Kiểm lâm và Ban Quản lý rừng phòng hộ Quỳ Châu phối hợp với các công ty lâm nghiệp trên địa bàn thường xuyên hướng dẫn kỹ thuật, vận động nông dân trồng rừng, bảo vệ rừng; tuyên truyền định hướng cho nông dân, nhất là bà con các dân tộc tích cực áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào thâm canh trồng rừng, chuyển từ trồng rừng đơn giản sang trồng rừng kinh tế...
Đồng chí Lê Thanh Hà, Phó Chủ tịch UBND huyện cho biết: Định hướng của huyện trong thời gian tới, bên cạnh ổn định diện tích rừng hiện có thì cần tập trung đầu tư các giải pháp kỹ thuật thâm canh, tăng năng suất, hiệu quả để từ đó tạo vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến MDF.
Ở những vùng đất thấp, độ dốc ít, thổ nhưỡng phù hợp đưa vào trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao như: cây rễ hương, cây dược liệu, cây ăn quả... Đồng thời, làm tốt công tác khoanh nuôi bảo vệ và phòng chống cháy rừng, khôi phục và phát triển hơn 10.000ha rừng lùng, không chỉ nâng độ che phủ mà còn tiếp tục khẳng định kinh tế lâm nghiệp rất quan trọng đối với Quỳ Châu. (Báo Nghệ An 3/8) đầu trang(
Ngày 1/8, UBND huyện Đắk Song (Đắk Nông) phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông tổ chức phát động trồng rừng tại rừng phòng hộ cảnh quan Quốc lộ 14.
Tham gia buổi lễ có hơn 200 đoàn viên công đoàn Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông và huyện Đắk Song. Việc chọn huyện Đắk Song tổ chức lễ phát động trồng cây mang ý nghĩa lớn trong việc bảo vệ và phát triển rừng của Đắk Nông trước sự xâm lấn trái phép rừng ồ ạt thời gian qua cũng như khẳng định những diện tích rừng bị xâm lấn, tàn phá sẽ được trồng lại và đất rừng không sử dụng vào mục đích khác.
Tại buổi lễ, các đoàn viên thanh niên đã tiến hành trồng hơn 24.000 cây thông nhỏ tại 29 điểm trên 15 ha đất rừng thông phòng hộ cảnh quan dọc Quốc lộ 14 trước đây bị người dân tàn phá và xâm lấn.
Năm 2014, ngành nông nghiệp và người dân Đắk Nông đã trồng được hơn 2.000 ha rừng với tỉ lệ cây sống trên 85%. Trong mùa mưa năm nay, Đắk Nông sẽ trồng 2.600 ha rừng trong đó có 1.600 ha rừng thay thế, trồng các loại cây như: keo, dầu, thông, sao...  Rừng thông phòng hộ cảnh quan Quốc lộ 14 được trồng từ những năm 1978 - 1979 với diện tích ban đầu trên 400 ha. Ngoài chức năng phòng hộ, rừng thông này còn tạo cảnh quan đẹp cho cả đoạn đường dài gần 30 km dọc theo Quốc lộ 14 từ huyện Đắk Song đi thị xã Gia Nghĩa. Tuy nhiên, thời gian qua, rừng thông bị người dân chặt phá, lấn chiếm, bức tử nghiêm trọng để xây dựng nhà ở, lều lán, trồng các loại cây công nghiệp...  Việc trồng lại thông tại các khu vực rừng bị lấn chiếm thể hiện rõ quan điểm bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng của tỉnh Đắk Nông trước tình trạng rừng bị xâm lấn nghiêm trọng thời gian qua. Đồng thời, góp phần hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2015 của tỉnh cũng như tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao ý thức bảo vệ và phát triển rừng. (Tin Môi Trường 2/8) đầu trang(
Ngày 1/8, Hà Nội trồng 247 cây lát hoa trên đường Nguyễn Chí Thanh sau bê bối chặt và trồng cây trước đó.
Việc trồng cây có ý nghĩa thế nào? Liên quan gì tới cường thịnh quốc gia? Xin giới thiệu một số quan điểm của người xưa.
Qua những tư liệu Hán Nôm còn lưu lại sẽ cho chúng ta biết và hiểu thêm về cách suy nghĩ và việc làm của cha ông xưa với việc trồng cây.
Đúng như lời Quản Trọng (725 - 465 trước công nguyên), nhà chính trị - tư tưởng lớn, tướng quốc nước Tề (Trung Quốc), giúp Tề Hoàn Công làm nên sự nghiệp đã nói: “Thập niên chi kế mạc như thụ mộc” (Kế sách cho mười năm, lấy việc trồng cây làm đầu).
Quốc Tử Giám là nơi đào tạo nhân tài, chính quyền các triều đại phong kiến cũng đã chú trọng tới việc trồng cây những ngày xuân năm mới.
Trong sách "Hoàng triều Hàn lâm viện thực lục", có chép việc trồng cây ở Quốc Tử Giám dưới triều Nguyễn.
Đó là tờ Yết thị, trong đó viên Đường quan của triều đình ra lệnh cho các Giám sinh học ở Quốc Tử Giám chuẩn bị những giống cây quý hoặc cây ăn quả, trồng mỗi người 2 cây ở vườn trường.
Chức Đường quan trường Quốc Tử Giám yết thị như sau:
"Nhà Đại học là nơi vun trồng nhân tài, “đầy rẫy cây trăn, cây hộ”, “rườm rà cây vực, cây phác”. Các nhà thơ thường lấy đó làm cảm hứng, mà thơ “Phán thủy” trong thiên Lỗ tụng (trong Kinh Thi) có nói đến; như chợ cây hòe nhân vật Quan Tây còn lưu lại dấu thời xưa nay.
“Trồng người và trồng cây” thực là cùng một ý nghĩa vậy.
Năm nay, trước mùa xuân, được kiêm lĩnh đại nhân tới nhiều cây danh mộc đừng nên để hoang rậm rạp khắp nơi mà không sửa sang. Tiết lập xuân sắp tới, chính là lúc cây cỏ nẩy mầm, đất đai sinh trưởng.
Vì vậy ra yết thị này cho các viên Giám sinh nên lo tìm các cây gỗ quý (danh mộc) như thông, cối, quế, hòe, du, liễu; hoặc giống cây có quả như mít, nhãn, cau Nam Hải... mỗi người 2 cây để sang xuân trồng được khắp, cốt lập nên rừng gỗ quý, cây đẹp thành hàng. Đất làm kỹ, gốc trồng thưa, mọi thứ đều thỏa đáng. Người xưa có câu rằng: “Cái kế 10 năm không gì bằng trồng cây”.
Rường cột, dui mè trông chờ được có chỗ dùng, và cũng để nhìn ngắm cảnh này mà ngụ ý mình. Chớ cho là loài cây không dùng được mà tự thoái thác. Vậy ra yết thị này”.
Cách đây đúng 145 năm, Nguyễn Thông (1827-1884) khi làm quan ở tỉnh Quảng Ngãi đã viết điều trần dâng lên vua Tự Đức đề ra việc trồng cây 2 ven đường và trách nhiệm bảo vệ cây của chính quyền địa phương.
Sách “Kỳ Xuyên công độc sơ biên” ghi lại như sau:
“... Còn như khoản trồng cây, tôi cùng viên Án sát Hồ Tiến Thụy đã từng tuân sức cho lính và dân trồng rộng rãi. Hiện số cây được bao nhiêu, đã tư lên Bộ Công biết.
Nhưng tôi trộm nghĩ rằng: Kế hoạch trồng cây phải mất 10 năm, đó là việc lâu dài mà quan phủ huyện thì thuyên chuyển bất thường, còn các phó tổng lý trưởng gặp những việc như thế phần nhiều hưởng ứng cho có chuyện. Cây cối một lần trồng xong, không có người trông nom, vẫn có nơi để trâu ngựa giẫm đạp, có nơi để trẻ con bẻ gãy, đợi khi điều tra, khám xét, sức cho trồng lại thì thời tiết đã muộn.
Đến khi cây lớn, thì lại bị bọn tiều dân chặt trộm về, khó lòng truy cứu. Vì thế năm trước đã vâng lệnh trồng cây ở hai bên cái quan (quốc lộ), mà đến nay hiện không còn được bao nhiêu. Tệ này vốn có đã lâu, có thể biết được đại khái.
Còn như đất ven núi thì lởm chởm đá, hoặc lùm lòi hoang rậm, chân người ít đến, là nơi sào huyệt của hùm sói, rắn rết. Lý dịch bịa ít thành nhiều, phủ huyện không sao đến từng nơi khám xét đích xác. Khi tỉnh tôi báo lên Bộ thì bằng bản khai báo của phủ huyện nên không tránh khỏi chuyện hư trương không đúng sự thật”.
Từ đó, Nguyễn Thông giám sát chặt chẽ việc trồng cây 2 ven cái quan dài 21.427 trượng, rộng 5 thước, phía nam giáp Bình Định, phía bắc giáp Quảng Nam, trong địa hạt ông quản lý.
Trừ những nơi cát đá, cầu cống, đường sông đất trũng không thể trồng cây được, ước độ hơn 4.283 trượng, còn lại hơn 17.134 trượng. Cứ 2 trượng trồng đối nhau 1 cây, tính được trên dưới 17.134 cây.
Số cây trồng này, giao cho các viên phủ huyện chiếu theo chiều dài bao nhiêu trượng mà tính trồng được bao nhiêu cây, sức xuống cho tổng lý sở tại, đốc dân đem các loại cây mít, mù u, cứ theo phần đất chia mà trồng.
Quan phủ huyện ra lệnh giao trách nhiệm cho từng người chủ ruộng và người làm ăn ở 2 bên đường sớm hôm nhận chăm sóc, bảo quản.
Ngoài ra, các xã, thôn, hạt, trại, có cái quan đi qua và gò đống, đất bỏ hoang đều đem trồng cây. Các loại cây trồng thì không phải khó nhọc vun xới, mà nhân dân cũng dễ tìm kiếm.
Bởi vậy, Nguyễn Thông ra định hạn: Xã lớn phải trồng trên 200 cây, xã vừa trên 100 cây, xã nhỏ trên 50 cây. Tất cả đều giao cho các chủ đất và người làm sở tại trông nom, quản lý. Hễ cây lâu năm có quả sẽ cho họ được hái dùng.
Các hạng cây mới trồng ở 2 bên đường cái quan và ở các xã thôn, cùng với các hạng cây trồng lâu năm ở hai bên cái quan tất cả đều phải đăng ký lưu hồ sơ ở tỉnh. Các viên phủ huyện cùng quan lại kiểm soát, nếu các hạng cây mới trồng có bị hao hụt, lập tức phải bắt tuần hành xem xét không để xảy ra tình trạng hư úng.
Cứ dịp cuối năm, phủ huyện sẽ phải nắm lấy số mục để sức (báo cáo) về Bộ Công một lần. Cứ 3 năm, quan tỉnh hiệp đồng với các viên tri phủ, tri huyện đôn đốc kiểm tra qua một lượt xem số cây về phần phủ, huyện, tổng, làng nào, có mấy hạng, bao nhiêu cây? Có tổn thất gì không? Từ đó, làm danh mục gửi báo cáo lên Bộ Công.
“Tôi nghĩ thường thường trồng bổ sung như thế, nơi nơi đều có chăm nom, dân có chuyên trách, quan có kiểm tra, không có lỏng lẻo mà cũng không để quá gấp rút. Cứ thế, sau 10 năm, gỗ dùng sao cho xiết”, Nguyễn Thông kết thúc lời điều trần. (Nông Nghiệp Việt Nam 3/8) đầu trang(
Từ xưa tới nay, trồng cây đã được coi trọng, chăm cây lại càng phải coi trọng. Thời Nguyễn đã có chính sách chăm cây xanh giao cho quan sở tại
Thời Pháp thuộc, đã có những cuộc thử nghiệm về cây xanh đô thị, trồng cây nào sống cây đó.
Để bảo vệ cây xanh, dưới thời nhà Nguyễn, triều đình khoán cho các quan phải trồng cây và mỗi cây có 1 thẻ bài riêng. Cây nào trồng thì quan phải chăm lo. Nếu cây chết hay sâu bệnh thì quan phải thay cây mới.
Hà Nội thời Pháp thuộc (1888-1954), quá trình 66 năm ấy thành phố đã đủ thời gian để mở rộng và hoàn thiện. Cùng với các công trình giao thông, kiến trúc, cây xanh đô thị cũng được “Nhà nước bảo hộ” chú trọng.
Một hãng trồng cây ở phố Thụy Khuê do người Pháp làm chủ. Người Hà Nội quen gọi là hãng Lơ-pho.
Làm ở hãng này, người Việt Nam có hơn 100 người vừa phu vừa sếp đã quản lý trồng cây cho hơn 100 đường phố, ngõ phố, ngõ hàng và 17 vườn hoa lớn nhỏ (tính đến trước ngày giải phóng Thủ đô 10/10/1954).
Theo các cụ đã làm ở hãng Lơ-pho (còn sống kể lại từ 20 năm trước), các loại cây bóng mát hằng năm chỉ trồng khoảng 300-500 cây nhưng trồng cây nào sống cây đó.
Vì thế, ở Hà Nội có những dãy phố với những hàng cây đặc trưng như dãy đa cổ thụ xù xì tỏa bóng quanh năm ở đường Điện Biên Phủ; ba hàng sấu lớn có bộ rễ chững chạc thi gan cùng gió bão, cành lá sum suê xanh mướt bốn mùa ở phố Phan Đình Phùng.
Người đi dưới dãy sấu Phan Đình Phùng, có cảm giác như đang lạc vào một khu rừng nhiệt đới mát rượi giữa trưa hè oi nồng.
Hay hoa sữa trên phố Nguyễn Du tạo cảm xúc thi ca. Hàng cơm nguội trên phố Lý Thường Kiệt rụng lá chiều đông gợi cảnh sắc nên thơ của một đô thị ôn đới.
Ngoài ra, người Pháp cũng đưa về đường phố Hà Nội một số cây ngoại nhập khác như cây phượng vỹ có gốc gác tận Ma-đa-gát-xca.
Những hàng cây đô thị do người Pháp thiết kế, gieo trồng và chăm sóc từ đầu thế kỷ XX ở Hà Nội là một thể nghiệm rất hay để các nhà nghiên cứu quy hoạch cây xanh đô thị cùng nhau xem xét.
Trên đường phố, vườn hoa và ven các hồ lớn ở Hà Nội còn những cây me, cây sấu, long não, phượng vỹ, bàng, đa, đề, sanh, si, và cả cây xà cừ...
Những cây già cả to lớn thường được trồng cách đây đã hơn 100 năm. Qua bao giông bão nhiệt đới, những cây ấy vẫn tồn tại, phát triển tạo phong cảnh đẹp cho thành phố và để lại đến hôm nay cho chúng ta thừa hưởng.
Tiếp tục các thế hệ trước, từ năm 1956, khi mở rộng con đường Cổ Ngư (và đổi tên thành đường Thanh Niên), cây xanh được trồng ở 2 ven đường. Tính từ đó, ở nội thành Hà Nội, mỗi năm đã trồng từ 2 đến 4 vạn cây bóng mát.
Dù phải chịu đựng 10 năm bom đạn chiến tranh vì không quân phá hoại của Hoa Kỳ thời đó (1965-1973), cây xanh Hà Nội vẫn gắn bó với con người Hà Nội, sát cánh bên nhau đồng cam cộng khổ, chịu đựng túi đạn hơi bom, cùng chiến đấu vì cuộc sống tương lai.
Các nhà chuyên môn đã thống kê được, ở hơn 40 vườn hoa (trong đó có công viên Thống Nhất, công viên Thủ Lệ, vườn hoa Hàng Đậu...) và hơn 100 đường phố Hà Nội, cây xanh vẫn đơm hoa kết trái, tỏa bóng mát cho đời, dẫu cho những trận bom B52 “đất rung, ngói tan, gạch nát”.
Tiếc thay, với tốc độ đô thị hóa cao, dân số bùng nổ, đất đai dần bị lấn chiếm làm nhà, những cây cổ thụ dần dần mất đi, những cây mới trồng chưa kịp thay thế đã bị ngay nhà cao tầng che lấp.
Cây cối cũng như con người, cần có sự chăm sóc bằng tấm lòng, bằng tình cảm thì cây mới có được vẻ đẹp khỏe mạnh, tỏa bóng mát hương thơm cho các thế hệ con người.
Nói như nhà báo Phan Xuân Trung, cây xanh mang lại nhiều lợi ích cho con người cả về đời sống vật chất lẫn tình cảm.
Nhưng con người hình như bội bạc với cây xanh chưa chăm sóc đền đáp lại được bao nhiêu, chưa nói đến những tội ác như phá rừng, chặt cây. Cần phải nói thêm rằng, chúng ta còn quá lãng phí trong việc trồng cây xanh.
Từ năm 1998, TS Vũ Thế Long, chuyên gia Cổ sinh vật học, Viện Khảo cổ học Việt Nam, đã lên tiếng đề nghị: Cần chăm sóc cây xanh ra sao và làm thế nào để hạn chế thấp nhất những tai nạn do cây xanh gây ra cho con người và ngược lại những thiệt hại do sự thiếu thận trọng, thiếu suy xét mà con người đã gây hại cho cây.
Ông Long cho rằng, là một cơ thể sống, cây cũng có lúc mắc bệnh và cây cũng cần phải chữa chạy khi mắc bệnh. Chớ vì thấy cây bị sâu mọt là chặt liền mà cần phải chăm sóc, phải chống đỡ cho khỏi đổ.
Trên thực tế, đã có những cây bị chặt oan như thế. Đành rằng, sau trăm năm thử thách, có một số loài cây không thực thích hợp với môi trường đô thị; tuy thế việc chặt hạ, thay thế cây cần phải được cân nhắc cẩn thận và có sự quyết định của một hội đồng bao gồm các chuyên gia với những chuyên môn khác nhau chứ không chỉ một mình đơn vị nào độc quyền quyết định.
Điều vị chuyên gia này mong muốn là: Giá như ở Hà Nội có một hội đồng “bác sĩ cho cây” thì tốt biết bao!
Nhưng gần 20 năm trôi qua, ước mơ vẫn chỉ là ước mơ! (Nông Nghiệp Việt Nam 4/8) đầu trang(
Hoài Sơn là xã miền núi của huyện Hoài Nhơn, có diện tích đất lâm nghiệp hơn 3.000 ha. Dựa vào lợi thế này, những năm gần đây, xã Hoài Sơn đã đẩy mạnh phát triển kinh tế rừng. Hướng đi này đã giúp cuộc sống của người dân trên địa bàn xã đổi thay rõ nét.
Những năm gần đây, khi Nhà nước có chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế rừng, gắn với việc xây dựng các nhà máy chế biến dăm gỗ xuất khẩu, người dân xã Hoài Sơn đã mạnh dạn khai hoang, cải tạo đất, đầu tư vốn để trồng rừng kinh tế. Chỉ trong một thời gian ngắn, từ năm 2005 đến nay, hàng ngàn ha đất trống, đồi núi trọc tại địa phương đã được người dân địa phương phủ xanh bằng những cánh rừng nguyên liệu giấy bạt ngàn.
Theo thống kê của UBND xã Hoài Sơn, đến nay, nông dân trên địa bàn xã đã trồng được trên 1.000 ha rừng nguyên liệu giấy; trong đó diện tích rừng đến chu kỳ khai thác trên 500 ha (rừng trồng từ 5 năm trở lên). Hiệu quả cao từ việc trồng rừng đã giúp cho nhiều hộ thoát nghèo, cuộc sống được cải thiện; nhiều hộ đã trở nên khá giả.
Điển hình như ông Đỗ Trần Quốc, Phan Đình Thương (thôn An Hội Bắc), ông Lê Văn Buông (thôn La Vuông), ông Huỳnh Mùa, Đoàn Màng (thôn Tường Sơn); trung bình mỗi hộ  đang sở hữu từ 5 - 15 ha rừng nguyên liệu giấy, thu lãi từ 50 - 70 triệu đồng/ha/năm.
Ông Đỗ Trần Quốc, ở thôn An Hội Bắc, cho biết: Tôi bắt đầu trồng rừng kinh tế vào năm 2001 trên diện tích 4 ha; đến nay, diện tích rừng mà tôi có được là 12 ha. Trung bình mỗi ha keo lai, bạch đàn sau 5 - 7 năm trồng, nếu được chăm sóc tốt cho năng suất khoảng 100 tấn gỗ nguyên liệu.
Với giá thu mua như hiện nay dao động ở mức 1,25 triệu đồng/tấn, mỗi ha rừng sẽ cho thu nhập từ 100 - 120 triệu đồng, sau khi trừ chi phí, còn lãi từ 60 - 70 triệu đồng/ha. Nhờ trồng rừng kinh tế mà gia đình tôi có nguồn thu nhập khá, cuộc sống dần ổn định, không phải lo chạy ăn từng bữa như trước đây.
Bên cạnh việc tham gia trồng rừng kinh tế, từ năm 2009, xã Hoài Sơn đã có 466 hộ dân tham gia trồng và chăm sóc 662 ha rừng phòng hộ thuộc Dự án Khôi phục và quản lý rừng bền vững (gọi tắt là Dự án KfW6) do Chính phủ Đức hỗ trợ vốn, bình quân mỗi hộ được giao khoán và trồng rừng từ 1 - 2 ha.
Đến thời điểm hiện tại, hầu hết diện tích rừng người dân nhận quản lý đều sinh trưởng, phát triển tốt. Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) cũng đã hỗ trợ vốn vay ODA cho người dân xã Hoài Sơn thực hiện trồng mới, khoanh nuôi tái sinh trên 640 ha rừng phòng hộ trên địa bàn.
Ông Nguyễn Đình Bản, Chủ tịch UBND xã Hoài Sơn, cho biết: Những kết quả từ phát triển kinh tế lâm nghiệp trên địa bàn xã thời gian qua thể hiện đúng đắn chủ trương, chính sách của Đảng bộ, chính quyền xã, sự nỗ lực vào cuộc của các tổ chức, đoàn thể, nhất là sự đồng lòng, chung sức của người dân địa phương.
Đây là bước đột phá, tạo chuyển biến đáng kể trong công cuộc phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống cho người dân; một số hộ đã trở nên giàu có.
Để đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp, UBND xã đang tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp nhằm tạo điều kiện tối đa để người dân phát triển sản xuất như: giao diện tích đất lâm nghiệp cho các hộ quản lý, canh tác; khai thác tốt các nguồn vốn đầu tư để trồng rừng và phát triển kinh tế. Đồng thời, xã cũng vận động nhân dân tích cực bảo vệ diện tích rừng phòng hộ được giao, góp phần bảo vệ tốt diện tích rừng tại địa phương. (Báo Bình Định 2/8) đầu trang(
Năm nay, toàn tỉnh có kế hoạch trồng mới 8.000 ha rừng tập trung. Đến cuối tháng 7, tranh thủ thời tiết có mưa, các huyện, thành phố đã đẩy nhanh tiến độ trồng rừng theo kế hoạch.
Qua đó, toàn tỉnh đã trồng mới được gần 5.600 ha rừng, đạt khoảng 70% kế hoạch, tăng trên 670 ha so với kỳ trước. Trong đó, huyện Kim Bôi đã trồng khoảng 1.200 ha,  Đà Bắc gần 1.000 ha, Lạc Sơn 750 ha, Lạc Thuỷ trên 600 ha, Lương Sơn 600 ha, Kỳ Sơn trên 400 ha... Với kết quả này, tính đến 6 tháng đầu năm, độ che phủ rừng của tỉnh đạt khoảng 48,96%.
Cùng với trồng rừng, các địa phương trong tỉnh đang tăng cường các biện pháp phòng – chống cháy rừng và đẩy mạnh công tác chăm sóc, khoanh nuôi, quản lý bảo vệ. (Báo Hòa Bình 3/8) đầu trang(
Ngày 2/8, tại xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Quảng Ninh phối hợp với Tổ chức Phục hồi rừng ngập mặn Nhật Bản và Trung tâm Nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức chương trình Giao lưu trồng rừng ngập mặn hữu nghị Việt Nam - Nhật Bản.
Với mục tiêu "Bảo vệ môi trường, hòa bình và hữu nghị, là biểu tượng cho tình cảm bền chặt giữa nhân dân hai nước Việt Nam - Nhật Bản, là sức vươn lên vì một thế giới màu xanh", chương trình đã thu hút hàng trăm người tham gia; trong đó có hơn 60 tình nguyện viên đến từ Nhật Bản và các quốc gia khác cùng đông đảo người dân xã Đồng Rui.
Từ năm 1999 đến nay, Tổ chức Phục hồi rừng ngập mặn Nhật Bản và Trung tâm Nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đã vận động, hỗ trợ trồng được trên 1.000ha rừng ngập mặn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Trong đó, tại xã Đồng Rui đã trồng được 650 ha. Những chương trình phục hồi, trồng rừng ngập mặn đã góp phần giảm thiểu những tác động xấu đối với môi trường, xóa đói giảm nghèo, đồng thời nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư về vai trò của hệ sinh thái rừng ngập mặn.
Nhân dịp này UBND tỉnh, Hội chữ Thập đỏ tỉnh đã khen thưởng cho 8 tập thể, cá nhân tiêu biểu vì có thành tích trong việc nghiên cứu, bảo vệ rừng ngập mặn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Từ ngày 2 – 4/8, các thành viên tham gia chương trình sẽ trồng 2 hecta rừng ngập mặn tại Đồng Rui, Tiên Yên. (Báo Quảng Ninh 3/8) đầu trang(
Ông Nguyễn Văn Hào, ngụ tại xã Thiện Nghiệp (Phan Thiết) phản ánh: Những năm gần đây người dân có đất tham gia chương trình trồng rừng PAM 4304, trong đó một số hộ dân canh tác ổn định nhiều năm, nhưng không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; một số hộ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng lại không được chuyển nhượng, sang tên… gây thiệt thòi cho người dân.
Qua tìm hiểu vấn đề nói trên chúng tôi được biết: Theo khảo sát của cơ quan chức năng thì thành phố Phan Thiết có 1.391 trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nguồn gốc trồng rừng PAM. Trước đây, UBND thành phố Phan Thiết đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 187 hộ với diện tích 236,7ha.
Nhưng sau đó cơ quan chức năng của thành phố Phan Thiết phát hiện nguồn gốc đất đưa vào trồng rừng PAM chưa rõ ràng.
Do vậy, năm 2007 UBND tỉnh đã chỉ đạo tạm ngưng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất trồng rừng PAM. Đồng thời, chỉ đạo UBND thành phố Phan Thiết rà soát lại việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ để xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Có thể thấy đây là vấn đề khó và hết sức phức tạp, nhạy cảm, nhất là vấn đề liên quan đến nguồn gốc đất khi tham gia chương trình PAM.
Vì đất của hộ gia đình đã và đang sử dụng qua nhiều thế hệ hay đất chưa sử dụng thuộc Nhà nước giao để thực hiện chương trình; đối tượng được giao đất là trực tiếp sản xuất nông nghiệp hay không thuộc đối tượng trực tiếp sản xuất nông nghiệp… chưa được xác định rõ.
Từ nguồn gốc sử dụng đất sẽ liên quan đến hình thức sử dụng đất (tức là giao đất hay cho thuê đất) và liên quan đến áp dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi có chủ trương Nhà nước thu hồi đất.
Để giải quyết những vướng mắc trên, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Tài nguyên - Môi trường phối hợp với Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn, các ngành liên quan và UBND thành phố Phan Thiết căn cứ các quy định của pháp luật đất đai qua từng giai đoạn để rà soát các chính sách của tỉnh từ trước đến nay.
Từ đó, tham mưu cho UBND tỉnh giải quyết theo quy định của pháp luật và phù hợp với điều kiện tình hình thực tế của địa phương. Nếu có trường hợp vướng mắc tỉnh không giải quyết được thì báo cáo Bộ Tài nguyên - Môi trường để được hướng dẫn thực hiện, nhằm bảo đảm thực hiện đúng kỷ cương pháp luật và công bằng giữa các hộ dân. (Báo Bình Thuận 4/8) đầu trang(
Trong khuôn khổ Dự án (DA) Phát triển ngành Lâm nghiệp (gọi tắt là DA WB3) giai đoạn 2005-2015 thực hiện tại tỉnh ta, có hàng ngàn lượt hộ nông dân đã được vay vốn thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) để đầu tư trồng và chăm sóc rừng trồng, đem lại hiệu quả thiết thực...
DA WB3 được thực hiện từ 2005-2015 tại Phù Mỹ, Phù Cát, Tây Sơn, Vân Canh, Tuy Phước, Hoài Ân, thị xã An Nhơn và TP Quy Nhơn với 10.507 nông hộ tham gia. Điều đáng ghi nhận qua thực hiện DA WB3, các hộ gia đình tham gia được Ban Quản lý DA hỗ trợ kịp thời về kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng; được NHCSXH giải ngân nhanh nguồn vốn vay, giúp người dân yên tâm trồng và chăm sóc rừng.
Theo Ban Quản lý DA WB3 (Sở NN&PTNT), đến nay, các hộ tham gia DA đã trồng được 18.301ha rừng. Phần lớn diện tích rừng trồng đều phát triển tốt. Hiện các diện tích rừng trồng ở những năm đầu DA đã cho thu hoạch, năng suất gỗ rừng trồng đạt từ 90-120 tấn/ha; thu nhập từ 100 - 120 triệu đồng/ha, sau khi trừ các khoản chi phí, người trồng rừng còn lãi bình quân từ 60 - 80 triệu đồng/ha.
Từ thực hiện DA WB3, những năm gần đây ở nhiều địa phương trong tỉnh ngày càng xuất hiện khá nhiều nông dân sản xuất giỏi, có thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm từ bán gỗ rừng trồng. Điển hình như hộ ông Nguyễn Đăng Thứ, ở thôn Hiệp Vinh 2 (Vân Canh) được NHCSXH huyện Vân Canh giải ngân cho vay 160 triệu đồng từ năm 2007 để trồng 8 ha rừng keo lai, bạch đàn. Đến nay, gia đình ông đã thu hoạch rừng trồng, hoàn trả hết nợ vay ngân hàng và còn tích lũy được vốn tiếp tục chăm sóc diện tích rừng.
Hộ ông Cù Văn Mẫn, ở thôn Bình An 1, xã Phước Thành (Tuy Phước) cũng có thu nhập cao từ tiền bán gỗ rừng trồng theo DA WB3. Ông Mẫn cho biết: Đến nay, gia đình tôi đã phát triển được gần 20ha rừng trồng trên địa bàn xã Phước Thành và các địa phương lân cận. Mỗi năm tôi khai thác từ 4 - 6 ha rừng keo lai, bạch đàn với năng suất khoảng 100 - 120 tấn/ha, tổng doanh thu gần 600 triệu đồng, trừ chi phí còn lãi trên 400 triệu đồng.
Bà Nguyễn Thị Thảo Vi, Trưởng phòng Kế hoạch-Nghiệp vụ tín dụng NHCSXH tỉnh, cho biết: Từ năm 2005 đến nay NHCSXH tỉnh đã giải ngân cho 16.013 lượt nông hộ vay 172,159 tỉ đồng với lãi suất 0,55%/tháng, thời hạn từ 7-15 năm, để đầu tư trồng và chăm sóc rừng trồng. Nhờ làm ăn hiệu quả, nên phần lớn nông dân đều trả nợ vay đúng hạn. Đến nay, doanh số thu nợ của Ngân hàng đạt trên 61 tỉ đồng.
Vừa qua, tại TP Quy Nhơn, Bộ NN&PTNT đã phối hợp với UBND tỉnh tổ chức Hội nghị “Phát triển rừng trồng thương mại bằng vốn tín dụng quay vòng của DA WB3”. Hội nghị đã đánh giá kết quả 10 năm thực hiện DA WB3 và bàn biện pháp duy trì hoạt động phát triển rừng trồng bằng nguồn vốn tín dụng.
Ông Phan Trọng Hổ, Giám đốc Sở NN&PTNT, cho biết: DA WB3 tại tỉnh ta đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần phủ xanh đất trống, đồi núi trọc; tạo việc làm và thu nhập đáng kể cho người dân tại các địa phương trong tỉnh. Tuy nhiên, những hộ đã tham gia DA phần lớn là hộ nghèo, nông dân mong muốn tiếp tục được vay vốn ưu đãi để tái sản xuất.
Bên cạnh đó, hiện nay tỉnh cũng đang triển khai chuỗi rừng trồng cây gỗ lớn diện tích 3.000 ha tại các công ty lâm nghiệp, phấn đấu đến năm 2020 mở rộng diện tích lên 10.000 ha. Nhu cầu về vốn vay của nông dân và các doanh nghiệp tham gia trồng rừng thương mại là rất lớn.
Ông Nguyễn Văn Lý, Phó Tổng Giám đốc NHCSXH Việt Nam, cho biết: “Sau 10 năm thực hiện DA WB3, NHCSXH đã giải ngân cho các hộ trồng rừng ở các tỉnh tham gia DA vay 749,4 tỉ đồng. DA đã góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc với 77.000 ha rừng tại các vùng DA. Điều đáng mừng là các hộ vay vốn đã trả nợ vay 156 tỉ đồng, trong đó có đến 98% số hộ vay trả lãi đúng định kỳ.
Nhằm phát huy hiệu quả của DA WB3 và đáp ứng nguyện vọng của người dân các tỉnh đã tham gia DA, NHCSXH Việt Nam đề nghị Bộ NN&PTNT nghiên cứu, trình Chính phủ phê duyệt cho Ngân hàng được sử dụng một phần nguồn vốn tăng trưởng của Ngân hàng để tiếp tục cho các hộ dân vay vốn trồng rừng sản xuất.
Tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn đánh giá cao kết quả hoạt động phát triển rừng trồng thương mại bằng nguồn vốn tín dụng quay vòng của DA WB3 và hứa sẽ tham mưu cho Bộ trưởng Bộ NN&PTNT ban hành văn bản thống nhất đề xuất của NHCSXH Việt Nam phát hành sổ tay tín dụng, để trong tháng 8 này Ngân hàng tiếp tục giải ngân cho các hộ trồng rừng vay vốn tái sản xuất và đầu tư trồng mới rừng thương mại. (Báo Bình Định 3/8) đầu trang(
Ngày 1/8, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Tuyên Quang phối hợp với Công ty cổ phần Woodsland tổ chức lễ ký kết thỏa thuận hợp tác đầu tư cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn FSC cho các Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Để việc hợp tác đầu tư cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn FSC cho các công ty TNHH MTV Lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đạt hiệu quả cao, thời gian qua Công ty cổ phần Woodsland đã tích cực phối hợp với Chi cục Lâm nghiệp tỉnh, Viện quản lý rừng bền vững thuộc Bộ NN&PTNT điều tra khảo sát đánh giá tiềm năng kinh tế rừng của một số công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh; đồng thời phối hợp tổ chức hội thảo nâng cao nhận thức về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng cho các công ty lâm nghiệp và hộ gia đình.
Kết quả, Công ty Lâm nghiệp Chiêm Hóa và Sơn Dương cấp chứng chỉ riêng lẻ; Công ty Lâm nghiệp Tuyên Bình, Yên Sơn và Công ty Lâm nghiệp Nguyễn Văn Trỗi cấp chứng chỉ theo nhóm với tổng diện tích rừng trên 5.000 ha. Trong quá trình triển khai hợp tác đầu tư, Công ty cổ phần Woodsland tài trợ không hoàn lại cho các công ty lâm nghiệp một phần kinh phí để đánh giá tác động môi trường, tác động xã hội, đánh giá năng suất rừng, đánh giá đa dạng sinh học, hỗ trợ đánh giá quản lý rừng…
Các công ty lâm nghiệp có trách nhiệm cung ứng cho Công ty cổ phần Woodsland toàn bộ số gỗ tròn có đường vanh từ 40cm trở lên được khai thác trong khu vực đã được cấp chứng chỉ FSC.
Việc tổ chức ký kết thỏa thuận hợp tác đầu tư cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn FSC cho các Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh nhằm đảm bảo việc khai thác gỗ được thực hiện phù hợp về phương diện sinh thái, đem lại lợi ích về kinh tế và xã hội cho các cộng đồng địa phương, đồng thời là một chương trình tự nguyện tạo ra động lực thị trường thông qua hợp tác đầu tư, góp phần vào việc bảo tồn rừng và đa dạng sinh học trên địa bàn. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Tuyên Quang 2/8) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang