|
Ngày 28 tháng 04 năm 2017
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
TIÊU ĐIỂM
QUẢN LÝ
NHÂN SỰ MỚI
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
KINH TẾ
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
NHÌN RA THẾ GIỚI
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
Chính phủ vừa có ý kiến chỉ đạo về một số vấn đề liên quan đến pháp luật và phát triển kinh tế - xã hội.
Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình vừa có ý kiến chỉ đạo về việc xử lý trách nhiệm đối với cán bộ liên quan đến việc giải quyết khiếu nại của bà Đàm Thị Lích (tỉnh Lâm Đồng). Xét báo cáo của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với ông Lê Công Tuấn, nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện Đức Trọng do có những vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại của bà Đàm Thị Lích, tạo dư luận không tốt ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức Đảng và chính quyền địa phương, Phó Thủ tướng có ý kiến: Việc Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với ông Lê Công Tuấn là cần thiết và phù hợp quy định của pháp luật.
Phó Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Lâm Đồng thông báo công khai hình thức kỷ luật đối với ông Lê Công Tuấn trên các phương tiện thông tin đại chúng để nâng cao tinh thần trách nhiệm và hạn chế những vi phạm của cán bộ, công chức trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai, giải quyết khiếu nại của công dân. (Tin Tức 26/4) đầu trang(
Các trung tâm ngoại ngữ, tin học phải bảo đảm không quá 25 học viên/1 giáo viên/ca học.
Theo Nghị định số 46/2017/NĐ-CP, trung tâm ngoại ngữ, tin học hoạt động giáo dục phải đảm bảo các điều kiện sau:
1- Có quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập của người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 47 của Nghị định 46/2017/NĐ-CP.
2- Có cán bộ quản lý, giáo viên, kỹ thuật viên giảng dạy lý thuyết, thực hành bảo đảm trình độ chuyên môn theo quy định; kế toán, thủ quỹ đáp ứng yêu cầu hoạt động của trung tâm. Số lượng giáo viên phải bảo đảm tỷ lệ trung bình không quá 25 học viên/1 giáo viên/ca học.
3- Có đủ phòng học, phòng chức năng phù hợp, đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo; phòng làm việc cho bộ máy hành chính theo cơ cấu tổ chức của trung tâm để phục vụ công tác quản lý, đào tạo. Phòng học đủ ánh sáng, có diện tích tối thiểu bảo đảm 1,5 m2/học viên/ca học.
4- Có giáo trình, tài liệu, thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập theo yêu cầu của chương trình đào tạo; có thư viện, cơ sở thí nghiệm, thực tập, thực hành và các cơ sở vật chất khác đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo và hoạt động khoa học công nghệ.
Việc đình chỉ hoạt động giáo dục của trung tâm ngoại ngữ, tin học được thực hiện khi xảy ra một trong các trường hợp sau: 1- Vi phạm các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục ở mức độ phải đình chỉ; 2- Vì lý do khách quan không bảo đảm hoạt động bình thường của trung tâm; 3- Các trường hợp vi phạm pháp luật khác theo quy định của pháp luật.
Trung tâm ngoại ngữ, tin học bị giải thể khi xảy ra một trong các trường hợp sau: 1- Vi phạm nghiêm trọng các quy định về quản lý, tổ chức, hoạt động của trung tâm ngoại ngữ, tin học; 2- Mục tiêu và nội dung hoạt động trong quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập trung tâm ngoại ngữ, tin học không còn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; 3- Theo đề nghị của tổ chức, cá nhân thành lập trung tâm ngoại ngữ, tin học. (Báo Chính Phủ 27/4) đầu trang(
Đây là một trong những nội dung Nghị định số 49/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 15 của Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 6/4/2011 và Điều 30 của Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013.
Theo Nghị định số 49/2017/NĐ-CP, SIM thuê bao di động chỉ được cung cấp cho các cá nhân, tổ chức tại các điểm cung cấp dịch vụ viễn thông và sau khi điểm cung cấp dịch vụ viễn thông đã hoàn thành các quy định tại khoản 4 Điều 15 Nghị định số 25/2011/NĐ-CP.
Doanh nghiệp viễn thông được cấp phép thiết lập mạng, cung cấp dịch vụ viễn thông di động mặt đất, vệ tinh chỉ được cung cấp dịch vụ viễn thông di động cho thuê bao sau khi đã hoàn thành việc rà soát, kiểm tra, bảo đảm thông tin thuê bao của các cá nhân, tổ chức trong cơ sở dữ liệu tập trung của mình đã được đối chiếu, nhập, lưu giữ, quản lý đúng quy định.
Nghị định số 49/2017/NĐ-CP cũng quy định rõ đối với thuê bao di động có thông tin thuê bao không đúng quy định, doanh nghiệp viễn thông phải thông báo liên tục trong ít nhất 5 ngày, mỗi ngày ít nhất một lần yêu cầu cá nhân, tổ chức thực hiện lại việc giao kết hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung theo quy định tại khoản 3, khoản 4, khoản 6, khoản 7 Điều 15 Nghị định số 25/2011/NĐ-CP.
Trường hợp cá nhân, tổ chức không thực hiện theo yêu cầu, doanh nghiệp viễn thông tạm dừng cung cấp dịch vụ viễn thông một chiều sau 15 ngày kể từ ngày đầu tiên gửi thông báo đồng thời thông báo thuê bao sẽ bị tạm dừng cung cấp dịch vụ viễn thông hai chiều sau 15 ngày tiếp theo nếu không thực hiện.
Để chấn chỉnh các hành vi vi phạm trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện, Nghị định số 49/2017/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 30 của Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ. Theo đó, phạt tiền từ 800.000 - 1.000.000 đồng trên mỗi số thuê bao đối với doanh nghiệp viễn thông di động đã cung cấp dịch vụ cho chủ thuê bao có thông tin thuê bao không đúng quy định.
Phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng trên mỗi điểm cung cấp dịch vụ viễn thông đối với doanh nghiệp viễn thông di động chấp nhận giấy tờ không đúng quy định.
Đối với hành vi: Bán SIM thuê bao di động khi không được doanh nghiệp viễn thông di động ký hợp đồng ủy quyền giao kết hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung; bán, lưu thông trên thị trường SIM thuê bao đã được nhập sẵn thông tin thuê bao, kích hoạt sẵn dịch vụ di động trả trước; bán, lưu thông trên thị trường thiết bị đầu cuối không dùng SIM đã được nhập sẵn thông tin thuê bao, kích hoạt sẵn dịch vụ di động trả trước; mua bán, trao đổi hoặc sử dụng SIM đa năng, thiết bị có chức năng kích hoạt sẵn dịch vụ cho SIM thuê bao không cần phải bẻ SIM để nhập sẵn thông tin thuê bao, kích hoạt sẵn dịch vụ di động trả trước cho SIM thuê bao; không đăng tải trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp danh sách các điểm cung cấp dịch vụ viễn thông hoặc đăng tải danh sách không đầy đủ thông tin theo quy định bị phạt tiền từ 30 - 40 triệu đồng. (Tin Tức 27/4) đầu trang(
Mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang sẽ tăng từ mức 1.210.000 đồng/tháng hiện nay lên 1.300.000 đồng/tháng (tăng 90.000 đồng/tháng), bắt đầu áp dụng từ 1/7/2017.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 47/2017/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương, phụ cấp và người lao động làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (cấp huyện), ở xã, phường, thị trấn (cấp xã), ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và lực lượng vũ trang.
Có 9 nhóm đối tượng được xếp hưởng mức lương, phụ cấp theo Nghị định này. Mức lương cơ sở được dùng làm căn cứ tính mức lương trong các bảng lương, mức phụ cấp và thực hiện các chế độ khác; tính mức hoạt động phí, sinh hoạt phí theo quy định của pháp luật; tính các khoản trích và các chế độ được hưởng theo mức lương cơ sở.
Nghị định nêu rõ, mức lương cơ sở được điều chỉnh trên cơ sở khả năng ngân sách nhà nước, chỉ số giá tiêu dùng và tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Chính phủ giao các Bộ, ngành, cơ quan sắp xếp trong phạm vi dự toán ngân sách nhà nước được giao, phấn đấu tăng nguồn thu sự nghiệp và sử dụng nguồn kinh phí thực hiện cải cách tiền lương chưa sử dụng hết năm 2016 chuyển sang (nếu có) để cân đối nguồn thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở năm 2017.
Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sử dụng nguồn tiết kiệm 10% chi thường xuyên (không kể các khoản chi tiền lương, phụ cấp theo lương, các khoản có tính chất lương và các khoản chi cho con người theo chế độ) theo dự toán được cấp có thẩm quyền giao năm 2017 của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp; sử dụng một phần nguồn thu được để lại theo chế độ của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.
Bên cạnh đó, sử dụng 50% nguồn tăng thu ngân sách địa phương thực hiện so với dự toán năm 2016 do Thủ tướng Chính phủ giao (không kể thu tiền sử dụng đất, thu xổ số kiến thiết); nguồn kinh phí thực hiện cải cách tiền lương năm 2016 chưa sử dụng hết chuyển sang (nếu có).
Đối với một số địa phương ngân sách khó khăn, sau khi thực hiện quy định nêu trên mà vẫn thiếu nguồn thực hiện cải cách tiền lương năm 2017 thì ngân sách trung ương bổ sung số thiếu để địa phương thực hiện. (Dân Trí 27/4) đầu trang(
Bộ Thông tin và Truyền thông đang dự thảo Thông tư quy định mức tổng giá trị tối đa của dịch vụ, hàng hóa để khuyến mại trong một chương trình khuyến mại và mức giá trị vật chất tối đa khuyến mại áp dụng cho từng đơn vị dịch vụ viễn thông, hàng hóa chuyên dùng viễn thông đối với dịch vụ thông tin di động mặt đất toàn quốc.
Dự thảo nêu rõ, giá trị của dịch vụ thông tin di động, hàng hóa chuyên dùng thông tin di động được khuyến mại là giá trị dịch vụ thông tin di động đã dùng, hàng hóa chuyên dùng đã mua không có khuyến mại và chưa tính giá trị trong các lần khuyến mại trước đó trước khi tổ chức chương trình khuyến mại.
Tổng giá trị tối đa dùng để khuyến mại trong một chương trình khuyến mại cho thuê bao di động trả trước, hoặc thuê bao di động trả sau hoạt động dưới 1 năm, hoặc thuê bao di động trả sau có tổng doanh thu đã sử dụng dịch vụ viễn thông dưới 1.000.000 đồng của dịch vụ thông tin di động, không được vượt quá 10% tổng giá trị của dịch vụ thông tin di động, hàng hóa chuyên dùng thông tin di động được khuyến mại.
Tổng giá trị tối đa dùng để khuyến mại trong một chương trình khuyến mại cho thuê bao di động trả sau hoạt động trên 1 năm, hoặc thuê bao di động trả sau có tổng doanh thu đã sử dụng dịch vụ viễn thông từ 1.000.000 đồng trở lên; hoặc thuê bao trả trước chuyển sang thuê bao trả sau đã hoạt động trên 1 năm và có tổng doanh thu đã sử dụng dịch vụ viễn thông từ 1.000.000 đồng trở lên (tính cho cả thời gian và doanh thu khi là thuê bao trả trước) của dịch vụ thông tin di động không được vượt quá 50% tổng giá trị của dịch vụ thông tin di động, hàng hóa chuyên dùng thông tin di động được khuyến mại.
Theo dự thảo, khách hàng thường xuyên dịch vụ thông tin di động là thuê bao trả sau hoạt động trên 1 năm và có tổng doanh thu đã sử dụng dịch vụ viễn thông từ 1.000.000 đồng trở lên hoặc thuê bao trả trước chuyển sang thuê bao trả sau đã hoạt động trên 1 năm và có tổng doanh thu đã sử dụng dịch vụ viễn thông từ 1.000.000 đồng trở lên (tính cho cả thời gian và doanh thu khi là thuê bao trả trước).
Khi khách hàng thỏa mãn điều kiện trên, doanh nghiệp phải có trách nhiệm thông báo cho khách hàng đã đủ điều kiện và chi phí khách hàng phải tự chịu khi tham gia chương trình khuyến mại cho khách hàng thường xuyên.
Khi tổ chức khuyến mại giảm giá cho khách hàng thường xuyên, doanh nghiệp phải đồng thời tuân thủ quy định đối với chương trình khuyến mại giảm giá. (Báo Chính Phủ 26/4) đầu trang(
Tại dự thảo Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ này đã đề xuất nâng số lượng Phó Tổng cục trưởng Tổng cục này từ 3 lên 4 Phó Tổng cục trưởng.
Theo dự thảo, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam có Tổng Cục trưởng và không quá 4 Phó Tổng Cục trưởng. Tổng Cục trưởng và các Phó Tổng Cục trưởng do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo quy định của pháp luật.
Theo dự thảo, Tổng Cục trưởng Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam trình Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trườngquy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các tổ chức trực thuộc Tổng cục. Tổng Cục trưởng Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các tổ chức trực các đơn vị trực thuộc Tổng cục.
Tổng Cục trưởng Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Tổng cục. Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam chịu trách nhiệm trước Tổng Cục trưởng và trước pháp luật về lĩnh vực công tác được phân công phụ trách.
Theo dự thảo, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam gồm 26 tổ chức, trong đó, có 11 tổ chức giúp việc Tổng Cục trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước gồm: 1. Vụ Địa chất; 2. Vụ Khoáng sản; 3. Vụ Chính sách và Pháp chế; 4. Vụ Hợp tác quốc tế và Khoa học Công nghệ; 5. Vụ Kế hoạch - Tài chính; 6. Vụ Tổ chức cán bộ; 7. Văn phòng; 8. Cục Kinh tế Địa chất và Khoáng sản; 9. Cục Kiểm soát hoạt động khoáng sản miền Bắc; 10. Cục Kiểm soát hoạt động khoáng sản miền Trung; 11. Cục Kiểm soát hoạt động khoáng sản miền Nam.
15 đơn vị sự nghiệp phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam gồm: 1. Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Bắc; 2. Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam; 3. Liên đoàn Địa chất Đông Bắc; 4. Liên đoàn Địa chất Tây Bắc; 5. Liên đoàn Địa chất Bắc Trung Bộ; 6. Liên đoàn Địa chất Trung Trung Bộ; 7. Liên đoàn Địa chất Xạ - Hiếm; 8. Liên đoàn Vật lý Địa chất; 9. Liên đoàn INTERGEO; 10. Liên đoàn Địa chất và Khoáng sản biển; 11. Trung tâm Kiểm định địa chất; 12. Trung tâm Phân tích thí nghiệm địa chất; 13.Trung tâm Thông tin, Lưu trữ địa chất; 14. Bảo tàng Địa chất; 15. Tạp chí Địa chất. (Báo Chính Phủ 27/4) đầu trang(
Bộ Tài chính đang dự thảo Thông tư hướng dẫn một số điều quy định tại Nghị định số 03/2017/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh casino
Theo đó, hồ sơ, tài liệu chứng minh người Việt Nam có đủ năng lực về tài chính để tham gia chơi tại Điểm kinh doanh casino theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 03/2017/NĐ-CP bao gồm một trong các tài liệu sau: Bản sao quyết toán thuế thu nhập cá nhân từ bậc 3 trở lên theo quy định tại Luật thuế thu nhập cá nhân và được cơ quan thuế quyết toán trong vòng 01 năm trước khi vào chơi casino; bản xác nhận thu nhập hàng tháng hoặc bảng lương hàng tháng của cơ quan nơi người tham gia chơi casino đang công tác, trong đó thể hiện mức thu nhập hàng tháng từ 10 triệu đồng trở lên; hợp đồng cho thuê nhà, cho thuê tài sản được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật, trong đó phát sinh tổng số tiền cho thuê hàng tháng từ 10 triệu đồng trở lên; bản sao sổ tiết kiệm ngân hàng, sao kê tài khoản ngân hàng… có thời hạn từ 01 năm trở lên và có phát sinh lãi hàng tháng từ 10 triệu đồng trở lên; các giấy tờ khác chứng minh được người chơi có thu nhập thường xuyên từ 10 triệu đồng/tháng trở lên.
Doanh nghiệp kinh doanh casino được phép thí điểm cho người Việt Nam vào chơi casino có trách nhiệm lưu giữ các tài liệu theo quy định trong thời hạn tối thiểu là 3 năm để phục vụ công tác quản lý, giám sát, kiểm tra, thanh tra của các cơ quan quản lý nhà nước.
Dự thảo cũng đề xuất doanh nghiệp phải mở sổ theo dõi hoặc cấp thẻ điện tử để kiểm soát tất cả các đối tượng được ra, vào Điểm kinh doanh casino theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 03/2017/NĐ-CP. Sổ theo dõi được lập theo hình thức ghi sổ hoặc thông tin điện tử. Sổ theo dõi, thông tin điện tử phải được lưu trữ trong thời hạn tối thiểu 3 năm để phục vụ công tác kiểm tra, thanh tra của các cơ quan quản lý nhà nước.
Sổ theo dõi hoặc thẻ điện tử để kiểm soát các đối tượng được phép chơi tại Điểm kinh doanh casino theo quy định phải bao gồm các nội dung cơ bản: Mã số thẻ điện tử (nếu có); họ và tên người chơi; số hộ chiếu hoặc giấy thông hành còn giá trị; quốc tịch; ảnh nhận diện (nếu được cấp thẻ điện tử); thời gian ra, vào Điểm kinh doanh casino; các thông tin khác có liên quan đến việc kiểm soát người chơi theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.
Theo dự thảo, định kỳ hàng quý, doanh nghiệp kinh doanh casino nộp toàn bộ số thu từ tiền vé tham gia chơi tại Điểm kinh doanh casino vào tài khoản thu ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước đồng cấp với cơ quan thuế nơi doanh nghiệp kinh doanh casino đăng ký kê khai thuế và địa phương cấp tỉnh được hưởng nguồn thu này.
Toàn bộ số thu từ tiền bán vé tham gia chơi tại Điểm kinh doanh casino được sử dụng để chi đầu tư phát triển cho các mục tiêu phúc lợi xã hội, phục vụ cộng đồng, đảm bảo an ninh, trật tự xã hội, trong đó bố trí tối thiểu 60% cho các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, dạy nghề và y tế. (Báo Quảng Ninh 27/4) đầu trang(
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đang dự thảo quy định xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Theo dự thảo, hệ thống đảm bảo chất lượng trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp là hệ thống các chính sách, quy trình, công cụ đối với tất cả lĩnh vực, nội dung quản lý của trường, hệ thống thông tin nội bộ, nhân sự và cơ chế, giám sát, đánh giá, thông qua đó trường duy trì, cải tiến và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp.
Dự thảo nêu rõ, xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng phải đảm bảo nguyên tắc, yêu cầu sau: Tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành, đảm bảo phù hợp với mục tiêu đào tạo của trường; thể hiện được tầm nhìn, sứ mạng, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của trường trong từng giai đoạn; nhấn mạnh vai trò của nhà quản lý, gắn kết với quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình của trường và lấy người học làm trung tâm; huy động sự tham gia của tất cả cán bộ quản lý, nhà giáo nhân viên, người học; tiếp cận theo quá trình, gắn kết với hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp; phù hợp với thực tiễn của trường, dễ vận hành, thuận tiện trong việc kiểm tra, giám sát, đánh giá và cải tiến.
Theo dự thảo, quy trình xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng như sau: 1-Thực hiện công tác chuẩn bị xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng gồm: Hoàn thiện tổ chức, nhân sự đảm bảo chất lượng và các điều kiện có liên quan khác.
2- Xây dựng và kiểm soát hệ thống tài liệu: Chính sách chất lượng; mục tiêu chất lượng; sổ tay chất lượng; quy trình, công cụ đảm bảo chất lượng đối với từng nội dung trong các lĩnh vực quản lý chất lượng.
3- Thiết lập hệ thống thông tin đảm bảo chất lượng.
4- Ban hành và áp dụng hệ thống đảm bảo chất lượng trong trường.
Dự thảo nêu rõ, hệ thống đảm bảo chất lượng sau khi được xây dựng phải được Hiệu trưởng ký quyết định ban hành và đưa vào áp dụng. Hệ thống đảm bảo chất lượng được công bố công khai để cán bộ, nhà giáo, nhân viên và các đối tượng khác có liên quan biết và triển khai thực hiện.
Hằng năm, trường xây dựng và thực hiện kế hoạch kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về xây dựng, vận hành hệ thống đảm bảo chất lượng. Việc kiểm tra, giám sát được thực hiện định kỳ và đột xuất đảm bảo tính công khai, minh bạch và hiệu quả. Phòng có chức năng về đảm bảo chất lượng tổng hợp kết quả kiểm tra, giám sát để báo cáo Hiệu trưởng, Ban chỉ đạo. (Báo Chính Phủ 27/4) đầu trang(
Bộ Tài nguyên và Môi trường đang dự thảo Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Quản lý đất đai trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng cục Quản lý đất đai trong thời gian qua có sự thay đổi, bổ sung làm rõ, cụ thể: Về nội dung “hướng dẫn, kiểm tra việc bố trí quỹ đất cho phát triển thị trường bất động sản trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” (Theo Khoản 3, Điều 77 của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014); quy định về định giá đất (Điều 18, Luật Đất đai năm 2013 quy định Nhà nước quyết định giá đất); quy định về điều chỉnh bảng giá đất, xây dựng tổng hợp cung cấp dữ liệu, thông tin về khung giá đất, bảng giá đất và giá đất cụ thể (theo Điều 114, Luật Đất đai 2013); quy định về thống kê, kiểm kê đất đai (Điều 22, Điều 34, Luật Đất đai 2013). Mặt khác, trong Luật Đất đai 2013 cũng quy định cụ thể về hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai (Chương IX).
Do vậy, những thay đổi này cần được tổng hợp, thống nhất tại một văn bản để thuận tiện trong quá trình thực hiện; đồng thời làm rõ chức năng, nhiệm vụ cho Tổng cục, góp phần tăng hiệu lực, hiệu quả trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai của Tổng cục.
Tại dự thảo, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất sửa đổi, bổ sung một số nhiệm vụ của Tổng cục Quản lý đất đai như: Tổ chức điều tra thu thập, xây dựng, quản lý thông tin, dữ liệu về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thẩm định điều kiện của tổ chức, cá nhân hoạt động tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; tổ chức thẩm định đối với việc điều chỉnh các quyết định của Thủ tướng Chính phủ trước ngày 1/7/2004 về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; tổ chức thẩm định các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất theo quy định của pháp luật; tổ chức thẩm định hồ sơ đề trình Thủ tướng Chính phủ quyết định đối với các trường hợp giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật...
Về cơ cấu tổ chức, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, qua rà soát, đánh giá tổ chức và hoạt của Tổng cục Quản lý đất đai kể từ khi Quyết định số 21/2014/QĐ-TTg có hiệu lực cho đến nay, cơ cấu tổ chức của Tổng cục là tương đối hợp lý, bảo đảm tinh gọn, bao quát nhiệm vụ, hoạt động hiệu quả.
Nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế về tổ chức bộ máy của Tổng cục trong thời gian qua, bảo đảm mô hình tổ chức tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ; trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của Tổng cục Quản lý đất đai được sửa đổi, bổ sung, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất phương án kiện toàn cơ cấu tổ chức của Tổng cục như sau: Tiếp tục duy trì các tổ chức hành chính theo quy định tại Quyết định số 21/2014/QĐ-TTg. Tuy nhiên, Tổng cục không tiếp tục duy trì cơ sở đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh.
Đổi tên Trung tâm Điều tra, Đánh giá tài nguyên đất thành Trung tâm Điều tra và Quy hoạch đất đai; Trung tâm Ứng dụng và Phát triển công nghệ địa chính thành Trung tâm Phát triển và Chuyển giao công nghệ địa chính căn cứ Quyết định số 2283/QĐ-TTg ngày 25/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
Thành lập Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao công nghệ địa chính phía Nam trên cơ sở nâng cấp bộ phận trực thuộc Trung tâm Ứng dụng và Phát triển công nghệ địa chính đã và đang thực hiện nhiệm vụ về chuyển giao công nghệ địa chính tại các tỉnh phía Nam.
Giải thể Trung tâm Đào tạo và Truyền thông đất đai để thành lập trường Đào tạo bồi dưỡng cán bộ tài nguyên và môi trường và Trung tâm Truyền thông tài nguyên và môi trường trực thuộc Bộ căn cứ Quyết định số 2283/QĐ-TTg ngày 25/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. (Báo Chính Phủ 27/4) đầu trang(
TIÊU ĐIỂM
Hiện nay, một số Phòng thuộc Sở NN&PTNT tỉnh Thừa Thiên- Huế và Quảng Trị, số lượng lãnh đạo gấp 2-3 lần nhân viên.
Cụ thể, Phòng Kế hoạch - Tài chính (Sở NN&PTNT Thừa Thiên- Huế) có 8 biên chế thì có đến 5 người giữ vị trí lãnh đạo phòng (1 trưởng phòng, 4 phó phòng), 3 người còn lại là chuyên viên.
Tương tự, tại Phòng Tổ chức Cán bộ của Sở NN&PTNT Thừa Thiên- Huế, biên chế của phòng có 4 người thì có đến 3 người giữ vị trí lãnh đạo, gồm 1 trưởng phòng, 2 phó phòng. Còn tại Phòng Quản lý & Xây dựng Công trình, số lượng lãnh đạo và nhân viên của phòng là ngang bằng nhau (1 trưởng phòng, 2 phó phòng và 3 chuyên viên).
Phòng Kế hoạch- Tài chính (Sở NN&PTNT Quảng Trị) có 10 biên chế, nhưng có đến 6 lãnh đạo (1 trưởng phòng, 5 phó phòng). Cũng tại Quảng Trị, Phòng Giáo dục thường xuyên - Giáo dục chuyên nghiệp (Sở GD&ĐT Quảng Trị) có 5 biên chế nhưng có đến… 4 lãnh đạo, gồm: 1 trưởng phòng, 3 phó phòng và 1 chuyên viên.
Lãnh đạo các Sở này cho biết, việc các phòng trên có nhiều trưởng và phó phòng hơn nhân viên là do thực hiện sáp nhập các phòng lại. Khi sáp nhập thì các lãnh đạo phòng cũ vẫn làm lãnh đạo chứ không có lý do gì để đẩy họ xuống làm chuyên viên.
Theo lãnh đạo Sở GD&ĐT Quảng Trị, trước đây Phòng Giáo dục thường xuyên và Phòng Giáo dục chuyên nghiệp là 2 phòng riêng biệt, mỗi phòng có 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và 1 chuyên viên. Tháng 6/2016, 2 phòng này được sáp nhập với nhau nên dẫn đến Phòng Giáo dục thường xuyên - Giáo dục chuyên nghiệp có đến 3 phó phòng.
Trong khi đó, Sở NN&PTNT Quảng Trị được tỉnh sáp nhập từ 3 Sở Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy lợi vào tháng 7/1996. Đến năm 2008 tiếp tục sáp nhập thêm Sở Thủy sản. Sau khi sáp nhập, những người có chức vụ trưởng, phó phòng vẫn được giữ nguyên chức vụ nên xảy ra chuyện nhiều lãnh đạo trong một phòng.
“Việc Phòng thuộc Sở có nhiều lãnh đạo hơn chuyên viên là do sáp nhập các phòng cũ lại, chứ Sở không bổ nhiệm mới”- ông Võ Văn Hưng, Giám đốc Sở NN&PTNT Quảng Trị cho hay.
Liên quan đến vấn đề này, ông Bạch Chơn Đông, Phó Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Thừa Thiên - Huế cũng cho biết, việc một số phòng ở Sở NN&PTNT có lãnh đạo nhiều hơn nhân viên là do thời gian qua Sở này thực hiện sáp nhập các phòng lại. (Giao Thông 27/4) đầu trang(
QUẢN LÝ
Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình yêu cầu UBND thành phố Hà Nội kiểm tra nội dung phản ánh của báo điện tử Dân trí liên quan đến việc cho thuê đất mương thoát nước Phan Kế Bính, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Trước đó, ngày 12/4/2017 báo điện tử Dân trí có bài Chủ trương lập bãi đỗ xe hàng nghìn m2 bị "biến hóa" kỳ ảo ngay tại quận Ba Đình, phản ánh với nội dung: Năm 2008 UBND thành phố Hà Nội cho Công ty cổ phần Đa quốc gia thuê 6.078 m2 đất mương thoát nước Phan Kế Bính trên địa bàn phường Cống Vị, quận Ba Đình vối thời hạn 20 năm để "cống hóa", sử dụng làm bãi đỗ xe và dịch vụ phụ trợ nhưng một phần đất mương đã bị doanh nghiệp chuyển nhượng; trên diện tích đất mương thoát nước Phan Kế Bính hiện nay là nhà hàng sang trọng, trụ sở công ty kiên cố, quán bia ngang nhiên tồn tại.
Về việc này, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình yêu cầu UBND thành phố Hà Nội kiểm tra nội dung phản ánh của báo điện tử Dân trí; làm rõ cơ sở pháp luật cho thuê đất mương thoát nước Phan Kế Bính để sử dụng làm mặt bằng kinh doanh và các vi phạm pháp luật trong việc cho thuê đất, xây dựng trên đất mương thoát nước Phan Kế Bính, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 1/6/2017. (Tin Tức 27/4) đầu trang(
Để chuẩn bị cho Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV (dự kiến khai mạc vào ngày 22/5/2017, bế mạc ngày 20/6/2017), thay mặt Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình phân công các thành viên Chính phủ chuẩn bị một số báo cáo, tờ trình và các dự án luật.
Cụ thể, Phó Thủ tướng phân công Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016, tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội những tháng đầu năm 2017.
Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp chuẩn bị: Báo cáo giải trình, tiếp thu chỉnh lý dự thảo Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; Báo cáo giải trình, tiếp thu chỉnh lý dự thảo Luật quy hoạch.
Bộ trưởng Bộ Tài chính chuẩn bị báo cáo của Chính phủ về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch ngân sách nhà nước năm 2016, tình hình thực hiện kế hoạch ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2017; tờ trình của Chính phủ về việc phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2015; Dự án Luật quản lý nợ công (sửa đổi); Báo cáo của Chính phủ về việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; Báo cáo của Chính phủ về công tác thực hành, tiết kiệm, chống lãng phí.
Bộ trưởng Bộ Tài chính phối hợp chuẩn bị Báo cáo giải trình, tiếp thu chỉnh lý dự thảo Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (sửa đổi).
Bộ trưởng Bộ Công an phối hợp chuẩn bị: Dự án Luật cảnh vệ; Dự án Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp chuẩn bị: Tờ trình về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2018; Báo cáo giải trình, tiếp thu chỉnh lý dự thảo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi); Báo cáo giải trình, tiếp thu chỉnh lý dự thảo Luật trợ giúp pháp lý (sửa đổi); Báo cáo giải trình, tiếp thu chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13.
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao chuẩn bị: Báo cáo của Chính phủ về việc phê chuẩn Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào về việc sửa đổi điểm khởi đầu của đường biên giới quốc gia Việt Nam - Lào; Báo cáo của Chính phủ về việc phê chuẩn Nghị định thư về đường biên giới và mốc quốc giới giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ về công tác bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chuẩn bị Dự án Luật bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) và Dự án Luật thủy sản (sửa đổi); đồng thời, phối hợp chuẩn bị Báo cáo giải trình, tiếp thu chỉnh lý dự thảo Luật thủy lợi.
Bộ trưởng Bộ Công Thương phối hợp chuẩn bị Báo cáo giải trình, tiếp thu chỉnh lý dự thảo Luật quản lý ngoại thương.
Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải phối hợp chuẩn bị Báo cáo giải trình, tiếp thu chỉnh lý dự thảo Luật đường sắt (sửa đổi).
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp chuẩn bị Báo cáo giải trình, tiếp thu chỉnh lý dự thảo Luật chuyển giao công nghệ (sửa đổi).
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp chuẩn bị Báo cáo giải trình, tiếp thu chỉnh lý dự thảo Luật du lịch (sửa đổi).
Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chuẩn bị: Báo cáo của Chính phủ về việc thực hiện bảo hiểm xã hội, quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội; Báo cáo của Chính phủ về việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.
Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Công Thương chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ về việc việc thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2011 - 2016.
Tổng Thanh tra Chính phủ chuẩn bị Dự án Luật tố cáo (sửa đổi).
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chuẩn bị Tờ trình của Chính phủ về dự thảo Nghị quyết về xử lý nợ xấu.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2016; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2017. (Đầu Tư 27/4) đầu trang(
Nâng cao tiềm lực khoa học cơ bản trong 4 lĩnh vực: Hóa học, Khoa học sự sống, Khoa học trái đất và Khoa học biển; phấn đấu đưa vị thế của khoa học Việt Nam đến năm 2025 đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, nghiên cứu có định hướng để tiếp thu, làm chủ các công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực để phục vụ phát triển kinh tế xã hội và góp phần đảm bảo quốc phòng an ninh quốc gia.
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Chương trình phát triển khoa học cơ bản trong lĩnh vực Hóa học, Khoa học sự sống, Khoa học trái đất và Khoa học biển giai đoạn 2017 - 2025.
Mục tiêu cụ thể của Chương trình là xây dựng được đội ngũ các nhà khoa học có trình độ cao, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực theo chuẩn quốc tế. Phát triển các nhóm nghiên cứu trẻ có tiềm năng trong các cơ sở giáo dục đại học, góp phần hình thành các trường đại học nghiên cứu, phấn đấu đến năm 2025 mỗi lĩnh vực hình thành 15 - 20 nhóm nghiên cứu mạnh.
Bên cạnh đó, nâng cao vị thế của khoa học Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, phấn đấu đến năm 2025, một số ngành đứng thứ 3 - 4 trong trong khối các nước ASEAN. Tăng số công trình khoa học được công bố trên các tạp chí uy tín quốc tế (Danh mục thuộc cơ sở dữ liệu SCOPUS), trung bình hằng năm tăng 20 – 25%, đối với ngành Khoa học biển từ 10 - 15%.
Nhiệm vụ và giải tháp thực hiện Chương trình là xác định định hướng ưu tiên cho nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng của 04 lĩnh vực khoa học cơ bản đến năm 2025, tầm nhìn đến 2030, bao gồm những hướng chủ yếu: Lĩnh vực Hóa học (Hóa hữu cơ; hóa dược; hóa vô cơ; hóa lý thuyết và hóa lý; hóa Polyme và vật liệu; hóa phân tích); lĩnh vực Khoa học sự sống (nghiên cứu sự sống ở mức độ phân tử; nghiên cứu sự sống ở mức độ mô, tế bào; nghiên cứu sự sống ở mức độ cơ thể; nghiên cứu sự sống ở mức độ quần thể và sinh thái); lĩnh vực Khoa học trái đất (địa chất; địa vật lý và vật lý địa cầu; địa lý; khí tượng, khí hậu; thủy văn và tài nguyên nước); lĩnh vực Khoa học biển (hải dương học và tương tác biển - khí quyển - lục địa; hóa học biển; sinh học và sinh thái biển; địa lý, địa chất, địa vật lý biển; cơ học và công trình biển).
Nhà nước đặt hàng các nhiệm vụ cấp quốc gia theo những hướng nghiên cứu ưu tiên cho các tổ chức khoa học công nghệ chuyên ngành, hướng đến các sản phẩm ứng dụng trong sản xuất và đời sống.
Nâng cao năng lực nghiên cứu cơ bản của các cơ sở giáo dục đại học (trường đại học, viện nghiên cứu có đào tạo trình độ tiến sỹ). Cụ thể, đầu tư các phòng thí nghiệm khoa học cơ bản trọng điểm cấp bộ ngành trong từng lĩnh vực, tổ chức và triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản cho các tiến sỹ trẻ, các nhiệm vụ nghiên cứu tiềm năng, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh gắn với các phòng thí nghiệm nêu trên. Có hình thức khen thưởng học sinh, sinh viên đạt giải tại các cuộc thi quốc gia và quốc tế.
Đẩy mạnh triển khai việc đào tạo nguồn nhân lực sau đại học (thạc sỹ, tiến sỹ) trong một số Chương trình đào tạo đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Đề án đào tạo giảng viên có trình độ tiến sỹ cho các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2010 - 2020 theo Quyết định số 911/QĐ-TTg ngày 17/6/2010; Đề án đào tạo cán bộ ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước giai đoạn 2013 - 2020 theo Quyết định số 599/QĐ-TTg ngày 17/4/2013), đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia theo nhóm, sau tiến sỹ (Đề án đào tạo, bồi dưỡng nhân lực khoa học và công nghệ ở trong nước và nước ngoài bằng ngân sách nhà nước theo Quyết định số 2395/QĐ-TTg ngày 25/12/2015) và thông qua các nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp, thông qua hợp tác quốc tế.
Thực hiện việc thưởng cho các nhà khoa học đã công bố bài báo quốc tế trong nghiên cứu cơ bản (ISI, SCI, SCIE); hỗ trợ kinh phí tham gia các hội thảo, hội nghị khoa học trong nước và quốc tế thuộc lĩnh vực theo quy định tại Nghị định số 99/2014/NĐ-CP ngày 25/10/2014 về đầu tư phát triển tiềm lực và khuyến khích hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học.
Đầu tư các phòng thí nghiệm khoa học cơ bản ở các cơ sở giáo dục đại học. Đầu tư một số trang thiết bị lớn, hiện đại, đặc thù có cơ chế sử dụng chung, các trạm quan trắc, xử lý số liệu ở các viện chuyên ngành. Có phương án đầu tư và thuê tàu nghiên cứu về khoa học biển.
Nhiệm vụ và giải pháp khác là Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia ưu tiên, tăng cường tài trợ nghiên cứu khoa học cơ bản trong các lĩnh vực Hóa học, Khoa học sự sống, Khoa học trái đất và Khoa học biển thông qua các Hội đồng chuyên ngành theo 04 lĩnh vực nêu trên.
Tăng cường hợp tác quốc tế, cụ thể, hợp tác song phương (Quỹ nghiên cứu cơ bản Liên bang Nga,…) và các quốc gia có nền khoa học cơ bản tiên tiến khác ở Đông Á, EU, Bắc Mỹ; hợp tác đa phương, trong đó tập trung các chương trình của UNESCO như: Chương trình nghiên cứu cơ bản quốc tế (IBSP); Chương trình Con người và Sinh quyển (MAB), Chương trình Hải dương học liên chính phủ (IOC), Chương trình Thủy văn quốc tế (IHP), Chương trình khoa học Địa chất quốc tế và công viên Địa chất toàn cầu (IGGP)… và các kênh hợp tác quốc tế khác có liên quan.
Lồng ghép các nhiệm vụ và giải pháp của Chương trình với các chương trình đào tạo nhân lực trình độ cao, các chương trình khoa học công nghệ cấp quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; các chương trình, nhiệm vụ về Bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 1671/QĐ-TTg ngày 28/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ), về Quy hoạch mạng lưới các viện, trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm về công nghệ sinh học đến năm 2025 (Quyết định số 1670/QĐ-TTg ngày 28/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ). (Báo Chính Phủ 27/4) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Công Thương.
Cụ thể, Danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước của Bộ Công Thương thực hiện theo hình thức giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu gồm: Danh mục dịch vụ sự nghiệp công thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ; danh mục dịch vụ sự nghiệp công thuộc lĩnh vực đào tạo; danh mục dịch vụ sự nghiệp công thuộc lĩnh vực kinh tế, sự nghiệp khác; danh mục dịch vụ sự nghiệp công thuộc lĩnh vực y tế.
Trong đó, danh mục dịch vụ sự nghiệp công thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ gồm: Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; hoạt động khoa học và công nghệ.
Danh mục dịch vụ sự nghiệp công thuộc lĩnh vực đào tạo gồm: Nhóm dịch vụ giáo dục nghề nghiệp; nhóm dịch vụ giáo dục đại học; nhóm dịch vụ giáo dục thường xuyên; dịch vụ biên soạn chương trình, giáo trình, định mức, tiêu chuẩn chất lượng đào tạo;...
Thực hiện đánh giá môi trường lao động; giám sát quan trắc môi trường lao động trong ngành công thương; tham gia xử lý các tình huống cấp cứu do các yếu tố độc hại, tai nạn nghề nghiệp trong ngành; tổ chức khám, phát hiện bệnh nghề nghiệp và tham gia đánh giá tình trạng bệnh nghề nghiệp trong ngành công thương; nghiên cứu xác định tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp và lập danh mục bệnh nghề nghiệp đặc thù của ngành Công Thương;... thuộc Danh mục dịch vụ sự nghiệp công thuộc lĩnh vực y tế. (Báo Chính Phủ 27/4) đầu trang(
Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ vừa có ý kiến chỉ đạo về việc lựa chọn nhà thầu xây dựng Đề án "Liên kết phát triển bền vững Tiểu vùng Đồng Tháp Mười".
Phó Thủ tướng giao UBND tỉnh Đồng Tháp thực hiện theo đúng quy định của Luật đấu thầu. Trường hợp gói thầu trên xuất hiện các điều kiện đặc thù, riêng biệt theo quy định tại Điều 26 của Luật đấu thầu, UBND tỉnh Đồng Tháp lập phương án lựa chọn nhà thầu, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Tiểu vùng Đồng Tháp Mười là vùng đất ngập nước của vùng Đồng bằng sông Cửu Long với diện tích tự nhiên khoảng 697.000ha, chiếm 17,7% diện tích tự nhiên của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, trải rộng trên 19 huyện, thị xã, thành phố và 7 xã thuộc 3 tỉnh Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang. Tiểu vùng này có diện tích đất canh tác khoảng 35.000ha/năm, lúa là cây trồng chủ lực của vùng, cho sản lượng hàng năm khoảng trên 3 triệu tấn, đóng góp khoảng 20% lượng gạo xuất khẩu ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Mục tiêu của Đề án "Liên kết phát triển bền vững Tiểu vùng Đồng Tháp Mười" nhằm xây dựng và phát triển tiểu vùng Đồng Tháp Mười thành vùng trọng điểm quốc gia về sản xuất nông nghiệp trong điều kiện biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế. Nội dung liên kết xoay quanh 3 lĩnh vực gồm: phát triển chuỗi giá trị các mặt hàng nông nghiệp; xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng giao thông, thuỷ lợi liên vùng; quản lý tài nguyên nước, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển công nghiệp, thương mại dịch vụ. (Pháp Luật Và Xã Hội 27/4) đầu trang(
NHÂN SỰ MỚI
Lãnh đạo Chính phủ vừa ký quyết định liên quan đến công tác nhân sự Ban Chỉ đạo 389 quốc gia; Viện trưởng VKSNDTC, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An vừa quyết định bổ nhiệm nhân sự một số cơ quan, đơn vị trực thuộc.
Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban Chỉ đạo 389 quốc gia) vừa ký quyết định sửa đổi, bổ sung Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo này.
Theo quyết định, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo gồm: Ông Đinh Tiến Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính (thường trực); ông Trần Tuấn Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Công Thương; ông Lê Quý Vương, Ủy viên Trung ương Đảng, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an; ông Lê Chiêm, Ủy viên Trung ương Đảng, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Ủy viên Ban Chỉ đạo là lãnh đạo một số cơ quan liên quan.
Ngày 27/4, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức trao quyết định của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao bổ nhiệm 13 Kiểm sát viên Trung cấp và 17 Kiểm sát viên Sơ cấp thuộc Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Chiều 25/4, Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Lê Quốc Phong đã trao quyết định bổ nhiệm chức danh Tổng Biên tập Báo Nhi Đồng cho ông Nguyễn Phan Khuê - Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ Trung ương Đoàn, Phó Tổng Biên tập phụ trách Báo Nhi Đồng
Ngày 26/4, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An Huỳnh Thanh Điền đã trao Quyết định số1516/QĐ-UBND ngày 17/4/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tỉnh bổ nhiệm ông Nguyễn Hữu An, Phó Trưởng phòng Công nghiệp, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh giữ chức vụ Phó Giám đốc Sở Giao thông vận tải tỉnh Nghệ An. (Báo Chính Phủ 27/4) đầu trang(
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhấn mạnh: Quan điểm phòng chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước là xuyên suốt, không có vùng an toàn nào, bất khả xâm phạm nào dành cho những đối tượng tham nhũng.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thông báo những nội dung chính dự kiến trong chương trình Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV, ghi nhận và trao đổi những vấn đề cử tri quan tâm.
Các cử tri huyện Phong Điền đã nêu nhiều ý kiến về các vấn đề như: Bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, công tác phòng chống tham nhũng, đầu tư chế biến vùng sản xuất cây ăn trái, giải pháp giảm thiểu tai nạn giao thông, công tác đền ơn đáp nghĩa...
Tiếp tục chương trình làm việc tại Cần Thơ, chiều 27/4, tại xã Nhơn Ái, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cùng các đại biểu Quốc hội thuộc Đơn vị bầu cử số 1 TP Cần Thơ đã tiếp xúc cử tri một số xã của huyện Phong Điền.
Sau khi nghe đại diện lãnh đạo huyện Phong Điền, lãnh đạo TP Cần Thơ tiếp thu, giải trình những vấn đề cụ thể liên quan đến những kiến nghị của người dân địa phương, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân tiếp thu và trả lời các ý kiến cử tri huyện Phong Điền.
Trả lời ý kiến cử tri Phạm Minh Thạnh, xã Nhơn Ái về công tác phòng chống tham nhũng, Chủ tịch Quốc hội cho biết, Quốc hội đã sửa đổi Luật phòng chống tham nhũng. Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm đến công tác này. Thời gian qua, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã trực tiếp chỉ đạo, đưa ra ánh sáng một số vụ án tham nhũng như vụ Trịnh Xuân Thanh, các vụ án liên quan đến ngân hàng... Năm 2017 có 12 vụ án được chỉ đạo làm rõ và báo cáo công khai. Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, quan điểm phòng chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước là xuyên suốt, không có vùng an toàn nào, bất khả xâm phạm nào dành cho những đối tượng tham nhũng.
Về vấn đề hàng giả, hàng kém chất lượng, Chủ tịch Quốc hội cho biết, kỳ họp nào của Quốc hội cũng bàn về những vấn đề này tại các phiên thảo luận về kinh tế - xã hội và có chuyên đề giám sát về hàng giả, hàng kém chất lượng. Quốc hội đã ra nghị quyết và giao Chính phủ tăng cường công tác quản lý nhà nước, nhất là vấn đề hàng giả, hàng kém chất lượng trong lĩnh vực vật tư nông nghiệp.
Trả lời ý kiến của cử tri Lý Quốc Vinh, xã Nhơn Ái về tình trạng người chăn nuôi bị thiệt hại do cung vượt quá nhu cầu về thịt lợn, Chủ tịch Quốc hội cho biết, do cung đã vượt quá nhu cầu, giá thành 1 kg lợn hơi cao hơn giá bán ra. Người sản xuất bị thua lỗ. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang có giải pháp thúc đẩy chế biến. Nguyên nhân của tình trạng này là do chưa làm tốt công tác dự báo thị trường để định hướng sản xuất. Do đó, trong sản xuất nông nghiệp, cơ quan chức năng cần làm tốt hơn công tác dự báo xu hướng, từ đó đưa ra chính sách phù hợp. Và người sản xuất không nên "chạy" quá nhu cầu của thị trường.
Cùng chủ đề này, cử tri Bùi Hữu Hớn nêu ý kiến, Nhà nước cần quan tâm đến khắc phục tình trạng "được mùa rớt giá" ở vùng sản xuất cây ăn trái Nhơn Ái nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Ghi nhận ý kiến cử tri, Chủ tịch Quốc hội cho biết sẽ chuyển ý kiến này tới cơ quan chức năng và cho rằng đây là quy luật kinh tế thị trường khi tình trạng “cung đã vượt cầu”. Nhấn mạnh biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu, Chủ tịch Quốc hội nêu rõ, về giải pháp xây dựng nhà máy chế biến mà cử tri đưa ra, cần phải được tính toán thật kỹ về hiệu quả kinh tế.
Cử tri Phạm Văn Vẹn, xã Tân Thới, huyện Phong Điền nêu ý kiến giải pháp ngăn chặn tình trạng chất phụ gia thực phẩm không rõ nguồn gốc, làm tốt hơn công tác vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay, Chủ tịch Quốc hội cho biết, tại Kỳ họp thứ 3 sắp tới, Quốc hội sẽ thực hiện giám sát tối cao về chương trình này, từ đó sẽ ra nghị quyết, giao các bộ, ngành hữu quan chịu trách nhiệm trong công tác kiểm tra, giám sát, quản lý chuyên môn. Trong đó, Bộ Y tế là cơ quan chủ trì phối hợp. (Tin Tức 27/4) đầu trang(
Đà Nẵng là thành phố đáng sống vì có môi trường sống tốt và cũng là thành phố năng động vào tốp bậc nhất của cả nước. Đó là kết quả phấn đấu của Đảng bộ, chính quyền và toàn thể nhân dân Đà Nẵng.
Tuy nhiên, vài năm lại đây, nhiều người giật mình khi Đà Nẵng có nhiều sai phạm liên quan đến đất đai, xây dựng làm thất thu ngân sách 3.434 tỷ đồng, trong đó chưa thể thu hồi hơn 2.300 tỷ đồng. Đây là kết luận của Thanh tra Chính phủ (TTCP) vào năm 2012 khi tiến hành thanh tra trách nhiệm lãnh đạo Đà Nẵng trong việc chấp hành pháp luật về thanh tra, khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng và một số dự án liên quan đến quản lý, sử dụng đất.
Kết luận thanh tra chỉ rõ: UBND TP Đà Nẵng đã giao đất cho một số dự án không qua đấu giá, có nhiều sai phạm trong quản lý quỹ đất, chuyển quyền sử dụng đất dẫn đến việc nhiều nhà đầu tư sau khi được giao đất đã không triển khai mà lại chuyển đổi cho đối tượng khác thu chênh lệch kếch xù. Có những vụ chuyển nhượng gây thất thu ngân sách cả trăm tỉ đồng như Công ty TNHH Phúc Thiên Long, bà Phạm Thị Đông…
Nhìn lại quá trình thực hiện kết luận thanh tra: Năm 2012, TTCP ban hành kết luận thanh tra nhưng Đà Nẵng đã không nghiêm túc thực hiện nên năm 2015, TTCP có văn bản báo cáo Thủ tướng và Thủ tướng có văn bản chỉ đạo yêu cầu Đà Nẵng nghiêm túc thực hiện kết luận thanh tra, báo cáo Thủ tướng vào tháng 5/2016.
Dường như Đà Nẵng vẫn “bỏ ngoài tai”, phải mãi đến 30/3/2017 mới có báo cáo về việc thực hiện kết luận, đồng thời nêu lý do chậm thực hiện là doanh nghiệp, chủ dự án kêu khó khăn nên đề xuất không thu thêm tiền sử dụng đất… Đáp lại, Thủ tướng Chính phủ khẳng định, Đà Nẵng phải nghiêm túc thực hiện kết luận của TTCP.
Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, Vụ Giám sát Thẩm định và Xử lý sau thanh tra (TTCP) đã thường xuyên theo dõi, bám sát trong việc Đà Nẵng xử lý, khắc phục hậu quả. Có điều, cho đến thời điểm này, Đà Nẵng vẫn tiếp tục chây ì.
Theo đánh giá nhận xét của nhiều cán bộ quản lý, doanh nghiệp và cả người dân, Đà Nẵng là thành phố năng động, có môi trường sống lành mạnh, là kết quả của toàn dân. Tuy nhiên, khoản tiền thất thoát hàng nghìn tỷ đồng đã “chảy” vào túi một số cá nhân, tập thể mà ta vẫn quen gọi là lợi ích nhóm ở Đà Nẵng, nếu được thu về đầy đủ, đồng nghĩa với việc Đà Nẵng có thêm phần ngân sách để tái đầu tư cho diện mạo thành phố hiện đại hơn.
Ở khía cạnh khác, sự năng động táo bạo quyết đoán của lãnh đạo Đà Nẵng ở giai đoạn được thanh tra cũng cần xem xét lại từ nhiều góc độ đa chiều. Việc lãnh đạo giao đất đẹp cho nhiều chủ dự án không thông qua đấu thầu là cố ý làm trái các quy định về Luật Đất đai và đầu tư xây dựng. Sai phạm chưa dừng lại ở đó, doanh nghiệp được giao đất nhưng lại không thực hiện dự án mà đem bán đi để kiếm lời cả trăm tỉ đồng, thế nhưng vẫn không bị xử lý sai phạm đúng mực. Rõ ràng, có điều gì đó không bình thường! Nếu chúng ta không quy trách nhiệm cho người đứng đầu, thì mọi giải pháp chống tham nhũng vẫn chưa đi đến hồi kết. Mặt khác, quản lý đất đai kiểu ấy thì không thể đánh giá cán bộ Đà Nẵng là năng động được.
Chây ì thực hiện kết luận thanh tra ở Đà Nẵng là bài học lớn cho nhiều tỉnh, thành trong cả nước. Trước hết là bài học ngăn chặn từ xa dấu hiệu của lợi ích nhóm. Nghiêm túc thực hiện các quy định pháp luật ở mọi lĩnh vực. Truy cứu trách nhiệm của người đứng đầu đối với các sai phạm có liên quan; không nể nang, không xem sai phạm là việc đã rồi mà những người lãnh đạo kế nhiệm phải kiên quyết xử lý, truy thu các nguồn tiền bị thất thoát… Nếu thế hệ lãnh đạo Đà Nẵng hiện tại thực hiện được những nhiệm vụ trên thì Đà Nẵng có thêm một môi trường địa - chính trị hấp dẫn đầu tư đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước. (Thanh Tra 28/4) đầu trang(
Theo Chương trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí giai đoạn 2016 - 2020 vừa được UBND thành phố Hà Nội ban hành, trong lĩnh vực cải cách hành chính và nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước, thành phố đặt mục tiêu xây dựng phong cách làm việc của bộ máy chính quyền các cấp theo hướng phục vụ, thân thiện, chuyên nghiệp; xây dựng chính quyền điện tử, bảo đảm hơn 80% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và mức 4.
Đáng chú ý, Hà Nội đặt mục tiêu tỷ lệ kê khai thuế qua mạng và nộp thuế điện tử đạt tối thiểu 95%; rút ngắn thời gian khởi sự kinh doanh, nâng tỷ lệ hồ sơ đăng ký kinh doanh qua mạng lên hơn 50%, thời gian đăng ký kinh doanh tối đa là hai ngày.
Lãnh đạo Cục Thuế TP Hà Nội cho biết, những năm gần đây, việc khai thuế qua mạng và nộp thuế điện tử tại Hà Nội đã mang lại những kết quả tích cực, tạo điểm nhấn trong quá trình cải cách hành chính thuế, rút ngắn thời gian. Tới đây, Cục Thuế thành phố tiếp tục rà soát, cắt giảm một số chỉ tiêu không cần thiết, hoặc bị trùng lắp trong quá trình khai và nộp thuế. "Nếu làm được điều này, thời gian nộp thuế sẽ tiếp tục giảm so với hiện nay", lãnh đạo Cục Thuế TP Hà Nội nhấn mạnh, đồng thời cho biết thêm, sẽ tiếp tục thí điểm hoàn thuế điện tử. Việc thí điểm hoàn thuế điện tử đã tạo một bước cải cách lớn theo tinh thần Nghị quyết 19, đó là ứng dụng công nghệ thông tin ở cấp độ 4.
Theo ông Nguyễn Thế Mạnh, Cục trưởng Cục Thuế TP Hà Nội, sau ba năm thực hiện Nghị quyết 19 của Chính phủ (từ 2014-2016), môi trường kinh doanh của Hà Nội đã được cải thiện rất rõ nét. Chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Hà Nội đã tăng 10 bậc so với trước khi thực hiện Nghị quyết 19. “Có được kết quả trên, Cục Thuế TP Hà Nội góp phần quan trọng vào công tác cải cách thủ tục hành chính về thuế, thể hiện trên các mặt như: Công khai, minh bạch về thủ tục hành chính; đề xuất với các cấp chính quyền sửa đổi, bổ sung những chính sách thuế, phí và lệ phí; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin ở cấp độ 3 và cấp độ 4…”, Cục trưởng Nguyễn Thế Mạnh nói.
Trong kết quả khảo sát “Đánh giá cải cách thủ tục hành chính thuế và mức độ hài lòng của doanh nghiệp năm 2016” do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam mới công bố cho thấy, trong 3.500 doanh nghiệp được khảo sát, có 75% số doanh nghiệp bày tỏ hài lòng về cải cách hành chính thuế, nhất là những chuyển biến trong khả năng tiếp nhận thông tin, tìm hiểu thông tin pháp luật, doanh nghiệp có nhiều thuận lợi trong thực hiện thủ tục hành chính thuế và việc áp dụng thủ tục thuế điện tử.
Chẳng hạn, tại Chi cục Thuế quận Đống Đa, hiện nay, tất cả doanh nghiệp đăng ký kê khai thuế qua mạng; 95% số doanh nghiệp đăng ký nộp thuế điện tử, tỷ lệ chứng từ nộp thuế điện tử khoảng 80%, tỷ lệ tiền thuế nộp điện tử đạt khoảng 85%. Ông Lê Quang Hùng, Chi cục trưởng Chi cục Thuế quận Đống Đa cho biết, đến ngày 21-4, đã có 11.390 doanh nghiệp kê khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp và nộp báo cáo tài chính, đạt 95%, bằng 104 % so với cùng kỳ. Số người nộp thuế kê khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân là 10.031 người, đạt 97,5%, bằng 106 % so với cùng kỳ.
Có thể nói, những cải cách mà Cục Thuế TP Hà Nội triển khai trong những năm qua đã mang lại nhiều lợi ích cho người nộp thuế, được cộng đồng doanh nghiệp, xã hội đánh giá cao. (Nhân Dân 27/4) đầu trang(
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Có tới 93% doanh nghiệp ghi nhận có chuyển biến tích cực trong cải cách thủ tục hải quan, tỷ lê các doanh nghiệp FDI đánh giá đạt tới 96%.
Tại Hội thảo công bố Báo cáo đánh giá cải cách thủ tục hành chính hải quan - Mức độ hài lòng của doanh nghiệp năm 2016 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phối hợp với Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính tổ chức ngày 26/4, kết quả khảo sát cho thấy, vẫn có 31% doanh nghiệp có chi trả chi phí không chính thức trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính hải quan. Tuy nhiên, báo cáo cũng ghi nhận mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với những chuyển biến tích cực trong cải cách thủ tục hành chính của ngành hải quan.
Theo Báo cáo đánh giá cải cách hành chính hải quan năm 2016 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thực hiện, có tới 97% doanh nghiệp được khảo sát đánh giá tích cực về các phương thức tiếp cận thông tin về thủ tục hành chính hải quan. Tuy nhiên, vẫn có không ít doanh nghiệp phàn nàn về chính sách hải quan có nhiều thay đổi và doanh nghiệp thường bị động về thông tin chính sách mới.
Khảo sát năm 2016 tiếp tục đề nghị các doanh nghiệp đánh giá về sự chuyển biến của pháp luật về hải quan trong 5 năm qua. Theo đó, có tới 93% doanh nghiệp ghi nhận có chuyển biến tích cực, trong đó tỷ lệ đánh giá tích cực trong các doanh nghiệp FDI đạt cao nhất 96%.
Tỷ lệ doanh nghiệp hài lòng đối với kết quả phản hồi của cơ quan hải quan về các vướng mắc đã có sự cải thiện so với năm 2015 và vẫn được duy trì ở mức cao. Các thủ tục hành chính đều được đánh giá là không quá khó để thực hiện, ngoại trừ một số thủ tục vẫn bị đánh giá khó thực hiện như thủ tục hoàn thuế, giải quyết khiếu nại.
Theo khảo sát, vẫn có 31% doanh nghiệp có chi trả chi phí không chính thức trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính hải quan, 31% doanh nghiệp trả lời không biết và 38% doanh nghiệp cho biết không chi trả. So với năm 2015, tỷ lệ chi trả chi phí không chính thức đã tăng từ 28% lên 31%.
Theo các doanh nghiệp tham gia khảo sát, ngành hải quan cần tiếp tục nhiều cải cách hơn nữa trong một số lĩnh vực: Tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng cung cấp thông tin, tăng cường quan hệ đối tác doanh nghiệp – hải quan.
Có 50% số doanh nghiệp đề xuất ngành hải quan cần tiếp tục tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và 46% mong muốn tiếp tục đẩy mạnh công khai, minh bạch trong thực hiện thủ tục hải quan cho doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, cũng có 37% doanh nghiệp đề nghị nâng cao kỷ cương, kỷ luật và năng lực giải quyết công việc của cán bộ hải quan, 35% doanh nghiệp đề nghị cơ quan hải quan tiếp tục cải thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ doanh nghiệp tìm hiểu và làm thủ tục hải quan.
Ông Nguyễn Tương, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam cho biết, Tổng cục Hải quan hiện nay đang lấy ý kiến doanh nghiệp trong việc sửa đổi Thông tư 38/2015. Vì vậy trong Thông tư và Nghị định cần đơn giản hóa các thủ tục giấy tờ khai báo cho doanh nghiệp gắn với việc áp dụng công nghệ thông tin càng nhiều càng tốt với thủ tục khai báo hải quan, giảm thiểu yêu cầu về giấy tờ.
“Chúng tôi rất quan tâm đến vấn đề về kết hợp giữa hải quan và kiểm tra chuyên ngành. Đề nghị ngành hải quan đi đầu trong việc thúc đẩy các ngành cải cách thủ tục liên quan đến thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu và đồng thời tăng cường việc kiểm tra sau thông quan và gia tăng phân định doanh nghiệp tuân thủ”, ông Tương mong muốn. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 28/4) đầu trang(
Cục Viễn thông đã ứng dụng thực hiện dịch vụ công mức độ 3 quy trình cấp giấy phép nhập khẩu thiết bị phát, thu phát sóng vô tuyến điện kết nối với Tổng cục Hải quan và Cổng Dịch vụ công của Bộ TT&TT.
Theo trang MIC, mới đây, Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Thành Hưng đã làm việc với Cục Viễn thông về việc triển khai ứng dụng CNTT. Qua báo cáo của Cục Viễn thông cho thấy, Cục đã chủ động tích cực bám sát kế hoạch ứng dụng CNTT của Bộ TT&TT, bám sát các chỉ đạo của lãnh đạo Bộ, xây dựng triển khai kế hoạch ứng dụng CNTT.
Cục Viễn thông đã nghiên cứu, xây dựng và ban hành các quy chế, quy định để tạo lập môi trường pháp lý, cơ chế phối hợp nội bộ nhằm tạo thuận lợi cho việc triển khai ứng dụng CNTT sâu rộng trong các hoạt động của Cục (từ công tác quản lý, chỉ đạo điều hành cho đến các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ). Cục Viễn thông đã chú trọng đầu tư hạ tầng kỹ thuật, cơ sở dữ liệu tạo nền tảng cho việc xây dựng và phát triển các hệ thống kỹ thuật CNTT phục vụ cho việc triển khai ứng dụng CNTT của Cục.
Về cơ bản, cơ sở hạ tầng kỹ thuật CNTT của Cục hiện đại đảm bảo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Cục và Bộ TT&TT giao, thể hiện ở việc Cục Viễn thông đã xây dựng, quản lý và vận hành Trung tâm dữ liệu đáp ứng tiêu chuẩn Tier 2 (năm 2018 là Tier 3). Đã tổ chức và có bộ máy chuyên trách về CNTT để triển khai thúc đẩy ứng dụng CNTT và quản lý vận hành hạ tầng kỹ thuật CNTT của Cục. Ứng dụng CNTT của Cục Viễn thông đã tạo môi trường làm việc điện tử, tăng năng suất làm việc và hiệu quả công tác, đáp ứng công tác quản lý nhà nước về viễn thông, phục vụ cho người dân và doanh nghiệp...
Cục Viễn thông cũng gặp một số vướng mắc trong việc triển khai về nhân lực còn hạn chế, kết nối tích hợp các hệ thống dùng chung tại Bộ TT&TT như thông tin trên Cổng, văn bản pháp luật, triển khai các dịch vụ công mức độ 3, 4, kết nối hạ tầng dùng dung...
Tại buổi làm việc Cục Viễn thông đã trình diễn cho Đoàn xem việc ứng dụng thực hiện dịch vụ công mức độ 3 Quy trình cấp giấy phép nhập khẩu thiết bị phát, thu phát sóng vô tuyến điện kết nối với Tổng cục Hải quan và Cổng Dịch vụ công của Bộ TT&TT.
Phát biểu tại buổi làm việc, Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Thành Hưng đánh giá cao việc Cục Viễn thông đã chú trọng trong việc đầu tư xây dựng hạ tầng hiện đại và có năng lực mạnh nhất trong các cơ quan Bộ TT&TT phục vụ công tác chuyên môn của Cục và hỗ trợ các đơn vị thuộc Bộ trong việc sử dụng hạ tầng dùng chung tại Cục. Cục đã chủ động đưa ứng dụng CNTT gắn kết với cải cách hành chính. Các ứng dụng nội bộ của Cục triển khai tương đối tốt và toàn diện góp phần quan trọng trong việc chỉ đạo điều hành tại Cục.
Sau khi nghe các đơn vị trao đổi, bàn các biện pháp tháo gỡ khó khăn từ kiến nghị của Cục Viễn thông, Thứ trưởng Nguyễn Thành Hưng chỉ đạo Cục Viễn thông cần đẩy mạnh tăng cường xây dựng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 tích hợp trên Cổng Dịch vụ công của Bộ; Cục phối hợp với đơn vị liên quan như Cục Tần số, Cục Tin học hóa, Trung tâm Thông tin kết nối liên thông các cơ sở dữ liệu dùng chung đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả dữ liệu trong Bộ.
Cục Viễn thông cần phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai xây dựng mạng WAN nối 3 điểm Trụ sở Cục Viễn thông, Trụ sở Bộ và Trụ sở Cục Tần số Vô tuyến điện. Văn phòng Bộ nghiên cứu hệ thống quản lý tài sản Cục Viễn thông xem xét áp dụng tại Văn phòng Bộ. Trung tâm Thông tin là đơn vị chuyên trách ứng dụng CNTT tại Bộ có buổi làm việc với Cục Viễn thông triển khai tháo gỡ các khó khăn vướng mắc của Cục Viễn thông về tích hợp hệ thống dùng chung báo cáo Lãnh đạo Bộ.
Thứ trưởng cũng chỉ đạo chung các đơn vị: Cục An toàn Thông tin và VNCERT làm việc với Cục Tần số Vô tuyến điện và Cục Viễn thông về chuyên đề an toàn thông tin rà quét lỗ hổng, đào tạo cán bộ chuyên trách an toàn thông tin, hướng dẫn Cục Tần số Vô tuyến điện và Cục Viễn thông Vô tuyến điện về mức độ an toàn thông tin đưa ra phương án đảm bảo an toàn, an ninh cho hệ thống của Cục Tần số vô tuyến điện và Cục Viễn thông.
Thứ trưởng giao Cục Tin học hóa làm việc với Cục Tần số và Cục Viễn thông, hướng dẫn Cục Tần số Vô tuyến điện và Cục Viễn thông xây dựng các tiêu chí cụ thể, phấn đấu xây dựng lộ trình đưa Cục Tần số Vô tuyến điện và Cục Viễn thông thành Cục điện tử để các đơn vị khác học tập. (ICT News 27/4) đầu trang(
KINH TẾ
Theo Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu quý I của cả nước ước đạt 43,73 tỷ USD, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó nhóm công nghiệp chế biến đóng góp tới 35,08 tỷ USD (tăng 12,5% so với cùng kỳ).
Đặc biệt, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực (trung bình trên 1 tỷ USD/tháng) đều tăng cao như: máy vi tính, sản phẩm điện tử tăng 42,3%; máy móc, thiết bị phụ tùng tăng 34,6%; dệt may tăng 10,3%.
Tính đến hết quý 1, có 9 mặt hàng xuất khẩu trên 1 tỷ USD, tăng thêm hai mặt hàng so với hai tháng đầu năm. Trong đó, càphê đóng góp 1,054 tỷ USD và thủy sản đóng góp 1,485 tỷ USD.
"Mặc dù gặp phải một số khó khăn từ thị trường thế giới như việc Australia tạm ngừng nhập khẩu tôm và thịt tôm chưa nấu chín từ Việt Nam, nhưng trong quý I, xuất khẩu mặt hàng này vẫn tăng 6% và cao hơn gần 1,4 điểm % so với cùng kỳ năm ngoái," Bộ Công Thương cho hay.
Một số thị trường xuất khẩu có kim ngạch tăng mạnh so với cùng kỳ 2016, đặc biệt là xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 43,3% (năm 2016 tăng 15,15%). Nhật Bản tăng 15,4% (năm 2016 giảm 0,7%); Nga tăng 32,8% (năm 2016 tăng 6,67%). ASEAN tăng 21,6%, trong khi năm 2016 giảm 13,29%. Ngoài ra thị trường Hàn Quốc tăng 24,1% và EU tăng 4,5%.
Tuy nhiên, tăng trưởng xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ bị chững lại, chỉ tăng 4,1%, trong khi cùng kỳ năm ngoái, thị trường này tăng tới 17,47%./. (Vietnam + 27/4) đầu trang(
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa có công văn hỏa tốc tới các địa phương đề nghị khẩn trương vào cuộc ổn định tình hình chăn nuôi.
Cụ thể, Bộ Nông nghiệp đề nghị UBND tỉnh, thành phố giao cho các cơ quan chuyên môn hướng dẫn người chăn nuôi áp dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống, thức ăn và quy trình chăm sóc nuôi dưỡng nhằm hạ giá thành sản xuất ở mức thấp nhất trong điều kiện có thể.
Đối với các đơn vị sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi, thú y, cần tuyên truyền và khuyến cáo rà soát quy trình sản xuất, giảm giá bán phù hợp, chia sẻ với người nông dân.
Bên cạnh đó, chính quyền các địa phương chỉ đạo cơ quan thú y tăng cường kiểm tra dịch bệnh, tiêm phòng vắc xin, không để tình trạng cắt bớt các khâu quản lý dịch bệnh, sẽ dẫn tới hệ lụy phát dịch trong thời gian tới.
Bộ Nông nghiệp cũng đề nghị các tỉnh, thành phố tạo điều kiện cho các cơ sở giết mổ, chế biến phát huy tối đa công suất sản xuất các sản phẩm thành phẩm và dự trữ thịt lợn góp phần tạo nguồn tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho người chăn nuôi.
Tăng cường quản lý thị trường, giảm khâu trung gian, quản lý tốt giá cả, tạo thuận lợi cho người chăn nuôi tiêu thụ sản phẩm.
Về giải pháp lâu dài, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường đề nghị các tỉnh, sở ngành liên quan tổ chức lại sản xuất chăn nuôi theo chuỗi liên kết, trong đó phát huy tối đa vai trò của doanh nghiệp, hiệp hội và hợp tác xã nhằm kiểm soát tốt hơn về chất lượng, an toàn thực phẩm và điều tiết cung cầu thị trường các sản phẩm chăn nuôi.
Triển khai các giải pháp tổng thể nhằm phát triển thị trường cho sản phẩm chăn nuôi của địa phương, trong đó xác định địa phương phải chủ động kết hợp giải pháp liên kết trong vùng và liên vùng.
Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp cũng đề nghị các địa phương rà soát, thống kê chăn nuôi để có quy hoạch tổng thể phát triển chăn nuôi phù hợp với từng địa phương, vừa đảm bảo ổn định thị trường, đồng thời bảo vệ môi trường gắn với an toàn thực phẩm...
Trước tình trạng thịt lợn rớt giá thê thảm do cung vượt cầu, Bộ Nông nghiệp đã có những động thái "giải cứu" người chăn nuôi như kêu gọi doanh nghiệp chia sẻ, giảm giá thành đầu vào như thức ăn chăn nuôi, các doanh nghiệp chế biến tích trữ đông lạnh...
Đây là công văn chỉ đạo thứ 2 của Bộ Nông nghiệp trong năm 2017. Trước đó hồi giữa tháng 1/2017 khi mà giá lợn vẫn còn ở mức từ 20.000 - 30.000 đồng, Bộ Nông nghiệp đã có công văn số 11205/BNN-CN gửi Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc hỗ trợ ổn định phát triển chăn nuôi lợn.
Tuy nhiên, qua khảo sát tình hình thị trường, hiện nay nguồn cung lợn hơi trong nước đã vượt xa nhu cầu tiêu dùng trong nước, dẫn tới giá thịt lợn lao dốc, chỉ còn dưới 20.000 đồng/kg.
Trao đổi với Đất Việt, PGS.TS Nguyễn Ngọc Đệ cho rằng bản thân người chăn nuôi và các cơ quan quản lý nhà nước cần phải thay đổi thật sự để thích ứng kịp thời với cơ chế thị trường, tránh sản xuất manh mún như trước đây.
''Về mặt lâu dài tôi nghĩ cần phải có những dự báo chính xác, có những khuyến nghị và quy hoạch tổng thể, bài bản từng năm. Cần lên kế hoạch cụ thể như: mỗi loại vật nuôi, nông sản nên sản xuất bao nhiêu là đủ; chất lượng như thế nào để ổn định và đáp ứng nhu cầu của thị trường. Hay như cung – cầu thịt lợn trên thế giới, khả năng cạnh tranh của Việt Nam so với các quốc gia khác cùng đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi lợn.
Ngoài ra cần phải tạo thành các chuỗi chăn nuôi để xuất khẩu theo đường chính ngạch, hướng tới nhiều thị trường hơn nữa. Ngoài thị trường Trung Quốc, hiện nay còn nhiều quốc gia xung quanh Việt Nam cũng có nhu cầu lớn về thịt như: Brunei, Philippines, Nhật Bản... Nếu chúng ta kiểm soát được vệ sinh an toàn thực phẩm cho tốt thì có thể xâm nhập được vào thị trường khó tính'', ông Đệ nhấn mạnh.
Về phía người dân, vị chuyên gia cho rằng để tránh gặp rủi ro với các thương lái Trung Quốc như thời gian qua, người chăn nuôi phải đề cao cảnh giác, thận trọng khi các thỏa thuận buôn bán không rõ ràng.
''Người dân cũng cần trang bị kiến thức đầy đủ hơn, nâng cao trình độ và liên kết với nhau lại để nâng cao sức cạnh tranh. Đồng thời nên tỉnh táo nghe theo các khuyến cáo từ cơ quan nhà nước nhằm điều chỉnh phù hợp cây trồng, vật nuôi, tránh nuôi ồ ạt quá nhiều dẫn đến dư thừa, mất giá.
Thị trường hiện nay đang mở và chúng ta cần nâng cao chất lượng thịt để tạo ra sự cạnh tranh, xâm nhập vào thị trường các nước'', ông Đệ nêu quan điểm. (Đất Việt 28/4) đầu trang(
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
Cơn lốc phát triển bất động sản cùng những công trình kiến trúc nhà ở, trung tâm thương mại đã ồ ạt mọc lên tại các đô thị lớn tại Việt Nam trong 20 năm qua, để rồi hiện nay đang lan tỏa mạnh mẽ đến dòng bất động sản nghỉ dưỡng du lịch tại các đô thị ven biển. Hơn lúc nào hết, trước những bất cập, thực trạng và xu hướng phát triển công trình, dự án nghỉ dưỡng hiện nay, các đô thị biển cần lựa chọn hướng đi nào cho mình để hướng tới phát triển bền vững, hiệu quả, nhân văn, vì cộng đồng?
Bài viết này mang tính tổng hợp các ý kiến, đề xuất của các chuyên gia nhằm chia sẻ, gợi ý những hướng đi cho kiến trúc đô thị biển Việt Nam hiện nay.
Đô thị biển Việt Nam với các đặc trưng riêng mang nhiều màu sắc và tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, để phát triển một cách bền vững và có bản sắc, các đô thị biển Việt Nam cần có một chiến lực, định hướng phát triển cụ thể; cách làm, quản lý phải chặt chẽ, đồng bộ. Không vì phát triển bằng mọi giá mà hy sinh các giá trị bản sắc sinh thái, môi trường của đô thị biển. Một hướng đi bền vững, sử dụng tối ưu các nguồn lực trong phát triển kiến trúc đô thị biển là vấn đề cần nghiên cứu giải quyết ngay lúc này.
Hầu hết các đô thị ven biển hiện nay ở Việt Nam đều hướng tới phát triển đô thị du lịch. Đây là tiềm năng, lợi ích dễ dàng nhìn thấy. Tuy nhiên, Theo TS. Ngô Viết Nam Sơn thì không phải đô thị biển nào cũng luôn phải là đô thị du lịch.
Tác giả cho rằng: Đô thị biển không nhất thiết luôn phải là đô thị du lịch, mà còn có thể phát triển với các chức năng chủ đạo đem lại bản sắc khác biệt như: đô thị sinh thái, đô thị nghỉ dưỡng, đô thị đại học, đô thị kinh tế tài chính, đô thị ngư nghiệp, đô thị cảng biển, đô thị giao thương quốc tế… Các đô thị biển này có thể tạo thành một mạng lưới đô thị biển quốc gia đa dạng, kết nối với nhau qua hệ thống đường thủy cũng như đường bộ ven biển.
Do đó, trái với điều người ta thường lầm tưởng, không phải đô thị biển nào cũng nên khuyến khích xây dựng nhà cao tầng, mà cũng nên xem xét khả năng quy hoạch không gian đô thị thấp tầng và gắn kết hơn với thiên nhiên cho một số đô thị biển sinh thái, đô thị di sản, đô thị ngư nghiệp, hoặc đô thị cảng biển. Ví dụ như tại đô thị biển di sản Hạ Long, tầm nhìn ra vịnh là di sản thế giới và là vốn quý nhất của đô thị biển, do đó cần có chính sách không cấp phép cho các công trình xây sát biển, đặc biệt là các công trình cao tầng án ngữ tầm nhìn thoáng ra vịnh hoặc tạo ra cảm giác mất tỷ lệ hài hòa về quy mô, khi so sánh với các hòn đảo lớn nhỏ trong vịnh.
Giải pháp phát triển đô thị biển phân tán không hiệu quả về mặt kinh tế, vì giá thành xây dựng hệ thống hạ tầng trở nên cao hơn, việc quản lý bảo vệ môi trường và xử lý chất thải trở nên khó khăn hơn, do phải trải dài theo diện tích rộng hơn và khoảng cách xa hơn. Thay vì chỉ tập trung phát triển theo tuyến bờ biển thì cần phát trỉển các cụm đô thị tập trung nằm sâu hơn trong đất liền nhưng vẫn kết nối tốt với nhau và với bờ biển.
Trong thời gian phát triển nóng khoảng ba thập niên qua, kể từ sau khi đổi mới, tại nhiều đô thị biển Việt Nam đã và đang xảy ra những xu hướng phát triển thiếu bền vững. Ví dụ: Xu hướng xây dựng “bức tường thành” gồm những nhà cao tầng chạy suốt mặt tiền biển; Xu hướng tư nhân hóa bãi biển; Xu hướng phát triển nhà cao tầng một cách vô tổ chức làm rối loạn hệ thống giao thông và hạ tầng kỹ thuật đô thị.
Việc phát triển nhà cao tầng thiếu cẩn trọng tiềm ẩn nguy cơ kìm hãm và làm tổn hại cơ hội phát triển trong tương lai của đô thị. Do đó, việc cải tạo và phát triển các đô thị biển tại Việt Nam cần có sự đánh giá lại hiện trạng và xem xét lại các mục tiêu phát triển, phù hợp với những định hướng chiến lược rõ rệt hơn về quy hoạch nhà cao tầng. Cần tránh xu hướng lạm dụng phát triển mặt tiền biển làm tổn hại cơ hội phát triển của khu vực nằm phía sau sâu hơn trong đất liền. Đặc biệt là cần tránh xu hướng phát triển các dự án du lịch nối liền nhau nhiều km, biến bãi biển thành tài sản tư, ngăn chặn cơ hội tự do tiếp cận bãi biển của cư dân ở các khu đất lân cận nằm sâu hơn trong đất liền.
Một thực tế là cho đến nay, còn khá nhiều tỉnh, thành phố vẫn chưa có đủ sự quan tâm trên toàn bộ quỹ tài nguyên ven biển thuộc phạm vi địa phương mình, từ góc nhìn chiến lược về công tác quy hoạch kiến trúc, cũng như có cơ sở cho công tác quản lý. Theo TS.KTS Nguyễn Tiến Thuận (Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội) thì chính điều này đã làm cho quá trình diễn biến phát triển bị manh mún và kém sức hấp dẫn về thu hút đầu tư. Nhiều nhà đầu tư muốn thực hiện dự án của mình trên một vị trí, địa điểm nào đó, song họ không thể hình dung được tương lai của khu vực đó sẽ như thế nào. Trên thực tế, nhiều dự án đầu tư đã chết yểu chỉ vì đơn phương và đơn độc.
Cũng theo TS.KTS Nguyễn Tiến Thuận, ông đưa ra một số gợi ý cũng như giải pháp để phát triển kiến trúc ven biển một cách phù hợp và hiệu quả với Việt Nam; Ông cũng đặc biệt cho rằng: Quy hoạch kiến trúc ven biển rất cần một đồ án quy hoạch chủ động.
Kiến trúc ven biển là một loại hình công trình có đặc thù, không giống như các công trình ở trong trung tâm đô thị hoặc các thành phố xa biển, kể cả về hình thức kiến trúc cũng như các chức năng không gian sử dụng và giải pháp kỹ thuật. Một vấn đề đặt ra là, vì sao cần xây cao tầng và cao tầng như thế nào ở các thành phố ven biển. Điều này được quyết định một cách cẩn trọng bởi đồ án quy hoạch chung, tùy theo tiềm năng phát triển và điều kiện tự nhiên riêng của từng khu vực địa phương.
Kinh nghiệm thế giới cho thấy, để có hình ảnh ấn tượng về một thành phố hay chỉ là một khu phố, một tuyến đường, cần phải có một đồ án quy hoạch chủ động. Nghĩa là, một đồ án quy hoạch có tác giả và được duyệt. Không thể chỉ là đồ án quy hoạch với kết quả là các quy định bằng chính sách, các quy định chung chung có tính khống chế về chiều cao tầng nhà, về mật độ xây dựng và hệ số sử dụng đất. Đây là loại hình đồ án quy hoạch bị động, vì cách này đã phụ thuộc vào ý đồ xây dựng của các chủ đầu tư, thường họ sẽ thiết kế và xây dựng tối đa theo điều kiện cho phép của chính sách đã quy định. Đây là những kết quả ngẫu nhiên mà hầu hết hình ảnh các thành phố chúng ta đang là như vậy.
Cũng theo TS.KTS Nguyễn Tiến Thuận, Nhật Bản là một quốc gia phát triển, cũng có rất nhiều bờ biển, song người Nhật cũng phải thừa nhận rằng, trên thực tế họ cũng đã có không ít sai lầm về quy hoạch kiến trúc các dự án ven biển. Sự mất cân đối giữa phát triển các dự án khu công nghiệp biển đã gây khó khăn và tổn hại không nhỏ đến sự phát triển của các dự án du lịch do đã không tính trước được những ảnh hưởng giữa chúng. Trong giai đoạn vừa qua, người Nhật đã phải tốn khá nhiều công sức và tài chính để khắc phục những hậu quả đó. Kinh nghiệm về quy hoạch phát triển không gian kiến trúc ven biển của Nhật Bản là những bài học thực tế rất cần được các nhà quản lý và chuyên môn của chúng ta học hỏi.
Trước những diễn biến phát triển có phần thiếu kiểm soát chặt chẽ, điển hình là những cảnh báo về việc xây dựng nhà cao tầng vượt chiều cao cho phép hay nguy cơ hình thành những khối nhà cao tầng như những “bức tường chắn” mặt biển như báo chí đã nêu thời gian qua, một câu hỏi đặt ra lúc này là: đô thị biển Việt Nam nên phát triển theo mô hình nào, hướng nào để đảm bảo tính phát triển triển bền vững mà sau đấy chúng ta không bị rơi vào nuối tiếc, xót xa bởi những sai lầm đã làm? Theo Ths.KTS Trần Hồng Thủy, Công ty Kiến trúc giải pháp nhà cao tầng Việt Nam thì: Về lâu dài chúng ta không thể áp dụng cứng nhắc quy hoạch của một thành phố biển nổi tiếng trên thế giới nào vào Việt Nam. Việc áp dụng phải hết sức thận trọng và có chọn lọc.
Không gian đô thị biển Việt Nam, mỗi vùng đều có bản sắc riêng, văn hóa riêng. Rất nhiều các đô thị biển như Hạ Long (Quảng Ninh), Nha Trang (Khánh Hòa)… là các di sản nổi tiếng, cảnh quan đặc sắc của các đô thị ven biển cần bảo tồn và tôn trọng tối đa tự nhiên và tính bản địa chứ không dựa hoàn toàn vào nhân tạo. Sự can thiệp của con người vào đây phải trên cơ sở làm cho thiên nhiên đẹp hơn, bền vững hơn.
Phát triển xây dựng cao tầng tại các không gian hướng biển của đô thị dù dạng mô hình “đô thị nén - mật độ cao” hay bất cứ loại hình đô thị nào trước tiên phải bảo vệ được bản sắc và giá trị di sản đặc thù của đô thị.
Không gian kiến trúc cảnh quan đô thị biển chịu nhiều tác động lớn nhất khi xây dựng các công trình cao tầng ven biển. Phần lớn, xây công trình cao tầng ven biển sẽ mang đến một diện mạo kiến trúc mới, được coi là hiện đại mà trước đây không có được.
Về lý thuyết, nhà cao tầng có thể được xem là “cỗ máy tạo ra của cải” hoạt động rất hiệu quả trong nền kinh tế đô thị. Tuy nhiên, không nên coi nhà cao tầng đơn giản chỉ là sự gia tăng không gian xây dựng theo chiều cao với một diện tích đất hạn chế, mà có những yêu cầu khá nghiêm ngặt cần tuân thủ trong quá trình thiết kế và thi công.
Không thể biến Nha Trang thành một bản sao của kiến trúc đô thị ven biển nào đó trên thế giới. Việc các cao ốc, khách sạn hàng chục tầng, dày đặc bên bờ biển sẽ vô tình tạo bức tường chắn gió, che khuất tầm nhìn nhiều khu dân cư bên trong và gây mất mỹ quan cho vịnh Nha Trang. Nha Trang còn thiếu những công trình nghiên cứu về mặt tiền biển và chưa rút kinh nghiệm từ những quốc gia phát triển khác trên thế giới.
Thành phố như một cỗ máy du lịch và việc sử dụng đất không có định hướng cho du lịch dịch vụ là một sự lãng phí. Các ý kiến ủng hộ nên “thấp ven biển và cao dần vào trong” nghe có vẻ hay nhưng không phù hợp với lý lẽ tự nhiên của nhu cầu thị trường, bởi sự tiện dụng và bắt mắt với khách du lịch. Bởi vậy, không có lý do gì mà các đô thị biển không thể không có các khối nhà cao tầng, thậm chí nhà chọc trời ven biển. Nhưng cần lựa chọn vị trí và kiến trúc công trình hợp lý hài hòa với cảnh quan thiên nhiên. Điều quan trọng là nó cần một nhạc trưởng đủ tầm để hoạch định và hệ thống công cụ quản lý chặt chẽ hướng tới phát triển bền vững, vì cộng đồng là lợi ích xã hội bền lâu.
Cần sớm ban hành các quy chế quản lý đầu tư xây dựng thể loại công trình cao tầng ven biển mới xuất hiện (ví dụ loại hình công trình nhà ở cao tầng kết hợp khách sạn ven biển condotel mới) để đảm bảo hiệu quả xây dựng và quản lý quy hoạch, tránh các tác động xâu về kiến trúc cảnh quan và môi trường.
Nhà cao tầng là sản phẩm phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ 20, 21 trên toàn thế giới với những lợi thế về phát triển theo chiều cao, tiết kiệm tài nguyên đất đai và là nơi để ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ cao của thời đại… Bởi vậy, phát triển nhà cao tầng là xu hướng tất yếu trong định dạng và tâm thức của các chính quyền địa phương hiện nay, đặc biệt là các khu đô thị lớn, đô thị ven biển.
Tuy nhiên, theo TS.KTS Trịnh Hồng Việt, Đại học Xây dựng Miền Trung, nhà cao tầng tại các đô thị ven biển Nam Trung bộ đã ảnh hưởng rất mạnh mẽ tới cảnh quan, quy hoạch kiến trúc và đời sống văn hóa xã hội các đô thị, những “cỗ máy thương mại” và những “biểu tượng đô thị mới” này đã gây ra không ít những vấn đề cần giải quyết, thu hút sự quan tâm của toàn xã hội với những cảnh báo về sự phát triển manh mún, thiếu bền vững. Vì vậy rất cần xác định thái độ ứng xử, phạm vi giới hạn và giải pháp sử dụng kiến trúc cao tầng một cách hợp lý, hiệu quả, theo xu hướng phát triển bền vững. Nói đơn giản là rất cần sự vào cuộc của các nhà chuyên môn về quy hoạch, kiến trúc và du lịch mà không nên chỉ chú trọng ở bài toán đầu tư.
Nhà cao tầng ở vùng biển có những lợi thế về tạo dựng cảnh quan hiện đại, về quảng bá thương hiệu và hưởng lợi từ các tài nguyên thiên nhiên như nắng gió tầm nhìn, không khí trong lành… Chúng luôn được các nhà đầu tư du lịch cũng như các nhà quy hoạch kiến trúc tận dụng. Tuy nhiên, không phải ở đâu cũng như nhau: Có những bãi biển nổi tiếng bởi tổ hợp công trình cao tầng như Marina Bay ở Singapore, Sao Paulo ở Brazil… trong khi ở nhiều nơi khác, kiến trúc cao tầng ven biển được sử dụng rất thận trọng và chừng mực, cách sử dụng kiến trúc cao tầng ở các vùng biển này đều nhằm tới việc tối ưu hóa cảnh quan và không gian du lịch – là linh hồn, đồng thời là chất lượng thương hiệu của địa phương, là lợi thế chính để hấp dẫn du khách.
Nhà cao tầng ven biển thường mang chức năng du lịch nghỉ dưỡng là chính, trong khi các tổ hợp cao tầng ở đô thị khác có xu hướng đa chức năng, vì vậy đặc điểm quy hoạch và cơ cấu kiến trúc thường gắn chặt với môi trường và không gian biển, công trình là một bộ phận của tổng thể biển với “cơ cấu mở”, khác với tổ hợp cao tầng là “một thành phố trong thành phố”.
Hãy cùng suy nghĩ ý kiến sau về “bất cập” ở một công tình cao tầng tại Nha Trang: “Công trình này làm xấu đi cảnh quan tự nhiên xinh đẹp của khu vực này. Bây giờ đã lỡ xây dựng lên rồi nhưng chúng tôi vẫn phải có ý kiến để đến những đời sau, khi hết hạn thuê đất thì phá bỏ nó đi, trả lại không gian cho Nha Trang” (trích lược ý kiến ông Bùi Mau, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật tỉnh Khánh Hòa).
Vì vậy, theo TS.KTS Trịnh Hồng Việt, cần kịp thời ban hành Quy chuẩn và Tiêu chuẩn mới về nhà cao tầng, thay thế cho TCXDVN 323.2004 đã hết hiệu lực, trong đó cần chú ý tới việc đánh giá tác động của kiến trúc cao tầng đối với cảnh quan và môi trường thành phố, mặt khác cần phân biệt các loại nhà cao tầng theo vùng miền, trong đó có vùng biển để có quy định phù hợp với đặc điểm và yêu cầu cụ thể.
Việc hoạch định phát triển khu vực, trục không gian ven biển hiện nay ra sao về mặt phương pháp luận có lẽ cần định nghĩa rõ về không gian ven biển là gì, thuộc những đối tượng gì, những yếu tố nào là cốt lõi để phát huy cao nhất hiệu quả của không gian này, đặc biệt hướng tới bài toán vì cộng đồng. Từ đó, chúng ta sẽ có một hoạch định phát triển không gian một cách hiệu quả, hợp lý. Theo Ths.KTS Đỗ Hà Thanh thì chúng ta cần một chiến lược trúng, đúng cho không gian ven biển.
Cụ thể, đối với một đô thị biển, có thể hiểu theo nghĩa rộng thì không gian công cộng là không gian do nhà nước quản lý, bao gồm: đường phố, vỉa hè, không gian bãi biển, hệ thống các công trình công cộng, tượng đài. Nhưng, qua các phương tiện thông tin đại chúng lại cho thấy một hiện tượng các không gian ven biển đang bị chiếm dụng bởi các chủ đầu tư dự án “chiếm hữu”, phục vụ cho các mục đích cá nhân. Chưa hết, với tầm nhìn ngắn hạn hay của nhóm lợi ích chi phối, các không gian ven biển vô giá được các chính quyền thành phố cấp cho tư nhân xây chung cư cao tới 60 - 70 tầng dày đặc, hoặc xây các khu nghỉ dưỡng chạy dài hết mặt tiền hướng biển.
Trên thế giới, có rất nhiều đô thị thực hiện khống chế thấp tầng tại khu vực không gian mặt tiền hướng biển của đô thị. Tuy nhiên, cũng không thiếu các đô thị lại lựa chọn việc phát triển xây dựng cao tầng tại các khu vực này. Lựa chọn hướng đi và giải pháp kiến trúc nào cho không gian kiến trúc khu vực mặt tiền ven biển của đô thị cần xuất phát từ chính các điều kiện về tự nhiên xã hội và nhu cầu thực tế đặt ra để góp phần tạo dựng bản sắc kiến trúc, sự thịnh vượng và phát triển cho đô thị cho đô thị ven biển từng khu vực cụ thể.
Có một tư tưởng đã trở thành khái niệm là “Không gian mặt tiền hướng biển của đô thị dù theo định hướng xây dựng cao tầng hay thấp tầng trước tiên cần được quy hoạch tạo thành các không gian công cộng dành cho toàn bộ người dân đô thị, khách du lịch”, cần hạn chế sự chiếm hữu không gian này cho các mục tiêu và mục đích của cá nhân hay các nhóm lợi ích thiểu số.
Nếu bám sát theo tiêu chí trên đều sẽ thấy trên thế giới có rất nhiều mô hình phát triển kiến trúc cao tầng ven biển mà ở đó lợi ích kinh tế – bản sắc – cộng đồng được giải quyết hài hòa, các không gian mặt tiền đô thị ven biển trở thành những không gian điểm nhấn, khơi gợi nguồn lực và tạo động lực cho sự phát triển của đô thị và cộng đồng. Các không gian công cộng tại các vị trí này cũng vì thế được tôn trọng và tạo dựng.
Tuy vậy, tại Việt Nam, hiện nay không dễ tìm định nghĩa chính thức về không gian công cộng trong các tiêu chuẩn qui phạm hay tiêu chí đô thị. Đáng tiếc hơn, không gian ven biển của đô thị bao gồm cả các không gian công cộng đang bị lấn chiếm, chuyển đổi mục đích, phân lô xây cao tầng phục vụ cho các mục đích kinh doanh bất động sản thương mại tràn lan.
Để viễn cảnh các không gian đô thị biển sinh thái xanh, thông minh - nơi con người được thụ hưởng những lợi thế mà thiên nhiên ban tặng, nơi có các nguồn tài nguyên được quy hoạch sử dụng lâu bền cho cộng đồng cư dân, nơi các giá trị sinh thái nhân văn, lịch sử cần được bảo tồn để phát triển bền vững, rất cần một chiến lược đúng và trúng. Kinh nghiệm quy hoạch phát triển công trình cao tầng tại các quốc gia phát triển trên thế giới có thể cho thấy rõ các quan điểm và kinh nghiệm trên. (Xây Dựng 27/4) đầu trang(
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Ngày 25/4, trong buổi xin lỗi công khai của TAND Cấp cao tại Hà Nội đối với ông Hàn Đức Long (tại trụ sở UBND xã Phúc Sơn, huyện Tân Yên, Bắc Giang) vì bị tuyên án tử hình oan, nhiều người đã kéo đến quấy rối và hành hung người thi hành công vụ. Ai cũng hiểu và thông cảm với nỗi đau mất mát của gia đình nạn nhân, song dư luận cho rằng, lực lượng chức năng đã không làm tròn nhiệm vụ của mình khiến buổi xin lỗi công khai trở nên bát nháo, mất sự tôn nghiêm, trang trọng cần có.
Bất cứ ai chứng kiến sự việc cũng không khỏi ngán ngẩm, lắc đầu vì một buổi lễ hết sức có ý nghĩa, lẽ ra phải trang nghiêm thì lại trở thành một đám đông hỗn loạn không thể kiểm soát. Hàng chục người thân của nạn nhân Yến (cháu bé 5 tuổi bị hiếp dâm và giết chết 11 năm trước) mang theo di ảnh, gây náo loạn hội trường. Một số người còn lao lên giật tấm biển của buổi lễ xuống. Nhiều người còn lao vào lực lượng chức năng, xô đẩy và kéo đổ bục phát biểu tại hội trường, trèo lên bàn ghế. Sự việc tưởng như không thể vãn hồi nếu lực lượng công an không có thêm tăng viện.
Buồn hơn ở chỗ, khi Phó Chánh án TAND Cấp cao tại Hà Nội Trần Văn Tuân đọc lời xin lỗi công khai đã bị nhiều người quá khích dùng dép, chai nước, mũ bảo hiểm ném thẳng vào người. Đến nước này thì BTC buộc phải cử 2 người “đứng kè” 2 bên ông Tuân để che chắn những dị vật, giúp vị Phó Chánh án đọc xong lời xin lỗi công khai tại hội trường. Tất nhiên sau khoảng 5 phút, khi đã đọc xong lời xin lỗi công khai, Phó Chánh án TAND Cấp cao phải ra về.
Kể từ khi Nghị quyết 388/2003/NQ-UBTVQH11 của Ủy ban TVQH có hiệu lực thi hành, tới nay là Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thay thế, thì đã có nhiều trường hợp bị kết án oan, sai đã được các cơ quan tố tụng xin lỗi công khai tại địa phương và trên các phương tiện thông tin đại chúng. Công tâm mà nói thì không phải tất cả những buổi xin lỗi người bị oan, sai của các cơ quan tố tụng đều diễn ra trong không khí trang nghiêm, đậm đà tình cảm. Cũng không ít những buổi xin lỗi công khai làm chiếu lệ cho gọi là có, nhạt nhẽo, hình thức. Song, chưa từng có một buổi xin lỗi công khai nào lại mất trật tự như buổi công khai xin lỗi ông Hàn Đức Long.
Việc các cơ quan tố tụng thực hiện nghĩa vụ công khai xin lỗi vô cùng có ý nghĩa đối với những người bị hàm oan. “Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại”, vậy mà có người bị giam oan hàng chục năm. Những người bị kết án oan, sai mong được minh oan, mong được các cơ quan tố tụng thừa nhận sai lầm, công khai xin lỗi không chỉ đơn giản là việc được ra khỏi tù, mà họ còn mong trút đi được gánh nặng tâm lý bởi sự tủi hổ, đau đớn đã phải gánh chịu. Họ hy vọng buổi xin lỗi công khai như một sự “nói lại cho rõ” của Nhà nước giúp họ gột rửa được nỗi ô nhục đối với người thân, bà con chòm xóm.
Ấy vậy mà sau khi được Phó Chánh án TAND Cấp cao tại Hà Nội xin lỗi công khai, ông Hàn Đức Long và gia đình lại không hề cảm thấy vui hơn, thoải mái hơn. Vui sao được khi lúc đến dự lễ cũng phải “nhờ” lực lượng công an bảo vệ đưa tới hội trường bằng ô tô, rồi khi Phó Chánh án TAND Cấp cao đọc lời xin lỗi thì ông Long cũng đã phải rời đi một cách lặng lẽ.
Có lẽ ông Hàn Đức Long và gia đình sẽ không trách người nhà nạn nhân vì những hành vi quá khích của họ tại buổi xin lỗi công khai. Dư luận cũng hiểu được nỗi đau của sự mất mát, nên hiểu vì sao gia đình nạn nhân lại có những hành vi chưa được văn minh nói trên. Song, chúng ta đang sống trong một xã hội mà vấn đề thượng tôn pháp luật phải được đưa lên hàng đầu, dù đó là ai, giữ chức vụ gì, nỗi đau lớn đến đâu. Không phải cứ có nỗi đau là có thể bất chấp pháp luật, làm càn, làm ẩu.
Thử hỏi khi ông Long bị các cơ quan tố tụng bắt giam oan tới hàng chục năm trời, rồi tuyên án tử hình oan thì gia đình và người thân của ông có đau không? Giả sử như hành trình kêu oan của gia đình ông Long thất bại, ông Long đã bị thi hành án tử hình? Và nếu vậy thì cái chết của ông cũng là oan uổng, không lẽ gia đình ông Long cũng sẽ kêu gào, hay thậm chí đến cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Giang phá phách, đến TAND Tối cao (nơi trước đây xử phúc thẩm) để hay lăng mạ?
Đương nhiên là gia đình ông Hàn Đức Long hay bất cứ gia đình những người bị các cơ quan tố tụng gây oan, sai cũng sẽ không làm điều đó rồi. Ngay cả khi họ có muốn cũng không dám làm, vì họ sẽ phải trả giá trước pháp luật về hành vi gây rối, cố ý gây thương tích, hủy hoại tại sản, hay chống đối, hành hung người thi hành công vụ. Bất cứ ai, ở đâu, thuộc tầng lớp nào trong xã hội đều phải sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Không thể buộc người khác phải hiểu, phải thông cảm vì mình có những khó khăn, đau khổ, để có những hành vi quá khích, vi phạm pháp luật.
Từ trường hợp đáng buồn này, dư luận hy vọng các cơ quan tư pháp có thể rút ra được một bài học kinh nghiệm đắt giá để trong những lần xin lỗi công khai sau không còn tái diễn tình trạng bát nháo, lộn xộn như trên nữa. Có như vậy thì buổi lễ xin lỗi công khai mới thực sự có ý nghĩa, những người bị hàm oan mới trút bỏ được gánh nặng tâm lý trong lòng. Và cũng chỉ có vậy mới đảm bảo được sự tôn nghiêm của Tòa án - cơ quan nhân danh Nhà nước, cơ quan thực hiện quyền tư pháp như Hiến định. (Đại Đoàn Kết 27/4) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
AFP dẫn báo cáo đầu tiên của Liên hợp quốc (UN) về tình hình tham nhũng được công bố ngày 25/4 vừa qua. Theo đó, tham nhũng vẫn là một trở ngại nghiêm trọng tới nền hòa bình tại Afghanistan.
Theo báo cáo, UN hoan nghênh những nỗ lực của Chính phủ Afghanistan, nhưng thực tế, chống tham nhũng vẫn còn là một thách thức với quốc gia này.
Báo cáo có tiêu đề "Cuộc chiến chống lại tham nhũng của Afghanistan: Một trận chiến khác", đã trích dẫn các bước chống tham nhũng tích cực của Chính phủ Afghanistan, trong đó bao gồm việc thành lập Trung tâm Tư pháp Chống tham nhũng (ACJC).
Nhưng cuộc chiến "sẽ không giành được thắng lợi chỉ trong một sớm một chiều", báo cáo nhấn mạnh.
Cũng theo UN, "tham nhũng đã ảnh hưởng tới tất cả các mặt của đời sống ở Afghanistan. Nó phá hủy lòng tin của công chúng và sự tự tin trong các thể chế của Chính phủ. Nó cản trở những nỗ lực của đất nước để có thể trở thành một nước tự chủ".
Tiến trình đi tới hòa bình "đã bị ngăn chặn bởi thói gia đình trị, sự thiên vị chính trị và những ảnh hưởng bên ngoài khác vào các quyết định tuyển dụng", báo cáo tiếp tục.
"Chẳng hạn trường hợp gần đây, Tổng thống đã phát hiện 150 công chức chỉ trong một bộ được bổ nhiệm không qua bất kỳ cuộc kiểm tra năng lực nào và 95% trong số những người được bổ nhiệm này có liên quan hoặc từ những người thuộc trách nhiệm của bộ trưởng".
Afghanistan xếp hạng thấp, ở vị trí 169 trên 176 quốc gia về chỉ số nhận thức tham nhũng do Tổ chức Minh bạch Quốc tế công bố.
Trong thập niên vừa qua, tham nhũng thâm nhập vào hầu hết các cơ quan Nhà nước, phá hủy hàng trăm tỷ USD viện trợ từ nước ngoài, ăn mòn hầu hết số kho bạc Nhà nước ít ỏi và gia tăng sự mất an ninh khi những người Afghans đổi hướng về phía Taliban.
Kể từ khi lên nắm quyền vào năm 2014, Tổng thống Ashraf Ghani, một cựu quan chức Ngân hàng Thế giới từng được đào tạo ở Mỹ đã thông qua một lập trường cứng rắn trong chống tham nhũng.
Tháng 5 năm ngoái, ông đã thành lập Trung tâm ACJC nhằm tăng cường năng lực của hệ thống pháp luật để giải quyết các trường hợp bộ trưởng, thẩm phán và các thống đốc tham nhũng - những người hầu như thoát khỏi sự truy tố.
Trung tâm này đã kết án một số quan chức quân sự và Chính phủ Afghan ở bậc trung. Từ đó, nhận được nhiều lời khen ngợi từ phía UN. Tuy nhiên, UN vẫn nhấn mạnh và kêu gọi Chính phủ nước này phải tăng cường hợp tác để từng bước thúc đẩy cuộc chiến chống tham nhũng.
"Xét ở nhiều khía cạnh, thách thức lớn nhất trong cuộc chiến chống tham nhũng của Afghanistan không phải là sự cần thiết phải tiến hành các cuộc cải cách bổ sung mà là cần thiết phải thực hiện một cách có hiệu quả hơn những cải cách đã thực hiện".
Báo cáo không mở rộng đề cập đến các lực lượng an ninh, đã bị phá hủy bởi thói gia đình trị, sự thiên vị và những người lính "ma", những người chỉ tồn tại trên giấy và được trả lương. Nhưng lãnh đạo sứ quán UN tại Afghanistan, Tadamichi Yamamoto, nhấn mạnh trong báo cáo được công bố với báo chí rằng, đây là một lĩnh vực quan trọng và sẽ được giám sát chặt chẽ bởi cộng đồng quốc tế với hy vọng sẽ được xúc tiến trong năm 2017. (Thanh Tra 28/4) đầu trang(./.
|
|||