Xem ngày trước
BẢN TIN TỔNG HỢP
Xem ngày kế tiếp

Ngày 22 tháng 11 năm 2016
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
QUẢN LÝ
NHÂN SỰ MỚI
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
KINH TẾ
VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
NHÌN RA THẾ GIỚI

CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 156/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 27/2007/NĐ-CPngày 23/2/2007 của Chính phủ về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính; theo đó, sửa đổi, bổ sung Điều 14 quy định về sử dụng chữ ký số.
Cụ thể, Nghị định 27/2007/NĐ-CP quy định sử dụng chữ ký số: Cơ quan tài chính và tổ chức, cá nhân có tham gia giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính với cơ quan tài chính phải sử dụng chữ ký số; giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính giữa tổ chức, cá nhân với cơ quan tài chính phải sử dụng chữ ký số và chứng thư số do Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cung cấp; Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định cụ thể danh mục các giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính bắt buộc phải sử dụng chữ ký số.
Quy định sử dụng chữ ký số nêu trên đã được sử đổi, bổ sung tại Nghị định 156/2016/NĐ-CP. Cụ thể, các loại chứng thư số được sử dụng để ký số trong hoạt động tài chính giữa tổ chức, cá nhân với cơ quan tài chính: Chứng thư số được cấp bởi tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng; chứng thư số được cấp bởi tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng phục vụ các cơ quan thuộc hệ thống chính trị; chứng thư số nước ngoài được công nhận; chứng thư số nước ngoài được chấp nhận tại Việt Nam; chứng thư số nước ngoài được chấp nhận trong giao dịch quốc tế.
Điều kiện, phạm vi và đối tượng sử dụng đối với từng loại chứng thư số trong hoạt động tài chính phải tuân theo quy định của pháp luật về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số.
Cơ quan tài chính tham gia giao dịch điện tử có ràng buộc bởi điều ước quốc tế về chữ ký số mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì phải thực hiện theo điều ước quốc tế đó.
Bộ Tài chính quy định cụ thể các giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài chính bắt buộc phải sử dụng chữ ký số.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ 10/1/2017. (Báo Chính Phủ 21/11) đầu trang(
Bộ Tài chính đang dự thảo Thông tư hướng dẫn việc quản lý, tạm ứng và hoàn trả chi phí cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Dự thảo nêu rõ, đối tượng bị cưỡng chế phải chịu mọi chi phí cho hoạt động cưỡng chế. Đối tượng bị cưỡng chế có trách nhiệm nộp toàn bộ chi phí cưỡng chế cho cơ quan thi hành cưỡng chế theo thông báo của cơ quan này.
Đối tượng bị cưỡng chế không tự nguyện nộp hoặc nộp chưa đủ chi phí hoặc nộp chậm thời hạn theo thông báo của cơ quan thi hành quyết định cưỡng chế thì người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế có quyền ban hành tiếp quyết định cưỡng chế để thu hồi chi phí cưỡng chế bằng các biện pháp quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 86 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Việc xác định chi phí cưỡng chế thực hiện theo quy định tại Điều 39 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP, bao gồm các chi phí: Chi phí huy động người thực hiện quyết định cưỡng chế: chi phí bồi dưỡng cho những người trực tiếp thực hiện cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế; chi phí thuê phương tiện tháo dỡ, chuyên chở đồ vật, tài sản; chi phí thuê giữ hoặc bảo quản tài sản kê biên; chi phí thù lao cho các chuyên gia tham gia định giá để tổ chức đấu giá; chi phí tổ chức bán đấu giá tài sản…
Về mức chi, dự thảo đề xuất chi bồi dưỡng cho những người được huy động trực tiếp tham gia cưỡng chế: Cán bộ, công chức của cơ quan thi hành quyết định cưỡng chế được huy động thực hiện cưỡng chế, lực lượng công an, dân quân tự vệ, đại diện chính quyền địa phương trực tiếp tham gia cưỡng chế, trong đó, người chủ trì mức 150.000 đồng/người/ngày tham gia cưỡng chế, đối tượng khác 100.000 đồng/người/ngày tham gia cưỡng chế.
Đại diện tổ dân phố, trưởng thôn và các đối tượng khác được huy động tham gia cưỡng chế trong trường hợp cần thiết, mức chi 100.000 đồng/người/ngày tham gia cưỡng chế.
Đối với tạm ứng chi phí cưỡng chế, trước khi tổ chức việc cưỡng chế, cơ quan thi hành quyết định cưỡng chế phải trình người ra quyết định cưỡng chế phê duyệt kế hoạch và dự toán chi phí cưỡng chế.
Khi kết thúc việc thi hành quyết định cưỡng chế, cơ quan thi hành cưỡng chế trình người ra quyết định cưỡng chế phê duyệt quyết toán chi phí cưỡng chế.
Căn cứ quyết toán chi phí cưỡng chế được phê duyệt, cơ quan thi hành cưỡng chế có thông báo bằng văn bản về quyết toán chi phí cưỡng chế được phê duyệt gửi cho đối tượng bị cưỡng chế để nộp chi phí cưỡng chế (văn bản ghi rõ ngày, tháng, năm xử phạt, số tiền phải thanh toán, địa chỉ thanh toán bằng tiền mặt hoặc số tài khoản nếu thanh toán bằng chuyển khoản và các thông tin cần thiết khác).
Chậm nhất 10 ngày từ khi nhận được thông báo quyết toán chi phí cưỡng chế được phê duyệt, đối tượng bị cưỡng chế có trách nhiệm nộp chi phí cưỡng chế cho cơ quan thi hành quyết định cưỡng chế. Khi thu được tiền từ đối tượng bị cưỡng chế, cơ quan thi hành quyết định cưỡng chế phải làm thủ tục hoàn trả ngay khoản tiền đã tạm ứng chi cưỡng chế cho cơ quan của người ra quyết định cưỡng chế...
Trường hợp không có khả năng thu hồi chi phí cưỡng chế do đối tượng bị cưỡng chế bị chết, mất tích (đối với cá nhân) hoặc bị phá sản, giải thể (đối với tổ chức) mà không còn tiền, tài sản để nộp chi phí cưỡng chế và không có tổ chức nào tiếp nhận chuyển giao quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính thì cơ quan thi hành quyết định cưỡng chế báo cáo cơ quan của người ra quyết định cưỡng chế để đề nghị cơ quan tài chính cùng cấp bổ sung kinh phí cho phần chi phí cưỡng chế không có khả năng thu hồi... (Báo Chính Phủ 21/11) đầu trang(

QUẢN LÝ
Đó là ý kiến của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc được Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ (VPCP) Mai Tiến Dũng truyền đạt tại buổi làm việc hôm qua (21/11) với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) về tình hình thực hiện các nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng giao.
Đánh giá cao Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường trong cương vị mới đảm nhận, qua Tổ công tác, Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, cùng lãnh đạo Bộ NN&PTNT giải trình, làm rõ, tập trung khắc phục các vấn đề, trong đó nhiệm vụ đầu tiên là tập trung tái cơ cấu nông nghiệp, công tác xây dựng nông thôn mới, công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt yêu cầu Bộ kiểm soát hàng nhập khẩu, hàng nông sản tràn ngập từ Trung Quốc sang…
Trước thực trạng quản lý mặt hàng phân bón còn chồng chéo giữa Bộ NN&PTNT và Bộ Công Thương, ông Mai Tiến Dũng cho biết, VPCP là đề xuất với Thủ tướng giao cho một cơ quan quản lý duy nhất, hướng đề xuất là Bộ NN&PTNT quản lý cả phân hữu cơ và vô cơ, như thế không có sự đan xen, chồng chéo vì sản phẩm này gắn với sản phẩm nông nghiệp.
Đặc biệt, với những vụ việc như việc cấp khống 800 giấy phép kiểm nghiệm thức ăn thủy sản, Thủ tướng yêu cầu Bộ hết sức nghiêm túc, làm rõ, nếu vi phạm phải xử lý nghiêm, không được xử lý mang tính chất nội bộ.
Đối với công tác bảo vệ rừng và phát triển lâm nghiệp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã yêu cầu đóng cửa rừng tự nhiên, không chuyển rừng nghèo kiệt sang phát triển các dự án khác; đồng thời làm rõ các vụ phá rừng ở Kon Tum, Quảng Nam…
Thủ tướng cũng nhắc nhở Bộ NN&PTNT  trong thực hiện cơ chế hỗ trợ ngư dân khai thác thủy sản, đặc biệt là người dân 4 tỉnh miền Trung bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển, trong đó có giải pháp xử lý sớm lượng hải sản tồn đọng lại trong thời gian qua.
Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường thẳng thắn thừa nhận còn tồn tại về cơ cấu ngành hàng, chưa phát triển trên diện rộng, không đồng đều giữa các ngành hàng và địa phương. Theo Bộ trưởng Bộ NN&PTNT, để liên kết được, phải phát triển hợp tác xã, đây là nhân tố chính, tuy nhiên, số lượng hợp tác xã hiện khá ít.
Đề xuất những giải pháp cho ngành nông nghiệp trong thời gian tới,  Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường kiến nghị cần tập trung vào sản phẩm chủ lực quốc gia, sản phẩm cấp tỉnh, sản phẩm của từng địa phương. Cùng với đó, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư vào nông nghiệp.
Tính từ đầu năm tới ngày 10/11, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ NN&PTNT 503 nhiệm vụ. Hiện, Bộ đã hoàn thành 352 nhiệm vụ (đạt 70%), trong đó đúng hạn 288 nhiệm vụ, quá hạn 64 nhiệm vụ, còn 128 nhiệm vụ chưa hoàn thành, trong đó số nhiệm vụ quá hạn là 14.
Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho biết, những nhiệm vụ chưa hoàn thành có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, liên quan chủ yếu đến văn bản pháp luật. Bộ sẽ hoàn thành trong thời gian sớm nhất nhưng không phải là hoàn thành để đối phó. (Pháp Luật Việt Nam 22/11) đầu trang(
Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Quy hoạch nhằm phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng, thế mạnh; khẳng định vị trí quan trọng của Vùng đối với du lịch Việt Nam. Từng bước nâng cao vị trí, vai trò của du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội của Vùng, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống người dân, góp phần quảng bá hình ảnh vùng đồng bằng sông Cửu Long với cả nước và quốc tế.
Vùng đồng bằng sông Cửu Long (Vùng) bao gồm địa giới hành chính thành phố Cần Thơ và 12 tỉnh: An Giang, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Long An, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long, có diện tích tự nhiên: 40.576,6 km2.
Đến năm 2020, Vùng đón khoảng 34 triệu lượt khách, trong đó có khoảng 3,5 triệu lượt khách quốc tế. Phấn đấu đến năm 2030 đón khoảng 52 triệu lượt khách, trong đó khoảng 6,5 triệu lượt khách quốc tế; tổng thu từ khách du lịch (giá hiện hành) đến năm 2020 đạt khoảng 25 nghìn tỷ đồng. Phấn đấu đến năm 2030 đạt trên 111 nghìn tỷ đồng.
Về định hướng phát triển sản phẩm du lịch, khai thác các tiềm năng và lợi thế của Vùng để hình thành các dòng sản phẩm du lịch hấp dẫn, có sức cạnh tranh cao.
Cụ thể, ưu tiên phát triển các sản phẩm đặc thù, bao gồm: du lịch trải nghiệm đời sống sông nước, du lịch sinh thái, du lịch tìm hiểu di sản văn hóa; củng cố các sản phẩm chính, bao gồm: nghỉ dưỡng biển - đảo và vui chơi giải trí.
Đa dạng hóa sản phẩm du lịch với các sản phẩm bổ trợ, gồm: du lịch cộng đồng, du lịch nông thôn, du lịch tìm hiểu các di tích lịch sử - cách mạng, du lịch hội nghị - hội thảo - sự kiện (MICE).
Phát triển thị trường khách du lịch quốc tế, chú trọng thị trường Tây Âu, Bắc Mỹ và Đông Bắc Á đối với các sản phẩm du lịch đặc thù: trải nghiệm đời sống sông nước, sinh thái, tìm hiểu di sản văn hóa và các sản phẩm du lịch chính của Vùng.
Tập trung phát triển mạnh thị trường du lịch nội Vùng; phát triển thị trường khách đến từ các tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, thị trường Thành phố Hồ Chí Minh, thủ đô Hà Nội và thành phố Đà Nẵng; chú trọng thị trường khách du lịch với mục đích tìm hiểu đời sống sông nước, miệt vườn, lễ hội, văn hóa - tâm linh, nghỉ dưỡng biển - đảo; đồng thời khuyến khích phát triển, mở rộng thị trường khách du lịch theo chuyên đề và du lịch vui chơi giải trí.
Quyết định nêu rõ, tập trung phát triển 5 khu du lịch quốc gia, gồm: Thới Sơn nằm trong cụm cù lao Long Lân Quy Phụng (Tiền Giang, Bến Tre), Phú Quốc (Kiên Giang), Năm Căn - Mũi Cà Mau (Cà Mau), Tràm Chim - Láng Sen (Long An, Đồng Tháp), Núi Sam (An Giang); 7 điểm du lịch quốc gia, gồm: Khu phức hợp giải trí Xứ sở Hạnh phúc (Long An), Cù lao Ông Hổ (An Giang), Khu lưu niệm nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ và nhạc sỹ Cao Văn Lầu (Bạc Liêu), Bến Ninh Kiều (Cần Thơ), Hà Tiên (Kiên Giang), Văn Thánh Miếu (Vĩnh Long), Ao Bà Om (Trà Vinh).
Phát triển thành phố Cần Thơ và đảo Phú Quốc (Kiên Giang) thành trung tâm du lịch và điều phối khách cho toàn Vùng; phát triển thành phố Mỹ Tho (Tiền Giang) thành trung tâm du lịch của Không gian du lịch phía Đông, đồng thời là trung tâm phụ trợ của Vùng.
Dựa trên hệ thống tuyến du lịch nội vùng hình thành và khai thác các tuyến du lịch chuyên đề: sinh thái rừng, biển, khám phá vùng đất ngập nước Đồng Tháp Mười, rừng U Minh, Năm Căn, du khảo đồng quê...
Phát triển tuyến du lịch quốc gia và quốc tế dựa trên việc mở rộng các tuyến du lịch liên vùng gắn với Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ, Cà Mau; tuyến hành lang ven biển phía Nam (Thái Lan - Campuchia - Rạch Giá - Cà Mau theo đường R10) và hệ thống cửa khẩu quốc tế đường bộ Hà Tiên (Kiên Giang), Tịnh Biên (An Giang), Dinh Bà, Thường Phước (Đồng Tháp) và Bình Hiệp (Long An); tuyến đường biển qua các cảng biển (Cần Thơ, Phú Quốc) và tuyến đường sông trên sông Tiền và sông Hậu kết nối với Phnompenh, Seam Reap (Campuchia).
Tăng cường phát triển các tuyến du lịch đường không quốc tế trên cơ sở nâng cấp, mở rộng cảng hàng không quốc tế Cần Thơ và Phú Quốc. (Báo Chính Phủ 21/11) đầu trang(

NHÂN SỰ MỚI
Ngày 21/11, tại Hà Nội, Thường vụ, Đảng ủy Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (BĐBP) đã trao quyết định của Bộ Quốc phòng về việc điều động, bổ nhiệm cán bộ.
Đến dự và trao quyết định có Trung tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Tư lệnh BĐBP; Trung tướng Phạm Huy Tập, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy BĐBP.
Theo đó, Bộ Quốc phòng đã quyết định điều động, bổ nhiệm chức danh mới đối với 8 đồng chí là: Chỉ huy trưởng, Phó Chỉ huy trưởng, Tham mưu trưởng BĐBP các tỉnh, thành: Quảng Nam, Long An, Tiền Giang, Lào Cai, Kon Tum và TP Hồ Chí Minh.
Trong đó, có 3 đồng chí được bổ nhiệm chức danh Chỉ huy trưởng là: Đại tá Nguyễn Hữu Thắng, Chỉ huy trưởng BĐBP Quảng Nam; Đại tá Phạm Phú Phước, Chỉ huy trưởng BĐBP Long An; Đại tá Nguyễn Tiến Dũng, Chỉ huy trưởng BĐBP Tiền Giang.
Phát biểu thay mặt những đồng chí nhận nhiệm vụ mới, Đại tá Nguyễn Hữu Thắng, Chỉ huy trưởng BĐBP Quảng Nam hứa với Bộ Tư lệnh, trên cương vị mới, các đồng chí sẽ luôn cố gắng tu dưỡng đạo đức, nâng cao năng lực công tác, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Phát biểu chúc mừng và giao nhiệm vụ, Trung tướng Hoàng Xuân Chiến mong rằng, các đồng chí được bổ nhiệm cần phát huy truyền thống của lực lượng, của đơn vị, quan hệ mật thiết với chính quyền địa phương, tập trung vào nhiệm vụ chính trị là quản lý và bảo vệ biên giới, xây dựng lực lượng, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.
Trên cương vị công tác mới, từng đồng chí phải không ngừng học tập, trau dồi bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ, phát huy tốt vai trò trách nhiệm, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Trước đó, ngày 17/10, thừa ủy quyền của thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư lệnh BĐBP đã tổ chức trao quyết định bổ nhiệm cán bộ đối với 17 đồng chí, gồm các chức danh là Chỉ huy trưởng, Chính ủy, Phó Chỉ huy trưởng, Phó Chính ủy BĐBP các tỉnh, thành; Chính ủy Cục Hậu cần, Cục Kỹ thuật BĐBP; Chính ủy Hải đoàn 18 BĐBP và Phó Hải đoàn trưởng Hải đoàn 28 BĐBP. (Báo Chính Phủ 22/11) đầu trang(

THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
Theo ĐB Phạm Quang Dũng (Nam Định), nhiều khi lãng phí trong quy hoạch còn lớn hơn tham ô, tham nhũng trong khi việc này chưa được xem xét.
Tiếp tục Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XIV, ngày 21/11, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự thảo Luật Quy hoạch. Trước đó, dự thảo này đã được các ĐB thảo luận tại tổ. Nhiều ý kiến lo ngại về chất lượng và tính ổn định của quy hoạch, bên cạnh đó là tính tuân thủ quy hoạch để quy hoạch không bị thường xuyên điều chỉnh.
Nếu quy hoạch được phê duyệt rồi mà không quy định về điều chỉnh quy hoạch thì sẽ không còn ý nghĩa gì, bởi khi điều chỉnh quy hoạch sẽ ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề quản lý. Đơn cử như quy hoạch đô thị, nếu không có quy định chặt chẽ thì sau khi quy hoạch được phê duyệt, người có thẩm quyền lại phê duyệt điều chỉnh khác đi.
Theo ĐB Phạm Quang Dũng (Nam Định), nhiều khi lãng phí trong quy hoạch còn lớn hơn tham ô, tham nhũng trong khi việc này chưa được xem xét. “Rất nhiều lãng phí về quy hoạch nhưng chúng ta chưa xem xét đến, tôi nghĩ có Luật Quy hoạch sẽ giải quyết được bài toán này”, ĐB kỳ vọng.
Góp ý về thời kỳ quy hoạch, ĐB Phùng Đức Tiến (Hà Nam) cho rằng, cần quy định thời kỳ quy hoạch dài hơn so với dự thảo, cụ thể thời kỳ quy hoạch tối thiểu chung cho các loại quy hoạch là 20 năm, tầm nhìn là 30 năm, quy hoạch ngành, vùng phải có tầm nhìn 50 năm. Quy hoạch tổng thể quốc gia phải có tầm nhìn từ 50 - 70 năm.
“Quy hoạch có dài hơn như vậy mới đảm bảo tính ổn định cho Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương trong điều hành nền kinh tế và trong đầu tư phát triển không bị động, không sợ thay đổi. Quy định dài như vậy cũng tạo áp lực cho các cơ quan lập quy hoạch phải có những dự báo đánh giá dài hạn, đồng thời phải có sự đầu tư công phu cho công tác lập quy hoạch, tránh tình trạng dò dẫm, cóp nhặt, chắp vá”, ĐB nêu quan điểm.
Một thực tế khác cũng được ĐB nêu ra là việc lập và phê duyệt, triển khai quy hoạch ở nước ta thường rất chậm. Có những quy hoạch cho một thời kỳ nhưng khi được phê duyệt đã đi được 1/3 thời kỳ, phê duyệt xong đã không còn phù hợp và phải điều chỉnh. Khi điều chỉnh các dự án phải chờ đợi, đó là lý do vì sao nhiều quy hoạch treo, không được thực hiện và nhiều công trình thực hiện dở dang phải tạm dừng đợi điều chỉnh quy hoạch hoặc nếu cứ triển khai thì rơi vào tình trạng không theo quy hoạch, gây lãng phí lớn cho xã hội. Quan điểm này cũng nhận được sự đồng tình của ĐB Trần Văn Tiến (Vĩnh Phúc).
Giải trình thêm về thời hạn của quy hoạch, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng đồng tình quan điểm phải kéo dài hơn so với hiện nay. Tuy nhiên, cũng tùy cấp độ của từng loại quy hoạch để có thời gian phù hợp. Quan điểm được Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh là, Luật Quy hoạch ra đời sẽ khắc phục được những tồn tại, hạn chế như thiếu tầm nhìn, kém chất lượng, gây thất thoát lãng phí, cản trở sự phát triển của đất nước, phân tán không hiệu quả dẫn đến tùy tiện, chia cắt, cát cứ và xung đột lợi ích giữa các ngành, địa phương; Hướng tới tăng cường liên kết vùng và phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương và phát huy hiệu quả khai thác và sử dụng các nguồn lực của đất nước.
Chiều cùng ngày, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Cảnh vệ. Liên quan đến biện pháp, chế độ cảnh vệ đối với nguyên Tổng Bí thư, nguyên Chủ tịch nước, nguyên Thủ tướng Chính phủ, nguyên Chủ tịch Quốc hội, ĐBQH Phùng Văn Hùng (Cao Bằng) cho rằng: Chúng ta quy định ba biện pháp bảo vệ cứng trong luật là bảo vệ tiếp cận, bố trí lực lượng cảnh vệ vũ trang, canh gác thường xuyên nơi ở, tăng cường lực lượng và phương tiện bảo vệ khi cần thiết.
“Quy định cứng như vậy nghĩa là thực hiện bắt buộc ngay cả khi những vị nguyên lãnh đạo đó không muốn. Chúng ta đều biết mỗi biện pháp cảnh vệ đều hạn chế quyền tự do của con người, tự do của công dân. Khi các vị lãnh đạo cao cấp đã nghỉ không còn giữ những trọng trách của đất nước, trở lại cuộc sống của công dân nên để cho họ lựa chọn là phù hợp nhất. Trường hợp các đồng chí đó không có yêu cầu cảnh vệ thì thực hiện theo nguyện vọng của họ”, ĐB Hùng góp ý.
Về quy định lực lượng cảnh vệ được nổ súng đề cập đến trong luật, ĐB Dương Văn Thông (Bắc Giang) góp ý: “Nổ súng là hành vi cần thiết được quy định với lực lượng cảnh vệ, tuy nhiên cần được quy định chặt chẽ, cụ thể để vừa đảm bảo quyền thực thi nhiệm vụ của chiến sỹ cảnh vệ, vừa không vi phạm quyền con người, quyền công dân”.
Ông Thông đề nghị dự thảo cần quy định theo hướng phân biệt giữa các đối tượng được cảnh vệ, nổ súng để bảo vệ yếu nhân, nổ súng để bảo vệ sự kiện, khu vực cảnh vệ, nổ súng khi thực hiện công vụ có tổ chức và sự kiện độc lập, đồng thời quy định cụ thể trường hợp cụ thể hình thức tấn công trực tiếp nào để sử dụng vũ lực, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.
Giải trình thêm, Thượng tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo dự án Luật cho biết, Ban soạn thảo nhận thấy các ý kiến góp ý của các ĐBQH là hợp lý nên ban soạn thảo xin tiếp thu. Riêng về quy định nổ súng, Ban soạn thảo dự kiến sẽ chỉnh lý để quy định trường hợp nổ súng, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ của lực lượng cảnh vệ một cách cụ thể để đảm bảo quyền công dân và tạo điều kiện cho lực lượng cảnh vệ hoàn thành nhiệm vụ. (Giao Thông 22/11) đầu trang(
Suy cho cùng, mục đích của tất cả những hành động gian dối mà GĐ Công ty TNHH MTV Khai thác Công trình thủy lợi Nam Khánh Hòa Đỗ Hồng Hải đã thực hiện là nhằm rút ruột ngân sách, tham ô tiền đóng thuế của dân.
Nhưng cách làm hồ sơ giả để chống hạn trên giấy của vị giám đốc trẻ mới được bổ nhiệm từ tháng 3.2014, khiến mọi người nghĩ rằng, rút ruột ngân sách quá dễ dàng.
Theo hồ sơ kế toán của Cty Thủy lợi Nam Khánh Hòa, 24 công trình nạo vét chống hạn năm 2014 - 2015 đã quyết toán 5.933.613.237 đồng, trong đó có 1 công trình “thực làm, thực nhận” là 182.194.000 đồng; 13 công trình nạo vét, tu bổ đã quyết toán hơn 3,57 tỉ đồng, chỉ thực hiện khoảng hơn 10%; 10 công trình không hề triển khai, nhưng quyết toán khống gần 1,1 tỉ đồng.
Ví dụ, công trình gia cố bờ cản ngăn sông Cái - Trạm bơm Cầu Đôi đã thực hiện từ cuối năm 2014 bằng nguồn vốn tu bổ thường xuyên; nghiệm thu ngày 24.12.2014, khối lượng đắp gia cố mái đập bằng đá 1.244,5m3, đã thanh quyết toán 299.745.000 đồng. Vậy mà, chỉ 1 tuần sau - ngày 31.12.2014, GĐ Hải lại chỉ đạo lập biên bản kiểm tra hiện trường, xác nhận nhu cầu cần thiết gia cố, đổ đá hộc, để làm cơ sở lập hồ sơ khống, tiếp tục thanh toán 278.074.000 đồng từ nguồn kinh phí chống hạn đầu năm 2015.
Trong “hành trình” tham ô ngân sách, chắc chắn GĐ Hải không thể “một mình, một ngựa”, gần như cùng một thời điểm, Cty Thủy lợi Nam Khánh Hòa được cấp kinh phí và tự duyệt quyết toán khống gần 740 triệu đồng cho 3 bộ hồ sơ nạo vét khơi thông dòng chảy lòng hồ Cam Ranh (hơn 240 triệu đồng), hồ Đồng Bò (gần 200 triệu đồng và hồ chứa nước Cam Ranh (xấp xỉ 299,6 triệu đồng).
Còn nữa, trong số 24 công trình đã nghiệm thu quyết toán, có ít nhất 5 bộ hồ sơ thiếu chữ ký của cán bộ giám sát công trình. Theo phản ánh của “những người trong cuộc”, GĐ Hải có thói quen không nghiệm thu tại hiện trường mà chỉ ngồi ở văn phòng, gọi nhân viên đến ký, thậm chí có những công trình, hạng mục mà người ký tên chưa bao giờ làm việc tại công ty.
Chưa hết, kinh phí sửa chữa thường xuyên hàng năm của Cty Thủy lợi Nam Khánh Hòa được xây dựng dựa trên định mức kinh tế - kỹ thuật trong công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa và được UBND tỉnh phê duyệt theo phương án đặt hàng dịch vụ cấp tưới nước cho sản xuất nông nghiệp được miễn thủy lợi phí.
Năm 2014 Cty này đã thực hiện 26 công trình sửa chữa thường xuyên với tổng dự toán gần 1,1 tỉ đồng và đã thanh quyết toán hơn 1,1 tỉ đồng; năm 2015 thực hiện 23 công trình với tổng dự toán hơn 1,11 tỉ đồng và đã quyết toán hơn 1,12 tỉ đồng. Mặc dù Cty có lập đầy đủ hồ sơ thanh quyết toán ngân sách, nhưng trong thực tế, rất nhiều công trình không thực hiện hoặc chỉ làm qua loa, lấy lệ.
Chẳng hạn, công trình nạo vét thượng lưu lấy nước hồ chứa nước Đồng Bò, thi công từ ngày 25.3 đến 8.4.2015 với tổng kinh phí hơn 106 triệu đồng, nhưng đơn vị quản lý hồ Đồng Bò là VPĐD của Cty Thủy lợi Nam Khánh Hòa tại Nha Trang khẳng định không đề xuất và cũng không hề triển khai thi công trong 2 năm vừa qua(!?).
Rõ ràng, hành vi “cố ý làm trái” có tính hệ thống của GĐ Cty Thủy lợi Nam Khánh Hòa Đỗ Hồng Hải không chỉ là vi phạm Luật Kế toán, Luật Xây dựng và Luật Phòng chống tham nhũng mà còn phạm tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng - theo khoản 3, điều 165 của Bộ luật Hình sự.
Ngay từ đầu, GĐ Cty Thủy lợi Nam Khánh Hòa đã trù tính làm giả hàng chục bộ hồ sơ thiết kế kỹ thuật và dự toán công trình, nhằm mục đích…tham nhũng ngân sách. Vì thế, việc lập chứng từ, hồ sơ thanh toán cũng là để hợp thức hóa “sáng kiến” chống hạn trên giấy. Sau khi chỉ đạo bộ phận kế toán hoàn thành bảng chấm công khống, GĐ Hải và PGĐ Dũng đã bày trò ký hợp đồng, lập biên bản nghiệm thu khống và tìm cách mua nhiều hóa đơn khống!
Trong tổng số hơn 8,5 tỉ đồng mà Cty Thủy lợi Nam Khánh Hòa đã giải ngân, có 3.796.858.000 đồng chuyển khoản khống cho 3 “đối tác” là Cty TNHH TMXD Thành Khánh Quyên (3.288.302.000 đồng), Cty TNHH MTV TM-DV Lộc Phú (250.000.000 đồng), Cty TNHH Vận tải & TM Liên Hoa (258.556.000 đồng) và chi tiền mặt cho 2 vị lãnh đạo Cty 2.046.709.000 đồng.
PGĐ Đoàn Phi Dũng đã ký nhận 1.844.997.000 đồng kinh phí chống hạn nhưng chỉ chi trả cho các đơn vị, cá nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chống hạn chưa đến 104 triệu đồng. Số tiền mặt nhờ tham ô mà có lên đến 1.741.024.200 đồng (gấp 16,7 lần so với các khoản đã chi theo nhu cầu thực tế), sau đó được ông Dũng chuyển cho ông Hải 1.005.323.000 đồng. Ngoài ra, ông Dũng còn ký 4 phiếu chi (735.701.200 đồng) nhưng không nhận tiền mà để thủ quỹ Nguyễn Thị Khánh Trang đưa tiền cho ông Hải.
Ngày 22.6.2016, Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa Lê Đức Vinh ký văn bản (số 4334/UBND-NC) chỉ đạo Sở Tài chính thanh tra đột xuất Cty Thủy lợi Nam Khánh Hòa theo đơn tố cáo của công dân. Ngày 4.7.2016 GĐ Sở Tài chính tỉnh Khánh Hòa Lê Hữu Hoàng đã ký quyết định thanh tra đột xuất Cty Thủy lợi Nam Khánh Hòa. Thanh tra đến đâu, phát hiện sai phạm đến đó.
GĐ Cty Thủy lợi Nam Khánh Hòa Đỗ Hồng Hải buộc phải thừa nhận, riêng “phần” mình đã tham ô ngân sách 6.363.170.019 đồng, bao gồm 1.906.456.012 đồng chiếm giữ bằng tiền mặt và 4.456.714.007 đồng chuyển khoản khống! Vấn đề là, sau thanh tra, ông Đỗ Hồng Hải vẫn ung dung tự tại trên cương vị GĐ doanh nghiệp và không ngần ngại đe nẹt những người từng “dám” bảo vệ sự thật. (Lao Động 22/11) đầu trang(

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Quận Cầu Giấy xác định cải cách thủ tục hành chính (TTHC) là khâu đột phá để tạo môi trường sản xuất, kinh doanh thông thoáng cho các tổ chức, DN trên địa bàn.
Thời gian gần đây, quận đã chỉ đạo các cơ quan đơn vị rà soát, cập nhật, cắt giảm, đề xuất đơn giản hóa TTHC trong mọi giao dịch hành chính.
Chị Nguyễn Hải Liên (khu đô thị Nam Trung Yên, phường Trung Hòa) đang làm TTHC liên thông “3 trong 1” cho con chia sẻ: “Gần đây ra phường giao dịch hành chính, tôi thấy rất nhanh gọn, được cán bộ hướng dẫn tận tình, trả kết quả đúng hạn”.
Hiện nay, bộ phận một cửa (BPMC) phường Trung Hòa đã niêm yết công khai danh mục TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của phường trên bảng giấy và màn hình điện tử 40inch, rất thuận lợi khi tra cứu. Phó Bí thư, Chủ tịch UBND phường Lai Mạnh Tiến khẳng định: Đảng ủy phường đã chỉ đạo UBND phường tuyệt đối không đặt thêm yêu cầu ngoài quy định (lấy xác nhận của tổ dân phố, nộp bản sao có chứng thực…).
Cán bộ, công chức (CB, CC) tiếp nhận hồ sơ phải đối chiếu tài liệu và chịu trách nhiệm việc này, không đẩy trách nhiệm cho người dân. Chủ động rà soát, UBND phường hiện đã rút ngắn thời gian giải quyết của 11 TTHC, với mỗi TTHC rút ngắn từ 1 - 3 ngày.
Tại BPMC phường Nghĩa Tân, mọi thông tin liên quan đến từng TTHC… đều được niêm yết bằng nhiều hình thức. Đến nay, UBND phường đã rút ngắn thời gian giải quyết với 6 TTHC về tư pháp - hộ tịch. Kết quả đáng khích lệ tại phường Trung Hòa, Nghĩa Tân đã góp phần tạo nên thành công chung của quận Cầu Giấy trong cải cách TTHC.
Để chuẩn hóa quy trình giải quyết TTHC, từ năm 2016, UBND quận đã chỉ đạo từ quận đến phường ban hành quy trình giải quyết cụ thể cho từng TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của đơn vị (cấp quận 242 TTHC, cấp phường 170 TTHC). Đến nay, quận đã rút ngắn được thời gian giải quyết với 6 TTHC cấp phường, trong đó TTHC liên thông “3 trong 1” cho trẻ rút ngắn từ 20 ngày xuống còn 5 ngày, được đánh giá là sáng kiến cải cách TTHC của quận năm 2016.
Từ quận đến phường đều có kết quả khả quan trong cải cách TTHC, song Phó Bí thư Thường trực Quận ủy Cầu Giấy Phương Kiến Quốc nhận định: Thực tế việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện cải cách hành chính của một số cơ quan, đơn vị chưa quyết liệt, nhiều lúc chưa kịp thời rà soát TTHC. Quận cần sớm khắc phục việc phối hợp công tác giữa các phòng, ban, ngành với UBND phường và với đơn vị cấp trên theo ngành dọc nhiều khi chưa kịp thời. Mức độ chuyên nghiệp, kỹ năng hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin của một số CB, CC cũng chưa đạt.
Nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính mà trọng tâm là cải cách TTHC để phục vụ người dân tốt nhất, cùng với nâng cao ý thức trách nhiệm của CB, CC, lãnh đạo Quận ủy cũng chỉ đạo các cơ quan đơn vị, các phường thực hiện hiệu quả việc thông tin tuyên truyền, phát huy vai trò giám sát của Nhân dân.
Đẩy mạnh thanh, kiểm tra việc giải quyết TTHC, kiên quyết xử lý nghiêm các vi phạm. Quận cũng đề nghị TP sớm công bố lại bộ TTHC để niêm yết thống nhất tại các cơ quan, đơn vị cùng cấp trên địa bàn TP; sớm phê duyệt đề án vị trí việc làm... (Kinh Tế Và Đô Thị 22/11) đầu trang(
Sau gần một năm khai trương tiếp nhận, trả kết quả 25 thủ tục thuộc dịch vụ công trong lĩnh vực đường thủy qua mạng internet, hôm nay (22/11), những thủ tục còn lại tiếp tục được tiếp nhận, giải quyết trực tuyến, tạo thuận lợi cho người dân, DN.
Theo Cục ĐTNĐ Việt Nam, tổng số có 21 thủ tục của 57 dịch vụ thuộc các lĩnh vực: Quản lý phương tiện thủy và thuyền viên, pháp chế - thanh tra, kết cấu hạ tầng, vận tải và ATGT. Các thủ tục trên được cung cấp trực tuyến ở mức độ 3 - 4 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Cục.
Như vậy, sau hai năm chạy đua với thời gian, 100% các dịch vụ công trực tuyến thuộc phạm vi giải quyết của Cục đã được tiếp nhận, giải quyết qua mạng internet từ mức độ 3 trở lên (giao dịch và xử lý hồ sơ qua mạng), tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, DN. Trước đó, năm 2015, cơ quan này dự kiến chỉ cung cấp trực tuyến được ba thủ tục, nhưng đã quyết tâm đẩy nhanh tiến độ và đạt kết quả khai trương 25 thủ tục (trong đó hai thủ tục được tiếp nhận qua Cổng Thông tin điện tử quốc gia liên quan đến cấp phép cho phương tiện thủy nước ngoài, vận tải qua biên giới). Năm 2016, tiến độ khai trương các thủ tục còn lại cũng được đẩy nhanh, sớm hơn một tháng so với kế hoạch ban đầu.
Theo ông Hoàng Hồng Giang, Cục trưởng Cục ĐTNĐ Việt Nam, việc triển khai các dịch vụ công trực tuyến của Cục trong hơn một năm qua đã góp phần quan trọng trong đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn quy trình xử lý thủ tục, giảm số lượng và đơn giản hóa hồ sơ, giảm thời gian và chi phí thực hiện thủ tục hành chính, tránh được phiền hà cho người dân và DN.
“Công tác cải cách hành chính, trong đó có cung cấp trực tuyến dịch vụ công, luôn được lãnh đạo Cục kiểm điểm trong chương trình công tác hàng tháng, hàng quý và gắn trách nhiệm cụ thể cho Thủ trưởng các bộ phận, đơn vị trực thuộc”, ông Giang khẳng định.
Ông Trần Đỗ Liêm, Chủ tịch HĐQT HTX Rạch Gầm cũng như một số đại diện DN vận tải thủy đánh giá: “Một năm vừa qua, ngành ĐTNĐ có những tiến bộ, thay đổi rõ rệt, thủ tục nhanh gọn hơn, cụ thể hơn. DN không còn bức xúc vì những thủ tục không đáng có”.
Thống kê cho thấy, đến ngày 15/11, Cục ĐTNĐ Việt Nam nhận được hơn 313.500 hồ sơ dịch vụ công yêu cầu giải quyết, trong đó số lượng tiếp nhận và giải quyết trực tuyến qua mạng là gần 9.100 hồ sơ. Trong đó, riêng ba tháng triển khai thí điểm cấp phép cho phương tiện thủy vào, rời cảng bến thủy qua tin nhắn điện thoại (từ giữa tháng 8/2016), số lượng người tham gia thủ tục trực tuyến đã tăng 70 lần so với 7 tháng đầu năm (7 tháng nhận 294 hồ sơ, 3 tháng nhận 8.743 hồ sơ). (Giao Thông 22/11) đầu trang(

KINH TẾ
Theo bà Charlotte Laursen, Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam, thị trường Việt Nam đang rất tiềm năng đối với các doanh nghiệp Đan Mạch, có thể nói xu hướng đầu tư từ Đan Mạch vào Việt Nam đang rất tích cực.
Bà Charlotte Laursen, Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam cho biết, hiện có khoảng 130 doanh nghiệp Đan Mạch đang hoạt động tại Việt Nam trong rất nhiều lĩnh vực: nội thất, nông ngư nghiệp, thực phẩm… Nhiều doanh nghiệp mới vào Việt Nam như như chuỗi bán lẻ đồ nội thất Jysk, hay nhà sản xuất phong điện Vesta, bên cạnh những doanh nghiệp đã hoạt động lâu đời tại đây như Carlsberg hay Maersk đã hoạt động trong nhiều năm.
Nhiều doanh nghiệp Đan Mạch đang bước chân vào thị trường Việt Nam và đánh giá cao tiềm năng của thị trường này. Theo bà Charlotte Laursen, xu hướng đầu tư từ Đan Mạch vào Việt Nam đang rất tích cực.
Gần đây nhất, là việc Carlsberg có ý định mua lại cổ phần Công ty bia rượu nước giải khát Hà Nội (Habeco). Theo bà Charlotte Laursen, nếu như thỏa thuận được hiện thực hóa, chắc chắn sẽ là một bước vững chắc củng cố sợi dây bền chặt giữa hai quốc gia, vốn đã được tạo lập trên nền tảng tôn trọng, tin tưởng và hợp tác mạnh mẽ trong khuôn khổ Hiệp định đối tác toàn diện.
Hay như quỹ Tuborg lần đầu tiên mở rộng phạm vi hỗ trợ ra ngoài biên giới Đan Mạch bằng việc tham gia một sự kiện mới đây tại Việt Nam. Quỹ này được biết tới như nhà mạnh thường quân của hàng loạt hoạt động văn hóa nghệ thuật.
Trong khi đó, bà Charlotte Laursen cũng mong muốn thấy các dòng vốn nước ngoài đổ vào Đan Mạch. Nhìn vào quan hệ thương mại giữa hai nước, Đan Mạch nhập khẩu từ Việt Nam nhiều mặt hàng nông nghiệp, thực phẩm chế biến, và ngược lại xuất sang Việt Nam các sản phẩm tương tự. Dòng xuất nhập khẩu các mặt hàng nông nghiệp được lưu chuyển giữa hai nước. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang quan tâm tới thị trường Đan Mạch.
Năm 2016 đánh dấu cột mốc 45 năm quan hệ ngoại giao Đan Mạch – Việt Nam. Đan Mạch là một trong những quốc gia châu Âu đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào năm 1971 và là một trong những nước đóng góp ODA song phương lớn nhất cho Việt Nam kể từ năm 1993.
ODA của Đan Mạch tại Việt Nam tập trung vào các dự án nước sạch, vệ sinh, nông nghiệp, môi trường, cải cách hành chính. Việt Nam cũng được xem như điển hình thành công của nguồn vốn ODA Đan Mạch trên toàn cầu. Quan hệ song phương giữa hai nước đã phát triển lên một tầm cao mới dựa trên nền tảng tin tưởng và sự tôn trọng lẫn nhau trong khuôn khổ Hiệp định Đối tác Toàn diện giữa hai nước.
Nhiều hoạt động trong khuôn khổ kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Điển hình là việc Bộ trưởng Ngoại giao Đan Mạch tới thăm Việt Nam, và Bà Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng cùng Thứ trưởng Bộ Công thương Hồ Thị Kim Thoa đã dẫn một phái đoàn doanh nghiệp Việt Nam sang thăm và làm việc tại Đan Mạch cũng trong tháng 10. (Vietnamnet 22/11) đầu trang(
Theo số liệu được Tổng cục Hải quan công bố chiều 21/11, kim ngạch xuất nhập khẩu (XNK) của cả nước trong nửa đầu tháng 11 chỉ đạt hơn 15,82 tỷ USD, giảm 2,7% so với nửa cuối tháng 10/2016. Tuy vậy, tính đến 15/11, tổng kim ngạch XNK của cả nước đã cán mốc 300 tỷ USD.
Cụ thể về xuất khẩu, kim ngạch chỉ đạt gần 7,63 tỷ USD, giảm 6,4%; về nhập khẩu đạt gần 8,2 tỷ USD, tăng 1% so với 15 ngày cuối tháng 10/2016.
Tuy nhiên đáng chú ý là tính đến 15/11, tổng kim ngạch XNK của cả nước đã cán mốc 300 tỷ USD, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm 2015. Cán cân thương mại hàng hóa của cả nước có mức thặng dư hơn 2,66 tỷ USD.
Như vậy, sau gần 5 năm, kim ngạch XNK đã tăng thêm 100 tỷ USD (mốc 200 tỷ USD được lập vào nửa cuối tháng 12/2011).
Có được kết quả nêu trên, hoạt động XNK của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (DN FDI) vẫn chiếm vai trò chủ đạo. Tính đến hết ngày 15/11, khối DN FDI kim ngạch XNK đạt gần 194,52 tỷ USD, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2015. Cán cân thương mại của khối DN FDI thặng dư hơn 18,24 tỷ USD… (Thời Báo Tài Chính Việt Nam 22/11) đầu trang(

VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
Cục Viễn thông cho biết việc đổi mã vùng điện thoại cố định được chia làm 3 giai đoạn và chính thức bắt đầu từ ngày 11/2/2017.
Cục Viễn thông (Bộ TT&TT) vừa công bố lộ trình đổi mã vùng điện thoại cố định ở 63 tỉnh thành. Đây là động thái thực hiện quy hoạch về kho số viễn thông có hiệu lực từ 1/3/2015. Trong quy hoạch này có quy hoạch về chuyển thuê bao di động từ 11 số xuống thành thuê bao 10 số và chuyển đổi mã vùng điện thoại cố định.
Cục Viễn thông cho biết, việc đổi mã vùng điện thoại cố định được chia làm 3 giai đoạn. Giai đoạn 1 sẽ chuyển đổi mã vùng của 13 tỉnh, thành phố là: Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Điện Biên, Yên Bái, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.
Thời gian bắt đầu chuyển đổi mã vùng ở những tỉnh này vào 00 giờ 00 phút ngày 11 tháng 2 năm 2017. Thời gian bắt đầu quay số song song vào 00 giờ 00 phút ngày 11 tháng 2 năm 2017 và kết thúc quay số song song vào 23 giờ 59 phút ngày 12 tháng 3 năm 2017.  Thời gian bắt đầu duy trì âm báo vào 00 giờ 00 phút ngày 13 tháng 3 năm 2017 và kết thúc âm thông báo vào 23 giờ 59 phút ngày 14 tháng 4 năm 2017.
Giai đoạn 2 sẽ chuyển đổi mã vùng của 23 tỉnh, thành phố là Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Hà Nam, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Cà Mau, Bạc Liêu, Cần Thơ, Hậu Giang, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng. Thời gian bắt đầu chuyển đổi mã vùng vào 00 giờ 00 phút ngày 15 tháng 4 năm 2017.
Thời gian bắt đầu quay số song song vào 00 giờ 00 phút ngày 15 tháng 4 năm 2017 và kết thúc quay số song song vào 23 giờ 59 phút ngày 14 tháng 5 năm 2017.  Thời gian bắt đầu duy trì âm báo vào 00 giờ 00 phút ngày 15 tháng 5 năm 2017 và kết thúc âm thông báo vào 23 giờ 59 phút ngày 16 tháng 6 năm 2017.
Giai đoạn 3 sẽ chuyển đổi mã vùng của 23 tỉnh, thành phố là TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Kon Tum, Đắk Nông, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai, Vĩnh Long, Bình Phước, Long An, Tiền Giang, Bình Dương, Bến Tre, Tây Ninh, Đồng Tháp.
Thời gian bắt đầu chuyển đổi mã vùng vào 00 giờ 00 phút ngày 17 tháng 6 năm 2017. Thời gian bắt đầu quay số song song vào 00 giờ 00 phút ngày 17 tháng 6 năm 2017 và kết thúc quay số song song vào 23 giờ 59 phút ngày 16 tháng 7 năm 2017. Thời gian bắt đầu duy trì âm báo vào 00 giờ 00 phút ngày 17 tháng 7 năm 2017 và kết thúc âm thông báo vào 23 giờ 59 phút ngày 31 tháng 8 năm 2017.
Cục Viễn thông cho biết, mã vùng của 4 tỉnh là Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hòa Bình và Hà Giang giữ nguyên. Kế hoạch chuyển đổi mã vùng kết thúc vào ngày 31/8/2017.
Việc chuyển đổi mã vùng điện thoại cố định sẽ ảnh hướng lớn nhất đến VNPT vì đây là nhà mạng có số thuê bao cố định lớn nhất. Trả lời ICTnews trước đó, ông Nguyễn Nam Long, Tổng giám đốc VNPT Net cho biết, VNPT đã sẵn sàng đổi mã vùng điện thoại cố định ở 63 tỉnh thành. Việc chuyển đổi sẽ ảnh hưởng nhiều đến khách hàng nên VNPT đã tính toán đến phương án giữ số song song trong một thời gian để khách hàng nhận biết.
“VNPT đã có phương án đổi mã vùng điện thoại cố định ở 63 tỉnh thành. Sự chuyển đổi này sẽ ảnh hưởng lớn đến với những khách hàng đang sử dụng điện thoại cố định. Ví dụ như khách hàng ở Hà Nội đang dùng đầu số 04 sẽ chuyển sang dùng đầu số khác. Vì vậy, VNPT đã tính toán có thể thực hiện theo từng tỉnh và thực hiện giữ số song song để cho khách hàng làm quen với việc đổi số”, ông Nguyễn Nam Long nói.
Trả lời ICTnews trước đó, ông Trần Mạnh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Viễn thông cho rằng: “Khi Bộ TT&TT thống nhất phương án và thời điểm thay đổi mã vùng điện thoại cố định thì doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phải thông báo trước 60 ngày đến các thuê bao trên phương tiện thông tin đại chúng và cho phép gọi đồng thời cách cũ và cách mới trong vòng 60 ngày. Điều này sẽ giảm thiểu ảnh hưởng cho khách hàng trong quá trình diễn ra thay đổi”, ông Trần Mạnh Tuấn nói.
Cục Viễn thông cho biết, hiện nay phần lớn kho số được sử dụng cho thuê bao điện thoại cố định, rất ít còn lại cho thuê bao di động, trong khi số thuê bao di động đang chiếm khoảng 95% tổng số thuê bao điện thoại của Việt Nam. Như vậy, hiệu quả sử dụng kho số chưa cao. Điều này không chỉ diễn ra ở Việt Nam, đây là xu hướng chung trên thế giới khi mà dịch vụ điện thoại cố định suy giảm mạnh và người dùng chuyển sang sử dụng di động là chính.
Cục Viễn thông nhận định rằng, việc chia tách và hợp nhất tỉnh, thành phố dẫn đến mã vùng (vùng cước nội hạt của thuê bao cố định cùng một vùng nội hạt trong một tỉnh gọi cho nhau thì chỉ phải trả giá cước nội hạt thấp mà không phải trả cước liên tỉnh) số cố định không nhất quán, mã vùng có độ dài khác nhau. Ví dụ mã Hà Nội là 4, Thanh Hóa là 37, Nam Định là 350 (Nam Hà là 35, tách ra Hà Nam là 351, Nam Định là 350).
Thông thường trên thế giới, Thủ đô đông dân nên thường có mã tỉnh ngắn, còn lại các tỉnh bình thường có mã dài hơn 1 chữ số. Thực trạng hiện nay sớm hay muộn cũng phải đổi lại các mã vùng nội hạt để có một bảng mã vùng đồng nhất theo thông lệ quốc tế. Việc đổi lại mã vùng không ảnh hưởng đến số thuê bao cố định vì đây không phải đổi số thuê bao, nhưng sẽ tạo ra một bảng mã số tốt và hiệu quả hơn rất nhiều so với hiện giờ. (ICT News 22/11) đầu trang(

MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
Tiền thân là các tổ chức thanh tra của tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng, trải qua 59 năm xây dựng và trưởng thành, Thanh tra tỉnh Quảng Ninh đã không ngừng lớn mạnh. Những thành quả hoạt động của ngành Thanh tra địa phương đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của tỉnh Quảng Ninh trên con đường đổi mới...
Sau 20 năm đổi mới, tỉnh Quảng Ninh đã khoác lên mình một "tấm áo" mới với điểm nổi bật là nền kinh tế phát triển toàn diện; thu ngân sách tăng cao, đã vươn lên là 1 trong 6 tỉnh, thành phố có số thu cao nhất cả nước.
Trong bối cảnh đó, ngành Thanh tra Quảng Ninh đã có nhiều nỗ lực, phấn đấu thực hiện tương đối toàn diện các nhiệm vụ được UBND tỉnh giao.
Trong giai đoạn 1986 - 2016, toàn ngành đã tập trung kiện toàn và củng cố tổ chức bộ máy thanh tra các cấp. Đồng thời, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ lý luận và chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ công chức.
Đến nay, toàn tỉnh đã có 33 tổ chức thanh tra với tổng số 286 cán bộ công chức và người lao động; trong đó, có 270 cán bộ, công chức có trình độ đại học và trên đại học; 3 cử nhân lý luận chính trị, 49 cao cấp, 106 trung cấp và tương đương trung cấp, 52 cán bộ có trình độ sơ cấp; 153 cán bộ, công chức được bổ nhiệm vào các ngạch thanh tra viên.
Trao đổi với phóng viên, ông Lê Văn Ánh, Chánh Thanh tra tỉnh Quảng Ninh chia sẻ: "Tự hào với truyền thống vẻ vang qua 71 năm phấn đấu, phát triển của ngành Thanh tra và 59 năm xây dựng, trưởng thành của thanh tra tỉnh, toàn ngành Thanh tra đã nỗ lực vượt khó, tạo nên nhiều thành quả to lớn.
Trong thời kỳ đổi mới đất nước, ngành Thanh tra Quảng Ninh đã bám sát quá trình chuyển đổi của nền kinh tế để tổ chức các hoạt động thanh tra phù hợp, góp phần giữ vững ổn định chính trị của tỉnh".
Những thành tựu kinh tế xã hội của tỉnh đạt được trong 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới và những đóng góp của ngành Thanh tra Quảng Ninh đã trở thành nguồn động viên cổ vũ cán bộ, công chức toàn ngành tiếp tục thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà các ngành, các cấp và nhân dân giao phó.
Trong 10 năm (2006 - 2016), các đơn vị thanh tra trong tỉnh đã tổ chức được 329 cuộc thanh tra tài chính ngân sách tại 404 cơ quan, đơn vị. Qua thanh tra đã kiến nghị thu hồi hơn 15 tỷ đồng; giảm trừ quyết toán hơn 7,6 tỷ đồng và các xử lý khác hơn 5,2 tỷ đồng.
Trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, toàn ngành đã tiến hành 374 cuộc thanh tra với 846 công trình, dự án. Qua đó, kiến nghị xử lý về kinh tế gần 209 tỷ đồng, xử lý kỷ luật 72 cá nhân.
Đặc biệt, trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai, ngành Thanh tra đã triển khai 202 cuộc thanh tra; phát hiện số tiền sai phạm gần 23 tỷ đồng và 2.113.988m2 đất; kiến nghị thu hồi hơn 16,7 tỷ đồng và 2.025.388m2 đất; thu trả công dân hơn 1,3 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, các cơ quan thanh tra của tỉnh cũng đã tiến hành 193 cuộc thanh tra trách nhiệm. Qua đó, đã đôn đốc, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị thực hiện tốt quy định của pháp luật trong công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại (KN), tố cáo (TC); tổ chức thi hành các quyết định giải quyết đã có hiệu lực pháp luật...
Đồng thời, các cơ quan trong tỉnh đã tiếp 57.556 lượt công dân, có 1.460 lượt đoàn đông người; nhận 34.295 đơn, trong đó, có 2.469 đơn KN, 648 đơn TC và 31.178 đơn kiến nghị, đề nghị.
Đến nay, các cấp, các ngành trong tỉnh đã giải quyết 2.628 đơn. Qua giải quyết KN, TC đã kiến nghị thu hồi và trả lại cho công dân hơn 3,6 tỷ đồng; kiến nghị xử lý kỷ luật hành chính 104 người; chuyển cơ quan điều tra xử lý 3 vụ với 36 người.
Kết quả trên là công sức, trí tuệ và sự đoàn kết của tập thể đội ngũ cán bộ ngành Thanh tra tỉnh Quảng Ninh, góp phần tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của các thế hệ công chức ngành Thanh tra trong suốt chiều dài 59 năm xây dựng và phát triển.
Đồng thời, luôn thể hiện được phẩm chất cao quý của người cán bộ thanh tra "Trung thành, tận tụy, gương mẫu, liêm khiết, khách quan, công tâm", hết lòng, hết sức vì nhiệm vụ, xứng đáng là “tai mắt của trên, là bạn của dưới” như lời Bác Hồ dạy. (Thanh Tra 22/11) đầu trang(

BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Diễn đàn Quốc hội trong những ngày chất vấn và trả lời chất vấn thu hút sự chú ý của dư luận cử tri cả nước, không chỉ những vấn đề về kinh tế - xã hội nóng bỏng, mà còn là chuyện “văn hóa” từ chức!
Mới hay, chuyện chức quyền đang gây nhiều bàn luận, khi những nhức nhối trong một bộ phận không nhỏ đảng viên có quyền đang thao túng khuynh đảo đất nước bằng chính quyền uy. Dư luận nói nhiều đến chạy chức quyền, chuyện “ký tá” vội trước khi “hạ cánh”. Thôi thì “đôn ghế” trao quyền cho người nhà thân hữu. Thôi thì chuyện chồng xếp ghế cho vợ, bố đặt ghế cho con trai, anh lo ghế cho em… Nhưng lạ một điều, toàn như “bế bổng” nhau lên để hưởng “lộc giời” từ chức quyền đem lại.
Ở đời đã ham hố cái gì thì như bất chấp. Quyền chức ghế nọ ghế kia nhiều khi còn có sức như “ma lực” khó ai ngờ. Dư luận đã nói đến ngôn từ “nghiện chức sắc”!
Thế nên đó đây người non nghiệp vụ, tâm kém tài non vẫn cứ mơ làm lãnh đạo. Chạy như “việt dã” về chức quyền, cũng bởi vì thế chăng? Đền Trần - Nam Định năm nào cũng xéo lên nhau cướp ấn, tranh ấn, rồi cả chuyện ai đó xì xụp khấn vái mong “đức Thánh Trần” phù hộ ban phát cho quyền nọ chức kia cũng đều có cả.
Các DN giờ cứ kêu khổ vì ngày lo sản xuất kinh doanh, hết giờ hành chính là tối ngày lo đi quan hệ. Nhìn thẳng người chả làm DN cũng chả thiếu những cuộc đua chạy chọt ghế nọ ghế kia ở các bộ ngành cho đến tỉnh thành, quận huyện, phường xã. Chính “ba cái trò” chạy chọt vô lối trớ trêu này là “đất sống” cho một bộ phận thoái hóa, vụ lợi, kết bè kéo cánh “đánh đu” vào.
Công tác tổ chức cán bộ ở đâu không tỉnh táo, không soi xét kỹ, không nâng lên đặt xuống, mà có chút nể nang chi đó, là lũ cơ hội “chui lọt” như chơi? Chạy được ghế này lại “mơ” chạy tiếp ghế khác, mua được ghế này lại “ước” ghế kia cao hơn. Thành ra, việc chung chả mấy lo, chỉ thấy thu vén cá nhân và vụ lợi.
Tất nhiên quà cáp phong bao bỏ ra để “chạy”, khi có ghế, có quyền là tìm cách “biến báo” xà xẻo để thu về. Tham nhũng là ở đây, sai phạm trong quản lý nhà đất, bạc tiền lớn cũng là ở đây? Tinh quái ranh ma, những đường “pan” chạy chức quyền càng lắt léo các cơ quan thanh tra kiểm tra rất khó phát hiện, khó nhìn ra. Ấy là chưa kể lại có cả dù ô che chắn thì “vỏ bọc” còn kín cạnh hơn nhiều!
Một bộ phận tha hóa không nhỏ mà Đảng ta nói đến khi ẩn lúc hiện, ngụy trang bằng đủ cách đủ trò là đó. Khi chúng mềm dẻo “nhũn nhặn như con chi chi”, nhưng cũng có lúc chúng cũng “giương oai, giương uy, khoe võ” đủ trò(?)
Chỉ thẳng tất cả những mánh mung của một bộ phận mà đất nước gọi thẳng tên là “giặc nội xâm” như thế, mới thấy cuộc chiến chống tham nhũng lộng quyền, thao túng quyền lực chúng ta phải quyết liệt hơn, nhưng cũng phải cả tỉnh táo, kiên trì.
Câu hỏi đặt ra khi đã khắc họa chân dung của tham nhũng, của thao túng quyền uy, phải làm gì để loại nhanh những “nhân vật” này ra khỏi đội ngũ các cơ quan công quyền, vì số này có xứng với “công bộc” đâu?
Đừng hy vọng một bộ phận không nhỏ này có “văn hóa” từ chức, tự nguyện từ chức, trừ khi bị pháp luật “sờ gáy”. Có phải vì thế, mà chuyện tự nguyện từ chức càng như quá hiếm hoi. Cả chuyện đất nước vừa cách chức đảng một bộ trưởng khi không còn chức như một chuyện hy hữu bây giờ mới có.
Đã đến lúc phải “soi” lại thể chế, cơ chế, quy trình, quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, đào tạo trong công tác cán bộ. Liệu quy trình có gì còn hở chăng? Càng thấy, bộ máy nặng nề, công chức quá đông, nói tinh giản mà vẫn như quá khó. Bởi khi đã có ghế, không ai chịu rời ra, cho dù năng lực kém non. Ấy là chả thiếu chuyện người kém tài, non tâm, còn “ôm” nặng tính đố kỵ, ghen ghét với những người tài năng đức độ.
Bộ Nội vụ hãy rà soát lại chuyện một thời các bộ ngành thừa cấp thứ trưởng, giờ ra sao, đã siết chặt chưa? Lại nghe những cái ghế vụ phó, cục phó, viện phó ngành này bộ kia bổ nhiệm thừa ra cũng chả ít đâu.
Đề bạt trao quyền đã khó, nhưng từ chức, “hạ bệ” còn khó hơn nhiều! Phải làm sao những “công bộc” của dân khi còn tuổi làm việc phải tâm huyết, hết lòng lăn xả lo cho dân, cho nước, khi đến tuổi nghỉ hưu phải có sự thanh thản nhẹ nhàng! Nhưng xem ra chả ít công chức có quyền khi nghỉ hưu đầu óc bứt rứt, khốn khổ như tự đầy ải mình, như rứt thịt rứt da! Nhiều người hụt hẫng khi về với đời thường, sống với đời thường, đến nỗi người tọp hẳn đi, nhìn thật tội nghiệp(!) Chưa xa cũng đã có cả chuyện “xin ghế” không biết cười hay khóc. Ấy là một thầy giáo cấp 3 có cậu trò được ngồi ghế giám đốc một sở giáo dục, ông thầy đã tìm đến trò: Thầy còn chưa đầy 2 năm nữa nghỉ hưu, chả biết cái ghế lãnh đạo nó thế nào, anh “thu xếp” cho thầy một chân. Ngỡ là thầy đùa cho vui, nhưng lại là chuyện thật.
Cậu trò giám đốc sở đã lo cho thu xếp cho thầy giáo cũ cái ghế hiệu phó của trường cho đến khi nghỉ hưu dù thầy cũng chả biết làm gì. Mới hay ông thầy này cũng chỉ để lấy “cái danh”: Mình từng làm hiệu phó, từng làm lãnh đạo khi về sinh hoạt với dân phố! Trớ trêu đến thế, càng thấy chức quyền, quyền chức còn như một thứ hơn cả “bùa mê”(?).
“Văn hóa” từ chức bao nhiêu hội thảo diễn đàn nói đến! Đó cũng chính là cái văn hóa biết “liêm sỉ” của con người, mà sao khó quá đa? Phải chăng chúng ta chưa quen, chưa coi đó như chuyện bình thường quốc gia nào chả vậy.
Những người bất tài vụ lợi, xéo đạp lên đất nước nhân dân, cố đeo bám chức quyền thao túng quyền uy, đất nước thực thi “pháp trị” cũng phải có chế tài để “hạ bệ” họ. Còn cứ ngồi chờ cái sự “tự nguyện từ chức”, làm sao có được. Cả những người còn tuổi nhưng sức khỏe bệnh tình, hay hoàn cảnh gia đình không “kham nổi” trọng trách nữa, cũng cần có cơ chế, chính sách để cái “văn hóa” tự nguyện từ chức nhẹ nhàng trong danh dự.
Nhưng thực tế có nhiều người yếu kém, không biết mình yếu kém, vẫn cứ nghĩ mình tài không chịu rời vị trí. Có người cả kém non, cả sai phạm rề rề, nhưng khi tổ chức gợi ý thôi giữ trọng trách, lại nổi đóa, nổi khùng rất vô lý. Có người tổ chức cho nghỉ vẫn còn ỳ ra không chịu bàn giao!
Càng thấy chuyện tìm người tài giỏi để trao trọng trách đã công phu, khó khăn, nhưng việc cho từ nhiệm, từ chức những người yếu kém còn như khó hơn. Càng thấy cái “văn hóa” từ chức chúng ta nói quá nhiều mà vẫn cứ như còn quá xa xôi!
Đất nước bứt phá đi lên, Chính phủ nêu cao mục tiêu kiến tạo liêm chính, không thể chậm trễ trong xây dựng quy chế của “văn hóa” từ chức”!
Không thể cứ vào biên chế là coi như “ấm chỗ cả đời”, rồi làm việc theo kiểu “vác ô”. Càng không thể cứ ỷ vào tư duy quy hoạch nhiệm kỳ, rồi vụ lợi “sân trước sân sau” đôn con nhét cháu, ưu ái thân hữu huynh đệ loạn xạ. Đã đến lúc phải xem vị trí những người nắm giữ trọng trách gần bạc tiền nhà đất, xem người đứng đầu các DN, các ngân hàng lớn này “có ẩn” trong đó những DN của vợ con để “hứng lộc”, kiểu lãi lờ thì DN gia đình hưởng hết, còn thua lỗ gì “ấp cả” vào DNNN của chồng, của bố “gánh” hết! Chuyện định giá DN trong cổ phần hóa DNNN càng phải soi cho kỹ cũng đủ chuyện “làm xiếc” moi ruột bạc tiền, nhà đất xem ra cũng đủ chiêu trò!
“Văn hóa” từ chức rõ ràng không thể chỉ nói cho hay, cho vui, mà không làm. Đó chính là khát vọng của lòng dân, là mong mỏi của người dân cả nước với Chính phủ nhiệm kỳ này! (Xây Dựng 22/11) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Các đảng đối lập Nam Phi ngày 20/11 đồng loạt kêu gọi Tổng thống Jacob Zuma thông báo tới cảnh sát về hành vi tham nhũng sau khi nói rằng biết ai đang ăn cắp công quỹ.
Kể từ khi lên nắm quyền vào năm 2009, Tổng thống Zuma đã trải qua hàng loạt bê bối tham nhũng mà hầu như không bị tổn thương chút nào. Tuy nhiên, trong tháng này, cơ quan giám sát chống tham nhũng của Nam Phi đã kêu gọi một cuộc điều tra về những cáo buộc có ảnh hưởng không nhỏ tới đảng cầm quyền Đại hội Dân tộc Phi (ANC).
Ngày 18/11 vừa qua, trong nỗ lực để củng cố sự ủng hộ của người dân tại nơi sinh ra (tỉnh Kwazulu-Natal), Tổng thống Zuma đã nói tại Zulu rằng: “Tôi biết có kẻ đang ăn cắp công quỹ. Tôi vẫn đang theo dõi họ. Tôi biết họ là ai", truyền thông địa phương trích dẫn lời Tổng thống.
Cả Đảng Liên minh Dân chủ (DA) và Đảng Các chiến sĩ đấu tranh cho tự do kinh tế (EFF) - 2 đảng đối lập lớn nhất của Nam Phi - ngày 20/11 đều lên tiếng kêu gọi ông Zuma chia sẻ thông tin với chính quyền.
“Tổng thống Zuma có nghĩa vụ theo pháp luật là phải thông tin cho các cơ quan thực thi pháp luật về những người ông biết là đã tham gia vào các hành vi tội phạm", lãnh đạo Đảng DA Mmusi Maimane nói trong một tuyên bố.
Cũng theo ông Maimane, Đảng đối lập DA đã đệ đơn khiếu kiện hình sự chống lại ông Zuma và yêu cầu cảnh sát vào cuộc điều tra những người mà Tổng thống nói là biết đang ăn cắp công quỹ.
Trong một tuyên bố, Đảng EFF cũng yêu cầu ông Zuma phải ngay lập tức báo cáo về những kẻ ăn cắp công quỹ, nếu không, EFF cũng sẽ khiếu kiện hình sự đối với Tổng thống. (Thanh Tra 22/11) đầu trang(./.