Xem ngày trước
BẢN TIN TỔNG HỢP
Xem ngày kế tiếp

Ngày 18 tháng 08 năm 2017
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
TIÊU ĐIỂM
QUẢN LÝ
NHÂN SỰ MỚI
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
KINH TẾ
PHÁP LUẬT
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
NHÌN RA THẾ GIỚI

CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 79/2017/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư 156/2013/TT-BTC hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế.
Theo đó, trong quy định về thủ tục, hồ sơ xóa nợ tiền thuế đối với trường hợp doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, Thông tư 79 quy định doanh nghiệp xuất trình 3 loại giấy tờ thay vì 2 loại như trước đây.
Theo quy định hiện hành tại Thông tư 156, hồ sơ xóa nợ thuế của doanh nghiệp tuyên bố phá sản chỉ bao gồm: Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản kèm theo phương án phân chia tài sản; Quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp của Tòa án.
Quy định mới tại Thông tư 79 yêu cầu doanh nghiệp phải xuất trình 3 loại giấy tờ gồm: Quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp của Tòa án; tài liệu phân chia tài sản của chấp hành viên thể hiện số nợ thuế thu hồi được hoặc không thu hồi được; quyết định về việc đình chỉ thi hành quyết định tuyên bố phá sản của cơ quan thi hành án dân sự.
Các giấy tờ này có thể là bản chính hoặc bản sao y bản chính.
Thông tư 79 có hiệu lực thi hành từ 15/9/2017. (Đấu Thầu 18/8) đầu trang(
Để bảo đảm hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 đã đề ra, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp thuộc lĩnh vực, địa bàn phụ trách đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao tại các Nghị quyết của Chính phủ và Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 2/6/2017.
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung chỉ đạo thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tiết giảm chi phí, tạo mọi thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Rà soát, có giải pháp cụ thể tạo thuận lợi thúc đẩy triển khai thực hiện, giải ngân các dự án đầu tư trên địa bàn, bao gồm cả dự án đầu tư công và đầu tư tư nhân, đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Đối với các địa phương có tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ cao, điều tiết về ngân sách trung ương (16 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hưng Yên, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Cần Thơ), Thủ tướng Chính phủ yêu cầu phải tập trung rà soát, có giải pháp cụ thể tạo thuận lợi thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ trên địa bàn, nhất là những ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế, đóng góp tích cực vào tăng trưởng GDP chung của cả nước. (Báo Chính Phủ 17/8) đầu trang(
Bộ Tài chính đang dự thảo Nghị định quy định chế độ quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi do Nhà nước đầu tư từ ngân sách nhà nước.
Bộ Tài chính cho biết, đến nay, với sự đầu tư rất lớn của nhà nước, sự đóng góp của nhân dân và các tổ chức quốc tế trên phạm vi toàn quốc, đã xây dựng được 904 hệ thống thuỷ lợi lớn và vừa có quy mô diện tích phục vụ từ 200 ha trở lên, trong đó có 110 hệ thống thủy lợi lớn (diện tích phục vụ lớn hơn 2.000 ha).
Cùng với đó, đã xây dựng được 6.831 hồ các loại, với tổng dung tích trữ 50 tỷ m3, trong đó có 150 hồ thủy điện với tổng dung tích trữ khoảng 39,6 tỷ m3, 6.681 hồ thuỷ lợi với tổng dung tích 10,28 tỷ m3. Các hồ chứa đã và đang phục vụ cho phát điện, cấp nước sinh hoạt và phát triển kinh tế, bảo đảm tưới cho 800.000 ha đất canh tác.
Tuy nhiên, việc quản lý, sử dụng, khai thác khối tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi nêu trên (trước khi Quốc hội ban hành Luật Thủy lợi, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công) còn hạn chế do phân công, phân cấp quản lý Nhà nước còn bất cập. Thực tế, doanh nghiệp thủy lợi làm cả chức năng về quản lý nhà nước đối với tài sản hạ tầng thủy lợi; tài chính bù đắp cho hoạt động thủy lợi không tuân thủ quy luật kinh tế khách quan, không bù đắp đủ chi phí. Bao cấp của Nhà nước cho người sử dụng sản phẩm, dịch vụ thủy lợi còn rất lớn...
Từ những hạn chế nêu trên và với đặc điểm của tài sản hạ tầng thủy lợi tham gia phục vụ hầu hết các hoạt động trong xã hội, việc quản lý vận hành có tính hệ thống từ công trình đầu mối đến hệ thống dẫn nước, từng bộ phận giá trị tài sản bị hao mòn nhưng việc bù đắp được từ khấu hao để hạch toán vào giá thành sản phẩm, dịch vụ thủy lợi là rất khó khăn, việc xây dựng Nghị định quy định quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi là cần thiết.
Dự thảo nêu rõ nguyên tắc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản hạ tầng thủy lợi. Theo đó, mọi tài sản hạ tầng thủy lợi được đầu tư từ ngân sách nhà nước phải xác định rõ chủ thể trong quản lý, sử dụng và khai thác. Quản lý, sử dụng và khai thác tài sản hạ tầng thủy lợi được thực hiện thống nhất, phân cấp rõ thẩm quyền, trách nhiệm.
Đồng thời khuyến khích, tạo động lực, điều kiện cho mọi tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện đầu tư xây dựng, quản lý, sử dụng và khai thác tài sản hạ tầng thủy lợi bao gồm cả các công trình cấp nước sạch phục vụ dân cư đô thị và dân cư nông thôn.
Dự thảo cũng quy định các hành vi bị nghiêm cấm gồm: Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt, sử dụng tài sản hạ tầng thủy lợi trái pháp luật dưới mọi hình thức; cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng và khai thác tài sản hạ tầng thủy lợi; hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản hạ tầng thủy lợi.
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến góp ý của nhân dân đối với dự thảo này tại Cổng Thông tin điện tử của Bộ. (Đấu Thầu 18/8) đầu trang(

TIÊU ĐIỂM
Một con số được đưa ra tại Ủy ban Thường vụ QH trong phiên họp năm ngoái là trên toàn tuyến QL1 có tới 37 trạm thu phí. Trong số này quá nửa là trạm thu phí của các dự án BOT. Nhưng điều ngạc nhiên nhất là có tới 8 trạm BOT bị đặt nhầm chỗ gây bức xúc dư luận.
Đây là các trạm BOT tuyến tránh QL1 qua các thị xã, thành phố. Nói một cách khác, các nhà đầu tư làm đường BOT một đằng nhưng lại đặt trạm ở “xương sống” QL1 và trở thành những “khối u”. BOT Cai Lậy - Tiền Giang chính là một “khối u” như vậy.
Khi những vấn đề của trạm BOT Cai Lậy được làm sáng tỏ và bản chất của nỗi bức xúc trong dân chính là trạm thu phí lẽ ra phải được đặt ở đường tránh thì dời ngay ra QL1. Điều này khiến các chủ phương tiện dù không sử dụng đường BOT vẫn phải trả tiền. Việc sử dụng tiền lẻ như một cách phản đối sự vô lý này đã từng xảy ra ở nhiều trạm thu phí BOT “đặt nhầm chỗ” khác.
Ở Thanh Hóa, tuyến tránh TP.Thanh Hóa dài 9,98km, với tổng mức đầu tư 822 tỉ đồng theo hình thức BOT thu phí từ 2009. Để đảm bảo hoàn vốn, nhà đầu tư được thu phí tại trạm Tào Xuyên - nằm ngay QL1, không liên quan gì tới “tuyến tránh” với mức thu phí bằng 2 lần mức thu phí đường bộ được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước.
Sau đó, trạm Tào Xuyên lại tiếp tục được thay thế bằng trạm Dốc Xây từ năm 2012 - cách tuyến tránh dự án BOT tới… 50km. Mới đây sau khi kiểm toán và chính nhờ “lợi thế nhầm chỗ” được đặt trên xương sống QL1, dự án tuyến tránh Thanh Hóa giảm tới… 20 năm thu phí.
Vô lý tương tự xảy ra với dự án BOT Phú Tượng - Phú Gia đặt trạm ở thị trấn Lăng Cô không hề liên quan gì đến hai hầm đường bộ Phước Tượng và Phú Gia (huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế) mà Cty cổ phần Phước Tượng - Phú Gia đầu tư, xây dựng.
Nhưng gây bức xúc trong dư luận là “khối u” trạm BOT cầu Bến Thủy. Cầu Bến Thuỷ 1 bắc qua sông Lam, nối Nghệ An và Hà Tĩnh được xây dựng năm 1990, dài 630m. Năm 2012, cầu Bến Thủy 2 được xây dựng thêm song song và cách cầu cũ 800m, nằm trên trục đường BOT tuyến tránh thành phố Vinh và quốc lộ 1A mở rộng đoạn Nam Bến Thủy dài 35km.
Để hoàn vốn, nhà đầu tư là TCty cổ phần xây dựng giao thông Cienco 4 (thuộc Bộ GTVT) đặt trạm thu phí ở đầu hai cầu Bến Thủy 1 và 2 phía tỉnh Nghệ An. Người dân ở Hà Tĩnh chỉ ngay ra bất hợp lý: “Một người dân Nghi Xuân (Hà Tĩnh) đi khám bệnh ở TP.Vinh chi 40.000 đồng taxi, nhưng phải trả thêm 80.000 đồng phí BOT trong khi không sử dụng bất cứ mét đường BOT nào”. Và để phản đối trạm này trong đợt tăng giá hồi cuối 2016, người dân đã dùng chiêu “trả bằng tiền lẻ”, “đỗ xe chắn trạm…”.
Một “khối u” nổi tiếng khác là trạm Quán Hàu (Quảng Bình) đặt trên QL1 có “nhiệm vụ” thu triệt để phương tiện giao thông (ôtô) qua đây dù đoạn BOT tuyến tránh Quảng Bình nằm ở nơi… hoàn toàn khác.
Điểm mặt còn có những dự án tuyến tránh TP.Biên Hòa, tuyến tránh qua Sóc Trăng… đều có tình trạng này.
Lý giải cho những trạm BOT đặt nhầm chỗ chẳng khác nào những “khối u” gắn vào xương sống QL1 vốn đã dày đặc trạm thu phí, tất cả các nhà thầu, thậm chí cả Bộ GTVT cũng thừa nhận rằng, nếu không được đồng ý đặt trạm như vậy thì không đầu tư.
Trong văn bản ra ngày 15.8.2017 về việc “báo cáo bất cập, đề xuất phương án xử lý đối với trạm thu phí Cai Lậy - Tiền Giang”, Tổng cục Đường bộ gửi Bộ GTVT cũng xác nhận: “Về vị trí đặt trạm thu phí như hiện nay (km 1999 + 300 QL1) đã có sự đề xuất, thống nhất của UBND tỉnh Tiền Giang (văn bản số 4717 ngày 2.10.2015), của Bộ Tài chính (văn bản số 17593) và Bộ GTVT (văn bản 16189). Việc đặt trạm thu phí trong phạm vi dự án là phù hợp và đảm bảo phương án tài chính khả thi của dự án. Có vị trí đặt trạm thu phí như hiện nay thì nhà đầu tư mới ký hợp đồng tham gia dự án và mới có dự án như hiện nay”.
Trong văn bản, Tổng cục Đường bộ cũng thừa nhận, ngoài trạm Cai Lậy thì trên toàn tuyến QL1 có 7 trạm khác tương tự đang thu phí.
Để “hợp thức hóa” Cty TNHH BOT đầu tư quốc lộ 1 Tiền Giang, chủ đầu tư dự án BOT tuyến tránh thị xã Cai Lậy cho rằng sở dĩ được chấp thuận như vậy ngoài sự đồng ý của tỉnh, các bộ thì họ cũng đầu tư 300 tỉ để bảo trì, tăng cường tuyến đường QL1 (cũ).
Như vậy có thể thấy rõ việc “phải được đặt trạm ở QL1” là một trong những điều kiện đầu tư. Trả lời báo chí về việc có thể di dời các trạm BOT nhầm chỗ hay không, chính Thứ trưởng Nguyễn Hồng Trường cũng cho rằng: “Việc điều chỉnh, di chuyển trạm là không làm được, vì khi đặt vị trí trạm đã thỏa thuận giữa các bộ, địa phương cho phép chủ đầu tư được thu phí.
Về cơ bản các trạm BOT đã đảm bảo khoảng cách, vị trí xa dân cư, không ảnh hưởng đến hoạt động vận tải quá lớn trong các khu dân cư. Trước khi đặt trạm chúng tôi đã cân nhắc rất kỹ, dù đặt ở đâu thì người dân hai bên trạm đều bị ảnh hưởng, nên sẽ có chính sách miễn giảm cho người dân khu vực này. Chỉ những trạm không đảm bảo vị trí mới di dời”.
Với riêng trạm Cai Lậy, có một giải pháp đưa ra là kéo trạm thu phí về đúng vị trí (nghĩa là chỉ thu các phương tiện qua đường tránh) thì Nhà nước sẽ bồi hoàn cho chủ đầu tư 300 tỉ. Nhưng khoản tiền này ai trả? Tỉnh Tiền Giang, Bộ Tài chính hay Bộ GTVT. Bởi khi cùng bắt tay kéo trạm ra xa dự án, có lẽ cả chính quyền địa phương và các bộ, ngành liên quan đã không tính hết đến tác hại của những “khối u” hằng ngày gây nhức nhối, bức xúc trên QL1.
Chiều 17.8, Bộ GTVT tổ chức họp báo về những bất cập nói chung về các dự án BOT giao thông và trạm thu phí BOT Cai Lậy nói riêng. Trả lời báo chí, Thứ trưởng Nguyễn Ngọc Đông cho rằng, vị trí trạm nằm trong phạm vi dự án và được đặt căn cứ vào phương án tài chính với sự đồng ý của các cơ quan, địa phương như UBND, HĐND tỉnh, các đoàn đại biểu của tỉnh. Ông Đông nhận định, việc thay đổi vị trí trạm sẽ phá vỡ phương án tài chính, tạo ra nợ xấu ngân hàng cùng nhiều hệ luỵ và Nhà nước không có ngân sách để mua trạm. Đại diện Bộ GTVT thừa nhận, trạm Cai Lậy không phải là trạm đầu tiên đặt vị trí như vậy và qua quá trình triển khai đã phát hiện ra một số hạn chế, bất cập cần hoàn thiện hành lang pháp lý. Bên cạnh đó, việc thu phí mở theo lượt như ở trạm BOT Cai Lậy có bất cập và không thể công bằng như cách thu phí kín tại các cao tốc như Trung Lương hay Hà Nội - Hải Phòng và đó là lý do khiến bộ miễn giảm phí cho người dân địa phương.
Đại diện bộ cũng thừa nhận, 2 cầu trong phương án ban đầu đã biến thành cống nhưng khẳng định, điều này không tác động nhiều tới phương án tài chính và cho biết, những dự án kiểu như BOT Cai Lậy “có thiếu vốn cũng không làm nữa”. Trả lời câu hỏi của Báo Lao Động, Thứ trưởng Bộ GTVT cho biết, đã kiến nghị xây dựng luật PPP - đối tác công tư vì nghị định không xử lý hết các vấn đề và cần thiết phải có khung pháp lý đồng bộ để hút vốn nhiều hơn và minh bạch hơn.
Ông Nguyễn Đức Kiên - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội - cho rằng, nếu có Luật BOT chúng ta sẽ giải quyết được 60-70% vấn đề tồn tại. (Lao Động 18/8) đầu trang(

QUẢN LÝ
Phó Thủ tướng giao Bộ Xây dựng phối hợp với Bộ GTVT ưu tiên xác định suất đầu tư của 1km đường cao tốc, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định làm cơ sở áp dụng, vận dụng trong triển khai Dự án Đường cao tốc Bắc-Nam.
Ngày 17/8, tại Văn phòng Chính phủ, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng chủ trì phiên họp Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án trọng điểm ngành giao thông vận tải (GTVT) để kiểm điểm tình hình thực hiện các công trình, dự án nhằm đưa ra các giải pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện.
Danh mục các công trình, dự án trọng điểm ngành GTVT hiện gồm 37 công trình, với tổng mức đầu tư khoảng 1.090.000 tỷ đồng. Trong đó, đường bộ có 23 dự án, tổng mức đầu tư khoảng 489.034 tỷ đồng, gồm 13 dự án đã hoàn thành và 10 dự án đang được triển khai. Đường sắt có 7 dự án với tổng mức đầu tư 195.444 tỷ đồng. Cả 7 dự án này đều đang trong quá trình triển khai thực hiện, riêng tiểu Dự án Đường sắt Hạ Long - Cái Lân, tổng mức đầu tư 1.511 tỷ đồng thuộc Dự án Đường sắt Yên Viên - Phả Lại - Hạ Long - Cái Lân đã được hoàn thành, đưa vào sử dụng.
Hàng hải, đường thủy nội địa có 4 dự án, tổng mức đầu tư 49.422 tỷ đồng, trong đó có 3 dự án đã hoàn thành, đưa vào sử dụng. Dự án Cảng Lạch Huyện (tổng mức đầu tư 1.515 tỷ đồng) đang được triển khai.
Ngành hàng không có 3 dự án trong danh mục công trình trọng điểm, với tổng mức đầu tư khoảng hơn 356.000 tỷ đồng. Trong đó, 2 dự án đã hoàn thành là Cảng Hàng không Phú Quốc và Nhà ga quốc tế T2 Nội Bài.
Phát biểu tại phiên họp, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần nhanh chóng rà soát lại toàn bộ hồ sơ dự án (thiết kế kỹ thuật, thi công, tiến độ, chi phí…) để kịp thời kiến nghị các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, khắc phục các hạn chế, đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình giao thông trọng điểm.
Bộ GTVT chỉ đạo chủ đầu tư, các ban quản lý dự án, nhà thầu thường xuyên phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương trong triển khai các công trình dự án, nhất là đối với công tác giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ. Đồng thời, giao Bộ GTVT phối hợp chặt chẽ với Bộ Xây dựng rà soát định mức kinh tế kỹ thuật chuyên ngành để kiểm soát giá thành công trình.  Đối với các kiến nghị về cân đối vốn, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ GTVT thực hiện trong kế hoạch đã giao. Việc bổ sung sẽ xem xét, báo cáo cấp có thẩm quyền trong quá trình triển khai thực hiện kế hoạch.
Phó Thủ tướng yêu cầu bổ sung Dự án Cao tốc Bắc Nam và Dự án Mở rộng Cảng Hàng không Tân Sơn Nhất vào danh mục các công trình, dự án trọng điểm ngành GTVT.
Ngành GTVT cũng được giao khẩn trương hoàn thiện phương án đầu tư Dự án đường bộ cao tốc Bắc-Nam (phía đông), đặc biệt là phương án đầu tư các dự án khu vực đồng bằng sông Cửu Long, báo cáo Thủ tướng Chính phủ để trình Quốc hội vào kỳ họp thứ IV, Quốc hội khóa XIV. Đồng thời, Bộ GTVT chỉ đạo các chủ đầu tư, các ban quản lý dự án, nhà đầu tư tập trung đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình, dự án trọng điểm, đáp ứng tiến độ yêu cầu như: Đường ô tô Tân Vũ-Lạch Huyện; cao tốc Đà Nẵng-Quảng Ngãi, Hòa Lạc-Hòa Bình; hầm đường bộ Đèo Cả và 17 dự án thành phần sử dụng vốn dư (lần 1) của dự án mở rộng QL 14; đường Hồ Chí Minh qua Tây Nguyên; cầu Cao Lãnh, cầu Vàm Cống và đường dẫn; đẩy nhanh tiến độ công tác chuẩn bị để khởi công 17 dự án thành phần sử dụng vốn dư (lần 2); đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư Dự án Cảng Hàng không quốc tế Long Thành.
Phó Thủ tướng giao Bộ Xây dựng sớm triển khai Đề án “Hoàn thiện hệ thống định mức và giá xây dựng” để nâng cao hiệu quả đầu tư các công trình xây dựng nói chung và công trình giao thông nói riêng, chống thất thoát, lãng phí. Phối hợp với Bộ GTVT ưu tiên xác định suất đầu tư của 1 km đường cao tốc, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định làm cơ sở áp dụng, vận dụng trong triển khai Dự án Đường cao tốc Bắc-Nam.
Giao Bộ Xây dựng phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường xác định nguồn mỏ vật liệu xây dựng; nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thay thế nhằm ổn định giá vật liệu cát xây dựng. Bộ Kế hoạch và Đầu tư được giao xem xét, tổng hợp nhu cầu vốn trung hạn cho các dự án công trình giao thông; đặc biệt là nghiên cứu, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét bố trí bổ sung vốn trái phiếu Chính phủ để đầu tư các dự án thuộc danh mục nối thông toàn tuyến đường Hồ Chí Minh theo Nghị quyết của Quốc hội; phối hợp với Bộ Tài chính để bố trí vốn đối ứng và triển khai kế hoạch vốn cho các dự án ODA.
Phó Thủ tướng giao Bộ Tài chính phối hợp với Bộ GTVT giải quyết nhanh chóng các vướng mắc trong công tác giải ngân; công tác tạm ứng hợp đồng, bố trí vốn đối ứng, kế hoạch vốn vay cho các dự án ODA, tăng cường quản lý công tác kiểm soát vốn đầu tư theo quy định.  UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có giải pháp ổn định nguồn cung và ổn định giá vật liệu cát, đáp ứng nhu cầu và tiến độ thi công các công trình xây dựng. Đồng thời, chỉ đạo giải quyết dứt điểm công tác giải phóng mặt bằng để bảo đảm tiến độ các dự án.
Cũng tại cuộc họp, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã chỉ đạo, tháo gỡ khó khăn cho các dự án, công trình trọng điểm hiện đang triển khai. (Kinh Tế Và Đô Thị 17/8) đầu trang(
Thủ tướng yêu cầu Chủ tịch các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh.
Để bảo đảm hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 đã đề ra, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp thuộc lĩnh vực, địa bàn phụ trách đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao tại các Nghị quyết của Chính phủ và Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 2/6/2017.
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung chỉ đạo thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tiết giảm chi phí, tạo mọi thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.
Rà soát, có giải pháp cụ thể tạo thuận lợi thúc đẩy triển khai thực hiện, giải ngân các dự án đầu tư trên địa bàn, bao gồm cả dự án đầu tư công và đầu tư tư nhân, đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Đối với các địa phương có tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ cao, điều tiết về ngân sách trung ương (16 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hưng Yên, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Cần Thơ), Thủ tướng Chính phủ yêu cầu phải tập trung rà soát, có giải pháp cụ thể tạo thuận lợi thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ trên địa bàn, nhất là những ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế, đóng góp tích cực vào tăng trưởng GDP chung của cả nước.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ tăng cường công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình thực hiện các nhiệm vụ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao cho các Bộ, ngành, địa phương.
Cụ thể, để tăng cường công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình thực hiện các nhiệm vụ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao nhằm bảo đảm hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 đã đề ra, nhất là chỉ tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP), Thủ tướng Chính phủ giao Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, kết luận, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng giao cho các Bộ, ngành, địa phương; trong đó chú trọng việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy tăng trưởng của các Bộ, ngành, địa phương, báo cáo Chính phủ tại Phiên họp thường kỳ hàng tháng.
Văn phòng Chính phủ tiếp tục triển khai thực hiện tốt các kênh đối thoại, tiếp nhận và xử lý thông tin của người dân, doanh nghiệp qua Cổng Thông tin điện tử Chính phủ; kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ về những vấn đề phát sinh và đề xuất biện pháp xử lý phù hợp. (Giáo Dục Việt Nam 18/7) đầu trang(
Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng tại Hội nghị triển khai thực hiện “Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020” và tổng kết 4 năm thực hiện dự án “Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016”.
Thông báo kết luận nêu rõ, trong những năm qua, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, xây dựng ngành Lâm nghiệp phát triển bền vững luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm, coi đây là một trong những giải pháp tổng hợp, tiết kiệm, hiệu quả nhất để tăng cường tính chống chịu, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra; tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác phát triển, đồng thời ổn định cuộc sống của người dân ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 886/QĐ-TTg ngày 16/6/2017 phê duyệt Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020, với mục tiêu nâng tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc lên 42%, tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp từ 5,5% đến 6,0%/năm, nâng cao năng suất rừng trồng bình quân lên 20 m3/ha/năm, giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản đạt khoảng từ 8,0 đến 8,5 tỷ USD; đồng thời, tiếp tục thực hiện tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và phát huy giá trị của từng loại rừng, tăng giá trị rừng sản xuất trên đơn vị diện tích; góp phần giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu; tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người dân làm nghề rừng, gắn với tiến trình xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội.
Để đạt được mục tiêu trên, chúng ta phải thực hiện được 3 nhiệm vụ chủ yếu là: Thứ nhất là bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên, đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu; thứ hai là phải phát triển và nâng cao năng suất của rừng; và thứ ba là nâng cao giá trị, chất lượng sản phẩm lâm nghiệp.
Để hiện thực hoá các mục tiêu nêu trên, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng yêu cầu trong thời gian tới cần tập trung tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để bảo vệ rừng và phát triển ngành lâm nghiệp; nâng cao chất lượng công tác lập và quản lý thực hiện quy hoạch rừng và đất lâm nghiệp; tạo động lực để huy động sự tham gia của toàn xã hội vào bảo vệ, quản lý, phát triển và khai thác rừng có hiệu quả...
Tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế xã hội đầu tư, xây dựng, bảo vệ rừng thông qua việc giao, cho thuê rừng cho tổ chức, cộng đồng dân cư thôn, hộ gia đình, cá nhân; đảm bảo tất cả diện tích rừng có chủ quản lý cụ thể, tạo điều kiện tích tụ đất lâm nghiệp xây dựng vùng nguyên liệu chủ yếu bằng phương thức liên kết, liên doanh trồng rừng và doanh nghiệp chế biến.
Đồng thời tổ chức sản xuất lâm nghiệp theo chuỗi sản phẩm từ trồng rừng, thu mua nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; có cơ chế khuyến khích việc hình thành các doanh nghiệp quy mô vừa và lớn ở từng vùng kinh tế; lấy các doanh nghiệp làm động lực nhằm liên kết chuỗi sản xuất đối với mỗi sản phẩm chủ lực, nhất là sản phẩm xuất khẩu, tạo đầu vào cho người dân, liên kết, hỗ trợ người dân, ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ cũng như tìm đầu ra cho sản phẩm rừng, phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Bên cạnh đó tăng cường hợp tác quốc tế, đẩy mạnh công tác quản lý rừng bền vững, cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn của Việt Nam phù hợp với quy định, thông lệ của quốc tế, coi trọng thị trường nội địa, lấy thị trường khu vực và quốc tế làm mục tiêu để nâng cao sức cạnh tranh, phát triển các sản phẩm ngành lâm nghiệp...
Phó Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với các Bộ, ngành hướng dẫn một số nội dung Quyết định số 886/QĐ-TTg, hoàn thành trong Quý III/2017; tổng hợp, xây dựng kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu phát triển rừng bền vững năm 2018, và kế hoạch giai đoạn 2018-2020 gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính theo đúng tiến độ xây dựng kế hoạch.
Các bộ, ngành, địa phương có thực hiện nhiệm vụ Chương trình mục tiêu phát triển rừng bền vững xây dựng, triển khai kế hoạch thực hiện; rà soát, xây dựng các dự án trên địa bàn; kiện toàn Ban chỉ đạo, Văn phòng thường trực để tổ chức thực hiện và quản lý Chương trình mục tiêu phát triển rừng bền vững, hoàn thành trong tháng 8/2017.
UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát, bố trí, cân đối vốn ngân sách cho các dự án bảo vệ và phát triển rừng, đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ kế hoạch năm 2017; chỉ đạo các chủ đầu tư có chuyển mục đích sử dụng rừng hoàn thành công tác trồng rừng thay thế trên địa bàn tỉnh trong năm 2017. Đối với các dự án đã nộp tiền trồng rừng thay thế về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh, khẩn trương chỉ đạo, giải quyết vướng mắc để trồng rừng ngay, không để tồn quỹ. (Báo Chính Phủ 17/8) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu việc ưu đãi doanh nghiệp Công nghiệp hỗ trợ.
Điểm tin Kinh tế - xã hội ngày 10/8/2017, Báo điện tử Đài tiếng nói Việt Nam (VOV) có đăng bài Doanh nghiệp Công nghiệp hỗ trợ muốn được ưu đãi như Sam Sung.
Về việc này, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu. (Báo Chính Phủ 17/8) đầu trang(

NHÂN SỰ MỚI
Bộ NN&PTNT vừa tổ chức lễ công bố các quyết định về việc thành lập Tổng cục Thủy lợi và Tổng cục Phòng, Chống thiên tai; đồng thời trao quyết định bổ nhiệm 2 tân Tổng cục trưởng.
Theo Cổng TTĐT Bộ NN&PTNT: Tổng cục Phòng, Chống thiên tai được thành lập mới theo Quyết định số 26/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Tổng cục Thủy lợi được quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức theo Quyết định số 25/2017/QĐ-TTg. Theo các quyết định, cả hai tổng cục này trực thuộc Bộ NN&PTNT và có hiệu lực kể từ ngày 18/8/2017.
Sau khi công bố quyết định thành lập 2 Tổng cục, Bộ NN&PTNT cũng đã công bố quyết định của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT bổ nhiệm ông Nguyễn Văn Tỉnh giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy lợi; quyết định bổ nhiệm ông Trần Quang Hoài giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Phòng, Chống thiên tai. Các quyết định bổ nhiệm này có hiệu lực kể từ ngày 18/8/2017.
Tổng cục Thủy lợi được thành lập trên cơ sở sát nhập Cục Thủy lợi và Cục Quản lý đê điều và phòng, chống thiên tai. Tổng cục Thủy lợi là tổ chức trực thuộc Bộ NN&PTNT, thực hiện các nhóm nhiệm vụ chính như: Tham mưu Bộ trưởng NN&PTNT xây dựng, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy phạm kỹ thuật, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ, thông tin tuyên truyền về thủy lợi và nước sạch nông thôn; Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về quy hoạch, điều tra cơ bản thủy lợi, quản lý tưới tiêu và quy trình thủy lợi, quản lý an toàn đập; Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về nước sạch nông thôn; Quản lý cơ sở về thủy lợi và nước sạch nông thôn; Tổ chức thực hiện các chương trình, đề án, dự án và hợp tác quốc tế; và thực hiện các nhiệm vụ khác theo phân công của Bộ trưởng.
Về cơ cấu tổ chức, Tổng cục Thủy lợi có 9 đơn vị: Vụ Kế hoạch Tài chính, Vụ Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế, Vụ Pháp chế Thanh tra, Vụ Xây dựng cơ bản, Vụ Nguồn nước và Nước sạch nông thôn, Vụ An toàn đập, Văn phòng tổng cục, Cục Quản lý công trình thủy lợi có các chi cục quản lý công trình thủy lợi, Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật thủy lợi.
Tổng cục Phòng, chống thiên tai là tổ chức trực thuộc Bộ NN&PTNT, thực hiện các nhóm nhiệm vụ chính như: Tham mưu Bộ trưởng NN&PTNT xây dựng, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược quốc gia về phòng, chống thiên tai; Quy hoạch, kế hoạch tiêu chuẩn, quy chuẩn quy phạm pháp luật, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ; Thông tin truyền thông về phòng, chống thiên tai và đê điều; Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về phòng, chống thiên tai gồm công tác phòng ngừa và kiểm soát rủi ro thiên tai; Tổ chức thực hiện chiến lược quốc gia về phòng, chống thiên tai, công tác ứng phó với thiên tai, công tác khắc phục hậu quả thiên tai, tuyên truyền về phòng, chống thiên tai; Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về đê điều; Quản lý cơ sở dữ liệu về phòng, chống thiên tai, đê điều; Tổ chức thực hiện các chương trình, đề án, dự án và hợp tác quốc tế về phòng, chống thiên tai và đê điều; giúp Bộ trưởng thực hiện nhiệm vụ thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai, văn phòng thường trực Trung ương về phòng, chống thiên tai; và thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng giao.
Về cơ cấu tổ chức, Tổng cục Phòng, chống thiên tai có 9 đơn vị bao gồm: Vụ Kế hoạch Tài chính, Vụ Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế, Vụ Pháp chế Thanh tra, Vụ Kiểm soát an toàn thiên tai, Vụ Quản lý thiên tai cộng đồng, Vụ Quản lý đê điều, Văn phòng tổng cục, Cục Ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai có hai chi cục là Chi cục Phòng, chống thiên tai miền Trung và Chi cục Phòng, chống thiên tai miền Nam, Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật phòng, chống thiên tai.
Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai đặt tại Tổng cục Phòng, chống thiên tai, với các nhiệm vụ: Điều phối liên ngành giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc tổ chức chỉ đạo, điều hành công tác phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai trên phạm vi cả nước, đồng thời hướng dẫn việc xây dựng, đôn đốc thực hiện chiến lược, kế hoạch quốc gia, chính sách, pháp luật về phòng, chống thiên tai; Hướng dẫn xây dựng phương án ứng phó thiên tai; chỉ đạo, điều phối ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai trên phạm vi toàn quốc; Quyết định các biện pháp cấp bách, huy động các nguồn lực của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, của tổ chức, cá nhân để ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai theo quy định; Kiểm tra, đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương thực hiện các hoạt động phòng, chống thiên tai. (Báo Chính Phủ 18/8) đầu trang(

THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
Một tuần nay, các đoàn của Ủy ban Tư pháp Quốc hội đang về các địa phương để khảo sát tình hình tham nhũng, hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng, trong đó có việc giám sát kết quả xét xử các vụ án tham nhũng của tòa án.
Phòng, chống tham nhũng là quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước, được nhân dân quan tâm, đồng tình và ủng hộ. Nghị quyết Đại hội 12 của Đảng đã xác định tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, xử lý các vụ việc, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng.
Thực tế, nhiều vụ án tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp đã được phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh. Trong đó, việc thông tin, tuyên truyền giáo dục về phòng, chống tham nhũng được quan tâm nhằm nâng cao ý thức cho người dân.
Các phiên tòa thường được xét xử công khai. Phiên tòa xét xử vụ án Giang Kim Đạt cùng đồng phạm tại TAND Cấp cao tại Hà Nội hôm qua là một phiên tòa công khai. Vụ án tham nhũng, rửa tiền với số tiền khủng lên đến hơn 260 tỉ đồng, tòa sơ thẩm đã tuyên hai án tử hình, một án chung thân… là những nội dung mà người dân bàn tán tận hang cùng ngõ hẻm, bên bàn cà phê bốc khói mỗi sớm mỗi chiều.
Tuy nhiên, báo chí lại không được quay phim, chụp ảnh, ghi âm tại phiên tòa này.
Tôi từng ngồi ghế chủ tọa nhiều phiên tòa xét xử các vụ án liên quan đến tội danh thuộc nhóm tội tham nhũng. Tôi đánh giá phiên tòa là cơ hội để công khai, minh bạch mọi vấn đề và lời khai trong quá trình điều tra, truy tố trước đó. Người dân quan tâm được biết, được bàn bạc và kiểm tra, giám sát. Báo chí được tác nghiệp trong khuôn khổ những gì pháp luật cho phép, nhằm mục đích tối thượng là công khai, minh bạch tất cả.
Phiên tòa Giang Kim Đạt hôm qua, đương nhiên nếu cho báo chí tác nghiệp tại tòa thì sẽ chuyển tải được trung thực, sinh động, khách quan, toàn diện phiên tòa. Qua đó, báo chí chuyển tải đầy đủ quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước đến người dân. Người dân có thể được trực tiếp tham dự, ai không đến được thì cũng nắm rõ được vụ việc. Người dân chỉ mong tòa xử đúng pháp luật các hành vi làm ảnh hưởng nền kinh tế, làm xói mòn lòng tin của mình vào các cơ quan Đảng và Nhà nước. Còn những người đang được giao nắm giữ chức vụ và quyền hạn sẽ tường tận được diễn biến phiên tòa, tránh đi vào vết xe đổ.
Theo tôi, công khai, minh bạch tất cả thì ý nghĩa giáo dục của phiên tòa rất cao. Vậy thì hà cớ gì mà HĐXX TAND Cấp cao tại Hà Nội lại cấm báo chí ghi âm, quay phim, chụp ảnh phiên xử, dù luật không cấm?! (Pháp Luật TP.HCM 18/8) đầu trang(
Phải có trách nhiệm cá nhân rõ ràng, không thể do tập thể, đổ do khách quan mãi được, ai dùng đồng tiền của nhà nước, của dân phải chịu trách nhiệm.
Dự án Bệnh viện 700 giường ở Nam Định được đầu tư 850 tỷ đồng, nhưng thi công 10 năm nay vẫn chưa hoàn thiện, đang bỏ hoang do không có vốn đầu tư tiếp. Trước đó, Kiểm toán nhà nước đưa ra kết luận thanh tra hàng loạt các bệnh viện, các trung tâm y tế địa phương có thiết bị hàng tỷ đồng như đắp chiếu không sử dụng.
Trước thực trạng trên, chia sẻ với Đất Việt, ngày 17/8, bác sĩ Võ Xuân Sơn - Nguyên Trưởng khoa phẫu thuật thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy cho biết: "Tất cả những thực trạng trên, xuất phát điểm đều do quy hoạch, tổ chức của chúng ta không tập trung, không bảo đảm về một mối, không có kế hoạch cụ thể, không có liên kết giữa địa phương và trung ương, thành ra mỗi một nơi đầu tư theo một kiểu.
Tại Nam Định, đổ tiền vào xây bệnh viện lớn, không đủ vốn thì để cả 10 năm không ai đụng chạm đến, nhưng liệu giờ có tiếp thêm vốn làm có hiệu quả không, khi hiện nay, Bệnh viện Bạch Mai 2, Bệnh viện Việt Đức 2 đang được xây dựng tại đó, cách nhau được bao nhiêu km.
Chưa kể, ở đây chính là câu chuyện quy hoạch khi đặt ra kế hoạch làm nhưng không có nguồn bảo đảm về vốn, làm không có tiền.
Một điều trớ trêu là tiền bỏ ra nhưng lại như vậy, tiền đầu tư cho y tế không đến đâu mà bệnh nhân nghèo không có tiền chữa bệnh. Vừa rồi tôi đi thực tế trên Tây Nguyên, nơi đây được trang bị rất nhiều máy móc như xét nghiệm, siêu âm, điện tim, nhưng BHYT không chi trả.
Mặt khác, các bác sĩ ở đây đều dùng được máy móc trên, nhưng BHYT chỉ chi trả mức nào đó, nên người dân không được hưởng. Người dân ở đó nghèo hưởng chính sách 100%, mà chi bảo hiểm chỉ đủ khám, uống thuốc chứ không làm được kỹ thuật nào.
Khi lên, chúng tôi cho một xã 1 tháng được 400 suất siêu âm, điện tim thì máy đó mới mang ra sử dụng được, còn nếu không cho thì máy cứ đắp chiếu để đó. Bác sĩ thực tế có đi học cách sử dụng máy, máy có nhưng hóa chất sử dụng kèm không mua được, không biết tính vào đâu, cuối cùng là lãng phí".
Theo bác sĩ Sơn, ở nước ngoài, việc phân cấp về y tế khác với chúng ta, y tế công thì có hệ thống riêng, còn y tế tư thì tự lo, nhưng quy hoạch rõ ràng, không có bí mật, tất cả minh bạch, y tế tư nhân biết khu nào được khuyến khích, khu nào không được.
Còn bên y tế công họ có hệ thống rõ ràng, phân bổ khu vực nào là khu vực nên cần thiết khuyến khích xây bệnh viện, khu vực nào thiếu, đang dư thừa, có quy định cụ thể. Trong khi, tất cả các công trình xây dựng của chúng ta đều không có nguồn vốn cụ thể, nên dẫn đến chuyện dở dang, làm lãng phí nhiều, mà tiền đó nếu làm nghiêm chỉnh lại, thì có thể giúp cho bao nhiêu người nghèo, chữa được bao nhiêu bệnh.
"Nếu so sánh với y tế nước ngoài, thì cần làm rõ là nước ngoài, vì như các nước châu Phi cũng chẳng khác gì chúng ta, Indonesia có khá hơn, Philippine cũng vậy cũng có khu vực tham nhũng, lãng phí, chính vì tham nhũng đó dẫn đến lãng phí, Như công trình Nam Định không ai dám khẳng định không phải vì tham nhũng mà cố gắng làm dự án để lấy mấy trăm tỷ.
Còn các nước phát triển như Anh, Úc, Pháp, Mỹ, con bài về y tế rất chặt chẽ. Như Mỹ, khu vực này đang cần MRI, thì họ khuyến khích cho chỗ đó được ưu đãi, khi đủ thì họ cắt luôn không có khuyến khích, thậm chí làm khó, để cho mấy máy đã mua hoạt động hiệu quả và sinh lời, chứ không đưa ra quá nhiều máy để cạnh tranh nhau.
Trong khi ở các khu vực khác chưa có đủ thì lại kích thích và hỗ trợ để có được cái đó. Còn y tế công thì họ sẽ xem khu vực nào không có y tế tư nhân tham gia, khu vực nào không sinh lời, khu vực khó khăn sẽ đầu tự.
Nổi bật là ở Úc, bên rìa đại dương, có các thành phố lớn như Sydney họ để cho tư nhân làm nhiều, nhưng khu vực trung tâm cả mấy nghìn km2 phải đi khám bệnh bằng trực thăng, không tư nhân nào làm, thì nhà nước vào cuộc.
Họ sắm trực thăng, kiếm bác sĩ, một ngày một bác sĩ khám cho được 3 bệnh nhân, vì bay hàng trăm km gặp người này, rồi lại bay hàng trăm km gặp người khác. Khám bệnh mà chi phí lên cao, không tư nhân nào làm thì y tế công nhảy vào, nghĩa là họ có sự phân bổ rõ ràng, cụ thể, khu vực, từng giai đoạn nên không bị chuyện như chúng ta.
Nếu như xây dựng một bệnh viện mấy trăm tỷ mà để không, họ sẽ bị cách chức, đi tù, nên họ sợ, còn chúng ta làm thoải mái, không bị sao, chỉ rút kinh nghiệm thì cứ làm", ông Sơn chỉ rõ.
Cũng đưa ra quan điểm về vấn đề này, PGS.TS Nguyễn Văn Nam - nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu thương mại cho rằng, với dự án bệnh viện 850 tỷ đồng bỏ hoang, phải kiểm điểm chủ đầu tư đó chính là UBND tỉnh Nam Định, anh đề xuất làm dự án, rồi báo cáo cấp trên duyệt để làm, nhưng không hoàn thành được công trình đưa vào sử dụng thì anh phải chịu trách nhiệm.
Thực tế, chắc chắn do tỉnh chưa có nhu cầu, chưa cấp thiết cần có bệnh viện nhưng xin được dự án thì cứ xin, lấy được tiền về thì cho đấu thầu, cho làm, chia chác nhau tiền.
Cũng do không phải nhu cầu bức xúc nên không đôn đốc, kiểm tra, câu dầm, đến bây giờ vẫn chưa xong.
Nên chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm lớn nhất, phải tiến tới nhà nước kỷ luật một vài cán bộ vẽ dự án khi nhu cầu địa phương chưa cần thiết mà tiêu tiền nhà nước, thì mới chấm dứt được thực trạng trên.
"Thực tế để điều trị chăm sóc sức khỏe tốt hơn cho người dân thì cần có trang thiết bị hiện đại, nhưng điểm quan trọng là trang thiết bị đó đầu tư vào đâu, chỗ nào sử dụng được, nếu không sẽ lãng phí.
Như nhiều trạm y tế xã trang bị bao nhiêu trang thiết bị hiện đại, cuối cùng đắp chiếu hết, thậm chí nhiều bệnh viện chưa có kỹ thuật viên để sử dụng trang thiết bị hiện đại, nhưng cứ mua rồi đắp chiếu thì nan giải.
Việc này thuộc trách nhiệm của Bộ Y tế vì xin được tiền nhà nước, chăm sóc sức khỏe nhân dân, mua trang thiết bị nhưng lại không phục vụ cho dân, chỉ rơi vào túi của các nhóm lợi ích. Có tình trạng nơi cần, nơi dùng được thì chỉ có một máy, còn không dùng được cũng có một máy, nên để đắp chiếu.
Tiền bỏ ra mua trang thiết bị là tiền ngân sách, tiền làm dự án từ trái phiếu chính phủ cũng là tiền thuế của dân, rồi dân nghèo cũng không được chữa bệnh, đau đớn quá. Tất cả đều do quản lý quá kém, cho nên lĩnh vực nào cũng vậy, đầu tư thiếu trọng điểm, chỉ nghĩ lạy lục xin bằng được dự án, để có tiền chia chác cho nhau, không có tính thiết thực", ông Nam phân tích.
Nói về nguyên nhân, theo ông Nam, đầu tiên là lòng tham của cán bộ quản lý, địa phương xin được nhiều tiền đầu tư dự án thì cũng có tiền ăn chia, bôi trơn đủ chỗ.
Sau đó đến trình độ quản lý của chúng ta quá kém, cho nên, không quản lý được, không phân biệt được chỗ nào cần, chỗ nào không cần, nên cứ chia đều. Địa phương nào cũng có tiền làm dự án nhưng cần hay không, không quan tâm.
Cuối cùng, yếu quản lý là yếu trong quá trình thực hiện dự án, khởi công đầu tư xây dựng, không quan tâm thời hạn, hạn mức cho từng dự án, làm rồi để đó. Sau 1,2 năm đội giá lại xin tăng thêm vốn đầu tư, đây là bệnh nan y. Cứ khởi công dự án rồi treo cờ, đánh trống, khởi công xong để đó, mặc kệ dự án.
Để xử lý thì phải sửa từ quản lý, bộ máy quản lý, cơ chế đầu tư, cơ chế xin dự án, một đời Chủ tịch tỉnh làm đến hàng trăm dự án, dự án 100 năm làm chưa hết, trong khi một nhiệm kỳ 5 năm đương chức, cứ vẽ ra dự án để có tiền, còn không biết là sẽ hiệu quả ra sao.
Phải có trách nhiệm cá nhân rõ ràng, không thể do tập thể, đổ do khách quan mãi được, ai dùng đồng tiền của nhà nước, của dân phải chịu trách nhiệm.
Nợ công cũng từ đây mà tăng lên, cứ tính 1 năm Nam Định đóng được bao nhiêu tiền thuế cho nhà nước, có được 1000 tỷ đồng hay không, trong khi 1 dự án đã chiếm cả nghìn tỷ rồi bỏ không. Vì thế mà trẻ em vừa đẻ ra trên đầu đã phải chịu vài chục triệu đồng tiền nợ công.
Ông Nam nói: "Ở nước ngoài thì họ khác chúng ta, về quản lý, nếu làm kém thì bị loại vì có sự giám sát của Đảng đối lập, quần chúng nhân dân, Luật nghiêm, còn Việt Nam thì lúc nào cũng tự rút khuyết điểm.
Trong chính trị có cạnh tranh, chúng ta chỉ có chạy chọt, ngồi được ghế cầm quyền thì chỉ nghĩ làm giàu, còn nếu có cạnh tranh trái Luật thì chức nào cũng có thể bị cách chức.
Chúng ta có cách chức được người đang làm đâu, toàn cách chức những người nghỉ hưu rồi, mà đương nhiên không cách chức thì họ cũng không làm nữa, vì hạ cánh an toàn rồi. Còn về mặt kinh tế tài chính có thu hồi được gì hay không, án tham nhũng chủ yếu thu hồi kinh tế, mà chúng ta chỉ làm qua loa". (Đất Việt 18/8) đầu trang(
Tại trung tâm TP.HCM hiện có 7 thủy đài được Mỹ xây dựng, dù đã trải qua hơn 50 năm nhưng hiện tại các công trình này vẫn đang bị bỏ hoang, chiếm diện tích "đất vàng" giữa trung tâm thành phố.
Trên địa bàn TP.HCM có 7 thủy đài được xây dựng cách đây hơn 50 năm nhưng hiện đã bỏ hoang, không còn sử dụng và chiếm giữ những diện tích đất lớn trong trung tâm thành phố.
Được biết, từ năm 1965, người Mỹ đã cho thiết kế và xây dựng đồng loạt một chuỗi hệ thống những thủy đài này với mục đích ổn định nguồn nước cho các khu vực xa nhà máy nước Thủ Đức.
Theo thiết kế, những thủy đài này có tổng dung tích gần 50.000 m3 và công suất bơm khoảng 480.000 m3 một ngày. Mỗi thủy đài cao gần 30m, có cơ cấu và nguyên lý hoạt động như hệ thống hầm chứa, bồn nước có thể tự điều áp.
Buổi tối, khi người dân ít sử dụng, lượng nước dư ra sẽ được tự động bơm lên các thủy đài. Còn ban ngày, thủy đài sẽ tự động mở van xả để bơm nước trở lại vào các bồn chứa để cung cấp cho nhu cầu sử dụng nhiều của người dân.
Sau khi xây dựng xong vào năm 1969, các thủy đài này lại không thể đưa vào hoạt động vì bị rò rỉ. Sau năm 1975, các thủy đài này vẫn không thể vận hành dù đã được khắc phục, sửa chữa. Vì vậy, các thủy đài này bị bỏ hoang cho đến tận hôm nay.
Hiện tại, 7 thủy đài này nằm ở các địa điểm như: đường Nguyễn Thái Sơn (quận Gò Vấp), góc đường Lê Đại Hành - Ba Tháng Hai (quận 11), gần Trung tâm Văn hóa quận 5, đường Nguyễn Văn Đậu (quận Bình Thạnh), Hồ Văn Huê (quận Phú Nhuận), Phạm Phú Thứ (quận 6) và ngã 4 Nguyễn Tất Thành - Hoàng Diệu (quận 4).
Theo quan sát của PV, các thủy đài này có chiều cao khoảng 30m trông như một cây nấm, bên dưới là hình trụ lớn với đường kính khoảng hơn 10m, phần trên xòe ra như mũ nấm. Tất cả đều trông đã cũ và rỉ sét, có thể gãy đổ bất cứ lúc nào, gây mất an toàn trong trung tâm thành phố.
Ngoài ra, với kích thước lớn, những thủy đài này hiện đang chiếm rất nhiều diện tích tại những vị trí được xem là "đất vàng" giữa trung tâm thành phố, gây ra tình trạng lãng phí nghiêm trọng.
Trước sự việc này, UBND thành phố đã có ý kiến chỉ đạo, xử lý dứt điểm những thủy đài bỏ hoang này. Theo đó, đối với các thủy đài còn có thể sử dụng, UBND các quận, huyện cần yêu cầu chủ sở hữu thủy đài lập phương án kiểm tra, duy tu bảo dưỡng định kỳ, đảm bảo an toàn cho công trình thủy đài theo đúng quy định.
Đối với những thủy đài không còn sử dụng, UBND các quận - huyện cần chủ trì việc tháo dỡ thủy đài, yêu cầu chủ sở hữu thủy đài lập phương án và tổ chức tháo dỡ ngay các thủy đài không còn sử dụng. Trong quá trình tháo dỡ, cần đảm bảo tuyệt đối an toàn về tính mạng cũng như tài sản của người dân và các công trình lân cận xung quanh thủy đài.
Ngoài ra, UBND TP.HCM cũng giao cho Sở GTVT chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND các quận, huyện và các sở, ngành có liên quan rà soát, báo cáo các phương án sử dụng diện tích đất sau khi tháo dỡ các thủy đài để tránh lãng phí.
Đồng thời, Sở GTVT cần theo dõi, kiểm tra đôn đốc việc tháo dỡ, cũng như việc duy tu bảo dưỡng định kỳ các thủy đài trên địa bàn TP. (VTC News 18/8) đầu trang(
Một dự án cứu hộ cứu nạn, phòng chống thiên tai ở Thừa Thiên Huế do “ tắc” vốn bấy lâu nay khiến người dân sống trong lo âu, “mỏi cổ” để chờ giải tỏa, đền bù...
Đó là dự án “Đường cứu hộ cứu nạn (CHCN) Phong Điền- Điền Lộc”, bắt đầu từ Quốc lộ 1 đoạn ở thị trấn Phong Điền kéo dài đến xã Điền Lộc (thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế).
Theo tìm hiểu, dự án có chiều dài 16,5km, được khởi công xây dựng từ đầu năm 2012, với tổng mức đầu tư gần 672 tỷ đồng, do Ban Quản lý Dự án Đầu tư xây dựng công trình giao thông tỉnh Thừa Thiên Huếlàm chủ đầu tư.
Theo kế hoạch, dự án sẽ được xây dựng 5 cầu, gồm 1 cầu lớn, 4 cầu trung, trong đó cầu vượt đường sắt dài hơn 66m, khổ rộng 31m; riêng 3km đi qua thị trấn Phong Điền được mở rộng 36m, gồm 2 làn; nối liền với QL1A, QL49B, tỉnh lộ 4 và nhiều tuyến đường dân sinh khác ở địa bàn huyện Phong Điền...
Từ khi thi công, công trình chỉ mới xây dựng phần thô cầu vượt đường sắt ở khu vực thuộc thị trấn Phong Điền và hoàn thành kiểm kê, giải tỏa đất nông nghiệp... Từ năm 2015, dự án “tắc vốn” nên đã ngưng trệ.
Có mặt tại cầu vượt đường sắt, PV nhận thấy những mảng bê tông và trụ bê tông “to đùng” nằm sát mặt đường, cạnh khu dân cư. Những thanh sắt thép lổm chổm, rỉ rét theo thời gian. Một số hạng mục dần xuống cấp và cỏ dại mọc xung quanh...
Việc châm trễ dự án cũng đã khiến các hộ dân ở thôn Nhất Phong (xã Phong Chương, huyện Phong Điền) nằm trong vùng bị thu hồi đất, tái định cư của dự án gặp nhiều khó khăn dù trước đó ai cũng đã ủng hộ dự án.
Chia sẻ với PV, bà Trần Thị Bẻo (SN 1951, thôn Nhất Phong) cho hay, đất đai, cây cối và nhà cửa của bà được kiểm kê từ năm 2009. Theo đó, nhà bà có diện tích hơn 1.000m2, đền bù khoảng 350 triệu đồng. Tuy nhiên, đến nay dự án dậm chân khiến gia đình bà hết sức lo lắng trong việc xây dựng nhà mới cũng như những công trình phụ, bởi muốn xây cũng không được vì như thế sẽ không được đền bù và lãng phí.
“An cư thì mới lạc nghiệp chứ. Nếu chỗ ở mà không yên ổn thì việc làm ăn cũng chẳng nên. Nguyện vọng của chúng tôi một là phải đền bù thỏa đáng, hai là ngưng thẳng dự án để chúng tôi sửa chửa nhà ở bởi nơi đây thiên tai bão lụt luôn xảy ra...”- bà Bẻo nói.
Cách nhà bà Bẻo không xa là nhà của ông Nguyễn Miên (55 tuổi) cũng nằm trong diện chờ đền bù. Theo lời ông Miên, nhà ông có diện tích đất bị kiểm kê khoảng 400m2 gồm chuồng lợn, hầm biogas... và đền bù hơn 60 triệu. “Tôi không hài lòng với việc đền bù vì bất hợp lý, đáng lẻ giá phải cao hơn. Hiện tại đất cũng để không, gia đình không dám xây thêm gì. Hi vọng sẽ được đền bù sớm chứ cứ như vậy mãi thì khổ...”- ông Miền bức xúc.
Theo ông Nguyễn Minh Cần- Phó Chủ tịch UBND xã Phong Chương, có 124 hộ dân có đất và tài sản trên đất bị ảnh hưởng khi dự án đi qua địa bàn xã. Trong đó, đất nông nghiệp 3,3ha của 61 hộ dân; đất lâm nghiệp 7,1 ha của 54 hộ dân và đất ở của 9 hộ dân. Đến nay đã được kiểm kê, áp giá và chi trả tiền đền bù cho đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp, còn lại 9 hộ với 0,9 ha đất ở bị thu hồi nằm trong diện di dời tái định cư.
Ông Cần thừa nhận còn 9 hộ dân ở thôn Nhất Phong thuộc diện di dời đến nay vẫn chưa nhận được tiền đền bù để tái định cư với mức từ 200-300 triệu đồng/hộ do dự án cứ kéo dài, dù xã đã bố trí quỹ đất để xây dựng khu tái định cư.
“Chính quyền địa phương cũng như người dân đã kiến nghị lên cấp trên qua các cuộc họp, tiếp xúc cử tri yêu cầu cần xác định dự án sẽ triển khai trở lại khi nào để có phương án hỗ trợ người dân, giúp các hộ dân có thể tạm thời sửa chữa các hạng mục nhỏ của nhà ở đã xuống cấp nhằm đảm bảo cuộc sống. Thế nhưng mọi thứ vẫn dậm chân tại chỗ...”- ông Cần nói.
Ông Nguyễn Văn Cường- Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng công trình giao thông tỉnh Thừa Thiên Huế cho hay, công trình trên có ý nghĩa quan trọng trong việc cứu hộ cứu nạn khẩn cấp đối với các địa phương vùng ven biển, đầm phá. Hiện dự án đường CHCN Phong Điền - Điền Lộc được cấp vốn ban đầu khoảng hơn 100 tỷ đồng và hiện chỉ mới thực hiện xây dựng phần thô cầu vượt đường sắt ở khu vực thị trấn Phong Điền, làm 5km nền đường, thảm xong 3km đường từ cầu vượt đường sắt, thị trấn Phong Điền đến gần tỉnh lộ 4...
“Vì không bố trí được nguồn vốn tiếp theo nên dự án đã dừng thi công, điều này đã ảnh hưởng đến cuộc sống người dân. Mới đây, tỉnh đã bố trí thêm 10 tỷ đồng cho dự án này và dự án đường Thủy Phù -Vinh Thanh nối thị xã Hương Thủy và huyện Phú Vang để tiếp tục thi công. Trong đó, riêng tuyến Phong Điền- Điền Lộc sẽ tập trung thi công đoạn tiếp theo đi qua thị trấn Phong Điền...”- ông Cường thông tin.
Cũng theo ông Cường, dự án này đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020. Hiện chủ đầu tư có tờ trình thẩm định nguồn vốn ở Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch & Đầu tư để bố trí vốn, tiếp tục triển khai cũng như tiến hành đền bù, di dời, tái định cư cho các hộ dân ở xã Phong Chương trong thời gian sớm nhất có thể. (Tài Nguyên Và Môi Trường 17/8) đầu trang(

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Sau hơn một năm đi vào hoạt động, đội thanh niên xung kích trong cải cách hành chính của Đoàn Thanh niên quận Hà Đông đã trở thành lực lượng hỗ trợ đắc lực công tác cải cách hành chính (CCHC) của quận, được người dân đánh giá cao và được Thành đoàn Hà Nội tuyên dương.
Vừa tan học, tại Trường đại học Hà Nội, Nguyễn Thị Quỳnh Anh nhanh chóng đi đến điểm hỗ trợ dịch vụ công trực tuyến của tổ dân cư số 8, phường Vạn Phúc (Hà Đông). Công việc của Quỳnh Anh và các đoàn viên là trích lục hồ sơ, hướng dẫn các thủ tục giấy tờ cần thiết cho việc thực hiện các thủ tục hành chính của người dân. Vào các ngày trong tuần, các bạn trẻ thay phiên nhau túc trực ngoài giờ học để phục vụ người dân khi cần.
“Dù mới làm hơn hai tháng, nhưng em thấy rất hứng thú với công việc này. Mỗi ngày, chúng em hỗ trợ thực hiện từ năm đến mười hồ sơ. Từ chỗ còn nhiều bỡ ngỡ và “mù mờ” về thủ tục hành chính, bây giờ em đã có thể nắm rõ một số thủ tục. Quan trọng là cảm giác giúp ích cho các cô, bác khiến em cảm thấy mình trưởng thành và có ích hơn”, Quỳnh Anh chia sẻ.
Điểm truy cập dịch vụ công trực tuyến tại tổ dân cư số 8 phường Vạn Phúc có năm đoàn viên, thanh niên thay nhau trực. Đây là một trong ba điểm hỗ trợ người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) mức độ 3, mức độ 4, được Đoàn Thanh niên phường Vạn Phúc triển khai từ ngày 1-9-2016.
Bí thư Đoàn phường Vạn Phúc Nguyễn Văn Khanh cho biết, được chọn làm đơn vị điểm của quận thành lập đội thanh niên xung kích hỗ trợ CCHC, ngay sau khi thành lập, các đoàn viên, thanh niên đã phát tờ rơi tuyên truyền về dịch vụ công trực tuyến, tổ chức các lớp tập huấn cho đoàn viên, thanh niên, ngoài ra, các bạn còn đến tận nhà hỗ trợ khi người dân có nhu cầu. Sau gần một năm đi vào hoạt động, đến nay, mô hình thanh niên xung kích của phường đã nhận được nhiều ý kiến khen ngợi. Mỗi ngày, các điểm hỗ trợ hàng chục người dân làm thủ tục hành chính. Những nỗ lực của đoàn thanh niên đã đóng góp đáng kể cho kết quả CCHC của phường trong thời gian qua.
Sự nhiệt huyết của những “cán bộ” áo xanh không chỉ diễn ra ở phường Vạn Phúc, mà tại các điểm hỗ trợ dịch vụ công ở 17 phường của quận Hà Đông, tại bộ phận một cửa, các phòng, ban chuyên môn của quận, đâu đâu cũng xuất hiện mầu áo xanh tình nguyện. Đều đặn từ 8 giờ sáng tới 7 giờ tối hằng ngày, các đoàn viên, thanh niên miệt mài hỗ trợ người dân thực hiện DVCTT, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của bộ phận một cửa. Tùy đặc điểm từng phường mà các đoàn viên có lịch trực linh động, vừa đáp ứng nhu cầu người dân, vừa bảo đảm thời gian cho học tập, sinh hoạt của mình.
Theo Bí thư Quận đoàn Hà Đông Đào Minh Đức, từ tháng 4-2016, Quận đoàn đã triển khai đồng loạt mô hình “Ngày thứ bảy tình nguyện giải quyết thủ tục hành chính cho nhân dân”, duy trì suốt trong năm 2016 tại bộ phận một cửa của UBND quận và các phường. Tháng 9-2016, Ban Thường vụ Quận đoàn đã xây dựng kế hoạch chỉ đạo đoàn thanh niên các phường thành lập đội hình thanh niên xung kích ra quân tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn người dân thực hiện DVCTT qua mạng.
Hầu hết các gia đình đều có máy vi tính và điện thoại thông minh. Khi đội hình xung kích mới được thành lập, các đoàn viên đến từng nhà phát tờ rơi, trực tiếp hướng dẫn sử dụng DVCTT mức độ 3, người dân rất phấn khởi và ngày càng có nhiều người làm thủ tục khai sinh, khai tử qua mạng.
Khó khăn hiện nay là hầu hết các bạn đoàn viên đều sinh hoạt hai chiều, vừa sinh hoạt ở cơ quan, trường học, vừa sinh hoạt tại địa bàn khu dân cư. Do vậy, với những phường ban đầu chỉ có 15 đến 20 thành viên tham gia phải thường xuyên bổ sung lực lượng để khắc phục khó khăn này. “Thời gian tới, Quận đoàn và các đoàn phường sẽ tăng cường tuyên truyền trên các trang mạng xã hội để thu hút sự quan tâm vào cuộc của các đoàn viên, cũng như nhân dân với tổ chức đoàn, để duy trì đều đặn hoạt động của mô hình này” - Bí thư Quận đoàn Hà Đông cho biết. (Nhân Dân 17/8) đầu trang(
Hà Nội đang nỗ lực để sớm trở thành một đô thị hiện đại và một trong những nhiệm vụ hàng đầu là xây dựng được môi trường hành chính thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.
Giai đoạn từ nay đến năm 2020, Hà Nội đặt nhiều mục tiêu phát triển rất cao. Một trong những mục tiêu đó là thực hiện khâu đột phá về phát triển đồng bộ, hiện đại hóa kết cấu hạ tầng đô thị và nông thôn. Theo tính toán của UBND thành phố, để đáp ứng được những mục tiêu cơ bản trong phát triển, Hà Nội cần huy động nguồn vốn khoảng từ 2,5 đến 2,6 triệu tỷ đồng.
Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung cho biết, ngoài những dự án trọng điểm có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội được bố trí sử dụng vốn ngân sách, thì phần lớn sẽ sử dụng vốn đầu tư của doanh nghiệp trong và ngoài nước (chiếm khoảng 80% nguồn vốn phát triển). Nhưng, nguồn vốn này sẽ không tự động chảy vào các dự án của thành phố.
Thực tế là nhiều dự án hạ tầng đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn, nhưng thu hồi vốn chậm nên không dễ hấp dẫn nhà đầu tư bên ngoài. Vì vậy, để thu hút được nguồn lực xã hội phải có quyết tâm chính trị cao và sự nhất quán trong hành động, tạo niềm tin với nhà đầu tư. Đó cũng chính là quan điểm của các cấp lãnh đạo cao nhất của thành phố. Từ quyết tâm chính trị, thành phố xác định, đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi là bước đi đầu tiên phải thực hiện.
Từ đầu năm 2016 đến nay, việc rà soát, sắp xếp tinh giản thủ tục hành chính trên lĩnh vực đầu tư, kinh doanh được thực hiện quyết liệt với phương châm lấy sự hài lòng của doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả. Nhờ vậy, đến nay, thời gian giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh đã giảm 30%, lĩnh vực đầu tư giảm 40-60%, trong quy hoạch, đất đai giảm 30-50%. Một sáng kiến của Hà Nội đã và đang phát huy hiệu quả là thành lập tổ công tác liên ngành trong tiếp nhận, giải quyết hồ sơ, thủ tục đầu tư. Tổ công tác liên ngành của thành phố được đặt ngay tại UBND thành phố, gồm các cán bộ đầu ngành Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Xây dựng..., có tác dụng như “một cửa” trong thu hút đầu tư nhằm giải quyết nhanh, hiệu quả những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp. Thành phố cũng rất chú trọng thực hiện và đã tạo chuyển biến căn bản về xây dựng Chính phủ điện tử để giảm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp. Từ việc gỡ những nút thắt về hành chính, một môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi đang được hình thành và dần tạo lập niềm tin đối với nhà đầu tư. Qua đó, các quan điểm, định hướng về đầu tư cũng như các dự án Hà Nội giới thiệu đều nhận được sự hưởng ứng tích cực từ nhà đầu tư, doanh nghiệp. Chẳng hạn, thành phố đã thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư vào 25 dự án giao thông, bãi đỗ xe với tổng số vốn gần 263 nghìn tỷ đồng. Các dự án có tính chất phục vụ cộng đồng cũng thu hút sự quan tâm của doanh nghiệp như về cấp nước sạch, xử lý rác thải, nước thải, công viên cây xanh...
Tuy nhiên, như Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Đức Chung đã đánh giá, những kết quả trên mới là bước đầu và còn khiêm tốn. Thực hiện mục tiêu đưa Hà Nội trở thành một đô thị hiện đại, xứng tầm là một trong những trung tâm lớn của khu vực vẫn luôn là nhiệm vụ đầy khó khăn và thách thức với nhiều việc phải làm. Riêng về công tác cải cách hành chính, để phục vụ nhân dân, doanh nghiệp nếu như mỗi cán bộ không nhận thức được trách nhiệm và thực thi trách nhiệm một cách nghiêm túc thì vẫn chỉ dừng lại ở chủ trương và không đem lại hiệu quả cụ thể. (Hà Nội Mới 17/8) đầu trang(
Ngày 16.8, tại TP.Đà Nẵng, Văn phòng Chính phủ phối hợp với Tổ chức Oxfam VN tổ chức hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định về cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính.
Tại hội thảo, một số đại biểu đã đưa ra đề xuất nên thành lập trung tâm hành chính công cấp huyện nhằm đáp ứng nhu cầu giải quyết công việc.
Tuy nhiên, theo Văn phòng Chính phủ, thời gian qua một số tỉnh, thành phố tổ chức “Trung tâm hành chính công” thực hiện mô hình một cửa tập trung là mô hình chưa có căn cứ pháp lý cụ thể, nên việc triển khai thực hiện không thống nhất.
Bà Võ Thị Tuyền, Trưởng phòng Cải cách hành chính, Sở Nội vụ TP.Đà Nẵng, cho rằng không cần thiết lập trung tâm hành chính công cấp huyện - bởi thành lập ra một trung tâm trực thuộc văn phòng UBND quận, huyện thì phải có bộ máy, lại “phình” thêm biên chế.
Trả lời báo chí bên hành lang hội thảo, GS Đặng Hùng Võ (nguyên Thứ trưởng Bộ TN-MT) cho rằng cải cách thủ tục hành chính cần áp dụng các yếu tố của hệ thống quản trị công, thúc đẩy nhanh hơn quá trình xây dựng Chính phủ điện tử, điện tử hóa việc thực hiện thủ tục hành chính. Bên cạnh đó, để cải cách thủ tục hành chính cần thiết phải cải cách từ công tác cán bộ.
Dự kiến, ngày 18.8, hội thảo về nội dung trên sẽ tiếp tục diễn ra tại TP.HCM. (Thanh Niên 17/8) đầu trang(

KINH TẾ
TP.HCM là đầu mối lưu thông lượng lớn thực phẩm sản xuất trong nước và nhập khẩu, nhưng khả năng đáp ứng nông sản do thành phố tự nuôi trồng còn hạn chế. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh trên chính sân nhà đang đặt ra các yêu cầu cấp thiết.
TP.HCM là nơi tập trung đông đảo người dân và lực lượng lao động ngoại tỉnh. Thế nhưng, theo đánh giá của Sở Công Thương TP.HCM, phần lớn người dân còn quan tâm đến thực phẩm giá thấp và được cung cấp bởi những người buôn bán tại các chợ tự phát.
Ông Huỳnh Công Năm - Phó Chủ tịch Hội Nông dân TP.HCM cho rằng, vẫn còn tình trạng vì lợi nhuận nên sản xuất chế biến các sản phẩm, thực phẩm không đảm bảo, bất chấp tính mạng, sức khỏe của người tiêu dùng. “Nông dân thành phố đang đối diện nhiều thách thức cạnh tranh, sản lượng tiêu thụ không ổn định, giá bán thường biến động, giá bán sản phẩm sạch không khác sản phẩm rau thông thường” - ông Năm nói.
Việc thâm nhập vào các kênh phân phối siêu thị còn hạn chế, thậm chí có tình trạng rau bán cho siêu thị nước ngoài thì được mà vào Co.opMart thì vẫn “vướng” nhiều vấn đề. HTX Sản xuất dịch vụ Nông nghiệp Tân Đức là một ví dụ.
Cụ thể, ông Ngô Văn Đức - Giám đốc HTX này kể, sản phẩm rau mầm của mình có mặt thường xuyên trên kệ hàng của siêu thị Aeon (Nhật Bản), nhưng khi “chào hàng” vào Co.opMart thì rất khó. “Họ cứ yêu cầu phải có thêm chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm trong khi rau VietGAP của chúng tôi đã đáp ứng được tiêu chí này” - ông Đức phân trần.
Ông Võ Thành Dũng - Phó Giám đốc HTX Trường Thịnh (quận Bình Tân) cho biết, sản phẩm của ông sản xuất theo hướng hữu cơ. Tuy nhiên trong thời gian chờ đợi được cấp chứng nhận, các cơ sở phân phối yêu cầu ông Dũng phải có chứng nhận… VietGAP !
Nhiều ý kiến rằng, nông sản TP.HCM dù có nhiều điểm mạnh nhưng vẫn không thể sánh với rau ôn đới Đà Lạt; heo, gà thì khó bì với Đồng Nai, Bình Dương về cả lượng và chất; chi phí lao động cũng không rẻ bằng các tỉnh… Do đó, việc cạnh tranh khá gay gắt. Ông Nguyễn Nguyên Phương - Trưởng phòng Quản lý thương mại (Sở Công Thương TP.HCM) cho rằng, việc không chỉ cạnh tranh với hàng xuất khẩu mà còn cạnh tranh với các tỉnh bạn cũng khiến nông sản TP.HCM đối mặt thêm nhiều bất lợi. Trong khi đó, trên thực tế, sản xuất và tiêu thụ nông sản tại TP.HCM vẫn còn nhiều điểm mâu thuẫn.
Ví dụ như mới đây, hệ thống Saigon Co.op đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm hữu cơ organic, tuy nhiên ở TP.HCM đâu dễ tìm ra đất 3 năm liền không sử dụng hóa chất để sản xuất hữu cơ. Hay như nhiều HTX chăn nuôi lợn vì phải thu gom từ nhiều nông hộ nên không đáp ứng được yêu cầu phải có hóa đơn của siêu thị…
Còn theo ông Dũng, cần giúp thêm các đơn vị sản xuất nông nghiệp ở TP.HCM có điều kiện phát triển sản xuất, đáp ứng yêu cầu của đơn vị tiêu thụ, phân phối, như giao thuê đất nông nghiệp phải ổn định, lâu dài. Có như vậy, nông dân mới an tâm đầu tư.
Ngoài ra, cần có hình thức phân phối tiện lợi theo chuỗi giá trị khép kín. Ví dụ như ở Hàn Quốc có trung tâm phân phối nông sản, nông dân sản xuất ra chỉ việc đem sản phẩm tập trung đến đây, trung tâm sẽ chịu trách nhiệm phân phối. Tiền lương của mạng lưới trung tâm phân phối nông sản này do chính nông dân trích vốn ra chi trả, khác với mô hình chợ đầu mối của TP.HCM hiện nay, là chỉ do Ban quản lý chợ tổ chức. (Dân Việt 18/8) đầu trang(
Các doanh nghiệp cần cải thiện chất lượng giống cá thương phẩm, áp dụng quy trình chăm sóc chế biến để hình ảnh và thương hiệu cá tra Việt Nam.
Theo Hiệp hội cá tra Việt Nam, trong 7 tháng năm nay, ngành cá tra Việt Nam đạt kim ngạch xuất hơn 996 triệu USD, tăng 6,9 so cùng kỳ năm ngoái. Dự báo từ nay đến cuối năm kim ngạch xuất khẩu cá tra Việt Nam sẽ giảm tại thị trường Hoa Kỳ và thị trường EU.
Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc thời gian qua là thị trường chính trong xuất khẩu cá tra của Việt Nam. Hiện tại kim ngạch xuất khẩu hai thị trường là Hoa Kỳ và EU đang có chiều hướng giảm.
Trong đó, kim ngạch xuất khẩu cá tra sang thị trường Hoa Kỳ đạt hơn 223 triệu USD, giảm 1% so cùng kỳ năm ngoái; thị trường EU đạt kim ngạch xuất khẩu 121 USD  giảm 23% so cùng kỳ. Riêng thị trường Trung Quốc kim ngạch xuất khẩu đạt 201 triệu USD, tăng 46%.
Nguyên nhân dẫn đến kim ngạch xuất khẩu cá tra vào Hoa Kỳ giảm là do Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) công bố mức thuế cao áp cho cá tra Việt Nam và từ ngày 1/8/2017. Khi đó, 100% lô hàng cá tra của Việt Nam sẽ được kiểm tra về nhãn mác, các thông số  ghi trên bao bì và dư lượng  hóa chất.
Riêng thị trường EU kim ngạch xuất khẩu giảm là do cá tra đang cạnh tranh gay gắt với các loài cá thịt trắng bản địa và các loại cá biển khác…
Theo ông Dương Nghĩa Quốc, chủ tịch Hiệp hội cá tra Việt Nam, để ngành hàng cá tra phát triển bền vững, thời gian tới cần thúc đẩy việc cải thiện chất lượng ngành cá tra về con giống, thương phẩm, chế biến, môi trường; phát triển thị trường trong nước và quốc tế; thúc đẩy cạnh tranh và tái cấu trúc ngành hàng cá tra; nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng hình ảnh và thương hiệu cá tra Việt Nam.
Về chiến lược xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ và EU ông Dương Nghĩa Quốc cho biết, các thị trường này nếu thực hiện theo Đạo luật nông trại (Farm Bill) sẽ phải chứng minh được những điều kiện tương đồng.
“Doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam phải tổ chức lại sản xuất để đáp ứng được yêu cầu của thị trường, đồng thời phải chứng minh được những điểm tương đồng trong vấn đề giống chăn nuôi, chế biến và các mã bao bì. Đối với thị trường EU, doanh nghiệp Việt Nam phải chuẩn bị các điều kiện để khi thực hiện Hiệp định giữa Việt Nam và EU có hiệu lực”, ông Quốc chỉ rõ. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 18/8) đầu trang(
Nhập khẩu ô tô nguyên chiếc vào Việt Nam đang có chiều hướng sụt giảm, trong đó đáng chú ý là sụt giảm mạnh từ thị trường Hàn Quốc, Trung Quốc và Ấn Độ.
Theo số liệu mới nhất của Tổng cục Hải quan, trong tháng 7 rồi, cả nước nhập khẩu 6.940 ô tô nguyên chiếc các loại với trị giá 167 triệu đô la Mỹ, giảm 11,2% về lượng và 2,6% về trị giá so với tháng trước. Qua đó, đưa lượng xe ô tô nguyên chiếc các loại nhập khẩu trong 7 tháng đầu năm đạt 57.800 chiếc, trị giá gần 1,21 tỉ đô la Mỹ, giảm 4,1% về lượng, giảm 16% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, theo cơ quan hải quan, lượng ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống nhập khẩu trong 7 tháng qua vẫn tăng so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 29.100 chiếc, trị giá là 499 triệu đô la Mỹ, tăng 13,9% về lượng và tăng 10,7% về trị giá.
Do thuế ô tô nguyên chiếc trong nội khối ASEAN nhập khẩu vào Việt Nam đang được giảm dần nên theo cơ quan hải quan, xe nhập khẩu từ Thái Lan và Indonesia vào nước ta có chiều hướng tăng cao. Cụ thể, trong 7 tháng đầu năm nay, nhập khẩu ô tô nguyên chiếc các loại chủ yếu có xuất xứ từ Thái Lan với gần 21.900 chiếc, tăng 16,1%; và Indonesia với 12.600 chiếc, gấp hơn 9 lần so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong khi đó, ở những thị trường ngoài khu vực ASEAN thì nhập khẩu ô tô vào Việt Nam đang bị sụt giảm mạnh. Như cùng thời gian trên, Hàn Quốc xuất khẩu vào Việt Nam đạt 5.400 chiếc, giảm 52,6%; Trung Quốc đạt 4.100 chiếc, giảm 46,9% hay Ấn Độ là 5.200 chiếc, giảm 34% so với cùng kỳ năm 2016.
Đáng chú ý là thị trường Ấn Độ, trong những tháng gần đây liên tục bị sụt giảm. Trong tháng 6 chỉ có 100 chiếc ô tô được nhập khẩu từ Ấn Độ. Con số này hồi tháng 5 là 84 chiếc.
Nguyên nhân khiến cho các dòng xe giá rẻ từ Ấn Độ không còn ồ ạt về Việt Nam là Hyundai đã thay đổi chiến lược sản xuất Hyundai i10. Cụ thể Hyundai Grand i10, mẫu xe nhỏ, giá thấp bán tốt ở thị trường trong nước trong thời gian qua đã được Hyundai Thành Công, nhà phân phối xe du lịch của thương hiệu ô tô Hàn Quốc này đưa về lắp ráp tại Việt Nam thay vì nhập khẩu tại Ấn Độ.
Đối với thị trường Trung Quốc, Việt Nam phần lớn nhập khẩu xe thương mại và xe chuyên dụng từ thị trường này, trong khi tiêu thụ trong nước ở hai phân khúc xe này trong 7 tháng qua đều bị sụt giảm. Cụ thể, theo Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô trong nước (VAMA), xe thương mại giảm 10% (đạt hơn 55.900 xe) và xe chuyên dụng giảm 18% (đạt hơn 8.420 xe) so với cùng kỳ năm ngoái...
Theo giới phân tích, tình hình cho thấy, nhập khẩu ô tô ở thị trường ngoài khu vực ASEAN đang có xu hướng sụt giảm từ đây đến cuối năm. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 17/8) đầu trang(

PHÁP LUẬT
Sáng 17-8, TAND cấp cao tại Hà Nội đã mở phiên tòa hình sự phúc thẩm xem xét kháng cáo của các bị cáo trong đại án tham nhũng xảy ra tại Công ty TNHH MTV Vận tải Viễn Dương (Vinashinlines).
Thẩm phán cao cấp Nguyễn Văn Sơn được phân công làm Chủ toạ phiên toà này. Hai kiểm sát viên cao cấp của Viện KSND tối cao là Phạm Minh Yến và Vũ Minh Đức thực hành quyền công tố tại toà.
Trong vụ án này, bị cáo Trần Văn Liêm (62 tuổi, cựu Tổng Giám đốc Vinashinlines), Giang Kim Đạt (40 tuổi), cựu Quyền Trưởng phòng kinh doanh Vinashinlines) và bị cáo Trần Văn Khương  (67 tuổi, cựu Kế toán trưởng Vinashinlines) được xác định phạm tội tham ô tài sản (Điều 278-BLHS). Bị cáo Giang Văn Hiển (bố đẻ Giang Kim Đạt) được xác định phạm tội rửa tiền (Điều 251-BLHS).
Theo bản án sơ thẩm ngày 22-2 của TAND TP Hà Nội, trong thời gian giữ chức vụ, Trần Văn Liêm-Tổng Giám đốc Vinashinlines, Trần Văn Khương-Kế toán trưởng Vinashinlines và Giang Kim Đạt thực hiện dự án mua tàu và khai thác, kinh doanh cho thuê tàu biển đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để chiếm đoạt của Vinashinlines số tiền hơn 260 tỷ đồng.
Trong đó, Liêm chiếm đoạt 3,1 tỷ đồng, Đạt chiếm đoạt 255 tỷ đồng và Khương chiếm đoạt 110.000 USD. Số tiền tham ô được chuyển vào tài khoản của Giang Kim Hiển.
Sau khi nhận được tiền chuyển vào tài khoản của mình, Hiển đã rút tiền mặt đưa cho Đạt, đồng thời mua 40 bất động sản, mua đi bán lại 13 ô tô đứng tên mình và người thân. Toàn bộ vốn mua tàu là của Tổng Công ty công nghiệp tàu thuỷ (Vinashin).
HĐXX sơ thẩm đã tuyên án tử hình về tội tham ô tài sản đối với hai bị cáo Liêm và Đạt. Cùng phạm tội tham ô tài sản, bị cáo Khương bị tuyên phạt án tù chung thân. Giúp sức tích cực cho ba bị cáo trên, bị cáo Hiển (bố bị cáo Đạt) bị tuyên phạt 12 năm tù về tội rửa tiền.
Ngoài hình phạt tù, HĐXX sơ thẩm cũng buộc các bị cáo phải bồi thường trả cho Vinashin số tiền đã chiếm đoạt hơn 260 tỷ đồng. Sau phiên toà sơ thẩm, bốn bị cáo làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Hiển dù kháng cáo kêu oan nhưng không đến dự phiên toà mà có đơn xin xét xử vắng mặt vì lý do sức khỏe. Trong đơn kháng cáo, bị cáo Đạt bác toàn bộ quy kết của Tòa án cấp sơ thẩm.
Đạt cho rằng, việc mua bán tàu là đúng quy trình chứ bị cáo không thỏa thuận với các công ty nước ngoài nhận tiền hoa hồng, bị cáo không nhận được sự chỉ đạo của bị cáo Liêm, tiền mua nhà ở nước ngoài cũng là tiền túi của bị cáo, những khoản tiền được chuyển về cho Đạt là tiền môi giới trong kinh doanh mà có.
Công ty TNHH Một thành viên Vận tải Viễn Dương (Vinashinlines) và Tổng Công ty Hàng Hải (Vinalines) cũng có đơn kháng cáo. Cả hai pháp nhân này đều cho rằng, mình mới là nguyên đơn dân sự trong vụ án nên có quyền nhận lại số tiền mà các bị cáo đã chiếm đoạt. Trước đó, tòa án sơ thẩm xác định Tổng Công ty Công nghiệp tàu thuỷ (Vinashin) mới là nguyên đơn dân sự của vụ án.
Sau khi làm thủ tục phiên toà, HĐXX công bố tóm tắt nội dung bản án sơ thẩm trước khi tiến hành xét hỏi các bị cáo. Bị cáo Liêm với tư cách khi phạm tội là Tổng Giám đốc Vinashinlines nên được Tòa sơ thẩm xác định giữ vai trò chính. Bị cáo Đạt giữ vai trò người thực hiện tích cực.
Để che giấu nguồn gốc tiền bất hợp pháp đã chiếm đoạt được của Vinashinlines (hơn 260 tỷ đồng), bị cáo Hiển trực tiếp tham gia giao dịch tài chính ngân hàng mở nhiều tài khoản ngoại tệ tại nhiều ngân hàng khác nhau ở trong nước để nhận tiền từ các công ty nước ngoài chuyển về.
Nhận số tiền hưởng lợi bất hợp pháp trên, Hiển rút ra chuyển cho Đạt để Đạt chuyển cho Liêm một phần. Số tiền còn lại, Hiển sử dụng để thực hiện các giao dịch theo ý kiến của con trai.
Vào phần xét hỏi, HĐXX cách ly bị cáo Liêm và bị cáo Khương để thẩm vấn riêng bị cáo Đạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đạt giải thích rằng, số tiền gần 16 triệu USD (khoảng 260 tỷ đồng) bị quy kết là tiền tham ô từ “hoa hồng” mua tàu và “chênh lệch giá cước”.
Đạt cho biết, mình còn nhiều tiền ở nước ngoài, trong đó có khoảng 3-4 tài khoản ở Singapore, trong tài khoản còn có khoảng vài triệu USD.
Theo lời khai của Đạt, số tiền này do bị cáo đầu tư mua bán bất động sản ở nước ngoài. HĐXX hỏi về việc chuyển tiền vào tài khoản ngoại tệ của bị cáo Hiển, bị cáo Đạt khai, đó tài khoản ngoại tệ là bố bị cáo tự mở nên bị cáo không biết.
Đạt chỉ thừa nhận có chuyển một khoản tiền vào tài khoản cho bố để chi tiêu chứ không phải nhiều như bản án sơ thẩm quy kết. Khi HĐXX công bố một số lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cho biết, có sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị cáo Liêm trong nhận tiền “hoa hồng” mua 3 tàu, cũng như việc hưởng “chênh lệch giá cước”, Đạt phủ nhận lời khai tại cơ quan điều tra.
Theo Đạt, việc đàm phán mua tàu và cho thuê tàu là thỏa thuận của phòng kinh doanh, là tập thể làm, thông tin được gửi vào thư điện tử chung nên ai cũng biết. Theo nhiều bút lục lời khai của bị cáo Đạt và bị cáo Hiển được HĐXX công bố cho thấy, cứ mỗi lần chuyển tiền vào tài khoản, công ty thuê tàu đều ghi rõ tên tàu của Vinashinlines.
Khi HĐXX hỏi về vấn đề này, bị cáo Đạt không giải thích được vì sao các công ty nước ngoài lại ghi như vậy. Về lời khai của bị cáo Hiển tại cơ quan điều tra về những lần nhận tiền, theo Đạt, bố bị cáo khai không đúng sự thật.
Bị cáo Trần Văn Liêm được tòa sơ thẩm xác định giữ vai trò chính trong vụ án tham ô khoảng 16 triệu USD (tương đương 260 tỷ đồng). Trong đó, Liêm được xác định hưởng lợi hơn 3,1 tỷ đồng.
Bị cáo Liêm được tòa sơ thẩm xác định đã nhận từ Đạt 150.000 USD từ “hoa hồng” mua 3 tàu, cũng như sử dụng tiền “chênh lệch gửi giá” để mua ô tô Mercedes và căn hộ ở TP Hồ Chí Minh và đất đất ở thành phố Nha Trang (Khánh Hòa).
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Liêm thừa nhận đã 3 lần nhận 150.000 USD từ Đạt. Về nguồn gốc số tiền, bị cáo Liêm giải trình, đó là quà người ta cho công ty do Đạt xin được cho anh em. Bị cáo Liêm thừa nhận sai lầm khi sử dụng số tiền này khi không đưa vào sổ sách kế toán mà đưa cho Kế toán trưởng Khương. Liêm đưa cho anh Khương 110.000 USD, còn lại 40.000 USD, bị cáo để lại sử dụng.
“Trước khi đưa, bị cáo có hỏi anh Khương về việc sử dụng số tiền này ngoài sổ sách nhưng để chung chi cho anh em trong công ty thì anh Khương cho rằng, tiền không liên quan đến hợp đồng thì có thể chi được.
Về quyết định chi số tiền này, bị cáo là người quyết định, nhưng chi như thế nào bị cáo không còn nhớ”, bị cáo Liêm cho biết. Bị cáo Liêm thừa nhận mình có tội: “Đó là trách nhiệm của người làm công tác quản lý khi để xảy ra sai phạm đặc biệt nghiêm trọng. Nhưng bị cáo không giữ vai trò chính trong vụ án như Tòa án cấp sơ thẩm xác định. Bị cáo xin Toà phúc thẩm xem xét lại vì mức án tử hình mà Tòa án sơ thẩm quy kết là quá nặng đối với bị cáo”.
Trong vụ án này, bị cáo Khương được xác định giữ vai trò đồng phạm. Bị cáo Khương cũng không thừa nhận quy kết của Toà án cấp sơ thẩm khi cho rằng, ông ta phạm tội tham ô tài sản.
Giải thích với HĐXX phúc thẩm về hành vi sai phạm đã thực hiện cùng Đạt và Liêm, Khương cho rằng, việc bị cáo được chia tiền hưởng lợi từ chủ trương của Vinashinlines. Ngày 18-8, phiên toà tiếp tục. (Công An Nhân Dân 17/8) đầu trang(

MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
Bà Rịa-Vũng Tàu đẩy mạnh thu hút đầu tư theo hướng có chọn lọc để đón những nhà đầu tư lớn, thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, dịch vụ chất lượng cao.
Ngày 16/8, ông Nguyễn Hồng Lĩnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã chủ trì cuộc họp về thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Cuộc họp có sự tham dự của Ban Quản lý các khu công nghiệp, các sở, ngành liên quan và đại diện các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Ông Nguyễn Hồng Lĩnh đã chỉ đạo UBND tỉnh tiếp thu ý kiến của các khu công nghiệp để có các giải pháp tháo gỡ nhằm nâng cao sức cạnh tranh trong thu hút đầu tư trên địa bàn.
Bên cạnh đó, tỉnh và các sở, ngành cần tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, thuận lợi, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, ổn định việc làm, cải thiện đời sống cho người lao động; đẩy mạnh thu hút đầu tư theo hướng có chọn lọc để đón những nhà đầu tư lớn, thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, dịch vụ chất lượng cao, phát triển công nghiệp gắn với bền vững; tập trung vốn ngân sách tỉnh hỗ trợ đầu tư cho các khu công nghiệp, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng.
Đặc biệt, Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh phải thực hiện giao ban 6 tháng một lần với các khu công nghiệp để nắm bắt những khó khăn, đánh giá lại hiệu quả hoạt động của các khu công nghiệp để có biện pháp tháo gỡ kịp thời.
Báo cáo tại cuộc họp, ông Nguyễn Anh Triết, Trưởng ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cho biết, từ đầu năm đến nay Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh đã cấp mới 15 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 380 triệu USD, tổng diện tích đất sử dụng là 48,74ha.
Lũy kế đến nay, tại các khu công nghiệp của tỉnh có 294 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký là 14,694 tỷ USD.
Toàn tỉnh có 14 khu công nghiệp, tính đến tháng 6/2017 giá trị đầu tư hạ tầng kỹ thuật các khu công nghiệp thực hiện là 272,24 tỷ đồng, lũy kế đến hết tháng 6/2017 là hơn 1.094 tỷ đồng…  Tại cuộc họp, đại diện nhà đầu tư hạ tầng các khu công nghiệp tỉnh đã nêu lên những khó khăn trong việc thu hút các nhà đầu tư thứ cấp vào các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Đó là một số nhà đầu tư kiến nghị tỉnh xem xét xin chủ trương đầu tư chỉ đối với ngành nghề hạn chế thu hút đầu tư theo Chỉ thị số 43-CT/TƯ ngày 6/8/2014 của Tỉnh ủy.
Đồng thời, phải có thời hạn cho thủ tục xin chủ trương đầu tư để nhà đầu tư có kế hoạch thực hiện dự án. Việc chậm trong việc xin cấp giấy phép đầu tư đã khiến cho thu hút các nhà đầu tư thứ cấp vào các khu công nghiệp gặp nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó, các công ty đầu hạ tầng các khu công nghiệp thường được miễn tiền thuê đất, trả tiền thuê đất hàng năm, trong khi các doanh nghiệp thứ cấp thuê lại đất phải trả tiền một lần cho toàn bộ thời hạn thuê dẫn đến quyền lợi của nhà đầu tư thứ cấp không được đảm bảo trong thực hiện đăng ký giao dịch đảm bảo khi thế chấp ngân hàng với Sở Tài nguyên và Môi trường.
Cùng với đó, hiện nay nhà đầu tư thứ cấp vào các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh cũng đang gặp nhiều khó khăn trong vấn đề tuyển dụng lao động về nguồn cung cấp lao động, số lượng lao động, chất lượng nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực cho khu công nghiệp chưa đáp ứng kịp, nhất là lao động kỹ thuật, nhiều doanh nghiệp phải đào tạo lại sau khi tuyển dụng.
Ngoài ra, ngoài chính sách hỗ trợ chung theo quy định, phía địa phương chưa ban hành chính sách hỗ trợ nhà đầu tư trong quá trình thực hiện dự án đầu tư và quá trình hoạt động…
Trước những khó khăn mà nhà đầu tư hạ tầng các khu công nghiệp nêu ra, Ban Quản lý các Khu công nghiệp đã đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút các nhà đầu tư thứ cấp vào các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh như: Tỉnh nên quy định thời hạn cho thủ tục xin chủ trương đầu tư để nhà đầu tư có kế hoạch thực hiện dự án.
Bên cạnh đó, địa phương ban hành chính sách hỗ trợ nhà đầu tư trong quá trình thực hiện dự án đầu tư và trong quá trình hoạt động; xây dựng cơ chế linh hoạt trong việc thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng bàn giao đất sạch cho nhà đầu tư đúng tiến độ; ban hành cơ chế hỗ trợ về đào tạo nhân lực phục vụ nhu cầu của nhà đầu tư.
Ngoài ra, tỉnh nên khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư hạ tầng xây dựng nhà xưởng rồi cho thuê lại thu hút nhà đầu tư nhỏ, công nghiệp hỗ trợ. Các cơ quan chức năng cần hỗ trợ các doanh nghiệp trong vấn đề tiếp xúc với các tập đoàn tìm hiểu đầu tư tại tỉnh… (Bnews 16/8) đầu trang(

BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
“Có nhiều thủ tục rất vô lý, kiến nghị nhiều năm, qua nhiều hội thảo nhưng có cục, vụ nói “các anh giỏi thì các anh đi thay đổi đi, còn tôi không thay đổi”, TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương chia sẻ về thực trạng rườm rà của bộ máy hành chính tại cuộc họp của Hội đồng tư vấn cải cách hành chính hôm 16/8.
Trước phản ánh này, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu loại ra khỏi bộ máy hành chính. Đây là một chỉ đạo cương quyết, đủ sức răn đe đối với cán bộ thừa hành công cuộc cải cách hành chính mà Chính phủ đang quyết tâm làm để đạt đến đích Chính phủ kiến tạo, vì dân phục vụ.
Để gỡ khó, lược bỏ các thủ tục được coi là “hành dân là chính” rất nhiều việc đã được người đứng đầu Chính phủ, các bộ ngành quyết liệt làm thời gian qua.
Chính vì lẽ đó “đã làm được một số việc cho người dân bớt khổ, doanh nghiệp (DN) bớt phiền hà vì nhiều thủ tục hành chính”.
Rõ ràng việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam đã nhận được sự hoan nghênh từ nhiều phía nhờ công cuộc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt là đối với đội ngũ công quyền-những người vận hành các thủ tục đó.
CCHC, Cải cách thủ tục hành chính(CCTTHC) dẫu đạt được những kết quả đáng khích lệ nhưng chính người đứng đầu Chính phủ-Thủ tướng thừa nhận “người dân, DN vẫn còn kêu ca về sự phiền hà, rắc rối, chậm trễ trong giải quyết TTHC ở khâu này, khâu khác tại nhiều cơ quan khác nhau. Vẫn còn một số việc làm nản lòng nhà đầu tư và DN như né tránh trách nhiệm, chỉ dẫn lòng vòng hay thực hiện thiếu thủ tục”.
Nội hàm của những sự chậm trễ kia chắc chắn không chỉ nằm ở thủ tục, bởi thủ tục có được đơn giản hóa, tối giản đến mấy cũng không lại được với cán bộ cố tình “vận dụng linh hoạt” gây khó cho người dân và DN.
Rõ ràng ngọn lửa cải cách đã được thổi bùng lên, tuy nhiên, sức nóng của ngọn lửa chưa lan tỏa nhiều tới cấp cơ sở, tới mỗi cán bộ, công chức trực tiếp triển khai thủ tục. Trong khi đó, khâu then chốt của cải cách vẫn là con người.
Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam Bùi Văn Quân nói: “Anh em DN có suy nghĩ là Chính phủ, các bộ, ngành, hay lãnh đạo các tỉnh đẩy vấn đề này rất tốt, còn các sở, ngành, quận, huyện thì ở mức trung bình.  Còn người thực hiện, chuyên viên trực tiếp thực hiện vẫn còn một số chưa triển khai tốt”. Không đơn giản chỉ là triển khai chưa tốt bởi nói như TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương thì điểm nghẽn nằm ở các cấp, cán bộ thực hiện trực tiếp. Chẳng hạn việc xây dựng thể chế thường mắc ở các vụ, cục. “Có nhiều thủ tục rất vô lý, kiến nghị nhiều năm, qua nhiều hội thảo nhưng có cục, vụ nói thế này, “các anh giỏi thì các anh cứ thay đổi đi, còn tôi không thay đổi”.
Vì sao lại có kiểu thách đố như vậy, bởi có rà soát để cắt giảm TTHC thì mới biết khó. Chủ trương của Chính phủ là cắt giảm tới mức tối đa các TTHC, tạo mọi điều kiện cho người dân và DN. Điều đó có nghĩa cán bộ phải nhận cái khó về mình mà không đẩy cái khó cho dân.
Điều đó cũng có nghĩa, có rất nhiều việc buộc cán bộ phải chuyển động nếu thực hiện đúng các yêu cầu của công cuộc CCHC. Do đó người cán bộ phải trau dồi kiến thức, tinh thông nghiệp vụ. Nền công vụ chắc chắn không có chỗ đứng cho cán bộ ì chệ, thiếu sáng kiến, giẫm chân tại chỗ.
Thực ra, TTHC ra đời cốt là để quản lý nhà nước cho tốt, nay bị cắt giảm đi chắc chắn sẽ gây khó dễ ít nhiều cho người thực thi công vụ.
Tất nhiên CCHC, cắt giảm thủ tục là để tạo điều kiện cho người dân và DN, nhưng dẫu có đẩy mạnh cải cách đến đâu cũng không được quên cái gốc của nó đó là TTHC để giúp quản lý nhà nước tốt hơn. Chắc chắn người dân và DN không phàn nàn nếu TTHC đúng. Cái làm người ta bức xúc chính là sự lợi dụng thủ tục để hành dân, để kiếm chác…
Cắt giảm những thủ tục này chẳng khác cắt tay, chặt chân của một bộ phận cán bộ thoái hóa, biến chất. Vì tư lợi, nhiều TTHC lý ra phải cắt giảm nhưng nó vẫn tồn tại để “hành” người dân, DN như một sự thách thức dư luận.
“Phải nghe lời nói ngang trái để sửa chính sách, để sát cuộc sống, để phát triển đất nước”, Thủ tướng nói và yêu cầu. Với công cuộc CCHC, người đứng đầu Chính phủ cho rằng: “Không chuyển biến thì cần có chế tài thực hiện”. “Cục trưởng, vụ trưởng nào nói “anh cứ cải cách đi” còn bản thân không chịu cải cách thì cán bộ đó phải đưa ra khỏi bộ máy nhà nước”- Thủ tướng nhấn mạnh.
Tất nhiên, để đẩy nhanh công cuộc CCHC có nhiều yếu tố và cán bộ là chốt của then chốt. Rõ ràng, để giải quyết nhanh một công việc thì yêu cầu đầu tiên là năng lực của người thực hiện, thứ hai là tinh thần trách nhiệm, dám làm dám chịu, vì sự phát triển, thứ ba là phẩm chất của cán bộ…Vì vậy, cán bộ nếu không đáp ứng được yêu cầu công việc cần có chế tài loại ra khỏi bộ máy.
Ngay tại phiên họp, Thủ tướng đề nghị Bộ Nội vụ chủ trì kiểm tra công vụ, có tổ công tác cùng với Cục Kiểm soát TTHC kiểm tra việc thực thi công vụ của một số nhóm đối tượng đã bị phát hiện có thể gây ách tắc, khó khăn cho DN.
Qua đó, xử lý nghiêm, đăng tải công khai trên các phương tiện thông tin truyền thông để răn đe, cảnh báo cán bộ. Sự cương quyết của Thủ tướng chắc chắn đánh động tới cán bộ thiếu năng lực, thiếu tinh thần trách nhiệm và yếu về phẩm chất buộc họ không thể chần chừ trong cải cách thậm chí là kéo giật lùi bánh xe CCHC.
Để cụ thể hóa chế tài xử lý cán bộ chậm chuyển động trong công cuộc cải cách nhiều ý kiến cho rằng phải truy rõ, tìm đúng địa chỉ trách nhiệm và xử lý nghiêm cán bộ mới đủ tính răn đe.
Người dân và DN mong chờ những quyết sách, hành động quyết liệt từ người đứng đầu Chính phủ trong việc loại bỏ những công chức thực sự không được việc, cố tình ngáng đường công cuộc CCHC mà Chính phủ đang nỗ lực làm thời gian qua.(Đại Đoàn Kết 18/8) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Tòa án thành phố Rawalpindi (Pakistan) vừa hoàn tất thủ tục để các phiên xét xử tham nhũng chống lại cựu Tổng thống Asif Ali Zardari được tiến hành liên tục hàng ngày, với hy vọng sẽ sớm đưa ra được bản án cho vụ việc đã kéo dài suốt 16 năm.
Phiên xét xử đầu tiên diễn ra vào ngày 17/8 xoay quanh các khối tài sản bị cáo buộc là bất hợp pháp của ông Asif Ali Zardari - cựu lãnh đạo Đảng Nhân dân Pakistan (PPP), trong đó bao gồm cả tài sản tại Pakistan và ở nước ngoài.
Theo hồ sơ vụ việc, ông Zardari và vợ là bà Benazir Bhutto, bị cáo buộc đã sử dụng các tài khoản ngân hàng tại Thụy Sĩ để rửa tiền, sở hữu nhiều tài sản bằng con đường bất hợp pháp.
Vụ việc được đưa ra truy tố trước tòa vào năm 2001, tuy nhiên đã bị đóng lại vào năm 2007 theo Sắc lệnh Hòa giải Dân tộc (NRO), được ban hành bởi Chính phủ của cựu Tổng thống Gen Pervez Musharraf.
Năm 2009, Tòa án Tối cao Pakistan đã bác bỏ lệnh ân xá gây nhiều tranh cãi. Một ủy ban gồm 17 thẩm phán dưới sự lãnh đạo của Chánh án Iftikhar Mohammed Chaudhry đã phán quyết rằng: Việc ban lệnh ân xá theo Sắc lệnh NRO là vi phạm Hiến pháp.
Ủy ban này cũng ra lệnh mở lại tất cả các vụ án tham nhũng và hình sự khác, kể cả những vụ còn chưa kết thúc chống lại ông Zardari. Tuy nhiên, lúc này ông Zardari đã tuyên thệ nhậm chức Tổng thống và được hưởng quyền miễn trừ theo Điều 248 của Hiến Pháp.
Trong suốt 3 năm (2009 - 2012), Tòa án Tối cao Pakistan đã yêu cầu Chính phủ gửi văn bản cho nhà cầm quyền Thụy Sĩ đề nghị mở lại vụ án hối lộ chống lại Tổng thống Asif Ali Zardari. Tuy nhiên, Chính phủ liên hiệp do Đảng Nhân dân Pakistan của ông Zardari lãnh đạo đã từ chối làm việc này vì cho rằng, Tổng thống được quyền miễn trừ, không bị truy tố khi còn tại chức.
Vụ việc đã tạo nên xung đột gay gắt giữa Chính phủ và Tòa án. Ngày 26/4/2012, Chánh án Tòa án Tối cao Mohammed Chaudhry đưa ra phán quyết cho rằng, Thủ tướng đương nhiệm là ông Yousuf Raza Gilani đã không còn đủ tư cách để tiếp tục giữ chức vụ vì tội khinh mạn tòa án. Đây là lần đầu tiên một Thủ tướng Pakistan bị cơ quan tư pháp bãi chức.
Tháng 4/2015, Cục Bổn phận Quốc gia (NBA, thuộc Tòa án Tối cao Pakistan) đã mở lại vụ án, nhưng tiến trình điều tra, giải quyết được diễn ra với tốc độ "rùa bò", bởi ngay từ đầu, cả 2 bên truy tố và bảo vệ đều dường như không muốn theo đuổi vụ việc một cách quyết liệt.
Cho tới năm nay, vụ việc vẫn "dậm chân tại chỗ" với lý do luật sư của ông Zardari chưa sẵn sàng bởi các điều ước hoặc bệnh tật. Thêm vào đó, trong khi Tòa án Tối cao Pakistan luôn mạnh mẽ chống lại ông Zardari thì Tòa án thành phố Rawalpindi (tòa cấp dưới) lại từng lên tiếng bênh vực. Thậm chí, vào năm 2008, Tòa này đã bác bỏ cả 7 cáo buộc tham nhũng đối với ông Zardari. Trong đó có việc ông Zardari bị tố cáo nhập xe ô tô BMW mà không trả thuế, nhận 10 triệu USD lại quả từ công ty nhập khẩu vàng ARY, sử dụng sai công quỹ để xây dựng sân Polo Ground tại dinh thự của Thủ tướng ở Islamabad...
Tuy nhiên, sau phán quyết mới đây trong vụ Hồ sơ Panama - vụ rò rỉ tài liệu mật lớn nhất trong lịch sử, luật sư của ông Zardari là Farooq H. Naek đã sẵn sàng có mặt và tòa án, với sự đồng ý của Cục Bổn phận Quốc gia đã tiến hành các phiên xét xử hàng ngày đối với vụ việc này.
Theo quy định, các tòa án thường lựa chọn cách xét xử liên tục hàng ngày với sự chấp thuận của cả 2 bên công tố và luật sư của bị can.
Đầu năm nay, công tố viên của vụ án cho biết, một nhân chứng quan trọng của vụ tham nhũng đã biến mất một cách bí ẩn.
Nhân chứng được thẩm vấn - luật sư Jawad Mirza - sau đó bị tòa án Rawalpindi tuyên bố là một tội phạm.
Ông Mirza từng là một chuyên gia tư vấn pháp luật cho Cơ quan Điều tra tội phạm tài chính của NAB (FCIW) năm 2002, và đã đưa ra nhiều bằng chứng, tài liệu cho nhân viên điều tra. Các bằng chứng bao gồm các văn bản liên quan đến giao dịch tiền tệ, bảng kê chi tiết của các tài khoản ngân hàng, công ty nước ngoài được cho là của ông Zardari và gia đình ông.
Trao đổi với báo chí trong nước, Tahir Ayub - công tố viên của NAB cho biết, vụ án đang trong giai đoạn cuối, bởi vậy, tòa án đã quyết định tiến hành các phiên điều trần liên tục.
Ông hy vọng rằng các thủ tục tố tụng sẽ được hoàn tất chỉ trong vài ngày tới, và sau đó, tòa án sẽ thông qua một bản án đối với cựu Tổng thống.
Ông Zardari phải đối mặt với tổng cộng 6 tội danh tham nhũng, ngoài các khối tài sản, cựu Tổng thống còn liên quan đến tham nhũng tại SGS, Cotecna, Polo Ground, Ursus Tractors và ARY Gold. (Thanh Tra 18/8) đầu trang(./.