|
Ngày 16 tháng 01 năm 2017
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
QUẢN LÝ
NHÂN SỰ MỚI
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
KINH TẾ
VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
NHÌN RA THẾ GIỚI
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
Thủ tướng Chính phủ quyết định mức lãi suất cho vay ưu đãi của các tổ chức tín dụng do Nhà nước chỉ định theo quy định tại Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội.
Theo đó, mức lãi suất cho vay ưu đãi của các tổ chức tín dụng do Nhà nước chỉ định áp dụng trong năm 2016 và năm 2017 đối với dư nợ của các khoản cho vay để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà để ở theo quy định tại Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội là 5%/năm.
Theo Nghị định số 100/2015/NĐ-CP, đối tượng được vay vốn ưu đãi để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà để ở là đối tượng quy định tại các Khoản 1, 4, 5, 6 và 7 Điều 49 của Luật Nhà ở.
Các đối tượng trên được vay tối thiểu là 15 năm kể từ ngày giải ngân khoản vay đầu tiên. Trường hợp khách hàng có nhu cầu vay với thời hạn thấp hơn thời hạn cho vay tối thiểu thì được thỏa thuận với ngân hàng về thời hạn cho vay thấp hơn. (Báo Chính Phủ 13/1) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định sửa đổi Quyết định 765/QĐ-TTg ngày 22/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiện toàn Ủy ban Công tác về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài.
Theo đó, điều chỉnh, bổ sung Ủy viên Ủy ban Công tác về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài. Cụ thể, Bộ Nội vụ cử một đồng chí Thứ trưởng làm Ủy viên; bổ sung Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam làm Ủy viên.
Theo Quyết định 765/QĐ-TTg ngày 22/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiện toàn Ủy ban Công tác về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, Ủy ban Công tác về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài có nhiệm vụ phối hợp với Bộ Ngoại giao xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, chủ trì công tác thẩm định đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài thông qua các cơ quan thành viên Ủy ban để chuyển hồ sơ cho Bộ Ngoại giao xét cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, thu hồi Giấy đăng ký của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam.
Đồng thời, thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam; chủ trì và phối hợp với các cơ quan liên quan giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm liên quan đến hoạt động của tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam.
Ủy ban làm việc theo nguyên tắc tập thể, biểu quyết theo đa số quá bán. Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam là cơ quan thường trực của Ủy ban. (Báo Chính Phủ 13/1) đầu trang(
Nghị định kinh doanh hàng miễn thuế đã được Chính phủ ban hành, trong đó quy định cụ thể đối tượng và điều kiện mua hàng miễn thuế.
Nghị định quy định đối tượng và điều kiện mua hàng miễn thuế gồm:
1- Người xuất cảnh, quá cảnh sau khi hoàn thành thủ tục xuất cảnh, quá cảnh, hành khách trên các chuyến bay quốc tế xuất cảnh từ Việt Nam hoặc người chờ xuất cảnh được mua hàng miễn thuế:
- Người xuất cảnh, quá cảnh qua các cửa khẩu đường bộ quốc tế; cửa khẩu ga đường sắt liên vận quốc tế, cửa khẩu cảng biển loại 1, cửa khẩu cảng hàng không dân dụng quốc tế được mua hàng miễn thuế tại cửa hàng miễn thuế nằm trong khu vực cách ly; hành khách trên các chuyến bay quốc tế xuất cảnh từ Việt Nam được mua hàng miễn thuế trên tàu bay.
- Người chờ xuất cảnh được mua hàng miễn thuế tại cửa hàng miễn thuế trong nội địa. Hàng hoá miễn thuế được nhận tại quầy nhận hàng trong khu cách ly tại cửa khẩu quốc tế nơi hành khách xuất cảnh.
- Khách du lịch là người nước ngoài theo đoàn bằng đường biển, có hộ chiếu hoặc giấy thông hành hoặc thẻ đi bờ của hành khách xuất nhập cảnh theo quy định nhưng không có thị thực nhập cảnh, không có tờ khai nhập cảnh, xuất cảnh được mua hàng miễn thuế tại cửa khẩu cảng biển loại 1, cửa hàng miễn thuế trong nội địa. Hàng hoá miễn thuế được nhận tại cửa khẩu xuất cảnh sau khi khách du lịch hoàn thành thủ tục xuất cảnh.
2- Hành khách trên các chuyến bay quốc tế đến Việt Nam được mua hàng miễn thuế trên tàu bay đang thực hiện chuyến bay quốc tế đến Việt Nam.
3- Người nhập cảnh được mua hàng miễn thuế tại cửa hàng miễn thuế đặt tại khu vực hạn chế của cảng hàng không dân dụng quốc tế ngay sau khi hoàn thành thủ tục nhập cảnh, không được mua hàng miễn thuế sau khi đã ra khỏi khu vực hạn chế tại cảng hàng không dân dụng quốc tế.
4- Đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ tại Việt Nam được mua hàng miễn thuế tại cửa hàng miễn thuế trong nội địa. Khi mua hàng miễn thuế cho tổ chức phải xuất trình sổ định mức hàng miễn thuế. Khi mua hàng miễn thuế cho cá nhân phải xuất trình sổ định mức hàng miễn thuế kèm chứng minh thư do Bộ Ngoại giao cấp hoặc hộ chiếu.
5- Đối tượng mua hàng là thuyền viên làm việc trên tàu biển chạy tuyến quốc tế (bao gồm tàu biển có quốc tịch nước ngoài và tàu biển có quốc tịch Việt Nam chạy tuyến quốc tế) được mua hàng miễn thuế tại cảng biển loại 1, cửa hàng miễn thuế trong nội địa phục vụ cho nhu cầu cá nhân, nhu cầu sinh hoạt chung của thuyền viên để sử dụng trên tàu trong thời gian tàu neo đậu tại cảng biển Việt Nam và để sử dụng trên tàu ngoài lãnh hải Việt Nam sau khi tàu xuất cảnh.
a) Trường hợp mua hàng miễn thuế phục vụ nhu cầu cá nhân thuyền viên phải xuất trình hộ chiếu hoặc thẻ đi bờ của thuyền viên.
b) Trường hợp mua hàng miễn thuế phục vụ nhu cầu sinh hoạt chung của thuyền viên trong thời gian tàu neo đậu tại cảng biển Việt Nam, thuyền trưởng hoặc người đại diện tàu có đơn đặt hàng kèm theo danh sách thuyền viên có thông tin về số hộ chiếu của từng thuyền viên, trên đơn phải ghi rõ thông tin về số hiệu tàu, ngày tàu nhập cảnh.
c) Trường hợp mua hàng miễn thuế phục vụ nhu cầu của thuyền viên cho hành trình tiếp theo ngoài lãnh hải Việt Nam, thuyền trưởng hoặc người đại diện tàu có đơn đặt hàng, trên đơn đặt hàng phải ghi rõ thông tin về số hiệu tàu, ngày tàu nhập cảnh, kèm theo danh sách thuyền viên có thông tin số hộ chiếu của từng thuyền viên. Hàng hóa phải được đưa vào kho chứa của tàu để cơ quan hải quan nơi tàu xuất cảnh niêm phong, xác nhận, giám sát cho đến khi tàu xuất cảnh.
Người xuất cảnh, quá cảnh, hành khách trên các chuyến bay quốc tế xuất cảnh từ Việt Nam hoặc người chờ xuất cảnh được mua hàng miễn thuế không hạn chế số lượng và trị giá nhưng phải tự chịu trách nhiệm về thủ tục và định lượng để nhập khẩu vào nước nhập cảnh.
Hành khách trên các chuyến bay quốc tế đến Việt Nam, người nhập cảnh quy định tại (2) và (3) nêu trên được mua hàng miễn thuế theo định mức quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 6 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Đối tượng quy định tại (4) nêu trên được mua hàng miễn thuế theo định lượng quy định tại Điều 5 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Đối tượng quy định tại (a) và (b) nêu trên được mua hàng miễn thuế phục vụ cho nhu cầu cá nhân, nhu cầu sinh hoạt chung của thuyền viên trên tàu biển chạy tuyến quốc tế trong thời gian tàu biển neo đậu tại cảng biển Việt Nam, định mức mỗi thuyền viên trong một lần tàu neo đậu tại cảng biển Việt Nam như sau: Rượu từ 20 độ trở lên: 1,5 lít hoặc rượu dưới 20 độ: 2,0 lít hoặc đồ uống có cồn, bia: 3,0 lít.
Đối với rượu nguyên chai, bình, lọ, can (sau đây viết tắt là chai) có dung tích lớn hơn dung tích quy định nhưng không vượt quá 01 lít thì được miễn thuế cả chai. Trường hợp vượt quá 01 lít thì phần vượt định mức phải nộp thuế theo quy định của pháp luật; thuốc lá điếu: 200 điếu hoặc thuốc lá sợi: 250 gam hoặc xì gà: 20 điếu.
Đối tượng quy định tại (c) nêu trên được mua hàng miễn thuế không hạn chế về số lượng và trị giá để sử dụng trên tàu ngoài lãnh hải Việt Nam sau khi tàu xuất cảnh. (Báo Chính Phủ 13/1) đầu trang(
Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 42/2016/TT-NHNN quy định xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân.
Việc xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân được thực hiện dựa trên các tiêu chí quy định. Tổng điểm cho các tiêu chí xếp hạng là 100 điểm và điểm phân bổ cho từng tiêu chí như sau:
1. Vốn: 10 điểm.
2. Chất lượng tài sản: 30 điểm.
3. Năng lực quản trị, điều hành, kiểm soát: 30 điểm.
4. Kết quả hoạt động kinh doanh: 10 điểm.
5. Khả năng chi trả: 20 điểm.
Quỹ tín dụng nhân dân được xếp vào các thứ hạng như sau: Hạng A (Tốt) có tổng điểm xếp hạng từ 80 điểm trở lên; Hạng B (Khá) có tổng điểm xếp hạng từ 70 điểm đến dưới 80 điểm; Hạng C (Trung bình) có tổng điểm xếp hạng từ 60 điểm đến dưới 70 điểm; Hạng D (Yếu kém) có tổng điểm xếp hạng dưới 60 điểm.
Trường hợp quỹ tín dụng nhân dân có từ 1 tiêu chí hoặc từ 2 tiêu chí thành phần trở lên ở bất kỳ tiêu chí nào bị chấm điểm “0” thì thứ hạng bị giảm một bậc.
Trước ngày 30/4 hàng năm, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh, Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng hoàn thành việc xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân của năm trước.
Trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả xếp hạng, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh, Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng báo cáo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước kết quả xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn.
Trước ngày 15/6 hằng năm, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng chủ trì thẩm định, trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quyết định phê duyệt kết quả xếp hạng các quỹ tín dụng nhân dân để gửi Ngân hàng Nhà nước chi nhánh, Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng thực hiện giám sát theo quy định.
Ngân hàng Nhà nước chi nhánh, Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng thông báo kết quả xếp hạng cho từng quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn. Quỹ tín dụng nhân dân phải quản lý kết quả xếp hạng theo chế độ mật và không được cung cấp kết quả xếp hạng của mình cho tổ chức, cá nhân ngoài quỹ tín dụng nhân dân.
Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/5/2017. (Báo Chính Phủ 13/1) đầu trang(
Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 314/2016/TT-BTC hướng dẫn một số điều tại Nghị định 24/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chế độ quản lý ngân quỹ nhà nước.
Thông tư nêu rõ đối tượng áp dụng là: Các đơn vị thuộc hệ thống Kho bạc Nhà nước (KBNN); các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Tài chính có liên quan đến công tác quản lý NQNN, bao gồm: Tổng cục Thuế; Tổng cục Hải quan; Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại; Vụ Ngân sách nhà nước (NSNN).
Thông tư quy định rõ một trong những biện pháp sử dụng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi là gửi có kỳ hạn tại ngân hàng thương mại. KBNN thực hiện gửi có kỳ hạn các khoản NQNN tạm thời nhàn rỗi tại các ngân hàng thương mại có mức độ an toàn cao theo xếp hạng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tại Nghị định số 24/2016/NĐ-CP.
Việc gửi tiền có kỳ hạn tại ngân hàng thương mại được thực hiện theo hợp đồng gửi tiền có kỳ hạn giữa KBNN và ngân hàng thương mại, phù hợp với các quy định của pháp luật; trong đó, nêu rõ trách nhiệm, quyền hạn của các bên và các nội dung khác có liên quan đến khoản tiền gửi có kỳ hạn.
Mức gửi tiền có kỳ hạn tại các ngân hàng thương mại không vượt quá hạn mức gửi tiền có kỳ hạn được quy định. Thời hạn gửi tiền có kỳ hạn tại ngân hàng thương mại tối đa không quá 03 tháng, kể từ ngày KBNN làm thủ tục chuyển tiền để thực hiện giao dịch.
Bên cạnh đó, ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi cũng có thể được sử dụng để mua lại có kỳ hạn trái phiếu Chính phủ. KBNN được thực hiện giao dịch mua lại có kỳ hạn đối với các loại trái phiếu Chính phủ và tín phiếu do KBNN phát hành đang niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán.
Hình thức giao dịch: Thỏa thuận điện tử hoặc thỏa thuận thông thường. Kỳ hạn mua lại trái phiếu Chính phủ tối đa không quá 03 tháng, kể từ ngày KBNN làm thủ tục chuyển tiền để thực hiện giao dịch.
Thông tư nêu rõ, biện pháp xử lý ngân quỹ nhà nước tạm thời thiếu hụt là phát hành tín phiếu kho bạc.
Căn cứ tình hình thu, chi, tồn NQNN và tình hình thị trường, KBNN xác định thời điểm và số lượng phát hành tín phiếu kho bạc để bù đắp NQNN tạm thời thiếu hụt cho phù hợp. Số lượng phát hành tối đa không vượt quá hạn mức phát hành tín phiếu kho bạc để bù đắp NQNN tạm thời thiếu hụt đã được Bộ Tài chính phê duyệt tại phương án điều hành NQNN.
Thời hạn phát hành tín phiếu kho bạc để bù đắp NQNN tạm thời thiếu hụt tối đa không quá 03 tháng, kể từ ngày phát hành.
KBNN bố trí nguồn để hoàn trả đầy đủ, đúng hạn gốc, lãi và các khoản phí (nếu có) liên quan đến việc phát hành tín phiếu kho bạc để bù đắp NQNN tạm thời thiếu hụt.
Ngoài ra một biện pháp khác để xử lý ngân quỹ nhà nước tạm thời thiếu hụt là thu hồi trước hạn tiền gửi có kỳ hạn.
Căn cứ tình hình thu, chi, tồn NQNN và hợp đồng gửi tiền có kỳ hạn giữa KBNN với ngân hàng thương mại, KBNN phối hợp với ngân hàng thương mại nơi gửi tiền thực hiện thu hồi trước hạn các khoản NQNN đang gửi có kỳ hạn để bù đắp NQNN tạm thời thiếu hụt.
Số lượng và lãi suất tiền gửi rút trước hạn được thực hiện theo hợp đồng gửi tiền có kỳ hạn giữa KBNN và ngân hàng thương mại.
Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15/01/2017. (Báo Chính Phủ 13/1) đầu trang(
QUẢN LÝ
Thủ tướng Chính phủ vừa giao Bộ Tài chính xuất cấp (không thu tiền) 1.105,265 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia cho các tỉnh: Gia Lai, Đắk Lắk để hỗ trợ cho nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán năm 2017.
Cụ thể, tỉnh Gia Lai được xuất cấp 605,265 tấn gạo; tỉnh Đắk Lắk được xuất cấp 500 tấn gạo.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND 2 tỉnh trên chịu trách nhiệm về số liệu báo cáo; tiếp nhận và sử dụng số gạo được cấp bảo đảm hỗ trợ kịp thời, đúng đối tượng theo quy định. (Báo Chính Phủ 14/1) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Chương trình khoa học và công nghệ (KHCN) phục vụ xây dựng nông thôn mới (NTM) giai đoạn 2016-2020 trên cơ sở sửa đổi, bổ sung Quyết định số 27/QĐ-TTg ngày 5-1-2012 của Thủ tướng Chính phủ.
Mục tiêu của Chương trình là nghiên cứu, đề xuất bổ sung, hoàn thiện cơ sở lý luận của mô hình NTM để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương các chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) giai đoạn 2016 - 2020; nghiên cứu, đề xuất bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, giải pháp KHCN xây dựng NTM để áp dụng cho CTMTQG về xây dựng NTM giai đoạn 2016 - 2020.
Mục tiêu cụ thể Chương trình phấn đấu 70% số đề tài, dự án thuộc Chương trình có kết quả được công bố trên các tạp chí KHCN và phải có tài liệu, sổ tay hướng dẫn chuyển giao công nghệ; 100% các đề tài có kết quả được áp dụng vào thực tế xây dựng NTM; xây dựng được các mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, có sự tham gia đầu tư của các doanh nghiệp… (Nhân Dân 16/1) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Chương trình khoa học và công nghệ (KHCN) phục vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 trên cơ sở sửa đổi, bổ sung Quyết định số 27/QĐ-TTg ngày 05/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ.
Mục tiêu của Chương trình là nghiên cứu, đề xuất bổ sung, hoàn thiện cơ sở lý luận của mô hình nông thôn mới để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 - 2020; nghiên cứu, đề xuất bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, giải pháp KHCN xây dựng nông thôn mới để áp dụng cho Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020.
Đồng thời xây dựng một số mô hình nông thôn mới trên cơ sở ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, từ đó đánh giá hiệu quả để tổ chức nhân rộng trên phạm vi cả nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới; nâng cao nhận thức và trình độ ứng dụng KHCN của doanh nghiệp, người dân và các tổ chức kinh tế trong quá trình xây dựng nông thôn mới.
Mục tiêu cụ thể Chương trình phấn đấu 70% đề tài, dự án thuộc Chương trình có kết quả được công bố trên các tạp chí KHCN và phải có tài liệu, sổ tay hướng dẫn chuyển giao công nghệ; 100% các đề tài có kết quả được áp dụng vào thực tế xây dựng nông thôn mới; xây dựng được các mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, có sự tham gia đầu tư của các doanh nghiệp.
Trong đó, có ít nhất 60% mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm, nhất là đối với các nhóm sản phẩm chủ lực (cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp cơ sở thôn, xã); chuyển giao được các công nghệ mới, tiên tiến, phù hợp với các vùng miền, tăng hiệu quả sản xuất lên tối thiểu 25%, góp phần tăng thu nhập cho nông dân từ 20% trở lên; các đề tài, dự án thuộc Chương trình thực hiện đào tạo, tập huấn chuyển giao công nghệ cho 10.000 lượt đối tượng chuyển giao công nghệ và nhận chuyển giao công nghệ ở nông thôn.
Một trong các nội dung của Chương trình là nghiên cứu, khảo sát các mô hình tổ chức xã hội nông thôn ở Việt Nam và một số nước trên thế giới; những bài học kinh nghiệm xây dựng mô hình nông thôn mới trong thời gian qua để xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, lộ trình, vai trò của các chủ thể trong xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam gắn với đô thị hóa văn minh trong hội nhập quốc tế đến năm 2020 và trong giai đoạn tiếp theo; nghiên cứu, đề xuất bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách xây dựng nông thôn mới như cơ chế, chính sách tích tụ đất sản xuất nông nghiệp, cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ cho nông nghiệp...
Đồng thời nghiên cứu, đề xuất các giải pháp KHCN để xây dựng nông thôn mới; xây dựng một số mô hình trình diễn về nông thôn mới trên cơ sở ứng dụng các thành tựu, giải pháp KHCN như mô hình chuyển đổi hợp tác xã kiểu mới, hoạt động theo Luật Hợp tác xã năm 2012; mô hình quy hoạch, kiến trúc nông thôn mới; mô hình phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu; mô hình xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu gắn với đô thị văn minh; mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao kết hợp với cơ giới hóa nông nghiệp...
Bên cạnh đó xây dựng nội dung và tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao năng lực nắm bắt, ứng dụng KHCN cho các đối tượng có liên quan đến việc xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chuyển giao công nghệ, nông dân và doanh nghiệp.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan chủ trì Chương trình, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương có liên quan tổ chức triển khai thực hiện Chương trình.
Trong giai đoạn 2011-2015, Chương trình KHCN phục vụ xây dựng nông thôn mới có 68 đề tài/dự án được phê duyệt thực hiện, có những đóng góp hiệu quả, kịp thời cho quá trình xây dựng nông thôn mới của các địa phương trong cả nước, giúp các địa phương đạt một số chỉ tiêu về cơ sở hạ tầng, tăng thu nhập cho hộ nông dân, giảm hộ nghèo, hợp tác sản xuất, bảo vệ môi trường nông thôn.
Cụ thể, Chương trình đã nghiên cứu đề xuất, bổ sung, hoàn thiện cơ sở lý luận về mô hình nông thôn mới nước ta ở các mặt như: thể chế phát triển nông nghiệp; thể chế chính trị nông thôn; hương ước làng, trách nhiệm xã hội và vai trò chủ thể của nông dân...; xây dựng Bộ tiêu chí lựa chọn công nghệ để chuyển giao cho nông dân thuộc 7 lĩnh vực KHCN (trồng trọt, chăn nuôi, thủy lợi, thủy sản...).
Giới thiệu chuyển giao vào sản xuất được 105 công nghệ và xây dựng thành công 85 mô hình ứng dụng KHCN vào sản xuất và 50 mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ, tăng hiệu quả kinh tế và thu nhập của nông dân 20-30%... (Báo Chính Phủ 13/1) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt chủ trương đầu tư 4 dự án xây dựng công trình thể thao do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quản lý gồm Dự án Nhà thi đấu thể dục, thể thao Liên đoàn Lao động các tỉnh Lai Châu, Khánh Hòa, Yên Bái, Tây Ninh.
Dự kiến, tổng mức đầu tư 4 dự án là 100 tỷ đồng.
Nhà thi đấu thể dục, thể thao Liên đoàn Lao động tỉnh Lai Châu được đầu tư xây dựng nhằm giải quyết nhu cầu sinh hoạt văn hóa, thể thao cho công nhân, người lao động và nhân dân trên địa bàn thành phố Lai Châu và tỉnh Lai Châu.
Nhà thi đấu thể dục, thể thao Liên đoàn Lao động tỉnh Khánh Hòa xây dựng trở thành trung tâm hoạt động thể dục, thể thao, văn hóa, văn nghệ, giáo dục, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đoàn viên công đoàn và công nhân, viên chức, người lao động trên địa bàn thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
Nhà thi đấu thể dục, thể thao Liên đoàn Lao động tỉnh Yên Bái phục vụ nhu cầu sinh hoạt văn hóa, thể thao cho công nhân, người lao động tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nói riêng và người lao động, dân cư trên địa bàn tỉnh Yên Bái nói chung.
Nhà thi đấu thể dục, thể thao Liên đoàn Lao động tỉnh Tây Ninh xây dựng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí lành mạnh cho công nhân, người lao động và dân cư trên địa bàn huyện Trảng Bàng và huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. (Báo Chính Phủ 13/1) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định phê chuẩn việc miễn nhiệm Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum nhiệm kỳ 2016-2021 đối với ông Nguyễn Hữu Hải, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, để nhận nhiệm vụ mới. (Báo Chính Phủ 13/1) đầu trang(
NHÂN SỰ MỚI
Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao vừa ban hành quyết định nhân sự một số cơ quan.
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công (Ban Chỉ đạo).
Ban Chỉ đạo do Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ làm Trưởng ban.
3 Phó Trưởng ban gồm: Bộ trưởng Bộ Nội vụ (thường trực); Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Các ủy viên Ban Chỉ đạo là Lãnh đạo một số Bộ, cơ quan.
* Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định thay đổi thành viên Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ.
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ quyết định ông Hà Công Tuấn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là thành viên Ban Chỉ đạo thay ông Vũ Văn Tám, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Ông Doãn Mậu Diệp, Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là thành viên Ban Chỉ đạo thay ông Phạm Minh Huân.
Ông Trần Tiến Dũng, Thứ trưởng Bộ Tư pháp là thành viên Ban Chỉ đạo thay ông Đinh Trung Tụng.
* Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định sửa đổi Quyết định 765/QĐ-TTg ngày 22/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiện toàn Ủy ban Công tác về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài.
Theo đó, điều chỉnh, bổ sung Ủy viên Ủy ban Công tác về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài. Cụ thể, Bộ Nội vụ cử một đồng chí Thứ trưởng làm Ủy viên; bổ sung Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam làm Ủy viên.
* Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định số 389/QĐ-TTg ngày 19/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả.
Cụ thể, thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban Chỉ đạo 389 quốc gia). Trưởng Ban là Phó Thủ tướng Chính phủ theo phân công của Thủ tướng Chính phủ.
Các Phó Trưởng Ban gồm: Bộ trưởng Bộ Tài chính (Phó Trưởng Ban Thường trực); Bộ trưởng Bộ Công Thương; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thứ trưởng Bộ Công an.
Các Ủy viên gồm Thứ trưởng các bộ: Tài chính, Công Thương, Nội vụ, Tư pháp, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế, Giao thông vận tải, Khoa học và Công nghệ, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thông tin và Truyền thông; Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ, Phó Tổng giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam, Phó Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam.
Ngoài ra, các Ủy viên còn có thủ trưởng các cơ quan, lực lượng chức năng: Chánh Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo 389 quốc gia; Tư lệnh Bộ đội Biên phòng; Tư lệnh Cảnh sát biển; Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát; Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh; Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan; Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế; Cục trưởng Cục Quản lý thị trường; mời Phó Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tham gia Ủy viên Ban Chỉ đạo.
* Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa ký quyết định bổ nhiệm ông Huỳnh Thành Đạt, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
* Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định phê chuẩn việc miễn nhiệm Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum nhiệm kỳ 2016-2021 đối với ông Nguyễn Hữu Hải, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, để nhận nhiệm vụ mới.
* Liên quan đến công tác nhân sự, ngày 12/1, lần đầu tiên Tòa án nhân dân tối cao tổ chức Lễ công bố và trao quyết định của Chủ tịch nước về việc bổ nhiệm Thẩm phán cao cấp đối với 80 cá nhân thuộc các Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự các cấp. Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã trao quyết định cho các nhân sự được bổ nhiệm.
Cùng ngày (12/1), Ủy ban MTTQ tỉnh Phú Yên tổ chức hội nghị hiệp thương cử bổ sung, thay thế Ủy viên Ủy ban MTTQ, Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh Phú Yên khóa X, nhiệm kỳ 2014-2019. Theo đó, 100% đại biểu dự hội nghị tán thành biểu quyết cử bổ sung thay thế Ủy viên Ủy ban MTTQ, Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh khóa X nhiệm kỳ 2014-2019 đối với ông Nguyễn Quốc Hoàn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, nguyên Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy; thay ông Lương Mộng Sanh nhận nhiệm vụ Bí thư Thành ủy Tuy Hòa trước đó.
* Ngày 10/1, Thứ trưởng Ngoại giao Vũ Hồng Nam đã trao quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ cấp Vụ của Bộ Ngoại giao.
Theo đó, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại đối với: ông Lê Huy Hoàng, nguyên Đại sứ tại Nam Phi, hết nhiệm kỳ về nước, giữ chức Phó Vụ trưởng Vụ Thông tin - Báo chí;
Bổ nhiệm ông Đỗ Hùng Việt, nguyên Tham tán Công sứ - Phó Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại Liên hợp quốc (New York - Hoa Kỳ), giữ chức Phó Vụ trưởng Bộ phận thường trực Ban Thư ký APEC Việt Nam 2017;
Bổ nhiệm ông Hoàng Huy Chung, nguyên Tham tán Công sứ - Người thứ Hai tại Đại sứ quán Việt Nam tại Bỉ, hết nhiệm kỳ về nước, giữ chức Phó Vụ trưởng Vụ biển - Ủy ban Biên giới Quốc gia;
Bổ nhiệm ông Lưu Xuân Đồng, nguyên Tham tán - Người thứ Hai Đại sứ quán Việt Nam tại Brunei, hết nhiệm kỳ về nước, giữa chức Phó Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền, Thông tin, Tư liệu - Ủy ban Biên giới Quốc gia;
Bổ nhiệm bà Ngô Thị Thanh Mai, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Quê hương - Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, giữ chức Tổng Biên tập Tạp chí Quê hương; Bổ nhiệm bà Nguyễn Lê Thanh, Tập sự Phó Vụ trưởng Vụ Đông Nam Á - Nam Á - Nam Thái Bình Dương, giữ chức Phó Vụ trưởng Vụ Đông Nam Á - Nam Á - Nam Thái Bình Dương;
Bổ nhiệm bà Đặng Thị Hải Tâm, Tập sự Phó Vụ trưởng Vụ Tây Á châu Phi, giữ chức Phó Vụ trưởng Vụ Tây Á châu Phi;
Bổ nhiệm ông Lê Vĩnh Thắng, Tập sự Phó Vụ trưởng, giữ chức Phó Vụ trưởng Vụ Châu Âu;
Bổ nhiệm ông Lê Việt Hoàng, Tập sự Phó Giám đốc, Trưởng phòng Trung tâm Thông tin, giữ chức Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin;
Bổ nhiệm ông Trần Văn Thùy, tập sự Phó Vụ trưởng Bộ phận thường trực Ban Nghiên cứu chính sách Biển, giữ chức Phó Vụ trưởng Bộ phận thường trực Ban Nghiên cứu chính sách Biển - Ủy ban Biên giới Quốc gia.
* UBND tỉnh Thái Bình vừa quyết định về việc thành lập Sở Ngoại vụ; quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ Sở Ngoại vụ.
Theo đó, về cơ cấu tổ chức, Sở Ngoại vụ tỉnh Thái Bình có Giám đốc và không quá 3 Phó Giám đốc, các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Sở gồm: Văn phòng; Thanh tra; Phòng Hợp tác quốc tế; Phòng Lãnh sự - Người Việt Nam ở nước ngoài. Sở có chức năng tham mưu, giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước về công tác ngoại vụ và công tác biên giới lãnh thổ quốc gia của tỉnh, các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Sở theo quy định của pháp luật.
Về công tác cán bộ, UBND tỉnh Thái Bình quyết định điều động ông Trần Huy Hải, Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Vũ Thư được bổ nhiệm giữ chức Giám đốc Sở Ngoại vụ; ông Phạm Quang Dũng, Phó Chánh Văn phòng UBND tỉnh được bổ nhiệm giữ chức Phó Giám đốc Sở Ngoại vụ. (Báo Chính Phủ 16/1) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định thay đổi thành viên Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ.
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ quyết định ông Hà Công Tuấn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là thành viên Ban Chỉ đạo thay ông Vũ Văn Tám, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Ông Doãn Mậu Diệp, Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là thành viên Ban Chỉ đạo thay ông Phạm Minh Huân.
Ông Trần Tiến Dũng, Thứ trưởng Bộ Tư pháp là thành viên Ban Chỉ đạo thay ông Đinh Trung Tụng.
Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ là tổ chức phối hợp liên ngành, có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện công tác cải cách hành chính theo chương trình, kế hoạch cải cách hành chính của Chính phủ.
Nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo là nghiên cứu, đề xuất các chủ trương, chính sách và giải pháp quan trọng để đẩy mạnh công tác cải cách hành chính của Chính phủ; cho ý kiến về chương trình, kế hoạch cải cách hành chính dài hạn và hằng năm do Bộ Nội vụ trình Chính phủ.
Ban Chỉ đạo giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương trong việc thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính; xem xét nội dung các đề án, dự án quan trọng về cải cách hành chính của Chính phủ, các dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định và các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ có nội dung chủ yếu liên quan đến cải cách hành chính trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Đồng thời, Ban Chỉ đạo giúp Thủ tướng Chính phủ đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chương trình, kế hoạch cải cách hành chính của Chính phủ; các nghị định, nghị quyết của Chính phủ, quyết định và các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ liên quan đến công tác cải cách hành chính; giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc xây dựng, nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến trong công tác cải cách hành chính. (Báo Chính Phủ 13/1) đầu trang(
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
Thanh tra tỉnh Lào Cai vừa tổ chức Hội nghị tổng kết công tác thanh tra năm 2016 và triển khai nhiệm vụ năm 2017.
Năm 2016, Thanh tra tỉnh Lào Cai đã triển khai 117 cuộc thanh tra hành chính và 513 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành. Qua thanh tra phát hiện tổng số tiền vi phạm là 17.099 triệu đồng và 245.232 m2 đất; tổ chức tiếp công dân 5.128 lượt, 6.764 người (tăng 2.092 lượt so với 2015); việc xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo được các cấp quan tâm, giải quyết kịp thời, đúng trình tự; công tác phòng, chống tham nhũng được triển khai thực hiện thường xuyên, có sự phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ, trong năm không phát hiện về tội phạm tham nhũng...
Đối với công tác thanh tra năm 2017, theo ông Phan Đăng Toàn, Chánh Thanh tra tỉnh, sẽ triển khai kịp thời, có hiệu quả công tác thanh tra theo đúng định hướng của Thanh tra Chính phủ và kế hoạch thanh tra năm 2017 đã được Chủ tịch UBND tỉnh, thủ trưởng các cơ quan quản lý Nhà nước phê duyệt và các cuộc thanh tra đột xuất; tập trung theo hướng tiếp tục tăng cường thanh tra trách nhiệm công tác quản lý Nhà nước của các cấp, ngành trên các lĩnh vực quản lý; chú trọng thanh tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật, thanh tra lại theo đúng quy định pháp luật. Phấn đấu hoàn thành 100% các cuộc thanh tra theo kế hoạch, các cuộc thanh tra diện rộng, thanh tra đột xuất được giao; thực hiện việc xử lý sau thanh tra đạt từ 80% trở lên.
Tăng cường công tác giám sát, thẩm định kết quả thanh tra, bảo đảm các cuộc thanh tra có chất lượng, hiệu quả, đúng tiến độ kiểm tra; đôn đốc việc thực hiện các kết luận, kiến nghị, xử lý sau thanh tra để thu hồi triệt để tài sản của Nhà nước đã bị thất thoát và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm được phát hiện qua thanh tra, kiểm tra.
Tiếp tục thực hiện tốt công tác tiếp công dân, xử lý đơn và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền; đảm bảo đúng trình tự, thủ tục và thời gian quy định của pháp luật; tăng cường tổ chức đối thoại và tái đối thoại với công dân khiếu nại, tố cáo ngay từ cơ sở, hạn chế công dân khiếu nại vượt cấp lên Trung ương; chú trọng các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và thực hiện tốt chế độ thông tin báo cáo về khiếu nại, tố cáo.
Thường xuyên kiểm tra, rà soát, tham mưu giải quyết xong 100% vụ việc khiếu nại, tố cáo phát sinh, không có vụ việc tồn đọng, phức tạp, kéo dài và tổ chức thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại, xử lý tố cáo đã có hiệu lực pháp luật. Triển khai thực hiện Chỉ thị số 16/CT-UBND ngày 18/11/2016 của UBND tỉnh về tăng cường trách nhiệm người đứng đầu trong việc giải quyết khiếu nại hành chính và tham gia tố tụng hành chính.
Thực hiện nghiêm túc Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tuyên truyền sâu, rộng tới toàn thể cán bộ và nhân dân về Luật Phòng, chống tham nhũng và các văn bản liên quan; đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính; thực hiện tốt việc kê khai tài sản, thu nhập cho tất cả các đối tượng thuộc diện phải kê khai.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tập trung vào các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng: Đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý sử dụng đất đai, tài chính, thu chi ngân sách; kiểm tra, giám sát việc thực hiện công khai minh bạch về tài sản trong các cơ quan, đơn vị; giải quyết kịp thời các đơn thư khiếu nại, tố cáo các hành vi có liên quan đến tham nhũng; thực hiện đầy đủ, kịp thời công tác tổng hợp, thông tin báo cáo về việc thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng.
Để hoàn thành tốt công tác năm, thanh tra tỉnh Lào Cai đã đề ra một số giải pháp đó là: Đổi mới phương pháp, cách thức chỉ đạo điều hành trong hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng. Nâng cao chất lượng xây dựng kế hoạch cho từng cuộc thanh tra, xác định rõ trách nhiệm, công việc của từng thành viên đoàn thanh tra, thời gian, cách thức, nội dung tiến hành, biện pháp tổ chức thực hiện. Thực hiện nghiêm túc các quy chế, quy định, hướng dẫn về quy trình nghiệp vụ công tác thanh tra, tiếp công giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng.
Thanh tra sở, ngành, huyện, thành phố xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện các nội dung trên theo hướng dẫn của Thanh tra tỉnh, bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, của cơ quan, của người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước tại sở, ngành, địa phương và yêu cầu hoạt động của ngành Thanh tra. Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành;
Thực hiện tốt cơ chế phối hợp giữa Thanh tra tỉnh với thanh tra sở, ngành, huyện, thành phố và các cơ quan chức năng khác để điều chỉnh, tránh việc chồng chéo, trùng lắp. Chú trọng thực hiện việc sơ kết, tổng kết công tác để kịp thời rút kinh nghiệm, nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ thanh tra và hiệu quả của hoạt động. (Thanh Tra 16/1) đầu trang(
Trong khi hàng loạt những sai phạm về kinh tế còn chưa được xử lý dứt điểm thì chính trong quá trình tìm hiểu những sai phạm này, người dân thôn Ngọc Nha Hạ đã phát hiện ra một việc "động trời".
Đó là gần 10 năm qua, cán bộ thôn, xã đã lén lút “ăn chặn” nhiều khoản tiền mà Nhà nước đã hỗ trợ cho người nông dân.
Ghi nhận ý kiến của đại diện người dân thôn Ngọc Nha Hạ (Khoái Châu, Hưng Yên), trong khi chính sách hỗ trợ thủy lợi phí của Nhà nước đã có hàng chục năm nay nhưng cán bộ thôn, xã ở vùng quê này lại chưa hề một lần thông báo cho bà con được biết. Cán bộ cơ sở đã tìm mọi cách giấu những thông tin liên quan đến chính sách hỗ trợ của Nhà nước để từ đó có điều kiện ép buộc người dân đóng góp thủy lợi phí, khoản thu đúng ra đã được Nhà nước thanh toán dưới hình thức hỗ trợ kinh phí. Và số tiền đóng góp của người dân lên tới hàng tỷ đồng mỗi năm thì đến nay vẫn chưa biết “đi đâu về đâu”.
Khi người dân trong thôn có ý kiến thắc mắc về việc được Nhà nước hỗ trợ thủy lợi nội đồng nhưng vẫn phải đóng thì cán bộ thôn, xã lại trả lời là không có, không biết. Để tìm ra chân tướng sự việc, người dân thôn Ngọc Nha Hạ đã thống nhất thành lập Tổ Giám sát dân bầu gồm 7 thành viên do ông Đỗ Văn Đức làm Tổ trưởng.
Quá trình tìm hiểu, các thành viên Tổ giám sát dân bầu thôn Ngọc Nha Hạ và bà con trong thôn được biết, suốt trong khoảng thời gian gần 10 năm qua, lãnh đạo cơ sở đã ngấm ngầm ăn chặn số tiền do hàng trăm hộ dân trong thôn đóng góp hàng năm.
Theo chị Nguyễn Thị Yến - người được Tổ Giám sát dân bầu giao nhiệm vụ kiểm tra tài chính liên quan đến các khoản thủy lợi phí mà người dân phải đóng góp cho biết: “Từ năm 2008 đến nay, Nhà nước đã quan tâm hỗ trợ nông dân tiền thủy lợi phí thì hàng năm địa phương vẫn lập kế hoạch và bắt chúng tôi phải nộp số tiền làm thủy lợi phí từ 70.000 - 80.000 đồng/sào/năm; có thời điểm số tiền này còn bị thu lên tới 100.000 đồng/sào/năm”.
Ước tính, chỉ riêng ở thôn Ngọc Nha Hạ, số tiền thu sai này đã lên tới hàng trăm triệu đồng mỗi năm.
Đơn cử như năm 2013, ông Phó thôn Lê Minh Khoa đã lên phương án bắt người dân nộp tiền để tu sửa đập và cống, nạo vét kênh mương với số tiền 26.000 đồng/sào/năm. Thế nhưng trên thực tế, phần lớn khoản trên đã được Nhà nước hỗ trợ cho người dân đến từng ruộng. Chính ông Khoa cũng là người đã nhận các khoản tiền hỗ trợ từ xã nhưng sau đó “quên” không thông báo cho dân biết. Qua kiểm tra xác minh, các tài liệu của Tổ Giám sát dân bầu chứng minh, chi phí toàn bộ việc tu sửa, nạo vét kênh mương chỉ vào khoảng 10.000 đồng/sào/năm.
Chị Yến bức xúc: “Sau khi người dân xác minh xong sự việc, ông Chủ tịch xã cũng đã công nhận kết quả xác minh của người dân là đúng sự thật và xác định chỉ tính nhân dân số tiền nạo vét kênh mương là 10.000 đồng/sào/năm. Chúng tôi đã nhiều lần gửi đơn kiến nghị lên các cấp có thẩm quyền để yêu cầu ông Khoa phải trả lại cho nhân dân số tiền đã thu sai nhưng vẫn không được giải quyết”.
Theo UBND huyện Khoái Châu, chỉ tính từ năm 2010 đến nay, nguồn kinh phí hỗ trợ công tác thủy lợi nội đồng của Nhà nước dành cho xã Phùng Hưng trung bình hàng năm vào khoảng trên 1 tỷ đồng. Chỉ tính riêng trong 3 năm từ 2013 – 2015, số tiền hỗ trợ thủy lợi phí huyện cấp cho xã Phùng Hưng đã là gần 4 tỷ đồng. Việc không công khai khoản hỗ trợ này để các thôn thu thủy lợi phí trái pháp luật đã khiến cho người dân địa phương hết sức bức xúc. Thậm chí cán bộ thôn còn tìm mọi cách tạo áp lực để họ phải đóng đủ khoản tiền mà đáng ra họ đã được Nhà nước hỗ trợ toàn bộ.
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền, thôn Ngọc Nha Hạ chia sẻ: “Họ nói đó là lệnh của xã, có dấu đỏ của UBND xã nên mọi người phải thực hiện. Ai không đóng, đóng chậm thì sẽ bị cắt nước sản xuất, bị tính lãi ngày trên số tiền nộp chậm”.
Vấn đề mà dư luận ở thôn Ngọc Nha Hạ nói riêng và xã Phùng Hưng nói chung đang bức xúc hiện nay đó là ai là người đã chỉ đạo các thôn, xóm thu khoản thủy lợi phí và số tiền đã thu trong suốt gần 10 năm qua hiện đang ở đâu?
Trao đổi với PV, ông Đỗ Văn Tuấn, Chánh Văn phòng UBND huyện Khoái Châu cho biết: “Hiện nay, hồ sơ vụ việc đã được chuyển sang bên cơ quan công an để điều tra, làm rõ. Chúng tôi đã chỉ đạo sẽ kiên quyết xử lý những vi phạm, nếu có. Việc cán bộ không công khai khoản hỗ trợ thủy lợi phí với người dân là cố tình làm trái quy định của pháp luật và chủ trương của huyện là sẽ xử lý nghiêm khắc với những cán bộ cố tình làm sai”.
Còn theo ông Nguyễn Văn Đạt - Trưởng phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, huyện Khoái Châu, kinh phí hỗ trợ thủy lợi phí hàng năm huyện đều phân bổ về các xã. Việc sử dụng ra sao, hiệu quả sử dụng như thế nào là thuộc về trách nhiệm của cán bộ cấp xã. Nếu phản ánh của bà con là chính xác thì việc để xảy ra sai phạm đó là do trách nhiệm của cán bộ xã Phùng Hưng, cán bộ Hợp tác xã Nông nghiệp xã Phùng Hưng.
Trao đổi với PV, ông Nguyễn Văn Nhân - Thành viên Tổ Giám sát dân bầu bức xúc cho biết: Từ khi sự việc vỡ lở, người dân chúng tôi rất bức xúc về việc bị cán bộ ăn chặn tiền hỗ trợ. Chúng tôi nhiều lần đề nghị phải làm rõ sai phạm của cán bộ. Người dân đã nhiều lần làm việc với công an xã, công an huyện nhưng đến nay sự việc vẫn chưa được giải quyết. Cán bộ rõ ràng tham nhũng nhưng không bị xử lý. Thậm chí, có người còn được thăng chức khiến người dân càng thêm bức xúc”.
Mới đây, trong buổi làm việc với PV, cán bộ xã Phùng Hưng cũng như đại diện Hợp tác xã Nông nghiệp Phùng Hưng đều phủ nhận những nội dung phản ánh của người dân. Các khoản thu thủy lợi phí cũng được họ “hợp lý hóa” với những tên gọi khác. Song có một thực tế không thể phủ nhận được đó là hàng năm, cán bộ cơ sở vẫn đều đặn nhận tiền hỗ trợ thủy lợi phí của trên đưa về đồng thời buộc người dân phải đóng số tiền không nhỏ để chi trả cho các chi phí đã được Nhà nước hỗ trợ.
Ngoài ra, cũng cần kể đến một việc kỳ lạ mà có lẽ chỉ xuất hiện ở xã Phùng Hưng đó là cán bộ thôn Ngọc Nha Hạ và cán bộ Hợp tác xã Nông nghiệp xã Phùng Hưng có trong tay rất nhiều “Phiếu báo thanh toán” đã được Chủ tịch UBND xã Phùng Hưng, Bùi Văn Thu ký tên, đóng dấu sẵn nhưng nội dung hoàn toàn để trống các khoản đóng góp.
Xác nhận với PV, ông Lê Ngọc Thám, Phó Chủ tịch UBND xã Phùng Hưng thừa nhận đây đúng là chữ ký của ông Bùi Văn Thu, Chủ tịch UBND xã Phùng Hưng và con dấu cũng là dấu của UBND xã. Nhưng điều khiến chúng tôi ngạc nhiên hơn cả là trong khi Chủ tịch UBND xã đã ký tên và đóng dấu vào các “Phiếu báo thanh toán” khống đó nhưng cán bộ xã Phùng Hưng lại liên tục khẳng định với người dân thôn Ngọc Nha Hạ là không biết, không chỉ đạo những khoản thu này.
Phải chăng ông Chủ tịch UBND xã Phùng Hưng đã “nhắm mắt” khi ký tên vào những “Phiếu báo thanh toán” khống này?
Cũng theo ông Lê Ngọc Thám, Phó Chủ tịch UBND xã Phùng Hưng, lý do xuất hiện những “Phiếu báo thanh toán” khống này là do cấp dưới “không hiểu ý” của lãnh đạo xã. Dư luận đặt câu hỏi, phải chăng đây chính là “lệnh bài” mà xã tạo ra để cán bộ thôn có thể thoải mái ấn định các khoản thu liên quan đến thủy lợi phí?
Một khi đã có chữ ký của Chủ tịch UBND xã và có dấu đỏ đóng vào những “Phiếu báo thanh toán” khống này thì thử hỏi có người dân quê nào đủ can đảm để không đóng các khoản phí do cán bộ thôn, cán bộ Hợp tác xã xác định. Khó hiểu hơn, trước khi về làm việc hàng chục ngày, PV đã cố gắng gọi điện, nhắn tin vào số máy của ông Bùi Văn Thu nhưng vị Chủ tịch xã Phùng Hưng đã không nghe máy cũng như không nhắn tin trả lời. Trao đổi với chúng tôi, ông Lê Ngọc Thám, Phó Chủ tịch UBND xã Phùng Hưng khẳng định số điện thoại 0986.898.xxx đúng là số di động mà “chủ tịch Thu vẫn đang sử dụng”.
Phải chăng khi biết số máy gọi đến là của PV, ông Chủ tịch UBND xã Phùng Hưng đã cố tình không bắt máy để tránh phải cung cấp thông tin. Ngay cả khi PV nhờ cán bộ Văn phòng UBND huyện Khoái Châu“kết nối” thì ông Bùi Văn Thu cũng lấy lý do “bận việc gia đình” và nhường quyền tiếp PV cho vị Phó Chủ tịch UBND xã Phùng Hưng.
Quá trình làm việc với PV, tuy một mực phủ nhận việc thu tiền thủy lợi phí của dân trái với quy định của Nhà nước song khi phóng viên đưa ra những chứng cứ do người dân cung cấp thì cả ông Lê Ngọc Thám, Phó Chủ tịch UBND xã Phùng Hưng; ông Vương Văn Thanh, Phó Bí thư Thường trực đến ông Lại Văn Thảo, Phó Chủ nhiệm HTX Nông nghiệp Phùng Hưng đều im lặng hoặc “đổ” cho các cán bộ khóa trước!
Theo người dân địa phương, nếu không có sự “bật đèn xanh” của cấp trên thì cán bộ thôn không thể thu nhiều khoản trái pháp luật một cách dễ dàng trong suốt khoảng thời gian dài như vậy? Người dân cũng rất bức xúc bởi đến nay chưa thể biết số tiền cán bộ cơ sở thu sai trong gần 10 năm qua hiện đang ở đâu hoặc đã được sử dụng vào việc gì? Trách nhiệm của cán bộ thôn, xã đến đâu xung quanh sai phạm nghiêm trọng này? (Gia Đình Và Pháp Luật 15/1) đầu trang(
Năm 2017, Tổng cục Quản lý đất đai Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN-MT) đặt ra nhiệm vụ cụ thể là đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra việc sử dụng đất đai, giảm thiểu tình trạng sử dụng quỹ đất lãng phí, tùy tiện.
Theo Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai Lê Văn Lịch, năm 2016 Tổng cục đã tập trung thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được giao. Cụ thể, đã hoàn thiện trình Quốc hội thông qua dự án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đến năm 2020 và lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2016-2020) cấp quốc gia; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg (ngày 4-4-2016) về thực hiện Nghị quyết số 112/2015/NQ-QH13 về tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông trường, lâm trường quốc doanh do các công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng và các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác sử dụng; hoàn thành công tác kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 của cả nước.
Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc quản lý và sử dụng đất được tăng cường thông qua các tổ công tác trực tiếp làm việc với địa phương. Tổng cục đã triển khai xong 5 đoàn thanh tra theo kế hoạch năm 2016 tại các tỉnh: Gia Lai, Đắk Nông, Bình Phước, An Giang và Lâm Đồng.
Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các kết luận thanh tra từ năm 2014 đến nay tại các địa phương và trực tiếp tổ chức kiểm tra việc thực hiện 24 kết luận thanh tra tại 4 tỉnh, thành phố gồm: Bắc Ninh, Long An, Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy việc thực hiện kết luận thanh tra tại các địa phương còn chậm và kéo dài, đến nay mới có 10/50 nội dung đã được xử lý xong (đạt 20%), 32/50 nội dung đang xử lý (chiếm 64%), còn lại 8 nội dung chưa xử lý (chiếm 16%).
Năm 2016 cũng là năm được Tổng cục triển khai đồng bộ, tích cực việc cải cách hành chính. Trong đó, trọng tâm là công tác cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai. Ngành đã cắt giảm thời gian thực hiện một số thủ tục xuống còn 1/2 so với trước đây. Rà soát, chuẩn hóa thống nhất danh mục thủ tục hành chính về đất đai và thực hiện đánh giá tác động của các thủ tục hành chính phát sinh trong các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.
Năm 2017, Tổng cục đã đặt ra những nhiệm vụ trọng tâm, trong đó sẽ tổng hợp, đánh giá kết quả 3 năm triển khai thi hành Luật Đất đai và tổng kết 5 năm tình hình thực hiện Nghị quyết số 19 của Ban Chấp hành Trung ương để đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai; tiếp tục rà soát để hoàn thiện các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, trọng tâm là các quy định chi tiết phục vụ cho công tác định giá đất, các quy định chi tiết liên quan đến giao dịch điện tử trong lĩnh vực đất đai và các quy định chi tiết về quản lý, khai thác, vận hành hệ thống thông tin đất đai.
Bộ trưởng Bộ TN-MT Trần Hồng Hà đã yêu cầu Tổng cục phải đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra việc sử dụng đất đai. Công tác thanh tra phải định hướng đối tượng thanh tra, địa điểm thanh tra, trong đó tập trung vào những đơn vị, địa phương có khiếu kiện đông người liên quan đến đất đai… Bởi, dù có xây dựng bao nhiêu dự án, nhưng nếu như không được quản lý chặt chẽ, không giải quyết tốt bài toán quản lý thì rất dễ mất cân đối đất đai. Quy hoạch đất đai phải giữ được đất cho tương lai phát triển. (Báo Hà Nội Mới 16/1) đầu trang(
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Để đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, những năm qua, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong công tác quản lý, giải quyết chế độ chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế (BHXH, BHYT) là một trong những vấn đề được ngành BHXH thường xuyên quan tâm. Đặc biệt, trong năm 2016, ngành đã đạt những bước tiến quan trọng trong công tác này.
Bên cạnh việc đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, thuận tiện cho đối tượng tham gia và thụ hưởng BHXH, BHYT, năm 2016, BHXH Việt Nam đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh các dự án CNTT, như xây dựng trung tâm dữ liệu; hoàn thành việc xây dựng dự thảo kiến trúc Chính phủ điện tử và triển khai hệ thống thư điện tử của ngành; triển khai dự án “Hệ thống lưu trữ hồ sơ điện tử ngành BHXH; xây dựng hệ thống và cổng thông tin thực hiện giao dịch điện tử để cung cấp các dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3, 4 trên một cổng thông tin duy nhất và thống nhất của ngành. Đến nay, gần 80% số đơn vị sử dụng lao động tham gia BHXH đã thực hiện giao dịch hồ sơ điện tử, với gần một triệu giao dịch phát sinh mỗi tháng…
Cùng với đó, BHXH Việt Nam đã tập trung thực hiện hai dự án CNTT quan trọng là Hệ thống kết nối, liên thông giữa cơ quan BHXH và các cơ sở khám, chữa bệnh BHYT trên toàn quốc. Hệ thống này không chỉ cung cấp thông tin, mà còn là công cụ giúp ngành BHXH tra cứu dữ liệu thẻ BHYT, giám định chi phí khám, chữa bệnh BHYT phát sinh, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý quỹ khám, chữa bệnh BHYT, tạo thuận lợi cho cơ sở y tế và người có thẻ BHYT đến khám, chữa bệnh. Đến nay, hệ thống đã kết nối thành công với hầu hết cơ sở khám, chữa bệnh BHYT trên toàn quốc và sẽ chính thức được vận hành theo đúng kế hoạch.
Dự án thứ hai là Hệ thống cơ sở dữ liệu hộ gia đình tham gia BHYT do BHXH Việt Nam, Tổng công ty Bưu điện và chính quyền các địa phương phối hợp xây dựng. Đến nay, cả nước đã thu thập, nhập thông tin của hơn 24,2 triệu hộ gia đình với hơn 92,8 triệu người (cơ bản đạt tỷ lệ 100% dân số cả nước) và đồng bộ dữ liệu cấp thẻ BHYT cho 65,7 triệu người.
BHXH Việt Nam cũng xây dựng hệ thống cấp số định danh và quản lý BHYT hộ gia đình để cập nhật, cấp số định danh duy nhất cho mỗi cá nhân, tạo thuận lợi cho người dân giao dịch với bất kỳ cơ quan BHXH trên toàn quốc; đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác, phát triển đối tượng tham gia BHYT, BHXH…
Dữ liệu hộ gia đình tham gia BHYT được đồng bộ và kết hợp các dữ liệu liên quan khác do ngành BHXH quản lý, sẽ giúp sớm hoàn thành Cơ sở dữ liệu quốc gia về BHXH, BHYT theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Có thể thấy, đây là những bước tiến có ý nghĩa rất quan trọng của ngành BHXH. Một mặt, những giải pháp công nghệ được BHXH Việt Nam triển khai đã từng bước đáp ứng yêu cầu quản lý cũng như các hoạt động nghiệp vụ trong bối cảnh khối lượng, sức ép công việc đối với ngành không ngừng gia tăng.
Những kết quả này góp phần đưa mục tiêu phát triển ngành BHXH Việt Nam theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế theo Chiến lược phát triển ngành đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt từng bước trở thành hiện thực.
Đó cũng là nền tảng giúp ngành có đủ năng lực cũng như điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách BHXH, BHYT, phục vụ tốt hơn đối tượng tham gia, thụ hưởng chế độ BHXH, BHYT, góp phần bảo đảm an sinh xã hội. (Nhân Dân 16/1) đầu trang(
Tiếp tục thực hiện chủ trương của cấp trên về cải cách hành chính và các đề án phát triển kinh tế của tỉnh, của huyện, năm 2016, huyện Văn Yên (Yên Bái) đã đạt được những thành công ngoài mong đợi.
Năm 2016 được xem là năm huyện Văn Yên phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức trong phát triển kinh tế - xã hội do những bất lợi về thị trường, thời tiết, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi diễn biến phức tạp. Song dưới sự cố gắng của các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân; đặc biệt là sự chủ động, tích cực trong công tác quản lý chỉ đạo, điều hành của UBND huyện, tình hình kinh tế - xã hội của Văn Yên được duy trì ổn định và phát triển khá toàn diện.
Trao đổi với phóng viên, ông Vũ Quang Hải - Chủ tịch UBND huyện Văn Yên cho biết: “Năm 2016, dù có nhiều khó khăn chung nhưng các nhiệm vụ kinh tế - xã hội trọng tâm của huyện đã được chúng tôi chỉ đạo tổ chức thực hiện hoàn thành toàn diện. Trong 29 chỉ tiêu về kinh tế - xã hội chủ yếu được Hội đồng nhân dân huyện Nghị quyết thông qua có 18 chỉ tiêu thực hiện vượt kế hoạch, đây đều là những chỉ tiêu quan trọng cốt lõi, khẳng định cho sự phát triển của huyện, các chỉ tiêu còn lại đều đạt 100% kế hoạch đề ra”.
Cụ thể, chỉ tiêu tổng lượng lương thực có hạt đạt 51.885,4 tấn (kế hoạch là 51,820 tấn, vượt 100,1%), thu ngân sách đạt 110 tỷ đồng (kế hoạch là 90 tỷ đồng), giá trị hàng hóa xuất khẩu trực tiếp đạt 19,29 triệu USD (kế hoạch là 19 triệu USD), xã đạt chuẩn Nông thôn mới là 3 xã (Đông Cuông, Yên Hưng và Xuân Ái, trong đó xã Xuân Ái là xã thực hiện vượt chỉ tiêu), tỷ lệ hộ nghèo giảm 5,9% (kế hoạch là 4,5 %).
Bên cạnh đó, việc tổ chức thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh Yên Bái và các đề án phát triển kinh tế - xã hội của huyện giai đoạn 2016-2020 bước đầu cho hiệu quả tích cực. Các biện pháp phòng chống thiên tai, dịch bệnh được quan tâm chú trọng thực hiện tốt, đã kịp thời kiểm soát được tình hình dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi, góp phần đảm bảo ổn định sản xuất và đời sống của người dân.
Lĩnh vực giao thông, công nghiệp và xây dựng tiếp tục có bước phát triển mạnh mẽ, đã huy động tốt nội lực và phát huy hiệu quả các nguồn vốn đầu tư của Nhà nước cũng như sự đóng góp của cộng đồng trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở, đã từng bước khắc phục được tình trạng đầu tư dàn trải và nợ đọng xây dựng cơ bản.
Lĩnh vực văn hóa xã hội tiếp tục được quan tâm chỉ đạo và có nhiều tiến bộ, thực hiện tốt công tác xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm có thu nhập ổn định cho nhiều người lao động, công tác giáo dục và đào tạo tiếp tục được củng cố phát triển theo hướng tinh gọn về bộ máy, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Bước sang năm 2017, huyện sẽ tiếp tục thực hiện có hiệu quả các đề án phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020, trong đó trọng tâm là tái cơ cấu ngành nông nghiệp để từng bước phát triển sản xuất nông lâm nghiệp theo định hướng hàng hóa, gia tăng giá trị và đảm bảo tính bền vững. Tập trung khai thác có hiệu quả những tiềm năng thế mạnh của huyện, đặc biệt là lợi thế của tuyến đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai để thu hút và mở rộng đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ và du lịch.
Cùng với kết quả đạt được trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhiệm vụ xây dựng chính quyền vững mạnh được quan tâm thực hiện tốt, bộ máy cơ quan hành chính Nhà nước kịp thời được xem xét, sắp xếp, cơ cấu lại theo hướng tinh gọn, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động.
Trên cơ sở Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ “Về Chính phủ điện tử”, huyện Văn Yên xác định, đẩy mạnh cải cách hành chính, lấy việc ứng dụng công nghệ thông tin làm khâu đột phá trong công tác cải cách hành chính.
Theo đó, UBND huyện đã xây dựng và triển khai Đề án “Xây dựng chính quyền điện tử huyện Văn Yên giai đoạn 2016 - 2020”. Đầu năm 2016, UBND huyện đã tập trung chỉ đạo, triển khai đào tạo kiến thức công nghệ thông tin cho cán bộ các xã, thị trấn; triển khai phần mềm quản lý điều hành tác nghiệp và thực hiện liên thông văn bản giữa huyện với xã; triển khai phần mềm quản lý cán bộ, công chức, viên chức; phần mềm quản lý đơn thư, khiếu nại tố cáo.
Đặc biệt, đã triển khai phần mềm “Một cửa điện tử” tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của huyện. Với tiện ích này, người dân khi có yêu cầu giải quyết thủ tục hành chính tại huyện đều được giải quyết tại bộ phận một cửa, sau khi được thẩm định hồ sơ, công dân sẽ được cấp giấy hẹn có số hiệu hồ sơ tương ứng với đó là một mã số truy cập, với mã số này công dân có thể theo dõi từng khâu, từng bước giải quyết thủ tục hành chính của các cơ quan hành chính cấp huyện bằng cách truy nhập vào phần mềm “Một cửa điện tử” để tra cứu.
Văn Yên là huyện đầu tiên của tỉnh Yên Bái xây dựng và ban hành Đề án “Xây dựng chính quyền điện tử”.
Tuy mới chỉ là năm đầu tiên thực hiện đề án, nhưng việc xây dựng Chính quyền điện tử tại huyện đã bước đầu mang lại thành công, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan Nhà nước, phục vụ người dân và doanh nghiệp trên địa bàn huyện ngày càng tốt hơn. Công khai các hoạt động của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng tiến tới mục tiêu hành chính minh bạch, hiệu quả, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư, phục vụ người dân và doanh nghiệp. (Gia Đình Và Pháp Luật 15/1) đầu trang(
KINH TẾ
Bộ Công Thương vừa công bố báo cáo tình hình xuất nhâp khẩu năm 2016 ghi nhận Mỹ, EU là hai thị trường nhập siêu lớn nhất của Việt Nam dù chịu tác động từ sự kiện ông Donald Trump đắc cử Tổng thống Mỹ và cú sốc Brexit hồi giữa năm.
Theo đó, tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 175,9 tỷ USD, tăng 8,6% so với năm 2015. Tăng trưởng xuất khẩu đạt được ở hầu hết các mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Năm 2016, cả nước có 25 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD so với 23 mặt hàng của năm 2015.
Trong đó, các doanh nghiệp trong nước chiếm tỷ trọng 28,4%, ước đạt 50 tỷ USD trong khi các doanh nghiệp FDI chiếm tỷ trọng 70% ước đạt 123,55 tỷ USD.Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, Bộ Công Thương cho biết không có nhiều thay đổi về cơ cấu các mặt hàng.
Đặc biệt, xuất khẩu nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản ước ước đạt 3,47 tỷ USD, giảm 29,2% so với năm 2015. Riêng dầu thô, giá và lượng xuất khẩu giảm đã làm giảm kim ngạch khoảng 1,4 tỷ USD. Xuất khẩu dầu thô cả năm ước đạt gần 7 triệu tấn, kim ngạch đạt khoảng 2,35 tỷ USD, giảm 24,2% về lượng và 36,7% về trị giá so với năm 2015.
Nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 141 tỷ USD, tăng 10,5% so với cùng kỳ và chiếm 80,2% tổng kim ngạch xuất khẩu.Trong đó, những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn và tốc độ tăng cao là điện thoại các loại và linh kiện ước đạt 34,5 tỷ USD; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện ước đạt 18,5 tỷ USD.
Nhóm hàng nông sản, thủy sản ước đạt 22 tỷ USD, tăng 7,5% so với năm 2015.Về thị trường xuất khẩu, Mỹ đứng số 1 về nhập khẩu hàng từ Việt Nam với giá trị 38,1 tỷ USD, tăng 14% so với năm trước. Tiếp đến là EU đạt 34 tỷ USD, tăng 10%; Trung Quốc đạt 21,8 tỷ USD, tăng 26,3%; Nhật Bản đạt 14,6 tỷ USD, tăng 3,4%; Hàn Quốc đạt 11,5 tỷ USD, tăng 29%.
Riêng xuất khẩu sang thị trường ASEAN giảm 4,8%. Chỉ số giá xuất khẩu chung giảm 1,83% so với năm 2015.Trong năm 2016, Việt Nam cũng nhập khẩu tới 173 tỷ USD, tăng 4,6% so với năm 2015, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 71,1 tỷ USD, còn khu vực FDI đạt 102,2 tỷ USD.
Nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đã có sự chuyển dịch theo hướng đa dạng hóa thị trường nhập khẩu, giảm dần tỷ trọng nhập khẩu từ khu vực châu Á, tăng dần nhập khẩu từ thị trường châu Âu. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của nước ta đạt 49,8 tỷ USD, Hàn Quốc đạt 31,7 tỷ USD, Nhật Bản đạt gần 15 tỷ USD, EU đạt 11 tỷ USD, Mỹ đạt 8,7 tỷ USD… Chỉ số giá nhập khẩu cũng giảm 5,35% so với năm trước.
Năm 2016, Việt Nam xuất siêu 2,68 tỷ USD, chiếm 1,52% kim ngạch xuất khẩu. Việt Nam năm qua vẫn tiếp tục giữ vị thế xuất siêu lớn sang Mỹ với 29,4 tỷ USD, tăng 24,8% so với năm trước. EU đã nhập siêu 22,9 tỷ USD hàng hoá từ Việt Nam, tăng 12,3% so với năm trước. Trong khi đó, Trung Quốc vẫn tiếp tục là thị trường mà Việt Nam nhập siêu lớn nhất với 28 tỷ USD trong năm 2016, giảm 14,9% so với năm 2015. Nhập siêu từ Hàn Quốc là 20,2 tỷ USD, nhập siêu từ ASEAN là 6,3 tỷ USD.
Khu vực FDI xuất siêu tới 21,35 tỷ USD, nếu tính cả dầu thô con số trên sẽ tăng lên 23,7 tỷ USD. Nhập siêu của khu vực doanh nghiệp trong nước ước đạt 21 tỷ USD. "Nhập khẩu của khối FDI tăng 5,1%, cao hơn khối doanh nghiệp trong nước ở mức 4%.
Xuất khẩu của khối FDI tăng 11,8%, khối trong nước tăng 4,8%. Điều này cho thấy sản xuất của các doanh nghiệp trong nước vẫn còn nhiều khó khăn”, báo cáo nêu. Trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, Bộ Công Thương cho rằng mức xuất khẩu 8,6% là kết quả tăng trưởng khá cao trong tương quan so sánh với các nước trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc, Indonesia, Singapore, Ấn Độ... Tăng trưởng xuất khẩu tuy cao hơn mức tăng 8,1% của cùng kỳ năm 2015 nhưng chưa đạt mục tiêu kế hoạch năm 2016 là tăng 10%.
Xuất khẩu vẫn tăng trưởng chủ yếu ở nhóm hàng do khối doanh nghiệp FDI sản xuất, khi nhóm này có sự biến động, ít nhiều cũng đã có sự ảnh hưởng đến việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước.
Một số nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như dệt may và da dày tăng thấp do phải cạnh tranh với các nước khác như Campuchia, Myanmar, Mexico, Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Indonesia.
Một số nước đã đưa ra các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp dệt may bao gồm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu nguyên phụ liệu, đặc biệt là chính sách phá giá đồng nội tệ (Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia) nhằm thu hút đơn hàng…"Nhập khẩu máy móc thiết bị và nguyên vật liệu ở mức cao, công nghệ và chất lượng hàng hóa ở mức trung bình như Trung Quốc, Đài Loan... sẽ gây khó khăn cho Việt Nam trong nâng cao giá trị gia tăng trong sản xuất và toàn chuỗi cung ứng”, Bộ Công Thương cho hay. (Pháp Luật +15/1) đầu trang(
Cùng với những kỳ vọng vào sản lượng, công tác kiểm soát dịch bệnh cũng như thị trường, ngành thủy sản đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 7,1 tỷ USD trong năm 2017 cũng như tiếp tục tập trung thực hiện Đề án tái cơ cấu và Chương trình mục tiêu phát triển thủy sản bền vững đến năm 2020.
Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám, ngành thủy sản đặt mục tiêu tổng sản lượng thủy sản năm 2017 dự kiến là 6,85 triệu tấn (trong đó sản lượng khai thác 3,05 triệu tấn, sản lượng nuôi trồng 3,8 triệu tấn), cung cấp nguyên liệu chất lượng phục vụ chế biến xuất khẩu 7,1 tỷ USD.
Tuy nhiên, ngành nông nghiệp nói chung và thủy sản nói riêng đang gặp phải nhiều thách thức, tác động. Đó là: khí hậu diễn biến thất thường; dịch bệnh và yếu tố thị trường. Trong năm 2017, các thách thức này sẽ có mức độ tác động khó đoán định, vì vậy điều quan trọng nhất là phải bám sát thực tiễn trong công tác chỉ đạo điều hành và dự báo các nguy cơ để ứng phó kịp thời.
“Với kinh nghiệm năm 2016, ngành thủy sản có thể hoàn toàn vượt qua được những khó khăn đó và chủ động có giải pháp biến nguy cơ thách thức thành thuận lợi. Tôi rất tin tưởng ngành Thủy sản sẽ thành công vượt bậc trong năm 2017” – Thứ trưởng Vũ Văn Tám khẳng định.
Theo Tổng cục thủy sản, để thực hiện mục tiêu này, năm 2017, ngành thuỷ sản cần tập trung khai thác lợi thế của lĩnh vực nuôi trồng. Cụ thể, đối với sản phẩm tôm nước lợ là một lợi thế mà ngành còn dư địa để khai thác với 700.000ha tôm nước lợ thì mới có 95.000 ha là tôm công nghiệp, còn lại hơn 600.000ha tôm quảng canh nhưng năng suất còn rất thấp. Chúng ta hoàn toàn có thể tăng về sản lượng bình quân trên một đơn vị diện tích của tôm quảng canh, tôm lúa, tôm sinh thái ít nhất có thể tăng 300-500 kg/ha.
Đối với sản phẩm cá tra, năm 2017 này có nhiều triển vọng nên cần tập trung tạo hành lang pháp lý, đồng thời, kết hợp với việc xử lý tốt vấn đề về rào cản kỹ thuật của các thị trường nhập khẩu thì vẫn có thể phát triển cá tra như những tháng cuối năm 2016.
Về lâu dài, khẩn trương xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm quốc gia cá da trơn, trong đó sẽ tạo ra một dòng sản phẩm chất lượng cao có thương hiệu và nâng cao uy tín, chất lượng con cá tra của Việt Nam trên thị trường. Như vậy, bên cạnh việc phát triển cá tra phi lê thì sẽ tạo ra dòng sản phẩm chất lượng cao; gia tăng sản phẩm có giá trị gia tăng cao chế biến từ cá tra.
Bên cạnh đó, cần tạo ra đột phá ở thị trường trong nước, bởi thị trường này vẫn còn rất nhiều dư địa với hơn 90 triệu dân. Trong năm 2017, sẽ có hội chợ lớn chuyên về cá tra tại Hà Nội để giới thiệu và xúc tiến mở rộng thị trường.
Với giải pháp đó, sản phẩm cá tra năm 2017 hoàn toàn có thể tăng được sản lượng, người dân đồng bằng sông Cửu Long cũng sẽ chuyển đổi phương án sản xuất theo nhu cầu thị trường, nếu nhu cầu tăng, thậm chí có thể sản xuất 2-3 triệu tấn cá tra thay vì khoảng 1-1,2 triệu tấn/năm như hiện nay. Ngoài ra, cần phải tập trung phát triển sản phẩm đặc hữu có nhiều lợi thế trong nước để phát triển đồng đều ở các vùng miền.
Theo Bộ NN&PTNT, kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2016 đạt khoảng 7 tỷ USD, tăng 6,5% so với năm 2015. Tổng sản lượng thủy sản đạt hơn 6,7 triệu tấn ( tăng 2,5% so với năm 2015), bao gồm sản lượng khai thác 3,1 triệu tấn, sản lượng nuôi trồng 3,6 triệu tấn. Diện tích nuôi trồng đạt trên 1,3 triệu ha…
Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc là những thị trường xuất khẩu chính của thủy sản VIệt Nam khi chiếm hơn 54% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản. Ngoài ra, kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang một số thị trường khác cũng tăng mạnh, như Hà Lan (19%), Thái Lan (15%). (Nhà Báo Và Công Luận 14/1) đầu trang(
VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
Tết Nguyên đán là nét văn hóa đặc trưng của Việt Nam và Á Đông, mang tính thiêng liêng và ăn sâu vào tâm thức cộng đồng hàng ngàn năm. Hiện nay nhiều người Việt Nam đề nghị chuyển đón Tết theo Âm lịch sang Dương lịch để hội nhập với thế giới. Tuy nhiên, điều đó có thực sự là hội nhập, hay chính chúng ta đang đi ngược với thế giới?
Nhiều người nghĩ, đón Tết Âm lịch trong khi thế giới đón Tết Dương lịch là đi ngược với thế giới. Nhưng bài viết này chúng tôi cho rằng, bỏ Tết cổ truyền mới thực sự là đi ngược với thế giới, vì sao? Vì những người cổ xúy bỏ Tết, dùng góc nhìn kinh tế để phân tích, dường như họ quên rằng Tết là một sản phẩm văn hóa. Hãy thử phân tích nó dưới góc nhìn văn hóa!
Một định nghĩa về văn hóa khá phổ biến là định nghĩa của F. Mayor (Cựu Tổng Giám đốc UNESCO): “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động”.
Về mặt khoa học, dĩ nhiên còn nhiều cách định nghĩa khác nhau về văn hóa. Song, quan điểm văn hóa là sự “đa dạng và khác biệt” cơ bản được thừa nhận trên toàn thế giới. Từ Liên Hiệp Quốc, UNESCO, đến các quốc gia, các tổ chức… đều lấy quan điểm này làm cơ sở cho các vấn đề văn hóa.
Do thừa nhận quan điểm đó, nên không dân tộc nào “có nhu cầu” xóa bỏ sự khác biệt. Có lẽ, ngoại trừ người Việt Nam. Dường như chỉ có người Việt Nam là dân tộc duy nhất trên thế giới muốn bỏ Tết cổ truyền để đón Tết theo phương Tây. Đồng nghĩa chúng ta muốn xóa bỏ điều mà thế giới theo đuổi: sự khác biệt và đa dạng. Chúng ta đang đi ngược với thế giới!
Không thể đánh đồng rằng bỏ Tết thì đất nước sẽ phát triển. Trung Quốc, Hàn Quốc không bỏ Tết Nguyên đán mà đất nước vẫn phát triển. Singapore và Malaysia mỗi năm có 4 lần mừng năm mới, do có nhiều tộc người với văn hóa khác nhau, họ vẫn phát triển. Cambodia, Lào, Thái Lan đón Tết theo Phật lịch vào tháng 4, họ vẫn hài lòng. Và đông đảo hơn cả là các quốc gia theo Hồi giáo, đón Tết Roya vào tháng 10 Hồi lịch, họ đầy tự hào.
Nhiều người đã phân tích về việc Nhật Bản bỏ Tết cổ truyền. Bài viết này chúng tôi chỉ xin đóng góp thêm một chi tiết về thời đại.
Thời Minh Trị, Nhật Bản quyết tâm bỏ văn hóa cũ để đến với văn minh phương Tây, với quan điểm “thoát Á luận”, cho rằng văn hóa Á Đông lạc hậu, còn phương Tây hiện đại. Cùng thời điểm đó, cuối thế kỷ XIX cũng là giai đoạn thịnh hành quan điểm “vị châu Âu”. Một số nhà nghiên cứu (chẳng hạn Tylor, Morgan) cho rằng văn minh châu Âu là trung tâm và chuẩn mực để mọi dân tộc phấn đấu phát triển.
Quan điểm này sớm bị phê phán và phê phán đến tận ngày nay, nhưng không phải nó không để lại ảnh hưởng. Ảnh hưởng đầu tiên là các đế quốc thực dân lợi dụng để đi “khai hóa” các dân tộc “man dã”. Một ảnh hưởng khác là khiến các quốc gia kém phát triển cảm thấy tự ti về văn hóa của mình. Nhật Bản là một trường hợp như thế.
Người Nhật với mặc cảm về một đất nước nghèo nàn, không tránh khỏi việc đề cao quan điểm “vị châu Âu”. Theo Đào Trinh Nhất, họ say mê phương Tây đến độ “không sót cái hay nào của Tây phương mà Nhật không bắt chước”. Họ áp dụng mô hình phương Tây một cách quá máy móc, chính họ phủ nhận sự khác biệt và đa dạng của văn hóa.
Công sứ Nhật Bản Hideo Suzuki trả lời phỏng vấn trên báo Lao Động rằng: “Theo Dương lịch, ngày 1/1 hằng năm sẽ bắt đầu mùa xuân, nhưng trên thực tế, thời tiết tại Nhật vô cùng lạnh giá trong tháng 1. Vì vậy, rất khó cho mọi người cảm nhận một mùa xuân mới đang về. Còn nếu theo âm lịch cổ truyền, mùa xuân sẽ đúng hẹn hơn, vì ngày đầu của mùa xuân thường rơi vào tháng 2. Khi đó, hoa mận đã nở khắp nơi và khoảng 1 tháng sau (tháng 3 Dương lịch), sắc xuân sẽ tràn ngập tại Nhật Bản với hoa anh đào nở”.
Như đã nói ở phần đầu, quan điểm về văn hóa của thế giới thế kỷ XXI là tôn trọng sự khác biệt và đa dạng, không có văn hóa cao hay thấp, không có văn hóa nào là “mô hình chuẩn” để định hướng cho các truyền thống khác.
Vậy mà người Việt Nam sống trong thế kỷ XXI nhưng không áp dụng quan điểm của thế kỷ XXI giống thế giới, mà quay về thế kỷ XIX giẫm lên vết xe đổ “vị châu Âu” mà thế giới đã lên án suốt một thế kỷ rưỡi. Chúng ta đang hội nhập hay đang đi ngược với thế giới?
Tại sao người phương Tây có thể nghỉ khoảng một tuần từ Giáng sinh đến đầu năm Dương lịch mà chúng ta không thể nghỉ bảy ngày Tết Âm lịch, lại đòi phải phục tùng theo họ. Nếu được hỏi, có lẽ người phương Tây cũng không muốn Việt Nam bỏ Tết cỏ truyền, vì từ nhỏ họ đã được giáo dục tôn trọng sự khác biệt. Chúng ta thì không. Chúng ta chỉ biết vọng ngoại và phục tùng văn hóa của dân tộc khác.
Dĩ nhiên, văn hóa không bất biến mà thay đổi phù hợp với thời đại, môi trường, con người… Song, mọi thay đổi đều có quy luật. Đặc trưng quan trọng của văn hóa là giá trị, một biểu tượng văn hóa chỉ mất đi khi không còn đủ giá trị để đáp ứng nhu cầu của chủ thể văn hóa. Không thể bắt văn hóa phục tùng kinh tế, như thế là đang sa vào “quyết định luận kinh tế”.
Kết thúc bài viết này, chúng tôi xin trích dẫn mục tiêu trong “Thập kỷ Quốc tế phát triển văn hóa” (1988 - 1997) của Liên Hiệp Quốc: “Không phát triển kinh tế đơn thuần, một chiều, bất chấp tất cả, và càng không hy sinh văn hóa để đổi lấy phát triển kinh tế”. (Phụ Nữ News 16/1) đầu trang(
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Tôi rất đồng tình khi Thủ tướng đã chỉ đạo các địa phương không được lên “chúc Tết” lãnh đạo. Trong hoàn cảnh chúng ta chưa thực sự tạo ra sự thay đổi, mệnh lệnh của Thủ tướng là rất đáng hoan nghênh.
Trái với quan niệm xưa, thay vì thời gian nhàn hạ bên gia đình, Tết bây giờ là lúc một số người tranh thủ lấy lòng nhau. Có những người khoản tiền biếu xén còn được ưu tiên hơn cả khoản chuẩn bị cho gia đình. Không ít trường hợp tặng quà bị biến thành một nghĩa vụ thay vì hành động xuất phát từ trái tim.
Người có điều kiện thì tặng những bộ quà Tết tốn kém, ít thì chai rượu Tây, cân hoa quả nhập ngoại, hay bèo bọt cũng là hộp mứt Tết loại xịn. Tất nhiên, gói quà phải đi kèm với phong bì mới đủ bộ.
Với một số người hư, mưu lợi thì ai cũng hiểu câu chuyện không chỉ dừng ở lời chúc Tết “suông”. Rất nhiều trường hợp, nó trở thành tấm bình phong cho hành động hối lộ để các quan hệ thân hữu phát triển.
Tất nhiên không phải ai đi chúc Tết cũng chỉ vì tư lợi. Nhưng khi câu chuyện gắn liền với công việc, với câu chuyện lợi ích, thì việc kiểm soát đâu là “chúc”thật – giả trở nên khó khăn. Sẽ rất khó để đánh giá liệu một doanh nghiệp A đi chúc Tết một lãnh đạo địa phương, nơi doanh nghiệp đó đang chuẩn bị đầu tư, là “trong sáng” hay không. Hay một công chức đang trong danh sách cân nhắc thăng chức đi chúc Tết người có quyền quyết định vị trí đó. Bởi thế, trong những tình huống như trên, giải pháp tốt nhất đưa ra là ngăn chặn ngay những nguy cơ gây xung đột lợi ích (conflict of interest).
Đó là cách mà các nhà nước, doanh nghiệp, và trường đại học ở nhiều quốc gia phát triển thực hiện. Ở Mỹ, công chức còn không được nhận bất kì món quà nào, từ bất kì ai, có trị giá hơn 20 đô la (0.04% thu nhập hàng tháng). Nếu quy theo tỉ lệ thu nhập Việt Nam, mức tiền đó tương đương 24 nghìn đồng.
Vì thế, không phải tự nhiên mà nhiều nước như Nhật Bản và Mỹ, việc cấp dưới tặng quà có giá trị lớn cho lãnh đạo hầu như không xẩy ra, hay chí ít cũng không công khai như ở ta. Và trong những trường hợp có quà tặng, họ sẽ mở ra ngay để kiểm tra.
Từ chối nhận quà, trước khi là một văn hoá, là nguyên tắc ứng xử trong công việc được quy định nghiêm ngặt. Trải qua thời gian, quy định sẽ điều chỉnh hành vi và biến điều bắt buộc trở thành tự nguyện.
Chính vì vậy, tôi rất đồng tình khi Thủ tướng đã chỉ đạo các địa phương không được lên “chúc Tết” lãnh đạo. Trong hoàn cảnh chúng ta chưa thực sự tạo ra sự thay đổi, mệnh lệnh của Thủ tướng là rất đáng hoan nghênh. Nhưng tôi cũng băn khoăn về chuyện liệu mệnh lệnh có được chấp hành nghiêm chỉnh hay không.
Câu chuyện “cấm chúc Tết” hay tặng quà không chỉ diễn ra trong năm nay. Và không phải là chúng ta không có những quy định pháp lý để xử lý vấn đề trên, thậm chí quy định nghiêm không khác gì những nước Âu – Mỹ. Từ năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật phòng chống tham nhũng (hiện đang sửa đổi) và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, trong đó có những quy định cụ thể về việc cấm nhận quà của công chức. Đến năm 2007, chúng ta có Quyết định 64 của Thủ tướng ban hành quy chế về việc tặng quà, nhận quà tặng và nộp lại quà tặng. Tháng 12/2012, thường trực Ban Bí thư ký chỉ thị 21/CT-TW “nghiêm cấm tặng quà Tết cho cấp trên”.
Các cơ quan Đảng, chính phủ mỗi năm đều ra công văn nhắc nhở các cơ quan công quyền, doanh nghiệp nhà nước, yêu cầu phải thực hiện nghiêm những quy định này mỗi khi Tết đến. Nhưng kết quả có vẻ vẫn chưa như mong đợi.
Trong mấy năm qua, Cục Phòng chống Tham nhũng đã công bố số điện thoại để “nhờ” người dân trợ giúp phát hiện việc tặng quà có dấu hiệu tham nhũng. Nhưng năm nào việc tặng quà cũng đúng quy định. Điển hình là năm ngoái, cục này cho biết có 156 cuộc gọi và tin nhắn tố giác tham nhũng trong dịp Tết Bính thân, nhưng không ai bị điều tra. Sự xuề xoà về mặt luật pháp tất yếu sẽ dẫn đến sự xuề xoà khi chấp hành quy định.
Điều quan trọng, vì thế, cần phải nghiêm khắc hơn nữa trong việc xử lý cán bộ vi phạm. Luật phòng chống tham nhũng sửa đổi cần nghiêm cấm mọi hành vi nhận quà có giá trị, và khép đó vào tội tham nhũng, nhận hối lộ để xử lý hình sự. Sau khi có chế tài, cần tăng cường sức mạnh và sự phối hợp của các cơ quan có thẩm quyền như Thanh tra chính phủ,Ủy ban kiểm tra Trung ương, và cơ quan công an để xử lý “điểm” những vi phạm.
Chống tham nhũng không thể hời hợt, và phải bắt đầu ngay từ những việc tưởng chừng nhỏ bé như đi chúc Tết. (Vietnamnet 16/1) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Một kiến nghị tiếng Tây Ban Nha đề nghị Tổng thống Nga Vladimir Putin can thiệp vào trường hợp ở Mexico để giải quyết vấn đề tồn tại trong nước xuất hiện trên trang web change.org.
Một kiến nghị tiếng Tây Ban Nha đề nghị Tổng thống Nga Vladimir Putin can thiệp vào trường hợp ở Mexico để giải quyết vấn đề tồn tại trong nước xuất hiện trên trang web change.org, Sputnik đưa tin.
"Tình hình chính trị tại Mexico đang ở thời điểm tồi tệ nhất trong lịch sử", tác giả kiến nghị Freppo Sovietico ghi nhận. Bản kiến nghị có tên là "Sự can thiệp của Nga tại Mexico để loại bỏ chính phủ tồi tệ."
Theo ông, Hoa Kỳ lẫn Liên Hợp Quốc không thể làm bất cứ điều gì để cải thiện tình hình trong Mexico.
"Mỹ rất hài lòng nhận các nguồn lực từ Mexico nhưng không có người đủ khả năng ngăn chặn các chính trị gia tham nhũng Mexico, những người chỉ biết cho tặng tất cả và ăn cắp," Freppo viết về sáng kiến riêng của mình.
"Hôm nay Mexico bị chảy máu từ sự cướp bóc và từ những con chuột như vậy. Vladimir Putin, châu Mỹ Latinh rất cần bạn", tác giả ghi nhận.
Kiến nghị đã thu được vài ngàn chữ ký. (Bizlive 16/1) đầu trang(
Hãng tin SCMP dẫn lời phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc Dương Vũ Quân trong một cuộc họp báo thường kỳ cho biết, Thượng tướng Vương Kiến Bình, 63 tuổi, Phó Tổng tham mưu trưởng của Quân ủy Trung ương Trung Quốc đang bị điều tra. Ông Vương Kiến Bình là Thượng tướng đương chức đầu tiên “ngã ngựa” kể từ sau Đại hội 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc (tháng 11-2012).
Ngày 26-8-2016, tờ SCMP đăng tin độc quyền cho biết, tướng Vương Kiến Bình bị các nhân viên cơ quan Ủy ban kiểm tra kỷ luật Quân ủy Trung ương bắt đi trước đó 1 ngày khi đang đi thị sát ở Thành Đô. Vợ ông này và thư ký của ông cũng bị bắt giữ cùng ngày tại Bắc Kinh. Cũng trong ngày 25-8, Đảng Cộng sản Trung Quốc cam kết đẩy mạnh đà chống tham nhũng nhằm “làm sạch môi trường chính trị nội bộ đảng” trong năm tới. Cuộc họp của Bộ Chính trị Trung Quốc ngày hôm đó được thực hiện dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư, Chủ tịch Tập Cận Bình.
Tối 27-10-2016, Đài Truyền hình Trung ương (CCTV) đã dành 29 phút trong chương trình thời sự đưa tin về Hội nghị Trung ương 6 khóa 18. Ống kính lướt qua toàn bộ 25 Ủy viên Bộ Chính trị và 197 Ủy viên Trung ương nhưng không thấy Thượng tướng Vương Kiến Bình.
Với thông báo chính thức của Bộ Quốc phòng Trung Quốc, ông Vương trở thành tướng quân đội đương chức đầu tiên của nước này sa lưới kể từ khi Chủ tịch Tập Cận Bình phát động chiến dịch chống tham nhũng trong quân đội vào năm 2013. Tuy tội nhận hối lộ của vị tướng lĩnh hàng đầu này chưa được công bố cụ thể, nhưng trong thời gian ông giữ chức Tư lệnh Cảnh sát vũ trang, hầu như mọi công trình xây dựng cơ bản của lực lượng này đều giao cho con trai ông nhận thầu. Ước tính con trai ông Bình có tổng số tài sản lên tới 2 tỷ NDT.
Ông Vương Kiến Bình sinh tháng 12-1953, quê tỉnh Hà Bắc, nhập ngũ năm 1969 vào quân đoàn pháo binh số 40, từng giữ các chức Trung đoàn trưởng pháo binh, Tham mưu trưởng lữ đoàn rồi Lữ đoàn trưởng pháo binh. Năm 1992, ông Vương Kiến Bình được bổ nhiệm Sư đoàn trưởng sư đoàn 120 thuộc tập đoàn quân 40; sau đó chuyển sang lực lượng Cảnh sát vũ trang, là một bộ phận của Quân đội Giải phóng nhân dân Trung Quốc - PLA).
Năm 2009, ông Vương Kiến Bình giữ chức Tư lệnh Cảnh sát vũ trang. Tháng 7-2012, ông được phong hàm Thượng tướng. Trong thời gian này, ông Vương Kiến Bình chịu sự quản lý trực tiếp của ông Chu Vĩnh Khang.
Năm 2013, Cựu Bộ trưởng An ninh Chu Vĩnh Khang bị bắt và bị kết án tù chung thân vào năm ngoái. Một năm sau, ông Vương bất ngờ được điều chuyển sang Bộ Tổng tham mưu và trở thành Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc. Sau khi ông Tập Cận Bình tiến hành cải cách quân đội, tháng 1-2016, Thượng tướng Vương Kiến Bình được giao giữ chức Phó Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu liên hợp Quân ủy mới được thành lập.
Ngày 29-12, “Thời báo Hoàn cầu” khi đưa tin tức về vụ việc này cho biết, ông Vương Kiến Bình đã xác lập hai kỷ lục: là Thượng tướng tại ngũ đầu tiên và là “Hổ lớn quân đội” đầu tiên bị điều tra sau khi cải tổ quân đội. Tờ báo này viết: Tướng Vương Kiến Bình có liên quan chặt chẽ tới vụ án tham nhũng Chu Vĩnh Khang và câu kết với hai “thiết quốc đại đạo” (kẻ trộm lớn làm hại quốc gia) Từ Tài Hậu, Quách Bá Hùng tham ô, không làm tròn chức trách.
Ông Tập Cận Bình đã xác định chống tham nhũng trong quân đội là ưu tiên hàng đầu. Giới chức nước này cảnh báo, vấn đề tham nhũng đã trở nên nghiêm trọng đến mức có thể ảnh hưởng đến khả năng phát động chiến tranh trong bối cảnh Bắc Kinh ra sức phô trương sức mạnh và tầm ảnh hưởng trong khu vực.
Trước đó, Bộ Công an Trung Quốc đã lên tiếng cho rằng, cần phải tăng cường các nỗ lực để nhổ tận gốc những “ảnh hưởng nguy hại” của “quan tham” Chu Vĩnh Khang - người bị kết án tù chung thân vì tội ăn hối lộ, tiết lộ bí mật Nhà nước và lạm dụng quyền lực.
Cũng trong ngày 28-12, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tổ chức hội nghị nghiên cứu triển khai công tác xây dựng tác phong liêm chính trong Đảng và chống tham nhũng. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng khẳng định quyết tâm đẩy lùi và kiềm chế sự gia tăng của tình trạng tham nhũng từ đó giúp cho người dân cảm nhận được hiệu quả thực tế của công tác quản lý Đảng nghiêm minh một cách toàn diện. (An Ninh Thủ Đô 15/1) đầu trang(./.
|
|||