Xem ngày trước
BẢN TIN TỔNG HỢP
Xem ngày kế tiếp

Ngày 14 tháng 11 năm 2016
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
QUẢN LÝ
NHÂN SỰ MỚI
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
KINH TẾ
VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
NHÌN RA THẾ GIỚI

CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 150/2016/NĐ-CP ngày 11/11/2016 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ.
Theo đó, Văn phòng Chính phủ là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là bộ máy giúp việc của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.
Văn phòng Chính phủ có chức năng tham mưu tổng hợp, điều phối giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ(bao gồm các Phó Thủ tướng Chính phủ) tổ chức các hoạt động chung của Chính phủ, lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở, bảo đảm thống nhất, thông suốt, liên tục của nền hành chính quốc gia; kiểm soát thủ tục hành chính; bảo đảm thông tin, xây dựng Chính phủ điện tử phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và cung cấp thông tin cho công chúng theo quy định của pháp luật; bảo đảm điều kiện vật chất, kỹ thuật, hậu cần cho hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Văn phòng Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể.
Trong đó, Văn phòng Chính phủ tham mưu tổng hợp, điều phối giúp Chính phủ phối hợp với các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức liên quan trong quá trình chuẩn bị và hoàn chỉnh các đề án, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trình Chính phủ xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật; thẩm tra về trình tự, thủ tục, thẩm quyền xử lý và tham mưu tổng hợp về nội dung; có ý kiến độc lập đối với các đề án, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, các báo cáo theo chương trình công tác của Chính phủ và các công việc khác do các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức liên quan trình Chính phủ.
Văn phòng Chính phủ tham mưu tổng hợp, điều phối giúp Thủ tướng Chính phủ thẩm tra về trình tự, thủ tục, thẩm quyền xử lý và tham mưu tổng hợp về nội dung; có ý kiến độc lập đối với các đề án, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo theo chương trình công tác của Thủ tướng Chính phủ và các công việc khác do các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức liên quan trình Thủ tướng Chính phủ.
Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức liên quan hoàn chỉnh nội dung, thủ tục, hồ sơ và dự thảo văn bản để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định đối với những công việc thường xuyên khác do các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức trình.
Giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức liên quan; kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ các biện pháp cần thiết nhằm đôn đốc thực hiện, khắc phục tồn tại, hạn chế, bảo đảm kỷ cương, kỷ luật hành chính và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước...
Về kiểm soát thủ tục hành chính, Văn phòng Chính phủ hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính của các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; tổng hợp tình hình, kết quả thực hiện, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Bên cạnh đó, chủ trì triển khai thực hiện nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính và cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính tại cơ quan hành chính nhà nước; công tác truyền thông về cải cách thủ tục hành chính.
Đồng thời, kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nghiên cứu, đề xuất hoặc chủ động nghiên cứu, đề xuất các chủ trương, chính sách, giải pháp, sáng kiến cải cách thủ tục hành chính và quy định có liên quan; nhân rộng những mô hình mới, cách làm hay trong cải cách thủ tục hành chính trình cấp có thẩm quyền quyết định; đánh giá và xử lý kết quả rà soát về thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật.
Văn phòng Chính phủ xây dựng và quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính; tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân về quy định hành chính thuộc phạm vi quản lý của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước theo quy định của pháp luật; thực hiện nhiệm vụ thường trực Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính.
Về xây dựng Chính phủ điện tử, Văn phòng Chính phủ chủ trì tổ chức triển khai nhiệm vụ xây dựng Chính phủ điện tử phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đôn đốc thực hiện và tổng hợp tình hình, kết quả xây dựng Chính phủ điện tử của các bộ, ngành, địa phương, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Quản lý, vận hành Cổng dịch vụ công Quốc gia để tích hợp tất cả các dịch vụ công trực tuyến của các bộ, ngành, địa phương; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 để các bộ, ngành, địa phương thực hiện hàng năm.
Quản lý, vận hành hệ thống công nghệ thông tin (hệ thống thông tin) phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; chủ trì kết nối liên thông, điều phối, tích hợp, chia sẻ thông tin giữa Văn phòng Chính phủ với các bộ, ngành, địa phương phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam.
Văn phòng Chính phủ có nhiệm vụ bảo đảm thông tin phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất theo quy định và yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ; cung cấp thông tin cho các Thành viên Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan của Đảng, Nhà nước và các cơ quan, tổ chức liên quan về tình hình kinh tế-xã hội của đất nước và công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Bên cạnh đó, cung cấp thông tin cho công chúng về các hoạt động chủ yếu, những quyết định quan trọng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội nổi bật mà dư luận quan tâm và các thông tin khác theo quy định của pháp luật và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Đồng thời, tiếp nhận thông tin từ công chúng và chủ động theo dõi, nắm tình hình thực tiễn để kịp thời tham mưu, đề xuất Chính phủ, Thủ tướng  Chính phủ xem xét, chỉ đạo xử lý những vấn đề cấp bách, nổi cộm, bức xúc, dư luận xã hội quan tâm.
Ngoài ra, Văn phòng Chính phủ thực hiện nhiệm vụ phát ngôn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; chủ trì tổ chức họp báo Chính phủ theo quy định; quản lý, xuất bản và phát hành Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quản lý tổ chức và hoạt động của Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
Về cơ cấu tổ chức, Văn phòng Chính phủ có 21 đơn vị gồm: 1- Vụ Theo dõi công tác thanh tra; giải quyết khiếu nại, tố cáo;  phòng, chống tham nhũng, buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Vụ I); 2- Vụ Nội chính; 3- Vụ Công tác Quốc hội, địa phương và đoàn thể; 4- Vụ Tổng hợp; 5- Vụ Tổ chức hành chính nhà nước và Công vụ; 6- Vụ Pháp luật; 7- Vụ Quan hệ quốc tế; 8- Vụ Công nghiệp; 9- Vụ Nông nghiệp; 10- Vụ Kinh tế tổng hợp; 11- Vụ Khoa giáo-Văn xã; 12- Vụ Đổi mới doanh nghiệp; 13- Vụ Thư ký-Biên tập; 14- Vụ Hành chính; 15- Vụ Tổ chức cán bộ; 16- Vụ Kế hoạch tài chính; 17- Cục Kiểm soát thủ tục hành chính; 18- Cục Quản trị; 19- Cục Hành chính-Quản trị II; 20- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ; 21- Trung tâm Tin học.
Các đơn vị quy định từ (1) đến (20) nêu trên là các đơn vị hành chính, đơn vị quy định tại (21) nêu trên là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Văn phòng Chính phủ.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ 15/12/2016. (Báo Chính Phủ 14/11) đầu trang(
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 175/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sử dụng đường bộ trạm thu phí tại Km72+930 trên tuyến đường Thái Nguyên - Chợ Mới và trạm thu phí tại Km78+080 quốc lộ 3.
Theo đó, mức thu phí sử dụng đường bộ trạm thu phí tại Km72+930 trên tuyến đường Thái Nguyên - Chợ Mới và trạm thu phí tại Km78+080 quốc lộ 3 được quy định như sau:
Xe dưới 12 ghế ngồi, xe tải có tải trọng dưới 2 tấn và các loại xe buýt vận tải khách công cộng, mức thu 35.000 đồng/vé lượt; xe từ 12 ghế ngồi đến 30 ghế ngồi, xe tải có tải trọng từ 2 tấn đến dưới 4 tấn, mức thu 50.000 đồng/vé lượt.
Xe từ 31 ghế ngồi trở lên, xe tải có tải trọng từ 4 tấn đến dưới 10 tấn, mức thu là 75.000 đồng/vé lượt.
Xe tải có tải trọng từ 10 tấn đến dưới 18 tấn và xe chở hàng bằng Container 20 fit, mức thu là 140.000 đồng/vé lượt.
Xe tải có tải trọng từ 18 tấn trở lên và xe chở hàng bằng Container 40 fit, mức thu 200.000 đồng/vé lượt…
Mức thu phí nêu trên áp dụng riêng tại từng trạm: Trạm thu phí tại Km72+930 trên tuyến đường Thái Nguyên - Chợ Mới và trạm thu phí tại Km78+080 quốc lộ 3.
Tổng số tiền thu phí hàng năm sau khi trừ các khoản thuế theo quy định được xác định là khoản tiền hoàn vốn theo phương án tài chính của Hợp đồng BOT Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường Thái Nguyên - Chợ Mới và cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 3 đoạn từ Km75 đến Km100.
Thời gian bắt đầu thu phí theo mức phí tại Thông tư này kể từ khi có đủ điều kiện là: dự án đầu tư xây dựng tuyến đường Thái Nguyên - Chợ Mới và cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 3 đoạn từ Km75 đến Km100 đã được nghiệm thu hoàn thành và đưa vào sử dụng; được Bộ Giao thông vận tải ban hành Quyết định cho phép thu phí.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12/12/2016. (Báo Chính Phủ 14/11) đầu trang(
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 152/2016/TT-BTC quy định quản lý và sử dụng kinh phí hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng.
Theo đó, điều kiện người học được hỗ trợ đào tạo là: Trong độ tuổi lao động (nữ từ đủ 15-55 tuổi; nam từ đủ 15-60 tuổi), có nhu cầu học nghề, có trình độ học vấn; trường hợp học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động thì phải đủ 14 tuổi; những người không biết đọc, viết có thể tham gia học những nghề phù hợp thông qua hình thức kèm cặp, truyền nghề và phải đủ sức khoẻ phù hợp với ngành nghề cần học; có phương án tự tạo việc làm sau học nghề đảm bảo tính khả thi theo xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc được đơn vị sử dụng lao động cam kết tuyển dụng hoặc có đơn vị cam kết bao tiêu sản phẩm sau học nghề.
Đối với lao động nông thôn: Người lao động có hộ khẩu thường trú tại xã, người lao động có hộ khẩu thường trú tại phường, thị trấn đang trực tiếp làm nông nghiệp hoặc thuộc hộ gia đình có đất nông nghiệp bị thu hồi.
Đối với người khuyết tật: Có giấy xác nhận khuyết tật hoặc thẻ xác nhận là người khuyết tật hoặc sổ lĩnh trợ cấp hàng tháng.
Đối với lao động bị mất việc làm, trường hợp làm việc theo hợp đồng có một trong các giấy tờ sau: Quyết định thôi việc, buộc thôi việc; quyết định sa thải; thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc; hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã hết hạn hoặc đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động; trường hợp làm việc không theo hợp đồng, cần có Giấy xác nhận của người sử dụng lao động; trường hợp tự tạo việc làm, cần có Giấy đăng ký kinh doanh còn hiệu lực hoặc xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã (trong trường hợp không có giấy đăng ký kinh doanh)...
Thông tư nêu rõ về hỗ trợ chi phí đào tạo: Người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật và các văn bản hướng dẫn Luật được hỗ trợ tối đa 06 triệu đồng/người/khóa học.
Người thuộc hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo; người thuộc hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, tối đa 04 triệu đồng/người/khóa học.
Người dân tộc thiểu số, người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng theo quy định của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, người thuộc hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp, đất kinh doanh theo quy định tại Quyết định số 63/2015/QĐ-TTg; lao động nữ bị mất việc làm, ngư dân: tối đa 03 triệu đồng/người/khóa học.
Người thuộc hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ: tối đa 2,5 triệu đồng/người/khóa học.
Người học là phụ nữ, lao động nông thôn khác không thuộc các đối tượng quy định nêu trên, mức hỗ trợ tối đa 02 triệu đồng/người/khóa học.
Về hỗ trợ tiền ăn, đi lại, đối tượng được hỗ trợ là người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người thuộc hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp, đất kinh doanh, lao động nữ bị mất việc làm tham gia học các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 03 tháng.
Mức hỗ trợ tiền ăn là 30.000 đồng/người/ngày thực học; mức hỗ trợ tiền đi lại 200.000 đồng/người/khóa học nếu địa điểm đào tạo ở xa nơi cư trú từ 15km trở lên.
Riêng đối với người khuyết tật và người học cư trú ở xã, thôn, bản thuộc vùng khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ: mức hỗ trợ tiền đi lại 300.000 đồng/người/khóa học nếu địa điểm đào tạo ở xa nơi cư trú từ 5 km trở lên...
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 04/12/2016. (Báo Chính Phủ 14/11) đầu trang(

QUẢN LÝ
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Điều lệ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) là tổ chức quốc gia tập hợp và đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân, người sử dụng lao động và các hiệp hội doanh nghiệp ở Việt Nam (cộng đồng doanh nghiệp) nhằm mục đích phát triển, bảo vệ và hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thúc đẩy các quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và khoa học - công nghệ với nước ngoài trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi, theo quy định của pháp luật.
VCCI là tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, có tư cách pháp nhân, tự chủ về tài chính, có con dấu, tài khoản riêng.
VCCI được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc tự nguyện, tự quản; hiệp thương dân chủ; bình đẳng, công khai, minh bạch; tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và Điều lệ này.
VCCI có các chức năng đại diện để thúc đẩy và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trong các quan hệ trong nước và quốc tế. Bên cạnh đó, thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp; xúc tiến và hỗ trợ các hoạt động thương mại, đầu tư, hợp tác khoa học - công nghệ và các hoạt động kinh doanh khác của cộng đồng doanh nghiệp ở Việt Nam và nước ngoài; xúc tiến, thúc đẩy xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa trong các doanh nghiệp.
VCCI có nhiệm vụ tập hợp, nghiên cứu thực trạng và kiến nghị với Đảng và Nhà nước các vấn đề về pháp luật, chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm cải thiện môi trường kinh doanh và xây dựng quan hệ lao động hài hòa; tổ chức các diễn đàn, đối thoại, các cuộc tiếp xúc, làm đầu mối liên kết các doanh nghiệp, làm cầu nối giữa cộng đồng doanh nghiệp với các cơ quan Đảng, Nhà nước và với các tổ chức hữu quan khác ở trong và ngoài nước để trao đổi thông tin, ý kiến và đề xuất các giải pháp xử lý vướng mắc, hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến doanh nghiệp, môi trường kinh doanh và quan hệ lao động.
Bên cạnh đó, đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp tham gia vào quá trình xây dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến doanh nghiệp, hoạt động kinh doanh và quan hệ lao động dưới các hình thức khác nhau theo quy định hiện hành.
Đồng thời, là đầu mối tập hợp thông tin, ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp, tổ chức và tham gia quá trình tham vấn với các đoàn đàm phán về kinh tế, thương mại; tham gia với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong quá trình đàm phán, ký kết, gia nhập, phê chuẩn, thực thi các điều ước quốc tế có liên quan tới kinh tế, thương mại; hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến thực thi các điều ước quốc tế về kinh tế, thương mại mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; tham gia tổ chức các đoàn doanh nghiệp tháp tùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước; tổ chức các Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam, Hội đồng doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp các nước và các hoạt động xúc tiến khác nhằm mở rộng quan hệ thương mại, đầu tư quốc tế.
VCCI còn có nhiệm vụ thực hiện vai trò của tổ chức đại diện ở Trung ương của người sử dụng lao động Việt Nam tham gia vào các thiết chế ba bên về quan hệ lao động, hướng dẫn, hỗ trợ xây dựng và liên kết tổ chức của người sử dụng lao động ở cấp ngành và địa phương; phối hợp với tổ chức đại diện người lao động và các cơ quan, đơn vị hữu quan để hỗ trợ doanh nghiệp, giới sử dụng lao động xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ theo quy định hiện hành.
Tiến hành những hoạt động để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cộng đồng doanh nghiệp trong các quan hệ kinh doanh trong nước và quốc tế; tư vấn và tham gia hỗ trợ giải quyết các vướng mắc, kiến nghị của cộng đồng doanh nghiệp với các cơ quan quản lý trong quá trình kinh doanh và thực thi pháp luật.
Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, tư vấn thực thi chính sách, pháp luật; phổ biến, cung cấp, hỗ trợ thông tin kinh doanh, khoa học kỹ thuật cho cộng đồng doanh nghiệp; tổ chức vận động cộng đồng doanh nghiệp nâng cao trách nhiệm xã hội, xây dựng đạo đức và văn hóa kinh doanh, bảo vệ môi trường và tham gia các hoạt động xã hội khác liên quan tới hoạt động của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phù hợp với quy định của pháp luật.
Tổ chức đào tạo để phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, nâng cao năng lực quản lý, kinh doanh cho các doanh nhân, xây dựng đội ngũ doanh nhân năng động, hiệu quả; tiến hành các hoạt động nhằm xây dựng, quảng bá thương hiệu và nâng cao uy tín hàng hóa, dịch vụ, cộng đồng doanh nghiệp và môi trường kinh doanh tại Việt Nam.
Nhiệm vụ khác của VCCI là tổ chức các hoạt động hỗ trợ phát triển kinh doanh; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các nguồn lực phát triển; hỗ trợ doanh nghiệp phát triển quan hệ kinh doanh và đầu tư ở trong và ngoài nước thông qua các biện pháp như: Kết nối và giới thiệu bạn hàng, cung cấp thông tin, hướng dẫn và tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu, khảo sát thị trường, hội thảo, hội nghị, hội chợ, triển lãm, quảng cáo và các hoạt động xúc tiến thương mại và đầu tư khác ở trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật.
Tổ chức nghiên cứu, thử nghiệm, triển khai, chuyển giao các mô hình kinh doanh mới hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp; thực hiện các đề tài, nghiên cứu, điều tra… về năng lực cạnh tranh, lao động và các nội dung khác nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp.
Chủ trì hoặc phối hợp tổ chức thực hiện các hoạt động tôn vinh, khen thưởng doanh nghiệp, doanh nhân, các đơn vị, cá nhân có đóng góp lớn vào sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp và nền kinh tế theo quy định của pháp luật.
Hỗ trợ đăng ký và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ ở Việt Nam và ở nước ngoài theo quy định; cấp giấy chứng nhận xuất xứ cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam theo ủy quyền của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; xác nhận các trường hợp bất khả kháng và chứng nhận, xác nhận các giấy tờ cần thiết khác trong hoạt động thương mại theo yêu cầu tự nguyện của các bên trong giao dịch hoặc theo yêu cầu, ủy quyền của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ở trong và ngoài nước.
Hỗ trợ các doanh nghiệp trong và ngoài nước giải quyết bất đồng, tranh chấp thông qua thương lượng, hoà giải hoặc trọng tài phù hợp với quy định của pháp luật.
VCCI bao gồm các cơ quan: Đại hội Đại biểu toàn quốc (gọi tắt là Đại hội); Ban Chấp hành; Ban Thường trực; Ban Kiểm tra; các đơn vị chuyên trách; các chi nhánh, văn phòng đại diện ở trong và ngoài nước; các tổ chức trực thuộc; các tổ chức khác do Phòng Thương mại và Công nghiệp thành lập theo quy định của pháp luật.
Đại hội là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
Đại hội bao gồm các đại biểu do hội nghị hội viên các khu vực bầu. Số lượng và cơ cấu đại biểu do Ban Chấp hành quyết định theo tỷ lệ hội viên ở các khu vực.
Đại hội có Đại hội nhiệm kỳ và Đại hội bất thường. Đại hội nhiệm kỳ do Ban Chấp hành triệu tập 5 năm một lần.
Ban Chấp hành gồm: Chủ tịch; các Phó Chủ tịch; Tổng Thư ký; các ủy viên. Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và Tổng Thư ký là các chức danh lãnh đạo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, có cùng nhiệm kỳ của Đại hội, được Ban Chấp hành bầu ra trong số thành viên Ban Chấp hành.
Nhiệm kỳ của Ban Chấp hành là 5 năm. Thành viên của Ban Chấp hành có thể bị miễn nhiệm trước thời hạn theo quyết định của Đại hội bất thường hoặc với sự chấp thuận của ít nhất 2/3 số thành viên Ban Chấp hành. (Báo Chính Phủ 14/11) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc phân công các Bộ trưởng chuẩn bị các báo cáo về công trình, dự án quan trọng quốc gia gửi Quốc hội.
Cụ thể, Bộ trưởng Bộ Công Thương được giao chuẩn bị các Báo cáo của Chính phủ về: Dự án thủy điện Sông Bung 4 và Thượng Kon Tum, dự án nhà máy lọc dầu Nghi Sơn, dự án khai thác nâng cấp dầu nặng Junin2, dự án Nhennhexky, dự án phát triển mỏ Hải Thạch – Mộc Tinh.
Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải chuẩn bị các Báo cáo của Chính phủ về dự án đường Hồ Chí Minh, dự án đường sắt đô thị Suối Tiên (Thành phố Hồ Chí Minh). (Báo Chính Phủ 11/11) đầu trang(

NHÂN SỰ MỚI
Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,... vừa quyết định bổ nhiệm nhân sự một số cơ quan đơn vị.
Trong 02 ngày 8-9/11, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V Hội Người cao tuổi Việt Nam đã được tổ chức trọng thể và thành công tốt đẹp.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Hội khoá V gồm 98 Ủy viên; bầu Ban Thường vụ gồm 15 Ủy viên; bầu Ban Kiểm tra Trung ương Hội khóa V gồm 5 Ủy viên.
Đồng chí Phạm Thị Hải Chuyền, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội được bầu làm Chủ tịch Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khóa V, nhiệm kì 2016-2021.
Tòa án NDTC vừa tổ chức công bố và trao quyết định bổ nhiệm các chức danh Trợ lý, Thư ký đồng chí Nguyễn Hòa Bình, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án TANDTC.
Tại buổi lễ, thừa ủy quyền của đồng chí Nguyễn Hòa Bình, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, đồng chí Trần Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Tổ chức-Cán bộ Tòa án nhân dân tối cao công bố các quyết định:
- Quyết định số 383-QĐNS/TW ngày 01/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, về việc bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Văn Du, sinh năm 1963, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giữ chức Trợ lý đồng chí Nguyễn Hòa Bình, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
- Quyết định số 1136/QĐ-TANDTC ngày 01/11/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc bổ nhiệm đồng chí Phạm Quốc Hưng, sinh năm 1973, Chánh Văn phòng Tòa án nhân dân tối cao làm Thư ký đồng chí Nguyễn Hòa Bình, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
- Quyết định số 1138/QĐ-TANDTC ngày 01/11/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Xuân Kỳ, sinh năm 1975, Phó Chánh Văn phòng Tòa án nhân dân tối cao, Trưởng ban Ban Thư ký lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao giữ chức vụ Vụ trưởng, Thư ký đồng chí Nguyễn Hòa Bình, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
* Ngày 8/11, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ đã trao quyết định bổ nhiệm Giám đốc Học viện Quản lý giáo dục nhiệm kỳ 2016-2021 cho GS. Phạm Quang Trung, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế quốc dân.
GS. Phạm Quang Trung (sinh năm 1964) từng là giảng viên khoa Tài chính - Ngân hàng, Viện Phó rồi Viện trưởng Viện Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế quốc dân. Từ năm 2008 đến nay , GS. Phạm Quang Trung nắm cương vị Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế quốc dân. GS. Phạm Quang Trung có học vị Tiến sĩ từ năm 2000 và được công nhận chức danh Giáo sư năm 2010.
* Ngày 31/10/2016, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ký Quyết định số 4488/QĐ-BNN-TCCB bổ nhiệm đồng chí Trần Đình Luân, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng, giữ chức Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản kể từ ngày 01/11/2016.
Đồng chí Trần Đình Luân, sinh năm 1975, Tiến sĩ Nuôi trồng thủy sản, nguyên Vụ trưởng Vụ Nuôi trồng thủy sản thuộc Tổng cục Thủy sản. (Báo Chính Phủ 11/11) đầu trang(

THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
Bắt đầu từ ngày mai 15/11, số điện thoại đường dây nóng tổng đài Tổng cục Hải quan là: 19009299 sẽ được hoạt động thông suốt, liên tục 24/24 giờ và 7 ngày trong tuần.
Tổng Cục Hải quan vừa ban hành quy chế quản lý, sử dụng đường dây nóng và tiếp nhận, xử lý tin báo qua đường dây nóng của Tổng cục Hải quan. Theo đó, tất cả các cuộc gọi qua số điện thoại đường dây nóng được ghi âm, lưu trữ và quản lý theo chế độ mật, khẩn…
Quy chế này được Tổng cục Hải quan ban hành nhằm để nâng cao kỷ luật, kỷ cương thi hành công vụ và phòng ngừa, ngăn chặn tệ tham nhũng, nhũng nhiễu; hỗ trợ có hiệu quả cho các tổ chức, cá nhân trong hoạt động XNK, XNC, quá cảnh, kịp thời xử lý các hình vi vi phạm pháp luật…
Việc tiếp nhận tin báo phải được thực hiện qua đường dây nóng tổng đài và chuyển đến đường dây nóng nhánh.
Đường dây nóng hoạt động thông suốt, liên tục 24/24 giờ trong ngày và 7 ngày trong tuần. Tất cả các cuộc gọi qua số điện thoại đường dây nóng được ghi âm, lưu trữ và quản lý theo chế độ mật. Đảm bảo giữ bí mật về danh tính, số điện thoại, địa chỉ, nội dung phản ánh qua đường dây nóng.
Ngoài ra, Quy chế cũng quy định rõ những đơn vị quản lý, sử dụng đường dây nóng và tiếp nhận tin báo qua đường dây nóng. Cụ thể, tại Tổng cục Hải quan: đường dây nóng do Cục Điều tra chống buôn lậu quản lý sẽ tiếp nhận những tố giác, tin báo về tội phạm và hành vi buôn lậu, gian lận thương mại; Vụ Thanh tra- Kiểm tra sẽ tiếp nhận những tố giác, tin báo về hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực; Cục Giám sát quản lý về hải quan sẽ tiếp nhận những tin báo liên quan đến thủ tục hải quan.
Đối với đường dây nóng do các Cục Hải quan tỉnh, thành phố, các chi cục và tương đương tiếp nhận tin báo thuộc thẩm quyền về: tố giác, tin báo về tội phạm và hành vi buôn lậu, gian lận thương mại; hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực và những tin báo liên quan đến thủ tục hải quan.
Để việc triển khai Quy chế có hiệu quả, Tổng cục Hải quan cũng yêu cầu các Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố tổ chức công khai số điện thoại đường dây nóng tổng đài Tổng cục Hải quan – 19009299 tại các vị trí dễ thấy của các đơn vị và các Chi cục và tương đương trực thuộc Cục, đồng thời làm thủ tục hủy các số điện thoại đường dây nóng của đơn vị và các đơn vị trực thuộc đã thiết lập trước đây.
Các số đường dây nóng của Tổng cục Hải quan đã thiết lập trước đây trên Báo Hải quan, Cổng thông tin điện tử Hải quan sẽ bị hủy.  (Infonet 14/11) đầu trang(
Nhóm vấn đề “Đánh giá tổng thể, phương án xử lý các dự án, nhà máy thua lỗ, kém hiệu quả, các dự án đã có quyết định đầu tư nhưng không triển khai, để hoang hoá, lãng phí, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan” được “bỏ phiếu” để đưa ra chất vấn cao nhất trong 16 nhóm vấn đề xin ý kiến đại biểu Quốc hội. Điều đó cho thấy, đây là vấn đề “nóng” nhất tại kỳ họp Quốc hội lần này.
Rất có thể, trong các phiên chất vấn diễn ra từ ngày 15/11 đến 17/11, Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh sẽ là vị bộ trưởng đầu tiên đăng đàn giải trình với Quốc hội về nhóm vấn đề này.
Câu chuyện “hàng loạt dự án ngàn tỷ đồng đắp chiếu, phá sản” đã nóng lên ngay từ những ngày đầu của kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XIV.
Đại biểu Nguyễn Hữu Cầu (Nghệ An) cho biết: “Qua nghiên cứu 65 dự án do các tập đoàn, tổng công ty nhà nước làm chủ đầu tư mà Chính phủ đã chuyển cho đại biểu Quốc hội, tôi vô cùng lo lắng. Riêng 4 dự án gồm Sợi Đình Vũ, Nhiên liệu sinh học Dung Quất, Bột giấy Phương Nam, Đạm Ninh Bình đã lỗ 7.300 tỷ đồng. Tôi đề nghị Chính phủ tập trung chỉ đạo xử lý sớm, nếu không, nợ sẽ chồng lên nợ. Đồng thời, phải xử lý nghiêm các cá nhân, tổ chức để xảy ra tình trạng này và báo cáo cho Quốc hội biết”.
Đại biểu Nguyễn Ngọc Phương (Quảng Bình) cũng nêu thực trạng quyết định đầu tư mà không tính toán đến khả năng vốn, chất lượng chuẩn bị dự án còn thấp, phê duyệt hình thức, dẫn đến phải bổ sung, điều chỉnh nhiều lần…
“Xác định có bao nhiêu dự án thua lỗ, bao nhiêu dự án cần đề nghị điều tra, truy tố. Có như vậy mới xác định được trách nhiệm của tổ chức, cá nhân để xử lý, mới hy vọng ngăn chặn được tình trạng thất thoát vốn đầu tư như hiện nay. Chỉ 5 dự án là Sợi Đình Vũ, Gang thép Thái Nguyên, Bột giấy Phương Nam, Đạm Ninh Bình, Nhiên liệu sinh học Dung Quất đã làm tiêu tan trên 30.000 tỷ đồng. Trong đó, Gang thép Thái Nguyên dự kiến đầu tư 3.800 tỷ đồng, rồi tăng lên hơn 8.100 tỷ đồng, tăng hơn gấp đôi”, ông Phương nói.
“Kiểu báo cáo và thẩm tra hiện nay chỉ như bắn chỉ thiên. Cái chung chỉ ra được, nhưng lý do cụ thể khiến vốn đầu tư thất thoát, lãng phí, trách nhiệm tổ chức, cá nhân thì không chỉ ra được, nên không tạo ra bước đột phá làm chuyển biến nhận thức trong quản lý vốn đầu tư trong thời gian tới”, ông Phương gay gắt.
Bức xúc trước những dự án ngàn tỷ đồng đắp chiếu, nhiều đại biểu đề nghị Bộ Công thương và các cơ quan chức năng sớm có phương án xử lý.
Đại biểu Trương Trọng Nghĩa (TP.HCM) hoan nghênh việc công bố các dự án thua lỗ, kém hiệu quả, đắp chiếu và đề nghị sớm lập danh mục những dự án này.
Trong khi đó, đại biểu Phùng Văn Hùng (Cao Bằng) gửi tới Bộ trưởng Bộ Công thương câu hỏi: “Tôi nghĩ, cả xã hội cũng như tất cả đại biểu Quốc hội rất quan tâm đến các dự án hiện nay bị đắp chiếu, gây lãng phí một nguồn lực rất lớn của xã hội. Quan tâm của xã hội là Bộ trưởng đã tính toán phương án để xử lý những dự án bị đắp chiếu này chưa? Mong Bộ trưởng cho Quốc hội biết và cho công luận biết”.
Liên quan nhóm “3 dự án nhiên liệu sinh học của PVN (Nhà máy Phú Thọ, Dung Quất, Bình Phước) “đốt” 5.400 tỷ đồng, nhưng 3 dự án này hoặc không vận hành thương mại được hoặc đang nằm đắp chiếu dở dang, đại biểu Huỳnh Thành Chung (Bình Phước) đề nghị “Bộ Công thương cần có chính sách để đưa các nhà máy ethanol này hoạt động trở lại”.
Theo phân tích của ông Chung, vấn đề mấu chốt của các dự án trên là nguồn nguyên liệu đầu vào là sắn còn thiếu để sản xuất và đầu ra là người dân không sử dụng xăng sinh học. Vì vậy, cần tuyên truyền cho người dân sử dụng xăng sinh học và bố trí quỹ đất chuyển đổi cho nguồn vật liệu để làm “sống lại các nhà máy”.
Ý tưởng về một giải pháp tổng thể, đại biểu Nguyễn Thanh Hiền (Nghệ An) cho rằng, tình trạng thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả của các dự án đầu tư không chỉ dừng lại 5 dự án, mà còn nhiều dự án khác.
Đại biểu đề nghị Chính phủ, Bộ Công thương tổ chức tổng kết, đánh giá mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước trong giai đoạn 2005 - 2015. Đây là cơ hội để đánh giá một cách toàn diện về những vấn đề đó, đồng thời có giải pháp xử lý hiệu quả, rút kinh nghiệm cho việc tái cơ cấutrong thời gian tới.
Ngoài ra, các đại biểu Quốc hội còn đề nghị Bộ trưởng Bộ Công thương giải trình về một loạt vấn đề như giải pháp củng cố hệ thống bán lẻ hàng hoá thích ứng với hội nhập quốc tế; kiểm soát kinh doanh đa cấp; quản lý thị trường, phòng chống buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không rõ nguồn gốc; chính sách đột phá phát triển ngành ô tô theo định hướng đầu tư của Nhà nước và các cam kết hội nhập quốc tế; phương án tổ chức kiểm tra, đánh giá chất lượng, quy hoạch các công trình thủy điện, thủy lợi và bảo đảm an toàn xả lũ. (Báo Đầu Tư 14/11) đầu trang(

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Vừa qua, Phòng CSGT đường bộ - đường sắt (PC67), Công an TP.HCM thực hiện nhiều cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký xe, nộp phạt...
PC67 triển khai thực hiện nhiều khâu cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc đăng ký quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ và xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC).
Theo đó, tại điểm đăng ký xe (ĐKX), niêm yết công khai các thủ tục ĐKX, phân công cán bộ trực hằng ngày tiếp, hướng dẫn thủ tục, giải quyết hồ sơ.
Cơ sở dữ liệu ĐKX được quản lý trên máy vi tính, giao cụ thể trách nhiệm cho cán bộ quản lý, bảo quản, tổng hợp dữ liệu của công an quận, huyện chuyển về hằng tuần; đồng thời chuyển giao dữ liệu của toàn thành phố về công an quận, huyện thực hiện thủ tục sang tên, di chuyển, cấp phó bản, tra cứu, xác minh nhanh, rút ngắn thời gian để người dân không chờ đợi lâu. Các địa điểm ĐKX, XLVPHC đều trang bị máy bấm số thứ tự.
Đáng chú ý, PC67 phối hợp với Bưu điện TP.HCM thực hiện dịch vụ chuyển phát giấy chứng nhận ĐKX đến tận nhà; thu nộp tiền xử phạt vi phạm hành chính và chuyển trả giấy tờ bị tạm giữ trong lĩnh vực giao thông đường bộ đến tay chủ phương tiện theo yêu cầu. Với khâu cải cách hành chính này, người dân không phải đợi chờ lâu, xóa sổ “cò” nộp phạt tại các địa điểm xử lý.
Từ cuối năm 2015 đến ngày 16.10.2016, số lượt chuyển phát nhanh giấy chứng nhận ĐKX tại nhà theo yêu cầu của người dân là 11.522 trường hợp (ô tô 7.026 trường hợp, mô tô 4.496 trường hợp), số lượt thu nộp tiền phạt và chuyển trả giấy tờ bị tạm giữ hơn 13.769 trường hợp.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đi lại thuận tiện, ngoài việc duy trì 2 điểm tiếp nhận hồ sơ ĐKX tại Đội CSGT Rạch Chiếc, An Sương nhằm giảm áp lực quá tải tại điểm đăng ký xe 282 Nơ Trang Long (Q.Bình Thạnh), PC67 đang tham mưu đề xuất Công an TP.HCM mở thêm điểm đăng ký xe ô tô tại Q.7.
Trung tá Huỳnh Trung Phong, Phó trưởng PC67, chia sẻ: “PC67 tiếp tục cải cách hành chính đưa phần mềm tin học “Xử lý vi phạm hành chính”, “Quản lý cơ sở dữ liệu về tai nạn giao thông” vào sử dụng; duy trì chế độ làm việc ngày thứ bảy hằng tuần đối với bộ phận ĐKX, XLVPHC để giải quyết hồ sơ vụ việc cho những người dân rảnh vào ngày cuối tuần...”.
Bên cạnh đó, PC67 cũng đang vận hành thử nghiệm cổng thông tin điện tử trước khi chính thức kết nối vào Cổng thông tin điện tử Công an TP.HCM nhằm niêm yết công khai, đầy đủ tất cả các thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của PC67 để phục vụ người dân truy cập nhanh chóng thông tin về thủ tục hành chính, hồ sơ ĐKX, XLVPHC, thông báo kẹt xe, quy trình tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng, hộp thư góp ý điện tử... (Thanh Niên 14/11) đầu trang(

KINH TẾ
Là nước xuất khẩu hạt điều lớn nhất thế giới, Việt Nam có cơ hội gia tăng thị phần khi nhu cầu tăng lên nếu bảo đảm chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, việc này không hề đơn giản bởi hơn một nửa nguyên liệu đầu vào phải nhập khẩu với chất lượng không cao, khó kiểm soát.
Tại một hội nghị về hạt điều mới được tổ chức tại Đà Nẵng, ông Ranjeet Wallia, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc điều hành Tập đoàn Chi Commodities Handlers (Canada) cho biết, nhu cầu tiêu thụ hạt điều của thế giới đang gia tăng trong vài năm gần đây, nhất là sau khi có nhiều bằng chứng khoa học được chứng minh về dinh dưỡng của hạt điều được công bố rộng rãi.
Theo ông Ranjeet Wallia, riêng tại thị trường Mỹ, từ năm 2010 đến nay, nhu cầu tiêu dùng hạt điều đã tăng trưởng 53% và trở thành loại hạt tiêu thụ nhiều thứ 2, chỉ sau hạnh nhân. Người dân ở đây thường dùng hạt điều để chế biến thức ăn nhẹ, kết hợp với sữa hoặc sử dụng như những loại ngũ cốc khác. Hiện thị trường này đã chiếm tới 32% tổng sản lượng điều xuất khẩu hằng năm của Việt Nam, đứng đầu danh sách những nước nhập khẩu điều Việt Nam.
Còn tại EU, ông Joseph Lang, Giám đốc điều hành của Công ty Kenkko House, một trong những doanh nghiệp kinh doanh hạt quả khô lớn nhất ở đây, cũng cho rằng, nhu cầu tiêu thụ điều ở EU dự kiến sẽ tiếp tục tăng cao trong thời gian tới, do người tiêu dùng ý thức hơn về giá trị dinh dưỡng của loại hạt dinh dưỡng này.
Tuy nhiên, nhu cầu tiêu thụ gia tăng luôn đi kèm với yêu cầu bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Người tiêu dùng châu Âu, theo một nghiên cứu về nhu cầu sử dụng hạt điều, thích sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên, không biến đổi gen; đồng thời muốn biết sản phẩm có chứa chất gì, được sản xuất như thế nào, bảo quản ra sao…
Một doanh nghiệp kinh doanh hạt khô ở thị trường Trung Quốc cũng cho biết sẽ tăng nhập khẩu hạt điều chất lượng cao từ Việt Nam để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính chung 10 tháng đầu năm 2016, các doanh nghiệp trong nước đã nhập khẩu 913.000 tấn điều thô, trị giá 1,4 tỷ USD, tăng 17% về lượng và 39% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. Dự báo cả năm nay, Việt Nam có thể nhập khẩu cán mức 1 triệu tấn nguyên liệu (nếu cả nhập tiểu ngạch từ Campuchia), chiếm tới 65% lượng điều chế biến trong nước.
Như vậy, dù được đánh giá là ngành hàng mang lại kim ngạch “tỷ đô”, tuy nhiên, với số lượng nhập khẩu như trên, ngành điều là một trong những ngành hàng có cung cầu nguyên liệu mất cân đối nghiêm trọng nhất. Hơn nữa, doanh nghiệp cũng không chủ động được chế biến xuất khẩu và khó kiểm soát được chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm.
Ông Bạch Khánh Nhựt, Phó Giám đốc Công ty Vinacontrol (đơn vị giám định điều thô nhiều nhất Việt Nam), cho biết năm nay điều thô từ châu Phi nhập về chất lượng giảm rõ rệt, hay bị ẩm, mốc, mọc mầm… nên tỷ lệ hàng hư hỏng cao. Điều này đã làm thiệt hại hàng chục triệu USD cho Việt Nam và quan trọng hơn là làm giảm uy tín thương hiệu nhân điều Việt Nam.
Còn theo ông Nguyễn Đức Thanh, Chủ tịch Hiệp hội điều Việt Nam (Vinacas), nếu như trước đây, vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm chỉ đặt ra đối với người sản xuất thì nay ngành điều Việt Nam đã đưa vào cả toàn chuỗi, bao gồm cả các cơ sở chế biến, bao bì đóng gói, lao động, máy móc thiết bị…
Mới đây, Vinacas đã ra mắt ban vận động thành lập Câu lạc bộ sản xuất sạch hơn, quy tụ các doanh nghiệp đi tiên phong trong việc sản xuất điều sạch ở Việt Nam, nhằm tạo phong trào chế biến đảm bảo an toàn thực phẩm.
Ngoài giải pháp trên, Vinacas cũng đề nghị các doanh nghiệp nên phân loại chất lượng theo dòng sản phẩm nhập khẩu và xuất xứ trong nước, từ đó có mức giá khác nhau. Bởi qua ghi nhận phản ánh từ các thị trường, các sản phẩm hạt điều có nguồn gốc xuất xứ từ Việt Nam có chất lượng khá tốt, hàm lượng dinh dưỡng cao và đều bảo đảm an toàn thực phẩm.
Ông Thành cũng cho biết, sắp tới, Vinacas sẽ làm việc với các đối tác ở châu Phi để yêu cầu và thống nhất biện pháp truy xuất nguồn gốc sản phẩm, tránh tình trạng nhập phải hàng kém chất lượng, ảnh hưởng đến uy tín chất lượng điều xuất khẩu của Việt Nam. (Báo Chính Phủ 14/11) đầu trang(
Thuế tự vệ tạm thời được Bộ Công Thương ban hành đối với sản phẩm phôi thép, thép dài và gần đây nhất là sản phẩm tôn mạ kẽm đã phần nào hỗ trợ các doanh nghiệp (DN) thép nội địa lội ngược dòng trong năm 2016.
Tuy nhiên, ngành thép sẽ đối mặt với nhiều thách thức khi lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu thép được thực thi theo cam kết của các hiệp định thương mại tự do (FTA).
Bà Trần Anh Đào, Phó Tổng giám đốc Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM  cho biết, trong 9 tháng đầu 2016, chỉ số nhóm ngành thép đã tăng đến 45%. Còn theo đánh giá mới nhất của Công ty CP Chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBanksc), các DN thép niêm yết có sự phục hồi rõ rệt với lợi nhuận sau thuế trong 9 tháng năm 2016 cao hơn hẳn so với cả năm 2015.
Xét về các chỉ số sinh lời, trong số các DN sản xuất thép thì Hòa Phát (HPG) là DN đứng đầu về tỷ suất lợi nhuận (đạt 4.656,4 tỷ đồng), tiếp đến là Hoa Sen (HSG) với 1.313,7 tỷ đồng, Ống thép Việt Đức (VGS) với 339,4 tỷ đồng. Còn với nhóm DN thương mại thép thì Tập đoàn Thép Tiến Lên (TLH) đạt lợi nhuận 339,4 tỷ đồng (năm ngoái lợi nhuận của DN này âm 173,1 tỷ đồng), kế tiếp là Công ty CP Đầu tư thương mại SMC đạt lợi nhuận 228,5 tỷ đồng (năm ngoái lợi nhuận âm 195,8 tỷ đồng). Ngoài ra, lợi nhuận của các DN thép niêm yết khác như Thép Nam Kim (NKG), Thép Pomina, Thép Việt Ý... cũng được đánh giá là khởi sắc so với năm trước.
Mặc dù vậy, theo TS. Nguyễn Văn Sưa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, ngành thép trong nước đang phát triển chưa đồng bộ. Năm 2015, Việt Nam sản xuất được 15 triệu tấn thành phẩm. Cùng với đó 4 ngành hàng là thép cuộn nóng (HRC), thép cuộn nguội (CRC), ống thép, tôn mạ, ngoài việc đáp ứng nhu cầu trong nước, đã có sản lượng xuất khẩu khá tốt. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải nhập khẩu 9 triệu tấn HRC để phục vụ cho sản xuất.
Như vậy, ngành thép Việt Nam vẫn cần tiếp tục đầu tư đồng bộ, đặc biệt là đầu tư vào những nguyên liệu và bán thành phẩm hiện chưa sản xuất được để phục vụ cho các khâu sản xuất tiếp theo trong chuỗi giá trị.
Theo phân tích của giới chuyên gia, trong quá trình tự do hóa thương mại, về nguyên tắc, các hàng rào thuế quan đều dần phải gỡ bỏ. Tuy nhiên, WTO cho phép các nhà sản xuất trong nước sử dụng các rào cản kỹ thuật và các biện pháp phòng vệ thương mại khác.
Với ngành thép cũng vậy, các quốc gia khác đã và đang thực hiện rất tốt những biện pháp tự vệ này, ngay cả những nền kinh tế thép lớn như Mỹ và các nước EU. Do đó, việc xem xét, đánh giá lại việc kéo dài thời gian áp thuế tự vệ là cần thiết khi thời hạn bảo hộ hết hiệu lực vào năm 2020.
Theo TS. Nguyễn Văn Sưa, Trung Quốc, quốc gia dẫn đầu về năng lực cạnh tranh ngành thép vẫn đang tạo ra nhiều khó khăn cho thép nội địa khi chi phí sản xuất của nước này ở mức thấp hơn so với các nước còn lại. Ngoài ra, chính sách  hoàn thuế VAT cho xuất khẩu thép, đặc biệt là đối với thép “hợp kim” chứa B, Cr cũng là một trong những nguyên nhân khiến thép Trung Quốc chiếm lợi thế về giá. Thực chất là thép Trung Quốc đang bán phá giá, chấp nhận lỗ.
Bên cạnh đó, những trung tâm kinh tế của thế giới như EU, Trung Quốc chưa thể hồi phục về thời kỳ hoàng kim và vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Theo cam kết trong các FTA, thuế nhập khẩu thép sẽ được cắt giảm theo lộ trình. Điều này buộc các công ty trong ngành thép nếu muốn tồn tại và phát triển phải nâng cao sức cạnh tranh. Mức độ cạnh tranh trong ngành thép giời gian tới sẽ rất quyết liệt khi quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hơn.
Còn theo ông Nguyễn Ngọc Anh, giá thép trong tương lai phụ thuộc nhiều vào GDP thế giới và giá dầu. Do đó, giá thép khó giảm sâu nhưng không có cơ sở tăng mạnh. Ngành thép là ngành có giá trị lớn, việc giá thép thay đổi 5 hay 10% cũng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh. Điều này buộc các doanh nghiệp phải xây dựng năng lực cạnh tranh cho riêng mình để có thể chống chịu và vượt lên những biến động của giá thép. (Đấu Thầu 14/11) đầu trang(

VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
Cách chức một người khi không còn đương chức chỉ là cách xử lý theo kiểu "sự đã rồi"...
Đó là quan điểm của TS Lê Hồng Sơn - nguyên Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản QPPL (Bộ Tư pháp).
Trong trường hợp ông Hoàng còn đương chức thì việc xử lý sẽ đơn giản hơn. Về mặt Đảng, ông Hoàng có thể sẽ bị kỷ luật nhắc nhở, cảnh cáo thậm chí là khai trừ ra khỏi Đảng nếu xác định đó là những sai phạm cực kỳ nghiêm trọng.
Về mặt chính quyền, ông Hoàng có thể bị miễn nhiệm chức danh Bộ trưởng đồng thời sẽ bị tước các quyền lợi vật chất, tinh thần khác gắn với chức danh mình đang nắm giữ sau khi đã về hưu.
Riêng trách nhiệm hình sự thì không loại trừ bất kỳ ai, kể cả người đó đã nghỉ hưu.
Soi vào trường hợp của ông Vũ Huy Hoàng, về mặt Đảng, Ban bí thư Trung ương Đảng cũng đã thống nhất quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với Ban cán sự đảng Bộ Công thương trong thời gian 2011 - 2016; thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức Bí thư Ban cán sự đảng Bộ Công thương trong thời gian 2011 - 2016 đối với ông Vũ Huy Hoàng.
Quốc hội khóa trước cũng đã miễn nhiệm chức vụ Bộ trưởng của ông này khi Chính phủ trước hết nhiệm kỳ.
Ban Bí thư cũng đề nghị Ban cán sự đảng Chính phủ phối hợp với Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo tiếp tục thực hiện quy trình xử lý kỷ luật hành chính đối với ông Vũ Huy Hoàng.
Như vậy, cái vướng ở đây là kỷ luật hành chính trong công vụ đối với một người đã không còn giữ chức vụ, không còn công tác trong tổ chức, cơ quan nhà nước thì phải xử lý thế nào?
Ông Sơn cho biết, Chính phủ cũng có thể thực hiện hình thức xử lý như bên Đảng. Chính phủ có thể đề nghị Quốc hội miễn nhiệm chức danh Bộ trưởng đồng thời sẽ bị tước các quyền lợi vật chất, tinh thần khác gắn với chức danh mình đang nắm giữ kể từ thời điểm ông Hoàng bắt đầu nghỉ hưu.
"Xử lý hành chính với một người đã nghỉ hưu chỉ là cách xử lý theo kiểu sự đã rồi. Ở các nước, hình thức xử lý trên cũng vẫn được thực hiện, tuy nhiên, các vụ việc thường được phát hiện sớm hơn nên xử lý dễ dàng, nhanh hơn và thường hậu quả để lại không quá nghiêm trọng như Việt Nam", vị chuyên gia Bộ Tư pháp cho biết.
"Đó chỉ là xử lý về mặt Đảng và Chính quyền. Trong trường hợp xác định những sai phạm liên quan có dấu hiệu vi phạm hình sự thì có thể chuyển hồ sơ cho các cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý. Kể cả phải truy tố hình sự ngay cả khi ông Hoàng đã nghỉ hưu", ông Sơn nói thêm.
Trước băn khoăn của Quốc hội về cái khó trong xử lý hành chính đối với ông Vũ Huy Hoàng, TS Nguyễn Ngọc Hiếu - ĐH Việt Đức cũng cho rằng, cách chức với một người không còn chức vụ là không cần thiết.
Tuy nhiên, những sai phạm liên quan tới công tác điều hành quản lý là việc khác và vẫn sẽ tiếp tục được xem xét trong suốt quá trình ông Hoàng đã đảm đương chức vụ. Bao gồm cả những hành vi tham nhũng, quản lý yếu kém gây thua lỗ, thất thoát... cũng sẽ được xem xét, xử lý nếu có. Trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật sẽ phải chuyển qua bên cơ quan điều tra.
"Đó hoàn toàn là việc khác, độc lập với quyết định xử lý hành chính mà các cơ quản lý công quyền phải làm", ông Hiếu nói.
PGS.TS Võ Kim Sơn cũng đồng quan điểm như vậy. Ông Sơn cho rằng, ông Hoàng đã bị kỷ luật về mặt Đảng, bị miễn nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Công thương khi Chính phủ hết nhiệm kỳ. Như vậy, về mặt thủ tục xử lý hành chính là đã đúng quy trình, quy định của pháp luật.
"Việc cần làm ngay là kiểm tra lại những sai phạm trước đây trong thời gian ông Hoàng còn đương chức. Nếu những sai phạm đó đáng xử lý hình sự thì phải xử lý hình sự như một công dân bình thường", ông Sơn nói rõ.
Theo ông Sơn, đây không phải trường hợp hiếm trên thế giới. Tại Hàn Quốc, Tổng thống sai phạm cũng vẫn bị triệu tập ra tòa dù đã nghỉ hưu. Hay tại Indonesia cũng vậy.  (Đất Việt 14/11) đầu trang(

MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
Tại phiên họp thường kỳ tháng 10 vừa qua, Chính phủ đã yêu cầu Bộ Y tế phối hợp chặt chẽ với Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam và các bộ, ngành liên quan đẩy mạnh thực hiện lộ trình bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân, xử lý nghiêm hành vi lạm dụng, trục lợi BHYT trong khám, chữa bệnh...
Theo báo cáo của BHXH Việt Nam, trong chín tháng đầu năm, cả nước đã thực hiện khám, chữa bệnh (KCB) BHYT cho khoảng 104,7 triệu lượt người, tăng hơn 10,6 triệu lượt người (tương đương 11,4%) so với cùng kỳ năm trước.
Nhờ sự nỗ lực của ngành BHXH trong công tác kiểm soát chi phí, cũng như sự vào cuộc của các cơ quan liên quan, tổng chi phí KCB quý III đã phần nào được kiểm soát, ước tăng khoảng 6% so với quý II. Lũy kế chi KCB chín tháng đầu năm khoảng 49.300 tỷ đồng, tăng 45% so với cùng kỳ năm trước, vẫn nằm trong phạm vi dự toán được giao.
Cũng trong quý III, thực hiện lộ trình áp giá dịch vụ y tế (DVYT) có lương theo quy định của Thông tư 37 liên bộ Y tế - Tài chính, từ ngày 12-8-2016 các cơ sở y tế thuộc 16 tỉnh có tỷ lệ dân số tham gia BHYT hơn 85%, đã bắt đầu thực hiện áp dụng giá DVYT có cơ cấu tiền lương, gồm: Lào Cai, Thái Nguyên, Điện Biên, Hà Giang, Bắc Cạn, Sơn La, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lai Châu, Đà Nẵng, Sóc Trăng, Hòa Bình, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Yên Bái, Lạng Sơn.
Do tác động của việc áp dụng giá DVYT có lương, cho nên chi phí KCB của một số tỉnh tăng cao. Chín tháng đầu năm có 38 địa phương bội chi quỹ với số tiền gần 6.000 tỷ đồng. Ước tính có sáu tỉnh, thành phố có số bội chi hơn 200 tỷ đồng, gồm: Cà Mau, Đà Nẵng, Nghệ An, Thanh Hóa, Quảng Nam, Thái Bình. Trong đó Nghệ An, Thanh Hóa vẫn là hai địa phương dự kiến có số bội chi cao nhất.
Tuy chi phí KCB trong tháng 8, tháng 9 vừa qua tại một số tỉnh đã được kiểm soát, nhưng so chín tháng đầu năm với cùng kỳ năm trước thì nhiều tỉnh vẫn có tỷ lệ gia tăng số chi KCB tại tỉnh khá cao. Có tới 14 tỉnh có số chi KCB trong chín tháng đầu năm 2016 tăng cao hơn 155% so với cùng kỳ năm trước. Trong số đó có Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang là các tỉnh đã áp dụng giá viện phí có lương trong quý III.
Theo Phó Trưởng ban Thực hiện chính sách BHYT Lê Văn Phúc, dự kiến cả năm 2016 số chi KCB BHYT vẫn nằm trong phạm vi dự toán được giao, với khoảng 70.577 tỷ đồng. Tuy nhiên, sẽ có khoảng 41 đơn vị bội chi quỹ với số tiền hơn 8.000 tỷ đồng.
Đánh giá về việc chấn chỉnh công tác giám định BHYT, Phó Trưởng ban Lê Văn Phúc cho biết: Trước tình trạng bội chi quỹ KCB BHYT và lạm dụng, trục lợi quỹ KCB tại một số địa phương trong sáu tháng đầu năm, BHXH Việt Nam đã có công văn chỉ đạo BHXH các địa phương, chỉ trong hơn hai tháng thực hiện, BHXH các tỉnh đã tích cực triển khai các biện pháp nhằm kiểm soát chi phí KCB BHYT, hạn chế lạm dụng, trục lợi quỹ KCB BHYT tại các cơ sở KCB.
BHXH ở một số tỉnh, thành phố đã tổng hợp số liệu, phân tích nguyên nhân gia tăng chi phí, báo cáo Tỉnh ủy, UBND tỉnh, thành phố để kiến nghị các giải pháp kiểm soát chi phí. UBND các tỉnh, thành phố cũng đã ban hành những văn bản chỉ đạo Sở Y tế, BHXH tỉnh, UBND các quận, huyện trực thuộc về việc tăng cường quản lý, sử dụng quỹ KCB BHYT. Đồng thời, BHXH các tỉnh phối hợp Sở Y tế và các cơ quan chức năng kiểm tra, rà soát, thẩm định lại chi phí KCB BHYT tại những cơ sở KCB có gia tăng chi phí cao, qua kiểm tra đã từ chối thanh toán hàng chục tỷ đồng chi phí KCB không đúng quy định.
Bên cạnh đó, BHXH các tỉnh đã triển khai các biện pháp tăng cường kiểm soát chi phí KCB, như: Bố trí sắp xếp lại giám định viên thường trực tại các cơ sở KCB để kiểm soát đầu vào, kiểm tra người bệnh có nằm viện hay không; rà soát, kiểm tra hồ sơ, đề án của những máy móc, thiết bị xã hội hóa, từ chối thanh toán chi phí những dịch vụ kỹ thuật được thực hiện bằng máy móc lắp đặt không có đề án theo quy định tại Thông tư số 15/2007/TT-BYT; tăng cường kiểm tra đột xuất trong giờ, ngoài giờ, ngày nghỉ tại các cơ sở KCB; phối hợp liên ngành kiểm tra, thẩm định chi phí KCB BHYT...
Tích cực phối hợp với cơ sở KCB trong việc liên thông, kết nối dữ liệu KCB vào phần mềm giám định BHYT, thông báo tạm thời chưa thanh toán chi phí KCB BHYT nếu cơ sở KCB không kết nối dữ liệu...
Theo Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Phạm Lương Sơn, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành vào cuối năm 2016 là tiếp tục phát triển đối tượng tham gia BHYT, phấn đấu thực hiện vượt chỉ tiêu bao phủ BHYT được Chính phủ giao tại Quyết định số 1167/QĐ-TTg.
BHXH Việt Nam đang tập trung triển khai một số giải pháp chính. Trong đó, phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế và các bộ, ngành liên quan và cấp ủy đảng, chính quyền địa phương để chủ động triển khai có hiệu quả Luật BHYT. Triển khai mạnh mẽ việc thực hiện cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý, trong đó tập trung xây dựng và hoàn thiện các phần mềm nghiệp vụ, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung, hoàn thành việc lập danh sách hộ gia đình tham gia BHYT và vận hành tốt Hệ thống thông tin giám định, thanh toán chi phí KCB BHYT.
Đồng thời, bảo đảm đầy đủ, kịp thời quyền lợi cho người có thẻ BHYT; thực hiện các biện pháp nhằm kiểm soát việc gia tăng chi phí bất thường, bất hợp lý, ngăn ngừa hành vi lạm dụng, trục lợi quỹ BHYT, bảo đảm chi tiêu trong dự toán Chính phủ đã giao...
BHXH Việt Nam cũng đề xuất một số kiến nghị với Chính phủ chỉ đạo các tỉnh, thành phố cân đối ngân sách thực hiện hỗ trợ 100% mức đóng cho đối tượng cận nghèo tham gia; đối với hộ gia đình nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có mức sống trung bình, hỗ trợ tối thiểu 50% mức đóng BHYT; chỉ đạo các tỉnh, thành phố tăng cường quản lý quỹ BHYT, bảo đảm chi trong nguồn kinh phí KCB được giao; trường hợp sử dụng vượt quá nguồn kinh phí này, ngân sách tỉnh phải cân đối để bù đắp khoản thiếu hụt.
Đề nghị Bộ Y tế phối hợp Bộ Tài chính sớm ban hành quy định về nâng mức hỗ trợ đóng BHYT cho hộ cận nghèo; hộ nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; học sinh, sinh viên và nhóm tham gia BHYT theo hộ gia đình, theo nguyên tắc giảm dần việc cấp kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước cho các cơ sở KCB sang hỗ trợ mua thẻ BHYT khi thực hiện cơ chế tính đúng, tính đủ giá dịch vụ KCB... (Nhân Dân 14/11) đầu trang(

BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói “Phải nhốt quyền lực vào trong lồng cơ chế, pháp luật”, có lẽ chúng ta đều hiểu việc kiểm soát quyền lực là thiết yếu trong chống tham nhũng, một vấn đề nhức nhối hiện nay.
Vậy quyền lực là gì? Vì sao đã hàng ngàn đời nay từ bậc vua chúa, tổng thống, thủ tướng, các ông chủ những tập đoàn giàu có, đến các ông bố, bà mẹ, những người lao động bình thường đều mong có một chút quyền, một chút thôi, hay quyền lực vô biên?
Đối với chúng ta quyền lực có ý nghĩa gì? Tại sao ai cũng tìm mọi cách để đạt cho được quyền lực? Cho dù không để ý… “ Chúng ta luôn cố đạt cho được một địa vị có quyền lực bởi vì ta tin rằng quyền lực giúp ta làm chủ được cuộc sống, đem lại cho ta tự do và hạnh phúc - những gì ta mong muốn nhất” - mở đầu cuốn sách “Quyền lực đích thực” tác giả Thích Nhất Hạnh đã viết như vậy.
Muốn có quyền lực, muốn được danh tiếng hay giàu sang không phải là điều xấu. Nhưng phải nhớ rằng, chúng ta theo đuổi quyền lực hay danh tiếng, tiền tài là để được hạnh phúc. Nếu giàu có và quyền lực không hạnh phúc cho chính bản thân mình và mang lại bất hạnh cho nhiều người, cho đất nước, thì giàu có và quyền thế để làm gì?
Triết gia Jean Jacques Rouseau đã viết: Người mạnh nhất không bao giờ đủ mạnh để mãi mãi ở vị trí lãnh đạo, trừ khi người ấy chuyển đổi sức mạnh thành lẽ phải, và chuyển đổi sự khuất phục thành bổn phận.
Ấy vậy, nhưng ở nước ta hiện nay đang có hiện tượng lạm dụng quyền lực để mưu cầu lợi ích riêng cho bản thân, gia đình, bạn bè, hay cho những nhóm lợi ích khác nhau. Sự lạm dụng quyền lực này nhiều lúc đã bất chấp tất cả, dẫn đến “tự tung tự tác” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nói. Làm sao để kiểm soát quyền lực có hiệu quả, đó là vấn đề quan trọng hiện nay.
Thực ra, trên thế giới đã có khái niệm về quyền lực của những người không có quyền lực, đó là quyền lực của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”, ấy là nói về quyền lực của nhân dân, sức mạnh của nhân dân.
Nhân dân chính là “tai mắt” của mọi xã hội. Chỉ có nhân dân mới biết được người cán bộ từ khu phố, từ quận, phường… rõ nhất. Nhưng, người dân có biết cũng không làm gì được, nếu không có những cơ chế thực sự có hiệu quả để “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” như khẩu hiệu mà chúng ta đã nêu.
Để cho những người dân bình thường, không có quyền lực, thực hiện được quyền lực của mình, chúng ta chỉ có thể thực hành mọi điều một cách dân chủ, công khai, minh bạch và thượng tôn pháp luật. (Tiền Phong 14/11) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Thẩm phán Charles Duchaine - Chánh án Tòa án TP Marseille (tỉnh Bouches-du-Rhône, vùng Provence-Alpes-Côte d'Azur, Đông Nam nước Pháp), vừa được bổ nhiệm làm người đứng đầu Cơ quan Chống tham nhũng Pháp (được thành lập theo Luật Chống tham nhũng mới (Luật Sapin II) của Pháp). Cơ quan này sẽ chính thức đi vào hoạt động từ đầu năm 2017, thay thế Cơ quan Phòng ngừa tham nhũng Pháp (SCPC) hiện nay.
Theo quy định của Luật Sapin II, cơ quan chống tham nhũng mới không chỉ chuyên trách chống tham nhũng ở các cấp chính quyền, ở mọi ngành nghề, lĩnh vực kinh tế, xã hội, mà còn kiêm luôn chức năng giám sát đối với tất cả các doanh nghiệp có từ 500 nhân viên trở lên hoặc có doanh thu từ 100 triệu euro trở lên.
Michel Sapin, Bộ trưởng Kinh tế và Tài chính Pháp, tác giả của Luật Chống tham nhũng mới của Pháp cho biết: "Charles Duchaine là một thẩm phán rất có uy tín và rất giỏi, một người có phẩm chất hoàn hảo. Charles Duchaine nổi tiếng bởi những lập luận sắc bén của mình, bởi sự nghiêm khắc và nghiêm minh theo pháp luật. Ông ấy là người hiểu rất rõ Luật Chống tham nhũng mới của Pháp. Không ai khác ngoài ông ấy xứng đáng với nhiệm vụ mới mà Chính phủ đang kỳ vọng trong cuộc chiến chống tham nhũng".
Là một thẩm phán lão luyện trong lĩnh vực tài chính, ông Charles Duchaine đã khiến giới tư pháp Pháp nể phục khi "dám" truy tố Jean-Noel Guérini - cựu Thượng nghị sỹ Đảng Xã hội, cựu Chủ tịch Hội đồng tỉnh Bouches du Rhône vì cáo buộc dính líu tới tham nhũng. Hiện thẩm phán Charles Duchaine đang kiêm nhiệm chức danh Chủ tịch Ủy ban Giám sát và Quản lý tài sản bị tịch thu (AGRASC). (Thanh Tra 14/11) đầu trang(./.