Xem ngày trước
BẢN TIN TỔNG HỢP
Xem ngày kế tiếp

Ngày 13 tháng 02 năm 2017
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
QUẢN LÝ
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
KINH TẾ
VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
NHÌN RA THẾ GIỚI

CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
Thông tư số 42/2016/TT-BLĐTBXH do Bộ LĐ-TB&XH ban hành có hiệu lực từ hôm 11/2, thay đổi mức tiền lương và thu nhập đóng BHXH.
Thông tư 42/2016/TT - BLĐTBXH quy định đối tượng điều chỉnh tiền lương đã đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Khoản 2 Điều 10 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP. Cụ thể: Người lao động đang tham gia BHXH hoặc đang bảo lưu thời gian tham gia BHXH, có thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định, hưởng lương hưu, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, BHXH một lần hoặc bị chết mà thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần trong thời gian từ ngày 1/1/2017 đến ngày 31/12/2017.
Đối với người lao động vừa có thời gian đóng BHXH thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương tháng đã đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định được điều chỉnh như trên.
Đối tượng và mức điều chỉnh thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội. Thông tư 42/2016/TT - BLĐTBXH còn quy định đối tượng điều chỉnh thu nhập tháng đã đóng BHXH theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định 134/2015/NĐ-CP, cụ thể: Người tham gia bảo BHXH tự nguyện hưởng lương hưu, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, BHXH một lần hoặc bị chết mà thân nhân được hưởng trợ cấp tuất một lần trong thời gian từ ngày 01/01/2017 đến ngày 31/12/2017.
Thông tư số 42/2016/TT-BLĐTBXH cũng quy định, đối với người lao động vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng BHXH tự nguyện thì thu nhập tháng đã đóng BHXH tự nguyện được điều chỉnh theo quy định như trên.
Mức bình quân thu nhập tháng đã đóng BHXH tự nguyện hoặc mức bình quân tiền lương và thu nhập tháng đã đóng BHXH làm căn cứ tính hưởng lương hưu, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, BHXH một lần và trợ cấp tuất một lần được tính theo quy định tại Khoản 4 Điều 11 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP và Khoản 4 Điều 5 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP . (Dân Trí 11/2) đầu trang(
Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Theo đó, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng được thực hiện theo thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, phù hợp với quy định tại Thông tư này và các quy định của pháp luật có liên quan bao gồm cả pháp luật về bảo vệ môi trường.
Tổ chức tín dụng xem xét, quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau:
Khách hàng là pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật. Khách hàng là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.
Nhu cầu vay vốn để sử dụng vào mục đích hợp pháp. Có phương án sử dụng vốn khả thi. Có khả năng tài chính để trả nợ.
Trường hợp khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng theo lãi suất cho vay quy định do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định trong từng thời kỳ nhằm đáp ứng một số nhu cầu vốn, thì khách hàng được tổ chức tín dụng đánh giá là có tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh.
Thông tư nêu rõ, tổ chức tín dụng không được cho vay đối với các nhu cầu vốn:
1. Để thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh thuộc ngành, nghề mà pháp luật cấm đầu tư kinh doanh.
2. Để thanh toán các chi phí, đáp ứng các nhu cầu tài chính của các giao dịch, hành vi mà pháp luật cấm.
3. Để mua, sử dụng các hàng hóa, dịch vụ thuộc ngành, nghề mà pháp luật cấm đầu tư kinh doanh.
4. Để mua vàng miếng.
5. Để trả nợ khoản nợ vay tại chính tổ chức tín dụng cho vay trừ trường hợp cho vay để thanh toán lãi tiền vay phát sinh trong quá trình thi công xây dựng công trình, mà chi phí lãi tiền vay được tính trong dự toán xây dựng công trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật.
6. Để trả nợ khoản nợ vay tại tổ chức tín dụng khác và trả nợ khoản vay nước ngoài, trừ trường hợp cho vay để trả nợ trước hạn khoản vay đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây: a- Là khoản vay phục vụ hoạt động kinh doanh; b- Thời hạn cho vay không vượt quá thời hạn cho vay còn lại của khoản vay cũ; c- Là khoản vay chưa thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ.
Tổ chức tín dụng xem xét quyết định cho khách hàng vay theo các loại cho vay như sau: Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 01 năm. Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 01 năm và tối đa 05 năm. Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 05 năm.
Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về việc cho vay bằng đồng Việt Nam hoặc bằng ngoại tệ phù hợp với quy định tại Thông tư này và quy định của pháp luật có liên quan. Đồng tiền trả nợ là đồng tiền cho vay của khoản vay.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/3/ 2017. (Báo Chính Phủ 10/2) đầu trang(
Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 348/2016/TT-BTC quy định quản lý tài chính thực hiện “Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2025”.
Kinh phí thực hiện Chương trình được bảo đảm từ các nguồn: Ngân sách sự nghiệp khoa học và công nghệ được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm; nguồn kinh phí khác, gồm kinh phí của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tham gia thực hiện các dự án thuộc Chương trình và kinh phí huy động từ các nguồn hợp pháp khác.
Ngân sách trung ương hỗ trợ có mục tiêu cho ngân sách địa phương để thực hiện các dự án thuộc Chương trình theo nguyên tắc: Đối với các địa phương khó khăn, chưa tự cân đối được ngân sách, ngân sách trung ương hỗ trợ tối đa không quá 50% mức kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ để thực hiện dự án. Đối với các địa phương còn lại bố trí 100% từ nguồn ngân sách địa phương để thực hiện dự án.
Trong trường hợp Thủ tướng Chính phủ có quy định mới về tỷ lệ hỗ trợ có mục tiêu của ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương, mức hỗ trợ quy định tại Thông tư sẽ được thực hiện theo quy định mới của Thủ tướng Chính phủ.
Các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp sử dụng kinh phí hỗ trợ từ nguồn ngân sách nhà nước để thực hiện Chương trình đảm bảo đúng mục đích, đúng quy định về tiêu chuẩn, định mức, chế độ chi tiêu hiện hành và chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Về nội dung chi và định mức chi ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình, Thông tư nêu rõ: Chi công lao động thực hiện dự án, bao gồm công lao động của cán bộ hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao công nghệ; công lao động của chủ nhiệm dự án và cán bộ kỹ thuật tiếp nhận, triển khai công nghệ; công lao động phổ thông; công lao động của cán bộ khoa học trẻ, cán bộ tình nguyện đến làm việc thường xuyên để hướng dẫn, chuyển giao công nghệ theo quy định.
Mức chi công lao động thực hiện dự án được vận dụng theo quy định tại Thông tư liên tịch 55/2015/TTLT-BTC-BKHCN của Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn định mức xây dựng, phân bổ dự toán và quyết toán kinh phí đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước.
Chi đào tạo cán bộ kỹ thuật cho địa phương, tập huấn kỹ thuật cho nông dân, công nhân vận hành máy móc thiết bị và các cộng tác viên, tình nguyện viên trực tiếp ở địa phương: Thực hiện theo quy định tại Thông tư 139/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức; Thông tư liên tịch 04/2014/TTLT-BKHĐT-BTC của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính hướng dẫn trợ giúp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa...
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/2/2017. (Báo Chính Phủ 10/2) đầu trang(
Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 341/2016/TT-BTC quy định tiêu chuẩn, định mức, chế độ quản lý, sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng của cơ quan Việt Nam ở nước ngoài.
Về tiêu chuẩn, định mức máy móc, thiết bị chuyên dùng của Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài, Thông tư nêu rõ: Việc xác định giá để phân loại nhóm máy móc, thiết bị chuyên dùng làm căn cứ trình cấp có thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn, định mức máy móc, thiết bị chuyên dùng của Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài theo quy định là giá phổ biến trên thị trường (giá đã được các nhà cung cấp niêm yết, thông báo tại nước sở tại hoặc từ thông tin chính thống do các nhà cung cấp công bố theo pháp luật của nước sở tại được khai thác qua mạng Internet) hoặc tham khảo giá mua của các kỳ trước.
Đối với máy móc, thiết bị chuyên dùng có giá từ 500 triệu đồng trở lên/01 đơn vị tài sản: Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (đối với Cơ quan đại diện); Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương (đối với Cơ quan khác của Việt Nam ở nước ngoài) ban hành tiêu chuẩn, định mức máy móc, thiết bị chuyên dùng (số lượng, chủng loại) trang bị cho Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài thuộc phạm vi quản lý sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Bộ Tài chính về tiêu chuẩn, định mức máy móc, thiết bị chuyên dùng (số lượng, chủng loại); đồng thời, gửi Bộ Tài chính để phối hợp quản lý.
Đối với máy móc, thiết bị chuyên dùng có giá dưới 500 triệu đồng/01 đơn vị tài sản: Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (đối với Cơ quan đại diện); Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương (đối với Cơ quan khác của Việt Nam ở nước ngoài) ban hành tiêu chuẩn, định mức máy móc, thiết bị chuyên dùng (số lượng, chủng loại) trang bị cho Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài thuộc phạm vi quản lý.
Theo Thông tư, việc khoán kinh phí sử dụng máy móc, thiết bị chỉ áp dụng đối với máy móc, thiết bị văn phòng phổ biến quy định và trên cơ sở việc đăng ký tự nguyện khoán của cán bộ, công chức, viên chức của Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài.
Việc khoán kinh phí sử dụng máy móc, thiết bị văn phòng phổ biến áp dụng trong các trường hợp: Các chức danh có tiêu chuẩn, định mức nhưng chưa được trang bị máy móc, thiết bị theo tiêu chuẩn, định mức; máy móc, thiết bị văn phòng phổ biến hiện có đã hư hỏng, không còn sử dụng được hoặc không đảm bảo an toàn khi sử dụng đủ điều kiện thanh lý.
Căn cứ loại máy móc, thiết bị văn phòng phổ biến và thực tế điều kiện làm việc của cán bộ, công chức, viên chức tại Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương có Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định khoán kinh phí sử dụng máy móc, thiết bị văn phòng phổ biến cho các chức danh của Cơ quan Việt Nam ở nước ngoài đảm bảo không làm ảnh hưởng đến thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, đảm bảo an ninh bảo mật thông tin và việc khoán kinh phí đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm hơn việc trang bị.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12/02/2017. (Báo Chính Phủ 10/2) đầu trang(

QUẢN LÝ
Bộ LĐ-TB&XH yêu cầu cán bộ của ngành không đi lễ hội, du xuân trong giờ hành chính, nếu vi phạm lãnh đạo đơn vị phải chịu trách nhiệm trước bộ.Bộ LĐ-TB&XH vừa có công văn yêu cầu các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ LĐ-TB&XH quán triệt thực hiện nhiệm vụ sau Tết Nguyên đán.
Theo đó, ngày 2-2-2017, Bộ đã có Công văn số 295/LĐTBXH-VP chỉ đạo các đơn vị triển khai thực hiện nhiệm vụ trọng tâm sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Đinh Dậu năm 2017. Tuy nhiên, để thực hiện nghiêm túc chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và chỉ đạo của bộ trưởng, Bộ yêu cầu thủ trưởng các đơn vị nghiêm túc quán triệt đầy đủ nội dung Công văn số 295/LĐTBXH-VP nêu trên.
Đặc biệt các đơn vị chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính và thời giờ làm việc, không đi lễ hội, du xuân trong giờ hành chính, không sử dụng xe công đi lễ hội, du xuân; không tổ chức liên hoan sa đà, lãng phí làm ảnh hưởng đến hiệu quả công việc.
Trong trường hợp đơn vị có người vi phạm, thủ trưởng đơn vị phải chịu trách nhiệm trước lãnh đạo Bộ. (Pháp Luật TP.HCM 10/2)đầu trang(
Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ vừa ký công văn gửi các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương kiểm điểm nghiêm túc việc không thực hiện báo cáo giám sát tài chính 6 tháng đầu năm 2016.
Trước đó, vào ngày 6/1, Bộ Tài chính đã gửi Công văn số 211/BTC-TCDN báo cáo Thủ tướng Chính phủ về về việc các bộ, địa phương thực hiện báo cáo giám sát tài chính 6 tháng đầu năm 2016.
Theo Bộ Tài chính, Khoản 1.k Điều 12 Nghị định số 87/2015/NĐ-CP về giám sát đầu tư vốn Nhà nước vào doanh nghiệp quy định cơ quan đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm lập Báo cáo kết quả giám sát tài chính định kỳ 6 tháng đối với doanh nghiệp Nhà nước gửi Bộ Tài chính trước ngày 31/8 của năm báo cáo (kèm theo báo cáo giám sát tài chính của từng doanh nghiệp).
Khoản 1.b Điều 35 Nghị định số 87 quy định bộ quản lý ngành tổng hợp kết quả giám sát 6 tháng đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ và gửi Bộ Tài chính trước ngày 31/7 của năm báo cáo; UBNDN cấp tỉnh tổng hợp kết quả giám sát tài chính sáu 6 tháng và gửi về Bộ Tài chính trước ngày 31/7 của năm báo cáo.
Ngày 3/11/2016, Bộ Tài chính đã có công văn số 15700/BTC-TCDN gửi các cơ quan đại diện chủ sở hữu (bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) về việc đôn đốc thực hiện nộp báo cáo giám sát tài chính 6 tháng đầu năm 2016 và hằng năm theo các quy định tại Nghị định số 87/2015/NĐ-CP và Thông tư số 200/2015/TT-BTC.
Tại công văn này, Bộ Tài chính đề nghị các cơ quan đại diện chủ sở hữu gửi Báo cáo kết quả giám sát tài chính 6 tháng đầu năm 2016 về Bộ Tài chính trước ngày 25/11/2016. Tuy nhiên, đến ngày 31/12/2016, vẫn còn 31 cơ quan đại diện chủ sở hữu chưa gửi Báo cáo kết quả giám sát tài chính 6 tháng đầu năm 2016 về Bộ Tài chính (trong đó có 9 bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và 22/63 địa phương chưa gửi báo cáo kết quả giám sát tài chính 6 tháng đầu năm 2016 về Bộ Tài chính).
Đối với các bộ, địa phương đã nộp báo cáo thì hầu hết đều lập, gửi tới Bộ Tài chính chậm so với quy định nêu trên và chậm so với cả công văn đôn đốc mà Bộ Tài chính phát đi vào ngày 3/11/2016. Chỉ có 10 đơn vị lập báo cáo trước ngày 31/8/2016.
Qua rà soát các cơ quan đã nộp, Bộ Tài chính cho biết một số đơn vị thực hiện báo cáo kết quả giám sát tài chính chưa đầy đủ như: Có lập biểu kết quả giám sát tài chính theo Biểu số 03 tại Thông tư số 200/2015/TT-BTC nhưng không nhận xét đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp theo các nội dung quy định tại Điều 9 Nghị định số 87/2015/NĐ-CP, hoặc không gửi kèm theo báo cáo giám sát của từng doanh nghiệp nhà nước; không đưa ra ý kiến, kết luận "An toàn" hay "Có dấu hiệu mất an toàn về tài chính"; chưa có đầy đủ số liệu của doanh nghiệp…
Trước tình trạng trên, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ vừa ký Công văn số 204/TTg-ĐMDN ngày 9/2/2017 về việc báo cáo giám sát tài chính 6 tháng đầu năm 2016 yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương kiểm điểm nghiêm túc việc không thực hiện báo cáo, báo cáo chậm, báo cáo không đúng mẫu quy định báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 2/2017.
Các bộ, địa phương gửi báo cáo về Bộ Tài chính theo đúng quy định; giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính của doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước và các văn bản pháp luật liên quan để tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong tháng 2/2017.
Các cơ quan trên xem xét, xử lý trách nhiệm đối với người quản lý doanh nghiệp, người đại diện phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp không nộp, nộp không đầy đủ, không đúng hạn các báo cáo và báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 28/2/2017; xử lý người đứng đầu doanh nghiệp để thua lỗ theo quy định.
Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ giao Bộ Tài chính có trách nhiệm công khai các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố không thực hiện báo cáo giám sát theo quy định trên các phương tiện thông tin đại chúng; đề xuất Thủ tướng Chính phủ xử lý trách nhiệm đối với cơ quan đại diện chủ sở hữu không thực hiện đúng quy định tại Nghị định số 87/2015/NĐ-CP.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính gửi Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã tổng hợp kết quả sản xuất kinh doanh 6 tháng đầu năm 2016 của 425 doanh nghiệp trên cơ sở các báo cáo kết quả giám sát tài chính do các cơ quan đại diện chủ sở hữu gửi Bộ Tài chính và báo cáo giám sát do các doanh nghiệp gửi Bộ Tài chính (đối với các trường hợp cơ quan đại diện chủ sở hữu chưa gửi Báo cáo kết quả giám sát tài chính).
Cụ thể, về kết quả kinh doanh: Tổng doanh thu là 431.417.950 triệu đồng (trong đó: Khối bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ là 358.608.484 triệu đồng, chiếm 83,1%; khối địa phương là 72.809.466 triệu đồng, chiếm 16,9%).
Lợi nhuận thực hiện là 37.461.697 triệu đồng (trong đó: Khối bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ là 29.668.924 triệu đồng, chiếm 79,2%; khối địa phương là 7.792.773 triệu đồng, chiếm 20,8%); tỉ suất lợi nhuận thực hiện trên tổng doanh thu là 8,68%.
Nộp ngân sách Nhà nước là 56.296.565 triệu đồng (trong đó: Khối bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ là 37.590.742 triệu đồng, chiếm 66,8%; khối địa phương là 18.705.823 triệu đồng, chiếm 33,2%).
Trong tổng số 425 doanh nghiệp có 22 doanh nghiệp được cơ quan đại diện chủ sở hữu đánh giá Có dấu hiệu mất an toàn về tài chính, chiếm tỉ lệ 5,1% (trong đó: Có 10/86 doanh nghiệp thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ mất an toàn về tài chính, chiếm tỉ lệ 11,6%; có 12/339 doanh nghiệp thuộc địa phương mất an toàn về tài chính, chiếm tỉ lệ 3,5%). (Báo Chính Phủ 10/2) đầu trang(
Ngày 9/2, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia ký quyết định công nhận thị xã Từ Sơn và huyện Tiên Du (tỉnh Bắc Ninh) đạt chuẩn huyện nông thôn mới giai đoạn 2016-2020.
Theo đó, tại Quyết định số 183/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã công nhận thị xã Từ Sơn đạt chuẩn huyện nông thôn mới (NTM) và Quyết định số 184/QĐ-TTg là dành cho huyện Tiên Du hoàn thành tất cả các tiêu chí, tiêu chuẩn để trở thành huyện NTM. Đây là 2 đơn vị cấp huyện đầu tiên của tỉnh Bắc Ninh đạt chuẩn NTM. Còn cả nước tới nay đã có trên 30 huyện đạt chuẩn NTM.
Tính tới nay, toàn huyện Tiên Du có 13/13 xã đạt chuẩn NTM, huyện hoàn thành 9/9 chỉ tiêu xây dựng NTM cấp huyện. Tại các xã được công nhận đạt NTM, kinh tế-xã hội phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, thu nhập bình quân đầu người đạt 42,2 triệu đồng/người/năm. An ninh chính trị-trật tự an toàn xã hội được giữ vững, công tác xây dựng hệ thống chính trị được quan tâm, củng cố, nhân dân phấn khởi, đoàn kết thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của địa phương.
Cơ cấu kinh tế huyện Tiên Du tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, tăng tỉ trọng ngành công nghiệp XDCB, thương mại-dịch vụ, giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp, Cụ thể năm 2015: Công nghiệp-XDCB 75,3%, thương mại-dịch vụ 16,6%, nông-lâm nghiệp thủy sản 8,1%.
Đối với thị xã Từ Sơn, đến cuối năm 2016, đơn vị cấp huyện này có 5/5 xã đạt chuẩn NTM. Kết quả lấy ý kiến sự hài lòng của người dân về 15 lĩnh vực liên quan đến kết quả xây dựng NTM tại 5 xã khi các xã đã được công nhận đạt chuẩn NTM đều đạt trên 90%. Đến nay, Thị xã đã hoàn thành 9/9 chỉ tiêu xây dựng NTM cấp huyện.
Bình quân các xã đạt chuẩn nông thôn mới của 2 huyện là gần 17 tiêu chí/xã.
Còn đối với toàn tỉnh Bắc Ninh, đến nay số tiêu chí xây dựng NTM trung bình của các xã trên địa bàn đã đạt là 16,16 tiêu chí/xã, tăng 0,45% tiêu chí so với năm 2015, cao hơn vùng đồng bằng sông Hồng 0,76 tiêu chí. Trong đó, có 35 xã đạt chuẩn NTM, bằng 36,1% tổng số xã, cao hơn vùng đồng bằng sông Hồng 12,6%; 30 xã đạt từ 15 đến 18 tiêu chí; 32 xã đạt từ 11 đến 14 tiêu chí và không còn xã nào dưới 11 tiêu chí.
Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt 31,6 triệu đồng; 100% số xã đều đạt chuẩn y tế giai đoạn I; 100% phòng học các cấp được kiên cố hóa; tỉ lệ trường chuẩn quốc gia đạt 80%. Cùng với đó, 95,8% số hộ ở nông thôn có các công trình vệ sinh; tỉ lệ cư dân nông thôn trong tỉnh được sử dụng nước sạch, nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 99%. (Báo Chính Phủ 10/2) đầu trang(
Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ - Trưởng ban Ban Chỉ đạo xử lý các tồn tại, yếu kém của một số dự án và doanh nghiệp chậm tiến độ, kém hiệu quả thuộc ngành công thương vừa ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo này.
Quy chế này quy định về trách nhiệm, quyền hạn; phương thức làm việc của Ban Chỉ đạo xử lý các tồn tại, yếu kém của một số dự án và doanh nghiệp chậm tiến độ, kém hiệu quả thuộc ngành công thương.
Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ chỉ đạo Bộ Công Thương, các Tập đoàn, Tổng công ty và các đơn vị liên quan thực hiện các yêu cầu cụ thể và các giải pháp đã được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tại các văn bản liên quan để xử lý các vướng mắc, khó khăn; đánh giá năng lực sản xuất của các doanh nghiệp trong nước, cũng như tình hình nhập khẩu, tiêu thụ sản phẩm có liên quan đến từng dự án để đề xuất những giải pháp cụ thể cho từng dự án, nghiên cứu vận dụng các qui định linh hoạt trong các Hiệp định thương mại mà Việt Nam tham gia để bảo vệ tốt nhất thị trường trong nước, phù hợp với các cam kết quốc tế; rà soát và đổi mới công tác quản trị doanh nghiệp, kiểm soát chi phí sản xuất giảm giá thành sản phẩm; đàm phán với các đối tác về phương án hợp tác đầu tư và chuyển nhượng dự án.
Bên cạnh đó, tiếp tục chỉ đạo các Bộ ngành, các Tập đoàn, Tổng công ty đánh giá kỹ hơn, rõ hơn toàn bộ dự án từ chủ trương đến việc thực hiện đầu tư, vận hành dự án, đặc biệt về công nghệ xem xét tính đồng bộ của công nghệ, thiết bị sử dụng, đội ngũ cán bộ quản lý dự án, chất lượng nhà thầu; có biện pháp xử lý dứt điểm đối với các dự án nhà thầu chậm tiến độ, không đúng cam kết; kiểm tra lại sự phù hợp của tăng vốn đầu tư của từng công đoạn từng dự án, xác định rõ nguyên nhân, đề ra giải pháp khắc phục và đề xuất xử lý các vi phạm.
Đồng thời, đề xuất Thủ tướng Chính phủ về công tác thanh tra, kiểm toán, điều tra làm rõ thực trạng hoạt động, thực trạng tài chính của các doanh nghiệp, dự án làm căn cứ xây dựng các phương án tái cơ cấu, xử lý cụ thể đối với từng dự án, doanh nghiệp và làm rõ sai phạm, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan để xử lý theo qui định của pháp luật.
Quy chế cũng quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của: Trưởng ban Ban Chỉ đạo; Phó trưởng ban Ban Chỉ đạo thường trực - Bộ trưởng Bộ Công Thương; Phó trưởng Ban Chỉ đạo - Bộ trưởng Bộ Tài chính; các Ủy viên Ban Chỉ đạo; Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo.
Ban Chỉ đạo hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể thảo luận, Trưởng ban hoặc Phó trưởng ban (khi được Trưởng ban ủy quyền) kết luận và chỉ đạo thực hiện. Ban Chỉ đạo hoạt động thông qua họp định kỳ 3 tháng một lần hoặc đột xuất theo quyết định của Trưởng ban hoặc Phó Trưởng ban (khi được Trưởng ban ủy quyền); qua khảo sát thực tế hoặc tổ chức lấy ý kiến các thành viên Ban Chỉ đạo bằng văn bản. (Báo Chính Phủ 10/2) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt “Đề án bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo giai đoạn 2017 – 2020”.
Theo Đề án, đối tượng được đào tạo là công chức làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, gồm: Ban Tôn giáo Chính phủ thuộc Bộ Nội vụ; Ban (Phòng) Tôn giáo thuộc Sở Nội vụ; Phòng Nội vụ.
Cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo của các ban, ngành, đoàn thể ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, gồm: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Ban Dân vận; cán bộ làm công tác tôn giáo thuộc lực lượng công an, quân đội.
Cán bộ kiêm nhiệm phụ trách công tác tôn giáo ở cấp cơ sở: Phó Bí thư, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.
Đề án thực hiện tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trong đó chú trọng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những nơi có vấn đề tôn giáo phát sinh với mục đích nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng công tác tôn giáo cho cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo, đáp ứng tiêu chuẩn cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo theo quy định, nâng cao hiệu quả xử lý các vụ việc tôn giáo, góp phần thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước.
Cụ thể, sẽ bồi dưỡng kiến thức cơ bản và chuyên sâu về tôn giáo; kỹ năng, nghiệp vụ công tác tôn giáo cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo; cập nhật, nâng cao kiến thức về tôn giáo hàng năm cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo; bồi dưỡng kỹ năng thực tế xử lý các vụ việc tôn giáo cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo.
Đề án phấn đấu thực hiện bồi dưỡng khoảng 25.700 lượt cán bộ, công chức; trong đó, tối thiểu 95% công chức làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; tối thiểu 95% cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo của ban, ngành, đoàn thể ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; cán bộ làm công tác tôn giáo thuộc lực lượng công an, quân đội; tối thiểu 90% cán bộ kiêm nhiệm phụ trách công tác tôn giáo ở cấp cơ sở. (Báo Chính Phủ 10/2) đầu trang(
Cao Bằng cần đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ cao; phát triển mạnh các doanh nghiệp nông nghiệp, trang trại, các loại hình kinh tế hợp tác; nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả.
Đó là nội dung chỉ đạo trong thông báo kết luận của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Cao Bằng.
Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Cao Bằng cần tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế đến đầu tư trên địa bàn Tỉnh; tập trung phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là nâng cấp quốc lộ và các đường ra cửa khẩu. Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu tại chỗ cho hệ thống hành chính và sản xuất kinh doanh.
Tạo  thêm nhiều việc làm cho người lao động, phấn đấu đến 2020 có 2,5 - 3 nghìn doanh nghiệp. Làm tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng gắn với giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số... xây dựng được các thương hiệu nông sản truyền thống, nổi tiếng, chất lượng cao như hạt dẻ Trùng Khánh, quýt Trà Lĩnh, hồng không hạt, thuốc lá, chè đắng, giảo cổ lam… không chỉ phục vụ cho thị trường trong nước mà còn xuất khẩu.
Tỉnh Cao Bằng cần có quyết tâm chính trị trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh theo tinh thần Nghị quyết số 19/2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 và Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tỉnh Cao Bằng nghiên cứu và có bước đi phù hợp để nâng cao hiệu quả các khu kinh tế cửa khẩu; làm tốt công tác kiểm tra, thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu theo hướng rút ngắn thời gian, giảm tối đa chi phí cho doanh nghiệp.
Đồng thời đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), đánh giá thực trạng, làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm, có giải pháp cải thiện điểm số, phấn đấu ngay trong năm 2017 nâng khoảng 10 bậc.
Bên cạnh đó huy động hiệu quả các nguồn lực phát triển du lịch. Tập trung rà soát, hoàn thiện quy hoạch tổng thể các điểm, loại hình, sản phẩm, tuyến du lịch phù hợp với tiềm năng và lợi thế so sánh, tăng cường quảng bá, tạo sự liên kết trong vùng và các Trung tâm du lịch lớn của cả nước; xác định du lịch là một trong những hướng phát triển chủ đạo; phấn đấu năm 2017 thu hút được 1 triệu du khách và đến 2020 thu hút được 2 - 3 triệu du khách.
Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu tỉnh Cao Bằng phát triển các sản phẩm công nghiệp có tiềm năng, thế mạnh, mà trọng tâm là khai thác và chế biến khoáng sản; tháo gỡ khó khăn của một số dự án công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã và đang đầu tư trên địa bàn. Thực hiện tốt công tác quản lý tài nguyên khoáng sản, quản lý chặt chẽ sản lượng khai thác, bảo vệ môi trường và phù hợp với vùng nguyên liệu cung cấp cho các dự án trên địa bàn tỉnh.
Tiếp tục thực hiện tốt các chế độ, chính sách đối với người có công; bảo đảm an sinh xã hội, trợ giúp hiệu quả đối tượng bảo trợ xã hội và hộ nghèo. Đặc biệt quan tâm các lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế, nhất là ở vùng sâu, vùng xa. Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc, di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn. Làm tốt công tác dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng; củng cố và phát huy vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. (Báo Chính Phủ 10/2) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Tu bổ, tôn tạo di tích chùa Côn Sơn thuộc quần thể Khu di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt Côn Sơn - Kiếp Bạc, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Theo đó, đầu tư tu bổ, tôn tạo, nâng cấp và xây mới một số hạng mục công trình, trên cơ sở khoa học và kết quả khai quật khảo cổ học, gồm: Tu bổ, tôn tạo Giếng ngọc; xây dựng mới sân giếng và đường nối từ sân giếng lên lầu thờ Đức Phật Quán Thế âm Bồ tát; tu bổ, tôn tạo, xây dựng mới một số hạng mục và cải tạo nội thất lầu thờ Đức Phật Quán thế âm Bồ tát; sân vọng cảnh và sân xung quanh lầu; diện tích khoảng 266 m2.
Cải tạo, tu bổ, xây dựng mới đường lên tháp Tổ (tả - hữu), sân vườn, tường kè khu di tích; tu bổ, tôn tạo Tả, Hữu tiền hành lang và Tam quan nội.
Đầu tư hoàn thiện hệ thống phòng cháy chữa cháy, hệ thống điện chiếu sáng, hệ thống cấp thoát nước và chống mối cho các công trình trong khu di tích.
Đây là dự án nhóm A với tổng mức đầu tư dự kiến hơn 36,5 tỷ đồng. Thời gian thực hiện dự án từ 2017 - 2020.
Việc tu bổ, tôn tạo một số hạng mục công trình trong khu di tích chùa Côn Sơn nhằm phát huy giá trị Khu di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt Côn Sơn - Kiếp Bạc, đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu văn hóa, lịch sử, tín ngưỡng, tâm linh của nhân dân trong và ngoài nước, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. (Báo Chính Phủ 10/2) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến về việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa để thực hiện dự án trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ đồng ý UBND thành phố Hà Nội quyết định chuyển mục đích sử dụng 61,8 ha đất trồng lúa sang đất phi nông nghiệp.
UBND thành phố Hà Nội chỉ đạo thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa nêu trên theo đúng quy định của pháp luật về đất đai và Nghị định 35/2015/NĐ-CP ngày 13/4/2015 của Chính phủ. (Báo Chính Phủ 10/2) đầu trang(
Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình - Trưởng Ban Chỉ đạo 389 quốc gia biểu dương các đơn vị chức năng phát hiện, bắt giữ vụ vận chuyển trái phép 45 kg ma túy tổng hợp và 30 bánh heroin tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
Cụ thể, Phó Thủ tướng biểu dương Công an tỉnh Nam Định và Cục Hải quan thành phố Hải Phòng trong việc phát hiện, bắt giữ thành công vụ buôn bán, vận chuyển trái phép 45 kg ma túy tổng hợp và 30 bánh heroin tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Công an, Bộ Tài chính đề xuất hình thức khen thưởng phù hợp cho Công an tỉnh Nam Định và Cục Hải quan thành phố Hải Phòng theo đúng quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng.
Bộ Công an tập trung chỉ đạo Công an tỉnh Nam Định phối hợp với các lực lượng chức năng liên quan mở rộng điều tra, triệt phá tận gốc đường dây buôn bán, vận chuyển ma túy nói trên. (Báo Chính Phủ 10/2) đầu trang(

THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
Tới thăm và làm việc với Ban Kinh tế Trung ương (KTTW) ngày 11/2, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đề nghị Ban KTTW cần tập trung thực hiện thật tốt chức năng nghiên cứu, tham mưu, đề xuất các chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội; chủ động, tích cực tham gia tuyên truyền, đôn đốc kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, các quyết sách của Trung ương về kinh tế - xã hội.
Sau khi nghe báo cáo của Lãnh đạo Ban và ý kiến đóng góp của đại diện các ban, bộ, ngành, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hoan nghênh những kết quả đạt được trên các lĩnh vực công tác của Ban KTTW sau hơn 4 năm tái lập.
“Trong 4 năm qua kể từ ngày tái lập, nhất là từ sau Đại hội XII của Đảng đến nay, Ban KTTW trong bối cảnh “vừa chạy, vừa xếp hàng”, vừa làm, vừa xây dựng lực lượng, đã nỗ lực phấn đấu, làm được nhiều việc, cơ bản hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ là cơ quan tham mưu chiến lược của Đảng về kinh tế - xã hội của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, mà trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư”- Tổng Bí thư nói.
Theo Tổng Bí thư, cái mới là từ quý III/2016 đến nay, lần đầu tiên kể từ khi được tái lập, Ban KTTW được Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao chủ trì triển khai chuẩn bị 3 đề án lớn trình Hội nghị Trung ương 5 khoá XII, dự kiến họp vào tháng 5 tới và 4 đề án, báo cáo trình Bộ Chính trị trong năm 2017. Đó là những đề án rất lớn, quan trọng và cũng rất khó.
Tuy nhiên, khó khăn, thách thức trên con đường phát triển vẫn rất nặng nề và gay gắt. Tình hình đất nước, thế giới, khu vực còn diễn biến phức tạp, khó lường. Nhiều vấn đề bức xúc nảy sinh, nhất là vấn đề xã hội và quản lý xã hội chưa được nhận thức đầy đủ và giải quyết có hiệu quả; còn tiềm ẩn những nhân tố và nguy cơ mất ổn định xã hội… Tình hình trên đòi hỏi chúng ta, cả hệ thống chính trị, trong đó có Ban KTTW phải nỗ lực phấn đấu, tiếp tục đẩy mạnh đổi mới toàn diện và đồng bộ hơn để tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội XII của Đảng đã đề ra.
Với những kết quả và kinh nghiệm đã có thời gian vừa qua, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, Tổng Bí thư đề nghị Ban KTTW cần hoạt động toàn diện hơn, chất lượng cao hơn, với tinh thần tích cực, chủ động, quyết liệt hơn; không chỉ chờ giao việc mới làm mà phải chủ động đề xuất. Việc nghiên cứu, xây dựng đề án cần bảo đảm có những đề án chất lượng cao hơn, mang tầm chiến lược. Thông qua công tác thẩm định, cần phát hiện kịp thời những vấn đề còn hạn chế, bất hợp lý để đề xuất, góp ý thật thuyết phục. Muốn vậy, cần có dũng khí, bản lĩnh, trình độ, hiểu biết; hoạt động của Ban KTTW phải ở tầm chiến lược, không đi vào kinh tế ngành, kinh tế địa phương.
Lấy dẫn chứng về quá trình kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương về cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, xã hội hoá các dịch vụ công… chưa đạt kết quả như mong muốn, Tổng Bí thư chỉ rõ: “Tôi có cảm giác là vừa qua, Ban KTTW chưa chú trọng đúng mức việc này, lơi lỏng nhiệm vụ này. Tôi đề nghị trong thời gian tới, Ban phải chú trọng nhiều hơn nữa việc hướng dẫn, giám sát, kiểm tra việc thực hiện, bảo đảm đường lối, nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước được thực hiện nghiêm túc, đi vào cuộc sống một cách đúng đắn, có hiệu quả. Kịp thời phát hiện những thành tích, ưu điểm để tổng kết, phát huy; những vướng mắc để tháo gỡ, những khuyết điểm, sai phạm để uốn nắn, xử lý. Vừa qua, một loạt những doanh nghiệp, những cơ quan, đơn vị có vi phạm, làm ăn thua lỗ, nhiều dự án, công trình “đắp chiếu”, nhưng hầu như không thấy Ban KTTW có ý kiến gì. Đây là do không phát hiện được hay phát hiện được mà không có dũng khí báo cáo, đề xuất xử lý?”.
Tổng Bí thư lưu ý Ban KTTW cần phối hợp chặt chẽ với Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, Ban Nội chính Trung ương để phát hiện, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Trong quá trình thực hiện chức năng giám sát, kiểm tra của mình, Ban có kiến thức và điều kiện để nắm bắt, phân tích các thông tin liên quan đến các vụ việc tham nhũng, lãng phí.
“Các đồng chí phải nhanh nhạy, sắc bén và kiên quyết hơn trong việc này, kịp thời báo cáo Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng về các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực và đề xuất các giải pháp thanh tra, điều tra, ngăn ngừa và khắc phục, bảo đảm an ninh kinh tế”- Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ nêu trên, Ban KTTW và cán bộ của Ban phải nắm rất chắc và quán triệt sâu sắc các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo cơ bản của Đảng được nêu trong Cương lĩnh, các nghị quyết đại hội Đảng; căn cứ vào Chương trình công tác toàn khoá và hàng năm của Trung ương Đảng; đồng thời thường xuyên bám sát thực tiễn, theo sát diễn biến tình hình trong nước và thế giới để tổng kết, đề xuất những cái mới, sáng tạo. Ban cần chú trọng kiện toàn tổ chức bộ máy, không ngừng nâng cao trình độ, phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ….
Tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban KTTW Nguyễn Văn Bình khẳng định sẽ cùng toàn thể cán bộ, công chức, viên chức của Ban, đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, khắc phục những tồn tại hạn chế, tiếp tục hoàn thành tốt hơn nữa chức năng, nhiệm vụ được giao. (Pháp Luật Việt Nam 13/2) đầu trang(
Như thông tin Báo PLVN đã phản ánh về hàng loạt những sai phạm trong quản lý thu, chi ngân sách tại Lạng Sơn, theo kết luận thanh tra, Bộ Tài chính đã có kiến nghị UBND tỉnh Lạng Sơn tổ chức kiểm điểm và rút kinh nghiệm từ những sai phạm trên và báo cáo về Bộ Tài chính (qua Thanh tra Bộ) trước ngày 31/3/2017.
Bộ Tài chính kiến nghị UBND tỉnh Lạng Sơn nghiêm túc tổ chức rút kinh nghiệm trong việc: Chưa trình HĐND quyết định danh mục dự án đầu tư trong kế hoạch 5 năm để làm căn cứ bố trí nguồn vốn huy động.
Huy động vốn cho đầu tư phát triển vượt mức quy định của khoản 3 Điều 8 của Luật Ngân sách nhà nước (NSNN); giao dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng chậm so với quy định; chưa thực hiện giao dự toán thu ngân sách NSNN năm 2015 đối với khoản thu cấp quyền khai thác khoáng sản; giao dự toán đối với nguồn thu phí theo Quyết định 26 chưa sát thực tế; giao kế hoạch vốn cho các dự án nhóm C quá 3 năm, nhóm B quá 5 năm; giao kế hoạch vốn cho các dự án có quyết định đầu tư ngay sau ngày 31/10 năm trước; giao dự toán chi đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) chưa đúng quy định dẫn đến mất cân đối ngân sách, không đảm bảo nguồn chi theo quy định của Luật Ngân sách; chưa thực hiện giao đủ vốn đối ứng cho các dự án thuộc danh mục ngân sách Trung ương hỗ trợ có mục tiêu; chưa bố trí đủ vốn để thanh toán nợ khối lượng XDCB hoàn thành thời điểm 31/12/2015 là hơn một triệu đồng; chi từ nguồn dự phòng ngân sách không đúng chế độ quy định; phân bổ vốn vay tín dụng ưu đãi cho các dự án không đúng nhiệm vụ chi của nguồn vốn. Điều hành chi bổ sung ngoài dự toán đầu năm không đúng quy định của Luật Ngân sách, không có ý kiến của Thường trực HĐND tỉnh.
Đáng chú ý, UBND tỉnh Lạng Sơn phải nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm trong việc phê duyệt đầu tư dự án không khả thi, không phát huy được hiệu quả nguồn vốn, gây lãng phí đầu tư tại Dự án Đầu tư XD trụ sở Trạm kiểm soát liên hợp Than Muội (do dự án này đầu tư “nhầm chỗ” gây lãng phí gần 60 tỷ đồng ngân sách). Phê duyệt dự án không khả thi về nguồn vốn dẫn đến dự án triển khai bị chậm tiến độ, phải điều chỉnh, gia hạn thời hạn thực hiện hợp đồng làm tăng chi phí đầu tư (điển hình là dự án Bệnh viện Đa khoa tỉnh mới đang được xây dựng đội vốn hơn 700 tỷ đồng).
Bên cạnh đó, Bộ Tài chính kiến nghị UBND tỉnh Lạng Sơn chỉ đạo các cơ quan chức năng của tỉnh thực hiện: Điều chỉnh kịp thời giá tính thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn cho phù hợp với thực tế; xem xét thành lập Quỹ Phát triển đất và thực hiện trích lập Quỹ từ nguồn thu tiền sử dụng đất để sử dụng theo đúng quy định; ban hành quy định mức thu tiền sử dụng hạ tầng kỹ thuật – xã hội trong khu kinh tế cửa khẩu để làm căn cứ thu tiền sử dụng hạ tầng của các nhà đầu tư trong khu kinh tế cửa khẩu theo quy định.
Ngoài ra, UBND tỉnh Lạng Sơn phải xử lý dứt điểm các tồn tại đối với việc cấp quyền khai thác khoáng sản do UBND tỉnh Lạng Sơn điều chỉnh giảm số phải nộp của các doanh nghiệp làm cơ sở để Cục Thuế đôn đốc thu nộp, xử phạt theo quy định; tổ chức kiểm tra, rà soát việc kê khai thuế tài nguyên của các tổ chức cá nhân trên địa bàn có hoạt động khai thác đá, vật liệu xây dựng để xử lý theo đúng chế độ quy định; xây dựng phương án và báo cáo các cơ quan chức năng xem xét, xử lý đối với các dự án được đầu tư bằng vốn NSNN nhưng giao cho các doanh nghiệp, công ty cổ phần quản lý kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật.
Đồng thời, UBND tỉnh Lạng Sơn phải chỉ đạo các sở, ngành, các chủ đầu tư và các đơn vị có liên quan theo chức năng, nhiệm vụ được giao thực hiện kiểm điểm, rút kinh nghiệm những tồn tại trong quản lý, sử dụng ngân sách trên địa bàn như đã nêu trong kết luận thanh tra. (Pháp Luật Việt Nam 12/2) đầu trang(

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Năm 2017, thành phố Hà Nội tập trung triển khai nhiều chương trình đẩy mạnh cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin trong các lĩnh vực hoạt động tư pháp, nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân Thủ đô.
Theo đó, Hà Nội chú trọng đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị công nghệ thông tin cho các cơ quan tư pháp, tạo tiền đề cho việc phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành tư pháp; Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức công nghệ thông tin cho đội ngũ cán bộ tư pháp các cấp. Thành phố chỉ đạo việc số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu trong lĩnh vực hộ tịch, quản lý Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của thành phố…
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm được mở rộng, tạo lập hệ thống thông tin về giao dịch bất động sản phục vụ hoạt động nghiệp vụ của các tổ chức công chứng, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất của thành phố và giao dịch mở để các tổ chức, công dân tiếp cận, khai thác sử dụng. Ngành Tư pháp đ ẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các lĩnh vực chuyên môn và hoạt động quản lý, điều hành.
Ngành Tư pháp Hà Nội đã chú trọng thực hiện đẩy mạnh cải cách hành chính, cập nhật và chỉnh sửa kịp thời các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND thành phố, UBND cấp huyện và cấp xã trên địa bàn thành phố theo các văn bản quy phạm mới ban hành trong lĩnh vực tư pháp; nâng cao chất lượng hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại các cơ quan; tập trung rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính trên tất cả các lĩnh vực quản lý Nhà nước, nhất là thủ tục hành chính liên quan đến người dân, doanh nghiệp...
Toàn thành phố đã thực hiện công khai, minh bạch toàn bộ các thủ tục bằng hình thức như: Niêm yết công khai tại trụ sở đơn vị, đăng bài trên Cổng thông tin điện tử của UBND thành phố, Sở Tư pháp và UBND các quận, huyện, tạo thuận lợi hơn cho công dân và rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục hành chính tại UBND các cấp.
Bên cạnh đó, Sở Tư pháp Hà Nội còn thực hiện ứng dụng quản lý hệ thống quản lý văn bản, điều hành tác nghiệp đồng bộ, cập nhật đầy đủ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp của thành phố, thực hiện đề án cấp phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến và qua dịch vụ bưu chính… đạt hiệu quả cao.
Đặc biệt, Sở Tư pháp còn phối hợp với các sở ngành liên quan xây dựng, triển khai hệ thống dịch vụ công trực tuyến trên địa bàn thành phố, đến nay đã triển khai dịch vụ công liên thông: Đăng ký khai sinh - cấp thẻ Bảo hiểm y tế - đăng ký thường trú, khai tử - xóa đăng ký thường trú đến 30/30 quận, huyện, thị xã và 584 xã, phường trên địa bàn thành phố.
Công tác này bước đầu đạt kết quả khả quan, toàn thành phố tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 60%; thời gian giải quyết được rút ngắn từ 20 ngày xuống còn 5-7 ngày. Đây là một bước đột phá của Hà Nội trong lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính, xây dựng chính quyền điện tử, tạo điều kiện thuận lợi, giảm thời gian, chi phí cho người dân và doanh nghiệp.
Trong thời gian tới, Sở Tư pháp thành phố Hà Nội tiếp tục phối hợp với các Sở, ngành nghiên cứu mở rộng triển khai các dịch vụ công: Đăng ký kết hôn, xác nhận tình trạng hôn nhân, đăng ký giám hộ, sao lục hộ tịch, chứng thực bản sao từ bản chính.
Đồng thời, nghiên cứu việc số hóa sổ sách, giấy tờ hộ tịch… để tiến hành xây dựng cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử của thành phố. Sau khi nghiên cứu, bước đầu sẽ thí điểm ở quận Long Biên và triển khai ra toàn thành phố trong thời gian tới. (Tin Tức 13/2) đầu trang(
Tổng cục Hải quan vừa yêu cầu hải quan các địa phương tiếp tục triển khai thí điểm Hệ thống dịch vụ công trực tuyến để thực hiện thủ tục hành chính (TTHC) đến hết ngày 28/2 và chuyển sang vận hành chính thức từ ngày 1/3.
Thông qua theo dõi, xử lý hồ sơ trên Hệ thống dịch vụ công trực tuyến trong thời gian triển khai thí điểm từ ngày 1/1 đến 25/1, Tổng cục Hải quan nhận thấy, nhiều cục hải quan tỉnh, thành phố còn thiếu sự quan tâm, chỉ đạo trong công tác triển khai, dẫn đến số lượng hồ sơ TTHC được tiếp nhận, xử lý trên Hệ thống còn thấp, đặc biệt có nhiều đơn vị chưa tiếp nhận hồ sơ.
Cụ thể, mới chỉ có 18 trong số 35 cục hải quan tiếp nhận hồ sơ TTHC trên Hệ thống với số lượng hồ sơ được tiếp nhận là 492 bộ, số lượng hồ sơ đã hoàn thành xử lý là 221 bộ. Hiện cũng còn 17 trong số 35 cục hải quan chưa tiếp nhận hồ sơ TTHC trên Hệ thống, đồng thời chỉ có 214 doanh nghiệp tham gia với 18/41 TTHC được xử lý trên Hệ thống.
Theo Tổng cục Hải quan, kết quả nêu trên ảnh hưởng nghiêm trọng đến kế hoạch triển khai Nghị quyết 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 về Chính phủ điện tử và kế hoạch cung cấp dịch vụ công trực tuyến của toàn ngành. (Đấu Thầu 13/2) đầu trang(

KINH TẾ
Trong 10 nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu đạt 10,44 tỷ USD, chiếm 72,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước trong tháng 1/2017 thì nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện chiếm 16,2%; hàng dệt may 15%.
Theo thống kê, tháng 1/2017 hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đạt 14,34 tỷ USD, trong đó dẫn đầu về giá trị kim ngạch xuất khẩu thuộc về hàng điện thoại và dệt may. Trong 10 nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu đạt 10,44 tỷ USD, chiếm 72,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước thì nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện chiếm 16,2%; hàng dệt may 15%.
Cụ thể, xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện trong tháng đầu tiên của năm nay đạt kim ngạch gần 2,33 tỷ USD, giảm 13,4% so với tháng 12/2016 và tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước.
Tháng 1/2017, xuất khẩu điện thoại và linh kiện chủ yếu đến các thị trường: Hàn Quốc với 230 triệu USD, tăng 73,4% so với cùng kỳ năm trước; Các tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất đạt 228 triệu USD, giảm 37,4%; Hoa Kỳ đạt 2016 triệu USD, giảm 8,5%; ...
Trong khi đó, hàng dệt may xuất khẩu đạt gần 2,16 tỷ USD, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước và giảm 6,1% so với tháng 12/2016. Các thị trường nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong tháng 1/2017 dẫn đầu vẫn là thị trường Hoa Kỳ với kim ngạch gần 1,08 tỷ USD, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước; tiếp theo là thị trường Nhật Bản với kim ngạch 253 triệu USD, tăng 1,8%; thị trường Hàn Quốc với kim ngạch 215 triệu USD, tăng 18,1%...
Năm 2016, điện thoại và dệt may cũng là hai nhóm hàng có đóng góp lớn nhất xuất khẩu của Việt Nam. Trong đó, điện thoại các loại và linh kiện xuất khẩu đạt 34,32 tỷ USD, tăng 13,8% so với năm 2015. Hàng dệt may xuất khẩu trên 23,84 tỷ USD, tăng 4,6% so với năm 2015.
Bộ Công Thương cho biết điện thoại và linh kiện, dệt may thuộc nhóm hàng được kỳ vọng mang về giá trị xuất khẩu cao nhất trong năm 2017. (Người Tiêu Dùng 13/2) đầu trang(
Hiệp Hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep) cho hay từ năm 2013 đến nay, cá ngừ của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản liên tục giảm. Nguyên nhân chính là các sản phẩm này đang bị áp thuế cao hơn so với các nước cạnh tranh trong khu vực.
Theo Vasep, ngành cá ngừ Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong ngành thủy sản nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung. Sản phẩm này không chỉ đóng góp kim ngạch xuất khẩu khoảng 450-550 triệu USD mỗi năm mà còn đặc biệt quan trọng khi gắn liền với đông đảo như dân trong công cuộc khai thác xa bờ, giữ gìn biển đảo...
Nhật bản hiện là một trong 8 thị trường xuất khẩu cá ngừ lớn của Việt Nam. Giá trị xuất khẩu sang nước này đã tăng từ 12,6 triệu USD lên 54 triệu USD từ năm 2006 đến năm 2012. Tuy nhiên, từ năm 2013 trở lại đây, xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang Nhật Bản liên tục giảm và từ vị trí lớn thứ 3 đã tụt xuống vị trí thứ 6 trong top 8 thị trường nhập khẩu cá ngừ lớn nhất của Việt Nam.
Nguyên nhân là, sản phẩm cá ngừ của Việt Nam bị áp mức thuế cao hơn nhiều so với các nước xuất khẩu cạnh tranh trong khu vực, như Thái Lan hay Philippines... Điều này đã khiến sản phẩm của Việt Nam không thể cạnh tranh được với các nước được hưởng chính sách thuế quan ưu đãi hơn.
Do vậy, Vasep kiến nghị các đơn vị chức năng có chính sách hỗ trợ, kịp thời giải quyết khó khăn, tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Đồng thời cân nhắc đến việc đàm phán lại với Nhật Bản về mức thuế mà nước này đang áp dụng cho cá ngừa Việt Nam. Mức thuế mà Vasep đề nghị là 0% giống như mức mà nước này đang áp dụng với Thái Lan và Philippines. (Vinanet 13/2) đầu trang(

VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
Sáng ngày 10/2 (tức ngày 14 tháng Giêng âm lịch), tại làng Hòa Liễu, xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng đã tổ chức Hội Minh Thề - nơi dân thề thẳng thắn, trung trực, quan nói không với tham nhũng, tiêu cực.
Tuy nhiên, khi đề cập đến vấn đề, có nhiều ý kiến cho rằng, tại Hội Minh Thề thì chỉ có lãnh đạo trong làng thề, nhân dân thề mà các “quan chức” không thề thì ông Nguyễn Văn Sinh, Phó Chủ tịch UBND xã, Trưởng ban di tích lịch sử cho biết: “Do đây là lễ hội truyền thống được thực hiện trong quy mô của làng, của xóm chứ không phải lễ hội được tổ chức với quy mô rộng rãi, nên việc thực hiện các nghi lễ chỉ nên diễn ra trong quy mô của làng. Còn các cấp lãnh đạo cấp trên chỉ đến tham dự, tham gia vào chỉ đạo chứ không phải tham gia vào lễ hội". (Nông Nghiệp Việt Nam 13/2) đầu trang(
Theo thống kê sơ bộ, có hàng chục hố lớn nhỏ đường kính từ 1 đến 3 mét trải dài trong phạm vi hơn 3 km theo dòng suối Bản Tàn (thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn), cùng hàng trăm vết nứt nhỏ khác...
Từ chiều mùng 1 Tết Đinh Dậu (tức ngày 28/1) đến nay, dòng suối chảy qua các thôn Phiêng Liềng, Nà Bưa, Nà Tùm của xã Ngọc Phái và Bản Tàn thuộc thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn, đã xuất hiện các hố sụt lún dưới lòng suối, ao cá, ruộng nương, vườn ngô, làm cạn cả dòng suối. Một số nhà dân bị sụt lún, xé tường toang hoác, gây hoang mang cho người dân.
Các hố sụt lún vẫn chưa dừng lại, gần đây lại xuất hiện những hố mới cả trên nương rẫy và có xu hướng lan ra diện rộng. Theo thống kê sơ bộ, có hàng chục hố lớn nhỏ đường kính từ 1 đến 3 mét trải dài trong phạm vi hơn 3 km theo dòng suối Bản Tàn, cùng hàng trăm vết nứt nhỏ khác đang xuất hiện dọc bờ suối, kéo dài trên diện rộng, từ thôn Bản Tàn thị trấn Bằng Lũng đến thôn Phiêng Liềng, xã Ngọc Phái, làm cho hàng trăm hộ dân sống dọc theo dòng suối phải canh phòng đất sụt cả ngày lẫn đêm.
Theo người dân địa phương, kể từ khi có doanh nghiệp đến khai thác chì kẽm tại mỏ Nà Tùm, thông Nà Tùm, xã Ngọc Phái thì việc bơm nước mở moong lấy quặng diễn ra với tốc độ lớn, đã làm cho việc sụt lún xảy ra quanh khu vực mỏ Nà Tùm từ những năm 2008, sau số gây sụt lún cả tỉnh lộ 254 đoạn qua thôn Nà Tùm.
Nghi vấn việc hút nước làm các hang động cát- tơ hoạt động dẫn đến sụt lún, chính quyền tỉnh Bắc Kạn đã yêu cầu doanh nghiệp không bơm nước và dừng việc khai thác chì kẽm từ đó. Khi mỏ khai thác ngừng hoạt động, hiện tượng sụt lún cũng chấm dứt, người dân yên tâm trở lại sản xuất sinh hoạt.
Đầu năm 2015, mỏ Nà Tùm tiếp tục được doanh nghiệp bơm nước khai thác khoáng sản, thì sụt lún lại diễn ra, người dân sợ hãi gửi đơn khiếu nại tới các cấp chính quyền, khi đó mỏ tạm dừng bơm nước và hiện tượng sụt lún cũng không xảy ra nữa.
Từ ngày 8/12/2016 mỏ Nà Tùm lại bắt đầu bơm nước, thì đến mùng 1 Tết sụt lún lại "tái xuất giang hồ". Lần này “hố tử thần” xuất hiện liên tục, mức độ dày hơn với quy mô nguy hiểm gây thiệt hại lớn cho người dân 4 thôn sống dọc theo suối Bản Tàn. Cho đến nay, đã có nhiều ao cá bị “hố tử thần” bắt sạch, dòng suối đầy ắp nước cũng bị “hố tử thần” hút cạn khô hơn chục ngày nay.
Đặc biệt là một số nhà dân bắt đầu bị lún nền, vỡ tường… Theo quan sát của Báo NNVN tại hiện trường, thì tại nhà ông Trịnh Văn Lâm và bà Lê Thị Hằng, thôn Bản Tàn đã bị vết nứt làm vỡ vỉa hè. Còn hộ ông Lăng Văn Hoa bị lún tường bếp, kéo nghiêng tường, gây nguy hiểm đến tính mạng, nên ông Hoa đã phải di dời tài sản, người nhà ông đã ra ngoài sân ăn ngủ cho an toàn. Riêng nhà ông Sằm Văn Mạc thì bị lún, nứt khắp tường, nền nhà, kéo nghiêng móng…
Để bảo vệ tính mạng, tài sản của mình, bắt đầu từ ngày mùng 1 Tết Đinh Dậu, người dân các thôn sống dọc suối Bản Tàn đã tổ chức tìm kiếm, đánh dấu vết nứt và rào lại những miệng hố sụt lớn; khuyến cáo người dân, đặc biệt là người già, trẻ em tránh xa những điểm nứt đất và miệng hố sụt.
Trao đổi với PV Báo NNVN về hiện tượng sụt lún, ông Nghiêm Xuân Hưởng – Trưởng thôn Bản Tàn đã có nhận định riêng của mình: “Tôi đã nói với mọi người rồi, chỉ cần mỏ Nà Tùm dừng bơm nước thôi, sẽ không có sụt lún nữa, nhưng họ không tin tôi, vì cho rằng tôi không có chuyên môn. Nhưng từ trước tới nay, tôi cũng như nhiều người dân sống ở đây vẫn theo dõi hiện tượng sụt này, thì thấy sự trùng lặp ất đều đặn. Nghĩa là cứ mỏ bơm nước thì suối cạn bớt nước, rồi mấy hôm sau có người báo cáo thấy đất sụt lở ở đâu đó ngoài khu vực mỏ”.
Cũng theo ông Hưởng và những người dân thôn Bản Tàn, thì cứ bơm nước mạnh là mực nước suối thấp hơn và sụt lún lại xuất hiện. Khi nào doanh nghiệp ngừng bơm nước, mấy ngày sau suối lại đầy nước hơn và không còn hiện tượng đất cựa nữa. (Nông Nghiệp Việt Nam 13/2) đầu trang(

MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
Nằm ở vị trí cửa ngõ đi các tỉnh miền tây Nam Bộ và tiếp giáp với TP Hồ Chí Minh, Long An đang nỗ lực tháo gỡ mọi khó khăn, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo đột phá trong thu hút đầu tư để phấn đấu trở thành tỉnh đầu tàu kinh tế của khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Bí thư Huyện ủy Cần Giuộc (Long An) Nguyễn Văn Thiệp cho biết: Cần Giuộc có hơn 9.800 ha đất sản xuất nông nghiệp. Điều kiện tự nhiên chia huyện thành hai vùng sản xuất rất riêng biệt. Vùng thượng có chín xã và một thị trấn với các thế mạnh là nông nghiệp, thương mại, dịch vụ và công nghiệp. Vùng thượng cơ bản ngăn được mặn, trữ được nước ngọt để trồng lúa hai vụ, trồng màu, chăn nuôi gia súc và gia cầm. Vùng hạ có bảy xã bị ảnh hưởng sáu tháng mặn cho nên chỉ trồng được một vụ lúa năng suất không cao, nuôi thủy sản rất bấp bênh.
Đến mùa xâm nhập mặn người dân vùng hạ bỏ nhà đi sang rừng sát huyện Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh) chặt và mót củi hoặc đi xứ khác làm thuê kiếm cơm. Hằng năm, đến mùa giáp hạt, tỉnh phải cứu trợ lương thực, giống cây trồng để người dân sản xuất. Ngày Tết gần như không có đối với người dân vùng hạ. Cần Giuộc từng là huyện nghèo nhất của tỉnh Long An.
Thế nhưng, Cần Giuộc lại có vị trí khá “đắc địa” là nằm ngay cửa ngõ Tây Nam Bộ, cách trung tâm TP Hồ Chí Minh khoảng 20 km; có quốc lộ 50 và sông Cần Giuộc chạy qua và nối liền TP Hồ Chí Minh với các tỉnh miền tây; có sông Soài Rạp chảy nối liền TP Hồ Chí Minh với Biển Đông… Nhận ra lợi thế phát triển kinh tế, địa phương đã lập tờ trình báo cáo tỉnh xin Trung ương cho phát triển các khu công nghiệp. Kết quả, sau một nhiệm kỳ (2010 - 2015), Cần Giuộc đã bứt phá trở thành huyện điểm trong vùng kinh tế động lực của tỉnh.
Khi Khu công nghiệp (KCN) Long Hậu và KCN Tân Kim đi vào hoạt động thì: “Vùng nước mặn, phèn chua, bom bừa pháo dội” của Cần Giuộc nhanh chóng thay đổi. Ngành nghề thu hút đầu tư vào hai KCN này đều bảo đảm sản xuất “sạch”, không có nguy cơ gây tổn hại môi trường. Cần Giuộc phát triển công nghiệp chỉ sau các huyện Bến Lức, Đức Hòa và Đức Huệ nhưng đang được ví như “cánh cửa công nghiệp” của tỉnh Long An.
Chìa khóa “cải tạo” thành công vùng đất Cần Giuộc là: Tận dụng lợi thế địa lý, đẩy mạnh cải cách hành chính, "trải thảm đỏ" mời gọi đầu tư nhưng huyện luôn tuân thủ phương châm: phát triển công nghiệp nhưng không đánh đổi môi trường, Cần Giuộc chọn nhà đầu tư phải cam kết bảo đảm nghề sản xuất không có nguy cơ gây tổn hại môi trường; đối với lĩnh vực nông nghiệp thì phải đi theo hướng công nghệ cao. Năm 2016, KCN Long Hậu (xã Long Hậu) đóng góp cho ngân sách nhà nước hơn 1.000 tỷ đồng/năm, giải quyết cho hơn 30 nghìn lao động trong tỉnh và ngoài tỉnh. Thu nhập bình quân của người lao động trong các KCN từ mức 4,5 triệu đến 5 triệu đồng/người/tháng.
Cùng với công nghiệp dịch vụ, thương mại cũng phát triển, đời sống của người dân được nâng cao, điện, đường, trường, trạm được đầu tư xây dựng khang trang và thị trấn Cần Giuộc đã được xếp là đô thị loại 4 trước thời hạn. Thu nhập bình quân của người dân trong toàn huyện đạt hơn 50 triệu đồng/người/năm. Tỷ lệ hộ nghèo từ 8,81% năm 2010 thì nay giảm còn khoảng 2% và đã có tám trong 16 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Kinh tế Cần Giuộc sẽ tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới khi cảng quốc tế Long An đi vào hoạt động trong năm 2017. Đây là một trong những cảng biển có quy mô lớn nhất tại khu vực miền nam, có thể tiếp nhận được tàu có tải trọng từ 30.000 đến 70.000 DWT. Dịch vụ logistics chính thức hoạt động sẽ khai thác được thêm nhiều tiềm năng và lợi thế đường thủy nội địa. Mục tiêu Cần Giuộc phấn đấu đến năm 2020 có 13 trong số 16 xã đạt chuẩn nông thôn mới, các xã còn lại đạt 18 trên 19 tiêu chí. Thu nhập của người dân nông thôn đạt 68 triệu đồng người/năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 0,2%.
Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Long An Nguyễn Thanh Nguyên cho biết: Sau hơn 10 năm phát triển công nghiệp, đến nay, Long An có gần 8.190 doanh nghiệp đang hoạt động trong 16 KCN, với tổng vốn đăng ký hơn 192.000 tỷ đồng; 1.317 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn đăng ký 144.566 tỷ đồng; 801 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của 37 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư với tổng vốn đăng ký hơn 5,2 tỷ USD. Công nghiệp phát triển mạnh góp phần chính trong tổng thu ngân sách hơn 9 nghìn tỷ đồng, đạt 112,2% dự toán năm.
Doanh nghiệp FDI đang giải quyết việc làm cho hơn 90 nghìn lao động trong tỉnh và ngoài tỉnh. Long An cũng là vệ tinh của TP Hồ Chí Minh trong việc phát triển công nghiệp và nông nghiệp sạch. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2016 đạt 57.265 tỷ đồng, tăng trưởng kinh tế 9,05%. Kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 4,3 tỷ USD. Thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 50,7 triệu đồng/người/năm và đã có 57 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Tỷ lệ hộ nghèo giảm chỉ còn dưới 4% so mức quy định của Trung ương. Để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao mức sống của người dân, Long An đang tập trung nhiều giải pháp trong thu hút đầu tư vào công nghiệp và nông nghiệp.
Long An đang dẫn đầu các tỉnh ĐBSCL và đứng thứ 12 trong số 63 tỉnh, thành phố của cả nước về thu hút vốn FDI, chiếm đến gần 65% tổng số dự án và 34,55% vốn đăng ký FDI đầu tư vào ĐBSCL…
Thu hút vốn FDI tăng nhanh đã góp phần tăng trưởng GDP và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhưng chất lượng thu hút chưa cao. Các dự án mang tính lan tỏa, lôi kéo doanh nghiệp trong nước cùng phát triển còn hạn chế, chưa góp phần xây dựng công nghiệp công nghệ cao ở tỉnh. Các dự án đầu tư vào nông nghiệp và dịch vụ thân thiện với môi trường còn ít, nhiều dự án còn gây ô nhiễm, tình hình chuyển giá, né thuế của các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh vẫn còn…
Để xây dựng chiến lược thu hút vốn đầu tư trong thời gian tới, theo các chuyên gia kinh tế, Long An không nên thu hút vốn FDI bằng mọi giá, tránh xung đột giữa các lĩnh vực. Thu hút vốn FDI phải gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo hướng tăng trưởng xanh, không đánh đổi môi trường lấy kinh tế; tập trung vào các ngành sử dụng nhiều lao động phổ thông, các ngành có hàm lượng kỹ thuật và công nghệ và các ngành dịch vụ cao cấp...; liên kết với các tỉnh ĐBSCL và TP Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực hạ tầng giao thông, cảng biển…
Chủ tịch UBND tỉnh Long An Trần Văn Cần cho biết: Long An định hướng đến năm 2020 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp, GDP bình quân đạt khoảng 80 triệu đến 85 triệu đồng/người/năm (khoảng 3.800 USD), tỷ trọng các ngành nông nghiệp chiếm 15%, công nghiệp là 45%, dịch vụ là 40% và phấn đấu trở thành tỉnh đầu tàu kinh tế của khu vực ĐBSCL.
Để đạt được mục tiêu đề ra, Long An đang tạo bước đột phát trong thu hút đầu tư bằng cách huy động mọi nguồn lực xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông phục vụ phát triển công nghiệp, gắn với nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và chuỗi giá trị ngành hàng theo hướng bền vững. Long An luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất để các nhà đầu tư đến tìm hiểu cũng như thực hiện dự án đầu tư; xem khó khăn của doanh nghiệp, nhà đầu tư cũng là khó khăn của tỉnh, thành công của doanh nghiệp cũng chính là thành công của tỉnh. (Nhân Dân 13/2) đầu trang(

BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Những năm gần đây, cụm từ “xung đột lợi ích” đã được đề cập với tần suất ngày một nhiều ở nước ta. Tháng 9/2016, một nghiên cứu chung giữa Ngân hàng Thế giới và Thanh tra Chính phủ được công bố với tiêu đề “Kiểm soát xung đột lợi ích trong khu vực công - Quy định và thực tiễn ở Việt Nam”.
Theo đại diện Thanh tra Chính phủ, nghiên cứu này được coi là nỗ lực ban đầu để nhìn nhận vấn đề xung đột lợi ích ở Việt Nam  nhằm nâng cao nhận thức, cải thiện chất lượng thể chế và đẩy mạnh phòng chống tham nhũng.
“Việt Nam khát vọng trở thành một quốc gia thịnh vượng với thể chế hiện đại vào năm 2035. Kiểm soát xung đột lợi ích là điều kiện thiết yếu để đạt được khát vọng đó, vì nó giúp định hình các thể chế, luật lệ và quy định của nhà nước và thị trường cho thế hệ tiếp theo”, Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam - ông Ousmane Dione nhìn nhận.
Theo Ngân hàng thế giới, khái niệm “xung đột lợi ích” (conflict of interest) được định nghĩa như  sau : “Xung đột hay mâu thuẫn lợi ích là tình huống trong đó một cán bộ công chức, trong thẩm quyền chính thức của mình, đưa ra hoặc phải đưa ra các quyết định hoặc có những hành động, có thể tác động tới lợi ích cá nhân của họ”.  Nói nôm na, xung đột lợi ích có thể coi là một dạng tham nhũng chính sách, sử dụng chính sách công để có lợi cho cá nhân hoặc một nhóm lợi ích nào đó. Rõ ràng “xung đột lợi ích” là một hiện tượng gắn liền với quốc nạn tham nhũng đang nhức nhối hiện nay.
Chính vì vậy, việc thứ trưởng Bộ Công Thương Hồ Thị Kim Thoa và gia đình đang sở hữu khối tài sản lớn trị giá hàng trăm tỷ đồng trong công ty Điện Quang, vốn trước đây thuộc sở hữu nhà nước, nay đã được cổ phần hóa đang được dư luận quan tâm cũng là điều dễ hiểu.
Mặc dù Bộ Công Thương đã chính thức lên tiếng về việc này, rằng khối tài sản dưới dạng cổ phiếu của thứ trưởng Thoa (khoảng 100 tỷ đồng) đã được hình thành từ trước khi về làm việc tại Bộ này, rằng đã được bà Thoa kê khai đầy đủ trong bản kê khai tài sản hàng năm, song việc công ty này lại thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Công Thương chính là điểm “nhạy cảm” mà dư luận có quyền đặt câu hỏi, liệu có xảy ra “xung đột lợi ích” trong trường hợp cụ thể này ? Điều này rất cần Bộ Công Thương giải thích và làm rõ trước công luận.
Và một điều quan trọng nữa, đó là tuy tài sản đã công khai nhưng cần phải minh bạch, tức phải chứng minh và lý giải được khối tài sản đó từ đâu ra ? Theo ĐBQH Lê Thanh Vân: “Muốn biết sự thật thì phải kiểm tra. Để trả lời công luận, có mấy việc cả cơ quan chủ quản, và bản thân bà Thoa phải chứng minh, đó là nguồn gốc tài sản ấy ra sao? Nếu chứng minh được tài sản đó chính đáng, thì phải trả lời cho dư luận biết,  và cũng là để thanh minh cho bà thứ trưởng. Còn nếu có những cái không rõ nguồn gốc thì xem xét, để các cơ quan khác vào cuộc”.
Đúng vậy, làm giàu chính đáng ngày nay đương nhiên sẽ được xã hội nể trọng dù bất kể người đó là ai, quan chức hay dân thường, và tài sản của họ và gia đình phải được pháp luật bảo vệ. Đương nhiên, trong một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thì làm quan chức mà giàu có ắt sẽ phải công khai và minh bạch số tài sản đó trước công luận, không có cách nào khác. (Tiền Phong 13/2) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Nhiều người nói rằng do không có con cái nên ông Vương dễ bề trị tệ nạn tham nhũng nghiêm trọng ở Trung Quốc.
Trong sự cố phá sản lớn nhất Trung Quốc của Tập đoàn Đầu tư và Quỹ tín thác quốc tế Quảng Đông năm 1988, ông Vương Kì Sơn khi đó là người phụ trách vụ việc. Một hôm, người bạn lâu năm tới gặp ông Vương và đưa ra lời cảnh báo về tính chất nghiêm trọng của vụ việc.
“Tôi có nói với ông Vương rằng những người trong ngân hàng rất quyền lực và mối quan hệ của họ với những người đứng đầu là rất khăng khít. Tôi nói mình lo sợ trước phản ứng của họ nếu ông Vương ép ngân hàng phải phá sản và làm mất đi khoản tài sản quá lớn”, Hoàng Giang Nam, một trong những đồng nghiệp và bạn thân của Vương Kì Sơn, nói. “Tuy nhiên ông ấy bảo tôi là không cần nhiều lời và ông ấy sẽ theo đuổi tới cùng. Ông ấy rất bình tĩnh và cứng rắn”.
15 năm sau, ông Vương trở thành “ngôi sao” trong Ủy ban Trung ương về Giám sát Kỉ luật (CCDI). Ông là người chịu trách nhiệm chính trong cuộc điều tra chống tham nhũng Chu Vĩnh Khang, nguyên Bộ trưởng Bộ Công an và là một trong những quan chức cấp cao nhất bị “sờ gáy”. Kể từ khi thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa từ năm 1949 tới nay, đại án Chu Vĩnh Khang vẫn được xem là tốn giấy mực nhất lịch sử.
Cuối năm 2012, Vương Kì Sơn được bổ nhiệm làm chủ tịch CCDI sau khi ông Tập Cận Bình lên nhậm chức Tổng bí thư. Nhiều người bày tỏ sự nghi ngờ năng lực của ông Vương khi phải động tới một trong những vấn đề thâm căn cố đế của Trung Quốc – tham nhũng hệ thống.
Sau 4 năm hoạt động liên tục, ông Vương đã chứng minh tầm ảnh hưởng và những quyết định sáng suốt của mình. Ông được xem là cánh tay phải đắc lực của ông Tập Cận Bình trong cuộc chiến “đả hổ diệt ruồi” và “săn cáo” quy mô toàn quốc.
Giờ đây ở tuổi 69, ông Vương là một trong 7 thành viên cốt cán của Ban thường vụ Bộ chính trị Trung Quốc. Ông đứng cùng hàng ngũ với Chủ tịch Tập Cận Bình hay Thủ tướng Lí Khắc Cường. Chỉ 18 tháng sau khi nhậm chức chủ tịch CCDI, ông Vương Kì Sơn đã loại bỏ 250.000 cán bộ thoái hóa, biến chất. 39 quan chức chức vụ thứ trưởng trở lên cũng bị tóm gọn. Nhiều người nói rằng, quyền lực của ông Vương chỉ kém mỗi ông Tập.
Chiến dịch chống tham nhũng là trọng tâm của ông Tập Cận Bình kể từ ngày nhậm chức. Ủy ban CCDI đã quét sạch vào mọi lĩnh vực, ngành nghề, từ tài chính, thương mại tới sản xuất thực phẩm. Ngoài những công ty quốc doanh đối mặt các cuộc kiểm tra gắt gao, nhiều tập đoàn quốc tế hoạt động ở Trung Quốc cũng “lãnh đủ”, chẳng hạn như công ty dược Glaxo Smith Kline bị cáo buộc hối lộ công an Trung Quốc.
Các thương hiệu đồng hồ Thụy Sĩ xa xỉ cũng chứng kiến sự sụt giảm doanh số sau khi nhiều quan tham sa lưới.
Tại Tập đoàn Hóa dầu Trung Quốc, đơn vị kinh tế cực lớn và được xem là “bất khả xâm phạm”, rất nhiều quan chức cấp cao đang phải ngồi tù vì tham nhũng. Ông Vương đã thiết lập một hệ thống yêu cầu báo cáo tình hình hằng ngày ở tập đoàn này. Trong trường hợp một quan chức bị bắt, lập tức ngày hôm sau một người cấp dưới sẽ được đôn lên nắm chức.
Ủy ban CCDI cho thấy một cơ chế riêng biệt ở Trung Quốc, cho phép đơn vị này thẩm tra và bắt giữ bất kì ai trong tổng số 87 triệu đảng viên Trung Quốc. Thực tế, nhiều quan chức cấp thấp cũng bị CCDI điều tra và truy tội. Từ năm 2013 đến nay, ít nhất 100 quan chức đã tự tử hoặc chết trong tù sau khi bị cáo buộc tham nhũng.
Vương Kì Sơn từng phát biểu về nguyện vọng xây dựng một thể chế lành mạnh, tránh xa mọi tàn dư tham nhũng: “Nhiệm vụ của chúng tôi là triệt tiêu tham nhũng và xóa bỏ hoàn toàn tệ nạn này”.
Khi trở thành Chủ tịch CCDI năm 2012, nhiều chuyên gia chính trị nói rằng ông không có con cái nên chẳng cần lo tích trữ tài sản. Nhiều quan chức cấp cao Trung Quốc khác đã tích tụ tài sản tham ô trong vài thập kỷ vì họ có con.
Một nguyên nhân khác lí giải vì sao ông Vương được chọn là bởi ông không phải là thành viên của bất kì hội, nhóm chính trị nào. Ông chỉ có mối quan hệ rất mật thiết với những cán bộ cấp cao.
Tuy nhiên, điều quan trọng nhất của Vương là tính thẳng thắn, chính trực khiến nhiều lãnh đạo cấp cao để mắt. Năm 1990, ông khẳng định chính sự xu nịnh, tham nhũng đã làm tha hóa bộ máy chính trị Trung Quốc.
Là chủ tịch của Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc trong giai đoạn giữa thập niên 1990, ông đã xây dựng nên ngân hàng đầu tư chính danh đầu tiên ở Trung Quốc có đối tác với tập đoàn Morgan Stanley (Mỹ). Cuối thập niên 90, ông đích thân giám sát vụ phá sản trị giá 4 tỉ USD của Tập đoàn Đầu tư và Quỹ tín thác quốc tế Quảng Đông.
Năm 2003, khi đại dịch SARS tấn công Bắc Kinh, ông Vương trở thành thị trưởng và ra tay rất nhanh giải quyết thảm họa sức khỏe này. Năm 2008 khi khủng hoảng tài chính toàn cầu lan tới Trung Quốc, ông đã cứu Bắc Kinh “một bàn thua trông thấy”.
Vương Kì Sơn thường được xem là người đàn ông quan trọng khi đàm phán với các quốc gia phương Tây và Mỹ. Ông nói rằng bộ phim truyền hình Mỹ ông yêu thích nhất là House of Cards, trong đó diễn viên chính là tài tử Kevin Spacey.
Henry Paulson, cựu Bộ trưởng Tài chính Mỹ, từng làm việc với Vương trong suy thoái kinh tế 2008 và vụ phá sản Quảng Đông năm 1990, nói: “Vương Kì Sơn là một sử gia nhiệt thành, thích tranh luật triết học và có óc hài hước thâm sâu”. (Dân Việt 13/2) đầu trang(./.