|
Ngày 06 tháng 05 năm 2017
CHÍNH SÁCH MỚI
TIÊU ĐIỂM
PHÁT NGÔN NÓNG
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
MÔ HÌNH - KINH NGHIỆM
TRÁI KHOÁY
NHÌN RA THẾ GIỚI
CHÍNH SÁCH MỚI
Tạo điều kiện tối đa cho xuất khẩu thịt lợn. Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa ký văn bản số 597/TTg-NN trong đó yêu cầu các bộ, ngành, địa phương đẩy nhanh các biện pháp đàm phán tìm thị trường xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi, tạo điều kiện tối đa cho việc xuất khẩu thịt lợn.
Ngành chăn nuôi của nước ta trong những năm qua đã phát triển nhanh, đáp ứng đủ nhu cầu sản phẩm thịt trong nước và từng bước vươn ra xuất khẩu với sản phẩm đa dạng hơn, chất lượng ngày càng cao, giá thành ngày càng hạ; ngành chăn nuôi đã có đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của nền kinh tế.
Tuy nhiên, từ cuối năm 2016 đến nay, ngành chăn nuôi lợn phát triển quá nóng dẫn đến cung vượt cầu quá lớn, giá thịt lợn giảm sâu đã ảnh hưởng trực tiếp đến người chăn nuôi, nhất là các hộ nông dân nghèo, các cơ sở kinh doanh thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y.
Để tháo gỡ những khó khăn cho ngành chăn nuôi, nhất là chăn nuôi lợn, giúp người chăn nuôi giảm bớt khó khăn, ổn định phát triển, để sản phẩm chăn nuôi đủ sức cạnh tranh cả ở thị trường trong nước và quốc tế, cả về chất lượng, an toàn thực phẩm và giá cả yêu cầu phải có các giải pháp cả trước mắt và lâu dài.
Về giải pháp giảm nguồn cung, mở rộng thị trường tiêu thụ, tháo gỡ khó khăn cho người chăn nuôi, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan, các địa phương tuyên truyền, làm việc cụ thể với các doanh nghiệp chế biến, các hộ tiêu thụ lớn về thịt (các khu công nghiệp, các đơn vị lực lượng vũ trang) để đẩy mạnh tiêu thụ, sử dụng sản phẩm thịt trong nước nhằm chia sẻ bớt khó khăn với người chăn nuôi.
Bên cạnh đó, phối hợp với Bộ Tài chính và các địa phương tăng cường chỉ đạo các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh áp dụng các giải pháp về công nghệ, quản lý phù hợp nhằm tiết kiệm chi phí, giảm giá thành, giá bán các sản phẩm đầu vào của ngành chăn nuôi, nhất là thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y. Đồng thời, phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao đẩy nhanh các biện pháp đàm phán tìm thị trường xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi, nhất là sản phẩm của ngành chăn nuôi lợn.
Thủ tướng Chính phủ cũng giao Bộ Công Thương chủ trì hướng dẫn UBND các tỉnh chỉ đạo cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh tạo điều kiện tối đa cho việc xuất khẩu thịt lợn. Chỉ cho phép tái xuất thịt lợn và phụ phẩm thịt lợn đông lạnh sau khi đã xuất khẩu các lô hàng lợn, thịt lợn trong nước đang chờ thông quan tại các cửa khẩu trên địa bàn.
Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chỉ đạo lực lượng quản lý thị trường và lực lượng chức năng tăng cường kiểm tra, kiểm soát tạm nhập tái xuất thịt lợn và phụ phẩm thịt lợn, bảo đảm quản lý chặt chẽ không xảy ra buôn lậu gian lận thương mại.
Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cũng được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các địa phương chỉ đạo Sở Công Thương làm việc với các doanh nghiệp, cơ sở chế biến, giết mổ có năng lực dự trữ, chế biến tăng cường thu mua giết mổ cấp đông thịt lợn trong các tháng mùa hè sắp tới; rà soát chi phí trong các khâu nhằm giảm chi phí trung gian, giảm sự chênh lệch giữa giá thu mua và giá bán lẻ; tổ chức chương trình kết nối giữa doanh nghiệp và vùng sản xuất, tăng cường thu mua chế biến cấp đông; kêu gọi các doanh nghiệp tham gia chương trình bình ổn thị trường ký kết các hợp đồng tiêu thụ lợn thịt với các trang trại chăn nuôi để tạo nguồn cung ổn định phục vụ công tác bình ổn và bảo đảm thu mua lợn thịt cho người chăn nuôi với giá cả hợp lý.
Phó Thủ tướng giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng xem xét giãn nợ, miễn giảm lãi đối với các khoản vốn đã vay; tiếp tục cho vay mới đối với những hộ gia đình, cá nhân, tổ chức có nhu cầu vay cho phát triển chăn nuôi và sản xuất.
Về giải pháp lâu dài, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan, các địa phương tiếp tục có các giải pháp tổng thể, lâu dài để hướng dẫn các địa phương phát triển chăn nuôi có hiệu quả, bền vững.
Trong đó, xây dựng, hướng dẫn, giám sát việc thực hiện phát triển chăn nuôi gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm; tăng cường áp dụng công nghệ tiên tiến nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành và chế biến sâu các sản phẩm chăn nuôi để tăng sức mua trong nước và mở rộng thị trường xuất khẩu; rà soát điều chỉnh hạn chế mở mới các cơ sở chế biến thức ăn chăn nuôi công nghiệp; giảm quy mô đàn lợn, nhất là đàn lợn nái, điều chỉnh lại cơ cấu chất lượng đàn giống, phương thức chăn nuôi phù hợp với từng phân khúc thị trường; tổ chức lại sản xuất chăn nuôi theo các chuỗi liên kết từ cung cấp đầu vào cho sản xuất đến chế biến, tiêu thụ, lấy doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ trang trại làm động lực nhằm kiểm soát tốt chất lượng, an toàn thực phẩm và điều tiết cung cầu thị trường các sản phẩm chăn nuôi.
UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của các Bộ, ngành chức năng có giải pháp tháo gỡ khó khăn để tiếp tục ổn định phát triển chăn nuôi trên địa bàn.
Bổ sung Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển. Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định 13/2017/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển ban hành kèm theo Quyết định 66/2014/QĐ-TTg ngày 25/11/2014 của Thủ tướng Chính phủ.
Theo đó, bổ sung Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển gồm: Công nghệ Internet kết nối vạn vật (IoT); Công nghệ thực tại ảo (Virtual Reality); công nghệ thực tại tăng cường (Augmented Reality); công nghệ vô tuyến thông minh; công nghệ in 3 chiều (3D).
Bên cạnh đó, bổ sung Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển gồm: Mô-đun, thiết bị, phần mềm, giải pháp tích hợp IoT; phần mềm, thiết bị, giải pháp, dịch vụ ảo hóa và điện toán đám mây; phần mềm, thiết bị, giải pháp, dịch vụ cho chính quyền điện tử, doanh nghiệp điện tử, thương mại điện tử, đào tạo điện tử, quảng cáo điện tử; phần mềm, thiết bị, giải pháp, dịch vụ thực tại ảo, thực tại tăng cường; dịch vụ quản trị hệ thống công nghệ thông tin; dịch vụ xử lý, phân tích, khai thác cơ sở dữ liệu lớn (Big Data); dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử; dịch vụ đánh giá, kiểm định an ninh, an toàn mạng và bảo mật thông tin;...
Quyết định có hiệu lực thi hành từ 15/6/2017.
Phí tạm ứng ngân quỹ nhà nước là 0,21%/tháng. Mức phí tạm ứng ngân quỹ nhà nước cho ngân sách trung ương và ngân sách cấp tỉnh áp dụng thống nhất là 0,21%/tháng (trên cơ sở một tháng có 30 ngày) tính trên số dư nợ tạm ứng và số ngày tạm ứng thực tế.
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 30/2017/TT-BTC quy định tạm ứng ngân quỹ nhà nước cho ngân sách trung ương và ngân sách các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Theo đó mục đích tạm ứng ngân quỹ nhà nước cho ngân sách trung ương để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ ngân sách trung ương, đáp ứng các nhu cầu chi đột xuất khi ngân sách trung ương chưa tập trung kịp nguồn thu.
Tạm ứng ngân quỹ nhà nước cho ngân sách cấp tỉnh để thực hiện các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thuộc kế hoạch đầu tư công hằng năm và trung hạn vốn cân đối ngân sách địa phương đã được Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định và được ghi trong dự toán ngân sách hằng năm được Hội đồng nhân dân tỉnh phê duyệt nhằm đẩy nhanh tiến độ, sớm hoàn thành, đưa vào khai thác sử dụng.
Thông tư nêu rõ mức tạm ứng ngân quỹ nhà nước cho ngân sách trung ương căn cứ vào khả năng thu và nhu cầu chi của ngân sách trung ương, do Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định.
Về tạm ứng cho ngân sách cấp tỉnh: Đối với tạm ứng ngân quỹ nhà nước được thực hiện và hoàn trả trong cùng năm ngân sách thì mức tạm ứng ngân quỹ nhà nước cụ thể cho từng ngân sách cấp tỉnh do Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định.
Đối với tạm ứng ngân quỹ nhà nước có thời hạn tạm ứng kéo dài qua năm ngân sách: Mức tạm ứng ngân quỹ nhà nước tối đa cho từng ngân sách cấp tỉnh không vượt quá hạn mức dư nợ vay còn lại của ngân sách cấp tỉnh và giới hạn tỷ lệ các khoản vay bù đắp bội chi của ngân sách địa phương có thời hạn vay ngắn hạn theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
Hạn mức dư nợ vay còn lại của ngân sách cấp tỉnh được xác định bằng chênh lệch giữa mức dư nợ vay của ngân sách cấp tỉnh theo quy định tại Khoản 6 Điều 7 Luật ngân sách nhà nước 2015 và các văn bản hướng dẫn và tổng dư nợ vay của ngân sách cấp tỉnh tại thời điểm đề nghị tạm ứng, bao gồm tất cả các khoản vay của ngân sách cấp tỉnh, cụ thể: trái phiếu chính quyền địa phương, vay lại từ nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ, vay của các tổ chức tài chính, tín dụng nhà nước theo các chương trình mục tiêu; tạm ứng ngân quỹ nhà nước và các khoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật…
Mức phí tạm ứng ngân quỹ nhà nước cho ngân sách trung ương và ngân sách cấp tỉnh áp dụng thống nhất là 0,21%/tháng (trên cơ sở một tháng có 30 ngày) tính trên số dư nợ tạm ứng và số ngày tạm ứng thực tế.
Mức phí tạm ứng quá hạn được tính bằng 150% mức phí tạm ứng quy định trên, được tính trên số dư nợ tạm ứng quá hạn và số ngày tạm ứng quá hạn.
Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 05/6/2017.
Quản lý kinh phí thực hiện Chương trình Giảm nghèo bền vững. Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 15/2017/TT-BTC quy định quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020.
Thông tư quy định cụ thể nguồn kinh phí thực hiện Chương trình. Theo đó, ngân sách trung ương bố trí kinh phí trong dự toán chi ngân sách nhà nước hàng năm của các Bộ, cơ quan trung ương để thực hiện nhiệm vụ được giao của Chương trình; bổ sung có mục tiêu cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách nhà nước và tỉnh Quảng Ngãi để triển khai các dự án của Chương trình; bổ sung có mục tiêu cho các địa phương tự cân đối được ngân sách kinh phí duy tu, bảo dưỡng cho các huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, các huyện nghèo theo quyết định phê duyệt của cấp có thẩm quyền được hưởng cơ chế, chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo (xã ĐBKK vùng bãi ngang).
Đối với ngân sách địa phương, các địa phương tự cân đối được ngân sách (trừ tỉnh Quảng Ngãi): Tự cân đối 100% vốn thực hiện Chương trình giai đoạn 2016-2020 (trừ các địa phương có huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang được ngân sách trung ương hỗ trợ kinh phí duy tu, bảo dưỡng). Mức bố trí vốn tối thiểu bằng mức do trung ương hỗ trợ bình quân cho các tỉnh chưa tự cân đối được ngân sách.
Với các địa phương nhận hỗ trợ từ ngân sách trung ương thì chủ động bố trí kinh phí cùng với kinh phí ngân sách trung ương hỗ trợ, thực hiện hiệu quả các dự án của Chương trình quy định tại Quyết định số 1722/QĐ-TTg, ưu tiên bố trí thêm nguồn vốn cho các vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các huyện nghèo, xã nghèo được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Các địa phương bố trí vốn đối ứng của ngân sách địa phương theo tỷ lệ: địa phương nhận hỗ trợ từ ngân sách trung ương từ 50% đến dưới 70%, đối ứng tối thiểu bằng 10% tổng ngân sách trung ương hỗ trợ thực hiện Chương trình; địa phương nhận hỗ trợ từ ngân sách trung ương dưới 50%, đối ứng tối thiểu bằng 15% tổng ngân sách trung ương hỗ trợ thực hiện Chương trình.
Các địa phương nhận hỗ trợ từ ngân sách trung ương từ 70% chủ động bố trí kinh phí và lồng ghép các nguồn lực khác để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình.
Quy định mới về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới. Bộ Giao thông vận tải đã ban hành Thông tư số 12/2017/BGTVT quy định về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ.
Theo đó, điều kiện đối với người học lái xe là công dân Việt Nam, người nước ngoài được phép cư trú hoặc đang làm việc, học tập tại Việt Nam. Đủ tuổi (tính đến ngày dự sát hạch lái xe), sức khỏe, trình độ, văn hóa theo quy định; đối với người học để nâng hạng giấy phép lái xe, có thể học trước nhưng chỉ đươc dự sát hạch khi đủ tuổi theo quy định.
Người học để nâng hạng giấy phép lái xe phải có đủ thời gian lái xe hoặc hành nghề số km lái xe an toàn như sau:
Hạng B1 số tự động lên B1: thời gian lái xe từ 01 năm trở lên và 12.000 km lái xe an toàn trở lên.
Hạng B1 lên B2: thời gian lái xe từ 01 năm trở lên và 12.000 km lái xe an toàn trở lên.
Hạng B2 lên C, C lên D, D lên E; các hạng B2, C, D, E lên hạng F tương ứng; các hạng D, E lên FC: thời gian hành nghề từ 3 năm trở lên và 50.000 km lái xe an toàn trở lên.
Hạng B2 lên D, C lên E: thời gian hành nghề từ 05 năm trở lên và 100.000 km lái xe an toàn trở lên.
Người học để nâng hạng giấy phép lái xe lên các hạng D, E phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc tương đương trở lên.
Người có nhu cầu cấp giấy phép lái xe các hạng A1, A2, A3, A4 và ô tô hạng B1 được tự học các môn lý thuyết, nhưng phải đăng ký tại cơ sở được phép đào tạo để được ôn luyện, kiểm tra; riêng đối với các hạng A4, B1 phải được kiểm tra, cấp chứng chỉ đào tạo.
Người có nhu cầu cấp giấy phép lái xe các hạng B2, C, D, E và giấy phép lái xe các hạng F phải được đào tạo tập trung tại cơ sở được phép đào tạo và phải được kiểm tra cấp chứng chỉ sơ cấp hoặc chứng chỉ đào tạo. Trong thời hạn trên 1 năm kể từ ngày cơ sở đào tạo kết thúc kiểm tra, xét công nhận tốt nghiệp khóa đào tạo, nếu không kiểm tra cấp chứng chỉ sơ cấp hoặc chứng chỉ đào tạo thì phải đào tạo lại theo khóa học mới.
Giấy phép lái xe hạng A1, A2, A3 không có thời hạn.
Giấy phép lái xe hạng B1 có thời hạn đến khi người lái xe đủ 55 tuổi đối với nữ và đủ 60 tuổi đối với nam; trường hợp người lái xe trên 45 tuổi đối với nữ và trên 50 tuổi đối với nam thì giấy phép lái xe được cấp có thời hạn 10 năm kể từ ngày cấp.
Giấy phép lái xe hạng A4, B2 có thời hạn 10 năm, kể từ ngày cấp.
Giấy phép lái xe hạng C, D, E, FB2, FC, FD, FE có thời hạn 5 năm, kể từ ngày cấp.
Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 1/6/2017. đầu trang(
TIÊU ĐIỂM
Theo Bệnh viện Truyền máu Huyết học TP.HCM, gần 20.000 viên thuốc Tasigna 200 mg đặc trị ung thư máu phải tiêu hủy có giá 3,9 tỷ đồng, không phải gần 14 tỷ như kết luận của Thanh tra TP.
Mới đây, Thanh tra TP.HCM công bố kết luận khi kiểm tra kho thuốc BV Truyền máu Huyết học TP.HCM đến ngày 31/12/2015 còn tồn kho 19.997 viên thuốc Tasigna 200mg đã hết hạn sử dụng từ tháng 5/2015, giá gần 14 tỷ đồng, buộc phải tiêu hủy đã khiến dư luận xôn xao.
Giám đốc (GĐ) BV Truyền máu huyết học TP.HCM Phù Chí Dũng cho hay, gần 20.000 viên thuốc phải tiêu hủy nằm trong số thuốc tổng cộng 34.608 viên thuốc được viện trợ cho chương trình Tasigna Copay cho 50 bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu mạn dòng tủy sử dụng trong 12 tháng.
Ông Dũng khẳng định, số thuốc viện trợ đã về trễ so với dự kiến và lúc đó hạn dùng còn 10 tháng là do phụ thuộc vào thủ tục xin tiếp nhận thuốc của các đơn vị chức năng.
Cụ thể, tháng 7/2013, BV nhận được thư tặng thuốc Tasigna từ nhà sản xuất. Ngày 26/11/2013, BV nhận được bộ chứng từ để đi làm các thủ tục xin phép các cấp có thẩm quyền (Sở Y tế, Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị TP.HCM, UBND TP, Cục Quản lý Dược, Sở tài chính…).
Ngày 21/7/2014, BV nhận được văn bản đồng ý của Sở tài chính và báo cáo Công ty Novartis chuyển số lô thuốc về Việt Nam và đến ngày 27/7/2014 số lô thuốc đã về tới cảng Tân Sơn Nhất.
Tuy nhiên, khi đó Chi cục Hải quan TP.HCM không đồng ý cho BV tiếp nhận lô hàng thuốc viện trợ do hạn dùng dưới 12 tháng.
BV sau đó tiếp tục gửi công văn trình lên Bộ Y tế, Sở Y tế TP và Cục Hải quan để xem xét, hỗ trợ giải quyết.
Đến ngày 13/8/2014, BV cũng đã nhập kho lô thuốc trên, đến thời điểm này, hạn sử dụng của lô thuốc chỉ còn 10 tháng.
Tính từ khi BV nhận được thư hiến tặng thuốc cho đến khi thuốc nhập kho BV mất gần 12 tháng.
Tháng 8/2015, Sở Y tế có văn bản đồng ý cho bệnh viện tiêu hủy 19.997 viên thuốc Tasigna hết hạn.
Vị GĐ BV Truyền máu huyết học TP.HCM nói rằng, lý do nữa là tiêu chuẩn người bệnh đủ điều kiện tham gia chương trình giảm nhiều so với dự kiến ban đầu.
Nguyên nhân là do quy định tham gia Tasigna Copay là đồng chi trả chứ không phải cấp miễn phí. Chương trình chi trả 11,5 tháng thuốc còn người bệnh phải chi trả 0,5 tháng thuốc còn lại (khoảng 42 triệu đồng).
Ban đầu, phía nhà sản xuất đề nghị tỷ lệ đồng chi trả là 10% do bệnh nhân góp. Sau nhiều lần thảo luận, mới giảm xuống 4%.
BV phải chờ thêm thời gian để người bệnh mua toa thuốc Tisigna lần đầu. Tới 27/9/2014 mới có người bệnh đầu tiên đủ kinh tế mua toa thuốc đầu tiên theo quy định.
Cuối cùng chỉ có 26 người được dùng thuốc. Khi hạn sử dụng thuốc chỉ còn 10 tháng, số lượng bệnh nhân chỉ bằng 1/2 so với dự trù nên không sử dụng kịp số thuốc vừa nhập.
"Bệnh viện đã chủ động đề nghị với nhà sản xuất mở rộng chương trình sang cho các bệnh nhân ở BV khác hoặc miễn đồng chi trả cho bệnh nhân để tận dụng hết số thuốc nhưng công ty không đồng ý mà chấp nhận việc tiêu hủy" - ông Dũng phân trần.
Ông Dũng khẳng định, giá trị số thuốc viện trợ phải tiêu hủy tính theo đơn giá vào thời điểm tiếp nhận năm 2015 là gần 3,9 tỷ đồng (199.000 đồng/viên), không phải gần 14 tỷ đồng (700.037 đồng/viên) như kết luận thanh tra TP.
"Có sự chênh lệch giá trị lô thuốc là do BV sơ suất không kiểm tra kỹ bản dự thảo kết luận của Thanh tra TP gửi BV trước khi kết luận chính thức" - ông Dũng nói.
Liên quan vấn đề này, tại Bệnh viện Ung bướu TP.HCM cũng phải tiêu hủy 267 viên thuốc Nexavar - được viện trợ để điều trị ung thư gan và thận, trị giá hơn 250 triệu đồng do hết hạn sử dụng.
Nguyên trưởng khoa Dược Bệnh viện Ung bướu TP.HCM Nguyễn Thị Ngọc Dung lý giải rằng trước đó, thuốc Nexavar nằm trong danh mục thanh toán bảo hiểm y tế, lượng người bệnh sử dụng lớn.
Tuy nhiên, theo Luật bảo hiểm Y tế sửa đổi có hiệu lực từ 1/1/2015, bệnh nhân sử dụng thuốc Nexavar phải thanh toán 50% chi phí, lượng bệnh nhân dùng thuốc giảm 2/3.
Thời gian đó, BV cũng đã báo công ty để luân chuyển thuốc đi nơi khác, tránh lãng phí. Khi còn 267 viên thì phải tiêu hủy.
Lãnh đạo các BV ở TP.HCM thừa nhận thủ tục nhận thuốc viện trợ còn nhiều khâu khiến cho BV khá mệt mỏi.
Nếu thủ tục được rút ngắn lại, linh hoạt hơn thì sẽ không có việc phải tiêu hủy lượng thuốc lớn điều trị ung thư trong khi người bệnh không có dùng. (Vietnamnet 4/5) đầu trang(
PHÁT NGÔN NÓNG
Loạn cấp phó không chỉ riêng Đà Nẵng
“Ở mình, chủ tịch như tôi ngày nào cũng đi họp, phó chủ tịch thường trực cũng đi họp. Cấp phó nhiều thế mà vẫn thấy thiếu”, (Chủ tịch UBND thành phố Đã Nẵng Huỳnh Đức Thơ đã phát biểu như vậy tại buổi làm việc với đoàn giám sát của Quốc hội ngày 27.4) đầu trang(
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Bộ GTVT bỏ quy định buộc đổi bằng lái xe vật liệu giấy sang nhựa PET. Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) vừa ban hành Thông tư 12/2017/TT-BGTVT về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ (GPLX), hiệu lực thi hành từ ngày 1-6-2017 nhằm thay thế Thông tư 58/2015/TT-BGTVT ngày 20/10/2015.
Điểm mới và đáng chú ý nhất trong thông tư vừa ban hành là quy định tại điều 37 về việc đổi GPLX bằng giấy sang GPLX bằng vật liệu nhựa (PET) được khuyến khích thực hiện trước ngày 31-12-2020. Điều này có nghĩa là chỉ khuyến khích người dân thực hiện, đồng thời bỏ tất cả quy định bắt buộc người dân phải đổi GPLX bằng giấy sang vật liệu PET trong Thông tư 58/2015/TT-BGTVT.
Thông tư 12/2017/TT-BGTVT cũng quy định người có GPLX có thời hạn chỉ thực hiện việc đổi GPLX trước khi hết thời hạn sử dụng; người có GPLX bị hỏng còn thời hạn sử dụng được đổi GPLX trước thời hạn.
Trước đó, điều 57 của Thông tư 58/2015/TT-BGTVT quy định đổi GPLX ô tô và giấy phép hạng A4 bằng vật liệu giấy sang vật liệu PET phải thực hiện xong trước ngày 31/1/2016; GPLX mô tô không thời hạn, GPLX các hạng A1, A2, A3 phải xong trước ngày 31/12/2020. Sau 6 tháng của thời hạn này, người có GPLX bằng giấy chưa đổi sang thẻ PET thì phải thi lại lý thuyết để được cấp GPLX mới. Với quy định này, nhiều người đã ồ ạt đi đổi GPLX vì sợ phải thi lại khiến nhiều điểm đổi GPLX quá tải.
Cuối năm 2016, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tư pháp đã “tuýt còi” quy định tại Thông tư 58 về lộ trình chuyển đổi GPLX sang thẻ PET. Cơ quan này cho rằng việc buộc người dân chuyển đổi GPLX bằng giấy sang thẻ PET là không có cơ sở pháp lý, đồng thời đề nghị Bộ GTVT xem xét xử lý trách nhiệm đối với tập thể, cá nhân đã tham mưu xây dựng nội dung gây nhiều tranh cãi này. Bộ GTVT đã phải xây dựng dự thảo Thông tư 12 theo hướng bỏ những quy định trái luật đã nêu.
Thiếu tướng Trần Thế Quân, Phó Cục trưởng Cục Pháp chế và Cải cách hành chính tư pháp (Bộ Công an), khẳng định về nguyên tắc, GPLX còn thời hạn hay vô thời hạn thì người dân được sử dụng bình thường, lực lượng CSGT không thể xử phạt.
Theo TS Lê Hồng Sơn, nguyên Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, GPLX là một loại giấy tờ để người dân chứng minh một quyền của mình. Nếu muốn quy định về thời hạn của GPLX thì phải được quy định từ cấp nghị định của Chính phủ trở lên, cấp bộ hay địa phương không có quyền đó.
Ông Sơn cũng cho hay vừa qua, nhiều cơ sở cấp đổi GPLX luôn trong tình trạng quá tải, chưa kể vì muốn làm nhanh thì người dân phải mất thêm tiền cho “cò” dịch vụ.
Đánh giá về những bất cập do Thông tư 58/2015/TT-BGTVT gây ra, TS Lê Hồng Sơn cho rằng thông tin được nêu trong đó là tùy tiện khiến người dân lo sợ nếu không đi đổi GPLX thì sẽ bị xử phạt tiền và thi lại lý thuyết để được cấp mới. Điều đó có nghĩa đã gây ảnh hưởng tới quyền sử dụng tài sản của người dân và làm cho người dân hiểu sai. Do đó, phải xử lý trách nhiệm của những người đưa ra nghiên cứu, đề xuất ban hành quy định đó.
“Cần xử lý kỷ luật những cán bộ này chứ không thể chỉ xử lý theo kiểu rút kinh nghiệm” - ông Sơn bày tỏ và nói Bộ GTVT đã ban hành văn bản có quy định trái luật như thế thì ít nhất phải có lời xin lỗi người dân, còn cao hơn xin lỗi là xác định trách nhiệm của mình để xử lý hậu quả.
Hòa Bình: Cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho người nộp thuế. Bám sát vào chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Bộ Tài chính, Tổng Cục thuế về các nội dung chỉ đạo về cải cách hành chính (CCHC), Cục Thuế tỉnh đã xây dựng kế hoạch cụ thể đưa các nội dung CCHC vào chương trình kế hoạch, nhiệm vụ công tác hàng năm, hàng quý để chỉ đạo các đơn vị chủ động thực hiện, tạo chuyển biến rõ rệt các lĩnh vực của CCHC, góp phần quan trọng quản lý và khai thác tốt các nguồn thu, tạo điều kiện cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ ngân sách với Nhà nước, hoàn thành các chỉ tiêu thu ngân sách hàng năm.
Về cải cách thể chế, Cục thuế tỉnh đã tổ chức tốt các chương trình kế hoạch hàng năm, nghiên cứu, liên hệ với thực tế địa phương để đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản quy phạp pháp luật thuế, các chính sách thuế về cải cách TTHC, quy trình tổ chức thực hiện quản lý thuế. Bộ phận pháp chế đã cập nhật, thẩm định và xử lý những văn bản Cục thuế ban hành bảo đảm đúng quy định.
Cục thuế đã vận hành tốt trang Website, phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng, cập nhật các thông tin hữu ích phục vụ cho công tác thuế. Cục thuế tỉnh đã thực hiện tốt chỉ đạo kê khai và nộp thuế điện tử, bước quan trọng cải cách thủ tục hành chính thuế, tạo điều kiện cho người nộp thuế và cơ quan thuế, cắt giảm thời gian và chi phí mà người nộp thuế phải bỏ ra thực hiện thủ tục hành chính thuế. Đến nay, 100% doanh nghiệp đã kê khai thuế qua mạng, 95% doanh nghiệp đăng ký và nộp thuế điện tử.
Cùng với đó, Cục thuế tỉnh đã quan tâm xây dựng tổ chức bộ máy, triển khai tốt kế hoạch đào tạo, tập huấn cho cán bộ, công chức theo đúng mục tiêu của ngành, góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả, hiệu lực lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Quý I, Cục thuế đã đào tạo, bồi dưỡng trên 200 lượt công chức, trong đó cho hơn 100 công chức được đào tạo kỹ năng giao tiếp và văn hóa ứng xử công vụ.
Bộ phận “một cửa” của Cục thuế được trang bị đầy đủ phương tiện làm việc, bố trí cán bộ, công chức có đủ năng lực phục vụ người nộp thuế đến giao dịch với cơ quan thuế. Hàng tháng đã duy trì “ Tuần lễ lắng nghe ý kiến của người nộp thuế”. Qua đó giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc của NNT. Trong quý I/2017 Cục thuế đã tiếp nhận và trả kết quả TTHC thuế cho 272 lượt hồ sơ; trả lời trực tiếp qua bộ phận “ một cửa” 198 lượt, trả lời qua điện thoại 330 lượt, trả lời bằng văn bản 10 lượt; tổ chức triển khai đề án “ Tăng cường quản lý đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu trên địa bàn” cho 150 đơn vị.
Song song với việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế và giải quyết các công việc nội bộ của ngành, Cục thuế đã duy trì có hiệu quả hệ thống kết nối trao đổi thông tin giữa các ngành: Thuế- Kho bạc- Tài chính, tăng cường quản lý thu ngân sách qua kho bạc Nhà nước; ủy nhiệm thu thuế cho các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng nhằm đơn giản thủ tục hành chính thuế, tạo điều kiện cho người nộp thuế chấp hành pháp luật thuế.
Từ việc đẩy mạnh CCHC đã góp phần hoàn thành các chỉ tiêu thu ngân sách hàng năm. Năm 2016, tổng thu ngân sách Nhà nước đạt 2962 tỷ đồng, đạt 116% dự toán Chính phủ giao. Quý I/2017, thu ngân sách Nhà nước của tỉnh đạt 707 tỷ đồng, đạt 26% dự toán Chính phủ giao. Tuy nhiên, theo đánh giá của ngành thuế: Chính sách, pháp luật liên quan đến lĩnh vực thiếu nhiều và đang trong giai đoạn sửa đổi, do đó, việc giải đáp những vướng mắc cho người nộp thuế đòi hỏi công chức cần nghiên cứu mất nhiều thời gian mới hướng dẫn được.
Mặt khác, việc kê khai thuế qua mạng tuy đạt được chỉ tiêu của Tổng Cục thuế giao nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Ngành thuế đang đẩy mạnh công tác CCHC nhằm đơn giản thủ tục, tạo thuận lợi cho NNT thực hiện nghĩa vụ ngân sách với Nhà nước. đầu trang(
MÔ HÌNH - KINH NGHIỆM
Bắc Cạn khuyến khích sản xuất nông, lâm nghiệp hàng hóa. Từ nay đến năm 2020, tỉnh Bắc Cạn sẽ bố trí 100 tỷ đồng từ nguồn ngân sách tỉnh và các nguồn vốn hợp pháp khác để hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng hàng hóa nhằm nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, trong đó chủ yếu là người dân tộc thiểu số ở địa phương.
HĐND tỉnh Bắc Cạn vừa ban hành Nghị quyết 08/2017/NQ-HĐND về việc ban hành Quy định chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất hàng hóa giai đoạn 2017 - 2020, nhằm: Khuyến khích người dân tham gia liên doanh, liên kết, hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã (HTX) để phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, từng bước xây dựng các sản phẩm có thương hiệu của tỉnh.
Duy trì và phát triển các loài cây, con, sản phẩm địa phương có thế mạnh, có giá trị kinh tế cao; hình thành các khu sản xuất ứng dụng công nghệ, sản xuất hữu cơ, sản xuất sạch. Đồng thời, thông qua việc hỗ trợ của tỉnh, nhằm chuyển giao các quy trình sản xuất một số loại cây trồng, vật nuôi có thế mạnh của địa phương, tạo ra sản phẩm có chất lượng được chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng cao giá trị gia tăng gắn với xây dựng nông thôn mới.
Các nhóm đối tượng và mức được hỗ trợ, bao gồm: Hỗ trợ xây dựng mười mô hình HTX kiểu mới, thực hiện việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ, đầu tư sản xuất theo chuỗi giá trị, mức hỗ trợ là 300 triệu đồng/HTX. Các HTX, tổ hợp tác, trang trại, gia trại vay vốn từ các tổ chức tín dụng, có quy mô sản xuất từ 0,3 ha rau trở lên/điểm; sản xuất cam, quýt từ 5 ha trở lên/điểm; sản xuất hồng không hạt, mơ vàng, chè có quy mô từ 3 ha trở lên/điểm; gia trại chăn nuôi có quy mô từ 10 con trâu, bò trở lên, đàn dê từ 50 con trở lên, đàn lợn từ 10 con lợn nái sinh sản trở lên, 300 con lợn thịt trở lên; trồng cây gỗ lớn từ 5 ha trở lên, trồng cây dược liệu từ 0,5 ha trở lên thì được hỗ trợ lãi suất 6%/năm, thời gian được hỗ trợ, mức vay tối đa được hỗ trợ tùy theo loại hình cụ thể. Bên cạnh đó, tỉnh hỗ trợ lãi suất 6%/năm đối với các doanh nghiệp, HTX chế biến, tiêu thụ rau, củ, quả, cây dược liệu, chăn nuôi; hỗ trợ chi phí xây dựng và mua sắm trang thiết bị cho hai điểm trưng bày, giới thiệu và tiêu thụ các sản phẩm nêu trên.
Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Cạn Lý Thái Hải cho biết: Với những chính sách hỗ trợ cụ thể, thiết thực, phù hợp thực tế, mang tính chất khuyến khích sản xuất hàng hóa, chúng tôi kỳ vọng đến năm 2020, tỉnh sẽ có mười HTX kiểu mới sản xuất gắn với chuỗi giá trị; 25 ha sản xuất rau áp dụng công nghệ cao; 500 ha rau, 1.000 ha cam - quýt, 200 ha hồng không hạt, 100 ha mơ vàng, 300 ha chè đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm; ít nhất bốn khu đất (từ 3 ha trở lên) sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hơn 500 trang trại và gia trại chăn nuôi có quy mô; 7.000 ha rừng kinh doanh cây gỗ lớn...
Ngoài phát triển trang trại, gia trại, tỉnh sẽ chuyển đổi phương thức sản xuất, góp phần khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, hiệu quả chưa cao, sức cạnh tranh của sản phẩm còn thấp, chưa gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ như hiện nay để nâng cao giá trị gia tăng của hàng hóa nông, lâm nghiệp; tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân mà chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, gắn với xây dựng nông thôn mới trên địa bàn.
Bước chuyển mình "khổng lồ" của miền Tây. Miền Tây, nếu hạt lúa con tôm, trái cây… có trồi trụt giá buổi sáng, thì có thể buổi chiều đã thành chuyện cũ, mấy ai bận tâm khi mọi thứ đến và đi rất nhanh. Trong giữa đi và đến là sự năng động, sáng tạo, dám làm việc lớn… vốn là một hằng số của người nông dân miền Tây.
Có lẽ, lưu dân đầu tiên đến miền Tây là vào nửa đầu thế kỷ XVII. Họ là những nông dân nghèo bỏ xứ, lênh đênh trên con thuyền xuôi về phương Nam rồi đậu lại miền đất mới, hoang sơ mênh mông nước, tràm, cỏ lau và cây sậy. Người nông dân sống riêng rẽ trên diện tích rộng, mỗi nơi đều có người “đầu lĩnh” đứng ra gánh vác, lo toan và về sau thì cát cứ một vùng. Có thể coi đó là tiền đề của cái “Giang hồ hảo hớn, đại ca Nam Bộ” sau này, đã được phản ảnh trong bộ phim “Dưới cờ đại nghĩa”.
Người dân tìm vùng đất mới, với mong muốn đổi thay cuộc sống, cho dù thay đổi theo hướng nào. Và rồi theo cách “vết dầu loang”, thấy nơi nào tiện cho sinh sống là họ đi tới đó lập làng. Với thuế khóa thông thoáng, tầm quản lý lỏng lẻo thời nhà Nguyễn, miền Tây đã hút được nhiều tài lực, vật lực, người có chí khí các nơi về khẩn hoang, mở đất. Và họ đóng vai trò quan trọng kiến tạo nên chợ, nên làng, nên đồng, nên ruộng, nên miệt vườn… ở 13 tỉnh miền Tây.
Nổi tiếng phóng khoáng, rộng rãi, bụng dạ thật lòng – người miền Tây muốn nói điều gì là nói ngay điều ấy, không vòng vo tam quốc. Có được điều này, là sự kết nối hàng trăm năm chung sống hài hòa các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer… với những phong tục, tôn giáo khác nhau, song họ sống cùng nhau, tôn trọng, hòa hợp và đoàn kết.
Do hội tụ người ở muôn nơi - miền Tây, cũng có những tính cách trái ngược nhau với biên độ khá rộng “đã làm thì làm chết thôi, đã chơi thì chơi tới bến, đã thuận lòng thì mở ruột, cùng gan”, sẵn sàng tiếp nhận cái mới, chấp nhận từ bỏ quê để tìm vùng đất mới như những cuộc “thiên di” đầy thách thức. Người miền Tây thường coi nhẹ tiền tài, vật chất, trọng nghĩa tình, thích an nhàn bên sông nước, ít lo đến chuyện ngày mai và khi nói “xạo” thì ngất trời, nhưng trọng nội dung hơn hình thức màu mè.
Năm 1978, trận “đại hồng thủy” đã nhấn chìm hàng vạn ha lúa màu, sau đó là dịch rầy nâu tàn phá, đẩy người nông dân vào bờ vực đói nghèo; Nhà nước, nhà khoa học kêu gọi nông dân chung tay tìm giống lúa kháng rầy. Trong gian truân ấy, đã xuất hiện nhiều nông dân dám nghĩ, dám làm – ông Đặng Văn Hữu (Long An) là một điển hình. Ông đề nghị Ty Nông nghiệp thành lập Tổ Chọn giống, với 5 thành viên. Sau những ngày nay đây, mai đó, ông Hữu đã tìm thấy 1 khóm lúa cao hơn, cổ lúa kín, lá lúa thẳng, tươi hơn trong đám lúa lụi tàn. Sau 6 năm bền bỉ cấy trồng, ghi chép, chọn lọc…, từ 1 khóm lúa, ông nhân ra trên diện tích 8 công – lúa cấy được 3 vụ, kháng rầy…
Lúa trở thành “cây cứu đói”, tạo đà cho hạt gạo xuất khẩu hôm nay. Ngày đón nhận Danh hiệu Anh hùng Lao động, ông Hữu vẫn đơn sơ trong bộ phục bà ba, khăn rằn và đôi dép tổ ong.
Nông dân Nguyễn Văn Bé Hai ở huyện Châu Thành, Đồng Tháp, đã thấu nỗi đau của nước cạn, cầu hư…, trẻ em đến trường mùa nước lớn, hàng trăm tấn tôm cá, quả, rau bị ứ dồn, không nơi tiêu thụ. Yêu người, yêu ruộng – ông Bé đi học “lỏm” thợ cầu chuyên nghiệp, mỗi ngày một ít để bổ sung vào kiến thức.
Đến năm 2010, ông Bé bắt đầu việc xây dựng cầu – việc mà ông chưa từng nghĩ đến. Thế rồi, đến từng ngõ, gõ từng nhà, vận động nhân dân, quyên góp tiền, ông xây dựng được 45 cây cầu bê tông trọng tải từ 2,5 đến 5 tấn, có giá trị ít nhất là 90 triệu đồng, cao nhất là 500 triệu đồng/cầu ở cả trong và ngoài tỉnh. “Tiếng lành đồn xa”, nhiều mạnh thường quân ở các tỉnh gởi thư, ngỏ lời nhờ ông xây cầu giúp. Chia sẻ niềm vui, ông Bé giản dị rằng: “Được bà con quý mến, tôi thấy đó là niềm vui, hạnh phúc của mình. Mong mình có sức khỏe tốt để tiếp tục làm việc, giúp đỡ bà con”.
42 năm hòa bình thống nhất, nông dân miền Tây có thế đứng độc lập, tự do; cây lúa có thế đứng trong xóa đói, giàm nghèo; con cá, con tôm có thế đứng làm giàu. Như lớp người xưa đi mở đất – nay đi đầu đổi mới, nhưng vẫn giản dị, khiêm nhường như các ông: Nguyễn Văn Bé Hai (Đồng Tháp), Đặng Văn Hữu (Long An), Võ Quan Huy (Đồng Tháp), Võ Trung Thành (Hậu Giang)… Họ chỉ là số ít trong ngàn, vạn nông dân sản xuất kinh doanh giỏi ở miền Tây, mà chúng ta chưa kịp “nhớ mặt, gọi tên”.
Miền Tây đang đổi thay, lớn lên như một năng lượng làm giàu bằng nông nghiệp. Miền Tây như người khổng lồ trong cuộc chạy marathon tiến về phía trước, Một bước lỡ đà cũng làm chậm bước chân hội nhập của nông nghiệp Việt Nam. Dù không tự “ngắm mình” nhưng, nông dân miền Tây cũng đủ cảm nhận sức nặng trên đôi vai. Thế nên, miền Tây luôn trở mình, thao thức…!
Quảng Ninh: Mở đường thu hút đầu tư, hàng loạt dự án nghìn tỷ “ồ ạt” kéo đến. Đặt ra mục tiêu đến năm 2020 trở thành tỉnh có cơ cấu kinh tế dịch vụ - công nghiệp, trung tâm du lịch quốc tế, Quảng Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, thu hút doanh nghiệp.
Xác định công tác lập quy hoạch, xây dựng chiến lược là đặc biệt quan trọng để phát triển đồng bộ, bền vững, tỉnh đã tập trung chỉ đạo, chủ động đề xuất cơ chế và báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép thuê tư vấn nước ngoài lập các quy hoạch quan trọng. Quảng Ninh trở thành tỉnh đầu tiên trong cả nước hoàn thành đồng thời 7 quy hoạch chiến lược quan trọng.
Nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư, tỉnh đã tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư với quy mô quốc gia vào năm 2012, tạo hiệu ứng tích cực và chuyển biến rõ nét về tư duy, nhận thức. Nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi, Quảng Ninh là địa phương đầu tiên trong nước thành lập Ban Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư (IPA).
Đổi mới quy trình giải quyết các thủ tục đầu tư theo hướng minh bạch và thuận lợi hơn cho nhà đầu tư, rút ngắn 2/3 thời gian giải quyết thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư. Tỉnh đẩy mạnh xúc tiến đầu tư thông qua tổ chức các hội nghị, hội thảo cấp quốc gia, quốc tế; xác định địa bàn trọng điểm, nhà đầu tư chiến lược, dự án động lực để tập trung thu hút đầu tư và có cơ chế, chính sách, chỉ đạo, điều hành cụ thể đối với từng dự án.
Tỉnh quyết liệt chỉ đạo công tác giải phóng mặt bằng, thu hồi các dự án “treo”, tạo quỹ đất “sạch” cho nhà đầu tư; thường xuyên đối thoại, hỗ trợ và đồng hành cùng doanh nghiệp thông qua việc tổ chức gặp mặt, tiếp xúc doanh nghiệp, doanh nhân với phương châm “Hiệu quả của doanh nghiệp là sự thành công của tỉnh”.
Cải cách hành chính sẽ tháo gỡ “nút thắt” thu hút đầu tư, vì thế toàn thể hệ thống chính trị đã tập trung xây dựng thể chế và cải cách hành chính, đề án chính quyền điện tử, thành lập mô hình trung tâm hành chính công với nhiều kết quả tích cực, từng bước nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công.
Tổng số thủ tục hành chính ở 3 cấp là 1.353; có 1.041 thủ tục hành chính thực hiện tại Trung tâm Hành chính công tỉnh, thời gian giải quyết các thủ tục hành chính đã giảm được trên 40% so với quy định của Nhà nước.
“Nút thắt” hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông được tỉnh quyết liệt thực hiện. Việc kết nối đồng bộ từ tỉnh lộ, quốc lộ, đường cao tốc, cảng biển, sân bay, đã và đang tạo sức hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến với Quảng Ninh. Dự kiến trước năm 2020, hệ thống tuyến đường cao tốc nối Hà Nội, Hải Phòng với thành phố Hạ Long, Móng Cái sẽ được hoàn thành.
Quảng Ninh còn chủ động tích cực trong công tác triển khai các dự án theo hình thức đối tác công - tư nhằm triển khai có hiệu quả những dự án trọng điểm, giảm đầu tư ngân sách. Đến nay trên địa bàn tỉnh đã có 36 dự án triển khai đầu tư theo hình thức đối tác công - tư với tổng mức đầu tư là 35.990 tỷ đồng.
Với việc triển khai đồng bộ nhiều giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, thu hút doanh nghiệp, thời gian vừa qua hàng loạt các dự án của các nhà đầu tư trong nước như Tập đoàn FLC, Tuần Châu, Sun Group, Vingroup, BIM Group, My Way, ... đang tạo cho diện mạo của Quảng Ninh thay đổi từng ngày.
Tập đoàn FLC đã triển khai xây dựng dự án FLC Hạ Long với vốn đầu tư tới 3.400 tỷ đồng, tổng diện tích dự án là 224 ha, trải dài qua địa phận 5 phường của thành phố Hạ Long, gồm: Cao Thắng, Hồng Hải, Hồng Hà, Hà Lầm, Hà Trung.
Không chỉ đầu tư lớn vào dự án FLC Hạ Long, vừa qua, Tập đoàn FLC đã chính thức được chấp thuận chủ trương đầu tư vào dự án Tháp đôi cao nhất tỉnh Quảng Ninh. Đây là dự án triển khai theo hình thức BT đổi đất lấy hạ tầng, trong đó Tập đoàn FLC sẽ xây dựng trung tâm hành chính mới cho Thành phố Hạ Long, và nhận về phần đất hiện là trụ sở Hội đồng nhân dân, Thành ủy và Ủy ban thành phố Hạ Long để xây dựng tháp đôi.Tổng mức đầu tư dự án BT là hơn 2.800 tỷ đồng.
Mới đây nhất, ngày 17/3/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã có công văn chấp thuận cho Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển FLC Faros Vân Đồn nghiên cứu đầu tư dự án Tổ hợp dịch vụ du lịch giải trí cao cấp tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Theo phương án đầu tư, dự án sẽ bao gồm nhiều hạng mục như: Khu nghỉ dưỡng resort, khách sạn 5 sao, trung tâm hội nghị quốc tế, casino, sân golf, vườn thú safari, bảo tàng, khu làng nông nghiệp cộng đồng, thư viện… Tổng mức đầu tư dự án (tại đảo Ngọc Vừng) dự kiến khoảng 2 tỷ USD.
Tập đoàn Vingroup cũng đã khánh thành 2 dự án lớn trên địa bàn tỉnh là Trung tâm Thương mại Vincom Center Hạ Long (1.100 tỷ đồng) và Khu khách sạn nghỉ dưỡng biển cao cấp tại đảo Rều - Vinpearl Ha Long Bay Resort (1.200 tỷ đồng). Đặc biệt, dự án Khu dịch vụ cao cấp Bến Đoan có tổng mức đầu tư 12.081 tỷ đồng sắp hoàn thiện.
Tập đoàn này cũng đã nghiên cứu đầu tư xây dựng một khu tổ hợp dịch vụ thương mại, đô thị mới với quy mô khoảng 4.000ha tại thị xã Quảng Yên; đề xuất nghiên cứu đầu tư thêm các trung tâm thương mại Vincom Center tại các huyện, thị xã, thành phố tập trung đông dân cư của tỉnh.
Những kế hoạch tỷ USD của Sun Group đã và đang hiển hiện, như Dự án Sun World Ha Long Park (Công viên Đại Dương) với tổng vốn đầu tư 6.500 tỷ đồng. Sân bay Vân Đồn của Sun Group đầu tư có công suất 2 triệu hành khách/năm, tổng vốn đầu tư 7.500 tỷ đồng sẽ hoàn thành vào cuối năm nay.
Sun Group cũng đang đầu tư Dự án khu nghỉ dưỡng khoáng nóng cao cấp quy mô lớn tới 730ha tại TP Cẩm Phả, giáp Vịnh Bái Tử Long, tổng vốn đầu tư khoảng 3.500 tỷ đồng...
Bên cạnh đó, nhiều nhà đầu tư trên thế giới đã đổ vốn vào Quảng Ninh, như KinderWorld (Singapore) với công trình Khu phức hợp giáo dục quốc tế Singapore tại TP Hạ Long;
Tập đoàn Amata (Thái Lan) với dự án Khu phức hợp đô thị, công nghiệp, công nghệ cao tại TP Uông Bí và TX Quảng Yên; Công ty CPPT Trung Đông (UAE) với dự án đầu tư Tổ hợp khu công nghiệp và cảng biển tại khu vực Đầm Nhà Mạc, TX Quảng Yên; các công ty thứ cấp đầu tư vào Khu công nghiệp Hải Hà, Đông Mai... đầu trang(
TRÁI KHOÁY
Lập danh sách 66 hộ dân vùng ngập lũ để xin dự án “tái định cư khẩn cấp”, nhưng khi dự án làm xong, UBND TX.Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh) chỉ cấp đất cho 14 hộ. Hiện khu đất tái định cư còn hơn 8 nghìn mét vuông bỏ hoang, trong khi nhiều hộ dân sống vất vưởng.
Chuyện ngược đời nhưng có thật này đang xảy ra đối với chị Đậu Thị Thuần (SN 1987). Chồng bị bệnh hiểm nghèo qua đời năm 2015, để lại cho chị 4 đứa con dại, đứa lớn sinh năm 2001, đứa bé nhất sinh năm 2011.
Chiều 2.5, chúng tôi có mặt ở xóm Tuần Cầu, phường Trung Lương, TX.Hồng Lĩnh, chứng kiến cảnh 5 mẹ con côi cút chen chúc trong ngôi nhà cũ, ánh mắt buồn bã, cầu cứu.
Ngôi nhà này là do bố mẹ chồng chị xây cách đây hơn chục năm. Năm 2011, UBND tỉnh Hà Tĩnh thực hiện dự án khu tái định cư phường Trung Lương (TX.Hồng Lĩnh) được Chính phủ cấp vốn với mục tiêu “di dời khẩn cấp” 66 hộ dân ra khỏi vùng lũ lụt trong năm 2011.
Tuy nhiên, sau khi dự án hoàn thành, UBND phường Trung Lương lại tiến hành “bình xét”, chỉ cấp đất tái định cư cho 14 hộ. Nhiều gia đình có cặp vợ chồng đã tách hộ khẩu, nhưng đều bị “nhồi nhét” vào chung một hộ, và được cấp một mảnh đất khoảng 170m2.
Vợ chồng chị Đậu Thị Thuần mặc dù đã tách khẩu, nhưng vẫn bị cho là ở chung một nhà với mẹ chồng là bà Đậu Thị Thương. Bà Thương có hai con trai đã lập gia đình, tách hộ khẩu. Cả gia đình 13 người, chỉ được cấp một mảnh đất tái định cư khoảng 170 -180m2.
Quá chật chội, vợ chồng anh Nguyễn Văn Chiến (là em chồng chị Thuần), có hai con, phải ra ngoài thuê ở. “Nó vừa đi, mẹ con ôm nhau khóc”, bà Đậu Thị Thương mếu máo.
Nhà cũ của bà Thương theo quy định phải giao lại cho chính quyền quản lý. Mặc dù là đất phải “di dời khẩn cấp”, nhưng chính quyền lại cho một doanh nghiệp thuê để kinh doanh. “Nhà tôi coi như nhà của doanh nghiệp rồi”, bà Thương nói.
Nhà "tái định cư" của mẹ chồng quá chật chội, không thể ở được; chị Thuần phải ôm 4 đứa con dại đánh liều ra ở “chui” trong chính nhà cũ của mẹ chồng. 5 mẹ côi côi cút giữa xóm ngoài đê vắng tanh. “Vừa rồi, ông Mạnh (chủ đất được chính quyền cho thuê), đến đuổi, nhưng em xin ở lại vì không biết đi đâu”, chị Thuần mếu máo.
Hộ ông Trần Văn Ninh và bà Nguyễn Thị Mai có 4 người con, ở xóm Tuần Cầu, cũng chỉ được cấp một mảnh đất tái định cư. Quá chật chội, gia đình ông Ninh (gồm 9 người thuộc hai hộ) phải ở lại trên mảnh đất cũ mà chính quyền đã thu hồi, hàng ngày đối diện với nỗi lo sợ bị đuổi.
Không chỉ hộ chị Thuần, mà còn có nhiều gia đình khác, vốn đông con, con cái đã lập gia đình, tách hộ, đã được đưa vào danh sách “tái định cư khẩn cấp”, nhưng nay đều không được cấp đất. Như hộ ông Phạm Văn Khôi, 4 con trai, 2 con đã lập gia đình, sinh 3 cháu, nhưng tất cả đều được “nhồi” vào mảnh đất tái định cư 170m2.
Trong khi các hộ thuộc diện "di dời khẩn cấp” khốn khổ vì không đủ đất ở, thì diện tích đất quy hoạch khu tái định cư, ngoài 14 lô đã cấp cho 14 hộ, số còn lại 49 lô, được chính quyền… rao bán đấu giá.
Sau khi việc vỡ lở, việc bán đấu giá phải dừng. Diện tích đất còn lại, 49 lô đất, khoảng hơn 8 nghìn mét vuông, hiện bỏ hoang đã nhiều năm, làm nơi chăn bò. Một số diện tích dân để vật liệu, dựng chòi nhếch nhác. Dân đệ đơn kêu cứu xin cấp đất, nhưng chưa được giải quyết.
“Vừa rồi, Chủ tịch phường có nói, sẽ tìm cho mẹ con em mảnh đất xen dặm. Nhưng em làm gì có tiền. Số nợ chữa bệnh cho chồng, còn 270 triệu đồng. Mà đất “tái định cư khẩn cấp” thì bỏ hoang, quá vô lý”, chị Thuần nói.
Trao đổi vấn đề này với lãnh đạo phường Trung Lương, được biết nay chính quyền không thể cấp đất cho các hộ còn lại, vì "sợ các hộ khác không đồng tình". (Lao Động 3/5) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Bí ẩn lý do TT Putin bất ngờ sa thải hàng loạt tướng lĩnh cấp cao. Trong ngày Quốc tế lao động, Tổng thống Putin bất ngờ sa thải hàng loạt tướng lĩnh mà không công bố nguyên nhân cụ thể.
Theo TASS, Tổng thống Putin hôm 1/5 đã ký sắc lệnh sa thải một loạt tướng lĩnh. Theo đó, ông Putin đã sa thải ông Vladimir Artamonov, thứ trưởng bộ Tình trạng Khẩn cấp Nga. Đây cũng là một trong số những quan chức cấp cao nhất của Nga bị mất chức đợt này.
Sắc lệnh sa thải này được đăng trên cổng thông tin pháp lý chính thức của Nga.
Bên cạnh đó, chỉ thị này sa thải Thiếu tướng Sergei Vorontsov, phó giám đốc bộ phận phản ứng khẩn cấp thuộc trung tâm Quản lý Khủng hoảng Quốc gia tại bộ Tình trạng Khẩn cấp và Sergei Kadalov, người đứng đầu bộ phận giám sát và phòng ngừa của Bộ Khẩn cấp.
Bên cạnh đó, một số quan chức cấp cao thuộc ủy ban điều tra, cơ quan thi hành án liên bang, bộ Nội vụ cùng công tố viên khu vực Kostroma cũng bị sa thải.
Các nhân sự mới được bổ nhiệm để thay thế các vị trí bị sa thải cũng được công bố trong sắc lệnh.
Thời gian gần đây, Tổng thống Putin liên tục tiến hành các hoạt động điều chỉnh nhân sự lãnh đạo ở cả cấp liên bang lẫn cấp tỉnh.
Đây được cho là một phần trong kế hoạch của ông chủ Điện Kremlin nhằm chuẩn bị cho cuộc bầu cử tổng thống Nga năm 2018.
Hôm 9/3, Tổng thống Putin ký quyết định sa thải 10 tướng lĩnh không rõ nguyên nhân. Trước đó một tháng, 16 tướng lĩnh cấp cao thuộc bộ Nội vụ và bộ Tình trạng Khẩn cấp cũng bị bãi nhiệm.
Trước đó, ngày 2/2 ông Putin đã ký sắc lệnh cách chức 16 tướng thuộc bộ Tình trạng khẩn cấp, bộ Nội vụ và ủy ban Điều tra.
Theo sắc lệnh, tất cả 16 tướng này đều bị bãi miễn khỏi chức vụ đương nhiệm và 2 trong số các tướng này bị sa thải ra khỏi ngành.
Việc Tổng thống Putin ký sắc lệnh sa thải hàng loạt các quan chức cao cấp không còn là chuyện xa lạ.
Hồi tháng 11/2016, Tổng thống Putin đã sa thải một loạt quan chức cấp cao tại các cơ quan Chính phủ với lý do để cho họ "một cơ hội cống hiến cho khoa học”.
Hồi tháng 8/2016, ông Putin cũng bãi nhiệm 8 tướng lĩnh trong đó cũng có hai nhân vật thuộc Ủy ban điều tra Nga là Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thanh tra chống tham nhũng -Thiếu tướng Dmitry Shershakov và Thiếu tướng Vitaly Frolov - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Đảm bảo hoạt động.
Hàn Quốc mở phiên xét xử sơ thẩm đầu tiên đối với bà Park Geun-hye. Tại phiên tòa, các luật sư của cựu Tổng thống Park Geun-hye bác bỏ mọi cáo buộc đối với bà, trong đó có cáo buộc nhận hối lộ và lạm quyền.
Tòa án trung tâm quận Seoul hôm 2/5 tổ chức phiên xét xử sơ thẩm đầu tiên đối với cựu Tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye. Tuy nhiên bà Park Geun-hye đã vắng mặt do không bị bắt buộc phải xuất hiện tại phiên xét xử lần này.
Tại phiên tòa, các luật sư của cựu Tổng thống Park Geun-hye bác bỏ mọi cáo buộc đối với bà, trong đó có "nhận hối lộ và lạm dụng quyền lực" mà phía công tố đưa ra.
Tuy nhiên, phía công tố viên đã bác bỏ yêu cầu này, cho rằng không phù hợp để giải thích về các cáo buộc và khẳng định muốn chứng minh tội trạng của bà Park Geun-hye thông qua bằng chứng và các nhân chứng ở tòa án.
Trước khi phiên tòa chính thức diễn ra vào tháng 6 tới, Tòa án Trung tâm quận Seoul sẽ tiếp tục mở 2 hoặc 3 phiên xét xử sơ thẩm khác.
Bà Park Geun-hye bị phế truất chức Tổng thống theo quyết định của Tòa án Hiến pháp Hàn Quốc ngày 10/3. Nhà cựu lãnh đạo này bị cho là đã để người bạn thân Choi Soon-sil can thiệp vào công việc nhà nước và trục lợi bằng cách sử dụng ảnh hưởng dựa trên các mối quan hệ với Tổng thống.
Hiện bà Park Geun-hye đang đối mặt với 13 cáo buộc hình sự, trong đó có tham nhũng, lạm quyền, ép buộc hối lộ, tiết lộ bí mật của chính phủ... và bị giam giữ tại một trung tâm ở phía Nam thủ đô Seoul. ./. đầu trang(
|
|||