|
Ngày 03 tháng 05 năm 2017
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
TIÊU ĐIỂM
QUẢN LÝ
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
KINH TẾ
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
NHÌN RA THẾ GIỚI
CHÍNH SÁCH – CHỈ ĐẠO
Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa ký văn bản số 597/TTg-NN trong đó yêu cầu các bộ, ngành, địa phương đẩy nhanh các biện pháp đàm phán tìm thị trường xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi, tạo điều kiện tối đa cho việc xuất khẩu thịt lợn.
Ngành chăn nuôi của nước ta trong những năm qua đã phát triển nhanh, đáp ứng đủ nhu cầu sản phẩm thịt trong nước và từng bước vươn ra xuất khẩu với sản phẩm đa dạng hơn, chất lượng ngày càng cao, giá thành ngày càng hạ; ngành chăn nuôi đã có đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của nền kinh tế.
Tuy nhiên, từ cuối năm 2016 đến nay, ngành chăn nuôi lợn phát triển quá nóng dẫn đến cung vượt cầu quá lớn, giá thịt lợn giảm sâu đã ảnh hưởng trực tiếp đến người chăn nuôi, nhất là các hộ nông dân nghèo, các cơ sở kinh doanh thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y.
Để tháo gỡ những khó khăn cho ngành chăn nuôi, nhất là chăn nuôi lợn, giúp người chăn nuôi giảm bớt khó khăn, ổn định phát triển, để sản phẩm chăn nuôi đủ sức cạnh tranh cả ở thị trường trong nước và quốc tế, cả về chất lượng, an toàn thực phẩm và giá cả yêu cầu phải có các giải pháp cả trước mắt và lâu dài.
Về giải pháp giảm nguồn cung, mở rộng thị trường tiêu thụ, tháo gỡ khó khăn cho người chăn nuôi, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan, các địa phương tuyên truyền, làm việc cụ thể với các doanh nghiệp chế biến, các hộ tiêu thụ lớn về thịt (các khu công nghiệp, các đơn vị lực lượng vũ trang) để đẩy mạnh tiêu thụ, sử dụng sản phẩm thịt trong nước nhằm chia sẻ bớt khó khăn với người chăn nuôi.
Bên cạnh đó, phối hợp với Bộ Tài chính và các địa phương tăng cường chỉ đạo các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh áp dụng các giải pháp về công nghệ, quản lý phù hợp nhằm tiết kiệm chi phí, giảm giá thành, giá bán các sản phẩm đầu vào của ngành chăn nuôi, nhất là thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y. Đồng thời, phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao đẩy nhanh các biện pháp đàm phán tìm thị trường xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi, nhất là sản phẩm của ngành chăn nuôi lợn.
Thủ tướng Chính phủ cũng giao Bộ Công Thương chủ trì hướng dẫn UBND các tỉnh chỉ đạo cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh tạo điều kiện tối đa cho việc xuất khẩu thịt lợn. Chỉ cho phép tái xuất thịt lợn và phụ phẩm thịt lợn đông lạnh sau khi đã xuất khẩu các lô hàng lợn, thịt lợn trong nước đang chờ thông quan tại các cửa khẩu trên địa bàn.
Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chỉ đạo lực lượng quản lý thị trường và lực lượng chức năng tăng cường kiểm tra, kiểm soát tạm nhập tái xuất thịt lợn và phụ phẩm thịt lợn, bảo đảm quản lý chặt chẽ không xảy ra buôn lậu gian lận thương mại.
Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cũng được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các địa phương chỉ đạo Sở Công Thương làm việc với các doanh nghiệp, cơ sở chế biến, giết mổ có năng lực dự trữ, chế biến tăng cường thu mua giết mổ cấp đông thịt lợn trong các tháng mùa hè sắp tới; rà soát chi phí trong các khâu nhằm giảm chi phí trung gian, giảm sự chênh lệch giữa giá thu mua và giá bán lẻ; tổ chức chương trình kết nối giữa doanh nghiệp và vùng sản xuất, tăng cường thu mua chế biến cấp đông; kêu gọi các doanh nghiệp tham gia chương trình bình ổn thị trường ký kết các hợp đồng tiêu thụ lợn thịt với các trang trại chăn nuôi để tạo nguồn cung ổn định phục vụ công tác bình ổn và bảo đảm thu mua lợn thịt cho người chăn nuôi với giá cả hợp lý.
Phó Thủ tướng giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng xem xét giãn nợ, miễn giảm lãi đối với các khoản vốn đã vay; tiếp tục cho vay mới đối với những hộ gia đình, cá nhân, tổ chức có nhu cầu vay cho phát triển chăn nuôi và sản xuất.
Về giải pháp lâu dài, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan, các địa phương tiếp tục có các giải pháp tổng thể, lâu dài để hướng dẫn các địa phương phát triển chăn nuôi có hiệu quả, bền vững.
Trong đó, xây dựng, hướng dẫn, giám sát việc thực hiện phát triển chăn nuôi gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm; tăng cường áp dụng công nghệ tiên tiến nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành và chế biến sâu các sản phẩm chăn nuôi để tăng sức mua trong nước và mở rộng thị trường xuất khẩu; rà soát điều chỉnh hạn chế mở mới các cơ sở chế biến thức ăn chăn nuôi công nghiệp; giảm quy mô đàn lợn, nhất là đàn lợn nái, điều chỉnh lại cơ cấu chất lượng đàn giống, phương thức chăn nuôi phù hợp với từng phân khúc thị trường; tổ chức lại sản xuất chăn nuôi theo các chuỗi liên kết từ cung cấp đầu vào cho sản xuất đến chế biến, tiêu thụ, lấy doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ trang trại làm động lực nhằm kiểm soát tốt chất lượng, an toàn thực phẩm và điều tiết cung cầu thị trường các sản phẩm chăn nuôi.
UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của các Bộ, ngành chức năng có giải pháp tháo gỡ khó khăn để tiếp tục ổn định phát triển chăn nuôi trên địa bàn. (Năng Lượng Mới 30/4) đầu trang(
TIÊU ĐIỂM
“Ở mình, chủ tịch như tôi ngày nào cũng đi họp, phó chủ tịch thường trực cũng đi họp. Cấp phó nhiều thế mà vẫn thấy thiếu”, Chủ tịch UBND thành phố Đã Nẵng Huỳnh Đức Thơ đã phát biểu như vậy tại buổi làm việc với đoàn giám sát của Quốc hội ngày 27.4. Một ví dụ khá ấn tượng, Sở Y tế thành phố Đà Nẵng có 5 phó giám đốc, còn Sở LĐTBXH và Sở Nội vụ có 4 phó giám đốc.
Ông Huỳnh Đức Thơ còn đưa ra một so sánh, tuy có phần xa vời, nhưng cũng đáng để nhắc lại, đó là nước Mỹ to lớn vậy nhưng chỉ có một phó tổng thống.
Vậy thì, ý của ông Thơ về loạn cấp phó không còn là chuyện riêng của Đà Nẵng, mà nước Nam ở đâu cũng thế. Ở bất cứ cấp nào, bộ ngành, địa phương, cơ quan nào, cũng có nhiều phó, nhiều cơ quan đảng ở địa phương cũng như Trung ương có nhiều phó, chưa kể không ít cơ quan, phó nhiều hơn nhân viên.
Báo chí gần đây phát hiện một số sở ngành địa phương có lãnh đạo nhiều hơn nhân viên, nó như một căn bệnh của nền hành chính quốc gia, không phải bệnh nhẹ mà là trọng bệnh. Lãnh đạo nhiều như vậy nhưng kết quả của quản trị điều hành như thế nào ai cũng rõ. Nước mình, chưa mạnh, chưa giàu, còn đi vay nợ 'lắm khi tràn nước mắt", vậy thì dẹp loạn cấp phó đi cho dân nhờ.
Xin cung cấp thêm cho ông Huỳnh Đức Thơ con số, nước Mỹ có diện tích rộng lớn xấp xỉ 30 lần Việt Nam, dân số 320 triệu, có 2,1 triệu công chức. Việt Nam dân số 90 triệu, có 2,8 triệu công chức, viên chức. Nước Mỹ có nền kinh tế số 1 thế giới, điều hành không chỉ riêng nước Mỹ, còn Việt Nam với nền kinh tế nhỏ bé, lại sử dụng cả một bộ máy công chức đông hơn cả Mỹ. Như vậy, 160 người dân Mỹ chỉ nuôi một công chức, trong khi 40 người dân Việt Nam phải nuôi một công chức. Chỉ xem con số này thôi, đủ để biết vì sao nước mình nghèo.
Nuôi mà để yên cho nuôi thì dân còn may, đôi khi nạn sách nhiễu, đòi hối lộ, tham nhũng còn làm dân khổ hơn đóng thuế nuôi công chức.
Theo ông Huỳnh Đức Thơ, nguyên nhân loạn cấp phó là do loạn họp. Cả trưởng đến phó suốt ngày đi họp theo lịch cũng không đủ cho nên việc không chạy, người cũng không đủ để họp. Căn bệnh loạn họp này cũng không chỉ riêng Đà Nẵng, nó là bệnh nan y của nền hành chính công.
Còn nữa, loạn cấp phó vì nạn chia ghế, bán ghế.
Vậy thì chữa bệnh bằng cách nào, trước hết là giảm đến tối đa chuyện họp hành, để dành thì giờ giải quyết việc. Thứ hai là khoán quỹ lương, với một quỹ lương cho cấp phó như nhau, cơ quan nào ít phó thì lương của lãnh đạo cao, nhiều phó thì cứ chia nhỏ ra. Ví dụ một sở chỉ một giám đốc và một phó giám đốc thì lương sẽ cao hơn nhiều một giám đốc với 5 phó giám đốc.
Cải cách hành chính, giảm biên chế cứ nói mãi nhưng không làm được là vì không quyết liệt. Cứ thử mô hình khoán quỹ lương, quy định mỗi cơ quan chỉ có một đến hai phó, thì số lượng cấp phó và công chức sẽ giảm ngay lập tức. (Lao Động 30/4) đầu trang(
“Xã hội ta đề cao dân chủ thì phải đề cao việc công khai minh bạch thông tin, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân. Vì vậy, tôi cho rằng chuyện công khai đề xuất của Ủy ban Kiểm tra Trung ương không có gì bất thường".
Đây là quan điểm của ĐBQH khóa XI, XII – GS Nguyễn Minh Thuyết xung quanh câu chuyện mới đây Ủy ban Kiểm tra Trung ương công khai đề xuất hình thức kỷ luật với Uỷ viên Bộ Chính trị - Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh Đinh La Thăng.
GS Nguyễn Minh Thuyết cho rằng, pháp luật quy định rất rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị khi để xảy ra những sai phạm ở cơ quan, đơn vị mà họ quản lý. Người đứng đầu doanh nghiệp nhà nước cũng không phải là ngoại lệ. Nếu để xảy ra vi phạm quy định của nhà nước hoặc thiếu trách nhiệm khiến doanh nghiệp thua lỗ, thất thoát tài sản nhà nước, đặc biệt là nếu để xảy ra tham nhũng thì người đứng đầu phải bị xử lý. Trước hết là kỷ luật trong Đảng, kỷ luật hành chính; nghiêm trọng hơn thì phải xử lý bằng pháp luật.
“Chúng ta biết hầu hết các doanh nghiệp nhà nước làm ăn đều không có lãi. Từ vốn đến tài nguyên, các doanh nghiệp này đều được Nhà nước cung cấp, ưu ái hơn hẳn loại hình doanh nghiệp khác; thế mà làm ăn vẫn không hiệu quả, thậm chí có không ít tập đoàn, tổng công ty lớn để xảy ra những thất thoát rất lớn. Thật khó hình dung họ làm cách nào để thất thoát như vậy.
Trường hợp của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) là một trường hợp rất đáng ngạc nhiên. Bởi vì mặc dù khai thác dầu khí trên biển không phải chuyện đơn giản nhưng nói cho đúng, chỉ "móc của cải lên mà bán" mà vẫn thua lỗ thì rất khó giải thích. Trong khi đó ngân sách nhà nước năm nào cũng để lại hàng mấy nghìn tỷ cho doanh nghiệp này tái đầu tư. Chỉ có vừa làm vừa đổ đi thì mới lỗ như vậy. Rõ ràng người đứng đầu đơn vị đó phải chịu trách nhiệm” – GS Nguyễn Minh Thuyết nhấn mạnh.
Vị cựu đại biểu Quốc hội này cũng tin tưởng, cơ quan điều tra sẽ làm rõ nguyên nhân sự thất thoát tài sản của nhà nước là gì. Có phải do đơn thuần chỉ là thiếu kinh nghiệm kinh doanh hay còn nguyên nhân gì nữa?
Trở lại câu chuyện mới đây Ủy ban Kiểm tra Trung ương công khai đề nghị kỷ luật đối với ông Đinh La Thăng – Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn PVN chịu trách nhiệm người đứng đầu về các vi phạm, khuyết điểm của Ban Thường vụ Đảng ủy, Hội đồng Thành viên Tập đoàn PVN trong giai đoạn 2009 – 2011, GS Nguyễn Minh Thuyết cho rằng, việc công khai thông tin này là hoàn toàn đúng đắn.
“Bởi vì đã từ nhiều năm nay, Ủy ban Kiểm tra Trung ương họp đề xuất trường hợp kỷ luật nào đều có đăng báo công khai. Để đề xuất kỷ luật, Ủy ban Kiểm tra Trung ương phải có bằng cứ sai phạm rõ ràng.” - GS Nguyễn Minh Thuyết nói.
Ngoài ra, GS Thuyết cũng phân tích thêm, ở các nước phát triển, quá trình điều tra, đề nghị điều tra đối với các quan chức cấp cao đều được công khai. “Xã hội ta đề cao dân chủ thì phải đề cao việc công khai minh bạch thông tin, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân. Vì vậy, tôi cho rằng chuyện công khai đề xuất của Ủy ban Kiểm tra Trung ương không có gì bất thường. Từ nay, nên theo nếp sống văn minh như thế: Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và kỷ luật của tổ chức” - GS Nguyễn Minh Thuyết nhấn mạnh. (Infonet 2/5) đầu trang(
Nếu tới đây Quốc hội miễn nhiệm thêm đại biểu Võ Kim Cự thì số lượng đại biểu Quốc hội khóa XIV chỉ còn 491. Với việc số lượng đại biểu tiếp tục sụt giảm, Quốc hội có cần bầu bổ sung?
Tại cuộc bầu cử ĐBQH khóa XIV, trong số 496 ĐB được bầu có hai người trúng cử không được Hội đồng bầu cử Quốc gia công nhận tư cách ĐBQH là ông Trịnh Xuân Thanh và bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường.
Khóa XIV cũng đánh dấu sự mất mát lớn khi có 2 ĐBQH qua đời. Ngày 8/11/2016, tại Thừa Thiên - Huế, Hòa thượng Thích Chơn Thiện (SN 1942) - là ĐBQH cao tuổi nhất khóa XIV qua đời. Ông là ĐBQH các khóa XI, XII, XIII và là đại biểu đương nhiệm cao tuổi nhất Quốc hội XIV. Hơn 1 tháng sau, ngày 16/12, ĐBQH Ngô Văn Minh (SN 1959, ở Quảng Nam) cũng qua đời sau một thời gian mắc bệnh hiểm nghèo. Ông Minh là ĐBQH ba khóa XII, XIII và XIV.
Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại, Quốc hội khóa XIV còn 492 ĐB.
Mới đây nhất, ngày 28/4, Đoàn ĐBQH TP Cần Thơ do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân dẫn đầu đã có cuộc tiếp xúc cử tri tại quận Ninh Kiều. Tại cuộc tiếp xúc, nhiều cử tri đã đề cập trường hợp của ông Võ Kim Cự chưa thành khẩn nhận khuyết điểm, còn đổ thừa cho cơ chế, cho các bộ, ngành, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho biết: "Ban Bí thư đã chỉ đạo Quốc hội, Chính phủ phải làm thủ tục thôi nhiệm vụ ĐBQH và cho nghỉ hưu đối với ông Võ Kim Cự".
Theo Chủ tịch Quốc hội, ông Cự đã bị cách hết các chức vụ trước đó, chỉ còn chức Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam do không có sai phạm trong giai đoạn này. Ông Cự cũng có đơn xin thôi ĐBQH và Chủ tịch Quốc hội đã nhận được. “Theo quy định hiện hành, việc cho thôi ĐBQH nếu chưa đến kỳ họp Quốc hội thì do Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, vì lý do sức khỏe hoặc lý do khác. Ở đây, ông Võ Kim Cự nói do sức khỏe nhưng chúng ta hiểu có lý do khác là bị kỷ luật”, Chủ tịch Quốc hội nói.
Và nếu như vậy, số lượng ĐBQH khóa XIV sẽ tiếp tục giảm thêm 1 người.
Trao đổi với Báo Giao thông, Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Đỗ Mạnh Hùng cho rằng, việc khóa này có một vài ĐB không được công nhận tư cách ĐBQH và một vài ĐBQH qua đời cũng ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của Quốc hội, nhưng vẫn chưa đến mức cần bầu bổ sung hay thay thế. “Luật quy định bầu không quá 500 ĐBQH và nếu “khuyết” trên 10% trên tổng số ĐBQH thì mới xem xét bầu bổ sung”, ông Hùng thông tin.
Về vấn đề nếu thiếu ĐBQH thì cử tri có thiệt thòi, ông Hùng phân tích, ở mỗi địa phương đều có một đoàn ĐBQH, có đơn vị bầu cử nhất định có thể thiếu ĐB, nhưng trong sự phân công hoạt động, trong đoàn đó sẽ có phương án, cách thức bù đắp sự thiếu vắng của các ĐB, không để cử tri bị thiệt thòi. Còn việc có những người không đủ tư cách, không đủ sức khỏe vẫn lọt vào Quốc hội, ông Hùng cho rằng, sau mỗi đợt bầu cử sẽ rút kinh nghiệm, cùng nhau đánh giá để lần sau thực hiện tốt và hoàn chỉnh hơn. (Giao Thông 3/5) đầu trang(
QUẢN LÝ
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình yêu cầu Thanh tra Chính phủ kiểm tra nội dung báo chí phản ánh Nhà máy nghìn tỷ bị bỏ hoang tại tỉnh Nghệ An.
Trước đó, ngày 24/4/2017, Báo điện tử Nghệ An phản ánh dự án Nhà máy sản xuất bột giấy Tân Hồng (tại xã Chi Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An) có mức đầu tư nghìn tỷ, sau thời gian ngắn hoạt động đến nay bỏ hoang; nhà xưởng, máy móc xuống cấp vì không được vận hành.
Về việc này, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình yêu cầu Thanh tra Chính phủ kiểm tra nội dung báo chí phản ánh, xử lý theo đúng thẩm quyền và quy định của pháp luật, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện trước ngày 25/5/2017. (Báo Chính Phủ 2/5) đầu trang(
Trước thông tin phản ánh "Khách du lịch tại đảo Cô Tô (Quảng Ninh) bị bỏ rơi trong đêm", Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã chỉ đạo Sở Giao thông Vận tải Quảng Ninh phối hợp với các ngành chức năng tiến hành điều tra làm rõ nguyên nhân và xử lý vi phạm (nếu có).
Trước đó, một nhóm khách du lịch gồm 6 người, đã đặt vé khứ hồi tuyến Cô Tô - Cái Rồng, huyện Vân Đồn (Quảng Ninh) của nhà tàu cao tốc Ka Long, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Vận tải Ka Long. Theo lịch trình, tàu khởi hành lúc 6 giờ 30, ngày 29/4, về lúc 12 giờ 30, ngày 1/5.
Tuy nhiên do trục trặc kỹ thuật, đến chiều ngày 30/4, Giám đốc của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Vận tải Ka Long gọi điện và thông báo chuyến tàu về lúc 12 giờ 30 ngày 1/5 như đã đặt ban đầu sẽ chậm đến 16 giờ 30 cùng ngày. Phía nhà tàu cho biết sẽ có xe đón mọi người khi tàu cập cảng Cái Rồng để đưa về Hà Nội, đồng thời giảm giá chỉ còn 100.000 đồng/người.
Nhưng phải đến 17 giờ 30, tàu Ka Long mới cập cảng Cô Tô để đưa khách về cảng Cái Rồng (thời gian di chuyển khoảng 1 giờ 30 phút). Tại đây, nhóm khách đã gọi cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Vận tải Ka Long và được giới thiệu một người tên Trọng là nhân viên điều hành của Ka Long. Nhân viên này cho biết 1 giờ ngày 2/5 mới có xe về Hà Nội và phải di chuyển về Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả (Quảng Ninh) để đón chuyến xe. Do đó, cả nhóm phải thuê nhà nghỉ để ngày 2/5 bắt xe về Hà Nội. (Tin Tức 2/5) đầu trang(
THAM NHŨNG – LÃNG PHÍ
Nguyên Phó chủ nhiệm thường trực UB Kiểm tra TƯ Vũ Quốc Hùng hy vọng ông Đinh La Thăng - một người dám nghĩ dám làm - cũng dám nhận khuyết điểm, sai phạm.
Trước đề nghị kỷ luật ông Đinh La Thăng của UB Kiểm tra TƯ vừa được công bố, ông Vũ Quốc Hùng cho rằng, tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và bình đẳng trước điều lệ Đảng. Việc UB Kiểm tra TƯ và tới đây là Bộ Chính trị, Ban chấp hành TƯ cần xem xét những vấn đề liên quan đến đảng viên dù ở chức nào là việc bình thường nhưng rất cần thiết.
Tôi biết anh Đinh La Thăng từ khi anh là cán bộ Đoàn ở Tổng công ty Sông Đà. Anh là một thanh niên sôi nổi, trải qua rất nhiều chức vụ khác nhau, là con người hành động, dám nghĩ, dám làm. Nhưng qua những sai phạm mà UB Kiểm tra TƯ kết luận thì anh Thăng phải nghiêm túc kiểm điểm.
Cũng hy vọng anh Đinh La Thăng trong lúc này, là con người hành động, dám nghĩ dám làm thì bây giờ cũng dám nhận khuyết điểm, dám nhận những sai phạm của mình và nói rõ thêm những sai phạm đó. Nếu thực hiện được chuyện đó tức thực hiện tự phê bình và phê bình tốt, đây là việc rất tốt trong Đảng.
Việc đề nghị kỷ luật một ủy viên Bộ Chính trị là chuyện rất hiếm. Vậy theo ông, việc UB Kiểm tra TƯ đề nghị kỷ luật ông Đinh La Thăng có phải là một việc bình thường trong công tác xây dựng Đảng của ta?
Gọi là việc bình thường thì cũng là việc làm đúng điều lệ Đảng. Mọi đảng viên phải có sự kiểm soát của Đảng, ai có vấn đề gì thì tổ chức đem ra xem xét, kết luận một cách nghiêm minh, chính xác, kịp thời. Đây là yêu cầu của tinh thần về xây dựng Đảng và bảo vệ Đảng.
Việc xử lý kịp thời là để đồng chí mình chưa xảy ra khuyết điểm, chưa xảy ra sai phạm thì đã kịp thời nhắc nhở. Còn nếu để quá lâu không ai dám đụng đến, để sai phạm quá lâu, đồng chí mình mắc sai lầm lớn thì đấy là trách nhiệm của đồng chí mình nhưng đồng thời là trách nhiệm của tổ chức.
Việc xem xét là cần thiết và phải làm thường xuyên để việc này mang tính răn đe, giáo dục, cảnh báo.
Có ý kiến cho rằng việc đề nghị kỷ luật của UB Kiểm tra TƯ không nên công khai để đảm bảo tính công bằng, khách quan trong quá trình xem xét kỷ luật?
UB Kiểm tra TƯ đã có kết luận kiểm tra, đây là cơ sở rất quan trọng để giúp TƯ xem xét về mức độ xử lý với một đồng chí của mình.
Hình thức xử lý như thế nào phải căn cứ vào những sai phạm ấy. Bây giờ với vai trò trách nhiệm của mình trước Đảng, trước nhân dân, mỗi ủy viên TƯ Đảng căn cứ vào những kết luận của UB Kiểm tra TƯ phải độc lập và đầy trách nhiệm trong việc xem xét, không vì một sức ép gì. Xem xét một cách công tâm, không kiểu yêu ai thì nên tốt, ghét ai thì nên xấu. Nếu không làm tròn trách nhiệm của mình thì nhân dân và đảng viên sẽ phê phán, nếu ai làm tròn trách nhiệm của mình thì đáng hoan nghênh.
Nó sẽ thể hiện những ai có trách nhiệm trước Đảng, đặt lợi ích của Đảng lên trên hết.
Tình thương đồng chí ai cũng có, tôi đã nghỉ hơn 10 năm nay nhưng nghe tin này tôi rất xót xa, xót xa cho những người để tổn thất, xót xa là tổ chức của chúng ta tại sao không quản lý cán bộ cho tốt để khi người ta chuẩn bị có sai phạm đã kịp thời nhắc nhở rồi. Chúng ta có cả hệ thống chính trị dày đặc, quản lý trong Đảng, quản lý Nhà nước, tại sao để những sai phạm nghiêm trọng như kết luận của UB Kiểm tra TƯ?
Ta có Thanh tra, có Cơ quan điều tra, có UB Kiểm tra các cấp, có Đảng ủy Dầu khí. Đảng ủy Dầu khí, UB Kiểm tra Đảng ủy Dầu khí bấy lâu nay làm gì, phải quản lý tất cả đảng viên nằm trong Đảng bộ đấy. Đây là bài học đau xót nhưng phải vươn lên.
Theo kết luận của UB Kiểm tra TƯ, ông Đinh La Thăng chịu trách nhiệm của người đứng đầu về các vi phạm, khuyết điểm của Ban Thường vụ Đảng ủy, HĐTV PVN giai đoạn 2009-2011, trong đó phải kể đến vấn đề đầu tư ngoài ngành. Tuy nhiên, nhiều ý kiến băn khoăn việc các tập đoàn nhà nước khi ấy đầu tư ngoài ngành không chỉ có mỗi PVN, tại sao chỉ truy trách nhiệm mỗi ông Đinh La Thăng?
Băn khoăn của họ là đúng, tới đây cứ làm từng bước một, từng việc một. Tôi nhớ trong một hội nghị Kiểm tra toàn quốc, Tổng bí thư đã có bài phát biểu quan trọng, gần đây nhất họp Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng cũng đã chỉ ra còn nhiều lĩnh vực phải tích cực kiểm tra, thậm chí là những vụ án tiếp tục làm đến nơi đến chốn, ta cứ bình tĩnh, đồng hành cùng các cơ quan chức năng.
Trước mắt, với Tập đoàn Dầu khí cần xem đến nơi đến chốn, xem những xử lý đã công minh, chính xác, kịp thời chưa, không oan những người không đến mức độ kỷ luật nhưng cũng không bỏ sót những người có sai lầm lớn.
Tới đây, ta sẽ xem việc xử lý đã công minh, chính xác chưa, phải đúng người đúng sai phạm, không vì yêu thì bỏ qua, nể nang né tránh hoặc những nguyên nhân khác, không vì ghét mà vùi dập. (Vietnamnet 3/5) đầu trang(
Dự thảo Luật phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) dự kiến sẽ trình, lấy ý kiến của các đại biểu và thông qua tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa 14.
Đây là thông tin do ông Nguyễn Tuấn Anh, Phó Vụ Trưởng Vụ Pháp chế, Thanh tra Chính phủ đưa ra tại buổi họp báo Quý I do đơn vị này tổ chức mới đây tại Hà Nội.
Theo ông Nguyễn Tuấn Anh, Phó Vụ Trưởng Vụ Pháp chế, Thanh tra Chính phủ, qua tổng kết 10 năm thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng thì nhiều tồn tại, hạn chế đã được chỉ rõ, nhất là trong lĩnh vực quản lý đất đai, đầu tư xây dựng, tổ chức, cán bộ, tín dụng, ngân hàng.
Bên cạnh đó, việc xử lý các vụ án tham nhũng thường bị kéo dài, chưa triệt để. Do vậy, tới đây, Dự thảo Luật phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) do Thanh tra Chính phủ chủ trì soạn thảo sẽ tập trung vào các biện pháp hướng tới tăng cường công khai, minh bạch, trong đó nhấn mạnh trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị.
Theo đó, Dự thảo lần này sẽ có hẳn chương riêng quy định trách nhiệm của người đứng đầu; một Chương riêng quy định về việc công khai và minh bạch tài sản thu nhập nhằm kiểm soát biến động tài sản thu nhập một cách thực chất để xử lý đối với những trường hợp có hành vi tham nhũng.
Ông Nguyễn Tuấn Anh cho biết: “Hiện tại Thanh tra Chính phủ đang chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan để hoàn thiện Dự thảo Luật phòng, chống tham nhũng. Theo chỉ đạo, Luật lần này sửa toàn diện. Quá trình soạn thảo và hoàn thiện thì tập trung vào các vấn đề lớn, đó là đẩy mạnh công khai, minh bạch, nhấn mạnh trách nhiệm của người dứng đầu. Tập trung về minh bạch và kiểm soát tài sản thu nhập. Sau tổng kết 10 năm thực hiện Luật thì đây là nội dung còn thực hiện chưa tốt nên cần tiếp tục hoàn thiện. Dự kiến là xin ý kiến Quốc hội tại kỳ họp thứ 4, và Quốc hội thảo luận cho ý kiến, trên đó Thanh tra Chính phủ, cơ quan thuộc chính phủ, Ủy ban Quốc hội hoàn thiện trình và thông qua”. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 2/5) đầu trang(
Trên thực tế, Hà Nội hiện vẫn còn hàng trăm căn hộ TĐC chưa có quyết định bố trí, trong đó có những dự án về cơ bản xây dựng xong nhưng vẫn bỏ hoang nhiều năm nay.
Trong giai đoạn tới, Hà Nội đặt mục tiêu hoàn thành GPMB khoảng 2.700 dự án với diện tích thu hồi đất gần 6.000ha, liên quan tới trên 80.000 hộ dân, số tiền bồi thường, hỗ trợ khoảng 60.000 tỷ đồng, cần bố trí tái định cư (TĐC) cho hơn 19.000 hộ dân. Điều này cho thấy nhu cầu về quỹ nhà TĐC ở Hà Nội rất lớn. Thế nhưng, trên thực tế vẫn còn hàng trăm căn hộ TĐC chưa có quyết định bố trí, trong đó có những dự án về cơ bản xây dựng xong nhưng vẫn bỏ hoang nhiều năm nay.
Một nghịch lý đang diễn ra, một mặt khẩn trương xây xong dự án mới nhưng các dự án đã xây dựng xong trước đây lại bỏ trống. Đơn cử như tòa TĐC D4 Tạ Quang Bửu khang trang vẫn bị bỏ hoang nhiều năm. Theo đại diện Công ty TNHH bảo vệ Việt Dũng đang trông giữ toà nhà, đây là dự án TĐC với khoảng 144 căn hộ do Công ty CP Tu tạo và Phát triển nhà làm chủ đầu tư. Năm 2015, chủ đầu tư tiếp tục hoàn thiện dự án sau nhiều năm gián đoạn song đến thời điểm hiện tại vẫn chưa được đưa vào sử dụng. Nguyên nhân được cho là đang chờ dự án đền bù trước mặt đường Đại Cồ Việt mới bố trí người dân về đây được. Bên cạnh đó, nhiều căn hộ đã được bàn giao mà người dân không về ở. Trong khi đó, số người dân ở “ảo” chờ bán lại, hưởng chênh lệch giá chiếm phần đông. Tình trạng này đang gây thất thoát, lãng phí nguồn vốn đầu tư lớn của thành phố.
Ông Trần Chủng, nguyên Cục trưởng Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng (Bộ Xây dựng), cho rằng, chỉ khi nào chất lượng công trình gắn với trách nhiệm chủ đầu tư, dự án TĐC mới tốt được. Hầu hết các khu nhà TĐC trên địa bàn Hà Nội nói chung đều xây dựng theo cơ chế bao cấp. Khi xây xong, dù chất lượng ra sao cũng được nghiệm thu, đưa vào sử dụng. Chủ đầu tư chỉ xây dựng công trình, rồi bàn giao cho đơn vị khác quản lý, gần như không còn trách nhiệm trong việc bảm đảm chất lượng trong suốt quá trình sử dụng. (Gia Đình Và Pháp Luật 2/5) đầu trang(
Gần 20.000 viên thuốc tài trợ đặc trị chữa bệnh ung thư có giá trị gần 14 tỷ đồng tồn kho vì hết hạn sử dụng trong khi người bệnh không có thuốc để chữa.
Theo kết luận của Thanh tra TP.HCM, qua kiểm tra việc xuất sử dụng và quyết toán thuốc viện trợ tại khoa Dược, đến ngày 31/12/2015, kho thuốc của Bệnh viện Truyền máu huyết học TP.HCM còn tồn kho 19.997 viên Tasigna 200mg thuốc đặc trị ung thư, đã hết hạn sử dụng từ tháng 5/2015 với tổng trị giá là 13.998.639.889 đồng (theo đơn giá tháng 8/2015 là 700.037 đồng/viên- tư liệu thanh tra). Đây là số thuốc được nhập về dưới hình thức viện trợ phi dự án bằng thuốc điều trị bệnh Bạch cầu mãn dòng tuỷ (CML).
Được biết, theo chương trình, 3 bên gồm BV Truyền máu và huyết học TP, Tổ chức The Max Foundation-Mỹ, Công ty Novartis Pharma Services AG-Thuỵ Sỹ lập biên bản ghi nhớ Chương trình hỗ trợ bệnh nhân Việt Nam dùng thuốc theo thoả thuận tài trợ.
Theo giải trình của bệnh viện, ngày 15/7/2013, bệnh viện nhận được thư hiến tặng thuốc Tasigna; ngày 27/8/2013 bệnh viện có văn bản gửi Công ty Novartis Việt Nam về việc dự trù thuốc dùng trong 6 tháng đầu năm 2014.
Ngày 28/11/2013, bệnh viện có văn bản gửi Cục quản lý dược xin được tiếp nhận số thuốc viện trợ trên; ngày 27/12/2013, Cục trưởng Cục quản lý dược ban hành giấy phép lưu hành sản phẩm cho lô hàng thuốc trên, hạn dùng 24 tháng.
Ngày 30/12/2013, bệnh viện có văn bản gửi Sở Y tế TP.HCM xin chấp thuận cho bệnh viện được thực hiện chương trình thuốc Tasigna (ViNaToa). Ngày 10/3/2014, Sở Y tế có văn bản gửi UBND TP và Liên hiện các tổ chức hữu nghị TP.HCM xin chấp thuận cho bệnh viện được tiếp nhận lô hàng viện trợ.
Ngày 24/6/2014, UBND TP có quyết định phê duyệt việc tiếp nhận lô hàng viện trợ gồm 309 hộp thuốc Tasigna 200mg viên nang cứng, hạn dùng đến tháng 5/2015. Ngày 14/7/2014, Cục quản lý dược có văn bản đồng ý để bệnh viện được tiếp nhận lô hàng trên.
Tuy nhiên, đến thời điểm này, Hải quan TP.HCM không cho bệnh viện tiếp nhận lô hàng thuốc viện trợ do hạn dùng còn lại kể từ ngày nhập cảng Việt Nam không được dưới 12 tháng (Theo Thông tư số 47/2010/TT-BYT). Sau đó, bệnh viện và Sở Y tế TP.HCM đã có tờ trình và văn bản xin Hải quan TP.HCM xem xét, hỗ trợ giải quyết. Ngày 13/8/2014, bệnh viện nhập kho lô thuốc trên, đến thời điểm này, hạn sử dụng của lô thuốc chỉ còn 10 tháng.
Như vậy, tính từ khi bệnh viện nhận được thư hiến tặng thuốc cho đến khi thuốc nhập kho bệnh viện mất đến 13 tháng. Thanh tra TP cho biết, do quá trình lập thủ tục xin tiếp nhận lô hàng thuốc viện trợ kéo dài từ tháng 11/2013 đến tháng 8/2014, hạn sử dụng của lô thuốc chỉ còn 10 tháng dẫn đến bệnh viện còn tồn 19.997 viên/tổng số 34.608 viên thuốc không sử dụng hết phải hủy bỏ gây lãng phí số thuốc có giá trị lớn (tổng giá trị 13.998.639.889 đồng).
Việc Sở Y tế TP.HCM có văn bản đề nghị Hải quan TP.HCM xem xét, hỗ trợ giải quyết cho bệnh viện được tiếp nhận lô thuốc viện trợ là chưa đúng quy định của Bộ Y tế.
Tháng 8/2015, Sở Y tế có văn bản đồng ý cho bệnh viện tiêu hủy 19.997 viên thuốc Tasigna, tuy nhiên đến thời điểm thanh tra (tháng 12/2016), bệnh viện vẫn tồn kho số thuốc này chưa tiêu hủy.
Gần 20 ngàn viên thuốc có giá trị gần 14 tỷ đồng hết hạn sử dụng là thông tin đau xót đối với bệnh nhân bị bệnh Bạch cầu tủy mạn, bởi họ phải dùng 3-4 viên/ngày, mỗi viên thuốc có giá hơn 700.000 đồng. Nếu không nằm trong chương trình miễn phí hoặc không có BHYT chi trả, bệnh nhân sẽ phải trả tiền thuốc từ 2-3 triệu/ngày. Với người bệnh ung thư, buộc phải tuân thủ điều trị thì thuốc với họ còn quý hơn vàng.
Từ những kết quả trên, Thanh tra TP.HCM đề nghị Giám đốc Sở Y tế có trách nhiệm làm rõ trách nhiệm các cá nhân và tập thể liên quan tới việc làm chậm trễ thủ tục phê duyệt số thuốc trên, đồng thời tiến hành rà soát, báo cáo về tình hình quản lý, sử dụng với các khoản tài trợ, viện trợ bằng tiền, bằng hiện vật còn kết dư hoặc không có nhu cầu sử dụng tại các bệnh viện công và trong toàn ngành y tế trong việc tiếp nhận, xử lý hàng viện trợ. Giám đốc Bệnh viện Truyền máu Huyết học tổ chức kiểm điểm làm rõ trách nhiệm đối với tập thể, cá nhân có liên quan đến những thiếu sót trên. (Infonet 2/5) đầu trang(
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) vừa ban hành Thông tư 12/2017/TT-BGTVT về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ (GPLX), hiệu lực thi hành từ ngày 1-6-2017 nhằm thay thế Thông tư 58/2015/TT-BGTVT ngày 20/10/2015.
Điểm mới và đáng chú ý nhất trong thông tư vừa ban hành là quy định tại điều 37 về việc đổi GPLX bằng giấy sang GPLX bằng vật liệu nhựa (PET) được khuyến khích thực hiện trước ngày 31-12-2020. Điều này có nghĩa là chỉ khuyến khích người dân thực hiện, đồng thời bỏ tất cả quy định bắt buộc người dân phải đổi GPLX bằng giấy sang vật liệu PET trong Thông tư 58/2015/TT-BGTVT.
Thông tư 12/2017/TT-BGTVT cũng quy định người có GPLX có thời hạn chỉ thực hiện việc đổi GPLX trước khi hết thời hạn sử dụng; người có GPLX bị hỏng còn thời hạn sử dụng được đổi GPLX trước thời hạn.
Trước đó, điều 57 của Thông tư 58/2015/TT-BGTVT quy định đổi GPLX ô tô và giấy phép hạng A4 bằng vật liệu giấy sang vật liệu PET phải thực hiện xong trước ngày 31/1/2016; GPLX mô tô không thời hạn, GPLX các hạng A1, A2, A3 phải xong trước ngày 31/12/2020. Sau 6 tháng của thời hạn này, người có GPLX bằng giấy chưa đổi sang thẻ PET thì phải thi lại lý thuyết để được cấp GPLX mới. Với quy định này, nhiều người đã ồ ạt đi đổi GPLX vì sợ phải thi lại khiến nhiều điểm đổi GPLX quá tải.
Cuối năm 2016, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tư pháp đã “tuýt còi” quy định tại Thông tư 58 về lộ trình chuyển đổi GPLX sang thẻ PET. Cơ quan này cho rằng việc buộc người dân chuyển đổi GPLX bằng giấy sang thẻ PET là không có cơ sở pháp lý, đồng thời đề nghị Bộ GTVT xem xét xử lý trách nhiệm đối với tập thể, cá nhân đã tham mưu xây dựng nội dung gây nhiều tranh cãi này. Bộ GTVT đã phải xây dựng dự thảo Thông tư 12 theo hướng bỏ những quy định trái luật đã nêu.
Thiếu tướng Trần Thế Quân, Phó Cục trưởng Cục Pháp chế và Cải cách hành chính tư pháp (Bộ Công an), khẳng định về nguyên tắc, GPLX còn thời hạn hay vô thời hạn thì người dân được sử dụng bình thường, lực lượng CSGT không thể xử phạt.
Theo TS Lê Hồng Sơn, nguyên Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, GPLX là một loại giấy tờ để người dân chứng minh một quyền của mình. Nếu muốn quy định về thời hạn của GPLX thì phải được quy định từ cấp nghị định của Chính phủ trở lên, cấp bộ hay địa phương không có quyền đó.
Ông Sơn cũng cho hay vừa qua, nhiều cơ sở cấp đổi GPLX luôn trong tình trạng quá tải, chưa kể vì muốn làm nhanh thì người dân phải mất thêm tiền cho “cò” dịch vụ.
Đánh giá về những bất cập do Thông tư 58/2015/TT-BGTVT gây ra, TS Lê Hồng Sơn cho rằng thông tin được nêu trong đó là tùy tiện khiến người dân lo sợ nếu không đi đổi GPLX thì sẽ bị xử phạt tiền và thi lại lý thuyết để được cấp mới. Điều đó có nghĩa đã gây ảnh hưởng tới quyền sử dụng tài sản của người dân và làm cho người dân hiểu sai. Do đó, phải xử lý trách nhiệm của những người đưa ra nghiên cứu, đề xuất ban hành quy định đó.
“Cần xử lý kỷ luật những cán bộ này chứ không thể chỉ xử lý theo kiểu rút kinh nghiệm” - ông Sơn bày tỏ và nói Bộ GTVT đã ban hành văn bản có quy định trái luật như thế thì ít nhất phải có lời xin lỗi người dân, còn cao hơn xin lỗi là xác định trách nhiệm của mình để xử lý hậu quả. (Pháp Luật Việt Nam 2/5) đầu trang(
KINH TẾ
Theo Bộ Công thương, năm 2016, cả nước có 24 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu hơn một tỷ USD. Tỷ lệ nội địa hóa một số ngành được nâng cao như điện thoại di động, dệt may,... Tuy kết quả khả quan so với những năm trước nhưng giá trị gia tăng của nhiều nhóm ngành hàng mang lại vẫn chưa tương xứng. Theo Hội Nông dân Việt Nam, năm 2016, xuất khẩu rau quả vượt gạo (gạo đạt 2,2 tỷ USD, giảm cả về lượng và giá trị).
Tuy xuất khẩu với khối lượng lớn nhưng giá trị mang về lại rất thấp. Thí dụ, mặt hàng hồ tiêu, điều của Việt Nam có sản lượng xuất khẩu lớn nhất nhì thế giới, tuy nhiên giá trị chỉ đứng thứ sáu. Giá trị thấp cho nên đời sống người nông dân khó khăn. Xuất khẩu tăng về số lượng nhưng đời sống của người nông dân không được cải thiện cũng không có giá trị.
Đích hướng tới phải làm sao để cho đời sống của chủ thể sản xuất được nâng lên. Cần rà soát tất cả cơ chế, chính sách đồng bộ, liên thông, hiệu quả chứ không phải chỉ xúc tiến xuất khẩu. Chính sách đất đai phải gắn với quy hoạch các vùng sản xuất đồng bộ, quy hoạch cả về hạ tầng như đường, điện, nước; về giống cần đồng bộ; gắn với bảo quản, chế biến, tiêu thụ...
Bộ Công thương nhận định, cả ngành công nghiệp và nông nghiệp đều gặp vấn đề khó, đó là hàm lượng chế biến không sâu, trong khi đây là một trong những khâu mang lại nhiều giá trị gia tăng nhất. Bên cạnh đó, một số mặt hàng của Việt Nam còn gặp phải các vấn đề liên quan vệ sinh an toàn thực phẩm, vấn đề then chốt để có thể mở rộng xuất khẩu sản phẩm.
Một số ngành hàng rơi vào tình trạng khan hiếm nguyên liệu, như điều, tôm… hiện nay đều phải nhập khẩu, dẫn đến phụ thuộc. Vì thế, cần ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ trong ngành công nghiệp cơ khí, công nghiệp điện tử, dệt may, da giày, nhựa, cao-su; nâng cao chuỗi cung ứng để giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh; quan tâm bao bì, nhãn mác, thương hiệu sản phẩm,...
Muốn nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản xuất khẩu, Việt Nam phải bám vào chuỗi giá trị hàng hóa nông sản để xem lại từng DN, từng ngành có thể làm gì, có thể cải tiến áp dụng khoa học công nghệ ở khâu nào. Chuỗi giá trị của hàng nông sản xuất khẩu bắt đầu từ nghiên cứu, tạo giống, đến kỹ thuật và công nghệ (chăm sóc trồng trọt, bảo quản, chế biến), cuối cùng là thương mại và người tiêu dùng.
Qua rất nhiều khâu nên phải nắm chắc có thể cải tiến được gì. Hiện nay, tiêu thụ của chúng ta vẫn theo lối truyền thống, phần lớn là bán tiểu ngạch, rủi ro cao, gây hao hụt giá trị sản phẩm. Nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản xuất khẩu, riêng khâu tiêu thụ cần phải nghiên cứu, điều chỉnh, làm ra nhiều sản phẩm nhưng không nắm được thị trường tiêu thụ, luôn phải bán rẻ. Vì vậy, chúng ta phải cải cách hệ thống thương mại, sản xuất lớn thì thương mại cũng phải cải biến cho phù hợp, không thể bằng lòng với thương mại nhỏ lẻ, gây tổn thất lớn cho người nông dân, lợi ích của người tiêu dùng.
Phải tạo nên những tập đoàn thương mại lớn, có thương hiệu thì DN mới làm ăn được. Một số DN cho rằng, muốn tham gia "sân chơi" xuất khẩu, đầu tiên, phải cam kết phát triển lâu dài, bền vững, từ đó mới vạch ra được chiến lược phát triển riêng của công ty. Phát triển sản phẩm trên cơ sở nghiên cứu thị trường; cải tiến và thay đổi công nghệ; có chiến lược đầu tư hợp lý, đội ngũ nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển; chuyên nghiệp hóa trong quản trị, đánh giá đầy đủ các yếu tố tác động DN... (Nhân Dân 3/5) đầu trang(
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giá trị xuất khẩu rau, quả bốn tháng đầu năm 2017 ước đạt một tỷ USD, tăng 32,6% so cùng kỳ năm 2016. Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc là bốn thị trường nhập khẩu hàng đầu của mặt hàng rau, quả Việt Nam, chiếm 82,9% tổng giá trị xuất khẩu rau, quả.
Các thị trường có giá trị xuất khẩu rau, quả tăng mạnh là Nga (88,7%), Nhật Bản (50,9%), Thái-lan (34%), Trung Quốc (33,3%), Ma-lai-xi-a (32,8%), Hàn Quốc (18,7%) và Hoa Kỳ (13,3%). (Nhân Dân 3/5) đầu trang(
Trong thương mại với Trung Quốc, nỗi lo quốc gia này “đóng cửa” nhập khẩu lúa gạo, rau quả, sản phẩm chăn nuôi hay “cắt đứt” nguồn cung cấp nguyên phụ liệu dệt may, da giày... lúc nào cũng hiện hữu đối với Việt Nam. Vậy, làm sao để vượt qua nỗi lo này?
Tại hội thảo “Ảnh hưởng kinh tế thế giới đối với ngành thủy sản Việt Nam” được tổ chức tại Cần Thơ vào cuối tháng 3-2017, chuyên gia kinh tế Bùi Văn, Phó hiệu trưởng trường Doanh nhân PACE, cho rằng xuất khẩu của Việt Nam không phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc. “Thị trường xuất khẩu của chúng ta (Việt Nam) rất tốt xét về phương diện đa dạng hóa, tức chúng ta phân chia rất đồng đều”, ông Văn khẳng định và cho biết hiếm có một nước nào có một thị trường xuất khẩu phân phối đa dạng, đồng đều như Việt Nam.
Thực tế, số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan về 10 thị trường xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2016 cho thấy Mỹ giữ vị trí thứ nhất với thị phần chiếm 21,8%; Trung Quốc chiếm 12,4%; Nhật Bản 8,3%; Hàn Quốc 6,5%; Hồng Kông 3,4%; Hà Lan 3,4%; Đức 3,4%; UAE 2,8%; Anh 2,8%; Thái Lan 2,1%.
Thế nhưng, vì sao Việt Nam lại thường xuyên lo sợ những nóng - lạnh từ thị trường Trung Quốc?
Bởi tuy về tổng thể xuất khẩu không lệ thuộc, nhưng đi vào nhóm ngành nông nghiệp thì lại lệ thuộc rất lớn.
Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong năm 2016, xuất khẩu gạo Việt Nam đạt 4,88 triệu tấn, trong đó, xuất sang Trung Quốc chiếm đến 35,9%. Trong quí 1-2017, Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của nước ta khi chiếm đến trên 35% giá trị xuất khẩu của toàn ngành (1,28 triệu tấn).
Với ngành rau quả, thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước trong năm 2016 đạt 2,5 tỉ đô la Mỹ, trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 1,74 tỉ đô la Mỹ, chiếm khoảng 70%.
“Hiện nay, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn nhất về nông- thủy sản của Việt Nam, EU thứ hai và sau đó là Mỹ”, ông Trần Thanh Hải, Phó cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu thuộc Bộ Công Thương, cho biết tại Diễn đàn kinh tế thường niên 2017 được tổ chức tại thành phố Cần Thơ hôm 12-4-2017.
Hiện nước ta có khoảng 70% lao động đang sống ở khu vực nông thôn và thu nhập của họ lệ thuộc rất lớn vào sản phẩm lúa gạo, cây ăn trái, thủy sản, chăn nuôi. Chính vì vậy, mọi biến động về thương mại (dù nhỏ) sang thị trường Trung Quốc, lập tức tác động trực tiếp đến đời sống của đại đa số người dân ở đây, mà thực tế điều này đã diễn ra với lúa gạo, cây ăn trái và sản phẩm chăn nuôi.
Trong khi đó, đối với nhập khẩu, có đến 28,7% lượng hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc và có thời kỳ lên hơn 30%. “Điều này nghĩa là một phần ba nhập khẩu của nước ta phụ thuộc vào Trung Quốc và đây là một điều vô cùng cấm kỵ đối với thương mại quốc tế. Nếu chúng ta phụ thuộc vào một thị trường nhập khẩu, thì rất không an toàn”, ông Bùi Văn nhận định.
Theo ông Văn, điều đáng nói trong bức tranh nhập khẩu là chúng ta phụ thuộc lớn nhất vào thị trường Trung Quốc về phụ liệu may mặc, da giày. Trong khi đó, ở trong nước lại có hơn hai triệu lao động đang làm việc trong lĩnh vực này. Do đó, những thay đổi ở thị trường này, lập tức có thể đẩy ngành dệt may, da giày trong nước rơi vào khó khăn, tức hơn hai triệu lao động đó có nguy cơ mất việc.
Nhìn riêng vào ngành nông nghiệp, rõ ràng việc tiêu thụ đang phụ thuộc rất lớn vào thị trường Trung Quốc. Thế nhưng, ông Trần Thanh Hải lại tỏ ra khá lạc quan với thị trường này. “Không lý do gì một thị trường với 1,3 tỉ dân, có nhu cầu rất lớn, mà chúng ta nói không phải là thị trường tiềm năng, đặc biệt là họ lại nằm ngay bên cạnh chúng ta”, ông Hải nói.
Theo ông, đặc điểm của thị trường Trung Quốc là nhu cầu rất đa dạng. “Bản thân nó (Trung Quốc) như một lục địa rồi, tức là phía Nam Trung Quốc khác miền Trung; khu vực Quảng Đông, Triết Giang khác với thành phố Tứ Xuyên... Với nhu cầu như vậy, nó sẽ đem lại khả năng cho chúng ta cung cấp sản phẩm rất đa dạng”, ông Hải phân tích.
Vấn đề còn lại là phải biết cách vượt qua những nỗi lo... phụ thuộc vào thị trường này.
Trao đổi với TBKTSG, ông Võ Hùng Dũng, Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chi nhánh Cần Thơ, cho biết Việt Nam hiện có một bộ phận dân cư, các chuyên gia đang sinh sống ở nước ngoài, những người am hiểu rất rõ về chính sách của quốc gia nơi họ đang sống, nhưng rất tiếc ta không có được sự “cộng tác” cần thiết. Trong khi đó, ở trong nước lại không hiểu hết được những gì đang diễn ra ở bên ngoài.
“Thương nhân Trung Quốc đã len lỏi vào làng, xã chúng ta mua khoai lang, mua chuối... Chúng ta có người nào qua Trung Quốc làm được việc đó không? Nếu không thì làm sao chúng ta biết được chính sách bên đó như thế nào để mà ứng phó, cảnh báo?”, ông Dũng đặt vấn đề.
Theo ông Dũng, giới hoạch định chính sách, giới kỹ thuật trong nước luôn đi sau nhiều bước. “Muốn làm thì làm không được, cứ xoay xoay, trở trở vì dùng cái quan niệm thị trường của chúng ta, tư duy của mình để hiểu về người ta nên loay hoay mãi không ra”, ông Dũng nói.
Kế đến nữa, theo ông Dũng, là phải đi tới chứ không thể đi lui. “Không lẽ không sản xuất nông nghiệp, không bán qua Trung Quốc? Phải đi tới, xuất hiện khó khăn thì đương đầu, đương đầu rồi học hỏi, học hỏi rồi làm tiếp, chứ không thể ngưng được, ngưng là chết”, ông nói.
Mỹ là thị trường Việt Nam đang xuất siêu 32 tỉ đô la Mỹ với những mặt hàng như nông - thủy sản, quần áo, giày dép. Ông cho rằng: “Nếu Mỹ chặn lại, đánh thuế cao hơn, thì tai họa sẽ còn lớn hơn rất nhiều”.
Với nông nghiệp, theo ông Dũng, nếu cải thiện được chất lượng sản phẩm và đưa sâu vào đời sống tiêu dùng của người Trung Quốc, thì lúc đó sẽ làm chủ được, có nghĩa không có sản phẩm của Việt Nam thì không có nguồn khác để bổ sung. “Lúc đó, ta có xuất sang Trung Quốc 70% tôm, 80% cá, 90% gạo, chúng ta cũng không sợ vì không có gạo của Việt Nam, không có cá, không có tôm của Việt Nam, thì người Trung Quốc cảm thấy không yên tâm. Đây là vấn đề thuộc về chiến lược, sách lược”, ông Dũng nói.
“Phụ thuộc không có nghĩa là chúng ta bị người ta mua nhiều rồi chúng ta bị phụ thuộc, mà người ta mua nhiều nhưng người ta mua anh vì không mua người khác được do chất lượng anh cung cấp không thay thế được (chứ không phải không có sản phẩm thay thế)”, ông Dũng giải thích.
Ông Dũng cho rằng muốn sản phẩm đạt chất lượng không thể chỉ hô hào mà phải thiết lập chương trình hành động hẳn hoi, có kế hoạch hỗ trợ nông dân ở chương trình nào, kỹ thuật gì, bộ máy khuyến nông ra sao, chi phí để hỗ trợ từ đâu... “Thông tin của chúng ta về Trung Quốc quá kém, dù buôn bán cứ ầm ầm, nhưng nghiên cứu thì không có, rồi đổ lỗi người ta chơi xấu là không ổn”, ông Dũng tái khẳng định. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 2/5) đầu trang(
Theo đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), những khó khăn đối với doanh nghiệp trong các thủ tục hải quan vẫn còn khá nhiều, đặc biệt là chi phí không chính thức.
Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết: So với năm 2 năm trước, tỷ lệ doanh nghiệp không bị phân biệt đối xử dù không chi phí "lót tay" đã có diễn biến tích cực. Theo đó, có tới 44% doanh nghiệp cho biết: không bị phân biệt đối xử nếu không “lót tay” cho cán bộ hải quan, tỉ lệ doanh nghiệp bị phân biệt đối xử đã giảm mạnh từ 31% (năm 2015) xuống còn 17% (năm 2016).
Tuy nhiên, theo đại diện VCCI, những khó khăn đối với doanh nghiệp trong các thủ tục hải quan vẫn còn khá nhiều, đặc biệt là chi phí không chính thức (chi phí ngoài quy định theo trong khảo sát 2016). Cụ thể, vẫn có 31% số doanh nghiệp phải chi trả chi phí không chính thức trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính hải quan. Khoảng 31% doanh nghiệp trả lời không biết và 38% doanh nghiệp cho biết không chi trả.
So với kết quả điều tra năm 2015, thì tỷ lệ chi trả chi phí không chính thức năm 2016 đã tăng từ 28% lên 31%. Trong khi đó, nhóm không chi thêm chi phí ngoài quy định chỉ tăng thêm 1 điểm % so với năm 2015.
“Việc chi phí ngoài quy định quá nhiều là do nhiều khâu doanh nghiệp phải trực tiếp làm việc với phía hải quan. Đây “điểm nghẽn” của đại đa số doanh nghiệp thực hiện các nghiệp vụ xuất nhập khẩu”, ông Tuấn nói.
Báo cáo đánh giá cải cách thủ tục hành chính hải quan 2016 mới đây cũng cho biết, phần đông các doanh nghiệp đều cho rằng, thực hiện những thủ tục hành chính không quá khó, chỉ ở mức bình thường.
Thủ tục nộp thuế là lĩnh vực dễ thực hiện nhất với tỷ lệ đạt 29%, tiếp đến là kiểm tra hồ sơ đạt 12%. Tuy nhiên, một số thủ tục vẫn còn được đánh giá là khó thực hiện chiếm tỷ lệ cao như thủ tục hoàn thuế (29%), thủ tục xét miễn thuế (26%) và giải quyết khiếu nại (21%).
Theo Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Tổng cục Hải quan) Phùng Thị Bích Hường, sau hơn 3 năm thực hiện các Nghị quyết 19/NQ-CP của Chính phủ, ngành hải quan không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật hải quan, đáp ứng yêu cầu cải cách hiện đại hóa, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Đến nay, ngành Hải quan đã đề xuất cắt giảm 61 thủ tục, đơn giản hóa 127 thủ tục hành chính về hải quan. Gần đây, Tổng cục đã tham mưu Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2026/QĐ-TTg phê duyệt Đề án giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm tra chuyên ngành (KTCN) đối với hàng hóa xuất nhập khẩu.
Bên cạnh đó, ngành hải quan đã chủ động triển khai kết nối chính thức Cơ chế một cửa quốc gia với 11/14 bộ, ngành, với 37 thủ tục, thu hút hơn 9.000 DN tham gia. Đã ký kết thu thuế điện tử với 35 ngân hàng thương mại, số thu chiếm hơn 90% số thu ngân sách của ngành Hải quan. Thực hiện thu thuế điện tử thông qua Cổng thanh toán điện tử đã giảm thời gian nộp thuế cho doanh nghiệp từ 2 ngày xuống còn 15 phút...
Tổng cục Hải quan đề ra các chỉ tiêu cụ thể như: Phấn đấu đến hết năm 2017, cùng với các bộ quản lý chuyên ngành rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa qua biên giới còn 70 giờ đối với hàng hóa xuất khẩu và 90 giờ đối với hàng hóa nhập khẩu; đến hết năm 2020, thời gian thông quan hàng hóa qua biên giới dưới 60 giờ đối với hàng hóa xuất khẩu, 80 giờ đối với hàng hóa nhập khẩu; cải thiện vị trí xếp hạng về thời gian thực hiện giao dịch thương mại qua biên giới từ thứ hạng 93 về thứ hạng dưới 82 (theo đánh giá của World Bank).
Bên cạnh đó, hải quan cũng đặt mục tiêu trong năm 2017, 100% dịch vụ công hải quan được cung cấp trực tuyến tối thiểu mức độ 3; 70% dịch vụ công thuộc các lĩnh vực cốt lõi của ngành Hải quan được cung cấp trực tuyến mức độ 4.
Trong Kế hoạch hành động của ngành Hải quan đặt ra đặc biệt chú trọng đề cập đến việc nâng cao hiệu quả kiểm tra chuyên ngành (KTCN) theo Quyết định 2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Quyết định 2026 yêu cầu các bộ quản lý chuyên ngành phải rà soát lại hệ thống văn bản liên quan đến quản lý chuyên ngành theo hướng áp dụng phương pháp quản lý rủi ro, kiểm tra trọng điểm. Đến nay, một số bộ, ngành đã triển khai thực hiện nhưng kết quả nhìn chung còn hạn chế, ảnh hưởng nhất định đến thời gian thông quan hàng hóa.
Trên thực tế, thời gian thực hiện của cơ quan hải quan chỉ chiếm 28% tổng số thời gian làm thủ tục thông quan hàng hóa nhập khẩu (từ khi đăng ký tờ khai hải quan đến khi cơ quan hải quan ra quyết định thông quan, giải phóng hàng), 72% thời gian còn lại phụ thuộc vào các cơ quan, tổ chức quản lý chuyên ngành khác.
Để nâng cao hiệu quả công tác KTCN, Tổng cục Hải quan đang tập trung đánh giá tổng thể về hoạt động này để nêu đúng thực trạng, nhận định đúng tình hình tổ chức triển khai và đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả KTCN.
Tổng cục Hải quan tiếp tục phối hợp các bộ, ngành xây dựng và ban hành đầy đủ danh mục các mặt hàng thuộc diện KTCN theo hướng thu hẹp diện KTCN, cắt giảm danh mục hàng hóa phải KTCN, chi tiết mã số HS và áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro trong KTCN, chuyển từ kiểm tra trong thông quan sang kiểm tra sau thông quan. (Tin Tức 3/5) đầu trang(
Tổng cục thống kê vừa công bố báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm 2017. Theo đó, tổng số doanh nghiệp tạm dừng hoạt động và giải thể trong 4 tháng gần 31.500 doanh nghiệp.
Cụ thể, Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 4 tháng đầu năm 2017 là 4.057 doanh nghiệp, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2016 tăng 15,7%), trong đó 3.745 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 92,3%. Nếu phân theo loại hình doanh nghiệp, trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, có 1.604 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 39,5%); có 1.203 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 29,7%); có 727 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 17,9%) và có 523 công ty cổ phần (chiếm 12,9%).
Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 4 tháng đầu năm là 27.400 doanh nghiệp, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 11.491 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 21,6% và 15.909 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, tăng 1,4%.
Trong tổng số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, có 4.691 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 40,8%); có 3.734 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 32,5%); có 1.923 công ty cổ phần (chiếm 16,8%); có 1.141 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 9,9%) và có 2 công ty hợp danh. Đối với doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, có 6.875 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 43,2%); có 4.637 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 29,1%); có 3.221 công ty cổ phần (chiếm 20,3%) và có 1.176 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 7,4%).
Theo lĩnh vực hoạt động, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể của phần lớn các ngành giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 15%; nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 31,2%; sản xuất phân phối điện, nước, gas giảm 6,7%; nghệ thuật, vui chơi, giải trí giảm 34,3%.
Như vậy, tổng số doanh nghiệp tạm dừng hoạt động và giải thể trong 4 tháng gần 31.500 doanh nghiệp. Nếu so sánh với mức 39.580 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, số doanh nghiệp giải thể đang ở mức đáng ngại.
Cũng theo số liệu của tổng cục thống kê, số doanh nghiệp đăng ký mới có 3.102 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 98.400 tỷ đồng, tăng 8,9% về số doanh nghiệp và giảm 17,1% về số vốn đăng ký so với tháng trước.
Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong 4 tháng là 424.000 người, bằng 99,2% cùng kỳ. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 7,5 tỷ đồng, giảm 23,9%. Tổng số lao động đăng ký trong tháng của các doanh nghiệp thành lập mới là 132.400 người, tăng 5,9%. (Người Đưa Tin 3/5) đầu trang(
MÔ HÌNH – KINH NGHIỆM
Từ nay đến năm 2020, tỉnh Bắc Cạn sẽ bố trí 100 tỷ đồng từ nguồn ngân sách tỉnh và các nguồn vốn hợp pháp khác để hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng hàng hóa nhằm nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, trong đó chủ yếu là người dân tộc thiểu số ở địa phương.
HĐND tỉnh Bắc Cạn vừa ban hành Nghị quyết 08/2017/NQ-HĐND về việc ban hành Quy định chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất hàng hóa giai đoạn 2017 - 2020, nhằm: Khuyến khích người dân tham gia liên doanh, liên kết, hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã (HTX) để phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, từng bước xây dựng các sản phẩm có thương hiệu của tỉnh.
Duy trì và phát triển các loài cây, con, sản phẩm địa phương có thế mạnh, có giá trị kinh tế cao; hình thành các khu sản xuất ứng dụng công nghệ, sản xuất hữu cơ, sản xuất sạch. Đồng thời, thông qua việc hỗ trợ của tỉnh, nhằm chuyển giao các quy trình sản xuất một số loại cây trồng, vật nuôi có thế mạnh của địa phương, tạo ra sản phẩm có chất lượng được chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng cao giá trị gia tăng gắn với xây dựng nông thôn mới.
Các nhóm đối tượng và mức được hỗ trợ, bao gồm: Hỗ trợ xây dựng mười mô hình HTX kiểu mới, thực hiện việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ, đầu tư sản xuất theo chuỗi giá trị, mức hỗ trợ là 300 triệu đồng/HTX. Các HTX, tổ hợp tác, trang trại, gia trại vay vốn từ các tổ chức tín dụng, có quy mô sản xuất từ 0,3 ha rau trở lên/điểm; sản xuất cam, quýt từ 5 ha trở lên/điểm; sản xuất hồng không hạt, mơ vàng, chè có quy mô từ 3 ha trở lên/điểm; gia trại chăn nuôi có quy mô từ 10 con trâu, bò trở lên, đàn dê từ 50 con trở lên, đàn lợn từ 10 con lợn nái sinh sản trở lên, 300 con lợn thịt trở lên; trồng cây gỗ lớn từ 5 ha trở lên, trồng cây dược liệu từ 0,5 ha trở lên thì được hỗ trợ lãi suất 6%/năm, thời gian được hỗ trợ, mức vay tối đa được hỗ trợ tùy theo loại hình cụ thể. Bên cạnh đó, tỉnh hỗ trợ lãi suất 6%/năm đối với các doanh nghiệp, HTX chế biến, tiêu thụ rau, củ, quả, cây dược liệu, chăn nuôi; hỗ trợ chi phí xây dựng và mua sắm trang thiết bị cho hai điểm trưng bày, giới thiệu và tiêu thụ các sản phẩm nêu trên.
Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Cạn Lý Thái Hải cho biết: Với những chính sách hỗ trợ cụ thể, thiết thực, phù hợp thực tế, mang tính chất khuyến khích sản xuất hàng hóa, chúng tôi kỳ vọng đến năm 2020, tỉnh sẽ có mười HTX kiểu mới sản xuất gắn với chuỗi giá trị; 25 ha sản xuất rau áp dụng công nghệ cao; 500 ha rau, 1.000 ha cam - quýt, 200 ha hồng không hạt, 100 ha mơ vàng, 300 ha chè đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm; ít nhất bốn khu đất (từ 3 ha trở lên) sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hơn 500 trang trại và gia trại chăn nuôi có quy mô; 7.000 ha rừng kinh doanh cây gỗ lớn...
Ngoài phát triển trang trại, gia trại, tỉnh sẽ chuyển đổi phương thức sản xuất, góp phần khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, hiệu quả chưa cao, sức cạnh tranh của sản phẩm còn thấp, chưa gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ như hiện nay để nâng cao giá trị gia tăng của hàng hóa nông, lâm nghiệp; tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân mà chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, gắn với xây dựng nông thôn mới trên địa bàn. (Nhân Dân 3/5) đầu trang(
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Theo dõi các vụ việc xử lý kỷ luật một số cán bộ liên quan đến sai phạm ở Bộ Công thương, Formosa Hà Tĩnh, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, đảng viên cũng như dân chúng nhận thức được một cách rõ ràng, Nghị quyết Trung ương 4 đang được thực thi một cách quyết liệt.
Lâu nay, ít khi người đứng đầu đứng ra chịu trách nhiệm hoặc bị bắt buộc phải chịu trách nhiệm, chỉ có chịu trách nhiệm tập thể rất chung chung, hình thức. Nhưng những vụ việc gần đây, Đảng đã kiên quyết xử lý người đứng đầu. Cụ thể như: Kỷ luật Bí thư và Phó Bí thư tỉnh Hậu Giang liên quan đến Trịnh Xuân Thanh, kỷ luật lãnh đạo Bộ Công thương liên quan đến bổ nhiệm cán bộ, kỷ luật lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh và Bộ Tài nguyên Môi trường vì những sai phạm liên quan đến dự án Formosa.
Mới đây, Ủy ban Kiểm tra T.Ư đề nghị xem xét, thi hành kỷ luật đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam và một số cá nhân có liên quan vì những sai phạm tại đây, đề nghị kỷ luật ông Nguyễn Văn Thiện, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bình Định về những sai phạm trong bổ nhiệm cán bộ.
Nhìn lại các vụ kỷ luật từ người đã về hưu đến đương chức, cho thấy Đảng hành động mạnh mẽ để làm trong sạch Đảng và bộ máy chính quyền. Khi có sai phạm, không có nghĩa về hưu là hạ cánh an toàn, mà vẫn phải chịu trách nhiệm cá nhân. Truy cho đến cùng trách nhiệm và bắt phải chịu hình thức kỷ luật cho dù đã về hưu còn là cách răn đe những người đương quyền. Liệu mà làm việc, liệu mà giữ mình, chỉ có cách làm đúng, ngay thẳng, liêm khiết mới có sự an toàn cho cuộc đời làm quan.
Cũng có những lời bóng gió về hiện tượng bè phái, chia rẽ trong các vụ xử lý kỷ luật cán bộ vừa qua, nhưng người dân tin tưởng rằng, đây là hành động đấu tranh với cái sai, chấn chỉnh những yếu kém trong Đảng, lấy lại lòng tin của dân với Đảng và tăng cường xây dựng Đảng. Đảng trong sạch mới thuyết phục được dân, lãnh đạo được dân, không sạch thì dân không tin.
Gần đây, một số địa phương xảy ra các dấu hiệu sai phạm trong việc bổ nhiệm cán bộ, biến hệ thống cơ quan Đảng và chính quyền thành nơi bố trí chức vụ cho gia đình, dòng họ. Một số địa phương khác tổ chức lễ kỷ niệm, xây dựng các công trình công cộng, trong đó có dấu hiệu tiêu cực, lãng phí. Đối với những trường hợp này, chính nhân dân đề nghị phải làm rõ, xử lý nghiêm từng trường hợp.
Còn nữa, không chỉ thua lỗ ở PVN, sai phạm của dự án Formosa, mà sờ sờ trước mắt các khoản thua lỗ và đe dọa về môi trường của dự án Bô xít. Phải ngăn chặn từ bây giờ, không đợi đến khi xảy ra hậu quả. (Lao Động 1/5) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Trong ngày Quốc tế lao động, Tổng thống Putin bất ngờ sa thải hàng loạt tướng lĩnh mà không công bố nguyên nhân cụ thể.
Theo TASS, Tổng thống Putin hôm 1/5 đã ký sắc lệnh sa thải một loạt tướng lĩnh. Theo đó, ông Putin đã sa thải ông Vladimir Artamonov, thứ trưởng bộ Tình trạng Khẩn cấp Nga. Đây cũng là một trong số những quan chức cấp cao nhất của Nga bị mất chức đợt này.
Sắc lệnh sa thải này được đăng trên cổng thông tin pháp lý chính thức của Nga.
Bên cạnh đó, chỉ thị này sa thải Thiếu tướng Sergei Vorontsov, phó giám đốc bộ phận phản ứng khẩn cấp thuộc trung tâm Quản lý Khủng hoảng Quốc gia tại bộ Tình trạng Khẩn cấp và Sergei Kadalov, người đứng đầu bộ phận giám sát và phòng ngừa của Bộ Khẩn cấp.
Bên cạnh đó, một số quan chức cấp cao thuộc ủy ban điều tra, cơ quan thi hành án liên bang, bộ Nội vụ cùng công tố viên khu vực Kostroma cũng bị sa thải.
Các nhân sự mới được bổ nhiệm để thay thế các vị trí bị sa thải cũng được công bố trong sắc lệnh.
Thời gian gần đây, Tổng thống Putin liên tục tiến hành các hoạt động điều chỉnh nhân sự lãnh đạo ở cả cấp liên bang lẫn cấp tỉnh.
Đây được cho là một phần trong kế hoạch của ông chủ Điện Kremlin nhằm chuẩn bị cho cuộc bầu cử tổng thống Nga năm 2018.
Hôm 9/3, Tổng thống Putin ký quyết định sa thải 10 tướng lĩnh không rõ nguyên nhân. Trước đó một tháng, 16 tướng lĩnh cấp cao thuộc bộ Nội vụ và bộ Tình trạng Khẩn cấp cũng bị bãi nhiệm.
Trước đó, ngày 2/2 ông Putin đã ký sắc lệnh cách chức 16 tướng thuộc bộ Tình trạng khẩn cấp, bộ Nội vụ và ủy ban Điều tra.
Theo sắc lệnh, tất cả 16 tướng này đều bị bãi miễn khỏi chức vụ đương nhiệm và 2 trong số các tướng này bị sa thải ra khỏi ngành.
Việc Tổng thống Putin ký sắc lệnh sa thải hàng loạt các quan chức cao cấp không còn là chuyện xa lạ.
Hồi tháng 11/2016, Tổng thống Putin đã sa thải một loạt quan chức cấp cao tại các cơ quan Chính phủ với lý do để cho họ "một cơ hội cống hiến cho khoa học”.
Hồi tháng 8/2016, ông Putin cũng bãi nhiệm 8 tướng lĩnh trong đó cũng có hai nhân vật thuộc Ủy ban điều tra Nga là Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thanh tra chống tham nhũng -Thiếu tướng Dmitry Shershakov và Thiếu tướng Vitaly Frolov - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Đảm bảo hoạt động. (Người Đưa Tin 2/5) đầu trang(
Phát biểu tại một diễn đàn của phụ nữ ở New York ngày 2/5, cựu ngoại trưởng Hillary Clinton cho rằng sở dĩ bà thất bại trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng hồi năm ngoái là do Giám đốc Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) Jim Comey và Nga đã có sự can thiệp, khiến các cử tri "trở nên sợ hãi."
Cựu ứng cử viên đáng Dân chủ cho biết bà "hoàn toàn chịu trách nhiệm cá nhân" về một loạt sai lầm trong chiến dịch tranh cử đã góp phần khiến bà thất bại trước ông Donald Trump. Tuy nhiên, bà chỉ trích gay gắt những hành động tin tặc và can thiệp của Nga, và nhất là vụ Giám đốc FBI ngay trước thềm cuộc bầu cử 8/11 đã công bố mở lại cuộc điều tra về việc bà sử dụng thư điện tử cá nhân trong thời kỳ làm ngoại trưởng.
Bà nói: "Tôi đang trên đà chiến thắng cho tới khi xuất hiện thông báo của Jim Comey, cộng với những rò rỉ của Nga trên WikiLeaks reo rắc những hoài nghi trong tâm trí nhiều cử tri, khiến họ không đi bỏ phiếu cho tôi do sợ hãi. Nếu như cuộc bầu cử diễn ra vào ngày 27/10, tôi đã trở thành tổng thống."
Hồi tháng 1, cộng đồng tình báo Mỹ đã công bố kết luận rằng Nga có sự can thiệp vào cuộc bầu cử, và Tổng thống Vladimir Putin đã chỉ đạo một chiến dịch phá hoại tiến trình dân chủ tại Mỹ và hạ uy tín của bà Clinton nhằm trợ giúp ông Trump. (Vietnam + 3/5) đầu trang(./.
|
|||