|
Ngày 31 tháng 08 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Ngày 28-8, UBND tỉnh Hà Giang tổ chức Lễ công bố quyết định của Thủ tướng Chính phủ thành lập Vườn quốc gia Du Già - Cao nguyên đá Đồng Văn tại tỉnh Hà Giang.
Vườn quốc gia Du Già - Cao nguyên đá Đồng Văn được thành lập trên cơ sở sát nhập Khu bảo tồn thiên nhiên Du Già và Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc mũi hếch Khau Ca, với tổng diện tích tự nhiên hơn 15.000 ha thuộc địa bàn ba huyện: Vị Xuyên, Bắc Mê, Yên Minh.
Việc thành lập Vườn Quốc gia Du Già - Cao nguyên đá Đồng Văn nhằm bảo bệ hệ sinh thái rừng nhiệt đới, núi đá vôi và các loài thực vật, động vật hoang dã quý hiếm, như: Thông đỏ bắc, trai lý, sưa bắc, vọoc mũi hếch và sơn dương nâu. Đồng thời duy trì chức năng phòng hộ đầu nguồn của lưu vực sông Gâm và hệ thống suối trong khu vực của hồ thủy điện Tuyên Quang, góp phần ổn định sản xuất nông nghiệp, công nghiệp trong khu vực; xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện cho việc nghiên cứu và phục vụ nghiên cứu bảo tồn khu hệ động, thực vật rừng và các hệ sinh thái điển hình của vườn.
Ông Nguyễn Minh Tiến, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang cho biết, Vườn Quốc gia Du Già – Cao nguyên đá Đồng Văn được thành lập không chỉ góp phần bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học trong hệ thống sinh thái cao nguyên đá vôi phía bắc Việt Nam, mà còn giúp tỉnh Hà Giang tạo điểm nhấn về du lịch, nâng tầm giá trị của Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn. Để tỉnh Hà Giang triển khai các dự án đầu tư xây dựng vườn quốc gia theo đúng lộ trình, đề nghị Chính phủ xem xét đưa các nội dung dự án đầu tư vườn quốc gia vào chương trình dự án đầu tư công giai đoạn 2016-2020.
Ông Nguyễn Minh Tiến cũng mong muốn các bộ, ngành T.Ư quan tâm giúp tỉnh kêu gọi các tổ chức trong nước và quốc tế đầu tư, hỗ trợ cho tỉnh Hà Giang xây dựng Vườn Quốc gia Du Già – Cao nguyên đá Đồng Văn. (Nhân Dân 28/8) đầu trang(
Chẳng ai biết rừng nghiến có từ khi nào, chỉ biết từ bao đời nay, người dân thôn Xí Giàng Phìn vẫn chung tay giữ cánh rừng này bằng sự kính cẩn, thiêng liêng nhất.
Trong lòng mỗi người dân Xí Giàng Phìn, khu rừng nghiến là biểu trưng cho sự che chở, bình yên, trường tồn và cũng là niềm tự hào của thôn, bản. Khu rừng có hơn 100 cá thể nghiến cỡ lớn sừng sững, hiên ngang, rễ bám chặt vào những vách đá tai mèo mà thách thức giông bão, thi gan với thời gian.
Giữa cái nắng chói chang, chúng tôi men theo con đường dốc cheo leo để lên Xí Giàng Phìn, thôn nghèo của xã Nậm Chảy (Mường Khương). Đã từ lâu, người Mông đến đây dựng nhà, lập bản và sống hài hòa cùng thiên nhiên. Thôn nghèo nằm trên một vùng đất khá bằng phẳng, lưng dựa vào rừng gỗ nghiến. Tất cả các hộ dùng chung nguồn nước từ khu rừng này. Theo kinh nghiệm của các vị cao niên trong làng thì khu rừng nghiến có những thân gỗ đến gần nghìn năm tuổi.
Nhìn vào một khoảng không xa xăm, Trưởng thôn Giàng Cù Nủ trầm ngâm bảo: “Không biết khu rừng được coi là rừng thiêng, rừng cấm từ bao giờ, có lẽ quan niệm này bắt đầu từ khi người Mông đầu tiên có mặt ở nơi đây. Thời tôi còn bé đã thấy những cây nghiến to như thế. Gia đình nào cũng vậy, ông bảo cha, cha bảo lại cho con, cho cháu rằng phải giữ lấy rừng nghiến, bởi rừng nghiến là “hồn” của bản”.
Cùng Trưởng thôn Nủ và một số cán bộ xã Nậm Chảy, chúng tôi khám phá “kho báu ngàn cổ” trong sự hồi hộp, háo hức. Không có đường mòn để vào sâu trong rừng gỗ nghiến, anh Nủ chỉ cho chúng tôi cách bám lên những mỏm đá nhấp nhô, bám lấy những bộ rễ cây lớn để đu, để luồn và bò vào rừng.
Trong rừng, cái nắng bị bỏ lại phía sau vòm lá nhiều tầng u tịch, cả những tiếng ve cũng líu ríu như tiếng dế từ trên các ngọn cây cao tít. Ngoài vạt nương phía bìa rừng đất khô như rang, còn nơi đây, những lớp thực bì xốp, ẩm, mềm mại khiến chúng tôi ngỡ như mình đang đứng trên tấm đệm khổng lồ.
Xếp vào hạng rừng cấm với những quy định bảo vệ nghiêm ngặt, nên khu rừng nghiến này vẫn giữ được vẻ nguyên sơ, hoang dã. Dưới những tán cây lớn, thảm thực vật bậc thấp, dây leo bám chằng chịt vào bộ rễ lớn như những con rắn khổng lồ trườn mình trên đá tai mèo.
Thì ra “rừng cấm” Xí Giàng Phìn không chỉ bởi do ý nghĩa về mặt văn hoá, tập quán, mà còn vì cả sự nguy hiểm. Những khe, dốc đá chênh vênh, chỉ sơ sẩy là có thể trượt ngã và khó giữ được tính mạng, vì dưới đáy thung kia là những mỏm đá tai mèo lấp ló trong lùm cỏ dại. Cũng bởi thế, mà ngoài thời gian thực hiện nghi lễ cúng rừng hằng năm hoặc tuần tra, bảo vệ rừng, thì việc đặt chân vào rừng là hết sức hạn chế với chính người dân trong thôn.
“Trong thôn nhà nào cũng thế, khung nhà, cánh cửa đến các đồ dùng rất ít làm bằng gỗ nghiến. Từ bao đời vẫn thế rồi, nếu người Xí Giàng Phìn không có ý thức giữ rừng thiêng thì đâu còn được như ngày nay” - Trưởng thôn Nủ tâm sự.
Hằng năm, sau Tết Nguyên đán là người Mông thôn Xí Giàng Phìn lại làm lễ cúng rừng trong rừng nghiến. Bản Xí Giàng Phìn còn nghèo nhưng chẳng ai nghĩ đến chuyện chặt cây rừng dù gỗ nghiến được xếp vào bậc quý hiếm; gỗ nghiến nặng, bền, đẹp, không cong vênh, mối mọt, trên thị trường có giá bán rất cao. Việc bảo vệ rừng bây giờ còn phức tạp hơn nhiều bởi không ít lần cánh rừng thiêng này phải đón sự “viếng thăm” của những “vị khách không mời”.
Người Mông thôn Xí Giàng Phìn có quan niệm rằng chặt gỗ nghiến trong rừng thiêng là có tội lớn với tổ tiên, là phạm phải tội ác “nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá”. Vậy mà bên vách đá tai mèo, có thời gian sự cẩn trọng của người dân thôn Xí Giàng Phìn vẫn không ngăn được rừng nghiến “chảy máu”. Có không ít lần, những thân nghiến lớn bị kẻ xấu cưa trộm trong đêm, người dân phát hiện được thì thân gỗ đã đổ.
“Tổ tiên gìn giữ bao đời, đến thế hệ mình lại để mất, như vậy là có lỗi lớn”, Trưởng thôn Nủ ngậm ngùi. Giờ đây, tinh thần cảnh giác của bà con thôn Xí Giàng Phìn và các thôn lân cận dần được nâng cao, nên hơn 100 cá thể nghiến cỡ lớn trong khu rừng vẫn được giữ nguyên trạng.
Lên cao chừng 20 phút đi bộ, chúng tôi đứng nghỉ trước một thân nghiến lớn. Anh Nủ cầm dao dọn những cây gai chắn trước mặt để chúng tôi có thể tiếp cận gần hơn một cây gỗ nghiến mà chu vi gốc của nó cỡ vài người ôm. Anh Vàng Ngọc Kim, Trưởng Ban công an xã Nậm Chảy làm một động tác hết sức sinh động là chui vào một trong những hốc của cây nghiến và anh lọt thỏm trong đó như vừa lách qua cửa nhà mình vậy. Anh Kim cho biết, có lần đi tuần tra bảo vệ rừng, lúc gặp mưa, tổ bảo vệ 5 người nhưng vẫn chui được vào hốc nghiến chờ trời tạnh mưa, đủ để thấy tuổi đời của nghiến rất cao.
Hầu hết những người đàn ông trưởng thành của thôn Xí Giàng Phìn đều nhớ rõ vị trí của từng cây nghiến, nhớ rõ từng khe, hốc đá nguy hiểm nhờ được luân phiên tuần tra bảo vệ rừng. Dẫn chúng tôi đi qua một cây gỗ nghiến đã đổ cách đây vài năm, nằm vắt ngang qua khe đá như một chiếc cầu lớn với đường kính tới hơn 1 m, anh Kim ngẩn ngơ tiếc: “Có thể “cụ này” quá cao niên, nên nhường không gian sống cho con cháu”.
Với người dân thôn Xí Giàng Phìn nói riêng và bà con xã Nậm Chảy nói chung, rừng nghiến thiêng là một niềm tự hào, biểu tượng cho sự trường tồn, khát vọng sống của người dân nơi đây. Nậm Chảy theo tiếng địa phương có nghĩa là đầu nguồn con nước, muốn có nước thì phải giữ rừng, âu đó cũng là quy luật sinh tồn, tuân thủ theo thực tế khách quan.
Trên địa bàn tỉnh hiện còn hàng chục nghìn ha rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, nhưng cánh rừng có mật độ gỗ quý cao như rừng thiêng Xí Giàng Phìn thực không dễ tìm. Với người Mông thôn Xí Giàng Phìn, khu rừng có giá trị hơn thế bởi nó thể hiện nét văn hoá, tinh thần, tình yêu của người dân đối với rừng, vậy nên họ mới coi rừng nghiến là “kho báu ngàn cổ”. (Báo Lào Cai/ Infonet 29/8) đầu trang(
Huyện Mường Nhé từ lâu được biết đến là một trong những địa phương có diện tích rừng lớn của tỉnh.
Đặc biệt, huyện có khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé với hệ động thực vật phong phú đa dạng. Tuy nhiên trong những năm gần đây, tình trạng phá rừng, xâm hại nguồn tài nguyên rừng trên địa bàn huyện ngày càng có chiều hướng gia tăng. Trong đó, phá rừng từ làn sóng dân di cư tự do là một trong những nguyên nhân chính.
Điều này không những gây suy giảm nghiêm trọng nguồn tài nguyên rừng mà còn ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh. Chính vì vậy, tăng cường các giải pháp giữ rừng, phát triển rừng gắn với ổn định đời sống nhân dân là một trong những nhiệm vụ trọng tâm được huyện Mường Nhé thực hiện.
Huyện Mường Nhé có tổng diện tích tự nhiên trên 157 nghìn ha, diện tích đất có rừng còn lại là trên 72 nghìn ha, tỷ lệ che phủ đạt trên 45%. Trong đó, rừng đặc dụng là trên 31 nghìn ha, rừng phòng hộ trên 25 nghìn ha, rừng sản xuất 16 nghìn ha. Trong những năm qua, huyện Mường Nhé, các lực lượng chức năng đã triển khai đồng bộ, quyết liệt nhiều biện pháp để bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng quý giá.
Tại nhiều địa bàn như xã Sín Thầu, Sen Thượng các diện tích rừng được người dân giữ gìn bảo vệ tốt; nhiều mô hình quản lý bảo vệ rừng được các thôn, bản cộng đồng dân cư thực hiện và mang lại hiệu quả. Đặc biệt, thực hiện Kế hoạch số 338 ngày 20/2/2013 của UBND tỉnh về việc rà soát, hoàn chỉnh thủ tục để giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp.
Trong giai đoạn 2013 - 2015, huyện Mường Nhé đã giao gần 35 nghìn ha cho 74 chủ rừng là cộng đồng dân cư thôn bản, 9 chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân và 2 chủ rừng là tổ chức gồm: Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé và Công ty Cổ phần Cao su Mường Nhé.
Việc giao đất, giao rừng không những góp phần tăng cường công tác quản lý, bảo vệ phát triển rừng mà còn là căn cứ quan trọng để Quỹ bảo vệ và phát triển rừng thực hiện công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng. Đến nay, hàng chục tỷ đồng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng đã đến tay cộng đồng dân cư, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân trong việc tham gia bảo vệ nguồn tài nguyên rừng.
Bản Mường Nhé, xã Mường Nhé có 95 hộ gia đình với trên 300 nhân khẩu. Bản được giao quản lý, bảo vệ diện tích rừng gần 750ha. Để bảo vệ diện tích rừng này, bản đã xây dựng quy ước và ký cam kết bảo vệ rừng tới 100% các hộ gia đình. Tổ tuần tra bảo vệ rừng cũng được thành lập và hoạt động tích cực. Nhờ đó, trong những năm qua, công tác bảo vệ rừng, phòng chống chữa cháy rừng được cộng đồng bản thực hiện thường xuyên liên tục, các diện tích rừng được bảo vệ tốt.
Thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, bản đã nhận được tiền chi trả trong 2 năm (2012 - 2013) là gần 500 triệu đồng. Tính bình quân mỗi hộ gia đình nhận được 5 triệu đồng. Ngoài ra, bản thành lập một quỹ riêng để trả công cho đội tuần tra bảo vệ rừng. Với chính sách này, người dân trong bản tin tưởng sẽ bảo vệ tốt hơn những cánh rừng mình đang quản lý.
Bên cạnh các địa bàn dân cư bảo vệ rừng tốt và hưởng lợi từ chi trả dịch vụ môi trường rừng thì tại nhiều nơi khác trên địa bàn huyện Mường Nhé tình trạng phá rừng, xâm hại nguồn tài nguyên rừng lại diễn biến phức tạp. Nguyên nhân chính dẫn đến diện tích rừng bị mất là do áp lực đến từ dân di cư tự do. Không tính đến số lượng dân di dịch cư vào huyện trước thời điểm 30/4/2011 và thuộc đối tượng thụ hưởng Đề án 79 về sắp xếp ổn định dân di cư tự do thì con số dân di cư tự do cũng đã lên trên con số 4.000 người chỉ trong giai đoạn 2011 - 2015.
Số lượng dân di cư quá lớn không những gây áp lực lớn về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh mà còn khiến nguồn tài nguyên rừng bị tàn phá nghiêm trọng. Theo số liệu thống kê của cơ quan chức, năng năm 2013 tổng diện tích rừng bị phá là 210ha, tập trung chủ yếu ở xã Leng Su Sìn và xã Mường Nhé. Diện tích rừng bị phá năm 2014 là trên 120ha chủ yếu tại xã Chung Chải, Leng Su Sìn và Mường Nhé. Con số diện tích rừng bị phá từ đầu năm 2015 đến nay cũng đã lên tới 143ha.
Nghiêm trọng hơn, tình trạng phá rừng đã xảy ra tại địa bàn 8/11 xã, cách thức phá rừng cũng ngày càng tinh vi, phức tạp và có tổ chức. Ông Lò Văn Thành, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mường Nhé cho biết: "Trong thời gian gần đây, tình trạng dân di cư tự do vào Mường Nhé đông, dẫn đến gia tăng dân số cơ học rất là nhiều. Chính vì vậy, dẫn tới tình trạng người dân ồ ạt phá rừng. Họ phá theo nhóm hộ và phá rừng tập trung, mỗi nhóm khoảng từ 20 - 50 người, họ phá vào ban đêm nên gây khó khăn trong công tác tuần tra, kiểm soát để phát hiện, xử lý các vụ vi phạm trên địa bàn."
Qua thực tế cho thấy, những địa bàn mất nhiều rừng nhất cũng là những địa bàn đông dân di cư tự do đến nhất. Xã Leng Su Sìn là một trong những điểm nóng về tình trạng dân di cư tự do. Đơn cử như điểm bản Cà Là Pá khi mới thành lập bản chỉ có vỏn vẹn 30 hộ gia đình với hơn 100 nhân khẩu. Nhưng nay theo thống kê chưa đầy đủ bản có trên 350 hộ gia đình với trên 2.300 nhân khẩu.
Áp lực gia tăng không ngừng về nhân hộ khẩu với các nhu cầu mưu sinh khai phá nương rẫy khiến diện tích rừng bị mất đi ngày càng lớn. Trong 3 năm qua, xã Leng Su Sìn luôn là xã có diện tích rừng bị tàn phá nhiều nhất huyện. Trong 3 năm, diện tích rừng bị chặt phá, xâm hại lên tới trên 280ha. Đây thực sự là một con số quá lớn và đủ để thấy rừng đã và đang bị tàn phá nghiêm trọng đến mức nào.
Ông Chang A Khày, Phó Chủ tịch UBND xã Leng Su Sìn cho biết: "Trước tình hình trên, cấp ủy, chính quyền địa phương đã phối hợp với các lực lượng chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng. Đồng thời, triển khai đầy đủ các chính sách, chương trình của Nhà nước góp phần ổn định đời sống của người dân. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân hiệu quả của công tác tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ rừng của người dân chưa đạt được kết quả như mong muốn."
Rõ ràng nguồn tài nguyên rừng trên địa bàn huyện đã và đang từng ngày bị chảy máu. Trong khi đó, công tác quản lý bảo vệ của chính quyền, các lực lượng chức năng đối mặt với nhiều khó khăn. Địa bàn rộng, địa hình chia cắt, diện tích rừng phải quản lý bảo vệ lớn trong khi lực lượng chuyên trách lại quá mỏng. Tổng số cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Mường Nhé chỉ có 25 người; cán bộ khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé 24 người trong khi diện tích đất có rừng phải bảo vệ lên tới trên 72 nghìn ha.
Riêng lực lượng bảo vệ không chuyên trách là cộng đồng các thôn bản 950 người nhưng gặp nhiều khó khăn về kinh phí hoạt động cũng như chế tài, biện pháp bảo vệ rừng. Đặc biệt, việc tuần tra, kiểm soát xử lý các hành vi chặt phá, đốt rừng làm nương, buôn bán lâm thổ sản trái phép của lực lượng chức năng gặp phải sự chống đối quyết liệt của các đối tượng vi phạm là dân di cư tự do.
Chính vì vậy, để tăng cường công tác bảo vệ rừng, giữ cho được màu xanh của các cánh rừng trong thời gian tới huyện Mường Nhé mà trực tiếp là lực lượng kiểm lâm sẽ tập trung thực hiện quyết liệt các giải pháp.
Ông Lò Văn Thành, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mường Nhé cho biết thêm: "Hạt sẽ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động bảo vệ rừng đặc biệt là các địa bàn có dân di cư tự do. Củng cố, kiện toàn 85 tổ đội phòng chống chữa cháy rừng với gần 1.200 thành viên, đảm bảo thực hiện tốt công tác phòng chống cháy rừng ngay từ cơ sở. Phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi chặt phá rừng, buôn bán vận chuyển trái phép lâm thổ sản. Phối hợp với đơn vị chuyên môn đẩy nhanh tiến độ thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đảm bảo đúng, đủ, kịp thời... Từ đó, nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng của các chủ rừng đã được giao đất, giao rừng."
Trong những năm gần đây, các hình thái bất thường của thời tiết như hạn hán, mưa lũ cường độ lớn thường xuyên xảy ra trên địa bàn huyện Mường Nhé không phải là không có nguyên nhân. Những cánh rừng bị tàn phá không chỉ gây biến đổi khí hậu nói chung mà môi trường sinh thái, cuộc sống của người dân xung quanh khu vực rừng sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp.
Bởi vậy, việc bảo vệ nguồn tài nguyên rừng càng trở nên cấp thiết và quan trọng hơn bao giờ hết đòi hỏi sự quyết tâm của các cấp, các ngành chức năng và ý thức bảo vệ của chính người dân. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Tỉnh Điện Biên 28/8) đầu trang(
Thị trấn Đức An (Đắc Song, Đắc Nông) thay da đổi thịt vì QL14 trải dài thênh thang và nơi đây từng có những rừng thông phòng hộ xanh ngút mắt.
Thế nhưng thời gian gần đây tất cả đã thay đổi, rừng thông đứng trước nguy cơ bị đốn hạ khi nhiều người đã thay màu xanh của rừng để lấy đất trồng hồ tiêu. Chúng tôi gặp anh Đoàn Thế Dân (38 tuổi, trú tổ dân phố 6, thị trấn Đức An) đang chăm sóc hồ tiêu. Thấy khách lạ, anh Dân nghỉ công việc để tiếp chuyện. Anh bảo: “Hồ tiêu bây giờ đang là câu chuyện nóng bỏng nhất ở đây. Người dân bỏ công bỏ của để trồng, có tiền thì đầu tư trụ chết bằng gỗ, xi – măng, nếu không thì mua cây bông gòn ở Đồng Nai về trồng.
Trụ “chết” giá từ 200 đến 300 nghìn đồng/trụ, trụ sống bông gòn thì 80 nghìn đồng/trụ”. Ngay gia đình anh cũng lao đao trong vòng xoáy hồ tiêu, vài năm trước anh xuống giống 200 trụ nay đã cho thu hoạch, nhận thấy lợi nhuận mang lại, hơn 300 trụ mới lại được xuống vào mùa mưa năm 2015. Ở cái triền đất này nhà nào cũng có vài trăm trụ tiêu, người nhiều đến vài nghìn.
Quỹ đất có giới hạn, không thể mở rộng được nữa, muốn cho tiêu leo, không còn cách nào khác là xông thẳng vào những cánh rừng, bất chấp lời cảnh báo của các cơ quan chức năng.
Khi dải lụa QL14 đã ra hình hài, đoạn qua H. Đắc Song được đánh giá là “cung đường đẹp nhất Tây Nguyên” với rừng thông thơ mộng uốn lượn. Tuy nhiên, trong thời gian qua cánh rừng thông phòng hộ này bị tàn phá để lấy đất trồng tiêu. Do vậy, UBND tỉnh Đắc Nông đã đồng ý chủ trương giao cho UBND H. Đắc Song giao đất giao rừng cho các hộ dân quản lý, bảo vệ và trồng rừng; thành lập dự án cung đường thanh niên dài khoảng 20 km qua hai xã Trường Xuân và Nâm N’Jang. Khi đến Hạt Kiểm lâm H. Đắc Song, từng bầu thông nhỏ được ươm trồng một cách kỹ lưỡng và chính tay cán bộ nhân viên hạt trồng mới ở những nơi rừng đã mất.
Rừng thông phòng hộ bị xâm phạm, rừng giao khoán cho các doanh nghiệp lại “bỏ chạy” rồi giao lại cho chính quyền và lâm trường địa phương quản lý cũng bị “tiêu tặc” sát hại. Tại tiểu khu 1678, thuộc địa giới hành chính xã Trường Xuân được thu hồi từ Cty CP chế biến lâm sản và xuất khẩu Thăng Long, từ khoảnh 1 đến 4 “tiêu tặc” gắn biển bán đất, ghi ngay cả số điện thoại trên thân cây.
Thế mới biết sự lợi hại của hồ tiêu tác động lên những cánh rừng ở đây. Cho dù các khoảnh này đã có chủ, theo cung cấp của cán bộ Hạt Kiểm lâm H. Đắc Song thì ở tiểu khu 1678, từ khoảnh 1 đến 4 đã giao về cho UBND xã Trường Xuân quản lý và kiểm lâm viên luôn túc trực để bảo vệ.
Ông Lê Văn Thiếu, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Đắc Song thẳng thắn nhìn nhận: “Giá hồ tiêu tăng mạnh, người người nhà nhà đổ xô trồng tiêu. Áp lực đè nặng lên những cánh rừng và lực lượng kiểm lâm chúng tôi. Làm ráo riết lắm, lập biên bản xử lý hành chính cũng nhiều, đề nghị cơ quan chức năng truy tố cũng có, nhất quyết phải mạnh tay để cứu lấy những cánh rừng”. Thực tế là Hạt Kiểm lâm Đắc Song đã dùng mọi biện pháp để ngăn chặn tình trạng này, xử lý và tăng cường công tác tuyên truyền nên thời gian qua đã tạm dẹp được một số vụ phá rừng thông.
Trong tháng 8 -2015, số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng được cán bộ pháp chế cung cấp là 30 vụ, trong đó phá rừng trái phép đến 22 vụ với diện tích hơn 6,6 ha, chủ yếu phá rừng để lấy đất canh tác hồ tiêu. Tăng cường công tác quản lý và bảo vệ rừng nhưng đứng trước thách thức “tiêu leo... rừng đổ” đã làm không ít cơ quan chức năng phải vò đầu suy nghĩ. (Công An TP.Đà Nẵng 28/8) đầu trang(
Ngày 28/8, Đoàn giám sát của HĐND tỉnh do đồng chí Nguyễn Thị Nở, Trưởng ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh làm trưởng đoàn, tiếp tục giám sát tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết 27 của HĐND tỉnh về quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng Phú Yên giai đoạn 2011-2020 đối với Sở NN-PTNT.
Tham gia cùng Đoàn giám sát có lãnh đạo UBMTTQ Việt Nam tỉnh, các Ban của HĐND tỉnh, các sở KH-ĐT, Tài chính, TN-MT, UBND các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh…
Theo Sở NN-PTNT, đất quy hoạch cho lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2015 hơn 280.800ha và giai đoạn 2016-2020 hơn 287.900ha, trong đó đất rừng đặc dụng khoảng 18.850ha, đất rừng phòng hộ hơn 101.100ha, đất rừng sản xuất hơn 167.930ha. Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xây dựng và triển khai 11 dự án đầu tư phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước; triển khai 3 dự án ODA về phát triển, khôi phục và quản lý rừng; 6 dự án quy hoạch chi tiết trồng rừng sản xuất bằng nguồn vốn tự huy động của các doanh nghiệp.
Độ che phủ của rừng trên địa bàn tỉnh từ 34,3% năm 2010 lên 35,2% năm 2014 (nếu tính diện tích rừng mới trồng chưa khép tán thì đến năm 2014 độ che phủ đạt 37,54%). Hàng năm, các đơn vị chủ rừng đều làm mới, tu sửa băng cản lửa, phát dọn thực bì tại các khu rừng trồng, tuy nhiên so với yêu cầu thì các phương tiện, dụng cụ phục vụ công tác phòng cháy chữa cháy rừng hiện có quá ít và thô sơ.
Sở NN-PTNT đề nghị tỉnh xem xét, hỗ trợ từ ngân sách tỉnh cho hoạt động giao khoán quản lý bảo vệ rừng, bổ sung biên chế cho lực lượng quản lý bảo vệ rừng, cấp kinh phí mua sắm phương tiện, dụng cụ phục vụ công tác phòng cháy chữa cháy rừng…
Tại buổi làm việc, Đoàn giám sát đề nghị Sở NN-PTNT cần quan tâm chỉ đạo và tham mưu UBND tỉnh các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng, triển khai trồng rừng trên diện tích đất chưa có rừng và tăng cường giao khoán rừng trồng cho người dân tham gia quản lý, tạo sinh kế cho người dân địa phương.
Sở NN-PTNT cần rà soát và có đánh giá chính xác về tỉ lệ độ che phủ rừng trên địa bàn tỉnh; sớm tham mưu UBND tỉnh cấp kinh phí theo quy định cho công tác quản lý bảo vệ rừng, mua sắm trang thiết bị, dụng cụ phục vụ công tác phòng cháy chữa cháy rừng, thu hồi những diện tích đã giao cho các doanh nghiệp nhưng đến nay không triển khai trồng rừng…
Đoàn giám sát ghi nhận những kiến nghị của Sở NN-PTNT và tổng hợp gửi đến cơ quan chủ quản, đồng thời sẽ đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của HĐND tỉnh về quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh trong thời gian tới. (Báo Phú Yên 29/8) đầu trang(
Mặc dù các cơ quan nghiên cứu đều khẳng định sừng tê giác và ngà voi có cấu tạo không khác gì móng tay. Song, nhiều người vẫn tin vào lời đồn rằng chúng là thần dược và săn tìm.
Ngày 13/8 vừa qua, khi kiểm tra 2 container của Công ty TNHH Vạn An (quận Hải Châu, TP Đà Nẵng), lực lượng chức năng đã phát hiện 8/16 khối bất thường, có màu sắc giống hệt cẩm thạch nhưng chất liệu tổng hợp, xốp, được ngụy trang bên ngoài bằng lớp keo chống soi chiếu. Bên trong mỗi khối chứa 10-25 mẫu vật nghi ngà voi và sừng tê giác với khối lượng hơn 680 kg.
Ước tính giá trị lô hàng này khoảng 100 tỷ đồng. Qua công tác nghiệp vụ, lực lượng chức năng đã bước đầu xác định, đây là đường dây buôn lậu hàng cấm từ Mozambique về Việt Nam. Hiện các mẫu vật đã được gửi đi trưng cầu giám định để xác định chủng loại làm căn cứ xử lý.
Ít ngày sau, chiều 21/8, tại cảng Đà Nẵng, Cục Cảnh sát PCTP buôn lậu - Bộ Công an phối hợp với Cục điều tra chống buôn lậu thuộc Tổng cục Hải quan và Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng đã mở, khám xét 3 container của Công ty TNHH Vạn An, phát hiện bên trong chứa 2,2 tấn ngà voi có dấu hiệu nhập lậu từ châu Phi về Việt Nam.
Cả hai lô hàng trên được che giấu bằng các hình thức rất tinh vi nhằm lọt qua hệ thống soi chiếu và giám sát của cơ quan chức năng. Giống như lô hàng thứ nhất được ngụy trang bằng “cẩm thạch”, lô hàng thứ hai được doanh nghiệp khai là gỗ nhập từ Nigeria nhưng bên trong là gỗ tạp và 63 bao tải chứa ngà voi.
Những vụ việc trên không phải là hi hữu. Trước đó, ngày 16/4, Hải quan Nội Bài đã phát hiện vụ vận chuyển trên 65 kg ngà voi và sừng tê giác theo đường hàng không từ Pháp về Nội Bài. Trước đó, một người đàn ông Việt Nam bị phát hiện cất giấu 27 kg sừng tê giác trong hành lý và bị bắt tại sân bay Bangkok (Thái Lan). Theo lời khai của người đàn ông này, anh ta bay đến Thái Lan từ Ethiopia và đang chờ lên một chuyến bay khác để tới Hà Nội.
Giá trị lô hàng bị bắt khoảng 30 tỷ đồng. Cuối năm 2012, Công an TP HCM cũng đã phát hiện lô hàng chứa 158 chiếc ngà voi, trọng lượng trên 2.400 kg, trị giá trên 100 tỷ đồng. Bỏ lỡ cơ hội vàng trong điều trị bệnh Theo những lời truyền miệng, sừng tê giác có công dụng chữa bệnh ung thư, liệt dương, còn đeo trang sức ngà voi thì có tác dụng tránh gió, phòng nhiễm độc...
Đây chính là nguyên nhân khiến ngà voi và sừng tê giác được đẩy lên với giá trên trời. Tuy nhiên, hiện chưa có nghiên cứu nào khẳng định tác dụng của những sản phẩm này như các lời đồn đại. Thậm chí, trong sừng tê giác có nhiều thành phần phức tạp khiến người dùng có nguy cơ bị dị ứng và nhiễm độc. GS.TS Nguyễn Bá Đức, nguyên Giám đốc Bệnh viện K - Phó chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam đã khẳng định, sừng tê giác có thành phần cấu tạo như móng tay người. Nó là chất sừng thông thường chứ không phải là thần dược như mọi người vẫn nghĩ.
Thời gian qua, tỷ lệ người bệnh mắc ung thư phát hiện sớm rất thấp, một phần do tin vào tác dụng của nấm lim xanh, sừng tê giác… đối với căn bệnh này nên đã làm mất đi “thời gian vàng” trong điều trị. Chưa kể đến việc, do giá thành cao nên sừng tê giác bị làm giả khá nhiều. Theo các tài liệu của y học phương Đông, sừng tê giác có tính hàn, vị đắng...
Trong Đông y hiện nay hầu như không dùng sừng tê giác để chữa bệnh, vì vừa đắt vừa khó tìm và có nhiều thảo dược khác thay thế rẻ tiền hơn. Sừng tê giác có tính hàn, còn ung thư là mụn nhọt. Nếu dùng để điều trị bệnh ung thư thì hàn gặp hàn nên dễ “tắc tử”.
Ngoài ra, nó cũng không có tác dụng bổ huyết, bổ khí, bổ âm, bổ dương như đồn thổi nên không làm cho con người khỏe ra và cũng không có chuyện uống sừng tê giác để tăng tuổi thọ, trái lại còn dễ dẫn đến liệt dương. Còn đối với ngà voi, tuy giá thành rất cao nhưng thực tế cũng không có tác dụng gì đối với sức khỏe. Có thể nói, mặc dù ngà voi, sừng tê giác là những hàng hóa cấm nhập khẩu và buôn bán, nhưng vì lợi nhuận nên nhiều đối tượng vẫn tìm đủ mọi cách để thực hiện hành vi này.
Trong khi đó, nhiều người dân chỉ vì tin theo lời đồn đã bỏ ra không ít tiền để tìm mua bằng được những sản phẩm không có tác dụng như mong muốn, thậm chí là hàng giả về sử dụng, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng.
Để ngăn chặn tình trạng săn bắt, buôn bán trái phép ngà voi, sừng tê giác, ngoài việc cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra và xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm, rất cần mỗi người dân tỉnh táo. Khi cầu không có thì đương nhiên hết đường cung. (Zing News 30/8) đầu trang(
Ngày 30.8, Hạt Kiểm lâm Pù Hoạt (Nghệ An) cho biết vừa bắt quả tang Vi Văn Duyên (52 tuổi), Hà Văn Luyến (39 tuổi), Lô Văn Thanh (31 tuổi) và Lê Văn Tần (27 tuổi, đều ngụ xã Châu Bình, H.Quỳ Châu, Nghệ An) đang phá rừng trong khu bảo tồn Pù Hoạt.
Tại hiện trường, lực lượng chức năng thu giữ 12 m3 gỗ vàng tâm (thuộc nhóm 4) đã được cưa thành khúc. Duyên, Luyến, Thanh bị bắt giữ và bàn giao cho Công an H.Quế Phong tiếp tục điều tra về hành vi phá rừng theo quy định; Tần đã trốn thoát và đang bị cơ quan chức năng truy bắt. (Thanh Niên 31/8; Đời Sống Và Pháp Luật 30/8) đầu trang(
Trưa 30.8, tại rừng tràm Trà Sư (xã Văn Giáo, H.Tịnh Biên, An Giang) đã xảy ra cháy lớn gây thiệt hại khoảng 20 ha rừng, trong đó có 10 ha rừng tràm 26 năm tuổi.
Do rừng tràm Trà Sư là khu bảo tồn rất quan trọng nên ngay khi phát hiện cháy, các ngành chức năng tỉnh An Giang đã huy động 10 máy bơm chữa cháy chuyên dụng, gần 1.000 bộ đội, cảnh sát PCCC, dân quân, người dân địa phương tham gia chữa cháy bằng các biện pháp như bao vây, đào rãnh cắt đường cháy lan...
Đến tối cùng ngày đám cháy mới được khống chế hoàn toàn. Nguyên nhân vụ cháy nhiều khả năng do người dân lén vào rừng đốt lửa lấy mật ong gây ra.
Rừng tràm Trà Sư có diện tích khoảng 845 ha. Đây là nơi sinh sống của hàng trăm loài động vật, trong đó có 2 loài chim quý hiếm được ghi trong Sách đỏ VN là giang sen và điêng điểng. (Thanh Niên 31/8) đầu trang(
Tỉnh ta có diện tích rừng và đất lâm nghiệp lớn với trên 626.000 ha; trong đó diện tích có rừng là 567.000 ha.
Mặc dù còn rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng (BV&PTR, PCCCR), nhưng những năm qua, rừng vẫn được bảo vệ và phát triển theo hướng bền vững. Công tác quản lý, BV&PTR, PCCCR ngày càng được xã hội hóa (XHH), tạo việc làm cho nhiều lao động, góp phần bảo vệ môi trường, xóa đói, giảm nghèo.
Thường Xuân là huyện có diện tích rừng lớn, công tác BV&PTR, PCCCR luôn được quan tâm đúng mức. Từ năm 2000, huyện đã giao đất, giao rừng cho các thành phần kinh tế quản lý theo quy hoạch, góp phần bảo vệ sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, tạo nguồn nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy trên địa bàn và trong khu vực.
Năm 2013 huyện thực hiện thí điểm giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp, với diện tích trên 42.000 ha trong lưu vực đầu nguồn Hồ thủy điện Cửa Đạt cho các thành phần sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp và thực hiện chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng. Qua đó, từng bước giữ vững ổn định an ninh rừng theo hướng bền vững.
Ông Lê Xuân Cải, Trưởng Phòng Quản lý BVR, Chi cục Kiểm lâm tỉnh, cho biết: Những năm qua, kiểm lâm tỉnh đã tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhiều giải pháp về công tác quản lý, BV&PTR, PCCCR, như: Xây dựng phương án giữ vững ổn định an ninh rừng tận gốc; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân hiểu và nắm vững các quy định của pháp luật về BV&PTR; xây dựng khu dân cư “3 không” trong công tác BV&PTR, PCCCR ở 47 thôn của 22 huyện, gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và phong trào xây dựng nông thôn mới; phối hợp với các lực lượng công an, quân sự, biên phòng trong công tác BVR, PCCCR; xây dựng Đề án “Tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị của nhân dân về công tác kiểm lâm”; quản lý tốt cưa xăng, súng săn, gỗ làm nhà ở cho dân...
Bên cạnh đó, công tác giao rừng được quan tâm, đến nay toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp đã được giao cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình quản lý. Qua đó, trách nhiệm của chính quyền cơ sở đối với công tác quản lý, BVR được nâng lên; quyền lợi của chủ rừng, của cộng đồng dân cư được coi trọng.
Hoạt động lâm nghiệp chuyển từ khai thác sang hoạt động bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, công tác quản lý, BV&PTR từng bước được XHH. Vì vậy, diện tích rừng trên địa bàn tỉnh được quản lý, bảo vệ tốt, nâng độ che phủ lên 51,5%.
Tuy nhiên, công tác BVR, PCCCR theo hướng XHH còn nhiều khó khăn do một bộ phận nhân dân miền núi còn nghèo, cuộc sống phụ thuộc vào rừng; nhu cầu về gỗ và lâm sản khác trong xã hội ngày càng tăng, áp lực vào rừng khai thác ngày càng lớn; địa bàn rừng rộng, hiểm trở; thời tiết diễn biến bất thường, nắng nóng, khô hanh kéo dài, luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ cháy rừng...
Vì vậy, rất cần sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội, trách nhiệm của chủ rừng, đồng thuận của nhân dân trong công tác BV&PTR, PCCCR. (Báo Thanh Hóa 29/8) đầu trang(
Theo Hạt kiểm lâm tỉnh Quảng Trị trong cuối tháng 8 này lực lượng đã thu giữ hàng chục phách gỗ với khối lượng lớn, thuộc nhóm 5 và 6 gồm các loại như sú, trâm, xoan...
Chỉ trong vòng 4 ngày qua, tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép với khối lượng lớn ở khu vực giáp ranh biên giới Việt Nam - Lào thuộc huyện miền núi Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị diễn ra liên tục và có tính chất phức tạp.
Theo Hạt kiểm lâm huyện Hướng Hóa, trong những ngày cuối tháng 8 này, lực lượng kiểm lâm phát hiện nhiều vụ khai thác gỗ trái phép tại đỉnh đồi khu vực thôn Chênh Vênh, xã Hướng Phùng.
Theo đó, lực lượng kiểm lâm đã thu giữ hàng chục phách gỗ với khối lượng lớn, thuộc nhóm 5 và 6 gồm các loại như sú, trâm, xoan... Để khai thác và vận chuyển gỗ lậu, lâm tặc còn liều lĩnh mở đường dài khoảng 4km để phục vụ việc vận chuyển gỗ và cách khu dân cư chỉ khoảng 5km. Để ngăn chặn sự kiểm soát, một số đối tượng còn bẫy đinh giữa đường để làm thủng lốp xe lực lượng kiểm lâm. (VOV Giao Thông 30/8) đầu trang(
Rừng đặc dụng của Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa (Quảng Trị) đang bị xâm lấn. Gần đó, rừng phòng hộ Động Châu (Lệ Thủy, Quảng Bình) cũng bị tàn phá dữ dội.
Từ thị trấn Khe Sanh (Quảng Trị), chúng tôi theo đường Hồ Chí Minh, nhánh Tây Trường Sơn, vượt ra đèo Sa Mù đổ xuống bản Cha Lỳ, Cợp (Hướng Lập, Hướng Hóa, Quảng Trị). Hồ Văn P., người dẫn đường, vừa đi vừa cho biết: Khu vực rừng ở Hướng Lập là Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa. Tuy nhiên, các ngọn núi có rừng rậm hiện chỉ còn sót lại ít chỏm, đa số đã bị trọc hóa. Người dân cứ tự tiện vào khoanh từng vạt rừng rồi đốt, chờ mùa mưa xuống là gieo rẫy.
Tại nhiều vị trí cắm biển “Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa. Rừng đặc dụng, nghiêm cấm các hành vi xâm hại” thì nơi đó gần như rừng trọc lóc. Đang dọn dẹp khoảnh rừng vừa đốt, chị Hồ Thị H. cho biết: “Chuẩn bị dọn cỏ để trồng sắn”. Không chỉ gia đình chị H. mà nhiều người khác trong vùng cũng đang đẩy những khoảnh rừng ít ỏi vào chỗ tận diệt.
Ở vùng Cha Lỳ và Cợp - nơi được xem như sơn cùng, thủy tận, nhưng có không ít gia đình miền xuôi lên dựng quán bán hàng như bức bình phong để che mắt thiên hạ. Bên trong, họ thu mua sản vật rừng từ khu bảo tồn, mua gỗ lậu ở hai bản này.
Hồ Văn P. cho biết: “Các chủ quán nói bán đồ ăn nhưng ở đây không có khách, họ chỉ đóng gùi cho lâm tặc vô rừng chặt gỗ về bán lại cho họ. Các quán này cho nợ gạo, bột ngọt, muối, nước mắm, thịt, cá, đường sữa rồi lâm tặc vô rừng chặt phá lấy gỗ về gán nợ cho họ”. Ở phía cuối bản bên bờ suối, chúng tôi thấy một nhóm thanh niên đang vác mấy chục phách gỗ vừa được xẻ thả xuống suối, họ chia nhau tẩu tán rất nhanh để tránh bị lực lượng chức năng phát hiện.
Giáp ranh với Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa là rừng phòng hộ Động Châu với gần 20.000ha. Chính vì Động Châu còn rừng giàu nên lâm tặc hoành hành. Ông Đào Duy Đài, Trưởng trạm bảo vệ rừng số 3 (trạm Cầu Khỉ), cho biết: “Lâm tặc vừa rồi không chỉ lấy gỗ mà còn tấn công cả nhân viên trạm bảo vệ rừng nếu bị chặn đường kiểm tra”.
Theo nhánh Tây đường Hồ Chí Minh, vượt qua địa danh Bãi Đạn vào Tiểu khu 534 thuộc rừng phòng hộ Động Châu, vượt thác dựng đứng, chúng tôi gặp ngổn ngang hiện trường khai thác gỗ của lâm tặc. Nhiều gốc cây gõ, cây lim bị đốn hạ. Theo dấu một nhóm người kéo gỗ từ Động Châu về, chúng tôi đón đường xuống suối qua bản Cợp, gặp 7 thanh niên đợi sẵn, thấy gỗ về liền bốc lên đường đất gửi hẳn vào nhà dân quanh bản mà không bị ai cản trở vì đã “mua đường” đưa gỗ về bản.
Theo dấu các chuyến gỗ vận chuyển lậu từ rừng Động Châu về tỉnh Quảng Trị, chúng tôi thấy ban đêm gỗ được chuyển ra phía Bãi Đạn (trên đường Hồ Chí Minh, nhánh Tây Trường Sơn). Chị T., chủ một quán nhỏ bên đường, cho biết: “Rừng đặc dụng Bắc Hướng Hóa đã cạn gần hết. Ai cần gỗ phải qua rừng Động Châu”.
Khi chúng tôi ngỏ lời nhờ mua gỗ, chị nhanh nhảu ra giá: “Gỗ dỗi giá 8 triệu đồng/m3; gỗ gõ 20 triệu đồng/m3, thêm chút tiền lo lót đường nữa là về đâu cũng được”. Chị T. còn lưu ý việc “thông đường” về phía Quảng Trị “rẻ hơn”, vì cơ quan chức năng bên đó không quản chặt. (Sài Gòn Giải Phóng 29/8) đầu trang(
Ở khu rừng phía Tây (huyện Lệ Thủy, Quảng Bình) này, suốt nhiều năm nay ngoài tình trạng “lâm tặc” khai thác gỗ một cách ngang nhiên thì nơi đây còn “nóng rẫy” bởi chuyện lợi dụng dự án để phá rừng, “lâm tặc” tấn công cán bộ kiểm lâm...
Còn nhớ cách đây gần 2 năm, khoảng tháng 11/2013, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình Trần Văn Tuân ký quyết định cho phép chuyển đổi 401,4ha rừng tự nhiên là rừng nghèo để Tổng Công ty 15 lập dự án trồng cao su trên địa bàn 3 xã: Kim Thủy, Ngân Thủy và Lâm Thủy, thời hạn sử dụng đến năm 2065.
Quyết định trên được ký dựa trên đề nghị của Sở NN&PTNT. Theo đó, nằm trong quy định chuyển diện tích rừng sang trồng cao su, mà Phó Chủ tịch UBND tỉnh này đã ký thì xã Lâm Thủy có diện tích chuyển đổi lớn nhất, với hơn 231ha (đây cũng là địa bàn rừng có độ che phủ tốt với hệ thống cây cổ thụ, cây nhiều tầng).
Sau sự việc khiến dư luận địa phương không đồng tình, đặc biệt là về tình trạng phá tan hoang diện tích rừng nguồn với khối lượng gỗ rất lớn, tại bản Bạch Đàn, bản Eo Bù Chút Mút (xã Lâm Thủy), chuyển sang trồng cao su. Liên quan đến vụ việc này, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã đề nghị bóc tách 100ha rừng ra khỏi phạm vi dự án.
Đến ngày 31/10/2014, Phó Chủ tịch UBND tỉnh tiếp tục ra quyết định điều chỉnh địa danh, diện tích xuống còn hơn 300ha. Sau sự vụ trên, một số lãnh đạo, cán bộ của Chi cục Lâm nghiệp và Trung tâm Quy hoạch thiết kế nông lâm nghiệp Quảng Bình bị kiểm điểm. Điều này chứng minh, đây là một quy định “có vấn đề” từ khi mới được ban hành. Nhắc lại chuyện trên để thấy rằng, địa bàn rừng Thù Lù đã bị “xà xẻo” vì những dự án “có vấn đề”.
Theo tìm hiểu riêng của người viết, rừng Thù Lù có diện tích trên 1.000ha, là khu vực liên rừng qua tận biên giới Lào, góp phần làm phong phú hệ thống khu vực rừng Động Châu – khe Nước Trong. Việc hoán đổi diện tích rừng còn đa dạng để trồng cao su và chuyện một khu rừng đến 4 - 5 chủ quản lý chồng chéo đã dẫn đến tình trạng nhùng nhằng trách nhiệm, là “lỗ hổng” lớn để “lâm tặc” nương theo đó mà ngang nhiên phá rừng nguồn.
Mới đây nhất vào ngày 11/8, trên địa bàn xã Kim Thủy xảy ra tình trạng một nhóm “lâm tặc” tìm đến trạm bảo vệ rừng Cầu Khỉ - thuộc địa bàn rừng phòng hộ Động Châu – khe Nước Trong để tấn công cán bộ bảo vệ rừng. Không những thế, khoảng thời điểm cuối tháng 6 trước đó, một số “lâm tặc” còn ngang nhiên hành hung, bắt ông Đào Duy Đài – Trạm trưởng Trạm bảo vệ rừng Cầu Khỉ phải trả 800.000 đồng cho chúng vì ông Đài chỉ đạo việc bắt gỗ của chúng.
Đáng nói, năm 2009 cũng ở huyện này, một nhóm “lâm tặc” khi đang vận chuyển gỗ trái phép trên địa bàn xã Ngân Thủy, bị kiểm lâm phát hiện đã dùng dao, rựa tấn công làm một cán bộ bị chấn thương ở đầu, khâu 7 mũi, gãy chân và mất một tai trái. Năm 2008, chính vị cán bộ này cũng đã từng bị “lâm tặc” tấn công ở đầu, phải khâu 4 mũi.
Nói như vậy để thấy rằng, “lâm tặc” khu vực này cực kỳ hung hãn, manh động. Và nếu ban ngành chức năng địa phương không quyết liệt hơn thì những kẻ phá rừng sẽ càng “nhờn” mặt, rất bất lợi cho khâu bảo vệ rừng sau này. Trở lại cuộc theo dấu “lâm tặc” trong khu rừng Vít Thù Lù, suốt quá trình thâm nhập, người viết phát hiện có một “mắt xích vô hình” liên quan đến chuyện “trong phá… ngoài đốt”.
Nói một cách dễ hiểu, trong khi “lâm tặc” vẫn ra sức “cạo trọc” rừng già thì hiện tại những thửa cao su trải dài mướt mát cũng ăn dần ăn mòn hết rừng Thù Lù... Hiển nhiên, khi rừng chỉ còn lại cây bụi nó sẽ là tiền đề để phát triển những “dự án” trồng cây cao su. Chúng tôi kết thúc cuộc thâm nhập, điều tra ở khu rừng Thù Lù này, khi mặt trời dần lẩn khuất sau ngọn núi đồ sộ chắn phía tây.
Trong khu rừng, mạch cưa xăng vẫn còn inh ỏi, tiếng cây già sắp đổ cứ răng rắc vọng vào tai. Tôi gợi ý cho “thổ địa” K: “Anh có thể đưa chúng tôi áp sát đối tượng đang cưa đó được không?”. “Không được đâu anh, chúng ta còn gần 4 tiếng đồng hồ để ra khỏi khu rừng, nhìn mạch cưa vọng vậy chứ xa lắm anh. Mình phải về, còn tụi nó đã có lán trại sẵn sàng, chúng ngủ trong này suốt à! Rừng của chúng mà!”, anh K giải thích.
N gày 21/08, chúng tôi đem câu chuyện rừng Vít Thù Lù bị “xẻ thịt” đến các ban ngành địa phương để sớm có biện pháp ngăn chặn. Qua điện thoại, ông Hồ Văn Tuyên – Chủ tịch UBND xã Kim Thủy thừa nhận: “Nói chung tình trạng khai thác len lỏi thì cũng có nhưng chưa tới mức tràn lan. Vì chưa có đơn thư, phản ánh nào nên không thể xác định được, để ít hôm chúng tôi sẽ chỉ đạo, kiểm tra, thẩm định rồi sẽ trả lời sau...”.
Thế nhưng, chưa kịp mừng vì câu trả lời trên thì ngày 22/08, ông Tuyên một mực phủ nhận trách nhiệm và cho rằng diện tích rừng bị “lâm tặc” khai thác trái phép trên không thuộc quản lý của xã. Thay vào đó, trách nhiệm được “đá” sang cho các chủ rừng vì theo lời ông Tuyên thì “cấp trên đã giao cho các chủ rừng rồi”.
Ông Chủ tịch xã Kim Thủy giãi bày: “Trên địa bàn xã Kim Thủy có 24.000ha, giao cho 4 chủ rừng quản lý. Riêng khu vực rừng Thù Lù thuộc quản lý của lâm trường Khe Giữa. Các anh muốn tìm hiểu thì đến đó (Lâm trường Khe Giữa-PV) còn bên xã chỉ quản lý trên 20ha cho dân sản xuất còn rừng thì không có liên quan”.
Riêng việc “lâm tặc” ngang nhiên hoạt động trong rừng Thù Lù mà không hề gặp bất kỳ ngăn trở nào, ông Hồ Văn Tuyên phỏng đoán: “Có thể đó là chỉ đạo của cấp trên, có giấy phép họ cho khai phá để làm việc gì đó, không liên quan đến xã, chủ nào thuộc chủ đó không có liên quan nhau”.
Để tìm kiếm câu trả lời thỏa đáng hơn, cũng trong ngày 21/08, chúng tôi tìm đến Hạt Kiểm lâm quản lý đoạn đường 16 cũ, nằm trên địa bàn xã Kim Thủy. Đáng nói, qua trao đổi với một cán bộ kiểm lâm thì vị này một mực phủ định việc xuất hiện “lâm tặc” trong rừng Thù Lù. Vị cán bộ này khẳng định rằng trên địa bàn hiện chưa thấy xuất hiện tình trạng phá rừng, vì đa số rừng ở đây là rừng sản xuất.
Nếu nương theo những lời của vị cán bộ này thì phải chăng chính cái mác “rừng sản xuất” đã và đang giúp “lâm tặc” ngang nhiên hoành hành? Câu chuyện hậu rừng già ở phía tây huyện Lệ Thủy sẽ đi về đâu nếu cứ để mọi chuyện tiếp diễn mà không có bất kỳ sự vào cuộc tích cực nào của đơn vị quản lý - bảo vệ rừng nguồn? Những băn khoăn này chúng tôi xin nhường lại cho những cá nhân, đơn vị có trách nhiệm liên quan. (Pháp Luật Việt Nam 30/8) đầu trang(
Mặc dù sống trong vùng lõi của Vườn quốc gia Yok Đôn bao quanh là lâm sản quý có giá trị và rất nhiều động vật hoang dã quý, hiếm nhưng người dân của buôn Đrăng Pốk luôn ý thức được trách nhiệm bảo vệ rừng, coi rừng như chính mạng sống của mình.
Vào một ngày cuối tháng 8, chúng tôi tìm đến buôn Đrăng Pốk (xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, Đắk Lắk) - đây là buôn duy nhất nằm trong vùng lõi của Vườn quốc gia Yok Đôn. Vượt qua hơn 40km đường chính và hơn 20km đường rừng, chúng tôi mới tìm được đến với buôn làng nằm biệt lập trong cánh rừng già này.
Ấn tượng đầu tiên về buôn Đrăng Pốk là một buôn cổ với những ngôi nhà sàn bằng gỗ của người dân tộc Ê đê nằm san sát nhau. Người dân của buôn rất thân thiện và hiếu khách, họ chia sẻ nhiều về cuộc sống được coi như khá tách biệt với xã hội bên ngoài.
Buôn Đrăng Pốk có tất cả 112 hộ dân với 457 khẩu, đa số dân cư ở đây là người dân tộc Mơ Nông và Ê đê, người dân của buôn làng chủ yếu sinh sống bằng nghề nông. Đời sống nơi đây còn rất nhiều khó khăn khi trên 60% dân số thuộc hộ nghèo và cận nghèo của xã, để lo đủ cái ăn cái mặc cho con cái những người dân của buôn làng quanh năm vất vả làm nương rẫy để kiếm kế sinh nhai.
Trước đây, khi ý thức của người dân còn hạn chế, lại sống trong vùng lõi của vườn quốc gia nên có không ít người dân vì quá nghèo đói, túng thiếu đã vào rừng lấy gỗ mang ra trung tâm huyện bán kiếm tiền mua gạo và săn bắt cả động vật rừng để cải thiện bữa ăn.
Sau khi Vườn quốc gia Yok Đôn thành lập, phần rừng và đất canh tác của người dân trong rừng được Vườn quản lý, các cán bộ của Vườn thường xuyên xuống tận buôn làng để trao đổi, giúp bà con nhận ra tầm qua trọng của rừng đối với cuộc sống từ đó người dân buôn làng hiểu được những việc làm xâm phạm đến rừng là hành vi xấu và còn vi phạm pháp luật chính vì vậy cả buôn làng đều chung sức cùng nhau giữ lấy “lá phổi xanh”.
Đầu năm 2013, Buôn Đrăng Pốk được Vườn quốc gia Yok Đôn tiến hành giao khoán 1.512 ha rừng với giá 200 ngàn đồng/ha/năm (theo Quyết định Phê duyệt Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2020), 105 hộ dân đã nhiệt tình đăng ký nhận nhiệm vụ cùng Hạt kiểm lâm Vườn làm công tác tuần tra bảo vệ rừng.
“Từ ngày tham gia vào công tác bảo vệ rừng, người dân buôn làng càng thấy cần phải có trách nhiệm cũng như tuyên truyền cho người dân của toàn buôn làng trong các cuộc họp được tổ chức tại nhà văn hóa cộng đồng buôn. Mỗi tháng chúng tôi đều cắt cử người đi tuần với cán bộ Hạt kiểm lâm Vườn, ai nấy trong buôn đều háo hức vui mừng vì những đóng góp nhỏ của mình đã giúp bảo vệ được rừng.
Chúng tôi luôn bảo ban nhau rằng dân dù có nghèo có đói cũng không được vì vậy mà xâm hại đến tài nguyên của đất nước, nên ngay cả những trẻ em của buôn cũng được giáo dục ý thức ngay khi còn bé.”, Ông Lê Dũng – Trưởng buôn Đrăng Pốk vui mừng cho biết.
Phấn khởi khi được chính mình làm nhiệm vụ giữ rừng, anh Y Nê Knul (37 tuổi) đều hăng hái tham gia khi đến lượt mình đi tuần tra bảo vệ rừng “mình rất vui mỗi khi tới lượt đi tuần với cán bộ, mỗi lần đi tuần từ khoảng 5h chiều đến tận đêm mới về, vừa đi tuần vừa được cán bộ kể những câu chuyện về ý nghĩa của việc bảo vệ rừng mình càng cảm thấy thích nhiệm vụ mới này, đã vậy còn có tiền mang về cho vợ con để trang trải trong nhà”, anh Y Nê hào hứng nói.
Không chỉ được tạo điều kiện cho bà con vừa thực hiện vào công tác bảo vệ rừng vừa đem lại thu nhập cho gia đình, dân làng buôn Đăng Pốk còn được hưởng chính sách hỗ trợ phát triển công đồng tại thôn, buôn vùng đệm rừng đặc dụng. Theo đó, mỗi năm người dân của buôn được nhà nước hỗ trợ 40 triệu đồng, với số tiền này dưới sự hướng dẫn của các cán bộ buôn làng đã đứng ra dùng số tiền này mua được 4 con bò cái, sau đó giao bò lại cho các hộ gia đình khó khăn trong buôn nuôi đến khi con bò này đẻ sẽ được giữ lại bò con để nuôi nhằm phát triển kinh tế và giao lại bò mẹ cho các hộ khác nuôi.
“Nhà tôi nghèo lắm để mua được 1 con bò đem về nuôi cũng rất khó nên từ khi được nhận bò về nuôi tôi vui mừng vô cùng, có bò là có vốn làm ăn rồi, sau này sẽ đỡ khổ hơn bây giờ, cố gắng chăm cho bò lớn khi bán có thêm tiền cho con cái đến trường học cái chữ nữa”, chị Bua Kẹo Lào (37 tuổi) vui mừng.
Được biết, từ khi triển khai việc nuôi bò đến nay, toàn buôn đã có được 7 gia đình nhận bò về nuôi, ai nấy đều chăm sóc bò rất cẩn thận để bảo vệ tài sản lớn của của cả buôn làng. Bên cạnh đó, Vườn quốc gia Yok Đôn đã quan tâm rất nhiều đến đời sống kinh tế của bà con buôn Đrăng Pốk khi đã thiết kế, xây dựng một con đập vào năm 2008 để cung cấp nước tưới hai vụ lúa cho buôn làng giúp bà con có nhiều thuận lợi trong tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống.
Ông Lương Xuân Tình – Trạm trưởng Trạm kiểm lâm Đrăng Pốk, Vườn quốc gia Yok Đôn – cho biết: “Ý thức và tinh thần trách nhiệm của đồng bào dân tộc thiểu số ở đây rất cao nên rất thuận lợi cho công tác bảo vệ rừng. Chúng tôi cũng đã có giao ước với buôn làng rằng nếu đến lượt của tổ những những tổ viên không đi tuần hoặc có vi phạm thì sẽ toàn buôn sẽ bị trừ tiền được nhận trong dịp cuối năm, mặc dù giao ước vậy nhưng bà con nơi đây đều tự nguyện chấp hành.
Từ khi nhận công tác bảo vệ rừng đến nay, buôn Đrăng Pốk luôn là buôn dẫn đầu trong công tác bảo vệ rừng, đến nay tại rừng do buôn quản lý không còn xảy ra tình trạng phá rừng để lấy gỗ hay lần chiếm để làm nương rẫy và không có tình trạng rừng bị xâm hại từ bên ngoài”
Bà Hoàng Thị Hạnh – Cán bộ Thanh tra pháp chế Hạt kiểm lâm, Vườn quốc gia Yok Đôn – cho biết, hiện nay Vườn đã giao khoán bảo vệ rừng cho tổng cộng 19 thôn, buôn trên địa bàn; trong những năm qua đều hoàn thành rất tốt nhiệm vụ được giao, trong đó tiêu biểu là buôn Đrăng Pốk.
“Trong quá trình đi tuần cùng bà con, chúng tôi sẽ chấm công để lấy đó làm tiêu chuẩn nghiệm thu trong đợt tổng kết, nếu như bà con hoàn thành tốt trên 90% sẽ được Vườn hỗ trợ thêm các khoản khác như ma chay, đám giỗ… ngoài tiền lương được hưởng chính vì vậy công tác bảo vệ rừng phối hợp với bà con đang ngày càng phát huy hiệu quả. Tình đoàn kết của bà con cùng cán bộ của Vườn ngày càng thắt chặt, khăng khít như người một nhà”, bà Hạnh cho hay. (Dân Trí 29/8) đầu trang(
Nghệ An là tỉnh có diện tích rừng lớn nhất cả nước, có chung đường biên giới với nước bạn Lào với chiều dài 419 km, trải dài từ huyện Quế Phong đến Thanh Chương.
Năm 2007, khu vực miền Tây Nghệ An đã được tổ chức UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thứ 6 của Việt Nam. Tại khu vực này tính đa dạng sinh học rất cao, diện tích rừng nguyên sinh lớn, đặc biệt là khu vực dọc biên giới Việt - Lào là vùng có nhiều loài gỗ quý, hiếm, giá trị kinh tế cao.
Thời gian gần đây trên địa bàn tỉnh Nghệ An có xảy ra một số vụ khai thác rừng trái phép dọc biên giới trên địa bàn các huyện Thanh Chương, Quế Phong.
Tình trạng chuyển đổi rừng, chuyển nhượng đất lâm nghiệp theo hình thức trao tay đã xảy ra tại một số huyện, dẫn đến nhiều diện tích đất rừng không rõ chủ quản lý, thậm chí có chủ rừng còn lợi dụng chủ trương cải tạo rừng nghèo kiệt trồng rừng mới để khai thác, chặt phá rừng trái phép...
Trước tình hình trên, Chi cục Kiểm lâm Nghệ An đã chỉ đạo các Hạt Kiểm lâm tham mưu cho UBND các huyện phối hợp với các cơ quan chức năng vào cuộc một cách quyết liệt để xử lý nghiêm minh.
Trong 6 tháng đầu năm 2015 lực lượng kiểm lâm Nghệ An đã bắt giữ và xử lý 468 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu 946 m3 gỗ tròn, xẻ các loại; tịch thu 16 cưa xăng, 2 máy tời và nhiều phương tiện sử dụng để khai thác vận chuyển lâm sản trái phép khác, thu nộp ngân sách Nhà nước trên 6 tỷ đồng.
Bên cạnh việc kiểm tra phát hiện bắt giữ người, phương tiện và tang vật vi phạm các địa phương đang tích cực sử dụng các biện pháp tuyên truyền vận động, giải thích cho người dân nhằm ngăn chặn kịp thời, không để các sự việc trên tiếp diễn.
Ông Lê Cao Bính, PGĐ Sở NN-PTNT kiêm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Nghệ An cho rằng, có nhiều nguyên nhân khiến thời gian qua có xảy ra một số vụ việc phá rừng phức tạp.
Trước hết là diện tích rừng nguyên sinh dọc khu vực biên giới Việt - Lào có trữ lượng gỗ lớn, nhiều loài gỗ quý hiếm và giá trị kinh tế cao. Địa hình nơi đây lại chia cắt, hiểm trở, xa khu dân cư, việc tuần tra, kiểm tra của lực lượng kiểm lâm và chính quyền gặp rất nhiều khó khăn, nhất là việc tuần tra rừng trong khu vực đường vành đai biên giới.
Thứ hai là công tác phối hợp bảo vệ rừng giữa các cơ quan chức năng như biên phòng, công an, kiểm lâm, các chủ rừng và chính quyền địa phương ở một số nơi vẫn chưa thực sự đồng bộ.
Thứ ba là nhu cầu và phong tục tập quán về sử dụng gỗ trong làm nhà, ma chay, củi đốt... của đồng bào dân tộc thiểu số gia tăng, các hộ gia đình nghèo được hưởng chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo QĐ số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ đã tạo áp lực không nhỏ lên công tác bảo vệ rừng.
Thứ tư là ý thức trách nhiệm của một số cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn xã, chính quyền địa phương cấp xã và chủ rừng đối với rừng còn hạn chế, nhất là trong thực thi công vụ về bảo vệ rừng chưa cao, chưa nghiêm đã dẫn đến việc xảy ra một số vụ vi phạm trong thời gian vừa qua.
Vì vậy, để triển khai có hiệu quả các biện pháp bảo vệ rừng bền vững, Chi cục Kiểm lâm Nghệ An đã chỉ đạo các Hạt Kiểm lâm cấp huyện triển khai đồng bộ các giải pháp sau đây:
1- Tiến hành xử lý nghiêm trách nhiệm của cá nhân, tổ chức liên quan trong việc để rừng bị khai thác trái phép nhất là các vụ việc đã được bắt quả tang phải xử lý nghiêm theo pháp luật, không bao che hoặc xử lý nhẹ nhằm giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.
2- Điều chỉnh bổ sung hình thức và phương thức giao khoán bảo vệ rừng tại các khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng dọc biên giới, nơi rừng có trữ lượng lớn, nhiều loài quý hiếm ưu tiên cho các lực lượng các đồn Biên phòng và lực lượng dân quân tự vệ của địa phương;
3- Rà soát lại mạng lưới bảo vệ rừng của chủ rừng, Hạt Kiểm lâm nhằm đảm bảo tốt việc thực thi nhiệm vụ tuần tra rừng thường xuyên, gắn với việc chốt chặn cửa rừng, phát hiện, xử lý kịp thời mọi hành vi vi phạm các quy định về quản lý rừng;
4- Kiến nghị các cơ quan tổ chức khi tiến hành giao đất, cho thuê đất, giao rừng, cho thuê rừng đối với những diện tích chưa có chủ quản lý, tiến hành đồng thời giao rừng, thuê rừng với giao đất, cho thuê đất để đảm bảo rừng thực sự có chủ quản lý và phải chịu trách nhiệm nếu để rừng bị khai thác chặt phá;
5- Rà soát, bổ sung hoàn thiện hệ thống Quy chế phối hợp bảo vệ rừng giữa các lực lượng kiểm lâm, chủ rừng và các đồn Biên phòng trên cùng địa bàn cấp huyện, cấp xã;
6- Làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân cùng tham gia bảo vệ rừng, tố giác các đối tượng, đầu nậu khai thác rừng trái phép để các cơ quan chức năng có biện pháp xử lý kịp thời.
Đồng thời triển khai tốt chính sách chi trả kịp thời dịch vụ môi trường rừng để người dân, có thu nhập ổn định nhằm giúp họ tích cực chăm lo công tác bảo vệ rừng ngày một tốt hơn. (Nông Nghiệp Việt Nam 29/8) đầu trang(
Từ mùa khô năm 2005 đến nay, rừng U Minh Hạ Cà Mau đã xảy ra 119 vụ cháy, thiệt hại trên 356ha, trong đó đất có rừng hơn 246ha; rừng cụm đảo (Hòn Khoai và Hòn Chuối) không xảy ra cháy.
Đánh giá qua các năm cho thấy, nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, ý thức trong quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng ngày được nâng lên; cùng với đó, trang thiết bị phục vụ công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) được tăng cường, chuyển đổi hình thức sản xuất rừng kinh tế theo hướng thâm canh, thế nên số vụ và phạm vi thiệt hại ngày càng giảm.
Trong hai mùa khô liên tiếp vừa qua, rừng U Minh Hạ thiệt hại không quá 2ha rừng. Điều đáng mừng, khu rừng nguyên sinh trên 8 ngàn hecta thuộc Vườn Quốc gia U Minh Hạ được bảo vệ nghiêm ngặt, không để xảy ra cháy cũng như hạn chế số vụ vào vườn khai thác trái phép.
Rừng U Minh Hạ Cà Mau có tổng diện tích gần 39,5 ngàn hecta, rừng cụm đảo 533ha, có 23 đơn vị trực tiếp quản lý thực hiện công tác PCCCR. Tại địa bàn, luôn thường trực 95 đội PCCCR với gần 4 ngàn lực lượng. (Báo Đất Mũi 28/8) đầu trang(
Chỉ trong vòng hơn 2 tuần, tại cảng Tiên Sa (Đà Nẵng), các lực lượng chức năng liên ngành liên tiếp phát hiện, tạm giữ một lượng “khủng” ngà voi, vảy tê tê, sừng tê giác nhập lậu. Câu hỏi lớn đặt ra là vì sao hàng động vật hoang dã nghiêm cấm xuất nhập khẩu này lại dễ dàng “thuận buồm” từ nước ngoài về Việt Nam như vậy?
Tổng số ngà voi, sừng tê giác, vảy tê tê liên tiếp bị phát hiện chỉ trong vòng hơn 2 tuần qua tại cảng Tiên Sa là gần 8 tấn. Theo Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng, số lượng hàng cấm như vậy là vô cùng lớn, có thể nói là lớn nhất cả nước từ trước đến nay. Tất cả các mặt hàng này đều thuộc Phụ lục I, Công ước Cites danh mục những loại động vật, động vật, thực vật hoang dã đe dọa bị tuyệt chủng nghiêm cấm xuất khẩu, nhập khẩu, tái nhập khẩu.
Theo ông Nguyễn Quang Lãng - Chi Cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng, số hàng hóa vi phạm pháp luật kể trên được cất giấu, ngụy trang với thủ đoạn tinh vi, đặc biệt là lô hàng nhập khẩu về từ Châu Phi, hàng hóa khai báo là đá cẩm thạch dạng khối, trọng lượng 40 tấn, chứa trong 2 container 20 dỡ hàng tại cảng Đà Nẵng vào ngày 10.8. Lô hàng này của Cty Vạn An (địa chỉ lô 2A-10.2, đường 2 tháng 9, quận Hải Châu) hàng được phân luồng xanh (hàng chỉ kiểm tra sơ bộ hồ sơ, sau đó thông quan).
Phát hiện nghi vấn, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng đã tạm dừng hàng hóa qua khu vực kiểm soát và nhiều lần mời Cty Vạn An đến xuất trình hồ sơ và hàng hóa để cơ quan hải quan kiểm tra. Tuy nhiên, Cty này không đến mà còn gửi văn bản xin hủy tờ khai. Chi cục không đồng ý hủy tờ khai và phối hợp với các cơ quan liên quan dùng máy soi kiểm tra thì nghi vấn hàng không đúng như khai báo.
Ngoài ra, một số container được Cty Vạn An nhập về từ Châu Phi nhưng Cty này không làm thủ tục để thông quan, không khai báo hải quan. Theo Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng, các lô hàng nói trên được Tổng cục Hải quan và Cục Cảnh sát phòng, chống buôn lậu (Bộ Công an) nghi ngờ, theo dõi và lập chuyên án đấu tranh từ trước.
Trong 3 vụ vận chuyển hàng cấm động vật hoang dã qua cảng Tiên Sa, 2 vụ chủ hàng là Cty Vạn An. Riêng lô hàng bị phát hiện vào chiều 25.8 là hơn 1 tấn ngà voi và hơn 4 tấn vảy tê tê giấu lẫn cùng các bao đậu đỏ đứng tên là Cty Hùng Huy Bảo (địa chỉ k99/2, đường 3 tháng 2, quận Hải Châu, Đà Nẵng).
Toàn bộ số hàng này được nhập về từ Malaysia hôm 13.8 qua cảng Đà Nẵng. Theo bảng lược khai hàng hóa, lô hàng này có 220 bao đậu đỏ, khối lượng 19,8 tấn, chứa trong 1 container 20. Điều lạ là số điện thoại ghi trên hóa đơn hàng hóa của Cty Hùng Huy Bảo lại trùng số điện thoại của Cty Vạn An từng bị phát hiện nhập lậu ngà voi trước đó.
Cty Vạn An đăng ký kinh doanh tại lô 2A-10.2, đường 2 tháng 9, quận Hải Châu. Cty này đăng ký kinh doanh lần đầu vào ngày 22.4.2004 và thay đổi đăng ký kinh doanh vào ngày 21.1.2014. Ngành nghề kinh doanh chính là buôn bán gỗ, vật liệu trang trí nội thất, vật liệu xây dựng, ngoài ra còn có hơn 25 ngành nghề khác, nhưng không có ngành nghề kinh doanh nào liên quan đến sừng tê giác, ngà voi...
Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Thu Nguyệt - Trưởng phòng Đăng ký kinh doanh (Sở KHĐT TP.Đà Nẵng) - cho biết, đến nay, sở vẫn chưa một lần kiểm tra tình hình hoạt động tại Cty này. Theo tìm hiểu của PV, trụ sở Cty Vạn An trên đường 2 tháng 9 lại là... ngôi biệt thự nguy nga. Hàng hóa được lưu trữ và kinh doanh hoạt động tại một cơ sở khác ở huyện Hòa Vang. Tương tự, Cty Hùng Huy Bảo (mới đăng ký hoạt động kinh doanh hơn 1 tháng) cũng không có ngành nghề kinh doanh cụ thể nào liên quan đến đậu đỏ hay ngà voi, vảy tê tê.
Tại buổi tuyên dương và thưởng nóng 40 triệu đồng cho các lực lượng vào sáng 27.8, ông Huỳnh Đức Thơ - Chủ tịch UBND TP.Đà Nẵng cho rằng, một số lượng hàng lậu cực kỳ lớn được phát hiện và bắt giữ chỉ trong một thời gian ngắn cho thấy tội phạm hết sức manh động và tinh vi.
“Việc được kịp thời phát hiện, bắt giữ các lô hàng cấm cho thấy các lực lượng liên ngành đã hết sức đề cao cảnh giác, kiên quyết đẩy lùi tội phạm buôn lậu, Ông Thơ đề nghị Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng phối hợp với các cơ quan liên quan tiếp tục phát huy tinh thần nâng cao cảnh giác, tiến hành các bước tiếp theo để đưa các vụ buôn lậu vừa bị phát hiện ra ánh sáng, đảm bảo pháp luật phải được thực thi một cách nghiêm túc.
Theo Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng, sau khi hoàn tất thủ tục, toàn bộ hồ sơ các vụ buôn lậu này sẽ chuyển qua cơ quan CSĐT và chắc chắn sẽ khởi tố vụ án.
Ông Nguyễn Phi Hùng - Cục trưởng Cục Điều tra phòng, chống buôn lậu (TCHQ): Vẫn thường xuyên trao đổi thông tin trong nước và quốc tế
Trong thời gian qua, ngành hải quan đã chủ động triển khai nhiều biện pháp phòng ngừa, đấu tranh đối với hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa nói chung và động vật hoang dã nói riêng. Đặc biệt, xây dựng các đầu mối trao đổi thông tin thường xuyên trong nước và quốc tế về tội phạm nhằm tạo điều kiện hỗ trợ trong việc xác minh thông tin, điều tra vụ việc. (Lao Động 29/8) đầu trang(
Liên tiếp các vụ buôn lậu ngà voi với số lượng “khổng lồ” được phát hiện. Nhưng cũng cho thấy các đối tượng buôn lậu rất tinh vi trong việc lợi dụng kẽ hở của pháp luật để thực hiện các hành vi phạm pháp. Làm thế nào để ngăn chặn “tệ nạn” này là điều dư luận hết sức quan tâm.
Chỉ trong thời gian chưa đầy 1 tháng, cơ quan chức năng đã phát hiện 3 vụ buôn lậu ngà voi với số lượng cực lớn. Theo ước tính, với số lượng hàng tấn ngà voi được cơ quan chức năng bắt giữ, nếu được tiêu thụ trót lọt tại thị trường chợ đen có thể có giá tới cả trăm tỷ đồng.
Vụ gần đây nhất vào chiều 25-8, Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm buôn lậu (C74), Bộ Công an, Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) và Bộ đội Biên phòng cảng Tiên Sa, Đà Nẵng đã phối hợp kiểm tra, phát hiện thêm một container chứa ngà voi và vảy tê tê nhập lậu tại cảng Tiên Sa.
Số ngà voi, vảy tê tê trên được Cty Hùng Huy Bảo, trụ sở tại TP Đà Nẵng nhập về từ Malaysia. Tổng khối lượng lô hàng khoảng 19 tấn, trong đó cơ quan chức năng xác định có một khối lượng ngà voi khá lớn được giấu trong 200 bao đậu đỏ, khi đang làm thủ tục thông quan qua cảng Tiên Sa, TP Đà Nẵng thì bị phát hiện.
Trước đó, ngày 13-8, Cty TNHH Vạn An, có trụ sở tại phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu đã bị phát hiện trong lô hàng đá cẩm thạch nhập khẩu từ Mozambique về Việt Nam có giấu gần 700kg ngà voi và sừng tê giác.
Đến ngày 21-8, các cơ quan chức năng tiếp tục kiểm tra 3 container khai là gỗ xẻ cũng của Cty TNHH Vạn An, nhập khẩu từ Nigieria về Việt Nam và tiếp tục phát hiện dưới các bó gỗ xẻ là 63 bao tải ngà voi có trọng lượng gần 2,2 tấn.
Toàn bộ số ngà voi được phát hiện trong 3 vụ nói trên, hiện đang được cơ quan chức năng tạm giữ, và tiến hành điều tra làm rõ trách nhiệm của các đơn vị liên quan. Sự việc này tiếp tục cảnh báo hiện tượng lợi dụng chính sách tạm nhập tái xuất, hoặc sơ hở của pháp luật để thực hiện các hành vi buôn lậu, hoặc gian lận thương mại.
Luật sư Trương Anh Tú, Đoàn Luật sư Hà Nội cho rằng: Cơ quan chức năng phát hiện tạm giữ để điều tra xử lý đối với các vụ vận chuyển ngà voi vào Việt Nam nói chung, chứng tỏ sự kiên quyết xử lý loại tội phạm này nhằm bảo vệ đa dạng sinh học; bảo vệ môi trường. Đồng thời cũng khẳng định cam kết của mình, trách nhiệm của mình trước cộng đồng thế giới, trong vấn đề bảo vệ động vật hoang dã, quý hiếm.
“Ngà voi được xác định là hàng hóa thuộc diện cấm nhập khẩu, nằm trong danh mục các loài động thực vật hoang dã thuộc quản lý của công ước về buôn bán quốc tế các loại động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, mà Việt Nam đã tham gia. Luật pháp Việt Nam cũng quy định xử lý hình sự đối với hành vi nuôi, nhốt và vận chuyển, buôn bán trái phép bộ phận cơ thể của loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Mức phạt cao nhất về hành chính lên đến 500 triệu đồng, hoặc hình sự 7 năm tù giam.”, luật sư Trương Anh Tú nói.
“Các đối tượng làm ăn phi pháp thường lợi dụng kẽ hở của pháp luật, để trốn tránh trách nhiệm khi lô hàng buôn lậu bị bắt giữ. Cụ thể, hàng từ nước ngoài chuyển về cho một DN tại Việt Nam, trên hồ sơ ghi là gỗ xẻ chẳng hạn. Nhưng thực tế cơ quan chức năng phát hiện là ngà voi, truy chủ hàng bên Việt Nam thì họ xuất trình ra hợp đồng mua bán hàng hóa đúng là gỗ xẻ… nên đành chịu. Vì họ nói rằng họ không mua ngà voi, còn vì sao lại có sự “nhầm lẫn” hàng hóa thì cơ quan chức năng… ra nước ngoài mà hỏi. Như vậy, họ sẵn sàng “bỏ của chạy lấy người” khi bị phát hiện. Điều này cũng lý giải vì sao cơ quan chức năng cũng bắt giữ nhiều lô hàng có giá trị kinh tế rất lớn, nhưng… vô chủ”, luật sư Trương Anh Tú cho biết thêm.
Việc trà trộn hàng quốc cấm, ví dụ ngà voi cất giấu trong gỗ xẻ cũng cho thấy thủ đoạn tinh vi của các đối tượng buôn lậu. Khi cán bộ hải quan mở lô hàng ra kiểm tra, điều đầu tiên là xác nhận lô hàng đó là “gỗ” thật chứ không phải ngà voi. Nhưng thực tế là, thủ tục kiểm tra gỗ của hải quan chỉ là kiểm tra về thực vật, về vi khuẩn, các bệnh dịch lây lan. Bình thường khi mở container ra để kiểm tra thấy đó đúng là gỗ, hoặc đúng là mặt hàng mà DN khai trong hồ sơ, thì cơ quan chức năng sẽ đóng lại, cho qua. Chỉ trường hợp nghi ngờ đặc biệt mới tháo dỡ kiểm tra kỹ lưỡng.
Theo luật sư Trương Anh Tú, đấu tranh với loại tội phạm này, cơ quan chức năng phải đề cao cảnh giác, tăng cường kiểm tra kiểm soát nhất là những hàng hóa đến từ những nơi nghi vấn, hoặc chủ lô hàng là những DN nghi vấn. Để tăng cường phát hiện sai phạm xử lý, mặc dù đối tượng buôn lậu có thể đang lợi dụng kẽ hở của pháp luật để trốn tránh, nhưng bắt được nhiều tang vật thì họ cũng chùn tay, vì không muốn sạt nghiệp. Mặt khác cần phối hợp chặt chẽ với các tổ chức quốc tế, cũng như Interpol tăng cường các biện pháp bảo vệ và chống buôn lậu động vật hoang dã quý hiếm.
GS Đặng Huy Huỳnh, Chủ tịch Hội Động vật học Việt Nam cho rằng, liên tục những vụ buôn lậu ngà voi, sừng tê giác, được phát hiện ở Hải Phòng; Đà Nẵng; cảng hàng không Nội Bài; Tân Sơn Nhất, với hàng tấn ngà voi được phát hiện, có nghĩa rằng “vô số” con voi đã bị sát hại.
Việt Nam cũng là “thị trường” của các đối tượng buôn lậu mặt hàng này. Rõ ràng, một số DN và những người buôn bán tiêu thụ mặt hàng này chưa có nhận thức cao trong vấn đề bảo tồn động vật hoang dã, quý hiếm.
“Thực tế, ngà voi được nhập lậu về Việt Nam chủ yếu cho mục đích làm thủ công mỹ nghệ bán ra thị trường. Tôi cho rằng để bảo vệ loài voi khỏi nguy cơ tuyệt chủng, mỗi người dân cần nâng cao ý thức, không sử dụng những sản phẩm thủ công mỹ nghệ làm từ ngà voi. Quản lý thị trường cần tăng cường kiểm tra, yêu cầu các cơ sở buôn bán hàng thủ công mỹ nghệ (đặc biệt ở sân bay, các khu du lịch) không cung cấp các sản phẩm thủ công mỹ nghệ chế tác từ ngà voi cho khách hàng”, GS Đặng Huy Huỳnh bày tỏ.
Mặt khác, khi tịch thu được tang vật là ngà voi, hay các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật hoang dã, thì cần công khai tiêu hủy, dưới sự giám sát của cơ quan chức năng, cộng đồng, các nhà khoa học... Việc tiêu hủy các sản phẩm, ngà voi hoặc sừng tê giác, mai đồi mồi… tịch thu được từ các đối tượng buôn lậu là đúng.
“Pháp luật quy định, khi bắt được tang vật mà không đưa vào sử dụng, bởi các tang vật đó nằm trong danh mục cấm, thì rõ ràng phải tịch thu và tiêu hủy. Việc tiêu hủy cũng mang ý nghĩa giáo dục, răn đe thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Nếu như lại đưa những vật phẩm như sừng tê giác, ngà voi, xương hổ, đồi mồi… tịch thu từ các vụ buôn lậu ra bán, có thể sẽ thu được một ít tiền nhưng mà lợi bất cập hại. Bởi vì, như vậy tức là đồng nghĩa với việc “hợp thức hóa”, thừa nhận việc “tiêu thụ, sử dụng” những vật phẩm đã bị nghiêm cấm sử dụng trong luật”, GS Đặng Huy Huỳnh nói.
Để ngăn chặn thực trạng buôn bán, săn bắn trái phép động vật hoang dã, theo GS Đặng Huy Huỳnh, các đơn vị thực thi luật pháp cần quyết liệt hơn. Cần phân công cho những ngành mũi nhọn, việc này là rất cần thiết nên ví dụ có thể thành lập lực lượng chuyên trách về động vật hoang dã. Đồng thời tăng cường đầu tư máy móc trang thiết bị hiện đại, phát hiện chính xác hàng hóa xuất nhập khẩu. (Pháp Luật Và Xã Hội 29/8) đầu trang(
Rừng che phủ một phần ba diện tích lục địa, thực hiện nhiều chức năng, cung cấp các dịch vụ thiết yếu và duy trì sự sống trên hành tinh. Hiện nay, sinh kế của 1,6 tỷ người trên trái đất phụ thuộc vào rừng.
Rừng che phủ một phần ba diện tích lục địa, thực hiện nhiều chức năng, cung cấp các dịch vụ thiết yếu và duy trì sự sống trên hành tinh. Hiện nay, sinh kế của 1,6 tỷ người trên trái đất phụ thuộc vào rừng. Rừng đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu toàn cầu, cung cấp ôxy cho khí quyển và giữ lại lượng lớn CO2 thải ra.
Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc tích trữ nước cho các dòng sông, là nguồn cung cấp nước cho gần 50% các thành phố lớn nhất thế giới. Rừng tạo ra và duy trì độ phì nhiêu cho đất; giúp điều chỉnh tác động tiêu cực của các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ và hạn hán…
Tầm quan trọng của rừng còn thể hiện ở chỗ, rừng là hệ sinh thái có giá trị đa dạng lớn nhất và là nơi sinh sống của hơn một nửa các loài động vật, thực vật và côn trùng trên cạn.
Rừng cũng cung cấp nơi ở, việc làm, tạo an ninh sinh kế và các nền văn hóa liên quan đến những cộng đồng định cư trong khu vực rừng. Rừng là lá phổi xanh của trái đất, là yếu tố quyết định sự sống còn của hơn bảy tỷ dân trên hành tinh.
Những giá trị của rừng đối với cuộc sống là rất to lớn. Tuy nhiên, bất chấp tất cả những lợi ích vô giá của rừng về kinh tế, xã hội, sinh thái và sức khỏe, con người vẫn đang tàn phá rất nhiều các khu rừng cần cho cuộc sống và hơi thở của chúng ta.
Tình trạng phá rừng trên quy mô toàn cầu vẫn tiếp tục ở mức báo động. Hàng năm, 13 triệu ha rừng bị phá hủy, tương đương với diện tích của đất nước Bồ Đào Nha.
Các khoản đầu tư phục vụ cho những lợi ích ngắn hạn (ví dụ, như việc khai thác gỗ) sẽ góp phần gây ra những tổn thất lớn. Những người mà sinh kế của họ phụ thuộc vào rừng thì đang phải đấu tranh cho sự sinh tồn. Nhiều loài động thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng.
Đa dạng sinh học đang bị suy giảm trầm trọng. Hơn nữa, các nhà kinh tế thế giới đã chứng minh rằng, nếu không lồng ghép các giá trị của rừng vào kế hoạch chi ngân sách thì các quốc gia và các nền kinh tế sẽ phải trả giá đắt. Sự bần cùng hóa là tất yếu bởi việc gây tổn hại đến sự sống của rừng, trong khi rừng hỗ trợ cho đời sống hàng ngày của chúng ta.
Tuy nhiên xu thế này không phải là không thể đảo ngược. Sẽ không phải là quá muộn để chúng ta bắt đầu xây dựng một cuộc sống xanh trong tương lai, mà ở đó những cánh rừng là trọng tâm của sự phát triển bền vững và các nền kinh tế xanh
Cần phải xác định rằng việc bảo tồn và phát triển rừng là một cơ hội kinh doanh. Khi chúng ta đầu tư 30 triệu đô la cho việc chống phá rừng và suy thoái rừng thì chúng ta có thể nhận được 2,5 tỷ đô la từ các sản phẩm và dịch vụ mà nó mang lại.
Hơn nữa, việc đầu tư vào lâm nghiệp có thể tạo ra hơn 10 triệu việc làm trên toàn thế giới. Hiện nay, các nhà lãnh đạo đang chỉ ra những tiềm năng của năng lượng tái tạo, nhưng để quá trình chuyển đổi diễn ra thì vấn đề về rừng phải là một ưu tiên trong thể chế và chính sách.
Rừng cung cấp các dịch vụ cơ bản và thiết yếu đảm bảo chất lượng cuộc sống. Và để trả lời cho câu hỏi về quản lý rừng bền vững, hướng tới một nền Kinh tế Xanh phụ thuộc vào hành động của chúng ta.
Chúng ta không nên cho rằng, rừng chỉ đơn thuần là những cái cây. (Tầm Nhìn 27/8) đầu trang(
Mặc dù tìm sâm Ngọc Linh được cho là còn khó hơn tìm kỳ nam, song trên thị trường vẫn rao bán tràn lan loại dược liệu quý hiếm này.
Cuối năm 2014, một người bạn từ Hà Nội gọi điện cho PV Báo Giao thông nhờ mua giúp một ký sâm Ngọc Linh. Thông qua nhiều mối liên hệ, chúng tôi gặp một người tên Thanh (TP Kon Tum), một mối được quảng cáo là “tin tưởng” vì có người nói rằng Thanh có bạn làm ở thủ phủ sâm Ngọc Linh (xã Măng Ri, Tu Mơ Rông, Kon Tum). Sau gần một tiếng “chém gió”, Thanh đã đưa ra nhiều bằng chứng để khiến tôi phải gật đầu đồng ý mua 1 ký củ sâm 10 năm tuổi, giá 40 triệu đồng. Tuy nhiên, khi mang về nhà một đồng nghiệp để khoe thì bạn trợn mắt nói: “Thôi chết, anh bị lừa rồi. Sâm thật giờ làm gì còn nữa”. Tá hỏa, tôi vội điện thoại lại cho Thanh thì không thể liên hệ được nữa…
Đồng cảm với tình cảnh của tôi, anh Nguyễn Văn Nhật (37 tuổi, thị trấn Đắk Hà, Kon Tum) chia sẻ, anh vừa tìm hiểu trên mạng, thấy sâm Ngọc Linh được bán phổ biến 37-45 triệu đồng/kg. Tin tưởng vào những loại giấy chứng nhận đăng công khai, anh Nhật đã mua sâm về bồi dưỡng cho người thân bị ốm “thập tử nhất sinh”, nhưng hiệu quả chẳng thấy đâu!
Để ngọn ngành thật giả, chúng tôi tìm đến Công ty CP Sâm Ngọc Linh Kon Tum (thuộc Công ty Duy Tân, trụ sở đường Nguyễn Đình Chiểu, TP Kon Tum). Anh Nguyễn Đình Hồng, người có thâm niên 15 năm trồng sâm Ngọc Linh tại vườn sâm núi Ngọc Linh cho biết: “Hiện nay thị trường rất hiếm sâm Ngọc Linh thật. Được rao bán chủ yếu là giống sâm xuất xứ từ Trung Quốc. Bởi vì giống sâm trên địa bàn núi Ngọc Linh chỉ có công ty chúng tôi và Trung tâm Sâm Ngọc Linh (thuộc công ty MTV lâm nghiệp Đắk Tô) trồng và nhân giống. Mọi quy trình nhân giống, trồng đều được kiểm soát nghiêm ngặt. Và hiện nay cả hai cơ sở này đều chưa bán sản phẩm ra thị trường”.
Xã Măng Ri, huyện Tu Mơ Rông nằm cách trung tâm TP Kon Tum khoảng 100 km. Toàn xã có 6 làng của người đồng bào dân tộc Xê Đăng, nằm gọn trong thung lũng được bao quanh bởi hệ thống các ngọn núi thuộc dãy núi Ngọc Linh.
Những ngày cuối tháng 8, trong cái hơi lạnh hòa với sương mù đặc quánh ở thung lũng, chúng tôi tìm về Măng Ri. Thấy những người khách lạ hỏi về sâm Ngọc Linh, nhiều người dân đã chỉ những hàng quán cho chúng tôi để tìm hiểu. A Thanh, một người quen của tôi căn dặn: “Chỗ này là vùng sâm, nhưng chỉ là sâm dây (Hồng Đẳng sâm) thôi, không có sâm rừng nữa đâu. Nếu có thì chỉ là sâm trồng của bà con thôi, nhưng cũng hiếm lắm”. A Thanh tiếp tục cảnh báo: “Sâm giả đã tràn về tận TP Kon Tum và nhiều nơi khác rồi. Có khi để đánh lừa người mua, họ đem lên đây trồng xen vào sâm rừng cũng nên…”.
Trong ký ức của những người già ở vùng núi Ngọc Linh thì khoảng 15 năm trước sâm rất nhiều. Thế nhưng loại dược liệu quý này đã ngày một cạn kiệt vì sự lùng sục của người dân bản địa. Chúng tôi tìm đến ông A Tôn- trưởng thôn Chung Tam, ông kể: “Khoảng hơn 15 năm về trước, sâm Ngọc Linh rừng lũ khũ (nhiều lắm). Có chuyến đi rừng, cha mình lấy được cả bao tải về để đun nước uống cho khỏe người. Sâm rừng nhiều đến nỗi gần như nhà nào cũng có vài bao lớn phơi khô để trong nhà”.
Ông Nguyễn Thành Long, nguyên Ủy viên thư ký kiêm Chánh văn phòng huyện Đắk Tô (năm 1978) kể lại rằng, ngày trước sâm Ngọc Linh được gọi là sâm Khu 5 có rất nhiều ở Măng Ri: “Nhiều lần mình vào trong các làng nằm dưới chân núi công tác. Khách quý được người dân biếu sâm như một món quà đầy tình nghĩa. Còn nếu mua thì chỉ 10 đồng một mũ cối đầy sâm khô”.
Anh Nguyễn Văn Chiến (quê Nam Trực, Nam Định), người chuyên bán các loại sâm ở Măng Ri nói với chúng tôi: “Quán anh không có sâm Ngọc Linh, chỉ có sâm dây thôi. Các quán khác ở đây cũng vậy. Trước đây thỉnh thoảng có người đi rừng kiếm được sâm về mang ra bán nhưng giờ thì cả năm không mua được, nếu có thì chỉ một vài củ nhỏ bằng ngón tay”. Cũng theo anh Chiến, do người dân thấy giá trị của sâm quá lớn nên đã đổ xô vào rừng tìm đến mức cạn kiệt. Đến nỗi, “sâm rừng Ngọc Linh bây giờ tìm khó hơn cả kỳ nam”.
Hiện tại, toàn huyện Tu Mơ Rông đã quy hoạch trên 5 nghìn ha rừng gồm vùng đệm, vùng trồng sâm Ngọc Linh. Diện tích trồng được 178,8 ha sâm Ngọc Linh. Trong đó của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đắk Tô 7,84 ha, Công ty CP Sâm Ngọc Linh Kon Tum khoảng 169 ha, số còn lại của một số hộ dân tự trồng. Ngoài sâm Ngọc Linh, chính quyền huyện Đắk Tô phát triển trồng mới cây Hồng Đẳng Sâm thêm khoảng 25 ha, bằng nguồn vốn hỗ trợ sự nghiệp 30a.
Một lãnh đạo của Công ty CP Sâm Ngọc Linh Kon Tum cho biết: “Từ năm 2000 đến nay, chúng tôi đã xin chủ trương của tỉnh Kon Tum được trồng và nhân giống sâm Ngọc Linh. Việc trồng loại sâm quý hiếm này đã giúp tạo công ăn việc làm cho trên 300 lao động là người dân tộc thiểu số ở xã Măng Ri. Ngoài nuôi ăn, mỗi lao động được hưởng lương hàng tháng tới 3 triệu đồng. Các công nhân được trang bị bảo hộ, áo quần, một số được cấp bảo hiểm xã hội theo quy định nhà nước. Việc tạo công ăn việc làm đã giúp cho đời sống của người dân ngày một nâng cao…”.
Cũng theo vị lãnh đạo này, dự kiến trong thời gian tới Công ty CP Sâm Ngọc Linh Kon Tum sẽ xin cấp phép thủ tục và đưa vào hoạt động của nhà máy tinh chất sâm Ngọc Linh Kon Tum.
Ngoài giống sâm Ngọc Linh, người dân các xã Măng Ri, Ngọc Lây, Tên Xăng (Tu Mơ Rông, Kon Tum) đã biết gieo trồng sâm dây. Hiện trên thị trường, mỗi kg sâm dây tươi có giá bán 70-100 nghìn/kg và khoảng 500 nghìn/kg sâm dây khô. Sâm dây có thể trồng xen kẽ cùng các loại cây khác nên một diện tích có thể trồng hai loại cây. Sâm dây được trồng bằng hạt hoặc củ, rất dễ trồng, thời gian từ lúc trồng tới khi thu hoạch khoảng ba năm. Đặc biệt, sâm dây không có mùa, có thể thu hoạch bất cứ khi nào. Người dân còn thu hái quả sâm dây để bán cho Phòng nông nghiệp huyện Tu Mơ Rông làm giống.
UBND tỉnh Kon Tum cho biết đã triển khai dự án bảo tồn và phát triển sâm Ngọc Linh từ nay đến năm 2022 với tổng vốn đầu tư trên 567 tỷ đồng. Dự án đầu tư khoa học công nghệ để xây dựng và hoàn thiện quy trình nhân giống dự kiến từ 4-5 triệu cây giống/năm; mở rộng diện tích trồng sâm đến năm 2022 sẽ đạt từ 800-1 nghìn ha. Bên cạnh đó, dự án còn hoàn thiện quy trình công nghệ chế biến, xây dựng nhà máy chế biến các sản phẩm cây sâm Ngọc Linh; xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia cho các sản phẩm sâm Ngọc Linh và được bảo hộ trên thế giới…
Sâm Ngọc Linh giả có 7 lá kép, sâm thật chỉ 5 lá kép. Thân của cây sâm giả nhợt, hơi tím hơn sâm Ngọc Linh thật vốn mang màu xanh đen. Về phần củ, cây sâm giả mắt tròn, lóng củ dài, nhiều mắt, thân mọng và màu sẫm; Sâm Ngọc Linh thật đốt ngắn, mắt to, chắc, màu vàng tươi...
Sâm Ngọc Linh thật khi ăn có vị đắng và ngọt, còn sâm giả vị cũng khá giống nhưng rất khé cổ, khó nuốt. Sâm giả này được bơm chất kích thích trong quá trình trồng để lên mầm sớm, giúp vòng đời của cây nhanh hơn so với tự nhiên nhằm tạo nên những mắt giống củ sâm Ngọc Linh thật. Ngoài ra, vị đắng ngọt của sâm cũng được làm giả rất nguy hiểm bằng cách tẩm hóa chất vào củ tam thất hay tiêm chất bảo quản để giữ củ tươi lâu…
Đối với sâm Ngọc Linh thật thì củ nặng nhất hiện nay ở Kon Tum chỉ tầm khoảng từ 120-200g. Sâm giả có thể nặng tới 500g… (Giao Thông 30/8) đầu trang(
Nghe tin ông Nguyễn Văn Dự ở ấp Rau Dừa B, xã Hưng Mỹ (Cái Nước, Cà Mau) bắt được con cá sấu dài hơn 2m, nặng gần 50 kg, người dân trong vùng vội vã tới xem. Sau cái háo hức, trầm trồ là nỗi lo lắng hiện rõ trên gương mặt từng người dân nơi đây...
Theo phản ánh, chập tối ngày ngày 15/8, ông Nguyễn Văn Dự ra vuông tôm, canh chừng lú vừa đặt. Trên chiếc xuồng composite nhẹ tênh, bé xíu, lắc lư, ông Dự rảo một vòng đến vuông, cách nhà chừng 500m. Đến gần vuông tôm, ông Dự phát hiện có con vật khá to lớn, đuôi dài, đầu to, sần sùi như khúc cây mục.
Không dám bơi xuồng tới, ông Dự liên tưởng đến loại kỳ đà cũng từng có ở vùng quê mình. Nhưng con kỳ đà sống trên cạn, khi tìm mồi hoặc bị truy đổi mới nhảy xuống nước. Đứng trước con “quái vật”, ông Dự càng thấy mình nhỏ bé, yếu thế và khiếp sợ hơn. Bơi xuồng lùi lại, ông Dự móc điện thoại gọi cho hai người em vợ ở gần nhà: “Lên vuông, tiếp anh, có con gì bự quá!”. Hai người em vợ không kịp mặc áo, sẵn quần đùi, túa chạy cứu anh rể.
Sau một hồi bàn tán kỹ, ba anh em ông Dự phân công nhau bủa lưới, phòng phản đòn và tiếp tục cầu cứu hơn 10 người quanh xóm đến yểm trợ. Khi quăng lưới xuống, con quái vật tháo chạy, bị mắc lưới, gồng mình, miệng há hốc, hàm răng trắng, cắn xé rách lưới hòng thoát thân.
Vừa khống chế, vừa quăng lưới, dùng lưới quấn con quái vật hung hãn. Cái đuôi quất mạnh vào những người chạm vô. Ba anh em ông Dự cùng hàng chục thanh niên trai tráng quần nhau với con quái vật hơn 1giờ mới kéo được lên bờ vuông.
Nghe tin ông Dự bắt được cá sấu khủng, bà con trong ấp kéo đến xem đông nghịt. Gần như ngày nào nhà ông Dự cũng có người tới xem cá sấu. Ngay sáng hôm sau, ông Trần Văn Khoai (Tám Khoai) - cha vợ ông Dự nhờ mọi người thông báo ai có cá sấu sổng chuồng đến nhận, nhưng không ai đến nhận. Ông Trần Văn Khoai nói: “Chắc chủ nhân ở xa hoặc không dám nhận vì sợ trách nhiệm với con cá sấu quá lớn, rất nguy hiểm khi ra sông nước. Với con cá sấu như vầy, còn khỏe mạnh, đói mồi, rất nguy hiểm cho trẻ con tắm sông, lội đồng”.
Bắt được con cá sấu “khủng”, gia đình ông Nguyễn Văn Dự mất ăn, mất ngủ và cũng mất việc làm vì quá đông người đến xem. Ông Nguyễn Văn Dự kể: “Không mở cửa chuồng ra cho xem thì không được mà cho xem thì chọc phá, bàn tán, nói năng lung tung. Vợ chồng tôi buộc phải bán cho người có điều kiện nuôi nấng”.
Ngày 19/8, Chi cục Kiểm lâm Cà Mau cử cán bộ đến nhà ông Dự để hỏi rõ chi tiết, tình hình, diễn biến vụ bắt con cá sấu. Nhưng việc xử lý động vật hoang dã gây nuôi, sổng chuồng và bắt được thì do ông Dự tự xử lý.
Theo tìm hiểu, từ đầu năm đến nay, Chi cục Kiểm lâm Cà Mau tiếp nhận 160 hộ dân, đăng ký nuôi 5.369 con cá sấu. Ông Phan Hùng Dũng, cán bộ Kiểm lâm Cà Mau cho biết thêm: “Chúng tôi đã kiểm tra với tầnn suất 2 lần/năm với các hộ nuôi cá sấu. Nhưng khi người dân bán cá sấu không trình báo nên rất khó xác định cá sấu còn nuôi trên địa bàn là bao nhiêu?”.
Trên thực tế, tại khu vực này đã từng xảy ra không ít vụ cá sấu xổng chuồng khiến dư luận bất an. Chẳng hạn, khoảng giữa tháng 10/2012, Trang trại nuôi cá sấu của Cty TNHH chế biến thủy sản Quốc Việt tại ấp Cây Trâm A, xã Định Bình (TP.Cà Mau), mưa lớn làm sụp tường rào khiến hàng trăm con cá sấu sinh sản sổng chuồng.
Sau nhiều ngày tầm nã, Chi cục Kiểm lâm Cà Mau xác định có 100 con cá sấu từ 50-80 kg thoát ra ngoài và bắt được 98 con. Vài ngày sau đó, ở chợ Đầm Dơi (huyện Đầm Dơi), xã Tam Giang (Ngọc Hiển) lại rộ lên tin đồn cá sấu nổi trên sông nhưng không ai bắt được...
Trở lại câu chuyện bắt được cá sấu “khủng” ở xã Hưng Mỹ, sau vụ việc này, những người dân sống trong vùng đều thường trực tâm trạng lo lắng. Họ thường xuyên cảnh giác và tăng cường để mắt đến con vật lạ trên sông rạch. Trẻ em ở gần nhà ông Dự cũng bỏ dần thói quen tắm sông như trước. (Pháp Luật Việt Nam 30/8) đầu trang(
Chỉ trong một thời gian ngắn, liên tiếp xảy ra những vụ cán bộ kiểm lâm bị lâm tặc chống đối, công an bị tội phạm tấn công.
Thậm chí, lâm tặc còn manh động đến mức bắt cán bộ quỳ gối, ăn đất, xúc phạm nhân phẩm, danh dự… Tuy nhiên, theo một số chuyên gia thực thi pháp luật cần phải có những biện pháp “mạnh tay” thì tình trạng chống người thi hành công vụ mới hy vọng giảm.
16h ngày 18/8, Hạt trưởng hạt Kiểm lâm Đức Trọng, thuộc chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng đã cử 3 cán bộ là Vàng Đinh Hoàng, Phạm Minh Tiến và Đoàn Văn Hà phối hợp với ban Lâm nghiệp xã Liên Hiệp đến thôn Gần Reo kiểm tra, xác minh và xử lý nguồn tin báo của người dân liên quan đến hoạt động phá rừng. Cán bộ được trang bị một khẩu súng AK với số súng KL 1625 và 21 viên đạn.
Quá trình thực hiện công việc, cán bộ kiểm lâm phát hiện, có khoảng 50-60 cây gỗ đà thông bị đốn hạ, để trước nhà ông Năm Củi ở thôn Gần Reo. Sau đó, một người tên Xuân, tự nhận mình là chủ của số gỗ thông trên, nói rằng, đã mua số gỗ đó của ông Lợi. Trong lúc cán bộ kiểm lâm đang tiến hành kiểm tra, xử lý thì Xuân gọi điện, lúc sau có khoảng 20-30 người mang theo dao, gậy gộc baovây khu vực để gỗ trước cửa nhà ông Năm. Khoảng 18h50 cùng ngày, xuất hiện một người mặc áo trắng, cầm gậy cùng một số đối tượng lao vào đánh anh Hoàng, giật súng và cướp một băng đạn, 21 viên.
Trước tình thế đó, anh Tiến ngăn cản thì bị các đối tượng lao vào đánh và chọc cây vào mí mắt. Vì lâm tặc quá manh động nên anh Hoàng và anh Tiến chạy khỏi hiện trường. Còn anh Hà, do không chạy thoát đã bị chúng bắt giữ lại. Đến 19h30 cùng ngày, lãnh đạo hạt Kiểm lâm và Công an huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng đến hiện trường, thấy anh Hà bị trói, bắt quỳ gối ngay trên đường, người có nhiều vết thương và đưa anh Hà đi cấp cứu.
Thấy lực lượng chức năng đến đông, lâm tặc áp sát xe chở cán bộ, dùng dao chặt cửa bên phụ ô tô của hạt Kiểm lâm và ném đá vào 2 ô tô của Công an Đức Trọng làm kính trước bị rạn, kính sau bị vỡ.
Trao đổi với PV, lãnh đạo chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng cho biết: “Các đối tượng ở thôn Gần Reo đã hai lần chống trả, uy hiếp lực lượng kiểm lâm và ban Quản lý rừng phòng hộ Đại Ninh khi đi tuần tra, truy quét. Công an huyện đang tiến hành điều tra. Điều này chứng tỏ việc ngăn cản, chống người thi hành công vụ của các đối tượng trên không phải là bộc phát mà có chủ ý”.
Cũng thông tin từ chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng thì vào tháng 6 vừa qua, các cán bộ của Chi cục bị lâm tặc chống đối. Theo đó, nhận được nguồn tin từ người dân tại khu vực giáp ranh giữa huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng và huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Lắk, có hành vi chặt phá rừng. Đoàn kiểm tra gồm 16 cán bộ thuộc đội Kiểm lâm cơ động & PCCR số 1, hạt Kiểm lâm Đam Rông... đến hiện trường kiểm tra.
Tuy nhiên, tổ công tác đã bị 100 đối tượng khống chế, cướp 1 còng số 8 rồi lăng mạ, làm nhục, xúc phạm nhân phẩm. Chúng giật cúc áo, bắt các cán bộ kiểm lâm trong đoàn cởi áo, quỳ gối ngoài trời mưa suốt mấy tiếng đồng hồ. Thậm chí, có cán bộ còn bị lâm tặc bắt ăn đất. Không chỉ có thế, chúng còn mất nhân tính đến mức vu khống, tống tiền các thành viên trong đoàn kiểm tra, yêu cầu phải đưa 10 triệu đồng thì mới thả người.
Không chỉ bị lăng mạ, chửi bới, nhiều cán bộ kiểm lâm còn rơi vào tình trạng “bó tay” khi bị lâm tặc hành hung một cách dã man. Nhiều trường hợp khi bị tấn công, các cán bộ kiểm lâm chỉ biết “nhanh chân mà bỏ chạy” nếu không muốn nhận hậu quả khôn lường. Chính những sự vụ trên đã gây bức xúc cho dư luận.
Tháng 4/2015, CQĐT Công an huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định đã tống đạt quyết định khởi tố bị can đối với Phan Văn Mộng (SN 1987), Nguyễn Văn Lai (SN 1985) và Nguyễn Văn Đông (SN 1990, cùng ngụ địa phương). Trong đó, Mộng bị tạm giam 3 tháng, 2 đối tượng còn lại bị cấm đi khỏi nơi cư trú vì liên quan đến việc hành hung cán bộ kiểm lâm huyện Vĩnh Thạch vào ngày 9/4 vừa qua.
Không chỉ lực lượng kiểm lâm bị chống đối trong lúc làm nhiệm vụ mà đã có rất nhiều cán bộ công an cũng bị chống đối một cách điên cuồng.
Vụ việc mới nhất xảy ra vào đêm 17/8, tổ Cảnh sát Giao thông Công an tỉnh Kon Tum đang tuần tra ở đường Bạch Đằng, TP.Kon Tum thì phát hiện Lợi đi mô tô chở Kiêu và Việt, cả ba không đội mũ bảo hiểm, nên phát tín hiệu dừng xe kiểm tra. Lúc này, 5 người khác cùng thôn với Lợi là A Thận, A Nghĩa, A Lâm, A Ngan và A Thân đã la ó, hô hào dùng bàn ghế ném tới tấp vào CSGT hòng giật lại mô tô vi phạm, làm người đi đường là anh Dương Ngọc Dũng (49 tuổi, trú tại TP.Pleiku) bị thương ở đầu. Sau đó, nhóm này bỏ chạy nhưng bị Công an TP.Kon Tum bắt; riêng Thân, Ngan, Lâm đang bỏ trốn.
Được biết, trước hành vi chống đối điên cuồng của các đối tượng, Công an TP.Kon Tum khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam A Lợi (19 tuổi), A Kiêu (21 tuổi), A Việt (18 tuổi), A Thận (20 tuổi) và A Nghĩa (18 tuổi), đều trú tại thôn Kon Hrachot, P.Thống Nhất, TP.Kon Tum vì hành vi chống người thi hành công vụ.
Cũng giống như trường hợp ở TP. Kon Tum, khoảng 23h50 ngày 20/7, xe tải BKS 37C-135.89 của DNTN Thanh Hiền, Nghệ An do Đặng Văn Hiếu (SN 1986), xã Diễn Thái, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An điều khiển, chở tôn Hoa Sen từ KCN Nam Cấm, Nghệ An vào Huế giao hàng. Khi xe đến địa phận xã Kỳ Nam, TX. Kỳ Anh thì bị lực lượng chức năng trạm cân xe lưu động Hà Tĩnh ra tín hiệu cho xe vào cân kiểm tra tải trọng.
Tuy nhiên, Hiếu không dừng, cố tình lái xe bỏ chạy vào khu vực trạm thu phí hầm đường bộ Đèo Ngang cố thủ, gây ách tắc giao thông tại hầm Đèo Ngang. Mặc dù được thuyết phục, yêu cầu lái xe điều khiển xe vào bên lề đường để tránh tắc hầm Đèo Ngang nhưng Hiếu vẫn không chấp hành và có lời lẽ thô tục, thách thức lực lượng chức năng. Sau đó, Hiếu tiếp tục lái xe tải đâm vào ô tô của CSGT đang làm nhiệm vụ ở trạm cân rồi tháo chạy sang địa phận tỉnh Quảng Bình. Hậu quả xe của CSGT bị hư hỏng nặng.
Trước hành vi chống đối ngang ngược của đối tượng Việt, trạm cân xe lưu động Hà Tĩnh đã liên hệ với phòng CSGT Công an tỉnh Quảng Bình hỗ trợ, phối hợp xử lý. Sau 20km truy đuổi đến địa phận xã Quảng Tùng, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, Hiếu mới buộc dừng lại và quay xe về trạm cân xe lưu động Hà Tĩnh tại xã Kỳ Nam, TX. Kỳ Anh để xử lý vụ việc.
Trao đổi với PV, Đại úy Hà Văn Sáng, Đội trưởng đội CSĐT Công an TX.Kỳ Anh (Hà Tĩnh) cho biết: CQĐT đã khởi tố, bắt tạm giam 2 tháng đối với tài xế Đặng Văn Hiếu về hành vi chống người thi hành công vụ.
Mới đây TAND huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đã mở phiên tòa lưu động xét xử sơ thẩm diễn ra ở trường tiểu học số 1 Phước Thành, xã Phước Thành, huyện Tuy Phước. Sau quá trình xét xử, TAND huyện Tuy Phước đã tuyên phạt bị cáo Hồ Thị Lý (71 tuổi, ngụ địa phương) cùng 3 người con là Nguyễn Thị Đào (35 tuổi), Nguyễn Thị Hồng (38 tuổi) và Nguyễn Thị Loan (43 tuổi), mỗi người 6 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ.
Theo cáo trạng, khoảng 7h30 ngày 28/7/2014, đoàn công tác của huyện Tuy Phước tổ chức cưỡng chế, chuyển giao quyền sử dụng 12,8m2 đất tranh chấp của ông Nguyễn Đệ (84 tuổi, chồng bà Lý) cho bà Nguyễn Thị Hồng Huệ (35 tuổi, ngụ cùng địa phương) theo bản án phúc thẩm có hiệu lực.
Tuy nhiên, khi đoàn công tác tiến hành các thủ tục giao đất theo quy định thì ông Đệ, bị cáo Lý cùng nhiều con, cháu đã dùng lời lẽ thô tục chửi bới. Tiếp đó, bị cáo này cùng 3 người con gái trên dùng ca và xô nhựa múc nước cặn dầu phộng có mùi hôi thối tạt liên tục rồi đổ lên đầu các thành viên của đoàn công tác.
Những vụ chống người thi hành công vụ xảy ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều địa phương đang khẳng định cần có biện pháp thiết thực, tăng cường lực lượng cho các ngành đặc thù (công an, kiểm lâm...) để trấn áp tội phạm hiệu quả hơn. (Đời Sống Và Pháp Luật 29/8) đầu trang(
Làm sao để giúp trẻ hiểu và có hành vi, ứng xử đúng với môi trường? Đó là một trong nhiều trăn trở của nhóm sinh viên và họ đã dày công đi tìm câu trả lời...
Nhóm Mầm Non Xanh gồm 5 nữ sinh viên Khoa Địa lý, chuyên ngành môi trường, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM đã cùng họp bàn, lên kế hoạch và chọn đề tài cho cuộc thi là giáo dục môi trường cho trẻ mầm non.
Sau nhiều tháng nghiên cứu, 5 chủ đề giáo dục môi trường được nhóm đưa ra trong năm học gồm: Bé và động vật sống trong rừng, Bé tìm hiểu về ô nhiễm không khí, Ô nhiễm nước và tầm quan trọng của nước, Rác và ô nhiễm môi trường, Bé và cây xanh. Nghĩ ra chủ đề đã khó, làm sao truyền tải thông điệp trong chủ đề đó đến với các bé càng khó hơn. Đây là khâu mà nhóm phải “vắt óc” suy nghĩ và tranh cãi quyết liệt để đi đến giải pháp cuối.
Nhờ sự hỗ trợ của giảng viên hướng dẫn cũng như các giáo viên mầm non, nhóm đã dần hình thành những bài giảng cả về lý thuyết lẫn thực hành để các bé hiểu, nắm bắt trọn vẹn ý nghĩa từng chủ đề.
Với chủ đề Bé và động vật trong rừng, mô hình khu rừng xanh được dựng lên với cây cổ thụ, các loài động vật đang chơi đùa vui vẻ. Một ngày, khu rừng bình yên xuất hiện nhóm lâm tặc, họ đốn hạ cây rừng, các động vật hốt hoảng, chạy tán loạn, chúng không còn nơi trú ẩn bình yên. Đi kèm với nạn phá rừng là lũ lụt, xói mòn đất.
Hay với chủ đề Bé tìm hiểu về ô nhiễm không khí, cô giáo cho các bé thử bịt mũi lại một tí để xem có khó thở không, vì sao ra phố ba mẹ hay đeo khẩu trang cho các bé... để từ đó giúp bé nhận thức rõ về không khí và tác hại của ô nhiễm không khí.
Khi dự án đã thành hình, song song với việc dự thi tại trường, nhóm quyết định gõ cửa các trường mầm non để triển khai dự án. “May mắn cho nhóm khi Ban giám hiệu Trường mẫu giáo Hoa Lan (Thạnh Tân, TP.Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh) vô cùng hứng thú và không ngần ngại triển khai ngay trong học kỳ 2 của năm học 2014 - 2015”.
“Khi được học những bài học về môi trường của nhóm sinh viên, các bé ở trường rất thích thú, hào hứng bởi tiết dạy của các sinh viên rất sinh động, thực tế. Sau khi học, các bé tiến bộ rất nhiều, biết phân loại rác. Về nhà, các bé còn khuyên ba mẹ phải làm như thế này thế kia, khuyên bạn bỏ rác vào thùng… Trong năm học tới, nhà trường sẽ áp dụng giáo án này để tổ chức các chuyên đề về giáo dục môi trường cho các bé”, bà Hà Thị Kim Hoa, Phó hiệu trưởng Trường mẫu giáo Hoa Lan, vui mừng cho biết.
“Đa số các trường tụi mình gõ cửa, trình bày dự án đều rất hứng thú. Tuy nhiên, ban giám hiệu các trường còn e dè vì chưa có sự đồng ý của sở, phòng giáo dục. Mà để có được sự đồng ý từ các cơ quan này là điều quá tầm của nhóm dù đã thử xin phép”, Vũ Thị Hương, thành viên trong nhóm, trăn trở.
“Nhóm sẽ còn theo đuổi, hoàn thiện và phát triển dự án này kể cả khi từng thành viên của nhóm đã tốt nghiệp ra trường. Bên cạnh đó, nhóm cũng ước mơ nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của các sở, phòng đào tạo để dự án được triển khai sâu rộng trong các trường mầm non”, trưởng nhóm Phương Uyên mong mỏi. (Thanh Niên 28/8) đầu trang(
Liên quan đến vụ lô hàng cá sấu bị bắt giữ, một thành viên Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban Chỉ đạo 389) T.Ư cho biết vụ bắt giữ có những điểm không chặt chẽ. Theo đó, các thông tin, chứng cớ đã cho thấy lô hàng này toàn bộ là cá sấu nuôi.
Ngày 28.8, ông Ngô Văn Hoàng (66 tuổi, chủ trang trại cá sấu Hoàng Phương, ấp Long Thành, TT.Phước Long, H.Phước Long, Bạc Liêu) cho biết sau khi xe tải chở 1.300 con cá sấu của ông bị cơ quan chức năng tạm giữ tại Móng Cái (Quảng Ninh), ông đã làm đơn yêu cầu kèm theo các giấy phép nuôi cá sấu gửi Cục điều tra chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan để xem xét giải quyết cho ông nhận lại số cá sấu bị tạm giữ.
Trong đơn có các chữ ký xác nhận của ông Huỳnh Thanh Đấu, Phó chủ tịch UBND TT.Phước Long và ông Chung Tấn Kiệt, Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bạc Liêu. “Đơn được gửi đi vào ngày 10.8, nhưng đến nay vẫn chưa thấy phản hồi”, ông Hoàng nói và cho biết thêm, đầu tháng 9, ông sẽ trực tiếp ra các cơ quan có liên quan để xin nhận lại lô cá sấu.
Về thông tin 2 người tên Thắng và Hải (cùng ở Móng Cái) mua cá sấu của ông Hoàng, ông Nguyễn Văn Tuấn, hộ nuôi cá sấu ngụ TT.Phước Long, cho hay chỉ biết ông Thắng khoảng 40 tuổi, ở nhà ông Hoàng gần một năm qua. Hằng ngày, ông Thắng đi thu mua da cá sấu nhỏ lẻ (do cá nuôi bị bệnh hoặc chết ở các hộ dân, trang trại nuôi cá sấu trong H.Phước Long).
“Thắng thu mua đàng hoàng, chủ yếu trả tiền mặt. Sau khi thu gom da cá sấu, Thắng bỏ vô thùng xốp rồi gửi xe khách chuyển lên TP.HCM tiêu thụ. Còn Thắng là người như thế nào thì người dân ở đây hoàn toàn không biết”, ông Tuấn nói.
Còn chủ xe tải chở cá sấu BS 60C-150.49 kiêm tài xế là Lê Văn Thành (ngụ Đồng Nai), ông Hoàng nói “hoàn toàn không quen biết; chỉ biết xe tải do Thắng, Hải thuê chở và xe này lần đầu tiên đến trang trại tôi chở cá sấu”.
Trong khi đó, ngày 28.8, trả lời Thanh Niên về việc xử lý tiếp theo đối với vụ bắt giữ khoảng 1.300 con cá sấu tại Móng Cái (Quảng Ninh), ông Nguyễn Văn Cẩn, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan kiêm Chánh văn phòng Ban Chỉ đạo 389 T.Ư, nói: “Đến nay, các cơ quan chức năng đã xác định bước đầu vụ việc này có đủ yếu tố cấu thành tội vận chuyển trái phép qua biên giới. Vụ vận chuyển này đi khoảng 3 giờ sáng, ngoài cửa khẩu nhưng không có giấy tờ, hồ sơ hải quan”.
Ông Cẩn cho biết các cơ quan chức năng đã xem xét đánh giá vụ việc này có dấu hiệu vi phạm pháp luật nhưng không lớn nên đã giao cho Ban Chỉ đạo 389 tỉnh Quảng Ninh xử lý.
“Đến thời điểm này, Viện trưởng Viện KSND tỉnh Quảng Ninh đã yêu cầu cơ quan điều tra tỉnh Quảng Ninh xem xét khởi tố hành vi vận chuyển trái phép hàng qua biên giới. Dự kiến, trong tuần tới các biện pháp sẽ được triển khai. Quá trình điều tra sẽ xác định ai là chủ hàng, việc lái xe có biết, có phạm tội hay không sẽ được công bố công khai”, ông Cẩn thông tin và cho biết thêm: “Cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh đang vào cuộc và tất cả các câu hỏi về chủ hàng mới hiện nay chỉ nêu vì cũng chưa biết, chưa khẳng định số hàng cá sấu bị thu giữ ở đâu, có phải của chủ hàng tại Bạc Liêu, từ ao nuôi tại Bạc Liêu hay không. Ngoài số cá sấu, xe, tang vật vụ án, còn cần điều tra, giám định, Cơ quan điều tra sẽ sớm có kết luận công khai vụ việc”.
Tuy nhiên, cũng vào hôm qua, trao đổi với PV Thanh Niên, một thành viên Ban Chỉ đạo 389 T.Ư cho biết vụ bắt giữ cá sấu trên có những điểm không chặt chẽ ngay từ đầu như: mục tiêu ban đầu là bắt giữ hàng động vật hoang dã vận chuyển trái phép nhưng hiện nay, những thông tin, chứng cớ đã cho thấy lô hàng này toàn bộ là cá sấu nuôi.
“Việc tổ chức bắt giữ đối tượng, tang vật tại địa bàn do lực lượng biên phòng chủ trì quản lý nhưng lực lượng Biên phòng tỉnh Quảng Ninh lại không được tham gia ngay từ giai đoạn điều tra ban đầu (chỉ được mời chứng kiến và ký vào biên bản sau khi bắt giữ); chỉ có Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm buôn lậu, Bộ Công an và Cục Điều tra chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan phối hợp. Hiện nay, đã hết thời hạn điều tra ban đầu (đã trên 20 ngày) nên vụ việc không còn thuộc thẩm quyền điều tra của Bộ đội biên phòng mà chuyển cho lực lượng khác”, thành viên này cho biết.
Theo luật sư (LS) Nguyễn Thành Công (Công ty Đông Phương luật TP.HCM), về nguyên tắc, chi phí bảo quản, nuôi dưỡng đối với phương tiện, tang vật bị tạm giữ, tịch thu sẽ do nhà nước chịu. Vì vậy, vấn đề ở đây là xác định trách nhiệm đối với số cá sấu bị chết trong giai đoạn này.
LS Công phân tích thêm, theo thông tin ban đầu cho thấy, lô hàng đã được cấp “giấy phép vận chuyển đặc biệt” từ Bạc Liêu đi Móng Cái nhưng không xác định được bên mua cụ thể vì không có hợp đồng mua bán (do giao kèo mua bán miệng). Chủ hàng cũng không biết cụ thể địa chỉ người mua.
Vì thế, cần xem xét việc cấp giấy vận chuyển đặc biệt kia đã tuân thủ đúng quy định hay chưa. Nếu đúng thủ tục, việc mua bán hợp pháp thì mọi thiệt hại phát sinh do cơ quan ra quyết định tạm giữ phải bồi thường; trường hợp cơ quan cấp giấy vận chuyển sai quy trình thì lỗi cũng không phải từ ông Hoàng mà do cơ quan nhà nước thì trách nhiệm lúc này vẫn do từ phía nội bộ nhà nước.
Thẩm phán Huỳnh Văn Út, TAND TP.Cà Mau, nhận xét nếu việc tạm giữ là sai thì chủ cá sấu có quyền đòi bồi thường theo luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước. (Thanh Niên 29/8) đầu trang(
Liên quan đến việc thời gian gần đây lâm tặc, tội phạm liên tục tấn công lực lượng kiểm lâm, công an, người thi hành công vụ bằng những hành động phản cảm. Xung quanh vấn đề trên, PV báo ĐS&PL trao đổi với tiến sỹ luật học Vũ Thu Quyên, Học viện Báo chí & Tuyên truyền về giải pháp để hạn chế các vụ tấn công gây thương tích cho cán bộ thực thi nhiệm vụ.
Tình trạng lâm tặc chống đối, đe dọa, uy hiếp và tấn công lực lượng quản lý bảo vệ rừng, trong đó có cán bộ kiểm lâm đã khá nhức nhối trong những năm gần đây. Theo ông, ngoài một số đối tượng cộm cán đứng ra chặt phá, buôn bán vận chuyển gỗ trực tiếp chống đối cán bộ kiểm lâm thì chúng còn lôi kéo một số người dân tham gia hành vi vi phạm pháp luật này. Những người này do nhu cầu mưu sinh, do hạn chế về nhận thức nên khi bị các đối tượng xấu lôi kéo, kích động, xúi giục dễ nảy sinh hành vi chống người thi hành công vụ cùng với bọn tội phạm.
Trình độ hiểu biết, nhận thức pháp luật của một bộ phận quần chúng nhân dân còn thấp, dẫn tới tình hình chống người thi hành công vụ diễn biến phức tạp, tội phạm hoạt động liều lĩnh với thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Bên cạnh đó, có một số người dân hiểu biết pháp luật nhưng coi thường pháp luật cũng là đối tượng bị lâm tặc dụ dỗ. Hành vi bắt cán bộ kiểm lâm quỳ thể hiện sự mất nhân tính của tội phạm.
Từ những vụ việc chống người thi hành công vụ vừa qua có thể thấy rằng, diễn biến hoạt động của tội phạm này ngày một phức tạp. Trước đây, lâm tặc sợ lực lượng thực thi pháp luật. Nhưng gần đây, khi phát hiện cán bộ, chúng đã dùng hung khí chống trả quyết liệt. Còn nếu thấy đông, chúng thực hiện “chính sách ruồi bâu” nhằm tạo áp lực, chống đối quyết liệt, đợi cơ hội cướp lại số “hàng” đã bị phát hiện thu giữ. Còn tội phạm chở “hàng cấm”, ma túy thì tông xe vào công an để thoát thân.
Nguyên nhân của việc tội phạm gia tăng hành vi chống người thi hành công vụ là do lợi nhuận từ việc mua bán, vận chuyển hàng cấm, ma túy, lâm sản rất lớn nên chúng đã bất chấp pháp luật. Mặt khác, do khung hình phạt xử lý các đối tượng vi phạm luật Bảo vệ - Phát triển rừng hiện nay còn quá nhẹ nên lâm tặc ngày càng “nhờn thuốc”. Thực tế, thời gian qua, việc xử lý các đối tượng chống người thi hành công vụ chưa được nghiêm nên chúng “nhờn thuốc” và vô hình trung “tiếp tay” cho chúng manh động, liều lĩnh hơn.
Có thể nói rằng, lợi nhuận trong việc khai thác, mua bán và vận chuyển lâm sản, ma tuý, “hàng cấm” khiến không ít các đầu nậu không dễ bỏ “hàng” khi bị phát hiện và bắt giữ. Điều này khiến cho các đầu nậu “đi đêm” với cán bộ, làm tha hoá cán bộ. Khi chúng không tha hoá được cán bộ thì thực hiện hành vi liều lĩnh, nguy hiểm là “bắt tay” với các băng nhóm tội phạm khác.
Để bảo vệ cán bộ thực thi nhiệm vụ, cần sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa lực lượng thực thi pháp luật và các ngành liên quan; xử lý nghiêm minh những đối tượng bao che, tiếp tay và trực tiếp tham gia chống người thi hành công vụ dù là ai. Đối với các đơn vị kiểm lâm, chủ rừng, ngoài việc động viên cán bộ, nhân viên làm tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, cần tạo điều kiện hỗ trợ kinh phí để lực lượng bảo vệ rừng yên tâm công tác, gắn bó với công việc và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao...
Điều quan trọng hơn, khi cán bộ đang thi hành nhiệm vụ, nhận thấy tội phạm có hành vi chống đối cần báo về cho cơ quan cử cán bộ hỗ trợ. Ngay khi nhận được tin báo, cơ quan chủ quản cần chủ động báo cho công an địa phương phối hợp điều tra, bắt giữ.
Có như vậy mới tạo được thế gọng kìm làm cho sự kết hợp giữa các nhóm tội phạm giảm. Sự có mặt của lực lượng công an ngay từ thời điểm đầu tiên tội phạm thực hiện hành vi chống đối rất quan trọng... Nó chính là “bàn tay sắt” chặn sự hợp tác phi pháp của chúng. (Đời Sống Và Pháp Luật 29/8) đầu trang(
Đáp ứng thú sưu tầm đồ dùng bằng da, xương thú quý hiếm để khẳng định "đẳng cấp", các đường dây buôn bán da, xương, thậm chí cả râu hùm... xuất hiện nhan nhản.
Chiều 25-8, theo chỉ dẫn của một số người, chúng tôi gặp Lâm - người được cho là chuyên phân phối da hổ tại một một căn nhà nhỏ trên đường Nguyễn Đình Chiểu (P.Phú Cường, TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương).
Vừa đưa ra nhiều tấm da thú màu sắc, chủng loại khác nhau, Lâm tự giới thiệu đó là da mèo rừng, da hổ với giá cả tương ứng.
Theo lời Lâm, tấm da hổ cỡ bằng một bàn tay có giá 500.000 đồng. Ví làm từ da báo hoa mai giá 1,2 triệu đồng/cái, xương hàm dưới con hổ còn nguyên, có hai nanh dài giá 1 triệu đồng/cái...
Lâm nói những mặt hàng này đang được rất nhiều người săn tìm "làm vật phòng thân". Khách mua hàng của Lâm ở nhiều tỉnh thành khác nhau nên ngoài giao hàng tận nơi cho những mối gần, Lâm cho biết có thể nhận chuyển khoản rồi gửi hàng qua bưu điện hoặc xe khách cho người đặt mua.
Đặc biệt, Lâm còn giới thiệu có khả năng cung ứng các hộp sọ cho khách chơi loại hàng độc chuyên để trưng bày này. Hộp sọ hổ giá 4,5 triệu đồng/cái, hộp sọ gấu 4 triệu đồng/cái...
Theo Lâm quảng cáo, nguồn hàng của Lâm nhập chủ yếu từ các tay buôn ở tỉnh Hà Tĩnh và từ Lào về. Lâm khẳng định: “Sọ hổ em bán được 4-5 cái. Còn tấm da hổ lớn này, khi có hàng em báo. Đảm bảo không phải hàng giả!”.
Trước đó, tiếp chúng tôi sáng 3-8 tại một quán cà phê trên đường Cộng Hòa (Q.Tân Bình, TP.HCM), bà Vân (cũng là người chuyên buôn bán da thú quý hiếm, ngụ tỉnh Lâm Đồng) báo giá cho chúng tôi một bộ da hổ còn nguyên, dài hơn 2m với giá 180 triệu đồng.
Khi chúng tôi thắc mắc giá cao, bà Vân nói: “Do hàng tận tỉnh Nghệ An nên phí vận chuyển đến Sài Gòn phải mất 20 triệu đồng, giá không đắt đâu”.
Để khách tin tưởng, bà Vân đưa số điện thoại liên hệ đầu mối trực tiếp tên Minh tận ngoài Nghệ An. Qua điện thoại, Minh tỏ ra kín kẽ: “Trước giờ em không bán cho người Việt Nam, toàn bán qua Trung Quốc thôi. Nguồn hàng khá đa dạng từ da đến xương nhưng ngại mối mới”.
Sau một lúc ngã giá, Minh chốt tấm da hổ 150 triệu đồng và khuyến mãi: “Nếu có thời gian, anh bay ra một chuyến, tiền máy bay em lo cho!”.
Tiếp tục săn tìm người bán, sáng 31-7 chúng tôi hẹn gặp ông Hùng tại ngã tư Hòa Lân (thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương).
Đúng hẹn, ông Hùng cùng hai người đàn ông đi ba xe máy chở các hộp sọ thú quý hiếm còn gắn sừng như linh dương đầu bò, tuần lộc, hươu… Ông Hùng khẳng định còn một số món hàng hiếm không tiện mang theo để giới thiệu cho khách như hộp sọ hổ và da hổ.
“Đây là hàng hiếm, hàng cấm, phải biết nhà của khách mới dám mua bán, không dám giao công khai” - ông Hùng bảo.
Lần thêm nhiều manh mối, chiều 31-7 hẹn nhau tại quán cà phê trên đường Thủ Khoa Huân (P.An Thạnh, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương), một thanh niên tên Khánh lấy trong balô ra nhiều nanh heo rừng, móng gấu, móng hổ, hơn chục ví da hổ khác.
Theo Khánh, hiện trên thị trường hàng “độc” được dân chơi ưa chuộng. Da báo thì không có nhiều công dụng như da hổ. Người lớn chơi da hổ là canh phong thủy, còn trẻ nhỏ thì bỏ đầu giường tránh ốm đau. Em dùng mấy bóp da hổ này làm cái gì cũng hên hết, ngày nào cũng có tiền!”.
Qua nhiều mối liên hệ, chúng tôi gặp ông Dũng (ngụ quận Bình Thạnh, TP.HCM), một mối cung cấp ví thành phẩm từ da hổ, báo.
Ông Dũng cung ứng ví làm từ da báo giá 1,2 triệu đồng/cái, ví da hổ giá 2,4 triệu đồng/cái. Nếu mua phải ví có vết đạn bắn, hoặc hàng có số lượng từ năm cái trở lên thì ông Dũng sẽ giảm giá. “Da một con báo làm được 2-3 cái bóp, nếu làm năm cái bóp phải mất hai bộ da”, ông nói.
Theo ông Dũng, những bộ da hổ, da báo được nhập từ Lào, Campuchia. Sau đó cắt nhỏ, may gia công thành từng ví tiền. Nếu cần nguyên bộ da ông sẽ giới thiệu mối bán.
Ông Dũng giải thích: “Do hàng hơi nhạy cảm nên tôi chỉ giới thiệu mối bán cho anh, nếu giao dịch tôi sẽ không có mặt. Người bán nắm bắt tâm lý người mua, nếu anh thích rồi nhiều khi giá trên trời”.
Không chỉ da, xương mà cả râu hổ cũng đang trở thành món hàng “độc” được săn tìm. Ông Trần nhà ở cầu vượt Củ Chi (H.Củ Chi, TP.HCM), báo giá bảy sợi râu hổ 700.000 đồng.
Ông nói những sợi râu trên được chủ một trang trại nuôi hổ ở miền Trung nhổ trực tiếp, hàng tâm linh, để trong người sẽ gặp hên, để đầu giường con nhỏ sẽ không đau ốm vặt.
Theo ông Phương (ngụ Q.Tân Phú), một tay chơi có nhiều năm sưu tầm hàng động vật hoang dã thì những mặt hàng thật khá hiếm trong khi nhiều hàng giả được làm rất tinh vi.
“Vì giá trị của da hổ cao hơn da báo nên có khi họ dùng da báo thuộc da rồi dùng màu tô vẽ các vân khoang lên cho giống da hổ.
Còn mấy loại hàng trưng bày có khi là đồ bằng nhựa được đúc ép gia công. Họ làm giả tinh vi mà người mua không thể phân biệt bằng mắt thường được”, ông Phương nói.
Ông Nguyễn Xuân Lưu - chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP.HCM - cho biết các bộ phận trên cơ thể động vật hoang dã như lông, da… khi khai thác sử dụng mà không chứng minh được nguồn gốc xuất xứ, tùy theo mức độ có thể bị xử phạt hành chính (theo nghị định 157/2013/NĐ-CP - xử phạt vi phạm hành chính về quản lý lâm sản) hoặc xử lý hình sự.
Sau khi tịch thu các bộ phận trên cơ thể động vật hoang dã, cơ quan chức năng phải đem đi giám định, nếu kết quả xác định là đúng thì lực lượng kiểm lâm sẽ tiến hành xử lý người buôn bán các mặt hàng này theo quy định của pháp luật về quản lý lâm sản.
Trường hợp kết quả giám định không đúng bộ phận trên cơ thể của động vật hoang dã như một số đường dây rao bán thì cũng có thể chuyển cơ quan điều tra xem xét xử hình sự người bán về hành vi lừa đảo. (Tuổi Trẻ 29/8) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngày 28/8, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT) đã tổ chức Hội nghị tổng kết dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng (ĐTBV và PTR) 4 huyện vùng cao núi đá giai đoạn (2008 – 2015).
Đồng chủ trì hội nghị có các đồng chí: Nguyễn Minh Tiến, Ủy viên BCH Đảng bộ tỉnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Nguyễn Văn Hà, Phó Tổng cục Trưởng Tổng cục Lâm nghiệp. Dự về phía Trung ương có các đồng chí: Lãnh đạo đại diện Văn phòng Chính phủ; Ban chỉ đạo Tây Bắc; Tổng cục Dự trữ Nhà nước; Phân viện điều tra rừng Đông Bắc bộ. Các Sở, ban ngành của tỉnh gồm: NN và PTNT; Kế hoạch và Đầu tư; Tài chính; Ban quản lý Cao nguyên đá Đồng Văn; Công ty Cổ phần Lương thực Hà Giang, cùng lãnh đạo đại diện 4 huyện vùng cao phía Bắc và 2 huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần.
Dự án ĐTBV và PTR được triển khai tại 4 huyện vùng cao núi đá tỉnh Hà Giang giai đoạn (2008 – 2015), được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 119/QĐ-TTg, ngày 20/01/2009, với tổng kinh phí 377,07 tỷ đồng. Đây là một dự án nhằm xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống người dân, từng bước ổn định dân cư và cuộc sống cho đồng bào các dân tộc.
Góp phần bảo vệ, giữ vững an ninh chính trị, quốc phòng, ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái và rừng phòng hộ đầu nguồn. Sau 8 năm triển khai thực hiện, dự án đã đạt được những kết quả nhất định. Diện tích rừng được khoán bảo vệ 82.767,2 ha; khoanh nuôi tái sinh rừng 28.407,1 ha; trồng mới rừng 17.132,5 ha; nâng độ che phủ rừng từ 30,9% (năm 2007) lên 43,6% (năm 2014); xây dựng 28.949 bếp đun cải tiến; cấp phát gạo hỗ trợ 11.862,6 tấn; giải ngân được 271.071 triệu đồng.
Dự án đã thu hút được trên 50.000 hộ gia đình của 68 xã, thị trấn trên địa bàn các huyện tham gia vào các hoạt động sản xuất lâm nghiệp, tạo công ăn việc làm tại chỗ cho trên 70.000 lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Cụ thể năm 2008 tỷ lệ đói nghèo bình quân là 60,12% thì đến năm 2014 đã có những cải thiện rõ rệt, chỉ còn ở mức 32,90%, với kinh phí hỗ trợ bình quân mỗi hộ trên 1 triệu đồng/hộ/năm và 48 kg gạo/năm.
Dự án đã giúp người dân thực hiện việc khai thác và sử dụng hợp lý tiềm năng đất đai. Nhờ hoạt động của dự án, người dân có ý thức hơn trong việc bảo vệ rừng, trồng rừng sản xuất, trồng cây phân tán, được tập huấn, trang bị và áp dụng kỹ thuật phù hợp vào sản xuất lâm nghiệp. Xây dựng được những khu rừng tập trung tại xã: Đường Thượng, Sủng Tráng (Yên Minh), Lũng Táo (Đồng Văn), Khâu Vai (Mèo Vạc)… Các diện tích đất nhỏ lẻ không có rừng cũng được nhân dân tận dụng để trồng cây phân tán, trồng cỏ chăn nuôi gia súc.
Hội nghị cũng dành thời gian cho đại biểu các xã, huyện có dự án và lãnh đạo các ngành của tỉnh, Trung ương phát biểu ý kiến thảo luận, nêu lên những mặt được và còn tồn tại trong quá trình triển khai tổ chức thực hiện dự án trong 8 năm qua, từ đó có những đề xuất kiến nghị với tỉnh và Trung ương có những giải pháp để thực hiện tốt hơn. Trên cơ sở những kết quả đạt được tỉnh cũng đã có báo báo đề xuất dự án chuyển tiếp ĐTBV và PTR tại 6 huyện vùng cao, giai đoạn 2016 – 2020.
Phát biểu kết luận hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Minh Tiến cảm ơn sự quan tâm sâu sắc của các Bộ, ngành Trung ương đã luôn đồng hành với tỉnh Hà Giang trong quá trình triển khai dự án và đạt được những kết quả nhất định.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh: Trong thời gian tới mong các Bộ, ngành Trung ương tiếp tục quan tâm đến Hà Giang để triển khai dự án chuyển tiếp tại 6 huyện vùng cao của tỉnh. Đồng chí cũng giao nhiệm vụ cho các ngành chức năng của tỉnh phối hợp chặt chẽ cùng với UBND 6 huyện vùng cao hoàn chỉnh báo cáo đề xuất dự án chuyển tiếp ĐTBV và PTR giai đoạn 2016 – 2020, tham mưu cho UBND tỉnh trình các Bộ, ngành Trung ương thẩm định để trình Chính phủ phê duyệt.
Đồng chí cũng đề nghị với Trung ương cho Hà Giang được thực hiện chuyển tiếp Dự án giai đoạn 2016 – 2020, đồng thời mở rộng dự án ra 6 huyện vùng cao thuộc Nghị quyết 30a của Chính phủ, góp phần cho người dân từng bước xóa đói giảm nghèo, ổn định chính trị, an ninh quốc phòng tại địa phương… (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Hà Giang 28/8) đầu trang(
Sáng 28/8, Trung tâm Phát triển Nông thôn miền Trung đã tổ chức hội thảo với chủ đề "Quyền lợi trong quản lý rừng cộng đồng: Những phát hiện và khuyến nghị từ thực tiễn" với sự tham gia của đại diện Tổng cục Lâm nghiệp, nhóm cộng đồng được giao rừng tại 2 tỉnh Quảng Bình và Thừa Thiên -Huế.
Quản lý rừng cộng đồng là hình thức quản lý rừng đã có từ lâu đời tại Việt nam, được chính thức công nhận từ khi có Luật Đất đai năm 2003 và Luật Bảo về và Phát triển rừng năm 2004. Đến nay có trên 500.000 hecta rừng, chủ yếu là rừng tự nhiên được giao cho cộng đồng quản lý và bảo vệ.
Nhiều mô hình hoạt động hiệu quả cao trong quản lý bảo vệ rừng, đem lại lợi ích thiết yếu cho cộng đồng về lâm sản, thu nhập cho các hộ gia đình và các lợi ích khác. Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn còn khiêm tốn so với mục tiêu 4 triệu ha rừng được quản lý bởi cộng đồng trong Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam 2006-2020.
Tại hội thảo, các đại biểu đã cho ý kiến về một số chính sách và thực tiễn về quyền lợi trong quản lý rừng cộng đồng, lâm nghiệp cộng đồng, thực trạng và khuyến nghị quản lý rừng cộng đồng ở Tây nguyên, trình bày các khuyến nghị cho các nhà làm luật và cơ quan thực thi chính sách... (Truyền Hình Quốc Hội 28/8) đầu trang(
Lợi ích việc chuyển đổi nông - lâm trường quốc doanh thành công ty cổ phần không rõ ràng, quyền lợi của người lao động không được đảm bảo, hàng triệu héc-ta đất nông - lâm nghiệp “tồn kho” không được quản lý và sử dụng hiệu quả... là vài nét phác thảo về thực trạng của các nông, lâm trường quốc doanh thời gian qua.
Tham gia chất vấn Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát và Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang tại phiên giải trình việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng đất tại các nông, lâm trường quốc doanh 2004 - 2014 tại Hội trường Ba Đình hôm qua (27/8), đại biểu Chu Sơn Hà (TP. Hà Nội) nhấn mạnh, việc buông lỏng quản lý đất đai diễn ra trong nhiều năm và vẫn tiếp diễn đến giờ.
“Xã Ba Vì (TP. Hà Nội) có 2.000 cử tri, 100% là đồng bào dân tộc Dao. Đi giám sát, tôi rất đau lòng khi biết đồng bào không có đất sản xuất, phải sang làm thuê ở Trung Quốc, đối mặt với rất nhiều rủi ro. Theo trả lời của Bộ trưởng, có 2,1 triệu ha đất nông, lâm nghiệp ở xa dân, đất sỏi đá nên dân không nhận sản xuất. Nhưng tôi thấy, đất ven vùng đệm của Rừng Quốc gia Ba Vì lại giao cho các cá nhân, tổ chức ở nơi khác đến để bảo vệ rừng, chứ không giao cho đơn vị sở tại”, đại biểu Chu Sơn Hà nêu vấn đề.
Là người trực tiếp tham gia Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng đất tại các nông, lâm trường quốc doanh 2004 - 2014, đại biểu Quốc hội Nguyễn Tiến Sinh (tỉnh Hòa Bình) bức xúc với tình trạng quản lý, sử dụng đất tại các nông, lâm trường quốc doanh những năm vừa qua, đặc biệt là tình trạng thất thoát quỹ đất, tài sản của Nhà nước khá nghiêm trọng trong quá trình chuyển đổi.
Ông Sinh cho biết, Đoàn giám sát đã đến Công ty Chè Mộc Châu (tỉnh Sơn La), hỏi ra mới biết công ty này đã chuyển đổi thành công ty cổ phần, Nhà nước không giữ cổ phần nào. Khi cổ phần hóa, ngân sách thu về trên dưới 1 tỷ đồng. Năm 2014, công ty này nộp khoảng 2,4 tỷ đồng vào ngân sách trong khi quản lý khoảng 4.800 ha đất.
“Trước đây, các công nhân nông trường nhận khoán đất của Nhà nước, thì sau khi cổ phần hóa chuyển sang nhận khoán của một công ty tư nhân. Mỗi năm, các công nhân phải trả cho công ty này 2,8 triệu đồng cho mỗi ha đất nhận khoán. Vậy thì khi chuyển đổi, người dân được gì, Nhà nước được gì là không rõ ràng, không những không được mà còn mất đi”, đại biểu Nguyễn Tiến Sinh nói.
Về đất nông, lâm nghiệp giao UBND các xã quản lý, đại biểu Đỗ Văn Đương (TP.HCM) chỉ ra thực trạng đáng buồn là, trong số 13 triệu ha rừng hiện nay, số rừng giao trực tiếp cho các hộ gia đình chỉ chiếm 26%, cộng đồng quản lý 2%. UBND cấp xã không phải là đơn vị được giao quản lý đất rừng, nhưng lại đang quản lý khoảng 2,1 triệu ha, trong khi nhiều hộ dân không có đất sản xuất. “Việc giao đất rừng như vậy theo luật đã đúng chưa? Trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đến đâu? Giải pháp khắc phục tình trạng này?”, đại biểu Đỗ Văn Đương đặt câu hỏi.
Báo cáo giải trình với các thành viên Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát lý giải, lo ngại của đại biểu về tình trạng thất thoát tài sản nhà nước là đất đai trong quá trình cổ phần hóa nông, lâm trường quốc doanh là phải cân nhắc kỹ, vì việc cổ phần hóa chỉ thực hiện với các tài sản trên đất. Về nguyên tắc, đất đai là tài sản nhà nước, tuy nhiên, Bộ trưởng Cao Đức Phát thừa nhận có tình trạng sử dụng, cho thuê đất một cách tùy tiện và hứa, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ xem xét, chấn chỉnh.
Về việc vì sao có 2,1 triệu ha đất nông nghiệp do UBND xã quản lý mà không giao cho dân, Bộ trưởng Cao Đức Phát lý giải, đó là những khu vực đất ở xa dân, không thuận tiện sản xuất hoặc là đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Trên thực tế giao cho dân để sản xuất thì hiệu quả thấp vì đất xấu, xa dân. Vì thế, không giao được cho tổ chức của Nhà nước nào và cũng chưa giao cho dân, nên UBND cấp xã phải tạm thời quản lý.
Một vấn đề khác mà Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng chỉ ra tại phiên giải trình này là hiệu quả kinh tế của việc chuyển đổi các nông, lâm trường quốc doanh thành công ty cổ phần không rõ nét, phát sinh những hậu quả nặng nề.
“Lâm trường Văn Chấn (tỉnh Yên Bái) 10 năm nay không có giám đốc, mấy năm nay sống lay lắt bằng tiền dịch vụ môi trường rừng và 3 tháng nay chả có đồng nào, không có gì trả cho người lao động. Chúng tôi đi giám sát về cứ buồn mãi”, đại biểu Nguyễn Tiến Sinh (tỉnh Hòa Bình) nói. (Đầu Tư 28/8) đầu trang(
Phát triển nhân rộng là điều khuyến khích. Song, cần có những bước đi thận trọng với quy hoạch và chiến lược cụ thể, tránh tình trạng nông dân trồng tự phát rồi lại chặt bỏ.
Trong khi cả nhà quản lý và người nông dân vẫn đang còn loay hoay với bài toán "trồng cây gì, nuôi con gì” thì vào những năm đầu thế kỷ 21, đoàn công tác của nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn đã mang một giống cây mới - giống cây mắc ca từ Úc về để trồng thử nghiệm tại Việt Nam. Theo các chuyên gia nông nghiệp, đây là loại cây không thể không đầu tư và phát triển ở Việt Nam.
Với những ưu điểm về giá trị kinh tế cao, đặc biệt phù hợp với địa lý, thổ nhưỡng ở Việt Nam, ít sâu bệnh…, giới chuyên gia cho rằng, đây sẽ là một trong những loại cây góp phần xóa đói giảm nghèo cho các hộ nông dân Việt Nam. Một cây mắc ca có thể cho tới 70 kg hạt và với giá hiện khoảng 15 USD/kg hạt thì chỉ cần 10 năm để phát triển 100.000 ha, chúng ta có thể đạt được kim ngạch 1 tỷ USD xuất khẩu mắc-ca, đó là nhận định của những người đem giống cây này từ Úc về Việt Nam.
Và trên thực tế, sau hơn 10 năm loại cây này được trồng thử nghiệm tại một số địa phương thuộc các tỉnh miền Tây Bắc, Tây Nguyên, những lợi ích mà nó mang lại là khá rõ ràng.
Công ty Cổ phần Macca (Macadamia) Điện Biên là một trong những đơn vị trực tiếp trồng thử nghiệm loại cây này. Trong năm 2012 và 2013, công ty đã trồng thí điểm và mở rộng diện tích được trên 57 ha tại tại nhiều địa phương trong tỉnh. Đặc biệt, nhiều nông dân trực tiếp hợp tác với công ty trồng loại cây này đã đánh giá, đây là loại cây rất phù hợp với khí hậu miền núi, đặc biệt khác với các loại cây trồng khác, mắc ca ít xuất hiện sâu bệnh, điều mà người nông dân lo lắng nhất mỗi khi xác định trồng cây gì, nuôi con gì.
Nhiều chuyên gia ngành nông nghiệp cho rằng, Việt Nam hội tụ đầy đủ các yếu tố để phát triển cây mắc ca thành một ngành kinh tế mới với tiềm năng vô cùng to lớn. Và nếu như nhìn một cách khách quan, cây mắc ca sẽ mang lại giá trị kinh tế lớn không thua kém gì các loại cây trong danh sách "tỷ đô” như cà phê, ca cao đang được trồng rộng khắp hiện nay. Thậm chí nó còn có giá trị kinh tế cao hơn cà phê vì lợi nhuận lớn hơn, còn chi phí đầu vào cũng "dễ thở” hơn.
Hiện nay, quả mắc ca có giá từ 250.000 - 300.000 đồng/kg và chủ yếu để sử dụng làm giống. Theo tính toán của giới chuyên gia, 1ha mắc ca trồng khoảng 360 cây, sau 3 năm trồng cây đã cho bói quả và cho thu hoạch ổn định bắt đầu từ năm thứ 5 trở đi. Trung bình cây mắc ca 9 năm tuổi sẽ cho thu hoạch 5 tấn quả.
Như vậy, chỉ cần quả có giá bán 120.000 đồng/kg, thì 1ha mắc ca đã cho thu khoảng 600 triệu đồng, cao gấp 6-7 lần so với thu nhập từ cây cà phê. Trong khi chi phí cho phân bón và chăm sóc mắc ca thấp hơn đầu tư trồng cà phê. Chính vì vậy, nếu trồng xen cà phê và mắc ca sẽ cho hiệu quả kinh tế rất cao.
Nhận thấy tiềm năng và giá trị của cây mắc ca, Chính phủ cũng đang hướng tới mục tiêu nhân rộng phát triển diện tích trồng loại cây này, tập trung cho vùng Tây Bắc và Tây Nguyên, góp phần tăng thu nhập cho người dân nơi đây.
Và để khuyến khích nông dân đầu tư, doanh nghiệp nhân rộng loại cây quý này, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 210/2013/NĐ-CP về chính sách khuyến khích DN đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trong đó nhấn mạnh: "Các dự án trồng cây mắc-ca có quy mô từ 50 héc ta trở lên được ngân sách nhà nước hỗ trợ 15 triệu đồng/héc ta để xây dựng đồng ruộng, cây giống; hỗ trợ xây dựng cơ sở sản xuất giống cây mắc ca quy mô 500.000 cây giống/năm trở lên, mức hỗ trợ tối đa là 70% chi phí đầu tư/cơ sở”.
Tuy nhiên, do đây là một loại cây trồng mới nên cả DN và người nông dân còn đang rất e dè. Số DN tham gia đầu tư trực tiếp vào loại sản phẩm này cũng khá rải rác, thưa thớt. Có thể điểm ra đây một số doanh nghiệp như công ty Cổ phần Vinamaca, IDT Group, gần nhất là Lienviet Postbank cũng công bố đề án 10.000 tỷ đồng đầu tư vào mắc ca. Như vậy, có thể thấy, số doanh nghiệp tham gia đầu tư vào loại cây trồng này khá khiêm tốn.
Tại một cuộc hội thảo liên quan đến vấn đề phát triển loại cây được kỳ vọng là "cây tỷ đô” diễn ra mới đây, nhiều ý kiến cho rằng đây là một lĩnh vực đầu tư đột phá cần phải nhanh chóng triển khai.
Dẫu vậy, vẫn còn ý kiến cho rằng, với những đặc tính ưu việt của mắc ca, phát triển nhân rộng là điều nên khuyến khích. Song, cũng cần phải có những bước đi thận trọng với quy hoạch và chiến lược cụ thể, để tránh tình trạng nông dân trồng tự phát rồi lại chặt bỏ đã từng xảy ra như đối với cây cà phê, ca-cao. (Tầm Nhìn 26/8) đầu trang(
Ít có loại cây trồng nào gây sốt dư luận nước ta như cây mắc ca, không phải do những mỹ từ như “nữ hoàng mắc ca”, hay “hoàng hậu quả khô” ai đó khéo đặt, mà là những băn khoăn về tầm quan trọng của nó trong nền nông nghiệp, khi nhiều loại cây công nghiệp lâu năm đồng loạt rơi vào tình trạng khó khăn.
Trong “cơn sốt” ca ngợi cây mắc ca về giá trị kinh tế, ưu thế ít rủi ro, dễ trồng…, thậm chí năm ngoái có vị lãnh đạo đã nói rằng mắc ca sẽ giúp “giá trị GDP nông nghiệp tăng lên 100 tỉ đô la Mỹ thay vì 20 tỉ như hiện nay”, và kêu gọi “chính sách đất đai có giải pháp đột phá, phát huy 100% hiệu quả của khoa học, thay đổi cục diện của ngành nông nghiệp” để phát triển mắc ca.
Mặc dù vậy, với vai trò của người cầm trịch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lại vừa khẳng định, từ nay đến năm 2020, mắc ca chỉ nên hướng tới diện tích khoảng 10.000 héc ta.
Cho dù bức tranh mắc ca thế giới cho đến nay vẫn còn rất nhiều “bí ẩn”, nhưng cũng đã hé lộ không ít lý do có lẽ đủ tin cậy để cẩn trọng như vậy.
Thứ nhất, nếu như người Úc với trình độ khoa học - kỹ thuật tiên tiến chắc cũng đã rất cẩn trọng trong việc lựa chọn những địa bàn có thổ nhưỡng và khí hậu thích hợp với cây mắc ca, thì chắc chắn chỉ có thời tiết đỏng đảnh là kẻ làm hại nông dân trồng loại cây này của họ.
Các số liệu thống kê của Hiệp hội Mắc ca Úc trong gần ba thập kỷ qua cho thấy, sản lượng mắc ca của nước này biến động rất thất thường.
Đó là, trong những năm cuối của thế kỷ trước, sản lượng mắc ca năm sau so với năm trước chỉ giảm trong hai năm 1991 và 1995, nhưng từ năm 2000 trở lại đây thì có tới chín năm giảm, đặc biệt là trong đó có hai năm “rơi tự do” 18,8% (2005) và 19,7% (2011) và bốn năm khác có tỷ lệ giảm hai con số.
Không những vậy, nếu so với kỷ lục 43.900 tấn năm 2006, thì sản lượng năm 2014 của nước này vẫn còn thấp hơn, tức là thực chất đã có tám năm liên tục thoái trào.
Câu hỏi đặt ra ở đây là, liệu “vòng xoáy trồng - chặt” cây mắc ca ở nước này có xảy ra như “cơm bữa” đối với không ít cây trồng như ở nước ta hay không? Câu trả lời là cũng có thể, nhưng chắc chắn chỉ ở quy mô nhỏ, chứ không thể làm tăng và giảm “sốc” nhiều như vậy được, bởi đó là loại cây trồng có tuổi thọ ngang với con người, có thời gian chờ để được thu hoạch rất dài và chi phí đầu tư không hề nhỏ, cho nên không thể năm nay trồng, sang năm đã chặt, rồi năm sau lại trồng được.
Thứ hai, nếu có gì đó còn nghi ngờ thực trạng nói trên ở Úc, thì thực trạng sản xuất mắc ca ở Mỹ trồi sụt thất thường có thể chứng minh rất rõ điều đó.
Các số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp Mỹ cho thấy, diện tích mắc ca trong những năm cuối của thế kỷ trước tuy tăng, nhưng không tăng sốc, rồi ổn định trong khoảng 7.600-7.800 héc ta. Sau đó, diện tích này giảm xuống chỉ còn 7.200 héc ta vào năm 2000 và ổn định cho tới năm 2005. Tuy nhiên, diện tích mắc ca lại giảm mạnh lần thứ hai vào năm 2006 và ổn định ở mức 6.100 héc ta cho đến năm 2012 và năm 2013 mới tăng trở lại.
Do vậy, sự trồi sụt liên tục của sản lượng mắc ca trong từng giai đoạn này chỉ có thể là do tác nhân thời tiết.
Trong đó, nhìn trên số liệu thống kê, tiêu biểu nhất là mức giảm 7.700 tấn năm 2007, tương ứng với tỷ lệ “rơi” 29,3% do năng suất giảm 0,52 tấn/héc ta, tương ứng với tỷ lệ giảm kỷ lục 29,5%, và ngược lại, sản lượng năm 2008 lại tăng vọt 4.100 tấn và 22%.
Rõ ràng, những biến thiên ngược chiều nhau này trong cùng điều kiện diện tích không thay đổi ở mức gần 6.100 héc ta chỉ có thể là mắc ca được mùa, rồi lại mất mùa do sự thay đổi của thời tiết, chứ không thể là do thổ nhưỡng, hoặc do sự trái ngược nhau trong việc đầu tư chăm sóc của nông dân.
Không những vậy, điển hình hơn nữa lại là trường hợp diện tích giảm hơn 1.200 héc ta năm 2006, tương ứng với tỷ lệ giảm 16,7%, năm ghi dấu mốc diện tích giảm mạnh lần thứ hai, nhưng do năng suất tăng vọt 0,39 tấn/héc ta, tương ứng với tỷ lệ tăng kỷ lục 29%, cho nên sản lượng vẫn tăng mạnh 1.800 tấn, tương ứng với tỷ lệ tăng 7,4%.
Tất cả những điều nói trên có nghĩa là, mắc ca không phải là loại cây “miễn dịch” với những biến đổi của thời tiết, mà ngược lại, rất nhạy cảm. Trong đó, do mắc ca là loại cây chịu hạn rất tốt, cho nên thủ phạm còn lại chính là nhiệt độ diễn biến thất thường, không phù hợp.
Thực trạng đó cũng có nghĩa là, mặc dù các loại “cây tỉ đô” truyền thống của chúng ta cũng chịu tác động bởi khí hậu như cà phê, điều, tiêu, cao su, nhưng “cây tỉ đô” mà chúng ta kỳ vọng tuy chịu đất xấu, chịu rét, nhưng có lẽ còn chịu tác động của khí hậu nhiều hơn.
Thứ ba, chính từ những thực trạng đó, các số liệu thống kê của hai tổ chức nói trên cho thấy, hiệu quả kinh tế mà mỗi héc ta mắc ca của hai nước này thấp quá xa so với những gì được nói về mắc ca.
Cụ thể, theo công bố vừa mới đây của Hiệp hội Mắc ca Úc, với 17.000 héc ta, nước này sản xuất được 40.000 tấn mắc ca thô (nut in shell) với giá 3,2 đô la Mỹ/ki lô gam, thì giá trị sản xuất của mỗi héc ta mắc ca chỉ đạt 7.530 đô la Mỹ/năm.
Trong khi đó, các số liệu thống kê mà Bộ Nông nghiệp Mỹ đã công khai hàng năm còn thấp hơn rất nhiều. Đó là, nếu như giá trị sản xuất mỗi héc ta mắc ca năm 2011 đạt đỉnh cũng chỉ gần 6.400 đô la Mỹ, nhưng năm 2012 giảm rất mạnh xuống chỉ còn gần 5.800 đô la Mỹ và năm 2013 tiếp tục giảm xuống còn hơn 5.500 đô la Mỹ, còn nếu tính bình quân trong hơn ba thập kỷ qua thì chỉ đạt gần 5.300 đô la Mỹ/héc ta.
Tất cả những điều nói trên cho thấy, tuy cây hồ tiêu là loại cây nổi tiếng rủi ro trong nhóm các cây công nghiệp truyền thống của nước ta, nhưng mức độ rủi ro của cây mắc ca ở hai quốc gia sản xuất hàng đầu thế giới còn cao hơn rất nhiều, còn hiệu quả kinh tế của nó cũng thấp không kém, cho dù họ đều có thị trường tiêu thụ có lẽ không thể thuận lợi hơn.
Do vậy, mục tiêu doanh thu hàng tỉ đô la Mỹ từ mắc ca giúp xoay chuyển cục diện nền nông nghiệp nước ta có lẽ là quá xa vời. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 28/8) đầu trang(
Ngày 29/8, Trung tâm Công tác xã hội Thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh, Công ty ATZ Healthy Life đã khởi động Chương trình tình nguyện “Hành động cho Hành tinh xanh” bằng việc trồng 300 cây cóc trắng tại Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương trình tình nguyện “Hành động cho Hành tinh xanh” là chuỗi các hoạt động bảo vệ môi trường được thực hiện trên địa bàn Thành phố và các tỉnh lân cận, trong đó nội dung trọng tâm là trồng cây xanh và thực hiện chương trình “Công viên không rác”.Chương trình được triển khai từ nay đến năm 2020 với nhiều hoạt động ý nghĩa nhằm kêu gọi mọi người chung tay bảo vệ môi trường, vì một hành tinh xanh.
Cụ thể, sẽ trồng thêm 50.000 cây xanh trên địa bàn Thành phố và một số tỉnh lân cận; thực hiện chương trình "Công viên không rác" tại các công viên trung tâm Thành phố, các tình nguyện viên sẽ dọn dẹp vệ sinh, nhặt rác tại các công viên; đồng thời, tuyên truyền, vận động người dân giữ gìn vệ sinh, không xả rác bữa bãi, gây mất mỹ quan đô thị.Theo Ban tổ chức, Chương trình tình nguyện “Hành động cho Hành tinh xanh” góp phần tạo mảng xanh mang lại không khí trong lành cho người dân, góp sức ứng phó với biến đổi khí hậu; nhằm tuyên truyền nâng cao ý thức người dân trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng, bảo vệ thiên nhiên, góp phần đa dạng các loài, chủng loại sinh vật hiện có tại khu bảo tồn.
Các hoạt động của Chương trình góp phần thực hiện các yêu cầu cấp bách về bảo vệ môi trường trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. (Vietnam + 29/8) đầu trang(
Tỉnh Quảng Trị đã đi đúng hướng và đạt kết quả tốt trong quá trình thực hiện tái cơ cấu ngành lâm nghiệp. Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Hà Công Tuấn đánh giá đây là mô hình điểm, đi đầu trong cả nước.
I. Tỉnh Quảng Trị có tổng diện tích tự nhiên hơn 473 ngàn ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp, kể cả diện tích có rừng chiếm gần 300 ngàn ha. Vì vậy, lâm nghiệp chiếm một vị trí rất quan trọng về tài nguyên thiên nhiên.
Tuy nhiên, trước đây ngành lâm nghiệp chỉ có khối lượng sản phẩm gỗ thô từ khai thác rừng tự nhiên, rừng trồng giá trị thấp, hiệu quả sử dụng đất đai, tài nguyên chưa cao.
Trước thực trạng trên, tỉnh Quảng Trị đã xây dựng Đề án tái cơ cấu (TCC) ngành nông nghiệp với định hướng tiếp tục chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH- HĐH nhằm phát huy lợi thế tiềm năng tài nguyên đất đai và nguồn lực lao động địa phương.
Đặc biệt, lĩnh vực lâm nghiệp được xác định TCC theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, tập trung vào ba nội dung chính để từng bước thay đổi toàn diện kết cấu của ngành theo hướng hội nhập, phát triển sâu rộng trên thị trường quốc tế.
Một là thị trường đầu ra với giá cả hợp lý luôn là yếu tố hàng đầu trong tiêu thụ sản phẩm lâm nghiệp, là động lực thúc đẩy lâm nghiệp phát triển.
Vì vậy, phải phân tích được lợi thế cạnh tranh và phân khúc thị trường tiêu thụ sản phẩm lâm nghiệp ngoài thị trường nội địa với những quốc gia, khu vực đang sản xuất cùng một hàng hóa như mình.
Trong vấn đề thị trường, muốn giúp nông dân bán được sản phẩm thì DN phải đi đầu. Giúp người dân để không phải bán sản phẩm gỗ rừng và lâm đặc sản từ rừng qua trung gian trong nước và quốc tế mà phải tham gia ký kết ổn định vào chuỗi thị trường phân phối quốc tế.
Phải luôn chủ động cập nhật đầy đủ thông tin về giá cả thị trường, hướng dẫn DN, nhóm hộ trồng rừng tham gia đàm phán, liên kết với các hiệp hội, ngành hàng tạo thế đứng vững chắc trên thị trường trong nước và quốc tế.
Tất cả các sản phẩm xuất khẩu phải có chứng chỉ FSC quản lý rừng bền vững. Bền vững về kinh tế, bền vững xã hội, bền vững môi trường.
Hai là phải quyết liệt hơn nữa việc ứng dụng khoa học- công nghệ(KHCN) vào sản xuất. Những thay đổi về quản lý, KHCN và mở cửa thị trường cần tiến hành ngay bằng việc làm cụ thể.
Với KHCN cần tạo ra tập đoàn giống cây trồng có chất lượng cao phục vụ trồng rừng gỗ lớn, năng suất hơn 200 m3 gỗ/ha, như các nước Indonesia, Malaysia, Thái Lan.
Thay đổi hệ thống máy móc lạc hậu, khuyến khích DN chú trọng đầu tư dây chuyền công nghệ hiện đại, chế biến chuyên sâu sản phẩm từ gỗ chất lượng cao, tiết kiệm tối đa nguồn nguyên liệu, đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng, tạo ra giá trị gia tăng cao, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho những người làm nghề rừng.
Ba là phải thay đổi về tổ chức sản xuất từ nhỏ lẻ sang liên kết. Đã TCC là thay đổi toàn diện về kết cấu, có nghĩa là thay đổi căn bản về bản chất của ngành lâm nghiệp. Từ thụ động, mạnh ai nấy làm, trồng rừng manh mún theo kiểu truyền thống, suất đầu tư thấp, chuyển sang trồng rừng công nghệ cao, liên doanh liên kết.
Trồng rừng theo các nhóm hộ, HTX, các C ty lâm nghiệp, các ban quản lý rừng đều tuân thủ theo quy hoạch, đầu tư thâm canh từ khâu làm đất, ươm tạo cây giống, bảo vệ phòng chống thiên tai dịch bệnh. Rút ngắn chu kỳ kinh doanh, đưa năng suất chất lượng tăng cao.
Nhờ vậy mà ngành lâm nghiệp tạo được thế đứng vững chắc, thu hút ngày càng nhiều hộ gia đình tham gia đăng ký nhận đất, khoán rừng. Những người làm lâm nghiệp đã có thu nhập cao, lợi nhuận của chu kỳ trồng rừng được tăng lên đáng kể.
Vì vậy, vấn đề cốt lõi là ngành lâm nghiệp phải chuyển từ sản xuất sản lượng nhiều sang giá trị chất lượng cao. Không chỉ sản xuất các mặt hàng ta có thể làm được mà chọn các mặt hàng thế giới cần nhất.
Không phải làm cái dễ nhất mà là làm cái mình có lợi thế cạnh tranh nhất. Sự thắng lợi của NM ván gỗ MDF VRG Quảng Trị về xuất khẩu gỗ ván ép ra thị trường thế giới là một ví dụ điển hình cho cách TCC lâm nghiệp đúng hướng nhất tại Quảng Trị.
Trong ba nội dung này không thể một sớm một chiều là làm được, không phải một mình Nhà nước, không chỉ riêng ngành lâm nghiệp, mà cần tới sự vào cuộc của toàn dân, toàn xã hội cùng quyết tâm cao.
II. Nhờ có được cơ sở khoa học và mạnh dạn áp dụng chuyển đổi, tận dụng tối đa mọi nguồn lực nên khi bắt tay vào TCC lâm nghiệp, Quảng Trị đã đi rất đúng hướng và đạt kết quả quan trọng, đã tạo được chuyển biến rõ rệt, tăng trưởng của ngành ngày càng vững chắc.
Công tác chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh cũng như sự vào cuộc của các sở, ban ngành và chính quyền địa phương luôn bám sát định hướng đóng góp quan trọng đối với vấn đề TCC lâm nghiệp tại Quảng Trị.
Điểm nhấn tạo đột phá trong TCC lâm nghiệp ở Quảng Trị là ưu tiên phát triển rừng được cấp chứng chỉ bền vững FSC để xuất khẩu, mà thị trường thế giới đang rất quan tâm.
Quảng Trị luôn quan tâm phát triển lâm nghiệp. Từ khi mới tái lập tỉnh năm 1989, độ che phủ của rừng chỉ đạt 19%, đến nay sau 26 năm đã lên đến 50%, bình quân mỗi năm tăng lên 1 đến 2%, cao hơn trung bình của cả nước.
Công tác bảo vệ và phát triển rừng ngày càng đi vào chiều sâu và nâng cao chất lượng. Quảng Trị tập trung thực hiện đổi mới các lâm trường quốc doanh theo tinh thần NQ 28 của Bộ Chính trị và NĐ 200 của Thủ tướng Chính phủ.
Rà soát quy hoạch và ban hành Nghị quyết về 3 loại rừng phù hợp với từng vùng, thành lập các BQL rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, chuyển đổi các lâm trường quốc doanh sang các Cty lâm nghiệp làm ăn hiệu quả.
Bức tranh lâm nghiệp Quảng Trị đã hình thành rõ với 3 loại rừng, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Đặc biệt mạnh dạn chuyển đổi một số diện tích rừng phòng hộ ít xung yếu sang rừng sản xuất kết hợp phòng hộ để phát triển KT-XH.
Các Cty lâm nghiệp và hộ gia đình hoặc nhóm hộ được giao đất sản xuất đã mạnh dạn đầu tư vốn trồng rừng. Từ chỗ rừng đơn thuần XĐGN, qua công tác khuyến nông và tuyên truyền vận động, người dân đã ý thức cao trong việc gắn phát triển sản xuất ,kinh doanh với quản lý rừng bền vững nhằm tạo ra sản phẩm rừng có giá trị kinh tế cao.
Phát triển lâm nghiệp với các khâu trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến, tiêu thụ xuất khẩu góp phần nâng cao giá trị và chất lượng nghề rừng có nghĩa là nâng cao giá trị SXNN, tạo thêm việc làm cho nông dân, giải quyết được vấn đề xã hội, từ đó góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.
Ba yếu tố này tác động tương hỗ lẫn nhau, khi giá trị kinh tế được tăng lên, chất lượng đời sống người nông dân được cải thiện, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Mô hình quản lý gắn kết rừng bền vững cấp chứng chỉ FSC được Quảng Trị khuyến khích các nhóm hộ gia đình và các Cty lâm nghiệp chủ động xây dựng, và Quảng Trị được WWF đánh giá là địa phương tiên phong của Việt Nam.
Trở lại vấn đề rừng FSC, nhờ sự giúp đỡ về mặt kỹ thuật và đào tạo tập huấn của WWF Việt Nam, SNV và các tổ chức quốc tế trong và ngoài nước, năm 2007, UBND tỉnh Quảng Trị chỉ đạo ngành lâm nghiệp tỉnh triển khai thực hiện mô hình quản lý rừng bền vững để cấp chứng chỉ FSC cho nhóm hộ gia đình nông dân đã tham gia dự án trồng rừng Việt- Đức tại địa bàn 2 xã Trung Sơn và Vĩnh Thuỷ thuộc các huyện Gio Linh và Vĩnh Linh.
Đến năm 2010, toàn bộ diện tích được đánh giá lần đầu tiên được tổ chức quốc tế GFA cấp chứng chỉ thời hạn 5 năm cho 118 hộ gia đình thuộc 5 thôn của hai xã trên. Cty Lâm nghiệp Bến Hải cũng được cấp chứng chỉ gần 10 ngàn ha. Đây là mô hình quản lý rừng bền vững đầu tiên của Việt Nam được cấp chứng chỉ FSC.
Tiếp đó, dự án tiếp tục được mở rộng đến nhiều địa phương với 17 nhóm hộ của 8 xã tham gia. Vào đầu tháng 7/2012, những nhóm hộ có chứng chỉ rừng FSC tại Quảng Trị đã được lập hội và tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ nhất.
Mới đây, Cty lâm nghiệp Đường 9 có hơn 5 ngàn ha rừng cũng được tổ chức quốc tế GFA đánh giá và cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững.
Hiện tại Quảng Trị có hơn 20 ngàn ha rừng trồng được cấp chứng chỉ FSC. UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành lâm nghiệp xây dựng phương án, phấn đấu đến năm 2020 đạt 100 ngàn ha rừng FSC để tham gia thị trường các bon tự nguyện.
Rừng FSC có lợi thế hơn rất nhiều so với các loại rừng trồng theo cách làm truyền thống. Ngoài việc đem đến nhiều lợi ích từ cải tạo môi trường, sinh thái bảo vệ đất, tăng thu nhập (rừng có chứng chỉ FSC giá gỗ bán cao hơn rừng không chứng chỉ từ 30 đến 50%), cải thiện đời sống cho nông dân trồng rừng, thì nhìn một tầm xa hơn, rừng FSC phù hợp với chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam.
Cụ thể, đến năm 2020 phải có 30% rừng trồng được cấp FSC. Khi rừng có chứng chỉ sẽ được xuất khẩu sang các thị trường đã có đạo luật Lacey và luật Flegt như Mỹ, Châu Âu... góp phần đáng kể cho kim ngạch xuất khẩu ngành gỗ trên cả nước và góp phần vào việc GDP tăng trưởng cao.
Hiện nay tỉnh Quảng Trị tập trung chỉ đạo ngành lâm nghiệp trồng mới mỗi năm từ 6 đến 7 ngàn ha rừng sản xuất và 1 ngàn ha rừng phòng hộ. Theo tính toán mỗi năm sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng Quảng Trị đạt hơn 500 ngàn m3, cung cấp đủ nguyên liệu cho các NM chế biến gỗ xuất khẩu.
III. Thực tế cho thấy tỉnh Quảng Trị đã trở thành mô hình điểm của cả nước về phát triển bền vững rừng FSC cũng như TCC lâm nghiệp.
Tuy nhiên, trong quá trình TCC lâm nghiệp vẫn còn nhiều vướng mắc cần được giải quyết bằng chính sách vĩ mô. Làm được điều này không chỉ giúp riêng cho Quảng Trị, mà còn giúp cho các địa phương khác trong cả nước đẩy nhanh quá trình TCC lâm nghiệp đạt kết quả tốt hơn nữa.
Thứ nhất, hiện tại trồng rừng FSC đòi hỏi có chu kỳ từ 9 đến 10 năm, rừng gỗ lớn 15 năm, trong khi đó trồng rừng truyền thống bán gỗ dăm chu kỳ chỉ cần 5 đến 6 năm.
Người trồng rừng đa số đang khó khăn về kinh tế nên có tình trạng lúc đầu hăng hái tham gia vào nhóm chứng chỉ rừng bền vững nhưng sau đó họ xin rút lui để khai thác rừng non bán cho băm dăm nguyên liệu gỗ giấy lấy tiền giải quyết nhu cầu bức thiết của gia đình.
Cùng với đó, chi phí thuê chuyên gia tổ chức đánh giá cấp chứng chỉ định kỳ hàng năm khá cao nên các hộ gia đình gặp khó khăn về kinh phí.
Trong lúc đó người dân khó tiếp cận các ngân hàng thương mại, chính sách vay vốn trồng rừng. Vì vậy, đề nghị Nhà nước cần có chính sách bảo lãnh tín dụng cho người trồng rừng FSC để họ có thêm điều kiện trồng rừng bền vững.
Thú hai, là thị trường giống cây phục vụ trồng rừng hiện nay chủ yếu là cây keo, nghèo về chủng loại và chất lượng. Vậy nên, cần đẩy mạnh ứng dụng KHCN, sớm tìm ra tập đoàn cây giống phục vụ trồng rừng có năng suất, chất lượng, giá trị kinh tế cao để sử dụng vào các chương trình trồng rừng gỗ lớn tạo nguyên liệu đa dạng cho nhu cầu thị trường chế biến gỗ xuất khẩu hiện nay.
Thứ ba, cần đẩy mạnh CPH các Cty lâm nghiệp để huy động nguồn vốn đa chủ sở hữu. Có chính sách vay vốn ưu đãi cao cho người lao động tại các Cty được mua cổ phần ưu đãi để ổn định đời sống, việc làm sau chuyển đổi.
Thứ tư, đề nghị Bộ NN-PTNT sớm ban hành bộ tiêu chí quản lý rừng bền vững của Việt Nam phù hợp với quốc tế để các địa phương có cơ sở tổ chức thực hiện.
Thứ năm về chính sách, đề nghị Chính phủ sớm ban hành các chính sách khuyến khích đầu tư trồng rừng, phát triển sản xuất, có chính sách phát triển công nghiệp chế biến gỗ từ rừng trồng, ưu đãi miễn thuế sử dụng đất đối với các dự án trồng rừng kinh doanh gỗ lớn và xây dựng thương hiệu đối với sản phẩm gỗ xuất khẩu, và có chính sách bảo hiểm rủi ro đối với loại hình kinh doanh này. (Nông Nghiệp Việt Nam 30/8) đầu trang(
Cây mắcca (Maccadamia) được đưa vào trồng tại tại Sơn La từ năm 2000 theo dự án trồng khảo nghiệm.
Sau 15 năm triển khai, tổng diện tích cây mắcca hiện khoảng 100ha tại các huyện Vân Hồ, Mộc Châu, Mai Sơn, Thuận Châu và thành phố Sơn La. Kết quả bước đầu cho thấy, cây sinh trưởng và phát triển khá, sản lượng quả tương đối cao.
Cây mắcca là loại cây trồng rừng chính được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quy định và hướng dẫn thực hiện (Quyết định 4961/QĐ-BNN-TCLN ngày 17/11/2014). Cây mắcca trồng tại Sơn La được các nhà chuyên môn đánh giá sinh trưởng và phát triển khá, thích hợp với thổ nhưỡng, điều kiện ở nhiều vùng tiểu khí hậu trong tỉnh, phù hợp với trình độ canh tác, điều kiện đất đai vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa.
Thông báo kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Sơn La số 2024-TB/TU ngày 21/4/2015 khẳng định, hiện một số mô hình trồng cây mắcca ở giai đoạn ổn định với sản lượng quả tương đối cao. Đây là loại cây trồng chịu được sương muối, chịu hạn, chịu đất bạc màu, ít sâu bệnh, có khả năng che tán nhiều loại cây và không ảnh hưởng đến việc phát triển các cây trồng hiện có.
Việc thực hiện trồng cây mắcca góp phần tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân, bảo đảm phát triển rừng bền vững. Cây mắcca trồng từ hạt sẽ bói quả sau 5-6 năm, đối với cây ghép thời gian ra quả chỉ sau 2-3 năm, độ dốc không ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây.
Tại Sơn La cây giống mắcca đã được nhiều đơn vị, hộ gia đình ươm tạo, ghép, đảm bảo chất lượng, với đơn giá cây ghép từ 50.000-70.000 đồng. Địa phương hiện có 5 đơn vị trồng khảo nghiệm cây mắcca.
Theo đánh giá của Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Sơn La, diện tích được trồng bằng phương pháp cây ghép sau 3 năm đã bắt đầu ra hoa, bói quả. Sản lượng bình quân đạt 3-4 kg quả/cây. Đối với diện tích trồng bằng cây thực sinh (cây ươm từ hạt) sau 5-8 năm mới bắt đầu ra hoa và cho bói quả, sản lượng bình quân 3-4 kg quả/cây.
Quá trình chăm sóc cây mắcca cần có chế độ tưới nước, phân bón cho cây trồng vào thời kỳ ra hoa và có xuất hiện gió Lào (gió Tây Nam khô nóng).
Ông Đào Văn Hạnh, Phó Giám đốc Sở Lao động thương binh và Xã hội tỉnh Sơn La, Giám đốc Trung tâm giáo dục lao động tỉnh Sơn La, cho biết, Trung tâm đã trồng khảo nghiệm 1 ha từ năm 2003, nhận thấy cây phát triển tốt.
Năm 2014, Trung tâm tiếp tục trồng mới 10ha theo mô hình thâm canh giống ghép (nguồn giống OC, 246, 849, 816). Trung tâm đang xây dựng mô hình nhân giống cây mắcca bằng phương pháp ghép cành với diện tích 5.000m2, công suất 20.000 cây giống/năm. Theo đó cung cấp giống đạt tiêu chuẩn chất lượng và kỹ thuật trồng thâm canh cây mắcca cho các đơn vị, hộ gia đình.
Theo ông Vũ Đức Thuận, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Sơn La, sau gần 15 năm cây mắcca được trồng thử nghiệm, bước đầu đã cho kết quả khả quan, cây sinh trưởng và phát triển khá.
Loại cây này có thể phát triển tốt trên diện tích đất trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, đất vườn tạp trên địa bàn tỉnh, thích nghi với phương thức trồng phân tán, trồng giao xen với các loài cây công nghiệp, cây ăn quả như càphê, chè.
Theo số liệu của Viện Điều tra quy hoạch rừng - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sơn La cũng như các tỉnh Tây Bắc là địa phương có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng khá thuận lợi đối với phát triển cây mắcca. Tại vùng Tây Bắc, diện tích tiềm năng trồng cây mắcca khoảng trên 58.000ha.
Để phát triển trồng cây mắcca trong năm 2015 và những năm tiếp theo, tỉnh Sơn La đang triển khai đánh giá các vùng cụ thể phù hợp trồng mắcca. Địa phương tìm kiếm nhà đầu tư có thế mạnh trong việc trồng, chế biến, tiêu thụ sản phẩm từ cây mắcca. Tỉnh cũng khuyến các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế cùng các hộ nông dân tham gia trồng, chế biến, tiêu thụ các sản phẩm từ cây mắcca, đồng thời có chính sách hỗ trợ phát triển cây trồng này.
Ủy ban Nhân dân tỉnh Sơn La đang khuyến khích người dân trồng xen cây mắcca trên diện tích cây cà phê, nương chè, cây ăn quả, vườn tạp và trên diện tích đất rừng nghèo kiệt. Đồng thời, chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các cơ sở sản xuất giống nhằm cung cấp giống đảm bảo chất lượng có kiểm soát trên địa bàn tỉnh Sơn La.
Theo tài liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, mắcca được trồng nhiều ở Australia, Thái Lan, Trung Quốc. Nhân quả mắcca được đánh giá là loại hạt có hàm lượng dinh dưỡng đứng đầu trong các loại hạt, được sử dụng làm bánh kẹo cao cấp, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng…
Ngoài ra, vỏ quả mắcca được dùng làm chất đốt, phân bón, chất bồi. Dầu chiết xuất từ nhân hạt mắcca dùng trong nhiều ngành công nghiệp, làm thức ăn chăn nuôi và dầu ăn. Trung bình trồng khoảng 360 cây/ha, đến thời điểm 7 năm tuổi cây mắcca bắt đầu có quả và cho thu hoạch. Đến năm thứ 9, sản lượng cho thu hoạch đạt khoảng 5 tấn quả/ha, với giá chỉ cần từ 100.000-120.000 đồng/kg quả tươi như giá bán hiện nay, trừ chi phí thu được trên dưới 600 triệu đồng. (Vietnam + 29/8) đầu trang(
Ngày 28-8, tại An Giang, Tổ chức GIZ phối hợp với Bộ NN&PTNT, 5 tỉnh ĐBSCL tổ chức sơ kết chương trình Bảo vệ tổng hợp vùng ven biển và rừng ngập mặn ĐBSCL nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu (gọi tắt là ICMP) giai đoạn 1 và họp Ban điều hành để triển khai thực hiện giai đoạn 2.
Theo báo cáo, ICMP giai đoạn 2 được triển khai từ năm 2015 – 2018 với mục tiêu là nâng cao năng lực thể chế, tài chính và lập kế hoạch để thúc đẩy phát triển vùng ĐBSCL có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu cho các lĩnh vực: Tái sinh rừng ngập mặn, bảo vệ rừng ven biển, gây dựng các cơ hội tạo cơ hội thông qua thực hiện canh tác.
Dự án do Tổ chức GIZ, Ban Quản lý các Dự án Lâm nghiệp thuộc Bộ NN-PTNT và Sở NN-PTNT 5 tỉnh: An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Sóc Trăng cùng thực hiện cho đến tháng 8-2017. Tổng ngân sách chương trình là 8,8 triệu Euro (tương đương 209 tỷ 440 triệu đồng), trong đó Chính phủ Đức là 4,5 triệu Euro, Chính phủ Úc 3,5 triệu Euro và Chính phủ Việt Nam là 800.000 Euro.
Hoạt động của giai đoạn này là tiếp tục hỗ trợ xây dựng và thí điểm chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, đồng quản lý rừng; xây dựng hệ thống thông tin ngành thủy sản, quy chế quản lý vùng Tứ giác Long Xuyên, nhân rộng các mô hình nuôi trồng thủy sản bền vững; hỗ trợ xây dựng các đới bờ Việt Nam; hỗ trợ lồng ghép vấn đề thích ứng với biến đổi khí hậu vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội các tỉnh… (Đại Đoàn Kết 28/8) đầu trang(
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) cho biết trong 8 tháng đầu năm, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 141.000ha, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, trồng mới rừng sản xuất đạt 132.500ha, tăng 17,9% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, theo Bộ NN&PTNT, mức khoán thấp đã gây khó khăn trong công tác triển khai trồng rừng phòng hộ, đặc dụng: Diện tích rừng phòng hộ, đặc dụng trồng mới chỉ đạt 8.500ha, giảm 26,8% so với cùng kỳ năm trước.
Bộ NN&PTNT cũng đưa ra số liệu diện tích rừng bị chặt phá trong 8 tháng đầu năm là 464ha, giảm 9% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, thời tiết nắng nóng cục bộ nên tại một số tỉnh vùng núi phía Bắc và khu vực miền Trung vẫn còn xảy ra cháy rừng. Tính chung 8 tháng đầu năm, diện tích rừng bị cháy là 742ha (giảm 70,4%). (Công An Nhân Dân 30/8) đầu trang(
Theo báo cáo trong phiên giải trình “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất tại các nông, lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004-2014” của Đoàn Giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sau một thời gian dài sắp xếp, đổi mới nông-lâm trường quốc doanh, công tác quản lý đất đai của một số công ty nông lâm nghiệp còn nhiều bất cập, nhất là tình trạng giao khoán, lấn chiếm và chuyển đổi đất nông nghiệp.
Riêng tại tỉnh Nghệ An, việc giao khoán, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp phổ biến này đã khiến một số nông trường (nay là xí nghiệp chè) không quản lý được diện tích Nhà nước giao, dẫn tới tình trạng hoang hóa đất đai, hoạt động lay lắt vì thiếu nguyên liệu sản xuất.
Ông Phan Đình Hà, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Thanh Chương - một trong những huyện có vùng chè nổi tiếng nhất nhì của tỉnh Nghệ An - cho biết, hiện nay trên địa bàn có 3 xí nghiệp chè được chuyển đổi từ các nông trường chè trước đây, đó là xí nghiệp chè Ngọc Lâm (với diện tích 284,4 ha), xí nghiệp chè Hạnh Lâm (1.950,78 ha), và xí nghiệp chè Thanh Mai (654,42 ha).
“Trong 3 xí nghiệp này, hiện có một xí nghiệp coi như đã 'chết hẳn' vì nhiều năm tê liệt hoạt động, một xí nghiệp 'ngắc ngoải', còn một xí nghiệp thì hoạt động lay lắt vì thiếu sản phẩm,” ông Hà nói.
Chứng thực cho những kết luận trên, ông Hà dẫn phóng viên VietnamPlus đi thăm các xí nghiệp chè đang hoạt động cầm chừng. Có mặt tại các xí nghiệp, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt phóng viên là văn phòng, các phân xưởng chế biến và dãy nhà cấp 4 cũ kỹ, tồi tàn như thể đã bị bỏ hoang từ nhiều năm trước.
Trong câu chuyện với khách, ông Phạm Ngọc Châu, Giám đốc xí nghiệp chè Hạnh Lâm cho biết, đến nay 600 ha đất tốt nhất của xí nghiệp đã được giao khoán cho công nhân và người dân trồng chè, còn lại hơn 1.300 ha hiện bỏ hoang (gồm: đất ao hồ, đất công trình, trường học, đường xá, thổ cư và những diện tích đất cằn cỗi không thể canh tác được).
Về phần đất đang trồng chè, ông Châu cho biết, trước đây khi giao khoán, nông trường ký hợp đồng với các hộ dân theo phương thức xí nghiệp cung cấp phân bón, giống, kỹ thuật và thu mua toàn bộ sản phẩm chè. Thế nhưng, từ nhiều năm nay, các hộ gia đình đầu tư toàn bộ, sản phẩm thì bán cho các cơ sở chế biến chè tư nhân ở bên ngoài. Vì vậy, xí nghiệp không thu mua được sản phẩm để chế biến.
“Trong phương án sắp xếp đổi mới, tới đây xí nghiệp dự định sẽ chỉ giữ lại 600 ha đất thích hợp với trồng chè, còn lại sẽ trả hơn 1.300 ha đất về cho chính quyền địa phương quản lý. Trước kia không phải nộp tiền thuê đất thì nên giữ, chứ sắp tới triển khai cổ phần hóa sẽ phải thuê đất từ Nhà nước. Vì thế, những diện tích đất nào để hoang hóa, không canh tác được chúng tôi sẽ trả hết cho địa phương”, ông Châu bày tỏ.
Cùng "sở hữu" vườn chè trên địa bàn huyện Thanh Chương, nhưng tình hình hoạt động của Xí nghiệp chè Thanh Mai còn bi đát hơn. Đến xí nghiệp này, khó ai có thể tưởng tượng được nơi đây đã có một thời “hoàng kim” của ngành chế biến chè Nghệ An, nhưng nay chỉ còn trơ lại một hệ thống nhà xưởng tồi tàn với dây chuyền máy móc cũ kỹ.Trò chuyện với chúng tôi, ông Trần Quốc Khánh, Giám đốc xí nghiệp chè Thanh Mai cho biết, trước đây nông trường có nhiệm vụ tạo ra vùng nguyên liệu chè, làm đầu tàu trung tâm kinh tế vùng. Về sau xóa bỏ bao cấp, toàn bộ diện tích đất được giao khoán, chuyển nhượng hết cho các hộ dân sản xuất. Tuy nhiên, do không có hợp đồng pháp lý ràng buộc với các hộ nhận giao khoán, nên xí nghiệp mua nguyên liệu giá cao thì bà con bán, mua giá thấp thì người dân nhập cho tư thương.
Bên cạnh đó, ven nông trường, hiện tượng chuyển nhượng trái phép đất đai, xây dựng nhà ở, công trình kiên cố cũng diễn ra khá phổ biến, nhưng xí nghiệp chè không thể xử lý sai phạm vì chỉ quản lý trên hình thức, không có chức năng quản lý Nhà nước."Giờ chúng tôi muốn tổ chức trồng chè để có nguyên liệu cho nhà máy hoạt động thì cũng chịu vì người dân đã lấn chiếm một phần lớn diện tích đất sản xuất,” ông Khánh ngậm ngùi.
Cũng theo ông Khánh, trước đây nông trường Thanh Mai hoạt động theo mô hình cấp xã, nên có đầy đủ chức năng của một chính quyền, có dân quân tự vệ, tư pháp, công an, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, đoàn thanh niên. Về sau, các tổ chức này bị loại bỏ hết, nên việc quản lý hộ tịch hộ khẩu và người dân đã được giao hết về cho chính quyền xã.
“Bây giờ nông trường muốn cưỡng chế thu hồi đất, muốn xử lý các hộ dân lấn chiếm đất trái phép thì không có người để thực thi và cũng không có quyền để xử phạt người dân vi phạm. Đây cũng là lý do khiến xí nghiệp chỉ tồn tại trên danh nghĩa, thực chất đã phải ngừng hoạt động từ lâu vì không có nguồn thu để trả lương cho cán bộ, công nhân viên,” ông Khánh nói.
Chia sẻ về kế hoạch sắp tới, ông Khánh bảo, mặc dù Nhà nước đang chỉ đạo tới đây sẽ quyết liệt cổ phần hóa, nhưng với thực tế xí nghiệp đang gặp phải thì việc cổ phần còn "khó hơn lên trời" vì tài sản ở đây chỉ có nhà xưởng tồi tàn đã hỏng gần hết. “Đất thì của nhà nước, không được đưa vào định giá để bán cổ phần, nên sẽ chẳng ai mua cổ phần của xí nghiệp,” ông Khánh phân trần.
Nhìn từ góc độ cơ quan quản lý, ông Phan Đình Hà, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Thanh Chương nhấn mạnh, đất đai là vấn đề “nóng” của các nông trường chè trên địa bàn huyện. Nhiều năm qua, việc chuyển nhượng, tranh chấp đất đai giữa doanh nghiệp và người dân diễn ra vô cùng phức tạp.
“Nói đúng ra là, người dân đã chiếm gần hết đất canh tác của các nông trường, trong khi quản lý đất này từ huyện, xã đến từng hộ dân vô cùng khó khăn,” ông Hà nói.
Vị Phó Chủ tịch này cũng khẳng định, quá trình các nông trường giao đất cho các hộ dân đều không thông qua chính quyền cấp huyện, cấp xã. Ngay như Đề án sắp xếp đổi mới lại các công ty nông lâm nghiệp đang xây dựng thì các công ty nông lâm nghiệp, họ cũng chỉ báo cáo trực tiếp với tỉnh, chứ Ủy ban nhân dân huyện không được tham gia.Về phần đất lấn chiếm, ông Hà nêu quan điểm: Nếu sau cổ phần hóa, diện tích đất nào giao cho các công ty thì cứ đúng pháp luật thực thi, huyện sẽ phối hợp yêu cầu các hộ dân phải trả lại đất cho lâm trường, kể cả phải áp dụng cưỡng chế. Tuy nhiên, việc thu hồi này cần xử lý hài hòa với tài sản mà người dân hiện có trên đất.
“Nếu nông trường và người dân ký lại hợp đồng giao khoán mới thì tốt. Riêng phần đất được nông trường và Ủy ban nhân dân tỉnh bàn giao về cho địa phương quản lý, thì chúng tôi sẽ có kế hoạch giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sự dụng đất cho từng hộ dân,” ông Hà nhấn mạnh.
Ông Hồ Viết An, Tổng giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đầu tư và phát triển chè Nghệ An cho biết, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 8 xí nghiệp chè đóng tại 4 huyện, thành phố. Tất cả các xí nghiệp này đều do công ty quản lý. Tuy nhiên, hoạt động của các xí nghiệp chè thời gian qua gặp rất nhiều khó khăn.
Thậm chí, một số xí nghiệp đến nay dường như chỉ tồn trại trên danh nghĩa, đóng cửa vì áp lực quản lý đất đai, áp lực thị trường. Đơn cử như các xí nghiệp chế biến chè Hạnh Lâm, Ngọc Lâm, Thanh Mai (huyện Thanh Chương). (Vietnam + 30/8) đầu trang(
Từ nhiều năm qua, DN chế biến gỗ đã có nhiều cơ hội để làm quen với các quy chế, quy định, luật lệ xuất nhập khẩu quốc tế.
Ngành chế biến gỗ Việt Nam với 4.000 doanh nghiệp (DN) và hơn 300.000 lao động đang đứng trước nhiều cơ hội, song cũng không ít thách thức khi các Hiệp định thương mại, Hiệp định đối tác tự nguyện được ký kết. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, phóng viên VOV phỏng vấn ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội gỗ và Lâm sản Việt Nam.
Chúng ta đang có khoảng 4.000 doanh nghiệp chế biến gỗ, nhưng chỉ có khoảng 1.000 doanh nghiệp trực tiếp xuất khẩu. Hiện doanh nghiệp của chúng ta đang thực hiện khá nhiều yêu cầu về chất lượng sản phẩm, hồ sơ pháp lý của các đối tác nước ngoài như EU, Mỹ, Nhật, Australia… mọi hoạt động xuất khẩu hiện vẫn khá suôn sẻ, bình thường.
Khi ký kết Hiệp định thì đương nhiên sẽ thêm thủ tục hành chính cho DN là cấp phép; rồi DN sẽ phải mất thời gian, tăng thêm chi phí. Đó là những điều mà không DN nào muốn, cho nên có tâm lý chưa muốn ký kết mà họ muốn yên ổn làm ăn như hiện nay.
Tuy nhiên, xét về bình diện lợi ích quốc gia, lợi ích phát triển lâu dài của cộng đồng DN chế biến xuất khẩu gỗ thì chúng ta đàm phán để ký VPA/FLEGT với EU có 3 lý do chính:
Thứ nhất: Xu thế của thế giới hiện nay hướng tới bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng, sử dụng gỗ hợp pháp, sử dụng gỗ bền vững. Đó là xu thế tất yếu không thể khác được. Mình không đi theo xu thế này sẽ lạc hậu, và đây là sáng kiến của EU là một sáng kiến tốt. Đó là xu thế tất yếu mình phải theo, DN dù không muốn cũng phải làm.
Thứ hai: Chúng tôi có nhiều kỳ vọng, nói xuất khẩu sang thị trường EU, nhưng hầu hết chỉ có 5 nước Đức, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Italy từ đó bán đi các nước khác cho nên giá trị kim ngạch còn thấp, chỉ bằng 10% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam. Năm 2014 xuất khẩu gỗ đạt 6,3 tỉ USD, vào EU chỉ 600 triệu USD. Chúng tôi kỳ vọng, nếu ký được hiệp định này, thị trường mở rộng với 28 nước, kim ngạch sẽ lên hàng tỉ USD mỗi năm.
Thứ ba: Việt Nam vừa là nước xuất khẩu vừa nhập khẩu, đã xuất khẩu, nhập khẩu thì có thể rủi ro rất lớn. Nhiều DN ở các quốc gia xuất khẩu đồ gỗ chưa có chứng chỉ FSC (chứng chỉ quản lý rừng bền vững), chưa có hiệp định đối tác tự nguyện (VPA), chưa có Hiệp định thương mại tự do (FTA) với EU thì rủi ro rất lớn.
Cho nên nếu tham gia VPA/FLEGT, Việt Nam có quyền lựa chọn những quốc gia nào có thể đáp ứng được, có thể bán hàng, mua hàng, lựa chọn thiết bị. Quan trọng hơn nữa, phía EU giúp mình về kỹ thuật để tìm kiếm các đối tác tốt hơn, có điều kiện phát triển tốt hơn, có luật lệ minh bạch hơn… Nhưng kỳ vọng quan trọng nữa là giá cả sản phẩm sẽ tăng lên, làm tăng doanh số cho DN.
DN của ta đã “thuộc bài”, đã làm quen nhiều với các quy chế, quy định, luật lệ quốc tế trong thời gian qua. Từ quy chế gỗ năm 2013 của EU, từ Đạo luật Lacey của Hoa Kỳ đến các yêu cầu khắt khe về chất lượng của Nhật Bản, của Australia. Nghĩa là đã “thạo” với luật lệ thị trường quốc tế.
Thực tế, các doanh nghiệp nước ngoài họ cũng thích làm việc với tác phong thạo việc như vậy. Ví dụ ở Bỉ, họ cũng yêu cầu không cần giấy tờ nhiều, miễn là gỗ hợp pháp và các đối tác đã quen cách làm việc, đã tin cậy nhau. Lâu nay lâu nay chúng ta vẫn đang đang thực hiện và đến nay vẫn chưa có một lô hàng gỗ nào bị đối tác trả về.
Hiện nay mỗi năm thế giới có nhu cầu khoảng 230 tỉ USD đồ gỗ (có con số nói khoảng 300 tỉ). Riêng thị trường 28 nước EU là 85 tỉ USD nhưng Việt Nam mới chỉ xuất sang EU 600 triệu USD là con số chưa đáng kể. Nhu cầu của Mỹ 22 tỉ USD nhưng ta mới đạt 2 tỉ USD (10%) chưa thấm vào đâu. Với dung lượng tiêu thụ đồ gỗ thế giới còn rất lớn, chúng tôi kỳ vọng năm 2020 sẽ đạt con số xuất khẩu đồ gỗ 12 tỉ USD. DN Việt Nam chắc chắn sẽ đáp ứng được các tiêu chuẩn của Hiệp định này.
Hiệp định thương mại tự do (FTA) với EU chắc chắn sẽ có lợi rất nhiều đối với các doanh nghiệp. Thứ nhất, trước đây doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là bán sản phẩm, ít mua gỗ của nước ngoài, nhưng su khi kí Hiệp định FTA, doanh nghiệp trong nước sẽ có nhu cầu mua nhiều gỗ của nước ngoài, vì gỗ của họ rất tốt như gỗ của Đức, Phần Lan, Đan Mạch, Thụy Điển…khi đã miễn thuế thì DN được lợi ít nhất 10%.
Thứ hai là doanh nghiệp sẽ không phải mất tiền chi phí cho khảo sát, đánh giá cho việc cấp chứng chỉ về nguồn gốc gỗ.
Thứ ba là thiết bị chế biến gỗ. Trước đây mình nghèo, mua thiết bị chế biến gỗ của EU giá cao mà thuế tới 20-30%. Sắp tới được miễn thuế mà lại được trả chậm. Ví dụ, thiết bị Trung Quốc khoảng 1 triệu USD một dây chuyền sản xuất, 5 năm phải thay đổi, nhưng thiết bị của EU là 5 triệu USD, sản xuất khoảng 30 năm mới phải thay đổi.
Cái nữa quan trọng hơn đối với DN chế biến xuất khẩu gỗ là nâng cao trình độ quản trị sản xuất kinh doanh của các chủ DN. Khi đối tác mua sản phẩm của mình, đối tác sẽ đưa chuyên gia vào hướng dẫn kỹ thuật tại chỗ cho nên các ngành nói chung, ngành gỗ nói riêng sẽ có nhiều lợi ích từ FTA với EU.
Đó là những thuận lợi lớn, nhưng các DN ngành gỗ cũng sẽ phải đối mặt với không ít thách thức trong điều kiện hội nhập sâu rộng hiện nay.
Trước hết là sự cạnh tranh quyết liệt trong thị trường nội địa của Việt Nam, vì Việt Nam ký kết FTA với EU và TPP trong tương lai, cuối năm nay cộng đồng kinh tế ASEAN hình thành, rồi sẽ ký kết VPA/FLEGT với EU. Các Hiệp định này với những cam kết đưa ra là doanh nghiệp bình đẳng, thuế suất bằng không, chất lượng hàng hóa phải đủ tiêu chuẩn, nguồn gốc xuất xứ rõ ràng…
Trong khi thị trường nội địa hiện nay vẫn yếu ớt, các sản phẩm gỗ của nước ngoài vào Việt Nam chất lượng tốt, giá thành lại rẻ, có tính pháp lý rất cao. Do đó, lo ngại nhất hiện nay là sự cạnh tranh quyết liệt giữa DN gỗ Việt Nam với DN gỗ nước ngoài. Các DN gỗ của Việt Nam cũng thấy điều đó, vì hiện nay các DN của ta manh mún, nhỏ lẻ và phân tán, mà nhà nước chưa có chính sách nào hỗ trợ cho vấn đề này. Người ta vẫn nói thị trường gỗ Việt Nam thua ngay trên sân nhà là như vậy.
Thứ hai là khi càng hội nhập kinh tế quốc tế sâu bao nhiêu thì thách thức của ngành gỗ càng lớn bấy nhiêu, mặc dù cơ hội cũng rất lớn. Đó là trình độ của các chủ DN của chúng ta chưa theo kịp với trình độ phát triển của thế giới, đặc biệt trong chính sách thương mại quốc tế và trình độ ngoại ngữ của DN gỗ ta rất yếu. Phải mất rất nhiều thời gian chúng ta mới hiểu được thương mại quốc tế là như thế nào.
Thứ ba là năng suất lao động trong ngành gỗ của Việt Nam hiện nay còn rất thấp. Theo tổng kết, cả DN lớn, nhỏ, bình quân 1 năm một lao động trong ngành công nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam làm ra chỉ 12.000 - 13.000 USD. Trong khi đó Trung Quốc là 24.000 USD, EU là 36.000 USD. Nguyên nhân là do tay nghề, do quy trình sản xuất còn lạc hậu nên năng suất lao động thấp.
Thứ tư là đội ngũ công nhân kỹ thuật trong ngành gỗ hiện nay vô cùng èo uột. Trước đây, có nhiều trường đào tạo công nhân nghề gỗ tại các địa phương và khu vực, nhưng bây giờ các trường đều nâng lên thành Cao đẳng, Đại học hết rồi nên việc đào tạo công nhân lành nghề ít được chú ý. Đó là những thách thức lớn mà mình phải vượt qua.
Để phát triển ngành gỗ nói chung trước hội nhập, trước hết Nhà nước cần có chính sách đối với thị trường nội địa. Tôi lấy ví dụ, 20 năm nay phát triển xuất khẩu rất tốt với nhiều chính sách ưu ái cho ngành gỗ, nhưng nội địa thì không có chính sách nào cả, chưa thấy có văn bản nào cho chính sách phát triển gỗ nội địa, thậm chí kênh phân phối gỗ nội địa không có, sản xuất thì manh mún, chất lượng thì chưa thật tốt.
Cần có khoản vay ưu đãi để nhập thiết bị, công nghệ hiện đại, vì của ta hiện nay hầu hết là máy móc thiết bị của Trung Quốc, Đài Loan. Vay ưu đãi chứ không phải là vay thương mại.
Rồi nữa, bản thân DN ngành gỗ chúng tôi phải tự vươn lên. Dứt khoát phải có chính sách đào tạo dài hạn, ngắn hạn để từng bước vươn lên. Đào tạo chủ DN, đào tạo văn phòng DN, đào tạo công nhân kỹ thuật. Tiếp nữa là làm ăn có chứng chỉ, làm ăn chuyên nghiệp hơn, bài bản hơn. Hiện nay cái này còn hạn chế.
Cũng rất may đến nay nhiều chủ DN gỗ Việt Nam rất tỉnh táo, họ liên tục cập nhật thông tin, họ đã yêu cầu chúng tôi biên soạn tài liệu kỹ thuật, giới thiệu đối tác để tiếp cận. Hiện nhiều DN chế biến gỗ đã liên kết với nhau. Ngoài ra các DN cũng cử nhiều đoàn đi nước ngoài tìm kiếm thị trường mới… đó là những điều tốt, nhưng dẫu sao vẫn còn rất nhiều việc phải làm. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 30/8, Xây Dựng 30/8) đầu trang(
Một nội dung không quá lớn nhưng lại được kỳ họp bất thường của HĐND TP.HCM ngày 26-8 thảo luận khá sôi nổi.
Đó là chuyện có nên đốn bỏ 35 cây đước và 5 cây mắm trên diện tích chừng 500 m² ở khu rừng phòng hộ Cần Giờ hay không. Lý do được các cơ quan chức năng đưa ra là cần có một diện tích đủ để xây dựng một trạm kiểm lâm, và phương án được đề xuất là một khu đất thuộc khu vùng đệm của rừng Cần Giờ.
Nhưng việc này đã không thuyết phục được Thường trực HĐND TP.HCM. Bởi lẽ, việc xây dựng một trạm kiểm lâm nằm ngay trong rừng để tạo điều kiện bảo vệ rừng cho tốt có thể là cần thiết, song không có nghĩa là nhân danh điều đó lại tấn công vào diện tích rừng.
Chuyện ứng xử với cây xanh ở TP.HCM có rất nhiều, nhưng có một chi tiết này - đó là để kiểm đếm các cây xanh, cơ quan môi trường đã không dùng biển sắt bắt vào cây, mà mỗi gốc cây đều được sơn một con số thể hiện như trong hồ sơ quản lý. Sau vài ba năm, khi lớp sơn con số này mờ đi thì sẽ được sơn lại.
Cách làm này vừa đơn giản, vừa tiết kiệm, song quan trọng nhất là không hề ảnh hưởng chút gì đến sự phát triển của cây xanh. Một điều cũng rất đáng ghi nhận trong ứng xử với cây xanh trên địa bàn TP.HCM là mỗi gốc cây không phải chịu “gánh” đủ thứ biển như ở thủ đô Hà Nội và nhiều đô thị khác.
Nhưng ở một đô thị như Hà Nội, ngoài những tai tiếng về cách đốn hạ rồi thay cây vừa qua, cách ứng xử với cây xanh xem ra còn khá nhiều điều đáng bàn. Đó là kiểu điểm danh cây bằng những tấm biển con nhưng lại dùng đinh đóng vào thân cây rồi dùng dây thép để buộc. Thậm chí mới đây, quận Hai Bà Trưng còn có “sáng kiến” - đóng đinh bắt các đoạn ống nhựa vào thân cây để làm giá treo cờ cho… sát đường đi!?
Cũng là biển kiểm đếm cây xanh được treo trên cây, song ở Nhật Bản thì lại dùng là dùng lò xo cuốn quanh thân cây để treo. Như vậy thực thể cây xanh không hề bị ảnh hưởng chút nào.
Nhìn thẳng thực tế, ứng xử với cây xanh vừa là thể hiện một trình độ phát triển, vừa là hành động để duy trì sự phát triển bền vững. Nói như Chủ tịch HĐND TP.HCM Nguyễn Thị Quyết Tâm - “Nói chặt rừng rồi trồng lại nghe dễ nhưng trong thực tế rất khó. Nếu vẫn còn đất để lựa chọn mà chúng ta lại đi chặt cây để làm thì không được”.
Thái độ “không được” ở đây chính là mệnh lệnh bảo vệ chính môi trường sống của con người. Ông Trời đang thể hiện rõ những hậu quả của biến đổi khí hậu. Nhiều chương trình, đề án vĩ mô đã được đề xuất để khắc phục. Nhưng nếu không ứng xử với cây xanh như một thực thể cần có một cách gần gũi và bền vững trong cuộc sống - thì thật khó nói về hiệu quả mà các đề án, kế hoạch cũng có thể mang lại. (Hải Quan 29/8) đầu trang(
Ngày 28-8, tại TP Kon Tum (Kon Tum), Viện Tư vấn phát triển (Viện CODE) phối hợp Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kon Tum tổ chức hội thảo “Phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộc trong quản trị tài nguyên và phát triển rừng ở Kon Tum”.
Tháng 11-2013, Viện CODE triển khai Chương trình hỗ trợ sinh kế gắn với tập quán truyền thống của đồng bào dân tộc ở huyện Kon Plong và huyện Sa Thầy.
Qua hai năm, Chương trình đã đem lại hiệu quả tích cực: ngăn chặn được tình trạng phá rừng làm nương rẫy và khai thác vàng sa khoáng; công tác bảo vệ rừng được tổ chức thành mạng lưới liên kết giữa các làng với các bên liên quan; rừng được phục hồi hiệu quả để bảo vệ nguồn nước cho đồng bào; cộng đồng được khẳng định quyền sử dụng rừng, đất rừng hợp pháp để bảo vệ; có không gian thực hành các nghi lễ tín ngưỡng, lễ hội văn hóa gắn với rừng…đầu trang(
Ngày 29-8, 300 cây cóc trắng đã tiếp tục được các thành viên đến từ Trung tâm Công tác xã hội Thanh niên TP.HCM, Huyện đoàn Cần Giờ và Công ty TNHH Khỏe Đẹp tổ chức trồng tại khu dự trữ sinh quyển rừng phòng hộ Cần Giờ, nâng số lượng cây được trồng mới từ đầu năm 2015 lên hơn 10.000 cây.
Đại diện Trung tâm truyền thông giáo dục môi trường và sinh thái rừng phòng hộ Cần Giờ cho biết đây là hoạt động nằm trong chương trình tình nguyện “Hành động cho Hành tinh xanh” năm 2015.
Được biết, từ đầu năm đến nay đã có hơn 20 đoàn, tổ chức đến tham quan rừng phòng hộ Cần Giờ. Song song, các đơn vị này còn trồng mới 10.000 cây cóc trắng, già lùng, đước, vẹt…. góp phần bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn.
Trong chuyến đi thực tế này, mặc dù trời nắng gắt nhưng các thành viên của đoàn vẫn rất nhiệt tình trong công tác trồng cây.
Dự kiến, Trung tâm Công tác xã hội Thanh niên TP.HCM cùng công ty TNHH Khỏe Đẹp sẽ tiếp tục triển khai thực hiện các hoạt động liên quan đến môi trường như: công viên không rác, trồng cây xanh… Bên cạnh đó, các đơn vị này sẽ lên kế hoạch đến thăm rừng phòng hộ Cần giờ trong thời gian tiếp theo. (Pháp Luật TP.HCM 27/8) đầu trang(
Quản lý rừng cộng đồng đã được quy định tại Luật Đất đai năm 2003, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004. Tuy nhiên, sau khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực và quá trình hơn 10 năm thực thi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, địa vị pháp lý của cộng đồng trong quản lý rừng vẫn chưa thật sự rõ ràng.
Sau khi Luật Đất đai ra đời năm 2003, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BVPTR) được ban hành năm 2004, hình thức quản lý rừng cộng đồng đã được chính thức thừa nhận. Đây được đánh giá là bước đi tích cực trong công tác xã hội hóa ngành lâm nghiệp. Theo đó nhiều thành phần kinh tế khác ngoài nhà nước có cơ hội tham gia quản lý, bảo vệ, sử dụng và hưởng lợi từ tài nguyên rừng.
Từ góc nhìn của cơ quan quản lý lâm nghiệp, ông Mai Văn Tâm - Trưởng Phòng Quản lý Bảo vệ rừng, Chi cục Kiểm lâm Thừa Thiên Huế cho biết, việc cộng đồng tham gia quản lý rừng đã tạo ra đa dạng về chủ thể quản lý rừng, góp phần khắc phục phần nào hạn chế của Nhà nước về ngân sách trong công tác bảo vệ rừng, tạo ra nhiều sản phẩm, nâng cao giá trị sản xuất, thúc đẩy kinh tế lâm nghiệp và tăng trưởng của ngành lâm nghiệp.
Đặc biệt là nâng cao ý thức bảo vệ rừng của người dân, thay đổi tư duy nhận thức trong cộng đồng về ý thức làm chủ trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng. Nhờ đó, cộng đồng không đứng ngoài cuộc trong sự nghiệp bảo vệ rừng của Nhà nước.
Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 đều thừa nhận cộng đồng là cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất, trong đó có đất rừng.
Tuy nhiên, tại Điều 3 và Điều 29 Luật BVPTR năm 2004 chỉ thừa nhận cộng đồng dân cư thôn bao gồm tất cả các hộ gia đình, cá nhân sinh sống trong cùng một thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc hoặc các đơn vị tương tự được Nhà nước giao rừng và công nhận quyền sử dụng rừng. Câu hỏi đặt ra là các loại hình cộng đồng khác ngoài cộng đồng dân cư thôn như dòng họ hay nhóm hộ gia đình có thuộc đối tượng được giao rừng hay không?
Chưa kể, Bộ luật Dân sự năm 2005 chưa đề cập đến chủ thể trong giao dịch của cộng đồng mà chỉ ghi nhận quyền sở hữu chung của cộng đồng (Điều 220). Vậy khi cộng đồng được giao rừng, cho thuê rừng tiến hành các hoạt động giao dịch dân sự như vay vốn, thế chấp... hay thực hiện quyền của người sử dụng rừng cũng như xử lý các tranh chấp, hoạt động tổ chức tuần tra bảo vệ rừng thì sẽ áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự (luật chung) hay Luật Đất đai, Luật BVPTR (luật chuyên ngành)?
Nhấn mạnh lợi ích việc thừa nhận cộng đồng trong công tác quản lý rừng, ông Mai Văn Tâm cho rằng, Luật BVPTR cần bổ sung định nghĩa về cộng đồng. Bên cạnh cộng đồng dân cư thôn, phải đề cập đến các loại hình cộng đồng khác như dòng họ hay nhóm hộ gia đình là đối tượng được giao rừng, bảo đảm đồng nhất định nghĩa cộng đồng tại Luật Đất đai.
Thậm chí, Luật BVPTR phải sớm có quy định công nhận cộng đồng là một chủ thể có pháp nhân, nghĩa là chủ rừng. Bởi theo quy định tại Luật BVPTR, Khoản 4 Điều 3, trong khái niệm chủ rừng không có cộng đồng; trong khi Khoản 6 Điều 3 nêu quyền sử dụng rừng là quyền của chủ rừng được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi... Như vậy, cộng đồng không phải là chủ rừng nên cộng đồng không có quyền sử dụng rừng? Điều này chưa hợp lý.
Theo TS. Cao Thị Lý - giảng viên Khoa Nông Lâm nghiệp, Trường ĐH Tây Nguyên, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về cộng đồng mà tương ứng với mỗi định nghĩa lại có một loại hình cộng đồng khác nhau. Nên chăng cần xem xét lại khái niệm cộng đồng thông qua đánh giá hiệu quả quản lý rừng của các chủ thể đã được giao rừng?
Thực tế công tác quản lý rừng cộng đồng ở Thừa Thiên Huế đã ghi nhận nhiều loại hình cộng đồng không phải là cộng đồng dân cư thôn nhưng vẫn tổ chức quản lý rừng tốt. Cũng có những trường hợp trong cùng một thôn nhưng không phải mọi người dân đều mong muốn tham gia quản lý rừng cộng đồng, có nhiều nhóm hộ chỉ mong muốn nhận rừng để quản lý, bảo vệ và hưởng lợi riêng.
Bà Cao Thị Lý khuyến nghị, khái niệm cộng đồng trong quản lý rừng cộng đồng có thể được chia thành 2 loại hình. Một, cộng đồng là một tập hợp toàn bộ những người sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ có những điểm tương đồng về mặt văn hóa, kinh tế, xã hội truyền thống, phong tục tập quán, có các quan hệ trong sản xuất và đời sống và có ranh giới không gian trong một thôn bản.
Hai, cộng đồng là nhóm người có mối quan hệ gắn bó với nhau trong sản xuất và đời sống; cộng đồng không chỉ là cộng đồng dân cư toàn thôn mà có thể là các cộng đồng sắc tộc trong thôn, cộng đồng dòng họ hoặc nhóm hộ, nhóm sở thích trong thôn.
Hướng tới mục tiêu 4 triệu hécta rừng được quản lý bởi cộng đồng trong Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020, cần làm rõ chủ thể “cộng đồng” trong quản lý rừng. Dù có tách hay không tách khái niệm về cộng đồng vẫn phải bảo đảm địa vị pháp lý của cộng đồng với tư cách pháp nhân là chủ rừng. Suy cho cùng, cộng đồng, nhất là cộng đồng dân cư sống gần rừng, trong rừng là một trong những chủ thể có mối quan hệ gần gũi với rừng, có tập quán lâu đời với rừng.
Hơn ai hết họ là những người bạn với rừng, cộng sinh nhiều lợi ích sống về sinh kế và môi trường với rừng. (Đại Biểu Nhân Dân 30/8) đầu trang(
Nguyên nhân khiến việc quy hoạch 3 loại rừng chưa hợp lý một phần là do cán bộ quy hoạch không tham vấn ý kiến của người dân trước khi quy hoạch...
Thực hiện Chỉ thị số 38 của Chính phủ về việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng là: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất. Tuy nhiên, đến nay do thiếu quy định về sự tham gia của người dân trong quá trình qui hoạch, nên dẫn đến hệ quả là qui hoạch không đúng như nguyện vọng của người dân.
Tân Pheo là một trong những xã vùng sâu, vùng xa của huyện Đà Bắc. Chương trình giao đất giao rừng cho người dân địa phương được thực hiện từ năm 1997 và đến nay đã giao hết hơn 3000 ha rừng cho các tổ chức và các hộ gia đình, trong đó giao cho các tổ chức do ủy ban nhân dân xã quản lý là 150 ha và giao cho hộ gia đình, cá nhân là hơn 2000 ha. Tuy nhiên, quy định về việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng đến nay chưa sát với điều kiện thực tế của địa phương khiến quá trình rà soát cũng như quy hoạch lại rừng gặp khó khăn.
Trong quá trình quy hoạch do không lấy ý kiến người dân và chính quyền xã nên nhiều diện tích rừng của hộ gia đình bị quy hoạch thành rừng phòng hộ, mặc dù trên diện tích rừng này, người dân đang trồng rừng kinh tế hoặc tự chuyển đổi sang trồng cây nông lâm nghiệp để tăng thu nhập. Thậm chí nhiều khu vực rừng ở gần ngay khu dân cư cũng được quy hoạch thành rừng phòng hộ.
Nguyên nhân khiến việc quy hoạch 3 loại rừng chưa hợp lý một phần là do cán bộ quy hoạch không tham vấn ý kiến của người dân trước khi quy hoạch. Trước bất cập này, cách đây 5 năm, cán bộ địa chính đã tham mưu cho UBND xã Tân Pheo làm tờ trình đề nghị UBND tỉnh Hòa Bình chuyển lại khoảng 200 ha rừng phòng hộ quy hoạch không hợp lý thành rừng sản xuất để người dân các thôn Than, thôn Bon và thôn Thùng Lùng có thêm đất rừng để sản xuất. Tuy nhiên theo chính quyền xã Tân Pheo, đề xuất hợp lý này đến nay vẫn chưa được giải quyết.
Mặc dù, chỉ thị 38 của Chính phủ về quy hoạch lại 3 loại rừng đã được các địa phương thực hiện từ năm 2005, nhưng đến nay những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại ở một số địa phương thuộc các xã vùng sâu, vùng xa, miền núi ở Hòa Bình vẫn chưa được giải quyết. Hệ quả là công tác quản lý cũng như bảo vệ rừng của người dân gặp nhiều khó khăn. (VOV Giao Thông 30/8) đầu trang(
Sáng 28/8, Dự án cơ sở JICA (Dự án Vịnh Hạ Long) phối hợp với Ban Quản lý Vịnh Hạ Long tổ chức trồng rừng ngập mặn tại khu vực Vụng Ba Cửa, Vịnh Hạ Long.
Hoạt động thu hút sự tham gia của 50 tình nguyện viên gồm giảng viên, học sinh, sinh viên Trường Đại học Kokugakuin (Nhật Bản); cán bộ Ban Quản lý Vịnh Hạ Long, Trung tâm nghiên cứu Hệ sinh thái Rừng ngập mặn Việt Nam và các em học sinh Trường THPT Hòn Gai. Hơn 1.000 cây đước, sú, vẹt, mắm đã được trồng tại khu vực Vụng Ba Cửa.
Hoạt động trồng rừng ngập mặn được Dự án JICA tổ chức thường niên nhằm góp phần tăng diện tích rừng ngập mặn của Vịnh Hạ Long, tuyên truyền, nâng cao nhận thức tham gia giữ gìn môi trường Vịnh Hạ Long, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Đồng thời tạo nên tình đoàn kết hữu hảo giữa thanh thiếu niên hai nước Việt Nam- Nhật Bản.
Được biết, Dự án cơ sở JICA hiện đang bước sang giai đoạn 2, trong đó tập trung vào hai nhiệm vụ chính là thiết lập hệ thống vận chuyển rác thải về bờ xử lý để sử dụng nhiên liệu sinh học và nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường Di sản Vịnh Hạ Long. (Báo Quảng Ninh 28/8) đầu trang(
Năm 2015, huyện Chợ Mới được giao trồng 1.500ha rừng các loại, song tại thời điểm này, diện tích trồng rừng của huyện đã được hơn 2.000ha, vượt gần 35% so với kế hoạch. Hiện tại người dân huyện Chợ Mới đang tích cực chăm sóc diện tích rừng trồng mới.
Tại những xã có diện tích rừng trồng lớn như Quảng Chu, Như Cố, Thanh Vận, chủ yếu người dân trồng Keo hom. Đối với rừng mới trồng năm thứ nhất, người trồng rừng đang tập trung chăm sóc, trong đó chủ yếu là phát dọn cỏ và cây bụi quanh gốc để tránh sâu hại, đồng thời tiến hành trồng dặm những cây bị chết.
Huyện Chợ Mới đã cung ứng đủ cây giống để bà con trồng dặm theo tỷ lệ quy định. Đối với rừng trồng năm thứ 4 trở lên,người dân tập trung phát, tỉa để cây khép tán. Nhìn chung, những diện tích rừng trồng của huyện Chợ Mới đều sinh trưởng và phát triển tốt, đặc biệt là diện tích cây Keo hom. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 28/8) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Với kích thước siêu khủng, những loài nhện này có thể khiến nhiều người "đứng tim" khi nhìn thấy chúng.
Với nhiều người, nhện là nỗi khiếp sợ kinh hoàng và họ có thể "đứng hình" toàn tập mỗi khi phát hiện thấy chúng đang bò từ xa. Nhưng bạn có hay, những chú nhện bạn thường đối mặt này vẫn chưa thấm vào đâu so với các loài nhện khổng lồ trên hành tinh mà bạn sẽ tìm hiểu ngay dưới đây.
1. Poecilotheria Rajaei - loài nhện có thể trùm kín khuôn mặt người
Poecilotheria Rajaei là một loài nhện thuộc chi Poecilotheria chỉ cư trú tại Sri Lanka và Ấn Độ. Loài nhện này được mô tả có màu sắc độc đáo cùng phần "họa tiết" trên lưng một cách thống nhất, với khả năng di chuyển nhanh và có nọc độc khá mạnh.
Đặc biệt, loài nhện này có kích cỡ cơ thể khá "đồ sộ", với sải chân dài tới 20cm, tức gần bằng khuôn mặt một người bình thường
Loài nhện này khá hiếm gặp, thường sinh sống ở những cây cổ thụ khổng lồ. Nhưng lạ là, loài nhện này lại có tập tính... an cư lạc nghiệp - chúng chỉ sống tại một nơi duy nhất cho đến khi gặp nguy hiểm hoặc tổ bị phá bỏ. Hiện nay do ảnh hưởng của nạn phá rừng ở Sri Lanka mà số lượng nhện này đã giảm đi đáng kể.
2. Nhện "bự" ăn chim Goliath dễ như ăn kẹo
Dù mang cái tên "ăn thịt chim", nhưng thức ăn chủ yếu của loài nhện Theraphosa blondi chỉ là côn trùng, ếch nhái hay một số loài gặm nhấm như sóc, chuột...
Nguồn gốc của cái tên "nhện ăn chim" - birdeater Goliath này xuất phát từ một nhà thám hiểm, khi ông ta phát hiện loài nhện này đang ăn một con chim ruồi.
Nhện Theraphosa blondi có kích cỡ cơ thể rất đáng nể khi sở hữu độ dài sải chân lên tới 28cm và nặng hơn 100 gr.
Với kích thước như vậy, chúng được mệnh danh là loài nhện lớn thứ 2 thế giới. Khủng khiếp hơn, răng nanh của loài nhện này dài tới 2cm và có thể đâm thủng da của con người.
Tuy nhiên, dù có vẻ ngoài đáng sợ nhưng nọc độc của chúng không gây nguy hại đến tính mạng con người. Đặc biệt hơn, loài nhện này còn có khả năng phát tín hiệu đặc trưng vào mùa giao phối. Chúng sẽ cọ xát lông các chi, tạo ra âm thanh có thể truyền xa tới 4m để dụ dỗ bạn tình.
3. Nhện thợ săn - loài nhện lớn nhất thế giới
Với tốc độ săn mồi cực nhanh cùng khả năng tìm vị trí ẩn nấp giỏi, nhện Heteropoda maxima đích thực là một thợ săn khổng lồ đáng gờm.
Thường cư trú tìm thấy ở châu Á, hoặc tại những khu vực mang khí hậu nhiệt đới như Florida, Texas và California (Mỹ), nhện thợ săn từng khiến bao người "đứng hình" với kích cỡ khổng lồ cùng sải chân lên tới 30cm của mình.
Mặc dù sở hữu kích cỡ to lớn nhưng chúng lại có khả năng di chuyển rất nhanh, dễ dàng bám vào các bề mặt trơn trượt như mặt kính.
Một vài nghiên cứu khoa học chỉ ra, dù không gây tổn hại đối với sức khỏe con người nhưng nọc độc của nhện Heteropoda maxima lại có khả năng gây tê liệt con mồi ngay lập tức.
4. Nhện tơ vàng - giăng bẫy tới 2m để "tóm gọn" con mồi
Nhện tơ vàng - Nephila clavipes - là loài nhện thường thấy tại Bắc Mỹ. Một cá thể nhện tơ vàng trưởng thành có chiều dài cơ thể (tính cả sải chân) lên tới 20cm, trong đó con cái có kích thước lớn hơn con đực.
Nhện Nephila có nọc khá độc, tuy nhiên điểm đặc biệt của chúng là khả năng giăng những mạng nhện khổng lồ và kiên cố để săn mồi.
Chiều dài của mỗi mạng nhện có thể lên tới gần 2m, vì thế những con côn trùng nhỏ bé chắn chắn không thể thoát khỏi mạng nhện của chúng. Thậm chí những con rắn nhỏ hay chim cũng trở thành con mồi "bất đắc dĩ" của nhện tơ vàng.
Bên cạnh đó, loài nhện này còn có "đời sống lứa đôi" rất đặc biệt, đó là những con nhện đực phải... mát-xa cho bạn đời khi mệt mỏi, vì nếu không chúng sẽ bị xé xác ngay tức khắc.
5. Nhện chuối "chân ngắn" nhưng có nọc độc kinh hoàng
Nhện lang thang Brazil, có tên khoa học là Phoneutria nigriventer, còn được gọi là nhện chuối vì chúng đã được tìm thấy chủ yếu ở khu vực phát triển của những cây chuối.
Dù nhện chuối có kích thước khá "khiêm tốn" khi sải chân chỉ dài 12 - 15cm, thân dài 5cm nhưng chúng rất hung hăng và là loài sở hữu nọc độc mạnh trên thế giới.
Loài nhện này gọi là nhện lang thang vì thói quen săn mồi của chúng. Loài này đi săn mồi trên mặt đất, tìm kiếm con mồi và tấn công trực tiếp chứ không sử dụng mạng nhện và đợi để bẫy con mồi như nhiều loài nhện khác. Khi thấy bị đe dọa, loài nhện này sẽ giơ hai chân trước lên cao để đe dọa lại kẻ thù, cho thấy nó đã sẵn sàng tấn công.
Nọc độc của nhện lang thang Brazil có thể giết chết một người chỉ trong 2 giờ, nhưng ngoài việc gây đau đớn và các biến chứng trong cơ thể có thể dẫn đến tử vong. Không những thế, nọc độc của loài này có thể khiến nạn nhân nam cương cứng đau đớn trong 4 giờ liền.
Nghiên cứu chỉ ra, nọc độc của loài nhện này làm tăng, lưu lượng chất nitric oxide, giúp làm tăng lưu lượng máu, do đó còn được sử dụng để chữa chứng rối loạn cương dương, với tác dụng tương tự viagra.
Nọc độc của loài nhện này có thể khiến nạn nhân bị tê liệt cơ bắp, hay suy hô hấp gần như ngay tức khắc, nặng có thể tử vong. (Giáo Dục Và Thời Đại 29/8) đầu trang(
Ông Jamie Swinney, 67 tuổi, ở Warwick, Anh đã choáng váng khi nhìn thấy một con nhện góa phụ đen chết người đang bò trong những quả nho ông vừa mới mua từ siêu thị Aldi.
Trang Dailymail (Anh) đưa tin, ông Jamie Swinney đã choáng váng khi nhìn thấy một con nhện góa phụ đen chết người đang bò trong những quả nho ông vừa mới mua từ siêu thị Aldi. Ông Jamie đã ngay lập tức nhận ra loài nhện độc nhưng vẫn bình tĩnh gói nó trong giấy bóng trước khi gọi điện thoại cho cảnh sát.
Phía cảnh sát sau đó đã liên lạc ngay với giám đốc của Khu bảo tồn hoang dã Nuneaton và Warwickshire, ông Geoff Grewcock. Sau khi đến tận nơi xác minh, ông Geoff khẳng định đây chính là loại nhện độc góa phụ đen – một trong những loài nhện độc nhất thế giới.
Nhện góa phụ đen là một trong những loài nhện độc nhất thế giới, với chỉ một lượng nhỏ nọc độc của nó cũng đã có thể gây chết người. Những con nhện góa phụ đen cái còn “khét tiếng” hơn vì mức độ tàn bạo khi ăn thịt cả con đực ngay sau khi giao phối để bổ sung dinh dưỡng trong quá trình mang thai.
Ông Swinney kể lại: “Tôi cắt một cành khỏi chùm nho, rửa sạch chúng, để vào một cái đĩa rồi cho vào tủ lạnh”, “Khi tôi lấy nó ra lần nữa, tôi nghĩ ‘ôi trời’ có một con nhện góa phụ đen nhỏ đang ở đó”. “Tôi nghĩ ngay đấy là một con nhện góa phụ đen dựa trên những dấu hiệu của nó, rồi tôi lấy một cái giấy bóng và gói nó lại. Tôi nghĩ là mình nhanh hơn nó nên thậm chí tôi đã không đeo cả găng tay”.
Ông Swinney đã mang nho đến siêu thị Aldi, ở Leamington Spa cùng ngày hôm đó. Ông mang theo biên lai mua hàng đồng thời nói chuyện với Phó giám đốc của cửa hàng.
Đại diện của siêu thị Aldi cho biết: “Sự an toàn của khách hàng là ưu tiên số 1 của chúng tôi và những sự cố như thế này là cực kỳ hiếm. Ngay khi chúng tôi nhận được thông tin, chúng tôi đã lập tức liên lạc với khách hàng và chuyên gia động vật hoang dã”
Ông Geoff Grewcock, giám đốc của Khu bảo tồn hoang dã Nuneaton và Warwickshire, cho biết: “Chúng tôi xác nhận nó chính là một con nhện góa phụ đen nhỏ có nguồn gốc từ Tây Ban Nha”. “Bởi vì con nhện này vẫn còn nhỏ nên vết cắn của nó là vô hại nhưng nếu ông Jamie không phát hiện ra nó, nó có thể phát triển và trở nên nguy hiểm hơn”. “Tốt nhất trong những tình huống như thế này, bạn nên gọi cho 101, giống như ông Jamie, vì họ sẽ mang đến một chuyên gia địa phương để đối phó với nó thay cho bạn”.
Ông Grewcock cho biết, vào tháng 6 năm nay, ông cũng được gọi đến khu Whitnash ở gần đấy để giải quyết một trường hợp tương tự khi một cặp vợ chồng tìm thấy một con nhện góa phụ đen trong chùm nho vừa mua tại siêu thị Asda .
Ông nói thêm: “Dường như gần đây những trường hợp như thế này đang ngày càng nhiều. Chúng tôi đã gặp đến 4 trường hợp trong vòng chỉ 7 tuần trở lại đây.” “Ngày nay, người ta không cho phép sử dụng thuốc trừa sâu cho hoa quả”. “Tốt hơn hết là bạn nên kiểm tra kỹ trái cây mình mua bởi vì thỉnh thoảng những con nhện sẽ nằm ở giữa các chùm nho.” (An Ninh Tiền Tệ Và Truyền Thông 29/8) đầu trang(
Trong chương trình Newsnight vừa lên sóng đêm 27/8 trên kênh BBC, một nhà văn có tên George Monbiot đã lột da, xẻ thịt và nấu những con sóc trước sự chứng kiến của hàng triệu người trên sóng truyền hình.
Theo truyền thông Anh đưa tin, George Monbiot đã lột da và xẻ thịt sóc bằng rìu một cách dã man trước khi tẩm ướp bằng nước chanh và nấu nướng chúng. Sau đó, nhà văn 52 tuổi này còn trình bày món ăn của mình ra đĩa để mời người dẫn chương trình James O'Brien nếm thử.
Thậm chí, người đàn ông này còn gây shock hơn khi miêu tả cụ thể trên một tờ báo về việc nhặt được một con sóc bị tai nạn trên đường như thế nào, và cách thức nấu nướng "chiến lợi phẩm" của mình ra sao.
Ông chia sẻ trong chương trình Newsnight rằng: "Có hàng triệu con sóc, thỏ, chim bồ câu và hươu bị xe đụng mỗi năm và người ta đều đem chôn một cách lãng phí. Nó không phải làm một giải pháp hay, việc nấu chúng lên để ăn là ý tưởng không tồi tí nào".
Kinh dị hơn, nhà văn Monbiot còn làm thịt trực tiếp và giải thích cặn kẽ cho người dẫn chương trình về cách thức để ông lột da và làm thịt con vật này. Lần lượt từng con sóc bị làm thịt với hình ảnh cụ thể được dí sát vào camera để người xem có thể thấy được cách làm.
Theo Monbiot, những con sóc này đều được mua từ các trang trại ngoại ô London, nơi người ta bẫy sóc để... vứt đi. Người dẫn chương trình đã nếm thử một miếng và thừa nhận hương vị rất ngon và đặc sắc, tuy vậy anh không che giấu cảm giác sợ hãi khi nghĩ đến chúng lúc vẫn còn "tươi nguyên".
Ông Monbiot còn khẳng định rằng con sóc mình vừa nấu vừa già, vừa béo, chưa phải loại thượng hạng. Bên cạnh đó, nhà văn 52 tuổi này cho biết ông chỉ không "xơi" chó và mèo vì nghĩ rằng những người chủ cũ sẽ rất buồn nếu biết con vật cưng của mình bị ăn thịt.
Nhà văn Monbiot chia sẻ điều này với "niềm tự hào một của thợ săn", thậm chí còn kể về cảm xúc mãnh liệt khi được trải nghiệm thịt của các loài động vật hoang dã do chính tay ông này nấu nướng.
Trước khi lên sóng truyền hình BBQ, nhà văn này đã chia sẻ trên Twitter rằng: "Tôi được BBC mời xuất hiện trong chương trình Newsnight đêm nay với một chiếc rìu và một con dao sắc nhọn. Nếu bạn muốn biết tại sao, hãy theo dõi trong chương trình đó".
Ngay lập tức, show truyền hình đêm khuya này đã gây nên tranh cãi lớn trên khắp các mạng xã hội lớn. Nhà sử học Simon Schama chia sẻ: "James O’Brien ra vẻ cứng cỏi, nhưng tôi thấy anh ta sắp ngất khi George Monbiot làm thịt sóc trên sóng Newsnight BBC, thật là hài hước".
Còn ông Neil Breakwell, phó Tổng biên tập của chương trình Newsnight chia sẻ rằng: "Có lẽ tôi sẽ phải dành vài ngày tới chỉ để trả lời phàn nàn và khiếu nại của khán giả".
Tuy nhiên, cũng có rất nhiều người ủng hộ tư tưởng của Monbiot, họ cho rằng việc sử dụng thịt của những con vật mới chết do tai nạn sẽ giúp giảm ô nhiễm và lãng phí tài nguyên sẵn có. (Trí Thức Trẻ/ Giáo Dục Và Thời Đại 29/8) đầu trang(
Hầu hết du khách lần đầu đặt chân đến Miyajima, một đảo nhỏ thuộc tỉnh Hiroshima, Nhật Bản, đều tỏ ra ngạc nhiên và thích thú khi được những “công dân” hươu vô cùng dạn dĩ và thân thiện tiếp đón.
Du khách có thể nhìn thấy chúng thong thả tản bộ ở khắp hang cùng ngõ ngách trên đảo. Ước tính có khoảng 1.000 con hươu đang sinh sống trên đảo này. Phần lớn sống trong rừng trong khi một số nhóm rất thân thiện với người địa phương và du khách.
Những con hươu hoang dã chính là biểu tượng của Miyajima. Hươu trên đảo Miyajima được gọi là Nihonjika theo tiếng địa phương.
Tương truyền, loài động vật ăn cỏ này được xem là sứ giả của những vị thần đạo Shinto (Thần Đạo) nên được người địa phương đối xử rất tốt và không sợ con người.
Ngoài ra, đảo Miyajima còn nổi tiếng với đền Itsukushima với cánh cổng Torii khổng lồ, được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1996.
Từ trung tâm Hiroshima, bạn có thể đón xe buýt hoặc taxi đến bến phà Miyajima, mất khoảng 30 phút. Sau đó, bạn mua vé phà đi đảo Miyajima, khoảng 10 phút di chuyển (vé khứ hồi dành cho người lớn là 360 yen - 70.000 đồng, vé một chiều 180 yen). Nếu ở Tokyo, bạn có thể đón tàu cao tốc Shinkansen đến Hiroshima (khoảng 4 tiếng). (Tuổi Trẻ 28/8) đầu trang(
Những con tê giác "không sừng" sẽ được sống yên ổn hơn. Đây là lý do một công viên bảo vệ động vật hoang dã ở Nam Phi tiến hành cưa sừng của những con tê giác để ngăn chặn chúng khỏi bị tấn công bởi những kẻ săn bắt, buôn bán trái phép sừng tê giác.
Ở các nước châu Á, sừng tê giác được cho là một phương thuốc có thể chữa được bách bệnh kể cả bệnh chết người là ung thư. Một kilogam sừng tê giác có giá khoảng 700 triệu đồng. Đây là lý do khiến tính mạng của những con tê giác đang bị đe dọa nghiêm trọng.
Trong 4 tháng đầu năm nay, ở Nam Phi, 400 con tê giác đã bị những kẻ săn trộm giết hại để lấy sừng, tăng 20% so với năm ngoái.
Các nhà bảo tồn đang ngày càng phải dùng đến các biện pháp mạnh để bảo vệ loài động vật "vô giá trị" này khỏi những kẻ săn trộm.
Công viên KwaZulu Natal là nơi có số tê giác bị giết hại nhiều nhất ở Nam Phi vừa qua đã diễn ra hoạt động cưa sừng cho 20 con tê giác để bảo vệ tính mạng cho chúng.
"Nếu không có sừng, tê giác sẽ không có giá trị đối những kẻ săn trộm", người quản lý bảo tồn của công viên KwaZulu Natal cho biết.
Từ trên máy bay, người ta bắn thuốc gây mê vào các con tê giác, sau đó dùng cưa máy để cưa sừng của chúng giống như việc cắt móng chân, móng tay mà không làm ảnh hưởng tới sức khỏe của chúng. Tất cả diễn ra trong khoảng 20 phút.
Sừng của 20 con tê giác này sẽ được cân trọng lượng, ghi chép cẩn thận trước khi được chuyển đến nơi cất giữ. Chiếc sừng nặng nhất là của một con tê giác đen quý hiếm có trọng lượng khoảng 4kg. Trên thị trường chợ đen ở châu Á, chiếc sừng này có giá khoảng gần 3 tỉ đồng.
Ông Zaloumis - Giám đốc của KwaZulu Natal cho biết: "Một con tê giác "không sừng" trông có vẻ kỳ quặc nhưng điều chúng tôi quan tâm là những con tê giác “không sừng” sẽ có thể sống yên ổn còn hơn là một con tế giác bị chết vì có một cái sừng".
Còn nhà quản lý Tony Conway thì nói rằng: "Hy vọng rằng, giờ đây chúng có thể tự do dạo chơi giống các con vật khác mà không bị nhắm mục tiêu".
Công viên này cho biết, sẽ tuyên truyền tới du khách lý do những con tê giác lại “không có sừng” như vậy. (Năng Lượng Mới 30/8) đầu trang(
Báo cáo của Cơ quan lâm nghiệp khu vực Baikal cho biết diện tích cháy rừng tại vùng Trans-Baikal (LB Nga) đã lên tới 25.000 ha.
Hiện các nhà điều tra đang tìm nguyên nhân gây ra cháy rừng. Các nhân viên cứu hỏa Nga cùng với các tình nguyện viên địa phương đã phải hết sức cố gắng để dập tắt đám cháy. Rất nhiều khách du lịch đã được sơ tán khỏi chỗ cắm trại và khách sạn nằm trong khu vực bị ảnh hưởng bởi ngọn lửa để đến nơi an toàn. (VTC 14 29/8) đầu trang(
Sau vụ đánh bom tại Thủ đô Bangkok tối 17-8 làm 20 người thiệt mạng, ngành du lịch Thái Lan tiếp tục chịu ảnh hưởng khi một con voi điên giẫm chết quản tượng và bỏ trốn vào rừng với những du khách trong trạng thái khiếp đảm trên lưng.
Vụ việc xảy ra khoảng 9h30 hôm 26-8, khi một gia đình người Trung Quốc, gồm bố mẹ và một con nhỏ đang trải nghiệm cảm giác thú vị ngồi trên lưng voi. Bất ngờ con voi đực nổi điên và giẫm chết quản tượng rồi lao vào rừng mang theo 3 du khách. Người quản lý trại voi Phutawan, miền bắc Thái Lan đã cử một quản tượng khác thân thuộc hơn với con voi này vào rừng tìm kiếm, trấn an và đưa nó về trại. 3 du khách may mắn được giải cứu an toàn, không thương tích nhưng bị sốc nặng.
“Quản tượng gặp nạn tên là Surachai Daengphumpak, 40 tuổi. Anh ta không phải là người huấn luyện quen thuộc của chú voi 30 tuổi này”, Đại tá Thawatchai Thepboon, chỉ huy cảnh sát huyện Mae Wang thuộc tỉnh Chiang Mai cho biết.
Đây không phải là vụ đầu tiên voi tấn công người ở Thái Lan. Hồi tháng 6-2015, tại thành phố Rayong, miền đông nước này, một con voi đã giết chết một người đàn ông bản địa và làm một người khác bị thương khi họ đang ăn tối ở một nhà hàng bên bờ biển. Theo Trung úy cảnh sát Thawat Nongsingha, sự việc xảy ra khi hai nạn nhân đang trò chuyện với quản tượng về việc mua thức ăn cho con voi. Trong vụ việc này, quản tượng bị buộc tội lơ là trong công việc, gây ra cái chết cho du khách. Hình phạt tối đa cho sự cẩu thả này là 10 năm tù giam và khoản tiền phạt 20.000 baht (khoảng 600 USD).
Trước đó, năm 2014, tại làng Rawai trên đảo Phuket, một con voi đực 23 tuổi trong thời kỳ động đực đã tấn công quản tượng đến chết khi anh ta đang tháo xích cho nó. Vụ này xảy ra chỉ vài ngày sau khi một con voi khác ở tỉnh Phang Nga giẫm chết quản tượng rồi bỏ chạy vào rừng mà trên lưng vẫn chở theo 2 du khách người Nga.
Liên quan tới rủi ro trong các dịch vụ du lịch sử dụng động vật hoang dã, tháng 10-2014, du khách người Australia Paul Goudie bị thương do hổ tấn công khi tham quan công viên Tiger Kingdom, ở Phuket (Thái Lan). Tiger Kingdom mở cửa vào tháng 8-2013, đón tiếp hàng trăm lượt du khách mỗi ngày. Du khách có thể thăm các chuồng hổ, chụp ảnh với những con hổ trưởng thành được xích hoặc cho hổ con ăn.
Cưỡi voi vốn là một hoạt động du lịch nổi tiếng và hấp dẫn tại xứ sở Chùa Vàng, tuy nhiên một số tổ chức bảo vệ động vật cho rằng hành vi này gây ức chế cho những chú voi.Thái Lan có khoảng 4.000 con voi được thuần hóa và khoảng 2.500 con sống trong tự nhiên. Voi thuần hóa ở Thái Lan bắt đầu được đưa vào phục vụ khách du lịch sau khi chúng “thất nghiệp” do hoạt động khai thác gỗ bị cấm ở nước này.
Các nhóm hoạt động vì động vật cho rằng, nhiều quản tượng vô đạo đức đã sử dụng những biện pháp khắc nghiệt để khiến những chú voi phải nghe lời hoặc ép chúng chở quá nhiều du khách để kiếm được nhiều tiền.
“Các con voi phải làm việc hàng ngày, hàng tháng và về cơ bản là 365 ngày chúng không được ngơi nghỉ. Chính vì vậy, nhiều con bị căng thẳng và thỉnh thoảng chúng đột nhiên giận dữ khiến con người không thể kiểm soát”, Edwin Wiek, một nhà hoạt động tới từ tổ chức Bạn bè hoang dã của Thái Lan cho biết. (An Ninh Thủ Đô 29/8) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||