|
Ngày 01 tháng 09 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Trong tháng 8, toàn tỉnh không để xảy ra cháy rừng, công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh cơ bản được thực hiện tốt song vẫn xảy ra các vụ vi phạm Luật bảo vệ và Phát triển rừng.
Thông tin từ Chi cục kiểm lâm tỉnh, trong tháng, tình hình vi phạm về mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn xảy ra, trong đó lực lượng này đã lập, bắt giữ và xử lý 22 vụ vi phạm hành chính, lũy kế từ đầu năm đến nay là 176 vụ (trong đó xử phạt hành chính 170 vụ, hình sự 06 vụ), tổng giá trị thu hồi hơn 2,4 tỷ đồng. Các vụ việc đã được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, không có các điểm nóng về tàn phá rừng.
Để làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, hiện Ban chỉ đạo kiểm kê rừng cấp tỉnh chỉ đạo các Ban chỉ đạo kiểm kê rừng các huyện, TX, TP xây dựng kế hoạch và tổ chức kiểm tra nắm tình hình thực hiện công tác kiểm kê rừng ở các địa phương. Đến nay, trên địa bàn Tỉnh có 170 xã có rừng phải thực hiện kiểm kê thì đã thực hiện xong ngoại nghiệp ở 42 xã đạt 24,7%; đang thực hiện ngoại nghiệp ở 49 xã đạt 31,5%; còn lại chưa thực hiện 79 xã đạt 46,5%.
Đối với chủ rừng nhóm II, trên địa bàn tỉnh có 71 chủ rừng, hiện các công ty TNHH 1TV lâm nghiệp đã tiến hành nhận tài liệu điều tra, phân công cán bộ thực hiện kiểm kê rừng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Tỉnh Quảng Ninh 31/8) đầu trang(
Tin từ cuộc thi phim ngắn WildFest cho biết hạn nộp phim ngắn tham dự sẽ được gia hạn, hạn chót nộp phim là ngày 15-9 năm nay.
WildFest là một phần của chương trình Cùng hành động tạo sự thay đổi (Operation Game Change - OGC, một hoạt động liên kết Việt - Mỹ) nhằm thu hút sự chú ý và tạo ảnh hưởng đối với cộng đồng về các vấn đề có liên quan tới nạn buôn bán động vật hoang dã, đặc biệt nhằm chấm dứt việc buôn bán sừng tê giác.
Đại sứ thiện chí của OGC là đạo diễn Charlie Nguyễn, diễn viên Hồng Ánh, MC Anh Tuấn, MC Thùy Minh. Lễ trao giải của cuộc thi dự kiến được tiến hành tại sự kiện WildFest vào ngày 1-11 tại Hoàng thành Thăng Long. Thông tin cụ thể về dự án có thể tham khảo www.wildfest.org. (Tuổi Trẻ 1/9) đầu trang(
Một khuôn viên rộng 4.000 m2 kín cổng cao tường, tọa lạc giữa khu đô thị sầm uất, tấp nập. Đó là trang trại động vật hoang dã Thanh Long (số 9, đường 11, phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, TP.HCM) của anh Cao Thanh Long…
Trưa hè, dưới cái nắng gay gắt, phố sá tấp tập như càng làm không khí ngột ngạt hơn, nhưng khi bước vào bên trong khuôn viên trang trại động vật hoang dã (ĐVHD) Thanh Long, cảm giác như vừa bước vào một thế giới khác hẳn bởi bầu không khí mát rượi tỏa xuống, khoan khoái lạ thường. Ông chủ trang trại ĐVHD Cao Thanh Long, năm nay 40 tuổi, đang khá bận rộn.
Vừa lui cui rửa những chiếc khay Inox sáng loáng, phơi ra nắng, anh vừa nói: "Đó là khay thức ăn cho bầy chồn. Giống này ngày ngủ, đêm thức, nên chiều chiều phải chuẩn bị sẵn để khi chúng thức dậy là có thức ăn ngay. So với các loại khác thì chồn phải chăm tương đối kỹ. Khay dựng đồ ăn phải sạch như chén bát ăn cơm của người, rửa sạch, phơi nắng... Thức ăn chính của nó là gạo nấu cháo với đầu gà xay nhuyễn".
Anh Long bảo, ngay từ nhỏ anh đã thích sưu tầm những con thú lạ về nuôi. Mỗi khi nuôi con gì, anh lại mày mò tìm hiểu về chúng. Thời gian trôi qua, đam mê nuôi thú lạ trong anh không hề giảm, trong khi kiến thức về chúng ngày một nhiều hơn. Và, anh chính thức bước chân vào thế giới ĐVHD từ đôi gà rừng.
“Cách đây hơn chục năm, một người bạn tặng tôi cặp gà rừng bảo mang về nuôi chơi. Nhưng lúc đó tôi nghĩ, tại sao không nhân giống thử mà lại nuôi chơi? Nghĩ thế nên tôi bắt đầu lên kế hoạch nuôi gây giống kinh doanh. Quá trình nuôi gà rừng tôi thấy chúng cũng không khó nuôi, trái lại, chẳng khác gà ta là mấy. Nuôi chừng năm thì gà bắt đầu đẻ những quả trứng đầu tiên”, anh Long nhớ lại.
Ngay sau khi thành công với đàn gà rừng, trở thành địa chỉ cung cấp giống gà rừng đầu tiên ở TP, anh bắt đầu nuôi con thứ 2 là nhím. Cơ sở ĐVHD Thanh Long lại là một trong những nơi đầu tiên ở Sài Gòn nuôi nhím.
“Thời đó, một cặp nhím giống có giá cả chục triệu đồng, nhím bố mẹ giá từ 20 - 30 triệu đồng/cặp mà cung không đủ cầu”, anh Long nói. Mấy năm sau, khi thị trường nhím bão hòa, anh Long bắt đầu nuôi con dúi, loài gặm nhấm họ chuột.
Anh bảo, dúi dễ nuôi, sức đề kháng cao, thức ăn chính của chúng là các loại măng, mía, rau, củ…dễ tìm, ít tốn kém, nhưng thịt lại cực ngon. Đây là một trong những loài động vật mang lại thu nhập cao và khá ổn định cho trang trại của anh Long hiện nay.
Một trong những loài ĐVHD được anh chú trọng nuôi là chồn hương, loài động vật cho giá trị kinh tế cao, được các nhà hàng lớn săn đón nhiều nhất. Với vốn kinh nghiệm tích lũy bao năm, việc nuôi chồn hương với anh gần như không có trở ngại gì. Nhờ được chăm sóc kỹ, đàn chồn hương trong trại của anh sinh trưởng tốt và không ngừng gia tăng về số lượng.
Trong khi chồn hương đã được nhiều người gây nuôi thành công, thì con cheo khá lạ với hầu hết người nuôi ĐVHD. Và trang trại Thanh Long cũng là nơi đầu tiên nuôi, nhân giống thành công con cheo. Hiện dàn cheo của anh đã lên đến gần 300 con.
“Cheo là một trong những loài ĐVHD cho thịt ngon, giá cao. Tại các nhà hàng, chỉ những đại gia mới dám ăn thịt cheo. Theo tôi biết thì hiện nay, ở TP và các vùng lân cận, chưa có ai nuôi được cheo. Nuôi con này phải biết một đặc điểm rất quan trọng, đó là chúng vô cùng nhát, chỉ cần nghe tiếng động lớn cũng có thể làm chúng giật mình, đứng tim mà chết. Vì thế, dân đi săn, bắn không trúng nó cũng chết vì tiếng nổ”, anh Long nói.
Hiện nay, trang trại của anh Long đang nuôi 12 loài ĐVHD. Trong đó nhiều loài có giá từ 5-6 trăm ngàn đến vài triệu đồng/kg như dúi, gà rừng, gà Đông Tảo, chồn hương, cheo, chim trĩ, gà lôi...
Riêng đàn chó Phú Quốc, có giá từ vài triệu đến vài chục triệu đồng/con. Tôi nhẩm sơ sơ trong đầu, chỉ tính riêng gà rừng mỗi tháng anh xuất khoảng 400 con giống, với giá 100 ngàn đồng/con, vị chi anh có khoảng 400 triệu đồng. Còn những con khác như cheo, chồn… giá cao hơn gà rừng từ 8 - 10 lần. Một khoản thu nhập khủng!
“Trang trại của anh quy mô cỡ này, chắc mỗi năm anh thu nhập cả chục tỷ chứ không ít?”, Tôi ướm hỏi. Anh Long cười, trả lời lấp lửng: “Làm gì được anh ơi. Còn đủ thứ chi phí”. Anh Long cho biết, chồn hương là loài ĐVHD có giá trị kinh tế cao nhất. Ngoài cho thịt thơm ngon, chồn còn được nhiều doanh nghiệp, nông dân trồng cà phê mua về nuôi để làm cà phê chồn.
Hiện nay trang trại anh có hơn 400 con chồn hương, mỗi năm chúng mang về cho anh bạc tỷ. “Một con chồn hương đẻ 1 năm 2 lứa, một lứa 4 con, chồn giống giá từ 4 - 5 triệu đồng/con. Còn chồn thương phẩm giá từ 1 - 1,3 triệu đồng/kg. Mỗi dịp tết đến, tôi cũng thu cả trăm triệu đồng từ gà Đông Tảo”, anh Long nói.
Tại trang trại Thanh Long, còn có đàn chó Phú Quốc trị giá cả tỷ đồng. Điều thú vị là đàn chó quý này ban đầu anh Long chỉ nuôi chơi, nhưng sau đó lại mang đến cho anh nguồn lợi khá lớn. “Ban đầu tôi nuôi một cặp chó Phú Quốc để giữ nhà, canh trại. Sau đó, chúng sinh sản khá tốt. Khách đến mua ĐVHD, tình cờ thấy đàn chó, hỏi mua.
Thế là tôi gây đàn, nhân giống kinh doanh luôn. Giờ đàn cho này cũng mấy chục con. Mỗi năm cũng kiếm cả trăm triệu”, anh Long cười.
Anh Long cho biết, sẵn sàng truyền đạt cho những ai muốn nuôi ĐVHD và nói thêm: “Để cho ăn đúng cách thì phải tìm hiểu về đặc tính của chúng. ĐVHD phần lớn ăn uống, hoạt động về đêm, phải biết để chăm sóc chúng vào các thời điểm thích hợp. Một lưu ý quan trọng nữa là phải xin phép cơ quan kiểm lâm trước khi nuôi”. (Nông Nghiệp Việt Nam 1/9) đầu trang(
Những năm gần, đây công tác quản lý, bảo vệ rừng nơi vùng biên ngày càng đi vào chiều sâu, huy động được sự tham gia tích cực của người dân địa phương, nhất là khi có sự ra đời và hoạt động hiệu quả của các tổ tuần tra bảo vệ rừng nơi vùng biên.
Những năm trước đây, công tác quản lý, bảo vệ rừng của xã Đắc Tôi, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam gặp rất nhiều khó khăn một phần do địa hình vùng núi cao, diện tích rừng tự nhiên còn lớn; bên cạnh đó ý thức của người dân về trách nhiệm giữ rừng vẫn còn hạn chế. Nhưng từ khi địa phương thành lập 4 tổ Bảo vệ rừng ở 4 thôn của xã với 5 thành viên/1 tổ thì ý thức bảo vệ rừng của người dân nơi đây đã dần thay đổi.
Trong thời gian qua, các tổ Bảo vệ rừng của xã Đắc Tôi phối hợp với Kiểm lâm địa bàn, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sông Thanh và lực lượng Biên phòng đóng chân trên địa bàn thường xuyên tuần tra, truy quét các địa bàn dễ xảy ra tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản, khoáng sản trái phép, phát hiện và đẩy đuổi các đối tượng lạ xâm hại rừng.
Ông Kring Viếc, Phó chủ tịch UBND xã Đắc Pring, huyện Nam Giang, Quảng Nam cho hay: Muốn làm tốt công tác bảo vệ rừng thì cần phải phối hợp chặc chẽ giữa các lực lượng Kiểm lâm địa bàn, Biên phòng và chính quyền địa phương các xã. Các lực lượng này phải thường xuyên tuần tra, truy quét khu vực các điểm nóng mới có thể hạn chế được tình trạng vi phạm chặt phá, khai thác lâm sản, săn bắt động vật rừng.
Lâm phận được giao quản lý giữa Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sông Thanh, Đồn Biên phòng Cửa khẩu Nam Giang, Đồn Biên phòng Đắc Pring trải dài trên địa bàn 4 xã La Dêê, Đắc Tôi, Đắk Pring, Đắk Pre với diện tích tự nhiên hơn 45.450 ha, trong đó diện tích đất có rừng là 38.040 ha. Để hạn chế tình trạng chặt phá, khai thác lâm sản, săn bắt động vật rừng và khai thác khoáng sản trái phép,
Ngày 18.8 vừa qua, tại xã La Dêê, huyện Nam Giang, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sông Thanh, Đồn Biên phòng Cửa khẩu Nam Giang, Đồn Biên phòng Đắc Pring và chính quyền địa phương 4 xã trên tổ chức ký kết quy chế phối hợp tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản thuộc lâm phận Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh.
Theo Thượng tá Nguyễn Tấn Lạc, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Cửa khẩu Nam Giang, Quảng Nam: Sau khi ký kết quy chế phối hợp, chúng tôi sẽ quán triệt đến từng cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Đồng thời xây dựng lộ trình, phân công lực lượng phối hợp thường xuyên với các đơn vị bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới kết hợp với bảo vệ tài nguyên, khoáng sản rừng trên địa bàn.
Với nhiều nội dung trong quy chế phối hợp gồm: tăng cường công tác phối hợp lực lượng tuần tra, truy quét hoạt động khai thác lâm sản trái phép; thường xuyên trao đổi, cung cấp thông tin về tình hình bảo vệ rừng thuộc phạm vi quản lý; phối hợp phòng cháy, chữa cháy rừng; tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân trong việc bảo vệ rừng, có thể tin rằng trong thời gian tới công tác giữ rừng Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Trị sẽ đạt nhiều kết quả tích cực hơn nữa. (ANTV 1/9) đầu trang(
Mỗi khi nhắc tới “kiểm lâm địa bàn” là chúng ta nghĩ tới lực lượng đang ngày đêm thường trực tại các cơ sở vùng sâu, vùng xa để bảo vệ màu xanh của những cánh rừng.… Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu và cảm nhận được công việc gian nan, vất vả, thậm chí là nguy hiểm đến tính mạng của họ.
Sẽ không ít người có suy nghĩ khá đơn giản về công việc, nhiệm vụ thường ngày của những cán bộ kiểm lâm địa bàn. Tuy nhiên, nếu không yêu nghề, yêu rừng, không có sức khỏe, sự chịu đựng trước những gian khổ, hiểm nguy thì họ khó có thể bám trụ được với nghề giữ rừng. Ngoài việc thường trực tại cơ sở, các kiểm lâm địa bàn còn phải “ăn rừng, ngủ rừng, sinh hoạt trong rừng” hàng tuần, thậm chí hàng tháng trời với bao khó khăn, hiểm nguy thường trực.
Xin kể lại câu chuyện của những cán bộ kiểm lâm địa bàn ở xã Háng Đồng (Bắc Yên), là một trong những trạm thuộc Hạt Kiểm lâm Tà Xùa, chỉ với 4 kiểm lâm địa bàn nhưng có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ gần 6.000 ha rừng thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa (theo quy định mỗi kiểm lâm địa bàn chỉ phải quản lý, bảo vệ 500 ha).
Mặc dù, mỗi người phải “gánh” gấp đôi số diện tích rừng theo quy định, nhưng hằng tháng, các kiểm lâm địa bàn nơi đây vẫn hoàn thành công việc tuần rừng, kiểm tra rừng theo quy định, đó là chưa kể đến những đợt tuần tra theo chương trình đột xuất hay thông tin mà người dân cung cấp.
Khi tôi đặt bút viết bài này cũng là thời điểm các anh đang tiến hành kiểm tra, khảo sát lại toàn bộ diện tích rừng mà trạm được giao quản lý. Đã hơn 1 tháng, nhưng nhiệm vụ khảo sát, kiểm tra rừng đợt này mới chỉ hoàn thành được 1/3 diện tích. Những chuyến tuần rừng như vậy, họ phải mang đầy đủ lương thực, thực phẩm cùng các vật dụng thiết yếu để ăn, ngủ trong rừng. Anh Cầm Văn Thuật, Kiểm lâm Trạm Háng Đồng tâm sự: Với gần 6.000 ha rừng đặc dụng, trữ lượng rừng còn lớn nên nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rất khó khăn.
Bởi lẽ, ngoài địa bàn đi lại không thuận lợi, ngôn ngữ bất đồng, người dân còn sống phụ thuộc vào rừng, trình độ dân trí của đồng bào còn nhiều hạn chế nên việc tuyên truyền Luật Bảo vệ và Phát triển rừng gặp không ít trở ngại. Mỗi đợt đi kiểm tra rừng của chúng tôi mất hàng tuần và đặc biệt vào mùa mưa thì rất vất vả. Có đợt nằm trong chương trình theo kế hoạch phải hằng tháng trời ăn, ngủ trong rừng...
Thực tế đã có không ít kiểm lâm địa bàn vì kiên quyết trong quản lý, bảo vệ rừng đã bị lâm tặc hành hung gây thương tích hoặc bị đe dọa đến an toàn tính mạng người thân. Thậm chí, trong quá trình đi kiểm tra rừng còn bị các đối tượng phá rừng có nhiều hành động chống đối với nhiều thủ đoạn, gây khó khăn cho lực lượng kiểm lâm địa bàn.
Vào thời điểm Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa còn nóng bởi tình trạng khai thác lâm sản trái phép. Khi đó, cũng bởi thu giữ gỗ vận chuyển trái phép của các đối tượng phá rừng nên xe ô tô của Hạt kiểm lâm Tà Xùa đã bị phục kích bằng cây chặn ngang đường cộng với một trận “mưa đá” lên xe ô tô đang có 5 người ở trong. Cũng tại đây, gần 40 đối tượng còn cầm dao, gậy kéo đến phá Trạm Suối Khang, Suối Tọ (Phù Yên) và hành hung các cán bộ kiểm lâm trực trạm.
Sau khi vây trạm, phá phách đồ đạc, các đối tượng đã bắt trói kiểm lâm địa bàn Vừ Xuân Tạ đưa lên bản hành hung (vì đêm hôm trước, anh cùng cán bộ trạm thu giữ gỗ khai thác trái phép của các đối tượng). Sau sự việc này, lực lượng chức năng đã bắt giữ 13 đối tượng liên quan. Còn kiểm lâm địa bàn Vừ Xuân Tạ phải vào viện điều trị... Hay kiểm lâm địa bàn Tòng Huấn, thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Mường La cũng đã bị các đối tượng hành hung.
Không chỉ bị ảnh hưởng về sức khỏe, khủng bố về tinh thần với cá nhân mỗi cán bộ kiểm lâm địa bàn, mà gia đình, người thân của các anh cũng bị đối tượng xấu đe dọa, thậm chí bị hành hung...
Ông Đào Mạnh Phong, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Mộc Châu chia sẻ: Cũng nhờ nỗ lực của lực lượng kiểm lâm địa bàn và sự phối hợp của các lực lượng liên quan nên tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn đã giảm đáng kể. Đây là lực lượng trực tiếp phải đối mặt với những khó khăn, nguy hiểm, thậm chí là cả những cám dỗ mà nếu không kiên quyết sẽ làm ảnh hưởng tới uy tín của ngành...
Chính những đóng góp, hy sinh thầm lặng của lực lượng kiểm lâm địa bàn đã và đang góp phần vào công tác quản lý bảo vệ rừng, nâng cao ý thức bảo vệ màu xanh của rừng và giảm dần tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản, xâm lấn rừng trái phép trong nhiều năm qua... (Báo Sơn La 31/8) đầu trang(
Cuối năm 2014, hơn 10 tấn rùa biển được phát hiện tại Tp.Nha Trang, Khánh Hòa được coi là vụ bắt giữ rùa biển lớn nhất từ trước đến nay. Tuy nhiên, sau 09 tháng kể từ ngày vụ việc đầu tiên được phát hiện, các đối tượng cầm đầu vẫn chưa bị truy tố hay tạm giam.
Theo Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV), vụ bắt giữ hơn 10 tấn tang vật này là thành quả sau hơn 2 năm ENV theo dõi chặt chẽ đường dây săn bắt và buôn bán rùa biển, từ những đối tượng chuyên đánh bắt rùa biển tại các địa phương đến các thương lái trung gian. Và mọi đầu mối đều dẫn đến đối tượng được cho là “ông trùm” đường dây - Hoàng Mạnh Cường và anh trai Hoàng Tuấn Hải.
Theo sát vụ việc ngay từ những ngày đầu, ENV cho biết, các cơ quan, ban, ngành Trung ương đã hết sức quan tâm đến quá trình xử lý vụ việc. Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao và Bộ Công an cũng đã có các văn bản trực tiếp chỉ đạo nghiệp vụ, hướng dẫn các cơ quan chức năng tỉnh Khánh Hòa xử lý vụ việc này.
Theo quy định tại Điều 103 và 104 Bộ luật Tố tụng Hình sự (2003), cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành xác minh thông tin và ra quyết định khởi tố vụ án trong vòng 20 ngày kể từ ngày nhận được tin báo. Trong những vụ việc phức tạp, thời hạn giải quyết có thể dài hơn nhưng không quá 2 tháng.
Luật sư, Thạc sĩ Trần Thị Ngân, Giám đốc Công ty luật Legal Associates Hà Nội cho biết: “Vi phạm được phát hiện tại Khánh Hòa không phải là một vụ việc phức tạp. Các chứng cứ thu thập được đều phù hợp với lời khai của Hải (anh trai của Cường) và khẳng định hành vi buôn bán rùa biển của các đối tượng. Kết quả giám định cũng cho thấy số rùa biển thu giữ thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 160”.
Chính vì thế, luật sư Ngân nhận định: “Đối tượng Hoàng Tuấn Hải lẽ ra phải bị khởi tố ngay khi cơ quan chức năng địa phương nhận được kết quả giám định tang vật”. Tuy nhiên, sau 09 tháng kể từ ngày vụ việc đầu tiên được phát hiện, Hoàng Mạnh Cường và anh trai vẫn chưa bị truy tố hay tạm giam.
Bà Bùi Thị Hà, Phó giám đốc Quản lý chương trình Chính sách và Pháp luật của ENV cho rằng: “Sự chậm trễ trong tiến trình giải quyết vụ việc hiện đang dấy lên nhiều quan ngại về tính minh bạch trong quá trình điều tra và xử lý các đối tượng cầm đầu, những kẻ được cho là có tầm ảnh hưởng lớn tại địa phương trong nhiều năm qua”.
Ngày 14/5/2015, sau khi vụ vận chuyển trái phép 31 sừng tê giác tại Nghệ An được phát hiện, , đối tượng ngay sau đó cũng bị bắt giữ và khởi tố. Các vụ việc vận chuyển và buôn bán hổ trái phép cũng thường ngay lập tức bị bắt giữ và khởi tố.
Một ví dụ điển hình là vụ việc một cá thể hổ đông lạnh nặng 120kg bị tịch thu trên địa bàn tỉnh Nghệ An tháng 12/2014. Trong vụ việc này, các cơ quan chức năng đã tiến hành khởi tố vụ án chỉ 7 ngày sau khi phát hiện.
Tương tự như hổ hay tê giác, các loài rùa biển hiện đang là những loài được bảo vệ ở cấp độ cao nhất theo quy định của pháp luật Việt Nam. Bà Bùi Thị Hà đặt câu hỏi: “Tại sao vụ việc liên quan hơn 7.000 cá thể rùa biển bị sát hại lại không được các cơ quan chức năng địa phương quan tâm xử lý như vụ bắt giữ 31 sừng tê giác hay một cá thể hổ đông lạnh?”.
"Đây là một vụ việc thu hút sự chú ý lớn của dư luận quốc tế, do đó, nó là một cơ hội lớn để Việt Nam chứng minh cho cả thế giới quyết tâm cao của quốc gia trong nỗ lực bảo vệ rùa biển và xử lý các đường dây tội phạm nghiêm trọng về động vật hoang dã nguy cấp quý hiếm”, bà Hà nói. (Thời Báo Tài Chính Việt Nam 31/8) đầu trang(
Tình trạng săn bắn, buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã bất hợp pháp thời gian gần đây trên địa bàn Lâm Đồng đang trở thành vấn đề nghiêm trọng. Đặc biệt, một số vụ săn bắt Voọc chà vá chân đen vừa bị cơ quan chức năng phát hiện, bắt giữ mới đây thực sự đặt ra nhiều thách thức cho lực lượng chức năng trên địa bàn.
Toàn bộ tang vật vừa được lực lượng Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng phát hiện tại tiểu khu 371, thuộc địa bàn xã Đạ Quyn, huyện Đức Trọng, một số lượng cá thể Voọc chà vá chân đen bị sát hại, với khoảng 5 cá thể, với tổng trọng lượng trên 6kg, gồm: cá thể nguyên, 10 bàn tay và bà chân, xương và thịt, nội tạng và da.
Cùng tang vật Voọc, cơ quan chức năng còn phát hiện 1 khẩu súng K líp và 8 viên đạn; 1 cưa xăng cầm tay, 80 dây bẫy và một số dụng cụ khác dùng để bẫy thú. Tuy nhiên, khi đoàn liên ngành tiếp cận hiện trường thì đối tượng vi phạm đã nhanh chân tẩu thoát
Đối tượng Nguyễn Văn Tân, sinh năm 1987, thường trú tại xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, đã bị lực lượng chức năng bắt quả tang vào đầu tháng 8/2015 khi đang vận chuyển động vật hoang dã trên đường đưa đi tiêu thụ. Gồm một con Voọc chà vá chân đen với trọng lượng gần 13kg đã bị bắn chết, cùng tang vật xe máy, 1 khẩu súng săn tự chế, 10 viên đạn...
Theo Chi cục kiểm lâm Lâm Đồng, cho biết: Thời gian qua, tình trạng săn bắn, vận chuyển, kinh doanh trái phép động vật hoang dã có chiều hướng gia tăng. Tuy nhiên, để phát hiện, xử lý vấn đề đề này thì cơ quan chức năng vẫn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, trước tính chất nghiêm trọng của hai vụ việc săn bắn Voọc vừa qua, Chi cục kiểm lâm chỉ đạo các Hạt kiểm lâm thu thập thông tin, chuyển hồ sơ sang cơ quan công an khởi tố vụ án.
Voọc chà vá chân đen nói riêng và một số động vật hoang dã như, Bò tót, Gấu, Voi, Khỉ... trong danh mục các loài động vật quý hiếm hiện đang bị nguy cấp cần được ưu tiên bảo vệ trên toàn thế giới.
Vì vậy, ở Lâm Đồng, để chấm dứt tình trạng săn bắn, buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã, bên cạnh trách nhiệm của cơ quan chức năng đòi hỏi các đơn vị chủ rừng, chính quyền và xã hội cần chung tay hơn nữa trong việc giữ gìn và bảo tồn động vật quý hiếm. (ANTV 31/8) đầu trang(
Nằm sâu trong vùng núi rừng hùng vĩ của Trường Sơn là VQG Phong Nha-Kẻ Bàng (PN-KB, Quảng Bình) vừa được UNESCO vinh danh là Di sản thiên nhiên thế giới lần thứ 2.
Bên trong khu vực này, có số lượng loài về động vật, thực vật nhiều hơn bất cứ vườn quốc gia nào khác của Việt Nam; hội tụ đầy đủ các loài thực vật ở cả ba miền Bắc-Trung-Nam. Có nhiều loài không tìm được bất cứ đâu trên thế giới, ngoài ở đây.
Nếu vườn treo Semiramit của xứ Babylon (Lưỡng Hà cổ đại) được xây dựng khoảng năm 600TCN bằng bàn tay con người thì "vườn treo" ở PN-KB (Quảng Bình) đã có tuổi đời từ khoảng 450 triệu năm trước. Nó cổ xưa hơn cả những hiểu biết của con người với khu vực này. Và ở các độ cao từ 800m-1.213m là một hệ thống "vườn treo" khổng lồ ẩn dấu kỳ hoa dị thảo không chỉ của xứ nhiệt đới mà còn mang màu sắc ôn đới.
Năm 1966, nhà địa chất người Pháp, Pierre G từng công bố: “Núi đá vôi chiếm phần lớn diện tích trong PN-KB. Đây chính là khối núi đá vôi liên tục rộng lớn nhất của Việt Nam. Phạm vi của núi đá vôi trải rộng sang Lào có diện tích khoảng gần 200.000ha. Nếu tính toàn bộ khối núi đá vôi liên tục cả về phía Việt Nam và Lào thì đây là một trong những khối núi đá vôi rộng lớn nhất hành tinh. Tại đây, các dãy núi đá vôi phát triển hầu như liên tục, thành phần tương đối đồng nhất, độ dày trên 1.000m”.
Được hình thành từ biển Đông, các vận động kiến tạo đã đẩy đáy biển nhô lên và “nhào nặn” thành núi non kỳ vĩ nơi này. Địa hình núi đá vôi bị chia cắt rất mạnh, với những vách đá dựng đứng, xếp lớp, đỉnh lởm chởm, thường kèm theo quá trình karst do hoà tan và ngưng đọng carbonat hình thành nên các nhũ đá, măng đá, nấm đá, chuông đá, cột đá đa dạng, phức tạp, đẹp kỳ diệu trong các hang động.
Nhiều nơi đá bị mài mòn tạo nên những cổng trời, rừng đá, cầu đá, giếng đá rất kỳ thú. Giữa các vách đá thường là các thung kín dài và nhỏ, rộng khoảng 20-100m. Trong vùng núi đá vôi hầu như không có sông suối trên bề mặt, mà chỉ thấy ở vành ngoài. Những mắt hút rải rác trong các thung đưa nước thoát theo các sông ngầm.
Các đỉnh núi cao điển hình trên 800m tạo thành một dải gần như liên tục dọc biên giới Việt - Lào, trong đó có các đỉnh nhô cao tới trên 1.000m như Phu Tạo (1.174m), Co Unet (1.150m), Phu Canh (1.095m), Phu Mun (1.078m), Phu Tu En (1.078m), Phu On Chinh (1.068m), Phu Dung (1.064m), Phu Tu Ôc (1.053m), Phu Long (1.015m), Phu Ôc (1.015m), Phu Dong (1.002m).
Xen kẽ giữa các đỉnh cao trên 1.000m là các đỉnh cao điển hình 800-1.000m như Phu Sinh (965m), Phu Co Tri (949m), Phu On Boi (933m), Phu Tu (956m), Phu Toan (905m), Phu Phong (902m), núi Ma Ma (835m), Phu Toc Vu (1.000m), Mã Tác (1.068m), Cổ Khu (886m), U Bò (1.009m), Co Rilata (1.128m); đỉnh cao nhất của của VQG PN-KB là đỉnh Co Preu (1.213m). Vùng karst này còn chứa nhiều bí ẩn, nhiều nơi chưa hề có dấu chân người đặt tới.
Đặc biệt nó nằm ở miền phân thuỷ giữa hai hệ thống sông: Xê Băng Hiêng và Xê Băng Phai chảy vào sông Mê Kông và hệ thống sông Son, sông Gianh, sông Đại Giang để ra biển Đông. Tài liệu của UNESCO ghi nhận như thế. Nó cũng là yếu tố quyết định hình thành "vườn thượng uyển" độc đáo bậc nhất Việt Nam.
Các ngọn núi đá vôi ở PN-KB đều là những cảnh quan “treo” tuyệt đẹp. Quảng Bình là xứ nhiệt đới, chiều ngang nhỏ hẹp, nhưng ẩn chứa bên trong đó nhiều bí ẩn tự nhiên chưa thể khám phá hết. PN-KB có diện tích hơn 125.000ha. Năm 2003, khi thế giới biết đến địa danh này với sự công nhận di sản thế giới về địa mạo địa chất, nó được biết đến với 2.400 loài thực vật thì năm 2015, trong hồ sơ của Ủy ban di sản thế giới do Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN ghi nhận đến 2.934 loài.
Đa phần chúng sống trên các hệ tầng đá vôi, nơi không có đất. Một ít nhóm loài khác được phân bố trong các thung lũng có đất và các dãy núi đất khác. Nhưng tính độc đáo của chúng là treo mình trên núi đá vôi để sinh tồn. Các chuyên gia IUCN khẳng định rằng, còn nhiều loài thực vật nữa chưa hề biết đến, và chưa khám phá hết bởi ở PN-KB còn nhiều nơi chưa có dấu chân người nghiên cứu.
Các khu rừng khổng lồ treo trên núi đá vôi ở đây đều có những giống loài ảnh hưởng khí hậu ôn đới từ độ cao 800m trở lên. Trong đó, điển hình nhất là Bách xanh núi đá, một loài thực vật cổ xưa, quý hiếm, nằm trong sách đỏ thế giới và Việt Nam hiện sót lại duy nhất ngoài tự nhiên ở đây với độ thuần chủng trên diện tích 2.400ha là một kỳ quan của tự nhiên.
Leonid V. Averyanov, giáo sư từ Viện thực vật học Cômarốp, (Viện Hàn lâm khoa học Liên bang Nga), một trong các chuyên gia phát hiện ra khu rừng treo huyền thoại này đã thốt lên: “Không nghi ngờ gì nữa, việc phát hiện được khu rừng Calocedrus rupestris Bách xanh đá cùng với phức hợp loài trong đó cho thấy đây là một trung tâm đa dạng đặc hữu, đặc biệt và có ý nghĩa toàn cầu.
Việc bảo tồn cấp thiết và có hiệu quả các quần xã rừng ở vùng này có thể coi là mục tiêu có tính ưu tiên cao nhất của chiến lược bảo tồn của Việt Nam. Loài Calocedrus rupestris Bách xanh đá “hoá thạch sống” từ thời đại Trung sinh”, khoảng 100 triệu năm trước.
Ông Đinh Rầu, người A Rem sống bên khu vườn treo khổng lồ này nói: “Mỗi lần nắng nóng, đi rừng, vào khu Bách xanh núi đá là mát ngay. Ngủ ở đây không có sên, vắt. Dưới xuôi nắng nóng thì ở đây mây phủ trong ngày, se lạnh, thích lắm. Đã thế, chim muông cũng nhiều vô kể, lông cánh sặc sỡ, đẹp khó tả lắm”.
PN-KB có đến 10 kiểu thảm thực vật, mà giới nghiên cứu vẫn nôm na gọi là 10 kiểu vườn treo với 15 kiểu sinh cảnh. Nó nhiều hơn bất cứ khu bảo tồn nào ở Việt Nam. Đặc biệt, ở đây tồn tại kiểu rừng kín thường xanh nhiệt đới trên núi đá vôi ở độ cao trên 700m với diện tích 22.500ha là kiểu rừng độc đáo nhất Việt Nam và trên thế giới. Nó tuyệt vời đến mức năm 2000, Tổ chức bảo tồn quốc tế WWF phải đưa vào danh sách một trong 200 trung tâm đa dạng sinh học cực kỳ quan trọng của thế giới.
Bên trong rừng mưa Kẻ Bàng, các loài cây đều chen chúc sinh sống từ tầng thấp đến núi cao đá vôi. Từ địa y, rêu tảo đến những loài cổ thụ như Táu đá hoặc Bách xanh... chúng sống ở các vườn treo từ 700 đến hơn 1.200m không có đất, nhưng các loài đều có sức tiến hóa độc đáo.
Ở khu rừng Táu đá hay Bách xanh sinh sống từ cổ xưa đến nay, bộ rễ của chúng to bạnh, hoặc nhỏ bé “khoan” sâu vào các kẻ nứt của đá vôi để hút chất mùn làm dinh dưỡng nuôi thân cây. Các dạng cây già cỗi, mục rỗng, chết đi, theo thời gian chúng sẽ phân hủy, tạo ra dinh dưỡng nuôi lại con cháu của chúng. Cơ chế sinh tồn của chúng ở hoang mạc đá vôi rất khắc nghiệt nhưng tiến hóa để thích nghi vô cùng vi diệu.
Thế nên chúng luôn gây ngạc nhiên đối với các nhà nghiên cứu khi biết trên các vùng núi đá vôi không có đất nhằm tạo dinh dưỡng. Những lớp lá rụng xuống, lâu dần ẩm ướt, mục đi đều được bộ rễ tranh thủ, không bỏ phí bất cứ thứ gì.
2.934 loài thực vật ở rừng mưa Kẻ Bàng còn tiến hóa xa hơn để lấy chất dinh dưỡng từ phía biển trong một số tháng. Khi mùa mưa bão đến, gió mùa đưa hơi nước từ biển vào, trong thành phần các loại vi chất bốc lên từ hơi nước, có khí ni-tơ rất ít đi theo, chúng hấp thụ bằng cơ chế riêng từ lá. Ngoài ra, những xác động vật và xác của hơn 3.000 loài vi sinh vật nhỏ bé dưới tán chúng cũng góp thêm khí ni-tơ cho các loài thực vật trên núi đá vôi.
Tất cả đều được tiêu thụ hết mức để sản xuất ra môi trường trong lành và cảnh quan hùng vĩ. Cây sống trên đá vôi không thẳng tắp, cong vênh, xoắn lại như dạng bonsai khắc khổ, nhưng chúng tạo nên các khu vườn treo đẹp hơn cả vườn thượng uyển. Giới nghiên cứu khẳng định, nếu không may chúng bị biến mất do một tai biến nào đó thì phải mất hàng thế kỷ mới có thể hồi phục lại.
Chính vì thế, mà UNESCO mới xác nhận Di sản thế giới lần thứ 2 bằng hai tiêu chí hàng đầu gồm: PN-KB là ví dụ nổi bật đại diện cho các tiến trình sinh thái trong sự tiến hóa và phát triển của các hệ sinh thái trên cạn. PN-KB sở hữu môi trường sống tự nhiên có ý nghĩa nhất đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học. (Báo Quảng Bình/ Infonet 31/8) đầu trang(
Rạng sáng 31/8, lực lượng chức năng tỉnh Ninh Bình bắt quả tang xe khách biển kiểm soát 43B - 004.12 chạy tuyến Đà Nẵng - Hà Nội chở 7,44 tạ nội tạng động vật đang bốc mùi hôi thối, 60 chai rượu ngoại giả và 2 túi lưới đựng 36 kg rắn (còn sống).
Qua khai thác ban đầu, lái xe Phan Nhật Truyền, sinh năm 1979, trú tại quận xã Quế Thuận, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam cho biết, số nội tạng động vật, rượu giả và 36 kg rắn trên đều không có nguồn gốc, xuất xứ được các chủ hàng thuê vận chuyển từ bến xe Đà Nẵng đến bến xe Giáp Bát (thành phố Hà Nội) sẽ có người ra nhận.
Cũng trên xe này, lực lượng chức năng phát hiện Lê Văn Tuấn, sinh năm 1969, trú tại tỉnh Quảng Nam đang vận chuyển 5 cá thể tê tê được đựng trong túi du lịch. Đối tượng này khai nhận 5 cá thể tê tê được đem ra tỉnh Nam Định để tiêu thụ.
Cơ quan chức năng đang điều tra làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật. (Công Lý 31/8) đầu trang(
Ngày 31-8, ông Đinh Khoa Toàn, Chủ tịch UBND huyện Phú Quốc (Kiên Giang), cho biết hiện nay mặc dù việc chặt phá rừng và lấn chiếm đất rừng giảm hơn trước nhưng vẫn còn xảy ra ở địa phương.
Nguyên nhân chính do giá đất trên địa bàn tăng gấp 3-4 lần. Nhiều nhà đầu tư ngoài tỉnh mua đất nhưng không tìm hiểu kỹ về nguồn gốc nên mua cả đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đất nhà nước quản lý (không có giấy); từ đó tạo điều kiện cho một số đối tượng lén lút phát dọn sau đó mua bán đất trái phép.
UBND tỉnh Kiên Giang đã chỉ đạo cơ quan chức năng giữ nguyên hiện trạng đất rừng và bảo vệ đất rừng không để mất; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra xử lý chống chặt phá rừng. Cơ quan công an lập chuyên án theo dõi những “cò” mua bán đất để xử lý theo quy định.
Chiều 31-8, ông Phạm Tuân, Trạm phó Trạm Kiểm lâm Trà Sư (An Giang), cho biết đến trưa 31-8, đám cháy tại lô 4b, khoảnh 4, Tiểu khu 7, Khu bảo vệ cảnh quan rừng tràm Trà Sư đã được dập tắt hoàn toàn.
Trước đó, kiểm lâm viên của trạm phát hiện đám cháy đang thiêu rụi gần 20 ha rừng trồng và thảm thực vật; trong đó có 10 ha đất cỏ, 10 ha đất rừng trồng năm 1989. Sau hơn hai giờ, đám cháy đã được khống chế và dập tắt. Nguyên nhân ban đầu được xác định là do người dân đi đốt tổ ong lấy mật gây ra. (Pháp Luật TP.HCM 1/9) đầu trang(
Theo Trạm Kiểm lâm Trà Sư, thuộc xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên (An Giang), đến trưa 31-8, đám cháy tại lô 4b, khoảnh 4, Tiểu khu 7, Khu Bảo vệ cảnh quan rừng tràm Trà Sư đã được dập tắt hoàn toàn.
Trước đó, ngày 30-8, đám cháy đã thiêu rụi hơn 20 ha rừng trồng và thảm thực vật; trong đó có 10 ha đất cỏ, 10 ha đất rừng trồng năm 1989. (Nhân Dân 31/8) đầu trang(
Dù là hàng cấm, chưa có cơ sở khoa học chứng minh tác dụng chữa bệnh ung thư nhưng vảy tê tê vẫn được các đầu nậu vô tư mua bán,
trục lợi.
Ngày 26-8, qua một đại gia ngành đá hoa cương ở Q.12
(TP.HCM), chúng tôi liên hệ với ông Anh quê Hà Tĩnh, chuyên bán động vật hoang dã. Ông Anh quả quyết: “Tê tê hàng “đẹp” 4-5 kg/con bây giờ rất hiếm nên giá hiện tại 7 triệu đồng/kg, còn vảy của nó cũng không có giá dưới 5 triệu đồng/kg. Một con tê tê sau khi làm thịt cũng chỉ lấy được vài lạng vảy”.
Nguồn vảy tê tê của ông Anh là từ trong nước hoặc ở Campuchia và một số nước châu Phi. Mặt hàng “độc” này được các bạn hàng mua dùng để chữa bệnh và chế tác đồ trang sức. Trong đó loại vảy có kích cỡ lớn (1kg tầm 50-60 cái) giá 8,5 triệu đồng/kg, còn loại vảy nhỏ hơn giá 5 triệu đồng/kg. Khi hỏi về tác dụng chữa bệnh gì thì ông Anh chắc lời: “Ung thư nó còn chữa được nữa huống chi mấy bệnh thông thường. Có vài ký vảy ai lừa anh làm gì, anh cứ yên tâm”.
Cũng buôn bán vảy tê tê, Lâm ở tỉnh Bình Dương cho biết nguồn gốc vảy tê tê của mình từ một đầu nậu tại Hà Tĩnh cung cấp. Đêm
25-8 tại nhà Lâm trên đường Nguyễn Đình Chiểu (P.Phú Cường, TP Thủ Dầu Một), Lâm mau mắn lấy ra 5 vảy tê tê bằng một ngón tay và 2 móng tê tê nhọn cứng rồi chốt giá 1 triệu đồng.
Nếu khách chỉ lấy 5 vảy thì Lâm chắc giá 700.000 đồng. Lâm vẽ vời: “Nguyên một con tê tê rất nhiều vảy nhưng 5 vảy này quý hơn mấy cái kia, mài ra uống trị nhiều thứ lắm”. Khi hỏi thêm trị thứ gì thì Lâm ậm ờ: “Phụ nữ trị tắc sữa, còn nhiều bệnh khác thì phải xài mới biết rõ”.
Chiều 26-8 tại lô L cư xá Thanh Đa (P.27, Q.Bình Thạnh), ông Thư tầm 40 tuổi lấy trong balô ra một bịch chứa vảy tê tê. Ông này giới thiệu đây là hàng “xách tay” theo đường hàng không từ Ghana về Việt Nam. Hiện ông này đang có 5kg vảy tê tê giá 8 triệu
đồng/kg, nếu mua hết số hàng ông sẽ để giá mềm hơn chỉ 7,5 triệu đồng/kg. Ông này quả quyết: “Hàng thiệt một tỉ phần trăm, nếu muốn thì cầm về thử đi”.
Khi hỏi: “Có ra giấy gì không?” thì ông Thư đốp lại: “Không, hàng này có giấy gì đâu. Mấy cái này nhạy cảm lắm”. Ông Thư còn nói nếu làm ăn được với số lượng nhiều thì giá cả có thể thỏa thuận lại, có giấy tờ đàng hoàng.
Còn ông Long (nhà ở quận 5, TP.HCM) là một mối chuyên cung cấp tê tê sống cũng như hàng rừng các loại. Ông Long hề hà: “Tê tê sống tôi còn cung ứng được huống chi vảy của nó, chỉ cần anh có nhu cầu là sẽ có người giao hàng tận nhà”. Ông Long cho hay tê tê sống hiện có giá hơn 10 triệu đồng/kg, còn vảy của nó không dưới 15 triệu đồng/kg.
“Một con tê tê vài ký sau khi làm thịt chỉ còn được vài lạng vảy, muốn có một ký vảy thì phải làm thịt vài con mới có” - ông Long nói. Ông này khẳng định mối từ Campuchia lo tìm “hàng”, vận chuyển về TP.HCM bằng ôtô. Nếu khách đồng ý lấy hàng, ông Long sẽ viết giấy cam kết, giao nhận tiền cọc tại nhà mình để đảm bảo uy tín.
Chiều 26-8, Thắng - thanh niên bán hàng tại cửa hàng dược liệu trên đường Trần Hưng Đạo (Q.5) - bảo: “Xuyên sơn giáp là vảy con tê tê, mình về rửa đi, chiên cho nó phồng lên rồi cho vào với thuốc. Cái này trị về bệnh ung thư kết hợp với các vị thuốc khác”. Chúng tôi hỏi: “Mua nhiều có không?”. Thắng trả lời: “Đặt cọc chứ, cái này là hàng giá trị. Mấy con mới được một ký”.
Thắng mở một bịch nilông chứa vảy tê tê ra giới thiệu một con tê tê gồm cả vảy to và vảy nhỏ. Sau khi làm thịt tê tê bán cho nhà hàng thì mối sẽ bán vảy cho cửa hàng. Thắng lấy bịch vảy tê tê bỏ lên cân tiểu ly cân được cả thảy 259g.
Lúc này, bà chủ cửa hàng báo giá 100g vảy tê tê loại còn nguyên chưa qua sơ chế giá 1,1 triệu đồng, 1kg là 11 triệu đồng.
Theo bà này, vảy tê tê có nguồn gốc từ Việt Nam hoặc Campuchia mới là hàng đẹp. Giá cả vảy tê tê tùy vào thời điểm, khoảng 3-4 năm trước còn có giá cao hơn bây giờ, có những lúc thị trường khan hiếm không xoay nổi hàng.
Theo bà chủ cửa hàng, trên thị trường có vảy tê tê giá chỉ tầm 7-8 triệu đồng/kg, loại này được sao tẩm bằng cát và muối để tăng trọng lượng.
Một số cửa hàng dược liệu tại Q.5 còn nhận cung cấp mặt hàng vảy tê tê đã qua sơ chế và cả vảy thô chưa qua chế biến. Ngày
26-8, ông T. ở cửa hàng trên đường Triệu Quang Phục (Q.5) chắc nịch giá vảy tê tê đã chiên kích cỡ khoảng hai ngón tay 8 triệu đồng/kg, còn hàng thô giá 12 triệu đồng/kg, vảy có nguồn gốc từ Campuchia.
Ông này giải thích hàng chưa chiên có giá cao hơn do hàng chiên rồi thì 1kg tăng trọng thành 2kg. “Đồng ý mua hàng thì tôi mới lấy về” - ông T. nhấn mạnh.
Trong khi đó, một phụ nữ ở cửa hàng dược liệu trên đường Hải Thượng Lãn Ông (P.10, Q.5) chốt giá 1kg vảy tê tê đã sao 11 triệu đồng/kg. “Tôi bán dược liệu nên không hiểu mấy ông thầy thuốc xài làm sao. Mỗi ông thầy thuốc có cách xài thuốc riêng” - bà này nói. Theo bà chủ, vảy tê tê không có sẵn tại cửa hàng, muốn lấy chỉ cần đợi khoảng 10 phút bà sẽ đem hàng về.
Theo ông Nguyễn Xuân Lưu - chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP.HCM, tê tê là động vật hoang dã đặc biệt quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, nằm trong danh mục bị cấm kinh doanh, buôn bán.
Ông Lưu cho rằng thông tin về sừng tê giác, vảy tê tê chữa trị bệnh ung thư chỉ là lời đồn thổi để dân buôn bán làm ăn, trục lợi.
Còn theo PGS.TS.DS Nguyễn Hữu Đức, tới nay y học chính thống không hề dùng vảy tê tê, thịt tê tê làm thuốc chữa bệnh. Càng không có chứng cứ khoa học nào chứng minh vảy tê tê trị được ung thư.
Tác dụng chữa bệnh của các động vật hoang dã quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng như vảy tê tê, sừng tê giác, cao hổ cốt... vẫn dựa theo lời đồn đại, truyền miệng chứ chưa có công trình khoa học nào xác định tính hiệu quả của tác dụng này.
Ngày 25-8, Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) cùng các lực lượng chức năng khám xét container số hiệu WHLU291192 đang nằm tại cảng Tiên Sa (TP Đà Nẵng), phát hiện khoảng 220 bao chứa ngà voi và vảy tê tê lẫn trong các bao hàng đậu đỏ.
Trước đó ngày 15-8, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất
(TP.HCM) cũng bắt giữ 42,2kg vảy tê tê. Lô hàng này xuất phát từ Nigeria, qua Thổ Nhĩ Kỳ, nhập về Việt Nam và được khai báo là đồ dùng cá nhân. (Tuổi Trẻ 31/8) đầu trang(
Hơn 10 năm nay diện tích rừng ở đây dần bị thu hẹp bởi người dân một mặt khai thác làm nguyên liệu, mặt khác khai phá để nuôi trồng thủy sản.
Mục tiêu từ nay đến năm 2020, tỉnh Kiên Giang sẽ phấn đấu bảo vệ và trồng mới hơn 76.600 ha rừng theo đề án trồng mới 5 triệu ha rừng của Chính phủ. Thế nhưng, trên thực tế hiện nay diện tích trồng rừng không đủ bù đắp diện tích rừng mất đi do người dân khai thác và khai phá nuôi thủy sản. Ghi nhận của phóng viên Truyền hình Quốc hội Việt Nam tại huyện Kiên Lương, nơi hàng năm diện tích rừng tiếp tục bị thu hẹp vì người dân phá rừng nuôi tôm - cua.
Kiên Lương nằm trong vùng Tứ giác Long Xuyên của tỉnh Kiên Giang, nơi có diện tích rừng ngập mặn ven biển và rừng tràm ngập nước khá lớn trong tỉnh. Hơn 10 năm nay diện tích rừng ở đây dần bị thu hẹp bởi người dân một mặt khai thác làm nguyên liệu, mặt khác khai phá để nuôi trồng thủy sản.
Những gốc cây trơ rễ lộ thiên như thế này là những tàn tích của phần lớn diện tích rừng khu vực đồi núi và rừng ngập mặn ven biển ở đây được người dân khai phá lấy đất làm vuông nuôi tôm - cua. Dường như tại khu vực này, xung quanh đều bị khai phá cạn kiệt, rừng giờ đây đã trở thành những vuông nuôi thủy sản, chỉ còn khoảng 20% cây rừng còn lại, nhưng chúng cũng đang bị đe dọa từng ngày.
Việc quy hoạch vùng nuôi tôm của huyện Kiên Lương chưa hợp lý bởi đây là vùng đồi núi, các hòn núi thì từng ngày bị khai thác đá phục vụ cho các nhà máy chế biến xi măng ngày càng lớn, rừng trên đồi núi trơ trọc, diện tích giảm đáng kể. Còn dưới các chân núi, rừng cũng bị khai phá triệt để để lấy diện tích đất nuôi thủy sản.
Từ thực tế này, chính quyền địa phương huyện Kiên Lương và ngành nông nghiệp tỉnh Kiên Giang cần vào cuộc, sớm quy hoạch và quy hoạch lại vùng sản xuất, vùng trồng rừng, làm thế nào vừa đảm bảo cuộc sống người dân, vừa giữ vững được diện tích rừng thiên nhiên vốn có bấy lâu nay. (VOV Giao Thông 31/8) đầu trang(
Sở NN và PTNT Bắc Giang vừa phê duyệt dự toán hỗ trợ bảo vệ hơn 3.400 ha rừng sản xuất là rừng tự nhiên do Ban Quản lý dự án 147 huyện Lục Nam thực hiện.
Theo đó, diện tích rừng bảo vệ thuộc các xã: Bình Sơn, Lục Sơn, Vô Tranh, Nghĩa Phương, Huyền Sơn, Cẩm Lý và Bắc Lũng. Tổng kinh phí đầu tư hơn 360 triệu đồng từ nguồn ngân sách tỉnh.
Với sự biến đổi của khí hậu hiện nay thì việc bảo vệ môi trường có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Việc hỗ trợ kinh phí nhằm khuyến khích người dân gìn giữ, tăng tỷ lệ che phủ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái. (Đại Biểu Nhân Dân 31/8) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Hệ sinh thái rừng có vai trò hết sực quan trọng đối với đời sống con người, các nhà sinh thái học đã xác định 4 nhóm dịch vụ mà các hệ sinh thái rừng cung cấp, bao gồm: Dịch vụ sản xuất: Thực phẩm, nước sạch, nguyên liệu, chất đốt, nguồn gen...; Dịch vụ điều tiết: Phòng hộ đầu nguồn, hạn chế lũ lụt, điều hoà khí hậu, điều tiết nước, lọc nước, thụ phấn, phòng chống dịch bệnh…; Dịch vụ văn hoá: Giá trị thẩm mỹ, quan hệ xã hội, giải trí và du lịch sinh thái, lịch sử, khoa học và giáo dục…; Dịch vụ hỗ trợ: Cấu tạo đất, điều hoà dinh dưỡng,…
Trên thực tế, những người bảo tồn, gìn giữ và phát triển các dịch vụ môi trường rừng chưa được hưởng những lợi ích xứng đáng mà xã hội phải trả cho các nỗ lực của họ; Bên cạnh đó, những người sử dụng các dịch vụ này chưa chi trả cho những dịch vụ mà họ được hưởng. Hậu quả là việc cung cấp và sử dụng dịch vụ môi trường rừng không bền vững. Việc chi trả dịch vụ môi trường rừng được xem là cơ chế nhằm thúc đẩy việc tạo ra và sử dụng các dịch vụ môi trường rừng bằng cách kết nối người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ.
Trong những năm qua, Vườn quốc gia Xuân Sơn triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tới cộng đồng người dân sống trong Vườn quốc gia với mong muốn hỗ trợ một phần cho những nỗ lực của cộng đồng trong công tác bảo vệ và phát triển rừng; Đã xác định chi trả dịch vụ môi trường rừng trên diện tích sinh thủy phục vụ sản xuất điện với diện tích 496 ha trên địa bàn xã Xuân Sơn và bước đầu đã mang lại hiệu quả thiết thực: Ý thức, trách nhiệm của người dân quản lý bảo vệ rừng được nâng cao, cải thiện sinh kế, giảm nghèo, ổn định đời sống cho nhân dân trong khu vực.
Vườn quốc gia Xuân Sơn có hơn 12.000 ha rừng tự nhiên có thể tham gia vào chuỗi cung ứng dịch vụ môi trường cho các hoạt động văn hóa, giải trí, du lịch sinh thái và các dịch vụ cung cấp theo chứng chỉ các bon ( FSC). Xong trên thực tế, việc cung ứng dịch vụ môi trưởng rừng ở Vườn quốc gia Xuân Sơn mới chỉ dừng lại đối với dịch vụ phục vụ sản xuất thủy điện, các dịch vụ môi trường khác phụ thuộc vào việc đầu tư phát triển du lịch sinh thái và sử dụng giá trị tài nguyên thiên nhiên.
Mặt khác, kinh phí cho công tác giao, nhận khoán bảo vệ rừng đối với rừng phòng hộ và rừng đặc dụng cùng trên một địa bàn có sự chênh lệch, chưa tương xứng với mức độ và tầm quan trọng của mỗi loại rừng, cụ thể: Rừng phòng hộ: 300.000 đ/ha/năm, rừng đặc dụng: 100.000 đ/ha/năm gây thiệt thòi lớn đối với cộng đồng tham gia bảo vệ rừng tại Vườn quốc gia Xuân Sơn cần sớm được tháo gỡ nhằm cải thiện đời sống của người dân, giữ vững được an ninh rừng. (Sở NN&PTNT Tỉnh Phú Thọ 31/8) đầu trang(
Đến thời điểm này, Nhà nước đã giao trên 500.000 hecta rừng, chủ yếu là rừng tự nhiên cho cộng đồng quản lý và bảo vệ.
Nhiều mô hình đã đạt hiệu quả cao trong quản lý bảo vệ rừng, đem lại lợi ích thiết yếu cho cộng đồng về lâm sản, thu nhập và các lợi ích khác. Tuy nhiên, vấn đề nâng cao quyền lợi cho các nhóm quản lý rừng cộng đồng vẫn còn nhiều hạn chế, bộc lộ bất cập trong quá trình thực thi chính sách.
Tại hội thảo, với chủ đề " Quyền lợi trong quản lý rừng cộng đồng: Những phát hiện và khuyến nghị từ thực tiễn" do Trung tâm Phát triển Nông thôn miền Trung tổ chức mới đây có 3 vấn đề được nêu ra là: vị trí pháp lý của cộng đồng trong quản lý rừng chưa rõ ràng, quyền của cộng đồng chưa cụ thể và cơ chế hưởng lợi - sử dụng các sản phẩm.
Theo các đại biểu, rừng được giao cho nhóm cộng đồng quản lý hiện nay là rừng nghèo, không đem lại lợi ích cụ thể trước mắt. Việc thiếu kinh phí, thiếu chế độ hỗ trợ đã dẫn đến công tác tuần tra bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn.
Trong tương lai, diện tích rừng cộng đồng có thể tăng lên do Nhà nước tiếp tục thực hiện chủ trương tiếp tục giao đất, giao rừng cho cộng đồng. Vì vậy, việc điều chỉnh chính sách liên quan đến vấn đề này là cấp thiết.
Từ việc phát triển rừng cộng đồng tại Việt Nam cho thấy, tiềm năng của việc phát triển Lâm nghiệp cộng đồng. cần phải được mở rộng và phát huy hiệu quả. Điều này có nghĩa vai trò của người dân địa phương trong việc quản lý tài nguyên rừng sẽ ngày càng được tăng lên. Khi đó "lá phổi xanh" của đất nước sẽ có cơ hội được bảo vệ và phát triển một cách bền vững và toàn diện hơn. (Truyền Hình Quốc Hội 31/8) đầu trang(
Trong khi không ít khoảnh rừng ở khu vực lòng hồ Núi Cốc bị khai thác trái phép thì ở vùng rừng xã ven hồ Tân Thái, huyện Đại Từ, vẫn xanh ngút ngàn, góp phần không nhỏ trong việc bảo vệ môi trường cảnh quan ở vùng du lịch nổi tiếng nhất tỉnh Thái Nguyên.
Người trực tiếp trồng, quản lý và bảo vệ hơn 40 ha rừng cảnh quan, có giá trị tới vài tỷ đồng ở thời điểm này là anh Trần Hữu Phúc, trú tại xóm Gốc Mít, xã Tân Thái.
Dẫn chúng tôi thăm rừng, ông Phúc cho biết: Ông vốn quê ở Tiên Lữ (Hưng Yên), theo cha mẹ lên vùng "rừng thiêng, nước độc" này khai hoang từ năm 1960. Ban đầu ông đến với rừng cũng chỉ vì quá nghèo, chưa biết làm gì để kiếm sống nên trồng rừng cho Nhà nước để lấy tiền đong gạo.
Năm 1990, ông Phúc bắt đầu nhận khoán trồng rừng. Ông tâm sự: Nhà nghèo, con lại đông nên tôi nhận trồng rừng để có đất trồng thêm ngô, sắn chống đói. Chăm chỉ, cần mẫn và được sự hướng dẫn của cán bộ xã, huyện, sau nhiều năm những vạt rừng của gia đình ông nhận khoán cũng thành hình, trên cao là bạch đàn, keo, dưới mép nước là chè... Bên cạnh đó, ông còn tận dụng được cành khô, cành gãy... làm củi cho gia đình.
Kỳ bạch đàn đầu tiên được khai thác, ông và gia đình cũng thu được khoản lớn để có tiền trang trải cuộc sống gia đình, đầu tư thêm giống trồng rừng ở những khu đất bỏ hoang. Đến nay, ông đã trồng được 40 ha rừng.
Ông Nguyễn Văn Quý, Trưởng ban Quản lý rừng phòng hộ bảo vệ môi trường hồ Núi Cốc cho biết: “Hầu như toàn bộ rừng ven hồ Núi Cốc thuộc xã Tân Thái là của gia đình ông Trần Hữu Phúc được giao quản lý, bảo vệ, trong đó có 11 quả đồi trong lòng hồ. Hiện chúng tôi đang triển khai thực hiện phương án quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc bền vững có sự tham gia của người dân giai đoạn 2014 - 2020.
Ban Quản lý cũng chú trọng lồng ghép các nội dung đầu tư bảo vệ và phát triển rừng với Chương trình xây dựng nông thôn mới, các dự án khác để phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn khu rừng nhằm đảm bảo quyền lợi, nâng cao thu nhập cho người dân. Từ mô hình quản lý, bảo vệ, phát triển vốn rừng bền vững hiệu quả như gia đình anh Phúc, Ban Quản lý rừng phòng hộ bảo vệ môi trường hồ Núi Cốc đang nhân rộng mô hình trong khu vực được giao quản lý, bảo vệ...”.
Anh Phúc cho biết: “Với phương án quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc bền vững của Chi cục Kiểm lâm đã phê duyệt, tôi thấy yên tâm với quyền lợi được đảm bảo, được cấp giống cây bản địa và lợn rừng. Bước đầu triển khai đã có hiệu quả, riêng trám và lát tôi trồng được 5.000 cây trên diện tích 10 ha, tỷ lệ sống cao, đàn lợn rừng 8 con cũng cho sinh sản tốt. Đối với 30ha keo đến kỳ khai thác, tôi đang làm thủ tục xin chuyển đổi, tự bỏ vốn trồng cây lâu năm sau khi được cấp phép khai thác diện tích keo. Trên cơ sở "lấy rừng nuôi rừng", tôi dự định trên một số đảo sẽ trồng từng loại cây đặc sản như: Đảo mít, đảo nhãn, đảo trám, đảo sấu... Về lâu dài, Nhà nước cũng đã có chủ trương cho chúng tôi làm du lịch sinh thái trong rừng phòng hộ”.
Chia tay anh, chúng tôi tin tưởng phương án đó sẽ sớm trở thành hiện thực, những đảo ngọc của tỷ phú rừng sẽ là điểm du lịch sinh thái hấp dẫn đối với du khách, làm phong phú thêm hệ sinh thái hồ Núi Cốc, tạo dựng những sản phẩm du lịch mới cho du khách khi về "Thủ đô gió ngàn" Thái Nguyên. (Báo Thái Nguyên 30/8) đầu trang(
Theo Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Thạch An, năm 2015, toàn huyện được giao kế hoạch trồng rừng tập trung 205 ha.
Trong đó, trồng rừng phòng hộ 50 ha, trồng rừng sản xuất 155 ha; trồng 14.000 cây phân tán; chăm sóc 150 ha rừng trồng phòng hộ. Đến nay, toàn huyện đã trồng được 223,4 ha rừng tập trung, đạt 109,47% kế hoạch, trong đó, 34 ha rừng phòng hộ, 189,4 ha rừng sản xuất; trồng được 8.000 cây phân tán; chăm sóc rừng trồng được 48,8 ha.
Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Thạch An cử các cán bộ đến các xã, thị trấn tuyên truyền cho nhân dân công tác phát triển rừng và bảo vệ rừng theo đúng quy định của Nhà nước, phổ biến kỹ thuật trồng rừng và chăm sóc rừng trồng theo đúng kế hoạch. Triển khai khảo sát quỹ đất trồng 80,5 ha rừng bổ sung năm 2015.
Phối hợp với các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng, tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng. (Báo Cao Bằng 31/8) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, các địa phương, đơn vị trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa đã tiến hành trồng mới 405ha rừng sản xuất, đạt 62% kế hoạch năm; chăm sóc 610ha rừng phòng hộ và 3.766ha rừng trồng.
Các đơn vị cũng khảo sát, lập hồ sơ thiết kế để chuẩn bị thực hiện kế hoạch trồng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên năm 2015.
Trong công tác bảo vệ rừng, lực lượng chức năng đã tăng cường công tác kiểm tra, ngăn chặn nạn chặt phá rừng trái phép. Từ đầu năm đến ngày 15-8, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện 379 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, đã xử lý 338 vụ, tịch thu 554,3m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách hơn 4,4 tỷ đồng. (Báo Khánh Hòa 30/8) đầu trang(
Năm 2015, huyện Hoàng Su Phì được giao kế hoạch trồng mới trên 4.825 ha rừng tại 25 xã, thị trấn, trong đó diện tích rừng lâm nghiệp xã hội 4.800 ha, rừng phòng hộ môi trường 25,5 ha. Để đạt chỉ tiêu đề ra, huyện tổ chức cho các hộ đăng ký trồng rừng sớm, chỉ đạo công tác gieo ươm cây giống, phát dọn thực bì, sẵn sàng cho mùa trồng rừng mới
Ngay từ cuối năm 2014, đầu năm 2015, UBND huyện Hoàng Su Phì đã xây dựng kế hoạch và giao chỉ tiêu trồng rừng cụ thể đến các đơn vị và các xã, thị trấn, triển khai đề án giao rừng theo dự án gắn với giao đất, giao rừng cho nhân dân. Bên cạnh đó, huyện tiếp tục thực hiện cơ chế, chính sách hỗ trợ trồng rừng sản xuất tập trung và trồng cây phân tán, chỉ đạo các cơ quan chức năng tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn.
Đến nay các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì đã đăng ký diện tích trồng rừng là hơn 4.350 ha, số diện tích còn lại trong kế hoạch đang thực hiện đăng ký bổ sung. Trong tháng 7 vừa qua, tất cả 25 xã, thị trấn đã phát động phong trào trồng rừng và tiến hành trồng được trên 240 ha.
Với chính sách hỗ trợ của nhà nước 600 đồng/cây giống, huyện Hoàng Su Phì đã giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện thuê đất của dân để triển khai xây dựng 2 vườn ươm cây giống tại 2 xã Đản Ván, Nam Sơn, với diện tích gần 4 ha, số lượng trên 10 triệu cây gồm xa mộc và xoan. Đến nay các cây giống tại vườn ươm đều sinh trưởng và phát triển tốt, đảm bảo phục vụ trồng rừng đúng thời vụ.
Để đạt mục tiêu về công tác trồng rừng năm 2015, thời gian qua, huyện Hoàng Su Phì cũng đã thực hiện nhiều giải pháp, trong đó chú trọng đến vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy chính quyền địa phương, các xã, thị trấn thường xuyên tổ chức giao ban để kiểm tra công tác triển khai trồng rừng.
Do đặc điểm thời tiết, khí hậu và thổ nhưỡng của huyện Hoàng Su Phì khác với các địa phương trong tỉnh, nên thời điểm thích hợp để trồng rừng đạt hiệu quả cao nhất đối với huyện là từ trung tuần tháng 9 đến tháng 12, vì vậy, khi cây giống tại các vườm ươm đảm bảo đủ điều kiện để suất trồng, huyện Hoàng Su Phì sẽ triển khai cấp cây giống cho người dân, đồng thời hỗ trợ cước vận chuyển cây giống đối với các xã cách xa trung tâm huyện là 150 ngàn đồng/ ha và hỗ trợ công trồng 500 ngàn đồng/ ha cho tất cả các xã, thị trấn đăng ký trồng rừng trong năm nay.
Với sự quyết tâm cao của cấp ủy, chính quyền các cấp; sự đồng thuận, tham gia tích cực của nhân dân trên địa bàn, huyện Hoàng Su Phì sẽ phấn đấu hoàn thành 4.800 ha rừng trồng mới theo kế hoạch được giao trong năm 2015. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Tỉnh Hà Giang 30/8) đầu trang(
Ông Phùng Trung Kiên, công tác tại Ban Quản lý dự án Bảo vệ và Phát triển rừng huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đề nghị giải đáp thắc mắc về việc chi trả phụ cấp kiêm nhiệm, tiền lương làm thêm giờ đối với công chức kiểm lâm.
Ban Quản lý dự án Bảo vệ và Phát triển rừng huyện Hạ Hòa bao gồm các công chức kiểm lâm được kiêm nhiệm thực hiện dự án. Việc chi trả phụ cấp kiêm nhiệm thực hiện theo Thông tư số 10/2011/TT-BTC ngày 26/11/2011 của Bộ Tài chính quy định về quản lý, sử dụng chi phí quản lý dự án của các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước.
Ban Quản lý dự án ký hợp đồng với Tổ thiết kế trồng rừng thực hiện nhiệm vụ thiết kế cho Ban Quản lý dự án, nhưng Tổ thiết kế trồng rừng lại vẫn là công chức kiểm lâm. Ông Kiên hỏi, Tổ thiết kế trồng rừng có được tính phụ cấp kiêm nhiệm hay tính tiền làm thêm giờ không? Văn bản nào hướng dẫn chi trả phụ cấp cho Tổ thiết kế trồng rừng?
Vấn đề ông Kiên hỏi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có ý kiến như sau:
Phụ cấp kiêm nhiệm thực hiện theo quy định tại điểm b, khoản 3 Điều 10 Thông tư số 05/2014/TT-BTC ngày 6/1/2014 của Bộ Tài chính quy định về quản lý, sử dụng các khoản thu từ hoạt động quản lý dự án của các chủ đầu tư, ban quản lý dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ.
Tiền lương làm thêm giờ thực hiện theo quy định của Bộ luật Lao độngnăm 2012, Nghị định số 45/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động; Thông tư liên tịch số 08/2005/TTLT-BNV-BTC ngày 5/1/2005 của liên Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện chế độ trả lương làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ đối với cán bộ, công chức, viên chức.
Về câu hỏi “Tổ thiết kế trồng rừng có được tính phụ cấp kiêm nhiệm hay tính tiền làm thêm giờ không? Văn bản nào hướng dẫn chi trả phụ cấp cho Tổ thiết kế trồng rừng?”, trong nội dung thư của ông Kiên mới nêu thành viên Tổ thiết kế là các công chức kiểm lâm, không nêu cụ thể thành viên Tổ thiết kế có là thành viên của Ban quản lý dự án hay không; hợp đồng ký giữa Tổ thiết kế trồng rừng và Ban quản lý dự án là loại hợp đồng gì; Tổ thiết kế trồng rừng được thành lập bởi cơ quan nào, có chức năng, nhiệm vụ gì, hoạt động như thế nào.
Do đó, chưa đủ cơ sở để Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời cụ thể. (Chính Phủ 31/8) đầu trang(
Ngày 31-8, thông tin công bố tại cuộc họp báo định kỳ do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức, tính đến cuối tháng 8-2015, cả nước trồng mới được 141 nghìn héc-ta rừng tập trung, tăng 13,7% (rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 8,5 nghìn héc-ta, giảm 26,8%; rừng sản xuất đạt 132,5 nghìn héc-ta, tăng 17,9%); rừng được chăm sóc đạt 393,1 nghìn héc-ta, tăng 16,1%; trồng cây phân tán ước đạt 132,8 triệu cây; rừng khoanh nuôi tái sinh ước đạt 608 nghìn héc-ta, giảm 1,5%; giao khoán bảo vệ ước đạt 6.365 nghìn héc-ta, giảm 26,4%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 4.615 nghìn mét khối, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước.
Cũng theo Bộ NN&PTNT, trong tháng 8-2015, toàn quốc xảy ra 1.255 vụ vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Tổng số vụ vi phạm đã được xử lý trong tháng là 1.022 vụ; tịch thu 1.176,2m3 gỗ các loại, bao gồm 692,2m3 gỗ tròn và 484m3 gỗ xẻ; thu nộp ngân sách 10,1 tỷ đồng. (Quân Đội Nhân Dân 31/8) đầu trang(
Đó là chất vấn nóng của đại biểu Quốc hội tại phiên giải trình việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai tại các nông-lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004-2014 diễn ra vừa qua do Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức.
ĐB Nguyễn Tiến Sinh (Hoà Bình), đặt vấn đề, hiện đang diễn ra tình trạng tranh chấp, chiếm dụng, thâu tóm đất đai, sử dụng trái mục đích, sử dụng đất tràn lan, Nhà nước không thu được tiền thuê đất. Nông-lâm trường sau khi sắp xếp lại hiện nay không sống được.
Bộ trưởng NNPTNT Cao Đức Phát thừa nhận, sau sắp xếp còn một số Cty nông-lâm nghiệp không khắc phục được tồn tại cũ, kết quả sản xuất kinh doanh thấp hoặc tiếp tục lỗ. Việc quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp còn nhiều lúng túng, xúc tiến thương mại phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu còn hạn chế. “Các lâm trường quản lý, sử dụng đất lâm trường hiệu quả kém khiến đất rừng bị lấn chiếm, tàn phá. Nhưng quá hỗn loạn, tôi không cảm nhận như vậy” - ông Cao Đức Phát nói.
Đặt thẳng vấn đề mà cử tri bức xúc khi có nhiều biệt thự nguy nga “mọc” lên trên đất nông-lâm trường, đất rừng, mà chủ những biệt thự này lại là quan chức, đại gia, ĐB Trương Thị Huệ (Thái Nguyên) chất vấn Bộ trưởng Bộ NNPTNT: Tình trạng như vậy, bộ có kiểm tra, chế tài xử lý như thế nào?
Theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, đối với tình trạng vi phạm đều phải xử lý nghiêm. Tất nhiên, bộ cũng có trách nhiệm khi chưa đôn đốc, kiểm tra kịp thời nên có tình trạng xảy ra như ĐB Huệ thông tin. Nhưng nếu có nhà “mọc” lên giữa rừng như vậy, các địa phương phải biết, phải xử lý, chứ bộ không thể bao quát hết cả nước được.
Tại phiên họp, ĐB Nguyễn Thị Khá (Trà Vinh) “truy vấn” Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang: “Khi nào hoàn thành việc cấp GCNQSDĐ với đất nông-lâm trường quốc doanh trước và sau khi chuyển đổi?”. Theo ĐB, thực tế việc giao đất chủ yếu được thực hiện bởi các nông-lâm trường, hồ sơ không được lập và quản lý chặt chẽ, thậm chí không đo đạc, cắm mốc rõ ràng trên thực địa dẫn tới tình trạng lấn chiếm, cho thuê, cho mượn, sử dụng sai mục đích hoặc bỏ hoang…
Giải thích vấn đề này, Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang cho biết, đây là việc rất khó khăn. Việc cấp GCNQSDĐ phải trên cơ sở lập bản đồ địa chính, xác định ranh giới, cắm mốc. Nhưng thực tế tình trạng chồng lấn, xen kẽ, tranh chấp, vi phạm pháp luật khá phổ biến, nên việc rà soát, xác định ranh giới, đo vẽ bản đồ gặp rất nhiều khó khăn về kỹ thuật, về kinh phí. Vì vậy, cần phải có giải pháp đồng bộ, từ đầu tư kỹ thuật cho đến tổ chức thực hiện.
Theo đề nghị hỗ trợ của các nông-lâm trường, Bộ TNMT đã tổng kết lại, Bộ NNPTNT đã thẩm định, Bộ Tài chính trình Chính phủ, tổng số tiền đề nghị hỗ trợ đo đạc bản đồ khoảng 1.000 tỉ đồng. “Nếu được hỗ trợ thì chúng tôi cam kết sẽ hoàn thành trong năm 2016” - Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang cam kết.
ĐB Nguyễn Sỹ Cương (Ninh Thuận) cho rằng, không phải khó khăn về tài chính mà do không quản lý được. Tình trạng sử dụng đất trái quy định pháp luật rất phổ biến, diễn ra trong thời gian dài. Trách nhiệm của Bộ TNMT thế nào? Đã tổ chức được bao nhiêu cuộc thanh tra, thu hồi đất cho Nhà nước đến đâu?
“Chúng tôi không phải chối trách nhiệm của mình” - Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang nói và lý giải, nhưng từ văn bản đến thực tế rất khó khăn. Không có tiền thì sao làm được? Các tỉnh miền núi hết sức nghèo.
Chúng ta phải bàn để tháo gỡ khó khăn. Liên quan đến thanh tra, UBND các cấp, các nông-lâm trường thực hiện nghiêm túc kết luận thanh tra; đã kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm liên quan đến các hạn chế trong công tác quản lý đất đai hoặc vi phạm chế độ quản lý, sử dụng đất. (Lao Động 31/8) đầu trang(
Quản lý rừng cộng đồng đã được quy định tại Luật Đất đai năm 2003, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004. Tuy nhiên, sau khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực và quá trình hơn 10 năm thực thi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, địa vị pháp lý của cộng đồng trong quản lý rừng vẫn chưa thật sự rõ ràng.
Sau khi Luật Đất đai ra đời năm 2003, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BVPTR) được ban hành năm 2004, hình thức quản lý rừng cộng đồng đã được chính thức thừa nhận. Đây được đánh giá là bước đi tích cực trong công tác xã hội hóa ngành lâm nghiệp. Theo đó nhiều thành phần kinh tế khác ngoài nhà nước có cơ hội tham gia quản lý, bảo vệ, sử dụng và hưởng lợi từ tài nguyên rừng.
Từ góc nhìn của cơ quan quản lý lâm nghiệp, ông Mai Văn Tâm - Trưởng Phòng Quản lý Bảo vệ rừng, Chi cục Kiểm lâm Thừa Thiên Huế cho biết, việc cộng đồng tham gia quản lý rừng đã tạo ra đa dạng về chủ thể quản lý rừng, góp phần khắc phục phần nào hạn chế của Nhà nước về ngân sách trong công tác bảo vệ rừng, tạo ra nhiều sản phẩm, nâng cao giá trị sản xuất, thúc đẩy kinh tế lâm nghiệp và tăng trưởng của ngành lâm nghiệp.
Đặc biệt là nâng cao ý thức bảo vệ rừng của người dân, thay đổi tư duy nhận thức trong cộng đồng về ý thức làm chủ trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng. Nhờ đó, cộng đồng không đứng ngoài cuộc trong sự nghiệp bảo vệ rừng của Nhà nước.
Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 đều thừa nhận cộng đồng là cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất, trong đó có đất rừng. Tuy nhiên, tại Điều 3 và Điều 29 Luật BVPTR năm 2004 chỉ thừa nhận cộng đồng dân cư thôn bao gồm tất cả các hộ gia đình, cá nhân sinh sống trong cùng một thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc hoặc các đơn vị tương tự được Nhà nước giao rừng và công nhận quyền sử dụng rừng.
Câu hỏi đặt ra là các loại hình cộng đồng khác ngoài cộng đồng dân cư thôn như dòng họ hay nhóm hộ gia đình có thuộc đối tượng được giao rừng hay không? Chưa kể, Bộ luật Dân sự năm 2005 chưa đề cập đến chủ thể trong giao dịch của cộng đồng mà chỉ ghi nhận quyền sở hữu chung của cộng đồng (Điều 220). Vậy khi cộng đồng được giao rừng, cho thuê rừng tiến hành các hoạt động giao dịch dân sự như vay vốn, thế chấp... hay thực hiện quyền của người sử dụng rừng cũng như xử lý các tranh chấp, hoạt động tổ chức tuần tra bảo vệ rừng thì sẽ áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự (luật chung) hay Luật Đất đai, Luật BVPTR (luật chuyên ngành)?
Nhấn mạnh lợi ích việc thừa nhận cộng đồng trong công tác quản lý rừng, ông Mai Văn Tâm cho rằng, Luật BVPTR cần bổ sung định nghĩa về cộng đồng. Bên cạnh cộng đồng dân cư thôn, phải đề cập đến các loại hình cộng đồng khác như dòng họ hay nhóm hộ gia đình là đối tượng được giao rừng, bảo đảm đồng nhất định nghĩa cộng đồng tại Luật Đất đai.
Thậm chí, Luật BVPTR phải sớm có quy định công nhận cộng đồng là một chủ thể có pháp nhân, nghĩa là chủ rừng. Bởi theo quy định tại Luật BVPTR, Khoản 4 Điều 3, trong khái niệm chủ rừng không có cộng đồng; trong khi Khoản 6 Điều 3 nêu quyền sử dụng rừng là quyền của chủ rừng được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi... Như vậy, cộng đồng không phải là chủ rừng nên cộng đồng không có quyền sử dụng rừng? Điều này chưa hợp lý.
Theo TS. Cao Thị Lý - giảng viên Khoa Nông Lâm nghiệp, Trường ĐH Tây Nguyên, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về cộng đồng mà tương ứng với mỗi định nghĩa lại có một loại hình cộng đồng khác nhau. Nên chăng cần xem xét lại khái niệm cộng đồng thông qua đánh giá hiệu quả quản lý rừng của các chủ thể đã được giao rừng? Thực tế công tác quản lý rừng cộng đồng ở Thừa Thiên Huế đã ghi nhận nhiều loại hình cộng đồng không phải là cộng đồng dân cư thôn nhưng vẫn tổ chức quản lý rừng tốt.
Cũng có những trường hợp trong cùng một thôn nhưng không phải mọi người dân đều mong muốn tham gia quản lý rừng cộng đồng, có nhiều nhóm hộ chỉ mong muốn nhận rừng để quản lý, bảo vệ và hưởng lợi riêng.
Bà Cao Thị Lý khuyến nghị, khái niệm cộng đồng trong quản lý rừng cộng đồng có thể được chia thành 2 loại hình. Một, cộng đồng là một tập hợp toàn bộ những người sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ có những điểm tương đồng về mặt văn hóa, kinh tế, xã hội truyền thống, phong tục tập quán, có các quan hệ trong sản xuất và đời sống và có ranh giới không gian trong một thôn bản.
Hai, cộng đồng là nhóm người có mối quan hệ gắn bó với nhau trong sản xuất và đời sống; cộng đồng không chỉ là cộng đồng dân cư toàn thôn mà có thể là các cộng đồng sắc tộc trong thôn, cộng đồng dòng họ hoặc nhóm hộ, nhóm sở thích trong thôn.
Hướng tới mục tiêu 4 triệu hécta rừng được quản lý bởi cộng đồng trong Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020, cần làm rõ chủ thể “cộng đồng” trong quản lý rừng. Dù có tách hay không tách khái niệm về cộng đồng vẫn phải bảo đảm địa vị pháp lý của cộng đồng với tư cách pháp nhân là chủ rừng.
Suy cho cùng, cộng đồng, nhất là cộng đồng dân cư sống gần rừng, trong rừng là một trong những chủ thể có mối quan hệ gần gũi với rừng, có tập quán lâu đời với rừng. Hơn ai hết họ là những người bạn với rừng, cộng sinh nhiều lợi ích sống về sinh kế và môi trường với rừng. (Đại Biểu Nhân Dân 30/8) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Để giải thích cho câu hỏi "vì sao một mảnh đất cằn cỗi như Israel lại có nền nông nghiệp hùng mạnh đến vậy" chỉ có một từ đó là: Công nghệ.
Ai cũng biết Israel là đất nước non trẻ nằm ở bên bờ Địa Trung Hải có diện tích phần lớn là sa mạc khô hạn. Dẫu vậy, Israel lại khiến cả thế giới ngưỡng mộ với kỳ tích khó tin là phủ xanh cho sa mạc cằn cỗi và áp dụng công nghệ cao vào nông nghiệp.
Một số thành tựu khoa học kỹ thuật của Israel có thể kể đến như tái sử dụng nước thải để tưới tiêu cho cây trồng, thu nước mưa để tái sử dụng, tái xử lý nước trở thành nước sinh hoạt & uống được (tỷ lệ lên tới 75%), nông nghiệp trực tuyến và nuôi cá ngay trên sa mạc cằn cỗi… Ở Israel, nông nghiệp là lĩnh vực mà 95% là khoa học và chỉ 5% lao động.
Vậy đâu là điều tạo nên những kỳ tích đó, động lực nào khiến một đất nước nhỏ bé, cằn cỗi, nhiều thù địch như Israel lại tạo ra nền nông nghiệp kỳ diệu đến vậy?
Là lời mà các nhà sử học dùng để ca tụng Kibbutz – mô hình nông trang gần giống với hợp tác xã.
Đơn giản có thể hiểu Kibbutz là một cộng đồng nông thôn, một hệ thống kinh tế xã hội dựa trên nguyên tắc sở hữu chung tài sản, bình đẳng và hợp tác trong mọi mặt của đời sống, thực hiện lý tưởng một xã hội công bằng. Tại nông trang không có cảnh sát và tòa án. Trẻ em không sống tại nhà mà ở các nhà trẻ, được cả nông trang nuôi dưỡng, một ngày chỉ gặp cha mẹ vài tiếng.
Nhờ vào thành công của mô hình nông trang này, Israel đã trở thành quốc gia sản xuất nông nghiệp hàng đầu thế giới, dù 95% diện tích đất nước này được xếp vào loại bán khô hạn, khô hạn và rất khô hạn. Thậm chí trong khi trái đất đang bị sa mạc hóa, Israel là nước duy nhất đẩy lùi sa mạc. Thành tựu lớn nhất là trồng thành công một khu rừng ngay ở vùng đất sa mạc Negev: Rừng Yatir.
Ngày nay, tuy chiếm chưa đến 2% dân số Israel, nhưng những nông trang như Kibbutz sản xuất đến 12% lượng hàng hóa xuất khẩu của cả nước. Các nông trang cũng đóng góp đến 15% thành viên Knesset (Quốc hội Israel) và còn nhiều hơn thế cho lực lượng sĩ quan và phi công của quân đội.
Giải thích cho câu hỏi vì sao một mảnh đất cằn cỗi như Israel lại có nền nông nghiệp hùng mạnh đến vậy chỉ có một từ đó là CÔNG NGHỆ.
Ở Israel, nước ngọt vô cùng khan hiếm. Họ phải sử dụng nước cực kỳ tiết kiệm. Trẻ em Israel được dạy tiết kiệm nước từ bé, 75% nước thải sinh hoạt được tái tạo sử dụng lại, nước qua hệ thống lọc trở thành nước tinh khiết có thể uống được ngay.
Tại quốc gia này, gần 95% khoa học công nghệ được áp dụng vào lĩnh vực nông nghiệp. Trên vùng đất bán sa mạc và sa mạc khắc nghiệt, những cánh đồng ô liu, cam, lựu, vải thiều, nho, chuối… vẫn xanh tươi mơn mởn, những khu nhà kính ngập tràn hoa, rau sạch, cà chua bi, cà chua nhót, dưa chuột, cà tím…
Tất cả cây trồng đều được ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt. Chất dinh dưỡng theo các ống dẫn nước tới từng gốc cây, gốc rau và được tưới bón nhỏ giọt tùy theo từng loại cây củ quả bởi một phần mềm điều khiển tự động sau khi đã nạp đủ thông tin về độ ẩm không khí, đất đai, tuổi và nhu cầu tăng trưởng của từng loại cây. Hệ thống này tự động đóng mở van khi độ ẩm của rễ cây đạt tới mức nhất định thông qua các cảm biến điện tử.
Hiện tại Israel đã lai tạo được giống cà chua chịu mặn đạt năng suất kỷ lục 120-150 tấn/ha. Ngoài trồng trọt, nền nông nghiệp Israel nổi tiếng với công nghệ chăn nuôi bò sữa cho năng suất cao nhất thế giới.
Cụ thể, theo thống kê trong năm 2013 của Volcani Center - trung tâm nghiên cứu trực thuộc chính phủ Israel, trung bình các đàn bò tại quốc gia này đạt sản xuất ra 11.500 lít sữa/con/năm, trong khi đó con số này ở New Zealand là 4.000 lít, ở Hà Lan 8.000 lít và ở Mỹ là 9.000 lít. Chất lượng sữa cũng vào loại tốt nhất, lượng đạm và chất béo cao hơn hẳn các loại sữa khác.
Người Israel còn nuôi trồng thủy sản với năng suất cực cao và chất lượng siêu sạch, thu lãi ròng từ 1,5 – 3 USD/kg. Tại một cơ sở nuôi cá siêu thâm canh, họ đặt 40 bể nhựa tròn trong nhà có mái che. Mỗi bể có thể tích 15 m3, mỗi vụ nuôi được 1,5 tấn cá, một năm nuôi 2 vụ thu được 3 tấn cá. Mỗi năm cơ sở này sản xuất khoảng 120 tấn cá.
Bằng việc áp dụng những sáng tạo khoa học công nghệ cao như vậy, nông dân Israel phải bỏ ra rất ít công sức lao động chân tay (khoảng 5%) nhưng vẫn thu được năng suất cao.
Là một đất nước khô hạn, phần lớn diện tích là sa mạc, nhưng mỗi năm Israel xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp đạt 3,5 tỷ USD với giá trị gia tăng rất lớn. Còn theo số liệu từ Bộ Công Thương, tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam năm 2014 đạt hơn 30,8 tỷ USD.
Cần lưu ý, diện tích của Việt Nam là 330 nghìn km2, và Israel là 20,77 nghìn km2. Tức là, Việt Nam rộng hơn Israel 16 lần, nhưng kim ngạch xuất khẩu nông sản chỉ cao hơn Israel 8,8 lần.
So sánh tiếp theo càng khiến chúng ta phải suy nghĩ: Israel - một quốc gia không có tài nguyên thiên nhiên, phần lớn là đất sa mạc, nhiệt độ quanh năm vô cùng nóng bức khoảng 50 độ C. Quốc gia còn lại - Việt Nam, có nguồn tài nguyên phong phú, các điều kiện thổ nhưỡng - nhiệt độ - ánh sáng - độ ẩm - nguồn nước đều vô cùng thuận lợi để phát triển nông nghiệp đa dạng, trải dài từ khí hậu ôn đới đến nhiệt đới.
Ông Dương Đức Lân - Tổng Cục trưởng Tổng cục Dạy nghề (Bộ LĐ-TB&XH) từng cho ý kiến tại một sự kiện: “Ở các nước phát triển, nông nghiệp chỉ chiếm từ 3-5 % lao động. Tại Việt Nam, nông nghiệp chiếm tới 47% lao động nhưng chỉ tạo ra sản lượng GDP 14%”.
Hiện tại, hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam vẫn chủ yếu là xuất thô nên giá trị gia tăng thấp. Giá bán nhiều mặt hàng nông sản Việt thường thấp hơn so với sản phẩm cùng loại của các nước trong khu vực.
Gạo Việt Nam giá bán luôn thấp hơn so với gạo cùng loại của Thái Lan từ 3-5%, chè đứng thứ 5 về sản lượng nhưng xếp thứ 10 về giá bán, sản lượng cá tra Việt Nam chiếm đến 90% thị phần trên thế giới nhưng giá bán lại thấp hơn 20-30% so với các sản phẩm tương tự của quốc gia khác.
Việc học hỏi và ứng dụng thành tựu nông nghiệp công nghệ cao từ Israel đã được một số doanh nghiệp quan tâm và thực hiện. Điển hình như TH True Milk (công nghệ nuôi bò sữa), Hoàng Anh Gia Lai (công nghệ tưới nhỏ giọt) hay mới đây là Vingroup (trồng rau với công nghệ tưới nhỏ giọt/làm nhà kính). Phải chăng đã đến lúc các doanh nhân Việt Nam tìm ra công thức thành công từ Israel cho nền nông nghiệp nước nhà? (BizLive 31/8) đầu trang(
Công viên Quốc gia Wakhan ở Afghanistan, Pinnacles (Mỹ) hay Patagonia (Chile) là những nơi dự trữ sinh quyến lớn nhất thế giới ở thời điểm hiện tại.
Pinnacles National Park (United States) - Công viên quốc gia mới nhất của Mỹ được thành lập vào tháng 1 năm 2013 để bảo vệ khu vực miền núi của trung tâm California nổi tiếng.
Patagonia Park (Chile) - Vùng dự trữ sinh quyển rộng 660.000 hecta này nằm trên đỉnh Ranchland, đang dần trở thành một trong những công viên quốc gia mới nhất thế giới ở thế kỷ 21.
Pacific Remote Islands Marine National Monument (United States) - Đây là khu bảo tồn biển lớn nhất thế giới có số lượng lớn các núi dưới đáy biển và là môi trường sống quan trọng cho cá ngừ, rùa, cá đuối, cá mập, cá voi và chim biển.
Wakhan National Park (Afghanistan) - Chính phủ Afghanistan đã xây dựng công viên quốc gia này với sự giúp đỡ của Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã New York để bảo vệ cảnh quan và số lượng của loài báo tuyết quý hiếm.
Sable Island National Park Reserve (Canada) - Công viên quốc gia đứng thứ 43 của Canada mở cửa vào tháng 7 năm 2013 là nơi sinh sản tuyệt vời cho sinh vật biển và cũng nổi tiếng với những vụ đắm tàu.
Pitcairn Islands Marine Reserve (British Overseas Territories) - Các công viên hải dương lớn được xây dựng ở đây với mục đích là nơi dự trữ biển, bảo vệ sự giàu có của biển chống các hoạt động đánh bắt trái phép, bảo vệ các loài cá đặc biệt.
Kimberley National Park (Australia) - là một khu bảo tồn với tổng diện tích được bảo vệ đến gần năm triệu hecta, có sự đa dạng sinh học đáng kể, nhiều hẻm núi và những thác nước đẹp.
Lusaka National Park (Zambia) - Công viên này là một lưu vực nước quan trọng đối với hệ thống sông Chalimbana và bây giờ là nơi sinh sống của 22 loài động vật hoang dã khác nhau, bao gồm ngựa vằn, hươu cao cổ, tê giác trắng…
Hunsruck-Hochwald National Park (Germany) - là công viên tự nhiên mới nhất của châu Âu, một môi trường sống quan trọng cho loài cò đen, hổ, báo và sư tử. Du khách có thể thưởng thức phong cảnh ở nơi đây bằng cách đi bộ trên con đường mòn dài nhất của nước Đức.
El Impenetrable National Park (Argentina) – Là vùng sinh học phong phú của khu rừng đầm lầy ở miền bắc Argentina, là nơi để bảo vệ các loài nguy cơ tuyệt chủng như báo đốm, loài tatu khổng lồ và đại bàng. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 31/8) đầu trang(
Công an Trung Quốc tịch thu hàng trăm con rùa hoang dã, trong đó 510 con xếp vào nhóm có nguy cơ tuyệt chủng, từ một lô hàng thủy sản đông lạnh từ Việt Nam.
Theo Xinhua, công an thành phố Phòng Thành Cảng phát hiện âm thanh lạo xạo khi đang kiểm tra lô hàng thông quan qua biên giới tỉnh Quảng Tây hôm 24/8. Khi bị kiểm tra, lái xe tỏ ra bồn chồn. Người này không cung cấp được giấy tờ chứng minh nhập khẩu rùa hợp pháp.
620 con rùa thuộc nhóm nguy cấp, gồm rùa hộp Đông Dương, rùa núi vàng này được xếp trong 15 thùng các-tông gửi đến tỉnh Quảng Đông. Nếu được vận chuyển trót lọt, chúng sẽ được bán ra chợ đen để làm đặc sản. Số rùa trên đã được bàn giao cho cơ quan lâm nghiệp Trung Quốc. (VnExpress 31/8) đầu trang(
Một nghiên cứu do nhóm của Chris Darimont thuộc Đại học Victoria (Canada) thực hiện vừa công bố trên tạp chí Science (Khoa học) cách đây vài ngày cho thấy, không loài động vật ăn thịt nào ăn nhiều thịt bằng con người.
Sự tác động của con người lên động vật ở trên cạn cũng như dưới biển là rất lớn bởi hoàn toàn có thể phá vỡ hệ sinh thái, chuỗi thức ăn và gây ra nguy cơ tuyệt chủng hàng loạt.
Nghiên cứu của nhóm Chris Darimont thực hiện theo cách so sánh tác động của con người so với những loài động vật ăn thịt không phải là con người. Các nhà khoa học đã đánh giá hơn 300 nghiên cứu gồm 2.125 trường hợp ăn thịt động vật hoang dã (cá và động vật có vú trên cạn) từ các châu lục khác nhau và các đại dương khác nhau, ngoại trừ Nam cực.
Kết quả: Con người khai thác cá trung bình nhiều hơn 14 lần so với bất cứ loại động vật ăn thịt nào dưới nước. Con người cũng giết rất nhiều động vật ăn thịt khác như sư tử, sói hay gấu; gấp khoảng 9 lần so với những loại động vật ăn thịt lẫn nhau trong tự nhiên. Có nghĩa rằng, một cách chắc chắn, công nghiệp đánh bắt thủy sản đã bắt 78% cá hồi trưởng thành ở Alaska mỗi năm. Trong khi đó, gấu xám Bắc Mỹ là động vật săn loài cá này nhiều nhất cũng chỉ dừng lại ở mức 6%.
Cũng như con người săn tới 32% loại gấu sư tử Mỹ, trong lúc loài này chỉ giết nhau có 1%. Mức độ khai thác khác nhau theo từng khu vực. Những người săn bắn động vật ăn cỏ ở Bắc Mỹ và châu Âu nhiều từ 7 lần tới 12 lần so với người châu Phi; cũng như ngành đánh bắt hải sản ở Đại Tây Dương nhiều gấp ba lần ở Thái Bình Dương.
Có một điều khác biệt nữa giữa con người với các động vật ăn thịt khác không phải con người là đối tượng bị săn bắt. Những động vật ăn thịt không phải con người luôn có xu hướng nhắm những con mồi còn nhỏ hoặc ốm yếu. Một cách vô tình đây là hai đối tượng không có và chưa có khả năng sinh sản. Trong khi con người thường nhắm những con mồi to lớn hơn, những con mồi này phần lớn đang có khả năng sinh sản. Do đó, tác động của con người khiến cho nhiều loại rơi vào cảnh bị tuyệt chủng. Ngoài ra, con người còn khai thác quá mức, chẳng hạn như đánh bắt cá lên tới mức 100 triệu tấn mỗi năm làm cho nhiều loại cá không kịp sản sinh hoặc có nguy cơ biến mất.
Các nhà khoa học kêu gọi con người cần có sự thay đổi mạnh mẽ việc săn bắn và đánh bắt, cần phải giảm đáng kể việc tiêu thụ một lượng khổng lồ thịt động vật, hướng tới một mô hình phát triển bền vững lâu dài. (Báo Đà Nẵng 30/8) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||