|
Ngày 27 tháng 02 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
26.2, Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình) ra 2 quyết định khởi tố vụ án hình sự về hành vi vi phạm các quy định bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm.
Thông tin từ Hạt Kiểm lâm cho biết, ngày 4.11.2014, tại Km 12 đường Hồ Chí Minh nhánh Tây, tổ tuần tra của Trạm Kiểm lâm Trộ Mợng phát hiện Đoàn Xuân Hòa (33 tuổi, quê ở thôn Chày Lập, xã Phúc Trạch, huyện Bố Trạch) chạy xe máy mang biển số 73N1-7340 chở 1 con voọc Hà Tĩnh đã chết, có trọng lượng 8 kg nhưng không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp.
Đến ngày 6.1.2015, tổ Kiểm lâm cơ động phát hiện 3 người gồm: Lê Xuân Hiền (38 tuổi), Nguyễn Văn Thực (38 tuổi), Nguyễn Quang (42 tuổi, cùng ở thôn 3 Xuân Trạch, Bố Trạch) gùi 3 bao lác đi từ trong rừng ra tại đường mái cây Gọ (khu vực Xai - Vực Trô, xã Xuân Trạch).
Lực lượng kiểm lâm đã kiểm tra các bao lác và phát hiện có chứa 52 kg thịt, da, xương, đầu, nội tạng và chân động vật rừng được xác định của sơn dương. (Thanh Niên + Lao Động 27/2) đầu trang(
15/2, báo Tiền Phong có bài “Lâm tặc truy đuổi, đánh bảo vệ rừng” phản ánh vụ việc nhân viên Ban quản lý bảo vệ rừng phòng hộ Bắc Ia Grai (Gia Lai) bị lâm tặc tấn công phải nhập viện.
Sau vụ việc xảy ra, cơ quan công an đã nhanh chóng vào cuộc. Tuy nhiên kết quả điều tra ban đầu và ý kiến của người bị hại có nhiều chỗ không ăn khớp với nhau.
Ngày 26/2, thiếu tá Nguyễn Phi Hùng - Phó trưởng Công an huyện Ia Grai cho biết, qua điều tra ban đầu đã xác định được 3 đối tượng trực tiếp đánh 2 nhân viên bảo vệ rừng (thuộc trạm B6 - Ban quản lý bảo vệ rừng phòng hộ Bắc Ia Grai) nhập viện cấp cứu, là: Võ Văn Cảnh (SN 1992), Tô Thị Lài (SN 1978) và Tô Thị Thân (SN 1966) đều ở xã Ia Băh, huyện Ia Grai).
Theo thiếu tá Hùng, 3 đối tượng này đánh người gây thương tích là “do bức xúc vì bị nhân viên bảo vệ rừng xịt hơi cay vào mặt” chứ không phải đang vận chuyển lâm sản trái phép bị phát hiện. Khi nào có kết quả trưng cầu giám định thương tích mới có cơ sở xử lý theo quy định pháp luật. Mặt khác, thiếu tá Hùng cho rằng: anh Hưng và Tuấn sử dụng bình xịt hơi cay không đúng quy định “vi phạm về sử dụng công cụ hỗ trợ gây bức xúc cho các đối tượng và người thân”.
Xác minh ban đầu của cơ quan điều tra: Khoảng 18 giờ ngày 12/2, hai nhân viên của trạm B6 là Võ Anh Tuấn và Nguyễn Đình Hưng điều khiển xe mô tô đi tuần tra tại khu vực làng Bẹk (xã Ia Băh) gặp Cảnh đi xe mô tô độ chế vào rừng nên yêu cầu dừng xe lại kiểm tra và xảy ra cãi cọ, mâu thuẫn với nhau. Lúc này có Phạm Thế Minh (SN 1999) và Phạm Thế Sơn (SN 1999, ở thôn Hợp Nhất, xã Ia Băh) đến nên anh Tuấn và Hưng lên xe về. Do thấy Cảnh, Minh và Sơn đi xe máy bám theo sau mình nên Hưng lấy bình xịt hơi cay xịt về phía sau khiến 3 đối tượng này ngã xe. Sau đó, Cảnh gọi điện cho bà Lài (dì ruột) biết và tiếp tục đuổi theo. Lúc về đến trạm, Cảnh có cầm 1 dao rựa, bà Lài cầm gậy gỗ còn bà Thân đi tay không “nhấc cổng trạm vào nói chuyện”. Sau đó xảy ra cãi nhau, 3 người này đánh Hưng, Tuấn gây thương tích. Một vài đối tượng khác ở làng Bẹk cũng vào đập phá đồ đạc.
Trong khi đó, Đang còn nằm điều trị tại bệnh viện, anh Võ Anh Tuấn cho biết: Lý do mình bị đánh là do đuổi theo 2 xe máy chở gỗ trái phép và bị các đối tượng khác cầm rựa chặn đường. Thấy yếu thế nên quay xe máy về trạm thì bị các đối tượng này truy đuổi. Anh Hưng có dùng bình xịt hơi cay nhưng chỉ xịt xuống đường để phòng vệ chứ không xịt vào mặt các đối tượng gây ngã xe. Lúc xông vào trạm có 8 người (trong đó chỉ có 1 phụ nữ) lao vào đánh chứ không phải 3 người như kết luận ban đầu của cơ quan điều tra.
Trao đổi với phóng viên, thượng tá Tăng Năng Ái - Trưởng Công an huyện Ia Grai cho biết: quan điểm của cơ quan điều tra là không để sót đối tượng vi phạm. Hiện đang làm rõ hành vi đánh người có phải chống người thi hành công vụ hay không, còn tài sản bị hư hại thì không lớn.
Theo ông Nguyễn Trường Hải - Trưởng Ban quản lý bảo vệ rừng Bắc Ia Grai: Vụ việc cần được làm rõ để truy cứu trách nhiệm các đối tượng có hành vi đánh người, hủy hoại tài sản. Nếu “không làm đến nơi, đến chốn”, bỏ lọt người, lọt tội thì còn ai dám bảo vệ rừng!
Theo anh Tuấn, các anh bị đánh là do đuổi theo 2 xe máy chở gỗ trái phép và bị các đối tượng khác cầm rựa chặn đường. Thấy yếu thế nên quay xe máy về trạm thì bị các đối tượng này truy đuổi. Anh Hưng có dùng bình xịt hơi cay nhưng chỉ xịt xuống đường để phòng vệ chứ không xịt vào mặt các đối tượng gây ngã xe. Lúc ở trạm có 8 người (trong đó chỉ có một phụ nữ) lao vào đánh chứ không phải 3 người như kết luận ban đầu của cơ quan điều tra. (Tiền Phong 27/2) đầu trang(
Đám cháy lan nhanh khiến 70% của 3ha rừng mới trồng tại xã Sơn Bình, huyện Tam Đường, Lai Châu bị thiêu trụi.
25/2, ông Vàng A Hồ, Chủ tịch UBND xã Sơn Bình (huyện Tam Đường, Lai Châu) cho biết tại khu rừng mới trồng thuộc địa phận xã Sơn Bình đã xảy ra cháy, gây thiệt hại lớn.
Theo đó, khoảng 12h trưa 24/2, ngọn lửa bốc lên tại Tiểu khu 193B/225 Khoảnh 1 Lô D làm gần 1ha cây thông sao mộc mới trồng, hơn 2ha cây thông đuôi ngựa và cây tống quản sửu bị cháy đen. Sau khi nhận thông báo, UNBD xã Sơn Bình đã huy động hơn 200 người thuộc các bản của xã cùng cán bộ xã đến ngay hiện trường, cánh điểm dân cư hơn 20km để tham gia dập lửa.
Đến 14h cùng ngày, đám cháy đã được dập tắt hoàn toàn. Hiện cơ quan chức năng vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân gây cháy rừng.
“Trong mùa cao điểm, thời tiết hanh khô dễ xảy ra cháy rừng nên chúng tôi đã thành lập các tổ trực phòng cháy chữa cháy ở mỗi bản (3 người/đội) và 100% cán bộ xã luân phiên lịch trực 2 người/đội tham gia tuần tra, trực cháy 24/24 giờ”, Ông Hồ cho biết thêm. (Giao Thông 26/2) đầu trang(
“Ngày nào cũng có người xâm nhập vào Vườn Quốc gia Tràm Chim để khai thác trái phép. Nguồn tài nguyên bị lấy đi mỗi ngày trị giá bằng cả cây vàng”.
Ông Nguyễn Văn Hùng, Giám đốc Vườn Quốc gia (VQG) Tràm Chim (Đồng Tháp) đã cho biết như thế khi trao đổi với phóng viên Pháp Luật TP.HCM, tại Hội thảo tổng kết dự án “Bảo tồn đa dạng sinh học và cải thiện sinh kế người dân địa phương thông qua phát triển du lịch sinh thái và sử dụng tài nguyên bền vững tại VQG Tràm Chim”, tổ chức tại tỉnh Đồng Tháp, ngày 27-2.
Ông Hùng cho biết, VQG Tràm Chim có chu vi đến 70km, quá rộng lớn nên không thể ngăn chặn nổi tình trạng người dân xâm nhập, khai thác tài nguyên trái phép, nhất là vào ban đêm.
“Không chỉ người dân địa phương, mà người dân từ các tỉnh An Giang, Tiền Giang, Bến Tre cũng đến Tràm Chim để khai thác tài nguyên trái phép. Chủ yếu họ đánh bắt cá, bán lấy tiền”, ông Hùng nói.
Ông Hùng cho biết, để ngăn chặn tình trạng người dân xâm nhập trái phép vào Tràm Chim cần phải xây dựng được hàng rào vững chắc. “Dân gian có câu “hàng rào sắt không chắc bằng hàng rào miệng”. Do đó, chúng tôi đang xây dựng phương án làm sao để người dân địa phương được hưởng lợi từ VQG Tràm Chim. Khi đó, họ sẽ tham gia tích cực vào công tác bảo vệ, ngăn chặn những trường hợp xâm nhập trái phép”, ông Hùng chia sẻ thêm.
Theo ông Hùng, cách hiệu quả nhất không phải là cấm đoán mà cho phép người dân được sử dụng một cách hợp lý, khôn khéo nguồn tài nguyên của Tràm Chim.
“Ngoài sử dụng nguồn tài nguyên, chúng tôi cũng tìm cách cho người dân địa phương được hưởng lợi từ hoạt động du lịch sinh thái (du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng). Nguồn thu từ các hoạt động này cũng giống như nồi cơm của người dân. Theo đó, họ sẽ bảo vệ Tràm Chim như bảo vệ nồi cơm của mình”, ông Hùng nhấn mạnh.
Theo Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), VQG Tràm Chim - khu Ramsar đầu tiên ở Đồng bằng Sông Cửu Long đang ngày càng thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình trong bản đồ đa dạng sinh học thế giới. VQG Tràm Chim giống như một Đồng Tháp Mười thu nhỏ, với tất cả đặc tính tự nhiên và đa dạng sinh học của vùng đất này mà không một nơi nào có được, chỉ với diện tích hơn 7.000 ha. Tràm Chim có tới hơn 230 loài chim (trong đó có 32 loài đang bị đe doạ) hơn 130 loài cá và rất nhiều loài động thực vật khác.
Do vậy, từ năm 2007 đến năm 2010, WWF-Việt Nam đồng hành với Cocacola, triển khai dự án “Phục hồi đất ngập nước Đồng Tháp Mười tại VQG Tràm Chim” với mục tiêu chính là phục hồi và bảo tồn sự toàn vẹn của hệ sinh thái đất ngập nước nơi đây. (Pháp Luật TPHCM 27/2) đầu trang(
Thị xã Sơn Tây (TP Hà Nội) đã tổ chức thành công cuộc diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) vào những ngày cuối năm 2014. Tham gia diễn tập gồm cán bộ, chiến sĩ lực lượng dân quân các xã, phường và bộ đội thường trực, cùng các đơn vị liên ngành như: Kiểm lâm, công an và người dân địa phương.
Tình huống giả định, khoảng 9 giờ 20 phút sáng ngày N, trong lúc phát dọn, đốt thực bì để khai thác gần rừng, người dân đã để lửa cháy lan sang khu rừng bên cạnh tại khu vực đồi Cáo, thôn Lòng Hồ, xã Kim Sơn (thị xã Sơn Tây). Sau khi phát hiện điểm cháy, người dân địa phương nơi gần nhất khẩn trương dập lửa và cử người báo cáo Thôn đội trưởng. Ngay sau khi nhận tin báo cháy, Thôn đội trưởng huy động lực lượng phối hợp với chủ rừng chữa cháy, đồng thời báo cáo với Chủ tịch UBND xã Kim Sơn và Hạt kiểm lâm thị xã. Tuy nhiên, do trời hanh khô, gió thổi mạnh nên đám cháy ngày càng lớn. Lúc đầu có 100m2, sau đó đám cháy lan nhanh lên tới 3000m2. Tình hình ngày càng diễn biến phức tạp, ngọn lửa bốc cao, địa hình hiểm trở ngoài tầm kiểm soát của lực lượng tại chỗ. Trước diễn biến đó, sau khi nhận được lệnh của cấp trên, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ thuộc Ban CHQS thị xã, dân quân và lực lượng cảnh sát PCCC được tăng cường.
Có mặt tại khu vực diễn tập, chúng tôi được chứng kiến các chiến sĩ dân quân, bộ đội thường trực thuộc Ban CHQS thị xã phối hợp thuần thục cùng các lực lượng khác, nhanh chóng tiếp cận đám cháy, không sợ nguy hiểm với tinh thần trách nhiệm cao nhất, sử dụng các phương tiện chuyên dụng và cá nhân dập lửa. Nhờ có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các lực lượng, nên việc chữa cháy nhanh chóng, kịp thời, đúng lúc. Sau 30 phút, đám cháy cơ bản được khống chế. Cuộc diễn tập thành công tốt đẹp, diện tích rừng được bảo đảm an toàn.
Ông Phạm Đức Tú, Thôn đội trưởng thôn Kim Tân, xã Kim Sơn cho biết: "Chữa cháy rừng phải tiếp xúc với môi trường khắc nghiệt, đám cháy lớn, nhiệt độ cao. Nếu không thực hiện các phương án luyện tập thường xuyên sẽ không xử lý kịp thời khi có tình huống xảy ra. Do vậy, diễn tập thực sự là dịp giúp bản thân tôi và người dân nâng cao ý thức cũng như kỹ năng PCCCR".
Đánh giá về cuộc diễn tập, ông Đặng Vũ Nhật Thăng, Chủ tịch UBND thị xã Sơn Tây, Trưởng ban chỉ đạo diễn tập cho biết: “Thông qua diễn tập, đã nâng cao nhận thức về công tác PCCCR, bảo vệ rừng; phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị, xã hội ở cơ sở. Từ đó, các lực lượng tích cực, chủ động trong công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện có hiệu quả các biện pháp bảo vệ rừng; đồng thời, nâng cao khả năng tổ chức điều hành, chỉ huy các lực lượng trong công tác chữa cháy rừng, góp phần bảo vệ tài nguyên rừng. Muốn PCCCR hiệu quả thì các lực lượng càng phải tăng cường phối hợp chặt chẽ, diễn tập cọ xát thực tế. Đó cũng là một trong những yếu tố giúp các tuyến rừng phòng hộ của thị xã Sơn Tây trong những năm qua luôn được bảo đảm an toàn. (Quân Đội Nhân Dân 27/2) đầu trang(
Nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền và ngăn chặn việc buôn bán trái phép động vật, thực vật hoang dã trên địa bàn; UBND thành phố Quảng Ngãi chỉ đạo Công an thành phố, phòng Kinh tế, phòng Tài nguyên và môi trường, Ban chỉ huy quân sự thành phố, UBND các xã, phường và các đơn vị liên quan theo chức năng nhiệm vụ được giao triển khai thực hiện các biện pháp nhằm ngăn chặn việc buôn bán, tiêu thụ bất hợp pháp động vật, thực vật hoang dã và các sản phẩm các nguồn gốc từ động vật, thực vật hoang dã; xử lý nghêm các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật; đồng thời thực hiện có hiệu quả các biện pháp quản lý, bảo vệ động vật, thực vật hoang dã trên địa bàn.
Đài truyền thanh, Trung tâm Văn hóa – thể thao thành phố đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và nâng cao nhận thức đến mọi tầng lớp nhân dân việc thực hiện không buôn bán, tiêu thụ bất hợp pháp động vật, thực vật hoang dã, các sản phẩm các nguồn gốc từ động vật, thực vật hoang dã và các vấn đề liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học, động vật hoang dã. (Quangngai.gov.vn 25/2) đầu trang(
Võ Nhai có tổng diện tích tự nhiên là 83.950,14ha, trong đó đất quy hoạch cho lâm nghiệp là 62.689,50ha (gồm đất rừng đặc dụng là 19.393,84ha; đất rừng phòng hộ 17.930,84ha và đất rừng sản xuất là 24.818,82ha).
Là huyện có diện tích đất lâm nghiệp lớn, diện tích rừng đặc dụng có nhiều nguồn gen động, thực vật quý hiếm; rừng sản xuất chủ yếu đã giao cho người dân. Diện tích rừng này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình và góp phần bảo đảm an sinh xã hội. Vì thế, thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng (QLBVR) cũng là một vấn đề lớn đối với cán bộ kiểm lâm huyện Võ Nhai.
Nhận thức rõ công tác QLBVR vừa là nhiệm vụ, vừa là mục tiêu hàng đầu của đơn vị, ngay từ đầu năm, lãnh đạo Hạt Kiểm lâm Võ Nhai đã chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình công tác chung của đơn vị, các trạm kiểm lâm, tiếp tục duy trì hoạt động hiệu quả của 15 Ban chỉ đạo kế hoạch QLBVR cấp xã và 174 tổ QLBVR-PCCCR cấp xóm. Đây chính là lực lượng xung kích trong công tác quản lý bảo vệ rừng tại cơ sở; tham mưu cho UBND các cấp quản lý sử dụng rừng theo đúng quy định. Đồng thời tiến hành rà soát diện tích chuyển đổi mục đích sử dụng khác.
Kết quả đã thống kê được 50 dự án với tổng diện tích chuyển đổi là 791,98ha; thực hiện tốt công tác theo dõi diễn biến nguồn tài nguyên rừng, cập nhật được 921 lô với tổng diện tích là 952,57ha.
Song song với đó, công tác kiểm tra giám sát rừng cũng được chú trọng, trong năm, Hạt kiểm lâm đã phối hợp và triển khai thực hiện nhiều đợt kiểm tra, qua đó đã kịp thời phát hiện và có biện pháp xử lý những sai phạm xảy ra. Tính đến hết năm 2014, Hạt Kiểm lâm huyện đã kiểm tra 487 giấy phép với 28.482,2m3 gỗ tròn; giám sát quá trình khai thác, vận chuyển lâm sản với khối lượng 23.905,7m3.
Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 12 ngày 16-5-2003; Chỉ thị số 08 và Chỉ thị số 1685 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ, Hạt Kiểm lâm Võ Nhai đã chỉ đạo Tổ Kiểm lâm cơ động PCCCR, các trạm kiểm lâm và kiểm lâm địa bàn xây dựng mạng lưới thông tin, kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm trong lĩnh vực QLBVR; đồng thời phối hợp với các đơn vị trên địa bàn huyện đấu tranh ngăn chặn và xử lý có hiệu quả các vụ vi phạm xảy ra; chủ động xây dựng và triển khai thực hiện 3 kế hoạch truy quét vào các đợt cao điểm. Kết quả: phát hiện, lập biên bản để xử lý 101 vụ vi phạm, tịch thu 79,877m3 gỗ tròn các loại, trong đó có 3,386m3 gỗ quý hiếm; gỗ xẻ 24,377 m3; 36 chiếc xe máy và 1 phương tiện khác; thu nộp ngân sách Nhà nước 484,7 triệu đồng…
Với vai trò là cơ quan thường trực của Ban chỉ đạo Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, Hạt Kiểm lâm cũng đã tham mưu cho UBND huyện chỉ đạo thực hiện tốt công tác phát triển rừng; tích cực tuyên truyền các văn bản, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước cũng như những giá trị lợi ích mà rừng đem lại; tổ chức nhiều buổi tuyên truyền giáo dục lồng ghép về Luật Bảo vệ và phát triển rừng cũng như các chính sách liên quan cho 2.300 lượt người tham gia. Nhiều hộ dân trong huyện cũng đã tích cực tham gia trồng rừng theo dự án cũng như tự bỏ vốn trồng rừng với tổng diện tích là 860,65ha.
Mặc dù đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ trong QLBVR song công tác đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm Luật QLBVR vẫn còn hạn chế nhất là ở khu vực các xã phía Bắc của huyện. Công tác tuyên truyền cho người dân về sử dụng rừng chưa phát huy hiệu quả, tình trạng chặt phá rừng để phục vụ cuộc sống, sinh hoạt vẫn còn diễn ra.
Để thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, năm 2015, Hạt Kiểm lâm huyện tiếp tục thực hiện hiện tốt công tác tham mưu cho UBND huyện chỉ đạo các cơ quan chuyên môn và các xã xây dựng phương án, kế hoạch phối hợp giữa các ngành, các xã vùng giáp ranh tăng cường tuyên truyền giáo dục, đấu tranh ngăn chặn nhằm làm giảm số vụ vi phạm và gây thiệt hại về nguồn tài nguyên rừng; triển khai thực hiện QLBVR tận gốc thông qua sự hoạt động hiệu quả của kiểm lâm địa bàn và nêu cao trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp; đẩy mạnh công tác tuyên truyền tới người dân về nguồn lợi do rừng trồng mang lại đối với việc phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái. (Báo Thái Nguyên 25/2) đầu trang(
Theo thống kê của Sở NN-PTNT, toàn tỉnh hiện có 52 hồ chứa nước phục vụ cho việc phòng chống cháy rừng trong mùa khô.
Cụ thể, Ban Quản lý rừng phòng hộ đã chuẩn bị 31 hồ chứa nước, Khu Bảo tồn Bình Châu-Phước Bửu có 3 hồ và Vườn Quốc gia Côn Đảo có 18 hồ. Ngoài ra, các chủ rừng cũng đã chuẩn bị đường băng cản lửa và đốt trước có điều kiện 200ha rừng. Việc phát dọn vật liệu khô rụng trên đường băng cản lửa để đối phó với các tình huống cháy rừng cũng đã được triển khai.
Toàn tỉnh hiện có trên 26.000 ha rừng, trong đó 50% diện tích nằm trong vùng có nguy cơ cháy cao. Đây là những diện tích rừng nằm gần khu dân cư, địa hình phức tạp nên nguy cơ xảy ra cháy rừng cao. Hàng năm từ cuối tháng 11 năm trước đến tháng 6 năm sau, trên địa bàn tỉnh đều xảy ra cháy rừng. Hầu hết các vụ cháy xảy ra ở những trảng cỏ, quần thể tràm nước..., nhưng để chữa cháy địa phương có rừng và ngành kiểm lâm đã phải huy động hàng trăm lượt người để dập lửa và đề phòng lây lan ra diện rộng.
Theo thông báo của Chi cục Kiểm lâm, khi có sự cố dẫn đến cháy rừng, người dân cần thông báo đến đường dây nóng theo số điện thoại (064) 3732564 hoặc 3732320 để cơ quan chức năng huy động lực lượng chữa cháy, để hạn chế thấp nhất hậu quả có thể xảy ra. (Báo BR-VT 26/2) đầu trang(
Theo cảnh báo của Cục Kiểm lâm tỉnh BR-VT, trong số 09 tỉnh thành trong cả nước đang có nguy cơ cháy rừng cấp 5, cấp cực kỳ nguy hiểm, trong đó có BR-VT. Hiện tại địa phương đang ở nguy cơ cháy rừng cấp 4.
Cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, trong điều kiện thời tiết những ngày tới tiếp tục không mưa và khô hanh, nếu xảy ra cháy rừng thì hầu hết các kiểu rừng đều dễ bắt lửa với tốc độ lan tràn rất nhanh, gây thiệt hại lớn cho rừng. Vì vậy, Ban chỉ đạo nhà nước về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 yêu cầu Ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, UBND các cấp và chủ rừng thuộc các địa phương trên, cần thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng theo quy định. Được biết, để kịp thời ngăn chặn, kiểm tra, phát hiện và xử lý tình trạng phá, khai thác rừng, mua bán vận chuyển lâm sản trái phép, phòng chống cháy rừng, đặc biệt trong dịp Tết Ất Mùi 2015, Chi Cục Kiểm lâm tỉnh đã huy động mọi lực lượng tổ chức tuần tra, truy quét, bảo vệ rừng trong thời gian Tết Nguyên đán. Nhờ vậy, tính từ 30 tháng Chạp năm Giáp Ngọ đến mùng 4 Tết Ất Mùi, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ vi phạm rừng, cháy rừng ở các địa phương. (Đài PTTH BR-VT 25/2) đầu trang(
Nằm cách đất liền hơn 14 km, rừng cụm đảo Hòn Khoai trải dài trên 5 đảo lớn nhỏ là Hòn Khoai, Hòn Sao, Hòn Tượng, Hòn Quy và Hòn Khô với tổng diện tích hơn 700 ha; trong đó, riêng rừng Hòn Khoai gần 500 ha. Rừng Hòn Khoai có hơn 300 loài thực vật, có nhiều loài gỗ quý hiếm như: lim, gõ đỏ, dầu rái, sao đen…
Do đặc thù là vùng hải đảo, địa hình chủ yếu là đồi núi, có độ dốc cao, nên vào mùa khô rừng ở đây mau khô hơn so với nhiều cánh rừng khác. Lá cây rụng nhiều tạo thành lớp thảm dày dễ bắt lửa, nguy cơ xảy ra cháy rừng là rất cao.
Ngay từ đầu mùa khô, đơn vị chủ chốt bảo vệ và phòng chống cháy rừng trên đảo là Hạt Kiểm lâm Hòn Khoai đã chủ động lên kế hoạch, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng đóng quân trên đảo tăng cường công tác tuần tra; kiểm tra dụng cụ phòng cháy chữa cháy; đồng thời tiến hành sửa chữa, lắp đặt các biển cảnh báo nguy cơ cháy rừng; nghiêm cấm người dân khi lên đảo mang theo những vật dụng dễ cháy hay hút thuốc lá bỏ tàn bừa bãi, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất nguy cơ xảy ra cháy rừng. (Đài PTTH Cà Mau 26/2) đầu trang(
Cũng như khi được phát hiện, sự xuất hiện trở lại của Sao la (Pseudoryx nghetinhensis) vào tháng 9/2013 qua bẫy ảnh trong khu rừng ở Quảng Nam đã mang đến niềm vui lớn cho cộng đồng bảo tồn Việt Nam và thế giới. Niềm tin tưởng chừng đã mất về sự tồn tại của loài thú này trong tự nhiên một lần nữa lại được thắp lên.
Tuy nhiên, giữa những hi vọng mới, sự xuất hiện trở lại của Sao la vẫn còn đó những hoài nghi về tương lai của loài này; thậm chí, xới lên những câu hỏi đã cũ về nguyên nhân “biến mất” của Sao la trong suốt 15 năm qua. Sử dụng góc nhìn sinh thái chính trị để so sách hai giai đoạn khác nhau (khi phát hiện – tái xuất hiện) của bảo tồn Sao la, bài viết này sẽ cố gắng đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi ấy.
Từ câu chuyện về loài thú quý hiếm này, tác giả cũng đồng thời muốn nhấn mạnh rằng, đầu tư tài chính, sự tham gia và hưởng lợi của cộng đồng địa phương là những điều kiện không thể thiếu nhằm đảm bảo hiệu quả bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam trong tương lai.
Được phát hiện lần đầu tiên năm 1992 qua mẫu vật sừng tại nhà một người thợ săn khu vực KBT Vũ Quang, Hà Tĩnh (nay là VQG), nhiều bằng chứng tương tự về sự tồn tại của loài này cũng được tìm thấy tại các cộng đồng miền núi ở phía Tây của Nghệ An, Thừa Thiên Huế và Quảng Nam. Sự kiện Sao la được công bố là loài thú mới sau đó đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm, đầu tư nghiên cứu, cũng như các can thiệp bảo tồn ĐDSH trong suốt thập kỷ 90 của thế kỷ XX.
Liên tục, các cuộc khảo sát đã được tiến hành bởi các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế. Các lán trại thực địa được xây dựng trong rừng sâu như tại KBT Vũ Quang cũng được sử dụng phục vụ cho mục đích nghiên cứu Sao la. Trong vòng vài năm, hệ thống kiến thức khoa học về loài thú này được hình thành tương đối đầy đủ với các thông tin về đặc điểm sinh thái, ước đoán số lượng quần thể và tập tính cơ bản. P
hải nhấn mạnh rằng, trong quá trình phát hiện và nghiên cứu về Sao la, đặc tính nhút nhát của loài thú này đã khiến các nhà khoa học hầu như không có cơ hội tiếp cận ngoài tự nhiên. Các hiểu biết và kiến thức khoa học thu thập được về Sao la chủ yếu dựa trên các thông tin và kinh nghiệm đi rừng của thợ săn địa phương. Chính vì vậy, trong giai đoạn đầu tiên này, vai trò của người dân địa phương cũng như các kiến thức bản địa liên quan đến Sao la là không thể phủ nhận và vô cùng quan trọng.
Dựa trên các kiến thức khoa học có được ngay sau khi phát hiện, Sao la được đánh giá là loài đặc biệt quý hiếm và xếp hạng ở mức Nguy cấp trong Sách đỏ của Liên minh Bảo tồn Thế giới (IUCN) và Sách đỏ Việt Nam. Điều này, sau đó, đã trở thành cơ sở, luận cứ cho việc xây dựng các đề xuất dự án, kêu gọi đầu tư bảo tồn ĐDSH, trong đó có Sao la, trong thời gian này ở Việt Nam. Mục tiêu chính của các đề xuất là hỗ trợ cải thiện năng lực quản lý hệ thống KBT nơi được cho là có Sao la sinh sống. Các KBT, nay là VQG, như Vũ Quang (Hà Tĩnh) và Pù Mát (Nghệ An) là những khu vực nhận được các khoản tài trợ đáng giá. Bằng nguồn tiền từ Chính phủ Hà Lan, dự án 2,47 triệu USD đã được Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) thực hiện tại Vũ Quang từ 1995-2000 nhằm bảo vệ sinh cảnh của Sao la thông qua các biện pháp tăng cường quản lý KBT và hỗ trợ sinh kế cho người dân địa phương vùng đệm.
Cùng lúc, dự án Lâm nghiệp xã hội và BTTN khu Pù Mát, Nghệ An được Liên minh Châu Âu hỗ trợ thực hiện với ngân khoản 17,5 triệu euro từ 1996 – 2001 với mục đích tương tự. Kết quả là, trong suốt khoảng thời gian từ khi Sao la được phát hiện đến đầu những năm 2000, rất nhiều thông tin, hình ảnh về loài này đã được công bố, chia sẻ rộng rãi cả ở Việt Nam và quốc tế qua các hội thảo hoặc ấn phẩm truyền thông.
Tuy vậy, do ảnh hưởng từ quan điểm bảo vệ tuyệt đối tại các “khu rừng cấm” trước đây (có từ những năm 1960) và cách tiếp cận “bảo tồn vị bảo tồn” thịnh hành ở Việt Nam giai đoạn này nên các biện pháp can thiệp theo hướng bảo tồn nghiêm ngặt cũng được áp dụng tại các KBT có Sao la sinh sống như Vũ Quang và Pù Mát. Theo đó, mọi hành vi ảnh hưởng tới Sao la và sinh cảnh sống của chúng, đều bị nghiêm cấm và xử phạt, kể cả các hoạt động sinh kế truyền thống mà người dân địa phương vẫn duy trì trước khi thành lập KBT như săn bắn, khai thác gỗ, thu hái lâm sản phi gỗ hay canh tác nương rẫy.
Từ vị thế là nhân tố quan trọng giúp phát hiện, nghiên cứu và đặt nền tảng cho hệ thống kiến thức khoa học về Sao la, người dân địa phương lại được biết tới như là tác nhân chính đe dọa sự sống còn của loài thú quý hiếm này. Hệ lụy trực tiếp từ những biện pháp bảo tồn nghiêm ngặt là việc loại bỏ triệt để quyền tiếp cận của người dân địa phương đối với rừng và đất rừng bên trong ranh giới KBT, nhất là vùng bảo vệ nghiêm ngặt. Đây cũng là nguyên nhân chính gây ra những mâu thuẫn về lợi ích cũng như sự thiếu niềm tin, bất hợp tác giữa người dân địa phương và các cơ quan bảo tồn, nhất là Ban quản lý các KBT.
Khi các dự án kết thúc, sự quan tâm và đầu tư cho bảo tồn Sao la cũng giảm dần, theo đó thông tin và hình ảnh của loài thú này cũng dần ít đi. Hình ảnh Sao la chụp được bằng máy ảnh tự động tại một khu rừng gần biên giới Việt – Lào thuộc KBT Pù Mát năm 1998 được coi là bằng chứng cuối cùng cho thấy Sao la vẫn còn tồn tại ngoài tự nhiên.
Trong 15 năm tiếp theo, không có thêm thông tin, bằng chứng hay hình ảnh mới nào về loài thú này ở Vũ Quang, Pù Mát được công bố. Dù các KBT này đã được nâng cấp lên thành VQG nhưng có rất ít hoạt động trực tiếp liên quan đến nghiên cứu, bảo tồn Sao la, mà chủ yếu chỉ tập trung vào quản lý bảo vệ rừng từ nguồn kinh phí hạn chế từ ngân sách nhà nước hàng năm.
Đến nay, chưa hề có một chiến lược hay kế hoạch hành động cụ thể nào từ phía các cơ quan bảo tồn cấp quốc gia (như Cục Kiểm lâm, Cục Bảo tồn thuộc Bộ NN-PTNT; hay Cục Bảo tồn ĐDSH thuộc Bộ TN-MT) nhằm tìm kiếm lại hay bảo tồn loài thú quý hiếm có giá trị toàn cầu này. Những nhận định như “biến mất vĩnh viễn”, “tuyệt chủng ngoài tự nhiên”… do đó được gắn liền với Sao la cho đến tận gần đây.
Trong gần 15 năm im hơi lặng tiếng Sao la, một nhóm các nhà khoa học (Sao la Working Group) vẫn tiếp tục vận động và hỗ trợ cho hoạt động bảo tồn loài này và ĐDSH ở khu vực Trung Trường Sơn, dù kinh phí không nhiều. Kết quả của nỗ lực này là hai KBT mới, liên quan trực tiếp tới Sao la được thành lập: KBT Loài và Sinh cảnh Sao la Quảng Nam (tháng 7/2012) và KBT Sao la Thừa Thiên Huế (tháng 10/2013). Đề xuất thành lập hai KBT này được căn cứ trên dữ liệu điều tra về Sao la thực hiện từ những năm 1997-1998, 2007 và giai đoạn 2011-2013 (kinh phí hỗ trợ từ dự án Dự trữ Carbon và bảo tồn ĐDSH- CarBI). Dường như, một tiến trình mới, tương tự như đã diễn ra với VQG Pù Mát và Vũ Quang những năm 90, lại được lặp lại.
Sự hình thành hai KBT Sao la, do đó, là cơ sở cho thực hiện một loạt các dự án bảo tồn liên quan đến Sao la, như Dự án nghiên cứu phát triển bền vững miền Tây Nghệ An do Bộ TN&MT tài trợ, dựa vào kiến thức quản lý truyền thống và văn hóa bản địa của các dân tộc thiểu số nơi đây, lồng ghép với công tác bảo tồn ĐDSH dãy Trường Sơn, trong đó có bảo tồn Sao la; dự án Hành lang bảo tồn ĐDSH tiểu vùng Mê Kông mở rộng (2012-2019) nhằm thiết kế hệ thống hàng lang ĐDSH để phục hồi, duy trì và liên kết các hệ sinh thái trong khu vực.
Khác với cách tiếp cận bảo tồn nghiêm ngặt áp dụng trước đây tại Vũ Quang và Pù Mát, các dự án hỗ trợ hai KBT Sao la ở Thừa Thiên Huế và Quảng Nam sử dụng cách tiếp cận gắn kết sự tham gia của cộng đồng địa phương và đa dạng hóa nguồn tài chính cho hoạt động bảo tồn. Dựa trên sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của các dự án nước ngoài, các KBT đã thành lập được các tổ, đội tuần tra bảo vệ rừng là người dân địa phương, kết hợp cùng với cán bộ KBT (kiểm lâm địa bàn), được tập huấn kỹ thuật và trả lương để tham gia vào các hoạt động tuần tra, bảo vệ rừng, giám sát và bảo tồn ĐDSH.
Bên cạnh đó, một kế hoạch huy động kinh phí lâu dài cho bảo tồn cũng được KBT Loài và Sinh cảnh Sao la tính đến khi vận dụng nguồn thu từ chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) để gắn kết sự tham gia, trao trách nhiệm và tạo cơ hội cho người dân địa phương từ các hoạt động tuần tra bảo vệ rừng và bảo tồn ĐDSH.
Đầu tháng 9/2013, hình ảnh Sao la lại được ghi nhận thông qua bẫy ảnh tự động đặt trong KBT Sao la Quảng Nam. Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng vào thời điểm hiện tại, khi niềm tin vào sự tồn tại của Sao la ngoài tự nhiên, cũng như vào hiệu quả bảo tồn Việt Nam đang bị sụt giảm, nhất là sau khi loài tê giác Java chính thức tuyệt chủng ở Việt Nam năm 2011. Các nhà bảo tồn, đặc biệt là WWF, cho rằng đây là bằng chứng quan trọng, chứng minh cho tính đúng đắn và là kết quả của những đầu tư và nỗ lực bảo tồn ĐDSH ở khu vực Trung Trường Sơn trong nhiều năm qua. Thậm chí, việc tái xuất hiện này còn được cho là minh họa cho sự cần thiết của các mô hình bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng trong thực tiễn ở Việt Nam.
Sự biến mất một cách bí ẩn trong suốt một thời gian dài rồi bất ngờ lộ diện trở lại của Sao la đã xới lên những câu hỏi về nguyên nhân vì sao Sao la biến mất? Trước đây, các nhà khoa học và quản lý KBT cho rằng, việc thợ săn đặt bẫy thú trong rừng là nguyên nhân chính khiến cho quần thể loài này suy giảm và dần biến mất trong thực tế. Không có ai nghi ngờ về luận điểm này hay thực hiện một cuộc điều tra để kiểm chứng lại sự biến mất “bí ẩn” này trong hơn một thập kỷ qua, mặc dù, các hội thảo khoa học vẫn ước tính khoảng 150 – 200 cá thể Sao la đang tồn tại ngoài tự nhiên.
Tuy nhiên, khi Sao la xuất hiện trở lại, một loạt các câu hỏi và giả thuyết khác lại được đặt ra. Tại sao chúng xuất hiện trở lại? Tại sao lại xuất hiện ở một KBT mới thành lập như Sao la Quảng Nam mà không phải có những nơi đã được đầu tư, bảo tồn trước đây như Pù Mát hay Vũ Quang? Sao la sẽ xuất hiện thường xuyên hơn hay chúng sẽ lại biến mất một lần nữa? Và liệu có mối liên hệ nào giữa những can thiệp, đầu tư cho bảo tồn với sự “xuất hiện – biến mất” của Sao la? Dựa trên các rà soát và tham vấn với các chuyên gia, BQL VQG/KBT và người dân địa phương, từ quan điểm cá nhân, tác giả đưa ra một số luận điểm hy vọng có thể trả lời cho những câu hỏi trên.
Thứ nhất, cả giới khoa học và bảo tồn hiện có quá ít hiểu biết về sinh thái và tập tính Sao la trong thực tiễn, nên không thể lựa chọn được cách thức hiệu quả để tiếp cận và giám sát loài thú này. Những hình ảnh ghi nhận được bằng bẫy ảnh ở Pù Mát trước đây, hay Quảng Nam vừa qua, có lẽ chỉ là sự may mắn ngẫu nhiên, mà không phải kết quả của quá trình theo dõi và khẳng sự hiện diện một cách chắc chắn. Chính vì vậy, rất khó để khẳng định rằng, Sao la đã trở lại, sẽ xuất hiện thường xuyên hơn mà không thể biến mất một lần nữa.
Thứ hai, kinh nghiệm từ VQG Pù Mát/Vũ Quang những năm 1990 và mới đây là tại KBT Loài và Sinh cảnh Sao La Quảng Nam dường như phản ánh một quy luật, tại vùng phân bố Sao la, những nơi được đầu tư và thực hiện hoạt động bảo tồn mạnh mẽ sẽ ghi nhận được hình ảnh của Sao la. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, khi các dự án tài trợ cho Sao la kết thúc, các KBT/VQG như Pù Mát hay Vũ Quang chỉ được nhà nước bố trí kinh phí cho hoạt động tuần tra, bảo vệ rừng là chính, mà không có ngân sách chi cho nghiên cứu, tìm kiếm hay bảo tồn loài thú này nói riêng và ĐDSH nói chung. Vì vậy, thông tin, hình ảnh được công bố về Sao La tại VQG Pù Mát và Vũ Quang đã ít dần đi hoặc biến mất hẳn, như đã xảy ra trong 15 năm vừa qua. Có thể, một kịch bản tương tự cũng sẽ xảy ra tại KBT Sao la Quảng Nam khi các dự án tài trợ kết thúc nếu không có sự quan tâm đầu tư bảo tồn xác đáng hơn từ cơ quan bảo tồn cấp quốc gia.
Thứ ba, cách thức bảo tồn nghiêm ngặt, biến việc vào rừng và hoạt động săn bắn truyền thống thành bất hợp pháp, đã khiến quan điểm của người dân về chia sẻ thông tin liên quan đến Sao la thay đổi. Thay vì sẵn sàng chia sẻ như trước, họ hiếm khi trả lời cũng như thông báo cho các cơ quan bảo tồn các thông tin liên quan đến Sao la, một phần do họ không nhận được lợi ích gì từ việc này. Khi được hỏi về Sao la (2009), một người thợ săn tại Vũ Quang (Hà Tĩnh) đã nói “Bí mật, mà đã là bí mật thì không nói, không trả lời”, dù chắc chắn họ vẫn gặp Sao la ngoài tự nhiên trong những lần đi rừng “chui” của họ.
Hơn thế nữa, mối quan hệ hợp tác trong bảo tồn giữa người dân địa phương với các cơ quan bảo tồn cũng bị ảnh hưởng bởi cơ chế chia sẻ lợi ích không công bằng hiện nay. Như đã phân tích ở trên, người dân đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát hiện và nghiên cứu Sao la. Tuy nhiên, những đóng góp của họ đến nay vẫn chưa được ghi nhận, hay nói cách khác, theo cách tiếp cận hiện nay, bảo tồn không đem lại được cho người dân địa phương lợi ích gì đáng kể, mà thậm chí còn đem lại những khó khăn mới cho cuộc sống của họ.
Như vậy, nhìn lại từ sự biến mất – xuất hiện trở lại của Sao la, chúng ta có thể thấy rõ, sự tạm dừng, chuyển hướng hay thiếu hụt tài trợ; sự mất niềm tin hay bất hợp tác giữa cộng đồng địa phương và cơ quan bảo tồn, cũng như thiếu các chiến lược, hành động ưu tiên có thể sẽ phá hỏng thành quả của các nỗ lực bảo tồn đã xây dựng trước đó, cũng như có thể đẩy các loài thú quý hiếm đến “bờ vực của sự diệt vong”. Điều này khiến chúng ta suy nghĩ về tương lai lâu dài của bảo tồn Sao la cũng như ĐDSH ở Việt Nam. Ai có thể đảm bảo rằng, khi các dự án bảo tồn kết thúc, Sao la hay các loài thú quý hiếm khác sẽ không biến mất?
Từ những phân tích trên đây, tác giả cho rằng, cần một sự thay đổi lớn trong quan điểm đầu tư cũng như cách thức can thiệp bảo tồn hiện nay ở Việt Nam. Các hỗ trợ tài chính và kỹ thuật từ nước ngoài là cần thiết, nhưng chúng chỉ là nhân tố xúc tác ban đầu, không thể giúp Việt Nam cứu lấy và bảo vệ các di sản ĐDSH một cách lâu dài và bền vững. Vượt lên các cam kết “hình thức”, chính phủ Việt Nam cần phải quan tâm, xây dựng kế hoạch tài chính xác đáng và lâu dài cho bảo tồn, đặc biệt cho các KBT, nơi có Sao la hay các loài thú nguy cấp, quý hiếm khác đang tồn tại.
Tương tự, một chương trình hoặc kế hoạch hành động quốc gia về bảo tồn các loài có giá trị toàn cầu như Sao la, hổ, voi hay linh trưởng là cần thiết. Các quy định về thiết lập hệ thống giám sát loài, hệ sinh thái theo Luật ĐDSH 2009 cần sớm được thực hiện, trước tiên tại các KBT, vốn là địa bàn trọng điểm về bảo tồn loài. Quan trọng hơn, các KBT cần hợp tác và gắn kết cộng đồng địa phương vào mọi nỗ lực tuần tra, bảo vệ, giám sát ĐDSH thông qua các kế hoạch hành động thích ứng như đồng quản lý KBT/VQG. Sức ép và mối đe dọa đến bảo tồn sẽ giảm khi quyền tham gia và hưởng lợi của người dân được đáp ứng, bên cạnh việc chia sẻ trách nhiệm và hợp tác với BQL KBT và các bên liên quan khác.
Rõ ràng, không thể chờ đợi sự tự nguyện từ phía người dân nếu các cơ quan chính sách, Ban quản lý KBT và chính quyền địa phương không chủ động và tiên phong xây dựng các sáng kiến hợp tác với họ. Với những khuyến nghị này, tác giả hi vọng hiệu quả của những can thiệp bảo tồn loài ở Việt Nam sẽ được cải thiện trong tương lai. (ThienNhien.Net 26/2) đầu trang(
24/2, tại xã Sơn Bình, huyện Tam Đường xảy ra vụ cháy rừng làm ảnh hưởng đến 3ha rừng trồng.
Theo thông tin ban đầu, đám cháy xảy ra vào hồi 12h trưa ngày 24/2 tại Tiểu khu 193B/225 Khoảnh 1 Lô d, đám cháy đã ảnh hưởng đến 3ha cây thông sao mộc; thông đuôi ngựa và cây tống quá sủ mới trồng. Đến 14 giờ cùng ngày đám cháy được dập tắt hoàn toàn, ước tính mức thiệt hại 70% (trong 3ha rừng bị ảnh hưởng); nguyên nhân, đối tượng gây cháy đang được các cơ quan chức năng điều tra làm rõ.
Ông Vàng A Hồ - Chủ tịch UBND xã Sơn Bình cho biết: “Ngay sau khi nhận thông báo xảy ra cháy rừng từ người dân, UNBD xã đã lập tức huy động lực lượng tại chỗ với hơn 200 người thuộc 8/8 bản của xã cùng cán bộ xã đến ngay hiện trường, cánh điểm dân cư hơn 20km để tham gia dập cháy. Với tinh thần nhiệt tình, trách nhiệm chỉ trong vòng 2 giờ đồng hồ đám cháy đã được khống chế dập tắt hoàn toàn, không lan rộng”.
Hiện đang trong mùa cao điểm, thời tiết hanh khô dễ xảy ra cháy rừng, chính quyền xã Sơn Bình đã thành lập các tổ trực phòng cháy chữa cháy ở mỗi bản (3 người/đội) và 100% cán bộ xã luân phiên lịch trực 2 người/đội tham gia tuần tra, trực cháy 24/24 giờ. (Báo Lai Châu 25/2) đầu trang(
Sau Tết, không khí hanh khô của mùa hè bắt đầu tràn về. Những cánh rừng xanh mát ở Tri Tôn, Tịnh Biên dần ngả sang màu vàng. Đây là lúc ngành Kiểm lâm huy động tối đa lực lượng để phòng, chống cháy rừng.
Do triển khai thực hiện đồng bộ những giải pháp tổng hợp từ địa phương đến các lực lượng liên quan nên năm 2014, các vụ cháy rừng xảy ra đều được phát hiện và dập tắt kịp thời. Trong đó, xảy ra 13 vụ vi phạm sử dụng lửa trên diện tích 1,01 héc-ta, cháy lướt dưới tán rừng khoanh nuôi, chủ yếu cháy cỏ, cháy le và thảm thực bì. Không có vụ nào gây thiệt hại đến rừng do Nhà nước đầu tư.
Công tác chống chặt phá rừng, kiểm tra việc sử dụng đất lâm nghiệp cũng được quan tâm cao. Trong năm, ngành Kiểm lâm đã thực hiện 737 đợt kiểm tra, tuần tra chống chặt phá rừng, quản lý lâm sản. Ngoài ra, hàng ngày, cán bộ Kiểm lâm địa bàn và cán bộ kỹ thuật viên lâm nghiệp xã thường xuyên tuần tra, kiểm tra các khu vực có rừng để phát hiện và ngăn chặn kịp thời các vụ vi phạm “lâm luật”. Mục đích chủ yếu trong việc chặt phá rừng đồi núi của người dân là hầm than, làm rẫy, trồng cây ăn quả, khai thác đất…
Mặc dù họ chỉ chặt phá với quy mô nhỏ nhưng lại diễn ra thường xuyên, khiến chất lượng rừng giảm sút. Tình trạng sử dụng đất rừng sản xuất để trồng lúa quá tỷ lệ quy định tại khu vực rừng tràm Bình Minh tuy được chính quyền địa phương chỉ đạo giải quyết, nhưng vẫn chưa dứt điểm. Lực lượng chức năng đã phát hiện 116 vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng (tăng 27 vụ so năm 2013); phạt tiền 60 vụ, cảnh cáo 23 vụ. Trong đó, 28 vụ vận chuyển lâm sản trái pháp luật; 23 vụ mua bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái với quy định Nhà nước; 20 vụ vi phạm về thủ tục hành chính trong hoạt động lâm sản; ngăn chặn hơn 200 đối tượng chuẩn bị đột nhập vào rừng tràm Trà Sư săn bắt chim, cò và xuyệt cá …
Lực lượng Kiểm lâm đã xây dựng và thực hiện kế hoạch phối hợp với Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường kiểm tra một số chợ, cơ sở gây nuôi của các huyện, xã biên giới, các điểm nóng về buôn bán động vật hoang dã. Kết quả, đã làm giảm những tụ điểm mua bán công khai, việc quản lý gây nuôi động vật hoang dã ngày càng chặt chẽ hơn trước.
Theo ông Bành Thanh Hùng, Trưởng phòng Bảo vệ rừng và Bảo tồn thiên nhiên (Chi cục Kiểm lâm tỉnh), mùa khô năm 2015 được dự báo diễn biến phức tạp hơn. Do tổng lượng mưa năm qua đạt thấp, mức độ khô hanh cao, nhiệt độ không khí sẽ tăng, dễ dẫn đến hiện tượng bốc hơi, bén lửa. Bên cạnh đó, lượng khách tham quan, du lịch, hành hương trên các đồi núi trong tỉnh ngày càng tăng; tình hình chặt phá rừng phòng hộ đồi núi sẽ còn tiếp tục diễn ra… Vì thế, nguy cơ xảy ra cháy rừng rất lớn.
Theo đó, diện tích rừng trọng điểm khoanh vùng có khả năng cháy (cấp độ 4) khoảng 7.100 héc-ta, chiếm 48,25% tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp của tỉnh. Huyện Tịnh Biên có 3.000 héc-ta, gồm rừng tràm Trà Sư, núi Phú Cường, rừng tràm Nhơn Hưng, cụm núi Đất, núi Nhọn, khu vực Latina, Tà Lọt; TP. Châu Đốc có 100 héc-ta ở núi Sam; huyện Tri Tôn có 4.000 héc-ta ở khu vực núi Dài, một phần núi Cô Tô, các khu rừng tràm thuộc xã Tân Tuyến và Tà Đảnh.
Ban Chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh đã đề ra phương án bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng năm 2015, với mục tiêu: Quyết tâm phòng cháy tốt, chữa cháy kịp thời, hiệu quả, hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra theo phương châm 4 tại chỗ (Chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, dụng cụ - phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ). Về công tác bảo vệ rừng, sẽ thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ nhằm phát hiện kịp thời, ngăn chặn xử lý có hiệu quả những vụ chặt phá rừng, lấn rừng phòng hộ đồi núi, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp không đúng mục đích ở đồng bằng; triển khai xây dựng Quỹ bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tạo thu nhập cho các hộ trồng rừng để góp phần bảo vệ rừng bền vững.
“Ngành Kiểm lâm cùng các ngành liên quan hạ quyết tâm cao, cố gắng bảo vệ thành quả 3 năm qua không để thiệt hại rừng, cháy rừng. Ngoài sự nỗ lực của chúng tôi, còn rất cần sự chung tay của người dân. Do đó, chúng tôi tăng cường tuyên truyền, vận động người dân không chặt phá rừng bừa bãi; du khách và người dân địa phương thực hiện nghiêm các quy định về sử dụng lửa, thắp hương cúng bái ở dọc đường, hốc đá khi vào rừng hành hương, du lịch…” – ông Hùng thông tin thêm. (Báo An Giang 26/2) đầu trang(
Trên địa bàn các huyện Quan Sơn, Như Xuân và Thường Xuân (Thanh Hóa), tình trạng sử dụng cưa xăng khai thác lâm sản trái phép vẫn diễn ra phổ biến. (Nhân Dân 26/2) đầu trang(
Phú Yên: Người dân phóng thích chim đại bàng
Một người dân ở xã Xuân Phước, huyện Đồng Xuân (Phú Yên) vừa phóng thích chú chim lạ về với thiên nhiên, sau khi bắt được nó vào 21/2 (mùng 3 tết) trong tình trạng bị thương ở cánh, sà xuống bờ rẫy ven rừng.
Chim có màu lông xám tro, trọng lượng khoảng 2kg, cao khoảng 40cm, sải cánh rộng hơn 1m, lông đuôi dài 30cm; mắt vàng, tròng đen, đường kính hơn 10mm; mỏ quặp, 4 móng vuốt dài nhọn rất hung dữ, chưa từng có ở vùng đất này.
Đối chiếu với tư liệu, hình ảnh trên Google và theo nhận định của nhiều người, con chim lạ trên là đại bàng, được mệnh danh là “chúa tể ầu trời”.
Đại bàng là loài chim săn mồi lớn thuộc bộ Ưng, lớp Chim, họ Accipitridae, sinh sống ở vùng núi cao và rừng nguyên sinh. Khi phát hiện con mồi từ trên cao, đại bàng xếp cách lao xuống với tốc độ lên đến 250km/giờ tạo ra tiếng xé gió khiến con mồi kinh hồn, chết điếng trước khi bị tóm.
Theo các nhà khoa học, nếu như hố thị giác của người có khoảng 200.000 tế bào hình nón, thì đại bàng có đến 1 triệu tế bào hình nón/1mm. Vì vậy, ở khoảng cách 1.600m đại bàng vẫn có thể nhìn thấy một con chuột. (Tài Nguyên Môi Trường 22/2) đầu trang(
Nước ta có tới 54 dân tộc khác nhau, sinh sống trong điều kiện tự nhiên rất đa dạng, từ ven biển, đồng bằng, trung du đến vùng núi cao. Để tồn tại được và phát triển, các tộc người ở nước ta đã có nhiều cách ứng xử phù hợp với thiên nhiên, điển hình là các luật tục, các tri thức bản địa gắn với tâm linh để một mặt có thể khai thác các nguồn tài nguyên mà thiên nhiên đã ưu đãi dành cho họ, nhưng đồng thời cũng bảo vệ được nguồn tài nguyên này để cho con cháu đời đời mai sau vẫn được hưởng thụ.
Đỉnh cao của ý thức bảo vệ rừng là sự hình thành những hương ước bảo vệ rừng ở thôn, bản. Quá trình xây dựng hương ước đã thể hiện được nhiều mặt tích cực mang tính truyền thống: Đó là tính cộng đồng được mọi người tự nguyện tham gia, tính nhân bản và hợp lý (đề cao trách nhiệm, hình phạt có lý, có tình...).
Các dân tộc Tày, Nùng ở Lạng Sơn được đánh giá là điển hình trong việc xây dựng hương ước bảo vệ rừng. Hương ước thường do trưởng bản và những người già trong bản chịu trách nhiệm. Hương ước được nhắc nhở vào các dịp sinh hoạt cộng đồng, đặc biệt vào dịp cúng Thó tỷ (Thổ địa) lúc đầu năm. Thó tỷ, theo quan niệm của các dân tộc Tày, Nùng, là vị thần bảo vệ cho cuộc sống không chỉ của con người mà còn bao gồm cả mùa màng, gia súc và cây rừng ở một khu vực cư trú nhất định. Người ta xây dựng một cái miếu nhỏ dưới tán cây cối um tùm, bên trong chỉ đặt một ống hương để cúng Thó tỷ. Đây là nơi thiêng liêng, cấm mọi người không được chặt cây cối, lấy củi, không được chăn, thả gia súc. Theo quan niệm của đồng bào Tày, Nùng, nếu ai vi phạm sẽ bị động thổ, nghĩa là cuộc sống của cư dân trong khu vực ấy sẽ không được bình yên.
Luật tục của người M’nông, cũng như nhiều dân tộc khác ở Tây Nguyên, là một bộ phận đặc sắc của văn hóa dân gian. Với người M’nông, quản lý lửa rừng trong mùa đốt rẫy là việc rất hệ trọng. Họ hiểu rất rõ, mất rừng là hết nước, hết củi gỗ và mất đất để phát rẫy vào vụ sau. Vì vậy, luật tục M’nông đã có điều luật ngăn cấm việc đốt rẫy làm cháy lan sang rẫy khác. Người M’nông khuyến khích làm rẫy gần nhau thành một khu lớn để thú rừng không ăn nổi, sâu bọ phá không xuể. Nhưng đốt rừng ở gần nhau thường gây họa cháy lan. Trong trường hợp như vậy, thủ phạm gây ra cháy rừng phải chịu tội, phải cúng tạ lỗi, phải đền bù. Nhưng sự đền bù chỉ có tính răn đe, giúp nhau, không được bắt đền quá đáng để giữ hòa khí trong buôn, làng.
Vì nhận thức rừng là của chung nên nhiệm vụ bảo vệ rừng là của cả cộng đồng. Ai thấy cháy rừng mà không dập tắt là hành vi phạm tội lớn. Tuy nhiên, tội danh này không bị phạt đồ cúng tế hay các đền bù vật chất cụ thể, mà khung hình phạt là lời khuyên, lời cảnh tỉnh chí tình, chí lý để ai cũng phải tự giác bảo vệ rừng, mái nhà chung của nhiều thế hệ.
Một hình thức bảo vệ rừng gắn với tâm linh, đó là nhiều địa phương (chủ yếu ở vùng núi phía Bắc) có những khu rừng được gọi là rừng thiêng hay rừng ma. Tại xã Mường Lựm, thuộc huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, có một khu rừng được gọi là rừng thiêng. Khu rừng thiêng này nằm không xa khu dân cư, hiện đang tồn tại một quần thể du sam núi đất hàng trăm cây, có chiều cao đến 35m, đường kính từ 1-1,5m, có tuổi thọ khoảng 200-300 năm. Du sam núi đất hiện đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam (năm 2007). Mặc dù khu rừng gần như được bao bọc bởi những bản, làng, nhưng trải qua vài thế kỷ vẫn nguyên vẹn vì theo người dân, đây là khu rừng thiêng nên không ai dám chặt phá.
Tại xã Kim Loan, thuộc huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng, có một khu rừng nghiến trên núi đá vôi. Nghiến cũng là loài có nguy cơ tuyệt chủng, đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam (2007). Khu rừng nghiến được đánh giá có hàng trăm cây tuổi thọ khoảng 200-300 năm, cao khoảng 25-30m, đường kính từ 1-1,5m. Khu rừng này được người dân địa phương đặt tên là "rừng ma" vì đây là nơi dành để mai táng trẻ sơ sinh xấu số. Điều đặc biệt là các hài nhi sau khi chết được đặt vào một chiếc rọ đan bằng tre, sau đó đem treo trên cây nghiến, thường là những cây cổ thụ.
"Rừng ma", nơi yên nghỉ của những hài nhi xấu số, với những cây nghiến đại thụ trở thành vương quốc của các loài rắn độc. Rất ít người có đủ can đảm vào khu rừng này, phần vì sợ rắn độc, phần vì... sợ ma.
Tại thôn Tắn Khâu, xã Phú Nam, huyện Bắc Mê, cách thị trấn Bắc Mê (thuộc huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang) chưa đầy 20km, có một quả đồi hiện đang tồn tại một quần thể chò chỉ với hàng trăm cây, cao tới 35-40m, đường kính từ 1-1,5m. Chò chỉ cũng được đưa vào Sách đỏ Việt Nam để bảo vệ vì loài này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Được biết, khu rừng này cũng được gọi là rừng thiêng. Vừa qua, Hội đồng Cây di sản Việt Nam (thuộc Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam) đã làm lễ tôn vinh quần thể cây chò chỉ ở đây là Cây di sản của Việt Nam.
Chắc chắn còn rất nhiều khu rừng thiêng, "rừng ma" trên mọi miền đất nước mà trong phạm vi bài viết này không thể kể hết được. Có một điều cần phải khẳng định là, nhờ những hương ước, luật tục kết hợp với tâm linh mà các khu rừng thiêng, "rừng ma" với nhiều quần thể cây quý hiếm, đại thụ đã được bảo tồn, bảo vệ. Đó chính là nét đẹp văn hóa gắn với tâm linh của các cộng đồng đã góp phần bảo tồn những di sản quý báu của dân tộc, đồng nghĩa với việc bảo vệ và phát triển rừng. (Quân Đội Nhân Dân 26/2) đầu trang(
Những ngày đầu xuân, chúng tôi có chuyến tham gia tuần tra rừng cùng lực lượng kiểm lâm huyện Thanh Sơn. Ông Nguyễn Tiến Hiếu - Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Thanh Sơn cho biết: “Thanh Sơn có trên 14.000ha rừng tự nhiên và trên 25.000ha rừng trồng. Vì vậy, chúng tôi luôn xác định rõ nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Song song với vui xuân đón Tết, chúng tôi chỉ đạo lực lượng kiểm lâm tăng cường công tác tuần tra, rà soát và duy trì chế độ trực 24/24 giờ nhằm phát hiện, xử lý kịp thời những sự cố xảy ra đối với rừng”.
Có mặt tại xã Cự Thắng, ngắm những cánh rừng keo xanh bạt ngàn đang chuẩn bị đến chu kỳ khai thác, chúng tôi như cảm nhận rõ niềm đam mê với rừng của những chủ rừng và của lực lượng kiểm lâm. Để có được những cánh rừng xanh như thế là kết quả của công tác phối hợp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng giữa lực lượng kiểm lâm với cộng đồng người dân.
Ông Đinh Gia Thế - khu 1, xã Cự Thắng chia sẻ: “An toàn của những cánh rừng không chỉ là bảo vệ môi trường mà còn là lợi ích kinh tế của chúng tôi vì rừng nuôi sống đa số các hộ dân quê tôi. Là Bí thư chi bộ, tôi tích cực tuyên truyền, động viên bà con trong khu dân cư phối hợp với lực lượng kiểm lâm cùng bảo vệ rừng. Đặc biệt là dịp Tết, các hộ dân cũng không lơ là trong việc canh rừng, từ những việc nhỏ nhất như việc trẻ chăn trâu đốt rác sưởi ấm cũng là một nguy cơ cháy rừng. Vì thế, ngay trong các gia đình cũng đã bảo ban nhau tránh những sơ suất nhỏ đảm bảo an toàn cho rừng trồng, tránh những thiệt hại không đáng có”.
Cùng trong chuyến tuần rừng, ông Đinh Minh Hiệp - Phó Chủ tịch UBND xã Cự Thắng cho biết: “Chính quyền địa phương đã phối hợp tích cực với lực lượng kiểm lâm, tuyên truyền đến tất cả bà con các thôn bản hiểu về nguy cơ, tác hại của cháy rừng. Vì thế, nhận thức của người dân đã có những chuyển biến tích cực, chủ động hưởng ứng và chấp hành nghiêm túc công tác bảo vệ rừng”.
Với vai trò nòng cốt trong công tác bảo vệ rừng, lực lượng kiểm lâm không chỉ ở Thanh Sơn mà còn trên địa bàn toàn tỉnh luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, chủ động tuần tra, quản lý, bảo vệ rừng. Là một tỉnh trung du miền núi, diện tích rừng nhiều cộng với nguy cơ cháy rừng cao do diễn biến khí hậu bất thường, tình trạng nắng nóng, khô hạn kéo dài đã là những thách thức trong công tác bảo vệ rừng.
Thêm vào đó, nhận thức về bảo vệ rừng của một bộ phận người dân còn hạn chế. Chủ động khắc phục những khó khăn đó, mặc dù lực lượng còn mỏng, hoạt động phân tán song do có sự chỉ đạo sát sao, hệ thống kiểm lâm từ tỉnh đến huyện và kiểm lâm địa bàn phụ trách xã đã tập trung, thống nhất thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng. Bằng tình yêu với nghề, bản lĩnh trong tác nghiệp, lực lượng kiểm lâm trên toàn tỉnh đã tạo dựng được niềm tin với nhân dân trong việc giữ rừng.
Thực tế, những nơi có rừng ở địa bàn vùng sâu vùng xa, trình độ dân trí chưa cao nên Chi cục Kiểm lâm tỉnh thường xuyên chỉ đạo các Hạt, Trạm kiểm lâm chủ động phối hợp với địa phương các cấp tuyên truyền về công tác bảo vệ rừng. Việc duy trì đều đặn chương trình phát thanh trên hệ thống loa truyền thanh của xã, thôn, bản đã mang lại hiệu quả thiết thực, nâng cao ý thức bảo vệ rừng của người dân.
Cùng với tăng cường công tác tuyên truyền, công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng (PCCR) được triển khai hiệu quả. Thông qua hoạt động của đoàn kiểm tra liên ngành cấp tỉnh kiểm tra địa bàn các huyện và hạt kiểm lâm các huyện chủ động tham mưu với chính quyền địa phương thành lập các đoàn kiểm tra trên địa bàn quản lý đã nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ rừng, PCCR, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi xâm hại đến rừng. Trong năm, lực lượng kiểm lâm phối hợp với các ngành đã kiểm tra và xử lý 149 vụ vi phạm pháp luật về rừng, nộp ngân sách gần 1 tỷ đồng.
Trong công tác bảo tồn thiên nhiên đã thực hiện nghiêm túc chế độ quản lý động, thực vật hoang dã quý hiếm; thường xuyên kiểm tra việc chấp hành các quy định về gây nuôi, kinh doanh, vận chuyển, tiêu thụ động vật hoang dã của các trại nuôi. Bên cạnh đó, do làm tốt công tác phối hợp với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Phòng cảnh sát PCCC Công an tỉnh thực hiện diễn tập chữa cháy rừng và công tác bảo vệ PCCR nên nhiều năm gần đây trên địa bàn tỉnh không để xảy ra vụ cháy, phá rừng lớn. Đặc biệt, trong dịp Tết Nguyên đán, lực lượng kiểm lâm đã huy động lực lượng, tăng cường công tác bảo vệ rừng.
Ông Đỗ Ngọc Đoàn - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm cho biết: Để chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng, PCCR, thực thi pháp luật về rừng trước, trong và sau dịp Tết, Chi cục Kiểm lâm đã có công văn yêu cầu các đơn vị thực hiện nghiêm túc các nội dung nhằm đảm bảo an toàn cho những cánh rừng; bố trí lực lượng trực 24/24 giờ.
Cùng với đó, các Hạt, Trạm, Đội kiểm lâm cơ động và PCCR tăng cường phối hợp, tổ chức tuần tra, kiểm soát địa bàn, đặc biệt chú trọng đến các khu rừng tự nhiên như: Rừng Quốc gia Đền Hùng, Vườn Quốc gia Xuân Sơn, địa bàn giáp ranh thuộc các huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập, Hạ Hòa và các địa bàn trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng để sẵn sàng ứng phó kịp thời các sự cố về rừng. Đối với các huyện có diện tích rừng lớn, yêu cầu các Hạt kiểm lâm cung cấp số điện thoại đường dây nóng đến tất cả các khu dân cư và duy trì quân số trực 2 cán bộ trở lên trên một trạm để khi có sự cố về an ninh rừng kịp thời phát hiện và xử lý.
Một mùa xuân mới đang về. Hòa trong không khí đón Tết vui xuân, lực lượng kiểm lâm của tỉnh vẫn luôn bám giữ rừng - tài sản, vốn quý của đất nước để những cánh rừng mãi xanh. Các anh - Những chiến sĩ kiểm lâm đang cùng với những cánh rừng vào xuân. (Báo Phú Thọ 26/2) đầu trang(
Nền kinh tế và sự phát triển của Việt Nam phụ thuộc lớn vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có đa dạng sinh học, tuy nhiên, đa dạng sinh học đã và có xu hướng tiếp tục bị suy thoái vì “nhân tai”
Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa trình báo cáo quốc gia về việc thực hiện Công ước Đa dạng sinh học (ĐDSH) giai đoạn 2009-2013 lên Ban Thư ký Công ước ĐDSH quốc tế.
Việt Nam được xếp hạng thứ 16 trên thế giới về đa dạng sinh vật và là 1 trong 10 trung tâm ĐDSH phong phú nhất thế giới với nhiều kiểu hệ sinh thái, nguồn gien đặc hữu. Thế nhưng, sự đa dạng này đang bị đe dọa nghiêm trọng vì nạn khai thác bừa bãi và sức ép từ gia tăng dân số, tốc độ đô thị hóa...
Năm 2007, Việt Nam có 880 loài động, thực vật được ghi vào Sách đỏ nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức độ “nguy cấp”. Đến nay, đã có 10 loài động vật bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên. Tê giác Java Việt Nam là 1 trong 2 quần thể tê giác còn sót lại trên trái đất bị xác nhận là tuyệt chủng vào năm 2010. Điều này làm cho không chỉ Việt Nam mà cả thế giới tiếc nuối và lo lắng.
Các loài động vật nguy cấp, quý hiếm vẫn tiếp tục rơi vào tình trạng báo động tuyệt chủng cao do nạn săn bắt trộm và mất môi trường sống. Các nhà máy xi măng phá hết các núi đá vôi để lấy nguyên liệu đã đẩy loài voọc mông trắng, voọc mũi hếch... ra khỏi “nhà” và đến bờ tuyệt chủng, loài này chỉ còn tính bằng cá thể thay vì bầy đàn như trước kia.
Tương tự, hổ Việt Nam vốn có số lượng đến hàng ngàn con nhưng nay cũng chỉ còn khoảng 30 con, phân bố trong các khu bảo tồn. Không chỉ các loài động vật quý hiếm mà những loài được xem là phổ biến cũng đang bị ảnh hưởng nguồn gien di truyền do sự khai thác quá mức. Số lượng thủy sinh vật, nhất là các loài tôm cá có giá trị kinh tế cao, cũng bị giảm sút nghiêm trọng.
Hệ sinh thái dưới nước cũng không tránh khỏi bị tận diệt do con người. Rạn san hô ở Cô Tô, Quảng Ninh vốn được đánh giá phát triển tốt, độ phủ đạt 80%-100% nhưng từ năm 2007 đến nay, chết rất nhiều, có nơi tỉ lệ chết đến 90%. Diện tích san hô toàn quốc đã giảm đến 10%, hiện còn 14.000 ha, trong đó chỉ 3% phát triển.
Quá trình đô thị hóa, phát triển cơ sở hạ tầng đã làm phá vỡ các sinh cảnh tự nhiên, mất các hệ sinh thái dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học. Theo thống kê, từ năm 2008 đến nay, đã có trên 100.000 ha đất rừng khộp - một hệ sinh thái đặc thù của thế giới - tại Tây Nguyên bị chuyển đổi sang trồng cao su. Tương tự, diện tích rừng ngập mặn từ 400.000 ha năm 1943, đến nay chỉ còn 130.000 ha.
Nguyên nhân chủ yếu là chuyển đổi mục đích để nuôi tôm và một số loài thủy sản khác. Tỉ lệ che phủ rừng và diện tích rừng cả nước có xu hướng tăng nhưng chủ yếu là rừng trồng mới, ĐDSH thấp trong khi diện tích rừng giàu ĐDSH đang suy giảm nhanh chóng, diện tích rừng nguyên sinh hầu như không còn.
Thủy điện được cảnh báo là một dạng hạ tầng đe dọa lớn đến ĐDSH. Cả nước hiện có hơn 800 thủy điện nằm trong quy hoạch. Tất cả các nghiên cứu đều chỉ ra rằng vùng sông sau đập chịu tác động rất lớn như gây ảnh hưởng đến nơi cư trú, đời sống của các sinh vật, tạo điều kiện cho các loài ngoại lai xâm nhập...
Việc xây dựng nhiều thủy điện còn làm mất các khu rừng tự nhiên, chia cắt dòng chảy. Nhiều công trình không vận hành đúng quy trình không những gây thiệt hại cho người, nền kinh tế mà còn làm suy thoái các hệ sinh thái.
ĐDSH đóng góp khá nhiều vào nền kinh tế quốc gia, thể hiện rõ nhất ở lĩnh vực lâm nghiệp và thủy - hải sản, là cơ sở bảo đảm an ninh lương thực. ĐDSH cung cấp khoảng 80% thủy sản khai thác ven bờ, 40% lượng protein cho người dân... Các hệ sinh thái có tính ĐDSH cao đang thu hút nhiều khách du lịch, hứa hẹn đem lại nhiều giá trị về kinh tế. 70% tăng trưởng du lịch là từ các vùng duyên hải giàu tính ĐDSH. 14/30 vườn quốc gia, khu bảo tồn có tổng doanh thu từ du lịch trên 30 tỉ đồng/năm. Do đó, việc suy giảm ĐDSH sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế Việt Nam.
Ngoài ra, trong bối cảnh ô nhiễm ngày càng gia tăng, biến đổi khí hậu đang trở nên khắc nghiệt hơn thì vai trò của các khu rừng càng quan trọng trong việc tạo ra “lá phổi xanh” và điều tiết khí hậu cũng như giảm nhẹ mức độ tàn phá của thiên tai. (Người Lao Động 26/2, Minh Khanh) đầu trang(
Xuất phát từ việc tìm hiểu loài Cánh kiến đỏ, một loài động vật quý đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, nhóm sinh viên đến từ trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam đã nảy sinh ý tưởng thành lập dự án “Nuôi thả Cánh kiến đỏ" với số vốn dự kiến khoảng 668 triệu đồng.
Cánh kiến đỏ có tên khoa học là Laccifer lacca Kerr, thuộc họ Lacciferideae và được coi là loài sinh vật đặc biệt của vùng nhiệt đới. Nhựa Cánh kiến đỏ là loại nhựa duy nhất do động vật tiết ra, có tính chất rất đặc biệt nên cho đến nay chưa có một chất dẻo nào thay thế được, thường dùng để pha màu sơn và vecni đánh bóng đồ gỗ nội thất và dùng trong keo xịt tóc, làm phẩm màu hay nhuộm thức ăn gam màu đỏ, tráng bóng trái cây hoặc dùng trong công nghiệp vecni….
Từ lâu đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc đã có nghề nuôi thả Cánh kiến đỏ để phục vụ cho đời sống và sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ. Tuy nhiên, thị trường Kiến cánh đỏ của nước ta đang bị bị thu hẹp lại, nghề nuôi thả loài sinh vật này không được quan tâm phát triển nữa. Một vài năm trở lại đây, do nhu cầu sử dụng nhựa Kiến cánh đỏ tăng lên, nhiều địa phương lại quan tâm phát triển nghề này.
Nhận thấy rằng ở Việt Nam chưa có một công ty hay một doanh nghiệp nào đứng ra để nuôi thả loài Cánh kiến đỏ này theo mô hình công nghiệp, nhóm sinh viên đến từ trường Đại học Lâm Nghiệp đã nảy sinh ý tưởng xây dựng dự án nuôi Cánh kiến đỏ với mô hình công nghiệp. Đồng thời tự sản xuất sản phẩm là nhựa Cánh kiến đã qua sơ chế để tạo lập và khẳng định thương hiệu của mình với người dân Việt cũng như hướng tới việc xuất khẩu ra nước ngoài.
Dự án “Nuôi thả Cánh kiến đỏ” kêu gọi đầu tư với tổng số vốn dự kiến khoảng 668 triệu đồng, triển khai với mục đích sản xuất kinh doanh nhựa Cánh kiến đỏ và một số nông sản khác. Việc sản xuất có thể cho thu hoạch sau từ 5 – 6 tháng, và sẽ trải qua một quy trình chế biến để chuyển nhựa Cánh kiến đỏ từ dạng thô sang tinh.
Việc nuôi Cánh kiến đỏ để lấy nhựa sẽ giúp cho các ngành liên quan như công nghiệp sơn, công nghệ thực phẩm, nông sản, sản xuất bánh kẹo trong nước phát triển, đảm bảo giá cả và chất lượng cũng như nguồn cung nguyên liệu cho thị trường. Nếu được thực hiện, dự án góp phần bảo tồn nguồn gen quý Cánh kiến đỏ - một loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do sự tàn phá về môi trường sống. Các tác giả hy vọng dự án được đưa vào hoạt động sẽ đem lại hiệu quả to lớn về mặt xã hội, đặc biệt là hỗ trợ giúp tạo việc làm cho một bộ phận không nhỏ người lao động tại khu vực Xuân Mai - Chương Mỹ - Hà Nội.
Nhóm tác giả mong muốn dự án sẽ được tiếp thêm sức mạnh từ các nhà đầu tư thông qua các nguồn lực tài chính, công nghệ…nhằm giúp sản phẩm nhựa Cánh kiến đỏ có thể lan rộng khắp Việt Nam cũng như vươn ra tầm thế giới. (Diễn Đàn DN 26/2) đầu trang(
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Sở NN - PTNT về việc tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng và truy quét lâm tặc vào dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Ất Mùi 2015, từ ngày 11.2 đến 25.2, các Hạt KL và Đội KL cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng đã phát hiện và lập biên bản 4 vụ vận chuyển lâm sản trái phép, thu giữ hơn 1m3 gỗ các loại, 1.590 kg và 0,45 m3gỗ trắc và 1 chiếc mô tô.
Trong đó, tại địa bàn huyện Tây Sơn, lực lượng KL đã phát hiện và lập biên bản 3 vụ vận chuyện lâm sản trái pháp luật, tạm giữ 0,916 m3 gỗ các loại, 1 mô tô. Tại Hoài Ân, lực lượng KL cũng phát hiện và lập biên bản 1 vụ vận chuyển lâm sản và tạm giữ 1.590 kg và 0,45 m3 gỗ trắc.
Trong tháng 1.2015, các Hạt KL đã tổ chức 115 đợt tuần tra rừng với 632 người tham gia, qua đó, phát hiện và tạm giữ 4,129 m3 gỗ các loại, 3 máy cưa xăng cầm tay, 20 cái áo phao, 40 lít xăng; hủy tại rừng gần 1,2 m3 gỗ các loại, 18 lán trại, 19 lò hầm than, 4.250 kg than hầm, 1 ste củi, 100 ruột xe dùng để kéo gỗ, 54 cái bẫy bằng dây thắng xe đạp.
Hiện các Hạt KL đang đẩy nhanh công tác hoàn thiện hồ sơ các vụ vận chuyển lâm sản trái phép để xử lý theo quy định của pháp luật. (Báo Bình Định 26/2) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 18/2015/NĐ-CPquy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường.
Trong đó Nghị định quy định, quy hoạch bảo vệ môi trường được lập phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội với kỳ đầu cho giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2040 theo 2 cấp độ là quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia và quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh.
Quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia gồm những nội dung chính: Diễn biến, mục tiêu quản lý môi trường rừng, bảo tồn đa dạng sinh học; Thực trạng môi trường biển, hải đảo, lưu vực sông; mục tiêu và các giải pháp bảo tồn, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, hải đảo, lưu vực sông; Thực trạng phát thải khí và chất lượng môi trường không khí; mục tiêu và giải pháp quy hoạch đối với các hoạt động phát triển có nguồn phát thải khí lớn; Thực trạng suy thoái, ô nhiễm môi trường đất; mục tiêu và các giải pháp phòng ngừa suy thoái, ô nhiễm môi trường đất, phục hồi các vùng đất đã bị ô nhiễm, suy thoái; Thực trạng ô nhiễm môi trường nước; mục tiêu và các giải pháp quản lý nước thải và bảo vệ môi trường nước...
Quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh được lập dưới hình thức báo cáo riêng hoặc lồng ghép vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. Cụ thể, đối với quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh dưới hình thức báo cáo riêng phải thể hiện được các nội dung chính giống như quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia với yêu cầu chi tiết hơn gắn với vị trí địa lý, điều kiện môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc thù của địa phương lập quy hoạch.
Đối với quy hoạch bảo vệ môi trường dưới hình thức lồng ghép vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh cũng phải thể hiện được các nội dung chính giống như quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia với yêu cầu chi tiết hơn gắn với vị trí địa lý, điều kiện môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc thù của địa phương lập quy hoạch, trong đó các nội dung về nguồn lực thực hiện quy hoạch bảo vệ môi trường, trách nhiệm tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch bảo vệ môi trường được lồng ghép vào các nội dung tương ứng của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.
Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ hướng dẫn chi tiết quy trình xây dựng đề cương, phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch bảo vệ môi trường.
Nghị định cũng quy định cụ thể việc thẩm định quy hoạch bảo vệ môi trường. Theo đó, đối với quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia và quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh dưới hình thức báo cáo riêng được thực hiện thông qua hội đồng thẩm định do thủ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan tổ chức thẩm định quy hoạch bảo vệ môi trường quy định tại Khoản 2 Điều 11 Luật Bảo vệ môi trường thành lập. Đối với quy hoạch bảo vệ môi trường dưới hình thức lồng ghép vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức thẩm định đồng thời với việc thẩm định quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh. (Chính Phủ 26/2) đầu trang(
Vụ tranh chấp đất rừng giữa Lâm trường Đồng Hợp và người dân xóm Hợp Thành, xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp (Nghệ An), đã hơn 10 năm trôi qua, dù 2 bên có nhiều cuộc họp, đối thoại nhưng đến nay vẫn không giải quyết được vấn đề quyền sử dụng đất rừng thuộc về ai khi 1 mảnh đất có 2 bìa đỏ.
Ông Nguyễn Tất Hải, trú tại xóm Hợp Thành, xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp cho biết: “Năm 1990, chúng tôi tới định cư ở vùng đất này cho đến bây giờ. Tôi và gia đình đã dùng chính sức của mình để khai hoang sản xuất và sinh sống. Năm 1998, tôi làm bìa đỏ quyền sử dụng đất trên diện tích đã khai hoang và liên tục sau đó sử dụng cho đến bây giờ. Thế mà lâm trường lại ngang nhiên lấy đất của gia đình tôi”.
Theo đó, bìa đỏ mà ông Hải đưa ra để chứng minh quyền sử dụng đất của gia đình, có diện tích rộng hơn 16ha. Khi đối chiếu với sổ địa chính ở xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp thì hoàn toàn trùng khớp, có ghi tên chồng là Nguyễn Tất Hải, vợ là Nguyễn Thị Hạp, bìa số M378810 cấp ngày 9/12/1998, vào sổ cấp quyền sử dụng đất số: 00038/QSDĐ /4926.
Sự việc bắt đầu khi Lâm trường Đồng Hợp, trực thuộc Công ty Lâm nghiệp Sông Hiếu (Nghệ An), đề nghị người dân xã Tam Hợp góp đất tham gia dự án trồng rừng 327. Theo đó, sau khi trồng, người dân sẽ được hưởng 2/3 sản phẩm, còn lâm trường hưởng 1/3. Đến năm 2014, cho rằng Lâm trường Đồng Hợp đơn phương chuyển sang rừng sản xuất mà không thông báo, người dân xã Tam Hợp đã làm đơn khiếu kiện.
Sau đó, thực hiện kế hoạch đầu tư, trồng mới rừng nguyên liệu của công ty, Lâm trường Đồng Hợp đã cùng người dân ký các hợp đồng khoán nhận đất, sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp. Tuy nhiên, gia đình ông Nguyễn Tất Hải và anh Lê Văn Hùng (SN 1970), trú tại xóm Hợp Thành, xã Tam Hợp không đồng ý với lý do đây là đất do mình làm chủ, do chính tay khai phá nên lâm trường không có quyền “giao”.
Để giải quyết vấn đề, đã có nhiều cuộc họp và đối thoại diễn ra. Gần nhất là vào ngày 26/1/2015, cuộc họp giữa 4 bên gồm: gia đình ông Nguyễn Tất Hải, đại diện Lâm trường Đồng Hợp, chính quyền xã Tam Hợp, chính quyền huyện Quỳ Hợp. Tuy nhiên, kết thúc cuộc họp, các bên liên quan vẫn không thể đi đến một thống nhất chung.
Trong quá trình diễn ra tranh chấp, gia đình ông Nguyễn Tất Hải cho rằng, mình đã có bìa đỏ nên vẫn tiếp tục khai thác khu rừng ông đang sử dụng. Khi thấy gia đình ông Hải “chặt trộm” gỗ, lâm trường đã cử bảo vệ xuống ngăn cản.
Khi chúng tôi trao đổi vấn đề trên với đại diện Lâm trường Hợp Đồng, ông Đặng Văn Tiến, Chủ tịch Công đoàn kiêm kế toán trưởng đã đưa ra Hợp đồng số 19 (ngày 20/4/2007) có chữ ký rõ ràng của ông Nguyễn Tất Hải về việc nhận đất của lâm trường. Vì vậy, phía Lâm trường Đồng Hợp cho rằng, nếu gia đình ông Hải muốn khai thác số cây đến tuổi thu hoạch, phải báocho lâm trường biết để triển khai theo đúng kế hoạch.
“Sau dự án trồng rừng 327, lâm trường đã trả hết đất cho dân, gồm cả đất ở và đất sản xuất. Sau đó, lâm trường còn ký hợp đồng để đảm bảo sản xuất với người dân, thời hạn giao đất là 20 năm, tất cả các hộ đều đã ký nhận và có hợp đồng rõ ràng. Cả gia đình ông Hải và anh Hùng cũng đã ký nhận. Sắp tới chúng tôi sẽ mời cơ quan điều tra làm rõ sự việc”, ông Tiến nói.
Cũng theo ông Tiến, lâm trường cũng sẽ khởi kiện gia đình ông Hải về việc làm giả sổ đỏ để chiếm đoạt đất rừng và vi phạm hợp đồng đã thỏa thuận giữa hai bên. Bìa đỏ của ông Nguyễn Tất Hải ghi tên chủ sử dụng đất là Nguyễn Viết Hải. Vì có sự trùng tên nên ông Nguyễn Tất Hải đã lấy làm của mình.
Tuy nhiên, ông Hải lại khẳng định, bìa đỏ đó là của gia đình mình, còn tên là do nhầm lẫn: “Đây là sai sót khi chúng tôi làm bìa đỏ, ngay sau đó gia đình đã lên UBND để khai báo và đã được xử lý theo quy định. Tôi khẳng định, tôi không ký vào hợp đồng do lâm trường đưa ra, đó là hợp đồng giả mạo, tôi ký tôi phải biết chứ. Nếu cần chúng tôi sẽ mời cơ quan chức năng giám định chữ ký để làm rõ vấn đề”.
Tương tự, anh Lê Văn Hùng cũng bức xúc cho biết: “Tôi chưa hề thấy hợp đồng nào do lâm trường đưa ra nên không có chuyện tôi ký nhận. Nếu có hợp đồng thì chắc chắn chữ ký của tôi là giả. Đây là đất của tôi thì không thể nào có việc lâm trường đưa đất của tôi để giao cho tôi được”.
Trao đổi về vấn đề này, ông Hoàng Xuân Ngư, Chủ tịch UBND xã Tam Hợp, cho biết: “Sau khi nhận được thông tin về sự việc, chúng tôi đã kiểm tra, bìa đỏ đó là thật, nhưng là của ông Nguyễn Viết Hải nay đã mất. Vì sao ông Nguyễn Tất Hải lại có thì chúng tôi không rõ. Nguyên nhân của sự không rõ ràng này là vì đất nơi đây chủ yếu do người dân tự khai thác từ trước năm 1993 và hầu hết không khai báo. Tuy nhiên, theo quy định khi người dân sử dụng liên tục, thời gian dài, không có tranh chấp thì họ sẽ được quyền sử dụng đất đó”.
Liên quan đến vấn đề làm hợp đồng giả, ông Ngư cho biết, UBND xã đã báo lên UBND huyện và tỉnh, sau đó sẽ lập đoàn kiểm tra và mời cơ quan công an giám định chữ ký thật giả rồi mới có biện pháp xử lý. Tuy nhiên, do năm 2007, khu vực địa chính có sự thay đổi khi tách làm 2 xã Đồng Hợp và Tam Hợp như hiện nay nên có rất nhiều vấn đề chưa rõ ràng về đất đai. (Người Đưa Tin + Đời Sống Pháp Luật 26/2) đầu trang(
Có những cây trồng đơn lẻ còn không cho ra quả. Trong khi đó ghép cây giống tỉ lệ thành công cũng không cao.
Do vậy nếu muốn phát triển đồng loạt thì giống cũng không thể cung cấp ngay được - Bà Đoàn Thị Thanh Nga, Giám đốc Công ty giống vùng Đông Bắc đã chia sẻ với Đất Việt trước việc cấp tập trồng cây mắc ca tại Việt Nam.
Gần đây, có nhiều động thái thúc đẩy việc trồng cây mắc ca (ngân hàng nhà nước hứa hỗ trợ vốn, đặt mục tiêu 200.000 tấn năm 2015, chưa trồng và đánh giá kết quả vùng Tây Nguyên đã giao nghiên cứu vùng Tây Bắc). Cây mắc ca có nguồn gốc xuất xứ từ các rừng cận nhiệt đới châu Úc. Khi được chuyển về trồng ở Hawaii, Mỹ, nó trở thành sản phẩm được xuất khẩu với quy mô lớn.
Theo nghiên cứu của các chuyên gia, nhân hạt mắc ca có chứa nhiều đường bột, chất khoáng, vitamin, với hàm lượng dầu tới 78%, cao hơn lạc, hạt điều. Ngoài ra, hạt mắc ca còn có công dụng trong việc giảm cholesterol, chữa các bệnh về trầm cảm, bổ xương, khớp, giúp tăng cường trí nhớ…
Với nhiều công dụng trong sức khỏe, hạt mắc ca đang rất được ưa chuộng tại thị trường Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Do vậy, một số nước ở châu Á như Trung Quốc, Thái Lan đang đưa vào sản xuất loại cây này.
Tại Việt Nam, cây mắc ca được đưa giống về từ Australia vào năm 2004, nhưng sau khi khảo nghiệm, đến năm 2013, 10 giống mắc ca đạt chất lượng mới được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép đưa vào trồng. Và thực tế ở Tây Nguyên, những cây mắc ca đã cho thu hoạch.
Tại Công ty giống vùng Đông Bắc đã trồng khảo nghiệm 10 năm nay đã ra hoa và quả. Hiện 18 dòng đã được trồng thành công. Cách đây mấy tháng, trước khi qua đời nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn có đến kiểm tra và đưa ra đánh giá là tốt.
Trong tất cả các bài tính về hiệu quả kinh tế của loài cây này, dư luận nhận thấy, căn cứ đều dựa vào giá của mắc ca tại thời điểm hiện tại, thị trường tiêu thụ ở thời điểm hiện tại. Cây mắc ca cho giá trị kinh tế cao. Trên thực tế phần cung chưa đủ so với cầu. Hiện chúng ta đang nhập giống cây từ Úc, Trung Quốc đưa về Việt Nam thì hai bên khí hậu đều tương đồng nhau.
Tuy nhiên đúng như các chuyên gia khuyến cáo về bệnh cây cũng cần phải lưu ý. Đúng là hơn 10 năm qua cây được trồng và đã cho ra quả nhưng chưa có biểu hiện bệnh. Còn về năng suất đạt theo yêu cầu vì hiện tại chủ yếu trồng cây ghép nên cây nhanh cho ra quả và tuyển chọn được những giống tốt.
Hiện sản phẩm chủ yếu tiêu dùng trong nước và dùng để cung cấp giống. Riêng Công ty giống vùng Đông Bắc một năm thu được hơn 1 tấn dùng để làm giống, cung cấp vẫn chưa đủ. Một phần được dùng để chế biến sản phẩm tại chỗ thử để quảng cáo sản phẩm.
Hiện tại tất cả mới chế biến thủ công. Ở Việt Nam hiện chưa có xưởng chế biến, về lâu dài phải tính đến chuyện này. Hiện ở Lạng Sơn cũng đã có doanh nghiệp bắt đầu tham gia trồng và tiến tới sẽ xây dựng xưởng chế biến.
Hiện các chính sách cho cây mắc ca đã có. Theo Nghị định số 210/2013/NĐ – CP của Chính phủ đối với việc hỗ trợ trồng cây dược liệu, cây mắc ca, nhà đầu tư có dự án trồng cây dược liệu, cây mắc ca có quy mô từ 50 ha trở lên được ngân sách nhà nước hỗ trợ 15 triệu đồng/ha để xây dựng đồng ruộng, cây giống;
Nghị định cũng quy định hỗ trợ xây dựng cơ sở sản xuất giống cây mắc ca quy mô 500.000 cây/năm trở lên có mức hỗ trợ tối đa là 70% chi phí đầu tư/cơ sở và không quá 2 tỷ đồng…
Đây là con số không đơn giản nhất là với những vùng núi rất khó để đủ diện tích 50ha để trồng, thứ nhất là về địa hình, thứ hai là về vốn dân không thể đủ điều kiện để trồng 50ha.
Ngay cả doanh nghiệp tham gia cũng không thể trồng đủ 50ha. Có thể vùng Tây Nguyên có thể đảm bảo được diện tích này.
Sau hơn 10 năm vào Việt Nam, đến nay đã có khoảng 2.000 ha mắc ca được trồng. Theo giới chuyên môn nếu trồng mở rộng thì sẽ phải tính đến chuyện quỹ đất. Theo khuyến cáo thì mỗi cây trồng đều có một mục đích khác nhau. Nhưng trong trường hợp vì mục đích kinh tế nếu có lợi thì không lo ngại phá rừng.
Cái khó khăn lớn nhất bây giờ là giống. Một cây làm được giống phải mất 2-3 năm. Tức là không thể chỉ gieo hạt lên cây là được mà sau đó phải ghép.
Ghép thì nhanh ra quả, còn có những cây trồng đơn lẻ còn không cho ra quả. Hai nữa là khi ghép tỉ lệ thành công cũng không cao. Do vậy nếu muốn phát triển đồng loạt thì giống cũng không thể cung cấp ngay được.
Cho nên nếu không có thông tin đầy đủ có thể sử dụng phải những giống cây không đạt yêu cầu và có thể không cho ra quả. Do vậy khi trồng phải lưu ý nguồn giống và có mật độ tương đối mới có thể tốt trong việc cho ra quả. (Đất Việt 26/2) đầu trang(
Nhân dịp đầu xuân Ất Mùi, ngày 25/2/2015 (tức ngày 7 tháng giêng), huyện Nam Đàn tổ chức lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác”, kêu gọi các tầng lớp nhân dân ra sức thi đua thực hiện phong trào trồng cây gây rừng năm 2015.
Là huyện đồng bằng nửa đồi núi, có diện tích đất rừng hơn 7.200 ha, những năm qua, nhờ đẩy mạnh phong trào trồng cây gây rừng, đất rừng Nam Đàn đã cơ bản được phủ xanh, nhiều vùng kinh tế tập trung chuyên canh cây lâm nghiệp, cây ăn quả được xây dựng với quy mô lớn, đưa kinh tế rừng phát triển theo hướng bền vững, tạo môi trường sinh thái xanh - sạch - đẹp.
Với khẩu hiệu “ Người người trồng cây, nhà nhà trồng cây, trồng cây nào sống tốt cây đó”, “Ra sức thi đua hoàn thành kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2015”, Nam Đàn quyết tâm thực hiện mục tiêu trồng mới 100 ha rừng tập trung, 1 triệu cây phân tán và tiếp tục thực hiện dự án “Quy hoạch rừng đặc dụng gắn với di tích lịch sử văn hóa huyện Nam Đàn giai đoạn 2010-2020”, trong đó tập trung phát triển mạnh trang trại lâm nghiệp, vườn rừng sinh thái, tăng độ che phủ rừng, phát động mạnh mẽ phong trào trồng cây trong các cơ quan, công sở, trường học và trên các tuyến đường giao thông, đồng thời làm tốt công tác bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng để Nam Đàn thực sự là một địa danh “Trùng lai đa danh thắng” hấp dẫn du khách. Phong trào “Tết trồng cây nhớ ơn Bác” đã trở thành một nét đẹp truyền thống trên quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh, khởi đầu cho một năm mới với nhiều hy vọng mới. (Báo Nghệ An 25/2) đầu trang(
UBND tỉnh Lâm Đồng vừa ban hành văn bản phân bổ kế hoạch trồng rừng thay thế năm 2015 trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, đối với diện tích rừng đã được chuyển đổi từ đất lâm nghiệp sang mục đích không phải lâm nghiệp tại các đơn vị chủ rừng, đợt này, UBND tỉnh thống nhất với đề xuất của Sở NN-PTNT là cả tỉnh sẽ trồng gần 113 ha rừng thay thế. Đáng lo hiện tượng chây ỳ Con số 113 ha nói trên là khá nhỏ so với kế hoạch trồng rừng thay thế của Lâm Đồng năm 2015 đã được phê duyệt: 772ha; trong đó gồm 334 ha trồng rừng thay thế diện tích đất lâm nghiệp chuyển sang làm thủy điện và 437 ha diện tích đất lâm nghiệp chuyển sang mục đích khác. Nếu so sánh với diện tích cả giai đoạn 3 năm 2014 - 1016 phải trồng thay thế của cả tỉnh thì con số 113 ha càng thấp: 113/2.096ha!
Tuy nhiên, 113 ha chưa hẳn là con số nhỏ của “gói” trồng rừng thay thế năm 2015 vừa được tỉnh phê duyệt. Thực tế từ khi chính sách trồng rừng thay thế được hình thành và triển khai thực hiện, hầu hết các địa phương (trong đó có Lâm Đồng) đều vấp phải sự hững hờ, hoặc cũng có thể gọi là sự chây ì của các đơn vị có trách nhiệm trồng rừng thay thế - các doanh nghiệp thủy điện, các chủ dự án sử dụng đất rừng vào mục đích ngoài lâm nghiệp.
Năm 2014, theo kế hoạch được xây dựng ngay từ đầu, cả tỉnh Lâm Đồng có trách nhiệm trồng 887 ha rừng thay thế; trong đó, diện tích phải trồng thay thế cho phần chuyển sang xây dựng các công trình thủy điện là 450 ha, diện tích còn lại (437ha) là rừng thay thế cho diện tích chuyển sang các mục đích khác.
Cũng như nhiều tỉnh khác trong cả nước, việc trồng rừng thay thế ở Lâm Đồng được thực hiện theo hai hình thức: Các doanh nghiệp tự trồng hoặc các đơn vị chủ rừng nộp tiền trồng rừng thay thế với đơn giá gần 85 triệu đồng/ha (tiền của doanh nghiệp có diện tích rừng cần trồng thay thế). Thực tế cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp thủy điện trên địa bàn Lâm Đồng đều chọn cách chi tiền cho các chủ rừng trồng rừng thay thế cho đơn vị mình. Ưu ái nhưng vẫn chây ỳ Ngay từ đầu năm 2014, UBND tỉnh Lâm Đồng đã linh động cho các doanh nghiệp được nộp tiền trồng rừng thay thế từ 2 - 3 đợt, nhưng chậm nhất là khoảng cuối tháng 3 phải nộp đủ.
Tuy nhiên, đến cuối tháng 8/2014 - khi mùa trồng rừng sắp kết thúc, hầu hết các đơn vị vẫn cứ chây ỳ với cả hàng chục lý do được đưa ra như doanh nghiệp đang thiếu vốn, việc đo vẽ hiện trạng chưa được thống nhất, định mức trên một đơn vị diện tích trồng rừng chưa được thống nhất...
Xử lý sự chây ỳ này, cơ quan chức năng tỉnh Lâm Đồng đã phải đưa ra “tối hậu thư”: Nếu đơn vị nào chậm nộp tiền trồng rừng thay thế so với quy định sẽ bị “phạt”! Trên địa bàn Lâm Đồng, đến cuối mùa trồng rừng năm ngoái, có 8 đơn vị (doanh nghiệp) được “điều chỉnh” bởi “tối hậu thư” này! Trong đó, hai đơn vị được “điểm mặt” bởi diện tích trồng rừng thay thế chiếm phần lớn là Cty Cổ phần Thủy điện Miền Nam với diện tích phải trồng là 278ha đối với thủy điện Đam Bri và Tổng Công ty Xây dựng công trình giao thông 4 với diện tích phải thay thế là 101ha đối với thủy điện Đạ Khai.
Còn nhớ cuối năm 2014 vừa qua, trước sự chây ỳ của các doanh nghiệp, đặc biệt là các chủ dự án thủy điện, Bộ NN-PTNT đã phải “đe”: Rút giấy phép dự án, nhất là dự án thủy điện, nếu như doanh nghiệp đó chây ỳ trong trồng rừng thay thế! Trong thực tế, Lâm Đồng và nhiều địa phương khác trong cả nước, diện tích trồng rừng thay thế chỉ đạt không quá 50% so với kế hoạch hằng năm. Có lẽ trong năm 2015 này, sự kiên quyết trong xử lý đối với những doanh nghiệp tỏ ra chây ỳ cần được các cơ quan hữu trách và chính quyền đặc biệt lưu tâm! (Nông Nghiệp VN 27/2) đầu trang(
25/2, nguồn tin từ Sở KH-ĐT cho biết, UBND tỉnh vừa cấp giấy chứng nhận đầu tư dự án Khu liên hợp chế biến lâm sản Bình Nam cho Công ty TNHH Bình Nam.
Dự án có tổng vốn 183 tỉ đồng, gồm xưởng chế biến nguyên liệu giấy với công suất khoảng 200.000 tấn gỗ nguyên liệu giấy/năm và xưởng chế biến gỗ tinh chế nội địa, xuất khẩu với công suất khoảng 10.000m3/năm tại thôn Soi Nga, xã Xuân Lãnh (huyện Đồng Xuân).
Mục tiêu nhằm hình thành khu liên hợp khép kín khai thác, thu mua, chế biến và tiêu thụ, phục vụ trực tiếp cho nhu cầu tiêu thụ sản phẩm gỗ trong và ngoài nước; đồng thời sử dụng có hiệu quả vùng nguyên liệu gỗ rừng trồng mà Công ty TNHH Bình Nam đã đầu tư và vận dụng tối đa nguyên liệu gỗ rừng trồng trên địa bàn tỉnh, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương. (Báo Phú Yên 26/2) đầu trang(
Bước chuyển nghề rừng ở Yên Bái
Nhằm phát huy thế mạnh về đất đồi rừng, những năm qua, huyện Yên Bình (Yên Bái) đã đẩy mạnh xã hội hóa nghề rừng, giao đất, giao rừng cho người dân quản lý; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia trồng rừng; gắn trồng rừng với công nghệ chế biến. Nhờ vậy, đời sống người làm nghề rừng đang từng bước cải thiện.
Là huyện vùng thấp nhưng có trên 40.000ha rừng, đây được coi là thế mạnh trong phát triển kinh tế - xã hội của Yên Bình. Để đưa trồng rừng thành ngành kinh tế mũi nhọn, huyện đã có nhiều cơ chế chính sách, khuyến khích, hỗ trợ người dân trồng rừng, phát triển kinh tế, giao đất, giao rừng cho người dân; khuyến khích, giúp đỡ người dân trồng rừng bằng việc khai thác nguồn vốn các chương trình, dự án trồng rừng, hỗ trợ giống cây lâm nghiệp, phân bón; phối hợp với Trạm Khuyến nông huyện tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc vốn rừng cho nhân dân.
Nhờ thực hiện đồng bộ các giải pháp, phong trào trồng rừng đã được người dân đồng tình hưởng ứng. Chỉ tính riêng năm 2014, bà con nông dân và các thành phần kinh tế đã trồng mới trên 2.700ha rừng, bằng 117,5% kế hoạch. Thu nhập từ rừng đã làm thay đổi hẳn cuộc sống của người dân, nhiều hộ khó khăn đã thoát nghèo, vươn lên giàu có. Những xã như: Xuân Long, Tân Nguyên, Ngọc Chấn… trước đây người dân chỉ biết phá rừng, làm nương rẫy, đến nay, rừng đang dần phủ kín. Nghề rừng đã trở thành ngành kinh tế chủ đạo, mũi nhọn của nhiều địa phương trong huyện. Chúng tôi về xã Vĩnh Kiên - địa phương có phong trào trồng rừng phát triển.
Chỉ tay lên những cánh rừng bạt ngàn keo lai và bồ đề, đồng chí Nguyễn Văn Chiến - Phó chủ tịch UBND xã phấn khởi cho biết: “Từ năm 2000 trở lại đây, nhân dân trong xã đã tự bỏ vốn, đầu tư hàng trăm triệu đồng để trồng rừng. Chính quyền địa phương không còn phải vận động, tuyên truyền như trước nữa. Trung bình mỗi năm, xã trồng mới 100ha rừng kinh tế, khai thác trên 4.000m3 gỗ, thu về 5 tỷ đồng. Nhờ trồng rừng, đời sống của bà con nhân dân đã có bước chuyển đáng khích lệ. Đến nay, 30% hộ dân trong xã sống bằng nghề rừng, nhiều gia đình từ chỗ nghèo đói nay đã vươn lên giàu từ rừng”.
Cùng với việc phát triển trồng rừng, công nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn cũng phát triển mạnh. Để nâng cao giá trị sản phẩm cho người dân, huyện đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh đầu tư công nghệ chế biến vào địa bàn, đặc biệt là chế biến sâu, thu hút các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, tham gia chế biến từ nguồn nguyên liệu gỗ rừng trồng với các sản phẩm đa dạng như: ván ép, ván bóc, bao bì, chiếu tre, trúc, đũa xuất khẩu… Năm qua, các cơ sở chế biến trên địa bàn tiêu thụ trên 113.000m3 gỗ rừng trồng. Các cơ sở chế biến gỗ không những góp phần nâng cao giá trị cho sản phẩm gỗ rừng trồng mà còn tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho lao động địa phương.
Để kinh tế lâm nghiệp phát triển bền vững, thời gian tới, huyện tiếp tục khuyến khích các nhà đầu tư vào lĩnh vực lâm nghiệp, đặc biệt, các doanh nghiệp có công nghệ chế biến hiện đại, hạn chế tiêu thụ nguyên liệu thô, phát triển chế biến sâu. Cùng với đó, phát triển ổn định các doanh nghiệp chế biến, cơ sở sản xuất kinh doanh lâm sản hiện có trên địa bàn; gắn vùng sản xuất nguyên liệu tập trung với chế biến và tiêu thụ sản phẩm; tiến tới khuyến khích và tạo vùng sản xuất tập trung vào vùng nguyên liệu cây gỗ lớn phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu; khuyến khích liên doanh, liên kết trong trồng rừng và tiêu thụ sản phẩm, góp phần khai thác hết tiềm năng, thế mạnh lâm nghiệp. (Báo Yên Bái 25/2) đầu trang(
Phát triển kinh tế lâm nghiệp là một thế mạnh của tỉnh Bắc Kạn nói chung và của huyện Chợ Mới nói riêng. Nhờ biết phát huy tiềm năng này mà những năm gần đây, nhiều thôn bản ở huyện Chợ Mới đã từng bước thay da, đổi thịt.
Thanh Mai là một trong những xã có diện tích rừng trồng lớn nhất huyện Chợ Mới. Những năm trước đây, số hộ dân trong xã trồng rừng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Vì cũng giống như nhiều nơi khác trên địa bàn tỉnh, người dân ở đây chỉ quen với việc làm nương rẫy, làm ruộng mà chưa chú trọng đến trồng rừng. Thế nhưng khi thấy lợi ích kinh tế từ trồng rừng, nhất là rừng keo nên đến nay hơn 80% số hộ gia đình ở đây đều trồng rừng. Những khu đất trống đồi trọc năm nào giờ đã được phủ một màu xanh của xây keo. Những ngôi nhà mái lá xiêu vẹo đã nhường chỗ cho những ngôi nhà xây khang trang. Hôm nay đến thôn Phiêng Luông của xã Thanh Mai, người ta không khỏi ngỡ ngàng vì cái bản nghèo khó ngày nào giờ đã có nhiều ngôi nhà khang trang không thua kém bất kỳ thôn bản trù phú nào.
Ông Dương Văn Đắc, Chủ tịch UBND xã Thanh Mai, huyện Chợ Mới cho biết: Xác định thế mạnh là phát triển kinh tế nông lâm nghiệp, xã Thanh Mai luôn vận động người dân trồng rừng đạt và vượt diện tích đăng ký. Ngoài ra, số diện tích người dân tự mở rộng cũng rất lớn vì nguồn lợi từ rừng khá lớn so với sản xuất ngô, lúa.
Từ những cánh rừng trồng của huyện Chợ Mới đã tạo nguồn nguyên liệu dồi dào cho ngành công nghiệp chế biến gỗ. Ngoài gỗ bóc, hiện nay địa phương này có cơ sở sản xuất gỗ băm, gỗ ván dăm… Chính vì vậy những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này đã góp phần tích cực tạo thêm không ít việc làm cho lao động địa phương. Đầu ra của rừng trồng ổn định cũng là động lực mạnh mẽ để thúc đẩy người dân tham gia trồng rừng sản xuất. Vì vậy, trong vài năm gần đây, huyện Chợ Mới luôn là địa phương hoàn thành vượt kế hoạch trồng rừng của tỉnh giao.
Ông Bế Ngọc Hùng- Phó Chủ tịch UBND huyện Chợ Mới cho biết: Bình quân mỗi năm huyện Chợ Mới trồng được 1.600 ha rừng. Công tác quay vòng luân chuyển đất trồng rừng cũng được thực hiện tốt do người dân đã được hưởng lợi từ kinh tế rừng.
Một mùa xuân mới lại về, từ những thắng lợi của kinh tế lâm nghiệp trong năm 2014, chính quyền và nhân dân huyện Chợ Mới đang tích cực chuẩn bị mọi điều kiện để hoàn thành kế hoạch trồng mới hơn 1500 ha rừng của năm 2015. Những chồi non xanh của cây giống trồng rừng như đang hứa hẹn mang đến những mùa xuân ấm áp hơn, no đủ hơn cho người dân nơi đây từ những cánh rừng trồng. (Đài PTTH Bắc Cạn 25/2) đầu trang(
Sáng 25-2, tỉnh Thừa Thiên-Huế đã phát động "Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ”. Sau lễ phát động, các vị lãnh đạo cùng các đoàn viên thanh niên, lực lượng vũ trang đã ra quân trồng trên 200 cây xanh trên tuyến đường Tố Hữu và khu đô thị mới An Vân Dương nhằm góp phần xây dựng Huế thành đô thị sinh thái.
Trước đó, ngày mùng 6 Tết các huyện, thị xã của Thừa Thiên-Huế đã tổ chức tết trồng cây, chủ yếu là ở trung tâm huyện lỵ, cơ quan, trường học. Được biết, ngoài trồng trên 4.000 ha rừng tập trung, năm 2015 Thừa Thiên-Huế còn tổ chức trồng rừng phân tán nhằm tạo cảnh quan và góp phần nâng độ che phủ rừng từ 56,7% lên 57%.(Đại Đoàn Kết 26/2) đầu trang(
Sáng 25/2 (mùng 7 Tết Ất Mùi), tại Trường mầm non xã An Mỹ (huyện Tuy An), Sở NN-PTNT phối hợp với Sở GD-ĐT tổ chức lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” năm 2015.
Đến dự có ông Lê Văn Trúc, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh; đại diện các sở, ban, ngành, đoàn viên thanh niên, học sinh các trường học trên địa bàn huyện Tuy An.
Thực hiện lời dạy của Bác Hồ “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, thời gian qua, Phú Yên đã triển khai thành công nhiều dự án phát triển lâm nghiệp, như: dự án Phát triển lâm nghiệp để cải thiện đời sống người dân vùng Tây Nguyên (Flitch); dự án Trồng rừng sản xuất từ nguồn vốn viện trợ của Chính phủ Cộng hòa Liên Bang Đức (KWF6)…
Hàng năm, toàn tỉnh đã trồng trên 5.000ha rừng tập trung và 1 triệu cây phân tán, góp phần nâng độ che phủ rừng toàn tỉnh lên 38%. Tuy nhiên, những năm gần đây, Phú Yên hứng chịu những cơn bão mạnh, lũ lớn gây thiệt hại nặng nề về tính mạng, tài sản của nhân dân. Vì vậy việc trồng cây gây rừng là mục tiêu nhiệm vụ rất quan trọng trong cả hệ thống chính trị.
Phát biểu tại buổi lễ, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Lê Văn Trúc đã biểu dương những thành tích đạt được của các sở, ban, ngành, địa phương trong công tác trồng rừng, đồng thời đề nghị các cấp, ngành tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao trách nhiệm trong các tầng lớp nhân dân, học sinh và thực hiện tốt phong trào trồng cây, bảo vệ môi trường, góp phần làm giảm thiểu biến đổi khí hậu; thực hiện hiệu quả lời dạy của Bác Hồ “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Sở NN-PTNT triển khai tốt kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng theo hướng nâng cao giá trị, gia tăng sản phẩm dịch vụ môi trường rừng, đa dạng sinh học thích ứng với biến đổi khí hậu.
Sau buổi lễ phát động, lãnh đạo tỉnh, các đại biểu và đoàn viên, thanh niên đã trồng cây xanh tại khuôn viên Trường mầm non xã An Mỹ. (Báo Phú Yên 26/2) đầu trang(
Sáng 26/2, Ban Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phối hợp UBND tỉnh Nghệ An tổ chức lễ phát động Tết trồng cây Đời đời nhớ ơn Bác Hồ-Xuân Ất Mùi năm 2015 tại Khu di tích Truông Bồn(xã Mỹ Sơn, huyện Đô Lương, Nghệ An).
Tới dự có anh Nguyễn Phi Long, Bí thư Trung Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Chủ tịch HLHTN Việt Nam; ông Hồ Đức Phớc, Bí thư Tỉnh ủy; ông Nguyễn Xuân Đường, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An cùng hơn 3 nghìn đoàn viên thanh niên, học sinh huyện Đô Lương.
Phát biểu tại buổi lễ, ông Nguyễn Xuân Đường, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An cho biết, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong những năm qua nhân dân Nghệ An luôn tích cực tổ chức Tết trồng cây, phát triển phong trào trồng rừng tạo nên thế và lực mới cho phát triển kinh tế nông- lâm nghiệp và nông thôn tỉnh Nghệ An. Rừng tự nhiên được quản lý bảo vệ tốt, năng suất và chất lượng rừng trồng tăng nhanh, độ che phủ rừng đến nay đạt trên 54,6%.
Cũng tại buổi lễ, thay mặt Ban Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh anh Nguyễn Phi Long, Bí thư Trung ương đoàn hoan nghênh, cám ơn Tỉnh ủy, UBND tỉnh Nghệ An đã phối hợp cùng Trung ương đoàn tổ chức tốt Tết trồng cây Đời đời nhớ ơn Bác Hồ- Xuân Ất Mùi 2015. (Tiền Phong 26/2) đầu trang(
Nhân dịp Xuân Ất Mùi năm 2015, Hà Tĩnh phát động ‘Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác’ trên toàn địa bàn các huyện, thành phố, thị xã.
Hưởng ứng phong trào ‘Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ’, 12/12 huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn toàn tỉnh Hà Tĩnh đã đồng loạt ra quân vào ngày 23/02/2015 (mùng 5 Tết), riêng huyện Can Lộc ra quân trước Tết. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Lâm nghiệp trực tiếp chỉ đạo, phát động và tham gia trồng cây tại các địa phương.
Ngay trong ngày đầu ra quân, hàng chục nghìn lượt người đã tham gia thực hiện Tết trồng cây. Đặc biệt, việc phát động đồng loạt ra quân tại các địa phương đã tạo không khí sôi nổi, rầm rộ, đảm bảo thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm, không phô trương hình thức. Đồng thời, khích lệ, kêu gọi toàn dân nhất là các em học sinh tích cực hưởng ứng việc trồng cây, trồng rừng, bảo vệ rừng gắn với bảo vệ môi trường và xây dựng nông thôn mới.
Địa điểm tổ chức phát động được các địa phương lựa chọn là các trục đường giao thông, công sở gắn liền với xây dựng nông thôn mới; các khu di tích lịch sử, văn hóa; các vùng đê sông, đê biển ứng phó biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Kết quả trồng cây tính đến hết ngày 24/02/2015 (mùng 6 Tết), toàn tỉnh đã trồng được 862.000 cây/1.167.000 cây kế hoạch, đạt 74%. Riêng trong ngày phát động ra quân mùng 5 Tết, toàn tỉnh đã trồng được hơn 147.000 cây. Dự kiến trong ngày 25/02/2015, các địa phương trồng thêm được khoảng 88.000 cây, nâng tổng số cây trồng đạt 950.000 cây/1.167.000 cây kế hoạch, đạt 81% kế hoạch. Số cây còn lại được các huyện, thành phố, thị xã chỉ đạo tiếp tục trồng đạt chỉ tiêu kế hoạch.
Nét mới của Tết trồng cây năm 2015 của tỉnh Hà Tĩnh là phát động trồng cây hướng vào chất lượng, hiệu quả, trồng cây mùa xuân gắn với tạo cảnh quan xanh cho làng quê nông thôn mới, với phương châm ‘Trồng cây nào sống tốt cây ấy, cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế và cảnh quan lâu dài’.
Để Tết trồng cây thật sự có hiệu quả, chính quyền các địa phương đã chủ động xác định địa điểm trồng cây, chọn loài cây trồng phù hợp với điều kiện sinh thái, ưu tiên trồng các loài cây gỗ lớn có giá trị kinh tế cao. Trong quá trình tổ chức Tết trồng cây, các ngành chuyên môn cũng đã hướng dẫn cụ thể phương thức trồng, cách chăm sóc cho nhân dân để cây trồng có tỷ lệ sống cao.
Phong trào trồng cây ở tỉnh Hà Tĩnh gắn liền phong trào cải tạo vườn tạp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo mô hình VAC, mô hình chuyên canh, thâm canh cây ăn quả có giá trị kinh tế cao. Thông qua Tết trồng cây, hàng năm trên địa bàn tỉnh đã có hàng trăm nghìn cây phân tán, cây ăn quả các loại được trồng, chăm sóc bảo vệ và phát triển tốt, mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho gia đình và xã hội.
Theo tổng hợp của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong dịp Tết Ất Mùi năm 2015, toàn tỉnh trồng gần 1,2 triệu cây. Kết quả trồng cây tính đến hết ngày 25/02 (mùng 7 Tết), toàn tỉnh đã trồng được 950.000 cây. Riêng trong ngày phát động ra quân mùng 5 Tết, toàn tỉnh đã trồng được hơn 147.000 cây. (Người Đưa Tin 26/2) đầu trang(
Vụ trồng rừng năm 2015, huyện Na Rì có kế hoạch trồng 1.100ha; trong đó, trồng rừng tập trung 900ha, trồng phân tán 200ha.
Để đảm bảo trồng rừng theo đúng kế hoạch, huyện đã chỉ đạo các xã, thị trấn triển khai cho các thôn bản trên địa bàn huyện đăng ký diện tích trồng rừng mới. Theo đó, đến nay toàn huyện đã có 1.678 hộ đăng ký trồng rừng với diện tích 1.267,52ha, vượt kế hoạch đề ra.
Ngành chức năng đã tiến hành thiết kế ngoại nghiệp được 911ha và tiếp tục thiết kế bổ sung hoàn thiện tại các xã, thị trấn. Về giống cây trồng rừng năm nay, nhân dân đăng ký chủ yếu trồng cây quế, khoảng 600ha, còn lại trồng mỡ, keo, lát, xoan.
Nhằm đảm bảo cung ứng giống cây trồng, huyện đã chủ động ký hợp đồng với Xí nghiệp giống Nông Thịnh, huyện Chợ Mới và gieo ươm tại vườn ươm Đồng Tâm, xã Kim Lư để cung ứng giống cho nhân dân trồng rừng. (Báo Bắc Cạn 26/2) đầu trang(
Dù UBND quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã có quyết định xử phạt, buộc tháo dỡ 2 biệt phủ xây dựng trái phép tại Hải Vân nhưng đến nay, 2 biệt thự này vẫn còn nguyên trạng.
Tại cuộc họp báo định kỳ của Văn phòng UBND thành phố Đà Nẵng được tổ chức ngày 26/2, ông Võ Văn Thương, Chánh Văn phòng kiêm người phát ngôn UBND thành phố Đà Nẵng cho biết, gia đình thiếu tướng công an Phan Như Thạch (nguyên Giám đốc Công an tỉnh Quảng Nam) và ông Ngô Văn Quang (Giám đốc Công ty TNHH Phước Minh ở Phước Sơn, Quảng Nam) vẫn chưa tự tháo dỡ các biệt thự xây trái phép tại khu vực rừng phòng hộ Hải Vân (phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu).
Cũng theo ông Thương, hai chủ biệt thự trên đã nộp phạt, mỗi hộ 22,5 triệu đồng về vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng. Gia đình ông Phan Như Thạch đã có văn bản cam kết tháo dỡ và ủy quyền cho con trai là Phan Vũ Việt Hùng thực hiện, tuy nhiên gia đình ông Quang vẫn chưa có động thái gì.
Ông Thương cũng khẳng định, đến hết ngày 10/3, hai biệt thự trái phép của gia đình ông Thạch, và ông Quang không tự nguyện tháo dỡ thì chính quyền sẽ tiến hành cưỡng chế theo quy định của pháp luật.
Được biết, hôm 28/1, UBND quận Liên Chiểu đã gửi cho UBND TP Đà Nẵng báo cáo nhanh thống nhất phương án xử lý các biệt thự của hai ông Phan Như Thạch và Ngô Văn Quang xây dựng trái phép trên đất rừng Hải Vân.
Theo đó, vụ việc sẽ được UBND quận Liên Chiểu xử lý theo đúng quy định pháp luật, phạt vi phạm hành chính 40 - 50 triệu đồng và buộc tháo dỡ toàn bộ các công trình xây dựng trái phép (kể cả các biệt thự) của cả hai người và yêu cầu chủ hộ tự phá dỡ công trình vi phạm trong thời gian 35 ngày kể từ ngày ban hành quyết định. Thời hạn thi hành kể từ ngày 5/2.
Trước đó, theo tin tức từ VTC News, dù chưa được cơ quan nào cho phép nhưng hộ ông Thạch vẫn tự ý xây dựng biệt thự khang trang tại khu rừng đặc dụng Nam Hải Vân (quận Liên Chiểu). Đội kiểm tra quy tắc đô thị quận và Hạt Kiểm lâm Liên Chiểu đã lập biên bản đình chỉ, đề nghị chủ hộ giữ nguyên hiện trạng và cung cấp các hồ sơ liên quan nhưng chủ hộ không phối hợp.
Trong thời gian đình chỉ thi công, các đơn vị liên quan, trong đó có Hạt Kiểm lâm Liên Chiểu (trực tiếp quản lý) không thường xuyên kiểm tra, nên gia đình ông Thạch tiếp tục hoàn thiện khu biệt thự. Hiện khu biệt thự gia đình Thiếu tướng Phan Như Thạch gồm có 4 ngôi nhà ở.
Được biết, năm 2009, gia đình ông Thạch được giao khoán 3ha đất rừng tại đây. Trong quá trình sử dụng, ông đã chuyển nhượng 1,5 ha cho gia đình ông Ngô Văn Quang – Giám đốc Công ty Vàng Phước Minh Quang tiếp tục sử dụng theo hợp đồng giao khoán. Tại khu đất được giao chuyển nhượng, ông Quang cho xây dựng biệt thự không phép kéo dài từ năm 2010 đến nay.
Hạt Kiểm lâm Liên Chiểu và UBND phường Hòa Hiệp Bắc nhiều lần kiểm tra lập biên bản nhưng công trình vẫn được xây dựng. Đến nay, khu biệt thự xây dựng xong 18 ngôi nhà có tổng diện tích 1.411m2. Ngoài ra, ông Quang còn đào ao cá khoảng 600m2, xây tường rào và nhiều hạng mục phụ khác trong khu đất.
Tương tự, “đại gia khai khoáng” Ngô Văn Quang từ năm 2010 xây biệt phủ trái phép ở đồi Chim Chim (sau chùa Nam Hải). Nhiều lần bị kiểm tra, xử phạt, yêu cầu đình chỉ nhưng ông Quang không chấp hành. (Người Đưa Tin 26/2) đầu trang(
Diện tích đất sử dụng của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Lộc Bình (Lộc Bình, Lạng Sơn) không chỉ có phần đè lên đất của dân, trụ sở UBND xã, trường học, mà còn phình to hơn rất nhiều so với diện tích được cấp. Song việc sản xuất, trồng rừng lại kém hiệu quả, gây lãng phí trong khi hàng trăm người dân không có đất sản xuất.
Theo Quyết định 1264/QĐ/UB-KT, ngày 10.10.1997 của UBND tỉnh Lạng Sơn, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Lộc Bình được giao 6.956,6ha tại 15 xã của huyện Lộc Bình. Ông Hoàng Văn Phúc – Chủ tịch UBND xã Tam Gia (Lộc Bình) cho hay, theo diện tích “sổ đỏ” của công ty được cấp nằm trên địa bàn xã là 580,3ha. Tuy nhiên theo số liệu đo đạc năm 2011, công ty đang sử dụng tới 745,38ha, trong đó có 23,37ha giao chồng lên “sổ xanh” của người dân được cấp năm 1995 – 1996 và khoảng 43,21ha đất tranh chấp giữa người dân và công ty.
“Chúng tôi đã nhiều lần làm đơn kiến nghị công ty trả lại đất giao trùng cho người dân và giải quyết dứt điểm phần đất tranh chấp nhưng hơn chục năm nay họ vẫn cố tình giữ không trả. Ngay cả trụ sở UBND xã, trường tiểu học xã, sân bóng… cũng nằm trong sổ đỏ của công ty. Thậm chí đất ở của hàng trăm hộ dân vẫn nằm trong sổ đỏ của công ty nên việc vay vốn sản xuất gặp rất nhiều khó khăn” – ông Phúc cho biết.
Ông Lành Quốc Đường ở thôn Pò Nâm, xã Tam Gia, có đất trùng với đất công ty bức xúc nói: “Năm 1995, UBND huyện giao cho gia đình tôi 3ha để trồng rừng, tôi bỏ hết vốn liếng vào đây, nay đến kỳ thu hoạch thì công ty bảo đất, rừng của họ nên không cho khai thác. Cạnh nhà tôi còn có hàng chục hộ rơi vào cảnh “dở khóc, dở cười” này như hộ anh Lành Văn Cho (1,8ha), Lành Văn Bày (1,6ha), Lành Văn Nam (1,6ha)”.
Điều đáng nói nữa là từ khi được giao đất đến nay, công ty hoạt động không hiệu quả và không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng thuế với Nhà nước. Cụ thể, tại Thông báo số 53/TB-STNMT của Sở TNMT Lạng Sơn ngày 28.5.2014 chỉ ghi: “Từ năm 2010 – 2012 công ty nộp đầy đủ thuế sử dụng đất (4%) cho Nhà nước”.
Theo phản ảnh của người dân các xã Tam Gia, Tú Mịch, Tú Đoạn, Yên Khoái… hầu hết các cánh rừng thông trồng của công ty rất thưa thớt, chậm lớn, cộng với việc quản lý thiếu chặt chẽ, nên người dân đã khai thác trộm cây, nhựa thông để bán. Anh Hoàng Văn Hùng, xã Yên Khoái cho rằng, công ty hoạt động không hiệu quả. “Với diện tích trên, nếu hoạt động hiệu quả có thể tạo việc làm cho hàng trăm lao động, nhưng người dân bao năm nay không được lợi gì, còn Nhà nước không thu được thuế. Chúng tôi đề nghị Nhà nước thu hồi, giải thể công ty để giao đất cho người dân sản xuất. Người dân thiếu đất sản xuất, còn công ty lấy đất rồi bỏ hoang” – anh Hùng bức xúc.
Trao đổi với chúng tôi, ông Vương Văn Thi – Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Lộc Bình thừa nhận, việc công ty đang sử dụng diện tích đất rừng lớn hơn diện tích được cấp là vì trước đây “đo bộ”, bây giờ đo máy nên dôi ra. “Chúng tôi đã đầu tư vào đây rất nhiều tiền, nhưng không thu được gì. Trồng mới thì người dân nhổ vì họ bảo trồng lên đất của họ. Những cây đủ tuổi khai thác thì họ cạo nhựa, thậm chí họ còn chặt cả cây bán cho Trung Quốc, ở xã Tam Gia công ty chỉ có 2 bảo vệ nên không thể quản hết được”.
Ông Lường Văn Phong - cán bộ địa chính xã Tam Gia cho hay: “Vì không có rừng, không có đất sản xuất nên nhiều người dân đã đi khai thác trộm gỗ, nhựa thông của công ty. Cả cánh rừng này chỉ còn 2 cây thông ở cổng đội bảo vệ là không bị cạo nhựa. Gần đây, nhiều người còn cưa trộm cây rồi chở sang Trung Quốc bán. Cứ đà này, công ty khó mà giữ được rừng, còn người dân cũng rất khó để ổn định cuộc sống”. (Dân Việt 27/2) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Do sử dụng khỉ thật đóng phim nên “Pirates of the Caribbean: Dead Men Tell No Tales” (Cướp biển Caribbe: Người Chết Thì Không Nói) bị PETA phản ứng.
Hiệp hội Bảo vệ Động vật Thế giới (PETA) và Tổ chức giúp đỡ động vật hoang dã Úc (Humane Society International Australia - HSIU) đang lên tiếng phản ứng kịch liệt việc nhà sản xuất Pirates of the Caribbean: Dead Men Tell No Tales (Cướp biển Caribbê: Người Chết Thì Không Nói), dự kiến đưa hai con khỉ đến Úc để quay phần thứ năm của series phim Cướp biển huyền thoại. Hai chú khỉ Chiquita này dự kiến sẽ đóng vai Jack the Monkey (hay còn gọi là Jack, vật cưng của thuyền trưởng Hector Barbossa do Geoffrey Rush thể hiện). Nhân vật khỉ này từng xuất hiện trong cả 4 bộ phim Pirates of the Caribbean.
PETA cho biết họ đã viết một thư đầy "bức xúc" gửi cho nhà sản xuất Jerry Bruckheimer, bày tỏ sự phản đối của họ trong việc sử dụng những con khỉ cho phần tiếp theo của bộ phim Cướp biển Caribbê và muốn hãng phim hủy bỏ kế hoạch này. Bức thư có đoạn: "Những con khỉ vô cùng đau đớn khi bị đưa vào sử dụng trong phim điện ảnh và phim truyền hình. Có khi chúng còn bị bắt đi khỏi mẹ ngay sau khi sinh và phải chịu đựng các phương pháp đào tạo khắc nghiệt cho vai diễn”.
Humane Society International Australia còn chỉ ra rằng: "Sử dụng động vật hoang dã như những diễn viên có thể gây tác động tiêu cực đến sự tồn tại của quần thể động vật trong tự nhiên. Điều này có thể làm cho nhu cầu của mọi người đối với các vật nuôi gia tăng, cũng như làm giảm mối quan tâm của họ đến công tác bảo tồn thiên nhiên”.
Theo Cordelia Britton, nhân viên khu bảo tồn động vật hoang dã Wild Futures của Anh cho biết, nhiều người cho rằng Crystal - con khỉ từng có mặt trong The Hangover Part II và Night at the Museum, có cuộc sống Hollywood đầy quyến rũ của một "siêu sao" khỉ. Sau khi xem phim, họ đã tìm mua khỉ về nuôi như thú cưng, nhưng rồi sau đó không ít người thấy chán và quay ra ngược đãi chúng.
PETA cũng thách thức nhà sản xuất Jerry Bruckheimer và nói ông hãy “học tập” theo các bộ phim như Noah và Rise of the Planet of the Apes bằng cách sử dụng hiệu ứng máy tính tạo ra các chú khỉ; thay vì dùng động vật sống trong Pirates of the Caribbean: Dead Men Tell No Tales. Họ viết: "PETA kêu gọi Pirates of the Caribbean hãy dùng các diễn viên tài năng (diễn xuất mô phỏng động tác động vật motion- capture - NV) và các hiệu ứng kỹ thuật số ấn tượng đã được biết đến. Hãy để các con vật tách ra khỏi việc làm trò giải trí cho con người”. (Tri Thức Trẻ 26/2) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||