Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 25 tháng 05 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Lục địa châu Phi, nhất là các nước Nam phần châu Phi, đang nổi lên như một điểm nóng báo động về tình trạng săn bắn trộm, buôn bán, vận chuyển trái phép các mẫu vật động vật hoang dã.
Thời gian vừa qua, đã có một số công dân Việt Nam bị bắt giữ, thậm chí xử phạt vì liên quan đến loại hình tội phạm này, gây phương hại đến uy tín và hình ảnh của đất nước trong con mắt của bè bạn châu Phi và thế giới.
Nhằm thực hiện Chỉ thị 03/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp kiểm soát, bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm, tăng cường hợp tác quốc tế trên lĩnh vực này, trong các ngày 18-20/5 tại Maputo, Đại sứ quán Việt Nam tại Mozambique cùng Đoàn công tác liên ngành về bảo vệ động vật hoang dã do ông Đỗ Quang Tùng, Giám đốc Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam dẫn đầu đã phối hợp tổ chức nhiều hoạt động để tích cực tiến tới ký kết thỏa thuận hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực bảo tồn và bảo vệ động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng. Một loạt sự kiện đã được tổ chức nhằm đẩy mạnh công tác truyền thông chính sách của Việt Nam, qua đó nâng cao hiểu biết của các tổ chức quốc tế, NGO và nhận thức của cộng đồng người Việt về nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong đấu tranh chống lại nạn săn bắn trộm, mua bán, vận chuyển trái phép ngà voi và sừng tê giác có xuất xứ từ châu Phi.
Đoàn công tác liên ngành Việt Nam gồm đại diện các Bộ Công an, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ngoại giao, Hải quan, Viện Kiểm sát Nhân dân, Hiệp hội bảo vệ động vật hoang dã (WCS) đã có buổi làm việc với Bộ trưởng Môi trường Mozambique, trao đổi chuyên môn với đoàn liên ngành của Chính phủ Mozambique, tiến hành đối thoại với đại diện Đại sứ quán các nước, các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ (NGOs) hoạt động mạnh trong lĩnh vực này.
Ngoài ra, hai bên đã gặp gỡ và thông tin với báo chí địa phương và quốc tế tại Maputo, tổ chức buổi thông tin nâng cao nhận thức của cộng đồng người Việt đang sinh sống và làm ăn tại khu vực.
Phát biểu trong buổi làm việc với đoàn, Bộ trưởng Môi trường Mozambique Celso Ismael Correia nhấn mạnh Chính phủ Mozambique đặt trọng tâm cao vào công tác bảo tồn động vật hoang dã và đánh giá cao thiện chí hợp tác của Chính phủ Việt Nam trong lĩnh vực này thông qua các hoạt động phong phú của đoàn công tác liên ngành Việt Nam tại Mozambique.
Bộ trưởng Correia đề nghị hai nước thảo luận để sớm đi đến một thỏa thuận hợp tác song phương về bảo vệ động vật hoang dã.
Hai đoàn công tác đã tiến hành thảo luận và nhất trí về những nội dung cơ bản của thỏa thuận hợp tác nói trên, tiến hành tham khảo ý kiến các cơ quan chức năng tại từng nước để sớm đi đến ký kết.
Bà Anselmina Liphola, Tổng Cục trưởng Quản lý môi trường Mozambique, trưởng đoàn Mozambique nhất trí các bộ, ngành chức năng hai nước cần tăng cường hợp tác, trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm và kiên quyết trong các chế tài nhằm đấu tranh có hiệu quả, chống lại tệ nạn buôn bán, vận chuyển trái phép các mẫu vật của động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng.
Thay mặt phía Việt Nam, Đại sứ Việt Nam tại Mozambique Nguyễn Văn Trung nhấn mạnh sự chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ đối với các cơ quan chức năng của Việt Nam trong việc tăng cường kiểm soát, bảo tồn các loài động vật hoang dã, đồng thời nhấn mạnh các nước cần tăng cường hợp tác, trao đổi giữa các cơ quan quản lý Nhà nước và cơ quan thực thi pháp luật, đồng thời, mở rộng sự hợp tác này ra quy mô tiểu vùng và khu vực.
Tại buổi đối thoại với các đối tác nước ngoài, với sự tham dự của 6 Đại sứ và Trưởng cơ quan đại diện các tổ chức quốc tế và NGO tại Mozambique, Giám đốc Cơ quan quản lý CITES Việt Nam Đỗ Quang Tùng cùng các thành viên trong đoàn đã có nhiều bản thuyết trình về các chiến dịch vận động nhằm giảm thiểu cầu sử dụng mẫu vật động vật hoang dã tại Việt Nam, về những quy định và văn bản pháp luật mới được ban hành nhằm nâng cao hiệu lực của công tác thực thi pháp luật, về việc nâng cao nhận thức cộng đồng trong lĩnh vực bảo tồn.
Tại buổi đối thoại, nhiều vị đại sứ rất ấn tượng trước những chuyển biến tích cực tại Việt Nam, đồng thời đánh giá cao các biện pháp mà Việt Nam đang tiến hành. Các tổ chức quốc tế và NGOs chia sẻ nhiều kinh nghiệm về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã.
Tại buổi Thông tin nâng cao nhận thức cộng đồng với sự tham dự của đông đảo người Việt sinh sống và làm ăn tại Mozambique, đoàn công tác liên ngành đã trình chiếu nhiều băng hình, phát tờ rơi, áo phông, tài liệu tuyên truyền về công tác bảo tồn tại Việt Nam.
Đáp ứng mối quan tâm của bà con, đoàn đã thông tin về các biện pháp của chính phủ nhằm vận động giảm nhu cầu tiêu thụ ngà voi, sừng tê giác ở trong nước, cũng như những chế tài nghiêm khắc của luật pháp Việt Nam nhằm đấu tranh chống lại nạn buôn bán, vận chuyển trái phép các mẫu vật động vật hoang dã.
Các hoạt động nói trên của Việt Nam trong nỗ lực hợp tác nhằm bảo vệ động vật hoang dã và nâng cao nhận thức cộng đồng tại địa bàn Mozambique đã tạo được sự phản hồi tích cực trong dư luận báo chí, các cơ quan chính phủ của nước bạn, cũng như các nước đang hoạt động mạnh trong lĩnh vực bảo tồn.
Ngoài Mozambique, với sự hỗ trợ của Hiệp Hội Bảo tồn động vật hoang dã, đoàn công tác liên ngành đã thăm các nước Kenya, Tanzania và Cộng hòa Nam Phi. (Vietnam+ 24/5) đầu trang(
Theo Cục Kiểm lâm, hiện nay cả nước có tám tỉnh đang ở cấp báo cháy rừng cực kỳ nguy hiểm (cấp V); hai tỉnh ở cấp nguy hiểm (cấp IV).
Các khu vực trên đã nhiều ngày không mưa, thời tiết khô hanh. Ban chỉ đạo nhà nước về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 yêu cầu Ban chỉ đạo thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, UBND các cấp và chủ rừng thuộc các địa phương có cấp cảnh báo nguy cơ cháy rừng cấp IV, cấp V thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng theo quy định. (Nhân Dân 23/5) đầu trang(
Để tống đạt quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam 10 đối tượng có hành vi Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng và Nhận hối lộ, Đưa hối lộ tại khu vực rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa, PC46 Công an Đà Nẵng đã phải mất một thời gian dài điều tra truy bắt.
Ngày 6/10/2014, Tổ liên ngành xử lý vi phạm lâm luật huyện Đông Giang (tỉnh Quảng Nam, đóng tại xã Tư) phát hiện 14m3 gỗ kiền kiền khai thác trái phép cất giấu tại khoảnh 5, tiểu khu 37 thuộc lâm phận rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa (TP. Đà Nẵng).
Tổ liên ngành lập biên bản, đưa toàn bộ số gỗ tang vật về tạm giữ tại huyện Đông Giang. Năm ngày sau, đơn vị này phối hợp với lực lượng Kiểm lâm Đà Nẵng kiểm tra, phát hiện thêm 9 điểm cất giấu gỗ, trong đó 5 điểm thuộc lâm phận tỉnh Quảng Nam, 4 điểm thuộc lâm phận Đà Nẵng.
Hai địa phương thống nhất, gỗ nằm ở lâm phận nào, địa phương đó tạm giữ và lập hồ sơ điều tra. Theo báo cáo của huyện Đông Giang, sau 2 lần phát hiện, đã thu giữ tổng cộng 45m3 gỗ các loại, trong đó phía Đà Nẵng tạm giữ 24m3, phía Quảng Nam tạm giữ 21m3.
Ông Đinh Văn Hươm, Phó Chủ tịch UBND Đông Giang, khẳng định: “Số gỗ lậu bị lực lượng chức năng phát hiện chắc chắn khai thác ở rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa địa phận Đà Nẵng, vì từ năm 1993, địa bàn xã Tư bên Quảng Nam không còn gỗ kiền kiền.
Đặc biệt số lượng gỗ lớn này không phải một sớm một chiều có thể khai thác tập kết, nên lực lượng kiểm lâm phải biết, vì chỉ cách Trạm quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông (thuộc Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà- Núi Chúa. TP Đà Nẵng) vài trăm mét”.
Trước phát biểu này, Chi cục kiểm lâm Đà Nẵng không thừa nhận, cho rằng cần chờ kiểm tra, xác định tọa độ nguồn gốc số gỗ bị đốn hạ, rồi mới kết luận được rừng Quảng Nam hay Đà Nẵng bị chặt.
Phản bác tiếp, lãnh đạo huyện Đông Giang nêu thẳng nghi vấn: “Số gỗ kiền kiền nếu được vận chuyển ra bên ngoài tiêu thụ chỉ có một con đường đi ngang qua Trạm quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông. Như vậy, trạm Cà Nhông có liên quan.Nghi vấn có hẳn một bộ phận cán bộ kiểm lâm tham gia vào đường dây bảo kê, tiếp tay cho lâm tặc”.
Lãnh đạo huyện Đông Giang còn cho rằng Trạm Cà Nhông gây khó khăn trong việc truy quét “lâm tặc”, “vàng tặc” của địa phương. Nhiều lần Đông Giang đã có công văn đề nghị BQL rừng đặc dụng Bà Nà- Núi Chúa di dời trạm này ra khỏi địa bàn Đông Giang, nhưng đến nay vẫn chưa tiến hành.
Thời điểm trên, vụ việc vốn có tính chất nghiêm trọng, cộng thêm các “chỉ trích” từ huyện Đông Giang, càng thu hút sự quan tâm chú ý của dư luận và lãnh đạo hai địa phương.
Sở NN&PTNT Đà Nẵng có văn bản chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm khẩn trương xác minh, làm rõ. Đơn vị này cắt cử hơn 100 cán bộ kiểm lâm vào bảo vệ hiện trường, lập hồ sơ điều tra. Trong quá trình làm việc, ông Phạm Ngọc Sự, Trưởng ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà- Núi Chúa thừa nhận, việc quản lý, kiểm tra chưa tốt do vùng giáp ranh dài nhưng lực lượng mỏng.
Đơn vị biết rõ ở Đông Giang không còn rừng để phá, lâm tặc “dạt” về rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa, nhưng đã kiểm tra… 107 đợt vẫn không phát hiện được gì.
Trong quá trình điều tra, cơ quan chức năng đã tạm đình chỉ công tác 7 cán bộ, trong đó có 5 cán bộ quản lý, bảo vệ rừng thuộc Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà- Núi Chúa và hai kiểm lâm phụ trách địa bàn.
Nhận thấy đây là vụ phá rừng lớn nhất kể từ sau tách tỉnh tại Đà Nẵng, ngày 24/11/2014, Chi cục kiểm lâm Đà Nẵng khởi tố vụ án, chuyển hồ sơ sang cơ quan công an. (Còn nữa) (Pháp Luật VN 25/5) đầu trang(
Nghi vấn cán bộ kiểm lâm tiếp tay cho lâm tặc phá rừng, Phòng CSĐT tội phạm về Kinh tế & Chức vụ (PC46), Công an TP. Đà Nẵng xác lập chuyên án truy xét, giao Đội 5 làm chủ công, huy động lực lượng truy manh mối.
Như PLVN đã đưa tin ở bài viết trước: Sau khi phát hiện một lượng lớn gỗ lậu, nhiều ý kiến cho rằng “Số gỗ kiền kiền nếu được vận chuyển ra bên ngoài tiêu thụ chỉ có một con đường đi ngang qua Trạm quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông. Như vậy, trạm Cà Nhông có liên quan.Nghi vấn có hẳn một bộ phận cán bộ kiểm lâm tham gia vào đường dây bảo kê, tiếp tay cho lâm tặc”.
Theo Trung tá Nguyễn Hoàng Lâm, đội trưởng Đội 5, hồ sơ vụ việc khi đó chỉ vỏn vẹn tờ quyết định khởi tố vụ án hình sự từ Chi cục kiểm lâm, hiện trường cách xa trung tâm thành phố, phải lội bộ, ở dài ngày trong rừng sâu… nên quá trình lần tìm manh mối khó khăn vô cùng.
Ban chuyên án nhận định, để vận chuyển gỗ từ rừng ra được tới điểm tập kết, khả năng lâm tặc thuê người địa phương, nên cho cho tiếp cận hướng này.
Qua nguồn tin từ một số thanh niên ngụ thôn 2 xã Tư, họ có tham gia vận chuyển gỗ đã được xẻ đưa từ rừng ra cho một người tên Tam, không rõ lai lịch, chỉ biết nói giọng Bắc.
Cõng gỗ ra đến bìa rừng, họ chất lên xe tải loại 3 cầu, do anh em Kiều Ngọc Trung (SN 1989) và Kiều Ngọc Quý (SN 1991, ngụ xã 3, Đông Giang) điều khiển chở đi.
Xác minh lai lịch loại xe đặc biệt này, được biết người thuê là Phan Đình Lợi (thường gọi Lợi “đen”, râu”, SN 1985, ngụ Túy Loan Đông 2, xã Hòa Phong, Hòa Vang, Đà Nẵng).
Ngày 10/4, Ban chuyên án đột phá giai đoạn 1, bắt tạm giam Quý, Trung, Lợi về hành vi Vận chuyển lâm sản trái phép.
Các đối tượng khai khối lượng gỗ trên khi vận chuyển đã đi qua trót lọt Trạm quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông, nên một ngày sau đó, đối tượng Phạm Phú Cường (nguyên Trạm trưởng Trạm quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông, SN 1967, quê Đại Hiệp, Đại Lộc, Quảng Nam) và Nguyễn Văn Ấn (nhân viên của Cường, SN 1985, quê Hòa Bắc, Hòa Vang, Đà Nẵng) cũng bị bắt về tội Thiếu trách nhiệm trong quản lý rừng.
Bước đầu điều tra, Lợi khai nhận, khoảng đầu năm 2014 đã thu mua các loại gỗ trong rừng Bà Nà - Núi Chúa từ Vũ Văn Tam (SN 1968, quê Nam Định, ngụ thôn Lấy, xã Tư).
Tam đã có vợ và 2 con ở Giao Thủy (Nam Định), nhiều năm trước bỏ quê vào khu vực Đông Giang khai thác vàng trái phép, từng bị công an huyện xử lý hành chính tội buôn lậu. Sau đó Tam lấy thêm vợ hai tên Đặng Thị Lựu (người địa phương, đối tượng này được xác định là đồng phạm với Tam, được tạm tách ra điều tra, xử lý sau), rồi chuyển sang nghề khai thác gỗ trái phép. Ngày 12/4, cảnh sát bắt Tam.
Danh sách các đối tượng phá rừng chưa hết. Một lâm tặc đắc lực chuyên xẻ gỗ cho Tam trong vụ này là đối tượng tên Lưu, khi ấy đã trốn mất, đồng bọn khai vẻn vẹn thông tin “chân đi kiểu vòng kiềng”.
Để lần tìm và bắt được Lưu, các trinh sát phải ngược xuôi cả tháng trời hỏi thăm tin tức từ một số “phu” vàng, nhiều lần nhờ Công an huyện Chiêm Sơn, Phòng Hồ sơ lưu trữ (PV 27, Công an Ninh Bình) sàng lọc, mới có được tên đầy đủ là Đỗ Văn Lưu (SN 1968, quê xóm 7, xã Lai Thành, Chiêm Sơn).
Khi biết Lưu đã trốn vào Bù Gia Mập (Bình Phước), Ban chuyên án bố trí trinh sát nói giọng Bắc vào vai người quen tiếp cận bắt giữ.
Lưu khai thêm đồng phạm gồm Nguyễn Văn Học (SN 1971, ngụ Chiêm Sơn), Lê Văn Chính (SN 1975), Nguyễn Văn Thuấn (SN 1977) và Hoàng Văn Vụ (SN 1971, đều ngụ Lê Thành, huyện Kim Sơn, Ninh Bình).
Cả nhóm lần lượt “hội ngộ” trong trại giam. Theo khai nhận, nhóm Lưu thuộc thành phần lao động phổ thông, sau khi vào Đông Giang làm vàng, tình cờ quen Tam và được thuê hạ cây, xẻ gỗ.
Một thanh gỗ ra quy cách, được Tam tính giá 150 ngàn đồng. Sau đó Tam thuê người bốc vác ra xe 70 ngàn đồng/thanh. Tổng chi phí khoảng 220 ngàn, tới điểm tập kết, Tam bán lại cho “đầu nậu” Lợi giá 550 ngàn đồng/thanh, “ăn lãi” gấp hơn 2 lần số tiền “đầu tư”.
Theo Công an Đà Nẵng, nhóm lâm tặc gây ra thiệt hại ban đầu tạm tính khoảng 154,360 m3 gỗ cây đứng nguyên khai, ước tính giá trị lâm sản và giá trị môi trường đặc dụng gần 4,5 tỉ đồng.
Ngoài khởi tố vụ án, bắt giam các đối tượng trên, ngày 4/5 vừa qua, PC46 còn khởi tố bổ sung các tội danh: Hai cán bộ kiểm lâm bị chuyển từ tội Thiếu trách nhiệm sang tội Nhận hối lộ; khởi tố bổ sung Tam thêm tội Đưa hối lộ. Đặc biệt, còn có dấu hiệu một số cán bộ Chi cục kiểm lâm Đà Nẵng liên quan đến hành vi nhận hối lộ, cảnh sát đang tiếp tục điều tra. (Pháp Luật VN 25/5) đầu trang(
Theo đánh gia của các cơ quan bảo tồn, thời gian qua, mặc dù Chính phủ đã ban hành nhiều chiến lược, chính sách và quy định pháp luật về bảo vệ rừng; cơ quan thực thi pháp luật cũng đã vào cuộc mạnh mẽ hơn, song các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng vẫn diễn ra thường xuyên, với hình thức ngày càng tinh vi, phức tạp.
Điều đáng nói là, việc tàn phá rừng đã khiến số loài thực vật, động vật hoang dã nguy cấp quý, hiếm tại một số cánh rừng và trong các khu bảo tồn bị suy giảm về số lượng cũng như bị đe dọa tuyệt chủng ở mức cao.
Tại buổi Tọa đàm “Liên kết bảo tồn đa dạng sinh học cho phát triển bền vững” vừa được tổ chức ngày 22/5, ông Trần Thế Liên, Vụ trưởng Vụ Bảo tồn thiên nhiên (Tổng cục Lâm nghiệp) cho biết, những năm gần đây, nhiều diện tích rừng sản xuất, phòng hộ, đặc dụng đã bị chuyển đổi mục đích sử dụng rừng để xây dựng các công trình thủy điện, công trình cơ sở hạ tầng, đường giao thông, khai thác khoáng sản.
Theo thống kê từ năm 2006 đến nay, có tới 160 dự án thuộc 29 tỉnh thành thực hiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang xây dựng các công trình thủy điện với diện tích 20.000 ha. Thực tế này đã ảnh hưởng đến công tác bảo vệ rừng bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học của đất nước.
Ngoài ra, đa dạng sinh học còn bị đe dọa bởi áp lực về dân số tăng nhanh, thiếu đất sản xuất nông nghiệp, người dân chủ yếu dựa vào rừng để phá rừng, khai thác, săn bắn động-thực vật hoang dã. Trong khi, sự vào cuộc của các cơ quan chức năng thi hành pháp luật vẫn chưa quyết liệt trong việc xử lý vi phạm.
“Theo số liệu thống kê, bình quân hàng năm, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý khoảng 2.000 vụ vi phạm Luật Bảo vệ Phát triển rừng. Ví dụ, năm 2012 có 1.629 vụ vi phạm; năm 2013 phát hiện 2.198 vụ vi phạm; và năm 2014 xử lý 1.770 vụ vi phạm,” ông Liên nêu dẫn chứng.
Giáo sư Nguyễn Lân Dũng, Chủ tịch Hội các ngành sinh học Việt Nam, cố vấn Liên đoàn Công nghệ Sinh học Châu Á cũng cho rằng, suy giảm đa dạng sinh học đáng lo nhất hiện nay là tình trạng chặt phá rừng. Việc này đã khiến nhiều loài động-thực vật bị mất môi trường sống.
Dẫn chứng thực tế phá rừng ở Tây Nguyên, ông Dũng cho hay: “Là đại biểu Quốc hội hai khóa ở Đắk Lắk và Đắk Nông, tôi đã chứng kiến cảnh rừng bị tàn phá nhiều nơi. Số lượng rừng bị phá còn nghiêm trọng đến mức người ta đưa những chuyến xe từ vùng biên giới phía Bắc và cả làng đi vào Tây Nguyên để khai thác… trong khi các đồng chí lâm nghiệp bảo chỉ đứng ở ngoài đường để chặn gỗ lậu.”
Trong khi đó, ông Phạm Anh Cường, Cục trưởng Cục Bảo tồn Đa dạng sinh học (Tổng cục Môi trường) cho rằng khung chính sách, pháp lý hiện hành về bảo tồn đa dạng sinh học đang bộc lộ những bất cập trong quá trình thực hiện. Đó là sự thiếu thống nhất trong quy định tại các Luật và hệ thống văn bản hiện hành về quản lý các khu bảo tồn.
Cụ thể, Luật Thủy sản 2003, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 quy định riêng rẽ cho từng nhóm khu bảo tồn khác nhau. Bất cập lớn nhất khi triển khai đồng thời hai luật này là các khu bảo tồn đất ngập nước thuộc hệ thống rừng đặc dụng đang được điều chỉnh bởi hai Luật khác nhau và do hai đơn vị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý.
Bên cạnh đó, Luật Đa dạng sinh học năm 2008 được ban hành quy định thống nhất tên gọi các khu bảo tồn (rừng, biển, vùng nước nội địa, đất ngập nước) là khu bảo tồn thiên nhiên, phân chia thành 4 hạng khu bảo tồn. Do không có quy định về mối quan hệ giữa luật này với Luật Thủy sản, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng nên các khu đất ngập nước nội địa, đất ngập nước ven biển bị chi phối đồng thời bởi 3 luật và do các Bộ, ngành khác nhau quản lý.
Để có thể thay đổi thực trạng nêu trên, giáo sư Nguyễn Lân Dũng cho rằng việc tàn phá rừng không thể làm ngơ, cần phải được ngăn chặn, xử lý đồng thời khuyến nghị việc bảo vệ rừng nên giao cho quân đội quản lý. “Tôi nghĩ rằng bộ đội, tân binh mà tập luyện ở gần các khu rừng thì tốt quá. Vừa đảm bảo an ninh, vừa giữ được rừng.” Ông Dũng cũng nhấn mạnh, không thể để tồn tại tình trạng người dân thản nhiên đi vào rừng chặt phá và các nhà máy khai thác gỗ chạy ầm ầm trong rừng. Vấn đề cần quan tâm là, rừng Tây Nguyên được coi như một “kho nước lớn” để giữ nước mưa. Nếu rừng cứ bị chặt phá quá mức, chắc chắn tình trạng khô hạn không chỉ gây áp lực cho Tây Nguyên, mà các khu vực lân cận cũng phải chịu ảnh hưởng.
Trong khi đó, giáo sư tiến sỹ khoa học Đặng Huy Huỳnh, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên Việt Nam cho rằng, để công tác bảo tồn đạt hiệu quả, công tác quản lý nhà nước về đa dạng sinh học cần thiết phải quy về một mối nhằm tạo ra sự đổi mới trong xây dựng; điều chỉnh chính sách, pháp luật.
Giáo sư Đặng Huy Huỳnh cũng kiến nghị, các Bộ, ngành và địa phương cần đề cao giá trị và củng cố hiệu quả quản lý của hệ thống khu bảo tồn hiện có, khai thác có hiệu quả và bền vững hệ thống này; đảm bảo công bằng để góp phần cải thiện sinh kế và tình trạng nghèo đói của cộng đồng đang phụ thuộc vào các giá trị của rừng.
Ông Trịnh Lê Nguyên, Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên cũng cho rằng, với số lượng các khu bảo tồn hiện nay, việc cần thiết là phải tập trung quản lý để đảm bảo nguồn lực, ưu tiên và hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học.
Bên cạnh đó, cần hoàn thiện cơ cấu tổ chức thống nhất, nâng cao năng lực, phân công nhiệm vụ, đảm bảo nguồn tài chính từ ngân sách Trung ương cũng như các nguồn tài chính tiềm năng như dịch vụ môi trường rừng, cho thuê rừng.
Đặc biệt, “cần nhấn mạnh ưu tiên về mặt chính sách đối với hệ thống khu bảo tồn này và ưu tiên này phải được đặt lên trước so với bất kỳ quy hoạch phát triển nào của địa phương để tránh tình trạng chồng chéo, ‘ăn bớt’ các khu vực bảo tồn dưới sức ép từ các chương trình, dự án kinh tế-xã hội,” ông Nguyên nhấn mạnh. (Vietnam+ 24/5) đầu trang(
24-5, theo ông Nguyễn Hữu Thiện, Giám đốc Vườn Quốc gia Yok Đôn cho biết, không thể để cho những chiếc xe độ chế quay trở lại tàn phá rừng khi bị tịch thu bán đấu giá.
Năm 2013, Vườn Quốc gia Yok Đôn đã dùng máy xích cán nát 750 xe đạp, xe máy độ chế, thu được 26 tấn sắt, bán đấu giá được 191 triệu đồng nộp ngân sách. Năm 2014, trong tổng số 1.739 phương tiện, dụng cụ phá rừng do Vườn tịch thu được, trong đó có 979 phương tiện là xe độ chế, đơn vị đã tiến hành phá hủy 70% tổng số tang vật, thu được, 35 tấn sắt thép, giao cơ quan chức năng bán đấu giá được hơn 200 triệu đồng nộp ngân sách. (Đại Đoàn Kết 25/5) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn TPHCM liên tục xảy ra các vụ cháy cây lâm nghiệp phân tán, cháy cỏ khô, uy hiếp những cánh rừng phòng hộ lân cận, tài sản và tính mạng của người dân trong các khu dân cư liền kề.
Tình trạng buông lỏng công tác quản lý, giám sát an toàn PCCC ở nhiều địa phương đang đẩy nguy cơ cháy cỏ, cháy rừng lên mức báo động khi những cơn nắng nóng vẫn rất gay gắt.
Chỉ trong 4 tháng đầu năm 2015, TPHCM đã xảy ra hàng trăm vụ cháy cỏ, cháy cây lâm nghiệp trồng phân tán, trong đó huyện Bình Chánh có hơn 60 vụ, tập trung chủ yếu ở các xã Tân Kiên, Phong Phú, Tân Nhựt, Lê Minh Xuân. Nóng nhất hiện nay là khu 300ha của Dự án Sing - Việt ở ấp 2, xã Lê Minh Xuân. Do bỏ hoang nhiều năm, khu đất này hình thành nên những thảm cỏ và những tán rừng phân tán với đủ các loại cây lâm nghiệp như: tràm bông vàng, tràm cừ, bạch đàn bên dưới có lớp thực bì dày đặc.
Trong khi đó, chính quyền sở tại và chủ đầu tư lại thiếu ý thức quản lý chặt chẽ, không khoanh vùng, cô lập khu vực nên người dân thường xuyên ra vào đốt tranh lấy củ, đốt cây phân tán lấy củi gây cháy lan, cháy lớn. Chỉ riêng khu đất của dự án Sing - Việt đã xảy ra hơn chục vụ cháy!
Thực tế trên không chỉ đe dọa hàng trăm hécta rừng phòng hộ lân cận mà còn uy hiếp đến tính mạng của hàng chục hộ dân sống trong khu vực. Chiều 10-3, một người dân vào đốt cỏ tại khu vực 300ha khiến lửa cháy lan rộng ra nhiều hécta, Cảnh sát PCCC huyện Bình Chánh phải huy động hàng trăm cán bộ, chiến sĩ với hàng chục xe nước chữa cháy để dập lửa nhưng phải đến rạng sáng 11-3 đám cháy mới được khống chế; người dân ấp 2 phải thức trắng đêm để di chuyển đồ đạc, vật dụng trong nhà ra xa khu vực xảy ra cháy.
Nguy hiểm là vậy nhưng đến nay, địa phương vẫn chưa có phương án ngăn chặn hiệu quả. Trong các ngày 10, 11, 15 và 17-3, tại khu vực này liên tục xảy ra cháy lớn, gây bất an cho người dân.
Ông Nguyễn Minh Tân, ngụ ấp 2, xã Lê Minh Xuân, lo lắng: “Gần như ngày nào ở khu 300ha cũng xảy ra cháy. Do lớp thực bì khô dày nên lửa cháy lan rất nhanh. Vụ cháy vào đêm 10-3 suýt thiêu rụi hàng chục nhà dân. Ngay lúc này, nếu ngành chức năng không có giải pháp hiệu quả, e rằng hậu quả đáng tiếc sẽ xảy ra”.
Không chỉ ở Bình Chánh, qua ghi nhận của chúng tôi, hiện nay trên địa bàn quận 9, huyện Hóc Môn và Củ Chi cũng tồn tại hàng trăm khu vực cây lâm nghiệp phân tán, những đồng cỏ khô có nguy cơ cháy cao tương tự. Dự án Khu đô thị Tây Bắc thuộc ấp Nhị Tân 2, xã Tân Thới Nhì, huyện Hóc Môn là nơi có nhiều đồng cỏ khô, cây phân tán, được cảnh báo nhiều lần về nguy cơ cháy. Tuy vậy đến nay, công tác an toàn phòng cháy chữa cháy của ngành chức năng và địa phương ở đây gần như bỏ ngỏ. Liên tiếp trong các ngày 8 và 10-4, ở khu vực này đã xảy ra cháy lớn, uy hiếp cuộc sống, sinh hoạt của hàng trăm hộ dân xung quanh.
Đánh giá về tình hình cháy cỏ, cháy cây phân tán trên địa bàn hiện nay, Trung tá Hồ Công Bình, Phó trưởng Phòng Cảnh sát PCCC huyện Bình Chánh, cho rằng rất đáng báo động. Trên thực tế, các vụ cháy cỏ, cháy cây phân tán thường ít gây thiệt hại về tài sản, tuy nhiên nếu không được ngăn chặn, dập tắt kịp thời thì hậu quả để lại còn nghiêm trọng hơn so với các vụ cháy khác.
“Các đám cỏ khô, cây phân tán bỏ hoang cháy rất nhanh. Các khu đất này thường nằm xen cài trong khu dân cư, liền kề với rừng phòng hộ, do đó nếu xảy ra cháy sẽ rất khó dập tắt. Nếu xảy ra cháy lan, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng”, ông Bình nói.
Để ngăn chặn hiệu quả tình trạng cháy cỏ, cháy rừng trên địa bàn, thời gian qua, Phòng Cảnh sát PCCC huyện Bình Chánh đã tham mưu cho UBND huyện Bình Chánh yêu cầu chủ đầu tư các dự án cần che chắn, cô lập khu vực, không để người dân tự do ra vào đốt cỏ, đốt cây phân tán gây cháy. Mặt khác, đơn vị cũng hướng dẫn lực lượng bảo vệ dân phố, các phường phát hoang, tạo ranh ngăn cháy để phòng ngừa cháy lớn, cháy lan khi sự cố xảy ra. Đồng thời chỉ đạo cán bộ địa bàn theo dõi chặt chẽ, nhắc nhở người dân nâng cao ý thức, không được tự ý đốt rừng.
Trong khi đó, Cảnh sát PCCC TPHCM đang phối hợp cùng Bộ Tư lệnh TP, Chi cục Kiểm lâm TP tăng cường kiểm tra, giám sát việc phát dọn thực bì, tạo đường băng cản lửa và tổ chức đốt có kiểm soát các loại cây, thảm thực vật ở các khu vực có cây phân tán; phối hợp với UBND các quận huyện có nhiều khu vực thảm cỏ, cây phân tán lập các chốt theo dõi và chữa cháy tại chỗ để kịp thời xử lý các sự cố, vụ cháy xảy ra. (Sài Gòn Giải Phóng 23/5) đầu trang(
Nhân ngày Quốc tế đa dạng sinh học 22/5, Trạm Cứu hộ Động vật hoang dã Củ Chi, Tổ chức Bảo vệ Động vật hoang dã (WAR) đã phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo TPHCM tổ chức Lễ trao giải cuộc thi Soạn giáo án điện tử tích hợp nội dung bảo vệ động vật hoang dã vào môn Sinh học Lớp 7.
Đây là hoạt động khuyến khích các thầy cô giáo đầu tư biên soạn những giáo án điển tử tạo sự hấp dẫn, hiệu quả nhất trong việc giáo dục học sinh tham gia bảo vệ động vật hoang dã.
Được phát động vào ngày 22/08/2014, đến ngày 20/4/2015, cuộc thi đã nhận được hơn 300 giáo án điện tử dự thi từ 19 quận, huyện TP. Kết quả đã có 38 giáo án điện tử xuất sắc nhất được chọn trao giải.
Được biết, 38 bộ sưu tập những giáo án tích hợp nội dung bảo vệ động vật hoang dã đoạt giải lần này sẽ được tổng hợp và gửi đến các trường THCS của TP. Đây sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho thầy cô giáo và học sinh trong năm học 2015-2016 nhằm đóng góp nhiều hơn nữa cho việc bảo vệ động vật hoang dã, bảo tồn đa dạng sinh học Việt Nam. (Sài Gòn Giải Phóng 23/5) đầu trang(
Tối 22/5, CA phường Tràng Tiền đang tạm giữ hai người, gồm một nam và một nữ trú tại 18 Hàng Bài do có liên quan đến việc chặt tỉa cành một cây xanh trước cửa số nhà này.
Trước đó, đường dây nóng HNM nhận được thông tin về ột cây sấu cao 7m, đường kính khoảng 30cm trên phố Hàng Bài đã bị chặt toàn bộ tán. Đêm 21 rạng sáng 22/5, ngọn cây cũng đã bị cắt trụi.
Điều khiến nhiều người bức xúc là ngay trên tuyến phố sầm uất giữa trung tâm Hà Nội, một cây sấu đang phát triển tươi tốt đã bị kẻ xấu chặt toàn bộ tán cây. Đêm 20/5 phát hiện một người trèo lên ngọn cây sấu chặt ½ số tán cây. Khi người dân báo với công an phường thì đối tượng này đã cao chạy xa bay.
Nhận được tin báo, Công ty TNHH MTV Công ty Cây xanh Hà Nội đã cùng các đơn vị chức năng như CA phường, UBND phường Tràng Tiền…lập biên bản hiện trạng cây bị xâm lại, tiến hành dọn dẹp những tán cây đã bị chặt hạ còn vương lại trên vỉa hè trước cửa số nhà này.
Khẩn trương vào cuộc điều tra về hành động phá hoại có chủ ý này, theo nguồn tin riêng của PV, ngay trong tối ngày 22/5, CA phường Tràng Tiền đã triệu tập đôi nam nữ đang ở số nhà 18 Hàng Bài tới làm việc. Bước đầu, hai người này khai nhận đã thuê nhóm người lạ mặt chặt hạ cây sấu vì lý do cây này án ngữ trước cửa hàng gây ảnh hưởng tới công việc kinh doanh.
Cho tới 00h ngày 23/5, công an phường sở tại vẫn đang làm rõ vụ việc. (HN Mới + An Ninh Thủ Đô 23/5) đầu trang(
Trong những năm qua, vấn nạn phá rừng, lấn chiếm đất rừng đã trở thành căn bệnh kinh niên chưa được các ngành chức năng tỉnh Đắk Nông giải quyết dứt điểm. Đặc biệt, năm 2014 sản phẩm hồ tiêu liên tục đội giá đã vô tình tiếp tay cho "lâm tặc” gia tăng các hoạt động xẻ thịt rừng, khai thác trụ tiêu.
Men theo con đường 34, đất đá dựng đứng khoảng hơn 3km, có mặt tại tiểu khu 1664 (thuộc lâm phận quản lí của Cty CP kỹ nghệ MDF Long Việt) chúng tôi chứng kiến những cánh rừng nguyên sinh bị người dân tàn phá không thương tiếc. Lởm chởm cây cối bị triệt hạ nằm ngổn ngang, đốt cháy đen, xen lẫn những vườn cà phê, hồ tiêu xanh ngắt. Để tường tận, chúng tôi vượt hơn 1km xâm nhập vùng lõi rừng, tiếp tục chứng kiến hàng trăm cây gỗ như giẻ, trâm...đường kính từ 30 - 40cm đã bị "lâm tặc” đốn hạ xẻ thành trụ tiêu có đường kính từ 15 - 20cm, được tập kết từng bãi nằm ngay trong rừng.
Trong quá trình tiếp cận ghi hình, chúng tôi gặp một nam thanh niên với chiếc cưa máy trên tay rít vang cả khu rừng. Khi thấy có người lạ, nam thanh niên này tắt máy rồi lặng lẽ bỏ đi.
Với việc giá hồ tiêu liên tục tăng cao, thời gian qua tại huyện Đắk Song, người dân đua nhau mở rộng diện tích trồng tiêu. Vì vậy, đã tạo nên cơn sốt trụ tiêu, hàng trăm lâm tặc nhân cơ hội cũng đua nhau phá rừng, xẻ trụ tiêu đem về bán cho người dân với mức giá dao động từ 100.000 - 150.0000 đồng/trụ, mỗi chuyến trót lọt, lâm tặc cũng kiếm được từ 5 - 10 triệu đồng sau khi đã trừ các khoản chi phí.
Thực tế, nhiều năm qua những cánh rừng tại huyện Đắk Song đã bị người dân xâm lấn, cạo trọc làm rẫy, khai thác bừa bãi... Xuôi theo QL14 hướng về thị xã Gia Nghĩa đoạn qua địa phận thôn 10, xã Nâm N’Jang, nếu phóng tầm mắt quan sát những cánh rừng nguyên sinh nằm chênh vênh trên các sườn đồi này bị triệt hạ không thương tiếc, điều lạ là việc phá rừng diễn ra công khai trong nhiều năm, nhưng các cơ quan chức năng lại có phần chậm trễ, thiếu biện pháp mạnh.
Năm 2010, Công ty CP kỹ nghệ gỗ Long Việt được UBND tỉnh Đắk Nông giao quản lí hơn 1.202,6 ha (trong đó có hơn 993 ha rừng tự nhiên) trải dài trên 10 tiểu khu qua địa bàn của 3 xã. Tuy nhiên, sau gần 5 năm tiếp quản bảo vệ, chăm sóc, chẳng những không trồng được rừng mà Công ty này còn để "bốc hơi” gần 893 ha rừng, gây thiệt hại hàng trăm tỷ đồng. Theo tìm hiểu của PV, tại các tiểu khu 1665, 1667, 1689, 1698 tại địa phận xã Trường Xuân và tiểu khu 1664, xã Nâm N’Jang, rừng bị tàn phá tràn lan, nhiều diện tích bị "xóa sổ” biến thành rẫy cà phê, hồ tiêu, khoai lang...Điều nguy hại, dù là đất rừng lấn chiếm nhưng lại được nhiều người dân mua bán, trao đổi một cách công khai thông qua những bản cam kết bằng giấy tờ viết tay.
Theo kết quả kiểm kê năm 2014 của Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Nông, tổng diện tích rừng bị chặt phá, lấn chiếm từ 28 dự án lên đến 4.785 ha (chiếm 33% tổng diện tích rừng tự nhiên cho DN thuê). Trong đó, hàng loạt DN thuê đất được liệt kê vào danh sách để mất rừng như Công ty TNHH Vĩnh An thuê 580 ha, để mất 578ha; Bảo Châu thuê 97 ha để mất 100% diện tích rừng....ước tổng thiệt hại khoảng 272 tỷ đồng.
Trước tình hình rừng bị tàn phá làm nương rẫy với tốc độ chóng mặt, các cấp chính quyền vẫn đang loay hoay tìm giải pháp, trong khi các chế tài xử lí chưa đủ sức răn đe thì các chủ DN thuê đất lại có dấu hiệu buông xuôi...
Trước việc rừng bị tàn phá, tưởng rằng Công ty Long Việt sẽ có biện pháp cương quyết để bảo vệ rừng. Tuy nhiên, như ngày 18 - 5, khi chúng tôi túc trực tại đầu  đường 34, quan sát lâm tặc thản nhiên vận chuyển trụ tiêu bằng xe máy độ chế từ tiểu khu 1664 (thuộc lâm phần quản lí của Công ty Long Việt) ra QL14 đưa đi tiêu thụ. Chúng tôi điện thoại báo cho ông Nguyễn Đức Hạnh, Phó Giám đốc phụ trách phát triển nguyên liệu Cty CP kỹ nghệ MDF Long Việt thì được trả lời: "Để chúng tôi xác minh” và bồi thêm: đó là "thực trạng chung tại tỉnh Đắk Nông”, rồi tắt luôn điện thoại.
Trao đổi với PV, ông Nguyễn Văn Thịnh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Song lí giải: Hiện pháp luật chưa có đủ các chế tài xử phạt để răn đe các DN để mất rừng. Nếu chỉ xử lý hành chính các DN để mất rừng thì xem ra cũng khó mà ngăn chặn được việc mất rừng tại các dự án. Trong khi đó, rất khó xử lý hình sự các DN phá rừng vì cơ quan chức năng khó bắt quả tang khi chủ rừng… phá rừng. Riêng việc bắt các DN bồi thường trách nhiệm thiệt hại thì UBND tỉnh chưa có phương án thống nhất.
Theo số liệu của Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Song, chỉ hơn 5 tháng đầu năm trên địa bàn huyện đã phát hiện, xử lí hơn 111 vụ vi phạm về tài nguyên rừng, tổng số tiền xử phạt 330 triệu đồng, nhưng xem ra vẫn chưa thấm vào đâu với số với diện tích rừng bị xâm lấn, tàn phá...(Đại Đòan Kết 23/5) đầu trang(
Khởi xướng từ năm 2010, đến nay Hội đồng Cây Di sản Việt Nam đã xét, công nhận trên 972 cây thuộc 70 loài thực vật. Bên cạnh niềm vui là nỗi trăn trở sau khi vinh danh, chưa có sự đầu tư nào về kinh phí lẫn khoa học kỹ thuật cho công việc chăm sóc và bảo tồn những Cây di sản này.
UBND xã Tân Cương, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc vừa có tờ trình số 22 gửi UBND tỉnh Vĩnh Phúc; Sở VHTT&DL, Sở NN&PTNT, UBND huyện Vĩnh Tường và Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE), yêu cầu trợ giúp về kinh phí để cứu cây Trôi gần 1.000 năm tuổi trong khuôn viên Đình, thôn Dẫn Tự. Cùng với 2 cây khác trên địa bàn, cây Trôi đã được công nhân cây Di sản Việt Nam ngày 19-6-2012.
Hiện nay giữa thân cây bị mối ăn rỗng chỉ còn vỏ, đang bị xoắn và nghiêng về phía nhà Tạo Mạc của Đình, có nguy cơ gãy đổ vào mùa mưa bão sắp tới. UBND xã Tân Cương kiến nghị hỗ trợ từ 300-400 triệu đồng để làm cột bê tông, hệ thống chống sét và hàng rào bảo vệ… để bảo vệ cây; đồng thời bảo vệ an toàn tính mạng cho người dân, cũng như các công trình xây dựng khu di tích lịch sử này.
Đại diện của VACNE, đơn vị có sáng kiến và tổ chức vinh danh Cây di sản cũng "lực bất tòng tâm” khi nhận được lời kêu cứu này: "Là tổ chức phi Chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận và không được Nhà nước tài trợ kinh phí, nên VACNE kêu gọi cộng đồng cùng chung sức bảo vệ môi trường, bảo vệ cây Di sản, đặc biệt là các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm ủng hộ và liên hệ trực tiếp với chính quyền, ban quản lý, cũng như các đoàn thể của địa phương”.
Chưa có một thống kê cụ thể về số phận những Cây di sản sau vinh danh, nhưng thông tin ở nơi này, nơi kia có những "cụ cây” đang khắc khoải, thậm chí đã "đột tử” không phải là hiếm.
Cụ thể, năm 2013 - 2014, có đến 8/9 cây muỗm cổ thụ, niên đại gần 1.000 năm tuổi ở đền Voi Phục (phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội) sau khi được công nhận cây Di sản đã chết.
Cây gạo có niên đại 350 năm ở Hoài Đức tuy ra lộc nhưng bị héo, cành khô, xuất hiện sâu đục thân.
Gần đây nhất, 2 cây gạo gần 400 năm tuổi và trên 200 năm tuổi ở làng Cẩm Bào, xã Vạn Hòa, huyện Nông Cống và làng Hổ Đàm, xã Thiệu Lý, huyện Thiệu Hóa (tỉnh Thanh Hóa) đã chết sau khi có hiện tượng vàng lá, bong vỏ. Một cây gạo khác ở huyện Thọ Xuân vài tháng sau khi được công nhận là cây di sản cũng chết dần, chỉ còn lại phần thân.
972 cây di sản đã được công nhận tại hơn 40 tỉnh, thành phố trên cả 8 vùng sinh thái trong cả nước. Trong đó, có nhiều giống cây đặc hữu, cây quý hiếm và có tuổi đời rất cao như hai cây Táu ở Thiên Cổ Miếu (Việt Trì – Phú Thọ) có tuổi nghìn năm; cây Sa mu dầu ở khe Bu (Vườn Quốc gia Pù Mát – Nghệ An) cao tới 73 mét, đường kính thân tới hơn 4,5 mét; Cây Bạch Mai ở đình Phú Tự (Bến Tre); cây Sộp và cây Khế cảnh 350 năm tại Khu du tích Mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (Cao Lãnh, Đồng Tháp)…
Những cây cổ thụ sau khi được vinh danh không chỉ là niềm vui mừng của nhân dân, chính quyền địa phương nơi đó mà còn là đối tượng được tập trung chăm sóc, vun vén một cách quá mức. Nhiều người đặt câu hỏi những cây gạo ở Thanh Hoá liệu có phải bị chết do sự can thiệp không đúng cách của con người khi đào xung quanh cây để xây thành bao, khiến rễ cây bị xót? Rồi cách chăm bón không đúng khoa học, trong đó có việc bón khoảng 4 tạ phân lân khiến cây bị "bội thực”…
Theo đại diện của VACNE, khi cây được công nhận là Cây di sản sẽ được bảo vệ, chăm sóc với khả năng cao nhất có thể. Cây đó sẽ không bị chặt hạ, bán, được cắm bia ghi danh, có chuyên gia chăm sóc... Nhưng nhìn vào những bài học đau xót đã và đang xảy ra đối với Cây di sản, có thể thấy việc đi tìm nguyên nhân cũng như đưa ra kết luận thấu đáo nhằm rút kinh nghiệm cho việc chăm sóc và bảo tồn những Cây di sản khác vẫn chưa được coi trọng.
Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu vực xung quanh Cây di sản cũng có thể là một trong những nguyên nhân khiến cây chết dần chết mòn. Để giải quyết tình trạng này, không chỉ cần sự chung tay của cả cộng đồng mà còn cần đến sự vào cuộc mạnh mẽ của các cơ quan chức năng. (Đại Đòan Kết 23/5) đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân phản ánh: Trên địa bàn huyện Khánh Sơn diễn ra tình trạng đốt rẫy không đúng quy định, tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng. (Nhân Dân 23/5) đầu trang(
Công an tỉnh Yên Bái vừa thu giữ 38,8 m3 gỗ pơ mu (là gỗ nhóm 1 quý hiếm) trị giá gần 400 triệu đồng, được cất giấu tại hai địa điểm cách TP Yên Bái hơn 180 km.
Qua công tác trinh sát, nắm tình hình, tại khu Bảo tồn thiên nhiên sinh vật cảnh Chế Tạo, huyện Mù Cang Chải cho thấy, một số đối tượng khai thác lén lút gỗ tự nhiên, tập kết, vận chuyển tiêu thụ trái phép. Ngày 18-5 lực lượng công an tỉnh thu giữ tại một nhà dân thuộc xã Nậm Khắt (Mù Cang Chải) 19 khối gỗ pơ mu; ngày 20-5, tại khu 6 phường Pú Trạng, thị xã Nghĩa Lộ tiếp tục thu giữ 19,8 khối gỗ pơ mu cất giấu trái phép.
Chiều 22-5, toàn bộ số gỗ trên được chuyển về TP Yên Bái để xử lý theo pháp luật. (Nhân Dân 23/5) đầu trang(
“Lo không chu đáo cơm nước, lo đêm khuya ngã bệnh giữa rừng… nên sau khi cưới nhau, tôi theo ảnh vô đây sống. Hai đứa con của tui cũng lớn lên trong cánh rừng này. Đến tuổi đi học gửi về nhà ngoại nuôi tiếp. Nghỉ hè, cả gia đình đoàn tụ trong rừng”. Giọng kể của chị Nguyễn Thị Thu Thảo chân chất rặt Nam Bộ, nhưng nó như mũi kim cứa vào lòng tôi nỗi đau đáu về góc khuất của những người làm công tác bảo vệ Vườn Quốc gia Tràm Chim - (VQGTC, Tam Nông, Đồng Tháp).
Trưa giữa tháng 5, trời như đổ lửa. “Nắng nóng thế này, chắc mấy anh bảo vệ rừng có mặt tại chốt” - đinh ninh thế, tôi tìm vào chốt Quyết Thắng tại khu A4 của VQGTC mà không hẹn trước. Từ thị trấn Tràm Chim vào đến cầu Cà Dăm (xã Tân Công Sính, huyện Tam Nông), phải thêm 2 cây số đường kênh chằng chịt mới vào chốt Quyết Thắng. Nhưng đợi suốt 1 giờ đồng hồ mà không thấy ghe để quá giang nên đành điện thoại cầu cứu Chốt trưởng Đỗ Minh Chánh.
“Tôi mới bơi xuồng đi tuần tra, khoảng 3 tiếng nữa mới về”. Sau một buổi chờ đợi, cuối cùng tôi cũng được anh Chánh ra đón. “Mỗi chốt có hai người, sáng nay người trực chung có việc đột xuất, xin phép nghỉ một buổi, tôi phải tăng cường tuần tra…”. Anh Chánh tay cầm quạt phẩy liên hồi về phía tôi như để xua bớt cái nóng hầm hập, miệng hối vợ đun nước trà đãi khách: “Chưa có điện lưới nên không có quạt máy và cũng chẳng có nước đá. Cả chốt chỉ có tấm pin năng lượng mặt trời đủ để sạc điện thoại, đèn tuần tra và bật tivi xem chương trình thời sự mỗi tối”.
Sau tuần trà, anh Chánh kêu vợ - chị Nguyễn Thị Thu Thảo - lên tiếp khách rồi đi xối mấy ca nước cho mát người. “Chị cũng thuộc biên chế của VQGTC?” - tôi bắt chuyện. “Không, tui chỉ theo chồng…”. Là người lớn lên ở xứ Tam Nông nên chị Thảo hiểu phần nào nỗi cực nhọc và cô đơn của người bảo vệ VQGTC. Vì vậy sau khi kết hôn (năm 1994), chị khăn gói vào rừng lo chuyện cơm nước cho chồng…
“Hồi đó, từ đây ra chợ Tràm Chim chỉ có 1 chuyến đò dọc duy nhất khởi hành từ lúc 5h sáng và quay lại vào lúc 15h nên rau xanh cũng thành rau héo, cá tươi cũng thành ươn”. Từ ngày chị Thảo vào, đời sống trong chốt tươi tắn lên. Nhưng chị Thảo thì ngược lại. “Chốt đóng tận trong rừng, ban ngày thì vắng bặt bóng người, 4h chiều là muỗi kêu như sáo thổi”. Nhưng khó nhất là nước sinh hoạt. Do nguồn nước ngậm phèn đặc quánh, chị Thảo phải mang bao ra nhà dân xin tro bếp về lóng phèn để dùng trong sinh hoạt. Nhờ đó mấy ông bảo vệ ở đây mới thoát cảnh cảnh nấu cơm hột gạo chuyển màu xanh lè, còn giặt đồ thì thớ vải xơ cứng như vỏ cây… Chính nụ cười của chồng, ánh mắt cảm ơn của những người bạn bảo vệ rừng đã khiến chị Thảo vượt qua nghịch cảnh.
Tại chốt Phú Đức 2, khu A1 (xã Phú Đức, Tam Nông) vợ chồng anh Trịnh Thanh Phong cũng có 20 năm thâm niên gắn bó với rừng. Anh Nguyễn Văn Hùng - Giám đốc VQGTC - xác nhận: “Hiện đơn vị có 50 nhân viên bảo vệ, và chuyện một người lĩnh lương, cả nhà vào rừng phục vụ như vợ chồng anh Chánh, anh Phong là khá phổ biến. Thực tế cho thấy, chính những người vợ, người con là hậu phương vững chắc để nhân viên bảo vệ gắn bó với rừng”.
“Mỗi ngày một nhân viên bảo vệ phải thực hiện 3 tua tuần tra: Sáng 5h30 - 8h, chiều: 13h30 - 16h, tối: 20h - 23h”. Anh Chánh rút gọn để giúp tôi hình dung công việc hằng ngày của bảo vệ ở VQGTC, nhưng qua trò chuyện, tôi đã nhận ra sau câu nói gọn nhẹ ấy là cả sự thật nặng lòng. Do đặc thù công việc, tuần tra trong rừng chủ yếu bằng xuồng bơi tay. Vì vậy bình quân mỗi ngày, mỗi nhân viên ở đây phải bơi xuồng khoảng 10km. Nhưng gặp hôm hữu sự, phải làm việc tới sáng thì số lượng cây số này còn nhiều hơn và đáng lo hơn là hiểm nguy có thể ập xuống bất cứ lúc nào.
Theo Giám đốc VQGTC Nguyễn Văn Hùng, chính sự nhiệt tình này là chiếc băng chống cháy hữu hiệu. Điển hình là cả năm 2014 VQGTC không để xảy ra trận cháy rừng nào. “Đó là kỳ tích. Bởi vây quanh bên ngoài vùng đất ngập nước rộng trên 7.000ha với nguồn tài nguyên lớn về cá, mật ong… là 50.000 người thuộc 5 xã, 1 thị trấn, đa phần là dân nghèo… nên VQGTC thường xuyên đối mặt với nạn xâm nhập trái phép”.
Mặt anh Hùng trở nên căng thẳng: “Vài năm gần đây, nạn tấn công nhân viên bảo vệ lên mức báo động…”. Bình quân mỗi năm có 10 vụ, nhưng tính chất mức độ nguy hiểm ngày càng gia tăng. Do họ đi thành đoàn vài chục người, trong khi mỗi chốt chỉ có 2 nhân viên bảo vệ nên rất khó. Nhưng khó hơn là mức phạt các trường hợp này thời gian qua chưa đủ răn đe nên cứ tái đi, tái lại. Thậm chí họ còn tấn công ngay cả nhân viên bảo vệ là dân cố cựu tại chỗ và là bộ đội phục viên phải nhập viện nhiều lần. Điển hình là anh Trịnh Thanh Phong, là bộ đội phục viên vào làm bảo vệ từ năm 1992, nhưng anh đã 3 lần bị nhóm người xâm nhập rừng trái phép hành hung phải nhập viện…
Ít người biết, đằng sau những công việc đổ mồ hôi, sôi nước mắt ấy là chế độ thù lao còm cõi: Hơn 2 triệu đồng/nhân viên có trên 20 năm thâm niên công vụ. Tôi cố tình hỏi đi, hỏi lại để nuôi hy vọng mình đã nghe nhầm, để rồi không thể thất vọng hơn khi anh Phong gằn từng tiếng rõ mồn một: “Lương tháng là 2,3 triệu đồng. Vào mùa khô được hỗ trợ thêm 1 triệu đồng/tháng”. Trên dưới 3 triệu đồng/tháng cho người có trên 20 năm thâm niên công tác như anh Phong, quả là mức thu nhập khó để người lao động giản đơn có thể an lòng.
Vẫn chưa tin nên tôi tìm gặp Giám đốc VQGTC để kiểm chứng và được trả lời: “Anh em nói thu nhập thấp hả, không đúng đâu, phải nói là quá thấp mới đúng…”. Anh Hùng thở dài: “Khắc nghiệt rồi áp lực, khó khăn trăm bề, nhưng chưa dễ làm khác chính sách được”.
Một buổi trò chuyện với anh Phong, anh Chánh và Sơn, tôi có cảm giác mình học được nhiều, rất nhiều kiến thức về động, thực vật vùng Đồng Tháp Mười mà suốt thời ngồi ghế nhà trường chưa có được. Đó không chỉ là những con số không phải ai cũng biết và nhớ, như: VQGTC có 130 loài thực vật, trong đó có nhiều loài được xếp vào hàng “độc”, như lúa trời… và là “thủ phủ” của 231 loài chim nước, thuộc 25 chi, 49 họ, trong đó có nhiều loài được xếp vào Sách Đỏ Việt Nam và thế giới, như: Ngan cánh trắng, cốc đế, giang sen, bồ nông chân xám, già sói, đặc biệt là loài sếu đầu đỏ…. mà còn cả kiến thức chuyên sâu của “nhà khoa học chân đất”.
Khi đến khu A4, nghe anh Chánh giới thiệu về cánh đồng hoa “Hoàng đầu ấn” mà tôi biết thêm loài hoa lạ cả về tên gọi, sinh trưởng và thời gian trổ hoa. “Mùa lũ về, cây nằm im dưới lòng đất, lũ rút, cây đâm chồi, trỗi màu xanh và đồng loạt ra hoa vào tháng giêng” - anh Chánh nhấn mạnh: “Khi những tia nắng đầu ngày xuyên qua kẽ lá tràm, chính là thời điểm hoàng đầu ấn khởi đầu hành trình khoe sắc: Từng cánh hoa bắt đầu vươn ra khỏi vỏ nụ… nhưng hoa chỉ rộ nở và bộc lộ hết vẻ đẹp sắc vàng quý phái trong thời gian ngắn: 10-12 giờ trưa”.
Còn anh Phong thì có thể kể có đầu có đuôi nhiều thứ, từ chuyện hình dáng đặc thù của tổ, tính nết săn mồi, tiếng kêu của từng loài chim… cho đến đặc tính của nhiều loài cây, cỏ. Đặc biệt là anh có kỹ năng tự tay thu hoạch và chế biến lúa trời từ trên cây thành nồi cơm thơm lừng phong vị Đồng Tháp Mười.
Xác nhận thực tế khó tin dù có thật này, anh Hùng tươi tắn hẳn lên: “Sắp tới đây, VQGTC sẽ có nhiều người hiểu biết sâu hơn và họ sẽ là nhân vật chính trong đề án phát triển du lịch sinh thái đặc thù mà đơn vị đang xây dựng”. Theo lời anh Hùng, lãnh đạo đơn vị đang âm thầm cho phép nhân viên bảo vệ học nâng cao trình độ. Hiện có 6-7 người đang theo học hệ đại học ngành nông lâm (hệ vừa học vừa làm).
Theo đề án, sẽ huấn luyện thêm kiến thức cơ bản để những nhân viên bảo vệ này làm hướng dẫn viên. Vừa bám sát người tham quan và vừa có thể vận dụng những hiểu biết thực tế và sống động về vùng đất, cây cỏ, chim cá để giải thích, thuyết mình cho du khách hiểu và trở lại VQGTC nhiều hơn. Và tất nhiên khi đó thu nhập của anh em sẽ được cải thiện” - anh Hùng nhìn về tôi nở nụ cười hy vọng. (Lao Động 22/5) đầu trang(
Đắk Nông:  “Không có hiện tượng phá rừng lấy gỗ bán làm trụ tiêu”
Chi cục Kiểm lâm thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Nông khẳng định: tình trạng khai thác gỗ cưa xẻ thành dạng trụ tiêu nhưng chưa kịp vận chuyển đang được cất giấu trong rừng tại Tiểu khu 1600 là có thật; không có hiện tượng mỗi ngày có hàng trăm người vào rừng để phá rừng lấy gỗ bán làm trụ tiêu.
20/5/2015, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam nhận được công văn số 307 ngày 9/5/2015 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông thông báo kết quả kiểm tra, xác minh thông tin phản ánh việc phá rừng, khai thác rừng trái phép tại rừng phòng hộ Nam Cát Tiên.
Theo Chi cục Kiểm lâm, sau khi một số tờ báo đăng tải thông tin phá rừng, khai thác rừng trái phép tại rừng phòng hộ Nam Cát Tiên, ngày 7/5/2015 Chi cục Kiểm lâm phối hợp với Hạt Kiểm lâm, Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR số 2, Ban quản lý Rừng phòng hộ Nam Cát Tiên và chính quyền địa phương xã Đắk Sin (huyện Đắk R’lấp) tiến hành kiểm tra, xác minh thực tế tại Tiểu khu 1600,1601,1604 thuộc lâm phần do Ban quản lý Rừng phòng hộ Nam Cát Tiên quản lý.
Kết quả xác minh của Đoàn kiểm tra khẳng định: Tại vị trí giáp ranh giữa Tiểu khu 1600 và Tiểu khu 1604, có 63 cây gỗ, nhóm 5-8, khối lượng khoảng 40m3 nằm trên diện tích khoảng 2500 m2 bị đổ ngã do lốc đầu mùa mưa năm 2015 gây ra còn nằm tại hiện trường, hiện đang được Ban quản lý Rừng phòng hộ Nam Cát Tiên trình cấp có thẩm quyền xem xét cho thu gom.
Hiện trường tiểu khu 1601, không có phá rừng, khai thác rừng trái phép.
Hiện trường tiểu khu 1600, kiểm tra thực tế hiện trường xảy ra khai thác trụ tiêu trái phép tại lô 2a, khoảnh 11, Tiểu khu 1600 thuộc lâm phần do Ban quản lý Rừng phòng hộ Nam Cát Tiên quản lý có 03 cây gỗ bị chặt hạ, khối lượng 2,068m3. Đoàn Kiểm tra đã tiến hành định vị xác định vị trí, cụ thể: tại vị trí có tọa độ 0395338-1305946 phát hiện 01 cây gỗ bị chặt hạ; tại vị trí tọa độ 0395375-1305989 phát hiện 02 cây gỗ bị chặt hạ.
Như vậy, vụ vi phạm khai thác trụ tiêu trái phép trên, Hạt Kiểm lâm huyện Đắk R’lấp phối hợp Ban lâm nghiệp xã Đắk Sin, Ban quản lý Rừng phòng hộ Nam Cát Tiên đã phát hiện, lập Biên bản vi phạm hành chính số 30394 ngày 27/4/2015 và các thủ tục hành chính khác để xử lý theo quy định đối với 41 trụ tiêu có khối lượng 2,086m3.
Mở rộng hiện trường, kiểm tra các khu vực lân cận nằm sát sông Đồng Nai, Đoàn kiểm tra xác định, không có dấu vết hàng loạt cây gỗ lớn đã bị người ta đốn hạ từ trước để lấy gỗ; không có gỗ lớn và trụ tiêu vừa được lâm tặc xẻ ra đang được cất giấu trong rừng dọc sông Đồng Nai. Ở đây cũng không có hiện tượng, mỗi ngày có hàng trăm người vào rừng để phá rừng trái phép lấy gỗ bán làm trụ tiêu. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua chỉ xảy ra có 01 vụ vi phạm khai thác gỗ trái phép 41 trụ tiêu có khối lượng 2,086m3. (Đảng Cộng Sản VN 22/5) đầu trang(
21-5, Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng phát bản tin số 7 cảnh báo nguy cơ cháy rừng đã ở cấp độ rất nguy hiểm (cấp báo động V), có khả năng xảy ra cháy lớn và lan nhanh.
Chi cục đề nghị Ban chỉ đạo thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của các quận, huyện, xã, phường chỉ đạo các địa phương, đơn vị và các chủ rừng thực hiện nghiêm các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng đồng thời chuẩn bị nhân lực và phương tiện ứng phó khi có cháy rừng xảy ra. UBND các xã, phường có rừng thông báo nghiêm cấm phát đốt thực bì trong mọi trường hợp.
Cơ quan này cũng yêu cầu các Hạt Kiểm lâm tổ chức ứng trực phòng cháy, chữa cháy rừng 100% tại các vị trí xung yếu của tất cả các địa phương có rừng; kiểm tra việc chấp hành thông báo của UBND xã, kiểm tra giám sát người và phương tiện ra vào rừng. Các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Được biết, cấp báo động V là cấp cao nhất trong các cấp độ cảnh báo cháy rừng. (Công An Đà Nẵng 22/5) đầu trang(
Theo đánh giá của Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), trong hai thập kỷ qua, nạn buôn bán và tiêu thụ động vật hoang dã tại nước ta vẫn tiếp tục gia tăng, trong khi mô hình tăng trưởng kinh tế còn thiếu bền vững, ý thức của người dân chưa cao. Thực tế này đã khiến nhiều loài quý hiếm đang phải đứng trước bờ vực tuyệt chủng. Qua theo dõi công tác đấu tranh của lực lượng công an và các đơn vị liên quan như hải quan, bộ đội biên phòng, kiểm lâm cho thấy, mặc dù số lượng vụ việc được phát hiện, đấu tranh ít hơn so với trước, nhưng tình hình vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm vẫn chưa được kiểm soát.
Theo kết quả thống kê của Cục Kiểm lâm, từ năm 2010 đến nay, lực lượng kiểm lâm cả nước đã phát hiện và xử lý 140.716 vụ vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Trong đó, vi phạm về quản lý động vật hoang dã là 3.823 vụ, tịch thu 58.869 cá thể động vật hoang dã, đặc biệt 3.078 cá thể thuộc loài nguy cấp, quý hiếm.
Thực tế cũng cho thấy, việc tiêu thụ trái phép động vật hoang dã không chỉ tàn sát quần thể loài động vật trong tự nhiên, phá hủy hệ sinh thái, làm tổn hại đến đa dạng sinh học, môi trường, mà còn khiến nước ta mất đi một phần di sản văn hóa, các điểm du lịch sinh thái quan trọng.
Không chỉ thế, tiêu thụ trái phép động vật hoang dã còn làm suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá cho phát triển bền vững kinh tế-xã hội, dẫn đến các hệ lụy về mặt xã hội như gia tăng các vi phạm pháp luật, ảnh hưởng tới tập quán tiêu dùng thực phẩm, môi trường sinh thái, tài nguyên sinh vật, hình ảnh, uy tín của đất nước và con người Việt Nam trên trường quốc tế.
Điều đáng buồn là, do thiếu hiểu biết về tác dụng mong muốn từ các loài động vật hoang dã của một bộ phận không nhỏ người dân, họ đã có những hành xử thô bạo đối với những loài đang đứng trên bờ vực tuyệt chủng và được nghiêm cấm săn bắn và giết hại. Theo kết quả khảo sát kiến thức, thái độ và hành vi liên quan đến sử dụng động vật hoang dã tại Hà Nội năm 2014 của Viện Xã hội học và Cục Bảo tồn đa dạng sinh học, có tới 19% người trả lời có ý định hoặc tiếp tục sử dụng thực phẩm làm từ động vật hoang dã, trong đó 34% sử dụng làm thuốc và 17% sử dụng đồ trang trí.
Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn, Cục Bảo tồn đa dạng sinh học (Tổng cục Môi trường), cho biết mặc dù thời gian qua Chính phủ đã ban hành nhiều chiến lược, chính sách và quy định pháp luật về quản lý buôn bán động vật hoang dã; các cơ quan thực thi pháp luật cũng đã vào cuộc mạnh mẽ, song việc quản lý buôn bán và tiêu thụ động vật hoang dã vẫn còn bất cập và kém hiệu quả.
Theo bà Nhàn, việc tồn tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật do nhiều cơ quan ban hành về đa dạng sinh học nhưng tiếp cận theo các hệ thống pháp luật khác nhau (pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật về thủy sản,..) đã dẫn đến những bất cập, chồng chéo và thiếu liên kết, gây khó khăn trong quá trình thực thi pháp luật.
Ví dụ, Quyết định số 57/2008/QĐ-BNN ngày 2/5/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về việc ban hành Danh mục giống thủy sản được phép kinh doanh có bao gồm loài rùa hộp ba vạch, trong khi loài rùa này thuộc nhóm 1B (cấm khai thác vì mục đích thương mại trong Danh mục động vật rừng nguy cấp, quý hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ).
Bên cạnh đó, một số quy định trong các văn bản hiện hành vẫn tạo điều kiện cho việc buôn bán và tiêu thụ động vật hoang dã bất hợp pháp. Đơn cử như quy định tại Thông tư số 90/2008/TT-BNN và Nghị định số 157/2013/NĐ-CP cho phép bán đấu giá và kinh doanh động vật hoang dã, cũng như các sản phẩm liên quan bị tịch thu bao gồm các loài nguy cấp, quý, hiếm.
Trong khi đó, ông Phạm Anh Cường, Cục trưởng Cục Bảo tồn đa dạng sinh học cũng khẳng định, công tác bảo tồn đa dạng sinh học từ Trung ương đến địa phương vẫn còn thiếu liên kết trong khâu phân công, tổ chức thực hiện. Cụ thể, ở Trung ương, Bộ Tài nguyên và Môi trường bên cạnh nhiệm vụ làm đầu mối các công ước, Nghị định liên quan, Tổng cục Môi trường là cơ quan thường trực giúp Bộ quản lý bao quát các lĩnh vực chính do Luật Đa dạng sinh học quy định.
Trong khi đó, việc quản lý nhà nước về bảo tồn đa dạng sinh học đối với hệ sinh thái rừng và biển lại do các đơn vị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đảm nhiệm với các chức năng khác nhau. Về phía các địa phương, bên cạnh sự chồng chéo về chức năng quản lý như ở cấp Trung ương thì nguồn lực quản lý đa dạng sinh học tại các Sở liên quan cũng còn rất hạn chế.
Để có thể thay đổi thực trạng nêu trên, bà Hoàng Thị Thanh Nhàn, Phó Cục trưởng Bảo tồn đa dạng sinh học cho rằng cần phải kiện toàn khung pháp lý, chính sách về quản lý và bảo vệ các loài hoang dã. Rà soát, điều chỉnh các quy định để xóa bỏ các lỗ hổng, chồng chéo, bất cập trong quản lý nhà nước đối với quản lý đa dạng sinh học.
Cùng với đó, Chính phủ cũng cần phân công rõ trách nhiệm quản lý Nhà nước của các Bộ/ngành, địa phương ở một số lĩnh vực giao thoa giữa hệ thống pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật về đa dạng sinh học.
Ngoài ra, Luật Đa dạng sinh học cũng cần xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành trong quản lý buôn bán và tiêu thụ động vật hoang dã, đặc biệt là sự hợp tác của liên Bộ Tài nguyên và Môi trường-Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, công an, tư pháp và các cơ quan khác nhau để giải quyết ba vấn đề chính của nạn buôn bán trái phép động vật hang dã (săn bắt, buôn bán và giảm nhu cầu) một cách toàn diện, đồng bộ.
Mặt khác, các Bộ, ngành và địa địa phương cần tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức, phổ biến pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã tới cộng đồng. Đặc biệt cần tăng cường công khai thông tin về các vụ vi phạm và đối tượng vi phạm liên quan trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Từ góc độ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, ông Trần Thế Liên, Vụ trưởng Vụ Bảo tồn thiên nhiên (Tổng cục Lâm nghiệp) cho rằng, để chặn đà suy giảm đa dạng sinh học cần phải liên kết xây dựng hành lang pháp lý cho công tác bảo tồn; liên kết xây dựng chương trình phối hợp giữa Tổng cục Lâm nghiệp và Tổng cục Môi trường.
Ngoài ra, “các Bộ, ngảnh và địa phương cũng cần liên kết chia sẻ thông tin, số liệu, nâng cao năng lực quản lý; phối hợp đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức bảo tồn đa dạng sinh học đối với cộng đồng, nhất là các vùng sâu gắn bó với rừng,” ông Liên kiến nghị. (Vietnam+ 22/5) đầu trang(
24-9-1973, thực hiện Nghị định 101/NĐ-CP của Chính phủ, Tổng cục Lâm nghiệp có Quyết định thành lập Chi cục Kiểm lâm nhân dân tỉnh Vĩnh Phú (bao gồm 2 tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc ngày nay), đánh dấu sự ra đời của Kiểm lâm tỉnh Phú Thọ.
42 năm qua, cùng với lực lượng Kiểm lâm toàn quốc, Kiểm lâm Phú Thọ không ngừng lớn mạnh và thực hiện tốt vai trò tham mưu cho UBND tỉnh trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng - PCCCR, thực thi pháp luật về rừng và tuyên truyền vận động nhân dân tích cực bảo vệ và phát triển vốn rừng.
Sau khi tái lập tỉnh Phú Thọ (năm 1997), lực lượng kiểm lâm có biến động về tổ chức cán bộ, song đã sớm kiện toàn, giữ ổn định bộ máy các hạt, trạm kiểm lâm hiện có trên địa bàn và thành lập thêm một số hạt, trạm kiểm lâm  nhằm tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng tại gốc.
Trong công tác tổ chức xây dựng lực lượng, Chi cục Kiểm lâm Phú Thọ đặc biệt chú trọng, củng cố các trạm kiểm lâm địa bàn trên 3 mặt: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ; đạo đức tác phong và cơ sở vật chất nơi ăn, ở làm việc của cán bộ kiểm lâm địa bàn; tăng cường đưa cán bộ về cơ sở phụ trách địa bàn xã với trên 60% biên chế; phân công lịch trực cụ thể tại địa bàn các xã. Các hạt, trạm được quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện làm việc hiện đại phục vụ cho công tác bảo vệ rừng, PCCCR và theo dõi diễn biến rừng trên phạm vi toàn tỉnh.
Hiện nay, Chi cục Kiểm lâm Phú Thọ có 5 phòng nghiệp vụ chuyên môn; 1 Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng, 12 hạt kiểm lâm cấp huyện; 28 trạm kiểm lâm địa bàn trực thuộc các hạt kiểm lâm với tổng biên chế được giao là 206 người và 13 nhân viên hợp đồng.
Trải qua 42 năm xây dựng và trưởng thành dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT, Cục Kiểm lâm, Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và PTNT, lực lượng Kiểm lâm Phú Thọ luôn đoàn kết, nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; tham mưu giúp Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT xây dựng nhiều giải pháp, các văn bản, đề án, dự án phục vụ cho công tác chỉ đạo thực hiện Luật bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn.
Chỉ tính từ khi tái lập tỉnh Phú Thọ (1997) trở lại đây lực lượng Kiểm lâm Phú Thọ đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, chính quyền địa phương các cấp tổ chức 1.380 lớp tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về rừng cho trên 68.600 lượt người, in ấn và phát hành trên 180.000 tờ gấp, 3.000 băng đĩa tuyên truyền về bảo vệ rừng, PCCCR; tổ chức tuần tra kiểm soát địa bàn phát hiện xử lý hành chính 51.102 vụ vi phạm, chuyển cơ quan điều tra khởi tố hình sự 59 vụ vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng; thu giữ hơn 25.251,0m3 gỗ các loại, hơn 11.300kg động vật hoang dã, 72 ô tô, 28 xe máy vận chuyển gỗ và động vật hoang dã cùng nhiều phương tiện thô sơ khác, thu nộp ngân sách hơn 36,8 tỷ đồng.
Cùng với nhiệm vụ bảo vệ rừng, thực thi pháp luật về rừng, Lực lượng Kiểm lâm Phú Thọ trong nhiều năm qua được Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT giao chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển rừng thông qua các chương trình dự án như: Chương trình dự án Phát triển Nông thôn miền núi  giai đoạn 1992-1998; Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng (Dự án 661) giai đoạn 1998-2010; Chương trình Bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2015…
Do làm tốt công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về rừng nhằm nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền và nhân dân vùng sâu, vùng xa xã đặc biệt khó khăn, cùng với việc tăng cường kiểm tra kiểm soát địa bàn kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng, nên rừng trên địa bàn tỉnh luôn luôn được ổn định và phát triển, góp phần quan trọng nâng độ che phủ của rừng từ 38% năm 2000 lên 50,8% năm 2015.
Ghi nhận những nỗ lực, cố gắng của lực lượng Kiểm lâm Phú Thọ, Đảng, Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và PTNT, UBND tỉnh đã trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó năm 2000 được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba, năm 2005 được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì, các năm 1995, 2002, 2004, 2007, 2008, 2010, 2012 được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen và Cờ thi đua xuất sắc; nhiều năm liền được Bộ Nông nghiệp và PTNT, UBND tỉnh tuyên dương khen thưởng, trong đó các năm 2011, 2013 và 2014 được UBND tỉnh tặng Cờ đơn vị xuất sắc dẫn đầu phong trào thi đua. (Báo Phú Thọ 22/5) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Trong bối cảnh ngành chế biến, XK gỗ ngày một chật vật vì thiếu nguyên liệu, ngành cao su lại loay hoay tìm lối đi khi giá bán liên tục sụt giảm thì việc “bắt tay” nhau, đẩy mạnh đưa gỗ cao su vào phục vụ ngành chế biến gỗ đang là “con tính” được cả DN đôi bên cân nhắc.
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan: Tính đến hết tháng 4, XK cao su thiên nhiên ước đạt 252.416 tấn với giá trị khoảng 360,67 triệu USD, tăng 33,9% về lượng nhưng giảm 3,3% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, đơn giá XK cao su bình quân 4 tháng chỉ đạt khoảng 1.429 USD/tấn, giảm tới gần 28%. Trên thực tế, trong vài năm gần đây, giá cao su đã liên tục sụt giảm mạnh, từ mức khoảng 5.000 USD/tấn năm 2011 xuống mức hơn 1.400 USD/tấn như hiện nay.
Từ đầu năm đến nay, tại nhiều cuộc họp lớn nhỏ có liên quan tới vấn đề khó khăn trong XK của nhiều mặt hàng nông sản nói chung, cao su nói riêng, bà Trần Thị Thúy Hoa, Chánh văn phòng Hiệp hội Cao su Việt Nam đều nhấn mạnh, vấn đề lớn nhất của ngành cao su là giá bán liên tục sụt giảm, có nguy cơ bằng hoặc dưới giá thành, đẩy cả DN và người dân vào tình trạng lao đao. Nguyên nhân mấu chốt vẫn là bởi trên thị trường cao su thế giới cung đã vượt cầu. Dự kiến, hết năm nay và thậm chí cả trong năm 2016, tình hình vẫn chưa có nhiều chuyển biến tích cực.
Trong bối cảnh khó khăn triền miên, các DN đã phải tính toán nhiều phương án nhằm cố gắng qua “cơn bĩ cực”, chờ thời điểm giá cao su ổn định. Trong đó, tập trung khai thác, chế biến gỗ cao su cũng là giải pháp hiệu quả. “Thực tế, lượng gỗ cao su được chính các DN trong ngành cao su đưa vào chế biến ngày càng tăng. Thậm chí, thời gian qua, do lượng gỗ cao su bị hỏng đổ do thiên tai cũng như tái canh quá lớn khiến các cơ sở chế biến gỗ trong ngành cao su không sử dụng hết nguyên liệu phải đem đi XK”, bà Hoa khẳng định.
Theo bà Hoa, trong năm tới, DN “đầu đàn” trong ngành cao su là Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam dự kiến sẽ thanh lý khoảng 30 nghìn ha cao su đã hết thời gian khai thác mủ để khai thác gỗ, lượng gỗ khai thác dự kiến lên tới 8-9 triệu m3 nên gỗ cao su càng dư thừa. Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam nói riêng và các DN trong ngành cao su nói chung rất mong lượng gỗ NK sẽ giảm bớt để các DN trong ngành chế biến, XK gỗ sử dụng ngay nguyên liệu gỗ cao su trong nước, vừa giúp tiết kiệm chi phí lại giải quyết phần nào khó khăn cho ngành cao su.
Trong khi ngành cao su kinh doanh ế ẩm thì ngành chế biến, XK gỗ dường như lại ở vào tình thế trái ngược. Nhìn lại suốt thời gian qua, điều dễ thấy là kim ngạch XK gỗ tăng trưởng khá nhanh nhưng không bền vững do luôn thiếu nguyên liệu, phải phụ thuộc nguồn NK.
Theo ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ngành gỗ Việt Nam đã, đang và sẽ còn thiếu nguyên liệu trong dài hạn. Hiện nay, Việt Nam nhập gỗ từ 60-70 quốc gia trên thế giới, tuy nhiên chỉ tập trung vào một số quốc gia như như Mỹ, Lào, Campuchia, EU,…
Việc phụ thuộc nguồn gỗ nguyên liệu NK làm cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN có phần bị động và chi phí cũng cao hơn. Trong bối cảnh ngành cao su thừa gỗ, ngành chế biến, XK gỗ lại thiếu nguyên liệu trầm trọng, nhiều chuyên gia cho rằng, thúc đẩy “cái bắt tay” giữa đôi bên là cách làm khá cần thiết và hiệu quả lúc này.
Trên thực tế, tại buổi đối thoại DN với chủ đề “Vai trò của gỗ nguyên liệu NK trong ngành chế biến gỗ Việt Nam và hướng đi nào cho ngành chế biến dăm gỗ XK?” diễn ra mới đây tại Hà Nội, ở góc độ đại diện cho các DN trong ngành cao su, bà Trần Thị Thúy Hoa đã thẳng thắn đề nghị thúc đẩy hợp tác chặt chẽ giữa DN hai ngành gỗ và cao su trong thời gian tới nhằm cùng nhau vượt khó. Đáp lại ý kiến này, không ít DN hoạt động trong ngành chế biến, XK gỗ bày tỏ thiện chí xúc tiến hợp tác.
Đánh giá về động thái này, đại diện Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định cho rằng: Đây là cách làm tích cực, hiệu quả, góp phần giải quyết vướng mắc cho cả đôi bên. Trên thực tế, tại nhiều vùng trên cả nước, gỗ cao su đã được sử dụng để làm đồ nội thất XK đi Mỹ, Nhật Bản và được các thị trường “khó tính” này ưa chuộng.
Trao đổi với phóng viên Báo Hải quan, đại diện một số DN khẳng định: Thông thường, chu kỳ trồng cao su khai thác mủ được khoảng 25 năm, có vùng chỉ dao động từ 18-20 năm là lượng mủ kém đi. Lúc đó, DN sẽ chuyển sang khai thác gỗ cao su và tiến hành tái canh.
Do vậy, nếu hình thành được mạng lưới hợp tác chặt chẽ giữa DN cao su và DN chế biến, XK gỗ, trong tương lai các DN chế biến, XK gỗ vừa có được nguồn nguyên liệu ổn định, đảm bảo nguồn gốc xuất xứ mà các DN cao su cũng có nguồn thu để giảm bớt khó khăn. Nếu làm tốt, đồ gỗ mỹ nghệ làm từ gỗ cao su không chỉ XK đi Mỹ, Nhật mà còn có cơ hội đẩy mạnh XK sang nhiều thị trường khác. Hầu hết DN đều mong đợi việc thúc đẩy hợp tác được triển khai nhanh để xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh cụ thể cho mình.
Xung quanh câu chuyện hợp tác giữa hai ngành, ông Nguyễn Tôn Quyền cho biết: Trong tháng 6 tới, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam và Hiệp hội Cao su Việt Nam sẽ có buổi làm việc trực tiếp để trao đổi kỹ lưỡng mọi khía cạnh. Cụ thể, đôi bên sẽ bàn bạc và thống nhất các vấn đề như nội dung phối hợp, cơ chế và nguyên tắc trong quá trình phối hợp… nhằm nhanh chóng hiện thực hóa cái “bắt tay” hướng đến mục đích cùng vượt khó. (Hải Quan 23/5) đầu trang(
Theo Sở NN-PTNT tỉnh Đồng Nai, trong mùa mưa 2015 Sở sẽ phối hợp với các địa phương trồng trên 764.000 cây phân tán để tăng mức độ che phủ.
Trong đó, tỉnh hỗ trợ khoảng 258.000 cây giống các loại, số cây giống còn lại các địa phương tự chủ động. Giống cây phân tán được trồng nhiều trên địa bàn tỉnh trong mùa mưa năm 2015 là keo lai chiếm 88% và 12% là các loại cây gỗ lớn. Mỗi năm vào mùa mưa, tỉnh đều trồng cây phân tán và trồng rừng ở một số địa phương.
Hiện Đồng Nai là địa phương còn giữ được nhiều rừng nhất khu vực Đông Nam bộ và gần 10 năm nay không để xảy ra vụ cháy rừng lớn nào, dù vào mùa khô rừng luôn ở mức cảnh báo cháy cấp cực kỳ nguy hiểm. (Nông Nghiệp VN 25/5) đầu trang(
Một số cơ sở sản xuất, kinh doanh cây giống mắc ca có dấu hiệu lừa người nông dân khi khẳng định có nguồn cung cấp giống mắc ca ghép rất dồi dào, được nhập về từ Cty Vinamacca, Viện giống cây trồng Eakmat ở Đăk Lăk, sẵn sàng đáp ứng cho người mua với bất cứ số lượng nào.
Theo tìm hiểu của PV, trên thị trường đang có 3 loại giống cây mắc ca ghép không đảm bảo chất lượng. Một là loại giống mắc ca không phải giống ghép. Cây giống chỉ có chiều cao từ mắt ghép xuống gốc là 40-60 cm. Cây ghép có chồi ghép đã liền vết sẹo, chồi ghép mọc cao 25-30 cm, có tối thiểu 2 thân chính trở lên. Nhưng một số người bán cây giống không phải là cây ghép đã tạo ra vết ghép giả bằng cách cắt tạo ở thân cây một vết cắt hình dạng giống vết ghép.
Để nhận biết cây ghép giả, bà con so sánh sẽ thấy lá ở dưới vết cắt và lá ở bên trên vết ghép giống nhau. Hai là loại cây giống dùng cây thực sinh làm mắt ghép. Một số điểm ươm, bán cây giống không có cây đầu dòng đã dùng cành của cây thực sinh làm mắt ghép. Loại cây này năng suất thấp, thời gian cho thu hoạch trái rất chậm (phải từ 7 - 8 năm trở lên). Ba là loại cây giống nguồn gốc không rõ ràng.
Một số điểm bán giống không có cây đầu dòng để lấy mắt ghép, đã mua cành của các vườn khác về ghép. Loại cây giống này, chủ vườn ươm không phân biệt được dòng cây mà vẫn đặt tên để bán. Có những người khi bán lại nói nhập từ Úc, Mỹ, Trung Quốc hay Thái Lan. Đây cũng chính là loại cây giống mắc ca ghép được các chủ cơ sở kinh doanh rao bán rộng rãi nhất.
Trao đổi với PV, ông Hoàng Tùng, Giám đốc Cty Vinamacca Đăk Lăk cho biết: Trong năm 2014, Cty Vinamacca có triển khai 2 đại lý bán cây giống mắc ca tại huyện Lâm Hà, với số lượng nhỏ chỉ 3.000 cây. Tuy nhiên, trong năm 2015 này thì Cty không có bất cứ điểm chuyển giao cây giống nào, cũng như không bán ra bất cứ một sản phẩm cây ghép nào tại tỉnh Lâm Đồng. Do đó, việc một số cơ sở kinh doanh cây giống mắc ca tại tỉnh Lâm Đồng đưa ra thông tin nhập sản phẩm cây giống của Cty Vinamacca Đăk Lăk, cung cấp cho người dân là hoàn toàn sai sự thật.
Ông Tùng cho rằng, khi mua cây mắc ca giống bà con nên lưu ý không mua giống ở những cơ sở mà không có cây đầu dòng để lấy mắt ghép, nếu có nhập về cũng không biết đó là dòng nào. Không nên mua cây ghép có mắt ghép cao cách mặt bầu 50 cm trở lên vì cây cao không chịu được gió bão, lại ít cành ngang, cho năng suất thấp. Không nên mua cây có tuổi gốc ghép quá 24 tháng hoặc thân to trên 10 mm, vì như vậy gốc ghép đã già, rễ cọc to, dài, xoắn đáy dưới bầu ươm.
Trong trường hợp này, khi đem trồng người ta phải cắt dưới đáy bầu ươm, tức là cắt mất rễ cọc đi, do đó, rễ cọc không thể tái sinh, phát triển bình thường được, dẫn đến cây rất dễ bị ngã đổ, không chịu được gió bão, mưa dầm, hạn hán.
Ông Nguyễn Văn Hạnh, chuyên viên phòng Nông nghiệp huyện Lâm Hà cho biết: Toàn huyện Lâm Hà có tổng cộng 22 cơ sở sản xuất và kinh doanh giống cây cà phê và cây ăn quả; chưa có vườn ươm giống mắc ca. Trong thời gian tới, Phòng Nông nghiệp sẽ tiến hành lập đoàn kiểm tra tất cả các cơ sở sản xuất và kinh doanh cây giống trên địa bàn huyện. Nếu phát hiện đơn vị nào có sản xuất cây giống mắc ca cũng như nhập cây mắc ca ghép về mà không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xứ thì chúng tôi sẽ tiến hành tịch thu, tiêu hủy, đồng thời có thông báo rộng rãi danh tính cơ sở trên các phương tiện thông tin đại chúng để người dân biết.
Chung quan điểm trên, bà Nguyễn Thị Phương Loan, Trưởng phòng Trồng trọt, Sở NN-PTNT Lâm Đồng, cho biết: Đối với những cơ sở sản xuất và kinh doanh cây giống, nếu muốn chuyển qua kinh doanh mắc ca phải được Sở NN-PTNT trực tiếp cấp phép. Các cơ sở sản xuất và kinh doanh phải tự công bố rộng rãi về các tiêu chuẩn, chỉ tiêu chất lượng như tuổi cây, chiều cao, đường kính chồi, kích thước bầu ghép, giống và dòng, trước khi xuất bán cho người mua, không được tự ý thực hiện việc lấy giống nhân giống. Nếu cơ sở nào vi phạm thì sẽ bị các cơ quan chức năng xử phạt mạnh tay, hoặc rút hẳn giấy phép, có như vậy khâu quản lí chất lượng cây giống mới được thực hiện tốt ngay từ vườn ươm. (Nông Nghiệp VN 22/5) đầu trang(
Liên quan đến vụ việc, “Gia đình Công chức địa chính xã ngang nhiên xây dựng nhà trái phép trên đất lâm nghiệp” xẩy ra trên địa bàn xã Chư Kbô huyện Krông Búk – Đắk Lắk mà báo Tầm Nhìn đã phản ánh, mới đây người phát ngôn của UBND huyện Krông Búk cho biết, “kiên quyết xử lý nghiêm khắc trường hợp này”.
Để thông tin kịp thời về hướng xử lý của cơ quan chức năng sở tại tới độc giả về vụ việc gây phản cảm trên, mới đây PV báo Điện tử Tầm Nhìn đã có buổi làm việc với ông Lê Ngọc Hà – Phó Chủ tịch UBND huyện Krông Búk – Đắk Lắk.
Trong buổi làm việc này ông Hà rất thẳng thắn, kiên quyết, không bao che về vụ việc… Hiện tại UBND huyện đang cập nhật hồ sơ về việc vi phạm của gia đình công chức xã Phạm Bá Minh. UBND huyện cũng đã thành lập đoàn 1920 do đồng chí Trần Thành (Phó phòng kinh tế hạ tầng - làm trường đoàn) gồm các thành viên của phòng tài nguyên môi trường, hạt kiểm lâm, trung tâm phát triển quỹ đất, các phòng liên quan, UBND xã Chư Kbô và UBND Cư Né tiến hành kiểm tra, xem xét mức độ vi phạm để có mức xử lý cho phù hợp, ông Hà cho biết.
Ngoài ra, Ông Hà cũng không ngần ngại chỉ trích và tỏ rõ quan điểm: "Trường hợp cán bộ địa chính Phạm Bá Minh đã có tai tiếng nhiều, vừa rồi UBND xã cũng đã đề xuất với UBND huyện phải luân chuyển, chuyển đổi, điều động đã giao cho phòng Nội vụ tham mưu. Đối với vi phạm này sẽ xử lý theo pháp luật. Quan điểm của UBND huyện sẽ xử lý kiên quyết đối tượng này".
Trước đó, báo Tầm Nhìn đưa tin, ngày 14/4/2015, UBND xã Chư KBô phát hiện tại thôn Kty 5, xã Chư Kbô, huyện Krông Búk (Đăk Lăk) hộ gia đình bà Trần Thị Nguyên(có chồng là ông Phạm Bá Minh - Công chức địa chính xã Cư Né, tiếp giáp với xã Chư Kbô) đang xây dựng công trình nhà cấp 4 mà không có giấy phép xây dựng, phần móng đã xây xong và đang xây phần tường gạch cao 2m.
Sau đó, UBND xã đã tiến hành lập biên bản vi phạm, xử phạt hành chính và ra quyết định đình chỉ thi công yêu cầu trong vong 3 ngày phải dỡ bỏ công trình vi phạm trả lại hiện trạng đất ban đầu, nếu không sẽ dùng biện pháp cưỡng chế.
Mặc dù đã có quyết định đình chỉ thi công  công trình vi phạm của UBND xã Chư Kbô, nhưng gia đình công chức địa chính xã này vẫn ngang nhiên, cố tình vi phạm tiếp tục xây dựng khiến nhiều người dân nơi đây và dư luận vô cùng bức xúc. (Tầm Nhìn 25/5) đầu trang(
Sau hơn 1 năm triển khai trồng cây xanh tạo cảnh quan tại Cửa khẩu Lao Bảo, Nhà nước đã giải ngân gần 5 tỉ đồng cho chủ đầu tư là Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị. Nhưng thay vì phải trồng hơn 15.000 cây như phê duyệt của dự án, đến thời điểm này mới chỉ có 4.000 cây xanh queo quắt được trồng.
Năm 2012, Bộ Quốc phòng quyết định phê duyệt dự án trồng rừng cảnh quan Cửa khẩu Lao Bảo (huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị) giai đoạn 2013-2020. Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị được giao làm chủ đầu tư. Ngoài trồng cây xanh cảnh quan, dự án còn triển khai trồng mới rừng phòng hộ vành đai biên giới, trồng dải cây xanh chỉ thị, xây dựng đường lâm nghiệp kết hợp đường tuần tra biên giới… với tổng mức đầu tư hơn 27 tỉ đồng.
Dự án trồng rừng cảnh quan được triển khai theo từng gói thầu và bố trí vốn hàng năm. Trong năm 2014, chủ đầu tư đã được giải ngân 4,8 tỉ đồng để trồng cây xanh ở khu vực Cửa khẩu thị trấn Lao Bảo, xã Tân Thành, xã Tân Long (triển khai đến năm 2016). Sau 1 năm triển khai, hiện chỉ có khoảng 4.000 cây lội, lộc vừng, lát hoa… được trồng ở một số tuyến đường thuộc thị trấn Lao Bảo.
Hai bên tuyến đường Lê Hồng Phong (thị trấn Lao Bảo) đã được đơn vị thi công đưa vào trồng cây xanh. Những cây được trồng có chiều cao khoảng 1 - 1,5m, đường kính gốc cây khoảng 2cm. Nhưng hiện tại, những cây được trồng không phát triển, nhiều cây chết dần. Những gia đình ở trên tuyến đường này nói rằng, đơn vị thi công trồng cây vào mùa khô, cây giống nhỏ, không thấy tưới tắm gì nên cây chết. Không riêng gì ở đường Lê Hồng Phong, hầu như tất cả các tuyến đường ở thị trấn Lao Bảo được trồng cây đều rơi vào tình trạng trên.
Ông Nguyễn Hữu Dũng - Chủ tịch thị trấn Lao Bảo - cho biết, dự án đã triển khai được 1 năm, tuy nhiên cây xanh được trồng trên địa bàn đến thời điểm này chưa đạt yêu cầu. “Dù chủ đầu tư chưa hoàn thành dự án, chưa bàn giao nhưng nhiều người dân đã có ý kiến, vì đa số chất lượng cây trồng chưa đạt”, ông Dũng nói.
Sau khi được giao làm chủ đầu tư dự án trồng rừng cảnh quan Cửa khẩu Lao Bảo, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị đã chọn Cty TNHH TM Thủy Tiên (trụ sở tại tỉnh Nghệ An) làm đơn vị thi công. Ở gói thầu trồng cây xanh cảnh quan ở Cửa khẩu Lao Bảo (4,8 tỉ đồng), ngoài thành lập một vườn ươm cây giống lâm nghiệp ra, phải đảm bảo trồng được 15.630 cây xanh và chăm sóc 1 năm. Các cây con khi đưa vào trồng, phải có bầu đạt tiêu chuẩn, đường kính gốc tối thiểu của cây là 4cm, chiều cao tối thiểu 2m.
“Nhưng hiện tại chỉ mới trồng được 4.000 cây. Khi trồng, cây con cũng không đúng các chỉ tiêu kỹ thuật như trên”, thượng tá Hoàng Văn Kế - Phó trưởng ban dự án trồng rừng cảnh quan Cửa khẩu Lao Bảo - thừa nhận. Theo thượng tá Kế, nguyên nhân dẫn đến chậm tiến độ triển khai trồng cây và chất lượng cây giống chưa được chuẩn bị tốt là do thiết kế dự toán của dự án được phê duyệt muộn. “Khi có vốn, Cty Thủy Tiên phải có thời gian để chuẩn bị cây giống. Đến khi tiến hành trồng cây thì đúng vào mùa khô, nắng - nên hiện nhiều cây chưa đạt yêu cầu”, thượng tá Kế, giải thích.
Ông Thái Bá Cường - Giám đốc Cty TNHH TM Thủy Tiên - phân bua rằng, do các điều kiện khách quan nên việc triển khai trồng cây xanh cảnh quan bị chậm tiến độ. “Chủ yếu là do thời tiết khắc nghiệt và vướng quy hoạch. Chúng tôi đã trồng và chăm sóc nhưng cây chết, kém phát triển. Trong năm nay, sẽ khắc phục những cây chết và trồng mới ở các tuyến đường được phê duyệt trong dự án”.
Khi chúng tôi đề cập đến số tiền đã giải ngân 4,8 tỉ đồng của Nhà nước và việc thanh toán khối lượng hoàn thành, cả thượng tá Kế và ông Cường đều khẳng định rằng, số tiền trên chủ yếu tập trung vào 2 vườn ươm cây giống. Tuy nhiên, vườn ươm ở Đồn Biên phòng 613 (xã Thuận, huyện Hướng Hóa) của Cty Thủy Tiên chỉ có từ 3.000 - 5.000 cây lộc vừng, lội, lát hoa (chiều cao khoảng 1,5 - 2m, đường kính gốc 2 - 4cm) và một nhà ươm cây bời lời có bầu. Còn một vườn ươm khác đủ chủng loại cây nằm trên QL9 là của một doanh nghiệp tư nhân chứ không phải của Cty Thủy Tiên.
Như vậy, việc chủ đầu tư và đơn vị thi công nói rằng gần 5 tỉ đồng được giải ngân chủ yếu tập trung vào vườn ươm cây, liệu có thuyết phục? Bên cạnh đó, dự án triển khai đã hơn 1 năm, nhưng chỉ mới trồng được 4.000 cây sống dở chết dở, thay vì phải là 15.630 cây, thì liệu đơn vị thi công có đủ năng lực? (Lao Động 24/5) đầu trang(
Mặc dù tỉnh Quảng Ngãi chưa thu hồi, giao đất để thực hiện dự án; báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án chưa được phê duyệt nhưng chủ đầu tư dự án thủy điện Sơn Trà 1 đã đề nghị triển khai thiết kế, tận thu lâm sản.
Dự án thủy điện Sơn Trà 1 do Công ty CP 30-4 Quảng Ngãi làm chủ đầu tư, được UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư vào tháng 6.2010. Dự án có tổng vốn đầu tư khoảng 1.900 tỉ đồng, tổng công suất 60 MW/năm, đặt tại xã Sơn Kỳ, huyện Sơn Hà, Quảng Ngãi.
Ngày 22.4.2015, Công ty CP 30-4 Quảng Ngãi có công văn xin chủ trương UBND tỉnh Quảng Ngãi cho phép triển khai công tác thiết kế, tận thu lâm sản đối với diện tích rừng thu hồi của dự án thủy điện Sơn Trà 1.
Giám đốc Sở NN - PTNT tỉnh Quảng Ngãi cũng có công văn số 994 ngày 7.5.2015 đề nghị lên UBND tỉnh.
Trước việc này, ông Lê Viết Chữ, chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi, đã có ý kiến rằng: “Hiện nay, dự án thủy điện Sơn Trà 1 chưa được cơ quan có thẩm quyền thỏa thuận, phê duyệt; chưa phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường và UBND tỉnh chưa thu hồi, giao đất để thực hiện dự án.
Do đó, chưa có cơ sở để UBND tỉnh xem xét việc cho chủ trương lập thiết kế phương án tận dụng lâm sản trên diện tích rừng chuyển đổi mục đích sử dụng để thực hiện dự án thủy điện Sơn Trà 1”.
Ông Lê Viết Chữ yêu cầu các Sở NN - PTNT, Sở TN-MT hướng dẫn chủ đầu tư hoàn tất các thủ tục có liên quan theo quy định trước khi trình xin chủ trương trên.
Dự án thủy điện Sơn Trà 1 nằm trên sông Xà Lò, thuộc khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn Thạch Nham, chiếm dụng khoảng 37 ha rừng phòng hộ (theo như báo cáo ban đầu của chủ đầu tư) thuộc địa bàn 2 xã Sơn Kỳ, huyện Sơn Hà và xã Sơn Lập, huyện Sơn Tây. (Một Thế Giới 23/5) đầu trang(
Theo Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Bát Xát (Lào Cai), đến nay, huyện đã chuẩn bị đủ cây giống cho kế hoạch trồng rừng năm 2015. Các vườn ươm đã chuẩn bị gần 2,5 triệu giống cây lâm nghiệp như sơn tra, xoan, mỡ, thông mã vĩ...
Cây giống tại các vườn ươm đang sinh trưởng, phát triển tốt. Đến nay, huyện Bát Xát trồng mới được 55 ha rừng, trong đó rừng phòng hộ 21 ha, rừng sản xuất 34 ha, tập trung chủ yếu tại các xã vùng cao. Huyện Bát Xát đang tập trung cho công tác khảo sát, lập kế hoạch chi tiết trên thực địa và sẽ hoàn thành công tác này trong tháng 6 tới. Theo kế hoạch, năm 2015, huyện Bát Xát trồng 100 ha rừng phòng hộ và 1.000 ha rừng sản xuất. (Nhân Dân 24/5) đầu trang(
Tỉnh Phú Yên có gần 67 nghìn ha rừng trồng, tập trung chủ yếu ở ba huyện miền núi Ðồng Xuân, Sơn Hòa và Sông Hinh. So với những năm trước, năm nay, giá gỗ rừng trồng tăng cao. Thực tế qua khai thác, mỗi ha rừng trồng thu lãi từ 50 đến 70 triệu đồng. Trồng rừng đã thật sự đem lại nguồn thu nhập chính cho người dân miền núi.
Xã vùng cao Sơn Ðịnh (huyện Sơn Hòa) nằm ở độ cao hơn 400 m so với mặt nước biển. Dù đang là ngày hè nắng nóng, nhưng ở đây, không khí vẫn mát mẻ, bởi xanh thẳm trùng điệp núi rừng, bạt ngàn sắn, mía, cao-su, cà-phê... Hai bên đường, nhà cửa san sát, khu dân cư sầm uất. Nói đến chuyện làm ăn ở vùng đất này, ai cũng khẳng định chỉ có trồng rừng là giàu nhanh và bền vững nhất.
Cơ ngơi của anh em ông Lê Ðức Hán và Lê Ðức Huệ (thôn Hòa Bình, xã Sơn Ðịnh) nằm ngay cạnh đường ÐT 643, là những ngôi biệt thự sang trọng, mới xây, trang thiết bị hiện đại. Mở đầu câu chuyện làm ăn, ông Huệ chỉ tay về cánh rừng phía núi sau nhà. Ở đó, hơn 20 ha rừng keo bảy, tám năm tuổi có giá hàng chục tỷ đồng. Ðưa chúng tôi đi dạo trong vườn cao-su xanh tốt ngay sau nhà, ông Huệ tâm sự, hai anh em ông quê tận Hoằng Hóa, Thanh Hóa, vào xã Sơn Ðịnh lập nghiệp.
Với đồng vốn ít ỏi ban đầu, ông Huệ trồng vài sào mía, sắn, nuôi bò. Nhờ siêng năng, chịu khó, nguồn thu năm sau cao hơn năm trước, lại đầu tư vào mua đất, trồng rừng, trồng cây cao-su. Ðến nay, ông Huệ có hơn 10 ha cao-su đang cho thu hoạch, hàng chục ha rừng trồng và các loại cây ngắn ngày như sắn, mía... Giờ, mỗi năm gia đình ông thu nhập từ 500 đến 800 triệu đồng...
Chàng thanh niên Lê Hoài Phong ở thôn Phước Nhuận, xã Xuân Quang 3, huyện Ðồng Xuân, sinh ra trong gia đình nghèo khó, đông con nên nghỉ học sớm. Với quyết tâm làm giàu, vợ chồng Phong rời quê đến vùng 13 An Nghiệp khai hoang, lập trang trại trồng rừng. Sau hơn 15 năm, anh đã biến 50 ha đất bạc màu thành rừng xanh. Dưới tán rừng, gia đình anh chăn nuôi đàn bò hàng chục con. Toàn bộ diện tích rừng của anh Phong đã cho khai thác, mỗi năm thu nhập hàng trăm triệu đồng.
Anh Phong tâm sự, mới đầu ít vốn, thiếu kinh nghiệm, gia đình anh trồng nhiều loại cây khác nhau, như xà cừ, bạch đàn, keo lai nên rừng phát triển không đều, hiệu quả thấp. Cách đây ba năm, sau khi thu hoạch, anh chỉ đầu tư trồng keo, nay đã khép tán rất đẹp. Nhiều doanh nghiệp đến hỏi mua với giá cao. Từ nguồn thu nhập khai thác rừng hằng năm, anh xây nhà, mua xe và bảo đảm việc học hành của các con.
Ở thôn Quảng Mỹ, xã Hòa Mỹ Tây, huyện Tây Hòa, có anh Trần Văn Ðiện, mới tuổi 33 đã gây dựng sở hữu 100 ha rừng, với các loại cây trồng, khiến nhiều người khâm phục. Anh Ðiện tâm sự: Có người trả giá mua toàn bộ diện tích rừng hơn năm tỷ đồng, nhưng tôi không bán. Hơn chục năm gắn bó rừng, bán tiếc lắm. Ðất sẽ không phụ công người, nếu mình biết yêu rừng. Bà con miền núi chúng tôi quyết bám rừng, làm giàu từ nghề cực khổ này.
Theo Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Phú Yên, trong gần 67 nghìn ha rừng trồng, đến nay toàn tỉnh có hơn 61 nghìn ha rừng khép tán từ ba năm tuổi trở lên. Nhiều nhất là huyện Ðồng Xuân, diện tích rừng trồng đã phát triển lên 13 nghìn ha. Phần lớn diện tích rừng trồng do các đơn vị doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh thực hiện. Với hai hình thức, khi đến thuê đất, các doanh nghiệp thuê lại nhân công tại chỗ từ các khâu trồng, đến chăm sóc rừng; liên kết người dân có đất để cấp giống, vật tư và bao tiêu nguyên liệu trên cơ sở thỏa thuận.
Hiện nay, hằng năm, Phú Yên có sản lượng rừng trồng khai thác hơn 25 nghìn m3 gỗ. Riêng từ đầu năm 2015 đến nay, đã khai thác hơn 3.000 m3. Nếu như năm 2014, giá gỗ rừng cao nhất là 1,1 triệu đồng/tấn, thì hiện nay, hơn 1,3 triệu đồng/tấn. Người trồng rừng thu lãi 50 đến 70 triệu đồng/ha, tùy chất lượng rừng. Ông Nguyễn Văn Hùng ở xã Sơn Hội, huyện Sơn Hòa trồng được ba ha keo, năng suất hơn 200 tấn, lãi hơn 100 triệu đồng. "Nhờ thu nhập từ rừng kết hợp trồng mía, kinh tế gia đình ngày càng khấm khá. Mùa mưa tới, tôi tiếp tục trồng lại, hy vọng vài năm sau, rừng cho thu nhập cao" - ông Hùng phấn khởi nói.
Theo các nhà máy chế biến dăm gỗ xuất khẩu, giá gỗ rừng trồng tăng cao do nhu cầu xuất khẩu dăm gỗ tăng. Trong khi đó, ở khu vực miền trung, có nhiều nhà máy chế biến dăm gỗ xuất khẩu, cho nên việc cạnh tranh thu mua nguyên liệu cũng đẩy giá gỗ rừng tăng. Tại tỉnh Phú Yên, để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ gỗ rừng trồng, giảm chi phí vận chuyển đi các tỉnh lân cận, tỉnh đang tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xây dựng nhà máy chế biến lâm sản, trong đó, có nhà máy của Công ty TNHH Bình Nam sẽ đi vào hoạt động trong tháng 10 tới. Ðây là điều kiện thuận lợi, kích thích người dân trồng, chăm sóc rừng, tạo việc làm ổn định cho hàng nghìn lao động.
Trồng rừng đã thật sự đem lại hiệu quả kinh tế cao. Năm 2014, toàn tỉnh trồng mới hơn 4.800 ha rừng tập trung. Tuy nhiên, thời gian qua, các vườn ươm cây giống trong tỉnh chưa đáp ứng nhu cầu trồng rừng của các tổ chức, cá nhân.
Theo TS Nguyễn Trọng Tùng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Yên, đã có quy hoạch hệ thống rừng giống, vườn giống, vườn ươm giống cây trồng lâm nghiệp tại Phú Yên đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 với tổng kinh phí đầu tư hơn 37 tỷ đồng.
Theo đó, tỉnh phấn đấu đến năm 2020 cung cấp 80% giống từ nguồn giống được công nhận. Trước mắt, đến năm 2016, tỉnh chủ động cung cấp 60% cây giống từ nguồn giống được công nhận. Ðến năm 2020, cơ bản bảo đảm đủ số cán bộ, nhân viên hoạt động trong lĩnh vực giống cây trồng lâm nghiệp. Ngoài ra, tỉnh sẽ hình thành mạng lưới sản xuất và cung ứng giống theo hướng xã hội hóa nghề giống cây lâm nghiệp với nhiều thành phần kinh tế; 100% các nguồn giống, cơ sở sản xuất, kinh doanh giống được kiểm soát chất lượng giống theo thủ tục giám sát chuỗi hành trình giống đối với toàn bộ các loài cây trồng chính.
Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Phú Yên Huỳnh Xuân Quang cho biết, theo định hướng phát triển hệ thống rừng giống, vườn giống, vườn ươm giống cây trồng lâm nghiệp, sẽ chọn lọc các loài cây trồng phù hợp với mục đích trồng rừng, sớm cho thu hoạch, có giá trị và hiệu quả kinh tế cao, tiềm năng thị trường lớn...(Nhân Dân 24/5) đầu trang(
Thời điểm này, tranh thủ thời tiết mưa nhiều, độ ẩm cao nên người dân huyện Pác Nặm đã bắt đầu triển khai công tác trồng rừng năm 2015.
Năm nay, diện tích đăng ký trồng rừng trên địa bàn huyện Pác Nặm đạt trên 400ha, trong đó hơn 330ha trồng rừng tập trung, gần 90ha trồng rừng phân tán. Theo báo cáo của Ban quản lý Dự án trồng rừng 147 của huyện, đến thời điểm này, tiến độ xử lý thực bì mới đạt 75% diện tích đăng ký, diện tích rừng đã trồng mới chỉ được trên 4ha, tập trung ở khu vực xã Bộc Bố.
Nguyên nhân chủ yếu là do người dân chưa mặn mà với công tác trồng rừng. Huyện Pác Nặm đang tích cực phối hợp với chính quyền các xã tập trung tuyên truyền để người dân xử lý xong thực bì, tranh thủ trời mưa đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, phấn đấu hoàn thành trồng rừng trước 30/6. (Đài PTTH Bắc Cạn 22/5) đầu trang(
Sau 10 năm triển khai, Dự án phát triển ngành lâm nghiệp Bình Định (gọi tắt là DA trồng rừng WB3) đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần phủ xanh đất trống, đồi trọc; tạo việc làm và thu nhập đáng kể cho người dân địa phương.
Qua 10 năm thực hiện DA trồng rừng WB3, Bình Định đã có 10.507 hộ nông dân ở các huyện Phù Mỹ, Phù Cát, Tây Sơn, Vân Canh, Tuy Phước, Hoài Ân, thị xã An Nhơn và TP.Quy Nhơn tham gia trồng hơn 18.300ha rừng kinh tế với tổng số vốn đã giải ngân cho vay trên 160,3 tỷ đồng; 1ha rừng trồng người dân được vay từ 15 - 20 triệu đồng.
Ông Ngô Văn Tĩnh, Phó giám đốc Ban quản lý (BQL) DA trồng rừng WB3 Bình Định, đánh giá: Ở hầu hết các địa phương tham gia DA, nông dân trồng rừng mang lại hiệu quả cao, cây rừng phát triển tốt, góp phần nâng cao độ che phủ rừng, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập. Tại một số địa phương có diện tích rừng trồng các năm đầu, đến nay người dân đã bắt đầu thu hoạch với năng suất rừng trồng đạt 90-120 tấn/ha; thu nhập từ 100-120 triệu đồng/ha, trừ chi phí, lãi 60-80 triệu đồng/ha.
Điều đáng ghi nhận là, các hộ gia đình tham gia được BQL DA hỗ trợ kịp thời về kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng, Ngân hàng Chính sách xã hội tạo điều kiện giải ngân nhanh nguồn vốn vay, giúp bà con yên tâm trồng và chăm sóc rừng. Nhờ đó, đa số diện tích rừng trồng được áp dụng đúng quy trình trồng rừng thâm canh, hằng năm được chăm sóc theo đúng chu kỳ, nên hầu hết đều sinh trưởng, phát triển tốt. Bên cạnh đó, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho hộ gia đình và tổ chức tham gia DA được chính quyền các địa phương quan tâm thực hiện kịp thời, tạo sự phấn khởi và an tâm trong việc đầu tư thâm canh trồng rừng.
Ngoài ra, được sự hỗ trợ của BQL DA, công tác quản lý, bảo vệ rừng trồng được thực hiện thường xuyên, các hộ gia đình đã hợp tác tăng cường công tác tuần tra, bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng…, nên rừng của DA phát triển khá tốt. Diện tích đất trống đồi trọc, diện tích đất rừng kém hiệu quả trước đây đã được bà con  chuyển đổi đưa vào trồng rừng.
Nhờ thực hiện DA trồng rừng WB3, những năm gần đây, ở nhiều địa phương trong tỉnh Bình Định xuất hiện khá nhiều nông dân sản xuất giỏi, thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm.
Ông Cù Văn Mẫn, một hộ trồng rừng ở thôn Bình An 1, xã Phước Thành (huyện Tuy Phước), cho biết: “Gia đình tôi tham gia DA trồng rừng WB3 ngay từ những năm đầu tiên. Hiện, tôi đã phát triển được gần 20ha rừng trồng trên địa bàn xã Phước Thành và các địa phương lân cận. Mỗi năm tôi khai thác 4-6ha rừng keo lai, bạch đàn cấy mô với năng suất từ 100-120 tấn/ha, tổng doanh thu gần 600 triệu đồng, trừ chi phí, lãi trên 400 triệu đồng”.
Theo ông Trương Văn Nguyên, cán bộ khuyến lâm xã Phước Thành, hiện toàn xã có gần 400 hộ tham gia trồng 580ha rừng theo DA WB3. Người dân trồng rừng chủ yếu bằng các giống keo lai, bạch đàn lai, trong đó có gần 300ha rừng trồng từ năm 2006 - 2009 đã đến chu kỳ khai thác. Được vay vốn từ 15 - 20 triệu đồng/ha, được tập huấn kỹ thuật trồng, bà con chăm sóc chu đáo nên tỷ lệ cây sống cao, đạt trên 95%, cây rừng phát triển xanh tốt, năng suất khá, trên 100 tấn/ha, bình quân thu nhập khoảng 100 triệu đồng/ha.
Tại Phù Cát, sau 10 năm triển khai thực hiện DA WB3, toàn huyện có 2.809 hộ ở 9 xã tham gia trồng 4.171ha rừng. Huyện đã cấp GCNQSDĐ cho 2.450 hộ với diện tích 3.638ha. Thời điểm này, toàn huyện có gần 1.000ha rừng trồng cho thu hoạch với năng suất gỗ bình quân từ 80 - 120 tấn/ha.
Ông Trần Văn Mỹ, hộ tham gia trồng rừng WB3 tại xã Cát Hiệp, cho biết: “Trước đây, gia đình tôi gặp nhiều khó khăn do nguồn thu nhập chủ yếu chỉ dựa vào mấy sào ruộng khoán. Từ khi tham gia DA trồng rừng WB3, với diện tích 6ha, cứ sau mỗi chu kỳ 4-5 năm, gia đình có thu nhập trên 400 triệu đồng. Nhờ vậy, cuộc sống ngày càng ổn định và khấm khá”.
Ông Ngô Văn Tĩnh khẳng định: Không những mang lại hiệu quả kinh tế cao, DA trồng rừng WB3 còn góp phần phủ xanh đất trống đồi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế rửa trôi, xói mòn đất, điều hòa nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp, hạn chế tình trạng ao hồ cạn kiệt trong mùa khô hạn…(Kinh Tế Nông Thôn 22/5) đầu trang(
Năm 2012, tỉnh Điện Biên trồng được gần 160 ha rừng phòng hộ, đến năm 2013, diện tích trồng mới giảm xuống còn 115 ha và 2014 là 101 ha, chỉ đạt trung bình 39% kế hoạch.  Với cơ chế chính sách hiện nay, các Ban quản lý rừng phòng hộ, các địa phương và ngành nông nghiệp “kêu than” là không thể trồng nổi rừng nếu không có sự thay đổi. Hai nguyên nhân chủ yếu mà tỉnh Điện Biên nêu ra là thiếu đất và suất đầu tư trồng rừng phòng hộ quá thấp. Cụ thể là đất quy hoạch để trồng rừng, hiện đã giao cho các hộ dân, nên việc thu hồi để giao cho các Ban quản lý rừng phòng hộ trồng rừng phải bồi thường số tiền rất lớn theo quy định Luật đất đai.
Diện tích quy hoạch để trồng rừng đang chồng lấn vào diện tích đã đầu tư trồng rừng từ vài chục năm trước, nhưng còn dang dở. Mặt khác, theo Quyết định số 60/2010 của Chính phủ quy định suất đầu tư tối đa cho trồng rừng trên mỗi héc ta rừng trong 4 năm chỉ có 15 triệu đồng là quá thấp, không đơn vị nào có thể thực hiện được.
Các Ban quản lý rừng phòng hộ tỉnh Điện Biên như Ban quản lý huyện Mường Chà, Điện Biên và Tuần Giáo, dù đã được thành lập từ nhiều năm nay, nhưng chưa hề được giao đất để trồng rừng.
Ông Trần Văn Thại, Trưởng ban quản lý rừng phòng hộ Mường Chà cho biết, năm 2015, đơn vị đã tổ chức đi khảo sát thiết kế tại 5 xã trên địa bàn mà chưa thể sắp xếp được đất trồng rừng. Tại xã Sa Lông có 40 đơn xin trồng rừng, nhưng không thể thiết kế dự án trồng rừng vào đây được vì diện tích này chồng lấn vào các dự án trồng rừng của Chương trình 327, 661 từ nhiều năm qua, nhưng trên thực tế vẫn là đất trống.
Về vấn đề định mức suất đầu tư, với 15 triệu đồng đầu tư cho 1 ha rừng trồng mới trong 4 năm, từ khâu thiết kế dự án, trồng, chăm sóc… cho tới quyết toán thì phải nói là "dân hỗ trợ nhà nước chứ không phải nhà nước hỗ trợ dân" vì tính ra, mỗi công lao động trồng rừng chỉ được trả từ 40.000 - 60.000 đồng trong điều kiện địa hình hiểm trở, đi lại rất xa và khó khăn. Trong khi đó, giá nhân công lao động bên ngoài cao hơn rất nhiều.
Vấn đề ông Trần Văn Thại nhắc đến hiện đang là một bài toán khó giải của tỉnh Điện Biên. Bởi lẽ các dự án trồng rừng 327, 661 triển khai trên địa bàn tỉnh đã trên 20 năm, với diện tích thống kê “trên giấy” hàng trăm héc ta rừng. Tuy nhiên, hầu hết những dự án này chưa được nghiệm thu - quyết toán; hồ sơ - chứng từ qua thời gian thất lạc khác nhiều; diện tích thực tế hiện nay lại không có rừng vì nhiều lý do khác nhau… nên không thể nghiệm thu để quyết toán.
Bởi vậy, trên cùng một diện tích, không thể đầu tư 2 lần vì lần đầu còn chưa nghiệm thu - quyết toán xong. Nên mới xảy ra nghịch lý là diện tích đất thực tế không hề có rừng, nhưng lại không thể trồng rừng mới bởi trên hồ sơ của cơ quan quản lý thì đó là rừng phòng hộ, là dự án đang đầu tư và chưa được nghiệm thu - quyết toán…
Còn tại địa bàn huyện Điện Biên, lại đang xảy ra một thực trạng khác. Ông Hà Lương Hồng, Trưởng ban quản lý dự án rừng phòng hộ Điện Biên cho biết, từ tháng 10/2014, đơn vị đã làm các thủ tục để đầu tư trồng mới 100 ha rừng. Nhưng đến khi bắt đầu tổ chức phát dọn để trồng, nhân dân ở đó lại không đồng ý, vì sợ nếu trồng rừng phòng hộ, người dân sẽ không còn đất để làm nương.
Đáng chú ý là những bản phản đối quyết liệt nhất, lại là nơi có gia đình của lãnh đạo xã như xã Mường Pồn, Hẹ Muông… Câu hỏi đặt ra là có phải các lãnh đạo xã này, do có chút am hiểu về chính sách đất đai, nên tuyên truyền vận động “ngược” không ?
Mặt khác, các dự án trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng chỉ có thời hạn trong 5 năm. Sau đó không tiếp tục đầu tư quản lý, bảo vệ nữa, người dân địa phương sẽ coi như “đất vô chủ”, lại vô tư phá đi để làm nương luân canh, nên kết quả đầu tư không hề hiệu quả…
Bên cạnh đó, vấn đề chi trả dịch vụ môi trường rừng ở tỉnh Điện Biên hiện cũng đang gặp phải trở ngại. Bởi lẽ tuy các địa phương đã phê duyệt và quy chủ rừng nhưng ngành kiểm lâm lại chưa hoàn thành việc thẩm định, thống kê diện tích trên thực tế hoặc đã làm nhưng kết quả không khớp với hồ sơ đã phê duyệt, khiến Quỹ chi trả dịch vụ môi trường rừng không thể giải ngân trên diện tích này.
Nguyên nhân này đã khiến cho tỉnh Điện Biên vẫn còn tồn đọng tới khoảng 200 tỷ đồng chưa trả cho tổ chức và cá nhân được giao quản lý bảo vệ rừng. Mặt khác, mức chi trả quá thấp đang “làm khó” cho chính quyền địa phương. Điển hình như ở huyện Mường Ảng chưa hề thực hiện việc chi trả khoản kinh phí này, bởi với mức 6.000 đồng cho mỗi héc ta rừng, nếu chi trả sẽ gây kết quả ngược cho tâm lý người dân được giao rừng.
Tại cuộc họp bàn về các giải pháp nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong việc tổ chức nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của UBND tỉnh Điện Biên mới đây, đã có khá nhiều ý kiến tham gia gỡ rối cho tình trạng này của tỉnh.
Điển hình trong đó là giải pháp của ông Bùi Châu Tuấn, Giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường khi đặt vấn đề quy hoạch một số dự án lớn trong trồng rừng thay thế, thay vì hàng trăm dự án nhỏ để khỏi mất nhiều thời gian làm thủ tục hồ sơ; hay giao cho chính chủ rừng trồng ngay trên diện tích đất trống nằm xen kẽ giữa các diện tích rừng phòng hộ đã được giao để khỏi phải làm thủ tục thu hồi và đầu tư mới…
Ông Lò Văn Tiến, Phó chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên chỉ đạo, cho dù có những vướng mắc vì quy định trong các cơ chế chính sách, song việc kiến nghị vẫn tiếp tục kiến nghị, việc thực hiện vẫn phải kiên quyết thực hiện.
Các cơ quan chuyên môn và địa phương cần tập trung quyết toán tất cả các dự án còn tồn đọng của Chương trình 327 và 661; khẩn trương hoàn thành việc ban hành quyết định giao rừng trước ngày 30/6 để chi trả kinh phí dịch vụ môi trường rừng; cố gắng hoàn thành thủ tục hỗ trợ 2 nhà máy chế biến gỗ trên địa bàn đi vào hoạt động theo đúng quy định của nhà nước, để khuyến khích người dân tham gia trồng rừng kinh tế; đồng thời khẩn trương tiến hành thủ tục giao đất cho các Ban quản lý rừng phòng hộ trên địa bàn…
Tỉnh Điện Biên sẽ nghiên cứu việc thí điểm thu hồi đất dọc tuyến Quốc lộ 279, đoạn từ Nà Nhạn về thành phố Điện Biên Phủ để trồng rừng. (Tin Tức 23/5) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Thủ đô Brussels của Bỉ được du khách mệnh danh là ''rừng trong thành phố,'' chính quyền và người dân nơi đây rất có ý thức gìn giữ ''lá phổi xanh'' của mình.
Đến thủ đô Brussels, trái tim của châu Âu, du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng vì màu xanh của cây cối. Thành phố có hơn 8.000ha không gian xanh với rất nhiều công viên, rừng cây.
Ngay cả khu nghĩa trang và sân thể thao cũng là những không gian xanh mát rượi của cây cối.
Lá phổi xanh của Brussels chính là rừng Soignes. Đây là khu rừng ngoại vi lớn nhất châu Âu với diện tích lên đến 5.000ha, trong đó 1/5 diện tích thuộc vùng thủ đô.
Rừng Soignes được nối liền với khu rừng Cambres tạo thành một quần thể rừng rộng lớn. Nếu đi dạo dưới những tán cây của khu rừng Cambres, sau đó sang rừng Soignes, ta sẽ đi ngược về phía Nam thành phố với chiều dài là 14km.
Đặc điểm của khu rừng Soignes là gần 80% cây cối, chủ yếu là sồi, đều do tự trồng hoặc tái sinh tự nhiên, trong đó, nhiều cây sồi cao nằm tại khu vực nhà thờ trong rừng và được đặt tên ''rừng sồi nhà thờ.''
Rừng Soignes là khu rừng duy nhất tại vùng nói tiếng Pháp của Bỉ cho phép được khai thác gỗ với giấy chứng nhận FSC (Hội đồng quản lý rừng). Đây là một chứng nhận về môi trường nhằm đảm bảo việc lấy gỗ hoặc sản phẩm từ gỗ tuân thủ các quy trình đảm bảo quản lý bền vững rừng.
FSC, được công nhận trên toàn thế giới và xuất hiện cách đây 20 năm, là một đảm bảo cho sự phát triển bền vững của rừng.
Trong khoảng 100 khu vực có rừng ở thủ đô Brussels, việc chặt cây hoàn toàn bị nghiêm cấm.
Theo ông Stéphane Vanwijnsberghe, phụ trách chương trình ''Thiên nhiên và rừng'' thuộc Cơ quan Môi trường Brussels, có rất nhiều loại cây mọc tự nhiên và được bảo tồn nhằm duy trì sự đa dạng vì rừng ở Bỉ chủ yếu là gỗ sồi. Bằng cách này, cây cối được phát triển tự nhiên và sẽ tái sinh sau đó.
Hàng năm, Sở Môi trường đều lên danh sách các cây hỏng cần chặt bỏ và thay thế bằng các cây được trồng mới.
Sau khi chặt bỏ, thân cây để trên mặt đất để gỗ phân hủy tự nhiên làm giàu dinh dưỡng cho đất cũng như cải thiện "sức khỏe" của khu rừng (đây là quy định của FSC), còn cành cây sau khi chặt bỏ thì được xay nhỏ tại chỗ và rắc vào các gốc cây để làm phân bón.
Chính sách bảo vệ thiên nhiên rừng Soignes nhằm giúp bảo vệ khu rừng khỏi sự xâm phạm của con người cũng như giúp phát triển tính đa dạng sinh học của khu rừng.
Hiện nay, 15% gỗ được bán tại Bỉ đều có chứng nhận FSC. Chứng nhận này ngày càng được phổ biến với người tiêu dùng.
Hầu như toàn bộ khu rừng Soignes đều được chứng nhận FSC. Về trung hạn, Sở Môi trường muốn mở rộng chứng nhận FSC sang các khu rừng khác của Bỉ.
Khu rừng Soignes cũng nằm trong danh sách 33 khu rừng sồi thuộc 12 quốc gia được đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận là di sản thiên nhiên của nhân loại.
Vào tháng 10 tới, ba vùng của Bỉ (vùng nói tiếng Pháp, tiếng Hà Lan và tiếng Đức) sẽ gửi đề nghị lên UNESCO.
Bỉ sẽ hoàn thiện hồ sơ vào cuối tháng 1/2016. UNESCO sẽ chọn lựa và công bố kết quả vào đầu năm 2017. UNESCO mong muốn mở rộng mạng lưới các khu rừng sồi nguyên sinh ở châu Âu sau khi đã công nhận một số khu rừng tại Romania và Đức. (Vietnam+ 24/5) đầu trang(
Việc khai thác gỗ và phá rừng đang đe dọa cuộc sống của người dân nhiều bộ lạc bản địa tại Malaysia. Hơn nữa, nạn phá rừng còn được cho là nguyên nhân chính dẫn tới trận lũ lụt tệ hại nhất trong nhiều thập kỷ vào năm 2014 ở nước này.
Ở những vùng rừng nhiệt đới hẻo lánh của bang Kelantan, miền Đông Malaysia, nạn phá rừng quy mô lớn và các trận lũ lụt nghiêm trọng đã đẩy người dân bản địa vào cảnh sống khó khăn. Các công ty khai thác gỗ đã xuất hiện từ lâu ở những khu rừng nhiệt đới rộng lớn trong khu vực, tuy nhiên tốc độ phá rừng đã tăng lên trong thập kỷ vừa qua khi nhiều công ty tư nhân bắt đầu phát quang những cánh rừng.
Tại làng Kuala Wok ở bang Kelantan, người Temiar rất tôn trọng môi trường, cho rằng việc người khác tới phá rừng là đe dọa cuộc sống của họ. Theo Ussain Bin Anjang, dân làng Kuala Wok, phá rừng đang gây khó cho việc duy trì lối sống truyền thống của các cộng đồng bản địa. “Họ đốn gỗ gần nguồn nước, vì vậy vào mùa khô nước sông cạn hết. Bây giờ còn ít nước hơn trước và nước thì bị ô nhiễm làm người dân nhiễm bệnh. Chúng tôi không thể săn bắt, và rất khó để tìm được lá thuốc hay thức ăn trong rừng”.
Từ một vị trí thuận lợi trên các ngọn núi, có thể quan sát thấy tốc độ phá rừng đang gia tăng với các ngọn đồi trọc trải dài theo tầm mắt. Theo một nghiên cứu có sử dụng dữ liệu Google Maps năm 2012 của Đại học Maryland, Malaysia là một trong những nước có tốc độ phá rừng nhanh nhất thế giới. Hầu hết các vùng đất bị phát quang để dành chỗ trồng cọ và cao su, vốn có vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế của nước này.
Mặc dù người dân ở Kuala Wok được các nhà thầu địa phương cam kết trao 3.000 héc ta đất sau khi phá rừng, nhưng không có hợp đồng chính thức nào được ký và toàn bộ khu vực xung quanh các ngôi làng đã bị phát quang. Một nghiên cứu tương tự của Đại học Maryland ước tính trong khoảng thời gian từ năm 2001 - 2012, bang Kelantan đã mất đi 15% diện tích rừng tự nhiên.
Dendi, thủ lĩnh thanh niên bộ lạc bản địa Temiar cho biết việc cưa gỗ và cây đã phá hủy nhiều khu vực có giá trị tâm linh quan trọng, cũng như nhiều ngôi mộ. “Khi các cánh rừng không còn nữa, làm sao mà lũ trẻ hiểu được những câu chuyện thời xa xưa? Chúng sẽ không biết cách tìm thức ăn, nước uống trong rừng và làm sao để đi săn vào năm sau hay năm sau nữa khi mà mọi thứ đều bị phá hủy”, anh nói.
Nhiều nhà hoạt động môi trường và các nhà khoa học tin rằng việc phá rừng là yếu tố góp phần dẫn tới lũ lụt trên diện rộng trong khu vực hồi tháng 12 năm ngoái, cướp đi sinh mạng của 23 người và buộc 200.000 người khác phải rời bỏ nhà cửa.
“Nếu bạn không tôn trọng rừng già, thì đó (lũ lụt) là điều sẽ xảy ra”, Dendi nói.
Chính phủ Malaysia đã cam kết chi hàng triệu USD để sửa chữa cơ sở hạ tầng, nhà ở và viện trợ cho các khu vực chịu ảnh hưởng của lũ lụt. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện việc này diễn ra khá chậm khi nhiều tháng đã trôi qua kể từ trận lũ, khu vực Gua Musang - nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất - chưa được tu sửa.
Nhiều hộ gia đình mất nhà cửa trong trận lũ ngồi bên nhau ngoài đường lớn, hay dựng những trại tạm bằng tre. Họ không biết khi nào thì nhà mình sẽ được xây dựng, sửa chữa lại.
Thực tế là nhiều người dân bộ lạc bản địa không có văn bản sở hữu đất chính thức khiến họ gặp trở ngại khi muốn nhận bồi thường hay hỗ trợ về tài chính để xây dựng lại nhà cửa. Ông Mohamed Thajudeen bin Abdul Wahab, Thư ký Hội đồng an ninh quốc gia, giải thích rằng Chính phủ Malaysia không cho xây dựng lại những ngôi nhà dọc bờ sông do nguy cơ lũ lụt trong tương lai, và khẳng định việc xây dựng lại 400 ngôi nhà bị hư hỏng do lũ đang diễn ra, dự kiến sẽ hoàn thành vào tháng 6 tới. (Tin Tức 22/5)đầu trang( ./.
Biên tập: Hương Giang