Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 24 tháng 07 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Ngày 12.7, UBND huyện Quang Bình phối hợp với UBND xã Tân Nam, tổ chức Hội nghị Sơ kết 3 năm thực hiện chương trình trồng cây Thảo quả dưới tán lá rừng (từ năm 2013 đến 2015). Hội Nghị do Đồng chí Phùng Viết Vinh - Phó Chủ tịch UBND huyện chủ trì.
Đến dự chỉ đạo Hội nghị có Đồng chí Triệu Tài Phong - Bí thư Huyện ủy, lãnh đạo các ban, ngành: UBMT Tổ quốc huyện, Hội LHPN, Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh huyện, Lãnh đạo các xã Tiên Nguyên, Xuân Minh, Lãnh đạo cấp ủy chính quyền và các ban, ngành đoàn thể, Bí thư Chi bộ, Trưởng các thôn và 10 hộ gia đình trồng thảo quả của xã Tân Nam.
Thực hiện Kế hoạch số 96/KH-UBND ngày 25/4/2013 về phát triển cây thảo quả, thực hiện việc giao rừng cho các hộ bảo vệ kết hợp trồng thảo quả dưới tán rừng; bằng phương thức huyện hỗ trợ 50% giá giống cây thảo quả; hỗ trợ công chỉ đạo kỹ thuật và nghiệm thu việc thực hiện trồng.
Tại Hội nghị các đại biểu đã được nghe dự thảo báo cáo thực hiện mô hình phát triển cây thảo quả dưới tán rừng tại xã Tân Nam, Tiên Nguyên và Xuân Minh. Kết quả trong 2 năm triển khai thực hiện mô hình cây thảo quả dưới tán rừng (2013 - 2014) có 88 hộ tham gia đã trồng được 74 ha.
Năm 2015 huyện tiếp tục triển khai tổ chức tuyên truyền nhân dân đăng ký thực hiện tại 3 xã là 100 ha/31 hộ, trong đó 47 ha/12 hộ tại xã Tân Nam, xã Tiên Nguyên 50 ha/15 hộ, xã Xuân Minh 3 ha/4 hộ với tổng kinh phí ước thực hiện là 270 triệu đồng; đến thời điểm này cấp ủy, chính quyền, Hội Nông dân các xã đang tích cực chỉ đạo, hướng dẫn các hộ tiến hành ươm giống và phấn đấu trồng 40 ha xong trước ngày 30/9/2015.
Phát biểu chỉ đạo Đồng chí Triệu Tài Phong, Bí thư Huyện uỷ đã biểu dương tinh thần vượt khó, góp phần thành công mô hình trồng cây thảo quả dưới tán rừng, đồng thời nhân dân đã bảo vệ tốt rừng nguyên sinh, Đồng chí cũng nhấn mạnh và chỉ đạo tiếp tục phát huy hiệu quả đã đạt được, trồng cây thảo quả gắn với bảo vệ rừng đầu nguồn là việc làm thiết thực cần được nhân rộng và phát triển tại những xã có điều kiện khí hậu thuận lợi.
UBND huyện tập trung chỉ đạo, định hướng khảo sát quan tâm đầu tư hỗ trợ cho nhân dân phát triển cây thảo quả tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho nhân dân, bằng cơ chế chính sách phù hợp, nhân rộng mô hình trên địa bàn huyện trong thời gian tiếp theo; tập trung phát triển cây thảo quả theo hướng sản xuất hàng hóa, xác định việc trồng thảo quả là cây mũi nhọn để góp phát triển kinh tế xã hội của địa phương. (Hội Nông Dân Tỉnh Hà Giang 23/7) đầu trang(
Những năm gần đây, số lượng voi tại Đắk Lắk suy giảm mạnh, xung đột giữa voi và người còn diễn biến hết sức phức tạp. Theo ý kiến của những nghệ nhân voi, muốn bảo tồn và phát triển đàn voi tại tỉnh cần phải quy hoạch được các khu sinh cảnh thuận lợi để chăn thả, nghỉ dưỡng. Nhưng sau nhiều năm, công tác này vẫn chưa được các cơ quan, đơn vị chuyên môn quan tâm, chú trọng.
Theo thống kê của Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk, từ năm 2011 đến nay, có 10 cá thể voi nhà bị chết do các nguyên nhân như già yếu, tai nạn, sát hại và kiệt sức. Nhưng nhiều người gắn bó lâu năm với loài voi (nghệ nhân voi) lại cho rằng, nguyên nhân chính khiến voi chết là do bị khai thác quá sức (phục vụ du lịch, sản xuất…) và không được chăm sóc tốt (ăn uống thiếu chất dinh dưỡng, chăn thả…).
Nghệ nhân voi Đàng Năng Long (ở thị trấn Liên Sơn, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk) cho biết: “Thời gian gần đây, voi không chỉ chết nhanh mà còn chết rất trẻ. Nhu cầu thức ăn của voi rất lớn, trong khi chúng phải ăn những thức ăn ít dinh dưỡng, cứng như mía, bắp… nên phải nhai nhiều hơn, răng bị bào mòn nhanh hơn. Cung cấp không đủ dinh dưỡng nhưng bị khai thác quá mức, đó chính là nguyên nhân khiến voi nhà bị kiệt sức và nhanh chết hơn”.
Nếu như vào những năm 80 của thế kỷ trước, đàn voi nhà của Đắk Lắk có hơn 500 con thì hiện tại còn 43 con (18 voi đực, 25 voi cái), trong đó chỉ có 16 con voi cái dưới 40 tuổi - độ tuổi có khả năng phục vụ nghiên cứu sinh sản. Nhưng theo ông Huỳnh Trung Luân - Giám đốc Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk, do yếu tố môi trường thay đổi quá nhiều, voi nhà không có không gian để “yêu” nên tỉ lệ sinh sản của chúng trong 30 năm qua chỉ đạt 0,6%/năm và lâu nay cũng “chưa thấy voi nhà đẻ bao giờ”.
Không chỉ riêng voi nhà, đàn voi hoang dã (voi rừng) tại Đắk Lắk cũng sụt giảm chóng mặt từ 500 cá thể (năm 1980) xuống còn 60 - 80 cá thể, tập trung thành 5 đàn (đàn lớn nhất có khoảng 30 cá thể). Qua theo dõi, Trung tâm bảo tồn voi phát hiện các đàn voi xuất hiện các cá thể voi con, chứng tỏ voi rừng vẫn có “tín hiệu vui” trong việc sinh sản. Thế nhưng, trong tổng số 18 cá thể voi rừng bị chết từ năm 2009 đến nay, có tới 12 cá thể là voi con chỉ vài tháng tuổi.
Voi là loài vật mang biểu tượng văn hóa và là “huyền thoại” của Tây Nguyên nói chung và của Đắk Lắk nói riêng. Nếu như trước đây, người ta thấy những đàn voi tung tăng giữa đại ngàn thì giờ đây, hình ảnh ấy chỉ còn trong ký ức. Diện tích rừng suy giảm mạnh và một số dự án thủy điện khi đi vào hoạt động đã làm thay đổi dòng chảy các con sông, kéo theo sự thay đổi sinh cảnh hệ sinh cảnh đã thu hẹp không gian sinh tồn của loài voi.
Voi chết nhanh không chỉ vì điều kiện tự nhiên mà còn do những tác động nhiều mặt của con người, nhất là việc săn bắn voi trái phép để lấy ngà, xương, lông đuôi voi… Đến nhiều điểm du lịch tại Đắk Lắk, không khó để tìm được những chiếc nhẫn lông đuôi voi được bày bán với lời giới thiệu “hàng thật 100%” và “đeo vào rất may mắn”.
Chưa cần kiểm chứng có bao nhiêu % số nhẫn đó là “hàng thật” nhưng có thể thấy những sản phẩm mang thương hiệu voi cũng là nguyên nhân khiến loài voi đối mặt với nguy cơ bị xâm hại.
Thống kê của Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk cho thấy, sau khi phát hiện được các vụ voi rừng bị chết, rất nhiều thi thể voi đã bị cắt mất ngà, vòi, đuôi, móng chân… Vào tháng 3/2015, người dân phát hiện 1 cá thể voi con chết ở xã Cư A Mung (huyện Ea H'Leo) trong tình trạng bị cắt 1 mảng da lớn trên thân và toàn bộ 4 đế chân.
Thậm chí, vào chiều ngày 14/7, kẻ gian còn đột nhập vào khu rừng thuộc Tiểu khu 502 (Vườn Quốc gia Yok-Đôn) để cưa ngà bên phải của voi nhà Thoong Ngân (20 tuổi) khi chú voi này đang được thả vào rừng kiếm ăn. Hành động trên bị thất bại nhưng do vết cưa sâu vào tủy gây chảy nhiều máu, các chuyên gia buộc phải cắt rời hẳn chiếc ngà để tránh những ảnh hưởng đến sức khỏe của Thoong Ngân.
Theo ông Phạm Văn Láng - Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk, môi trường sống bị ảnh hưởng và những tác động tiêu cực của con người đã khiến cho tình hình xung đột voi - người ngày càng diễn biến phức tạp.
Từ tháng 6/2012 đến hết tháng 4/2015, Trung tâm Bảo tồn voi đã thống kê được 47 đợt voi rừng di chuyển kiếm thức ăn đến những khu vực sản xuất nông lâm nghiệp, phá hoại cây trồng và nhiều tài sản khác người dân. Trong đó, có những vụ đặc biệt nghiêm trọng như voi rừng sát hại người dân (2 vụ làm chết 2 người vào năm 2011 và năm 2012), tàn phát hàng chục héc-ta cây trồng…
Vào năm 2013, UBND tỉnh Đắk Lắk đã phê duyệt “Dự án khẩn cấp Bảo tồn voi tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020” với tổng kinh phí tăng gần 85 tỷ đồng. Vào cuối tháng 3/2015, UBND tỉnh Đắk Lắk đã có Quyết định giao 200ha đất rừng khộp tái sinh ở Tiểu khu 462, thuộc xã Krông Na (huyện Buôn Đôn) cho Trung tâm Bảo tồn voi của tỉnh.
Theo tiến trình dự án, sau khi được giao đất và cấp kinh phí, Trung tâm bảo tồn voi sẽ xây dựng trụ sở làm việc, đầu tư trang thiết bị phục vụ công tác bảo tồn, tăng cường nhân sự, đưa cán bộ đi đào tạo chuyên sâu… để phục vụ tốt hơn công tác bảo tồn voi tỉnh nhà (?).
Nhưng theo ý kiến của một số nghệ nhân voi, việc cần thiết nhất trong công tác bảo tồn voi là có quy hoạch được khu vực để chăn thả voi. Theo ông Bùi Văn Đức - Chủ nhiệm Hợp tác xã Buôn Jun (thị trấn Liên Sơn, huyện Lắk), hiện HTX của ông đang điều hành 16 con voi nhà của các xã viên để phục vụ du lịch.
Do rừng đã bị chặt phá, bị người dân lấn chiếm canh tác và hồ Lắk cũng bị ô nhiễm nặng nề từ rác thải, thuốc trừ sâu… nên không gian chăn thả voi bị thu hẹp. Sợ voi tàn phá hoa màu của người dân, ngoài những lúc phục vụ du lịch, các xã viên của HTX chỉ còn cách xích voi vào những “chuồng tạm” hoặc dưới gốc cây trong nhà mình.
Còn nghệ nhân voi Đàng Năng Long lại cho rằng, đàn voi nhà ở huyện Lắk vẫn còn nhiều cá thể trong độ tuổi sinh sản, nếu có khu vực sinh thái thuận lợi để chăn thả, voi nhà vẫn có khả năng “yêu” và mang thai.
Do vậy, thay vì chờ đợi vốn để xây dựng trụ sở, đầu tư trang thiết bị… việc làm thiết thực nhất trong bảo tồn voi là xin UBND tỉnh Đắk Lắk bố trí cho quỹ đất để thành lập khu chăn thả. “Các anh “ở trên” sớm lập phương án chừng nào thì bảo tồn voi ở Đắk Lắk có cơ hội sớm từng đó.
Chứ cứ theo đà này, tôi nghĩ khoảng 10 năm nữa đàn voi nhà ở Đắk Lắk sẽ không còn nữa. Mà nếu còn cũng chỉ là voi già yếu, không thể sinh sản nên bảo tồn, chăm sóc voi khi đó cũng giống như trong “viện dưỡng lão” mà thôi” - ông Long lo lắng. (Tài Nguyên Và Môi Trường 23/7) đầu trang(
Mua lại khu đất rừng đã được người dân bản địa sử dụng qua nhiều thế hệ khác nhau, khi sử dụng khu đất đó, ông Đoàn Thế Lợi ở thôn Đồng Vào, xã Ba Bích (huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi) đang lâm vào vòng lao lý khi bị cơ quan tố tụng cáo buộc tội “Hủy hoại rừng”…
Theo hồ sơ vụ việc, vào khoảng tháng 10/2011, anh Phạm Văn Xoi ở thôn Nước Đang, xã Ba Bích (huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi) vì cần tiền để làm nhà riêng nên đã đặt vấn đề với ông Đoàn Thế Lợi người cùng xã về việc mua dùm khoảng 3 - 4 sào đất được ông bà để lại. Và hai bên thỏa thuận bằng miệng với giá tiền 2.000.000đ và 20 tấm lợp tôn.
Đến khoảng cuối tháng 2 đầu tháng 3/2012, ông Đoàn Thế Lợi thuê một số người dân lên khu vực rừng mình đã mua thuộc vị trí lô 1, khoảnh 1, tiểu khu 425 xã Ba Bích tiến hành phát luống dây leo, chặt hạ cây và trồng được khoảng 10 ngàn cây keo.
Ngày 19/6/2012, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Tơ đã phối hợp với VKSND huyện, Hạt kiểm lâm huyện và chính quyền địa phương tổ chức khám nghiệm hiện trường vụ phá rừng trái phép đối với ông Đoàn Thế Lợi trên diện tích đo được là 28.380 m2. Ngày 21/3/2013, Cơ quan cảnh sát điều trahuyện Ba Tơ ra quyết định khởi tố ông Lợi về tội “Hủy hoại rừng”.
Ngày 11/7/2014, tại bản án sơ thẩm số 10/2014/HSST của TAND huyện Ba Tơ tuyên phạt  ông Đoàn Thế Lợi phạm tội “Hủy hoại rừng” với mức án 7 năm tù và phải nộp sung quỹ Nhà nước số tiền 17.891.100 đồng.
Không đồng tình với bản án sơ thẩm của TAND huyện Ba Tơ, ông Đoàn Thế Lợi đã có đơn kháng cáo kêu oan đến TAND tỉnh Quảng Ngãi để được xem xét một cách chính đáng.
Theo đơn kêu oan của ông Lợi, vào ngày 28/7/2010, cha con ông Phạm Văn Giẻo và Phạm Văn Xoi,  trú thôn Nước Đang, xã Ba Bích (Ba Tơ, Quảng Ngãi) đến nhà ông Lợi trình bày về việc ông Xoi có ngôi nhà hư hỏng nặng nhưng không có tiền để sửa chữa. Ông Giẻo và ông Xoi cho biết ông Xoi có khoảng 3 - 4 sào đất rẫy đã được trồng lúa trời do ông nội của ông Xoi để lại cho ông Giẻo và ông Giẻo đã cho lại con là ông Xoi từ trước đến nay.
Nay ông Xoi cần 20 tấm tôn lợp nhà cùng 2 triệu đồng để cất lại ngôi nhà. Qua sự thoả thuận, hai bên đã thống nhất ông Lợi sẽ giao cho ông Xoi 20 tấm tôn cùng 2 triệu đồng để đổi lại 3 -4 sào đất rẫy.
Đây là diện tích đã được ông bà cha mẹ để lại cho anh Xoi, tuy không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng đã được sử dụng hơn 60 năm qua. Theo phong tục tập quán của đồng bào dân tộc là sống du canh, du cư nên việc ông Lợi phát rẫy trồng keo là hoàn toàn chính đáng và thể hiện các hộ dân lân cận đều trồng lúa và trồng cây keo lai (giống cây keo có giá trị kinh tế nhất hiện nay). Nhưng không hiểu vì lý do nào mà cơ quan tố tụng lại quy kết ông Lợi về  hành vi “hủy hoại rừng”.
Qua 3 lần trả hồ sơ điều tra bổ sung, Cơ quan cảnh sát điều tra huyện Ba Tơ vẫn chưa chứng minh cụ thể để xác định được diện tích trên là đất rừng hay là rừng tự nhiên nhưng vẫn giữ nguyên kết luận điều tra ban đầu.
Theo luận cứ của Luật sư Hà Vĩnh Phúc (Nguyên Phó chánh án TAND tỉnh Quảng Ngãi) thuộc đoàn Luật sư Quảng Ngãi, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Lợi cho rằng: Trong giấy chuyển nhượng giữa ông Xoi và ông Lợi tuy diện tích xác định không chính xác nhưng được xác định ranh giới giáp đất của ông Sỏi, ông Lập, ông Xia và giáp đất còn lại của ông Xoi (tất cả bao bọc đều là cây keo lai và ruộng lúa trời).
Do đó, việc trồng keo nằm ở vị trí chính giữa nên không có việc ông Lợi lợi dụng để mở rộng hủy hoại với diện tích 28.380 m2 như Kiểm lâm và cơ quan công an đã quy chụp. Bên cạnh đó, xung quanh khu đất ông Lợi được chuyển nhượng đã được người dân bản địa đã trồng cây keo và lúa trời hơn 60 năm qua nên việc ông Lợi phát rẫy trồng keo và hiện nay phát triển rất tốt, độ cao trung bình của cây trên 5m đã khép kín tán rừng, phủ kín toàn bộ mặt đất.
Ông Phạm Văn Chiêng – Chủ tịch UBND xã Ba Bích khẳng định: Toàn bộ diện tích rừng ở tiểu khu 425 không có hồ sơ gốc về rừng mà chỉ có quyết định và biên bản bàn giao rừng của UBND huyện Ba Tơ cho UBND xã  Ba Bích quản lý. Vì vậy, với những chứng cứ cùng tài liệu có trong hồ sơ vụ án,  việc kết tội “Hủy hoại rừng” cho ông Đoàn Thế Lợi của Cơ quan điều tra là hoàn toàn không đủ căn cứ.
Theo nhận định của cấp xét xử phúc thẩm thì bị cáo Lợi đã mua lại diện tích đất trên của ông Phạm Văn Xoi và đây là đất của cha mẹ, ông bà để lại. Diện tích đất này đã được canh tác bao đời nay và được thể hiện tại bút lục số 225, khi ông Phạm Văn Giẻo (cha của ông Xoi) cho rằng gia đình ông có 04 sào đất trước đây trồng lúa trời và cho lại con là Phạm Văn Xoi sử dụng, dù canh tác rất lâu cũng không thấy chính quyền địa phương có ý kiến nên không biết là đất rừng phòng hộ.
Đồng thời ông Xoi luôn khẳng định diện tích đất trên đã được canh tác hơn 60 năm qua nhưng không thấy chính quyền hoặc ai nói điều gì nhưng vì điều kiện kinh tế khó khăn đành bán lại cho ông Lợi để đổi tôn sửa lại nhà ở (BL 152- 155).
Theo luật sư Phúc cho biết, việc quy kết ông Đoàn Thế Lợi hủy hoại 59.637m3 gỗ và quy thành tiền là 17.891.000đ là hoàn toàn không có cơ sở. Bởi lẽ cơ quan điều tra không hề có một vật chứng cụ thể nào mà chỉ dựa vào những số liệu trong quy hoạch tổng thể rừng phòng hộ của huyện Ba Tơ để xác định.
Từ đó, đã tiến hành đo cây, bụi bị chặt và tự ý quy ra những nhóm gỗ có giá trị để đưa vào biên bản định giá là không đúng pháp luật. Mặt khác trong nhóm gỗ tự đưa ra thuộc nhóm 7,8 nhưng thực tế cơ quan công an lại không giữ một mẫu gỗ nào nhưng vẫn có kết luận giám định...?
Trao đổi với phóng viên, Luật sư Phúc cho biết thêm: Ngày 19/6/2015, Cơ quan điều tra tiến hành chấm lại tọa độ toàn bộ khu đồi keo. Trong chuyến đi có ông Đoàn Thế Lợi và Luật sư Phúc đi thực tế chỉ các điểm mốc mà mình đã trồng nhưng ông Quyết và ông Ngãi (Kiểm sát viên của huyện Ba Tơ) vẫn không nghe và quyết định xác định mốc giới toàn bộ đồi keo của các hộ xung quanh.
Do không nhất trí với quyết định trên nên ông Quyết “dọa nạt”  ông Lợi: “Chúng tôi đã thông cảm để cho ông tại ngoại, nếu ông không theo chỉ giới của chúng tôi thì tôi bắt giam ông ngay bây giờ.”. Quá bức xúc, Luật sư Hà Vĩnh Phúc lên tiếng: “Diện tích đất ông Lợi trồng keo đến đâu thì ông Lợi chỉ đến đó, sao các anh buộc ông Lợi phải theo ý các anh được.” Ông Quyết quát lớn: “Nếu luật sư nói thế tôi sẽ tước quyền luật sư ngay bây giờ”.
Tại phiên toà phúc thẩm, Luật sư Phúc phản ánh mạnh mẽ và cho rằng, ông Quyết đã có những định kiến cá nhân và ép cung nhằm đưa ông Đoàn Thế Lợi vào vòng lao lý. Đây là một tình tiết rất quan trọng trong vụ án “Huỷ hoại rừng” cần được điều tra làm rõ.
Để tránh oan sai cho bị cáo và đồng thời không bỏ lọt tội phạm, TAND tỉnh Quảng Ngãi đã quyết định hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm của TAND huyện Ba Tơ để điều tra, xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật. (Công Lý 24/7) đầu trang(
Báo Người cao tuổi số 74 (1600) ngày 8/5/2015 đăng bài "Rừng phòng hộ Hô Đá Lạn biến thành đồi núi trọc, xâm hại quyền lợi người dân". Ngày 20/5/2015, UBND huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh tổ chức buổi đối thoại giải quyết nội dung khiếu nại giữa các hộ dân và các cơ quan, doanh nghiệp có liên quan.
Chủ tịch UBND huyện kết luận: Giao cho các cơ quan chức năng hoàn thiện hồ sơ trình UBND tỉnh, điều chỉnh quy hoạch rừng phòng hộ quanh khu vực hồ Đá Lạn. Tuy nhiên, hiểm họa vẫn còn treo lơ lửng đối với người dân sinh sống dưới chân hổ...
Hồ Đá Lạn là công trình thủy lợi của huyện Tiên Yên, xây dựng cách đây gần 50 năm. Những năm qua, công trình đã cung cấp nước tưới cho khoảng 300 hộ dân canh tác trên 60ha lúa, hoa màu ở các thôn: Xóm Nương Đồng Châu và Đồng Mạ, xã Tiên Lãng. Hiện một phần diện tích tiểu khu 256, thuộc rừng đầu nguồn hồ Đá Lạn, trước kia là rừng nguyên sinh.
Lâm nghiệp huyện Tiên Yên xin Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chuyển thành rừng sản xuất, dẫn đến tình trạng trắng rừng sau khai thác, phải ít nhất 1 năm sau khi trồng, khu vực này mới có rừng và xói mòn đất, ảnh hưởng tác dụng trữ nước và sinh thủy của hồ Đá Lạn.
Trong buổi đối thoại, ông Hoàng Văn Trình, Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tiên Yên (Công ty Tiên Yên) giải trình: Năm 1995, Lâm trường Tiên Yên, nay là Công ty Tiên Yên, được UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt làm chủ Dự án 327 huyện Tiên Yên. Công ty có kí hợp đồng sản xuất lâm nghiệp (hằng năm) với các hộ gia đình tại Tiểu khu'256, xã Tiên Lãng, huyện Tiên Yên, trong đó có 4 hộ gia đình các ông: Hoàng Văn Pẩu, Mã Tiến Đạt Ngô Xuân Long, Bê' Văn Lưu Các hộ đều có hộ khẩu thường trú tại Đội 2, xã Tiên Lãng, huyện Tiên Yên.
Sau đó, Công ty lại kí hợp đồng với các hộ dân này "khoanh nuôi bảo vệ rừng tự nhiên". Tại thời điểm kí hợp đồng, Công ty không được hướng dẫn về mẫu, đã mượn hợp đồng của UBND huyện, nên một số nội dung không hợp lí. Tại dòng, “thời hạn hợp đồng 50 năm” "hình như" có dấu hiệu ghi thêm vào, vì theo cán bộ kĩ thuật, tại thời điểm đó, dòng thời gian để trống...
Ông Mạc Văn Xuyên, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, khẳng định: Từ năm 1995, rừng đầu nguồn hồ Đá Lạn thuộc Tiểu khu 256, xã Tiên Lãng đã được UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt thành rừng sản xuất. Việc Công ty Tiên Yên xử lí thực bì (phát trắng và đốt sạch) tại khu vực trên đã được cấp có thẩm quyền cho phép nên không phải là hành vi phá rừng phòng hộ...
Các ông: Mã Tiên Đạt, Bế Văn Lưu, Ngô Xuân Long và bà Hoàng Thị Tám (những người khiếu nại) đều cùng ý kiến: Những năm 1995 trở về trước, các hộ dân đều kí họp đồng sản xuất lâm nghiệp với Công ty Tiên Yên. Hằng năm, căn cứ vào biên bản nghiệm thu, các hộ được Công ty Tiên Yên thanh lí, thanh toán một lần. Sau đó, các hộ lại kí hợp đồng nhận giao đất khoán rừng, thời hạn 50 năm với Lâm trường Tiên Yên.
Điều II hợp đồng này ghi rõ: Hộ gia đình phải làm tốt công tác quản lí, bảo vệ rừng, trồng rừng mới theo tinh thần của Dự án 327, do Lâm trường Tiên Yên làm chủ dự án; theo tiến độ hợp đồng khối lượng cụ thể công việc từng năm kế hoạch.
Bởi vậy, các hộ dân đều hỏi rằng, hợp đồng quản lí, bảo vệ rừng thời hạn 50 năm, tiền công thanh toán theo khối lượng cụ thể công việc từng năm. Thực tế, Công ty Tiên Yên đã làm như vậy. Nhưng đến năm 1996, Công ty không thanh toán cho các hộ dân nữa, mà còn cho cán bộ đến các hộ dân mượn sổ (nói là thanh toán giúp), sau đó lại nói là sổ đã bị mất, để cố tình thu hồi sổ của họ, trốn tránh việc thanh lí hợp đồng.
Ông Hoàng Văn Trình, Phó Tổng giám đốc, người đại diện Công ty Tiên Yên nói rằng: "Công ty đã có chủ trương thu hồi hợp đồng của các hộ dân quản lí, bảo vệ rừng phòng hộ, không hiểu sao vẫn còn "sót" hợp đồng số 74 của hộ gia đình ông Hoàng Văn Pẩu".
Lời nói và việc làm của người đại diện Công ty Tiên Yên càng chứng tỏ khuất tất, cố tình chiếm đoạt tài sản của người dân. Trong khi đó, Công ty còn lập dự toán "Trồng rừng trên đất trống", xin Nhà nước hỗ trợ hàng trăm triệu đồng, để "Phát trắng, đốt sạch hàng trăm héc-ta rừng đầu nguồn Hồ Đá Lạn".
Người dân khiếu nại, không chỉ để đòi công sức khoanh nuôi bảo vệ rừng đầu nguồn, mà còn lo phòng tránh hiểm họa hồ Đá Lạn không có rừng phòng hộ sẽ bị vỡ khi mưa to, bão lớn...
Kết luận buổi đối thoại, ông Vũ Văn Diện, Chủ tịch UBND huyện Tiên Yên nêu rõ: "Năm 1995, Lâm trường Tiên Yên được UBND tỉnh Quảng Ninh giao làm chủ Dự án 327 huyện Tiên Yên. Lâm trường có kí hợp đồng sản xuất lâm nghiệp (trong đó có hạng mục khoanh nuôi bảo vệ rừng tự nhiên) với các hộ dân tại Tiểu khu 256, xã Tiên Lãng, huyện Tiên Yên... Tuy nhiên, việc kết thúc hợp đồng không được thực hiện theo trình tự, Lâm trường không thông báo cho người dân. Đề nghị Công ty Tiên Yên làm việc cụ thể với các hộ dân, làm rõ các nội dung tranh chấp, giải quyết theo đúng các điều khoản hợp đồng. Tạo điều kiện để các hộ dân được giao khoán bảo vệ rừng và đất rừng, hợp tác kinh doanh nghề rừng. Đề nghị sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xem xét báo cáo cấp có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung quy hoạch rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Đá Lạn. Chỉ đạo Chi cục Phát triển Nông thôn phối hợp với huyện xem xét, nếu đủ điều kiện thì đưa vào đề xuất hỗ trợ từ chương trình di dân tái định cư, vùng có nguy cơ sạt lở, lũ quét để bảo đảm an toàn cho các hộ dân".
Mới đây, chúng tôi lại có dịp gặp gỡ những người dân sinh sống dưới chân hồ Đá Lạn. Họ vui mừng thông báo kết quả buổi đối thoại, hi vọng rùng đầu nguồn hồ Đá Lạn được hồi sinh. Nhưng, họ vẫn băn khoăn, lo lắng, vì hồ Đá Lạn nằm ở vị trí núi cao, dưới có các hộ dân sinh sống và hàng nghìn học sinh các trường tiểu học, trung học đang học tập.
Hiểm họa vỡ đập, lũ quét vẫn còn treo lơ lửng. Rất mong sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, UBND tỉnh Quảng Ninh sớm có giải pháp, giúp người dân thoát khỏi lo lắng những hiểm họa được báo trước, góp phần giữ gìn an sinh xã hội. (Người Cao Tuổi 23/7) đầu trang(
Theo phản ảnh của người dân huyện miền núi Đồng Xuân (Phú Yên), trên địa bàn xã Xuân Quang 2 đang có hàng trăm m3 gỗ được tận thu từ những cánh rừng tự nhiên đã bị phá để lấy đất trồng rừng khu vực thôn Đồng Hội, xã Xuân Quang 1 .Tại sao những bãi gỗ này nằm ngay trên trục giao thông liên xã, nhưng không bị các ngành chức năng kiểm tra nguồn gốc, xử lý?
Theo người dân địa phương, số gỗ đang tập kết với khối lượng hàng trăm m3 này mới chỉ là số gỗ cành nhánh tận thu. Trước đó một khối lượng gỗ có đường kính lớn hơn, với khối lượng gấp nhiều lần số gỗ đang tập kết tại bãi đã được hàng chục xe tải tẩu tán đi nơi khác, chủ yếu vào ban đêm.
Tại hiện trường còn lại khoảng 50% số gỗ có đường kính từ 10 cm đến 40 cm và cành nhánh cây rừng bị cháy xém được tận thu chở đến chờ đưa đi tiêu thụ. Ông Huỳnh Văn Hiên, người dân xóm Mới, thôn Phú Sơn, xã Xuân Quang 2, bức xúc: "Hồi xưa người ta đã không cho phát, mà bây giờ họ phát rừng ở đây không còn gì hết”.
Khi phóng viên đang tiếp cận hiện trường ghi hình và tiếp xúc với người dân, bất ngờ một xe ô-tô tải chở bốn người ập đến bãi gỗ với ý định bốc gỗ lên xe, nhưng sau khi dừng khoảng 20 phút xem xét tình hình, xe tải này lại bỏ đi. Qua tìm hiểu, bãi đất trống để chứa gỗ nói trên là của một người dân cho các chủ gỗ thuê mặt bằng với giá 400.000 - 500.000 đồng/ tháng, nhưng không biết các chủ gỗ này ở đâu, làm nghề gì.
Cách đó không xa, gần Trường tiểu học Xuân Quang 2 cũng thuộc xã Xuân Quang 2, một bãi gỗ khác có quy mô tương tự vừa được chuyển đi nơi khác, chỉ còn lại khoảng 20 m3. Điều dư luận thắc mắc là cả hai bãi gỗ này đều nằm trong khu dân cư, gần đường giao thông chính, nhưng không bị ngành chức năng, hoặc chính quyền địa phương kiểm tra nguồn gốc số gỗ để xử lý.
Ông Huỳnh Văn Hiên, người dân xóm Mới, thôn Phú Sơn, xã Xuân Quang 2, so sánh: "Người dân chở từ rừng ra một bao than, vài khúc cây làm chuồng bò là kiểm lâm xã, kiểm lâm huyện bắt. Giờ người ta khai thác rừng ổ ạt như vậy lại không bắt?".
Từ bãi gỗ tập kết ven đường, theo chân một người dân địa phương, chúng tôi phải vượt qua đoạn đường 20 km cả đi xe máy và đi bộ vựợt dốc để tiếp cận nơi rừng bị chặt phá - khu rừng Ruộng Bỏ, thôn Đổng Hội, xã Xuân Quang 3.
Trên đường đi, chúng tôi bắt gặp nhiều chuyên xe tải vẫn vận chuyển gỗ củi từ rừng về xuôi. Tại hiện trường, một khu rừng có diện tích hàng chục ha vừa bị chặt phá, đốt cháy để lấy đất... trồng rừng. Những gốc cây lớn, nhỏ bị đốt cháy nham nhở, nằm ngổn ngang trên mặt đất, trong đó có nhiều cây đường kính khoảng 60 cm bị đốn hạ bằng cưa máy còn sót lại chưa kịp vận chuyển ra khỏi rừng.
Có thể khẳng định rằng, các bãi gỗ lớn với những cành nhánh "khủng" đang tập kết trên địa bàn xã Xuân Quang 2 là sản phẩm từ những vụ chặt phá rừng ở đây. Nhiều câu hỏi đặt ra, liệu đây có phải là sự bất cập của việc cấp giấy phép cho các doanh nghiệp tận thu cái gọi là "rừng nghèo" để tái trồng rừng kinh tế, để rồi lợi ích chưa thấy đâu, mà hậu quả trước mắt là rất nhiều cây gỗ rừng hàng chục năm tuổi ở khu vực rừng đầu nguồn bị chặt phá, những cánh rừng tự nhiên bỗng chốc bị đốt cháy trơ trụi?
Trả lời câu hỏi của phóng viên, ông Huỳnh Xuân Quang, Chi cục trưởng Lâm nghiệp tỉnh Phú Yên, cho biết: "Đến thời điểm này (tháng 7-2015) không còn một dự án nào do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý, triển khai ở khu vực đó. Còn chuyện hộ gia đình họ tự phát, họ trồng theo cái sổ đỏ giao cho người ta là thẩm quyền của chính quyền địa phương và Hạt Kiểm lâm họ quản lý...".
Trong khi đó ông Vũ Công Tâm, Hạt trưởng Kiểm lâm huyện Đồng Xuân, thì phân trần: "Trong quá trình tận thu lâm sản, có lẽ một số cá nhân, tổ chức lợi dụng thiếu sự kiểm tra thường xuyên của các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương để làm chuyện phi pháp. Khi thẩm định rừng giao cho các doanh nghiệp thì kiểm lâm chỉ là một thành viên của đoàn công tác để đi khảo sát đo và giao. Còn các cơ quan khác như tài nguyên - môi trường hoặc là chính quyền các địa phương là những cơ quan chủ chốt trong việc thẩm định và giao đất, cho thuê đất. Sau khi làm các thủ tục về giao đất, cho thuê đất đối với các doanh nghiệp và tiến hành các biện pháp kỹ thuật thì cơ quan kiểm lâm là cơ quan giám sát. Nếu các doanh nghiệp không chấp hành nghiêm các quy định của Nhà nước thì doanh nghiệp đó vi phạm pháp luật. Đã vi phạm pháp luật thì bất cứ cá nhân, tổ chức nào cũng sẽ bị xử lý".
Rõ ràng, một vụ chặt phá rừng quy mô lớn, một khối lượng gỗ rừng tự nhiên hàng trăm m3 đã bị lấy đi bất hợp pháp, hay đúng hơn là dấu hiệu một vụ vi phạm nghiêm trọng Luật Bảo vệ và phát triển rừng đã được người dân phát hiện, tố giác. Trong khi đó, những cơ quan chức năng từ Hạt Kiểm lâm huyện đến Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Phú Yên đều không hay biết. (Thời Nay 23/7) đầu trang(
Thời gian qua, nhiều hộ dân tại Phú Quốc đã ồ ạt bán đất ruộng, đất rừng, gây nên cơn sốt đất tại đây.
Theo ghi nhận, đất nông nghiệp, đất trồng cây lâu năm tại Phú Quốc hiện cũng có giá lên tới 15-20 triệu đồng/m2. Giá đất tăng cao, người dân Phú Quốc không chỉ bán hết đất của gia đình, mà còn lấn chiếm đất rừng phòng hộ, để chuyển nhượng sang bán trái phép thu lợi bất chính.
Thực trạng đất rừng phòng hộ bị xẻ thịt khoanh ô, liên tiếp trồng cây mới hoặc để đất trống, cắm cột đá xác lập chủ quyền và cất nhà tạm đang diễn biến rất phức tạp tại Phú Quốc. Lợi dụng ban đêm hoặc thời tiết mưa bão hay ngày nghỉ, các đối tượng đã lén lút vào rừng thực hiện hành vi bao chiếm, phá rừng.
Tinh vi hơn, những đối tượng này còn phân công những người túc trực, nhằm khi phát hiện đoàn tuần tra sẽ lập tức thông tin cho nhau qua điện thoại di động và rời khỏi hiện trường. Trong khi đó, Đội ngũ cán bộ hạt kiểm lâm Phú Quốc còn mỏng, địa bàn lâm phần rộng, phức tạp nên công tác quản lý rừng, tuần tra gặp nhiều khó khăn.
Hiện những khu vực đang là điểm "nóng" bao chiếm rừng phòng hộ phức tạp tại Phú Quốc là phía Nam đảo Phú Quốc, khu vực Dương Tơ, An Thới.
Để lý giải vì sao thực trạng rừng phòng hộ tại Phú Quốc bị khoanh ô bán trái phép, phóng viên VTV đã có cuộc trao đổi với ông Huỳnh Quang Hưng – Phó Chủ tịch UBND huyện Phú Quốc, Kiên Giang. (Đài Truyền Hình Việt Nam 24/7) đầu trang(
Thay vì lén lút, hợp thức hóa chứng từ để qua trạm kiểm soát, các đầu nậu đã hình thành các xưởng chế xuất lâm sản ngay tại rừng.
Sau một thời gian dài điều tra, tiếp cận và xâm nhập vào vùng lõi các huyện miền núi Hương Sơn, Vũ Quang và Hương Khê (Hà Tĩnh), PV báo Đời sống và Pháp luật ghi nhận, đã xuất hiện các xưởng gỗ quy mô để làm nhà gỗ, thuyền đánh cá đi biển, đồ gia dụng ngay trong khu vực thượng nguồn.
Bằng những thủ đoạn đầy tinh vi trên, các đầu nậu đã biến gỗ bất hợp pháp về xuôi muột cách trót lọt. Từ đó, việc vận chuyển lâm sản thành phẩm về tận nơi tiêu thụ sẽ trở nên dễ dàng. (Tin Nhanh Pháp Luật 22/7) đầu trang(
Chiếm 1/3 diện tích TPHCM, được bao bọc bởi các con sông lớn và giáp với biển, từng chứng kiến và tham gia nhiều sự kiện lịch sử, huyện Cần Giờ có nhiều bước phát triển sau ngày giải phóng, trong đó có nhiều nét đổi thay sau nhiệm kỳ vừa qua.
Trong nhiệm kỳ 2015 - 2020, huyện Cần Giờ định hướng tập trung đầu tư phát triển kinh tế biển gắn với việc giữ gìn và bảo vệ môi trường thành phố, trong đó có khu Rừng Sác ngập mặn - được ví là “lá phổi xanh” của thành phố và được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới.
Bốn điều có được lớn nhất ở Cần Giờ sau 40 năm giải phóng, đó là rừng, đường, điện, nước - đã làm thay đổi căn bản bộ mặt nông thôn và cuộc sống của bà con nơi đây. Nhiệm kỳ 2010 - 2015, Đảng bộ Cần Giờ tiếp tục đầu tư các công trình phúc lợi xã hội từ nhiều nguồn vốn nhằm nâng cao đời sống người dân như trường, trạm, nuôi trồng thủy sản, lễ hội văn hóa...
Trong nhiệm kỳ 2015 - 2020, Đảng bộ huyện Cần Giờ đang đứng trước thời cơ và thách thức mới nhằm phát huy hơn nữa truyền thống anh hùng trong đấu tranh giải phóng và trong lao động của thời kỳ đổi mới.
Ngay từ sau khi sáp nhập trở về thành phố, việc trồng lại rừng cùng với việc xây dựng tuyến đường nối từ bến phà Bình Khánh đến thị trấn Cần Thạnh được triển khai sớm. Trong chiến tranh, chất độc hóa học đã hủy diệt như toàn bộ rừng đước nguyên sinh, với gần 60 lít chất độc trên mỗi hécta.
Với tất cả sự cố gắng trồng lại rừng, hàng trăm tấn trái đước giống được chuyên chở từ miền Tây về trồng và giờ đây màu xanh đã bao phủ trên 38.000ha. Từ khi được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển vào năm 2000, rừng ngập mặn Cần Giờ chính thức gia nhập vào mạng lưới 368 Khu dự trữ sinh quyển thuộc 91 quốc gia của thế giới, người dân nơi đây càng thấy trách nhiệm giữ gìn và phát huy những giá trị có được từ rừng.
Được khởi công từ năm 2002, đường Rừng Sác dài 36,5km được hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2011, là con đường cửa ngõ hướng ra biển của TPHCM, có vị trí chiến lược quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nhất là phát triển kinh tế biển của huyện Cần Giờ, đảm bảo quốc phòng - an ninh; đồng thời, tạo cơ sở thuận lợi để các đơn vị ngành điện, nước đẩy mạnh đầu tư các công trình phục vụ người dân.
Đây là con đường không chỉ do ngành giao thông làm mà là công trình có sự huy động các lực lượng thanh niên thành phố tham gia đào đắp. Cùng với việc hoàn thành tuyến đường bộ huyết mạch, Cần Giờ đang kêu gọi đầu tư xây dựng các bến tàu thủy, trong đó, có thể xây dựng bến tàu cánh ngầm.
Việc mở rộng đường Rừng Sác là mở đường cho Cần Giờ phát triển, để người dân Cần Giờ có điều kiện phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, đưa Cần Giờ phát triển nhanh hơn, hòa với sự phát triển chung của TP.
Năm 1995, Cần Giờ được điện khí hóa và đến đầu năm 2015, điện lưới quốc gia đã kéo đến xã đảo Thạnh An với tuyến cáp dài 5.600m, góp phần làm thay đổi bộ mặt xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Cần Giờ. Năm 2011, công trình cung cấp nước ngọt cho Cần Giờ được khánh thành, đáp ứng niềm mơ ước ngàn đời của người dân nơi đây.
Cần Giờ hôm nay không chỉ có ruộng muối tự nhiên mà còn có ruộng muối trải bạt, không chỉ có những vùng nuôi tôm tự nhiên mà còn có những vùng nuôi tôm thâm canh, tăng năng suất, rồi những ruộng nghêu, ốc rộng lớn, hấp dẫn... (Sài Gòn Giải Phóng 23/7) đầu trang(
Ngày 22/7, thông tin từ Hạt Kiểm lâm Đà Lạt, trong vòng 6 năm qua rừng Đà Lạt bị suy giảm cả về diện tích lẫn chất lượng. Từ 21.196 ha năm 2008, diện tích rừng của thành phố giảm xuống còn 18.767ha, độ che phủ giảm từ 62% xuống chỉ còn 47,6%. Nguyên nhân, tốc độ đô thị hóa nhanh, xảy ra nhiều vụ phá rừng.
Thời gian qua, qua tuần tra truy quét, các cơ quan chức năng đã phát hiện 655 vụ vi phạm lâm luật, trong đó có 322 vụ phá rừng, 133 vụ khai thác rừng trái phép, 140 vụ mua bán vận chuyển lâm sản trái phép…
Lãnh đạo thành phố Đà Lạt cho biết, địa phương đang tăng cường công tác quản lý để bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng hiện có; đẩy mạnh việc trồng rừng và cây phân tán nhằm nâng cao độ che phủ của rừng lên 51% vào năm 2020. (Tiền Phong 23/7) đầu trang(
4 giờ 50 ngày 22-7, CAH Đăk Tô (Kon Tum) đã bắt đối tượng A Dũng (tên gọi khác là Pa Ân, 41 tuổi, trú thôn Đăk Manh II, xã Đăk Rơ Nga, H. Đăk Tô) khi y lén lút về thăm nhà. Đây là đối tượng có quyết định truy nã của CAH Đăk Tô về hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng. (Công An TP.Đà Nẵng 23/7) đầu trang(
Từ năm 1998 đến nay, nằm trong khuôn khổ Chương trình nghiên cứu sinh thái và bảo tồn rùa được hợp tác giữa vườn Quốc gia Cúc Phương với Hiệp hội Bảo tồn rùa châu Á (ATCN), Trung tâm Bảo tồn động vật hoang dã vườn Quốc gia Cúc Phương đã tổ chức nhiều chuyến đi thực tế, hoà mình vào thiên nhiên, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường sống cho hàng nghìn người, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên.
Nằm cách Hà Nội khoảng 120 km, Trung tâm Bảo tồn rùa Cúc Phương được đặt tại khuôn viên vườn Quốc gia (Trung tâm) Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Hàng năm, nơi đây đón tiếp, hướng dẫn hàng nghìn du khách trong nước và quốc tế đến tham quan khu trưng bày, về các loài rùa cạn và rùa nước ngọt của Việt Nam. Rùa cũng là một trong những động vật góp phần giữ cân bằng môi trường.
Chương trình nghiên cứu sinh thái và bảo tồn rùa nhằm cứu hộ và bảo tồn các loài rùa cạn và rùa nước ngọt của Việt Nam đang bị săn bắt, buôn bán và không còn môi trường sống. Đồng thời, thông qua chương trình cũng sẽ nâng cao nhận thức cho cộng đồng đối với việc bảo tồn rùa Việt Nam, bảo vệ môi trường sống.
Kể từ khi hợp tác, năm 1998, chương trình đã cứu hộ được hàng ngàn cá thể rùa, được tiếp nhận từ các Chi cục Kiểm lâm trên cả nước. Trung tâm đang cứu hộ và nuôi nhốt hơn 1000 cá thể của 20 loài rùa của Việt Nam, trong đó có 3 loài rùa của Cúc Phương. Trong gần 20 năm hoạt động, Trung tâm đã cho sinh sản thành công 15 loài rùa trong điều kiện nuôi nhốt và tiến hành thả hàng trăm cá thể rùa sau khi được cứu hộ và đưa trở lại tự nhiên.
Một nội dung được chương trình triển khai hiệu quả là thu hút sự quan tâm và chia sẻ kiến thức chuyên môn giữa các nhà khoa học và cán bộ bảo tồn trẻ là những khóa tập huấn về lĩnh vực bảo tồn rùa và kỹ năng làm việc thực địa cho các nhà sinh học trẻ và sinh viên các trường đại học.
Gần đây nhất, từ ngày 13 – 15/7/2015, Trung tâm đã tổ chức khóa đào tạo kỹ năng nghiên cứu thực địa về các loài rùa cạn và rùa nước ngọt cho một nhóm gồm 14 em học sinh lớp 11 ở trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam, Chu Văn An, chuyên Đại học Quốc Gia Hà Nội. Tham gia khóa học, các em được trang bị và cung cấp những kiến thức cơ bản về các loài rùa và đặc điểm sinh thái của chúng.
Đồng thời, phát triển các kỹ năng nghiên cứu thực địa như kỹ năng định dạng loài, kỹ năng điều tra, đo đạc, ghi chép dữ liệu và thực hành các phương pháp nghiên cứu, thậm chí là tìm kiếm và chế biến thức ăn từ tự nhiên cho rùa. Bên cạnh đó, các em cũng được tìm hiểu về những mối đe dọa tới các loài rùa ở Việt Nam. Khóa học không chỉ tạo ra nhiều cảm hứng cho các em học sinh khi tham gia, mà còn mang lại nhiều thông tin giá trị cho VQG Cúc Phương.
Chia sẻ với phóng viên báo LĐTĐ khi tham gia khóa học này, bạn Sương Mai, học sinh lớp 11 chuyên Hóa, trường Chu Văn An, Hà Nội, cho biết: “Đây thực sự là một khóa học vô cùng bổ ích dành cho những ai yêu mến và muốn tìm hiểu về rùa, cũng như muốn khám phá thiên nhiên hoang dã.
Tham gia khóa học, chúng em được học các kỹ năng nghiên cứu, bảo tồn rùa nói riêng và các loài động vật hoang dã nói chung. Các bài học được thiết kế rất hữu ích, dễ tiếp thu và được vận dụng thực hành ngay sau đó.
Khi tiếp xúc với những con rùa, được học và hiểu về những tập tính của nó, em cảm nhận được rùa cũng giống như con người vậy. Vì thế em càng yêu và đam mê với các loài động vật hoang dã hơn, hi vọng rằng sau này em sẽ làm một công việc nào đó liên quan đến lĩnh vực này”.
Được biết, với hơn 1000 cá thể rùa đang được nuôi dưỡng và bảo tồn tại Trung tâm, cùng 20 loài rùa khác nhau, trong đó hơn 80% số rùa nằm trong sách đỏ Việt Nam (loài có nguy cơ tuyệt chủng), mới đây trở thành một trong những trung tâm bảo tồn rùa và các loài động vật hoang dã vào loại lớn nhất Việt Nam. Vì thế, khi tham gia khóa học đào tạo kỹ năng bảo tồn rùa, các em được tiếp xúc trực tiếp với nhiều cá thể rùa, nhiều loài rùa khác nhau...
Ngoài ra, khóa học không chỉ giúp các em có thêm kiến thức về việc bảo tồn rùa, mà còn nâng cao ý thức trong việc bảo tồn các loại động vật hoang dã khác, cũng như giúp các em có được một sự trải nghiệm với thiên nhiên.
Bạn Nguyễn Cao Khánh, học sinh lớp 11 chuyên Lý 1, trường PTTH chuyên Hà Nội - Amsterdam, chia sẻ, Khánh từng tham gia rất nhiều các chương trình cũng như khóa học thực tế, tuy nhiên chưa có một khóa học nào lại thu hút Khánh như khóa học về bảo tồn các loại rùa ở VQG Cúc Phương.
Tham gia khóa học không chỉ giúp các em có thêm nhiều kiến thức về các loài rùa, mà còn giúp Khánh cũng như các bạn hiểu và cảm nhận được rõ hơn sự khó khăn vất vả của những người lao động, đang ngày đêm bảo tồn các loài động vật hoang dã ở đây. “Em thấy rất thú vị khi được trực tiếp tham gia trồng cây, cuốc đất, làm thức ăn cho rùa…đây thật sự là một khóa học bổ ích. Sau đợt học tập này em sẽ tích cực vận động bạn bè cùng tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường sống”, Khánh tâm sự.
Theo số liệu mà ông Lê Phương Triều – Giám đốc Trung tâm, cung cấp, hàng năm có rất nhiều các khóa học dành cho các em học sinh, sinh viên, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đến tham quan, học tập và nghiên cứu. Thông qua các khóa học này, Trung tâm tin rằng, các loài động vật hoang dã nói chung, loài rùa cạn và rùa nước ngọt nói riêng ở Việt Nam, sẽ được bảo vệ tốt hơn trong tương lai, khi ngày càng nhiều thế hệ trẻ được đào tạo về công tác bảo tồn.
“Chúng tôi mong đợi và tin tưởng những học viên trẻ có năng lực và kỹ năng, sẽ trở thành những nhà lãnh đạo tương lai trong lĩnh vực bảo tồn động vật hoang dã hoặc các ngành nghề khác giúp bảo tồn động vật hoang dã tại Việt Nam”, ông Triều cho hay. (Lao Động Thủ Đô 23/7) đầu trang(
Tỉnh Đắk Lắk đã triển khai nhiều biện pháp nhằm thu hồi đất rừng do các hộ gia đình đồng bào các dân tộc sử dụng dụng trái phép để phục hồi, trồng lại rừng. Tuy nhiên, từ năm 2014 đến nay, tỉnh chỉ mới thu hồi được trên 827 ha đất rừng bị xâm hại, sử dụng trái phép để trồng lại rừng.
Theo UBND tỉnh Đắk Lắk, từ năm 2008 đến nay, tỉnh Đắk Lắk có trên 26.470 ha rừng, đất rừng bị các hộ gia đình đồng bào các dân tộc xâm hại, sử dụng trái phép. Diện tích rừng này tập trung nhiều nhất ở các huyện Ea Súp, Buôn Đôn, Krông Bông Bông, Ea H’Leo, Krông Năng.
Tỉnh đã thành lập các đoàn kiểm tra, truy quét, xử lý các vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng nhưng chưa duy trì thường xuyên, chưa tạo được mối quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành và các chủ rừng nên công tác quản lý, bảo vệ rừng, ngăn chặn, xử lý các vụ vi phạm hiệu quả chưa cao. Việc giải tỏa, thu hồi diện tích rừng, đất rừng bị phá, bị lấn chiếm trái pháp luật để phục hồi lại rừng còn gặp nhiều khó khăn, phức tạp.
Nguyên nhân là do các chủ rừng, UBND cấp huyện, các ngành chức năng chưa thực hiện quyết liệt, hầu hết chỉ mới dừng lại ở việc thống kê, lập phương án. Thậm chí, ở một số địa phương còn thống kê chưa chính xác, nhất là việc phân loại hiện trạng thực tế, xác định đối tượng canh tác sử dụng đất lâm nghiệp trái phép chưa đầy đủ nên việc lập phương án còn gặp khó khăn, phương pháp chỉ đạo và tổ chức tuyên truyền, lập căn cứ pháp lý để giải tỏa, cưỡng chế chưa được các ngành, nhất là cơ quan bảo vệ pháp luật chưa thực hiện đồng bộ.
Một số huyện, chủ rừng đã thu hồi đất để trồng lại rừng nhưng không có kinh phí để trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng trồng, có một số nơi, người dân còn lén lút nhổ, phá bỏ cây rừng mới trồng.
Để triển khai việc thu hồi đất rừng bị xâm hại, sử dụng trái phép có hiệu quả, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk đã chỉ đạo các Chủ tịch UBND cấp huyện khẩn trương tập trung tổ chức kiểm tra, thống kê, xây dựng, thực hiện ngay phương án xử lý vi phạm, thu hồi lại rừng bị phá, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trái pháp luật để trồng lại rừng trên địa bàn quản lý.
Tỉnh cũng yêu cầu các cơ quan chức năng như Kiểm lâm, Công an, Viện kiểm sát, Tài nguyên- Môi trường, Tư pháp… hướng dẫn các chủ rừng thiết lập hồ sơ xử lý, xây dựng phương án di dời, cưỡng chế và phương án phục hồi lại rừng trên địa bàn. Tỉnh Đắk Lắk cũng đã ban hành nhiều công điện, thông báo, văn bản hướng dẫn, chỉ đạo quyết liệt các địa phương, các ngành để xử lý nghiêm khắc đối với các đối tượng khai thác, buôn bán, phá rừng trái phép làm nương rẫy trên địa bàn. (Tin Môi Trường 23/7) (Tin Môi Trường 23/7) đầu trang(
Câu chuyện nhà nhà làm thủy điện, người người làm thủy điện ở Miền Trung -Tây Nguyên không phải là mới, nhưng cho đến thời điểm này vẫn luôn mang tính thời sự.
Chúng tôi đang có mặt bên dòng sông Sê Rê Pok, đoạn chạy giữa vườn quốc gia Yok Đôn, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk. Chỉ còn khoảng 4 cây số nữa là dòng sông chảy ngược này sẽ đổ vào nước bạn Căm Pu Chia. Sông Sê Rê Pok hiện nay đang có 7 công trình thủy điện đang vận hành, một công trình đang xây dựng.
Nếu như dự án thủy điện Drăng Phôk được triển khai ở giữa rừng vườn quốc gia Yon Đôn, như vậy, sông Sê Rê Pok đoạn chảy qua địa phận tỉnh Đăk Lăk sẽ cõng trên mình 9 công trình thủy điện …
Cách đây hơn 7 năm, tỉnh Đăk Lăk đã cho phép công ty cổ phần đầu tư xây dựng và ứng dụng công nghệ mới (gọi tắt là công ty TECCO), tại thành phố Hồ Chí Minh  khảo sát, lập dự án đầu tư công trình thủy điện Đrăng Phốk.
Theo hồ sơ thiết kế ban đầu,  để có một nhà máy thủy điện 26 MW, dự án này sẽ phá trắng 63 ha rừng khộp trong vùng lõi của vườn quốc gia Yok Đôn, thuộc tiểu khu 430,431,451, và sẽ có khoảng 320 ha rừng bị ảnh hưởng cho các hạng mục công trình. Toàn bộ diện tích  rừng  này nằm trong phân khu cần được bảo vệ nghiêm ngặt của  vườn quốc gia Yok Đôn.
Tại điểm b, khoản 2, điều 3  của Nghị quyết số 49 ngày 19/6/2010 của Quốc hội “quy định tiêu chí các dự án thuộc thẩm quyền quốc hội cho phép đầu tư,  trong đó có nhóm  dự án , công trình sử dụng đất có yêu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan có diện tích từ  50 ha rừng trở lên”. Để lách luật, khỏi phải trình Quốc hội phê duyệt , công ty này đã làm lại thủ tục đầu tư dưới 50 ha rừng thay cho 63 ha rừng như hồ sơ thiết kế ban đầu.
Theo đại diện của chủ đầu tư, tuy dự án thủy điện ở giữa vùng lõi của vườn quốc gia, nhưng đây là rừng nghèo kiệt, và không phải bồi thường giải phóng mặt bằng, nên rất thuận lợi cho việc đầu tư. Ông Nguyễn Văn Lập, đại diện công ty TECCO  cho rằng: “Rừng này là rừng nghèo, vì thế làm dự án thủy điện có hiệu quả, không phải di dời  dân…”.
Ý kiến của nhà đầu tư như thế, nhưng theo quan sát của chúng tôi, và theo thông tin từ Ban lãnh đạo vườn Quốc gia Yok Đôn thì tại địa điểm sẽ đặt nhà máy thủy điện còn có nhiều diện tích rừng nguyên sinh khá nguyên vẹn. Số còn lại là diện tích rừng trung bình và đang tái sinh, phát triển rất tốt, cây rừng có  độ cao trung bình từ 12 đến 16 mét, mật độ cây khá dày, nơi này còn lưu dấu của loài thú móng guốc, và chưa hề có tác động  bên ngoài đối với rừng.
Cuối năm 2013, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Huy Huỳnh, Viện sinh thái – tài nguyên sinh vật Việt Nam, cùng với các nhà khoa học trong nước đã có chuyến khảo sát tại địa điểm dự kiến xây dựng nhà máy thủy điện trong vườn quốc gia Yok Đôn đã trăn trở băn khoăn, điều gì sẽ xảy ra khi không còn  hệ sinh thái rừng khộp độc đáo và hiếm có trên thế giới này.
Giáo  sư, Tiến sĩ Đặng Huy Huỳnh nói: "Chúng ta biết sông Sê Rê Pok chảy ngược về phía Căm Phu Chia, không chảy về Việt Nam, chính vì vậy phá rừng khộp, tất cả những cái trôi nổi sẽ về phía bên kia, rất tai hại…”
Còn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bảo Huy, Trưởng Bộ môn Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường, trường Đại học Tây Nguyên, người đã có  nhiều đề tài nghiên cứu về làm giàu rừng ở Tây Nguyên cho rằng: 115 ngàn ha rừng khộp của vườn quốc gia Yok Đôn có đặc trưng là rừng thưa, nếu cho đây là rừng nghèo để chuyển đổi mục đích sử dụng là một sai lầm lớn, và chúng ta đang đi ngược với trào lưu thế giới đó là bảo vệ rừng tự nhiên để chống biến đổi khí hậu toàn cầu.
Ông nói: "Định nghĩa nghèo ở đây là cho sản xuất gỗ nhưng rừng khộp không nghèo về chức năng sinh thái, có ý nghĩa , vai trò rất lớn trong bối cảnh biến đổi khí hậu như hiện nay".
Theo quy định tại khoản 2, điều 7 luật đa dạng sinh học ban hành năm 2008 “Những hành vi bị nghiêm cấm về đa dạng sinh học, trong đó có cấm  xây dựng công trình nhà ở trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn thiên nhiên ”. Như vậy, việc UBND tỉnh Đăk Lăk cho chủ trương Công ty TECCO lập dự án  đầu tư xây dựng thủy điện Drăng Phôk trong vườn quốc gia Yôk Đôn  là vi phạm luật đa dạng sinh học.
Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa 13 đã thông qua quy hoạch và loại bỏ 424 dự án thủy điện vừa và nhỏ, trong đó có dự án thủy điện Ea KTua, nằm trong vùng lõi của vườn quốc gia Chư Yang Sin của tỉnh Đăk Lăk. Song, không hiểu vì lý do gì mà trong danh sách dự án thủy điện bị loại không có tên dự án thủy điện Drăng Phôk ở vùng lõi vườn quốc gia Yok Đôn.
Còn hơn 279 cán bộ, kiểm lâm, nhân viên vườn quốc gia Yok Đôn vẫn đang ngày đêm kiên trì bám rừng, thậm chí vì lâm tặc, máu của họ đã không ít lần bị đổ.  Khó khăn, gian khổ, nhưng không làm họ nản chí, quyết tâm bảo vệ từng gốc cây, từng cánh rừng.  Và  giờ đây, họ lại đau đáu nỗi lòng, về một dự án có thể xóa đi bao nhiêu công sức, mồ hôi  mà họ đã đổ xuống để bảo vệ tài sản quí giá của quốc gia, một tài sản mà  đã được thiên nhiên tạo dựng cả hàng trăm, hàng nghìn năm, để cho thế hệ mai sau …
Thời gian gần đây, dư luận của cả nước đang nóng lên với  việc xả lũ tùy tiện của hồ thủy điện đã làm gia tăng sức tàn phá của lũ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài sản và tính mạng của người dân.
Ở Đăk Lăk, tại các huyện có nhiều công trình thủy điện như Buôn Đôn, Ea Súp, Ea H’Leo, trong cơn bão số 8, tháng 8 năm 2013 đã gây ra trận lũ  kinh hoàng làm  11 người mất tích, một người chết,  gần 200 căn nhà bị sập và lũ cuốn trôi, hàng ngàn ha hoa màu bị tàn phá, nhiều công trình hạ tầng bị hư hỏng nặng, gây thiệt hại khoảng  200 tỉ đồng….
Như vậy, hệ lụy của việc phá rừng và ngăn dòng làm thủy điện đã quá rõ, và điều đáng nói hơn cả là chỉ với mấy chục MW thủy điện không đáng để chúng ta đánh đổi cả một vườn quốc gia lớn nhất Việt Nam . (VOV Giao Thông 23/7) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo báo cáo của Sở NN&PTNT, hiện nay, toàn tỉnh có 316.500ha đất có rừng, trong đó: Rừng tự nhiên hơn 146.500ha; rừng trồng các loại hơn 170.000ha. Trong 6 tháng đầu năm nay, toàn tỉnh ước trồng được 10.720ha rừng tập trung đạt 81,5% kế hoạch năm, tăng 3,6% so với cùng kỳ, nâng độ che phủ rừng toàn tỉnh đạt 53,6%.
Tuy nhiên, theo đánh giá của ngành chức năng, mặc dù diện tích rừng sản xuất trên địa bàn tỉnh lớn, song chủ yếu vẫn là rừng trồng keo gỗ nhỏ dùng để băm dăm, sản xuất ván ghép thanh và dịch vụ gỗ mỏ, giá trị kinh tế không cao. Diện tích trồng rừng gỗ lớn ít, trong khi đó việc chuyển hoá từ trồng rừng gỗ nhỏ sang trồng rừng gỗ lớn trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn.
Được biết, để thực hiện đúng kế hoạch và đảm bảo tiến độ trồng rừng năm nay, các đơn vị trong ngành cũng như các doanh nghiệp thực hiện các dự án trồng rừng trên địa bàn tỉnh đã thực hiện tốt mọi công tác chuẩn bị.
Đối với việc chuẩn bị giống, trên 35 triệu cây giống đảm bảo chất lượng đã được ươm, chăm sóc từ cuối năm 2014; các đơn vị trồng rừng chuẩn bị mặt bằng, hiện trường phục vụ cho việc thiết kế, lập dự án, phát băng, cuốc hố ngay từ đầu vụ xuân và xuân hè, khi cây giống đạt tiêu chuẩn đã đồng loạt trồng trên diện rộng vì thế, đối với các loại cây trồng sinh trưởng nhanh đã thực hiện trồng xong trước tháng 6 năm nay.
Theo đó, các doanh nghiệp, chủ dự án, địa phương đã cụ thể hoá thành phương án trồng rừng, loại cây trồng, kế hoạch thực bì, ươm giống, nhằm đảm bảo tới mức cao nhất tiến độ và chất lượng.
Đến nay, toàn tỉnh trồng được hơn 10.700ha rừng tập trung, trong đó chủ yếu là rừng keo. Về công nghiệp rừng, từ đầu năm đến nay toàn tỉnh đã khai thác được 170.000m3 gỗ rừng trồng, đạt 42,5% kế hoạch, tăng 2,9% so với cùng kỳ; khai thác, thu mua nhựa thông 8.390 tấn, tăng 18% so với cùng kỳ.
Theo đánh giá của một số công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh, việc chuyển hoá rừng trồng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn sẽ cho trữ lượng rừng, lượng tăng trưởng bình quân của rừng sau chuyển hoá cao hơn gấp 6-7 lần so với trồng rừng gỗ nhỏ.
Nếu so sánh với một chu kỳ trồng rừng keo gỗ nhỏ từ 5-7 năm thì việc tỉa thưa, mở rộng không gian dinh dưỡng cho rừng tại thời điểm rừng gỗ nhỏ chuẩn bị đến kỳ thu hoạch và tiếp tục trồng thêm đến chu kỳ khai thác 13-15 năm sẽ giúp nâng trữ lượng rừng lên khoảng 350m3, theo đó bình quân sẽ cho tăng thu từ 450-500 triệu đồng/ha/chu kỳ khai thác, cho hiệu quả kinh tế cao gấp gần 3 lần so với rừng gỗ nhỏ.
Hơn nữa, trồng rừng, kinh doanh rừng gỗ lớn giúp giảm bớt số lần khai thác, trồng lại rừng nên giảm xói mòn, rửa trôi đất do quá trình khai thác, trồng lại rừng gây ra. Rừng gỗ lớn còn cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, chống biến đổi khí hậu.
Mặc dù nhận thấy lợi ích kinh tế và lợi ích về môi trường do trồng rừng gỗ lớn mang lại, nhưng hiện nay hầu hết các chủ rừng gồm cả người dân và các doanh nghiệp trồng rừng trên địa bàn tỉnh lại lựa chọn trồng rừng gỗ nhỏ thay vì trồng rừng gỗ lớn. Nguyên nhân chủ yếu do hiện nay người dân trồng rừng có thu nhập thấp, không đủ tài chính cho một chu kỳ dài 13-15 năm trồng rừng.
Các doanh nghiệp trồng rừng hiện nay cũng khó đáp ứng các điều kiện vay vốn của ngân hàng cho việc theo đuổi chu kỳ trồng rừng gỗ lớn, cộng với hiện nay đa số các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đều có diện tích rừng trồng hợp đồng với ngành Than nên khiến các công ty, doanh nghiệp phải khai thác gỗ trong đáp ứng yêu cầu băm dăm và dịch vụ gỗ mỏ.
Được biết, để thực hiện việc chuyển hoá rừng trồng gỗ nhỏ sang trồng rừng gỗ lớn, vừa qua, Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư tỉnh đã ký hợp đồng xây dựng mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn và chuyển hoá rừng cung cấp gỗ nhỏ sang gỗ lớn với Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) với quy mô mô hình 50ha, tại ít nhất 4 xã hoặc 2 huyện mỗi huyện 2 xã với 20-50 hộ tham gia. Hiện nay Trung tâm đang thực hiện lựa chọn một số hộ dân ở khu vực miền Đông của tỉnh thí điểm triển khai thực hiện mô hình này.
Hiện nay, sản xuất, kinh doanh rừng gỗ lớn đang là xu hướng trên thế giới và cũng là giải pháp quan trọng để từng bước chuyển đổi thực trạng kinh doanh lâm nghiệp hiện nay. Để phát triển trồng rừng gỗ lớn mang lại lợi ích kép về kinh tế và môi trường, tỉnh và ngành nông nghiệp cần có những định hướng cụ thể từ công tác quy hoạch phát triển rừng đến giống, kỹ thuật lâm nghiệp đến những chính sách hỗ trợ các chủ rừng trong việc thực hiện chuyển hoá từ trồng rừng gỗ nhỏ sang trồng rừng gỗ lớn... (Báo Quảng Ninh 23/7) đầu trang(
TP - Đà Nẵng đang quyết tâm lập lại trật tự khai khoáng, đặc biệt chú ý đến công tác hoàn thổ, trả lại mặt bằng, phục hồi nguyên trạng và trồng rừng thay thế. Tuy nhiên, trên thực tế điều này không là đơn giản.
Ngọn núi Phước Tường (quận Cẩm Lệ) xanh mướt vài chục năm nay giờ bị đào xẻ tan hoang. Với khoảng 10 đơn vị đang khai thác đá, núi Phước Tường nhiều chỗ bị cạo trọc, lở loét, khói bụi mù mịt. Hàng chục hố sâu hình thành sau khai thác. Hầu hết các mỏ khai thác đất đá ở Đà Nẵng hiện nay nham nhở như một đại công trường dở dang, đặc biệt với các mỏ đá ở núi Phước Tường, Phước Thuận…
Mới đây, sau khi đi kiểm tra thực tế, Chủ tịch UBND thành phố Huỳnh Đức Thơ yêu cầu các đơn vị phải ngay lập tức hoàn thổ sau khi khai thác xong để lên kế hoạch đóng cửa mỏ. Yêu cầu hoàn thổ của ông Thơ là san lấp các hố, trồng cây xanh. Tuy nhiên, với các chủ mỏ đá, đó là điều hoàn toàn nằm ngoài khả năng.
Ông Nguyễn Nho Chắn (Phó GĐ Cty TNHH Nho Chiến, chủ mỏ đá Phước Lý 2) cho rằng, yêu cầu lấp toàn bộ chiều sâu mỏ sau khi khai thác xong là chuyện quá sức. Mỏ đá Phước Lý 2 đang trong giai đoạn cuối khai thác, theo kế hoạch sẽ đóng cửa vào tháng 12/2015. Mặc dù vậy, tại đây, hàng trăm công nhân vẫn đang ngày đêm làm việc.
Theo quy định cấp phép khai thác cứ 1 năm gia hạn một lần, trong khi quy hoạch mỏ Phước Lý 2 bắt đầu từ 2005 có thời hạn đến 2015 là 10 năm. Doanh nghiệp vừa làm vừa sợ thu hồi mỏ, rất bất cập. Theo ông Chắn, khi được cấp phép, DN của ông được phép hoàn thổ theo phương án tích nước, tạo hồ chứa.
Tuy nhiên, giờ đây thành phố bắt buộc phải san lấp. “Với những hố sâu vài chục mét như thế, nếu san lấp mất vài triệu khối đất. Có bán cả gia sản, hoàn thổ tới già cũng không xong”.
Theo tìm hiểu, gần 10 đơn vị khai thác đá ở núi Phước Tường đều hoạt động với phương thức bóc tầng phủ, móc sâu vào lòng núi hoặc tạo thành hố sâu so với mặt bằng. Chỉ một số ít DN dự trữ đất khi bóc tầng phủ để có kế hoạch hoàn thổ sau này. Đa số các mỏ đều chưa có phương án phục hồi nguyên trạng.
Ngoài ra, tùy theo mức độ, diện tích và trữ lượng mỏ, các DN trước khi khai khoáng đều phải ký quỹ phục hồi môi trường. Tuy nhiên, theo một DN, số tiền này là không ăn thua và không thể nào phục hồi hoàn toàn, nguyên trạng.
Tháng 6/2015, sau khi tổng kiểm tra, rà soát tất cả các mỏ khai khoáng trên địa bàn thành phố, Chủ tịch thành phố Huỳnh Đức Thơ yêu cầu kể từ nay trở đi, trước khi cấp phép mới hoặc gia hạn giấy phép khai thác khoáng sản (đất đồi, đá, đất sét, cát…) cho các đơn vị cá nhân liên quan, Sở TN&MT làm việc và đề nghị các đơn vị, cá nhân khai thác phải nộp số tiền 500 triệu đồng (tùy thuộc vào quy mô, công suất, khối lượng khai thác…) để cam kết đảm bảo hoàn thổ theo phương án tại khu vực sau khi kết thúc quá trình khai thác.
Đáng lưu ý, đây là số tiền ngoài tiền ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường theo luật. Ông Thơ nêu rõ, nếu đơn vị nào không phục hồi môi trường, hoàn thổ nguyên trạng, UBND thành phố sẽ xử phạt, sử dụng nguồn tiền trên để hoàn thổ và nộp phạt. Nếu không đủ, chủ DN tiếp tục nộp bổ sung. Nếu DN thực hiện hoàn chỉnh sẽ được trả lại số tiền trên.
Tuy nhiên, một số DN khai khoáng đang rất phân vân vì không biết nộp 500 triệu đồng bằng hình thức nào. Ông Nguyễn Điểu – GĐ Sở TN&MT cho hay, đúng là chưa có luật nào quy định DN phải nộp 500 triệu đồng mới được cấp, gia hạn phép. Tuy nhiên, đây là sáng kiến mới và hy vọng nhờ thế việc hoàn thổ sau khai thác sẽ thuận lợi hơn. Ông Điểu thừa nhận các DN còn e dè, một số ủng hộ.
“Số tiền trên theo tính toán là hợp lý. DN nào có tâm thì họ sẽ nộp. Cái này chúng tôi cũng đang ở mức độ vận động là chính. Theo thời gian, Sở sẽ mạnh tay xử lý để đi vào nề nếp hơn”.
Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng cũng giao Sở TN&MT sắp tới chủ trì, phối hợp với các sở, ngành quận huyện mỗi quý đi kiểm tra một lần (chưa kể đột xuất) các mỏ. Đặc biệt, sắp tới việc khai thác, kể cả khai thác đá phải phù hợp với hiện trạng và quy hoạch, tạo mặt bằng, không được tạo hố sâu như các dự án cũ.
Trên thực tế, các dự án khai khoáng, từ múc đất ruộng, đất đồi, khai thác đá… từ trước tới nay, sau khi hoàn thành đều để lại vết lở loét tan hoang, không đúng với hiện trạng ban đầu. (Tiền Phong 24/7) đầu trang(
Lâu nay, diện tích đất lâm nghiệp hay đất rừng phòng hộ, rừng sản xuất, rừng nghèo... vẫn được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố cụ thể. Nhưng qua đợt giám sát của UBTVQH về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường mới thấy, chính bộ chủ quản chưa nắm rõ chi tiết các loại đất trong nông, lâm trường quốc doanh, dù về lý Nhà nước phải nắm rõ tài sản thuộc “đứa con” của mình.
Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, sau sắp xếp các lâm trường quốc doanh đang quản lý 2,222 triệu hécta đất, do chuyển 1,350 triệu hécta cho các ban quản lý và trả về địa phương 415.125ha. Các diện tích đất lâm nghiệp được chuyển giao, hiện đã cơ bản chuyển giao diện tích đất ở, đất gắn với công trình công cộng, và một phần diện tích đất lâm nghiệp bàn giao cho địa phương đã được chính quyền giao cho các hộ dân thiếu đất sản xuất, hộ thuộc diện giãn dân, tách hộ.
Nhưng cũng chính trong báo cáo này, Bộ Tài nguyên và Môi trường lại đưa ra con số các tổ chức đang quản lý, sử dụng đất nông, lâm nghiệp đã tiến hành đo đạc, xác định ranh giới, mốc giới sử dụng bao gồm cả các đơn vị ngoài phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết 28.
Đặc biệt, tại báo cáo về kết quả thực hiện kinh phí đo đạc, cắm mốc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các lâm trường của Bộ Tài chính lại cung cấp một con số khác do Bộ Tài nguyên và Môi trường báo sang. Cụ thể, theo báo cáo của các địa phương chuẩn bị thực hiện Nghị quyết 30 của Bộ Chính trị, tính đến ngày 31.12.2014 có 264 công ty nông, lâm nghiệp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, với diện tích đã cấp giấy chứng nhận là 1,264 triệu hécta, đạt 67% diện tích cần cấp.
Từ con số này, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xác định tổng nhu cầu kinh phí thực hiện nhiệm vụ này là 1.015,84 tỷ đồng (chưa bao gồm kinh phí do một số địa phương đã bỏ ra để hoàn thành công tác đo đạc, cắm mốc ranh giới, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận). Bộ Tài nguyên và Môi trường đang đề nghị Bộ Tài chính xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định hỗ trợ 100% kinh phí từ ngân sách trung ương cho các địa phương thực hiện công tác này để có thể hoàn thành trong năm 2015.
Trường hợp ngân sách năm 2015 không đáp ứng được nhu cầu kinh phí thì đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép ứng trước kinh phí từ nguồn Quỹ Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp của Chính phủ.
Có thể thấy, hầu hết lâm trường chưa thực hiện việc rà soát, đo đạc cắm mốc xác định ranh giới tại thực địa, hay tiến hành đo vẽ được bản đồ để làm các thủ tục giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng theo đúng quy định, trừ các nông trường tại Hà Tĩnh, Hòa Bình và Tuyên Quang. Phần diện tích được vẽ khoanh trong phạm vi quản lý của nông, lâm trường cũng trùng với phần diện tích trước khi sắp xếp lại theo Nghị quyết 28, không thể hiện chi tiết các loại đất bên trong.
Nhưng việc một đơn vị không có số liệu chi tiết về các loại đất bên trong địa bàn mình được quyền quản lý sẽ không nghiêm trọng bằng việc cơ quan quản lý về đất đai lại không nắm chính xác số liệu, đưa ra những con số khác nhau về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bởi con số thống kê này sẽ ảnh hưởng đến việc đánh giá thực trạng đo đạc, cắm mốc, vẽ bản đồ và cấp giấy chứng nhận. Thực trạng chưa chính xác, thì có thể đưa giải pháp đúng?
Hiện nay, nhu cầu biết chính xác chi tiết các loại đất bên trong diện tích được từng lâm trường quản lý cũng cao hơn, vì Nghị quyết 30 của Bộ Chính trị đã xác định không chỉ có công ty lâm nghiệp 100% vốn Nhà nước, mà còn có công ty 2 thành viên trở lên nhằm gắn kết phát triển vùng nguyên liệu của công ty và của người dân trong vùng với phát triển công nghiệp chế biến và thị trường.
Vì thế, việc đánh giá chính xác tình trạng đất đai trong mỗi lâm trường, công ty lâm nghiệp sẽ giúp phân loại chính xác đơn vị nào sẽ do Nhà nước nắm 100% cổ phần, đơn vị nào sẽ nắm 69% hoặc không nắm cổ phần nữa như Nghị định 118 của Chính phủ quy định.
Hiện trạng đất đai đã rõ cũng sẽ giúp xác định chính xác giá trị công ty lâm nghiệp trước khi cổ phần, vừa bảo vệ tốt tài sản của Nhà nước, cũng như quyền lợi của cổ đông tham gia góp vốn. Nhưng trên hết, đất lâm nghiệp là một tài nguyên quan trọng của quốc gia, nên không có lý nào lại không nắm chi tiết về thực trạng của nguồn tài nguyên này. (Đại Biểu Nhân Dân 24/7) đầu trang(
Bước qua năm thứ 4 triển khai hoạt động, tỉnh Gia Lai được đánh giá là một trong những tỉnh đi đầu về việc thu và chi trả phí dịch vụ môi trường rừng. Cùng với đó, diện tích rừng được giao khoán ngày càng tăng lên, tạo nguồn thu nhập ổn định cho nhiều hộ gia đình nhận khoán, góp phần lớn trong công tác bảo vệ và phát triển rừng ở địa phương.
Thực hiện theo Nghị định số 99/2010 của Chính phủ, tỉnh Gia Lai đã triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) bắt đầu từ tháng 7/2012. Gia Lai là tỉnh có diện tích rừng khá lớn so với cả nước và nhiều điều kiện địa hình để phát triển các công trình thủy điện và khai thác du lịch. Theo đó, diện tích rừng cung ứng DVMTR trên địa bàn tỉnh có khoảng 495.614,32 ha/623.280,76 ha, chiếm 79,51% diện tích rừng toàn tỉnh tính đến hết năm 2014.
Các cơ sở sử dụng DVMTR trên địa bàn tỉnh gồm có 40 nhà máy thủy điện (trong đó có 6 nhà máy thủy điện thuộc lưu vực liên tỉnh), 2 nhà máy sản xuất nước sạch. Mức chi trả là 20 đồng/kwh điện thương phẩm và 40 đồng/m3 nước thương phẩm. Các nhà máy phải chi trả tiền bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng, điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất thuỷ điện và sản xuất nước sạch. Ngoài ra để bảo vệ cảnh quan thiên nhiên cho du lịch sinh thái như Vườn quốc gia Kon Ka Kinh, Kon Chư Răng, các đơn vị phải chi trả từ 1 - 2 % trên doanh thu thực hiện.
Các cơ sở cung ứng DVMTR gồm 38 chủ rừng là tổ chức nhà nước (19 ban quản lý rừng, Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên, 11 Công ty Lâm nghiệp và 8 tổ chức nhà nước được giao rừng), 87 UBND các xã và 7 chủ rừng là cộng đồng dân cư thôn.
Theo thống kê của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Gia Lai, tính đến hết năm 2014, nguồn thu từ DVMTR là hơn 209 tỷ đồng. Kế hoạch thu tiền DVMTR của tỉnh Gia Lai trong năm 2015 là 70 tỷ đồng, đến hiện tại đã thu được 41,7 tỷ đồng, đạt 59% so với kê hoạch.
Tiền chi trả DVMTR được sử dụng đúng mục đích phục vụ cho công tác quản lý bảo vệ rừng. Theo đó, việc chi trả tiền cho các hộ nhận khoán phụ thuộc vào lưu vực sử dụng DVMTR, tối thiểu là 200 ngàn đồng/ha/năm, tối đa (năm 2014) là 342 ngàn đồng/ha/năm. Đây là nguồn tài chính quan trọng, vừa được tạo ra từ ngành lâm nghiệp, làm giảm áp lực cho ngân sách Nhà nước, đồng thời kết hợp với nguồn vốn ngân sách đã góp phần bảo đảm nhu cầu công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Sau khi thực hiện chính sách chi trả phí DVMTR, các chủ rừng là tổ chức nhà nước đã tăng cường giao khoán, mở rộng diện tích khoán bảo vệ rừng. Do đó, diện tích khoán bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh đã tăng lên đáng kể, từ 38.000 ha vào năm 2012, thì đến năm 2015 đã tăng lên 110.000 ha rừng được nhận khoán.
Số hộ nhận khoán và nhóm hộ, cộng đồng dân cư tăng lên 2.881 hộ, nhóm hộ so với trước đây. Cùng với đó, sự cố cháy rừng, lấn chiếm đất rừng đã giảm đáng kể. Đặc biệt, việc giao khoán và nhận khoán bằng các hợp đồng ký kết giữa các bên khiến nhiều bà con phấn khởi. Tuy số tiền nhận khoán chưa thực cao nhưng đó là nguồn thu ổn định cho nhiều người, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số.
Là một trong những xã có diện tích rừng tự nhiên lớn đến 15.494 ha, xã Chư Drăng (huyện Krông Pa, Gia Lai) được nhận giao khoán 1.500 ha rừng. Mỗi năm, UBND xã nhận được trên 500 triệu đồng tiền DVMTR. “Với số tiền này, chúng tôi có kinh phí để chi trả hợp đồng lao động cho các hộ nhận khoán. Nhờ chính sách chi trả DVMTR, cả xã có 5 nhóm hộ gia đình luôn có thu nhập ổn định, đời sống cải thiện, giảm số hộ nghèo. Diện tích rừng tự nhiên cũng được tăng cường bảo vệ, hạn chế trường hợp rừng bị lấn chiếm”, ông Ksor Ror - Phó chủ tịch kiêm Phó ban lâm nghiệp xã Chư Drăng, huyện Krông Pa phấn khởi nói.
Tuy nhiên, chính sách chi trả DVMTR của tỉnh cũng gặp nhiều khó khăn. Ông Võ Văn Hạnh -Giám đốc trung tâm bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Gia Lai cho biết: “Chính sách chi trả DVMTR là một chính sách mới, các cán bộ đều mới và mỏng nên gặp nhiều khó khăn trong tìm hiểu, tiếp cận với công việc. Đối tượng phải chi trả nguồn phí này cũng rất đa dạng nên việc rà soát các đối tượng thu cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban ngành địa phương. Ngoài ra, một số nhà máy thủy điện nhỏ trên địa bàn tỉnh lấy lý do khó khăn tài chính, vẫn chưa nộp tiền chi trả phí DVMTR”.
Cũng theo ông Hạnh, thực tế thấy được là tại một số nơi có nguồn thu phí DVMTR cao nhưng diện tích khoán bảo vệ lại thấp và ngược lại nên chưa phát huy hiệu quả. Mức chi trả tiền DVMTR chưa phù hợp với biến động tăng giá điện, nước tiêu dùng. Công tác tuyên truyền đến các đối tượng còn hạn chế, chênh lệch đơn giá gây ảnh hưởng đến ỷ thức của người dân.
Qua 4 năm thực hiện chi trả phí DVMTR, công tác quản lý, bảo vệ rừng của tỉnh Gia Lai đã đạt được nhiều thành quả đáng kể. Hi vọng với những gì đã đạt được, chính sách này sẽ ngày càng được chỉnh trang cho phù hợp và phát huy hơn nữa hiệu quả của nó trong việc bảo vệ và phát triển rừng ở địa phương. (Tài Nguyên Và Môi Trường 23/7) đầu trang(
Cty TNHH Duyên Anh Huy cho biết, dự án chăn nuôi heo rừng lai dưới tán rừng kết hợp với quản lý và bảo vệ rừng tại tiểu khu 469 thuộc xã Lộc Tân (huyện Bảo Lâm, Lâm Đồng) do Cty làm chủ đầu tư sẽ được triển khai trong thời gian tới.
Với hơn 25 ha đất lâm nghiệp, khu chăn nuôi heo được xây dựng quy mô 24 ha, tổng đàn khoảng 400 con (heo ta lai heo rừng), kết hợp với quản lý bảo vệ rừng, diện tích rừng trồng mới trên đất trống 1 ha. Tổng vốn đầu tư trên 2,4 tỷ đồng.
Đây là dự án nuôi heo rừng lai dưới tán rừng có quy mô lớn ở Lâm Đồng, góp phần bảo vệ, phát triển rừng, cung cấp heo nái giống, heo lai thương phẩm, tạo việc làm cho lao động địa phương. (Nông Nghiệp Việt Nam 24/7) đầu trang(
Với 80% nguồn nguyên liệu phải nhập khẩu (NK), các doanh nghiệp (DN) gỗ xuất khẩu (XK) đang đứng trước lo ngại sẽ không tận dụng tốt nhất những ưu đãi từ các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) đã và đang chuẩn bị ký kết. Chủ động nguồn nguyên liệu là giải pháp quan trọng hàng đầu giúp XK gỗ bền vững.
Mặc dù có những biến động về thị trường, song nhìn chung, hơn 10 năm trở lại đây, ngành gỗ Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích. Hiện Việt Nam là nước XK gỗ lớn nhất Đông Nam Á và đồ gỗ là 1 trong 10 mặt hàng XK chủ lực của nước ta.
Việt Nam đã và đang chuẩn bị ký kết một loạt các FTA quan trọng. Với những ưu đãi thuế quan lớn, các FTA này được nhận định sẽ mang lại nhiều lợi ích cho ngành gỗ. Tuy nhiên, để được hưởng những ưu đãi lớn này, Việt Nam đang “vướng” ở khâu nguyên liệu.
Đơn cử như khi FTA Việt Nam - EU được ký kết, thuế XK các sản phẩm gỗ sang thị trường này sẽ về 0%. Tuy nhiên, để được hưởng mức thuế XK ưu đãi này, DN phải chứng minh gỗ nguyên liệu có nguồn gốc xuất xứ hợp pháp. Hoặc để được hưởng mức thuế ưu đãi từ Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), DN phải đáp ứng được những quy định về hàm lượng giá trị khu vực.
Cụ thể, sản phẩm phải đạt tỷ lệ nội địa hóa từ 55% tổng giá trị trở lên. DN chỉ được phép nhập tối đa 45% nguyên vật liệu từ các nước ngoài khối để sản xuất ra một sản phẩm, kể cả chi phí gia công.
Ông Nguyễn Tôn Quyền- Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam - cho biết, hiện nay, Việt Nam đang nhập khẩu 70 - 80% nguồn nguyên liệu gỗ từ rất nhiều quốc gia trên thế giới và không phải nước nào cũng có chứng chỉ hợp pháp. Nếu không có giải pháp chủ động được nguồn nguyên liệu, DN sẽ lỡ rất nhiều ưu đãi từ các FTA.
Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp chỉ rõ, đến năm 2020, sản lượng gỗ nguyên liệu trong nước đạt 14,5 triệu m3, đáp ứng 62% nhu cầu; đến năm 2030 đạt 24,5 triệu m3, đáp ứng 75% nhu cầu. Để đáp ứng được mục tiêu này, mô hình cánh đồng lớn đang được đặt rất nhiều kỳ vọng.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  Hà Công Tuấn chia sẻ, cánh đồng lớn là mô hình được triển khai và thu được hiệu quả bước đầu trong sản xuất nông nghiệp nói chung và đang được khuyến khích triển khai trong lĩnh vực lâm nghiệp, bắt đầu từ một số địa phương là Quảng Trị, Quảng Ninh.
Với đặc điểm huy động các hộ nông dân giao đất, giao rừng cho DN, DN có trách nhiệm áp dụng công nghệ để sản xuất các khu rừng nguyên liệu bảo đảm chất lượng, phù hợp với yêu cầu của các thị trường NK, đây được đánh giá là mô hình giúp DN chủ động được nguồn gỗ nguyên liệu có chất lượng.
Thứ trưởng Hà Công Tuấn nhấn mạnh: “Các DN nhận đất của bà con phải chịu trách nhiệm bảo đảm an sinh xã hội, nhất là những điều kiện về xây dựng nông thôn mới, trường học cho con em của bà con... Tuy nhiên, để làm được tất cả những việc này, DN không thể đủ vốn và cần sự hỗ trợ của nhà nước. Bên cạnh đó, xây dựng cánh đồng lớn cần nguồn vốn lớn nên vai trò liên kết, bảo lãnh của nhà nước giữa DN và bà con nông dân nhằm sử dụng “sổ đỏ” để vay vốn ngân hàng cần được nâng cao”.
Mô hình cánh đồng lớn đã được áp dụng và tương đối thành công với lúa gạo khi DN - những người am hiểu nhất về nhu cầu của thị trường XK và có tiềm năng về tài chính được giao nhiệm vụ xây dựng vùng nguyên liệu. Nếu áp dụng thành công vào ngành lâm nghiệp, đây chính là đầu ra tốt nhất cho nguyên liệu gỗ. (Công Thương 24/7) đầu trang(
Trước kiến nghị của Công ty TNHH Duy Tuấn trong việc hoàn thuế xuất khẩu và số tiền phạt chậm nộp của lô hàng gỗ tròn có nguồn gốc nhập khẩu sau đó tái xuất ra nước ngoài quá hạn 365 ngày, Tổng cục Hải đã có phản hồi về vấn đề này.
Phân tích trường hợp của Công ty TNHH Duy Tuấn, Tổng cục Hải quan cho biết, theo quy định tại khoản 8 Điều 112 Thông tư 128/2013/TT-BTC thì hàng hóa nhập khẩu nhưng phải tái xuất trả lại chủ hàng nước ngoài hoặc tái xuất sang nước thứ ba hoặc tái xuất vào khu phi thuế quan (để sử dụng trong khu phi thuế quan hoặc xuất khẩu ra nước ngoài; trừ trường hợp xuất vào Khu kinh tế thương mại đặc biệt, khu thương mại - công nghiệp và các khu vực kinh tế khác thực hiện theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính) được xét hoàn lại thuế nhập khẩu đã nộp tương ứng với số lượng hàng thực tế tái xuất và không phải nộp thuế xuất khẩu.
Điều kiện để được xét hoàn lại thuế nhập khẩu đã nộp và không phải nộp thuế xuất khẩu: Hàng hóa được tái xuất ra nước ngoài hoặc tái xuất vào khu phi thuế quan trong thời hạn tối đa 365 ngày kể từ ngày thực tế nhập khẩu. Trường hợp quá 365 ngày, cơ quan hải quan nơi làm thủ tục hoàn thuế, không thu thuế, kiểm tra cụ thể và báo cáo Tổng cục Hải quan để báo cáo Bộ Tài chính xem xét, xử lý từng trường hợp cụ thể.
Tại công văn số 19128/BTC-TCHQ ngày 30-12-2014 của Bộ Tài chính yêu cầu: “Các Cục Hải quan tỉnh, thành phố không thực hiện hoàn thuế đối với mặt hàng rượu, bia, thuốc lá, gỗ nhập khẩu sau đó tái xuất quá 365 ngày kể từ ngày nhập khẩu”.
Vì vậy, trường hợp của Công ty TNHH Duy Tuấn đăng ký tờ khai xuất khẩu cho lô hàng gỗ quá thời hạn 365 ngày kể từ ngày nhập khẩu, không đáp ứng điều kiện để được xem xét hoàn thuế theo quy định tại khoản 8 Điều 112 Thông tư 128/2013/TT-BTC. Do đó, Công ty TNHH Duy Tuấn không được hoàn lại số tiền thuế xuất khẩu đã nộp.
Đối với kiến nghị của Công ty về việc “toàn bộ lô hàng của Công ty đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế giá trị gia tăng 10% khi nhập khẩu nhưng khi xuất khẩu Công ty phải nộp tiếp khoản thuế xuất khẩu 10%, như vậy, thuế chồng thuế, điều này rất bất hợp lý”, Tổng cục Hải quan cho biết, theo quy định tại Điều 9 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31-12-2013 của Bộ Tài chính thì đối với hàng hóa xuất khẩu được áp dụng thuế suất 0%.
Bên cạnh đó, căn cứ quy định tại Điều 14 Thông tư 219/2013/TT-BTC thì thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT được khấu trừ toàn bộ, kể cả thuế GTGT đầu vào không được bồi thường của hàng hóa chịu thuế GTGT bị tổn thất. Điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào của hàng hóa xuất khẩu thực hiện theo quy định tại Điều 16 Thông tư 219/2013/TT-BTC.
Như vậy, đối với thuế GTGT DN đã nộp đầu vào là 10% khi xuất khẩu được áp dụng mức thuế suất 0% thì số thuế GTGT đầu vào DN sẽ được khấu trừ tại cơ quan thuế địa phương nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 16 Thông tư 219/2013/TT-BTC.
Do đó, kiến nghị của DN về việc “Toàn bộ lô hàng trên đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế giá trị gia tăng 10% khi nhập khẩu nhưng khi xuất khẩu Công ty phải nộp tiếp khoản thuế xuất khẩu 10% là thuế chồng thuế” là không đúng với quy định của Luật thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Riêng đối với kiến nghị của Công ty đối với công văn số 19128/BTC-TCHQ ngày 30-12-2014 của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan phân tích, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14-6-2005 thì hàng hóa nhập khẩu đã nộp thuế nhập khẩu nhưng phải tái xuất được hoàn lại thuế nhập khẩu đã nộp.
Đồng thời, theo quy định tại khoản 8 Điều 15 Nghị định 87/2010/NĐ-CP của Chính phủ thì hàng hóa nhập khẩu nhưng phải tái xuất trả lại chủ hàng nước ngoài hoặc tái xuất sang nước thứ ba hoặc xuất vào khu phi thuế quan được xét hoàn lại thuế nhập khẩu đã nộp tương ứng với số lượng hàng hóa thực tế tái xuất và không phải nộp thuế xuất khẩu.
Tại điểm b khoản 7 Điều 17 Nghị định 87/2010/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định rõ Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể việc thi hành Nghị định này.
Bên cạnh đó, theo quy định tại điểm a1 khoản 8 Điều 112 Thông tư số 128/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định trường hợp quá 365 ngày, cơ quan hải quan nơi làm thủ tục hoàn thuế, không thu thuế, kiểm tra cụ thể và báo cáo Tổng cục Hải quan để báo cáo Bộ Tài chính xem xét, xử lý từng trường hợp cụ thể. Như vậy, thẩm quyền xem xét hoàn thuế hay không hoàn thuế đối với các trường hợp quá hạn 365 ngày kể từ ngày nhập khẩu là thuộc thẩm quyền xử lý của Bộ Tài chính.
Với các quy định nêu trên, Bộ Tài chính ban hành công văn số 19128/BTC-TCHQ hướng dẫn không thực hiện hoàn thuế đối với mặt hàng rượu, bia, thuốc lá, gỗ nhập khẩu sau đó tái xuất quá 365 ngày kể từ ngày nhập khẩu là hoàn toàn phù hợp với thẩm quyền của Bộ Tài chính.
Liên quan đến việc thực hiện công văn số 19128/BTC-TCHQ ngày 30-12-2014, Bộ Tài chính đã có công văn số 357/BTC-TCHQ ngày 12-1-2015, số 404/BTC-TCHQ ngày 13-1-2015, số 4056/BTC-TCHQ ngày 30-3-2015 hướng dẫn các Cục Hải quan tỉnh, thành phố thực hiện. (Hải Quan 24/7) đầu trang(
Xác định kinh tế lâm nghiệp là thế mạnh, từ năm 2012 đến nay, huyện Chợ Mới đã tích cực vận động người dân chung sức đóng góp hơn 350 triệu đồng mở mới được hơn 36km đường lâm nghiệp phục vụ phát triển sản xuất.
Các tuyến đường này chủ yếu nằm tại các xã có diện tích rừng trồng lớn như: Thanh Vận, Thanh Mai, Nông Thịnh, Như Cố, Quảng Chu. Chính quyền các xã cho biết, những tuyến đường lâm nghiệp trên địa bàn do người dân tự nguyện đóng góp 100% vốn, ngày công lao động và hiến đất làm đường.
Trung bình mỗi hộ đóng góp từ 100-500.000 đồng để mở đường vào khu sản xuất. Nhờ có những tuyến đường lâm nghiệp này, việc vận chuyển phân bón, giống cây trồng và các loại lâm sản của người dân có nhiều thuận lợi hơn so với trước đây. Vì vậy, gía trị kinh tế của các cánh rừng trồng cũng được nâng lên rõ rệt.
Song song với lợi ích về kinh tế, việc làm này còn góp phần thúc đẩy chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Chợ Mới đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 24/7) đầu trang(
Sáng ngày 23/7/2015, tại Cửa khẩu Quốc tế Cha Lo, Ban Quản lý Vườn Quốc gia (BQL VQG) Phong Nha - Kẻ Bàng phối hợp với Dự án Khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng và Hợp phần Hợp tác kỹ thuật GIZ tổ chức hội nghị tăng cường các biện pháp phối hợp trong quản lý, bảo vệ rừng Di sản thế giới VQG Phong Nha - Kẻ Bàng thuộc khu vực tiếp giáp biên giới Việt - Lào trên địa bàn huyện Minh Hóa.
Tham dự hội nghị có đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, đơn vị và địa phương liên quan.
Huyện Minh Hóa hiện có 03 xã vùng đệm tiếp giáp với biên giới Việt - Lào là xã Thượng Hóa, Hóa Sơn và Dân Hóa với hơn 1.900 hộ, chủ yếu là đồng bào Bru - Vân Kiều, Chứt. Người dân nơi đây có trình độ dân trí thấp, thu nhập chủ yếu dựa vào rừng nên công tác quản lý, bảo vệ rừng Di sản thế giới VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đang gặp rất nhiều khó khăn.
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, trong những năm qua, BQL VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đã phối hợp với các cơ quan chức năng cùng chính quyền địa phương đẩy mạnh thực thi pháp luật, đấu tranh, xác minh làm rõ các đối tượng vi phạm lâm luật... Do đó, các hành vi vi phạm lâm luật trong khu vực VQG đã từng bước được ngăn chặn và giảm đáng kể.
Từ năm 2003 đến nay, BQL Vườn đã phối hợp với các ngành chức năng xử lý 57 vụ vi phạm, tịch thu 174,6 m3 gỗ các loại, 38 cá thể động vật hoang dã và 46 kg bộ phận động vật hoang dã...
Thời gian tới, BQL VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đề ra một số phương hướng, kế hoạch trọng tâm, đó là: Tiếp tục chú trọng biện pháp phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng để tiếp tục bảo vệ rừng Di sản VQG Phong Nha - Kẻ Bàng với tiêu chí mới đã được công nhận, đảm bảo sự phát triển bền vững của nguồn tài nguyên thiên nhiên, di tích lịch sử, cảnh quan trên địa bàn.
Bên cạnh đó, BQL Vườn cũng tập trung thực hiện tốt công tác tuần tra, kiểm soát kịp thời nhằm phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm thuộc khu vực VQG Phong Nha - Kẻ Bàng; đồng thời thường xuyên tuyên truyền, phổ biến nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của cộng đồng dân cư và chính quyền địa phương trong công tác bảo vệ Di sản...
Tại hội nghị, các đại biểu đã dành thời gian để tập trung thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác phối hợp trong quản lý, bảo vệ rừng Di sản... (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Quảng Bình 23/7) đầu trang(
Chiến lược đề ra cho ngành gỗ là hết năm 2015 phải đạt kim ngạch xuất khẩu 7 tỷ USD, hết năm 2020 đạt 10 tỷ USD. Tuy nhiên, chỉ trong 6 tháng đầu năm nay, trong bối cảnh thị trường quốc tế diễn biến phức tạp, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ vẫn đạt khoảng 3 tỷ USD, tăng trưởng khoảng 7% so với cùng kỳ năm 2014.
Mặc dù đã đạt được con số “ấn tượng” như vậy, song theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, từ nay đến cuối năm, ngành gỗ phải rất nỗ lực mới có thể đạt được con số gần 4 tỷ USD để hoàn thành mục tiêu xuất khẩu 2015.
Theo nhìn nhận của ông Nguyễn Tôn Quyền – Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, hiện các doanh nghiệp xuất khẩu và chế biến gỗ Việt Nam vẫn đang gặp phải nhiều trở ngại trong việc chứng minh nguồn gốc gỗ hợp pháp để xuất khẩu, nhất là đối với các thị trường khó tính như Mỹ, EU.
Thứ nhất, phần lớn doanh nghiệp Việt vẫn chưa thể đáp ứng được Quy chế Gỗ của Liên minh Châu Âu (EUTR) có hiệu lực từ tháng 3/2013 và Hiệp định đối tác tự nguyện về Tăng cường thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu dự kiến sẽ được ký kết vào cuối năm nay.
FLEGT đòi hỏi nhà xuất khẩu phải trình chứng minh nguồn gốc, xuất xứ gỗ hợp pháp, trong khi đó, gỗ của Việt Nam lại được mua từ nhiều quốc gia trên thế giới và không phải nước nào cũng có chứng nhận đảm bảo gỗ hợp pháp. Hiện, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thể đáp ứng được yêu cầu trên bởi chưa có hướng dẫn thật cụ thể từ phía các cơ quan chức năng.
Thứ hai, tuy Việt Nam đang nhập khẩu gỗ ở 67 quốc gia, nhưng chỉ có khoảng 5-6 quốc gia là có chứng chỉ gỗ hợp pháp, còn lại là chưa. Hiện, doanh nghiệp đang rất thiếu thông tin về các quốc gia, không biết được các công ty nào có thể bán gỗ cho Việt Nam với đầy đủ các giấy phép như vậy. Nếu doanh nghiệp tự đi tìm các quốc gia khác để nhập khẩu gỗ sẽ rất tốn kém cả về thời gian và tiền bạc.
Thứ ba, 70% nguyên liệu sản xuất gỗ của Việt Nam phải nhập khẩu, chi phí phục vụ sản xuất như than, điện, nước đều quá cao vì vậy, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp gỗ Việt Nam còn kém so với các nước khác như Myanmar, Malaysia và Indonesia… Các nước này có đủ nguồn gỗ không cần phải nhập khẩu nguyên liệu nên tạo ra được những sản phẩm chất lượng cao với giá thành hạ hơn.
Cuối cùng, việc mở rộng thị trường xuất khẩu chưa có nhiều khả quan. Tại thị trường Nga, mặc dù được khuyến khích và tạo điều kiện nhưng hiện doanh nghiệp vẫn chưa thâm nhập được. Hiện nay, hiệp hội cùng các doanh nghiệp đang cố gắng thúc đẩy để doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục tiếp cận các thị trường như Mỹ, Ấn Độ, Trung Đông…
Không thể phủ nhận Quy chế Gỗ của Liên minh Châu Âu (EUTR) hay VPA/FLEGT khi thực thi sẽ là một rào cản lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, theo bà Nguyễn Tường Vân, Chánh văn phòng Ban chỉ đạo Lacey và FLEGT – Tổng cục Lâm nghiệm, nhiều doanh nghiệp trong nước đã tỏ ra không quan ngại bởi trước bối cảnh này, các doanh nghiệp Việt Nam đã xác định buộc phải thích ứng để vượt qua hàng rào kỹ thuật này.
Những năm vừa qua, thông tin về EUTR cũng như VPA/FLEGT đã được truyền tải nhiều trên các phương tiện truyền thông đại chúng, nhờ đó, doanh nghiệp đã dần nắm được những thông tin về và cũng đã những chuẩn bị nhất định để đón đầu cơ hội này.
Bà Tường Vân cũng thêm một lần nữa khẳng định: Gỗ hợp pháp là gỗ được khai thác, vận chuyển, chế biến, xuất khẩu tuân thủ quy định luật pháp của nước sở tại. Chúng ta ở Việt Nam nếu tuân thủ các quy định về khai thác, vận chuyển, chế biến, xuất khẩu của Việt Nam thì đó là hợp pháp.
Thực tế cho thấy, trong 6 tháng qua, lượng hàng các doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trường Mỹ, Nhật Bản… đã tăng mạnh, chiếm 66% tổng giá trị xuất khẩu. Bên cạnh sự khởi sắc đáng mừng tại các thị trường này, nhu cầu ở các thị trường nhập khẩu truyền thống như Hàn Quốc, Nhật Bản, Liên minh Châu Âu (EU)… cũng tăng cao. Tính đến thời điểm này, nhiều doanh nghiệp đã ký được hợp đồng và có đơn hàng sản xuất cho đến hết năm 2015.
Theo nhận định của các chuyên gia, xu hướng thị trường năm 2015 sẽ là 5 đối trọng chính mà đứng thứ nhất là Mỹ, thứ hai là Nhật Bản, thứ ba là Trung Quốc, thứ tư là Hàn Quốc va thứ 5 là EU…
Đón tín hiệu lạc quan từ thị trường, một mặt ngay từ đầu năm nay, các doanh nghiệp chế biến gỗ đã chuẩn bị khá tốt nguyên liệu sản xuất. Vì vậy, mặc dù thời điểm này, giá gỗ nguyên liệu nhập khẩu đang tăng, nhưng đa số các doanh nghiệp vẫn không bị ảnh hưởng nhiều. Mặt khác, ngành lâm nghiệp đang xúc tiến tổ chức trồng rừng tại các địa phương.
Trong 2 năm qua, bình quân mỗi năm cả nước trồng được trên 200.000 ha rừng tập trung, trong đó 90% là rừng sản xuất. Theo thống kê, hiện đã có 22/60 tỉnh có rừng triển khai được 57 mô hình trồng rừng cho thu nhập trên 100 triệu đồng/ha/năm.
Bộ NN-PTNT cũng đang triển khai xây dựng một số mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn cho giá trị kinh tế cao. Đây chính là cơ sở để Việt Nam đảm bảo lượng gỗ nguyên liệu cũng như nguồn gốc xuất xứ trong nước.
Ngoài ra, để chuẩn bị đảm bảo nguồn gỗ nhập khẩu có xuất xứ hợp pháp, Hiệp hội gỗ và Lâm sản Việt Nam cũng đang phối hợp với các thương vụ để lấy danh sách doanh nghiệp các nước xuất khẩu gỗ có đủ chứng nhận gỗ hợp pháp để nhập gỗ; Đồng thời, xây dựng chương trình liên kết các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu gỗ và người trồng rừng để trồng và khai thác gỗ hợp pháp. (Tạp Chí Tài Chính 23/7; Diễn Đàn Doanh Nghiệp 23/7) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang