|
Ngày 21 tháng 01 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Nguy cơ cháy rừng cấp 5 – cấp cực kỳ nguy hiểm đối với 3 địa phương: Bình Phước, Bình Thuận, Đồng Nai là thông tin được Cục Kiểm lâm (Tổng cục lâm nghiệp) công bố chiều 19/1.
Ngoài ra, cũng theo Cục Kiểm lâm, 6 địa phương có diện tích rừng đang ở nguy cơ cháy cấp 4 - cấp nguy hiểm gồm: An Giang, Bình Phước, Đắc Lắc, Đồng Nai, Kiên Giang, Lâm Đồng.
Nguyên nhân nguy cơ cháy rừng gia tăng trở lại trong những ngày gần đây là do ở các địa phương trên đã nhiều ngày không mưa, thời tiết khô hanh kéo dài, vì thế nguy cơ cháy rừng gia tăng trở lại. (Quân Đội Nhân Dân 20/1, tr4) đầu trang(
20.1, Công an TP. Quảng Ngãi hợp với Chi cục Kiểm lâm Quảng Ngãi tổ chức phân loại gần 100kg thịt động vật hoang dã và bố trí nơi ở tạm thời cho 2 con khỉ bị buôn bán trái phép.
Trước đó, ngày 18.1, Đội cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, Công an TP. Quảng Ngãi đã phát hiện bà Bùi Thị Kim Chi (phường Trương Quang Trọng, TP. Quảng Ngãi) có hành vi buôn bán động vật hoang dã trái phép.
Tại cơ sở của bà Chi, cảnh sát tịch thu gần 100 kg thịt động vật hoang dã và 2 con khỉ còn sống.
Sau buổi phân loại, ông Nguyễn Quang, Đội phó Kiểm lâm cơ động, Chi cục Kiểm lâm Quảng Ngãi cho biết, trong số thịt bị tịch thu có 24kg thịt của ba con khỉ, 70kg thịt kỳ đà vân, cầy vòi hương và rắn ráo trâu.
Theo ông Quang, buổi phân loại này nhằm định giá tài sản và toàn bộ sản phẩm thịt động vật hoang dã sẽ được tiêu hủy sau đó. Hành vi của bà Bùi Thị Kim Chi sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về mua bán động vât hoang dã.
Đối với hai chú khỉ còn sống, ông Nguyễn Văn Hân, Chi cục trưởng Chi cục kiểm lầm Quảng Ngãi cho biết đang được bố trí chỗ ở tại Chi cục kiểm lâm. "Theo nguyên tắc thì chúng tôi sẽ theo dõi sức khỏe và thả về môi trường tự nhiên", ông Hân nói. (Lao Động 21/1) đầu trang(
Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh, riêng trong năm 2014, số lượng gấu chết trên toàn tỉnh là trên 80 cá thể.
Cùng với đó, những đánh giá và con số đáng báo động được đưa ra trong báo cáo đánh giá sức khoẻ gấu khu vực thành phố Hạ Long, thị xã Quảng Yên (Quảng Ninh) của Tổ chức Động vật Châu Á cho thấy toàn bộ số gấu tại 3 trại nuôi gấu qua kiểm tra đều trong tình trạng suy dinh dưỡng ở cấp độ nặng.
Theo thang mức đánh giá sức khoẻ từ 0 đến 5, số gấu đã kiểm tra trung bình chỉ đạt chỉ số 1,1 (0 là suy dinh dưỡng nghiêm trọng, 5 là béo phì); chỉ có 16,7% tổng số gấu đạt mức 3 điểm - mức chấp nhận được về tình trạng dinh dưỡng. 100% gấu bị sừng hóa ở các lòng bàn chân bàn tay; 77% gấu có vết thương trên cơ thể; 58,3% gấu có biểu hiện bất ổn về tâm lý; 37,5% gấu bị vấn đề về răng; 16,7% gấu bị cụt ít nhất 1 chi...
“Các kết quả này cho thấy điều kiện sống tồi tệ của các cá thể gấu bị nuôi nhốt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Phương pháp chăn nuôi không phù hợp, gấu hoàn toàn bị nuôi nhốt trong các lồng sắt chật chội. Gấu ở một số trại rõ ràng đã bị bỏ đói trầm trọng. Gấu bị suy dinh dưỡng nặng, căng thẳng, bị suy giảm hệ miễn dịch và nhiều bệnh về tiêu hoá” - Tiến sĩ Joost Philipa, bác sĩ thú y cao cấp Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam trực tiếp kiểm tra tình hình sức khoẻ của gấu đánh giá.
Xót xa thay khi chỉ vài năm trước đây, chính những con gấu này đã mang lại nguồn thu lớn cho chủ nuôi từ việc cho khách du lịch vào tham quan và hút mật gấu. Từ năm 2006 ở Quảng Ninh, các chủ nuôi gấu rộ lên phong trào vận chuyển trái phép gấu từ các tỉnh khác về làm tăng đột biến số lượng gấu nuôi nhốt trên địa bàn tỉnh.
Vào giai đoạn cao điểm nhất tại Quảng Ninh có đến 365 cá thể gấu nhưng hiện tại số lượng đã giảm đi đáng kể, trên địa bàn tỉnh chỉ còn 81 cá thể gấu, tại 14 cơ sở nuôi nhốt tư nhân.
Ông Nguyễn Trọng Bờ, chủ trang trại gấu tại phường Đại Yên (thành phố Hạ Long) cho biết: Nuôi gấu trước đây trừ mọi chi phí cũng kiếm được vài chục nghìn đồng/ngày/con nên có kinh phí để chăm cho lũ gấu. Tuy nhiên hiện nay, các cơ quan chức năng cấm tổ chức du lịch tham quan, chích hút mật gấu nên không còn nguồn thu. Giờ không chỉ lũ gấu chết đói, mà các chủ nuôi cũng đang “chết” vì nợ nần.
Theo anh Phùng Văn Hải, một chủ nuôi gấu tại phường Đại Yên, nếu trước khẩu phần ăn cho gấu là 5 phần thì bây giờ trang trại của anh chỉ đủ trang trải 1 phần. Trước kia khi còn nguồn thu từ gấu, chi phí cho mỗi con gấu lên đến khoảng 100 nghìn/ngày, nay anh chỉ có thể cho gấu ăn cháo loãng, rau củ quả để cầm hơi. Gấu được chăm sóc tốt nặng đến 350kg, bây giờ những con còn sống tại trại chỉ nặng khoảng 100 - 150kg.
Trong khi hiện trạng gấu vẫn đang chết dần chết mòn lại tồn tại nghịch lý là nếu làm tốt công tác quản lý thì việc bảo tồn lại khó.
Lý giải về mâu thuẫn này, ông Mạc Văn Xuyên - Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh cho biết: Những năm trước đây, công tác quản lý gấu nuôi nhốt chưa được chặt chẽ, đồng nhất, chế tài xử phạt hành vi chích hút mật gấu chưa cụ thể, các chủ nuôi gấu lén lút hút chích, mua bán mật gấu trái phép vì vậy vẫn có nguồn thu, điều kiện kinh tế chăm sóc gấu tốt hơn.
Thời gian gần đây, do có sự chỉ đạo quyết liệt của UNBD tỉnh và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng nên việc các đoàn khách lữ hành lợi dụng tham quan mua mật gấu trái phép đã được ngăn chặn, vì vậy chủ gấu không có nguồn thu để chi cho việc chăm sóc nuôi dưỡng gấu.
Qua kiểm tra cho thấy, hiện chi phí khẩu phần ăn hàng ngày cho gấu tại các trại tư nhân chỉ khoảng 10-15 nghìn đồng/cá thể gấu. Với lượng thức ăn ít ỏi này, gấu hầu hết bị suy dinh dưỡng nặng, số lượng gấu chết ngày càng tăng.
Ông Mạc Văn Xuyên chia sẻ: Các cơ quan chức năng cũng không khỏi xót xa về nghịch lý này, tuy nhiên trên thực tế việc bảo tồn vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào các chủ trại gấu. Hiện toàn bộ số gấu nuôi trên địa bàn tỉnh đã được gắn chíp điện tử, có hồ sơ quản lý và được giao cho các chủ nuôi gấu nuôi hết vòng đời của chúng.
Nhưng việc nuôi gấu như thế nào lại hoàn toàn phụ thuộc vào các chủ trại gấu. Cơ quan chức năng chỉ xử lý khi chủ nuôi vi phạm các quy định về việc chích hút, kinh doanh mật gấu, buôn bán gấu.
Một vướng mắc lớn nữa đối với các cơ quan quản lý là chủ nuôi dù không có điều kiện để nuôi nhưng không chịu giao lại gấu cho các trung tâm bảo tồn động vật hoang dã mà đòi phải bồi thường. Các chủ nuôi đã bỏ ra một khoản đầu tư lớn để mua gấu nên không chịu mất không gấu. Nhiều chủ trại gấu cũng cho biết hiện họ đang rơi vào tình trạng “nuôi không được mà thanh lý, chuyển giao cũng không xong”.
Theo anh Phùng Văn Hải, việc nuôi gấu không còn đem lại nguồn thu, người nuôi đang ôm nợ nhưng muốn thanh lý cũng không được do toàn bộ số gấu đã được kiểm lâm gắn chip để theo dõi, quản lý. Vì thế, người nuôi chuyển sang đề nghị được chuyển giao lại cho Nhà nước hoặc các tổ chức bảo tồn động vật hoang dã với điều kiện hỗ trợ ít tiền vốn đã bỏ ra mua gấu.
Tiến sĩ Tuấn Bendixsen, Giám đốc Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam cho biết: “Chúng tôi không thể trả tiền cho chủ nuôi để nhận gấu về trung tâm cứu hộ vì gấu là động vật hoang dã, quý hiếm và Nhà nước không công nhận quyền sở hữu gấu, các chủ nuôi không thể ra giá bồi thường được. Gấu ở các trang trại tư nhân đã bị khai thác quá nhiều rồi.
Tôi nghĩ các chủ trại gấu hiện không đủ điều kiện nuôi nên tự nguyện giao nộp gấu về các trung tâm cứu hộ, bảo tồn để giữ lại được đàn gấu. Tình hình hiện tại là rất tồi tệ. Nếu không có những biện pháp kịp thời, số gấu còn lại ở Quảng Ninh sẽ không trụ lại lâu được”.
Đã có nhiều cuộc họp để tìm lối ra cho những con gấu còn lại của Quảng Ninh nhưng đến nay vẫn chưa có giải pháp nào đột phá.
Hiện Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh đang đề nghị UBND tỉnh, Cục Kiểm lâm có ý kiến với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sớm có phương án di chuyển toàn bộ số gấu nuôi tại địa bàn tỉnh đến các trung tâm cứu hộ đủ điều kiện tiếp nhận và có cơ chế tài chính hợp lý cho các chủ nuôi, nhằm cứu hộ bảo tồn số gấu còn lại, tránh tình trạng gấu tiếp tục chết dần chết mòn. (Một Thế Giới 21/1) đầu trang(
Càng gần Tết Nguyên Đán, tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép ở tỉnh Ninh Thuận càng diễn biến phức tạp.
Mới đây, Đội Kiểm tra liên ngành số 1, Hạt Kiểm lâm và Công an huyện Ninh Sơn đã phối hợp bắt giữ một vụ vận chuyển lâm sản trái phép tại tiểu khu 95 thuộc địa phận xã Quảng Sơn.
Tối 18/1, lực lượng chức năng đã bắt giữ 9 xe bò đang vận chuyển 9 khúc gỗ lớn tại tiểu khu 95, khu vực ngã ba Ông Cừ với khối lượng gần 6m3 thuộc nhóm 4 đến nhóm 6. Trước đó, vào ngày 12/1, tại khu vực ngã ba Vườn Trầu, lực lượng chức năng của huyện Ninh Sơn đã bắt giữ một vụ vận chuyển lâm sản trái phép với số lượng lớn, thu giữ 22 khúc gỗ với khối lượng hơn 11m3.
Khu vực rừng giáp ranh giữa hai huyện Ninh Sơn và huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng hiện là điểm nóng về khai thác vận chuyển lâm sản trái phép. Địa bàn nơi đây rộng, có nhiều đường tắt nên tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép diễn biến phức tạp. Từ tháng 12/2014 đến nay, tại khu vực này, lực lượng chức năng huyện Ninh Sơn đã bắt giữ gần 50m3 gỗ các loại.
Để từng bước hạn chế tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép tại huyện Ninh Sơn, hiện nay, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Ninh Thuận đang tăng cường hai đội kiểm tra liên ngành phối hợp với Hạt Kiểm lâm và các đơn vị chủ rừng tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát.
Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân huyện Ninh Sơn cũng cần có chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo sinh kế và đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân ở vùng giáp ranh. (VOV 20/1) đầu trang(
Trong khi được thả vào rừng để tìm thức ăn, một con voi nhà đã kiệt sức và trượt ngã từ đỉnh đồi xuống rồi chết. Thông tin trên được ông Huỳnh Trung Luân - giám đốc Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk xác nhận vào tối 20-1.
Ông Luân cũng cho biết, sau khi nhận được tin báo voi chết, Trung tâm đã lập đoàn kiểm tra để điều tra nguyên nhân. Theo ông Luân, voi bị chết có tên Book Khăm (36 tuổi) của gia đình ông Đ. V. L. (trú tại thôn 1, thị trấn Liên Sơn, huyện Lắk, Đắk Lắk). Địa điểm voi bị chết là tại tiểu khu 1341 (thuộc Ban quản lý rừng lịch sử - văn hóa - môi trường hồ Lắk - huyện Lắk, Đắk Lắk) quản lý.
“Qua khám nghiệm hiện trường cho thấy voi Book Khăm nằm chết ở tư thế treo nghiêng trên dốc đồi. Chân trước vẫn bị xích, bốn chân nằm về một phía, một bên ngà cắm xuống đất, một ngà bị gãy văng ra ngoài nằm cách đầu voi khoảng 1m. Xung quanh hiện trường cây cối bị giẫm đạp, gãy đổ kéo dài từ đỉnh đồi xuống chân đồi. Trên thi thể không có vết trầy xước, không có lực tác động từ bên ngoài vào. Nguyên nhân ban đầu được xác định dẫn đến cái chết của voi là do trượt ngã từ trên đỉnh đồi xuống” - ông Luân thông tin.
Chủ nhân của voi Book Khăm cho biết thêm, chiều 15-1, các nài voi đã đưa Book Khăm vào rừng để voi kiếm ăn, không có dấu hiệu bất thường. Thế nhưng một thời gian ngắn sau gia đình đã nghe thông tin voi chết trong rừng.
Hiện nay, số lượng voi nhà trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói chung đang bị giảm sút nhanh chóng do tình trạng voi chết già, bị kiệt sức vì lao động quá sức do phục vụ du lịch. Hiện toàn tỉnh Đắk Lắk chỉ còn 50 con.
Ngoài ra, đàn voi nhà Đắk Lắk không chỉ lớn tuổi mà khả năng “yêu” để sinh sản rất khó khăn. UBND tỉnh Đắk Lắk đã ban hành quyết định hỗ trợ kinh phí đến hàng trăm triệu đồng cho nài, chủ voi nếu voi sinh sản.
Tuy nhiên đến nay đàn voi nhà Đắk Lắk vẫn chưa sinh sản thêm được voi con. Một trong những nguyên nhân voi nhà Đắk Lắk chưa sinh sản là vì lao động quá sức, thiếu “không gian yêu” vì rừng đã bị thu hẹp nhiều. (Tuổi Trẻ 21/1)đầu trang(
Thời gian gần đây, tại Đà Nẵng, tình trạng rừng bị xâm hại diễn biến rất phức tạp, đặc biệt là những khu vực giáp ranh với hai tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên Huế.
Để ngăn chặn nạn phá rừng nghiêm trọng hiện nay, Đà Nẵng cần sớm có những giải pháp cụ thể phối hợp chặt chẽ trong việc quản lý và tái tạo diện tích rừng ở vùng giáp ranh vốn đã chồng lấn và bị lâm tặc triệt hạ gỗ quý.
Thành phố Đà Nẵng hiện có 59.942 ha rừng, với gần 40.883 ha rừng tự nhiên và 19.058 ha rừng trồng với độ che phủ rừng đạt 46,6%. Với tổng trữ lượng gỗ ước tính khoảng 5,1 triệu m3.
Mang đặc tính của rừng mưa nhiệt đới, tài nguyên rừng của Đà Nẵng có tính đa dạng sinh học rất cao, đặc biệt là đa dạng về loài và nguồn gen động vật, thực vật hoang dã. Trong đó có nhiều loài động, thực vật thuộc nhóm quý hiếm, cũng như có giá trị kinh tế rất cao.
Với nhiều điều kiện thuận lợi như vậy, trong thời gian tới, Đà Nẵng hướng đến mục tiêu đẩy mạnh phát triển lâm nghiệp, nâng cao độ che phủ rừng, đảm bảo có sự tham gia rộng rãi của các thành phần kinh tế và các tổ chức xã hội vào công tác bảo vệ và phát triển rừng nhằm tăng giá trị kinh tế ngành và tăng năng lực bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Đồng thời, hỗ trợ và thúc đẩy du lịch dịch vụ phát triển, cung cấp các dịch vụ môi trường, nâng cao thu nhập từ nghề rừng cho người dân nông thôn, miền núi, góp phần tích cực vào xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người dân và giữ vững an ninh quốc phòng.
Theo ông Trần Viết Phương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP Đà Nẵng: “Để đạt được các mục tiêu đó, việc đầu tiên thành phố cần làm trong thời gian tới là tiến hành rà soát quy hoạch bảo vệ rừng và phát triển rừng. Nâng cao chất lượng quy hoạch, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn TP Đà Nẵng”.
Bên cạnh việc quy hoạch bảo vệ rừng, thành phố sẽ tổ chức rà soát xác định thực trạng sử dụng rừng và đất lâm nghiệp thuộc các chủ quản lý, điều chỉnh và thu hồi rừng của các tổ chức, cá nhân đã được giao nhưng sử dụng không hiệu quả, không đúng mục đích. Cũng như quy hoạch và quản lý diện tích nương rẫy, bảo đảm duy trì diện tích canh tác ổn định cho đồng bào một số xã trên địa bàn huyện Hòa Vang.
Nhằm nâng cao hiệu quả từ việc phát triển lâm nghiệp, góp phần tích cực vào xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội, trong giai đoạn từ nay đến 2020, Đà Nẵng phấn đấu nâng thu nhập từ rừng ở mức 200 lên 500 triệu đồng/1 ha/10 năm trồng.
Để làm được điều đó, theo ông Trần Viết Phương, thành phố cần tập trung xây dựng, triển khai nhân rộng các mô hình kinh tế lâm nghiệp có hiệu quả cao. Lựa chọn xây dựng mô hình thâm canh rừng trồng năng suất cao để nhân rộng tại địa phương. Hướng dẫn người dân trồng những loại cây theo nhu cầu thị trường nhất là gỗ lớn. Hướng dẫn cho các chủ rừng từng bước tiếp cận hướng tới việc cấp chứng chỉ rừng của các tổ chức quốc tế nhằm nâng cao giá trị của gỗ và dễ dàng tiếp cận với các thị trường có yêu cầu về nguồn gốc gỗ hợp pháp như EU và Mỹ.
Về mặt tổ chức quản lý, ngoài việc tổ chức lại Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa nhằm đảm bảo tính thống nhất chung trong công tác quản lý thì thành phố nên nâng cao hơn nữa quyền tự chủ cho các hộ gia đình, ban quản lý rừng và doanh nghiệp.
Đến thời điểm hiện tại, thành phố đã thực hiện 3880 lượt ha quản lý bảo vệ và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng, nhưng con số này còn quá thấp so với chỉ tiêu thành phố đề ra. Cần phải đẩy mạnh thực hiện chính sách giao khoán và bảo vệ rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, đồng quản lý rừng. Hoàn thành dứt điểm công tác phân cấp, chuyển giao đất về cho địa phương quản lý sau qui hoạch 3 loại rừng nhằm đảm bảo rừng đều có chủ.
Dự kiến chi phí đầu tư bảo vệ và phát triển rừng từ 2011 đến 2020 lên đến 107 tỷ đồng, trong đó từ 2011 đến 2015 là 62 tỷ và 2016 đến 2020 là 45 tỷ. Nhưng hiện nay, nguồn vốn cho việc bảo vệ và phát triển rừng còn hạn chế.
Trong thời gian tới, thành phố cần tăng cường tiếp cận, thu hút nguồn đầu tư của nước ngoài vào các dự án phát triển rừng tại thành phố; lồng ghép các kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng với các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Xây dựng chính sách hỗ trợ đầu tư ban đầu, cho vay tín dụng ưu đãi hoặc thế chấp bằng chính sổ đỏ của đất rừng để trồng rừng phù hợp với từng loại cây trồng, thời gian hoàn trả vốn vay khi có sản phẩm khai thác chính.
Thực hiện chính sách về chi trả dịch vụ môi trường rừng, đối với rừng đặc dụng và rừng phòng hộ ưu tiên xúc tiến mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng, thu phí môi trường rừng đối với các công trình thủy điện, nước sạch, dịch vụ du lịch theo quy định.
Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền rộng rãi trong cộng đồng tại địa phương về công tác bảo vệ và phát triển rừng, nhằm thay đổi căn bản nhận thức về ngành lâm nghiệp là ngành kinh tế gắn với thu nhập, cuộc sống của người dân.
Hiện, Đà Nẵng đã tiến hành quy hoạch sử dụng rừng và đất lâm nghiệp của thành phố theo 3 loại rừng đặc dụng – phòng hộ - sản xuất đến năm 2020 đã được UBND thành phố phê duyệt tại Quyết định số 5924/QĐ-UBND, với quy mô lên đến 57.195 ha gồm: 31.116 ha rừng đặc dụng, 8.693 ha rừng phòng hộ, 17.385 ha rừng sản xuất và có 2.279 ha rừng tự nhiên và rừng trồng đất ngoài quy hoạch lâm nghiệp. (Tài Nguyên Môi Trường 20/1, tr5) đầu trang(
Ngày 19/1, lực lượng Công an, Kiểm lâm tỉnh Hà Tĩnh đã phối hợp bắt giữ xe khách chạy tuyến Việt- Lào, kiểm tra và phát hiện trên xe có chứa gần 500kg gỗ trắc khi đáng đi qua địa bàn huyện miền núi Hương Khê.
Theo đó, vào khoảng 16h30’ ngày 19/1, qua công tác nắm tình hình, lực lượng phòng chống buôn lậu, thuộc Phòng PC46 Công an Hà Tĩnh phát hiện xe ô tô khách UN 2339 chạy từ Lào về Việt Nam đi qua Cửa khẩu Cha Lo, tỉnh Quảng Bình có dấu hiệu chở gỗ lậu.
Ngay sau đó, lực lượng PC46 phối hợp với Đội Kiểm lâm cơ động và Đội tuần tra kiểm soát giao thông đường Hồ Chí Minh đã yêu cầu dừng xe khi đi qua địa bàn thị trấn Hương Khê, huyện Hương Khê. Đồng thời, tiến hành kiểm tra xe khách nói trên, lực lượng chức năng phát hiện gần 500 kg gỗ trắc (thuộc nhóm 2A quý hiếm), được ngụy trang bởi nhiều hàng hóa khác dưới khoang hành lý. Ước tính giá trị số gỗ trên khoảng 150 triệu đồng.
Tại thời điểm trên, lái xe Phạm Đức Nam (35 tuổi, trú tại xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An) đã không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc số gỗ nói trên.
Hiện, lực lượng chức năng đã tạm giữ tang vật và phương tiện để làm rõ. (Tài Nguyên Môi Trường 20/1) đầu trang(
Trong năm 2014, Hạt Kiểm lâm H. Hòa Vang và Hạt Kiểm lâm H. Đông Giang (Quảng Nam) và phối hợp kiểm tra, đã phát hiện, xử lý gần 250 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu 400 m3 quy tròn, nộp ngân sách gần 1,4 tỷ đồng.
Đồng thời tổ chức hơn 30 đợt truy quét, phá hủy 8 lán trại, 15 máy nổ và hàng nghìn mét dây dẫn nước.
Riêng Hạt Kiểm lâm H. Đông Giang đã phối hợp với Trạm kiểm tra, kiểm sát Hòa Phú phát hiện 10 vụ khai thác, mua bán, vận chuyển gỗ trái phép với khối lượng gỗ xẻ gần 6 mét khối.
H. Đông Giang là nơi tập trung chủ yếu rừng tự nhiên với trữ lượng gỗ lớn, và là địa bàn giáp ranh với H. Hòa Vang nên tình hình phá rừng, vận chuyển trái phép các loại lâm sản, khoáng sản và động vật rừng vẫn thường xuyên xảy ra. (Công An TP.Đà Nẵng 20/1) đầu trang(
Ngày 20-1, UBND huyện Định Hóa đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng năm 2014; triển khai nhiệm vụ năm 2015.
Trong năm 2014, UBND huyện đã chỉ đạo Ban quản lý rừng ATK Định Hóa tổ chức được 38 lớp tập huấn kỹ thuật trồng rừng, chăm sóc rừng trồng và tuyên truyền các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng tại các xã tham gia dự án cho 1.981 người; tổ chức cho trên 4.500 hộ dân ký cam kết; kiểm tra, phát hiện và lập biên bản xử lý 90 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tịch thu 161,368m3 gỗ các loại quy tròn, 2kg rắn hổ mang thường, 1 chiếc xe máy, thu tiền phạt vào tài khoản tạm giữ là trên 432,6 triệu đồng; phát hiện, xử lý 07 cơ sở, doanh nghiệp kinh doanh chế biến lâm sản không đúng quy định, tịch thu 1,415 m3 gỗ các loại, thu tiền phạt 13 triệu đồng; cấp khai thác rừng cho 149 bộ hồ sơ với khối lượng trên 7.084m3 gỗ; cấp được 17.854 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho đơn vị và cá nhân với tổng diện tích là 31.614,84 ha; khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng được 5.069ha (đạt 100% kế hoạch); chăm sóc rừng trồng các năm được 379ha (đạt 100% kế hoạch); trồng mới được 1.051ha rừng (đạt 123% kế hoạch)...
Năm 2015, huyện cũng đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu: mở ít nhất 20 lớp tuyên truyền, tập huấn kỹ thuật cho nhân dân tham gia các dự án Bảo vệ và Phát triển rừng; trồng 800ha rừng sản xuất, 160 ha rừng phòng hộ, 10 ha rừng đặc dụng; phối hợp với đơn vị tư vấn tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án kiểm kê rừng trên địa bàn huyện, đảm bảo chính xác; duy trì hoạt động của tổ công tác liên ngành trong công tác phối hợp kiểm tra kiểm soát lâm sản, đặc biệt quan tâm kiểm tra hoạt động kinh doanh, chế biến lâm sản, kiên quyết xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm; chỉ đạo xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện Đề án Tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp đến năm 2020... (Báo Thái Nguyên 20/1) đầu trang(
Vào những năm 1980, rừng Cần Giờ, “vùng đất chết” với hơn 80% diện tích bị chiến tranh tàn phá, được khôi phục thành công, trở thành một trong những khu rừng ngập mặn được phục hồi đẹp nhất Đông Nam Á và được UNESCO trao chứng nhận Khu dự trữ sinh quyển (DTSQ) thế giới đầu tiên của Việt Nam vào năm 2000.
Từ kinh nghiệm ban đầu này, đến nay Việt Nam đã có thêm bảy khu DTSQ thế giới khác, bao gồm Châu thổ sông Hồng, Cát Bà (2004), Kiên Giang (2006), Tây Nghệ An (2007), Mũi Cà Mau, Cù Lao Chàm (2009), Đồng Nai (2011). Nếu Khu DTSQ Langbiang được UNESCO công nhận vào năm tới như dự kiến thì Việt Nam sẽ trở thành quốc gia đứng đầu Đông Nam Á về Khu DTSQ thế giới.
Theo GS.TS Nguyễn Hoàng Trí, Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký UBQG Chương trình Con người và Sinh quyển Việt Nam (MAB Việt Nam), điểm nổi bật về các khu DTSQ thế giới tại Việt Nam là sự kết hợp hài hòa giữa bốn mục tiêu: bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế, nghiên cứu khoa học và tham gia ứng phó biến đổi khí hậu.
“Từ trước đến nay người ta thường hiểu nhầm về vai trò của khu DTSQ khi cho rằng chỉ là nơi bảo tồn thiên nhiên. Nhưng trên thực tế, nó còn có nhiều chức năng khác như tham gia phát triển bền vững kinh tế, văn hóa, xã hội địa phương và hỗ trợ nghiên cứu, giáo dục,” GS Trí chia sẻ.
Theo GS Trí, nếu chỉ đòi hỏi người dân tham gia bảo tồn một cách đơn thuần thì sẽ thất bại ngay. “Chẳng ai muốn dự phần vào những phần việc vất vả, thậm chí nguy hiểm như ngăn chặn nạn phá rừng, săn bắn chim thú mà không có lợi ích sát sườn,” ông nói. Bản thân những người dân sống nhờ vào rừng cũng phản ứng dữ dội khi không còn được tự do khai thác món “lộc trời cho”.
Vì vậy mỗi khu DTSQ cần đảm bảo sinh kế cho người dân với việc khoanh vùng các khu chức năng: vùng lõi để bảo tồn đa dạng sinh học, vùng đệm tiếp giáp và vùng chuyển tiếp phía ngoài cùng có thể khai thác kinh tế nhưng không được ảnh hưởng đến vùng lõi.
Tại các khu DTSQ, ban quản lý đều vắt óc suy nghĩ phương thức bảo tồn hiệu quả mà vẫn đảm bảo sinh kế. Với Khu DTSQ Châu thổ sông Hồng - khu ngập nước ven biển kéo dài từ Thái Bình, Nam Định vắt qua Ninh Bình, Giám đốc Nguyễn Viết Cách và các thành viên ban quản lý đã phải tìm phương án trồng nấm, khai thác, nuôi tôm, vạng, sò… kèm trồng cây ngập mặn như bần, sú, vẹt, trang...
Câu chuyện bắt đầu từ năm 2000, khi ban quản lý ngăn cấm những người dân địa phương chuyên mò ngao ở rừng quốc gia Xuân Thủy, vùng lõi khu DTSQ. Kết hợp kinh nghiệm của nhiều tổ chức quốc tế, ban quản lý đã hỗ trợ sinh kế cho dân nghèo, chủ yếu là phụ nữ, đổi lại họ không được tiếp tục khai thác ngao tại vùng lõi.
Đây cũng là một phần trong dự án do Quỹ dự án nhỏ (Small Grant), thuộc Chương trình “Rừng ngập mặn cho tương lai” (MFF) tài trợ. Với kinh phí từ dự án, người dân không còn phải mò mẫm gần 10 tiếng mỗi ngày chỉ để kiếm vài chục nghìn mà có thể nuôi thả ngao ở khu vực quy định, mỗi vụ sinh lời tiền triệu.
Từ kết quả này, ai cũng có ý thức hơn về việc bảo vệ rừng bởi họ hiểu rằng, đó chính là nguồn sống của mình. Bài học thành công của Khu DTSQ Châu thổ sông Hồng đã trở thành một trong những gợi ý về biện pháp quản lý gắn liền với phát triển bền vững kinh tế, xã hội, giáo dục.
Không chỉ dừng lại ở đây, ban quản lý các khu DTSQ bắt đầu tính chuyện xa hơn, tạo thương hiệu cho các sản phẩm gắn mác DTSQ mà theo GS Trí “có nhiều danh hiệu được quốc tế công nhận thì ắt có nhiều cơ hội đầu tư cho bảo tồn và phát triển”. Bước đầu, các khu DTSQ tiến hành đăng ký nhãn hiệu hàng hóa và chỉ dẫn địa lý với Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) cho những sản phẩm tiêu biểu.
Anh Nguyễn Thanh Hải, Phó ban thường trực Ban quản lý khu DTSQ Kiên Giang, cho biết: “Dựa trên thế mạnh nghề truyền thống địa phương, ban quản lý đã phối hợp với Sở KH&CN Kiên Giang lập đề án xây dựng danh mục bảy nhóm sản phẩm theo phân loại của Cục SHTT như túi xách, túi du lịch từ cỏ bàng (nhóm đồ thủ công mỹ nghệ); nước mắm, khô cá sặc rằn, cua biển, tôm khô, mực khô (nhóm thủy hải sản); hồ tiêu, bánh làm từ trái thốt nốt, mật ong (nhóm sản phẩm nông nghiệp); hướng dẫn tham quan du lịch, vận chuyển du khách (nhóm sản phẩm du lịch)…”.
Nhằm đem lại dấu ấn đặc biệt cho các sản phẩm, “ban quản lý đã mời các chuyên gia thiết kế logo riêng của khu DTSQ Kiên Giang với những hình ảnh đặc trưng như hòn Phụ tử, con bò biển (dugong), rái cá. Hiện nay, Sở KH&CN Kiên Giang cũng đã đề xuất Bộ KH&CN cấp kinh phí thực hiện Dự án Quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận khu DTSQ Kiên Giang”.
Với các nhà khoa học, các khu DTSQ, đặc biệt là vùng lõi, là viện bảo tàng thiên nhiên sống lưu giữ những tư liệu đa dạng sinh học và văn hóa đặc trưng nhất. Nhiệm vụ của họ là khám phá bí mật của đại ngàn, tìm hiểu những đặc tính sinh học cũng như giá trị của nó với đời sống xã hội. “Mỗi khu DTSQ là một phòng thí nghiệm lớn, đủ cho sự nghiệp nghiên cứu về tính đa dạng sinh học, các giống loài,” GS Trí nhận định.
Nhiều phát hiện hay công trình nghiên cứu từ khu DTSQ đã gây được sự chú ý của cộng đồng khoa học quốc tế, như với trường hợp tìm thấy thông hai lá dẹt, một loài cây xuất hiện cùng thời với khủng long và bị coi là đã tuyệt chủng, tại Vườn Quốc gia Bidoup Núi Bà thuộc Khu DTSQ Langbiang ở độ cao 1.600m.
Trong chuyến thực địa truy tìm cây thông hai lá dẹt, một nhà nghiên cứu Nhật Bản đi cùng đoàn khảo cứu đã xúc động bật khóc khi lần đầu thấy ‘chứng nhân lịch sử’ sống chứ không phải tiêu bản trong viện bảo tàng.
Ông cho rằng đây là may mắn lớn trong cuộc đời mình bởi Việt Nam là nơi duy nhất trên thế giới còn sót lại quần thể thông hai lá dẹt. Với sự hỗ trợ của nhiều tổ chức, dự án bảo tồn cây thông hai lá dẹt đã được khởi động: Sau khi nhân giống trong vườn ươm, cây đã được trồng thử nghiệm trên đất rừng. Bên cạnh đó, nhiều giống loài quý hiếm khác còn được tìm thấy ở Bidoup Núi Bà như sồi ba cạnh, thông năm lá, thông đỏ, dạ hợp Bidoup, ếch cây, cóc mày trắng…
Ông Lê Văn Hương, giám đốc Vườn Quốc gia Bidoup Núi Bà, không giấu nổi tự hào: “Trong thời gian qua, chúng tôi đã hợp tác với nhiều nhà khoa học trong nước và quốc tế tìm được 13 loài mới [mà trước đây chưa được phát hiện trên thế giới] và đã công bố trên những tạp chí chuyên ngành [trong nước và quốc tế]. Đặc biệt trong năm 2014 đã phát hiện ra năm loài, trong đó có loài có thể làm cảnh như Trà mi (Camellia inusitata) hoặc đặc biệt như ếch cây được xếp vào danh mục đỏ của Liên minh Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế IUCN. Qua các mối quan hệ hợp tác quốc tế, chúng tôi cũng đang xây dựng và vận hành các phòng thí nghiệm dược liệu, phòng nuôi cấy mô để phục vụ công tác nghiên cứu”.
Các công trình, dự án nghiên cứu còn có sức ảnh hưởng lớn đến đời sống cộng đồng dân cư, nhất là khi góp phần giải quyết những vấn đề liên quan đến tài sản và tính mạng người dân như nạn bò tót, voi rừng phá rẫy, gây thương tích cho người dân địa phương xảy ra trong những năm gần đây. Dưới góc nhìn khoa học, việc lý giải những hiện tượng như thế này không quá khó.
Nhưng khi giải quyết sự việc, nhiều nhà quản lý cấp cơ sở đã không “nhờ cậy” tới các nhà khoa học tư vấn, dẫn đến việc di chuyển đàn voi sang nơi cư trú mới mà người ta cho là phù hợp đã phản tác dụng. Không thể kiếm ăn trên những cánh rừng khô hạn bởi nó khác biệt hoàn toàn với môi trường rừng mưa nhiệt đới quen thuộc, đàn voi quay ra tàn phá hoa màu và tấn công con người.
Là những hành lang xanh góp phần giảm thiểu tác động của những hiện tượng thời tiết bất thường: nước biển dâng, xâm thực mặn, cát bay gây sa mạc hóa vùng duyên hải…, các khu DTSQ còn tham gia những chiến dịch ứng phó biến đổi khí hậu ở tầm quốc gia bằng cách hợp tác chặt chẽ với nhiều trường đại học, tổ chức quốc tế thực hiện những dự án nghiên cứu, đánh giá rủi ro.
Chẳng hạn, Ban quản lý Khu DTSQ Kiên Giang đã cùng với Tổ chức Hợp tác và phát triển quốc tế Đức (GIZ), Cơ quan hợp tác phát triển Australia (Ausaid) triển khai dự án thành phần thuộc chương trình “Bảo vệ tổng hợp vùng ven biển, rừng ngập mặn nhằm thích nghi với biến đổi khí hậu tại các tỉnh ĐBSCL/biến đổi khí hậu và các hệ sinh thái ven biển”, dự án “Bảo tồn và phát triển khu DTSQ Kiên Giang”.
Tại khu vực đồng bằng sông Hồng, nơi Khu DTSQ Châu thổ sông Hồng đóng vai trò quan trọng tương tự Khu DTSQ Kiên Giang với ĐBSCL, nhiều dự án cũng được thực hiện: “Nâng cao sức đề kháng khả năng phục hồi trước biến đổi khí hậu” (Cơ quan hợp tác phát triển Thụy Điển – SIDA tài trợ), “Hỗ trợ ứng phó BĐKH ở rừng và đồng bằng Việt Nam” (Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ tài trợ)...
Các dự án này rà soát lại các nghiên cứu và chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu đã thực hiện, phát hiện độ vênh giữa chính sách, nghiên cứu và thực tế để tìm ra những giải pháp, chương trình hỗ trợ, đầu tư cho các hoạt động ứng phó, thích nghi của tỉnh và cộng đồng dân cư.
Về lâu dài, để phát huy tiềm năng của các khu DTSQ, theo GS Trí, sự liên kết trong mạng lưới các khu DTSQ Việt Nam cũng như các tổ chức trong nước và quốc tế cần được đẩy mạnh hơn nữa, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học và tuyên truyền, giáo dục, quản lý dựa trên cách tiếp cận SLIQ - tư duy hệ thống, quy hoạch cảnh quan, điều phối liên ngành và kinh tế chất lượng - để xây dựng mô hình phát triển bền vững trong tương lai. (Tia Sáng 21/1) đầu trang(
Chỉ từ tháng 11/2014 đến nay, tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy, huyện Bắc Bình (Bình Thuận) đã để xảy ra nhiều vụ phá rừng nghiêm trọng. Hàng trăm m3 gỗ quý như bằng lăng, dầu, cà chí bị triệt hạ. Tuy nhiên, lâm tặc chỉ mới vận chuyển ra khỏi rừng khoảng 50m3 gỗ hộp bằng lăng.
Một lãnh đạo UBND tỉnh Bình Thuận cho biết: “UBND tỉnh đang rất quan tâm đến vụ phá rừng Sông Lũy. Tỉnh sẽ chỉ đạo các cơ quan theo dõi sát các vụ phá rừng này và đề nghị xử lý kiên quyết, cụ thể đối với từng vụ việc”.
Trước đó, vào khoảng giữa tháng 11/2014, tại khu vực dốc Ho Lao của tiểu khu 70 thuộc rừng phòng hộ Sông Lũy có 27 cây dầu đường kính từ 70cm trở lên bị triệt hạ, nhưng lâm tặc chưa kịp lấy đi lóng gỗ nào. Ngoài ra, tại khu vực suối Nhân của tiểu khu 137 thuộc rừng phòng hộ này, có hơn 50 cây căm liên bị triệt hạ với trữ lượng gỗ bị thiệt hại khoảng 20m3.
Tiếp đó, vào ngày 17/12, tại khu vực sông Dú, thuộc tiểu khu 73A, thuộc lâm phần quản lý của trạm Sa Mai, xã Phan Sơn, huyện Bắc Bình, lực lượng chức năng phát hiện có khoảng 60m3 gỗ bị triệt hạ tại khu vực này.
Cụ thể, lâm tặc đã triệt hạ gỗ, cưa xẻ tại chỗ và vận chuyển đi 25m3, gỗ còn lại hiện trường khoảng 35m3. Tại đây, có gần 50 gốc bằng lăng đường kính từ 70 đến 80cm bị triệt hạ chưa kịp xẻ nằm vương vãi khắp nơi. Thỉnh thoảng mới có vài điểm cưa xẻ gỗ tại chỗ mà gỗ đã bị lấy đi, chỉ còn những đống mạt cưa to đùng và vài tấm ván bìa. Lâm tặc còn vứt lại một số can nhựa đựng dầu, nhớt mà họ đưa vào rừng dùng làm nhiên liệu cho cưa máy.
Mới đây nhất, lực lượng chức năng phát hiện một điểm khác tại rừng phòng hộ Sông Lũy bị lâm tặc tàn sát, chỉ cách hiện trường vụ phá rừng Sông Dú khoảng 500m đường núi. Tại hiện trường, có hơn 20 gốc cây cà chí có đường kính từ 70 đến 80cm bị triệt hạ. Toàn bộ số gỗ này đã được lâm tặc cưa xẻ bằng cưa máy thành hộp và chưa kịp vận chuyển.
Khu vực này nằm sát con đường mòn vận chuyển gỗ bằng xe cải tiến được xác định nằm giáp ranh giữa hai tiểu khu 79 và 72 thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy quản lý và bảo vệ.
Trao đổi về tình trạng này, ông Nguyễn Văn Hòa, Tổ trưởng tổ cơ động, Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy cho biết, rừng phòng hộ Sông Lũy giáp ranh với tỉnh Lâm Đồng kéo dài hơn 50 cây số trên địa hình đồi núi hiểm trở. Những đối tượng phá rừng thường sẵn sàng chống trả lực lượng chức năng bằng các loại vũ khí tự chế, đe dọa tính mạng của các nhân viên bảo vệ rừng. Lực lượng bảo vệ rừng ở đây vừa mỏng vừa thiếu công cụ hỗ trợ, do vậy, nếu có phát hiện, cũng không thể khống chế các nhóm lâm tặc có tổ chức đến từ Lâm Đồng.
Với tình hình như thế, vào mùa khô, nhất là thời điểm gần tết Nguyên đán Ất Mùi, Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy sẽ tiếp tục gặp rất nhiều khó khăn và phức tạp trong công tác bảo vệ rừng. (Đời Sống & Pháp Luật 20/1) đầu trang(
Thực trạng phá rừng phòng hộ Sông Hinh, khu vực giáp ranh với tỉnh Đắk Lắk đang diễn biến hết sức phức tạp. Để quản lý rừng tốt hơn, chính quyền địa phương và các ngành liên quan cần quản lý chặt chẽ đất lâm nghiệp đối với rừng trồng và xử lý nghiêm các đối tượng phá rừng.
Theo UBND huyện Sông Hinh, công tác quản lý, bảo vệ rừng trong những năm gần đây được triển khai quyết liệt. Riêng trong năm 2014, huyện tổ chức nhiều đợt kiểm tra, truy quét, xử lý ngăn chặn tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, lấn chiếm đất rừng, đất lâm nghiệp để làm rẫy. Qua kiểm tra, địa phương đã phát hiện và lập biên bản 88 vụ vi phạm, tịch thu hơn 130m3 gỗ các loại, tiền phạt và bán tang vật hơn 3,3 tỉ đồng.
Ông Phạm Ngọc Minh, Trưởng ban quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh, cho biết: Tình trạng khai thác gỗ trái phép tại khu vực rừng giáp ranh huyện Sông Hinh (Phú Yên) và huyện M’Đrắk (Đắk Lắk) diễn ra rất phức tạp. Trong năm 2014 xảy ra vụ khai thác rừng trái phép tại lô 4 khoảnh 10 tiểu khu 309 thuộc xã Ea Trol do Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh quản lý.
Tại hiện trường, đơn vị phát hiện 12 lóng gỗ tròn gồm chò, huỹnh, cà ná với khối lượng gần 100m3 và 30 súc gỗ chò xẻ hộp với khối lượng hơn 16,6m3. Tuy nhiên, lực lượng chức năng chưa xác định được đối tượng vi phạm, hiện vụ việc đang được các cơ quan chức năng tiếp tục điều tra làm rõ.
Theo Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh, ranh giới tiếp giáp giữa huyện Sông Hinh và huyện M’Đrắk dài khoảng 20km, đơn vị được giao quản lý gần 20.000ha rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm khoảng 16.590ha, tập trung ở các xã Ea Trol, Ea Ly và Ea Bar. Vùng rừng tiếp giáp này có địa hình hiểm trở, bị chia cắt bởi hệ thống sông, suối dày đặc như các suối Ea Trol, Ea Cơ, Ea Doal…
Những năm gần đây, thực trạng phá rừng ngày càng phức tạp, trong khi đó lực lượng bảo vệ quá mỏng, không được trang bị công cụ hỗ trợ nên thường xuyên bị lâm tặc uy hiếp. Khoảng 3 năm trở lại đây, tại khu vực giáp ranh với huyện M’Đrắk, tình hình khai thác gỗ trái phép diễn ra hết sức phức tạp, với quy mô lớn, đã làm thiệt hại nhiều diện tích và tài nguyên rừng.
Ví dụ như vụ phá rừng trái phép năm 2012 tại tiểu khu 296, thuộc xã Ea Ly và tiểu khu 707, xã Cư Prao (Đắk Lắk) gây thiệt hại hơn 7.345m2 rừng, với giá trị kinh tế hơn 170 triệu đồng. Sau khi vụ phá rừng được phát hiện, Sở NN-PTNT, UBND huyện Sông Hinh đã chỉ đạo các đơn vị liên quan phối hợp với lực lượng chức năng của tỉnh Đắk Lắk điều tra, xử lý.
Vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk tuyên án từ 1 đến 2 năm tù đối với 2 đối tượng Y Tai Niê (xã Cư Prao, huyện M’Đrắk) và Đinh Văn Đệ (xã Bình Kiến, TP Tuy Hòa), đồng thời buộc 2 đối tượng này phải bồi thường hơn 170 triệu đồng.
Vụ khai thác gỗ trái phép năm 2013, tại khoảnh 4, 7, 10 thuộc tiểu khu 309, xã Ea Trol, huyện Sông Hinh; tại hiện trường khai thác gỗ trái phép, các đối tượng đã chặt hạ 63 cây với tổng khối lượng gỗ hơn 286m3. Hạt Kiểm lâm huyện Sông Hinh đã khởi tố vụ án và chuyển toàn bộ hồ sơ cho cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Hinh để điều tra xử lý.
Rừng phòng hộ là rừng được xây dựng và phát triển cho mục đích bảo vệ và điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn đất, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, bảo đảm cân bằng sinh thái và an ninh môi trường. Theo UBND huyện Sông Hinh, để quản lý rừng tốt hơn, địa phương và các ngành liên quan cần quản lý chặt chẽ đất lâm nghiệp đối với rừng trồng đã được quy hoạch để triển khai trồng rừng đúng mục đích.
Cơ quan chức năng nên giao cho doanh nghiệp hoặc cá nhân đấu thầu đất để giữ rừng theo quy định của Nhà nước, đồng thời đa dạng hóa việc trồng rừng bằng các loại gỗ quý bản địa vừa mang lại kinh tế cao, vừa bảo vệ được môi trường. Riêng các vụ phá rừng trái pháp luật đã khởi tố hình sự cần phải đưa ra xét xử tại địa phương nơi cư trú nhằm tăng tính răn đe giáo dục chung…
Ông Phạm Ngọc Minh cho biết: “Vùng rừng Phú Yên giáp ranh với Đắk Lắk có địa hình hiểm trở, có độ dốc lớn, chưa có đường giao thông (kể cả đường lâm nghiệp). Đặc biệt, khu vực này nằm xa khu dân cư của huyện Sông Hinh, lực lượng chức năng muốn tuần tra bảo vệ rừng phải đi vòng qua huyện M’Đrắk mới quay lại được.
Việc tuần tra bảo vệ các tiểu khu rừng giáp ranh gặp nhiều trở ngại, khó khăn trong thực thi nhiệm vụ cũng như sinh hoạt của nhân viên bảo vệ rừng. Trong khi đó, các đối tượng phá rừng rất liều lĩnh, manh động, sẵn sàng tấn công lực lượng bảo vệ rừng. Hiện Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh có 4 trạm quản lý bảo vệ rừng, mỗi trạm chỉ từ 3 đến 4 người, lực lượng quá mỏng so với số diện tích cần bảo vệ”.
Theo ông Nguyễn Tri Phương, Phó giám đốc Sở NN-PTNT, việc một số cử tri ở huyện Sông Hinh đề nghị thành lập thêm một trạm quản lý bảo vệ rừng ngay tại khu vực rừng giáp ranh là vấn đề khá lớn cần phải có chủ trương để thực hiện. Sở NN-PTNT đã nêu vấn đề này để HĐND, UBND tỉnh cho ý kiến chỉ đạo.
Hiện nay, Bộ NN-PTNT đang hoàn thiện quy chế quản lý rừng phòng hộ trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, trong đó có các quy định về ban quản lý, lực lượng bảo vệ rừng phòng hộ. Do đó, việc thành lập thêm trạm quản lý bảo vệ rừng cần có thời gian để cân nhắc cho phù hợp với quy định hiện hành. (Báo Phú Yên 20/1) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng ngày 20-1 cho biết, đã thả một cá thể khỉ mốc về môi trường tự nhiên Khu Bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà.
Trước đó, nhận được thông tin từ Trung tâm giáo dục thiên nhiên (ENV), lực lượng kiểm lâm thành phố đã đến nhà anh Trương Công Vĩ (trú số 330-Cù Chính Lan, Đà Nẵng) để làm thủ tục nhận bàn giao và nuôi dưỡng con vật có tên trong Sách Đỏ này. (Công An TP.Đà Nẵng 21/1) đầu trang(
Những năm gần đây, khu vực sông La Ngà, hồ Trị An (tỉnh Đồng Nai) san sát những hồ nuôi cá sấu. Dù là loài động vật nguy hiểm, nhưng các chuồng trại ở đây thiết kế khá đơn sơ, khiến người dân nơm nớp lo nguy cơ cá sấu sổng chuồng...
Có mặt tại xã Phú Ngọc, huyện Định Quán (Đồng Nai), nơi mà người dân ví von là “vương quốc” của cá sấu, dễ dàng nhận ra những trại nuôi cá sấu san sát bên nhau nhờ những tấm bảng quảng cáo bán cá sấu được dựng sát bờ sông.
Anh Phan Như Tiến, người dân ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán cho biết, hai năm gần đây, khu vực này có nhiều hộ gia đình xây dựng các chuồng nuôi cá sấu. Trên tuyến đường 104 Bắc Nam Lộ, xã Phú Ngọc, có thể kể ra các vựa thu mua và nuôi cá sấu như: Hương Công, Thủy Lơi, Tâm Oanh… và rất nhiều hộ nuôi cá sấu nhỏ lẻ khác cung cấp cho các thương lái.
Một hộ nuôi cá sấu tại ấp 1, xã Phú Ngọc nằm sát sông La Ngà cho hay: “Vài năm nay giá cá sấu đều tăng chóng mặt. Nhiều nhà đầu tư chuồng trại nuôi cá sấu rồi phất lên rất nhanh. Trước đây, giá cá sấu gần 100 nghìn đồng/kg, nhưng gần hai năm nay giá tăng lên trên 200 nghìn đồng/kg, nên tôi cũng gom góp gần 50 triệu đồng đầu tư chuồng trại nuôi cá sấu để mong đổi đời”.
Quan sát của PV, dù là động vật hoang dã nguy hiểm, nhưng hầu hết các trại nuôi cá sấu này đều thiết kế khá đơn sơ. Các hộ chỉ cần xây bao bờ tường gạch với nền chuồng đổ xi măng, giữa chuồng làm hồ cho cá ngâm nước là đã hoàn chỉnh một chuồng nuôi cá sấu.
Thông thường, chuồng nuôi cá sấu xây bằng tường gạch xi măng dày 10 cm, cao khoảng 1-2 m, phía trên có quây lưới. Tùy theo diện tích chuồng lớn hay nhỏ để nuôi số lượng phù hợp, nhưng mọi chuồng nuôi đều nằm gần bờ sông La Ngà, thông ra hồ Trị An. Nhìn vào hệ thống chuồng trại ấy, không ai không ái ngại có thiên tai, bão lũ, giông lốc... cá sấu dễ dàng sổng chuồng trốn xuống sông, hồ...
Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai ngoài địa bàn xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, cá sấu còn được nuôi rải rác gần hồ Trị An thuộc huyện Vĩnh Cửu. Và tình trạng cá sấu sổng chuồng hầu như tháng nào cũng xảy ra. Như ba tháng gần đây, tháng nào cũng có cá sấu sổng chuồng.
Vụ thứ nhất là ngày 22/10/2014, người dân bỗng phát hiện cá thể cá sấu dài chừng 1,2 m và nặng khoảng 20 kg nổi lên tại ao nước của một hộ dân; ngày 29/11/2014 cá sấu lại nổi tại ao nhà ông Nguyễn Vũ Hà (ấp 1, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu)...
Mới đây nhất sáng ngày 15/12/2014, người dân ấp 2, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, đã bắt được con cá sấu sổng ra hồ Trị An. Con cá sấu này dài hơn 1m và nặng 32,5kg.
Anh Phan Như Tiến cho hay, từ khi cá sấu liên tiếp sổng chuồng, người dân ở đây đều hoang mang, thận trọng mỗi khi tiến lại gần ao nước. “Nhưng ở nông thôn, vườn ao chuồng san sát, làm sao cảnh giác hết được. Lo nhất là bọn trẻ con, nhỡ chỉ cần ra ao nhà rửa chân, rửa tay cũng có khi gặp họa”, anh Tiến lo lắng.
Trao đổi với PV, ông Tôn Hà Quốc Dũng, Trưởng phòng Bảo tồn thiên nhiên (Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai) cho biết: Đối với công tác quản lý các trại nuôi cá sấu trước khi được cấp giấy phép đều được Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai phối hợp cùng Hạt Kiểm lâm thẩm định chuồng trại đủ điều kiện về an toàn, đảm bảo vệ sinh môi trường theo quy định mới tiến hành các thủ tục xem xét, cấp giấy phép trại nuôi.
Trường hợp nào không đủ điều kiện sẽ không được cấp giấy phép. Trường hợp phát hiện vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định. Hàng năm Hạt kiểm lâm Định Quán đều tiến hành cho ký cam kết với các chủ trại nuôi cá sấu về việc đảm bảo an toàn trại nuôi, môi trường sinh thái...
Dù phía lực lượng chức năng khẳng định đã làm hết trách nhiệm trong vấn đề đảm bảo an toàn ở các chuồng trại nuôi cá sấu, nhưng thực tế, việc cá sấu liên tiếp sổng chuồng đang chứng minh điều ngược lại...
"Tổng số trại nuôi cá sấu nước ngọt trên địa bàn huyện Định Quán là 148 trại với hơn 94 nghìn con cá sấu”. Ông Tôn Hà Quốc Dũng - Trưởng phòng Bảo tồn thiên nhiên, Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai cho biết. (Giao Thông 21/1, tr5) đầu trang(
Ngày 20.1, Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình) cho biết, các nhà khoa học Việt Nam và thế giới vừa phát hiện và công bố một loài ếch giun mới có tại Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.
Loài này được phát hiện tại khu vực rừng gần bản Cha Lo (xã Hóa Sơn, huyện Minh Hóa), có tên khoa học là Ichthyophis chaloensis sp.nov, thuộc họ Ếch giun (Ichthyophiidae), bộ không chân (Gymnophiona).
Theo mô tả, loài ếch giun mới trên chủ yếu sinh sống dưới thảm mục ven suối đá nhỏ tại khu vực rừng thứ sinh thuộc khu vực mở rộng của VQG Phong Nha - Kẻ Bàng.
Với việc phát hiện và công bố loài ếch giun mới cho khoa học, tính đến nay đã ghi nhận được 51 loài lưỡng cư tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng. (Lao Động 21/1, tr3) đầu trang(
Từ năm 2013 đến nay, Ban quản lý rừng phòng hộ (RPH) Khu Lê Hồng Phong, Bắc Bình đã thực hiện Dự án bảo vệ, phát triển rừng giai đoạn 2011- 2015, được UBND tỉnh phê duyệt, bằng cách giao khoán cho 72 hộ dân tại địa phương quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên, rừng trồng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên, với tiền công 200.000 đồng/ha/năm và mỗi hộ dân được nhận khoán không quá 80 ha rừng, với thu nhập bình quân khoảng 1.330.000 đồng/tháng/hộ.
Nhưng so mặt bằng kinh tế hiện nay, mức thu nhập bình quân của các hộ dân nhận khoán bảo vệ rừng còn thấp, không đủ trang trải cho cuộc sống hàng ngày.
Để tạo điều kiện cho các hộ dân nhận khoán bảo vệ rừng có thêm thu nhập, Ban quản lý RPH Khu Lê Hồng Phong đã cho các hộ dân nhận thêm đất trống không có rừng hoặc đất rừng trồng sau khi khai thác để sản xuất nông lâm kết hợp. Bình quân mỗi hộ dân được nhận khoán 2 ha đất trống để trồng xen các loại cây hoa màu dưới tán cây lâm nghiệp, nhằm tăng thêm thu nhập gia đình và yên tâm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng.
Tiền công bảo vệ rừng của các hộ dân được đơn vị kiểm tra rừng lập danh sách, ký nhận hàng tháng. Tuy nhiên, trong năm 2014, có 30/72 hộ dân nhận tiền công bảo vệ rừng bị chậm, do tình hình phân khai vốn của đơn vị cho công tác quản lý, bảo vệ rừng gặp khó khăn, vướng mắc.
Cụ thể, ngay từ đầu năm đơn vị đã lập đầy đủ hồ sơ, thủ tục giao khoán bảo vệ rừng cho các hộ dân, nhưng đến ngày 26/9/2014, UBND tỉnh mới có Quyết định số 3158/QĐ-UBND, về kinh phí thực hiện nhiệm vụ kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng năm 2014 và Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn mới có Quyết định số 1153/QĐ-SNN, ngày 23/10/2014, phê duyệt thiết kế dự toán công trình khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên năm 2014 để đơn vị thực hiện.
Chính vì lẽ đó, đến cuối năm 2014, Ban quản lý RPH Khu Lê Hồng Phong mới thực hiện các thủ tục, hồ sơ xin rút vốn đầu tư công trình để chi trả tiền công nhận khoán bảo vệ rừng cho 30 hộ dân theo quy định của pháp luật. (Báo Bình Thuận 21/1) đầu trang(
Là cầu nối quan trọng, gắn kết hoạt động của cơ quan kiểm lâm với cơ sở, trong những năm qua, lực lượng kiểm lâm địa bàn (KLĐB) ở huyện Ea Kar đã góp phần tích cực trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Huyện Ea Kar có khoảng 42.800 ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 32.886 ha, rừng trồng gần 6.000 ha. Diện tích rừng và đất lâm nghiệp tập trung chủ yếu tại địa bàn các xã Ea Sô, Cư Prông, Cư Yang, Cư Bông và Cư Elang.
Trong những năm qua, dù được các cấp chính quyền và lực lượng chức năng của địa phương nỗ lực triển khai nhiều biện pháp truy quét, ngăn chặn nhưng là địa bàn có nhiều diện tích rừng giáp ranh với các huyện trong và ngoài tỉnh: Krông Bông, M’Drak, Krông Năng và Sông Hinh (Phú Yên), Krông Pa (Gia Lai) nên tình trạng phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn diễn ra phức tạp.
Thêm vào đó là đối tượng lâm tặc ngày càng manh động và liều lĩnh, sẵn sàng tấn công lực lượng kiểm lâm để tẩu thoát nên lực lượng kiểm lâm, nhất là đối với kiểm lâm địa bàn luôn đối mặt với tình trạng nguy hiểm. KLĐB xã Cư Bông, Võ Đình Cảnh chia sẻ, trọng trách khá nặng nề, nhưng chính lòng yêu nghề đã giúp người KLĐB như anh vượt qua những khó khăn, thường xuyên bám rừng, bám cơ sở, để cùng với lực lượng chức năng của địa phương, chủ rừng bảo vệ màu xanh những cánh rừng nơi đây.
Sau khi được phân công nhiệm vụ quản lý địa bàn xã Cư Bông, anh đã tham mưu cho chính quyền địa phương thành lập Ban Thực hiện các biện pháp cấp bách quản lý bảo vệ rừng và chống người thi hành công vụ gồm 27 thành viên; Ban Quản lý bảo vệ và phát triển rừng cấp xã gồm 7 thành viên; xây dựng 7 tổ, đội quần chúng quản lý bảo vệ rừng với 42 người tham gia.
Để quản lý, bảo vệ rừng hiệu quả, ngoài việc thường xuyên tổ chức lực lượng tuần tra, truy quét, thì công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục sâu rộng các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng đến người dân, nhất là những người sống gần rừng được chính quyền địa phương nơi đây xem là giải pháp căn cơ nhất. Chính vì vậy, những năm qua, các vụ vi phạm lâm luật đều bị người dân phát giác, thông tin nhanh chóng, giúp cho lực lượng chức năng điều tra, xử lý kịp thời.
Với các nhiệm vụ: bảo vệ rừng, tham gia công tác khuyến lâm, hướng dẫn cộng đồng dân cư thôn, buôn xây dựng và tổ chức thực hiện quy ước bảo vệ và phát triển rừng, theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp từ cơ sở, những năm qua, lực lượng KLĐB đã góp phần tích cực trong công tác quản lý để bảo vệ rừng tại gốc.
Ông Nguyễn Hồng Khôi, Chủ tịch UBND xã Cư Yang cho biết, toàn xã có 2.864 ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó rừng phòng hộ là 189,5 ha, rừng sản xuất 1.422,4 ha, rừng trồng 1.185,6 ha. Với sự tham mưu của KLĐB, hằng năm, Ban Quản lý bảo vệ phát triển rừng của xã đều xây dựng kế hoạch bảo vệ phát triển rừng, PCCCR, đồng thời làm tốt công tác tuyên truyền vận động người dân cùng tham gia; đã xây dựng được 15 tổ đội quần chúng bảo vệ rừng với 115 người.
Đây là lực lượng tham gia tích cực các hoạt động tuần tra, kiểm tra, kiểm soát rừng cùng với lực lượng chuyên trách của chính quyền địa phương; đồng thời nắm bắt thông tin, cung cấp tin báo kịp thời, giúp chính quyền triển khai các biện pháp ngăn ngừa và xử lý.
Trong năm 2014, xã đã bắt giữ và lập biên bản 4 vụ vận chuyển lâm sản trái phép bằng xe lôi, tịch thu 1,809 m3 gỗ nhóm 3 - nhóm 5; kết hợp với Phân trường I của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea Kar phá dỡ 1 lán trại dựng trái phép trên đất rừng; giải quyết 2 vụ tranh chấp đất đai giữa các hộ dân hợp đồng trồng rừng với công ty này.
Ông Nguyễn Văn Quang, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Ea Kar cho biết: Mặc dù địa bàn quản lý khá rộng, địa hình lại phức tạp nhưng lực lượng kiểm lâm được phân công phụ trách địa bàn của huyện hiện mới chỉ có 5 người phụ trách 5 xã, việc quản lý của KLĐB gặp khá nhiều khó khăn và trở ngại. Xác định nhiệm vụ chính trị là quản lý, bảo vệ rừng tại địa bàn, KLĐB thường xuyên bám dân, bám rừng, với phương châm “ba cùng”, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với nhân dân địa phương.
Ngay từ đầu năm, KLĐB các xã đã tham mưu cho chủ tịch UBND xã ban hành kế hoạch BVR, PCCCR; xây dựng kế hoạch kiểm tra, truy quét và kiểm tra, kiểm soát lâm sản trên địa bàn quản lý. Năm 2014, toàn huyện đã phát hiện và xử lý 167 vụ vi phạm các quy định về QLBVR và quản lý lâm sản, tịch thu 128,9 m3 gỗ các loại, tịch thu 127 phương tiện, tiền thu nộp ngân sách gần 1,5 tỷ đồng.
Việc tổ chức lực lượng để kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm trên có sự góp phần tích cực của lực lượng KLĐB. Tuy nhiên, để lực lượng này tinh nhạy hơn trong bám cơ sở, bám rừng, cần tăng cường hơn nữa công tác đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn và kỹ năng hoạt động KLĐB.
Đồng thời, tăng cường hơn nữa công tác phối hợp giữa các tổ chức, đoàn thể tại cơ sở, ngành liên quan và chủ rừng, để việc giữ rừng của lực lượng KLĐB nói riêng, kiểm lâm nói chung hiệu quả hơn. (Báo Đắc Lắc 20/1) đầu trang(
Lực lượng kiểm lâm tỉnh năm 2014 phát hiện và xử lý 206 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Trong đó, 7 vụ phá rừng trái phép, 27 vụ vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng, 105 vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, 18 vụ khai thác lâm sản trái phép, 2 vụ vi phạm về quản lý bảo vệ động vật hoang dã, 47 vụ vi phạm về thủ tục hành chính. Tịch thu 96,08 m3 gỗ các loại, nộp ngân sách nhà nước trên 2 tỷ đồng.
Theo Chi cục Kiểm lâm, tổng số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng so với năm 2013 giảm 45 vụ, trong đó mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép giảm 65 vụ, vi phạm về quản lý động vật hoang dã giảm 8 vụ; vi phạm về chế biến gỗ và lâm sản khác 5 vụ.
Tuy nhiên, vi phạm về phòng cháy, chữa cháy rừng năm 2014 tăng 7 vụ, vi phạm về khai thác gỗ và lâm sản khác tăng 4 vụ so với năm 2013. (Báo Cao Bằng 20/1) đầu trang(
Hạt kiểm lâm huyện An Lão vừa triển khai Kế hoạch mở đợt cao điểm bảo vệ rừng trong dịp Tết Nguyên đán Ất Mùi 2015.
Theo đó, từ nay đến ngày 31/3/2015 lực lượng kiểm lâm phối hợp với Đoàn công tác liên ngành, chính quyền các xã, thị trấn và chủ rừng tiến hành kiểm tra, truy quét, chốt chặn tại các tuyến đường, vùng rừng giáp ranh và cửa rừng trọng điểm kịp thời phát hiện, bắt giữ và xử lý các đối tượng có hành vi khai thác, vận chuyển, cất giữ lâm sản và động vật rừng trái phép, góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
Được biết, lực lượng kiểm lâm cũng đã chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện, dụng cụ tại chỗ để thực thi nhiệm vụ bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng; Tăng cường lực lượng chốt chặn tại điểm brie An Toàn III và các xã An Trung, An Dũng, An Vinh.
Đặc biệt Tổ kiểm lâm cơ động chủ động nắm bắt tình hình phối hợp với các Trạm kiểm lâm An Hòa, An Quang ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng… (Binhdinh.gov.vn 19/1) đầu trang(
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2014, ngoài việc tập trung triển khai phương án phòng, chống cháy rừng, lực lượng Kiểm lâm còn phối hợp tốt với các địa phương và chủ rừng tăng cường công tác kiểm tra, ngăn chặn các vụ vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng.
Nhờ vậy, nhiều điểm nóng về phá rừng, buôn bán, vận chuyển lâm sản đã được xử lý. Năm qua, lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý 556 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu 778,7m3 gỗ các loại, tiến hành xử lý vi phạm hành chính và bán tang vật vi phạm nộp ngân sách Nhà nước hơn 10,2 tỷ đồng.
Trong công tác phát triển rừng, toàn tỉnh Khánh Hòa đã trồng được 860ha rừng tập trung (gồm: 187ha rừng phòng hộ và 673ha rừng sản xuất), 730.000 cây phân tán. Bên cạnh đó, các đơn vị còn tiến hành chăm sóc 5.303ha rừng; hoàn thành công tác khoanh nuôi tái sinh rừng theo kế hoạch. (Báo Khánh Hòa 20/1) đầu trang(
Ngày 19-1, cơ quan Cảnh sát điều tra, CAH Ea H’leo tỉnh Đắk Lắk cho biết, trên địa bàn xã Ea H’leo vừa xảy ra một vụ án mạng do nạn nhân đi vào rừng cưa trộm gỗ dẫn đến bị cây đổ đè chết.
Vào lúc 18h, ngày 17-1, CAH Ea H’leo nhận được tin báo của công an xã Ea H’Leo cho biết,tại tiểu khu 7 thuộc công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Chư Phả, giáp ranh huyện Ea Súp, xảy ra vụ việc một nạn nhân bị cây đổ đè chết tại chỗ. Nạn nhân là anh Nguyễn Hữu Đức (SN 1963), trú tại thôn 2, xã Ea H’leo, huyện Ea H’leo.
Người nhà của nạn nhân cho biết, sáng cùng ngày, anh Đức cùng một số người ở địa phương rủ nhau vào khu vực này để cưa gỗ đem về làm nhà, khi đang cưa gỗ thì bị tai nạn. Nhận được tin báo, cơ quan cảnh sát điều tra CAH Ea H’leo đã đến hiện trường và phát hiện, anh Đức đã bị một cây gỗ to có đường kính gốc 40 cm, ngã đè lên vùng ngực và bụng khiến tử vong ngay tại chỗ.
Hiện thi thể nạn nhân đã được bàn giao cho người nhà đem về tổ chức mai táng. (An Ninh Thủ Đô 19/1) đầu trang(
Bảo vệ rừng cho đời sau, bảo vệ rừng để bảo vệ môi trường. Đó là tâm nguyện của ông Trương Xuân Đô ở thôn 5 Yên Thọ, xã Tân Hóa, huyện Minh Hóa. Vì lẽ đó, mà hàng chục năm qua ông Đô đã không biết mệt mỏi vượt qua những khó khăn, cám dỗ đời thường để bảo vệ hàng chục ha rừng tái sinh luôn xanh tốt.
Cho đến bây giờ, ông Đô cũng không biết bản thân mình đã gắn với cánh rừng này được bao nhiêu thời gian. Ông chỉ biết từ khi lớn lên ông đã cùng gia đình bảo vệ cho cánh rừng ngay cạnh vườn nhà mình. Chính vì vậy, trong suy nghĩ của ông việc bảo vệ rừng luôn được đặt lên hàng đầu và dường như nó đã ăn sâu vào tiềm thức của ông mà không gì có thể thay đổi được.
Mặc dù đang sống trong ngôi nhà tình nghĩa, cuộc sống của hai cha con gặp rất nhiều khó khăn, nhưng cha con ông đã biết vượt qua mọi cám dỗ của đời thường để làm tốt công tác bảo vệ rừng. Ông tâm sự, đã có rất nhiều người đến nói với ông bảo vệ rừng không được lợi ích gì, cũng có nhiều người xin ông khai thác gỗ nhưng ông đã từ chối tất cả, ông không cho phép bất kỳ ai xâm hại vào cánh rừng mà gia đình đã tốn rất nhiều công sức để bảo vệ nó.
Khu rừng mà gia đình ông Trương Xuân Đô bảo vệ có diện tích hơn 17 ha với nhiều loại cây lấy gỗ quý, trong đó nhiều nhất là cây lim. Hiện nay, ở cánh rừng này có trên 200 cây lim khá lớn, cây lớn nhất có đường kính 70cm, chiều cao trên 15m. Ngoài ra, còn có nhiều loại cây lấy gỗ có giá trị khác.
Thực tế cho thấy, hiện nay, nhu cầu sử dụng vật liệu gỗ để làm nhà và các công trình công cộng khác là rất lớn và rất phổ biến. Vì vậy, để bảo vệ rừng lim ngay cận kề khu dân cư là điều không mấy dễ dàng.
Ông Trần Mạnh Luật, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Minh Hóa cho biết: “Ông Trương Xuân Đô là một điển hình trong việc ý thức đối với công tác quản lí, bảo vệ rừng. Trong thời gian tới, nhằm thực hiện tốt công tác quản lí, bảo vệ rừng trên địa bàn cũng như nhân rộng mô hình cá nhân điển hình, Hạt Kiểm lâm Minh Hóa tiếp tục tham mưu cho các cấp chính quyền phối hợp với các cơ quan chức năng tiếp tục thực hiện tốt công tác tuyên truyền nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của người dân về bảo vệ rừng”.
Không vì lợi ích của gia đình, không một chút đòi hỏi, không kêu ca phàn nàn, tự nguyện giữ rừng mà chưa nhận được bất kỳ sự hỗ trợ nào, thế nhưng ông Trương Xuân Đô luôn xem việc bảo vệ cánh rừng này là bảo vệ cho Nhà nước, bảo vệ môi trường sống của con người, bảo vệ tài nguyên cho đời sau.
Ông Đô tâm sự: “Tôi muốn bảo vệ rừng thật tốt, mà bảo vệ rừng cũng chính là bảo vệ cho Nhà nước. Nếu sau này được Nhà nước quan tâm thì tôi cũng mong rằng Nhà nước sẽ ghi nhận và quan tâm đến công việc tôi đang làm cho rừng. Và hy vọng, mỗi người dân cũng nên có ý thức bảo vệ rừng, không để rừng bị chặt phá”.
Để bảo vệ rừng luôn xanh tốt, nhất là rừng đã có trữ lượng gỗ khai thác như cánh rừng mà ông Đô bảo vệ là điều không hề dễ dàng. Vì vậy, ngoài sự nỗ lực, cố gắng của ông Đô thì các ngành chức năng cũng cần hỗ trợ tích cực hơn để ông hoàn thành tâm nguyện của mình.
Bên cạnh đó, các cấp, các ngành cũng cần có sự động viên kịp thời và có chính sách hỗ trợ để gia đình ông sớm vượt qua khó khăn trong cuộc sống, yên tâm quản lý, bảo vệ tốt hơn cho cánh rừng này. (Đài PTTH Quảng Bình 20/1) đầu trang(
Tiếp tục triển khai nhân rộng thực hiện mô hình quản lý cưa xăng; lập tổ tự quản, mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồngdân cư để nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng, đó là nội dung quan trọng trong ý kiến chỉ đạo của Phó chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Minh Tiến,tại Hội nghị tổng kết ngành Kiểm Lâm ngày 20/1.
Theo số liệu thống kê, năm 2014 ngành kiểm lâm đã phát hiện 422 vụ vi phạm về rừng,giảm 41 vụ so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó, đã khởi tố 6 vụ án hình sự vi phạm các quy định về bảo vệ rừng, xử lý vi phạm hành chính 416 vụ, thu nộp ngân sách nhà nước trên 4 tỷ đồng.
Trong năm, hạt kiểm lâm các huyện, thành phố cũng đã tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật nâng cao nhận thức cho gần 60 nghìn người về quản lý và phát triển rừng đồng thời ký cam kết bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng cho trên 52 nghìn gia đình.
Ngoài ra, việc thực hiện kế hoạch 46 của UBND tỉnh về tăng cường quản lý lâm sản đang tạo ra sự chuyển biến tích cực trong công tác bảo vệ rừng. Qua đó, diện tích rừng được bảo vệ khá tốt, độ che phủ rừng tiếp tục được nâng lên.
Tuy nhiên, năm 2014 trên địa bàn tỉnh Hà Giang đã xảy ra 24 vụ cháy rừng, tăng 15 vụ so với năm trước; tình hình vi phạm các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, chống người thi hành công vụ vẫn diễn ra phức tạp ở các địa phương; nhiều cơ chế chính sách về lâm nghiệp chưa đồng bộ do vậy không khuyến khích được người dân gắn bó với rừng.
Mặc dù, đất lâm nghiệp chiếm 70% diện tích nhưng mới chỉ đóng góp vào tấc độ tăng trưởng kinh tế chung của toàn tỉnh khoảng 7%. Tại hội nghị, các đại biểu đã tập trung thảo luận bàn giải pháp như: cần triển khai nhân rộng thực hiện mô hình quản lý cưa xăng ở huyện Quang Bình; lập tổ tự quản, mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng đến từng thôn, bản; tránh mở đặt xưởng chế biến lâm sản nơi cửa rừng; gắn bảo vệ quản lý rừng với bảo vệ môi trường sinh thái.
Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Phó chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Minh Tiến đã ghi nhận và biểu dương sự nỗ lực cố gắng của ngành kiểm lâm trong năm 2014, đồng thời đề nghị những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác năm 2015, đó là: Ngành kiểm lâm cần rà soát, quy hoạch, bó trí và đào tạo đội ngũ cán bộ, đặc biệt là những cán bộ trẻ. Lựa chọn văn phòng Chi cục kiểm lâm để xây dựng thành đơn vị kiểu mẫu, tiêu biểu và từng bước nhân rộng. Tiếp tục triển khai nhân rộng thực hiện mô hình quản lý cưa xăng; lập tổ tự quản, mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng, để nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng.
Đẩy mạnh công tác phối, kết hợp gắn trách nhiệm giữa hạt kiểm lâm với cấp uỷ, chính quyền các địa phương, các ngành chức năng của tỉnh trong công tác bảo vệ rừng. Kiểm tra, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm; có hình thức khen thưởng đột xuất cho những cá nhân, tập thể điển hình tiên tiến trong bảo vệ rừng.
Giao cho Sở NN&PTNT và Chi cục Kiểm lâm tham mưu cho tỉnh xây dựng kế hoạch tổ chức trồng rừng lâm nghiệp; ngành kiểm lâm tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp đối với công tác quản lý bảo vệ rừng một cách có hiệu quả năm 2015 và những năm tiếp theo. (Đài PTTH Hà Giang 20/1) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
UBND tỉnh Quảng Trị vừa ra quyết định thành lập Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tại 8 xã, thị trấn thuộc huyện Đakrông bao gồm các xã Ba Lòng, A Vao, Tà Rụt, A Bung, Tà Long, Hải Phúc, Húc Nghì và thị trấn Krông Klang.
Quỹ có tư cách pháp nhân, sử dụng con dấu của UBND xã, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng theo quy định của pháp luật.
Quỹ bảo vệ và phát triển rừng có nhiệm vụ vận động các chủ rừng tại địa phương tự nguyện tham gia đóng góp xây dựng quỹ; tiếp nhận và quản lý nguồn tài chính do tổ chức, cá nhân trong, ngoài nước và các chương trình, dự án hỗ trợ; tổ chức lập và thực hiện kế hoạch quản lý, bảo vệ và phát triển rừng hàng năm…
Đồng thời phối hợp với các cơ quan, ban ngành liên quan tăng cường kiểm tra, giám sát và nghiệm thu kết quả các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng. (Báo Quảng Trị 21/1) đầu trang(
Phát triển rừng gỗ lớn không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cao hơn cho các hộ gia đình, mà còn giúp giảm xói mòn, rửa trôi đất... góp phần bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu.
Hiệu quả kinh tế và môi trường của rừng gỗ lớn so với rừng gỗ nhỏ đã được nhiều mô hình thí điểm khẳng định, song loại rừng này vẫn chưa phát triển tương xứng với lợi thế.
Theo quan điểm của các chủ rừng, phát triển gỗ nhỏ (5 - 7 năm) đem lại hiệu quả kinh tế do có nguồn thu nhanh hơn, có thể sớm quay vòng đầu tư tiếp, thay vì chỉ nhận một lần thu nhập nếu phát triển gỗ lớn. Hơn nữa, thu hoạch từ rừng chồi cũng được người trồng rừng cho là hiệu quả hơn so với chờ khai thác gỗ lớn.
Tuy nhiên, từ phân tích hiệu quả tài chính của hai phương án trồng rừng ở các địa phương như Yên Bái, Quảng Bình, Thanh Hóa, Quảng Trị, Bắc Giang... cho thấy, phương án gỗ lớn có hiệu quả cao hơn so với phát triển rừng gỗ nhỏ. Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Thế Hoàng Văn Chúc cho biết, 300ha rừng keo và thông được trồng từ 15 đến 18 năm có trữ lượng lớn, sản lượng gỗ ước đạt 240m3/ha, trị giá 360 triệu đồng.
Trong khi đó, một chu kỳ khai thác rừng trồng keo và thông cho gỗ nhỏ (bình quân 6 năm sẽ khai thác) chỉ đạt sản lượng 80m3, trị giá 60 triệu đồng. Việc trồng rừng gỗ nhỏ cũng đòi hỏi phải tái đầu tư chi phí giống, công trồng, chăm sóc ban đầu và có nguy cơ cháy cao hơn so với rừng gỗ lớn.
Việc thí điểm chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn tại 3 mô hình trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa cũng cho thấy, trữ lượng rừng, lượng tăng trưởng bình quân của rừng sau chuyển hóa cao hơn cấp gần 7 lần so với rừng gỗ nhỏ. Việc tỉa thưa mở rộng không gian dinh dưỡng tại thời kỳ rừng gỗ nhỏ sắp thu hoạch và tiếp tục trồng thêm đến chu kỳ khai thác (12 - 15 năm) đã giúp nâng trữ lượng rừng lên 300 - 350m3 và với mức giá bán các loại cây khai thác gỗ hiện nay, bình quân đạt 400 - 450 triệu đồng/ha/chu kỳ khai thác, hiệu quả kinh tế cao gấp 2,8 lần so với rừng gỗ nhỏ.
Ngoài ra, kinh doanh rừng gỗ lớn cũng giúp giảm bớt số lần khai thác, trồng lại rừng, do đó, giảm xói mòn, rửa trôi đất do quá trình khai thác, trồng lại rừng gây ra. Rừng gỗ lớn cũng có khả năng hấp thụ cacbon, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, chống biến đổi khí hậu.
Tác dụng lớn nhất của phát triển rừng gỗ lớn là chủ động tạo nguồn nguyên liệu trong nước cho ngành công nghiệp chế biến lâm sản nước ta. Thực tế, do diện tích rừng trồng ở nước ta hiện chủ yếu là rừng ngắn ngày, nên chấp lượng gỗ không cao, 80% được sử dụng làm nguyên liệu cho công nghiệp giấy. Chỉ một lượng gỗ nhỏ khai thác trong nước được sử dụng trong chế biến đồ gỗ nội thất và mỹ nghệ, cho thu nhập cao.
Để đáp ứng nhu cầu chế biến gỗ, hàng năm các doanh nghiệp phải nhập khẩu từ 70 - 80% gỗ nguyên liệu từ nước ngoài. Tổng kim ngạch nhập khẩu gỗ trong giai đoạn 2009 - 2011 là 3.418,87 triệu USD, với tốc độ tăng bình quân hàng năm là 122%. Trong khi đó, các thị trường nhập khẩu đồ nội thất và mỹ nghệ của nước ta đều yêu cầu sản phẩm sản xuất từ gỗ được cấp chứng chỉ.
Để có chứng chỉ này, bắt buộc phải là gỗ khai thác từ những nơi có chứng chỉ rừng; mà để được cấp chứng rừng thì phải là rừng gỗ lớn. Vì thế, để chủ động nguồn cung trong nước cho chế biến đồ gỗ nội thất và mỹ nghệ, không có cách nào khác, phải phát triển rừng gỗ lớn.
Lợi ích kinh tế và môi trường của rừng gỗ lớn cao, nhưng hiện nay đa số chủ rừng lại lựa chọn mô hình rừng gỗ nhỏ thay vì rừng gỗ lớn. Nguyên nhân do đa số người trồng rừng có thu nhập thấp, không đủ điều kiện tài chính để theo chu kỳ khai thác dài, cho gỗ lớn.
Do có thu nhập thấp nên nhiều người trồng rừng cũng khó đáp ứng các điều kiện vay vốn của ngân hàng. Nếu tiếp cận được vốn vay, thì khoản vay cũng thấp hơn nhu cầu đầu tư, thời hạn vay ngắn hơn so với chu kỳ kinh doanh rừng, lãi suất cao... Điều này khiến họ phải khai thác gỗ khi đáp ứng được yêu cầu băm dăm và làm bột giấy để có thể trả lãi, vốn vay từ ngân hàng hoặc vay tư nhân.
Thực trạng quản lý rừng tại các địa phương cũng cho thấy, hầu hết người trồng rừng phải đối mặt với khó khăn trong việc bảo vệ cây trồng, nhất là khi đã đạt kích thước khai thác. Kẻ trộm thường chọn cây lớn để cắt, bỏ lại những cây nhỏ. Vì thế, người trồng rừng khai thác cây non để bảo vệ lợi ích của mình.
Sản xuất, kinh doanh rừng gỗ lớn đang là xu hướng trên thế giới và cũng là giải pháp quan trọng để thay đổi thực trạng kinh doanh lâm nghiệp hiện nay. Để phát triển mô hình rừng có lợi ích kép này, theo các chuyên gia, cần thay đổi từ công tác quy hoạch, nghiên cứu giống mới, kỹ thuật lâm nghiệp, đến việc ban hành các chính sách về phát triển thị trường, xây dựng liên kết theo chuỗi giá trị... (Đại Biểu Nhân Dân 21/1, tr2) đầu trang(
Ông Đặng Thành Minh, sinh năm 1969, hiện ngụ tại ấp Phú Lộc, xã Hòa Hiệp, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cùng 130 hộ dân thuộc 3 xã Xuyên Mộc, Hòa Hội, Hòa Hiệp, huyện Xuyên Mộc đồng viết đơn khiếu nại Lâm trường Xuyên Mộc nay là Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Bà Rịa - Vũng Tàu (Cty LNBRVT) “chiếm hữu đất” mà các hộ đã dày công khai hoang.
Theo đơn thư và trình bày của người dân khi phóng viên tác nghiệp tại địa bàn, từ năm 1988 đến năm 1991, các hộ dân thuộc diện kinh tế mới theo tiếng gọi của Đảng và Nhà nước về việc phủ xanh đồi trọc, khai hoang phục hóa những vùng sâu, vùng xa của Tổ quốc.
Khi những người dân đến vùng đất này thì đây còn là chốn “rừng thiêng, nước độc” với hàng ngàn mảnh bom, mìn của quân đội Mỹ còn rơi rớt lại sau cuộc chiến. Trước muôn vàn khó khăn, những người khai hoang đầu tiên trên mảnh đất này đã chung sức, đồng lòng để biến chốn rừng hoang vu thành những thôn xóm ấm cúng. Trong quá trình khai phá đã có người phải bỏ xác lại nơi đây vì sốt rét, bạo bệnh.
Tưởng chừng công sức của các hộ dân được đền đáp xứng đáng bằng một nơi an cư, lạc nghiệp mới thì, theo phản ánh, từ năm 1992 - 1994, những cán bộ của Lâm trường Xuyên Mộc bỗng xuất hiện, đòi lại số đất mà các hộ dân đã khai hoang trước đó. Không chấp nhận cách “thu hồi đất” vô lý, các hộ dân đã kịch liệt phản đối.
Đáp lại, theo phản ánh của ông Minh và các hộ dân, các cán bộ của Lâm trường Xuyên Mộc khi ấy đã dẫn theo nhóm “xã hội đen” để “dằn mặt” những ai phản đối. Và, cũng từ đó, các hộ dân đã liên tục gửi đơn kêu cứu, khiếu nại lẫn tố cáo đến các cơ quan chức năng.
Tại Thông báo số 139/TB-UBND ngày 23/5/2014 của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc giải quyết tố cáo của người dân đã nêu: “Hộ Nguyễn Xuân Quang, nguyên Giám đốc Lâm trường được giao khoán 177,8ha; hộ Nguyễn Trung Tiến 46,4ha, người ra còn chị, em ông Tiến đang ký hợp đồng nhận khoán diện tích 50,8ha; hộ Sầm Sơn Thùng (Phó phòng Kỹ thuật) 36,8ha; hộ Võ Kim Thành (nguyên Trưởng phòng Tổ chức Lâm trường) 59,7ha; hộ Trần Danh Hòa (công nhân đã nghỉ hưu) 45ha; hộ Lê Văn Cơ (Giám đốc Cty LNBRVT) 44,5ha; hộ Lưu Ngọc Châu (Phó Giám đốc Cty LNBRVT) 86ha; hộ Nguyễn Ngọc Đình (lái xe Cty LNBRVT) 50,2ha; hộ Nguyễn Quang Hiền (phân trường trưởng) 34,2ha. Ngoài ra, còn có một số cán bộ đã nghỉ hưu, cán bộ đang công tác tại Giám đốc Cty LNBRVT (trước đây là Lâm trường Xuyên Mộc) đang được nhận hợp đồng khoán với diện tích trung bình khoảng 15ha/cá nhân”.
Cũng theo thông báo: Qua rà soát hồ sơ giao khoán cho thấy, có một số trường hợp Lâm trường Xuyên Mộc ký hợp đồng giao khoán với các đối tượng đã về hưu, cán bộ, công chức không làm việc cho bên giao khoán, nhiều người trong cùng một hộ gia đình; đối tượng nhận khoán đất trồng rừng không cư trú trên địa bàn.
Đối với trường hợp đối tượng nhận khoán đất trồng rừng không cư trú trên địa bàn, qua làm việc với lãnh đạo Cty LNBRVT, ngày 5/5/2014, đại diện Cty xác nhận có 14 trường hợp giao khoán với diện tích 121ha cho các đối tượng nhận khoán ngoài địa bàn không đúng tinh thần Nghị định số 135/2005/NĐ-CP.
Qua kiểm tra hồ sơ cho thấy, đơn vị giao khoán thực hiện chưa đúng theo trình tự, thủ tục giao khoán, nhận khoán về đất, cây trồng, vật nuôi, hiện trạng các loại rừng và tài sản trên đất được quy định tại điểm 2 mục III phần I Thông tư số 102/2006/TT-BNN ngày 13/11/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
Như vậy, Thông báo 139 kết luận: “Việc tố cáo một số cán bộ Lâm trường Xuyên Mộc được nhận hợp đồng giao khoán nhiều đất là có thật”. Và, như xác nhận của Giám đốc Cty LNBRVT, từ trước đến nay đơn vị không quy định hạn mức đất giao khoán cho mỗi hộ gia đình và cá nhân.
Về nội dung tố cáo Lâm trường Xuyên Mộc không sử dụng đất để trồng rừng mà sử dụng để trồng cao su, theo Thông báo 139, “về cơ bản, phần lớn diện tích đất được Nhà nước giao, Lâm trường Xuyên Mộc đã tiến hành trồng rừng hoặc giao khoán đất cho các hộ dân để trồng rừng theo quy định. Bên cạnh đó, cũng có một phần diện tích đất Lâm trường Xuyên Mộc sử dụng trồng cây cao su hoặc liên kết với các đơn vị khác để trồng cao su”.
Hay như, tổ công tác cũng đã tiến hành xác minh trường hợp sử dụng đất nhận khoán của hộ ông Hoàng Ngọc Quyền, ký hợp đồng nhận khoán trồng rừng (tràm bông vàng) với Cty LNBRVT, phát hiện hộ nhận khoán sử dụng 4ha đất (trong số 18ha tại Hợp đồng số 179, ngày 10/10/2007) chưa đúng mục đích trong khi đơn vị giao khoán chưa có biện pháp xử lý.
Ngoài ra, Thông báo cũng khẳng định nội dung tố cáo Lâm trường Xuyên Mộc không sử dụng đất để trồng rừng mà sử dụng đất để trồng cây ăn trái “tổ công tác đã rà soát hồ sơ lưu trữ tại Cty LNBRVT và xác minh thực tế tại một số khu đất, cho thấy nội dung tố cáo trên của các hộ dân là đúng”. (Nội dung này, trước đây, năm 2001, đã được các đoàn thanh tra xem xét, kiến nghị, xử lý. Giám đốc Lâm trường Xuyên Mộc đã ban hành quyết đinhụ xử lý 11 trường hợp vi phạm nhưng quá trình giải quyết chưa triệt để).
Ngày 2/12/2014, tại Kết luận số 9103 về nội dung tố cáo đối với một số cán bộ Lâm trường Xuyên Mộc trong việc quản lý sử dụng đất tại Lâm trường Xuyên Mộc (nay là Cty LNBRVT), Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Trần Ngọc Thới cho biết đã khiển trách ông Trần Văn Cơ - Giám đốc Cty LNBRVT.
Ngoài ra, Cty LNBRVT đã xử lý trách nhiệm với các cán bộ có sai phạm, thiếu sót: Phê bình trước tập thể Cty đối với ông Lưu Văn Châu do sử dụng đất nhận khoán sai mục đích; khiển trách ông Đinh Thiên Duy, Trưởng phòng Kỹ thuật do thiếu kiểm tra việc thực hiện hợp đồng, để xảy ra một số sai phạm trồng cây sai mục đích, sai hợp đồng, quản lý hồ sơ không chặt chẽ, làm thất lạc một số hồ sơ giao khoán trước đây; khiển trách ông Triệu Văn Kính, Liên phân Trường phó phụ trách quản lý, bảo vệ rừng do thiếu trách nhiệm để xảy ra một số sai phạm trên địa bàn quản lý…
Về nội dung tố cáo Lâm trường Xuyên Mộc cưỡng chế thu hồi đất mà không có quyết định thu hồi, không cho biết lý do, không bồi thường đất, hoa màu, theo Kết luận số 9103, nội dung tố cáo chỉ mang tính thông tin, trình bày mà không có hồ sơ, chứng cứ để chứng minh cho quá trình sử dụng đất (kê khai, đăng ký đất đai, thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước…). Kết quả xác minh chưa tìm thấy hồ sơ tài liệu liên quan đến việc sử dụng đất, thu hồi đất và hoa màu của các hộ dân…
Theo người dân, thời điểm họ đến mảnh đất này không chỉ có một vài gia đình khai hoang mà còn hàng trăm hộ dân khác bỏ mồ hôi, nước mắt. Cũng chừng ấy con người chứng kiến, chứng nhận chưa đủ hay sao mà cán bộ còn đòi hỏi thêm chứng cứ, chừng từ này nọ để phủ nhận công sức của người dân.
Chưa hết, tuy Kết luận số 9103 của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cho biết đã xử lý cán bộ sai phạm nhưng, rõ ràng, với mức phê bình, khiển trách là quá nhẹ so với sai phạm mà những người này gây ra…
Nguyện vọng có đất của hơn 130 người dân nêu trên, chúng tôi xin gửi đến các cấp có thẩm quyền với mong muốn sự vào cuộc để giải quyết thấu tình, đạt ý. (Thanh Tra 19/1) đầu trang(
Thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc có nghề làm mộc truyền thống từ lâu đời. Nghề này đem lại thu nhập cao cho nhiều gia đình trong thị trấn và tạo công việc ổn định cho nhiều lao động trong địa phương và các vùng lần cận.
Tuy nhiên, quá trình sản xuất phát sinh nhiều bụi sơn và bụi gỗ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng sức khỏe người lao động. Xuất phát từ thực tế trên, Công ty TNHH Trung Hiếu - thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc đã xây dựng thành công mô hình xử lý bụi gỗ và bụi sơn cho xưởng sản xuất gỗ của mình.
Thị trấn Yên Lạc có 4 thôn, gồm hơn 3.400 hộ với 14 nghìn nhân khẩu, trong đó, trên 50% số dân làm nghề mộc truyền thống chế biến gỗ, chỉ có khoảng 10% làm nghề nông, còn lại làm nghề thủ công, buôn bán khác. Phần lớn các hộ gia đình có hoạt động sản xuất tự phát, nhỏ lẻ nên chỉ chú trọng đầu tư phát triển sản xuất và thu nhiều lợi nhuận, còn việc bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe của công nhân và của chính bản thân mình, thì hầu hết các chủ cơ sở sản xuất đều không quan tâm.
Vì vậy, lâu nay vấn đề ô nhiễm môi trường từ làng nghề đã trở thành vấn nạn đặt ra cho thị trấn và người dân ở xung quanh làng nghề đã và đang phải hứng chịu sự ô nhiễm đó.
Hầu hết các hộ thường tận dụng khuôn viên nhà gia đình để làm nơi chế biến gỗ và là điểm giao dịch với khách hàng; các cơ sở sản xuất gỗ ở đây đều nằm xen lẫn với khu dân cư đông đúc.
Mặc dù chủ các xưởng mộc đã có ý thức xây tường ngăn hoặc sử dụng bạt che, vách ngăn, quạt thông gió, máy hút bụi để giảm bớt ô nhiễm, nhưng thực tế bụi gỗ và mùi sơn vẫn lan tỏa ngột ngạt trong không khí, đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sinh thái. Việc đầu tư mô hình thí điểm hút và thu hồi bụi cho hộ nghề và làng nghề là rất cần thiết.
Bụi gỗ là nguồn ô nhiễm nghiêm trọng nhất trong công nghiệp chế biến gỗ. Bụi phát sinh chủ yếu từ các công đoạn và quá trình cưa, xẻ gỗ để tạo phôi cho các chi tiết mộc, rọc, xẻ gỗ, khoan, phay, bào, chà nhám, bào nhẵn các chi tiết bề mặt. Kích cỡ các hạt bụi và tải lượng bụi sinh ra ở các công đoạn khác nhau.
Tại các công đoạn gia công thô như cưa cắt, mài, tiện, phay… phần lớn chất thải đều có kích thước lớn có khi tới hàng ngàn mm; tại các công đoạn gia công tinh như chà nhám, đánh bóng, tải lượng bụi không lớn nhưng kích cỡ hạt bụi rất nhỏ, nằm trong khoảng từ 2 - 20 mm, nên dễ phát tán trong không khí.
Bụi vào phổi gây kích thích cơ học và phát sinh phản ứng xơ hóa phổi gây nên những bệnh hô hấp: Viêm phổi, khí thủng phổi, ung thư phổi… Đối với thực vật, bụi lắng trên lá làm giảm khả năng quang hợp của cây, làm giảm sức sống và cản trở khả năng thụ phấn của cây.
Xuất phát từ thực tế trên, nhằm đảm bảo sức khoẻ cho người lao động và cộng đồng dân cư, qua khảo sát thực tế tại một số địa phương, năm 2010, Công ty TNHH Trung Hiếu - thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc đã xây dựng thành công mô hình xử lý bụi gỗ và bụi sơn cho xưởng sản xuất gỗ của mình.
Công nghệ xử lý bụi được đề xuất như sau: Theo quy trình xử lý, tại các vị trí phát sinh bụi sẽ được đặt các chụp hút khí cục bộ để hút bụi vào ống dẫn. Sau đó quạt hút thổi bụi gỗ vào trong thùng chứa bụi, giữ lại các hạt bụi, còn khí sạch sẽ thoát ra ngoài. Khi thùng chứa bụi đầy, chỉ cần mở cửa thùng chứa lấy bụi mang đưa đi xử lý.
Theo đánh giá của các nhà thiết kế, hiệu suất lọc bụi của thiết bị có thể đạt 99%, nhờ đó giảm thiểu ô nhiễm không khí từ bụi gỗ. Hơn nữa, thiết bị này vận hành khá đơn giản, chỉ cần bật máy lên là máy hoạt động.
Anh Vũ Đình Quý - Quản lý xưởng sản xuất cho biết: Công ty chúng tôi lắp đặt hệ thống hút bụi này với tổng mức kinh phí trên 40 triệu đồng, mô hình xử lý bụi này rất phù hợp với mức kinh tế của từng hộ sản xuất, kinh doanh. Hệ thống này xử lý đến trên 90% lượng bụi phát sinh nên góp phần đáng kể giảm thiểu lượng bụi phát thải ra môi trường trong chế biến gỗ, đảm bảo sức khoẻ người lao động trong xưởng.
Ngoài lượng bụi gỗ, các xưởng sản xuất đều sử dụng sơn công nghiệp để phun lên sản phẩm nhằm tạo độ bóng đẹp cho sản phẩm. Công nghệ phun sơn ở các xưởng sản xuất này rất đơn giản, đều làm thủ công nên mùi sơn bốc lên nồng nặc, bụi sơn không chỉ bám đầy nền nhà, tường nhà mà bám đầy chân tay, quần áo của người thợ.
Ngoài sử dụng công nghệ hút bụi gỗ thì Công ty THHH Trung Hiếu cũng xây dựng mô hình xử lý bụi sơn bằng buồng thu bụi sơn màng nước.Mô hình này có ưu điểm: Khả năng hút - lọc bụi sơn cao, vệ sinh thiết bị dễ dàng. Tiết kiệm điện năng, tiết kiệm nguồn nước, sử dụng dễ dàng và an toàn.
Mô hình xử lý bụi gỗ và bụi sơn ở Công ty THHH Trung Hiếu có nhiều tính ưu việt trong bảo vệ môi trường và sức khoẻ người lao động và cộng đồng dân cư. Nếu công nghệ này được ứng dụng rộng rãi, không chỉ góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà còn bảo vệ sức khỏe người dân, hướng tới phát triển bền vững cho làng nghề. (Tài Nguyên Môi Trường 20/1, tr11) đầu trang(
Vụ cháy xảy ra lúc 15h hôm nay 20.1 tại Cty chế biến gỗ Thanh Sơn thuộc Khu công nghiệp Nam Cấm (xóm 11 xã Nghi Xá, Nghi Lộc) đã thiêu rụi nhiều thiết bị máy móc và nguyên liệu gỗ, rất may không bị thiệt hại về người.
Nhận được tin báo, Công an Nghệ An đã huy động hơn 70 chiến sỹ, 7 xe cứu hỏa đến dập lửa. Đến khoảng 16h30, đám cháy đã được dập tắt hoàn toàn.
Nguyên nhân vụ cháy hiện chưa thể xác định rõ, nhưng theo các công nhân ở đây, có khả năng vụ cháy được bắt nguồn từ lửa hàn do các công nhân đang hàn trên mái nhà xưởng.
Ông Nguyễn Tất Niên (quê Đô Lương, Nghệ An), là một công nhân đang làm việc ở đó cho biết: “Khi đám cháy bốc lên, các công nhân đang thi công trong xưởng, trên mái nhà đã nhanh chóng rời khỏi hiện trường, nên không có người bị thương".
Được biết công ty Thanh Sơn này, đang liên kết với một công ty Ấn Độ, đang trong giai đoạn sữa chữa chuẩn bị vào hoạt động, do vậy công ty chưa có công nhân vào sản xuất, chủ yếu là máy móc. (Lao Động 21/1) đầu trang(
Rút kinh nghiệm từ việc thiếu giống cây quế cho vụ trồng rừng năm 2014, năm 2015 huyện Chợ Đồn đã chủ động nguồn giống cây khá sớm.
Để chủ động nguồn giống cây quế phục vụ cho công tác trồng rừng năm 2015, Ban QLDA bảo vệ và phát triển rừng huyện Chợ Đồn đã ký hợp đồng gieo ươm với một số đơn vị như: Vườn ươm giống Nà Pài, Xí nghiệp giống và thiết kế lâm nghiệp Nông Thịnh,….Bên cạnh đó tại các vườn ươm trên địa bàn huyện cũng tổ chức gieo ươm được trên 1.5 triệu cây giống đảm bảo nguồn giống phục vụ cho công tác trồng rừng.
Theo đánh giá của ban QLDA bảo vệ và phát triển rừng huyện Chợ Đồn, nguồn giống cây quế đang phát triển tốt, đảm bảo tháng 2, tháng 3 tới đây là cây giống đủ điều kiện xuất vườn cung cấp cho nhân dân. Được biết năm 2015, huyện Chợ Đồn có kế hoạch trồng hơn 1500 ha rừng. (Báo Bắc Kạn 19/1) đầu trang(
Năm 2014, huyện Định Hóa đã làm tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; trồng mới trên 1000 ha; giữ vững tỷ lệ che phủ rừng 56% trở lên; bảo vệ và phát triển tốt 5 nghìn ha rừng do UBND tỉnh giao khoán; hoàn thiện công tác quy hoạch 3 loại rừng trên địa bàn; không để xảy ra cháy rừng.
Cụ thể, UBND huyện đã chỉ đạo Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa tổ chức được 38 lớp tập huấn kỹ thuật trồng rừng, chăm sóc rừng trồng và tuyên truyền các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực Bảo vệ và Phát triển rừng tại các xã tham gia dự án cho gần 2 nghìn người; tổ chức cho trên 4.500 hộ dân ký cam kết; kiểm tra, phát hiện và lập biên bản xử lý 90 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; nộp ngân sách Nhà nước trên 432 triệu đồng.
Bên cạnh đó phát hiện, xử lý 07 cơ sở, doanh nghiệp kinh doanh chế biến lâm sản không đúng quy định, tịch thu 1,415 m3 gỗ các loại, nộp ngân sách Nhà nước 13 triệu đồng; khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng được 5.069 ha (đạt 100% kế hoạch); chăm sóc rừng trồng các năm được 379 ha (đạt 100% kế hoạch); trồng mới được 1.051 ha rừng (đạt 123% kế hoạch)...
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số hạn chế như: tiến độ thi công 5,8km đường thuộc Đề án 1134 tại xã Bảo Linh còn chậm gây khó khăn cho nhân dân địa phương; việc triển khai đề án "Cánh rừng mẫu lớn" còn nhiều bất cập, chưa được sự đồng thuận của nhân dân địa phương. Trên cơ sở đó, hội nghị cũng đã tiến hành thảo luận, đưa ra nhiều giải pháp cụ thể để UBND huyện chỉ đạo kịp thời trong thời gian tới.
Theo đó, năm 2015, huyện Định Hóa sẽ đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; trồng mới 1020 ha rừng theo Nghị quyết HĐND nhận đề ra; tổ chức thực hiện tốt các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng, không để xảy ra cháy rừng trên địa bàn; giám sát chặt chẽ các chủ rừng trong hoạt động khai thác lâm sản đảm bảo đúng đối tượng, khối lượng, không để các đối tượng lợi dụng khai thác rừng trái phép. (Đài PTTH Thái Nguyên 20/1) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Con hổ Ilona, một trong 3 con hổ được ông Putin thả về rừng đã tấn công và phá hỏng một camera giám sát tại khu bảo tồn thiên nhiên Khingan thuộc miền Viễn Đông Nga.
Theo nhân viên của khu bảo tồn, con hổ cái này đã xé chiếc camera từ trên cây và phá hỏng nó bằng các móng vuốt. Thẻ nhớ của camera đã bị mất. Nhân viên bảo tồn nói thêm rằng đây là vụ đầu tiên hổ tấn công một camera giám sát.
Ilona là một trong 5 con hổ được tìm thấy trong rừng taiga ở miền Viễn Đông 2 năm trước đây và được đưa vào một trung tâm phục hồi chức năng đặc biệt. Nó cùng với 2 con hổ khác đã được Tổng thống Nga Putin thả vào tự nhiên vào tháng 5. Hai con còn lại cũng được phóng thích sau đó một tháng.
Những con hổ Siberia, còn được gọi là hổ Amur, là một loài động vật đã có tên trong sách đỏ về các loài bị đe dọa nghiêm trọng. Năm 2010, Nga đã phát hành một chiến lược quốc gia để bảo vệ loài hổ Siberia. Theo Quỹ bảo vệ động vật hoang giã thế giới, hiện nay chỉ còn khoảng 450 con hổ Siberia trên hành tinh. (Người Đưa Tin 20/1) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||