Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 17 tháng 08 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Kon Plong, Ngọc Hồi là hai địa phương nằm trong trục động lực phát triển kinh tế của tỉnh Kon Tum, gồm ba góc tam giác là TP. Kon Tum - Ngọc Hồi - Kon Plong. Đây vừa là động lực phát triển kinh tế theo quy hoạch của tỉnh, cũng là áp lực cho công tác bảo vệ và phát triển rừng của ngành kiểm lâm ở các địa phương này.
Để hài hòa lợi ích giữa làm giàu từ rừng của người dân, doanh nghiệp mà vẫn giữ được rừng, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Kon Tum đã thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo vệ và phát triển rừng. Theo đó, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định 150/QĐ - UBND. Đây là văn bản có tính đột phá của tỉnh về công tác bảo vệ và phát triển rừng, trong đó điểm nhấn đáng quan tâm là giao cho cấp ủy từng địa phương chỉ đạo công tác bảo vệ rừng, đồng chí bí thư là trưởng ban chỉ đạo.
Đặc điểm của rừng ở Kon Plong, Ngọc Hồi là tỷ lệ rừng còn khá cao, áp lực phát triển kinh tế lại lớn nên muốn giữ được rừng thì trong quy hoạch của các địa phương nên ưu tiên cho doanh nghiệp, cá nhân có dự án phát triển kinh tế dưới tán rừng như trồng cây dược liệu, chăn nuôi dưới tán rừng hoặc phát triển kinh tế du lịch sinh thái dựa vào rừng. Nếu phát triển trang trại, nông trại thì nên ưu tiên cho các dự án nông trại hữu cơ, ít phá rừng và ít ảnh hưởng đến môi trường sinh thái rừng.
Khi đi thực tế tại các khu rừng của  Kon Plong,  Ngọc Hồi, tôi liên tưởng đến cuốn sách “Cuộc cách mạng một - cọng - rơm” của một tác giả là lão nông người Nhật Bản. Nếu chúng ta phát triển kinh tế rừng theo tư tưởng của tác phẩm này thì sẽ giải được bài toán làm giàu từ rừng mà vẫn giữ được rừng. Bởi khi phát triển kinh tế rừng, chúng ta càng ít can thiệp vào rừng mà chỉ nuôi - trồng những loại cây, con chỉ có thể phát triển dưới tán rừng như nuôi hươu lấy nhung, trồng một số loại dược liệu như sâm Ngọc Linh, sâm dây, lan kim tuyến...
Tình hình vi phạm lâm luật tại các địa phương tuy có giảm nhưng vẫn còn âm ỉ và ngày càng tinh vi, phức tạp, đối tượng vi phạm ngày càng manh động, phương tiện vi phạm ngày càng hiện đại, cơ động hơn nên công tác bảo vệ rừng của lực lượng kiểm lâm cũng ngày càng khó khăn hơn, cần được quan tâm và trang bị thêm phương tiện và lực lượng hỗ trợ.
Đơn cử như tại Hạt Kiểm lâm huyện Kon Plong, tính từ ngày 01/ 01/2015 đến nay đã phát hiện 29 vụ vi phạm, diện tích thiệt hại là 8.678m2 rừng tự nhiên, chức năng sản xuất. Khối lượng gỗ vi phạm là 137.086m3 gỗ tròn xẻ từ nhóm III đến nhóm VI, trong đó hành vi mua bán, cất giữ, chế biến kinh doanh lâm sản trái với quy định của nhà nước là 18 vụ với khối lượng gỗ vi phạm  51,812m3 gỗ tròn xẻ từ nhóm III đến nhóm VI, hành vi khai thác trái phép là 2 vụ với khối lượng gỗ vi phạm 84,747m3 gỗ tròn và 45kg nhựa thông.
Hành vi phá rừng trái phép là 6 vụ, với diện tích 8.678m2 rừng tự nhiên, chức năng sản xuất, hành vi vận chuyển lâm sản trái phép là 1 vụ với khối lượng gỗ vi phạm 0,527m3 gỗ xẻ nhóm V, hành vi vi phạm các quy định chung của nhà nước về bảo vệ rừng là 2 vụ. Hiện nay, các vụ vi phạm đã được xử lý thích đáng và tịch thu toàn bộ tang vật, phương tiện vi phạm.
Trên địa bàn thuộc lâm phần quản lý của Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hồi, theo ông Võ Thanh Thành, Hạt trưởng, thì số lượng vi phạm trên địa bàn từ đầu năm đến nay là 31 vụ, trong đó phá rừng trái phép là 1 vụ với diện tích 0,647ha; khai thác lâm sản trái phép 5 vụ với khối lượng  33,779m3 gỗ các loại; vận chuyển lâm sản trái phép 5 vụ với khối lượng 17,691m3 gỗ các loại; mua bán, cất giữ, chế biến gỗ trái phép là 20 vụ với khối lượng 129,929m3 gỗ các loại.
Hầu hết các vụ vi phạm đều được các cơ quan chức năng xử lý nghiêm theo đúng pháp luật. Trên địa bàn huyện Ngọc Hồi, Hạt Kiểm lâm còn có thêm nhiệm vụ là thu phí sử dụng đối với gỗ và lâm sản nhập khẩu với khối lượng qua cửa khẩu Bờ Y là 70.317,465m3 gỗ các loại, tổng tiền thu phí sử dụng bãi là 16.632.615.852 đồng.
Theo ông Võ Minh Văn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Kon Plong thì khi quy hoạch, cấp phép cho các dự án đầu tư, các cơ quan chức năng nên tham khảo ý kiến ngành kiểm lâm để tránh tình trạng phát triển kinh tế mà ảnh hưởng đến vốn rừng quý hiếm đặc trưng nơi đây. Rừng Kon Plong hiện chiếm tỷ lệ thuộc hàng cao nhất nước, 82%.
Vì vậy, khi phát triển kinh tế, các cơ quan chức năng nên cân nhắc giữa việc làm kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái, đặc biệt là bảo vệ rừng. (Kinh Tế Nông Thôn 14/8) đầu trang(
Sáng 14.8, nhân viên Công ty TNHH MTV Nông trường Trạm Lập, trụ sở đóng tại xã Sơn Lang, H.Kbang (Gia Lai) phát hiện ông Tô Văn Quỳ (53 tuổi, Giám đốc công ty), treo cổ tự tử tại nhà chòi gần trụ sở công ty.
Theo nhiều người thân cận với ông Quỳ, khoảng một năm trở lại đây ông Quỳ có dấu hiệu trầm cảm. Đặc biệt, gần đây, cơ quan chức năng H.Kbang phát hiện tại vùng rừng do công ty quản lý, lâm tặc đã khai thác trộm 150 cây gỗ dổi với khối lượng khoảng 100 m3.
Hiện cái chết của ông Quỳ và vụ phá rừng đang được điều tra làm rõ. (Thanh Niên 15/8) đầu trang(
Nghệ An là một trong những tỉnh có sự đa dạng sinh học cao, nguồn cây thuốc phong phú. Tuy nhiên, theo bạn đọc phản ánh, thời gian qua do chưa được quan tâm bảo vệ và phát triển đúng mức, người dân hám lợi đã tự ý ồ ạt vào rừng khai thác trái phép dẫn đến nguy cơ các loại dược liệu quý hiếm dần bị tuyệt chủng.
Năm 2004, Viện Dược liệu, Bộ Y tế cùng Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Y tế Nghệ An đã điều tra khảo sát 50% số xã thuộc miền tây Nghệ An cho thấy: Nghệ An có tới 962 loài cây thuốc, trong đó nhiều loài có giá trị cao như sâm Puxailaleng, Đẳng sâm, Bảy lá một hoa, Lan Kim tuyến, Sa nhân, Hà thủ ô trắng, Nấm Linh chi đỏ, Giảo cổ lam, Đông trùng hạ thảo…
Nghệ An còn có 31 loài cây thuốc thuộc diện quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần bảo tồn theo sách đỏ Việt Nam. Đây là địa phương có tiềm năng lớn để phát triển công nghiệp dược phẩm, gắn với trồng, sản xuất nguồn nguyên liệu dược.
Tuy nhiên, thời gian qua, vấn đề phát triển công nghiệp dược và dược liệu trên địa bàn chưa được quan tâm đúng mức. Nguồn cây thuốc ở Nghệ An đã và đang bị suy giảm nhiều, hầu hết các loại cây thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao đang mất dần khả năng khai thác lớn do sự khai thác thiếu chú ý bảo vệ tái sinh và do nạn phá rừng làm rẫy. Doanh nghiệp dược chưa chú trọng phát triển lĩnh vực đông dược, trong khi dược liệu trên địa bàn tỉnh bị tư nhân thu mua nhiều chở sang biên giới... Hiện việc trồng, phát triển cây dược liệu vẫn đang ở quy mô nhỏ, tự phát.
Thời gian gần đây, tại các huyện miền núi Nghệ An, người dân “ vô tư” vào rừng tìm khai thác các loại cây dược liệu như cu li, cây ba gạc, cây huyết đằng, củ ba mươi mang về bán cho các thương lái ở địa phương để bán cho đầu mối thu gom xuất đi nước ngoài.
Những ngày vừa qua, tại các huyện: Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong xuất hiện nhiều thương lái thu gom dược liệu. Hàng trăm người dân đổ xô vào rừng, tận diệt loài cây quý khiến Vườn quốc gia Pù Mát, khu dự trữ sinh quyển có vành đai xanh lớn nhất Đông - Nam Á bị đe dọa nghiêm trọng.
Có thời điểm các điểm thu gom cây chua ke (một loại cây chứa dược liệu lại có khả năng che chắn, chống xói mòn, sạt lở đất) hoạt động nhộn nhịp ngày đêm, với hàng chục tấn lá chua ke được thu mua mỗi ngày. Một số vùng trọng điểm như: thôn Tiến Thành, xã Chi Khê, huyện Con Cuông; bản Lũng, xã Tam Thái, huyện Tương Dương; bản Hốc, xã Diên Lãm, huyện Quỳ Châu.
Theo người dân, một kg lá chua ke khô, thương lái mua với giá bảy đến tám nghìn đồng, nếu lá tươi sẽ có giá khoảng hai nghìn đồng. Năm 2014, tại huyện Anh Sơn, chỉ tính riêng một điểm tại xã Đỉnh Sơn, mỗi ngày lượng cây chè cỏ đã được thu mua khoảng 20 tấn cây tươi, với giá 800 đồng/kg.
Tại xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp, các loại cây dược liệu này được thương lái thu mua, đem phơi ven đường và các bãi đất trống. Một người làm thuê cho thương lái ở đây cho biết, cứ vài ba ngày, người chủ thu mua dược liệu lại chất đầy xe tải đem sang nước ngoài bán. Theo anh Vi Văn H, trú tại huyện Tương Dương, chuyên khai thác cây dược liệu từ rừng về bán, cho biết, trước đây, các khu rừng này có nhiều cây cu li. Thấy nhiều người đến mua, dân bản kéo nhau vào rừng chặt, cho nên bây giờ, đi cả ngày cũng chỉ chặt được khoảng 20 kg.
Một cán bộ lâm nghiệp ở Con Cuông cho biết, tình trạng người dân bản địa đổ xô vào vườn quốc gia khai thác dược liệu bắt đầu từ khoảng ba năm trở lại đây. Ban đầu, bà con khai thác ở vùng đệm, chủ yếu trên nương rẫy. Khi nguồn dược liệu cạn dần, không ít người tràn sang khu vực bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn quốc gia Pù Mát để săn tìm.
Nhiều loại cây dược liệu, chủ yếu là dây máu chó, hoằng đằng, quả bo bo, củ thiên niên kiện, hạt sa nhân… trước đây mọc khắp nơi, chẳng ai để ý; nay trước sự khai thác ồ ạt của người dân, những loại cây này đang có nguy cơ bị xóa sổ. Hạt kiểm lâm huyện Con Cuông xác nhận việc người dân khai thác các loại cây dược liệu trên địa bàn để bán lại cho thương lái.
Dù biết đây là hiểm họa khó lường, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sinh thái, nhưng, muốn xử lý nạn khai thác lâm sản phụ đang diễn ra tràn lan ở các huyện miền núi như hiện nay phải chờ quy định ra đời mới có thể xử lý...
Vào tháng 7-2015, tỉnh Nghệ An tổ chức hội thảo khoa học “Phát triển cây dược liệu thành cây chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội ở Nghệ An”.
Tại hội thảo, các nhà khoa học, quản lý, đại diện các doanh nghiệp đã tập trung thảo luận đánh giá thực trạng trồng và phát triển dược liệu, đồng thời đề xuất xây dựng quy hoạch và chiến lược phát triển dược liệu của tỉnh Nghệ An đến năm 2020 và định hướng đến 2030; thảo luận về công tác quy hoạch các vùng trọng điểm bảo tồn, phát triển nguyên liệu cây dược liệu; thúc đẩy xã hội hóa trong công tác bảo tồn và phát triển cây dược liệu.
Công tác kết nối các doanh nghiệp trong và ngoài nước cùng với tỉnh xây dựng vùng nguyên liệu và đầu tư nhà máy chế biến dược phẩm cũng được hội thảo đề cập, từ đó đề xuất các chính sách khuyến khích, thu hút doanh nghiệp đầu tư phát triển vùng trồng nguyên liệu tại Nghệ An.
Trước mắt, các ngành, các cấp cần sớm có biện pháp ngăn chặn cây dược liệu mọc tự nhiên quý hiếm trong rừng đang ồ ạt “chạy” sang nước ngoài. (Nhân Dân 15/8) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Cửu vừa phối hợp với Khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai tiến hành thả 24 cá thể động vật hoang dã về rừng tự nhiên.
Số cá thể này được thả gồm: 8 Rúi mốc, 2 Cầy vòi hương, 3 Kỳ đà vân, 1 chồn đèn, 7 rắn ráo trâu, 2 rắn hổ mèo và 1 rắn lai. Khu vực thả có dòng suối và nhiều loại trái cây rừng thích hợp với các động vật vừa thả để thích nghi.
Trước đó, số động vật này được Đội Kiểm lâm cơ động, Phòng Cảnh sát Kinh tế Công an tỉnh Đồng Nai phối hợp với Hạt Kiểm lâm Vĩnh Cửu đột xuất kiểm tra quán 3A, khu phố 2, thị trấn Vĩnh An phát hiện và thu giữ. Ngoài ra, tại đây, lực lượng chức năng còn thu giữ được hơn 30kg sản phẩm động vật rừng đã chết. (Đài Phát Thanh Truyền Hình Đồng Nai 15/8) đầu trang(
Lần đầu tiên ở Việt Nam có một phiên toà chính thức xét xử những kẻ chặt đuôi, vặt trộm lông đuôi voi (nhiều khả năng bọn chúng đã giết voi không ít lần!).
Tôi không thạo lắm về internet. Nhưng, chuyến dọc ngang Tây Nguyên lần này, đi đâu cũng thấy những người quen của mình khóc thương voi… Có quản tượng phải thuê người đi tìm thủ phạm giết con voi lớn nhất Việt Nam của mình, có người kêu gọi lực lượng vũ trang cầm súng bảo vệ chú voi Pắc Cú (vừa bị chém 217 nhát) trước nguy cơ bị… cướp thịt. Thế là tôi bèn lên Google tìm kiếm với từ khoá “chặt đuôi voi”.
Và, chỉ trong 0,05 giây, có 5.260.000 kết quả về sự tàn nhẫn không giới hạn của người mình với voi nhà. Tôi nghiệm ra, nếu gõ “giết voi” thì có nhiều vụ ở nước ngoài xen lẫn trong các thông số “nhà mạng” đem về, chứ “chặt đuôi voi” thì trên trời dưới đất, khắp cõi nhân gian chỉ có ở ta. Như thế đủ biết dư luận, báo chí quan tâm đến chuyện sát hại voi nhà lấy các phần thi thể đem bán (đặc biệt là lấy ngà và lông đuôi) tới mức nào.
Chuyện là thế này: tôi có hai anh bạn yêu voi đến chí tình chí nghĩa, đều sống và gắn bó với tỉnh Đắk Lắk. Lần gặp này, họ đều đang ngồi khóc voi. Hàng ngàn người lên tiếng khắp các diễn đàn xót xa cho thảm cảnh đàn voi nhà có thể sẽ tuyệt diệt trong một hai thập niên tới.
Lần đầu tiên tôi vào Tây Nguyên, bấy giờ là năm 1997, quê hương của nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng nổi tiếng khắp Đông Nam Á ấy đang có khoảng 500 con voi nhà. Lần này ghé qua, con số chỉ còn chưa đầy 1/10, tức 50 con, quá nhiều trong số này là voi bị thương, tàn phế, bị cưa ngà, vặt trụi lông hoặc cắt cụt mất cả đuôi vì cái gọi là “voi tặc” (những kẻ trộm, giết voi).
Anh Nguyễn Trụ là Giám đốc Khu du lịch sinh thái Thác Bảy Nhánh -Buôn Đôn, kiêm Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch tỉnh Đắk Lắk. Quản lý khu vực ven bờ sông Sê-rê-pốc rộng tới 50ha, công ty của anh Trụ có một con voi rất đẹp tên là Pắc Cú. Ngà dài và nhọn, voi ta sung mãn, trẻ trung, lại cực kỳ thân thiện với du khách. Vậy mà voi Pắc Cú bị những kẻ tàn độc tấn công trong một đêm mưa to gió lớn, thác nước ven cầu treo vượt sông Sê-rê-pốc gào rú đến rợn người.
Xem xong chương trình “Chúng tôi là chiến sĩ” của VTV, chưa đến giờ đi ngủ, bà con trong buôn vẫn đang nghe ngóng cơn mưa rầm rập, thì có tiếng voi kêu lạ lạ. Ai cũng ngỡ đang là mùa con voi xuống suối uống nước, mùa con ong đi lấy mật, thì Pắc Cú hứng tình đòi được “yêu” nên hơi trái tính trái nết.
Ai dè, đó là phút định mệnh, voi Pắc Cú bị kẻ xấu đốt lửa phía đầu, đốt lửa phía đuôi dọa dẫm, dẫn đến hoảng loạn chạy vòng quanh cái cây lớn ngoài bìa rừng. Sợi xích to loảng xoảng cuốn chặt gốc đại thụ, chân voi bị bó chặt đến chỗ không cụ cựa được nữa. Kẻ tàn độc dùng kích điện dí vào đầu, voi Pắc Cú choáng váng, rồi cứ thế, chúng dùng dao lớn và rìu rựa đẵn củi “xả thịt hành quyết”.
Kẻ xấu không thể nào ngờ được, rằng voi đực Pắc Cú, bằng sức mạnh bản năng sinh tồn của loài vật sống trên cạn khổng lồ nhất còn tồn tại với quả đất, đã gồng mình phá đứt sợi xích lớn đã nhiều năm xích nó. Voi chạy về đến gần khu du lịch tìm chủ, thì cũng là lúc máu nó loang đỏ cả một trảng rừng, đỏ dọc lối đi, nó quỵ xuống.
Sau 81 ngày đêm vật lộn với cái chết cận kề, dù có sự quan tâm chăm sóc của các chuyên gia, bác sĩ của cả tỉnh, cả các tổ chức bảo vệ động vật quốc tế, voi Pắc Cú vẫn… ra đi. Dư luận theo dõi và cực kỳ sửng sốt, phẫn nộ với các bức ảnh về thân thể “nát nhừ” do bị chém ít nhất 217 nhát của Pắc Cú.
Những ngày sau đó là những ngày anh Trụ và người thân tín cùng lực lượng hữu trách địa phương phải bạc mặt chống lại bọn “cướp”… xác voi. Thậm chí anh phải thuê người đào múc cả một dãy mương dài xung quanh khu vực lều lán có xác voi, để tránh xe ủi, xe công nông của những kẻ muốn cướp voi, gạ mua thịt voi rầm rập xông vào.
Hiện nay, đang còn nhiều tranh cãi về việc người ta ứng xử thế nào với xác của voi Pắc Cú. Nhưng anh Trụ kể, quá đau buồn trước việc những tên đạo chích nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, anh Trụ chỉ còn biết bỏ tiền lập một khu mộ chôn voi Pắc Cú. Mộ xây bằng đá, hình con voi nằm phủ phục. Bên này voi Pắc Cú ngà dài, bên kia voi cái H’Panh ủ rũ. “Bà” H’Panh này chết vì ngộ độc thức ăn ngoài rừng ruộng, có thể do người ta phun thuốc trừ sâu tràn lan.
Trong khu mộ voi hiện đại này, anh Trụ còn được UBND tỉnh Đắk Lắk cho phép xây dựng tượng “vua voi” Khun Su Nốp (tên thật là Y Thu, sinh năm 1828, mất năm 1838, hưởng thọ 110 tuổi). Nếu đúng như thế, âu cũng là một cách để anh Nguyễn Trụ tôn vinh đàn voi từng gắn bó như thành viên trong gia đình mình, như một biểu tượng tâm linh và sự giàu có, biểu tượng cho tinh thần dũng mãnh, yêu thiên nhiên của người Tây Nguyên – khi mà đàn voi nhà đang dần đi vào cõi tận diệt.
Anh Đàn Năng Long (nhà ở thị trấn Liên Sơn, huyện Lăk, tỉnh Đắk Lắk) hiện nay đang được xem là người có nhiều voi nhất Việt Nam: 9 con. Voi của anh về đủng đỉnh đứng kín chân nhà sàn. Tôi từng cưỡi, từng chụp ảnh in báo con voi mang tên chàng cầu thủ Beckham mà anh Long rất hâm mộ.
Chợt một ngày nghe anh Long gọi điện báo tin “con voi to lớn nhất Tây Nguyên vừa bị sát hại”. Chưa hết, ít ngày sau, 3 con voi của anh Long bị bọn trộm rình chặt mất đuôi. Tiếp đến là voi của ông Y Per Eeung (người buôn Lê) bị kẻ xấu dùng thủ đoạn tương tự nhổ trụi thùi lụi cả 200 sợi lông đuôi. Mấy năm qua, gần chục con voi nhà đã bị giết hại tàn nhẫn, có khi chúng cưa ngà, xẻo hai quả mông, có khi chặt đuôi, có khi cắt 4 khúc chân, lắm lúc “beng” cả thủ cấp mang đi.
Anh Long sau khi tìm hiểu việc voi Pắc Cú của anh Trụ bị giết, đã cho rằng: Có thể đã hình thành một đường dây tội phạm chuyên giết voi cắt ngà, chặt đuôi, cắt da đem bán. Bởi trong nhiều vụ, chúng đều dùng kích điện, dao rựa và cách xuống tay rất giống nhau. Buồn hơn, các cơ quan điều tra địa phương ứng xử với các vụ án giết voi rất thờ ơ. Voi bị giết, họ cũng chỉ xem như con chó bị đánh bả, con lợn trong chuồng bị đứa xấu vào “mượn không hỏi chủ” thôi ư? Anh Long căm phẫn, tự mình mở một cuộc truy tìm thủ phạm sát hại voi nhà.
Anh Long cho rằng chắc chắn sẽ có người bản địa vốn quen gần gũi voi dẫn đường, tiếp cận voi, lại sẽ phải có kẻ nơi khác ranh ma cầm dụng cụ xâm hại voi, có mối bán ngà, bán đuôi và lông đuôi voi. Thậm chí, nhiều khả năng có kẻ chủ mưu đứng đằng sau cung cấp tài chính và tiêu thụ “sản phẩm trộm cắp”. Anh Long dự đoán, bọn này kiếm được vài chục triệu một cái đuôi voi chúng sẽ sa đà vào ăn chơi, rượu chè, gái gú. Bây giờ nhiều người đi du lịch sinh thái kiểu vả mặt vào sinh thái”, họ mù quáng tin vào may mắn, giàu có từ việc sử dụng lông đuôi voi lồng vào trong nhẫn, trong vòng, hoặc cất cả sợi lông trong nhà.
Từ đó, lắm kẻ vặt trộm lông đuôi voi, những kẻ bán hàng thì lùng mua cả khúc đuôi voi để cắm lông đuôi voi giả vào – lấy chùm lông và lấy khúc đuôi ấy như cái “chứng chỉ làm tin” giơ cho du khách xem để “nhử mồi” kiếm chác. “Phải chặn đứng thứ nạn quái đản này để cứu đàn voi nhà của Tây Nguyên. Để điều tra được thủ phạm sát hại voi nhà, trước hết anh phải là người… giàu”, anh Long tâm sự.
Thế là anh Long tung tiền, cứ 300 nghìn đồng cho một cô gái điếm ở các quán “bình dân”: “Các cháu cứ thấy đám nào nhậu, chơi mà nó nói chuyện giết voi, chặt đuôi voi thì báo cho chú, mỗi tin có giá trị, chú trả 500 nghìn đồng. Đứa nào chịu bỏ cái nghề hư đốn này, chú sẽ nhận về làm việc ở công ty của chú”. Anh Long nghĩ, đám cắt đuôi trộm ngà, nó chỉ “chơi” ở những chỗ “thác loạn” kiểu đó thôi. Có ngày anh bỏ 10 triệu thuê ôtô đi “giăng bẫy”, điều tra, “đón lõng” những kẻ giết voi.
Quả nhiên, một ngày tối trời, hai “gái bán hoa” một tên Hoa, một tên Trúc đến gặp anh Đàn Năng Long báo tin: Có một bọn giết voi, chặt đuôi voi đang hể hả ăn chơi, chúng nói chuyện với nhau về việc sắp làm một vụ nữa. Anh Long đi thám thính, thì đúng là chúng sắp sẵn búa, kích điện và nhiều dụng cụ đáng sợ khác, chuẩn bị đợi mưa to gió lớn để tìm giết con voi ngà dài của anh. “Một mình mình, có tới 3 con voi bị chặt đuôi, vài báu vật voi bị giết, có bi kịch nào hơn thế?
Hơn 10 vụ giết voi ở Tây Nguyên, sao chưa có vụ nào tìm ra thủ phạm! Mình phải báo thù cho đàn voi”. Anh Long cắn răng phục kích, khi đã chắc tư liệu, anh đi báo công an. Nhiều cán bộ điều tra lo lắng, nghi ngờ tài “thám tử” của anh, rằng “anh có chắc không, có đủ chứng cứ bắt kẻ xấu đúng pháp luật chưa, khi ập vào sẽ thu được những gì?”. Anh Long kể về việc sử dụng “gái bán hoa” làm “do thám”, rồi khẳng khái lấy toàn bộ tài sản của “vua voi” thời mới ra đánh cược. Không lâu sau, những kẻ thủ ác gồm: Phạm Văn Huy, Đàm Văn Nội, Lê Viết Dũng và Y Bia Hwing sa lưới pháp luật.
Lần đầu tiên ở Việt Nam có một phiên toà chính thức xét xử những kẻ chặt đuôi, vặt trộm lông đuôi voi (nhiều khả năng bọn chúng đã giết voi không ít lần!). Điều ít ai biết được, là cái cách chủ voi Đàn Năng Long thâm nhập, “trinh sát hoá trang” để cài tai mắt của mình vào thế giới gái điếm chuyên nghiệp nhằm tìm ra những kẻ giết voi.
Vụ tranh cãi xung quanh những chiếc lông cũng là một kỷ lục nữa. Thẩm phán Bùi Văn Tâm, chủ tọa phiên toà thở dài, vì xử cái vụ chưa có tiền lệ trong lịch sử pháp đình này, nên toà phải hoãn, trả hồ sơ đề nghị điều tra bổ sung. Tại toà, anh Long không chấp nhận lời khai của bọn chặt đuôi voi, cũng như cách tính “tài sản” đuôi voi, lông voi của hội đồng định giá. Rằng, voi của anh Long bị chặt với 350 sợi lông, mỗi sợi dài 7-10cm, có giá “chợ đen” là 35 triệu đồng.
Bọn Nội, Huy thì khai chặt được đuôi voi H’ Túc của Long, bán cho tiệm vàng nọ ở TP Buôn Ma Thuột được 20 triệu đồng. Anh Long cực lực phản đối với con số chắc nịch: đuôi voi của anh chắc chắn có 630 sợi lông, bán được ít nhất 100 triệu đồng. Đấy là chưa tính việc voi bị mất nhiều máu, suy giảm sức khỏe và tuổi thọ, tốn nhiều thuốc men, giảm giá trị thẩm mỹ và giá thành của voi cái xinh đẹp H’ Túc…
Phiên toà bị hoãn, nhưng toà án lương tâm thì dường như lại càng nóng bỏng hơn sau đó. Voi là con vật thông minh, gắn liền với các giá trị tâm linh quý báu của người Tây Nguyên và cả nước; nhiều voi bị giết đã sống với con người gần trăm năm, có công trong phục vụ chiến đấu vệ quốc và xây dựng, phát triển của chúng ta. Cả nước, cả thế giới đều lên tiếng kêu gọi bảo vệ voi rừng và voi nhà.
Thật xấu hổ khi chúng ta phải chứng kiến cảnh xẻ thịt voi, chém voi, giết voi để cưa ngà, chặt đuôi, xẻo chân, cắt đầu voi như vậy. Đáng sợ hơn là sự bất lực của cơ quan có trách nhiệm, để đến nỗi anh Trụ chỉ còn biết khóc thành lập “nghĩa địa” voi, còn anh Long thì thuê gái điếm mới tìm ra hung thủ. Vì thế mà hành trình đòi công lý cho voi vẫn còn vời vợi…
“Chúng nó lăm lăm xông vào như âm binh cướp cháo chúng sinh ấy. Có lúc tôi phải hứa với đám con buôn là chúng tôi sẽ bán xác voi cho họ, sau khi khám nghiệm tử thi xong. Thế rồi lúc sắp chôn voi, tôi mời các đồng chí công an mặc quân phục đứng cùng tôi, hàm ý bảo với chúng nó rằng, công an kinh tế đang giám sát, đừng hòng hy vọng mua được “thịt” voi. Đấy, họ “xâu xé” xác voi đến mức ấy đấy! Thậm chí, tôi phải kêu gọi sự giúp đỡ của lực lượng bộ đội biên phòng và bộ đội công binh trên địa bàn. Đến lúc tôi chôn voi, xây mộ cho voi xong, xi măng cứng lại thì mới dám thở phào” – anh Trụ rớt nước mắt nói. (Nông Nghiệp Việt Nam 16/8) đầu trang(
Cơ quan chức năng đã bắt giữ lô hàng 42,2kg vảy tê tê nhập khẩu trái phép qua sân bay Tân Sơn Nhất.
Hải quan cửa khẩu Tân Sơn Nhất cho biết vừa bắt giữ một lô hàng nhập khẩu trái phép mà bên trong là vảy của loại Tê Tê, một trong những loài động vật hoang dã quý hiếm.
Cụ thể, ngày 15/8 nguồn trinh sát báo có một lô hàng nhập từ Nigeria qua Thổ Nhĩ Kỳ về Việt Nam có dấu hiệu khả nghi. Lô hàng này khai báo trên vận đơn là đồ dùng cá nhân. Thấy có dấu hiệu bất thường, cơ quan chức năng đã tiến hành kiểm tra và phát hiện 42,2kg vảy của loài Tê Tê Châu Phi.
Tê Tê có tên khoa học là Manis Tricuspis nằm trong Phụ lục II (có nguy cơ tuyệt chủng) của Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (Ban hành kèm theo Thông tư số 40/2013/TT-BNNPTNT ngày 5/9/2013 của Bộ NN và PTNN). Việc nhập khẩu mặt hàng này qui định nghiêm ngặt phải có giấy phép của Cơ quan Cites.
Hiện Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đang tạm giữ lô hàng trên để tiến hành điều tra làm rõ. (Giao Thông 16/8) đầu trang(
Ngày 14/8/2015, tại huyện Lộc Bình,  UBND tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam tổ chức Hội nghị về công tác quản lý bảo vệ tài sản, rừng, đất rừng thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Lộc Bình và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đình Lập; đồng chí  Lý Vinh Quang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn và đồng chí Phạm Quang Hiển, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam đồng chủ trì hội nghị.
Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo các Sở, ngành: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Công an tỉnh, Chi cục Kiểm lâm; Huyện ủy, UBND huyện Lộc Bình, Đình Lập; các phòng ban liên quan của 2 huyện và Đảng ủy, UBND các xã có tài sản, rừng, đất rừng của 2 công ty lâm nghiệp trên địa bàn.
Tại Hội nghị, Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam và các Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Lộc Bình, Đình Lập đã báo cáo về hiện trạng quản lý tài sản, rừng, đất rừng thuộc quyền sở hữu, những khó khăn vướng mắc trong triển khai thực hiện nhiệm vụ; UBND các huyện Lộc Bình, Đình Lập và một số đơn vị liên quan đã tham luận làm rõ thêm những giải pháp để đảm bảo thực hiện tốt công tác bảo vệ, phát triển rừng của các đơn vị, sự phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương trong phát triển kinh tế, bảo vệ rừng, giải quyết tranh chấp đất đai.
Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Lý Vinh Quang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh: Thời gian qua, do công tác quản lý tài sản, rừng, đất rừng của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Lộc Bình và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đình Lập còn nhiều bất cập, buông lỏng đã dẫn đến tình trạng tranh chấp, lấn chiếm, khai thác trái phép lâm sản thuộc quyền sở hữu của 2 công ty lâm nghiệp, gây suy kiệt tài nguyên rừng, thất thoát tài sản của Nhà nước.
Để sớm chấm dứt tình trạng trên cần thực hiện nhiều giải pháp tổng hợp, trong đó đặc biệt chú ý vai trò công tác tuyên truyền, vận động nhân dân của chính quyền huyện, xã, các đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn; sự vào cuộc tích cực, quyết liệt hơn nữa của các Sở, ngành chức năng tỉnh.
Làm rõ tình trạng sở hữu, ranh giới quản lý đất đai thuộc 2 công ty lâm nghiệp, đồng thời phải xây dựng phương án giao khoán quản lý rừng hài hòa, gắn chặt nghĩa vụ và lợi ích của nhân dân với tài sản, rừng, đất rừng thuộc quyền sở hữu của Nhà nước. (Văn Phòng UBND Tỉnh Lạng Sơn 15/8) đầu trang(
Khi gây án mới là chàng trai 30 tuổi, qua bao nhiêu năm lẩn trốn, “lột xác” để rồi vẫn phải tra tay vào còng khi tóc đã điểm bạc.
Hoàng Văn Tiến (SN 1960) sinh ra và lớn lên ở vùng quê Thanh Hóa. Khi đến tuổi cập kê Tiến cũng đã lấy vợ, sinh con tại quê nhà nhưng do cuộc sống khó khăn không đủ ăn nên hắn đã đem vợ con vào xã Nam Cát Tiên, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai định cư để lập nghiệp.
Từ nơi khác đến, lại không có nghề nghiệp nên vợ chồng Tiến không có việc làm ổn định, vì vậy cuộc sống khó khăn, đói khổ. Cũng từ đó, qua lời bạn bè giới thiệu nên Tiến đã chọn nghề “lâm tặc” để mưu sinh.
Vào tháng 8/1990, trong lúc trộm gỗ Tiến đã bị các cán bộ kiểm lâm phát hiện và truy bắt. Lúc bị bắt, chạm trán với lực lượng kiểm lâm Tiến hoảng sợ nên đã giật súng của 2 cán bộ kiểm lâm đang làm nhiệm vụ tại Nông trường 600 (xã Nam Cát Tiên, huyện Tân Phú) và bắn bị thương 2 cán bộ này.
Sau khi bị bắn, 2 cán bộ kiểm lâm đã được cứu chữa kịp thời nên sống sót. Riêng Tiến, hoảng sợ vì nghĩ mình đã giết chết người nên đã về nhà đưa vợ con bỏ trốn lên một huyện vùng núi tại tỉnh Bình Phước để ẩn náu và sinh sống.
Tại vùng đất mới cuộc sống gia đình của Tiến cũng không khá khẩm hơn. Phần vì nỗi lo sợ chuyện bị bại lộ, phần không có tay nghề nên đời sống của gia đình Tiến cũng ngày càng bi đát và được xét vào những hộ có hoàn cảnh khó khăn.
Lúc này ngoài vay mượn nóng, vay người thân thì vợ chồng Tiến còn ôm một khoản nợ ngân hàng. Vì thế Tiến bỏ lại vợ con tại Bình Phước rồi một mình khăn gói đi xã Đông Thuận, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh để làm ăn.
Tại vùng đất này, Tiến trong vai một chàng trai tân từ vùng khác đến làm ăn, gặp nạn nên mất hết giấy tờ tùy thân. Nhờ vậy Tiến cũng xin được việc làm rồi tại đây đã quen biết với một cô gái địa phương. Thấy Tiến hiền lành chăm chỉ nên cô gái nguyện gửi gắm cả đời cho Tiến. Nhờ gia đình vợ mới của Tiến làm đơn xác minh Tiến là dân địa phương tên là Hoàng Văn Lực đã bỏ đi khá lâu, nay quay về nên muốn xin xác nhận để làm lại giấy tờ.
Từ đây Tiến được “lột xác” hoàn toàn và biến thành con người mới. Với cái tên Lực, Tiến sinh sống và làm việc như người địa phương và dường như đã quên đi tội ác của mình. Đồng thời từ đây Tiến cũng ít liên lạc với vợ con tại tỉnh Bình Phước, an phận sống bên người vợ mới với cái vỏ bọc là Lực công nhân.
Ngay sau khi vụ án xảy ra, các lực lượng nghiệp vụ Công an tỉnh Đồng Nai đã vào cuộc, tổ chức truy bắt. Cơ quan công an nhận định, tội ác của Tiến là nguy hiểm, phải nhanh chóng chịu sự trừng phạt của pháp luật. Nhưng Tiến đã đưa cả vợ con rồi địa phương, mất hết dấu vết. Do vậy, việc xác minh, truy bắt là cực kỳ khó khăn, phức tạp.
Đồng thời cơ quan công an đã nhiều lần về địa phương hắn sinh sống để xác minh, thuyết phục gia đình vận động Tiến ta ra đầu thú để được hưởng khoan hồng của pháp luật nhưng Tiến cũng không liên lạc với gia đình tại quê nhà.
Dù vậy các trinh sát vẫn không hề nản lòng, hết năm này qua năm khác, các trinh sát vẫn miệt mài thu thập thông tin về Tiến, hễ có manh mối dù nhỏ, các anh đều tổ chức xác minh.
Các trinh sát vẫn bí mật theo dõi, giám sát gia đình, người thân và các mối quan hệ để nắm bắt thông tin, phát động quần chúng tố giác tội phạm.
Việc truy bắt hung thủ tưởng rằng rơi vào ngõ cụt thì mấy năm trở lại đây các trinh sát biết được tin tức Tiến đưa gia đình về sống tại Bình Phước nên đã lần theo dấu vết tìm đến. Tại nhà Tiến qua xác minh thì vợ con Tiến lại cho biết sau khi mang vợ con lên Bình Phước thì Tiến khăn gói đi làm ăn xa đến nay vẫn chưa về.
Từ đây các trinh sát đã xác minh nhiều nguồn thông tin và dựa vào số nợ của gia đình Tiến để lần dấu vết và biết được Tiến hiện đang sống tại Trảng Bàng, Tây Ninh.
Nhưng Trảng Bàng là vùng rừng núi, lại là một huyện rộng lớn nên công tác xác minh bước đầu gặp khó khăn. Bên cạnh đó từ khi gây án đến nay đã ngót nghét 26 năm nên vấn đề nhận dạng và để hung thủ chịu nhận tội là vô cùng khó.
Sau nhiều tháng “nằm vùng”, các trinh sát xác định khu vực nhà trọ mà Tiến và vợ hai đang sinh sống, ẩn náu. Sau đó trinh sát đã ập bắt Tiến, bước đầu Tiến quanh co chối tội bởi hình dạng bên ngoài của Tiến đã khác so với thời điểm gây án.
Trước mặt trinh sát thì Tiến giờ không còn là chàng trai 30 tuổi nữa mà đã là cụ ông 55 tuổi, tóc đã điểm bạc, khuôn mặt gầy gò, nhăn nheo. Nhưng nhờ vào những chứng cứ sắc bén về tội ác, về số nợ của gia đình Tiến và vợ cũ nên Tiến giật mình, cúi đầu nhận tội và tra tay vào còng. (Người Đưa Tin 16/8; Thanh Niên 15/8; Người Lao Động 15/8 ) đầu trang(
Ngày 14-8, Tỉnh ủy Đắk Nông cho biết vừa có văn bản thông báo kết luận của Thường trực Tỉnh ủy về kết quả điều tra, xử lý việc hủy hoại rừng, lấn chiếm đất rừng thuộc lâm phần quản lý của Công ty TNHH Gia Nghĩa (Báo SGGP dã phản ánh trong loạt bài: Tan nát rừng phòng hộ Tây Nguyên).
Thời gian qua, một số cơ quan chức năng, công ty lâm nghiệp, các chủ rừng trên địa bàn tỉnh còn buông lỏng việc bảo vệ rừng. Từ đó, nhiều diện tích rừng bị hủy hoại, lấn chiếm với số lượng lớn kéo dài. Riêng tại lâm phần của Công ty TNHH Gia Nghĩa đã để mất hơn 9.000ha rừng. Đầu năm 2015, tiếp tục xảy ra các vụ phá rừng nghiêm trọng tại lâm phần của Xí nghiệp Lâm nghiệp Nghĩa Tín và Xí nghiệp Lâm nghiệp Đắk Ha, trực thuộc Công ty TNHH Gia Nghĩa.
Để ngăn chặn hiệu quả, xử lý nghiêm những sai phạm này Thường trực Tỉnh ủy Đắk Nông giao UBND tỉnh chỉ đạo thanh tra, công an và các cơ quan chức năng lên kế hoạch thanh tra, điều tra, khởi tố, xử lý nghiêm các cá nhân, đơn vị quản lý rừng để xảy ra sai phạm.
Trong đó, đặc biệt chọn điểm nóng tại lâm phần quản lý của Công ty TNHH Gia Nghĩa để khởi tố hình sự, xét xử các trường hợp sai phạm trong việc quản lý bảo vệ rừng, để xảy ra phá rừng... (Sài Gòn Giải Phóng 15/8) đầu trang(
Đó là thông tin do cục Kiểm lâm (Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNN) công bố ngày 14-8.
Theo cảnh báo của Cục Kiểm lâm, rừng ở huyện Khánh Sơn và TP Cam Ranh (tỉnh Khánh Hòa) có nguy cơ cháy ở cấp 5-cấp đặc biệt nguy hiểm. Ngoài ra, rừng ở các huyện: Diên Khánh, Ninh Hòa, Vạn Ninh, Khánh Vĩnh (Khánh Hòa); Ninh Sơn, Ninh Phước, Bác Ái (Ninh Thuận) và tỉnh Phú Yên đang có nguy cơ cháy cấp 4-cấp nguy hiểm.
Nếu cháy rừng xảy ra thì hầu hết các kiểu rừng đều dễ bắt lửa với tốc độ lan rất nhanh, gây thiệt hại lớn và khó khăn cho công tác chữa cháy rừng. (Quân Đội Nhân Dân 15/8) đầu trang(
Nhiều ngày vào rừng sâu, anh Huy gánh về nửa bao nấm linh chi bán cho những người cần thảo dược. Những năm trước, chuyến đi "săn" nào anh cũng kiếm được gần 100 kg nấm quý.
Đã qua rồi cái thời hàng chục ngư dân neo thuyền ven biển để vào rừng "săn" nấm linh chi mọc trăm năm giữa đại ngàn. Giờ đây, anh Mai Thiên Huy (42 tuổi) trở thành người cuối cùng vào rừng tìm nấm quý ở xã Bãi Thơm, huyện Phú Quốc (Kiên Giang).
Hơn 30 năm trước, anh Huy theo cha mẹ từ Thanh Hóa vào Phú Quốc lập nghiệp khi "đảo ngọc" còn hoang sơ. Dãy đất nằm giữa biển và rừng ở xóm Xà Lực của ấp Đá Chồng được gia đình Huy chọn làm chỗ dừng chân.
Những ngày theo cha vào rừng tìm nhựa chảy ra từ thân cây dầu để dùng trong việc đóng ghe tàu đi biển, anh Huy phát hiện vài "tay" nấm to như chiếc thúng mọc trên lớp thực bì.
"Chạm phải nấm quá to, tôi cột dây gánh về nhà phơi để nấu nước uống cho mát chứ đâu biết tên và tác dụng chữa bệnh của nó. Thấy chúng tôi phơi nấm, người đi đường hỏi mua rồi mang ra chợ Dương Đông bán lại", anh Huy kể.
Năm 2000, tư thương mua nấm linh chi chưa phơi khô với giá 17.000 đồng/kg. Ba ngày vào rừng, một người có thể mang về hơn 100 kg nấm quý, bán được gần 2 triệu đồng nên ngư dân nghèo xem đây là thu nhập "khủng".
"Làm thợ hồ lúc đó mỗi ngày chủ trả công chỉ hơn 50.000 đồng. Những người đi biển, hôm nào đánh bắt nhiều tôm cá cũng bỏ túi khoảng 100.000 đến 120.000 đồng. Thấy chúng tôi bán nấm được nhiều tiền, không ít người ở Đá Chồng đã neo ghe để đi 'săn' nấm", người đàn ông sống ven rừng kể.
Ba năm sau, linh chi "rút" sâu vào những khu rừng già đầy hiểm trở vì những nơi dễ đến đã đầy dấu chân người. Khi đó, nấm quý bắt đầu hiếm và giá linh chi rừng cũng tăng dần.
Tiếp tục sống bằng nghề "săn" thảo dược quý, người dân Xà Lực âm thầm đi sâu vào đại ngàn Phú Quốc. Nơi đó, có những thân cây dầu to khoảng 3 người ôm mới giáp đã bị chết đứng hoặc nhánh của chúng mục vì gãy đổ.
"Nấm linh chi chỉ mọc trên thân hoặc nhánh cây mục. Lúc đầu, quá nhiều người tìm chúng nên thảo dược này không còn tồn tại ngoài bìa rừng. Bây giờ, muốn có được nấm quý phải lội sâu vào đại ngàn gần một ngày mới tìm gặp. Ba ngày sau quay về, trên vai tôi chỉ được vài ký nấm và nếu gặp kiểm lâm thì bị tịch thu hết, xem như công cốc", anh Huy chia sẻ.
Theo anh thợ rừng, người bỏ nghề "săn" nấm gần đây là ông Sáu Khánh. Ngư dân ngoài 50 tuổi này cũng là "thợ săn" lão luyện, từng neo ghe lên rừng và vác ra khỏi đại ngàn những thân nấm to như chiếc nia, nặng hơn 30 kg.
Những thân nấm mà ông Khánh gặp được cả xóm Xà Lực cho là "già hơn tuổi người", cứng đến chặt mẻ búa. Đối với anh Huy, lần gặp nấm to nhất bằng chiếc thúng, dày 16 cm, nặng 14 kg.
Sau vài năm "săn" sản vật của rừng, đại ngàn hiểm trở với những dốc núi gần như dựng đứng đã làm mòn dần sự kiên nhẫn của dân nhập cư đến với Bãi Thơm. Ông Khánh bỏ nghề, bán đất với căn nhà gỗ để chuyển chỗ ở đến vùng đất mới gần Bãi Dài của xã Gành Dầu.
Những lúc nhớ rừng, người "thợ săn" ngày nào đã trốn vợ vài ngày dể tìm về đại ngàn. Khi quay ra, ông Khánh luôn gánh đầy bao linh chi nhưng sản vật của rừng chỉ còn to bằng bàn tay hoặc chiếc quạt chứ không to như trước đây.
Quay về thị trấn Dương Đông, phóng viên gặp bà lão ngoài 60 tuổi từng là "mối" làm ăn với những người thợ rừng. Theo bà Nguyễn Thị Hồng (ngụ xã Hàm Ninh), hơn 10 năm trước, nhiều người sống quanh rừng già thường chở ra chợ huyện hàng trăm kg nấm linh chi rừng các loại. Bà Hồng là người đầu tiên kinh doanh loại thảo dược quý này ở đường Bạch Đằng, thị trấn Dương Đông.
"Bây giờ, cả tháng mới có người mang linh chi đến bán, giá cao gần chục lần lúc trước. Họ giao nấm cho tôi chủ yếu là lúc trời tối, sợ gặp nhà chức trách xét hỏi, tịch thu", bà Hồng nói.
Trò chuyện cùng phóng viên, "thợ săn" linh chi Lương Văn Dũng (51 tuổi, ngụ xã Cửa Dương) cho biết, tuần nào ông cũng tìm cách vào rừng tìm dược liệu để làm từ thiện. Những lần như thế, ông cố tình "rút" sâu vào đại ngàn vài ngày để tìm nấm linh chi bán cho các tiệm thảo dược để bù lại chi phí bốc thuốc miễn phí.
"Linh chi vài chục ký tôi từng gặp và vác về thị trấn nhưng đó chỉ là dĩ vãng. Giờ đây, loài nấm quý này chỉ có trong rừng sâu, có nơi quanh năm không nhìn thấy mặt trời. Kiên nhẫn vài ngày và đánh liều với kiểm lâm để vào rừng thì quay ra được vài ký linh chi, thân chúng chỉ to như những chiếc đĩa", ông Dũng thật thà nói. (Vietnamnet 15/8) đầu trang(
Ngày 12/8, đại diện Công ty Coca-cola và Quỹ Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (WWF) Việt Nam  đã tổ chức đoàn đến tham quan và tìm hiểu kết quả Dự án “Bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng” tại Vườn Quốc gia (VQG) Tràm Chim.
Dự án “Bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng” tại VQG Tràm Chim do UBND tỉnh, Ban Quản lý VQG Tràm Chim, WWF và Công ty Coca-cola phối hợp triển khai từ năm 2007 - 2014, với tổng vốn đầu tư gần 1,2 triệu USD, nhằm bảo vệ đa dạng sinh học và cải thiện sinh kế cho cộng đồng dân cư sống quanh khu vực Vườn thông qua việc phát triển du lịch sinh thái, khai thác tài nguyên rừng một cách bền vững.
Bằng những nỗ lực triển khai dự án tại VQG Tràm Chim nhiều năm qua, việc quản lý thủy văn được cải thiện, mực nước được điều chỉnh, các loài thủy sinh, thủy sản phát triển, thảm thực vật được phục hồi,... góp phần  duy trì môi trường đất ngập nước, bảo tồn các loài chim quý hiếm, đặc biệt là sếu đầu đỏ - loài chim sắp tuyệt chủng nằm trong sách đỏ Việt Nam và thế giới.
Dự án đã hỗ trợ nâng cấp, cải thiện một phần cơ sở hạ tầng, mở ra nhiều tuyến điểm, sản phẩm du lịch mới, đặc biệt là du lịch mùa nước nổi, góp phần làm tăng lượng khách đến tham quan. Trong năm 2014, có 60.000 lượt khách đến tham quan VQG Tràm Chim, tăng gấp 4 lần so với năm 2013.
Bên cạnh đó, dự án còn góp phần cải thiện sinh kế cho người dân sống quanh Vườn thông qua các hoạt động du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng, tăng cường sự tham gia của người dân trong việc quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên.
Qua dự án, trên 200 hộ dân sinh sống quanh vùng được tập huấn, tham gia vào các hoạt động phục vụ khách đến tham quan như: chèo xuồng, gặt lúa ma, kể chuyện, nấu cơm, bắt chuột đồng,... trung bình mỗi hộ dân có thêm khoảng 1,5 triệu đồng/tháng, các hộ khó khăn còn được hỗ trợ ngư cụ và xuồng để tham gia khai thác thủy sản vào mùa lũ. (Báo Đồng Tháp 14/8) đầu trang(
Liên tiếp trong thời gian qua, Báo Công an Nghệ An đã có nhiều bài viết phản ánh việc các vùng rừng đầu nguồn tại xã Thanh Thủy, huyện Thanh Chương và các xã Đôn Phục, Mậu Đức, huyện Con Cuông bị tàn phá với diện tích lớn.
Sau khi Báo phản ánh, ngày 20/7/2015, UBND tỉnh đã có Công văn số 4955/UBND và Cục Kiểm lâm có Công văn số 368/KL-QLR đề nghị Chi cục Kiểm lâm Nghệ An kiểm tra, xác minh, xử lý những nội dung thông tin trên Báo Công an Nghệ An.
Sau khi có ý kiến chỉ đạo, Chi cục Kiểm lâm Nghệ An đã phối hợp với UBND các huyện kiểm tra thực tế và đã thống nhất các biện pháp bảo vệ rừng, khắc phục những tồn tại, yếu kém trong việc chỉ đạo công tác bảo vệ rừng tại gốc; đồng thời kiểm điểm trách nhiệm của chính quyền địa phương cấp xã và những thiếu sót của lực lượng kiểm lâm trong việc tham mưu về công tác bảo vệ rừng.
Qua kiểm tra thực tế tại địa bàn các huyện cho thấy: Tại xã Mậu Đức, huyện Con Cuông, tổng số gốc bị chặt là 28 gốc, thuộc Khoảnh 9, Khoảnh 10, Tiểu khu 748 xã Đôn Phục. Tại Khoảnh 2, Tiểu khu 752 xã Mậu Đức còn có một bãi tập kết gỗ khai thác, lâm sản thu giữ gồm 23,97 m3 gỗ tròn; 1,97 m3 gỗ xẻ thuộc nhóm VI - VII bao gồm táu muối, vạng, ràng, dẻ, trám.
Tại xã Thanh Thủy, huyện Thanh Chương, sự việc được phát hiện vào ngày 7/7/2015, vị trí bị khai thác trái phép thuộc Khoảnh 7, Tiểu khu 1002, xã Thanh Thủy (trên đường vành đai biên giới Việt - Lào), cách Đồn Biên phòng Thanh Thủy 3 km. Diện tích này đã được Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Thanh Chương giao khoán cho Đồn Biên phòng Thanh Thủy quản lý, bảo vệ. Tại hiện trường, phát hiện 9 gốc bị chặt với tổng khối lượng gỗ tại hiện trường là 23,7 m3, chủng loại táu mật. Cơ quan chức năng đã bắt giữ 5 đối tượng vi phạm, thu giữ 2 xe ôtô, 1 cưa xăng.
Ngày 14/7, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã quyết định thành lập đoàn kiểm tra do UBKT Tỉnh ủy chủ trì tiến hành kiểm tra trách nhiệm của Chủ tịch huyện, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện và một số cán bộ liên quan. Chi cục Kiểm lâm Nghệ An cũng đã chỉ đạo các Hạt kiểm lâm làm rõ trách nhiệm và xử lý các cán bộ vi phạm.
Trên cơ sở đó, ngày 23/7/2015, Hạt Kiểm lâm Con Cuông đã tổ chức kiểm điểm, đồng thời xét kỷ luật đối với những cán bộ liên quan trong việc để rừng bị phá trái phép. Cụ thể, đã đề nghị kỷ luật, hạ bậc lương 1 cán bộ, 2 cán bộ bị cảnh cáo và khiển trách.
Trong thời gian tới, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn giao Chi cục Kiểm lâm tỉnh chỉ đạo tổ chức kiểm điểm, xử lý kỷ luật những cán bộ công chức, viên chức kiểm lâm có biểu hiện tiêu cực, không hoàn thành nhiệm vụ, để rừng bị khai thác trái phép, địa bàn tập kết gỗ không phát hiện, xử lý, các cơ sở chế biến hoạt động bất hợp pháp.
Luân chuyển vị trí công tác lãnh đạo các đơn vị kiểm lâm, công chức, viên chức kiểm lâm giữa các vùng, các địa phương; ưu tiên bố trí cán bộ trẻ, khỏe, có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt về trực tiếp quản lý những vùng rừng trọng tâm, trọng điểm về khai thác, chặt phá rừng trái phép.
Những cán bộ kiểm lâm yếu kém, không hoàn thành nhiệm vụ thì kiểm điểm trách nhiệm và thuyên chuyển, bố trí công việc khác. Tiếp tục chỉ đạo các cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn tăng cường tuần tra, kiểm tra rừng, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các vụ phá rừng. Đồng thời thành lập các đoàn kiểm tra chống chặt phá rừng trái phép tại các khu rừng giàu tài nguyên, các rừng đặc dụng; phát hiện, kiểm điểm những tập thể, cá nhân không hoàn thành nhiệm vụ, để rừng bị khai thác trái phép.
Đối với huyện Con Cuông, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã lập đoàn kiểm tra làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu, cá nhân phụ trách, cán bộ, đảng viên có liên quan trong việc khai thác, vận chuyển gỗ trái phép tại các xã Đôn Phục, Mậu Đức. Sở NN&PTNT tỉnh cũng yêu cầu duy trì hoạt động của các đoàn kiểm tra liên ngành có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Kiểm lâm, Công an, Quân sự, Bộ đội Biên phòng, chính quyền địa phương và chủ rừng.
Tiếp tục tuần tra rừng, chốt chặn ngay tại cửa rừng; tổ chức kiểm tra hoạt động thường xuyên các xưởng cưa xẻ, chế biến lâm sản trên địa bàn, nếu phát hiện vi phạm, cần xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Điều tra, củng cố hồ sơ, khởi tố vụ án hình sự (nếu đủ điều kiện) vụ việc khai thác rừng trái phép tại xã Đôn Phục, huyện Con Cuông và xã Thanh Thủy, huyện Thanh Chương nhằm giáo dục, phòng ngừa và răn đe. (Công An Nghệ An 14/8) đầu trang(
Thực hiện chương trình phối hợp tuyên truyền, phổ biến Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR), phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) giữa Ban Dân vận, Ban Tuyên giáo, Văn phòng Tỉnh ủy, Ủy ban MTTQ tỉnh, Tỉnh đoàn với chi cục kiểm lâm, từ đầu năm 2015 đến nay, Hạt Kiểm lâm Quan Sơn đã phối hợp với các tổ chức chính trị, xã hội, các xã, thị trấn tổ chức được 141 cuộc tuyên truyền về Luật BV&PTR với 10.812 lượt người tham gia; tổ chức cho các hộ người Mông ở 3 bản Xía Nọi, Mùa Xuân (Sơn Thủy), Ché Lầu (Na Mèo) ký cam kết BVR, PCCCR; xây dựng cụm dân cư “3 không” tại 13 xã, thị trấn; tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh từ huyện đến xã...
Qua đó, nhận thức pháp luật của nhân dân về công tác BVR, PCCCR được nâng lên rõ rệt, góp phần quan trọng trong công tác quản lý, BV&PTR trên địa bàn huyện. (Báo Thanh Hóa 14/8) đầu trang(
Theo thống kê của Cục Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), trong 5 năm qua đã xảy ra 5.376 vụ vi phạm việc quản lý và bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm trên cả nước, bình quân mỗi năm xảy ra 1.095 vụ.
Cũng theo Cục Kiểm lâm, tuy số vụ vi phạm lâm luật giảm đáng kể song vẫn còn nhiều điểm nóng, việc tái cấu trúc các công ty lâm nghiệp đang là vấn đề khó khăn, phức tạp, dẫn đến diện tích rừng bị xâm hại làm suy giảm rừng tự nhiên.
Đặc biệt, tình trạng phân bố của các loài động vật hoang dã bị ảnh hưởng và có nguy cơ bị bắt rất lớn. Trong khi đó, công tác đấu tranh phòng chống buôn bán động vật hoang dã rất phức tạp do các đối tượng dùng nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi.
Số động vật hoang dã và nguy cấp, quý hiếm bị tịch thu từ các vụ vi phạm bị phát hiện lên tới gần 60.000 con các loại. Tuy vậy, số liệu này chưa đầy đủ vì trên thực tế còn nhiều vụ buôn bán, vận chuyển trái phép động vật hoang dã chưa bị phát hiện, bắt giữ.
Theo đánh giá của Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam, chính lợi nhuận khổng lồ từ việc buôn bán động vật hoang dã trái phép đã khiến cho công tác đấu tranh với hoạt động này ở Việt Nam trở nên phức tạp.
Các nghiên cứu ước tính việc bắt giữ, tịch thu động vật hoang dã bị buôn bán bất hợp pháp hàng năm chỉ chiếm dưới 20% con số thực tế. Từ đó có thể cho thấy hàng năm có đến hàng ngàn tấn động vật hoang dã khác bị tiêu thụ trong nước hoặc buôn lậu ra nước ngoài.
Nhằm ngăn chặn các vụ vi phạm về buôn bán trái phép động vật hoang dã, các cơ quan chức năng cũngkhuyến người dân không tiến hành bán đấu giá, phát mại đối với tang vật là các loài động vật hoặc sản phẩm của loài động vật nguy cấp, quý hiếm bị thu giữ trong các vụ vi phạm pháp luật.
Theo đó, các hành vi săn bắt, giết hại, vận chuyển, nuôi nhốt, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự bất kể số lượng, khối lượng hay giá trị tang vật. (Đảng Cộng Sản Việt Nam 13/8) đầu trang(
Thông qua ngôn ngữ âm nhạc, chương trình mong muốn gửi đến mọi người thông điệp “Chấm dứt sử dụng sừng tê giác” và chung tay bảo vệ loài tê giác đang trên bờ tuyệt chủng.
Tối 13-8, tại nhà hát Bến Thành, quận 1 TP.HCM diễn ra chương trình ca nhạc và giao lưu nghệ thuật đặc biệt mang tên “Lời khấn cầu từ thiên nhiên” do tổ chức Cứu trợ Hoang dã (WilAid), trung tâm Change, Quỹ động vật hoang dã Phi châu phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam thực hiện.
Nhiều ca sĩ, nghệ sỹ lớn tham gia biểu diễn chương trình như: Thanh Bùi, Mỹ Linh, Uyên Linh, Hà Trung Dũng, Hà Okio… cùng các khách mời là diễn viên, doanh nhân và hàng ngàn bạn trẻ là học sinh, sinh viên tại các điểm trường trên địa bàn TP.HCM.
Ngoài thưởng thức âm nhạc, khán giả còn được xem những thước phim sinh động về thế giới hoang dã, sự sống còn của nhiều loài động vật có nguy cơ bị tiệt chủng.
Điều đặc biệt, các nghệ sĩ trình bày trong đêm nhạc không nhận tiền cát-xê để gây quỹ cho hoạt động bảo vệ động vật có nguy cơ tuyệt chủng, nhất là loài tê giác.
Ngoài việc dùng sản phẩm này để trưng bày, nhiều người tin rằng việc sử dụng sừng tê có thể ngăn ngừa và chữa bệnh ung thư. Chính ý nghĩ này đã kéo giá sừng tê lên “tận mây xanh”, 1,3 tỷ/1kg và khiến 95% tê giác trên toàn thế giới đã bị giết hại do bọn săn bắn phi pháp. Tuy nhiên, trên thực tế, sừng tê không có tác dụng chữa bệnh ung thư như lời đồn. (Công An TP.HCM 14/8) đầu trang(
Ngày 14/8, UBND tỉnh Quảng Bình đã tổ chức lễ đón nhận bằng công nhận Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là Di sản thiên nhiên thế giới lần thứ hai với tiêu chí đa dạng sinh học đã được tổ chức UNESCO công nhận...
Tối 14/8, tại thành phố Đồng Hới, UBND tỉnh Quảng Bình đã tổ chức Lễ đón nhận Bằng của Tổ chức UNESCO ghi danh Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng là Di sản thiên nhiên thế giới lần thứ 2 và khai mạc Lễ hội Hang động Quảng Bình năm 2015.
Tháng 7/2003, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới với hai tiêu chí đó là địa chất và diện mạo.
Tháng 7/2015, Tổ chức này cũng đã công nhận Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là Di sản thiên nhiên thế giới lần 2 với tiêu chí Đa dạng sinh học.
Như vậy, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là Di sản thiên nhiên thế giới đầu tiên của Đông Nam Á đạt 3/4 tiêu chí mà UNESCO công nhận.
Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình Nguyễn Hữu Hoài khẳng định: Việc UNESCO công nhận Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng lần 2 với tiêu chí Đa dạng sinh học đó chính là vinh sự của tỉnh Quảng Bình nói riêng và Việt Nam nói chung.
Tỉnh Quảng Bình sẽ tích cực bảo vệ di sản, đặc biệt là đã kết hợp hài hòa giữa bảo tồn di sản với phát triển du lịch bền vững. Đồng thời đề nghị tỉnh Quảng Bình tiếp tục bảo tồn và phát huy tốt các giá trị của di sản, nhất là bảo vệ các giá trị đa dạng sinh học. (Giáo Dục Và Thời Đại 15/8) đầu trang(
Không thể giết một con vật chỉ để lấy một cái sừng phục vụ cho sức khỏe của con người.
Giết hại động vật hoang dã, tiêu thụ sản phẩm từ động vật hoang dã là những hành vi đáng lên án. Bảo vệ động vật hoang dã là bảo vệ hệ sinh thái nói chung, cũng là giữ gìn lòng Nhân của con người.
Rất nhiều nghệ sĩ hay tin Công an vừa bắt giữ 1 tấn ngà voi và sừng tê giác nhập lậu từ nước ngoài tại cảng Tiên Sa (Đà Nẵng) hôm 13/8/2015, đã chia sẻ cảm giác xót xa, vì để có được 1 tấn hàng đó, không biết bao nhiêu con vật vô tội đã bị sát hại.
Nhà sản xuất/diễn viên Hồng Ánh: Đừng đánh mất lòng nhân của con người
Đọc tin các cơ quan chức năng bắt được một tấn sừng tê, ngà voi ở cảng Tiên Sa (Đà Nẵng) tôi vô cùng xót xa, cảm thấy những nỗ lực của các tổ chức phi chính phủ, các cá nhân bao nhiêu cũng là chưa đủ. Càng thấm để thay đổi được nhận thức của con người về bảo vệ động vật hoang dã rất khó khăn.
Người Việt Nam nói riêng, người châu Á nói chung tin sừng tê, ngà voi là "thần dược". Nhưng tôi cho rằng đó là cách nghĩ yếu cả về mặt thể chất, lẫn tinh thần, lối nghĩ xuất phát từ bản chất sâu sa: nỗi sợ chết của con người. Về mặt khoa học, không có nhiều cơ sở cho thấy sản phẩm từ động vật hoang dã có tác dụng thần kì như vậy.
Mà nếu có, là những con người biết suy nghĩ chúng ta cũng không thể đang tâm giết hại những con vật đó để phục vụ cho bản thân mình. Động vật hoang dã nằm trong chuỗi phát triển của tự nhiên, việc hủy hoại chúng sẽ làm ảnh hưởng đến toàn bộ hệ sinh thái. Lũ lụt, hạn hán, thảm họa tự nhiên... mà loài người đang gánh chịu là hậu quả từ những hành động hủy hoại tự nhiên của con người.
Cá nhân Hồng Ánh không bao giờ sử dụng sản phẩm từ động vật hoang dã. Bảo vệ chúng cũng chính là bảo vệ lòng nhân của con người.
Nhạc sĩ Phạm Toàn Thắng: Cần chấm dứt quan niệm sừng tê là "thần dược"
Con tê giác cuối cùng ở Việt Nam đã bị giết vào năm 2010, cá nhân Thắng cũng chưa bao giờ có cơ hội ra nước ngoài để nhìn tận mắt một con tê giác. Có người nói Việt Nam không còn tê giác, sao phải bảo vệ? Suy nghĩ đó là thiển cận vì động vật hoang dã là một phần của tự nhiên, các loài trong tự nhiên có liên hệ chặt chẽ với nhau, hủy hoại chúng có thể làm ảnh hưởng trầm trọng đến hệ sinh thái.
Để bảo vệ được những con vật như tê giác, voi thì nhất thiết phải chấm dứt được quan niệm sừng tê là "thần dược". Giết cả một con vật lớn chỉ để lấy cái sừng, hoặc cái ngà của nó để phục vụ nhu cầu con người là hành động rất dã man. Con người không sống một mình, trong hệ sinh thái của con người còn có cả động vật, nên nhớ điều đó.
Xuân Bắc: Để thay đổi nhận thức là quá trình dài
Là một trong những đại sứ thiện chí bảo vệ động vật hoang dã trong đó có gấu và tê giác, tôi xin chia sẻ những điều tôi được biết: sừng tê giác không phải là phương thuốc thần kỳ, càng không phải là một thứ chữa bách bệnh như mọi người lầm tưởng. Tất cả chỉ theo lời đồn thổi, đồn miệng với nhau từ xưa.
Bây giờ các nhà khoa học đã chứng minh những chất có trong sừng tê giác cũng giống như chất có trong sừng trâu, sừng bò và móng tay của chúng ta.
Thế nhưng cuộc chiến bảo vệ tê giác sẽ là một cuộc chiến lâu dài, vì tác dụng của sừng tê đã được truyền miệng cả nghìn năm rồi. Với những sản phẩm từ thiên nhiên cũng vậy, bây giờ chúng ta mới bắt đầu tuyên truyền để thay đổi nhận thức thì phải là cả một quá trình dài, không làm vội vàng được.
Vì thế, nhiều quốc gia đã ban hành luật bảo vệ động vật hoang dã. Việt Nam cũng ký vào hiệp ước để bảo vệ động vật hoang dã. Cần có pháp luật can thiệp, thay là chỉ có tuyên truyền.
Tôi rất muốn mọi người thay đổi nhận thức, nhưng biết là không thể một sớm một chiều.
Ca sĩ Hoàng Bách: Sử dụng sừng tê - tính hoang dã còn sót lại của con người!
Hiện nay nhiều người Việt đang tin vào lý thuyết mơ hồ từ y học Trung Quốc, sừng tê, ngà voi là những thứ có thể chữa được trọng bệnh. Tôi thấy nhiều nước ở vùng Đông Á như Hàn Quốc, Nhật Bản, dù hệ tư tưởng bị ảnh hưởng nhiều từ Trung Quốc thì họ cũng không có những suy nghĩ và hành động như vậy.
Tê giác là một cá thể tự nhiên, sừng tê giác thuộc về con tê giác. Loài người không có quyền tước đi mạng sống của nó chỉ vì cái sừng. Tê giác ra đời trước loài người từ vài chục triệu năm, là thành viên của trái đất trước cả khi có sự xuất hiện và thống trị của loài người. Vì thế, chúng ta không có quyền tách nó ra khỏi hệ sinh thái. Chúng ta không nên "vinh danh" đất nước Việt Nam trên bản đồ thế giới theo cách này.
Rất nhiều người hiện nay ngoài việc tin vào tác dụng "thần kì" của sừng tê mà còn coi đây là món hàng thể hiện "đẳng cấp". Những hành động đó chỉ cho thấy tính hoang dã vẫn còn sót lại ở con người. (Thể Thao Và Văn Hóa 15/8) đầu trang(
Ngày 13/8/2015, đội cứu hộ động vật Trung tâm Bảo tồn và Phát triển sinh vật Vườn Quốc gia Tràm Chim đã tiếp nhận một con chim lạ, bị yếu sức, không bay được… để chăm sóc, nuôi dưỡng.
Theo anh Hòa cán bộ Trung tâm Bảo tồn và Phát triển sinh vật Vườn Quốc gia Tràm Chim cho biết: con chim lạ này tên là Bồ Nông chân xám, có tên khoa học là Pelecanus philippensis đã được một người dân ở xã Thường Phước 1, huyện Hồng Ngự (Đồng Tháp) phát hiện và bắt được khi đi thả lưới.
Thấy con chim to và lạ, nên người này đã bàn giao cho Đồn Biên phòng 917. Con chim sau đó được chuyển giao đến Chi Cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Tháp và cuối cùng là Trung tâm Bảo tồn và Phát triển sinh vật Vườn quốc gia Tràm Chim.
Qua xác định, cơ quan chức năng thông tin, đây là con chim Bồ Nông chân xám khoảng 7 năm tuổi, cân nặng hơn 3 kg, cao gần 1 m thuộc loại động vật hoang dã quý hiếm cần được bảo tồn và bảo vệ nghiệm ngặt. Theo đó, sau khi nuôi dưỡng, săn sóc để cá thể Bồ Nông chân xám ổn định sức khỏe, Vườn Quốc gia Tràm Chim sẽ thả nó về lại với thiên nhiên trong vài ngày tới.
Việc làm trên của một người dân ở xã Thường Phước 1 đã góp phần xây dựng ý thức bảo tồn quần thể các loài động vật hoang dã đang dần bị cạn kiệt và có một số loài chim như Bồ Nông chân xám đang có nguy cơ tuyệt chủng đáng được biểu dương, khen thưởng.
Được biết, từ đầu năm 2015 đến nay, đội cứu hộ động vật Trung tâm Bảo tồn và Phát triển sinh vật Vườn Quốc gia Tràm Chim đã tiếp nhận, cứu hộ và thả về tự nhiên trên 20 loài động vật hoang dã quý như chim Bồ nông, Già Đảy, Diều hoa, Đại bàng… (Dân Trí 14/8) đầu trang(
Năm 2003, gia đình của ông Trương Văn Truyền cùng với nhiều người dân trú tại xã Nam Ninh được giao rừng tự nhiên. Để đến thăm rừng, phải vượt qua hơn 30km đường rừng và suối hiểm trở…, là những khó khăn khiến gia đình ông không phải khi nào cũng túc trực canh giữ được .
Mùa mưa này, khó khăn lại thêm khó khăn trong đi lại, một phần đất rừng của ông bị một số người khu vực khác đến phá và trồng cây ngắn ngày.… Ngay sau khi phát hiện vụ việc, ông Truyền đã tự giác trình báo với chính quyền xã. Thế nhưng, đáng nói ở đây là khi nhận được thông tin từ ông Truyền, chính quyền xã lại thu giữ sổ đỏ và xử phạt ông đến 8 triệu đồng vì hành vi phát phá rừng.
Ông Truyền ngậm ngùi: “Tôi đã trình bày không phải tôi phát, nhưng các anh nói là anh là người được giao trông coi bảo vệ nhưng không trông coi, coi như là anh phát, Tôi là cán bộ Đảng viên, phải chấp nhận thực tế ký đưa sổ đỏ, nhận quyết định xử phạt là 8 triệu đồng. Tôi phải nộp 4 lần vì nhà khó khăn, trong khi quyền lợi thì tôi chưa được hưởng một cái gì từ rừng cả. Trong mấy năm trông coi bảo vệ không được một đồng nào. Đến năm 2015 vừa rồi tôi lần đầu tiên nhận tiền tài nguyên môi trường rừng, 495.000/ha. Còn mấy năm trước tôi không được nhận.”
Nhận rừng từ năm 2003, nhưng phải đến năm 2010, các hộ tại đây nhận được phí dịch vụ môi trường rừng. Nhưng khoản tiền khá thấp so với những trách nhiệm họ phải bỏ ra. Trường hợp gia đình ông Truyền bị phạt nặng, còn nhiều hơn khoản phí dịch vụ nhận được khiến nhiều hộ dân được giao giữ rừng tại tiểu khu 528 ở đây càng chán nản. Nguyện vọng của người dân bây giờ là được chuyển đổi, làm giàu rừng hoặc được trả phí dịch vụ môi trường rừng nhiều hơn
“Trình bày nguyện vọng của cá nhân tôi và bà con tiểu khu 528 rất mong chuyển đổi nhưng giữ rừng làm sao, nếu chuyển đổi chúng tôi muốn chuyển sang cây gỗ. Có ý kiến lên các cấp chính quyền, Quốc hội có khả năng giúp đỡ bà con, cái kinh phí này cao hơn một chút để chúng tôi trang trải thì đỡ hơn. ” Bà Đỗ Thị Xuôi, thôn Ninh Trung, xã Nam Ninh, huyện Cát Tiên chia sẻ.
Hiện nay diện tích rừng tự nhiên tại nước ta đang ngày càng bị thu hẹp, dẫn đến nhiều hiện tượng thiên tai như hạn hán và lũ lụt nghiêm trọng. Chủ trương giao rừng tự nhiên cho người dân trông giữ là việc vô cùng cần thiết. Tuy nhiên, kinh tế từ rừng mang lại không cao, trách nhiệm bảo vệ rừng không đi đôi với quyền lợi sẽ khiến người dân chán nản. Rất cần có những hoạch định chính sách cần thiết để người dân tại xã Nam Ninh, huyện Cát Tiên có thể làm tròn công tác giữ rừng và được nhận những quyền lợi hợp lý. (Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Miền Trung Việt Nam 15/8) đầu trang(
Hầu như bất cứ ai lần đầu đặt chân đến Trà Vinh cũng đều ngất ngây trước màu xanh tươi mát của một “rừng cây giữa lòng thành phố”. Các công trình kiến trúc, lịch sử, văn hóa, cảnh chùa, nơi nào cũng như đẹp hơn dưới bóng những hàng cây êm đềm.
Du khách vừa qua khỏi cổng chào Trà Vinh, gần như ai ai cũng có cảm giác đang đi dưới những tán rừng khổng lồ, mát rượi. Những hàng cây ngay hàng, thẳng lối, tề chỉnh giống như những thiên sứ đang vẫy chào những người khách thân thiện vừa mới đến.
Được biết TP.Trà Vinh hiện có trên 14.000 cây xanh với trên 30 chủng loại, đa số là sao, dầu được phân bố đều trên các tuyến đường nội ô. Đặc biệt trong số đó có hàng ngàn cây cổ thụ được trồng từ hàng trăm năm, giống như một bảo tàng thiên nhiên vô giá.
Phần lớn cây xanh ở Trà Vinh đều được gắn bảng số. Điều đó đã nói lên sự quan tâm của chính quyền địa phương không những đối với việc giữ gìn, tôn tạo và làm xanh hoá môi trường lao động.
Toàn tỉnh Trà Vinh hiện có 141 ngôi chùa Khmer. Nương theo bóng chùa là những rừng cây ẩn hiện làm cho dáng dấp ngôi chùa trở nên tôn nghiêm, yên tĩnh. Đặc biệt có ngôi chùa trồng đến ba, bốn chục ngàn cây xanh giống như một vành đai kiến trúc xanh, phong cảnh hữu tình. Trong đó nổi bật nhất là Bảo tàng văn hoá dân tộc Khmer, chùa Âng, chùa Hang… vốn đã đẹp lại càng hấp dẫn hơn nhờ những vòm xanh cao ngất, điểm xuyết cho miền đất hiền hoà thêm quyến rũ .
Từ xưa đến nay, Trà Vinh là nơi có nhiều dân tộc anh em, đông nhất là người Kinh, kế đến là người Khmer và người Hoa, tất cả luôn đoàn kết, sát cánh bên nhau để cùng gìn giữ môi trường xanh và bảo tồn những hàng cây xanh vô giá. Tại Trà Vinh, mỗi ngôi chùa đều là một vòm xanh rộng từ một đến vài ba mẫu, với những cây dầu, cây sao cao ngất lưng trời, là nơi trú ngụ của những đàn chim...
Người Trà Vinh mang một giai điệu tâm hồn riêng, đi bất cứ nơi nào, con người nơi đây cũng có thể tư duy cùng với cây cỏ, giữa không gian xanh và yên bình đó.
Những ngày hè nóng nực, nếu có dịp đi qua các con đường hàng Me, hàng Sao hay đến khu du lịch sinh thái Ao Bà Om, chúng ta mới cảm nhận hết những điều kỳ diệu của “bà mẹ thiên nhiên”. Chính cây xanh đã mang lại cho chúng ta sự yên tĩnh về tâm hồn và giúp chúng ta yêu đời, yêu cuộc sống nhiều hơn. Đúng như giáo sư Vũ Khiêu đã có lần phát biểu trước Đại hội Sinh Vật cảnh Việt Nam “Cây xanh và hoa kiểng còn quý hơn cả vàng ngọc châu báu ...”.
Đất nước ta mỗi nơi, mỗi thành phố đều có một nét đặc trưng về cảnh quan môi trường, trong đó cổ thụ vừa là dấu ấn lịch sử của một đô thị, vừa là lá phổi thứ hai của mỗi con người.  (Dân Việt 15/8) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Như Báo Quảng Nam đã đưa tin, Hạt Kiểm lâm Núi Thành và Ban Quản lý rừng phòng hộ Phú Ninh vừa phát hiện Công ty TNHH một thành viên Tiến Thiên Tân (gọi tắt là Công ty Tiến Thiên Tân) khai thác nhựa vượt mức trên 11 nghìn cây thông tại khu vực rừng phòng hộ. Các bên liên quan vừa liên tiếng về vụ việc này.
Ông Trần Tiến - Giám đốc Công ty Tiến Thiên Tân cho biết, năm 2013, công ty trúng thầu khai thác nhựa thông tại các tiểu khu 592 (xã Tam Xuân 2) và 599 (xã Tam Thạnh, Núi Thành) với tổng diện tích 40,73ha trong thời hạn 6 năm. Cuối tháng 7.2015, khi lực lượng chức năng kiểm tra thì phát hiện số lượng lớn cây thông nhựa bị khai thác vượt mức, mà theo ông Tiến xuất phát từ hai nguyên nhân.
“Chúng tôi có 8 công nhân làm việc, được giao khoán. Vì họ đo đường kính cây bằng mắt thường, thủ công nên không chính xác. Nguyên nhân thứ 2 là do lỗi hồ sơ thiết kế từ năm 2011 với quy định chúng tôi khai thác theo hồ sơ là 6.485 cây, tối đa 2,5kg nhựa/cây/năm. Nhưng năm 2011 có trận bão lớn cây thông ngã đổ, hư hại nên công ty không thể khai thác như trong hồ sơ thiết kế” - ông Tiến giải thích.
Theo quy trình, cây thông có đường kính trên 25cm thì mới được mở mạch để lấy nhựa. Cụ thể, đường kính cây từ 25 - 40cm được mở 1 mạch, 41 - 60cm được mở 2 mạch và trên 60cm được phép mở 3 mạch. Tuy nhiên, qua kiểm tra của cơ quan chức năng, ông Tiến cũng thừa nhận có 2.000 cây chưa đủ đường kính 25cm nhưng vẫn được khai thác lấy nhựa, nâng số mạch đặt sai quy định lên con số 4.525 mạch. Ngay sau đó, số mạch trích nhựa này được tháo bỏ.
Theo báo cáo kết quả kiểm tra của Hạt Kiểm lâm Núi Thành ngày 4.8.2015, có 21.323 cây thông trên diện tích 40,73ha hiện do Công ty Tiến Thiên Tân quản lý khai thác nhựa. Trong đó có 17,8 nghìn cây đang được lấy nhựa (chiếm 83,8%) với 21 nghìn mạch trích nhựa. Đối chiếu hồ sơ thiết kế, số cây thông khai thác nhựa vượt quy định là 11,3 nghìn cây.
Lâm phận này do Hạt Kiểm lâm Núi Thành và Ban Quản lý rừng phòng hộ Phú Ninh giám sát, kiểm tra. Ông Nguyễn Xuân Phước - Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Phú Ninh cho biết, toàn bộ hồ sơ đã chuyển giao cho Hạt Kiểm lâm Núi Thành để tiến hành xử lý sai phạm.
Kết quả kiểm tra vừa qua còn cho thấy, lực lượng chức năng rất khó khăn trong việc xác định mỗi năm có bao nhiêu cây thông được khai thác, khối lượng nhựa từng cây, khối lượng nhựa khai thác trái phép. Số lượng cây thông chết gồm 31 cây, 35 cây thông bị chặt trơ gốc.
Công ty Tiến Thiên Tân khai thác nhựa thông từ năm 2013, nhưng đến tháng 7.2015, những sai phạm công ty này mới được phát hiện. Vậy vấn đề giám sát, kiểm tra của các ngành chức năng có chặt chẽ? Theo Hạt Kiểm lâm Núi Thành, từ khi Công ty Tiến Thiên Tân khai thác nhựa, đơn vị có 3 đợt kiểm tra, trong đó các đợt vào tháng 7.2013 và 10.2014 chỉ kiểm tra số lượng, khối lượng cây thông bị chết.
Còn đợt vào tháng 3.2014 mới kiểm tra quy trình khai thác nhựa. Ông Trần Tiến - Giám đốc Công ty Tiến Thiên Tân thì cho biết, Ban Quản lý rừng phòng hộ Phú Ninh cũng nhiều lần đến kiểm tra nhưng chẳng thấy ý kiến gì nên công ty cứ chủ quan. Mãi đến giữa tháng 6.2015 thì mới công bố sai phạm.
Ông Phan Tuấn - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, ngay khi nhận được thông tin, đơn vị đã cử kiểm lâm vào hiện trường để nắm tình hình. “Diện tích rừng thông trên thuộc rừng phòng hộ Phú Ninh. Lực lượng kiểm lâm, cán bộ địa phương được tăng cường để đi kiểm tra liên tục. Chúng tôi vẫn đang chờ cấp dưới báo cáo để có hướng xử lý triệt để” - ông Tuấn nói. (Báo Quảng Nam 14/8) đầu trang(
Ngày 14/8/2015, UBND tỉnh Lạng Sơn và Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam phối hợp tổ chức hội nghị về công tác quản lý bảo vệ tài sản, rừng, đất rừng thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Lộc Bình và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đình Lập.
Ngày 12/5/2015, UBND tỉnh đã tổ chức lễ công bố các quyết định chuyển giao Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đình Lập, Lộc Bình về Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam. Ngay sau khi tiếp nhận, Tổng Công ty Lâm nghiệp đã ra soát đất đai trên thực địa để xây dựng phương án sử dụng đất. Qua rà soát cho thấy tình trạng người dân tự ý lấn, chiếm đất của các công ty diễn ra trên diện rộng, ước tính khoảng 8.453,5ha, chiếm 54% diện tích đất đơn vị được giao, thuê.
Diện tích rừng hiện theo kết quả kiểm kê thực tế là 5.045,3 ha, giảm 3.488,6ha so với diện tích rừng hiện có trên sổ sách. Diện tích rừng của 2 Công ty hiện nay chủ yếu là rừng non từ 1 đến 20 năm tuổi. Đặc biệt những lô rừng từ 10 năm tuổi trở lên đã và đang bị khai thác nhựa, do vậy chất lượng rừng bị suy giảm.
Tại hội nghị các đại biểu đã phân tích các nguyên nhân của thực trạng này. Từ đó đóng góp ý kiến xây dựng các giải pháp phù hợp với thực tiễn. Đồng chí Lý Vinh Quang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh khẳng định: sau khi chuyển giao, với kinh nghiệm, tiềm năng về vốn, nhân lực, khoa học...Tổng công ty Lâm nghiệp sẽ vực dậy 2 Công ty lâm nghiệp Lộc Bình và Đình Lập; ngoài ra UBND tỉnh cũng sẽ chủ động hợp tác với Tổng công ty trong phát triển lâm nghiệp.
Đồng chí Phó chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo: các cấp, ngành phải làm tốt công tác tuyên truyền, vận động bằng nhiều hình thức với nội dung sát thực, hiệu quả; 2 Công ty lâm nghiệp chủ động phối hợp với các ngành để xác định giá trị doanh nghiệp, xây dựng phương án sản xuất, phương án sử dụng đất, có cơ chế khoán hợp lý với người dân; xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong quản lý, bảo vệ rừng và đất rừng; phát huy vai trò của cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể ở cơ sở trong tuyên truyền, vốn động nhân dân. (Báo Lạng Sơn 15/8) đầu trang(
Với phương châm cùng nông dân (ND) tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, Hội ND quận Liêu Chiểu, TP.Đà Nẵng đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền, doanh nghiệp để tạo điều kiện cho hội viên khai thác hiệu quả, làm giàu từ đất dự án bỏ hoang.
Trong một cuộc họp của Hội ND quận Liên Chiểu, anh Nguyễn Văn Thi - ND phường Hiệp Hòa Bắc đã kiến nghị địa phương tạo điều kiện cho anh được sử dụng đất bỏ hoang để mở rộng vườn ươm cây bóng mát. Không đắn đo, ông Nguyễn Thanh Bê– Chủ tịch Hội ND quận Liên Chiểu, trả lời ngay: “Anh cứ kiếm chỗ nào phù hợp, còn việc mượn đất để Hội lo”.
Anh Thi có nghề ươm cây từ khi phong trào trồng rừng theo dự án 327 rộ lên ở Đà Nẵng. Tuy nhiên, cái vườn ươm lúc đó không nuôi nổi gia đình, anh phải bươn chải nhiều nghề để sống. Cách đây gần 10 năm, Đà Nẵng bùng nổ các dự án, quy hoạch đô thị lan mạnh về nông thôn. “Lúc này các công trình, công viên, trụ sở mở ra rất nhiều, nhu cầu cây xanh, cây cảnh bùng phát. Tôi biết thời cơ đã đến nên quay về phục dựng lại 4 vườn ươm” – anh Thi kể. Có tay nghề giỏi, anh Thi ươm cây làm không kịp để bán.
Nhu cầu cây xanh, cây cảnh ở Đà Nẵng vẫn liên tục tăng cao. 4 vườn ươm của anh Thi trở nên nhỏ bé. Đây là lý do năm 2014, anh đề nghị các cấp chính quyền cho mượn đất tại các dự án bỏ hoang để ươm cây. “Phát biểu vậy thôi, chứ tôi chưa tin là sẽ được. Đất đai dự án bỏ hoang vậy thôi chứ đụng vô là khó lắm” – anh Thi nói. Vì vậy, anh rất bất ngờ trước câu trả lời chắc nịch của Chủ tịch Hội ND quận Liên Chiểu: Anh cứ tìm chỗ nào phù hợp đi, còn lại Hội lo.
Anh Thi tìm được 2ha đất ở khu Đồng Khế, phường Hòa Hiệp Bắc. Hội ND quận đã điện thoại hỏi thăm, tham khảo quy hoạch và biết đất này một phần thuộc dự án, một phần người dân đang sản xuất nhưng bỏ hoang do thiếu nước. Hội đã báo cáo Quận uỷ Liên Chiểu, và đặt vấn đề với phường Hòa Hiệp Bắc, thỏa thuận với doanh nghiệp, các hộ dân tạo điều kiện cho anh Thi mượn đất bỏ hoang đó để sản xuất.
Anh Thi rất mừng khi có được 2ha đất ưng ý. Anh đầu tư ngay 150 triệu đồng cải tạo đất, lắp đặt hệ thống tưới béc phun, ươm hàng ngàn cây bóng mát,  cây hoa viên. Anh ra Viện Nghiên cứu rau quả (Hà Nội) mua 800 gốc chuối tiêu hồng về trồng. Để thu hồi vốn nhanh, anh trồng một vụ dưa hấu bán tết.
“Tết 2015, tôi bán được vụ cây hoa viên đầu tiên tại khu vườn mới. Đặc biệt, nhờ vụ dưa hấu trúng lớn, giúp tôi thu hồi nhanh vốn đầu tư. Thành công bước đầu này của tôi có công rất lớn của Hội ND quận Liên Chiểu. Các anh ấy giúp đỡ nhiệt tình, đến nơi đến chốn một cách vô tư”– anh Thi thổ lộ.
Mới đây, Phó Bí thư Quận uỷ Liên Chiểu Phạm Tấn Sử đã đến thăm khu vườn của anh Thi và đánh giá cao hiệu quả kinh tế-xã hội của mô hình. “Mô hình của anh Thi đã giúp lãnh đạo huyện có niềm tin chắc chắn hơn đối với giải pháp do Hội ND quận đề xuất là tận dụng đất hoang, đất dự án chưa sử dụng để cho ND mượn sản xuất”- ông Trần Thanh Bê nói. (Dân Việt 16/8) đầu trang(
Do là giống cây có thời gian gieo ươm dài ngày nên hiện nay Hạt Kiểm lâm huyện Ngân Sơn mới đang tiến hành cấp phát giống cây thông, cây sa mộc cho bà con nông dân để triển khai trồng.
Năm 2015, huyện Ngân Sơn được giao chỉ tiêu trồng mới 1.650 ha rừng, đến thời điểm này, toàn huyện mới trồng được khoảng hơn 900 ha rừng. Nguyên nhân chậm là do giống Thông có thời gian gieo ươm dài ngày, đến nay Ban Quản lý dự án huyện phối hợp với Vườn ươm Bản Trang, xã Vân Tùng và Xí nghiệp Tư vấn và thiết kế Nông Thịnh - hai đơn vị gieo ươm giống thông cho huyện, tập trung cấp hơn 2.000 giống thông cho bà con.
Cùng với việc cấp cây giống, cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Ngân Sơn đã hướng dẫn nhân dân cách bảo quản cây giống theo đúng quy trình kỹ thuật, khi thời tiết có mưa thì triển khai trồng ngay. Dự kiến công tác trồng rừng trên địa bàn huyện Ngân Sơn sẽ hoàn thành trước ngày 30/8. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 16/8) đầu trang(
Song song với việc tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, các Ban Quản lý dự án cũng đang chuẩn bị cho công tác thẩm định, nghiệm thu bước 1, nhằm đảm bảo chất lượng và số lượng rừng trồng theo kế hoạch.
Để đảm bảo tỷ lệ nghiệm thu trồng rừng đạt 98% kế hoạch đề ra, hiện nay, Chi cục lâm nghiệp Bắc Kạn đã chỉ đạo các địa phương đôn đốc thực hiện trồng rừng đúng khoảng cách, mật độ cây giữa cây. Ngành chuyên môn khuyến cáo người dân sau khi trồng cần tập trung chăm sóc, tra dặm rừng  trồng để thuận tiện cho việc nghiệm thu và thanh toán hỗ trợ trồng rừng.
Trong năm 2015, tỉnh Bắc Kạn phấn đấu trồng mới khoảng 8.000 ha rừng theo dự án trồng rừng 147. Đến nay, toàn tỉnh mới trồng được hơn 7.000 ha, đạt 85% kế hoạch. Song song với công tác chỉ đạo trồng rừng hoàn thành trước 30/8, ngành chức năng cũng chỉ đạo các địa phương tra dặm để nghiệm thu bước 1 vào tháng 9, tháng 10 năm 2015. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 15/8) đầu trang(
Khi chuyển một phần rừng phòng hộ sang khai thác sản xuất, nhất thiết phải xin ý kiến Bộ Quốc phòng, Ban chỉ uy quân sự tỉnh...
Ông Trần Đình Nhã, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội nói về chủ trương xin chuyển một phần rừng phòng hộ sang sản xuất, khai thác của Bộ NN&PTNT mới đây.
Theo phân cấp hiện nay có nhiều loại rừng phòng hộ bao gồm: rừng phòng hộ xung yếu; rừng phòng hộ rất xung yếu. Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường.
Trong đó, nhiều khu vực rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn nắm giữ vị trí nhạy cảm, khu vực trọng yếu về quốc phòng, an ninh.
Vì vậy, khi giao cho địa phương quản lý, khai thác và sản xuất Bộ NN&PTNT phải đặc biệt lưu ý về vấn đề an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường.
Cần phải có sự phối hợp với Bộ Quốc phòng, Ban chỉ huy quân sự tỉnh và các đơn vị chịu trách nhiệm về môi trường khảo sát, đánh giá cụ thể. Dựa trên cơ sở đó, sẽ đưa ra những tiêu chí, quy định nghiêm ngặt đối khu vực nào được phép chuyển đổi, khu vực nào phải giữ nguyên. Với những khu vực nào ảnh hưởng đến quốc phòng an ninh buộc phải xin ý kiến Bộ Quốc phòng. Khu vực nào có tác động tiêu cực tới môi trường phải xin ý đánh giá của các chuyên gia môi trường.
“Không thể để tình trạng cấp rừng “nhạy cảm” cho doanh nghiệp nước ngoài như Quảng Nam, Lạng Sơn rồi lại đi thu hồi, bồi thường. Khai thác, sản xuất được cũng là tốt nhưng không thể vì mục đích sản xuất mà quên những mục tiêu khác”, ông Nhã nhấn mạnh.
Vì vậy, ông Nhã kiến nghị phải đưa ra những quy định rất cụ thể tránh tình trạng địa phương lạm dụng, doanh nghiệp lách luật gây ảnh hưởng tới an ninh quốc phòng, cũng như làm phương hại tới mục tiêu phòng hộ, lợi ít hại nhiều.
PGS.TS Nguyễn Ngọc Lung cũng nhận định như vậy. Theo ông Lung, thực tế câu chuyện rừng phòng hộ có vị trí nhạy cảm cũng đã được cho thuê và chuyện này không hiếm.
Theo quy chế quản lý 3 loại rừng, rừng nguyên sinh, tự nhiên (cần được bảo tồn và gìn giữ); rừng sản xuất (khai thác, sản xuất lấy gỗ); rừng phòng hộ (có mục tiêu phòng hộ là chính). Trong rừng phòng hộ được chia làm 3 cấp độ: Cấp xung yếu; ít xung yếu và rất xung yếu. Trong đó, rừng phòng hộ ở hai cấp rất xung yếu và xung yếu phải giữ nguyên không được khai thác. Riêng rừng phòng hộ ít xung yếu vẫn được sản xuất tuy nhiên, tỉ lệ khai thác là rất thấp, khoảng 20% trữ lượng gỗ.
Như vậy, mục đích khai thác rừng phòng hộ không phải là lấy gỗ mà vì mục đích cải thiện sức khỏe cho rừng phòng hộ, nâng cao sức phòng hộ cao hơn.
Chủ trương này đã có từ năm 2007, theo lập luận rừng sản xuất vẫn có tính năng phòng hộ. Vì vậy, diện tích rừng phòng hộ mỗi ngày bị thu hẹp lại, nếu trước đây diện tích rừng phòng hộ vào khoảng 9 triệu héc-ta, hiện nay chỉ còn 6 triệu héc-ta.
Về lý thuyết, việc chuyển một phần rừng phòng hộ ít xung yếu sang sản xuất cũng là hợp lý nhưng nếu không làm tốt nó sẽ dẫn tới những bất cập sau:
Theo báo cáo trước đây, đã có 10 tỉnh từ Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. 10 tỉnh này đã cho 10 DN nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn (50 năm) trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích hơn 300 ngàn ha, trong đó DN từ Hongkong, Đài Loan, Trung Quốc chiếm trên 264 ngàn ha, 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.
Gần đây nhất là bài học phải thu hồi và bồi thường cho doanh nghiệp Trung Quốc khi địa phương “giao nhầm” đất an ninh quốc phòng cho doanh nghiệp này thuê.
Sở dĩ có chuyện như vậy vì khi giao quyền chủ động cho địa phương quản lý, khai thác là cơ hội nảy sinh những mâu thuần trong lợi ích. Quyền lợi của người cho thuê hiện nay đang quá lớn. (Đất Việt 17/8) đầu trang(
Nhận thấy lợi ích kinh tế từ việc trồng rừng, những năm gần đây rất nhiều gia đình ở huyện Tân Kỳ đã mở rộng diện tích trồng rừng để nâng cao giá trị thu nhập, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Hiện nay, tranh thủ thời tiết thuận lợi, bà con trên địa bàn huyện đang tập trung trồng 950 ha rừng vụ thu năm 2015.
Xã Nghĩa Bình có diện tích đất lâm nghiệp khá lớn, trong những năm qua, địa phương đã khuyến khích người dân phát triển kinh tế rừng. Hoạt động này góp phần tăng độ che phủ rừng, cân bằng môi trường sinh thái, đồng thời nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân. Gia đình ông Ngô Xuân Hùng ở xóm 10 là một trong những hộ sớm phát triển nghề trồng rừng.
Trên diện tích hơn 4 ha, ông trồng keo nguyên liệu, sau 1 thời gian trồng chăm sóc và bảo vệ, vừa qua ông đã khai thác hơn 2 ha rừng, thu về 150 triệu đồng. Số diện tích còn lại hiện đang phát triển tốt, hứa hẹn đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho gia đình.
Những ngày này, tranh thủ thời tiết thuận lợi, gia đình ông Hùng đang tập trung nhân lực để trồng rừng vụ thu, phấn đấu trong vài ngày tới, gia đình ông khép kín toàn bộ diện tích theo kế hoạch đề ra. Ông Hùng cho hay: “Ở đây nhờ thuận lợi về giao thông nên keo dễ bán, gia đình xác định cây keo là cây trồng chủ lực trên đất đồi”.
rong những năm gần đây, phong trào trồng rừng ở xã Kỳ Tân cũng phát triển mạnh mẽ. Giá trị kinh tế từ trồng rừng mang lại sự đổi thay cho nhiều hộ nông dân trên địa bàn. Vì thế, hàng năm công tác trồng mới luôn được bà con nông dân chú trọng đẩy mạnh. Để trồng rừng vụ thu 2015 đảm bảo lịch thời vụ, ngay sau khi có kế hoạch trồng rừng của UBND huyện Tân Kỳ, xã Kỳ Tân đã tập trung rà soát, sớm hoàn thành việc thiết kế diện tích trồng rừng, vận động, hướng dẫn nhân dân phát dọn thực bì, đào hố, vận chuyển cây giống, cách trồng, chăm sóc nhằm đảm bảo khi trồng cây phát triển tốt.
Mấy ngày qua trời có mưa thuận lợi cho công tác trồng rừng nên bà con nông dân trong xã đang khẩn trương bắt tay vào trồng rừng vụ thu. Nhờ có sự hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng của các ngành chức năng, đến nay xã Kỳ Tân đã trồng mới được 30 ha rừng.
Ông Trần Văn Đông, Chủ tịch UBND xã cho biết: “Ngay sau khi tiếp thu kế hoạch trồng rừng vụ thu năm 2015 của huyện, xã bám sát kế hoạch chỉ đạo bà con nông dân tập trung trồng rừng. Sau khi trồng xong, khuyến cáo bà con chăm sóc, bảo vệ để phát triển rừng tốt, xã đang phấn đấu hoàn thành 100% kế hoạch trồng rừng vụ thu năm 2015”.
Tân Kỳ hiện có hơn 38.000 ha đất lâm nghiệp, đây là lợi thế để phát triển kinh tế rừng nên những năm qua diện tích đất có rừng không ngừng tăng lên. Riêng vụ thu năm nay, toàn huyện tiếp tục trồng mới 950 ha rừng các loại.
Để hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra, thời gian qua, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện đã phối hợp với chính quyền cơ sở tăng cường công tác tuyên truyền, tập huấn, giúp người dân nắm vững những chương trình, dự án hỗ trợ phát triển rừng của Nhà nước, đồng thời hướng dẫn quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc, khoanh nuôi bảo vệ rừng cho bà con.
Bên cạnh đó, đơn vị cũng đã chủ động ươm và chăm sóc hơn 1 triệu cây giống các loại, trong đó chủ yếu là cây keo để cung ứng kịp thời cho bà con trồng rừng. Ông Đinh Văn Hải, Phó trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Tân Kỳ cho biết thêm: “Chúng tôi đã chuẩn bị đầy đủ số lượng giống cây các loại để cung cấp cho các hộ dân trồng rừng theo các chương trình, dự án. Đợt mưa vừa rồi đơn vị đã xuất giống cho 7 xã để bà con trồng rừng vụ thu. Toàn huyện đã trồng được khoảng hơn 50% diện tích rừng”.
Với tiềm năng đất đai, sức lao động dồi dào, các địa phương trong huyện đang tiếp tục khai thác thế mạnh về kinh tế rừng, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của địa phương, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. (Trung Tâm Khuyến Nông Nghệ An 15/8) đầu trang(
Ngày 16/8, tin từ UBND huyện Mường Lát (Thanh Hóa) cho biết, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, UBND tỉnh, đến nay huyện Mường Lát đã có hàng ngàn hộ dân thuộc đồng bào dân tộc thiểu số đã nhận được gạo hỗ trợ về chương trình trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng.
Theo đó, năm 2013, có 9 xã và thị trấn với 2.527 hộ, 13.190 nhân khẩu đã được nhận 1.082 tấn gạo hỗ trợ trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng. Năm 2014, có 5.592 hộ với 29.368 khẩu đã nhận được gạo hỗ trợ với tổng số 2.455 tấn gạo. Năm 2014 diện tích trồng, chăm sóc và bảo vệ là 9.527 ha, trong đó trồng mới 3.468 ha rừng, diện tích chăm sóc và bảo vệ là 5.879 ha rừng.
Trong năm 2015, tổng số hộ nhận gạo hỗ trợ sẽ tăng hơn năm trước dự kiến 6.334 hộ với 32.570 khẩu. Nhưng diện tích trồng, bảo vệ và chăm sóc rừng cũng cao hơn năm trước khoảng 13.442 ha. Số lượng gạo dự trù cấp năm 2015 là 2.950 tấn, hiện đã phân bổ 4 tháng đầu năm 2015 là 950 tấn.
Chia sẻ với Lao động thủ đô, ông Cao Văn Cường, Chủ tịch UBND huyện Mường Lát cho biết, thực hiện ý kiến chỉ đạo cấp trên và qua nắm bắt tình hình gạo hỗ trợ đã được cấp đúng đối tượng và tránh tình trạng sai sót xảy ra. Huyện Mường Lát cũng duy nhất của tỉnh được Chính phủ hỗ trợ gạo theo chương trình trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng từ năm 2013 đến năm 2018. (Lao Động Thủ Đô 15/8) đầu trang(
Thông tin từ Hội Kinh doanh xuất nhập khẩu gỗ Quảng Trị: Hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Trị có nhiều trạm cân thu mua gỗ nguyên liệu mà không qua đăng kiểm, cũng không có giấy phép hoạt động của các cơ quan chức năng. Các trạm cân này được đặt tại các địa phương như Triệu Phong, Cam Lộ, Vĩnh Linh… (Quảng Trị).
Việc đặt các trạm cân “chui” thu mua gỗ này chắc chắn không loại trừ việc các chủ trạm cân sẽ điều chỉnh cân, hòng gạt người trồng rừng (ví dụ: lô hàng thực chất 1 tấn, nhưng chỉ cân được 0,9 tấn). Chính yếu tố này, các trạm cân đã nâng giá lên để thu hút người nhập hàng, tranh mua, làm lũng đoạn thị trường gỗ nguyên liệu trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh.
Được biết, các trạm cân này phần lớn là của các doanh nghiêp và tư thương ở tỉnh khác đến, nên hàng hóa sau khi thu mua được vận chuyển ra khỏi địa bàn tỉnh Quảng Trị, đa số không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc và được vận chuyển trên tuyến đường HCM, nhiều xe vi phạm luật giao thông về quy định quá khổ, quá tải…
Ngoài ra, còn có một số trạm cân đã thuê đất sử dụng không đúng mục đích, làm ảnh hưởng đến môi trường, gây bức xúc trong nhân dân, xin được đơn cử, đó là địa điểm thu mua của Công ty Hào Hưng-Quảng Bình tại xã Cam Thành, huyện Cam Lộ. Đây là nhà máy chế biến mủ cao su của Công ty CP Nông sản Tân Lâm, sau khi thuê lại, Công ty Hào Hưng đã sử dụng vào mục đích đặt trạm cân thu mua gỗ nguyên liệu.
Việc cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh bao giờ cũng có hệ quả tốt đẹp, nhất là đối với vùng nguyên liệu gỗ, nhưng cạnh tranh theo kiểu như nêu trên của các trạm cân “chui” không những làm cho thị trường bất ổn, mà còn gây thiệt hại không nhỏ đối với người trồng rừng, một nắng hai sương, dốc bao sức hàng năm trời.
Thiết nghĩ, các cơ quan chức năng của tỉnh Quảng Trị cần sớm vào cuộc, xử lý thỏa đáng, lập lại sự ổn định thị trường gỗ nguyên liệu, đồng thời để người trồng rừng tránh những thiệt hại không đáng có. (Báo Xây Dựng 15/8) đầu trang(
Hoành Mô là một trong những xã trồng nhiều hồi của huyện Bình Liêu. Toàn xã có 236ha hồi và hàng năm thu hoạch được khoảng 500 tấn hồi tươi.
Về mùa hồi đi trên con đường trục chính của xã thơm ngát mùi hồi, quả được phơi trên sân rộng hàng ha. Mọi người đều lên rừng thu hoạch hồi, chiều về với những bao nặng trĩu, người gánh hồi, người đèo sau xe máy. Cây hồi từ nhiều năm nay gắn với sự phát triển kinh tế của Hoành Mô và thực sự là cây xoá nghèo của xã.
Anh Trần Đức Thanh, người trồng hồi thôn Loòng Vài (Hoành Mô) cho biết: Người dân chúng tôi không bao giờ tính đến chuyện chặt cây hồi để thay thế loại cây khác. Gia đình tôi có 2ha rừng hồi, mỗi năm thu hoạch khoảng 4-5 tấn hồi tươi. Doanh thu từ hồi năm cao năm thấp, nhưng nhờ có nó mà cuộc sống người dân chúng tôi ấm no hơn. Nếu Hoành Mô chỉ trông vào cây lúa thì người dân rất khó thoát nghèo.
Không chỉ có giá trị về mặt kinh tế, hồi còn là loại cây lâu năm, chúng giữ rừng giữ đất không bị nước mưa xói mòn, chính vì vậy mà đợt mưa lũ lớn vừa qua, Hoành Mô bị thiệt hại không đáng kể do có nhiều cây to giữ đất rừng ổn định.
Hoành Mô còn có cây sở, cũng là cây xoá nghèo của bà con. Sở cũng được trồng ở hầu khắp các thôn với diện tích hơn 200ha toàn xã, hàng năm bà con cũng thu được vài trăm tấn quả sở. Người Hoành Mô đã nhiều năm biết dùng dầu sở thay mỡ động vật để xào nấu, rán cá, thịt vừa có mùi thơm lại tránh được nhiều bệnh tật về đường tiêu hoá và huyết áp. Hiện tại, sở được chọn là sản phẩm OCOP của địa phương. Cây sở không giống như nhiều loại cây khác phải thu hoạch gấp khi đến mùa, mà có thể để trên cây lâu ngày.
Quả dùng để ép dầu và dầu sở cũng để dành được lâu, nên người trồng sở có thể lựa chọn được thời gian thích hợp tiêu thụ sản phẩm của mình. Hiện nay, cơ sở duy nhất chế biến tinh dầu sở của Bình Liêu nằm ở Hoành Mô là HTX Phát triển xanh.
Cơ sở có diện tích nhà xưởng khoảng 110m2 và mới đi vào sản xuất từ cuối năm ngoái. Tuy HTX mới đi vào hoạt động, cơ sở đã sản xuất được gần 6.000 lít dầu sở, tương đương với việc tiêu thụ khoảng 100 tấn quả sở tươi cho người dân, tạo thêm một đầu ra cho người trồng sở vào mùa thu hoạch.
Các loài cây xoá nghèo này còn cho lượng hoa lớn để cung cấp nguồn thức ăn cho các đàn ong không chỉ của Hoành Mô mà cả các xã nuôi ong khác trong huyện. Hoành Mô có khoảng 70 hộ nuôi ong, người nuôi ít một vài tổ, người nuôi nhiều chừng 50 tổ. Mật ong lại được người dân tin dùng vì không sợ nhiễm thuốc sâu như nhiều loại hoa khác.
Anh Hoàng Tiến Hải, dân tộc Tày mở gia trại nuôi 90 con dê, 25 tổ ong và trồng thanh long ở thôn Đồng Cậm cho biết: “Từ việc xã phát triển rừng hồi, sở nên nghề nuôi ong của chúng tôi cũng tốt hơn. Cách đây mấy năm nghề này tưởng mất dần ở Bình Liêu vì thiếu hoa do các rừng hồi, sở chưa có hoa, còn các rừng keo chưa kịp ra hoa thì người dân đã khai thác gỗ. Ong đói chúng sẽ tự bỏ đi hoặc chết”.
Chúng tôi đến bản Loòng Vài là bản có 57 hộ dân, sống ở cách xa trung tâm xã khoảng 12km, thế nhưng người dân phát triển kinh tế tốt từ trồng rừng, làm ruộng, trồng cam, bưởi, nuôi ong… Điều đặc biệt là 100% bà con trong bản đều trồng cây hồi, sở từ 1-7ha/hộ.
Ông Hoàng A Sủi và con trai Hoàng A Sầu là các hộ nuôi ong nhiều nhất ở bản, khoảng 50 tổ/hộ. Ông Sủi biết làm tổ ong theo hướng tự nhiên bằng cách dùng thân gỗ lớn rồi khoét rỗng ở giữa nuôi ong bên trong. Ông treo tổ ong quanh bờ tường sau nhà cả trên các hốc đá trên sườn đồi.
Ông Sủi khẳng định: “Nghề nuôi ong muốn phát triển tốt thì người dân phải biết giữ rừng. Có nhiều rừng nuôi ong nhàn hơn và mật ong cũng bán dễ hơn, mật ong để dành được lâu chứ không giống như ong nuôi cho ăn đường thay hút mật. Mặt khác phải có rừng tự nhiên hoặc rừng lâu năm như hồi, sở thì ong rừng mới về làm tổ. Loài ong này khi nuôi, chúng sống khoẻ hơn và cho mật nhiều hơn”.
Từ việc biết tận dụng những tiềm năng của rừng và phát triển kinh tế rừng mà Hoành Mô đã thực hiện tốt các tiêu chí hộ nghèo, tiêu chí cơ cấu lao động. Hiện tỷ lệ hộ nghèo ở xã chỉ còn 7%, tỷ lệ người có việc làm thường xuyên đạt 85%. Hoành Mô đã đạt được 15/19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới và phấn đấu sẽ về đích vào cuối năm nay. (Báo Quảng Ninh 14/8) đầu trang(
Tỉnh Thừa Thiên-Huế thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đến năm 2020, hướng đến xây dựng Huế trở thành đô thị "Di sản, văn hóa, sinh thái, cảnh quan và thân thiện môi trường."
Sự phát triển nhanh chóng của đô thị và kinh tế thị trường không làm thay đổi diện mạo của thành phố Huế, vốn được mệnh danh là thành phố xanh. Tỉnh phấn đấu có các ngành kinh tế phát triển theo hướng xanh hóa; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả năng lượng và tài nguyên thiên nhiên; chất lượng cuộc sống của nhân dân được cải thiện; có lối sống thân thiện môi trường.
Hiện nay ở thành phố Huế, diện tích công viên cây xanh, đường phố có cây xanh lên đến hơn 750ha trong tổng số 7.100 ha diện tích đất công cộng. Diện tích đất cây xanh ở Huế (công viên, đường phố, thảm cỏ) đạt 18,5m2/người (chưa tính cây xanh trong vườn nhà dân, đất vườn ươm, cây công sở, cây xanh trong hệ thống di tích, rừng cảnh quan).  Đáng chú ý nhất ở Huế hiện nay là còn khoảng 750 ngôi nhà vườn với hệ thống cây xanh bao phủ, có giá trị cả về văn hóa và lịch sử. Chính những khu vườn này đã tạo thành một tổng thể cây xanh cho đô thị Huế đầy ấn tượng.
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên-Huế Nguyễn Văn Cao cho biết, tỉnh tiếp tục đầu tư thay đổi mô hình sản xuất và tiêu dùng theo hướng thân thiện với môi trường; phát triển công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh, dịch vụ xanh; ngăn ngừa và xử lý hiệu quả tình trạng ô nhiễm môi trường.
Tỉnh tạo chuyển biến cơ bản về phát triển văn hóa, y tế, giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, hình thành lối sống thân thiện môi trường.
Hiện tại, tỉnh Thừa Thiên-Huế đang triển khai các dự án "Hành lang bảo tồn đa dạng sinh học tiểu vùng sông Mekong mở rộng-giai đoạn 2," "Phát triển bền vững du lịch Mekong" nhằm phát triển các đô thị xanh, làm cơ sở cho các trung tâm kinh tế xanh phát triển của vùng với chất lượng đời sống được nâng cao theo hướng bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế bền vững trước mọi diễn biến phức tạp của khí hậu... (Vietnam + 15/8) đầu trang(
Sáng 14/8, UBND tỉnh Hà Tĩnh phối hợp Trường Đại học khoa học Huế tổ chức "Hội thảo báo cáo kết quả nghiên cứu đánh giá hiện trạng, xây dựng quy hoạch chi tiết về phục hồi, mở rộng diện tích rừng ngập mặn (RNM) và công viên bảo tồn rừng ngập mặn hạ lưu sông Rào Cái".
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Thiện - Trưởng Ban chỉ đạo dự án SRDP-IWMC và PGS.TS Hà Văn Hành - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Huế (Đại học Huế) cùng chủ trì hội thảo.
Qua kết quả nghiên cứu đến năm 2014, diện tích rừng và đất ngập mặn ven biển toàn tỉnh Hà Tĩnh hiện có khoảng 1.647,3ha, trong đó diện tích RMN là 691,90 ha; 724,7 ha diện tích đất chưa có rừng; 202,2ha diện tích nuôi trồng thủy sản và làm muối.
Trong tổng số 691,90 ha RNM, có 32 ha rừng tự nhiên phòng hộ và 659,9 ha rừng trồng phòng hộ. Tuy nhiên, hiện nay, rừng ngập mặn tại Hà Tĩnh đang đứng trước các nguy cơ như cây ngập mặn chết cục bộ (khu vực Rào Cái), cây ngặp mặn mới trồng không sinh trưởng hoặc bị chết do các loại thải, bèo lục bình che phủ.
Tại hội thảo, các đại biểu đã đưa ra nhiều phương án quản lý, định hướng, giải pháp bảo tồn, phát triển rừng ngập mặn tại hạ lưu sông Rào Cái như: xây dựng hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu về rừng ngập mặn; quy hoạch sử dụng đất, RNM; giao, cho thuê, khoán rừng và đất lâm nghiệp; huy động vốn đầu tư; hoàn thiện tổ chức quản lý RNM và chính sách hưởng lợi; quản lý rừng theo hướng phát triển; giám sát tài nguyên đa dạng sinh học, môi trường… có tác động tích cực đối với vấn đề quản lý, bảo vệ và phát triển RNM. (Báo Hà Tĩnh 14/8) đầu trang(
Ngày 29/7/2015, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận ký ban hành Quyết định số 1941/QĐ-UBND về việc phân khai kinh phí giao khoán bảo vệ rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số năm 2015, với tổng kinh phí là 17.464.570.678 đồng; trong đó, ngân sách cấp từ nguồn kinh phí giao khoán bảo vệ rừng năm 2015 được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 192/2014/QĐ-UBND ngày 10/12/2014 là 12.007.000.000 đồng, sử dụng từ nguồn chi trả Dịch vụ rừng năm 2015 là 4.626.464.600 đồng, nguồn Dự án JICA 2 là 343.000.000 đồng và nguồn ứng trước dự toán năm 2016 để cấp bổ sung cho các đơn vị chủ rừng.
Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh giao nhiệm vụ cho Ban Dân tộc phối hợp Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm trong việc xác định diện tích, số hộ đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện giao khoán bảo vệ rừng theo đúng quy định; Sở Tài chính cấp kinh phí cho các đơn vị chủ rừng từ nguồn ngân sách cấp kinh phí giao khoán bảo vệ rừng năm 2015 theo Quyết định số 192/2014/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh và nguồn ứng trước dự toán năm 2016 và tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh bố trí dự toán năm 2016 để hoàn ứng ngân sách tỉnh; đồng thời, giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng cấp kinh phí từ nguồn Dịch vụ môi trường rừng cho các chủ rừng để chi trả giao khoán bảo vệ rừng năm 2015 theo quy định.
Với quyết định trên hy vọng sẽ giúp cho đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh tăng thêm thu nhập từ việc quản lý bảo vệ rừng và góp phần ổn định cuộc sống. (Ban Dân Tộc Tỉnh Bình Thuận 14/8) đầu trang(
Ngày 14.8, TAND tỉnh Khánh Hòa tiếp tục xét xử sơ thẩm (lần 2) vụ “ăn chặn” trầm xảy ra trên địa bàn H.Khánh Sơn (Khánh Hòa) hồi tháng 9.2012. Trong phần tranh luận, các luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành Trung (nguyên Trưởng công an H.Khánh Sơn) cho rằng bị cáo có bằng chứng ngoại phạm, không tham gia bàn bạc việc bán trầm, đưa ra tỷ lệ ăn chia và trực tiếp chi tiền cho những người khác.
Cụ thể, tối 27.9.2012 Nguyễn Thành Trung ăn nhậu với 5 người khác tại một quán ở TP.Cam Ranh nên không thể có mặt ở TT.Tô Hạp để bàn việc bán trầm. Vì vậy, các luật sư và bị cáo Nguyễn Thành Trung đề nghị tòa trả hồ sơ, thực nghiệm điều tra việc bàn bạc bán trầm và cuộc nhậu đêm 27.9.2012.
Trong phần tự bào chữa, các bị cáo Vũ Anh Trung (nguyên Đội trưởng Đội Cảnh sát kinh tế - môi trường), Nguyễn Hồng Hà (nguyên Đội trưởng Đội CSGT), Trần Lệ Kiên (nguyên Phó đội trưởng Đội Cảnh sát thi hành án hình sự - hỗ trợ tư pháp, cùng thuộc Công an H.Khánh Sơn) đều thừa nhận hành vi phạm tội.
Tranh luận tại tòa, đại diện Viện KSND tỉnh Khánh Hòa, khẳng định quan điểm buộc tội của viện là chính xác, có cơ sở pháp lý, truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Công tố viên đề nghị mức án đối với các bị cáo như sau: Nguyễn Thành Trung 7 - 8 năm tù về tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, Vũ Anh Trung 5 năm 6 tháng đến 6 năm 5 tháng tù, Nguyễn Hồng Hà 6 - 7 năm tù, Trần Lệ Kiên 5 - 6 năm tù, Luân Văn Nam (30 tuổi, ở TT.Tô Hạp, H.Khánh Sơn) 2-4 năm tù.
Dự kiến sáng 17.8 tòa sẽ tuyên án. (Thanh Niên 15/8) đầu trang(
Theo Đề án đã được phê duyệt, huyện Tân Biên có đến 158 hộ phải di dời ra khỏi đất lâm nghiệp (rừng đặc dụng). Tổng diện tích đất bố trí tái định cư cho các hộ là 7,3 ha. Kinh phí thực hiện di dời gần 6 tỷ đồng.
Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết định 375/QĐ-UBND ngày 21.2.2014 phê duyệt Đề án di dời dân ra khỏi đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Theo Đề án này, đến cuối năm 2015, ba huyện Tân Biên, Tân Châu và Dương Minh Châu phải di dời dân ra khỏi đất lâm nghiệp.
Chỉ còn hơn 4 tháng nữa là hết hạn, nhưng đến nay mới có huyện Dương Minh Châu là cơ bản hoàn thành, hai huyện Tân Biên, Tân Châu vẫn còn nhiều vấn đề phát sinh, rối rắm.
Theo Đề án, ở huyện Tân Biên có 6 xã Hoà Hiệp, Tân Lập, Thạnh Bắc, Thạnh Bình, Tân Bình, Thạnh Tây có dân ở trong đất lâm nghiệp cần phải di dời. Trong đó chia ra 3 dạng: di dời không hỗ trợ, di dời hỗ trợ tiền, di dời hỗ trợ tiền và đất thổ cư.
Tuy nhiên, khi triển khai thực hiện Đề án thì phát sinh nhiều vấn đề khá phức tạp. Đầu tiên là trong số 18 hộ di dời theo dạng không hỗ trợ, có đến gần 2/3 cần được hỗ trợ cả tiền lẫn đất thổ cư.
Theo Quyết định số 875 của UBND tỉnh ban hành Kế hoạch giải quyết tình trạng bao, lấn chiếm và sử dụng đất lâm nghiệp không đúng mục đích trên địa bàn tỉnh, những hộ thuộc diện này bắt buộc di dời ra khỏi đất lâm nghiệp mà không được hỗ trợ gì cả.
Nhưng thực tế, những hộ này đều thuộc diện nghèo và không có mảnh đất “cắm dùi”, nếu “bứng” họ ra khỏi nơi ở hiện nay thì không biết hơn 60 nhân khẩu này sẽ sinh sống ra sao.
Gia đình anh Thạch Ri trước đây ở nhờ trên đất Lâm trường Hoà Hiệp để làm thuê kiếm sống. 4 năm gần đây, lâm trường này giải tán, gia đình anh không còn chỗ ở, phải vào cất nhà ở tạm trên đất lâm nghiệp, thuộc địa bàn ấp Hoà Đông A, xã Hoà Hội.
Biết rõ vào cất nhà trong đất lâm nghiệp là vi phạm pháp luật, nhưng vợ chồng con cái anh Thạch Ri không có tiền mua đất cất lại nhà khác. Người đàn ông 39 tuổi này nói: “Tôi biết ở đây là sai, nhưng bây giờ kêu dời ra chỗ khác, gia đình tôi không biết đi đâu. Tôi chỉ xin Nhà nước hỗ trợ cho một mảnh đất ở”.
Vợ chồng anh Nguyễn Văn Đạt hiện ở trên đất lâm nghiệp thuộc ấp Hoà Đông B, xã Hoà Hiệp cũng đang rơi vào cảnh tương tự. 10 năm trước, vợ chồng anh Đạt có nhà cửa đàng hoàng ở xã Tân Phong (huyện Tân Biên).
Hai vợ chồng anh sinh người con trai đầu lòng, không may bé bị dị tật, tay chân bị co rút, không đi đứng được, đến nay hơn 15 tuổi vẫn nằm một chỗ, nghi bị nhiễm chất độc da cam. Vợ chồng anh lần lượt bán hết tài sản, đất đai, nhà cửa để lo thuốc thang chữa trị cho con.
Lâm vào cảnh khổ, năm 2006, vợ chồng anh bồng bế con vào rừng Hoà Hội, tìm mua một phần đất với giá rẻ, cất nhà ở tạm. Ngày ngày, anh đi làm thuê làm mướn kiếm tiền nuôi con. 10 năm trôi qua, vợ chồng anh lần lượt có thêm hai mặt con nữa.
Hai đứa bé sau này may mắn hơn, sinh ra và lớn lên khoẻ mạnh bình thường, nhưng gánh nặng nhà nghèo đông con ngày càng oằn nặng đôi vai, nên đành chấp nhập trú trong căn nhà không ra nhà, chòi không ra chòi.
Nói về việc di dời ra khỏi đất lâm nghiệp, anh Đạt đồng ý với chủ trương của tỉnh, thậm chí anh còn mừng và mong sao sớm thực hiện Đề án này, vì “Căn nhà của tôi sắp sập, mà sửa nhà lại thì chính quyền địa phương và nhân viên bảo vệ rừng không cho”.
Nhưng, người đàn ông 45 tuổi này tha thiết xin chính quyền địa phương xem xét, hỗ trợ cho gia đình anh tiền cất nhà và cho một phần đất thổ cư khác. “Nếu buộc tôi ra khỏi nơi này thì vợ chồng con cái tôi biết đi đâu, về đâu?”- anh Đạt rớm nước mắt nói.
Xã Hoà Hiệp có số hộ dân sinh sống trong đất lâm nghiệp nhiều nhất so với các xã khác- đến 105 hộ. Trong đó, 16 hộ từ diện di dời không hỗ trợ phát sinh thành di dời cần hỗ trợ cả tiền lẫn đất thổ cư.
Trước vấn đề phát sinh này, ông Nguyễn Đắc Hùng- Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) huyện Tân Biên đề xuất: “16 hộ gia đình này thật sự quá khó khăn, không thể tự mình di dời được, tỉnh nên xem xét hỗ trợ đất thổ cư, nhưng không hỗ trợ tiền cất nhà để đỡ phát sinh chi phí”.
Phát sinh kế đến cũng là vấn đề nan giải. Theo quy hoạch, Cụm dân cư số 1, thuộc ấp Hoà Đông A, xã Hoà Hiệp (có diện tích 5,32 ha) được phân lô là 4m x 100m. Thấy cách phân lô này không phù hợp với điều kiện sử dụng thực tế và không thẩm mỹ, nên chính quyền địa phương và Phòng NN&PTNT phân lại mỗi lô là 8m x 50m.
Tuy nhiên, khi “cắt” cụm dân cư này ra làm hai theo quy hoạch mới thì phát sinh đường giao thông ở giữa, từ đó làm tăng thêm diện tích đất và tăng thêm kinh phí làm đường giao thông ở giữa cụm dân cư.
Ở Cụm dân cư số 2 thuộc ấp Tân Khai, xã Tân Lập cũng phát sinh nhiều vấn đề. Cụ thể như: do phát sinh thêm đường lô nên diện tích bố trí dân cư tăng 0,54 ha so với quy hoạch;
Từ đó kinh phí thu hồi đất thiếu 184 triệu đồng, kinh phí bồi thường hoa màu thiếu gần 50 triệu đồng, kinh phí bồi thường vật kiến trúc thiếu gần 3 triệu đồng; kinh phí xây dựng cơ sở hạng tầng thiếu 754 triệu đồng; đồng thời kinh phí hạ thế, xây dựng đường giao thông… cũng tăng thêm. Hơn nữa, kinh phí phân lô, cắm mốc ở 3 cụm dân cư còn thiếu 77 triệu đồng.
Ngoài ra, còn có thêm một số trường hợp phát sinh nữa là đất lâm nghiệp thuộc các hộ dân sinh sống đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tính đến nay, ở Tân Biên còn 5 hộ dân đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đất lâm nghiệp nhưng chưa có chủ trương xử lý cụ thể.
Ông Nguyễn Đắc Hùng cho biết thêm, trước tình hình phát sinh nhiều vấn đề như đã nêu trên, UBND huyện Tân Biên có 2 văn bản trình UBND tỉnh xin tăng cường vốn đầu tư và đề nghị bổ sung Đề án di dời dân ra khỏi đất lâm nghiệp. Tuy nhiên đến nay tỉnh vẫn chưa bố trí vốn và bổ sung kinh phí. (Báo Tây Ninh 14/8) đầu trang(
Ở hai huyện Tân Biên và Tân Châu vẫn còn rất nhiều hộ chưa di dời thuộc cả diện tự di dời lẫn diện buộc di dời có hỗ trợ. Trong đó, phần lớn do quá trình thực hiện đề án phát sinh những vướng mắc, mà nguyên nhân là khi ngành chức năng xây dựng Đề án đánh giá đối tượng chưa chính xác, quy hoạch khu tái định cư chưa chuẩn, phải thẩm tra, bổ sung, chỉnh sửa…
Theo Quyết định 375 của UBND tỉnh phê duyệt Đề án di dời dân ra khỏi đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, tổng số hộ phải di dời dân ra khỏi đất lâm nghiệp ở huyện Tân Châu là 368 hộ.
Trong đó tự di dời 32 hộ, phải hỗ trợ di dời 336 hộ. Các hộ dân này sẽ được bố trí chỗ ở trên 8 cụm dân cư ở các ấp Cây Khế, Cây Cầy, Suối Bà Chiêm (thuộc xã Tân Hoà), ấp 5, ấp 6 (xã Suối Dây), ấp Tân Hiệp, Tân Hoà, Tân Đông và Khu tái định cư Đồng Kèn II (xã Tân Thành).
Tính đến nay, ở huyện Tân Châu mới có một số ít hộ thực hiện di dời dân ra khỏi đất lâm nghiệp. Cụ thể, đối với dạng tự di dời, đến nay mới thực hiện được 3/34 hộ. Trong đó, xã Suối Dây có 9 hộ, nhưng chưa di dời hộ nào.
UBND xã đã làm việc với 9 hộ này, qua đó xác định có 2 hộ dân ở xã Tân Hưng đến cất chòi giữ rẫy, xã cho cam kết dỡ bỏ chòi; còn lại 7 hộ dân địa phương có hoàn cảnh khó khăn, không thể di dời được. UBND huyện đã chỉ đạo xã tiến hành thẩm tra, xác minh đối với 7 hộ dân này để có giải pháp xử lý phù hợp.
Qua xác minh cho thấy, cả 7 hộ này đều không có đất ở nơi khác và cũng không có khả năng tự di dời, từ đó xã đề nghị cho họ được hưởng chế độ như các hộ di dời được hỗ trợ.
Tại xã Tân Hoà có 24 hộ thuộc diện tự di dời, nhưng chỉ thực hiện được có 2 hộ. Xã làm việc với 24 hộ này, các hộ báo là trước đây họ có khai có đất ở nơi khác, nhưng cũng là đất nằm trong đất lâm nghiệp. UBND huyện đã chỉ đạo UBND xã Tân Hoà tiến hành thẩm tra, xác minh đất ở của 10 hộ dân trong số nêu trên, báo cáo UBND huyện cho ý kiến.
Kết quả có 2 hộ thực sự có đất nơi khác; 6 hộ không có đất ở hợp pháp ở nơi khác; 2 hộ chưa có kết quả xác minh. Sau khi có kết quả toàn bộ, xã sẽ báo cáo huyện cho ý kiến chỉ đạo. Riêng xã Tân Thành chỉ có 1 hộ thuộc diện tự di dời và hộ này đã thực hiện.
Đối với các trường hợp buộc phải di dời có sự hỗ trợ của Nhà nước, đến nay cũng chỉ mới có 42/336 hộ thực hiện. Cụ thể, ở xã Tân Thành đã di dời 40/78 hộ, trong đó có 36 hộ bắt thăm nhận đất Khu tái định cư Đồng Kèn II, các hộ này đã xây nhà xong, 2 hộ tự di dời và 2 hộ có đất ở nơi khác, chỉ hỗ trợ chi phí. Các hộ còn lại, huyện đang triển khai công tác thu hồi đất để phân lô bố trí cho các hộ này di dời ra.
Ở xã Suối Dây có 82 hộ thuộc diện buộc di dời có hỗ trợ, đến nay cũng chỉ có 2 hộ tự di dời, còn lại 80 hộ khác đang chờ thu hồi đất để phân lô bố trí.
Ở xã Tân Hoà có 176 hộ buộc phải di dời, trong đó có 38 hộ ở khu vực cầu Sài Gòn, 3 hộ ở ấp Con Trăn, 88 hộ ở P25 thuộc ấp Suối Bà Chiêm và 47 hộ ở ấp Cây Khế, nhưng đến nay chưa có hộ nào “nhúc nhích”.
Bên cạnh đó, về hạ tầng kỹ thuật, ngoài Khu tái định cư Đồng Kèn II, xã Tân Thành đã có đường giao thông, điện, nước sinh hoạt, trường học bảo đảm nhu cầu phục vụ nhân dân, tại các khu đất đã bố trí và dự kiến bố trí dân di dời còn lại đang tồn tại một số vấn đề nan giải.
Cụ thể như khu đất đang thu hồi của Nông trường Cao su Tân Hoà (thuộc Công ty TNHH MTV Cao su 30.4) ở ấp Suối Bà Chiêm, xã Tân Hoà, dự kiến bố trí cho 88 hộ dân ở P25, cần phải đầu tư 2 bình biến áp, làm đường lô khu dân cư;
Khu đất đang thu hồi của Nông trường cao su Suối Ngô (thuộc Công ty TNHH MTV Cao su Tân Biên), ở ấp Tân Thuận, xã Tân Hoà, dự kiến bố trí cho 88 hộ dân (trong đó 47 hộ ấp Cây Khế và 41 hộ cầu Sài Gòn I) cần phải xây dựng bổ sung đường dây điện, phải nâng cấp, sửa chữa trạm cấp nước sinh hoạt và đầu tư xây dựng đường lô khu dân cư;
Khu đất dự kiến thu hồi của các hộ dân ở ấp Tân Hoà, xã Tân Thành để bố trí cho 32 hộ dân di dời cũng phải bổ sung nhánh rẽ đường dây điện, đầu tư xây dựng đường lô khu dân cư; khu đất dự kiến thu hồi của các hộ ở ấp 5, ấp 6, xã Suối Dây để bố trí cho 87 hộ dân di dời cũng phải xây dựng nhánh rẽ đường dây điện và đường lô khu dân cư…
Như vậy hiện nay, trên địa bàn huyện Tân Châu vẫn còn nhiều khu đất dự kiến bố trí các hộ dân di dời ra khỏi đất lâm nghiệp chưa thu hồi xong, chưa xây dựng hạ tầng phục vụ đời sống người dân,   khiến tiến độ di dời theo Đề án bị ảnh hưởng.
Hiện nay, chỉ mới có huyện Dương Minh Châu là đã thực hiện hoàn tất Đề án di dời dân ra khỏi đất lâm nghiệp, tất cả 34 hộ sinh sống trong rừng đặc dụng (rừng lịch sử) đã được bố trí tái định cư ở Cụm dân cư số 12, trên địa bàn ấp Phước An, xã Phước Ninh.
Đồng thời, huyện Tân Châu cũng đã hoàn thành việc ổn định cho 492/492 hộ thuộc diện được bố trí tại chỗ theo Đề án. Trong đó, ở xã Tân Thành có 316 hộ, xã Tân Hoà 140 hộ và xã Suối Dây 36 hộ.
Trong khi đó, ở hai huyện Tân Biên và Tân Châu vẫn còn rất nhiều hộ chưa di dời thuộc cả diện tự di dời lẫn diện buộc di dời có hỗ trợ. Trong đó, phần lớn do quá trình thực hiện đề án phát sinh những vướng mắc, mà nguyên nhân là khi ngành chức năng xây dựng Đề án đánh giá đối tượng chưa chính xác, quy hoạch khu tái định cư chưa chuẩn, phải thẩm tra, bổ sung, chỉnh sửa…
Chỉ còn có hơn 4 tháng nữa là phải hoàn tất công tác di dời dân ra khỏi đất lâm nghiệp theo Đề án được phê duyệt. Thế nhưng, với thực tế như đã nêu, thì rất khó có thể hoàn tất việc di dời dân ra khỏi đất lâm nghiệp vào cuối năm nay. (Báo Tây Ninh 15/8) đầu trang(
Phong trào phát triển kinh tế gia đình từ ươm giống cây rừng đang phát triển mạnh tại nhiều địa phương của huyện Tây Hòa. Không chỉ khắc phục được tình trạng bị động về nguồn cây giống, chất lượng không đảm bảo, giá thành cao như trước đây, việc đầu tư ươm giống cây lâm nghiệp còn mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho phụ nữ nơi đây.
Chị Lê Thị Cúc ở khu phố Phước Thịnh (thị trấn Phú Thứ, huyện Tây Hòa) đang sở hữu gần 2 sào giống cây keo lai tượng. Ước tính, mỗi sào thu được khoảng 5 vạn cây, với giá bán tại vườn là 350 đồng/cây, chị sẽ có thu nhập khoảng 35 triệu đồng.
Theo chị Cúc, lợi thế của việc ươm giống cây rừng là sau 3 tháng có thể xuất bán, tỉ lệ sống của cây giống sau khi ươm đạt tới 98%. “Nhờ có công việc từ ươm giống cây rừng mà kinh tế gia đình tôi đã cải thiện hơn trước rất nhiều”, chị Cúc chia sẻ.
Cũng như chị Cúc, nhiều chị em ở thị trấn Phú Thứ nhận thấy lợi ích của việc ươm giống cây rừng, đã tính toán và quyết định đầu tư phát triển kinh tế từ công việc này. Cùng với lựa chọn nguồn giống, chất lượng, đáp ứng nhu cầu của thị trường, chị em còn chú trọng áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong quá trình ươm và chăm sóc cây.
Vì vậy, chất lượng cây giống luôn đảm bảo, được người trồng rừng và thương lái thu mua. Chị Nguyễn Thị Tuyết, Phó chủ tịch Hội LHPN thị trấn Phú Thứ, cho biết: “Phong trào phát triển kinh tế từ ươm giống cây rừng trong những năm qua đã giải quyết được phần nào lao động nữ nhàn rỗi ở địa phương. Qua đó, chị em có thu nhập, tỉ lệ hộ nghèo của thị trấn cũng giảm đáng kể”.
Theo Chủ tịch Hội LHPN huyện Tây Hòa Phan Thị Liên, hiện nay, trên địa bàn huyện không chỉ có phụ nữ thị trấn Phú Thứ mà phụ nữ ở các xã Hòa Bình 1, Hòa Phong… cũng tích cực ươm giống cây rừng với diện tích gần 2ha.
Việc chị em đầu tư ươm giống cây lâm nghiệp không chỉ giúp địa phương chủ động, đảm bảo nguồn cây giống chất lượng, mang lại thu nhập đáng kể cho các chị mà còn góp phần đẩy mạnh phong trào trồng cây gây rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc ở địa phương. (Báo Phú Yên 15/8) đầu trang(
Rà sát quy hoạch, UBND TP.Đà Nẵng phát hiện hàng chục hecta rừng ở khu vực Ngầm Đôi, xã Hòa Phú, Hòa Vang bị cấp trái quy định để xây dựng khu du lịch. Việc quản lý đất rừng lỏng lẻo, được ví như vụ xây dựng trái phép biệt thự, biệt phủ trên núi Hải Vân tai tiếng mới xảy ra tại Đà Nẵng. Chính vì thế, Chủ tịch UBND TP.Đà Nẵng - ông Huỳnh Đức Thơ, vừa yêu cầu huyện Hòa Vang có báo cáo, rà soát…
Ngoài khu sinh thái nghỉ dưỡng cao cấp Bà Nà Hill, hàng loạt khu du lịch sinh thái dân dã khác hoạt động sôi nổi gần 10 năm nay như Ngầm Đôi, Phú Mỹ Thành, Suối Hoa… dưới chân dãy Bà Nà - Núi Chúa. Đây là những nơi dã ngoại lý tưởng gắn với thiên nhiên hoang sơ. Mới đây, thêm một nhà “đầu tư lớn”, đang khởi công xây dựng khu du lịch sinh thái tại khu vực Ngầm Đôi.
Môi trường du lịch tại xã miền núi Hòa Phú trở nên náo nhiệt. Đây cũng chính lý do mà UBND TP.Đà Nẵng “để mắt” vấn đề quản lý, quy hoạch đất rừng vốn khuất lấp này. Chỉ mới bước đầu, đã phát hiện ngay khu du lịch (KDL) Ngầm Đôi hoạt động từ năm 2010 đến nay là trái với quy định, trái luật, do UBND huyện Hòa Vang cấp phép vượt thẩm quyền.
Năm 2014, Sở Xây dựng rà soát, phát hiện chủ đầu tư là bà Lê Đinh Thủy Châu cùng các bà Nguyễn Thị Mai và bà Trương Thị Lâm được UBND huyện Hòa Vang cấp giấy phép xây KDL Ngầm Đôi diện tích 18.403,6m2 (do bà Châu đứng tên). Ngoài ra, các hộ dân này còn được cấp gần 20ha đất trồng rừng. Tất cả giấy phép kinh doanh, giấp phép quyền sử dụng đất cho cả gần 20ha đất rừng lẫn hơn 1,8ha đất xây dựng khu du lịch đều do nguyên chủ tịch UBND huyện Hòa Vang - ông Huỳnh Minh Nhơn, ký.
Ngoài việc Chủ tịch UBND huyện Hòa Vang ký quyết định, tự ý cấp đất rừng, tự chuyển đổi mục đích xây dựng, cho phép kinh doanh khu du lịch không đúng thẩm quyền, trái luật định, thì đáng nói là ông Huỳnh Minh Nhơn cấp đất cho chính vợ mình: Bà Nguyễn Thị Mai - một trong nhóm 3 cổ đông nói trên. Cổ đông thứ 2 là bà Trương Thị Lâm, chính là vợ của Chủ tịch UBND xã Hòa Phú lúc bấy giờ: Ông Mạc Như Siêng (hiện là Trưởng phòng Tư pháp huyện Hòa Vang).
Hay nói cách khác, KDL Ngầm Đôi, được hình thành do 2 quan huyện, xã móc ngoặc, cấp đất rừng, xây khu du lịch trái quy định cho chính các bà vợ mình, nhưng lại đứng tên bởi một cổ đông thứ 3: bà Lê Đinh Thủy Châu. Bà Châu thừa nhận, dù KDL ngầm đôi là do bà đứng tên, nhưng thực chất là chung với 2 bà Mai và Lâm.
Tháng 1.015, UBND huyện Hòa Vang có báo cáo, quy hoạch mở rộng KDL sinh thái Ngầm Đôi lên 7,6446ha. Trong đó, hiện trạng gồm: 18.403,6m2 đất du lịch đứng tên Lê Đình Thủy Châu, phần còn lại là đất lâm nghiệp do ông Mạc Như Giác (chồng bà Châu) và các bà Nguyễn Thị Mai (vợ ông Huỳnh Minh Nhơn) và bà Trương Thị Lâm (vợ ông Mạc Như Siêng) quản lý, sử dụng.
Ông Nguyễn Điểu - GĐ Sở TNMT, khẳng định “UBND huyện Hòa Vang ban hành quyết định thu hồi, cho thuê đất để xây dựng KDL sinh thái Ngầm Đôi do bà Lê Đình Thủy Châu đứng tên khi chưa được phê duyệt quy hoạch là đã sai, quy hoạch của Đà Nẵng chưa có chỗ cho du lịch ở khu vực Ngầm Đôi. Nay chủ đầu tư mở rộng diện tích khu du lịch, huyện đề nghị cho mở rộng sang phần diện tích đất rừng là vi phạm quy định về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
Ông Đặng Thương - Phó Chủ tịch UBND huyện Hòa Vang, cho rằng, KDL Ngầm Đôi đã hình thành hơn 10 năm nay rồi, người cấp đất sai - Chủ tịch UBND huyện, nay đã qua đời. Mặt khác, KDL Ngầm Đôi đã xây dựng bài bản, vì vậy đề nghị thành phố nghiên cứu giải quyết các thủ tục về mặt pháp lý để chủ đầu tư tiếp tục hoạt động. Tuy vậy, Chủ tịch UBND thành phố Huỳnh Đức Thơ vẫn yêu cầu rà soát, kiểm tra và xử lý nghiêm các cán bộ tham mưu của huyện Hòa Vang đã tham mưu để giúp lãnh đạo ra quyết định cấp đất rừng cho DN kinh doanh du lịch khi chưa có sự đồng ý của UBND thành phố. (Lao Động 14/8) đầu trang(
Đón đầu Việt Nam sẽ gia nhập TPP và cũng là lợi thế cho các doanh nghiệp sản xuất gỗ, ngày 28/07, CTCP Bamboo Capital (HOSE: BCG) chính thức đầu tư 20% vốn vào CTCP Đầu tư Phát triển Lâm nghiệp Trường Thành.
CTCP Đầu tư Phát triển Lâm nghiệp Trường Thành có trụ sở tại tỉnh Quảng Ngãi, hoạt động trong lĩnh vực thương mại nguyên liệu gỗ thông qua hình thức liên kết với các lâm trường, công ty lâm sản trên cả nước.
Việc tham gia đầu tư vào công ty lâm nghiệp Trường Thành giúp BCG chủ động về nguồn nguyên liệu đầu vào cho hai công ty thành viên của BCG là Công ty Nguyễn Hoàng và Thành Phúc. Hai doanh nghiệp này sản xuất và kinh doanh các sản phẩm từ gỗ, chuyên xuất khẩu đến các thị trường như Mỹ, Đức, Anh, Nhật, Singapore.
Ngoài ra, ngày 07/08, BCG và Global Consulting (GURU!) đã ký kết biên bản hợp tác phát triển thương mại xuất nhập khẩu nhằm đẩy mạnh các hoạt động xuất khẩu các sản phẩm trong hệ thống các công ty thành viên BCG cũng như tìm kiếm cơ hội phân phối độc quyền các sản phẩm của các nhà cung cấp nước ngoài tại Việt Nam.
Theo thỏa thuận, GURU! sẽ độc quyền phân phối sản phẩm cà phê dạng capsule của BCG với thương hiệu NESSO tại thị trường Canada và Châu Âu. Đồng thời, GURU! cũng sẽ hợp tác trong xuất khẩu các sản phẩm gỗ nội và ngoại thất của các công ty thành viên của BCG như Nguyễn Hoàng, Thành Phúc tại thị trường Canada.
Cũng theo BCG, ngày 27/07, Ban lãnh đạo công ty đã có buổi làm việc với ông Shinji KITO - nhà đầu tư đến từ Nhật Bản tìm hiểu cơ hội đầu tư và hợp tác với BCG.
Ông Shinji Kito là nhà đầu tư đến từ Nhật Bản và là người có kinh nghiệm hơn 20 năm trên lĩnh vực tư vấn đầu tư, chứng khoán. Ông hiện là Giám đốc của Công ty Chứng khoán Bảo Việt Nhật Bản đồng thời ông đảm nhận vị trí cố vấn cao cấp cho công ty JLT Holdings, công ty con của tập đoàn môi giới và bảo hiểm tư vấn toàn cầu Jardine Lloyd Thompson.
Tại buổi làm việc cùng với ban lãnh đạo BCG, ông Shinji đánh giá cao chiến lược đầu tư của BCG trong giai đoạn 2015-2017 và dự kiến ông sẽ đầu tư khoảng tối thiểu 2 triệu cổ phiếu BCG thông qua giao dịch khớp lệnh trên sàn. (Vietstock 14/8) đầu trang(
Ngày trước, rừng ngập mặn chỉ có giá trị phòng hộ, người dân khai thác củi đước, củi mắm để làm than nhưng ngày nay họ có thể nuôi trồng thủy sản ngay dưới tán rừng ngập mặn cho thu nhập ổn định
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau, hiện nay bà con nông dân trong tỉnh phát triển mô hình nuôi thủy sản nước mặn, nước lợ quảng canh. Cho đến hết năm 2014, toàn tỉnh có 269.435 ha nuôi trồng thủy sản nước mặn lợ và 28.703 ha diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt trong đó diện tích nuôi trông tôm ở nước mặn là chủ yếu. Ngoài ra, bà con còn phát triển nuôi nghêu, sò, hàu, cua. Trong đó việc nuôi cua ở Cà Mau đã mang lại cho bà con nông dân nguồn thu nhập đáng kể.
Huyện Đông Hải, huyện Đầm Dơi ở Cà Mau được xem là những điểm sáng về nuôi cua thương phẩm. Theo ông Nguyễn Văn Hùng - Tân Thới, huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau ngày trước gia đình ông Hùng chỉ nuôi tôm độc canh,. Việc nuôi tôm cũng gặp nhiều thách thức vì có thể được mùa và mất trắng.
Sau này, gia đình ông Hùng kết hợp mô hình quảng canh kết hợp nuôi tôm, nuôi cá và nuôi cua. Nhờ thế, kinh tế gia đình phát triển vững chắc không phụ thuộc vào một nguồn thu như trước kia.
Mỗi ha nuôi cua quảng canh với tôm có thể cho thu từ 30 đến 40 triệu đồng tiền cua. Giá của ở Cà Mau giao động ở nhiều mức giá khác nhau. Có thời điểm cua thịt, cua gạch lên đến 400 nghìn đồng/kg. Ông Hùng cho biết cua đều được thương lai thu gom và phân loại. Loại rẻ nhất cũng bán được 100 nghìn đồng/kg. Cua Cà Mau ngày càng thử lòng được nhiều người ăn nên đang có thương hiệu. Ông Hùng hi vọng trong thời gian sắp tới sản lương cua tăng, chất lượng cua Cà Mau càng được nhiều người biết đến.
Ở đây có rất nhiều người nuôi cua, vì nuôi cua ít vốn mà lại lời nhiều, có thể thả cua nuôi xen vào vuông tôm sú để tăng thu nhập. Ngoài ra, thị trường tiêu thụ cua cũng khá ổn định”. Trong những ngày giáp Tết Nguyên đán 2013, giá cua gạch là 450.000 đồng/kg, còn cua y dao động từ 180.000 – 220.000 đồng/kg. Điều này đã làm cho nông dân an tâm và tiếp tục đầu tư nhân rộng mô hình nuôi cua biển. Do huyện Đông Hải nằm ven biển và có nhiều cánh rừng ngập mặn, nên lượng cua giống tập trung ở đây khá nhiều. Vì thế, nguồn giống chủ yếu được cung cấp từ địa phương và rất dồi dào.
Cua biển thích hợp với môi trường nước mặn, vốn đầu tư không nhiều, dễ nuôi, không đòi hỏi kỹ thuật cao, ít bệnh mà lãi nhiều. Vì vậy, nhiều nông dân đã nuôi cua biển để phát triển kinh tế gia đình. Mô hình này chẳng những tiết kiệm chi phí mua thức ăn. Cua thường sử dụng nguồn thức ăn có sẵn trong ao nuôi như cá tạp, ốc, còng… mà còn ít bị rủi ro trong quá trình nuôi.
Anh Danh trú tại xã Long Điền Tây, huyện Đông Hải, Cà Mau cho biết, ở đây có rất nhiều người nuôi cua, vì nuôi cua ít vốn mà lại lời nhiều, có thể thả cua nuôi xen vào vuông tôm sú để tăng thu nhập. Điều này đã làm cho nông dân an tâm và tiếp tục đầu tư nhân rộng mô hình nuôi cua biển.
Do huyện Đông Hải nằm ven biển và có nhiều cánh rừng ngập mặn, nên lượng cua giống tập trung ở đây khá nhiều. Vì thế, nguồn giống chủ yếu được cung cấp từ địa phương và rất dồi dào. Bà con chỉ cần chọn mua cua giống thả xuống vuông để nuôi cùng cá, tôm các loại. Sau một thời gian, cua cho thu hoạch. Giá cua ổn định nên bà con hăng hái nuôi cua biển.
Theo chi cục Lâm nghiệp tỉnh Cà Mau, rừng ngập mặn là rừng thuộc hệ nước mặn ven biển, tập trung ở các huyện Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc Hiển, Phú Tân, U Minh và Trần Văn Thời nhưng tập trung nhiều nhất ở 2 huyện Năm Căn và Ngọc Hiển. Nếu như tổng diện tích rừng ngập mặn của Cà Mau là 35.000ha thì riêng huyện Ngọc Hiển là 25.000ha. Rừng ngập mặn chủ yếu là cây đước, cây mắm, cây vẹt
Giá trị của rừng ngập mặn chỉ làm chức năng phòng hộ, chống sạt lở ven biển, cân bằng môi trường thiên nhiên, ngoài ra giá trị kinh tế thì rất thấp nhưng ngày nay bà con ở đây đã mở ra cách sản xuất mới là tận dụng mặt nước dưới chân rừng thả nuôi các loài thủy sản.
Ngày trước người dân chủ yếu nuôi tôm nhưng nuôi tôm độc canh thu nhập hạn chế nên nhiều hộ đã mở rộng nuôi cua và nhiều loại cá.
Anh Nguyễn Văn Hứa xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển cho biết nuôi cá dưới chân rừng rất đơn giản, chỉ cần be bờ bao để phân biệt ranh giới đất giữa hộ này với hộ khác rồi thả cá xuống dưới các vuông là xong.Cá nuôi tự nhiên không cần đầu tư nhiều từ thức ăn đến kỹ thuật.
Hiện nay một số loại cá đặc sản ở Cà Mau có giá trị kinh tế cao như cá mao ếch, cá thòi lòi, các lóc, cá kèo...Thời gian bắt đầu thả nuôi 3 tháng, sau đó cho thu nhập hàng ngày. Nhờ hình thức sản xuất này, gần đây cuộc sống của người dân đã bớt khó khăn. (Bộ Thông Tin Và Truyền Thông 14/8) đầu trang(
Theo Quyết định phê duyệt đơn giá cây giống phục vụ cho công tác trồng rừng trên địa bàn tỉnh năm 2015, mức đơn giá giống một số loại cây trồng chính như: Keo, mỡ, thông, sao mộc…đều giảm so với năm 2014. Điều này khiến nhiều đơn vị sản xuất cây giống gặp khó khăn khi đầu tư gieo ươm với số lượng lớn.
Xí nghiệp lâm nghiệp Chợ Đồn là một trong hai đơn vị cung ứng giống cây trồng rừng cho huyện Chợ Đồn. Năm 2015, xí nghiệp gieo ươm trên 90 vạn cây giống các loại, chủ yếu là giống quế, keo, mỡ, lát…Để phục vụ cho công tác trồng rừng, sau khi huyện Chợ Đồn hoàn thành việc đăng ký nhu cầu trồng rừng của người dân trong tháng 10, đơn vị đã tiến hành gieo ươm cây giống.
Ông Lý Phương Suy- Phó Giám đốc xí nghiệp Lâm nghiệp Chợ Đồn cho biết, năm nay, giá một số loại hạt giống tăng, trong khi giá cây giống giảm đã gây không ít khó khăn cho đơn vị, chỉ cần khi nghiệm thu chênh lệch tỷ lệ khoảng 10- 15% là đơn vị sẽ bị thiệt hại.
Theo Quyết định của UBND tỉnh về việc phê duyệt đơn giá cây giống phục vụ trồng rừng trên địa bàn tỉnh sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước năm 2015, so với năm 2014 thì một số loại cây người dân đầu tư trồng nhiều giá lại giảm, một số loại cây trồng phân tán nhu cầu gieo ươm ít lại tăng nhẹ như cây mỡ bầu giá từ 810 đồng giảm xuống còn 757 đồng, giá cây keo úc từ 870 đồng giảm xuống còn 824 đồng, cây sao mộc có bầu từ 900 đồng giảm còn 870 đồng…
Theo nhiều vườn ươm phục vụ công tác trồng rừng năm 2015, ngoài việc giá giống giảm, việc thanh quyết toán tiền cây giống phụ thuộc vào tỷ lệ nghiệm thu trồng rừng. Đối với giống quế, năm 2015 mức phê duyệt giá cây giống, hạt giống quế của tỉnh Yên Bái cao.
Trong khi  các vườn ươm trên địa bàn tỉnh chủ yếu là mua giống quế từ năm trước của Yên Bái về phục vụ cho nhu cầu trồng rừng năm sau, nên thời gian lưu vườn, chăm sóc cây giống sẽ mất nhiều chi phí.
Chính vì vậy, để đảm bảo nguồn giống cung ứng cho trồng rừng, ngành chuyên môn của tỉnh cũng cần khảo sát và phê duyệt đơn giá  từng loại cây giống cho phù hợp  và cần thực hiện sớm để các đơn vị gieo ươm giống chủ động hơn trong việc sản xuất cây giống. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 14/8) đầu trang(
Để thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng vùng giáp ranh giữa 2 địa phương, ngày 13-8, UBND tỉnh Quảng Nam cho hay đã có công văn gởi UBND TP Đà Nẵng đề nghị sớm giải quyết dứt điểm tình trạng chồng lấn đất lâm nghiệp tại xã Tư (H. Đông Giang, Quảng Nam) và xã Hòa Bắc, H. Hòa Vang, Đà Nẵng).
Theo đó, phía tỉnh Quảng Nam đề nghị UBND TP Đà Nẵng chỉ đạo các đơn vị liên quan đẩy nhanh tiến độ, sớm hoàn thành việc di dời Trạm quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông đến vị trí mới trên địa phận Đà Nẵng; đồng thời, xử lý cây trồng trên đất và bàn giao đất lại cho H. Đông Giang quản lý, phát triển rừng đảm bảo mục đích phòng hộ đối với diện tích đất do Lâm trường Sông Nam giao khoán trên đất Quảng Nam. (Công An TP.Đà Nẵng 14/8) đầu trang(
Việc tiếp nhận, cứu hộ cây thông đỏ là cơ hội tốt cho tỉnh Lào Cai về bổ sung cơ cấu giống cây lâm nghiệp, đặc biệt có giá trị kinh tế cao và có thể áp dụng trồng trong vùng đệm Vườn Quốc gia Hoàng Liên - nơi có tiểu vùng khí hậu phù hợp với loài này.
Tháng 1/2015, Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và phát triển sinh vật Hoàng Liên (Vườn Quốc gia Hoàng Liên) đã tiếp nhận và cứu hộ thành công 3,5 vạn giống cây thông đỏ (xuất xứ từ Hàn Quốc) từ Chi cục Kiểm lâm Hải Phòng. Sau 6 tháng tiếp nhận, cứu hộ, đến nay, hầu hết số cây thông đỏ bắt đầu sinh trưởng, phát triển tốt với tỷ lệ sống trên 90%.
Ông Lương Văn Hào, Giám đốc Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và phát triển sinh vật Hoàng Liên cho biết: Đây là lần đầu tiên Trung tâm tiếp nhận cứu hộ thực vật từ tỉnh khác với số lượng lớn, cũng là loài nhập nội có trong danh mục Cites (Công ước Quốc tế về buôn bán các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp).
Theo Viện Sinh thái và Tài nguyên thực vật, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, loài thông đỏ có xuất xứ từ Hàn Quốc đang được cứu hộ tại Sa Pa thuộc họ Thanh tùng, là loại cây quý hiếm, nằm trong danh mục thực vật hoang dã, có thể phát triển, nhân trồng ở Sa Pa và một số vùng trong tỉnh Lào Cai có độ cao tương tự.
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, loài thông đỏ có giá trị về y dược, dùng để chiết suất tinh dầu chữa bệnh, đang được các nước Trung Quốc, Hàn Quốc trồng để sản xuất dược liệu. Vỏ và lá cây chứa các hoạt chất có tác dụng chữa trị bệnh ung thư. Hiện, ở Việt Nam chỉ có khoảng 40 cây thông đỏ, phân bố chủ yếu ở tỉnh Lâm Đồng.
Căn cứ đề xuất của Vườn Quốc gia Hoàng Liên về trồng thử nghiệm loài thông đỏ tại Sa Pa hoặc vùng cao tương tự trong tỉnh để khảo nghiệm, đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và khai thác giá trị về kinh tế, môi trường, làm cơ sở nhân trồng, phát triển trong tương lai, mới đây, Chủ tịch UBND tỉnh Doãn Văn Hưởng đã có văn bản đồng ý cho Vườn giữ lại 2.000 cây để thực hiện Dự án bảo tồn và phát triển cây thông đỏ tại Sa Pa.
Số còn lại bán thanh lý cho các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực khoa học, kỹ thuật, tài chính đảm bảo việc bảo tồn phát triển theo quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Nghị định 32 và Nghị định 160 của Chính phủ về Quản lý loài thuộc danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm…
Ông Nguyễn Quang Vĩnh, Giám đốc Vườn Quốc gia Hoàng Liên cho biết: Vườn Quốc gia Hoàng Liên đã chỉ đạo Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và phát triển sinh vật Hoàng Liên tiến hành chuyển cây ra bầu, chăm sóc cây giống đủ tiêu chuẩn xuất vườn.
Sau khi kết thúc quá trình cứu hộ, sẽ tiến hành trồng 2.000 cây, số còn lại giao cho các doanh nghiệp có đủ năng lực thực hiện nhân trồng theo chỉ đạo của UBND tỉnh. Loài thông đỏ nếu trồng thành công tại Sa Pa sẽ bổ sung cơ cấu giống cây lâm nghiệp nhập nội có giá trị kinh tế cao và tạo môi trường, cảnh quan sạch, đẹp.
Công tác cứu hộ và bảo tồn các loài động - thực vật có giá trị nói chung và loài thông đỏ nói riêng rất cần thiết, thiết nghĩ, tỉnh nên ban hành quy chế cứu hộ, bảo tồn động- thực vật có giá trị trong tỉnh, làm cơ sở cho việc cứu hộ, bảo tồn kết hợp với phát triển kinh tế ở địa phương. (Báo Lào Cai 14/8) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Các đám cháy rừng đang bùng ra ở nhiều nơi trong vùng miền Tây khô cằn của Hoa Kỳ, thiêu rụi nhiều căn nhà và buộc dân chúng phải di tản. Ðặc biệt tại California, ở một số nơi đã có những người phải di tản lần thứ nhì chỉ trong vài tuần lễ vì ngọn lửa lại bùng lên đe dọa nơi ở của họ.
Ở vùng Bắc California, các đám cháy lan rộng hơn hôm Thứ Ba khiến có thêm nhiều người phải di tản, trong số này có những người chỉ mới quay trở về nhà thời gian gần đây sau khi một đám cháy lớn gần đó từng đe dọa căn nhà của họ.
Ðám cháy rừng, cách thành phố San Francisco chừng 160 km về phía Bắc, thiêu rụi gần 22 dặm vuông tính tới tối ngày Thứ Hai và chỉ mới kiểm soát được khoảng 5%, theo cơ quan lâm viên California.
Ðám cháy này, vốn bùng ra vào ngày Chủ Nhật, chỉ cách khu dân cư Lower Lake vài cây số, tăng gấp đôi khu vực đe dọa dù rằng thời tiết mát và ẩm hơn.
Hơn 1,000 lính cứu hỏa đang ra sức dập tắt ngọn lửa, may mắn là cho đến nay không ai bị thương hoặc nhà nào bị cháy.
Trong khi đó, ở tại một đám cháy kế cận, bùng ra khoảng hai tuần trước đây, lính cứu hỏa coi như sắp bao vây ngăn chặn để không lan rộng khỏi khu vực vào khoảng 109 dặm vuông, vốn thiêu hủy khoảng 43 căn nhà.
Ở vùng Nam California, lệnh di tản được hủy bỏ sau khi lính cứu hỏa làm chủ tình hình tại một đám cháy ở Riverside County, nằm giữa thành phố Temecula và Palm Desert.
Hôm Thứ Hai, lệnh di tản được ban hành cho dân chúng sống ở khu phía Ðông xa lộ tiểu bang số 74. Tuy nhiên, lệnh này được hủy bỏ vào tối khuya ngày Thứ Ba.
Khắp khu vực khô cằn phía Tây Hoa Kỳ, các tiểu bang khác như Montana, và Arizona cũng đều đang phải đối phó với cháy rừng, huy động hàng ngàn lính cứu hỏa và phi cơ tham gia chữa cháy (Đất Việt 13/8) đầu trang(
Cảnh một chú rùa đau đớn khi được các bác sĩ lôi dị vật từ trong mũi ra cho thấy mối nguy hiểm của nhựa và những tác hại của nó đối với động vật hoang dã dưới biển.
Một con rùa đực Olive Ridley bị mắc kẹt ống hút nhựa dài 12cm trong mũi ở vùng biển Costa Rica. Một nhóm nghiên cứu đã giải cứu chú rùa và loại bỏ dị vật này ra. Ban đầu, họ nghĩ đó là một loài ký sinh.
Sau đó, họ cố để loại bỏ nó ra khỏi mũi con rùa bằng các dụng cụ có giới hạn và phát hiện ra đó là một ống hút.
Nhóm nghiên cứu quyết định dùng một cặp kìm để kéo ống hút ra ngoài. Quá trình lấy dị vật ra khỏi mũi vô cùng đau đớn. Sau đó, người quay video này nói rằng: "Đây là lý do chúng ta không cần các ống hút nhựa".
Sau quãng thời gian vật lộn để kéo chiếc ống hút ra khỏi mũi, con rùa bị chảy máu nhiều, nhưng giờ thì nó đã có thể hít thở thoải mái. Các nhà nghiên cứu đã khử trùng lỗ mũi bằng iodine và quan sát con rùa trong một thời gian trước khi trả nó về với biển. Sau khi lôi được chiếc ống hút ra, mũi nó đã ngừng chảy máu. (Tin Mới 15/8) đầu trang(
Bất chấp lệnh cấm của chính quyền, một nhóm leo núi Trung Quốc đã hái trộm hàng trăm bông "Thiên Sơn tuyết liên" - hoa sen trắng mọc trên núi tuyết Thiên Sơn và khoe trên mạng.
Theo CCTV, nhóm 31 người leo núi đã nhổ hàng trăm bông hoa sen trên đỉnh núi Thiên Sơn - một dãy núi nằm ở khu vực Trung Á, giữa biên giới tây bắc Tân Cương (Trung Quốc) và Kazakhstan.
Năm 1996, tuyết liên được xếp vào nhóm bảo vệ thực vật cấp hai ở Trung Quốc. Năm 2000, chính quyền nước này ban hành văn bản, nhấn mạnh không được phép đào hoặc ngắt trộm tuyết liên hoang dã.
Tuy nhiên, bất chấp luật pháp, nhóm leo núi không thừa nhận hành vi hái trộm hoa. Theo Xinhua, nhóm này leo núi Thiên Sơn từ 27/7-7/8 và đưa ảnh lên mạng. Những hình ảnh lan truyền với tốc độ chóng mặt trên mạng xã hội, vấp phải vô số chỉ trích. Hiện nhóm này đang bị Cục kiểm lâm Tân Cương điều tra.
Theo DBW, tuyết liên được gọi là "Bách thảo chi vương" (Vua của trăm loài dược thảo). Đây là loài cây hiếm, chỉ sinh trưởng ở trên núi cao 2.500-4.000 mét so với mực nước biển. Nó mọc trong các khe núi đá, là loài sinh trưởng chậm, mất 5-7 năm từ lúc nảy mầm đến khi nở hoa, và chỉ 5% số hạt có thể nảy mầm.
Hạt tuyết liên nảy mầm ở nhiệt độ 0 độ C, sinh trưởng trong điều kiện 3-5 độ C, và chịu được lạnh -21 độ C. Nó có thể nảy mầm, sinh trưởng và ra hoa trong thời gian ngắn, là kết quả của quá trình thích nghi với môi trường khắc nghiệt trên núi tuyết ở khu vực Tân Cương, Tây Tạng.
Mặc dù mất 5-7 năm từ lúc nảy mầm đến khi nở hoa nhưng quá trình tăng trưởng thực tế của nó chỉ diễn ra trong khoảng 8 tháng. Đây là đặc điểm sinh học độc đáo mà hiếm loài nào có được.
Tuyết liên được sử dụng trong y học cổ truyền Tây Tạng hàng nghìn năm nay. Nó giàu alkaloid, flavonoid và nhiều chất khác, có tác dụng tăng cường khí huyết, đặc biệt hữu hiệu trong việc thúc đẩy lưu thông máu, từ đó tăng cường âm dương cho nam giới và nữ giới. Ngoài ra, nó có chất hạ sốt và giải độc tự nhiên, thường sử dụng để chữa viêm thấp khớp.
Theo các nhà khoa học Vườn thực vật Missouri (Mỹ) sự bùng nổ kinh tế Trung Quốc và làn sóng khách du lịch đổ về Tây Tạng, Tân Cương thập kỷ trước khiến nhu cầu sử dụng tuyết liên tăng cao. Những người thu hái thuốc truyền thống chỉ hái những bông lớn và lượng nhỏ đủ dùng. Tuy nhiên, đồn thổi về tính chất quý hiếm và công dụng của nó dẫn đến khai thác quá đà và đe dọa tuyệt chủng.
Tân Cương năm 2007 tuyên bố loài hoa trắng mọc trên núi tuyết này là thực vật bảo vệ cấp quốc gia. Việc khai thác tuyết liên phải trong vùng quy hoạch, do cơ quan quản lý thực vật hoang dã cấp phép. (VnExpress 15/8) đầu trang(
Rừng là nơi lưu giữ nhiều “chứng tích” lịch sử của Trái đất, nhất là với những cây có tuổi đời lên đến cả nghìn năm.
Đồng thời, rừng cũng là “ngôi nhà” của những loài động vật quý hiếm và như “lá phổi” giúp điều hòa không khí. Tuy nhiên, do nạn chặt phá rừng bừa bãi, nên diện tích rừng lâu năm ngày càng thu hẹp khiến những khu rừng cổ trở thành của hiếm.
Định nghĩa thế nào là rừng già ở mỗi tổ chức, đơn vị lại khác nhau. Tuy nhiên, có một đặc điểm chung là khu rừng đó phải hơn 150 năm tuổi gồm những cây đang còn sống và đã “héo khô” với hệ sinh thái đa dạng và có những ảnh hưởng mà con người có thể nhận thấy.
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu và bảo tồn các khu rừng già để giảm khí carbon dioxide, “vá” tầng ozone ngày càng được quan tâm. Trải qua nhiều thế kỷ và thay đổi do sự phát triển của công nghiệp, các khu rừng có tuổi đời “lão làng” dần suy giảm và chỉ còn ở một vài nơi trên Trái Đất.
Khu rừng Tarkine (bang Tasmania, Úc); Ẩn sâu trong bang Tasmania là một trong những khu rừng nhiệt đới lớn nhất thế giới có tên gọi Tarkine. Đây là khu rừng nhiệt đới lớn thứ 2 trên hành tinh, nơi sinh sóng của một số loài thực vật sống lâu năm nhất trên Trái đất như cây họ lá kim (thông Huon).
Ở đây, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy nhiều bộ sưu tập hóa thạch chứng minh tuổi thọ cao nhất của cây ở nơi đây từng lên đến 3.000 năm. Khu rừng cũng có mùi thơm đặc biệt và kéo dài, hấp dẫn các thổ dân - những người đã sống hơn một thiên niên kỷ qua tại đây. Ngoài các cây có niên đại hàng trăm năm, khu rừng “cổ” này còn các loài động vật chỉ xuất hiện ở đây như quỷ Tasmania. Hiện tại, rừng Tarkine đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ, đe dọa đến sự tồn vong.
Rừng Yakushima (đảo Osumi, Nhật Bản) : Nằm trên chuỗi đảo phía nam của Nhật Bản, Osumi ẩn giấu một trong những khu rừng lâu năm có thảm thực vật đa dạng nhất thế giới. Hòn đảo rộng 200 dặm vuông, sở hữu Yakushima - “thiên đường sinh thái” với gần 2.000 loài thực vật, trong đó có loài tuyết tùng Nhật Bản Yakusugi.
Những cây tùng này có thể cao gần 50m. Jomon Sugi là cây tuyết tùng cổ xưa nhất khi đã 7.200 tuổi. Với độ tuổi này, nó đã lọt vào danh sách những cây lâu đời nhất trên thế giới. Thực tế, cây tuyết tùng Nhật Bản trong khu rừng này đều rất “cổ”. Thậm chí, người dân địa phương còn tin rằng chúng rất thiêng.
Rừng quốc gia (đảo Prince of Wales, Alaska, Mỹ): Rừng quốc gia lớn nhất của Mỹ cũng là nơi có những cây lâu đời nhất. Rừng mưa ôn đới này chứa nhiều chất hữu cơ cho mỗi tấc đất hơn bất kỳ khu rừng mưa nào khác trên thế giới. Đây là bộ sưu tập lớn nhất còn lại của cây lâu năm và chiếm gần 1/3 rừng cây ôn đới trên thế giới. Trước đó, vấn đề khai thác gỗ trong khu vực đã đe dọa hệ thực vật nơi đây. Theo Audubon Society, ước tính một nửa số rừng đã bị khai thác trong những năm qua.
Rừng Kakamega (Kakamega, Kenya): Khu rừng nhiệt đới duy nhất còn lại ở Kenya đang đấu tranh để sinh tồn. Khu rừng này từng là một trong những khu rừng “cao tuổi” có diện tích lớn nhất trên hành tinh. Nhưng giờ đây, quy mô của nó chỉ thu hẹp còn 89 dặm vuông. Một nửa diện tích khu rừng đã bị mất trong bốn thập kỷ qua do sự xâm lấn của con người, chiến tranh và sử dụng quá mức các nguồn tài nguyên rừng. Hiện tại, khu rừng này vẫn là nhà của 300 loài chim, khỉ Colobus và cây vả 700 tuổi.
Rừng Bialowieza (Ba Lan&Belarus): Đây là khu rừng già cuối cùng của châu Âu nằm ở biên giới Ba Lan và Belarus. Rừng Bialowieza chỉ rộng khoảng 580 dặm vuông, nhưng kích thước lại tỷ lệ nghịch với độ tuổi của những cây mọc nơi đây khi chúng có niên đại hàng ngàn năm.
Cùng với cây cối, khu rừng này còn sở hữu nhiều loài động vật hoang dã như loài bò bizon châu Âu. Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, loài này đã đứng trước bờ vực tuyệt chủng do nạn săn bắn và khai thác gỗ quá mức. Tuy nhiên, năm 1951, Chính phủ Ba Lan đã lai tạo và bảo vệ loài bò quý hiếm này. Hiện tại, khu rừn này còn khoảng 1.500 con bò bizon sinh sống. (Sống Mới 15/8) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang