Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 14 tháng 09 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Ngày 11/9, Thanh tra giao thông tỉnh Đồng Nai chuyển giao hai xe tải mang biển số giả của quân đội và số lượng gỗ vận chuyển trên xe cho Công an tỉnh Đồng Nai để xử lý theo quy định.
Trước đó, ngày 10/9, tổ công tác đặc biệt thuộc lực lượng TTGT chống xe quá tải phát hiện 2 xe tải mang biển số quân đội gồm TH-3169 và TH- 3171 (Cục Vận tải - Tổng cục Hậu cần) chở gỗ lưu thông trên quốc lộ 51 đoạn tỉnh Đồng Nai có dấu hiệu chở quá tải. Kiểm tra 2 xe này, tổ công tác phát hiện toàn bộ biển số, giấy tờ xe, tem kiểm định, giấy phép lưu hành, giấy phép lái xe, giấy chứng nhận nộp phí đường bộ đều được làm giả.
Kiểm tra số khung, số máy hai xe tải này, lực lượng thanh tra giao thông xác định, một chiếc có nguồn gốc biển số đăng ký ở Đồng Nai được đăng ký ở TPHCM do tư nhân đứng tên và đều hết hạn đăng kiểm từ năm 2014. (Tiền Phong 12/9) đầu trang(
Theo báo cáo của ngành Kiểm lâm, mỗi năm tỉnh ta mất đi hàng chục ha rừng; trong đo, nguyên nhân chủ yếu là do cháy rừng, gây thiệt hại lớn đối với tài sản của con người, tài nguyên rừng và môi trường sống.
Thực hiện Dự án nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) cho lực lượng Kiểm lâm tỉnh giai đoạn 2011 – 2015, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã triển khai “Phần mềm cảnh báo nguy cơ cháy rừng” dựa trên công nghệ ảnh vệ tinh. Sau gần 1 năm triển khai thực hiện, phần mềm đã mang lại nhiều kết quả tích cực, góp phần nâng cao tính chủ động trong công tác PCCCR trên địa bàn tỉnh.
Được triển khai từ cuối năm 2014, phần mềm cảnh báo nguy cơ cháy rừng dựa trên công nghệ ảnh chụp từ vệ tinh, mọi điểm nghi cháy trên địa bàn toàn tỉnh sẽ được phát hiện và thông báo bằng tin nhắn qua điện thoại di động đến lãnh đạo UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Kiểm lâm, Hạt Kiểm lâm các huyện, thành phố; qua đó, giúp cho Ban chỉ huy PCCCR từ tỉnh đến cơ sở nhanh chóng nắm bắt và chỉ đạo xác minh, báo cáo các điểm cháy nhanh và kịp thời, góp phần nâng cao tính chủ động trong công tác PCCCR.
Bên cạnh đó, phần mềm cho phép dự báo các khu vực có nguy cơ cháy rừng dựa trên những tính toán khoa học, đưa ra kết quả dự báo nhanh chóng và mang tính cập nhật cao. Hệ thống tuy không trực tiếp ngăn chặn việc cháy rừng xảy ra, nhưng có khả năng vạch ra các khu vực có nguy cơ cháy rừng cao và đánh giá mức độ nguy hiểm, giúp các cơ quan chức năng đưa ra giải pháp PCCCR và đề ra phương án quản lý rừng hiệu quả hơn.
Đồng chí Bùi Văn Đông, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: Phần mềm cảnh báo nguy cơ cháy rừng được cập nhập thường xuyên và chính xác, những dấu hiệu của đám cháy sẽ nhanh chóng được chụp ảnh từ vệ tinh. Đồng thời, địa điểm cháy sẽ được phần mềm xác định, có thông báo tin nhắn cụ thể đến các đồng chí trong Thường trực Ban Chỉ đạo PCCCR từ tỉnh đến cơ sở.
Ngay sau khi nhận được thông báo, lực lượng Kiểm lâm sẽ nhanh chóng phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương phối hợp với nhân dân, các tổ, đội PCCCR tại cơ sở kịp thời triển khai các biện pháp chữa cháy rừng. Trong 7 tháng đầu năm 2015, phần mềm đã giúp cảnh báo, phát hiện sớm 187 điểm cháy trong toàn tỉnh. Qua công tác kiểm tra, điều tra xác minh phát hiện 42 vụ cháy rừng, trảm cỏ với diện tích bị cháy là 156,022 ha...
Bên cạnh việc ứng dụng hiệu quả của phần mềm, Chi cục Kiểm lâm tỉnh còn chỉ đạo các Hạt Kiểm lâm phân công, đôn đốc kiểm lâm viên bám sát địa bàn, thường trực trong công tác PCCCR; nhanh chóng phát hiện điểm cháy một cách chính xác để huy động lực lượng chữa cháy kịp thời khi có cháy rừng sảy ra, nâng cao tính chủ động trong công tác PCCCR.
Việc ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác quản lý, bảo vệ rừng của Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã góp phần bảo vệ hiệu quả diện tích rừng hiện có, đảm bảo độ che phủ của rừng; tăng cường sự hợp tác, phối hợp giữa các lực lượng, các ngành, địa phương và cộng đồng nhằm thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ, PCCCR; mọi vụ cháy khi phát hiện đều được chữa cháy kịp thời, giảm thiệt hại tối đa về kinh tế do cháy rừng gây ra. (Báo Hà Giang 12/9) đầu trang(
Hiện nay, tại TP.HCM, các loài động vật hoang dã được vận chuyển bằng xe gắn máy và buôn bán một cách công khai tại nhiều nơi trên địa bàn thành phố.
Cheo Nam Dương - một loài động vật hoang dã có tên trong Sách đỏ Việt Nam. Theo luật, để buôn bán loài này, phải được cơ quan chức năng cấp phép. Thế nhưng, không cần phép, con cheo vẫn được bán công khai trên đường phố TP.HCM như một thứ “đặc sản đến từ thiên nhiên”, với giá 1,5 triệu/con... (Đài Truyền Hình Việt Nam 12/9) đầu trang(
Mới đây nhất, cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) cùng các lực lượng chức năng khám xét container số hiệu WHLU191192 đang nằm tại cảng Tiên Sa (TP.Đà Nẵng) phát hiện hơn 220 bao chứa ngà voi và vảy tê tê núp bóng trong các bao hàng đậu đỏ.
Trao đổi với PV báo ĐS&PL vào sáng 31/8, đại diện cục Điều tra chống buôn lậu xác nhận đang tiếp tục điều tra làm rõ nguồn gốc và chủ nhân của lô hàng trên. Thế nhưng, những lời đồn về tác dụng chữa bệnh thần kỳ của vảy tê tê như: Chữa ung thư, tiểu đường, bổ thận tráng dương... đang khiến cho nhiều người sẵn sàng bỏ cả “núi tiền” để săn lùng về dùng. Nó đã đẩy loài động vật trên vào con đường tuyệt chủng. Tuy nhiên, công dụng của loại “thần dược” này lại không phải như vậy.
Hiện nay, tác dụng của vảy tê tê đang được bao phủ bởi lớp lớp tin đồn khiến cho nhiều người mắc lừa và sẵn sàng bỏ tiền triệu để mua về với hy vọng có thể chữa khỏi bệnh. Nhiều người coi vảy tê tê là “thần dược” có thể chữa bệnh ung thư, tiểu đường, các khối u, tăng cường bản lĩnh đàn ông... khiến giá mặt hàng này cao ngất ngưởng. Theo tìm hiểu của PV báo ĐS&PL, mặt hàng vảy tê tê tại TP.HCM có mức giá khá cao so với thời gian trước đây do nguồn cung khan hiếm. Những người có nhu cầu mua loại “thần dược” này để chữa bệnh phải đặt hàng trước từ các đầu nậu.
Tiết lộ thông tin với PV, một đầu nậu chuyên mua bán tê tê tại các tỉnh phía Nam có biệt danh là B. “tê tê” cho hay: “Gần 1 năm trở lại đây, mặt hàng tê tê tại TP.HCM và các tỉnh phía Nam vô cùng khan hiếm do nguồn cung ít và các cơ quan chức năng siết chặt việc quản lý. Hiện tại một con tê tê nặng khoảng 4kg có giá khoảng 7-8 triệu đồng/con, còn vảy của nó cũng có giá không dưới 6 triệu đồng/kg. Nếu khách hàng mua một con tê tê sống, nặng khoảng 4kg thì phải trả tổng số tiền từ 13 tới 14 triệu đồng”.  Khi hỏi về những loại tê tê được bán trên thị trường hiện nay có nguồn gốc trong nước hay nhập từ nước ngoài, thì B. tê tê cho biết: “Hàng tại TP.HCM và các tỉnh phía Nam chủ yếu nhập từ Campuchia và các nước châu Phi về. Tiếp cận nguồn hàng này chủ yếu là các đầu nậu lớn, sau đó sẽ phân phối cho các cấp dưới để bán cho người dân”.
Mặc dù buôn bán mặt hàng này nhưng chủ đầu nậu trên cũng rất mơ hồ về tác dụng của vảy tê tê, B. “tê tê” bày tỏ: “Hiện nay, những người tìm mua vảy tê tê chủ yếu dùng để chữa bệnh, đặc biệt là các bệnh nan y. Tôi không rõ công dụng của vảy tê tê thế nào nhưng do thấy nhu cầu lớn nên tôi mới tìm cách nhập về để kinh doanh”.
Tiếp tục tìm đến những cửa hàng bán dược liệu trên địa bàn TP.HCM, PV ghi nhận tình hình kinh doanh mặt hàng này khá nhộn nhịp. Tại một cửa hàng chuyên cung cấp mặt hàng vảy tê tê tại Q.5, TP.HCM, bà chủ tên L. tiết lộ: “Tại cửa hàng của tôi, vảy tê tê đã qua sơ chế được chiên chín có giá 8-9 triệu đồng/kg, còn vảy tê tê thô chưa qua chế biến có giá 12-13 triệu đồng/kg”. Trong khi đó, tại một cửa hàng dược liệu tại quận 10 (TP.HCM) thì giá vảy tê tê cao hơn một chút”. Ông chủ cửa hàng tên Bảo nói: “Vảy tê tê chiên chín có giá 10 triệu đồng/kg, chưa chiên có giá 13 – 14 triệu đồng/kg. Muốn mua bao nhiêu chúng tôi đều có sẵn”.
Thực tế trên đã phần nào cho thấy, mặc dù bị kiểm soát rất chặt chẽ trong việc vận chuyển, buôn bán nhưng vảy tê tê vẫn được các tay buôn săn lùng ráo riết. Chỉ tính trong vòng tháng 8/2015, cơ quan chức năng đã bắt giữ hai vụ vận chuyển vảy tê tê với số lượng lớn. Ngày 15/8/2015, chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (TP.HCM) đã bắt giữ lô hàng 42,2kg vảy tê tê.
Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất xác định lô hàng này có nguồn gốc từ Nigeria, qua Thổ Nhĩ Kỳ rồi nhập về Việt Nam. Lô hàng vảy tê tê này được khai báo là đồ dùng cá nhân nhưng hiện tại vẫn chưa xác minh được ai là chủ của lô hàng này.
Trước những thông tin gây hoang mang dư luận về công dụng của vảy tê tê, PV báo ĐS&PL đã có cuộc trao đổi với các bên liên quan nhằm đi tìm sự thật đằng sau những lời quảng cáo có cánh về loại “thần dược” này. Ông Nguyễn Xuân Lưu, Chi cục trưởng chi cục Kiểm lâm TP.HCM phân tích: “Tê tê là động vật nằm trong danh mục bị cấm mua bán, kinh doanh. Tê tê còn là động vật hoang dã, đặc biệt quý hiếm, có nguy cơ bị tuyệt chủng. Thời gian qua, nhu cầu mua bán, kinh doanh về vảy tê tê là rất lớn. Tôi khẳng định rằng, vảy tê tê và các thứ liên quan đến tê tê không có tác dụng chữa bệnh, đặc biệt là bệnh ung thư như lời đồn thổi. Những thông tin đồn thổi do các đối tượng buôn bán tung ra để trục lợi”.
Trao đổi về đặc tính của vảy tê tê trong đông y, lương y Vũ Quốc Trung (chủ trì phòng chẩn trị Y học cổ truyền chùa Cảm Ứng, Hà Nội) phân tích: “Trong y học cổ truyền, vảy tê tê có tên thuốc là xuyên sơn giáp, vị mặn, mùi hơi tanh, tính hơi lạnh, không độc, có tác dụng vào hai kinh can và vị, có tác dụng giải độc, tiêu viêm, giảm đau, lợi sữa... Vì thế tác dụng chính của vảy tê tê chỉ là chữa tắc tia sữa, chữa vết lở loét, mụn nhọt. Ngoài ra không có tác dụng gì khác cả. Tuy nhiên, với những căn bệnh trên thì có nhiều thuốc chữa được tốt hơn vảy tê tê. Ví dụ chữa tắc tia sữa thì có thể dùng các thuốc như bồ công anh, bạch truật... để thay thế. Do đó bỏ tiền triệu để mua vảy tê tê chữa bách bệnh là không cần thiết. Đối với những bệnh nan y thì vảy tê tê hoàn toàn không có tác dụng”.
Là một chuyên gia nghiên cứu nhiều năm về tê tê, thạc sỹ Nguyễn Tấn Thanh, chuyên gia động vật học tại TP.HCM khẳng định: “Thực tế cho thấy, y học hiện đại không hề dùng sừng, vảy, thịt tê tê làm thuốc chữa bệnh. Bên cạnh đó, cũng không có chứng cứ khoa học nào chứng minh vảy tê tê, đặc biệt là sừng tê tê chữa được bệnh ung thư. Qua báo ĐS&PL, tôi xin khẳng định các “thần dược” như vảy tê tê, sừng tê tê, cao hổ cốt... chỉ là những lời đồn đại, truyền miệng mà thôi”.
Trong khi đó, Giáo sư Nguyễn Lân Dũng, chuyên gia trong lĩnh vực sinh học cho rằng: “Thực chất những lời đồn đại trên có thể bắt nguồn từ phường buôn động vật hoang dã. Chúng đơm đặt thái quá nhằm nâng giá trị của con vật. Càng có nhiều người “thần tượng” tê tê thì loài này càng lên giá, giá thị trường mỗi con tê tê lên đến hơn 10 triệu đồng trong khi mua tại rừng từ cánh phường săn chỉ chưa đến 2 triệu đồng. Chính lợi nhuận kếch sù ấy đã thúc đẩy cánh phường săn, dân buôn tích cực săn lùng, phịa đủ thứ chuyện ly kỳ về sức mạnh của loài tê tê để dễ bề dụ khách. Sách đỏ Việt Nam hiện xếp tê tê vào nhóm V (nhóm động vật nguy cấp, có nguy cơ tuyệt chủng). Vì thế buôn bán động vật này là hành vi vi phạm pháp luật”.
Theo chia sẻ của lương y Vũ Quốc Trung thì trên thị trường hiện nay, tỉ lệ người mua phải vảy tê tê giả là rất cao. “Tôi đảm bảo hầu hết người mua đều sẽ mua phải hàng chất lượng thấp chứ không có hàng thật. Bởi lẽ hiện nay nhiều đối tượng hay dùng móng lợn, nướng lên trông rất giống với vảy tê tê. Hơn nữa, móng lợn cũng có tác dụng lợi sữa nên người tiêu dùng chắc chắn không thể phát hiện ra nếu tỉ lệ pha trộn phù hợp”, lương y Trung nói. (Đời Sống Và Pháp Luật 13/9) đầu trang(
Từ tiếng kêu cứu qua điện thoại, phóng viên Báo Lao Động vượt quãng đường hơn 100km từ TP.Vinh lên xã Yên Hợp (Quỳ Hợp, Nghệ An) để điều tra về nạn phá rừng. Vượt qua nhiều đèo dốc gian nan, chúng tôi đã tận mắt thấy rừng nguyên sinh đầu nguồn ở Quỳ Hợp đang bị tàn phá nặng nề.
“Anh lên giúp chúng em với, rừng đầu nguồn ở đây đang bị chặt phá hết rồi. Mai đây bọn em sẽ không còn nước để sinh hoạt, cấy lúa nữa” - Vi Văn T (một thanh niên bản Tạt, xã Yên Hợp) liên tục gọi điện kêu cứu. Đường vào bản Tạt phải đi quãng đường 7km đất đá lổn nhổn, nhiều con dốc cao, xe máy nhảy chồm chồm và liên tục để ở số 1.
Dọc đường, chúng tôi gặp một chiếc xe đầu ngang, loại xe đã bị Nhà nước xóa sổ nhưng ở đây vẫn hoạt động, chở đầy gỗ rừng đi ra. Theo hướng dẫn của T, để đến được nơi “lâm tặc” đang hoạt động, chỉ còn nước duy nhất là đi bộ, nhiều đoạn phải bò, vì quá dốc.
Đi hết bản Tạt, vượt qua con suối, lần theo lối mòn đá lổn nhổn và dốc đứng, thấy một rãnh dấu đất còn mới, vương nhiều vỏ cây rừng, dấu hiệu của những cây gỗ vừa được kéo qua. Một thanh niên cầm dao, mặc áo bảo hộ lao động xuất hiện.
Thấy người lạ, anh ta hỏi: “Anh đi đâu đấy?”. Trả lời: “Có anh bạn ở trong này, rủ đi xem suối bản Tạt”. “Các anh làm gì ở đây?” - chúng tôi hỏi lại. “Bọn em đi làm củi”, thanh niên này đáp gọn rồi nhìn chúng tôi với ánh mắt dò xét.
Sau đó, chúng tôi tiếp tục đi sâu vào rừng. Thì ra “củi” là những khúc gỗ tròn, dấu cưa còn rất mới, được sắp xếp khá gọn thành hai dãy, chừng 20 khúc. Đi thêm một quãng nữa, nhiều khúc gỗ tròn nằm rải rác dọc tuyến đường.
Nhiều chỗ đất có dấu đào, chứng tỏ con đường này được mở ra để kéo gỗ. Vệt kéo gỗ dài hun hút. Lên đỉnh một ngọn núi, những vạt núi lớn đã bị “cạo” trọc lóc, nhiều chỗ cây bị đốt cháy nham nhở, chỉ còn trơ lại vài gốc cây. Không biết bao nhiêu hécta rừng đã bị xóa sổ.
Theo Vi Văn T, những khoảnh rừng nói trên trước đây là rừng nguyên sinh, do Nông trường Đồng Hợp quản lý, mới được giao về cho địa phương quản lý, nhưng chưa cấp sổ đỏ cho dân.
Lợi dụng tình trạng “giao thời”, hàng chục hộ dân đã tổ chức lực lượng vào rừng khai thác gỗ tuồn ra ngoài. “Người ta mở đường, rồi đưa cả gà, lợn vào làm thịt trong đó để chặt gỗ” - T cho hay. Rừng ở bản Tạt có nhiều loại cây, nhưng nhiều nhất là cây táu, một loại cho gỗ rất cứng.
Đi dọc đường bản Tạt, thấy nhiều nhà dân dưới sàn chất đầy gỗ quý. Có những cây chặt đã lâu, có những cây mới chặt, có những khúc gỗ tròn, gỗ xẻ.
Để kéo gỗ từ trong rừng ra, chỉ có những con trâu mộng cực khỏe và được huấn luyện thành thục mới đảm đương nổi. Ra đến chỗ có đường, gỗ được đưa lên xe đầu ngang hoặc công nông rồi tuồn ra ngoài.
Đến nhà mấy lần không gặp, phóng viên hỏi ông Nhân - Trưởng bản Tạt - qua điện thoại: “Cháu thấy dân khai thác gỗ từ trong rừng ra nhiều lắm, bác có biết không?”. Ông Nhân đáp: “Hình như là có đấy, nhưng tôi đang đi làm nơi khác”. Sau một lúc trò chuyện, tôi giới thiệu là nhà báo, ông Nhân nói: “Tui biết rồi. Tui cũng cảm ơn nhà báo”.
Bà vợ ông trưởng bản cho hay, cách đây khoảng hơn chục năm, dân bản Tạt vào rừng còn chặt được những cây gỗ lim đường kính hàng mét. Nhưng sau đó, rừng bản Tạt cứ cạn kiệt dần, và nay người dân đang cố “vét” hết những cây gỗ cuối cùng.
Rời bản Tạt, ra đường 48 thuộc địa phận xã Yên Hợp, chúng tôi bắt gặp một xưởng mộc với kho gỗ chất cao ngồn ngộn. Xa xa, những dãy núi xưa kia là đại ngàn nay đã bị cạo trắng hếu, ngọn khói đốt cây vẫn còn vương vấn. (Lao Động 14/9) đầu trang(
Cuối năm 2014, hơn 10 tấn rùa biển (ước tương đương 7.000 cá thể rùa) được phát hiện tại 6 nhà kho ở TP.Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Đây được coi là vụ bắt giữ rùa biển lớn nhất từ trước đến nay ở VN, thu hút sự quan tâm rộng khắp của dư luận trong nước và quốc tế. Đối tượng cầm đầu đường dây buôn bán rùa biển này là hai anh em Hoàng Mạnh Cường và Hoàng Tuấn Hải. Nhưng tới nay (tháng 9.2015), vụ việc vẫn chưa được cơ quan chức năng tỉnh Khánh Hòa xử lý triệt để.
Vụ bắt giữ nói trên là thành quả sau hơn 2 năm Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) theo dõi chặt chẽ đường dây săn bắt và buôn bán rùa biển, từ những đối tượng chuyên đánh bắt rùa biển tại các địa phương đến các thương lái trung gian và mọi đầu mối đều dẫn đến đối tượng được cho là “ông trùm” đường dây - Hoàng Mạnh Cường.
Theo ENV, 2 đối tượng nói trên từ lâu đã được đặt trong “tầm ngắm” của lực lượng công an, nhưng sau nhiều năm, các cơ quan chức năng mới triệt phá được đường dây buôn bán và chế tác rùa biển này. Tại cơ sở chế biến rùa biển ở TP.Nha Trang, rùa biển được lọc thịt lấy mai, ngâm tẩm hóa chất và chế tác thành đồ mỹ nghệ, đưa sang tiêu thụ tại Trung Quốc.
Chỉ nhìn vào 7.000 cá thể rùa biển được khám phá trong vụ bắt giữ vừa qua cũng có thể thấy, chắc chắn hàng chục ngàn cá thể rùa biển đã bị săn bắt, bán cho cơ sở chế biến của anh em nhà Cường trong những năm qua. Do đó, thành công của vụ bắt giữ tại Khánh Hòa là một bước tiến lớn trong nỗ lực triệt phá đường dây mua bán rùa biển trái phép lớn nhất VN. Tuy nhiên, điều khó hiểu là, sau 9 tháng kể từ ngày vụ việc đầu tiên được phát hiện, Hoàng Mạnh Cường và anh trai vẫn chưa bị truy tố hay tạm giam.
Bà Bùi Thị Hà - Phó GĐ quản lý chương trình chính sách và pháp luật của ENV - đặt câu hỏi: “Liệu các cơ quan chức năng tỉnh Khánh Hòa có thực sự quyết tâm điều tra và xử lý nghiêm minh những đối tượng cầm đầu đường dây tàn sát rùa biển lớn nhất trong lịch sử này? Đây là vụ việc thu hút sự chú ý lớn của dư luận quốc tế, do đó, nó là một cơ hội lớn để VN chứng minh cho thế giới quyết tâm cao của quốc gia trong nỗ lực bảo vệ rùa biển và xử lý các đường dây tội phạm nghiêm trọng về động vật hoang dã (ĐVHD) nguy cấp quý hiếm”.
Bà Hà cho rằng: “Sự chậm trễ trong giải quyết vụ việc này đang dấy lên nhiều quan ngại về tính minh bạch trong quá trình điều tra và xử lý các đối tượng cầm đầu - những kẻ được cho là có tầm ảnh hưởng lớn tại địa phương nhiều năm qua”.
Ngày 14.5, sau khi vụ vận chuyển trái phép 31 sừng tê giác tại Nghệ An được phát hiện, Đại tướng Trần Đại Quang - Bộ trưởng Bộ Công an - lập tức có thư khen ngợi và “thưởng nóng” các lực lượng chức năng liên quan. Đối tượng trong vụ việc này sau đó cũng bị bắt giữ và khởi tố.
Các vụ liên quan tới buôn bán hổ trái phép cũng thường lập tức bị khởi tố, điển hình như vụ một cá thể hổ đông lạnh nặng 120kg bị tịch thu trên địa bàn tỉnh Nghệ An tháng 12.2014, các cơ quan chức năng đã khởi tố vụ án chỉ 7 ngày sau khi phát hiện.
Theo quy định của pháp luật VN, hổ, tê giác hay các loài rùa biển là những loài ĐVHD được bảo vệ ở cấp độ cao nhất. “Vậy, tại sao vụ việc liên quan hơn 7.000 cá thể rùa biển bị sát hại lại không được các cơ quan chức năng ở Khánh Hòa quan tâm xử lý như vụ bắt giữ 31 sừng tê giác hay một cá thể hổ đông lạnh ở các địa phương khác?”, bà Bùi Thị Hà đặt câu hỏi.
Theo đại diện của ENV, các cơ quan, ban, ngành trung ương hết sức quan tâm đến quá trình xử lý vụ việc. Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Quốc hội, nhiều cơ quan của Quốc hội, nhiều đại biểu Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch Nước, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Lâm nghiệp, Tòa án Nhân dân tối cao và một số cơ quan khác đều đã gửi văn bản đến cơ quan chức năng tỉnh Khánh Hòa yêu cầu nhanh chóng xử lý vụ việc theo đúng quy định pháp luật.
Sau đó, Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao và Bộ Công an cũng đã có các văn bản trực tiếp chỉ đạo nghiệp vụ, hướng dẫn các cơ quan chức năng tỉnh Khánh Hòa xử lý vụ việc này. Thế nhưng, vụ việc vẫn cứ rất im ắng một cách rất khó hiểu.
Trong khi đó, theo quy định tại Điều 103 và 104 Bộ Luật Tố tụng Hình sự (2003), cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành xác minh thông tin và ra quyết định khởi tố vụ án trong vòng 20 ngày, kể từ ngày nhận được tin báo. Trong những vụ việc phức tạp, thời hạn giải quyết có thể dài hơn, nhưng không quá 2 tháng.
Theo luật sư, thạc sĩ Trần Thị Ngân - GĐ Cty Luật Legal Associates Hà Nội: “Vi phạm được phát hiện tại Khánh Hòa không phải là vụ việc phức tạp. Các chứng cứ thu thập được đều phù hợp với lời khai của Hải (anh trai của Cường) và khẳng định hành vi buôn bán rùa biển của các đối tượng. Kết quả giám định cũng cho thấy, số rùa biển thu giữ thuộc “Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”. Đối tượng Hoàng Tuấn Hải lẽ ra phải bị khởi tố ngay khi cơ quan chức năng địa phương nhận được kết quả giám định tang vật”.
Việc bắt giữ và truy tố chỉ đối tượng vận chuyển hay trung gian sẽ không có ý nghĩa răn đe nếu kẻ cầm đầu các đường dây buôn bán ĐVHD vẫn “nhởn nhơ”. Với vụ việc tại Khánh Hòa, việc truy tố và xét xử không nên chỉ dừng ở đối tượng Hoàng Tuấn Hải - người tự nhận trách nhiệm đối với số rùa biển được phát hiện. Các cơ quan chức năng địa phương cần tiếp tục điều tra, làm rõ vai trò và xử lý nghiêm khắc đối tượng Hoàng Mạnh Cường - người được cho là kẻ cầm đầu thực sự của đường dây này.
Trong Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 20.2.2014, Thủ tướng Chính phủ đã kiên quyết chỉ đạo các lực lượng chức năng tăng cường công tác ngăn ngừa, đấu tranh, triệt phá các đường dây tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia về ĐVHD. Trong vụ việc này, quyết định đang nằm trong tay các nhà chức trách tỉnh Khánh Hòa.
Họ có quyền lựa chọn trở thành một địa phương tiên phong trong nỗ lực triệt phá các đường dây tội phạm về ĐVHD hoặc tiếp tục để những tên tội phạm đầu sỏ vẫn ngang nhiên đứng ngoài vòng pháp luật! ENV hy vọng, các cơ quan chức năng tỉnh Khánh Hòa sẽ không “thờ ơ”. (Lao Động 13/9) đầu trang(
Với người Tây Nguyên, rừng là máu thịt, là nguồn cội. Rừng vây bọc lấy con người, đi vào tận sâu thẳm tâm hồn người. Rừng là nơi khơi nguồn và cất giữ tâm linh, rừng mang bóng dáng của tổ tiên ông bà.
Khi con người bắt đầu cất tiếng khóc chào đời đã được cha mẹ dạy cho cách thức dệt vải bằng cách làm một khung dệt nhỏ xíu đặt vào tay cô con gái hay cây ná xinh xắn đặt vào tay cậu con trai cùng bao lời nhắn gửi trong lễ khai tâm. Đến tuổi cập kê, bó củi hứa hôn sẽ là tiêu chí để mọi người đánh giá sự đảm đang, khéo léo của người con gái; chiếc gùi được đan tinh xảo, đẹp mắt sẽ là bằng chứng về sự trưởng thành của người con trai.
Và đến khi con người giã từ cuộc sống, những cột nhà mồ, những ngôi nhà mồ, những tượng mồ… lại là nơi trú ngụ của linh hồn, lại đồng hành với linh hồn người chết về với thế giới của tổ tiên ông bà.
Rừng gần gũi là vậy nhưng đối với người Tây Nguyên, rừng còn là nỗi ám ảnh dị nghĩa. Người ta thường nhắc nhở nhau “không được đi vào rừng khi đêm xuống” hoặc khi vì một lý do nào đó không thể trì hoãn, người ta thường đặt một chiếc lá khô lên đầu khi đi ra ngoài vào ban đêm hòng che chở cho linh hồn không bị các thần làm hại. Rừng không chỉ là nơi cư trú của cây cỏ và muông thú, mà rừng còn là nơi cư trú đặc biệt của các Yang.
Trong tư duy “hiện thực huyền ảo” của mình, người Tây Nguyên luôn tin rằng khắp nơi đều có Yang ngự trị. Con người tự sáng chế ra những nỗi hoảng sợ và các thần linh cũng như những phương cách hoá giải thần linh và trừ tà. Vì vậy, trong bất cứ công việc gì, từ chặt cây làm nhà cho đến dựng nhà, từ phát rừng làm rẫy cho đến dựng kho thóc, từ ngả cây làm quan tài cho đến đẽo tượng nhà mồ, cột nhà mồ… người Tây Nguyên đều phải thực hiện những nghi lễ hiến sinh để cầu xin sự an lành, “tạ tội” với thần linh hay thậm chí là sự “đánh lừa” các vị thần.
Người già trong làng thường cất giữ trong ký ức của mình những câu chuyện huyền thoại về các vị thần rừng, những sự trừng phạt khủng khiếp đối với những kẻ ngạo mạn dám diễu cợt thần linh, những kiêng kị để tránh làm phật lòng thần, những thực hành truyền thống để duy trì sự bền vững, trường tồn của cộng đồng. Tính chất lưỡng đôi khiến rừng vừa trở nên gần gũi lại cũng đầy huyền bí, vừa hữu ích nhưng cũng không hoàn toàn vô hại.
Với người Tây Nguyên, khi bắt đầu tìm đất lập làng mới cũng là lúc người ta tìm cho làng của mình khu rừng thiêng, nơi đó hoặc là khu rừng đầu nguồn nước, rừng trên chóp núi để giữ nước, chống xói mòn với những câu chuyện được thêu dệt về nữ thần Nước xinh đẹp làm cho con người lạc lối trong rừng bằng giọng hát mê hồn của mình; hoặc là khu rừng dùng làm nghĩa địa chung của cả làng mà người Tây Nguyên vẫn quen gọi là “rừng ma” - nơi chẳng mấy ai bén mảng tới. Người ta sợ linh hồn của người chết, nhất là chết dữ, quẩn quanh nghĩa địa sẽ làm hại những ai xâm phạm vào thế giới riêng của nó.
Rừng thiêng với tính thiêng bao bọc quanh nó nên con người thường kiêng dè không dám vào đấy chặt phá hay đốt rừng làm rẫy cho nên đó thường là những khu rừng nguyên sinh, những khu rừng già khó đoán tuổi. Người Tây Nguyên vẫn truyền nhau những kiêng kị như không được xâm phạm đến rừng thiêng và không được chôn chung nghĩa địa với làng khác, khu rừng thiêng dùng làm nghĩa địa phải nằm thấp hơn khu đất làng.
Nếu vi phạm, cả cộng đồng sẽ phải nhận lấy sự trừng phạt ghê sợ từ thần linh, hoặc đau ốm bệnh tật, hoặc những tai nạn chết người… Từ những quan niệm và cách hiểu như vậy nên rừng của người Tây Nguyên luôn được bảo vệ cẩn thận vì nó gắn với ông bà tổ tiên, gắn với sinh mệnh, với sự trường tồn của cộng đồng. Bảo vệ rừng, với đồng bào, vừa là trách nhiệm vừa là nghĩa vụ thiêng liêng.
Có thể thấy rằng với cách “thiêng hóa” những cánh rừng, người Tây Nguyên từ ngàn đời nay đã xây dựng được mối quan hệ bền vững với tự nhiên. Điều đó đã thể hiện nét độc đáo trong cách thức ứng xử văn hoá với môi trường, trong cách thức trao truyền những tri thức bản địa truyền thống cho những thế hệ kế tiếp. Đấy chính là chiều sâu cơ bản của văn hoá Tây Nguyên.
Hiện nay rừng Tây Nguyên đang mất dần, những khu rừng thiêng không còn dáng vẻ thâm u của nó, rừng đang bị khai thác và xâm hại không theo quy luật khai thác và bảo vệ mà mang nặng tính phá hoại, ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống và sự sinh tồn của tộc người. Rõ ràng khi rừng không còn; khi rừng đang ngày một xa con người thì văn hoá rừng ngày một nhạt nhoà trong tâm thức con người.
Để bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống của người Tây Nguyên thì cằn cỗi chính là bảo tồn không gian văn hóa, không gian sinh tồn của các tộc người. Như vậy sâu xa hơn chính là việc khôi phục lại đất rừng, khôi phục lại những cánh rừng, khôi phục lại tính thiêng của rừng trong tâm thức của chính những tộc người bản địa. Chỉ trên cơ sở đó cội nguồn văn hoá tộc người mới hồi sinh.
Làm được điều này, không ai khác chính là những chủ thể văn hoá nơi đây. Chính họ mới là chuyên viên thực sự của nền văn hoá của chính mình. Chỉ có họ mới xác định được nó là gì, hiểu mình phải làm gì và nên như thế nào. Ý thức được tầm quan trọng của rừng sẽ giúp họ có thái độ tích cực với tài nguyên rừng, với những gì thân thiết gắn với cuộc sống của họ. (Đắk Lắk 24 Giờ 11/9) đầu trang(
Giá gỗ nguyên liệu tăng cao, hiệu quả từ trồng keo cho thu nhập cao và ổn định. Cái lợi trước mắt khiến nhiều người dân và cả lâm tặc bất chấp pháp luật phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp để trồng keo lá tràm.
Thời gian qua, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp để trồng keo nguyên liệu giấy trên địa bàn các xã, thị trấn (huyện An Lão, tỉnh Bình Định) đang nóng lên. Vì lợi íc trước mắt, nhiều cánh rừng nguyên sinh bị người dân và đối tượng lâm tặc chặt phá để trồng cây keo lai. Trong khi đó, công tác kiểm tra, truy quét cũng như xử lý nghiêm tình trạng trên của ngành chức năng địa phương dường như bất lực. Hậu quả, nhiều khoảnh rừng bị triệt hạ không thương tiếc, tạo nên những vệt rừng trọc.
Theo ghi nhận của PV Dân trí, chỉ cần đi trên tuyến đường liên huyện từ thị trấn An Lão đi các xã An Toàn, An Nghĩa, An Vinh, An Dũng, An Hưng, An Trung, An Hòa... đều thấy các cánh rừng trên đỉnh núi bị chặt phá. Nghiêm trọng hơn, rừng đầu nguồn tại các khu vực hồ Hưng Long, hồ Hóc Tranh (xã An Hòa), hồ Sông Vố (thị trấn An Lão), hồ Nước Trong (xã An Trung)... cũng xảy ra tình trạng lâm tặc phá rừng lấy gỗ, còn người dân phá rừng chiếm đất lâm nghiệp trồng cây keo.
Một người dân cho biết: mỗi sáng vẫn có hàng chục người đi thành từng nhóm, di chuyển bằng những chiếc xe máy độ chế lên chặt phá rừng. Nhìn ở ngoài, nhiều cánh rừng còn nguyên vẹn nhưng vào sâu bên trong đã bị chặt phá, trồng keo lá tràm hết cả rồi…
Có mặt tại rừng đầu nguồn Sông Vố (thị trấn An Lão, huyện An Lão, Bình Định), dù cách trung tâm thị trấn An Lão không xa, tiếng máy cưa lốc gầm rú rít lên từng hồi. Dọc hai bên đường mòn vào rừng, nhiều chiếc xe máy cũ kỹ không biển số được giấu trong các bụi cây. Đi sâu vào bên trong rừng, nhiều khoảnh rừng bị đốt, đốn trụi. Trong đó, có nhiều loại cây nguyên sinh có đường kính khoảng 20 -30cm đã bị triệt hạ không thương tiếc.
Theo người dân cho biết, khoảng 3 năm trở lại đây, khi cây keo lai làm thay đổi kinh tế hộ gia đình, người dân không ngần ngại phá rừng trồng cây keo. Bên cạnh đó, các đối tượng lâm tặc hoành hành cũng góp phần xóa đi những cánh rừng nguyên sinh. Thậm chí, ngay cả những cánh rừng phòng hộ cũng bị triệt hạ.
Một thực tế, tình trạng phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép để trồng keo trên địa bàn huyện An Lão, diễn ra trong thời gian dài. Nhưng ngành chức năng địa phương và các cơ quan hữu quan của huyện dường như bất lực không đưa ra biện pháp xử lý kiên quyết.
Theo báo cáo của lực lượng Kiểm lâm huyện An Lão, từ đầu năm 2015, đơn vị đã phối hợp với các cơ quan chức năng phát hiện 142 điểm phá rừng trái phép với tổng diện tích rừng bị thiệt hại hơn 39,7 ha. Trong đó, các xã phát hiện điểm vi phạm nhiều như: xã An Toàn 24 điểm vi phạm, với diện tích hơn 1 ha; xã An Nghĩa 14 điểm vi phạm, với hơn 4 ha; xã An Vinh 17 điểm vi phạm với 8,8 ha… Ngành chức năng cũng bắt quả tang, xác định được người phá rừng và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, đó chỉ là báo cáo trên giấy tờ, còn thực tế tình trạng phá rừng trái phép và lấn chiếm đất lâm nghiệp có lẽ người dân mới tỏ. Chính người dân huyện An Lão là người gửi đơn đến UBND tỉnh Bình Định tố cáo các cơ quan chức năng huyện thiếu trách nhiệm trong công tác bảo vệ rừng dẫn đến những cánh rừng bị tàn phá. Cuối tháng 8/2015, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định đã có văn bản yêu cầu Sở NN-PTNT tỉnh phối hợp với UBND huyện An Lão kiểm tra, xử lý vụ việc này.
Ông Nguyễn Thanh Sinh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện An Lão (Bình Định) cho biết: Trên địa bàn huyện An Lão có 3 đơn vị chịu trách nhiệm bảo vệ rừng với tư cách là chủ rừng, gồm: Ban quản lý rừng đặc dụng An Toàn (thuộc Sở NN-PTNT), Ban quản lý rừng phòng hộ An Lão (thuộc UBND huyện An Lão) và UBND các xã, thị trấn quản lý các rừng sản xuất được giao. Hạt Kiểm lâm huyện An Lão có trách nhiệm quản lý chung, tham mưu, xây dựng chương trình công tác quản lý, bảo vệ rừng... Tuy nhiên, việc bảo vệ rừng tại huyện An Lão còn nhiều khó khăn do lực lượng kiểm lâm địa bàn mỏng.
“Chúng tôi đã xử lý vi phạm, phạt hành chính nhiều trường hợp vi phạm về phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp. Đối tượng phá rừng thì ngày càng tinh vi, phức tạp, chúng tôi mai phục nhưng không bắt được quả tang thì sao xử lý. Thậm chí, có trường hợp bắt quả tang nhưng chúng tôi mời nhiều lần nhưng họ cố tình không đến thì cũng đành chịu. Chúng tôi không phải là công an nên không có quyền”, ông Sinh phân trần. (Dân Trí 12/9) đầu trang(
Cơ quan chức năng đã phải đập vỡ những khối đá quý giả mới phát hiện 593kg ngà voi và 142kg sừng tê giác được các đối tượng vận chuyển cất giữ tinh vi trong các khối đá quý nhân tạo.
Ngày 11.9, Cục Điều tra chống buôn lậu, Tổng Cục Hải Quan cho biết đơn vị này vừa ra quyết định khởi tố vụ án buôn lậu 593kg ngà voi và 142kg sừng tê giác xảy ra tại cảng Tiên sa, TP. Đà Nẵng.
Đây là vụ án do Cục Điều tra chống buôn lậu - Tổng cục Hải quan đã phối hợp cùng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về buôn lậu (C74) – Bộ Công an tổ chức đấu tranh chuyên án, phát hiện bắt giữ đường dây buôn lậu ngà voi, sừng tê giác lớn về Việt Nam.
Trước đó, vào ngày 07.8, Công ty TNHH Vạn An (địa chỉ Lô 2 - A10.2, đường 2/9, phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng) mở tờ khai Hải quan số 100507009520/A11 tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng. Mặt hàng khai báo là: “Đá cẩm thạch dạng khối, đá thô, chỉ cắt cạnh, chưa đánh bóng, tổng khối lượng là 40 tấn, trị giá 20,000 USD. Hàng mới 100%. Tờ khai được hệ thống phân luồng xanh. Lô hàng được đóng trong 02 container số CMAU1291440 và IPXU3225588 thuộc vận đơn số MZ30255362, được vận chuyển trên tàu Spectrum N, chuyến 9999. Sau đó được chuyển tải sang tàu King Brian chuyến 148UBR, cập cảng Tiên Sa, Đà Nẵng ngày 10.08.
Ngay khi tàu King Brian cập cảng Tiên Sa lúc 7 giờ 30 phút ngày 10.8, hai container hàng hóa thuộc bộ tờ khai số 100507009520/A11 được xếp lên bãi cảng vào lúc 9 giờ 15 phút cùng ngày, Cục Điều tra chống buôn lậu đã có điện fax số 048/ĐTCBL-Đ1 ngày 9.8 gửi Cục Hải quan thành phố Đà Nẵng yêu cầu dừng thông quan đột xuất, chuyển kiểm tra hồ sơ và kiểm tra thực tế toàn bộ lô hàng, đồng thời triển khai xây dựng kế hoạch thu thập thông tin, tài liệu liên quan tới lô hàng trên.
Sau đó, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng đã ra Quyết định tạm dừng hàng hóa qua khu vực giám sát đối với lô hàng trên trong thời hạn 5 ngày.
Đồng thời, gửi giấy mời yêu cầu doanh nghiệp lên làm việc về lô hàng trên. Tuy nhiên, sau 3 lần gửi giấy mời, doanh nghiệp vẫn không có mặt theo yêu cầu. Ngày 12.8, doanh nghiệp có công văn số xin hủy tờ khai nêu trên với lý do đối tác nước ngoài yêu cầu hủy vì giao nhầm hàng. Tuy nhiên, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng không chấp nhận việc hủy tờ khai do không đáp ứng các điều kiện để được hủy theo quy định.
Ngày 11.8, Tổ công tác liên ngành đã lập biên bản làm việc với Hãng tàu CMA CGM có văn phòng thường trực tại Đà Nẵng làm rõ các nội dung về người nhận hàng, người gửi hàng, vận đơn và các chứng từ có liên quan.
Quá trình làm việc với Hãng tàu được biết, ngày 10.8, Công ty TNHH Vạn An đã có giấy giới thiệu 0 số cử Nguyễn Văn Dũng đến hãng tàu làm thủ tục lấy Lệnh và thanh toán cước phí có liên quan đến lô hàng. Hãng tàu đã cấp Lệnh giao hàng cho Doanh nghiệp (Lệnh có giá trị đến hết ngày 13.8).
Tại thời điểm hãng tàu CMA CGM VIỆT NAM tiếp nhận chứng từ của lô hàng đến ngày 05.08, khách hàng có đề nghị sửa đổi thông tin về hàng hóa trước khi hãng tàu gửi thông tin chính thức cho cơ quan hải quan.
Quá trình làm việc, hãng tàu đã cung cấp các tài liệu như vận đơn, giấy giới thiệu của Doanh nghiệp cử nhân viên đến lấy lệnh tại hãng tàu, thông báo hàng đến…
Tổ công tác liên ngành làm việc với Công ty xác định doanh nghiệp đã làm thủ tục nhận lệnh cấp hàng, nộp thuế đối với mặt hàng trên. Tổ công tác đã thu thập các tài liệu có liên quan đến lô hàng như: Vận đơn, hợp đồng mua bán, hóa đơn thương mại, điện chuyển tiền ra nước ngoài, chứng từ thanh toán cước vận tải, lệnh giao hàng, giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước,....
Ngày 12.08, Đội trưởng Đội kiểm soát khu vực miền Bắc thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu đã ký Quyết định khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính, Tổ công tác đã lập kế hoạch và phối hợp với các lực lượng tổ chức khám xét theo đúng quy định của pháp luật.
Kết quả khám xét hai container nói trên, cơ quan phát hiện 1 container số IPXU3225588 có 6/16 kiện chứa đá dạng cục có dấu hiệu nghi vấn, tiến hành kiểm tra 6 kiện trên phát hiện có 12 khối đá (mỗi kiện có 2 khối đá) được xếp vào giữa các kiện, nhìn bề ngoài chúng có hình dạng khác biệt so với khối đá xếp trong kiện.
Nghi vấn các khối đá này chứa hàng hóa vi phạm, lực lượng khám xét tiến hành mở (đập) 12 khối đá trên phát hiện một số lượng lớn sản phẩm động vật ở dạng khúc (nghi là ngà voi) và sản phẩm động vật ở dạng sừng (nghi là sừng tê giác) được bao bọc trong các lớp giấy bạc. Đồng thời đã trưng cầu giám định đối với toàn bộ số tang vật vi phạm nêu trên tại Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật, kết quả tổng cộng có: 593kg ngà Voi, 142kg sừng Tê giác (chưa trừ bì).
Căn cứ kết quả khám xét của cơ quan hải quan phát hiện một số lượng rất lớn gồm 142kg sừng tê giác và 593kg ngà voi được cất giấu hết sức tinh vi trong các khối đá, cơ quan hải quan đã tiến hành soi chiếu nhưng không phát hiện được, chỉ khi khám xét bằng phương pháp thủ công, chi tiết, tỉ mỉ toàn bộ lô hàng mới phát hiện ra số tang vật như nêu trên.
Toàn bộ hàng hóa không có trong khai báo hải quan, có hàng hóa thuộc danh mục hàng cấm nhập khẩu trong diện cấm xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán mẫu vật một số loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp thuộc các phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.
Mặc dù, Cục Điều tra chống buôn lậu đã phối hợp với Cục cảnh sát phòng chống tội phạm về buôn lậu – Bộ Công an để yêu cầu Giám đốc Doanh nghiệp làm việc, giải trình về lô hàng. Nhưng sau khi bị phát hiện quả tang, Giám đốc Doanh nghiệp trốn tránh không làm việc, có dấu hiệu bỏ trốn.
Căn cứ kết quả phát hiện, bắt giữ và khám xét như đã nêu trên, Cục Điều tra chống buôn lậu đã khởi tố vụ án về tội buôn lậu theo quy định tại Điều 153 Bộ luật hình sự. (Một Thế Giới 12/9) đầu trang(
Ngày 11/9, lực lượng kiểm lâm huyện Đam Rông đã tiến hành tiêu hủy 65kg thịt nai rừng và thả một con kỳ đà về lại nơi hoang dã. Đây là số tang vật được phát hiện, xử lý từ hai vụ buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã trái phép trên địa bàn huyện, vào các ngày 7&10/9/2015.
Trước đó, lực lượng kiểm lâm huyện cũng đã phát hiện xử phạt hành chính 3 triệu đồng đối với một đối tượng tại xã Đạ Long, do tàng trữ trái phép 14kg thịt và chân động vật hoang dã.
Hiện nay đang là cao điểm của mùa mưa, cũng là thời điểm tài nguyên rừng dễ bị xâm phạm. Lực lượng kiểm lâm huyện đang tăng cường công tác tuần tra, truy quét, nhất là tại các địa bàn trọng điểm rừng có nguy cơ bị xâm hại. Nhờ vậy, những vụ xâm phạm đến tài nguyên rừng đã được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời. (Tin Tây Nguyên 12/9) đầu trang(
Nằm trong chiến lược thành lập chuỗi thương hiệu uy tín mang sứ mệnh "Vì một cuộc sống tốt đẹp hơn cho người Việt", Tập đoàn Vingroup công bố thành lập Chương trình Bảo tồn Động vật Vinpearl Safari.
Chương trình sẽ tổ chức các dự án nghiên cứu, hoạt động giáo dục và gây quỹ nhằm bảo tồn động vật hoang dã, nâng cao nhận thức cộng đồng cũng như xây dựng hình thái Du lịch khám phá thiên nhiên và bảo vệ động vật hoang dã tại Việt Nam theo tiêu chuẩn quốc tế.
Chương trình Bảo tồn Động vật Vinpearl Safari sẽ thực hiện các dự án nghiên cứu và bảo tồn động vật; Xây dựng chương trình giáo dục bảo tồn; Xây dựng mối quan hệ đối tác bảo tồn; và Thành lập Quỹ Bảo tồn Động vật Vinpearl Safari với định hướng trở thành chương trình nghiên cứu và bảo tồn động vật tiêu biểu của Việt Nam.
Sau khi thành lập vào tháng 9/2015, Chương trình đã bắt đầu công tác nghiên cứu và bảo tồn các loài động vật quý hiếm cùng môi trường sống tự nhiên của chúng. Nhóm đối tượng đầu tiên là một số loài động vật quý hiếm của Việt Nam.
Chương trình cũng thực hiện các ấn phẩm giáo dục bảo tồn như áp phích, lịch, sách, ảnh và tờ rơi; tổ chức các khóa học, cung cấp bài giảng, sự kiện và những chương trình đặc biệt đề cao ý nghĩa của hoạt động bảo tồn động vật cho cộng đồng... nhằm nâng cao nhận thức và truyền cảm hứng về bảo tồn động vật và môi trường nhiên nhiên.
Một định hướng quan trọng khác của Chương trình Bảo tồn Động vật Vinpearl Safari là thành lập và tiến hành gây quỹ cho Quỹ Bảo tồn Động vật Vinpearl Safari từ các hình thức quyên góp và bán các sản phẩm bảo tồn (tranh, ảnh, sách, đồ lưu niệm…), sự kiện gây quỹ, vận động, tìm kiếm các nguồn tài trợ từ các tổ chức cũng như cá nhân trong nước và quốc tế... Quỹ bảo tồn động vật Vinpearl Safari sẽ góp phần hỗ trợ xây dựng và phát triển năng lực cho công tác bảo tồn động vật hoang dã của Việt Nam.
TS. Lê Khắc Quyết - Giám đốc Chương trình Bảo tồn Động vật Vinpearl Safari cho biết: "Với sứ mệnh “thúc đẩy bảo tồn các loài động vật hoang dã và môi trường thông qua nghiên cứu khoa học, giáo dục và truyền cảm hứng cho cộng đồng về bảo tồn thiên nhiên”, chúng tôi định hướng xây dựng Chương trình bảo tồn động vật Vinpearl Safari sẽ trở thành chương trình nghiên cứu và bảo tồn động vật tiêu biểu của Việt Nam.
Bên cạnh đó, chương trình sẽ thúc đẩy và thực hiện những cam kết đối với công tác bảo tồn động vật của Công viên chăm sóc và bảo tồn động vật Vinpearl Safari, góp phần tạo dựng Công viên Vinpearl Safari trở thành công viên động vật tiêu chuẩn quốc tế hàng đầu của Việt Nam và khu vực với những cam kết bảo tồn động vật thiết thực và hiệu quả."
Nhằm hiện thực hóa công tác nghiên cứu và bảo tồn, xây dựng "giáo cụ trực quan" sinh động nâng cao nhận thức cộng đồng, Tập đoàn Vingroup cũng đã lên kế hoạch xây dựng Công viên Chăm sóc và Bảo tồn Động vật Vinpearl Safari tại Khu Bãi Dài, xã Gành Dầu, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Công viên Vinpearl Safari được xây dựng theo mô hình Vườn thú mở bao gồm Vườn thú ngày và Vườn thú đêm (night safari), với 9 khu vực chủ đề phong phú mang cảnh quan và kiến trúc đặc trưng các khu vực trên Thế giới, chia thành nhiều giai đoạn phát triển.
Trong đó giai đoạn 1 có tổng diện tích 180ha, tập trung phát triển 2 khu chủ đề: Châu Phi và Ấn Độ, dự kiến là nơi chăm sóc và nuôi dưỡng phát triển khoảng 130 loài động vật với khoảng 2.000 cá thể, 400 loài thực vật bản địa và nhập ngoại. Giai đoạn 1 của Công viên Chăm sóc và Bảo tồn Động vật Vinpearl Safari có kế hoạch khai trương cuối tháng 12/2015. (Công An TPHCM 12/9) đầu trang(
Những con rắn hổ mang liên tục viếng thăm người dân ở thôn 11, xã Hòa Bình (huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng) khiến người dân nơi đây hoang mang.
Sáng ngày 11-9, bà Lê Thị Lánh (trú tại thôn 11, xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng) tá hỏa khi phát hiện ra con rắn hổ mang dưới gầm chạn bát của gia đình. “Tôi vừa bước vào trong bếp thì nghe thấy tiếng “phì, phì” ở chạn bát, nhìn vào thì thấy con rắn đen xì, to bằng ngón tay cái, dài khoảng hơn 30cm đang bành mang. Tôi phải gọi chồng tôi xuống giết rồi mang xác tới nhà ông cán bộ thôn”, bà Lánh kể lại.
Bà Khổng Thị Kim (SN 1941), cho biết từ ngày lập làng chưa bao giờ có tình trạng rắn hổ mang xuất hiện nhiều như vậy. Cả thôn 11, xã Hòa Bình đều hoang mang.
Trong vòng hơn 1 tuần, gia đình bà Kim đã 3 lần bắt được rắn hổ mang. “Một lần tôi đang đứng bán hàng tạp hóa cho khách thì có con rắn trườn từ nhà ra ngoài đường. Một lần khác vợ chồng tôi đang đứng đọc kinh thì thấy con rắn hổ mang phì, phì xuất hiện khiến chúng tôi rất sợ hãi. Lần khác, tôi phải nhờ người hàng xóm đến bắt con rắn trong bụi chuối nặng hơn 1kg”, bà Kim nói.
Sau khi tìm hiểu thực tế tại địa phương, PV được biết, tại thôn 11, có trại nuôi rắn hổ mang của gia đình ông Đoàn Văn Thỉnh (51 tuổi). Ông Thỉnh xây một căn nhà cấp 4 cách đây khoảng 3 tháng trong khu dân cư. Những người dân trong thôn 11 cho biết, họ thấy ông Thỉnh chăn nuôi gì đó nhưng khi hỏi ông Thỉnh, ông chỉ nói mập mờ là nuôi “con không kêu được”. Sau khi rắn bò khắp thôn và người dân thấy xe chở rắn từ nhà ông Thỉnh ra và rắn bò từ xe xuống đường mới nghi ngờ chuyện gia đình ông Thỉnh nuôi rắn hổ mang.
Thống kê tại địa phương, trong vòng 2 tuần, có khoảng 10 hộ dân bắt được rắn hổ mang trong nhà. Có những gia đình trong 1 buổi sáng bắt được 2 con rắn hổ mang. Tất cả người dân bắt được rắn đều mang đến nhà trưởng thôn hoặc mang đến trại rắn cho ông Thỉnh biết.
Trao đổi với ông Đoàn Văn Thỉnh, PV được biết, gia đình ông Thỉnh bắt đầu nuôi rắn hổ mang cách đây khoảng 1 tháng với khoảng 300 lồng nuôi. Khi nghe thấy tin người dân liên tục bắt được rắn hổ mang, ông Thỉnh có đi kiểm tra chuồng trại nuôi nhưng “không phát hiện lỗ hổng nào”. Ông Thỉnh cũng thừa nhận chưa xin cấp phép từ cơ quan chức năng khi nuôi rắn hổ mang.
Theo ông Phạm Văn Đương, Chủ tịch UBND xã Hòa Bình, đã nhận được thông tin người dân phản ánh và đã làm việc với chủ trại rắn này. “Trại rắn này nuôi không có giấy phép nuôi động vật hoang dã theo quy định. Chủ trại xin được nuôi hết đợt này để bán xong rồi đóng cửa”, ông Đương cho biết.
Ông Nguyễn Văn Đàn, Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Vĩnh Bảo cho biết: “Việc một hộ ở xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Bảo nuôi rắn trong khu dân cư Phòng NNPTNT huyện không nhận được báo cáo của UBND xã Hòa Bình. Đây là mô hình nuôi gia đình nên Phòng NNPTNT không quản lý”. (Pháp Luật TP.HCM 12/9) đầu trang(
Ngày 11/9, cơ quan CSĐT Công an huyện Cao Lãnh, cho biết, tại khu vực cấm của Rừng Tràm Gáo Giồng thuộc ấp 6, xã Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh, đã bắt quả tang Mai Văn Lắm (33 tuổi, ngụ ấp Phú Thuận, xã Tân Phú Đông, thành phố Sa Đéc) đang săn bắt động vật hoang dã.
Cơ quan điều tra thu giữ 99,5kg động vật hoang dã gồm, cồng cọc, diệt, cò, vạc và một số tang vật liên quan. Qua điều tra, đối tượng khai nhận thêm 3 đồng bọn gồm, Toàn, Tâm, Khoa (chưa rõ danh tính). (Công An Nhân Dân 12/9) đầu trang(
Tin từ TAND huyện Phú Lộc cho biết đơn vị này vừa tuyên phạt từ 3 – 6 tháng tù đối với 6 đối tượng khai thác gỗ trái phép tại vườn quốc gia Bạch Mã.
Theo đó, ngày 9/9  TAND huyện Phú Lộc (tỉnh Thừa Thiên – Huế) mở phiên xét xử sơ thẩm lưu động tại hội trường UBND xã Lộc Hòa (huyện Phú Lộc) đối với Trần Thỏa (SN 1967), Nguyễn Cường (SN 1981), Nguyễn Mạnh Cường (SN 1978), Huỳnh Quang Anh (SN 1982), Nguyễn Văn Toán (SN 1986) và Phạm Công (SN 1980; cùng trú xã Lộc Hòa) về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”.
Theo cáo trạng, ngày 11/3/2015, các đối tượng này tổ chức khai thác gỗ trái phép tại khoảnh 9, tiểu khu 222 rừng đặc dụng Vườn Quốc gia Bạch Mã (QGBM), vị trí thuộc địa phận xã Xuân Lộc (huyện Phú Lộc).
Qua xác minh và từ nguồn tin của quần chúng nhân dân, lực lượng kiểm lâm Hạt kiểm lâm Bạch Mã (thuộc Vườn QGBM) đột kích vào rừng, bắt quả tang các đối tượng đã khai thác được 11,720m3 gỗ chò đen, thuộc nhóm III, định giá hơn 70 triệu đồng cùng hai máy cưa xăng và một số dụng cụ khác.
Tại phiên tòa, các đối tượng thừa nhận hành vi phạm tội của mình. HĐXX tuyên phạt Trần Thỏa 6 tháng tù giam, Nguyễn Cường và Nguyễn Mạnh Cường cùng 5 tháng tù giam, Huỳnh Quang Anh 4 tháng tù treo, Nguyễn Văn Toán và Phạm Công cùng 3 tháng tù treo. Số lâm sản cùng phương tiện vi phạm được giao cho Hạt kiểm lâm Bạch Mã tịch thu, bán và sung quỹ nhà nước. (Tiền Phong 11/9) đầu trang(
Theo cảnh báo của Cục Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), trong khi nhiều tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ dự báo có mưa vừa, mưa to, hiện vẫn có một số địa phương khu vực Nam Trung Bộ như Phú Yên nhiều ngày không mưa, thời tiết khô hanh kéo dài, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra cháy rừng cấp V, cấp cực kỳ nguy hiểm (Nhân Dân 11/9) đầu trang(
Trên địa bàn tỉnh Phú Yên, tình trạng phá rừng ở khu vực rừng phòng hộ vùng giáp ranh đang diễn biến hết sức phức tạp.
Chỉ trong cuối tháng 7/2015 và đầu tháng 8/2015, kiểm lâm tỉnh Phú Yên đã phát hiện tình trạng phá rừng phòng hộ ở 4 tiểu khu trên địa bàn hai xã EaTrol và EaBar của huyện Sông Hinh; với số lượng 13 cây gỗ to, 22 lóng gỗ tròn với khối lượng hơn 34m3 và 106 khúc gỗ hộp với khối lượng gần 15m3. Phương thức của lâm tặc là dùng cưa lốc cắt gỗ, xẻ hộp.
Trước tình trạng phá rừng ở khu vực này diễn biến phức tạp, UBND tỉnh Phú Yên yêu cầu Sở NN&PTNT phối hợp chặt chẽ với UBND huyện Sông Hinh triển khai các biện pháp quyết liệt, để sớm ngăn chặn tình trạng phá rừng, khai thác gỗ trái phép; đồng thời, chỉ đạo chủ rừng phải nâng cao trách nhiệm bảo vệ rừng trên lâm phận quản lý. (Đài Truyền Hình Việt Nam 11/9) đầu trang(
Trong khi nạn nhân bị hổ cắn đứt lìa cánh tay khẳng định là du khách đi tham quan, thì phía khu Du lịch sinh thái Trại Bò lại nói nạn nhân là nhân viên. Sau khi vụ tai nạn hy hữu trên xảy ra, Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Nghệ An đã xác nhận hoạt động du lịch sinh thái ở Trại Bò chưa được cấp có thẩm phê duyệt.
Như báo Lao động Thủ đô đã đưa tin, vào ngày 23/8, tại khu du lịch sinh thái Trại Bò, đóng tại xã Diễn Lâm, huyện Diễn Châu (Nghệ An) một phụ nữ đã bị hổ nuôi tại đây cắn nát cánh tay. Ngay sau đó, nạn nhân đã được đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện, nhưng cánh tay bị hổ cắn sát đến nách của nữ du khách này đã không thể nối lại được.
Ngay sau khi xảy ra vụ tai nạn nói trên, danh tính nạn nhân được xác định là chị Trần Thị Yến (21 tuổi), trú tại huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên- Huế. Tiếp xúc với PV, chị Yến cho biết: Vào ngày 23/8, chị Yến cùng với một số người trong gia đình nhà chồng (trú tại huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An), đến khu du lịch sinh thái Trại Bò để tham quan, vì nơi đây nổi tiếng nuôi những loài động vật quý như tê giác, sư tử, hổ, bò tót…
Lúc vào tham quan, đoàn của gia đình chị Yến không có người hướng dẫn, nên mọi người đã đi lạc vào khu vực cấm, nằm phía sau bức tường, sát với vị trí mà khu du lịch sinh thái này đang nuôi hổ. Khi thấy một số người leo lên tường, vịn tay vào song sắt để xem hổ, chị Yến đã làm theo. Trong lúc chị Yến đang vịn tay vào song sắt để ngó vào xem, thì một con hổ bất ngờ vùng dậy, vồ lấy cánh tay chị và kéo vào trong. Chị Yến kêu cứu thất thanh, rồi ngất lịm.
Khi nghe tiếng cứu cứu của chị Yến, người thân đi cùng và nhân viên của khu du lịch đã sử dụng cây sào, đâm vào con hổ, để giải cứu chị. Tuy nhiên, khi xua đuổi được hổ để đưa chị Yến ra ngoài, thì cánh tay trái của chị đã bị hổ cắn nát đến sát nách. Lãnh đạo và nhân viên khu du lịch đã sơ cứu, rồi tức tốc đưa nạn nhân đi cấp cứu tại một bệnh viện trên địa bàn huyện Diễn Châu.
Sau đó, chị Yến lại được chuyển lên Bệnh viện chấn thương chỉnh hình Nghệ An (đóng tại TP. Vinh) để tiếp tục điều trị. Tuy nhiên, cánh tay bị hổ cắn nát của chị Yến đã không thể nối lại được. Để khắc phục hậu quả của vụ tai nạn trên, khu du lịch sinh thái Trại Bò đã thỏa thuận và thống nhất với gia đình chị Yến mức bồi thường là 140 triệu đồng.
Trước vụ việc gây rúng động dư luận này, trao đổi với báo giới, ông Nguyễn Văn Hải, Giám đốc Khu du lịch sinh thái Trại Bò khẳng định: “Chị Yến là nhân viên của khu du lịch chúng tôi, mới vào làm được khoảng một tuần lễ, nên chưa ký hợp đồng. Sự việc xảy ra chỉ là tai nạn lao động, vì trong khi cho hổ ăn, không may bị hổ cắn vào cánh tay. Nơi xảy ra vụ tai nạn là khu vực cấm du khách vào, chỉ dành cho nhân viên khi cho hổ ăn và là nơi nghỉ của loài thú này.
Chuồng trại nuôi nhốt thú ở đây đạt tiêu chuẩn, đảm bảo an toàn, có hàng rào sắt cao và có vây giăng lưới thép bao quanh. Khoảng cách giữa hàng rào sắt giăng lưới thép và vị trí khách đứng tham quan là khoảng 1m nên rất bảo đảm”.
Trong khi khu du lịch sinh thái Trại Bò cho rằng chị Yến là nhân viên, thì nạn nhân và người thân lại phủ nhận: Bản thân chị Yến đang làm thợ may tại quê, không phải là nhân viên của khu du lịch sinh thái Trại Bò, chỉ là khách mua vé vào tham quan các loài thú được nuôi ở đây.
Được biết, sau 13 ngày kế từ khi vụ việc xảy ra, Hạt kiểm lâm huyện Diễn Châu mới nhận được thông tin và lập tổ công tác đến Khu du lịch sinh thái Trại Bò để tiến hành kiểm tra. Tại văn bản số 83/BC-LK được Hạt kiểm lâm huyện Diễn Châu lập vào ngày 7/9/2015 cho thấy, tại hiện trường không để lại dấu vết gì của vụ tại nạn.
Tuy nhiên, tổ công tác căn cứ vào biên bản làm việc và báo cáo của Công ty TNHH sinh thái Mường Thanh để lập báo cáo với nội dung: Chị Yến là nhân viên hợp đồng của công ty. Tại thời điểm xảy ra tai nạn, chị Yến đang cho hổ ăn, nhưng thiếu tập trung, nên khi đưa thức ăn vào chuồng bị hổ cắn.
Văn bản nêu trên của Hạt kiểm lâm huyện Diễn Châu còn đề cập: Ở thời điểm kiểm tra, chuồng trại nuôi nhốt thú dữ vẫn đảm bảo an toàn. Tuy nhiên, sau khi báo chí phản ánh, Hạt kiểm lâm huyện Diễn Châu “nhận thức được sự phức tạp của vấn đề”, nên sáng ngày 7/9, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm cùng với một số cán bộ tiếp tục làm việc với lãnh đạo Công ty sinh thái Mường Thanh. Phía công ty vẫn khẳng định chị Yến là nhân viên hợp đồng thời vụ, còn chuồng trại vẫn đảm bảo an toàn theo đúng các yêu cầu kỹ thuật. (Lao Động Thủ Đô 11/9) đầu trang(
Chính phủ vừa ban hành Nghị định về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2020.
Đối tượng áp dụng Nghị định gồm: Hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số, hộ gia đình người Kinh nghèo đang sinh sống ổn định tại các xã có điều kiện KT-XH khó khăn (khu vực II và III) thuộc vùng dân tộc và miền núi theo tiêu chí Thủ tướng Chính phủ quy định, có thực hiện một trong các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng; Cộng đồng dân cư thôn được giao rừng theo quy định tại Điều 29 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và Điều 54 Luật Đất đai, tại các xã có điều kiện KT-XH khó khăn (khu vực II và III) thuộc vùng dân tộc và miền núi theo tiêu chí Thủ tướng Chính phủ quy định, thực hiện bảo vệ rừng được giao hoặc rừng nhận khoán.
Hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn nêu trên được hỗ trợ tiền khoán bảo vệ rừng là 400 nghìn đồng/ha/năm, hưởng lợi từ rừng và thực hiện trách nhiệm bảo vệ rừng theo quy định pháp luật hiện hành của Nhà nước với hạn mức diện tích rừng nhận khoán được hỗ trợ  tối đa là 30 ha/hộ gia đình.
Nghị định cũng quy định rõ hỗ trợ trồng rừng sản xuất và phát triển lâm sản ngoài gỗ. Cụ thể, diện tích đất lâm nghiệp được quy hoạch phát triển rừng sản xuất đã giao ổn định, lâu dài cho hộ gia đình được hỗ trợ một lần cho chu kỳ đầu tiên để trồng rừng sản xuất bằng loài cây lấy gỗ, cây lâm sản ngoài gỗ.
Mức hỗ trợ từ 5-10 triệu đồng/ha để mua cây giống, phân bón và chi phí một phần nhân công bằng tiền đối với trồng cây lấy gỗ, cây lâm sản ngoài gỗ tùy theo chu kỳ kinh doanh của loài cây trồng theo thiết kế - dự toán. Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và thiết kế - dự toán.
Hộ gia đình nghèo tham gia trồng rừng sản xuất và phát triển lâm sản ngoài gỗ, trồng rừng phòng hộ thì được trợ cấp 15 kg gạo/khẩu/tháng hoặc bằng tiền tương ứng với giá trị 15 kg gạo/khẩu/tháng tại thời điểm trợ cấp trong thời gian chưa tự túc được lương thực. Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định mức và thời gian trợ cấp, nhưng tối đa không quá 7 năm.
Căn cứ thiết kế - dự toán trồng rừng, ngoài số tiền được hỗ trợ quy định để trồng rừng sản xuất phát triển lâm sản ngoài gỗ, hộ gia đình được Ngân hàng Chính sách xã hội hoặc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam cho vay không có tài sản bảo đảm phần giá trị đầu tư còn lại tối đa là 15 triệu đồng/ha, lãi suất là 1,2%/năm. Thời hạn cho vay từ khi trồng đến khi khai thác chính theo chu kỳ kinh doanh của loài cây trồng nhưng không quá 20 năm.
Ngoài ra, hộ gia đình thuộc đối tượng 1 nêu trên được Ngân hàng Chính sách xã hội hoặc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam cho vay không có tài sản bảo đảm để chăn nuôi trâu, bò, gia súc khác với hạn mức vay tối đa 50 triệu đồng, thời hạn cho vay tối đa 10 năm, lãi suất là 1,2%/năm. (Giao Thông 11/9) đầu trang(
Theo nghiên cứu của nhóm chuyên gia tư vấn hỗ trợ Giám sát tối cao của Quốc hội năm 2015 về đất nông lâm trường, hiện nay vấn đề nổi cộm nhất ở trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng là tình trạng phá rừng, lấn chiếm, tranh chấp đất đai giữa người dân bản địa và công ty ​​lâm nghiệp.
Điều đáng nói là, mặc dù tình trạng lấn chiếm, chặt phá rừng diễn ra từ lâu, nhưng cơ quan quản lý địa phương dường như cũng chưa có giải pháp xử lý triệt để. Thậm chí, có công ty lâm nghiệp được giao quản lý rừng còn kêu khó, chỉ vì lý do “lâm tặc chặt phá rừng hoạt động liều lĩnh, có vũ khí và sẵn sàng chống trả quyết liệt.”​
Theo tìm hiểu của phóng viên VietnamPlus, những năm gần đây, ​tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản trái phép ở Lâm Đồng “nóng” nhất là khu vực xã Tam Bố, ​huyện Di Linh, do Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Tam Hiệp quản lý.
Ông Trần Anh Tuấn, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Tam Hiệp, cho biết hiện nay đơn vị đang quản lý 26.624ha đất rừng, trong đó rừng phòng hộ 855ha; rừng tự nhiên sản xuất 22.628​ha; còn lại là các loại đất lâm nghiệp khác.
Tính đến nay, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Tam Hiệp đã giao khoán bảo vệ 10.000ha cho các hộ dân, thế nhưng tình trạng phá rừng, khai thác gỗ trái phép vẫn diễn ra thường xuyên.
Theo thông tin từ ông Tuấn, tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép trên địa bàn chủ yếu tập trung từ tiểu khu 678, 677 thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Tam Hiệp (huyện Di Linh​)​ về xã Ninh Loan (huyện Đức Trọng) ​để tiêu thụ đã xảy ra nhiều năm.
Ở khu vực giáp ranh này có tới 4 xưởng cưa, là nơi tiếp tay tiêu thụ gỗ trái phép. Thế nhưng, vì họ ở ngoài địa bàn của của Lâm trường, nên Lâm trường không thể ngăn chặn được.
Ghi nhận của phóng viên VietnamPlus tại địa bàn xã Tam Bố (khu vực “nóng” về tranh chấp đất đai, phá rừng) vào những ngày cuối tháng Tám cũng cho thấy, các khu rừng rộng lớn đã bị đốn hạ hết cây, nay chỉ còn lại từng quả đồi trọc​ lốc​. Con đường từ trung tâm xã Tam Bố đi sâu vào rừng cũng bị các "đoàn xe" chở gỗ băm nát.
Để khai thác gỗ trái phép, các đối tượng phá rừng thường tổ chức thành từng nhóm, theo đường mòn từ huyện Đức Trọng xâm nhập vào các tiểu khu có gỗ quý. Ngoài hoạt động có tổ chức, các nhóm này còn trang bị nhiều phương tiện chuyên dụng và loại xe máy ​được cải tiến gọi là xe “độ” rất đặc biệt để chở​ ​gỗ ra khỏi rừng.
Đề cập đến trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Tam Hiệp, cho biết do quản lý một phần diện tích lớn​ (​26.624ha​) ​nhưng​ lực lượng kiểm lâm mỏng​ (bình quân 1 cán bộ quản lý gần 1.000ha rừng)​, đường đi lại khó khăn, trong khi nhu cầu về gỗ ngày càng lớn đã khiến tình trạng khai thác gỗ ngày càng phức tạp, khó kiểm soát.
Thực tế cũng cho thấy, ​"​việc bắt giữ các đối tượng khai thác ​lâm sản trái phép là rất khó, bởi lâm tặc manh động lắm, bên người chúng khi nào cũng có mã tấu và sẵn sàng chống trả khi gặp phải sự can thiệp của lực lượng chức năng..​.​,” ông Tuấn nói.
Trong khi đó, ​với vai trò là người được giao khoán bảo vệ rừng, ​ông KBrel, Chi hội trưởng Hội Nông dân thôn 4 (​xã Tam Bố, huyện Di Linh)​​ ​cho biết cả xã ​Tam Bố hiện ​có 150 hộ nhận khoán bảo vệ rừng cho công ty lâm trường, với diện tích khoảng 3.000ha​​. Tiền công bảo vệ rừng 200.000 đồng/ha/năm. Như vậy, ​bình quân mỗi hộ ​dân ​​nhận khoán ​20ha, mỗi năm cũng chỉ nhận được khoảng 4 triệu đồng.
“Tiền công bảo vệ rừng ​như thế là thấp, rừng lại ở xa nên rất khó bảo vệ. Như nhà mình, nhận khoán bảo vệ 30ha rừng, được trả 5-6 triệu đồng mỗi năm. Dù mỗi tháng chỉ đi rừng có vài lần, nhưng mỗi lần​ đi cũng mất 50.000 đồng tiền xăng xe máy rồi. Với lại, mình cũng không thể đi hết được rừng, mà chỉ đến đầu bìa rừng nơi mình nhận khoán bảo vệ rồi về thôi,” ông Brel thành thật.
Chi hội trưởng Hội Nông dân thôn 4 cũng tiết lộ, những năm qua, tình trạng chặt phá rừng ở khu rừng ông quản lý diễn ra rất nhiều, thế nhưng bản thân ông cũng không thể biết hết được. Và, phía công ty lâm nghiệp cũng không có ý kiến gì.​
Không chỉ nổi cộm tình trạng khai thác rừng trái phép, việc lấn chiếm đất rừng do công ty lâm nghiệp quản lý, để chuyển sang trồng cây càphê ở huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng cũng đã và đang diễn biến phức tạp.
Ông Đào Văn Vị, Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Tam Bố, cho biết cả xã hiện có 27.690 ha rừng, trong đó 25.000 ha thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Tam Hiệp quản lý. Toàn xã Tam Bố có 1.700 hộ với gần 7.000 khẩu, trong đó dân tộc K’Ho chiếm 42%.
“Đồng bào ở đây nhà nào cũng đông con nên tình trạng thiếu đất sản xuất rất phổ biến. Cũng vì thế, nhiều hộ đã lấn chiếm đất rừng để làm rẫy, chủ yếu là trồng cà phê. Thậm chí, có trường hợp còn lấn chiếm đất rồi chuyển nhượng theo kiểu ‘trao tay’ cho người ở nơi khác đến trồng cà phê,” ông Vị thành thật.
Ông Trần Anh Tuấn, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Tam Hiệp cũng cho biết, tình trạng lấn chiếm đất của lâm trường, biến thành đất nông nghiệp trái phép ​từ lâu ​đã trả thành ​câu chuyện bức bối "biết rồi khổ lắm nói mãi." ​Chỉ tính từ năm 2014 đến nay, cơ quan chức năng đã xử phạt 145 hộ lấn chiếm đất; giải tỏa, thu hồi cưỡng chế 60ha để tổ chức trồng rừng.
Còn tính chung về diện tích bị lấn chiếm, “tính đến tháng Tám đã có 3.120ha đang bị tranh chấp, đó là đất rừng bị người dân chiếm dụng để trồng chủ yếu là cây càphê. Đây cũng là phần diện tích bị chiếm dụng từ nhiều năm trước, đến nay không thể thu hồi được,” ông Tuấn nói.
Trước thực tế nêu trên, ông Trần Anh Tuấn cho biết, hiện Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Tam Hiệp đã soạn thảo xong phương án sắp xếp đổi mới đất nông lâm trường được giao quản lý, và đã trình lên cấp trên, trong đó có đề ra phương hướng sẽ quy hoạch lại diện tích đất.
"Trên cơ sở đó, với 3.120ha đất lâm nghiệp mà người dân đã trồng càphê nhiều năm thì không thể thu hồi được, chúng tôi nên sẽ giao về cho địa phương quản lý và buộc phải chuyển từ đất lâm nghiệp sang đất nông nghiệp,” ông Tuấn nói.​
Tuy vậy, vị Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Tam Hiệp cũng khẳng định, mâu thuẫn giữa sinh kế của người dân địa phương với nhiệm vụ bảo vệ rừng của công ty (đơn vị quản lý) ​là “bài toán” không dễ giải.
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng, trong sáu tháng đầu năm 2015, đơn vị này đã ghi nhận hơn 500 vụ phá rừng khiến hơn 114ha rừng thông bị mất. Nạn phá rừng thông xảy ra nóng nhất tại nhiều huyện như Bảo Lâm, Lạc Dương, Di Linh và vùng ngoại ô Đà Lạt.
Trong khi đó, Văn bản Kết luận của Thanh tra của ​Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng ngày 12/3/2015, về việc Thanh tra ​C​ông ty ​l​âm nghiệp Tam Hiệp theo Quyết định số 55/QĐ-TTr,​ cũng cho thấy​ ​tình trạng lấn chiếm đất rừng, phá rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép năm 2013, 2014 trên địa bàn ​​C​ông ty ​l​âm nghiệp Tam Hiệp​ ​được giao quản lý bảo vệ vẫn còn xảy ra nhiều với diện tích rừng bị lấn chiếm và khối lượng lâm sản thiệt hại lớn.​ (Vietnam + 12/9) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, tình trạng chặt phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép trên địa bàn huyện Phù Mỹ có nhiều diễn biến phức tạp; nạn phá rừng xảy ra tại nhiều địa phương trong huyện với diện tích bị xâm hại đáng kể.
Theo tổng hợp của Văn phòng UBND huyện Phù Mỹ, thời gian gần đây, tại nhiều địa phương trong huyện như xã Mỹ Lộc, Mỹ Thọ, Mỹ Trinh, Mỹ Hiệp… xảy ra tình trạng nhiều người dân chặt phá, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép để canh tác, sản xuất. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, như: sự buông lỏng trong công tác quản lý của chính quyền địa phương; các cơ quan chuyên môn của huyện chưa thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao; bên cạnh đó là tư tưởng trông chờ, ỷ lại của các chủ rừng…
Ông Lê Văn Phi - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm (KL) huyện Phù Mỹ, cho biết: Hiện nay, giá gỗ nguyên liệu giấy (gỗ keo) tăng cao nên một số người dân bất chấp pháp luật, thực hiện hành vi lấn chiếm đất lâm nghiệp để trồng keo. Thực tế này gây nhiều khó khăn cho chính quyền các địa phương và ngành chuyên môn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp.
Từ đầu năm đến nay, hạt KL huyện đã phối hợp với UBND các xã, cơ quan chức năng liên quan tổ chức 12 đợt ra quân kiểm tra, ngăn chặn và xử lý các trường hợp thực hiện hành vi chặt phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện. Hiện nhiều trường hợp vi phạm đang được cơ quan thẩm quyền lập hồ sơ để xử lý theo quy định pháp luật. Riêng Hạt KL Phù Mỹ đã hoàn tất hồ sơ, chuyển cơ quan điều tra xử lý 3 đối tượng có hành vi chặt phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp tại xã Mỹ Lộc với diện tích xâm hại gần 1ha.
Cũng theo ông Phi, để xử lý hiệu quả, triệt để hành vi chặt phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, mới đây, UBND huyện Phù Mỹ đã ban hành văn bản số 704/UBND-VP ngày 31.8.2015 về tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện. Theo đó, UBND huyện yêu cầu UBND các xã khẩn trương lập, thực hiện quy hoạch, phương án bảo vệ và phát triển rừng; quản lý diện tích, ranh giới các khu rừng; thực hiện quy hoạch 3 loại rừng trên thực địa.
Hạt KL, Phòng TN-MT, Phòng NN& PTNT huyện cũng đã phối hợp triển khai thực hiện nội dung chỉ đạo của UBND huyện và các quy định của pháp luật, chính sách, chế độ nhà nước về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp. Đầu tháng 9, các cơ quan chức năng của huyện đã thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, chính sách và chế độ quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp đối với các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư. Phát hiện một số trường hợp vi phạm và đã xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản theo quy định.
Tuy nhiên, về lâu dài các cơ quan chức năng cần phải có biện pháp phối hợp thường xuyên và hữu hiệu trong công tác quản lý bảo vệ rừng, như: Thường xuyên theo dõi chặt chẽ đối tượng vi phạm có tính chuyên nghiệp để kịp thời xử lý; thường xuyên kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời hành vi tiêu thụ, hợp thức hóa nguồn gỗ, lâm sản trái pháp luật... (Báo Bình Định 12/9) đầu trang(
Sáng 11.9, UBND huyện Nam Giang đã tổ chức khởi động Dự án “Bảo vệ và quản lý tổng hợp các hệ sinh thái rừng huyện”.
Mục tiêu của dự án là bảo vệ, quản lý bền vững khoảng 20.000ha rừng tự nhiên sản xuất tại 3 tỉnh Quảng Nam, Kon Tum và Gia Lai, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và đảm bảo thu nhập ổn định thường xuyên cho người dân ở 35 xã với 105 cộng đồng thôn, bản thông qua việc tạo ra sự đa dạng về các sản phẩm từ rừng.
Thời gian thực hiện dự án là 7 năm, do Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức tài trợ thông qua Ngân hàng tái thiết Đức (KfW) và Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, với tổng vốn đầu tư của dự án trên 11,29 triệu euro. Trong đó, vốn ODA do Chính phủ CHLB Đức tài trợ không hoàn lại 8 triệu euro; vốn đối ứng phía Việt Nam là 29% tương đương trên 3,29 triệu euro.
Đối với huyện Nam Giang, dự án được triển khai với khoảng gần 3.100ha rừng tại 3 địa phương gồm thị trấn Thạnh Mỹ, xã Chà Vàl và Đắc Pre với 8 thôn trong vùng dự án. Đây là cơ hội để đồng bào dân tộc thiểu số nghèo vùng sâu, vùng xa nâng cao thu nhập thông qua việc bảo vệ, phát triển rừng và khai thác lâm sản bền vững. (Báo Quảng Nam 12/9) đầu trang(
Ông Ðặng Bá Quang, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm (KL) huyện Vĩnh Thạnh, cho biết: Xác định những tháng cuối năm là thời gian thường gia tăng các hoạt động vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR), Hạt KL huyện chủ động phối hợp các đơn vị chủ rừng và các xã, thị trấn tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát tại các khu vực phức tạp về khai thác rừng trái phép.
Theo Hạt KL huyện Vĩnh Thạnh, từ đầu năm đến nay, tình hình phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn diễn ra khá phức tạp. Nạn khai thác rừng trái phép tập trung nhiều tại các địa phương có rừng gỗ quý hiếm như Vĩnh Sơn, Vĩnh Kim, vùng rừng giáp ranh các huyện Hoài Ân, An Lão, K’Bang, An Khê... Trong 8 tháng đầu năm, lực lượng KL đã phát hiện và xử lý 54 vụ vi phạm Luật BV&PTR, chủ yếu là khai thác rừng trái phép; mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản; phát rừng làm rẫy trái phép.
Điều đáng nói là trong số 54 vụ vi phạm Lâm luật nói trên, có đến 75% số vụ không xác định được đối tượng vi phạm. Lực lượng KL đã xử lý trực tiếp và tham mưu cấp có thẩm quyền xử phạt hành chính 50 vụ, trong đó có 1 vụ được đưa ra truy tố; qua đó tịch thu 33,8 m3 gỗ các loại, thu giữ 11 xe máy, 3 xe ô tô và nhiều phương tiện vi phạm khác.
Cùng với những vi phạm Luật BV&PTR, mới đây tại vùng giáp ranh Vĩnh Thạnh - An Khê nổi lên tình trạng phá rừng làm rẫy trái phép tại tiểu khu 226, thuộc xã Vĩnh Thuận. Tổng diện tích rừng bị thiệt hại gần 6,5 ha, trong đó có gần 5 ha rừng bị chặt hạ và gần 1,5 ha rừng bị phát rong. Trong số rừng bị chặt hạ, có 2,4 ha rừng phòng hộ do BQL Rừng phòng hộ huyện Vĩnh Thạnh quản lý; gần 2,4 ha rừng sản xuất do Công ty TNHH lâm nghiệp Sông Kôn quản lý. Toàn bộ diện tích rừng bị phá nói trên chưa xác định đối tượng vi phạm, hiện các cơ quan liên quan và chủ rừng đang điều tra truy tìm đối tượng.
Xác định trong những tháng cuối năm là thời gian thường gia tăng các hoạt động vi phạm Lâm luật, Hạt KL huyện tiếp tục phối hợp các đơn vị chủ rừng và các xã, thị trấn tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát tại các khu vực phức tạp về khai thác rừng trái phép. Giao trách nhiệm cho KL phụ trách địa bàn thường xuyên bám sát cơ sở, lồng ghép tuyên truyền các văn bản của Nhà nước, của ngành và địa phương trong công tác quản lý, BV&PTR đến người dân và các tổ chức trong các cuộc họp thôn, làng. Tăng cường lực lượng KL cơ động tuần tra trên các tuyến đường nhằm kịp thời phát hiện xử lý việc vận chuyển gỗ, lâm sản trái phép và khai thác rừng trái phép; kiểm tra các cơ sở chế biến gỗ và lâm sản trên địa bàn.
Với sự quyết tâm cao, lực lượng Kiểm lâm huyện Vĩnh Thạnh đang tổ chức thực hiện nghiêm Kế hoạch của UBND huyện về ngăn chặn, xử lý hoạt động khai thác, vận chuyển, lâm sản trái phép, không để xảy ra điểm nóng về phá rừng trong những tháng cuối năm. (Báo Bình Định 13/9) đầu trang(
Tỉnh Kiên Giang triển khai đồng bộ các giải pháp truy quét "lâm tặc", chống chặt phá rừng, ngăn chặn và xử lý đối tượng lấn chiếm đất rừng trên đảo Phú Quốc.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kiên Giang chủ trì phối hợp với lực lượng Hải quân Vùng 5, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về môi trường (Công an tỉnh Kiên Giang), Công an huyện Phú Quốc, Ban Quản lý rừng phòng hộ Phú Quốc, Vườn Quốc gia Phú Quốc và chính quyền địa phương tổ chức ra quân tuần tra, truy quét, chống chặt phá, lấn chiếm đất rừng, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm lâm luật. Lực lượng làm nhiệm vụ tập trung kiểm tra những địa bàn, khu vực, điểm nóng như: thị trấn An Thới và 3 xã Dương Tơ, Hàm Ninh, Gành Dầu.
Qua đó, nhổ bỏ 260 trụ rào bê tông, gỡ bỏ 247 m dây kẽm gai, tháo dỡ 31 chòi tạm và hủy bỏ hơn 179.100 cây trồng các loại trên đất rừng bao chiếm trái phép của các đối tượng; tiến hành cày xới 1.500 m đường ranh giới tiếp giáp đất rừng và đất sản xuất của hộ dân để ngăn chặn lấn chiếm đất, xử phạt hành chính và bắt buộc khắc phục hậu quả 6 vụ.
Do tính chất nghiêm trọng của nhiều vụ phá rừng, lấn chiếm đất rừng, UBND tỉnh Kiên Giang chỉ đạo đoàn kiểm tra liên ngành tiếp tục tăng cường lực lượng duy trì công tác tuần tra, kiểm tra, xử lý triệt để các vụ việc từ nay đến cuối năm, không để tái diễn tình trạng chặt phá rừng, bao chiếm, lấn chiếm đất rừng trái phép trên đảo Phú Quốc.  Bên cạnh đó, UBND huyện Phú Quốc chỉ đạo các xã, thị trấn khẩn trương rà soát diện tích đất do địa phương quản lý, kể cả đất được giao quản lý sau khi điều chỉnh ranh rừng phòng hộ, Vườn Quốc gia Phú Quốc kết hợp tăng cường các biện pháp quản lý chặt chẽ. Huyện tăng cường công tác kiểm tra, phát hiện, kịp thời ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị đến cấp có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai, tài nguyên rừng; quản lý tốt cán bộ, không để xảy ra tình trạng tiếp tay cho các đối tượng bao chiếm, lấn chiếm đất rừng, đất Nhà nước quản lý, đất nằm trong quy hoạch.
Chủ tịch UBND các xã, thị trấn chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND huyện Phú Quốc nếu để xảy ra tình trạng bao chiếm, lấn chiếm và xây dựng trái phép trên đất Nhà nước quản lý, đất nằm trong ranh rừng và đất quy hoạch trên địa bàn quản lý mà không phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời theo thẩm quyền. Huyện tăng cường công tác tuyên truyền chính sách pháp luật về đất đai, tài nguyên rừng trong cán bộ, đảng viên, hội viên và nhân dân nhằm nâng cao hơn nữa ý thức chung tay quản lý, bảo vệ phát triển rừng đảo Phú Quốc.
Từ đầu năm đến nay, các ngành chức năng huyện Phú Quốc phát hiện, xử lý 51 vụ vi phạm luật, trong đó có 45 vụ phá rừng, lấn chiếm đất rừng, đốt rừng, mua bán đất rừng và 6 vụ khai thác rừng trái phép; tổng diện tích bị thiệt hại hơn 44 ha. (Tin Môi Trường 12/9) đầu trang(
Nằm gần sông Kiến Giang, ở xã An Thủy (Lệ Thủy, Quảng Bình) có cánh rừng lộc vừng khoảng 400 tuổi, đến mùa nở hoa đỏ rực cả một vùng trời.
Rừng lộc vừng rộng 2 ha với khoảng 1.000 gốc nằm ở thôn Phú Thọ (xã An Thủy, Lệ Thủy). Người miền Trung gọi lộc vừng bằng cái tên dân dã là mưng.
Không ai biết chính xác độ tuổi của cánh rừng này, các bậc cao niên vẫn truyền lại cánh rừng khoảng 400 tuổi. Những năm kháng chiến, vùng đầm lầy trũng nước và xanh mướt màu lá trở thành điểm trú quân của bộ đội. Người dân địa phương coi cánh rừng như báu vật nên rất trân trọng và ra sức bảo vệ. Các bô lão thôn Phú Thọ ra một “hương ước” dành riêng cho người dân trong thôn, ai vi phạm sẽ bị phạt nặng và đưa ra kiểm điểm, làm gương trước cộng đồng.
Có thời điểm, lộc vừng vào cơn sốt, khu rừng với những thế cây độc đáo được nhiều lái buôn trả lên đến cả tỷ đồng, nhưng chính quyền và người dân kiên quyết không bán. Ngày nay, rừng lộc vừng trở thành không gian xanh, lá phổi của cả thôn Phú Thọ. Đây trở thành điểm dừng chân của nhiều nông dân, ngồi dưới bóng cây hóng mát, tâm sự chuyện đồng áng.
Một năm hai mùa nở hoa, rừng lộc vừng nhuốm đỏ cả một vùng trời. Vào mùa thu, lá rừng úa vàng. Sang xuân, những chồi non đầy sức sống như tiếp thêm sinh khí cho người dân nơi đây. Ngoài hương ước, thôn Phú Thọ lập ra hẳn một ban bảo vệ gồm cựu chiến binh, công an viên của thôn… thường xuyên tuần tra, nhất là vào các thời điểm cây lộc vừng lên giá.
Phía dưới rừng lộc vừng là vùng nước mát lành được người dân tận dụng để phát triển kinh tế, thả cá hoặc nuôi vịt. Rừng lộc vừng cũng trở thành điểm tham quan, chụp ảnh của nhiều du khách. Nhiều người có dịp đến đúng mùa hoa nở đã không ngớt trầm trồ trước những bông hoa lộc vừng nhỏ xíu, đỏ tươi đầy sức sống. (VnExpress 13/9) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Đắk Lắk hiện có 29 dự án chuyển đổi 19.326ha đất rừng, rừng tự nhiên nghèo sang trồng cao su, trong đó huyện Ea Súp là địa phương có diện tích đất rừng, rừng tự nhiên chuyển sang trồng cao su nhiều nhất với 13 dự án.
Đến nay, các doanh nghiệp đã trồng được gần 7.500ha cao su, nâng tổng diện tích cao su của tỉnh lên 40.100ha. (Tin Tức 11/9) đầu trang(
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam vừa đồng ý với đề nghị của UBND tỉnh Quảng Nam về việc triển khai Đề án bảo tồn và phát triển cây sâm Ngọc Linh (sâm Việt Nam) đến năm 2030.
Phó Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Quảng Nam lựa chọn danh mục, sắp xếp thứ tự ưu tiên các dự án thuộc Đề án sử dụng vốn ngân sách nhà nước và tổng hợp vào kế hoạch đầu tư công trung hạn của tỉnh Quảng Nam, trong đó ưu tiên đầu tư vào các nội dung thiết yếu không có khả năng xã hội hóa, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư thẩm định theo quy định.
Trước đó, lãnh đạo tỉnh Quảng Nam đã có công văn gửi Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Sở hữu trí tuệ để đăng ký quyền quản lý chỉ dẫn địa lý sản phẩm sâm Ngọc Linh - Panax vietnamensis Ha et Grushv (tức là xin đăng ký bảo hộ thương hiệu sâm Ngọc Linh - Quảng Nam).
Đề án phát triển cây sâm Việt Nam có tổng nguồn kính phí đầu tư hơn 9.000 tỷ đồng, tương đương 450 triệu USD để phát triển vùng sâm chuyên canh 19.000 ha, tại 7/10 xã của huyện Nam Trà My. Trong đó, kinh phí kêu gọi doanh nghiệp đầu tư hơn 5.000 tỷ đồng.
Sâm Ngọc Linh được xếp vào 1 trong 4 cây sâm quý nhất trên thế giới (sâm Mỹ, sâm Hàn Quốc, sâm Triều Tiên, sâm Ngọc Linh Việt Nam), đã được giới khoa học, các cơ quan chuyên môn trong và ngoài nước đánh giá rất cao, không những về giá trị kinh tế, mà còn về công dụng chữa bệnh, bồi bổ sức khỏe.
Theo UBND tỉnh Quảng Nam, sâm Ngọc Linh hiện có giá trị kinh tế rất cao, khoảng 20-50 triệu đồng/kg (tùy theo độ tuổi của sâm), trong khi đó, 1kg sâm tươi Triều Tiên chỉ có giá khoảng 4 triệu đồng. Nhu cầu tiêu dùng sâm Ngọc Linh ngày càng lớn và không còn trong phạm vi trong nước, mà còn cung cấp cho một số thị trường nước ngoài.
Chỉ cần đầu tư khoảng hơn 3 tỷ đồng để trồng 1 ha sâm Ngọc Linh, sau 5 năm, với giá thấp nhất của sâm trồng chưa đủ tuổi là 15 triệu đồng/kg thì 1 ha đã cho 30 tỷ đồng. Theo lãnh đạo tỉnh, đây là cây siêu lợi nhuận.
Trong thời gian qua, tỉnh Quảng Nam đã có nhiều nỗ lực, dành kinh phí hàng năm để phát triển cây sâm Ngọc Linh.
Hiện có một số đơn vị đang thực hiện nhiệm vụ bảo tồn và phát triển cây sâm Ngọc Linh như: Trại sâm giống Tắk Ngo, Thôn 2 xã Trà Linh, do huyện Nam Trà My quản lý với hơn 20.000 cây sâm giống 2 năm tuổi; Trại dược liệu Trà Linh do UBND tỉnh Quảng Nam quản lý với tổng diện tích 7,127 ha và tổng số 167.658 cây ở nhiều độ tuổi khác nhau.
Sâm Ngọc Linh là loại cây dược liệu đặc thù, hiện nay mới chỉ phát hiện phân bố trên vùng sinh thái hẹp, dưới các tán rừng nguyên sinh quanh đỉnh núi Ngọc Linh, thuộc địa phận của huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam; Đắk Glei và Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum. (Vietnamnet 12/9; Đại Đoàn Kết 13/9; Thanh Niên 13/9) đầu trang(
Mùa thu, lá rừng xào xạc, cái lạnh bắt đầu len lỏi trong màn sương thấm qua kẽ lá. Những người sống nhờ rừng ở vùng núi Lào Cai vẫn ngày ngày băng qua vạt rừng ẩm ướt để tìm kế sinh nhai cho gia đình. Họ đã nhiều đời gắn bó với rừng, cuộc sống của họ no đủ cũng từ rừng mà nên.
Đó là những người sống bằng nguồn thu thảo quả khi một năm có tới 6 tháng “thường trú” sâu trong những khu rừng ẩm ướt, nơi lán thảo quả được dựng tạm và cuộc sống ở đó phải đối mặt với muôn vàn khó khăn.
Chỉ còn khoảng 2 tháng nữa là thảo quả chín đỏ, thơm lừng nhưng thời điểm này, hương thảo quả đã thoang thoảng trên đường mòn vào núi. Từ tháng 6 âm lịch, người trồng thảo quả bắt đầu chuẩn bị các vật dụng cơ bản gồm vài chiếc nồi và gạo, thực phẩm khô ngược rừng lên lán. Những người đi chủ yếu là đàn ông sức dài, vai rộng, khi ấy, họ phải tạm xa vợ con để canh gác “kho báu” của gia đình. Với người vùng cao, diện tích trồng lúa bị hạn chế thì thảo quả trở thành nguồn thu chính, thậm chí làm giàu cho nhiều gia đình, là kế sinh nhai mà bậc tiền bối, trước khi nằm xuống đã kịp để lại cho con cháu. Việc của đời sau là canh gác và mở rộng diện tích.
Chúng tôi gặp anh Châu A Dũng, xã Bản Khoang (Sa Pa) lưng đeo một chiếc lù-cở, bên trong là 1 chai rượu thóc, 2 chiếc nồi, 5 kg gạo và lạc, muối, cá khô để bắt đầu hành trình lên lán thảo quả. Từ nhà anh đi bộ phải mất nửa ngày mới tới nơi. Vợ và hai con của anh ở nhà lo thu hoạch vụ mùa, xong việc, người vợ sẽ lên núi sấy thảo quả cùng với anh Dũng sau.
Tuần trước, khi thăm rừng, anh A Dũng thấy lác đác vài gốc thảo quả đã ngả màu nên tuần này anh phải lên trông coi đề phòng trộm cắp. Với người trồng, từ nay đến tháng 10 âm lịch là thời gian “nhạy cảm” vì khá nhiều kẻ gian nhòm ngó. Sau nửa ngày vượt rừng toát mồ hôi, căn lán xập xệ của gia đình anh cũng hiện ra trước mắt. Việc đầu tiên A Dũng làm là lấy lá thảo quả dặm lại mái lán cho hết dột nát, sau đó anh dọn dẹp bên trong, lấy củi nhóm lửa nấu cơm.
Cũng may lán của A Dũng gần một con suối nhỏ, nên không phải lo nguồn nước như một số lán thảo quả khác. Bữa cơm đạm bạc với cơm và muối lạc, không rau, không canh, chỉ có bát rượu và ngọn lửa hồng để xua đi cái lạnh trên núi cao. A Dũng bảo: “Buổi chiều tôi phải trồng mấy khóm su su để lấy rau ăn, rồi thăm nương thảo quả một lượt xem tình hình thế nào”. Châu A Dũng nhấp một ngụm rượu rồi khà thành tiếng, anh nhìn về phía đường xuống núi ngóng chờ ngày vợ lên.
Cuộc sống của người trồng thảo quả nơi lưng chừng núi luôn phải đối mặt với nhiều thiếu thốn, thậm chí cả hiểm nguy nhưng họ vẫn cố gắng vượt qua bởi miếng cơm, manh áo; con đường học hành của con cái họ cũng trông chờ vào những cánh rừng tràn ngập thảo quả này.
Người Dao ở Tả Phìn (Sa Pa) được ví như bậc thầy của đông y khi họ sở hữu kiến thức rộng lớn về những bài thuốc nam thần kỳ chữa các bệnh xương khớp, cảm hàn, cảm cúm, nâng cao sức khỏe cho con người. Người Dao cũng chính là cộng đồng gắn bó lâu đời với rừng, nên hiểu rừng hơn cả. Những bài thuốc của họ giờ không còn bó hẹp trong gia đình, bản làng mà đã vươn xa, trở thành sản phẩm được thị trường ưa chuộng, trong đó, sản phẩm thuốc tắm đã có thương hiệu và được một số doanh nghiệp phát triển mạnh kết hợp với dịch vụ du lịch.
Để có bài thuốc tắm dành cho từng đối tượng, các doanh nghiệp phải nhờ đến sự am hiểu của người Dao bản địa. Cũng nhờ sự phát triển của dịch vụ tắm lá thuốc mà cuộc sống của người Dao đỏ Tả Phìn, những người sinh ra từ rừng đã thay đổi so với trước.
Bà Lý Lở Mẩy ở Tả Phìn (Sa Pa) đã 60 tuổi, nhưng vẫn thường dậy từ 4h sáng để chuẩn bị vào rừng hái lá thuốc bán cho công ty; bà phải đem theo cơm nắm và một chút muối ăn cho bữa trưa. Một ngày lao động của bà Mẩy kéo dài từ sáng sớm đến chiều muộn. Bà băng qua con đường mòn mà chỉ những người bản địa mới nắm được phương hướng để đi về phía có những cây thuốc quý.
Người Dao thường truyền dạy cho con gái kiến thức về các bài thuốc nam, vì vậy, năm lên 8 tuổi, bà Mẩy được lĩnh hội toàn bộ tri thức về cây thuốc từ mẹ đẻ và bà nội truyền lại. Bà Mẩy bảo, thực ra quanh nhà cũng có cây thuốc nhưng muốn tìm được thuốc quý phải đi sâu vào trong rừng, càng đi sâu, kho thuốc càng phong phú.
Thời điểm lý tưởng để hái thuốc chính là sớm mai khi sương vẫn còn đọng trên lá vì theo quan điểm của người trong nghề, lúc đó cây thuốc sẽ phát huy công dụng nhất. Người Dao luôn có ý thức bảo vệ cây thuốc vì đó là nguồn thu nhập lâu dài, nên họ chỉ hái lá, cành còn để lại thân và gốc cho cây phát triển. Kết thúc một ngày làm việc vất vả, phải đi bộ nhiều giờ đồng hồ, đến chiều, bà Mẩy về thẳng cơ sở chế biến thuốc tắm bán lá thuốc.
Chiếc lù-cở chồng lá thuốc cao quá đầu, choán cả mái tóc điểm bạc phất phơ dưới nắng chiều. Bà được cơ sở chế biến trả 200.000 đồng cho lượng cây thuốc vừa hái được từ rừng. Người Dao Sa Pa đã và đang có nguồn thu ổn định nhờ kiến thức đông y mà họ sở hữu và chính những khu rừng bao bọc cuộc sống của họ, đem lại sự no đủ như ngày hôm nay.
Hơn ai hết, người sinh sống “bám” rừng hiểu những cánh rừng xanh thẫm, thâm u kia quan trọng như thế nào, bởi đó là miếng cơm, manh áo, là cuộc sống đủ đầy, nên việc bảo vệ rừng được họ thực hiện như một lẽ tất nhiên. Mỗi cộng đồng có cách thức bảo vệ rừng khác nhau, mỗi câu chuyện giữ rừng lại là một điều kỳ bí khó lý giải. Nhưng có một lý do hiển nhiên, đó là họ sinh ra từ rừng rồi khi nằm xuống cũng được rừng bao bọc, chở che thì lẽ nào tình yêu rừng lại không thể trọn đời!. (Báo Lào Cai 13/9) đầu trang(
Ngày 12/9, đoàn công tác của Chính phủ do Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Trưởng ban Chỉ đạo Tây bắc làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc với tỉnh Lai Châu.
Tỉnh Lai Châu kiến nghị với Chính phủ có những cơ chế đặc thù để phát triển rừng, đặc biệt là rừng đầu nguồn sông Đà; tăng phí dịch vụ bảo vệ môi trường rừng.
Đối với nhân dân vùng tái định cư thủy điện, Lai Châu mong muốn Trung ương sớm có nghị quyết hoặc chương trình chuyên đề để ổn định đời sống, phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho đồng bào; đồng thời mong muốn bố trí các nguồn vốn đầu tư để xây dựng các công trình đường sá, thủy lợi, cơ sở hạ tầng quan trọng thiết yếu, nhất là triển khai các dự án đường tuần tra biên giới, sắp xếp ổn định dân cư…
Tại buổi làm việc, lãnh đạo các bộ ngành Trung ương đã đưa ra những ý kiến góp ý để tháo gỡ những vướng mắc cho Lai Châu, giúp tỉnh vượt qua những khó khăn, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo trong trong giai đoạn tới.
Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc biểu dương sự nỗ lực, cố gắng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Lai Châu trong phát triển kinh tế - xã hội cũng như chuẩn bị tốt cho Đại hội Đảng bộ tỉnh. Lai Châu là địa phương có nhiều dân tộc anh em đã nêu cao tinh thần đoàn kết, tích cực phấn đấu tiến bộ nhiều mặt, đặc biệt là xóa đói giảm nghèo.
Phó Thủ tướng đánh giá cao công tác dân tộc luôn được tỉnh Lai Châu quan tâm. Trong xây dựng nông thôn mới, mặc dù là tỉnh miền núi khó khăn nhưng Lai Châu đã có 2 xã hoàn thành việc xây dựng nông thôn mới. Phó Thủ tướng khen ngợi Lai Châu đã có cố gắng trong công tác tái định cư, sử dụng có hiệu quả phí môi trường rừng để nâng cao độ che phủ rừng; đồng thời biểu dương Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã đầu tư, hỗ trợ nhiều mặt cho Lai Châu để giải quyết vấn đề an sinh xã hội, thể hiện trách nhiệm với cộng đồng. (Tin Tức 12/9) đầu trang(
Nhằm đánh giá được chất lượng trồng rừng năm 2015, Ban quản lý dự án bảo vệ rừng và phát triển rừng Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn đã nghiệm thu rừng trồng bước 1.
Theo cáo cáo của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn, ngay sau khi hoàn thành công tác trồng rừng, Công ty đã chỉ đạo các lâm trường trực thuộc tổ chức nghiệm thu trồng rừng đợt 1. Trong đó, tập trung vào việc nghiệm thu mật độ, khoảng cách, tỷ lệ cây sống, diện tích trồng rừng so với thiết kế…
Đây là bước nghiệm thu quan trọng để công ty triển khai cấp cây trồng tra dặm và có biện pháp khắc phục đối với những diện tích cây trồng bị sâu, mối phá hại. Năm 2015, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn thực hiện trồng mới được trên 690/620ha, vượt 11%  kế hoạch. Qua nghiệm thu bước 1, tỷ lệ cây sống đạt trên 95%. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 12/9) đầu trang(
Ban Quản lý dự án ứng phó với biến đổi khí hậu huyện Núi Thành vừa tổ chức nghiệm thu hoàn thành và bàn giao đưa vào sử dụng dự án trồng phục hồi rừng ngập mặn tại xã Tam Giang.
Dự án trồng phục hồi rừng ngập mặn tại xã Tam Giang được thực hiện từ tháng 6.2014 và hoàn thành vào cuối tháng 8.2015 với tổng diện tích trồng phục hồi rừng ngập mặn là 27,45ha thuộc địa bàn 4 thôn: Đông Xuân, Đông An, Đông Bình và Đông Mỹ. Trong đó, trồng rừng 23,90ha, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung 3,55ha.
Dự án có tổng mức đầu tư hơn 3,1 tỷ đồng do Xí nghiệp Lâm nghiệp Quảng Nam thi công xây dựng. Dự án trồng phục hồi rừng ngập mặn tại xã Tam Giang có nhiệm vụ bảo vệ và phát triển diện tích rừng ngập mặn ven sông nhằm bảo vệ các bờ đê, bờ kè khỏi bị xóa lỡ bởi gió bão, ứng phó với biến đổi khí hậu. (Báo Quảng Nam 12/9) đầu trang(
Phó Chủ tịch UBND TP.HCM Lê Thanh Liêm vừa giao Sở NN&PTNT khảo sát vị trí, diện tích rừng ngập mặn Cần Giờ nơi được đề xuất mở đường xuyên rừng.
Yêu cầu này xuất phát từ kiến nghị của Sở TN&MT. Sở này cho rằng dự án đã được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và có kế hoạch trồng lại số cây bị đốn hạ để làm đường cũng đã có… Từ đó, Sở TN&MT kiến nghị UBND TP cho huyện Cần Giờ thực hiện thiết kế kỹ thuật khai thác rừng và lập phương án trồng rừng thay thế trước khi thực hiện các công việc tiếp theo để xây đường.
Tuyến đường đề xuất có tên Lâm Viên - Đình Đồng, để làm đường dự kiến có khoảng 18.700 cây rừng bị chặt. UBND huyện Cần Giờ là chủ đầu tư dự án, xác định đây là dự án trọng điểm nhằm phát triển mạng lưới giao thông, du lịch đường sông TP.HCM và du lịch sinh thái Cần Giờ.
Như Pháp Luật TP.HCM đã phản ánh, nhiều chuyên gia môi trường, sinh thái nhận xét việc mở tuyến đường rộng đến 17 m, dài 3,5 km đi qua vùng lõi rừng ngập mặn Cần Giờ - khu dự trữ sinh quyển của thế giới cần được cân nhắc kỹ. Ngoài ra, ĐTM của dự án được Bộ TN&MT phê duyệt đã lâu. Theo quy định, ĐTM phải làm lại, không được lấy kết quả đó để thực hiện dự án. (Pháp Luật TP.HCM 14/9) đầu trang(
Theo phản ánh của nhiều doanh nghiệp gỗ tại Bình Dương, Thông tư 01/2012/TT-BNN&PTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản (Thông tư 01) đã gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu.
Lãnh đạo một doanh nghiệp gỗ tại TX Dĩ An cho biết, theo quy định trước đây, trong quá trình nhập khẩu gỗ nếu doanh nghiệp chứng minh nguồn gốc xuất xứ nguyên liệu thì có hóa đơn đầu vào hoặc tờ khai nhập khẩu; còn hồ sơ lâm sản thì chỉ cần kiểm lâm kiểm tra đầu vào là đủ.
Nhưng theo Thông tư 01, doanh nghiệp phải làm hồ sơ báo cáo đơn vị kiểm lâm đầu vào và đầu ra, kiểm tra trừ lùi số lượng. Quy định như thế đã gây nhiều rắc rối cho doanh nghiệp xuất khẩu gỗ. Năm 2012, thông tư này được ban hành, áp dụng được một thời gian thì tạm ngưng, nhưng từ đầu năm đến nay được thực hiện trở lại khiến doanh nghiệp gặp khó khi khai báo hàng xuất khẩu.
Đại diện một Cty khác cũng ở TX Dĩ An bức xúc, thời gian giao hàng đã được doanh nghiệp ký kết với đối tác, nay Cục Kiểm lâm vào kiểm tra làm doanh nghiệp mất rất nhiều thời gian vì phải chứng minh nguồn gốc xuất xứ gỗ, rồi tính toán chi tiết số lượng gỗ đã nhập khẩu, số lượng sản xuất thực tế…
Nhiều lô hàng bị tạm cấm xuất để chứng minh tính hợp pháp của nguồn gốc gỗ khiến doanh nghiệp “vỡ” hợp đồng, phải bồi thường cho khách hàng. Nguồn nguyên liệu gỗ nhập về Việt Nam, ngay khâu đầu vào đã được kiểm tra theo quy định thì đâu cần phải kiểm tra như theo Thông tư 01 nữa.
Trước bức xúc của doanh nghiệp, vừa qua, Hiệp hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương đã họp bàn về những điều bất hợp lý từ Thông tư 01. Hiệp hội đã kiến nghị với lãnh đạo tỉnh, Cục Hải quan Bình Dương đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét, cân nhắc lại nội dung Thông tư 01 nhằm giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp trước sức ép phải giao hàng đúng hợp đồng từ nay cho đến cuối năm.
Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp gỗ ở Bình Dương có đến 2 – 3 cơ sở sản xuất gỗ đặt tại các tỉnh lân cận vẫn gặp khó vì các địa phương này còn áp dụng Thông tư 01.
Theo Giám đốc một doanh nghiệp tại TX Thuận An, Cty của ông có trụ sở chính tại Bình Dương nhưng cơ sở sản xuất lại đặt tại địa bàn tỉnh khác. Nguồn nguyên liệu gỗ nhập khẩu đã được chứng minh hợp pháp từ Cục Hải quan Bình Dương, nay nguồn nguyên liệu này di chuyển sang địa bàn tỉnh khác lại mất thời gian “chứng minh” lần nữa.
Theo các chuyên gia, Thông tư 01 chỉ cần thiết đối với những doanh nghiệp sử dụng nguồn nguyên liệu từ gỗ thiên nhiên, rừng cần bảo tồn, còn đối với doanh nghiệp sử dụng nguồn nguyên liệu nhập khẩu là không cần thiết, thậm chí gây cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Thực tế, nguyên liệu lâm sản từ một số nước ở châu Âu, Mỹ – nơi cung cấp nguồn nguyên liệu gỗ chủ yếu cho các doanh nghiệp trong nước được kiểm tra rất nghiêm ngặt trước khi xuất sang các nước khác. Thông tư 01 cần được các cơ quan chức năng xem xét và cân nhắc lại để tháo gỡ khó khăn, giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc đưa sản phẩm gỗ Việt ra thị trường thế giới. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 13/9) đầu trang(
Thật bất hợp lý khi người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất trong khi đất nông, lâm trường (NLT) lại hoạt động không hiệu quả.
“Tôi tin, nếu giao đất cho dân kết hợp hướng dẫn người dân sản xuất sẽ không còn cảnh lãng phí đất NLT khiến dư luận bức xúc thời gian qua”- Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Giàng A Chu đã khẳng định như vậy với Đại Đoàn Kết.
Ủy ban Thường vụ QH đã có các cuộc giám sát về quản lý, sử dụng đất đai tại các NLT. Qua quá trình giám sát cũng như báo cáo của các tỉnh, hiện nay chúng tôi thu thập được nhiều số liệu liên quan đến quản lý đất đai tại các NLT quốc doanh. Về cơ bản, sau khi chuyển đổi sắp xếp lại các NLT theo Nghị quyết 28, các NLT có những khó khăn nhất định.
Các NLT dù đã chuyển đổi cơ chế mới, hoạt động theo luật doanh nghiệp, theo cơ chế thị trường, có những thay đổi nhất định, nhưng về cơ bản NLT vẫn được Nhà nước giao cho nguồn quỹ đất rất lớn. Chẳng hạn với rừng, năm 2014 vẫn được giao hơn 7 triệu ha và nay vẫn còn trên 4 triệu ha. Được giao quỹ đất lớn như vậy nhưng NLT sản xuất, kinh doanh lại không hiệu quả.
Đặc biệt là các công ty nông lâm nghiệp, các ban quản lý rừng. Những đơn vị này vừa làm nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh vừa làm nhiệm vụ công ích nhưng vẫn còn lẫn lộn giữa 2 chức năng. Chính từ sự lẫn lộn đó mà quản lý đất đai không chặt chẽ.
Trong khi đó, theo báo cáo của Ủy ban Dân tộc, có hơn 30 ngàn hộ dân thiếu đất sản xuất, không có đất sản xuất. Chúng tôi đã đi giám sát nội dung này. Rất nhiều nơi bà con không đủ đất sản xuất hoặc có đất thì rất xấu không sản xuất được.
Nghị quyết 28 đã nói rõ, các địa phương trên cơ sở rà soát, sắp xếp NLT, phải kiên quyết thu hồi một phần đất của các NLT, các công ty có nguồn gốc từ NLT giao lại cho địa phương, từ đó, địa phương chia cho dân thiếu đất sản xuất, giải quyết phần thiếu đất sản xuất, tạo công ăn việc làm ổn định cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Đi giám sát, nhiều nơi như, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Tuyên Quang, chính quyền tỉnh rất kiên quyết thu hồi đất NLT giao cho dân, tuy nhiên, diện tích đất được thu hồi không nhiều. Thu hồi chưa nhiều vì còn vướng mắc, phải xử lý được tài sản trên đất mới có thể chia cho dân. Nếu bây giờ thu hồi đất mà không xử lý được tài sản trên đất thì người dân không đủ sức thanh lý tài sản này.
Diện tích đất NLT được thu hồi chưa nhiều. Có nơi chỉ thu hồi được khoảng 500.000ha đất, có nơi cũng thu hồi được diện tích đất tương tự nhưng chỉ là hợp lý hóa vì đất đã bị lấn chiếm trước đó rồi.
Về nguyên nhân chậm thu hồi đất chủ yếu là chưa có cơ chế thanh lý tài sản trên đất. Như Tổng công ty  Giấy Việt Nam họ đã sẵn sàng bàn giao đất cho địa phương và chỉ giữ lại 50% diện tích đất hiện có. Tuy nhiên giờ vẫn chưa thu hồi được vì kỳ sản xuất chưa kết thúc. Những tài sản trên đất như, cây cối người dân không thể thanh lý được.
Nếu một bên giao đất yêu cầu đền bù mà không được đền bù thỏa đáng còn một bên chỉ muốn nhận đất không mà không có cơ chế để thanh lý thì không thể giải quyết dứt điểm.
Đó là nguyên nhân khách quan, còn một nguyên nhân nữa khiến sự chậm trễ trong giao đất, đó là địa phương chưa tập trung vào nội dung này. Một số địa phương thấy sự bất hợp lý của dân thiếu đất mà NLT “ôm” đất, đã tiến hành thu hồi đất nhưng khi tổ chức thực hiện thấy vướng nên không kiên quyết, không làm đến cùng nên mới xảy ra chậm trễ.
để đẩy nhanh tiến trình giao đất cho dân phải có giải pháp thanh lý tài sản trên đất. Chẳng hạn đối với cây con gần hết chu kỳ sản xuất tạo điều kiện cho người dân nhận khoán, sau đó có các cơ chế cho họ bán sản phẩm đó để thu hồi lại tài sản có giá trị trên đất. Đó là với những tài sản trên đất có giá trị, đối với tài sản hiệu quả kinh tế không cao Nhà nước phải thanh lý, có kinh phí đền bù cho chủ đất, đền bù cho NLT.
Trên cơ sở đó có quỹ đất sạch giao lại cho dân tổ chức sản xuất. Đồng thời, tiếp tục “khám sức khỏe” cho NLT, nếu NLT không đủ điều kiện hoạt động, phải tạo điều kiện cho người ta giải thể, để giao lại cho người sử dụng đất có hiệu quả làm.
Giao đất cho dân hiệu quả tốt hơn nhiều so với NLT thì có thể không phải tất cả, nhưng nếu đất mầu mỡ, không cằn cỗi, đất có đủ điều kiện sản xuất giao cho bà con hiệu quả hơn nhiều. Ví dụ đất lâm nghiệp một số nơi như Tây Nguyên, có đủ điều kiện giao cho dân ngay.
Đối với nơi đất dốc, đá, lẫn sông suối, phải tu bổ từng bước rồi mới giao lại, nếu giao ngay cho dân thì không hiệu quả. Đặc biệt, đối với đồng bào thiểu số do trình độ canh tác kém, giao đất phải đi kèm với hỗ trợ kỹ thuật, tạo điều kiện cho sản xuất mới phát triển. (Đại Đoàn Kết 13/9) đầu trang(
Ông Danh Út, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội cho biết: Qua quá trình giám sát thấy tiến độ thực hiện sắp xếp đổi mới các nông lâm trường còn chậm so với yêu cầu, trong việc sắp xếp đổi mới còn quá nặng về đổi tên từ nông lâm trường sang công ty, doanh nghiệp.
Tại Hội nghị Đẩy nhanh việc thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW của Bộ Chính trị và triển khai Chỉ thị số 24/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về cải cách hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường do Bộ Tài nguyên- Môi trường tổ chức tại Hà Nội ngày 11-9, ông  Danh Út cho biết, năm 1955 cả nước có 822 nông lâm trường, hiện tại còn 623 nông lâm trường với diện tích 7,9 triệu ha.
Theo ông Danh Út, trong 10 năm qua, 623 nông lâm trường đóng góp vào ngân sách Nhà nước là 1.800 tỷ đồng. Tuy nhiên, hiện Bộ Tài nguyên- Môi trường mới thực hiện đo đạc, lập bản đồ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được khoảng 50% diện tích. Điều này cho thấy, vấn đề cấp giấy chứng nhận sử dụng đất cho các nông lâm trường còn chậm. Trong khi đó, muốn quản lý đất hiệu quả thì cần phải cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, cá nhân.
Bên cạnh đó, nhiều diện tích đất nông lâm trường được sử dụng sai mục đích như góp vốn sản xuất kinh doanh; các nông trường tự ý cho mượn đất; đất nông lâm trường đem liên doanh liên kết...
"Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ kiến nghị Chính phủ xử lý những tổ chức, cá nhân vi phạm trong vấn đề sử dụng đất đai" -ông Danh Út khẳng định.
Ông Danh Út nhận định: “Tôi thấy rằng bên cạnh khó khăn, nguồn lực để thực hiện đo đạc, lập bản đồ đất nông lâm trường vẫn còn yếu, ngân sách Trung ương đầu tư xuống địa phương và ngân sách địa phương đầu tư trong lĩnh vực này vẫn còn thấp. Qua giám sát, chúng tôi thấy rằng các tỉnh chỉ trích ra được 2,7% trong 10% tiền sử dụng đất để đo đạc, lập bản đồ đất nông lâm trường”.
Bộ Tài nguyên Môi trường cho biết, đã chỉ đạo thành lập đơn vị công tác giúp địa phương trong việc thực hiện cấp giấy chứng nhận. Đối với các đơn vị vi phạm về sử dụng đất nông lâm nghiệp thì căn cứ quy định của pháp luật để xử lý các vi phạm này. (Hải Quan 12/9) đầu trang(
Phú Thọ có diện tích đất lâm nghiệp chiếm 55,3% tổng diện tích tự nhiên nên từ lâu rừng  đóng vai trò quan trọng phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển kinh tế - xã hội.
Trong tiến trình xây dựng nông thôn mới, thực hiện CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn; khai thác tiềm năng lâm nghiệp để phát triển đang trở thành vấn đề cấp thiết. Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII đã  xác định: “Phát triển kinh tế lâm nghiệp, phát triển rừng là một trong những chương trình kinh tế trọng điểm của tỉnh”.
Nằm ở vùng trung tâm Bắc Bộ, tài nguyên rừng Phú Thọ khá đa dạng, với nhiều loài động, thực vật đặc trưng cả nước, mang lại nhiều nguồn lợi cho đời sống.
Song quá trình quản lý, khai thác còn bất cập nên có thời kỳ rừng tỉnh ta xuống cấp nghiêm trọng. Nếu trước năm 1970, độ che phủ của rừng trên địa bàn tỉnh còn chiếm tới trên 50%, trong đó tỷ lệ rừng nguyên sinh, rừng giàu chiếm 2/3 thì đến năm 1990 độ che phủ của rừng chỉ còn 13%.
Từ một địa phương giàu tài nguyên rừng, với nhiều loại lâm sản quý Phú Thọ mau chóng trở thành tỉnh đa dạng sinh học bị giảm sút nghiêm trọng. Nguyên nhân chủ yếu do khó khăn của đất nước sau chiến tranh, đồng thời còn thiếu các giải pháp về quản lý, quy hoạch phát triển.
Sau mấy chục năm đổi mới phát triển, thông qua chính sách giao đất, giao rừng, tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, huy động nguồn lực đẩy mạnh phủ xanh đất trống, đầu tư công nghiệp chế biến, tiêu thụ sản phẩm, toàn tỉnh đã dần trả lại màu xanh cho rừng, nâng độ che phủ từ 30,8% (năm 2000) lên trên 52% (năm 2014), đưa Phú Thọ trở lại là địa phương có độ che phủ rừng cao của cả nước. Cùng với việc nâng độ che phủ của rừng, nhiều năm qua, kinh tế lâm nghiệp ngày càng có vai trò quan trọng trong  nông, lâm nghiệp nói riêng và toàn xã hội nói chung.
Từ năm 2010 đến nay, giá trị sản xuất toàn ngành mỗi năm đạt 3.200 - 3.500 tỷ đồng, tăng 6-8,2%; sản lượng gỗ khai thác đạt 350-400 nghìn m3/năm; đã đóng góp tích cực vào phát triển các lĩnh vực kinh tế, trong đó có nhiều lĩnh vực xếp loại hàng đầu cả nước như công nghiệp giấy, bảo vệ các hệ sinh thái, môi trường và đa dạng sinh học tại các vùng nông thôn, miền núi.
Tuy đã tăng nhanh diện tích phủ xanh, đưa lâm nghiệp có vị thế trong kinh tế, môi trường  nhưng phát triển lâm nghiệp mấy chục năm qua cũng bộc lộ một số hạn chế. Tốc độ phủ xanh đất trống, đồi núi trọc nhanh nhưng chất lượng rừng hạn chế. Từ năm 1990 đến nay, thông qua các chương trình, dự án như 327, 661, trồng rừng nguyên liệu giấy, chương trình lâm nghiệp xã hội... để trồng rừng.
Do đặc thù thị trường và yêu cầu đầu tư trong trồng rừng mấy chục năm qua, ưu tiên số một là trồng các cây nguyên liệu giấy như bạch đàn, mỡ, keo, bồ đề... còn cây phục vụ cho chương trình kinh tế khác như cây gỗ lớn, cây lấy gỗ quý, cây dược liệu ít được quan tâm…
Từ đó dẫn đến các hệ sinh thái rừng, tính đa dạng sinh học của rừng chưa được nâng cao. Các loại lâm sản ngoài gỗ chưa được chú trọng. Do áp dụng kỹ thuật trồng rừng coi trọng cây trồng chính, qua quá trình xử lý thực bì, chăm sóc phục vụ trồng rừng chủ yếu quan tâm cây lâm nghiệp chủ đạo, các loại cây lương thực ngắn ngày, cây lâm sản ngoài gỗ như dược liệu, mây, tre, nứa... vật nuôi dưới tán rừng chưa được quan tâm phát triển, thậm chí còn bị triệt hạ.
Phần lớn nông dân sống trong khu vực nông thôn miền núi nơi có nhiều rừng, đất rừng thiếu vốn, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh nhất là thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn lao động chủ yếu là giản đơn, bất cập cho việc phát triển một nền sản xuất lâm nghiệp hàng hóa nên khi tham gia phát triển kinh tế lâm nghiệp khó khăn, thiếu ổn định, chỉ quan tâm đến cái lợi nhất thời, trước mắt, trong khi đó chu kỳ sản xuất kinh doanh lâm nghiệp dài, đòi hỏi phải có vốn, có kỹ thuật tổng hợp cũng là tác nhân hạn chế đến kinh tế lâm nghiệp.
Thông thường chu kỳ trồng rừng kéo dài 7-8 năm, thậm chí vài chục năm, trong khi đó người dân thiếu vốn, kinh tế khó khăn nên thường chỉ quan tâm các sản phẩm giải quyết nhu cầu trước mắt, dẫn đến năng suất và hiệu quả rừng trồng thấp. Ngành công nghiệp chế biến của tỉnh ta phát triển chưa tương xứng với tiềm năng  lâm nghiệp làm cho việc trồng rừng bị mất cân đối.
Hiện nay ngoài công nghiệp chế biến giấy là tương đối phát triển, còn các ngành công nghiệp chế biến lâm sản khác của tỉnh chưa thực sự chú trọng nên không tạo cơ hội cho người trồng rừng đa dạng các loại cây trồng. Có thời kỳ một số địa phương ồ ạt trồng quế, nhưng kết quả bán làm dược liệu rất hạn chế, buộc người trồng phải bán nguyên liệu và sản phẩm sơ chế, thậm chí chặt bỏ.
Mặc dù cả tỉnh có trên 17.000ha rừng, đất rừng quy hoạch rừng đặc dụng gắn với danh lam, di tích lịch sử, văn hóa Đền Hùng, Xuân Sơn, Núi Nả, khu Phục Cổ… nhưng các tiềm năng dịch vụ môi trường rừng, du lịch sinh thái chưa được đẩy mạnh phát triển khai thác chu đáo để góp phần phát triển kinh tế, xã hội.
Từ thực trạng trên, để phát triển kinh tế lâm nghiệp đi đôi với việc bảo vệ các hệ sinh thái, môi trường và đa dạng sinh học tại các vùng nông thôn, miền núi, là một yêu cầu rất lớn để nhằm khai thác hiệu quả hơn tiềm năng lâm nghiệp. Để thực hiện tốt việc này cần tập trung chỉ đạo phát triển theo hướng đa dạng hóa gồm: Đa dạng nguồn lực phát triển, sử dụng đất rừng và đa dạng chức năng rừng.
Trước hết cần thực hiện tốt công tác quản lý đất đai tạo cơ hội nhiều thành phần tham gia phát triển vốn rừng. Tiếp tục duy trì kết quả giao đất, giao rừng gắn với tăng cường hiệu quả công tác quản lý đất rừng theo nội dung mới của Luật Đất đai để người sản xuất yên tâm, mạnh dạn đầu tư phát triển. Trước mắt ổn định diện tích giao, khoán cho các đơn vị, cá nhân khai thác, quản lý tốt đất rừng đồng thời rà soát sắp xếp lại diện tích đã giao khai thác không hiệu quả, chuyển sang chủ sử dụng mới thuê, khoán… tạo cơ hội cho tổ chức, cá nhân có điều kiện tham gia đầu tư phát triển lâm nghiệp.
Trong đó đặc biệt quan tâm diện tích đất lâm nghiệp do các nông, lâm trường, tổ chức xã hội, hộ nông dân quản lý, sử dụng không hiệu quả, sắp xếp lại theo quy hoạch tái cơ cấu ngành. Đổi mới chính sách phát triển để huy động nhiều đối tượng nguồn lực phát triển lâm nghiệp.
Tiếp tục rà soát lại quỹ đất lâm nghiệp, có chính sách giao đất, giao rừng, sắp xếp doanh nghiệp lâm nghiệp theo hướng cổ phần hóa, đa dạng hình thức sở hữu vốn, sử dụng đất để huy động nhiều tổ chức cá nhân đầu tư khai thác quỹ đất rừng, nhất là những khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ kết hợp với khai thác du lịch sinh thái và các lâm sản ngoài gỗ từ rừng phục vụ yêu cầu phát triển đa dạng.
Phát triển lâm nghiệp theo đúng định hướng  quy hoạch bảo vệ và phát triển ba loại rừng đã được phê duyệt. Đối với rừng đặc dụng, phòng hộ bảo vệ diện tích hiện có nghiêm ngặt, không để tàn phá. Có giải pháp bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học của rừng, trồng các loài cây bản địa, cây dược liệu dưới tán rừng phòng hộ gắn với  khai thác phát triển du lịch sinh thái, bảo vệ môi trường, phát huy tốt nhất khả năng phòng hộ đầu nguồn.
Đối với rừng sản xuất tập trung chọn lựa loại cây đa mục tiêu, hiệu quả kinh tế cao, quy hoạch phát triển rừng gắn với chế biến theo công nghệ cao, gắn chế biến với tiêu thụ. Trong đó ưu tiên tiếp tục thực hiện quy hoạch vùng nguyên liệu giấy tạo điều kiện để Nhà máy giấy Bãi Bằng phát triển ổn định, đồng thời tạo cơ hội mở rộng trồng các loại rừng khác như rừng cây gỗ lớn, rừng đa mục tiêu… phục vụ yêu cầu dân sinh.
Trong phát triển đẩy mạnh ứng dụng TBKT để nâng cao năng suất, hiệu quả rừng trồng và phát triển lâm sản ngoài nhằm da dạng các cây trồng, vật nuôi. Theo đó rừng nguyên liệu giấy phát triển trồng các loại cây đa tác dụng có thể khai thác làm bột giấy, gỗ thanh, gỗ bóc, kết hợp với kỹ thuật khai thác để phát triển trồng cây gỗ lớn. Chú trọng trồng rừng đa tác dụng kết hợp “lấy ngắn nuôi dài”, thông qua đẩy mạnh sản xuất, gieo trồng các loại lâm sản ngoài cây nguyên liệu giấy các loại lâm sản ngoài gỗ như cây dược liệu, mây tre, kết hợp chăn nuôi dưới tán rừng, trồng cây lương thực ngắn ngày để tạo thêm nguồn thu cho người trồng rừng, gắn kinh tế với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường.
Có biện pháp chỉ đạo đổi mới công tác chỉ đạo trồng rừng theo hướng thâm canh, tăng năng suất, hạn chế dần tình trạng duy trì rừng chồi, rừng quảng canh còn đang phổ biến hiện nay.
Sắp xếp quy hoạch lại cơ sở chế biến gỗ, lâm sản và thị trường để nâng cao giá trị sau thu hoạch. Ngoài cơ sở công nghiệp giấy, tiếp tục rà soát, sắp xếp lại các cơ sở chế biến quy mô nhỏ, chế biến đơn giản tạo cơ hội hình thành cơ sở chế biến sâu, gắn chế biến với vùng nguyên liệu.
Từng bước hình thành vùng chế biến lâm sản sâu, chất lượng cao, giá trị lớn. Tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng, để duy trì hệ sinh thái rừng và tính đa dạng sinh học của rừng.
Kinh nghiệm mấy chục năm qua cho thấy để có được mầu xanh của rừng, công tác quản lý bảo vệ, PCCR luôn là yêu cầu thiết yếu, tiếp tục nghiên cứu, có cơ chế, chính sách phù hợp đa dạng hóa hình thức quản lý, bảo vệ hạn chế thấp nhất thiệt hại, tác động đến rừng. (Báo Phú Thọ 11/9) đầu trang(
Trong 2 năm qua, tỉnh Điện Biên đã thực hiện việc rà soát, hoàn chỉnh thủ tục để giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) lâm nghiệp giai đoạn 2013-2015.
Đến nay, Điện Biên đã rà soát lại 100% diện tích đất đã giao trước đó, đồng thời rà soát xác định diện tích, ranh giới, trữ lượng rừng để làm cơ sở thực hiện việc xây dựng, thẩm định, phê duyệt phương án giao đất, giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng thôn bản.
Theo kết quả rà soát, toàn tỉnh có tổng diện tích đất lâm nghiệp 266.043,51ha. Trong đó, diện tích đã có quyết định giao đất 87.624,64ha; diện tích đã được rà soát nhưng chưa có quyết định giao đất 178.418,87ha.
Theo đánh giá của Sở TN&MT Điện Biên, tỷ lệ diện tích đất lâm nghiệp đã cóp quyết định giao hiện thấp. Nguyên nhân là năm 2015, UBND các huyện, thị chưa chỉ đạo quyết liệt việc ban hành các quyết định giao đất, giao rừng và cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp đối với diện tích đất có rừng, còn phụ thuộc nhiều vào đơn vị tư vấn. Trước thực trạng đó, Sở TN&MT yêu cầu các đơn vị tư vấn, UBND các huyện, thị, thành phố khẩn trương ban hành các quyết định giao đất, giao rừng và cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp xong trước ngày 31 -12 – 2015, theo đúng lộ trình UBND tỉnh đề ra.
Sở còn đề nghị UBND tỉnh Điện Biên xem xét, cấp kinh phí để UBND các huyện, thị, thành phố triển khai thực hiện việc giao đất, giao rừng và cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp theo kế hoạch đê ra. (Tổng Cục Quản Lý Đất Đai 11/9) đầu trang(
Để chuẩn bị cho vụ trồng rừng trong mùa mưa sắp tới, nhiều hộ dân ở thị trấn Hải Lăng, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị đã mạnh dạn đầu tư vốn để gieo ươm các loại cây lâm nghiệp cung cấp ra thị trường.
Thị trấn Hải Lăng từ lâu được biết đến là nơi cung cấp lượng cây giống lâm nghiệp lớn, có uy tín và chất lượng trên địa bàn tỉnh. Hiện toàn thị trấn Hải Lăng có 12 hộ chuyên gieo ươm cây giống lâm nghiệp các loại, trong đó chủ yếu là keo lai và keo tai tượng. Các chủ vườn nơi đây thực hiện việc gieo ươm và dâm hom cây lâm nghiệp đúng quy trình kỹ thuật, chất lượng cây giống tốt nên hàng năm được khách hàng đến tận nơi mua trồng.
Để chuẩn bị cung ứng giống cây lâm nghiệp cho vụ trồng rừng sắp tới, hiện các hộ này đã gieo ươm được 2 triệu cây giống, sẵn sàng cung ứng cho các địa phương trong tỉnh để trồng tập trung và trồng cây phân tán trong mùa mưa tới.
Nghề gieo ươm cây giống lâm nghiệp không chỉ tạo thu nhập ổn định cho các chủ vườn ươm mà còn giải quyết việc làm cho nhiều lao động tại địa phương. (Báo Quảng Trị 11/9) đầu trang(
Ngày 11/9, tại huyện A Lưới, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh TT-Huế chính thức tổ chức Ngày hội chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng lưu vực thủy điện A Lưới. Đây là lần đầu tiên tiền dịch vụ môi trường rừng được chi trả trực tiếp đến tân tay người dân gắn bó với nghề rừng.
Theo đó, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã tiến hành chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho 82 nhóm hộ, cộng đồng và hộ gia đình thuộc các xã Hồng Thượng, Hồng Kim, Nhâm và thị  trấn A Lưới. Trong thời gian tới, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh sẽ tiếp tục chi trả cho các  chủ rừng và các xã còn lại trên địa bàn huyện A Lưới.
A Lưới là địa phương có diện tích cung ứng DVMTR lớn nhất tỉnh với hơn 70.000 ha, chiếm 60 diện tích cung ứng DVMTR toàn tỉnh. Rừng trên địa bàn A Lưới thuộc lưu vực cả 3 nhà máy thủy điện A Lưới, Bình Điền và Hương Điền. Trong đó lưu vực thủy điện A Lưới có diện tích cung ứng DVMTR là 18.200ha, nằm trên địa giới hành chính của 17 xã, với 435 chủ rừng, gồm 304 hộ gia đình, 112 nhóm hộ, 17 cộng đồng và hai tổ chức.
Thông qua Ngày hội chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, cộng đồng người dân cũng như chính quyền địa phương không những thấy được giá trị tài nguyên rừng, mà còn giao lưu, học hỏi nâng cao nhận thức hơn về công tác quản lý bảo vệ rừng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Thừa Thiên – Huế 12/9) đầu trang(
Trong khi nhiều cán bộ Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Quảng Trạch được ưu tiên tạm ứng tiền trước khi trồng rừng, thì người dân dù rừng đã trồng xanh tốt, tiền hỗ trợ từ dự án cũng đã được chuyển về... nhưng vẫn phải “dài cổ” chờ đợi.
Năm 2014, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Quảng Trạch được giao nhiệm vụ thực hiện các hạng mục thuộc nguồn vốn dự án bảo vệ phát triển rừng bền vững với tổng diện tích 218ha, trong đó cán bộ của ban được giao 50ha.
Số diện tích được phê duyệt 50ha của cán bộ Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Quảng Trạch gồm các lô d, e, g, h, i thuộc khoảnh 6; lô b, c, d, e, g, h, i, k thuộc khoảnh 7, tiểu khu 210, xã Quảng Sơn.
Trong quá trình thực hiện chỉ có 35ha được tiến hành trồng theo đúng tiến độ của dự án. Số diện tích 15ha còn lại, tính đến thời điểm cuối tháng 8/2015 vẫn còn “treo”. Thế nhưng, cuối năm 2014, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Quảng Trạch đã thành lập hội đồng nghiệm thu và nghiệm thu diện tích 50ha rừng trồng của cán bộ ban đã hoàn thành 100% theo kế hoạch và quyết định phê duyệt. Điều đáng nói, dù 15ha diện tích chưa trồng nhưng số tiền hỗ trợ nhiều cán bộ đã nhận.
Trái ngược với những chính sách “ưu tiên” cho cán bộ, những ngày cuối tháng 8/2015, PV Dân trí đã có mặt tại xã Quảng Hợp và thật xót xa khi biết nhiều hộ dân ở xã miền núi nghèo khó này đang phải “còng lưng” trả tiền lãi suốt gần một năm trời (do phải vay mượn để mua phân, thuê người phát thực bì, thuê trồng keo - PV).
Ông P.N.Q., xã Quảng Hợp bức xúc nói: “Gần 1 năm nay, gia đình tôi bỏ công, thuê  người phát thực bì và trồng trên 3ha, cây bây giờ đã tốt lên quá đầu người nhưng vẫn chưa thấy tiền hỗ trợ. Tiền vay mượn để về trồng cây thì hàng tháng đều phải trả tiền lãi. Từ khi Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Quảng Trạch lên nghiệm thu đến nay, tôi cũng như các hộ dân nơi đây đang ngóng trông từng ngày tiền hỗ trợ để về trả tiền nợ.
“Nghe nói có tiền hỗ trợ của dự án, cuối năm 2014, gia đình chúng tôi mạnh dạn đứng ra nhận trồng hơn 3ha. Tiền thuê công phát và trồng hết gần 70 triệu đồng. Tuy nhiên, đến nay đã cuối tháng 8/2015, vẫn chưa thấy tiền hỗ trợ đâu cả. Có mấy lần, người bên dự án có về nghiệm thu và hứa ít bữa nữa sẽ trả nhưng cũng không có”, một hộ dân khác ngao ngán.
Được biết, năm 2014, xã Quảng Hợp có 74,5ha diện tích đất trồng rừng sản xuất mà bà con được nhận tiền hỗ trợ từ nguồn vốn dự án bảo vệ phát triển rừng bền vững. Mỗi ha được nhận 810 ngàn đồng tiền phân bón, ngoài ra giống cây được hỗ trợ 100%.
Làm việc với PV Dân trí, ông Trần Náy, Giám đốc Ban quản lý dự án rừng phòng hộ huyện Quảng Trạch cho hay, đây là dự án thuộc rừng sản xuất nên Ban quản lý dự án chỉ hỗ trợ cây giống và tiền phân bón. “Cây giống bà con đã nhận đầy đủ, còn tiền phân bón, ở một số nơi do địa hình xa xôi nên việc vận chuyển gặp nhiều khó khăn nên người dân đồng ý nhận tiền”, ông Náy cho hay.
Về việc chậm trễ chi trả tiền phân bón hỗ trợ cho người dân xã Quảng Hợp, ông Náy giải trình: “Dù tiền đã được giải ngân từ ngân hàng gần nửa năm nhưng chưa phát về cho dân được là vì còn một số hộ chưa trồng xong, một số hộ thì trồng sau đó cây chết phải trồng lại, và một phần nữa là do “bùng nhùng” chuyện thủ tục hành chính nên chưa thể tiến hành chi trả tiền kịp thời cho người dân”.
Tuy nhiên, theo điều tra của PV Dân trí, hiện hàng trăm ha diện tích rừng keo của người dân trên địa bàn huyện Quảng Trạch được hưởng lợi từ dự án, đã trồng và đang phát triển rất tốt.
Trả lời câu hỏi vì sao rừng của cán bộ chưa trồng nhưng lại được ứng tiền trước, trong khi người dân dù đã trồng gần 1 năm, rừng đã phát triển xanh tốt nhưng vẫn chưa được nhận tiền hỗ trợ? Ông Náy giải thích: “Mặc dù đã ứng tiền, nhưng sau 4 năm mà rừng không trồng đúng theo phê duyệt của dự án thì chúng tôi sẽ tiến hành kiểm tra và thu hồi lại số tiền trên. Sở dĩ không cho người dân ứng tiền trước là vì sợ sau này khó thu hồi, bởi dù sao cán bộ chúng tôi quản lý thì cũng dễ thu hồi hơn, bằng cách có thể khấu trừ vào lương. Còn việc chi trả tiền hỗ trợ hơi chậm cho một số hộ dân là do một số yếu tố khách quan, việc này chúng tôi sẽ rút kinh nghiệm”. (Dân Trí 12/9) đầu trang(
Thực hiện chủ trương trồng rừng thay thế, đến nay các đơn vị trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã trồng được hơn 600 ha rừng thay thế, góp phần làm tăng diện tích che phủ rừng và tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn người lao động là đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa.
Sau hơn 10 năm triển khai kế hoạch trồng mới 5 triệu ha rừng, tỉnh Gia Lai đã trồng 48.324,4 ha rừng. Trong đó, có 13.665,4 ha là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; 34.659 ha rừng trồng sản xuất; tiếp tục triển khai trồng thay thế 4.476 ha rừng, góp phần nâng độ che phủ và giải quyết việc làm cho hàng ngàn người lao động địa phương.
Thống kê từ Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Gia Lai cho biết, theo kế hoạch, trong năm 2015, toàn tỉnh sẽ trồng mới 1.043,5 ha rừng thay thế. Đến nay, các đơn vị trên địa bàn đã trồng được 601 ha với các loại cây như thông 3 lá, thông caribê và cây keo lai.
Nhiều đơn vị đã hoàn thành diện tích rừng trồng như: Ban quản lý rừng phòng hộ Mang Yang với 60 ha, Ban quan lý rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ với 75 ha, Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Ia Grai với 88,1 ha, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Lơ Ku với 15 ha…
Hiện tại, một số khu vực chưa đến thời vụ trồng rừng, một số đơn vị đã tập kết cây giống, đào hố và phát dọn thực bì chờ thời tiết thuận lợi sẽ tổ chức trồng rừng thay thế để đạt kế hoạch đã đề ra trong năm nay. (Tài Nguyên Và Môi Trường 11/9) đầu trang(
Trong hai ngày 9- 10/9 tại Khách sạn Lam Kinh; UBND tỉnh Thanh Hoá đã phối hợp với Văn phòng dự án rừng và đồng bằng Việt Nam tổ chức “Hội thảo Quốc tế thúc đẩy tiềm năng to lớn về lâm sản Tre, Luồng” thức dậy tiềm năng to lớn, quyết tâm làm giàu, đi lên từ nguồn lâm sản tre, luồng.
Các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, cả các ngành chức năng, các huyện có nguồn lâm sản tre, luồng và các doanh nghiệp tiêu biểu sản xuất kinh doanh tre, luồng ở Thanh Hoá về dự.
Tham gia dự hội thảo về phía Trung ương có đại diện Viện nghiên cứu Lâm sinh, Viện nghiên cứu phát triển vùng, Bộ Khoa học Công nghệ. Về khách quốc tế có đại diện Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USATD), Tư vấn cao cấp, mạng lưới mây tre quốc tế (INBAR), Giám đốc dự án rừng và đồng bằng Vịêt Nam (VFD); Trưởng Đại diện Tổ chức ICRAF.
Cuộc hội thảo diễn ra sôi nổi với nhiều bài tham luận sâu sắc nêu lên tổng quan và giá trị to lớn của nguồn lâm sản tre, luồng trên thế giới, trên đất nước Việt Nam và thực trạng ở Thanh Hoá hiện nay.
Thanh Hoá là tỉnh có tiềm năng to lớn về lâm sản tre, luồng, đứng đầu trong cả nước với diện tích 150.000 ha, trong đó, rừng luồng trồng 71 ngàn ha. Tre, luồng ở Thanh Hoá đã trở thành cây xoá đói giảm nghèo cho hàng chục ngàn hộ dân ở khu vực miền núi, có vai trò quan trọng trong việc phát triển KT- XH các huyện phía tây của tỉnh.
Tiềm năng to lớn như vậy, nhưng nhiều năm qua các giải pháp đầu tư phát triển tre, luồng ở đây còn xem nhẹ do đó chất lượng rừng tre, luồng có xu hướng giảm dần. Công nghệ khai thác, chế biển sản phẩm tre, luồng tuy có mở rộng (47 doanh nghiệp) nhưng còn lạc hậu, sản phẩm đơn giản, hạn chế về mẫu mã, chất lượng thấp, chủ yếu tiêu thụ nội địa chưa vưon lên tầm cao, cạnh tranh xuất khẩu…
Tại hội thảo, các nhà khoa học, các chủ dự án đã tham kiến đưa ra nhiều giải pháp tích cực nâng cao giá trị tre, luồng Thanh Hoá với nhiều dề tài hấp dẫn: nhân giống, phục tráng rừng; xây dựng mô hình hợp tác phát triẻn bền vững tre, luồng tại Thanh Hoá; hợp tác Quốc tế trong chuyển giao khoa học, kỹ thuật, công nghệ, chế biến tre, luồng,…
Các đồng chí lãnh đạo tỉnh Thanh Hoá bày tỏ niềm vui tin tưởng về sự hợp tác quốc tế và sự phát triển lâm sản bằng tre, luồng. Đồng thời đã nêu các giải pháp cụ thể, nhanh chóng hội nhập, phát triển bền vững ngành tre, luồng.
Qua hội thảo này, các ngành chức năng, các doanh nghiệp ở Thanh Hoá nêu quyết tâm vào cuộc và đề xuất nhiều giải pháp mong rằng các cấp, các tổ chức trong nước và quốc tế quan tâm, hỗ trợ nhiều mặt để Thanh Hoá phát triển, thức dậy tiềm năng to lớn về lâm sản tre, luồng với chiến lược phát triển dến năm 2020 thâm canh 30.000 ha tre, luồng, năng suất 4.000 cây/ha, sản lượng khai thác 40 triệu cây/năm. Năm 2030, thâm canh đạt 57.000 ha. Sản lượng khai thác 77 triệu tấn/năm.
Từ sản lượng tre, luồng trên, năm 2020 Thanh Hoá phấn đấu có 5 nhà máy sản xuất tre, luồng với công suất 70.000 tấn/năm và có hệ thống doanh nghiệp vệ tinh cung cấp nguyên liệu thô cho các nhà máy doanh thu 3.500- 4.000 tỷ/năm. Năm 2030 phát triển lên 10 nhà máy sản xuất tre, luồng và hệ thống 180-200 doanh nghiệp vệ tinh, doanh thu đạt 9.000-10.000 tỷ đồng/năm, tạo công ăn việc làm cho 4.000 lao động, mức thu nhập 3- 6 triệu đồng/người/tháng.
Đồng thời với sản xuất công nghiệp Thanh Hoá đầu tư củng cố và nâng cấp 50-55 doanh nghiệp sản xuất luồng thủ công mỹ nghệ, phấn đấu đạt 100 triệu USD; giải quyết việc làm cho 6.000 lao động và có mức thu nhập gấp đôi hiện nay. (Doanh Nghiệp Việt Nam 11/9) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Báo Straits Times đưa ra con số có khoảng hơn 77.000 người Indonesia ở tỉnh Riau, Sumatra, Kalimantan bị các chứng bệnh liên quan đến đường hô hấp do ảnh hưởng cháy rừng ở nước này.
Cơ quan quản lý thiên tai quốc gia Indonesia (BNPB) cho biết cháy rừng đang nghiêm trọng hơn ở các địa phương này do thời tiết khô hạn kéo dài.
Báo Straits Times cho biết khói bụi dày đặc đang bao trùm cả khu vực rộng lớn gần đảo Sumatra và Kalimantan, buộc ngành hàng không Indonesia phải hủy hàng loạt chuyến bay do tầm nhìn hạn chế. Trường  học ở nhiều khu vự phải đóng cửa để đảm bảo an toàn cho học sinh.
Ước tính, có khoảng 15.000 cư dân ở tỉnh Riau, hơn 22.800 người ở nam Sumatra và 40.000 người ở nam Kalimantan bị các chứng bệnh liên quan đến đường hô hấp.
“Khó dày đặc đang gây ảnh hưởng trong phạm vi rất rộng đối với con người, từ sức khỏe, sự tiện nghi cho đến an ninh." - giám đốc BNPB Willem Rampangilei cho biết.
Ông Rampangilei khẳng định BNPB sẽ điều thêm máy bay trực thăng tham gia chữa cháy. Indonesia cũng huy động hơn 10.000 binh sĩ tham gia dập tắt cháy rừng ở đảo Sumatra.
Có khoảng 5 tỉnh ở Kalimantan đang chìm trong khói bụi dày đặc.
Người phát ngôn của BNPB Sutopo Purwo Nugroho cho biết khu vực này có 1.312 điểm nóng, trong đó hình hảnh vệ tinh cho thấy chỉ riêng tỉnh Tây Kalimantan có đến 508 điểm bị ảnh hưởng nặng nề. Đảo Sumatra cũng ghi nhận đến 575 điểm nóng bị ảnh hưởng từ cháy rừng.
Hiện giờ, tầm nhìn ở Pekanbaru, thủ phủ tỉnh Riau là 500m, trong khi ở Pelalawan chỉ khoảng 200m. Chỉ số ô nhiễm không khí trong cac tỉnh này đang nằm trong mức “có hại” đến nguy hiểm.
Khói mù từ những đám cháy rừng ở Indonesia đang lan sang tận các nước láng giềng Malaysia và Singapore, gây ô nhiễm không khi ở một số khu vực của hai nước này và làm hàng ngàn người ngã bệnh. (Tuổi Trẻ 12/9) đầu trang(
Mới đây, trang tin “project-syndicate.org” đã đăng bài phân tích đề cập đến trách nhiệm của Trung Quốc đối với Biển Đông. Theo bài viết, tính từ tháng 12.2013, Trung Quốc đã bồi đắp thêm hàng ngàn hecta đất tại các bãi, đá ở Biển Đông. Điều đáng lưu ý là phần lớn các hoạt động trên diễn ra ở quần đảo Trường Sa - nơi Việt Nam tuyên bố chủ quyền.
Thực tế cho thấy các hoạt động của Trung Quốc đang đe dọa nghiêm trọng tới nguồn cá, sự đa dạng sinh học biển, và tạo ra một nguy cơ lâu dài đối với một số loài sinh vật biển quý hiếm vào bậc nhất trên thế giới. Theo đó, hàng nghìn rạn san hô, thảm cỏ biển, hệ sinh thái ở vùng nước nông đang bị hủy hoại nhanh chóng và bị vùi lấp kể từ khi giới lãnh đạo Trung Quốc tăng cường các hoạt động nhằm thực hiện các tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông.
Dự án tôn tạo nói trên của Bắc Kinh cũng đang phá hoại các kết nối sinh thái giữa quần đảo Trường Sa và Biển Đông, cắt nguồn cung cấp chất dinh dưỡng đối với các hệ sinh thái phụ thuộc.
Tình trạng chưa xác định được chủ quyền đối với vùng nước và nguồn thủy hải sản tại đây, đặc biệt là thái độ hiếu chiến của Trung Quốc, đã dẫn đến tình trạng đánh bắt một cách “triệt để”, làm suy thoái hệ sinh thái biển và đe dọa các loài sinh vật biển có nguy cơ bị tuyệt chủng như các loài rùa biển, cá mập và sò khổng lồ.
Từ năm 2010, trữ lượng thủy sản ở quần đảo Trường Sa và một phần phía tây của Biển Đông đã giảm 16%. Theo ước tính, hiện có khoảng 300 triệu người sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên biển ở khu vực Biển Đông. Do vậy, nếu Trung Quốc tiếp tục các hoạt động nói trên, nguy cơ bất ổn kinh tế sẽ gia tăng.
Biển Đông là một vùng nước quan trọng không chỉ riêng với các nước có đường biên giới tiếp giáp mà với toàn thế giới. Tại đây có đường vận tải biển quốc tế vô cùng quan trọng, nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, với lưu lượng khoảng 300 tàu, trong đó có 200 tàu chở dầu, đi qua tuyến đường này mỗi ngày.
Theo đó, cộng đồng quốc tế cần lên án việc Trung Quốc quân sự hóa một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa và cần thúc giục Bắc Kinh dừng ngay các hoạt động tôn tạo để giảm thiểu các nguy cơ xung đột. Tất cả các nước cần có trách nhiệm trong việc ngăn chặn sự suy thoái và hủy hoại các hệ sinh thái của Biển Đông cũng như các hoạt động đe dọa tới sự đa dạng sinh học của khu vực.
Trang tin này nhấn mạnh, Trung Quốc cần nêu cao tinh thần trách nhiệm trong việc tuân thủ luật pháp quốc tế và với tư cách là một nước lớn. Trung Quốc cần thực hiện nghĩa vụ quốc tế của mình - bắt đầu từ Biển Đông. (Lao Động 12/9) đầu trang(
Loài chuột không hôi thối đó là chuột xạ hương, có mùi hương rất thơm có thể dùng để sản xuất nước hoa.
Loài chuột không hôi thối đó là chuột xạ hương, có tên khoa học là Ondatra zibethicus, là một loài chuột trong họ Cricetidae, bộ Gặm nhấm. Đây là loài gặm nhấm có kích thước trung bình bản địa của Bắc Mỹ, và được du nhập vào nhiều khu vực của châu Âu, châu Á, và Nam Mỹ.
Tuổi thọ trung bình của chuột xạ hương hoang dã từ 1 đến 3 năm. Đặc điểm nhận dạng của loài này là có lông nâu bông dày, cơ thể tròn với khuôn mặt dài, đuôi màu đen không có lông, chân sau có màng bơi và chân trước nhỏ dùng để đào, mắt tròn, nhỏ và sáng, tai nhỏ.
Chuột xạ hương là động vật có vú bán thủy, chúng sinh sống ở khu vực dồi dào trong nước như đầm lầy, ao, hồ trong tự nhiên, nếu được nuôi chúng cũng sẽ đào hầm đến khu vực có nhiều nước. Vì tập quán sinh hoạt nên loài chuột này luôn luôn ở bẩn, có phần ướt át.
Tuy vậy, loài chuột xạ hương này không hề hôi thối mà ngược lại, chúng có mùi rất thơm do cơ thể chúng chứa một tuyến xạ hương có mùi rất đặc trưng giống như các loài hươu xạ.
Khi đến mùa sinh sản, động dục, tuyến xạ dưới bụng của chuột xạ hương sẽ trướng lên, sản sinh ra một dung dịch lỏng có màu vàng, mùi thơm nồng để thu hút bạn tình. Đặc biệt, chất lỏng này có ở cả con đực và con cái.
Một số nhà nghiên cứu đã thu hoạch chất lỏng này và sản xuất ra một loại nước hoa chuột xạ hương. Tuy nhiên, tiềm năng kinh tế của loại nước hoa này không cao bởi tuyến thơm của chuột xạ hương không thơm bằng tuyến xạ hương của hươu. Thêm vào đó, loài chuột này không quý hiếm nên giá thành nước hoa không đắt đỏ, không khiến đối tượng nhiều tiền chú ý.
Mặc dù tuyến thơm không mấy được trọng dụng nhưng bộ lông mượt, dày, không thấm nước của chuột xạ hương lại có giá rất cao, là một trong những bộ lông có giá trị lớn trong vương quốc động vật.
Chuột xạ hương cũng là một động vật chung thủy, chúng tuân thủ nghiêm ngặt chế độ một vợ một chồng và sau khi sinh, cả hai sống với đàn con của chúng. Khi mới sinh, những con chuột xạ hương con không hề có lông và bị mù.
Loài chuột này giao phối trong nước và thực sự là những tay bơi rất cừ, chúng có thể lặn sâu đến 15 - 20 phút, bơi xuôi bơi ngược với tốc độ không giảm. (Kiến Thức 12/9) đầu trang(
Như chúng ta đều biết, những con bọ cạp vàng Israel và loài nhện góa phụ đen là những sinh vật nguy hiểm nhất trên Trái đất bởi vì chúng có độc tính cực cao, có thể giết người trong tích tắc. Nhưng nếu hai sinh vật này cùng đánh nhau chí tử, ai sẽ là người chiến thắng?
Gần đây trên mạng, một người yêu thích những điều mới lạ đã đặt hai loài động vật nguy hiểm nhất thế giới này vào với nhau để xem chúng chiến đấu. Video được quay lại và đăng tải, thu hút rất nhiều sự chú ý.
Từ video có thể thấy bọ cạp vàng Israel thủ thế khi nhện tấn công và nó luôn muốn bắt con nhện độc với chiếc càng sắc nhọn để thừa cơ dùng đuôi châm nọc độc.
Con nhện không chịu thua kém, nó chiến đấu quyết liệt bằng các chi trước để ngăn cản con bọ cạp vàng. Tuy nhiên, ngay sau đó, bọ cạp nắm được cơ hội, với lợi thế là chiếc đuôi dài, nó liên tục đâm vào con nhện. Trong khi đó, con nhện cũng cố gắng cắn trả được bọ cạp vàng thật lực.
Trận tử chiến kết thúc khi cả bọ cạp vàng Israel và nhện góa phụ đen đều ngã gục khi cùng trúng độc của nhau. Không có ai là người chiến thắng,
Trận đấu tay đôi ngang tài ngang sức khiến người xem hết sức thích thú. Tuy nhiên người đăng tải video cũng khuyến cáo những người yêu động vật chưa có kinh nghiệm không nên tiếp xúc với hai loài động vật cực nguy hiểm này. (Kiến Thức 12/9) đầu trang(
Sống rải rác trong phạm vi 240 km2 trên dãy Niyamgiri hẻo lánh tại Bang Odisha, Đông Ấn, một bộ lạc cổ xưa được biết với cái tên Dongria Kondh đã được mệnh danh là những người mở đường.
Trải qua một thập kỉ dài đấu tranh và chiến thắng dự án khai thác bauxit xấp xỉ 1 tỷ USD của một “ông lớn” Anh Quốc, bộ tộc Dongria Kondh đã trở thành một điển hình vào năm 2013 cho hàng triệu bộ tộc trên khắp thế giới về một cuộc chiến giữa Voi và Kiến với kết cục nghiêng về thế yếu.
Đến nay, bộ lạc này lại một lần nữa đối mặt với hai vấn đề toàn cầu luôn đi song song –nghèo đói và phá rừng – khi tiếp tục gìn giữ lối sống từ xa xưa mặc cho làn sóng phát triển hủy diệt đang đe dọa phương thức canh tác bền vững truyền thống của họ.
Với niềm tin vào linh hồn thiêng liêng của núi rừng, bộ lạc Dongria Kondh đã sống hàng thế kỉ thuận hòa với thiên nhiên và chỉ thu hoạch 130 kg sản vật tự nhiên mỗi năm cho mỗi gia đình. Nguồn lương thực giầu dinh dưỡng của họ gồm hơn 25 loài thực vật hái trực tiếp từ rừng và nguồn nước quanh năm đến từ những dòng suối trong vắt và ngọt lành bắt nguồn từ dãy Niyamgiri.
Thế nhưng, nạn phá rừng tràn lan để phát triển những dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn, cùng với việc độc canh các loài cây ngắn hạn để cung cấp nguyên liệu cho nền công nghiệp sản xuất gỗ và giấy, cũng như các hoạt động khai khoáng trong vòng 30 năm qua đã làm suy giảm hơn 30% nguồn lương thực và tăng thêm 80% thời gian hái lượm cho bộ tộc Dongria Kondh và các nhóm dân tộc thiểu số khác.
Đến nay, 55% thanh niên Dongria Kondh thiếu protein và 60% trẻ em đang ở độ tuổi đến trường bị suy dinh dưỡng. Thực trạng này phản ánh một xu hướng đang diễn ra trên khắp đất nước Ấn Độ, một quốc gia với 1,2 tỷ dân số và những người nghèo nhất, đói kém nhất lại sống trong và xung quanh những khu rừng.
Có tới ¼ trong số 805 triệu người dân suy dinh dưỡng, 1/3 số trẻ em thiếu cân và gần 1/3 người dân bất ổn an ninh lương thực trên thế giới đang sống ở Ấn Độ, hầu hết nằm trong số 275 triệu người sống dưới những khu rừng dồi dào lương thực của đất nước này.
Sự thật trớ trêu đó không vượt ra khỏi sự chú ý của các nhà hoạch định chính sách. Liên Hợp Quốc đã đi tiên phong trong phong trào bảo vệ các khu rừng nhằm giảm đói nghèo và hạn chế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu không chỉ ở Ấn Độ mà trên khắp thế giới. Thế giới có hơn 1,6 tỷ người thuộc hơn 2.000 các nền văn hóa, dân tộc khác nhau có nguồn lương thực, nơi cư trú, thu nhập và chất đốt phụ thuộc trực tiếp vào rừng. Bảo toàn những khu vực này đóng góp trực tiếp cho Chương trình Phát triển Bền vững của Liên Hợp Quốc và Chương trình “Zero Hunger Challenge” (tạm dịch là “Thách Thức Không Đói Nghèo”) được khởi xướng vào năm 2012 bởi Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon.
Nói thì dễ hơn làm, bằng chứng là khoảng 13 triệu hecta rừng hàng năm vẫn bị phá hủy dù cho đó là nguồn lương thực duy nhất của hàng trăm nghìn người.
Trong bối cảnh ảm đạm ấy, vẫn còn một mô hình kinh tế dựa vào cộng đồng và đảm bảo sự kiểm soát đối với đất và tài nguyên ở dãy Niyamgiri, thay vì phá hủy hệ sinh thái chỉ vì lợi nhuận.
Ở Odisha, mối tương quan rừng và lương thực kết hợp với kiến thức bản địa từ cổ đại đã mang đến một chân trời mới, nơi đói ăn chỉ còn là quá khứ. (Môi Trường Và Đời Sống 11/9) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang