Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 12 tháng 01 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Trong năm 2014, cả nước đã xảy ra 419 vụ cháy rừng, làm thiệt hại 1.722 ha rừng các loại, tăng 73% về số vụ và 83% về diện tích so với cùng kỳ năm 2013. Đặc biệt có nơi công chức kiểm lâm và người bảo vệ rừng hy sinh tính mạng khi tham gia chữa cháy rừng.
Theo nhận định của Ban Chỉ đạo Nhà nước về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 và dự báo của Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia trong thời gian tới, tình trạng nắng nóng, khô hạn tiếp tục xảy ra tại nhiều địa phương Bắc bộ, nguy cơ xảy ra cháy rừng rất lớn, trọng điểm là khu vực Tây Bắc bộ gồm các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái; phía Đông Bắc bộ và đồng bằng sông Hồng gồm các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương và thành phố Hà Nội.
Để chủ động triển khai các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, giảm thiểu thiệt hại có thể xảy ra, Tổng cục Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa gửi văn bản tới Chi cục Kiểm lâm 23 tỉnh, thành phố khu vực Bắc bộ yêu cầu tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, đề nghị Chi cục Kiểm lâm các địa phương trên tập trung tổ chức lực lượng, phương tiện, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng đảm bảo kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng xảy ra, sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện chữa cháy rừng.
Đồng thời tăng cường kiểm tra, đôn đốc và hướng dẫn chủ rừng thực hiện nghiêm túc phương án phòng cháy, chữa cháy rừng; chú trọng kiểm soát việc sử dụng lửa trong và gần rừng của người dân; hướng dẫn nhân dân canh tác nương rẫy đúng quy hoạch, quy định cụ thể khu vực nghiêm cấm đốt nương làm rẫy và những hành vi dùng lửa khác. Tăng cường kiểm lâm tại các địa bàn trọng điểm về cháy rừng để kịp thời tham mưu cho cấp chính quyền cơ sở thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. Tăng cường quản lý các hoạt động canh tác nương rẫy.
Đặc biệt, kiên quyết ngăn chặn và xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng, nhằm răn đe, giáo dục phòng ngừa chung, đề xuất khen thưởng kịp thời những tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
Bên cạnh đó, rà soát, bổ sung phương án, kế hoạch phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô năm 2014-2015 của các cấp ngành và chủ rừng. Chú trọng việc thực tập phương án sát với tình hình thực tế tại địa phương, tăng cường đào tạo, huấn luyện kỹ năng, kỹ thuật chữa cháy rừng, đảm bảo tuyệt đối an toàn tính mạng và tài sản cho nhân dân và người tham gia chữa cháy rừng.
Theo Đề án nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng giai đoạn 2014 - 2020 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, sẽ tiến hành nâng cấp hệ thống cảnh báo, dự báo nguy cơ cháy rừng tại Cục Kiểm lâm (Tổng cục Lâm nghiệp) và kết nối thành hệ thống đến từng địa phương. Trong đó, nâng cấp hệ thống phát hiện sớm lửa rừng, bao gồm xác định điểm cháy trên diện rộng (bằng ảnh viễn thám) đặt tại Cục Kiểm lâm. (Đại Đoàn Kết 7/1; Hà Nội Mới 12/1, tr3) đầu trang(
Ngày 8.1, tại tỉnh lộ 4 đoạn đi qua trung tâm xã Quảng Sơn, rừng thông 30 năm tuổi hai bên đoạn đường này hàng trăm cây bị phá tan hoang, số khác chết đứng do bị đẽo gốc, đổ hóa chất vào.
Một số người dân đang thu dọn cây đổ, san ủi đất để dựng nhà ở, làm hàng quán... Những cây thông bị "hạ độc" có chiều cao 20 - 25m, đường kính 25 - 30cm.
Ông Nguyễn Văn Hùng - người đang xây tiếp căn nhà cấp 4 trên đất rừng thông - cho biết: "Người phá rừng ở đâu không biết, họ phá xong bán lại cho tôi thôi, đất này quy hoạch trung tâm huyện mới giá bán rất cao".
Theo quan sát của PV, chỉ riêng lô 5, khoảnh 7, tiểu khu 1646 đã có 7 căn nhà được dựng lên, trong đó 1 căn nhà xây mái tôn diện tích khoảng 60m2, 2 quán mái tranh diện tích khoảng 150m2, 4 nhà gỗ lợp tôn diện tích 180m2. Những vị trí bằng phẳng, sát mặt đường, số cây thông bị “đầu độc”, chặt phá càng nhiều.
Còn theo kết quả kiểm tra của Sở NNPTNT, diện tích rừng thông bị hủy hoại lên đến 8,34ha, với 2.635 cây thông bị chết, tập trung chủ yếu tại các tiểu khu 1646, 1675, 1669, 1659. Diện tích rừng bị phá nhiều nhất trong các năm 2013 - 2014, khi có tin đồn thành lập huyện mới Đức Xuyên, quy hoạch trung tâm huyện tại xã Quảng Sơn.
Đáng nói là khu vực rừng thông bị lấn chiếm, xây dựng nhà trái phép lại nằm gần trụ sở UBND xã Quảng Sơn, Cty TNHH lâm nghiệp Quảng Sơn, Trạm Kiểm lâm liên xã nhưng không được ngăn chặn, xử lý kịp thời.
Điều này khiến dư luận đặt câu hỏi có hay không việc cố ý làm ngơ, tiếp tay cho các đối tượng ngang nhiên chặt phá rừng thông để chiếm đất. Riêng Hạt Kiểm lâm huyện Đắc G'Long có chuyển hồ sơ 5 vụ phá rừng cho Cơ quan CSĐT Công an huyện xử lý, nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả.
Ông Đỗ Ngọc Duyên - Giám đốc Sở NNPTNT Đắc Nông - cho biết, sở đã đề nghị kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm để mất rừng đối với lãnh đạo Cty TNHH MTV lâm nghiệp Quảng Sơn, lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện Đắc Glong, kiểm lâm địa bàn xã Quảng Sơn, bộ phận địa chính và Chủ tịch UBND xã Quảng Sơn.
Ông Duyên cũng cho biết, hiện ông Đặng Văn Dư - Chủ tịch kiêm Giám đốc Cty TNHH MTV lâm nghiệp Quảng Sơn - vẫn đang bị UBND tỉnh tạm đình chỉ công tác đến ngày 24.1 để kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm.
Để khắc phục hậu quả vụ việc này, Sở NNPTNT yêu cầu UBND xã Quảng Sơn xử lý các trường hợp lấn chiếm rừng thông, trước mắt phải giải tỏa ngay 7 căn nhà xây dựng trên đất rừng. Cty TNHH MTV lâm nghiệp Quảng Sơn phải trồng lại rừng, phối hợp với lực lượng chức năng tuần tra, ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng.
Sở NNPTNT cũng kiến nghị cấp thẩm quyền chỉ đạo Cơ quan CSĐT Công an huyện nhanh chóng điều tra, làm rõ các vụ phá rừng có dấu hiệu hình sự đã được Hạt Kiểm lâm chuyển hồ sơ để răn đe. (Lao Động 12/1) đầu trang(
Đi bộ, leo núi, mưa sạt không thể vượt qua nổi các con đèo vòi vọi, từ mờ sáng luồn rừng, đến 16 giờ chiều, mới tìm được một nóc nhà để xin… ăn trưa. Giở tấm bản đồ ướt nhoe nhoét ra, thấy mình đang vật lộn trong Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu diện tích 16.000ha, thuộc huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.
Chao ôi, toàn những cái tên xã (chứ chưa nói tên bản) thoáng nghe đã thấy gập ghềnh trắc trở: Đại Sơn, Nà Hẩu, Mỏ Vàng, Viễn Sơn. Lếch thếch bò theo các con đường trơn, đến 19h cùng ngày, thì hun hút dưới chân đèo, trong sương mơ, hiện ra một quầng sáng lờ nhờ. Cuộc sống có ánh điện của xã vùng cao Mỏ Vàng cứ treo trong cơn đói, trong rét run tuyệt vọng của những kẻ “bước đã mỏi mà trông càng thấy mỏi”.
Như cô bé bán diêm sắp chết đói nằm mơ về một con ngỗng quay béo ngậy, ngỗng loạng quạng tiến về phía em, trên lưng ngỗng cắm sẵn bộ thìa dĩa leng keng. Chợt nảy ra so sánh, rừng bảo tồn nơi này, với những cây gỗ đường kính gần ba mét bị chặt hạ đầy khuất tất kia, cũng chỉ là một đàn ngỗng béo trong mắt những kẻ sấp mặt vì tiền mà thôi.
Mọi chuyện bắt đầu bằng những vụ việc PV đã phanh phui trên đất Yên Bái, rồi ít nhiều cũng được bà con tin cậy “dốc bầu tâm sự”. Một cán bộ kiểm lâm viết email (thư điện tử) cho PV từ địa chỉ chung chung: “Quê hương tôi”. Anh bảo, rừng ở Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu bị tàn phá đến man rợ: “Tôi chỉ muốn làm việc với một mình anh. Tôi sẽ gửi ảnh, gửi văn bản, gửi tất cả những gì tôi có thể kiếm được qua email cho anh. Chỉ xin anh hãy lên với thảm cảnh rừng Nà Hẩu một lần”. Cả tháng ròng tôi đi điều tra về nạn giết hại tê giác ở Nam Phi nên không lên Yên Bái được, anh viết thư oán trách, tuyệt vọng, thậm chí nguyền rủa tôi chỉ là “con hổ giấy”.
PV cũng đã nói toạc ra suy nghĩ của mình, rằng vì sao anh tìm PV để tố cáo, có thật là vì anh thương xót rừng hay là anh muốn hạ bệ đối thủ của mình, câu chuyện này chỉ là cái cớ để anh mưu lợi cá nhân? PV cắt liên lạc, cho đến khi gửi những bức ảnh ở Nam Phi và các hoạt động của mình, anh kiểm lâm “lai vô ảnh khứ vô hình” kia lại xin lỗi và tiếp tục tin nhắn, email tố cáo về rừng bị tàn phá.
Câu hỏi đặt ra là: Làm sao PV vượt qua các trạm gác kiểm lâm để xâm nhập các cánh rừng bị tàn sát ở nơi quá xa xôi kia? Anh ta đã tình nguyện tìm người dẫn đường, giúp PV ngụy trang để vào rừng. Hai đồng nghiệp ở VTV2 (Đài Truyền hình Việt Nam) muốn theo chân PV để làm một bộ phim phóng sự kiểu “truyền hình thực tế” tại các điểm đen hủy hoại môi trường. Anh kiểm lâm sắp xếp một kế hoạch rất “hình sự”, rất “thám tử”, nghe đã thấy run: “Anh đi qua thành phố Yên Bái vài chục cây số, gặp một cái cột mốc ven đường.
Từ đó, rẽ vào nhà nghỉ Thiên Hương, bịt biển số xe ôtô vào. Nai nịt như người về thăm quê cũ. Sẽ có 3 người đi xe Min-khơ đến chở anh vượt núi vào Nà Hẩu. Đi qua trạm kiểm lâm, có cái nhà cộng đồng xếp toàn gỗ phay tang vật vụ án, anh đừng có quay phim chụp ảnh. Tốt nhất mang theo giấy tờ, ai hỏi bảo là cán bộ địa chất đi tìm khoáng sản. Đi 5km nữa thì gặp một cái nhà sàn.
Bỏ xe máy đi bộ qua phía trước cửa nhà sàn. Qua một con suối lớn, đến cánh rừng quế thì sẽ có một người gầy, tóc xoăn từ trong bụi rậm đi ra. Đừng hỏi tên anh ta là gì. Anh ta sẽ dẫn các anh đến gặp một người to béo, đội mũ cối, mặc áo rằn ri. Lúc ấy sẽ đuổi anh tóc xoăn về, rồi theo người mặc đồ rằn ri đi vào rừng. Nhớ là gã tóc xoăn và gã áo rằn ri không được phép biết mặt nhau”.
Đi bộ qua bạt ngàn các nương quế, bà con người Mông thu vỏ quế về, hương quế thơm và rực ấm, trĩu trịt nói cười. Mỗi lúc như thế, “người dẫn đường” lại ẩn mình vào bụi rậm, lẩm bẩm: “Chúng mày về Hà Nội rồi, lộ ra là tao đưa đường thì chúng nó giết tao”. Đường mưa dính đến mức, bước chân xuống, nhấc lên là mất cả giày. Phạm Hùng (VTV2) thì ngã như đập mẹt. Thuân gầy như que củi, cầm máy quay nhưng bị cấm bấm máy nếu chưa được gã rằn ri đồng ý.
Qua các tán rừng hoa chuối đỏ ngỡ ngàng, hoa sim tím rắt, rồi những cái lều lợp bằng lá chuối xanh tươi của lâm tặc, người dẫn đường bắt đầu cởi mở hơn: “Tao bỏ nghề lâm tặc được 2 năm rồi”. “Anh thấy nghề này nguy hiểm quá à?”. “Không, hết bố nó gỗ rồi. Muốn phá phải vào sâu trong rừng bảo tồn, vất vả lắm. Vả lại, phải “đút” cho các cửa “bảo kê” rất tốn kém, lãi lời còn chả bao nhiêu”.
“Một bộ sập đường kính 80cm gồm 2 tấm, mỗi tấm 14 triệu đồng. Ngả một cây có khi được hơn 200 triệu đồng. Nhưng “trả tiền bảo kê” cũng tốn lắm. Tao từng đẵn nhiều cây đường kính gốc lên tới 3m. Đẵn cả tuần mới đổ một cây!”. Như để làm chứng cho câu chuyện của mình, anh ta dẫn đi dọc suối, đến những gốc cây to để PV đo. Quả thật đường kính gốc gần 3m.
Sau này, về làm việc chính thức với anh Lưu Văn Đoàn - Chủ tịch UBND huyện Văn Yên – PV cũng được xác nhận: Những cây gỗ ở Nà Hẩu bị “ngã đổ” có đường kính hơn 2,5m. Rừng quá giàu, đúng là “rừng vàng”. Rừng trải thảm đỏ cho con người hiểu và tri ân các báu vật thiên nhiên như thế, chỉ tiếc, lâm tặc và những cán bộ tha hóa đang dùng thảm đỏ đó để… chùi chân, hoặc chùi cái mép ăn vụng của họ.
PV đang đi tố cáo một phần chìm của “tảng băng” về sự tha hóa của các cán bộ lẽ ra phải vững tay bảo vệ rừng. Họ đã: Hoặc là buông lỏng quản lý; hoặc đã câu kết với lâm tặc để xả thịt những con “ngỗng béo” mang tên Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu. Rừng đặc dụng, thì phải bảo vệ nghiêm ngặt, dù cây đổ cũng để im, dù lấy măng lấy nấm từ rừng cũng là vi phạm.
Xin nhấn mạnh: Sự việc chỉ bị tố cáo, khi mà chính lực lượng kiểm lâm sở tại có ý định “chơi” nhau. Cụ thể là khi ông Nguyễn Đức Thiện - Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Văn Yên - được điều lên làm Phó Chi cục trưởng Kiểm lâm tỉnh Yên Bái, cái chức lãnh đạo kiểm lâm huyện được ba bề bốn bên xông vào xâu xé. Việc chúng tôi bị “xui” lên điều tra về rừng Nà Hẩu, cũng là nằm trong kế hoạch của những người muốn “ân oán giang hồ có ngày phải trả”.
Thông tin đáng tin cậy cho biết, những cây gỗ đường kính 2 - 3m bị ngả, xẻ thành các “sập” (tấm lớn) rất nhiều. Thậm chí, ở làng bên, đến cửa rừng chúng tôi đã thấy cưa máy gào rít ong ong khắp nơi. “Đại công trường” trong rừng bảo tồn! Một năm, ít ra thì kiểm lâm huyện cũng phải “xử lý hành chính” mấy chục vụ vi phạm lâm luật tại đây. Ai đã buông lỏng quản lý, ai đã trục lợi từ việc “im lặng” cho phá rừng?
PV cao 1m62, đứng lọt thỏm, dang chân dang tay trong lòng một cây gỗ đổ chổng kềnh, người ta “xắn” lấy vài khúc, còn lại bỏ hết. Vậy là đường kính cây gỗ phay đó phải gần 3m. Thử hỏi, mất mấy trăm năm để thiên nhiên hun đúc nên một “bảo tàng” như vậy? Các đồng nghiệp ở VTV chỉ còn biết thốt lên: Khu suối này, cánh rừng này có tên là Khe Phay, bởi nó vốn tràn ngập các triền cây phay cổ thụ. Còn bây giờ, đến cái cây lớn cuối cùng nằm rạp dưới chân mà lâm tặc chưa kịp xẻ mang đi kia, thì có lẽ, bà con và bản đồ địa phương nên đổi tên khe này là Khe Chuối Hột, hoặc Khe Cỏ Dại, vì ngoài chuối rừng và cỏ dại, chẳng còn gì nữa cả.
Cuộc phỏng vấn của PV với người đi rừng muốn giấu mặt diễn ra giữa những bãi gỗ mênh mông bị xẻ trái phép trong Khu bảo tồn. Anh ta cho phép ghi âm, ghi hình từ phía sau. “Bọn phá rừng nó không chặt cây tươi luôn đâu. Nó cứ dùng cưa máy hoặc rìu chặt gốc trước, cho bão về làm đổ cây lớn, rồi cây khô đi, sau đó mới vào xẻ. Coi như xẻ một cây bị “thiên tai làm chết”. Đó là cách phá rừng rất “cao thủ” của họ. Có thể sờ vào các gốc cây đổ “do gió bão”, sẽ thấy các vết cắt bằng cưa máy rất ngọt” - anh ta tiết lộ.
Hôm sau, về làm việc với Hạt kiểm lâm, với ông Đoàn - Chủ tịch UBND huyện Văn Yên - thì điều này mới càng được xác tín. Ông Đoàn còn kể rõ: Họ phá rừng, bằng cách ken (chặt, đẽo) gốc cây cho nó chết, nó đổ. Họ đốt nương chỉ đốt bảy, tám trăm mét vuông một lần thôi, nếu bị bắt thì đỡ phải… khởi tố hình sự. Ông Đoàn là người tâm huyết, thẳng thắn, ông bảo: Huyện đã phải phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, quyết liệt tố cáo những đối tượng đầu sỏ trong phá rừng. Thậm chí có những tay “lâm tặc anh chị” làm nhà ở cửa khu bảo tồn, chính quyền xúc tiến kế hoạch “trục xuất” họ đi cho trong sạch địa bàn.
Có lẽ, rừng Nà Hẩu sẽ bị cạo trụi trong lủi thủi tội tình, “không một tiếng vang” nếu như không có sự kiện Giàng A Thào. Thào năm nay ngoài 30 tuổi, người Mông, nhà ở núi cao, đi bộ toạc máu chân mới đến. Mới đây, nghe theo chính sách vận động hạ sơn, Thào quyết tâm làm một căn nhà ở nơi thoáng rộng để tiện đường trồng lúa, thu hái thảo quả. Cu cậu cùng mấy người anh em dựng các thanh xà, vác cưa dài lên rừng xẻ hai cây gỗ phay về làm cột nhà. Mỗi cây gỗ, đường kính chừng 1m. “Phó Chủ tịch xã Mỏ Vàng, rồi cán bộ kiểm lâm, hai “thằng” nó lên nó bắt tao. Tao có tội thì tao phải đi tù thôi” - Thào nói rất hồn nhiên. Anh ta cũng không quên miêu tả cảnh đem tiền “đút” những đâu để được ưu ái như thế nào.
Chuyện là thế này: Ngày 26.9.2012, phiên phúc thẩm, TAND tỉnh Yên Bái tuyên phạt Thào 1 năm 6 tháng tù giam vì hành vi xẻ gỗ trái phép ở tiểu khu 79, xã Nà Hẩu. Đồng thời, họ quyết định bán đấu giá toàn bộ gỗ tang vật do Thào đã xẻ ra: Gồm 6,3m3 gỗ đã xẻ và 22,7m3 gỗ tròn chưa xẻ. Các gỗ ấy vẫn nằm trên rừng bảo tồn. Đúng như ông Chủ tịch huyện Văn Yên nói: việc “bán đấu giá” gỗ tang vật nằm ngay trong rừng bảo tồn này là hành vi không đúng pháp luật. Nhưng, cái sai không dừng lại ở đó.
Sau khi phát mại, một ông “có máu mặt” ở địa phương đã được “ưu ái” mua với giá rẻ mạt rồi bán trao tay cho người khác để kiếm lời, người này lại giao cho bà vợ tên là Duy thay mặt mình “quyết” mọi thứ. Tuy nhiên, do đường rừng xa xôi, hiểm trở, không thể mang những khúc gỗ khổng lồ kia về ngay. Bên mua bèn để gỗ tại rừng, cơ quan chức năng giao cho UBND xã Nà Hẩu trông coi mấy chục mét khối “gỗ tang vật”.
Ít ngày sau, cán bộ xã Nà Hẩu - ông Lý Hữu Ton và cán bộ công an Lờ A Làng dẫn người mua lên rừng bàn giao gỗ. Ngắm gỗ xong, thấy gỗ rỗng, bên mua không nhận hàng. Đúng 15 ngày sau, tổ bảo vệ rừng phát hiện gỗ tang vật bị “phá hoại” bằng cưa máy. Chủ tịch xã Giàng Chẩn Phử cấp tốc làm văn bản báo cáo cấp trên. Phòng tài chính - kế hoạch của huyện cũng “kịp thời một cách kỳ lạ”: Có văn bản đề nghị hủy kết quả đấu giá, “hoàn trả lại tiền” cho bên mua.
Tuy nhiên, cơ quan hữu trách đã ngay lập tức có công văn đáp trả: Rằng đấu giá rồi, giờ tang vật bị hủy hoại, thì phải tìm cách thu hồi tài sản hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự với người trông coi, chứ “hủy kết quả đấu giá” sao dễ dàng thế được. Thế là từ “con toán” không biết vô tình hay ai đó cố tình sắp đặt (!) này, một bước đi đáng sợ nữa đã ra đời: Bà Duy đem cưa, đem 2 xe cơ giới vào tận lõi rừng bảo tồn để xẻ và khênh rất nhiều gỗ quý khác ra khỏi rừng.
Theo tố cáo của vị kiểm lâm “bí ẩn” kể trên, thì người ta cố tình tạo ra tình huống “mất gỗ”, “gỗ bị hủy hoại” để tìm cách cho bà Duy được “xẻ bù” vào số gỗ tang vật mà bà đã mua nay bị “phá hoại” kia. Đố ai biết họ “xẻ bù” bao nhiêu cây gỗ, bao nhiêu súc gỗ, tiền bán gỗ chia cho những ai! Và đây có thể sẽ là một điệp vụ hoàn hảo, nếu như sự việc không bị bà con và Giàng A Thào kịp thời ngăn chặn.
Hôm ấy, một ông họ Giàng ở Nà Hẩu, ông ấy thấy xe ôtô Hoa Mai chở gỗ ầm ầm, xẻ cả đống cả núi gỗ mà chả ai bị sao, trong khi Thào cả đời ở rừng, chỉ đẵn gỗ về dựng nhà thôi mà đi tù những 1,5 năm. Thào và ông họ Giàng cùng bảo: “Chúng mày xẻ cả đống gỗ thế này mà được à. Tao không cho xe của chúng mày đi nữa”. Thế rồi họ báo cáo đến Công an và Kiểm lâm tỉnh Yên Bái về bắt (chứ không phải kiểm lâm huyện!).
Sau này, Kiểm lâm Văn Yên có bản báo cáo đề ngày 16.5.2014, nói rằng gỗ kia là gỗ tang vật nhà bà Duy đã mua xẻ đem về nhưng không báo cáo kiểm lâm để đóng dấu búa. Báo cáo này là thiếu trung thực, nó càng làm rõ hơn cái sự mập mờ trong “màn kịch” mà chúng tôi đã nói ở trên.
Thêm nữa, khi đối chất với PV, ông Phạm Văn Hưởng - đại diện Kiểm lâm huyện Văn Yên - đã buộc phải thừa nhận “ngược lại” với báo cáo trên: Chi cục kiểm lâm tỉnh Yên Bái đã có văn bản nói rõ, gỗ mà 2 xe cơ giới vào lõi rừng bảo tồn vận chuyển trái phép vừa bị bắt kia là gỗ mới được xẻ thêm, chứ không phải gỗ đã được bán đấu giá. Tóm lại là người ta đã “đóng cửa bảo nhau” xẻ gỗ rừng bảo tồn, định đem đi bán, có chia chác hay không thì còn phải chờ kết luận của tỉnh.
Vừa qua, trong cuộc làm việc rất minh bạch, thẳng thắn và đầy tinh thần cầu thị của ông Đoàn - Chủ tịch UBND huyện Văn Yên - với chúng tôi, ông Đoàn thừa nhận chắc nịch: Trong một cuộc họp, huyện đã đặt vấn đề, tại sao “doanh nghiệp” kia lại mặn mà mua gỗ đã bị chặt ngã, gỗ rỗng, ở tít trong cánh rừng không một phương tiện nào vào vận chuyển được ấy? Có phải họ chỉ mua gỗ để có được cái hồ sơ, “hóa đơn” sở hữu gỗ trong rừng bảo tồn, rồi lấy đó làm “con bài” chuyển gỗ khác ra khỏi rừng với “số lượng” bao nhiêu thì tự người quản lý rừng và “đối tác” biết với nhau thôi?
Theo tài liệu mà PV điều tra được, có thể khẳng định: việc “đặt vấn đề” mua giấy hợp thức hóa cho hành vi chở gỗ ra khỏi rừng kể trên của lãnh đạo huyện Văn Yên, đã dần tiệm cận được với bản chất của vụ việc. Điều này, giống như một số trang trại “gây nuôi động vật hoang dã”, họ vẫn mua được “giấy phép” của kiểm lâm để hợp pháp hóa việc buôn bán, vận chuyển, giết thịt hoang thú.
Khi đang giúp nhóm điều tra của VTV “dẫn chuyện” ở cổng UBND huyện Văn Yên, thì nhiều “quần chúng tốt” đã bám theo, cung cấp cho nhà báo tư liệu thuyết phục về những đường dây xẻ gỗ rừng bảo tồn, “lo lót” chở bằng xe khách về giao… tận nhà cho người mua. Tức là gì, tức là họ coi khu bảo tồn với những cây gỗ đường kính 2 - 3m như những con ngỗng béo mẫm. (Lao Động 10/1) đầu trang(
Trên địa bàn xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị), hàng chục ha rừng phòng hộ đã bị đốn hạ để trồng mới rừng sản xuất. Ðiều đáng nói là việc chặt phá rừng diễn ra công khai giữa ban ngày, nhưng các cơ quan chức năng vẫn chưa giải quyết dứt điểm.
Từ ngã tư Khe Cau (trên tuyến đường Hồ Chí Minh) đi dọc con đường mòn vào sâu khoảng bảy km là địa bàn xã Vĩnh Hà, nơi có hàng trăm ha rừng phòng hộ xanh tốt chắn gió, chắn bão được trồng từ nhiều năm nay. Bên cạnh những cánh rừng phòng hộ lâu năm, rừng tự nhiên, rừng trồng keo lai khoảng ba đến bốn năm tuổi là rừng cây hai tháng tuổi lớm chớm xanh... Ðây là những cánh rừng vừa mới trồng thay thế cho rừng phòng hộ đã bị chặt phá.
Ông Hồ Nam, người dân địa phương dẫn đường đưa chúng tôi tiếp cận những cánh rừng cho biết: Nơi đây vốn là rừng phòng hộ rộng hàng chục ha nhưng vừa qua đã bị một số người chặt phá; xe công nông, xe bán tải, xe kéo vào vận chuyển gỗ đưa ra khỏi địa bàn. Số cây lớn họ chở đi tiêu thụ, cành, ngọn họ chất thành đống rồi đốt. Sau khi đốn hạ hết số cây rừng nhiều năm tuổi, những người này đã cho san ủi, đào đất và trồng mới rừng sản xuất, chủ yếu là cây tràm đen và keo lai...
Tại đây, nhìn thấy nhiều gốc cây to chưa được đưa lên khỏi mặt đất, đang nằm đan xen với cây trồng mới; gỗ rừng trồng được cưa xẻ tập kết ở nhiều nơi, tại bìa rừng, ven các con đường mòn... Ông Nam cho biết thêm: Khu vực rừng bị chặt trụi nằm cách Trạm Kiểm lâm Bến Quan (thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Linh) gần 10 km. Những năm qua, một số hộ dân ở huyện Vĩnh Linh phản ánh đến cơ quan chức năng về việc một số người phá rừng tùy tiện để trồng rừng mới. Tuy nhiên, vụ việc đã không được cơ quan chức năng giải quyết một cách dứt điểm dẫn đến tình trạng mạnh ai nấy chặt phá rừng vẫn tiếp diễn...
Vừa qua, UBND huyện, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Linh đã vào hiện trường để kiểm tra thực địa nhưng vẫn chưa xác định được vị trí rừng bị chặt phá và chủ những cánh rừng là đơn vị, cá nhân nào. Chủ tịch UBND xã Vĩnh Hà Võ Văn Sanh cho biết, khi nhận được thông tin có người phá rừng, cán bộ xã vào kiểm tra nhưng không thấy ai, khi mình ra thì họ lại vào chặt phá...
Còn theo lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Linh: Việc rừng phòng hộ ở đây bị chặt phá là có. Tuy nhiên rừng bị chặt phá là của ai thì đang được làm rõ, vì lực lượng kiểm lâm chỉ quản lý, bảo vệ một số khu rừng trọng yếu. Còn lại rừng được giao cho đơn vị nào làm chủ sở hữu thì đơn vị đó có trách nhiệm quản lý và bảo vệ, Hạt Kiểm lâm không quản lý nổi...
Qua tìm hiểu được biết, trên địa bàn huyện Vĩnh Linh có nhiều đơn vị quản lý rừng như: Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Bến Hải, Ban Quản lý rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải, xã Vĩnh Hà, Làng thanh niên lập nghiệp tây Vĩnh Linh... Song việc cắm mốc để phân định chủ rừng và loại rừng tại khu vực chưa hề được thực hiện nên khi xảy ra phá rừng khó xác định được ai là chủ rừng...
Phó Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Linh Trần Hữu Hùng cho biết: Sau khi có thông tin, UBND huyện Vĩnh Linh đã chỉ đạo các cơ quan chức năng kiểm tra, báo cáo UBND huyện để có biện pháp xử lý. Theo đó, buộc các tổ chức, cá nhân chặt phá rừng phải trồng lại cây bản địa để bảo đảm chức năng phòng hộ chứ không trồng rừng sản xuất. (Nhân Dân 10/1) đầu trang(
9/1, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo T.Ư phối hợp với Bộ Tài nguyên & Môi trường tổ chức hội thảo "Nhìn lại một năm thực hiện công tác tuyên truyền không buôn bán, tiêu thụ bất hợp pháp động vật, thực vật hoang dã".
Tại hội thảo, các chuyên gia bảo tồn kiến nghị Cục Bảo tồn đa dạng sinh học (Tổng cục Môi trường) và các địa phương cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ, đẩy mạnh công tác tuyên truyền cũng như mạnh tay chống lại các hành vi vi phạm.
Ngoài ra, các nhà bảo tồn cũng đề nghị tiến tới có thể công khai những cá nhân, cửa hàng buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã và có những hình thức xử lý thích đáng.
Phó Trưởng ban Ban Tuyên giáo T.Ư Bùi Thế Đức ghi nhận những ý kiến của các đại biểu và cho rằng trong thời gian tới cần tiếp tục tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, đặc biệt là vấn đề bảo vệ nghiêm ngặt các loài động vật hoang dã.
Ông Bùi Thế Đức đề nghị, các ngành và địa phương phải tăng cường đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động trong cấp ủy Đảng, chính quyền và Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân về trách nhiệm và ý thức bảo vệ động vật hoang dã. (Kinh Tế Đô Thị 9/1) đầu trang(
;
Trước thời điểm Tết Nguyên đán, ngành kiểm lâm vạch sẵn phương án truy quét, chủ động khoanh vùng và sẵn sàng đối phó với mọi thủ đoạn tinh vi xâm hại rừng.
Cận tết, khi các lòng hồ thủy điện tích nước mở ra tuyến đường thủy thuận lợi cho lâm tặc phá rừng. Những nẻo đường mở trái phép vào rừng đặc dụng, phòng hộ chi chít. Thông thường thời điểm cuối năm lâm tặc “vơ vét cú chót” tài nguyên rừng, khoáng sản. Bất lợi nhất trong công tác bảo vệ rừng do đợt nghỉ lễ tết kéo dài 9 ngày, kiểm lâm khó huy động lực lượng hỗ trợ.
Giống như mọi năm, tổ công tác đặc biệt, nòng cốt vẫn là lực lượng kiểm lâm có thể thi hành công vụ bất cứ lúc nào. Hơn 10 chiến sĩ cảnh sát cơ động đã biên chế 24/24 cho tổ, còn lực lượng công an chỉ bổ sung. Vừa qua, UBND tỉnh cũng chỉ đạo chính quyền các địa phương chủ động xây dựng phương án riêng, không để lâm tặc “bắt bài”.
Các trọng điểm phá rừng được khoanh vùng gồm địa bàn giáp ranh giữa các huyện trong tỉnh và giáp ranh giữa Quảng Nam với Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Kon Tum. Trong đó, giáp ranh giữa các xã Phước Hòa (Phước Sơn) với xã Quế Lâm (Nông Sơn) và xã Cà Dy (Nam Giang); huyện Đông Giang với huyện Hòa Vang; giáp ranh xã Lăng (Tây Giang) với xã Zuôih (Nam Giang); giáp ranh Nam Giang với Đại Lộc…
Lực lượng kiểm lâm sẽ chốt chặn trên tuyến huyết mạch đông Trường Sơn, các quốc lộ 14E, 14B,14G, ĐT616 và dọc sông Vu Gia - Thu Bồn. Điểm mới của năm nay là sẽ tăng cường quân vào các địa bàn có thủy điện mới đưa vào vận hành.
Cụ thể tại huyện Nam Giang, “tầm ngắm” là khu vực dọc tuyến sông Thanh thuộc xã Ta Bhing và xã Đăc Pring, khu vực Khe Vinh (tiểu khu 299 và 301), Khe Ru (tiểu khu 300) thuộc xã Tà Pơ, khu vực Khe Giữa (tiểu khu 342) thuộc xã Chà Vàl, dọc tuyến sông Cái thuộc xã Cà Dy đến khu vực Đá Trắng (thị trấn Thành Mỹ); lưu vực thuộc các thủy điện Sông Bung 4, Sông Bung 5 và Sông Bung 6; nơi tập kết, vận chuyển gỗ đường Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, vùng giáp ranh giữa Quảng Nam với các tỉnh Quảng Ngãi, Kon Tum và TP.Đà Nẵng, các điểm khai thác lâm sản mới phát hiện cũng được khoanh vùng. Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh – ông Phan Tuấn cho biết, quy chế phối hợp giữ rừng vùng giáp ranh là hành lang pháp lý bảo vệ rừng tại chỗ hiệu quả.
Khi các bên đồng bộ vào cuộc sẽ tăng thêm sức mạnh chiến đấu trong các đợt truy quét; mặt khác lực lượng xung kích như kiểm lâm địa bàn, chủ rừng, chính quyền các xã vùng giáp ranh sẽ nối thêm “cánh tay dài” trong nhiệm vụ giữ rừng bền vững, nhất là dịp nghỉ tết kéo dài.
Chỉ tính riêng thời điểm cuối tháng 12.2014, lực lượng kiểm lâm và Công an tỉnh phát hiện, bắt giữ 3 vụ vận chuyển gỗ thuộc nhóm I, II trái phép. Toàn bộ số gỗ trên từ nguồn gốc khu vực đầu nguồn thủy điện Sông Bung. (Báo Quảng Nam 9/1) đầu trang(
Một người phụ nữ tên N., làm công quả trong Nội ô Toà thánh Cao Đài Tây Ninh, đến Phòng Bạn đọc – Tư liệu Báo Tây Ninh phản ánh tình trạng đàn khỉ trong Nội ô Toà thánh bị kẻ xấu bắt trộm rất nhiều.
Bà mong các ngành chức năng sớm có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu để bảo vệ đàn khỉ.Phóng viên Báo Tây Ninh đã đến Nội ô Toà thánh. Bà N. dẫn chúng tôi vào vườn thiên nhiên chỉ cho xem hiện tại đàn khỉ chỉ còn lại không tới 20 con.
Bà N. cho biết, từ nhiều năm nay, bà và một vài người khác chuyên làm nhiệm vụ chăm lo cho đàn khỉ. Mỗi ngày ba buổi sáng, trưa, chiều, bà đạp xe đến chợ Long Hoa xin trái chín, rau dạt, gạo, lúa, bắp rồi đem vô rừng thiên nhiên, để vào các thau, chậu cho khỉ ăn. Vì thường xuyên tiếp xúc với đàn khỉ trong nhiều năm, nên bà N. biết rất rõ số lượng đàn khỉ.
Bà N. nói: “Ở Nội ô có ba đàn khỉ rõ rệt. Một đàn ở khu rừng thiên nhiên bên khán đài phía Tây, có khoảng 30 con. Hai đàn ở cánh rừng bên khán đài Đông, mỗi đàn khoảng 25 con. Tổng cộng có khoảng 80 con. Nhưng khoảng ba tháng gần đây, đàn khỉ bị thưa dần, đến nay, chỉ còn  không tới 20 con”.
Theo bà N. nguyên nhân dẫn đến số lượng đàn khỉ giảm là do thời gian gần đây, có một số kẻ bắt trộm khỉ. Qua theo dõi, bà N. và một số người khác thấy có một số thanh niên dáng vẻ “bặm trợn”, cứ lén lút bắt khỉ. Chúng giả dạng du khách, đến rải thức ăn dọc theo hàng rào rừng thiên nhiên. Khi khỉ ăn phải thức ăn này, bị trúng thuốc đi không nổi, chúng quay lại nhặt khỉ bỏ vào bao (loại đựng diêm), rồi lên xe mô tô phóng đi mất. Chúng liên tục thay đổi phương thức và giờ giấc bắt khỉ.
Có lúc, những thanh niên này đi bằng xe mô tô, thỉnh thoảng đi bằng xe ô tô loại 7 chỗ. Có ngày, mới tờ mờ sáng chúng tháp tùng theo những người vào nội ô Toà thánh tập thể dục để rải thức ăn cho khỉ. Có lúc chúng lại hành động vào buổi trưa, khi mọi đạo hữu tập trung đi cúng. Cũng có khi chúng lén lút bắt khỉ vào lúc chập choạng tối.
Ngoài cách rải thức ăn có tẩm thuốc, bọn trộm khỉ này còn vào trong rừng thiên nhiên đặt bẫy hoặc dùng thức ăn có tẩm thuốc để bắt khỉ. Chúng thường gài loại bẫy thòng lọng, khỉ lọt đầu hoặc chân vào là bị thòng lọng giật lên, treo lủng lẳng trên cao. Mặt khác, chúng dùng cả chục cái chén đựng thức ăn đã tẩm thuốc để rải rác trong các lùm cây. Chờ khỉ ăn bị ngấm thuốc, chúng lẻn vào bắt rồi trèo hàng rào ra ngoài trốn mất.
Để chứng minh cho lời mình nói, bà N. dẫn PV vào rừng thiên nhiên chỉ cho xem một vài cái chén đựng thức ăn có tẩm thuốc mà bọn “khỉ tặc” bỏ lại. Bà N. còn đem ra hai bao diêm của bọn “khỉ tặc” giấu trong hốc cây.
Bà N. giải thích: “Chúng để sẵn hai cái bao này trong hốc để khi khỉ trúng thuốc, chúng giả dạng khách tham quan đi vào rừng tay không; sau đó gom khỉ bỏ vào bao rồi đem ra. Rất nhiều lần tôi thấy mấy con khỉ bị trúng thuốc cứ ngồi ngả nghiêng trên mặt đất. Những lần như vậy, tôi phải ở lại canh chừng đàn khỉ, chờ cho chúng tỉnh thuốc, trèo lên cây tôi mới ra về”.
Thương cho đàn khỉ, bà N. đã lặn lội tìm đến cơ quan Công an thị trấn Hoà Thành (huyện Hoà Thành), Chi cục Kiểm lâm tỉnh để trình báo sự việc. Bà N. kể tiếp: “Hai cơ quan này cũng có cử nhân viên đến theo dõi, nhưng bọn trộm khỉ cảnh giác dữ lắm. Khi thấy có cơ quan chức năng vào thì chúng ngưng hoạt động. Khi những cán bộ này ra về là chúng lại tiếp tục bắt khỉ”.
Tức mình, bà N. viết thông báo về tình trạng khỉ bị mất trộm và số điện thoại nóng của Chi cục Kiểm lâm tỉnh lên giấy, ép nhựa rồi cột lên thân cây trong rừng thiên nhiên; đồng thời, bà dùng mực viết chữ trên tường hai đầu khán đài phía Đông những nội dung tương tự và số điện thoại nóng của Cảnh sát hình sự thị trấn Hoà Thành để nhiều người biết cùng cảnh giác, bảo vệ đàn khỉ.
Một người thợ chuyên hành nghề chụp ảnh dạo trước Toà thánh kể: “Có vài lần tôi nhìn thấy hai thanh niên quảy bao khỉ từ trong rừng thiên nhiên nhảy qua hàng rào rồi lên xe mô tô đi mất. Thấy chúng bắt khỉ một cách ngang nhiên, tôi cứ ngỡ đó là nhân viên Kiểm lâm vào tỉa thưa đàn khỉ nên tôi không hỏi han gì”.
Một người phụ nữ bán vé số dạo trong Nội ô Toà thánh cũng khẳng định đã từng thấy một vài thanh niên bắt khỉ, nhưng bà cũng cho đó là nhân viên của cơ quan Kiểm lâm đang làm nhiệm vụ chứ không biết đó là bọn trộm khỉ.
Ông Lê Ngọc Bình- 67 tuổi, Phó trưởng Ban Trật tự Nội ô Toà thánh cũng bức xúc về vấn đề này. Ông lấy cho PV xem một cái lồng sắt dùng để bẫy khỉ của bọn xấu gài trong rừng thiên nhiên mà nhân viên của ông phát hiện, thu hồi.
Ông Bình cho biết, trong thời gian gần đây, Ban Trật tự của ông đã phát hiện và thu giữ hai chiếc lồng sắt như thế này và một số bẫy thòng lọng trong vườn thiên nhiên, nhưng tình trạng mất khỉ vẫn diễn ra. “Chúng tôi cũng bức xúc chuyện này lắm, nhưng không biết làm sao ngăn chặn. Hằng ngày, tôi đều cử anh em ra trông coi đàn khỉ. Khi chúng tôi có mặt thì bọn trộm né tránh. Tôi nhắc nhở người dân đừng cho khỉ ăn để dễ kiểm soát đối tượng xấu, nhưng không được”, ông Bình nói.
Trao đổi với PV, ông Trần Hoà An- Đội Trưởng Đội Kiểm lâm cơ động, phòng cháy chữa cháy rừng- Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh, cho biết: “Cách nay hơn một tháng, có người đến báo tin trong trong nội ô Toà thánh có kẻ xấu vào bắt trộm khỉ. Chúng tôi có cử nhân viên kiểm lâm thường xuyên vào kiểm tra, nhưng đến nay chưa bắt quả tang được trường hợp nào. Tuy nhiên, với bất kỳ hình thức bắt trộm khỉ như thế nào cũng đều vi phạm pháp luật”.
Ông An cho biết thêm, hai năm trước, Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh có tổ chức vào Nội ô Toà thánh bắt 8 con khỉ đầu đàn hung dữ, thường xuyên cắn người đem thả về rừng lịch sử Chàng Riệc (huyện Tân Biên).
Từ đó đến nay, Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh không tổ chức bắt khỉ trong Nội ô Toà thánh thêm lần nào nữa. Nếu có vào đó bắt khỉ, nhân viên kiểm lâm đều mặc đồng phục và kết hợp với Ban Trật tự Nội ô Toà thánh đàng hoàng, chứ tuyệt đối không có chuyện hành động riêng lẻ hoặc mặc thường phục.
Việc đàn khỉ trong Nội ô Toà thánh bị giảm số lượng đáng kể đang gây bức xúc cho nhiều người. Mong các ngành chức năng sớm có biện pháp ngăn chặn, bảo vệ đàn khỉ một cách hữu hiệu, để chúng góp phần làm phong phú môi trường sinh thái trong Nội ô Toà thánh. (Báo Tây Ninh 11/1) đầu trang(
;
Đi đọc trên quốc lộ 14D, đoạn từ xã Ta Bhing lên xã biên giới La Dêê (Nam Giang) trong những ngày đầu năm, dễ dàng bắt gặp cảnh khai thác, vận chuyển khối lượng lớn củi rừng, hoặc gỗ quý đường kính lớn cưa thành lát nhỏ.
Phương tiện vận chuyển chính bằng thuyền máy hoặc ô tô tải. Bằng thủ đoạn triệt hạ cây rừng trong Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, đối tượng đã chẻ nhỏ bán lấy củi, gặp gỗ quý thì cắt thành khúc phục vụ cho sản xuất, gia công đồ thủ công mỹ nghệ. Với hình thức khai thác rừng đơn giản này, các đối tượng hầu như không sợ kiểm tra, kiểm soát của lực lượng kiểm lâm.
Người dân địa phương tiết lộ, vào thời điểm trước Tết Nguyên đán, một khối củi rừng bán hơn 1 triệu đồng, trong khi những khúc gỗ quý dài hơn 0,5m thì được tiêu thụ cho các cơ sở sản xuất đồ mộc ở trong tỉnh. Tình trạng lấy củi, gỗ rừng bắt đầu rầm rộ từ hơn 4 tháng nay khi thủy điện Sông Bung 4 tích nước.
Nhiều đối tượng khai thác củi từ cành, ngọn cây rừng tận thu trong khu vực lòng hồ, nhưng cũng có không ít trường hợp lén lút triệt hạ thêm rừng. Ông Nguyễn Trí – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sông Thanh cho biết, lực lượng kiểm lâm không thể xử lý những trường hợp chở củi được do các quy định pháp luật hiện hành không cho phép, ngoại trừ bắt quả tang họ phá rừng.
Tuy vậy, theo PV, tình trạng gỗ cưa thành khúc nhỏ nằm lăn lóc trên đường, dưới sông, tập kết với khối lượng lớn là một “chiêu bài” lách luật về quản lý, bảo vệ lâm sản nên cán bộ kiểm lâm cần vào cuộc truy nguyên nguồn gốc xuất xứ gỗ, tránh tình trạng lợi dụng tận thu cành, ngọn trong ranh giới cho phép để… phá rừng. (Báo Quảng Nam 7/1) đầu trang(
Lực lượng kiểm lâm Quảng Nam và TP.Đà Nẵng vừa sơ kết 2 năm (2013-2014) thực hiện quy chế bảo vệ rừng vùng giáp ranh.
Lâm tặc đã lợi dụng các tuyến quốc lộ 1, 14B, 14G; sông Vu Gia về sông Yên, sông Quá Giáng và sông Thu Bồn về sông Cẩm Lệ… để vận chuyển gỗ lậu. Các khu vực giáp giữa xã Đại Hiệp (Đại Lộc) với xã Hòa Khương (Hòa Vang); các xã Ba, xã Tư (Đông Giang) với xã Hòa Phú, Hòa Bắc (Hòa Vang)... nhiều năm nay rất phức tạp về tình trạng lấn chiếm đất rừng để trồng rừng, khai thác khoáng sản trái phép.
Kiểm lâm của huyện Đại Lộc và Hòa Vang đã chủ động truy quét, phát hiện nhiều vụ xâm hại rừng. Cụ thể tháng 12.2014, Hạt Kiểm lâm huyện Hòa Vang đã chặn đứng vụ xâm hại 2,7ha rừng IIA có chức năng phòng hộ, qua đó khởi tố vụ án. Các đối tượng có liên quan gồm Thái Văn Hiệp (thường trú tại xã Hòa Khương, Hòa Vang), Lê Tấn Thanh (trú tại huyện Quế Sơn), các đối tượng Trần Văn Tuyến, Huỳnh Khánh Sơn, Phạm Hồng, Trần Quang Chinh cùng trú tại huyện Đại Lộc.
Phương tiện vi phạm đã thu giữ phục vụ điều tra gồm 1 ô tô tải BKS 92C-00228, máy cưa cầm tay cùng tang vật gỗ. Phối hợp công tác, hai bên bắt giữ 8 vụ vận chuyển lâm sản trái phép, tịch thu hơn 6,4m3 gỗ các loại…
Trong khi đó, vùng giáp ranh giữa huyện Đông Giang với huyện Hòa Vang diễn biến khá phức tạp về tình trạng phá rừng và khai thác khoáng sản trái phép. Hai năm 2013-2014, Hạt Kiểm lâm Đông Giang và rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa phối hợp phá hủy 10 lán trại bẫy bắt động vật hoang dã quý hiếm, 8 lán trại, tịch thu 15 máy nổ và 6 máy bơm nước…
Riêng vụ khai thác, cất giấu lâm sản trái phép xảy ra tại khu vực Cà Nhông, rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa và tiểu khu 63, thuộc thôn Lấy  xã Tư (Đông Giang) giáp ranh Đà Nẵng - Quảng Nam đã khởi tố vụ án.
Trước đó, năm 2013, kiểm lâm hai bên xử lý 2 vụ phá rừng trái phép với diện tích hơn 7,4ha tại các tiểu khu 54, 57 xã Hòa Phú (huyện Hòa Vang) và các tiểu khu 74, 78 xã Ba (huyện Đông Giang). Việc vận chuyển lâm sản trái phép trên tuyến quốc lộ 14G qua địa phận xã Ba, xã Tư (Đông Giang) và xã Hòa Phú (Hòa Vang) đã được kiểm lâm Đông Giang và Hòa Vang phối hợp chặt chẽ.
Thời gian qua, kiểm lâm TP.Đà Nẵng và Quảng Nam xử lý 10 vụ mua bán, vận chuyển gỗ trái phép với khối lượng hơn 5,3m3 gỗ xẻ. Hình thức sử dụng xe máy để chở gỗ và dùng trâu trung chuyển gỗ từ rừng ra ngoài tiêu thụ tại khu vực Dốc Kiền vẫn diễn biến phức tạp.
Theo Chi cục Kiểm lâm TP.Đà Nẵng, điểm vướng mắc lớn vùng giáp ranh là chính quyền hai địa phương chưa xác định rõ ranh giới hành chính trên thực địa để quản lý tốt hơn. Nhiều năm nay, nguời dân trên địa bàn huyện Đại Lộc đã xâm canh trồng hơn 60ha rừng đất lâm nghiệp thuộc tiểu khu 61 xã Hòa Khương (huyện Hòa Vang).
Thêm vào đó, việc nhập cư trái phép vào địa bàn có xu hướng tăng. Cho nên cần thảo luận, xây dựng quy chế phối hợp quản lý chặt các cơ sở chế biến lâm sản vùng giáp ranh giữa Đại Lộc và Hòa Vang, tránh tình trạng đối tượng lợi dụng làm đầu mối tiêu thụ lâm sản trái phép.
Tại buổi sơ kết 2 năm, lực lượng kiểm lâm của hai địa phương thống nhất ký kết quy chế trao đổi kịp thời thông tin và tích cực phối hợp trong công tác kiểm tra, truy quét, phát hiện, ngăn ngừa và xử lý các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng tại địa bàn giáp ranh.
Theo ông Phan Tuấn – Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, dù vẫn còn xảy ra tình trạng phá rừng, nhưng nhờ chủ động trao đổi thông tin, nhiều khu vực giáp ranh đã được kiểm soát. Những hạn chế trong bảo vệ rừng sẽ được giải quyết trong thời gian đến.
Đánh giá về kết quả hoạt động 2 năm qua, kiểm lâm nhìn nhận công tác phối hợp đồng bộ, kịp thời phá được nhiều “điểm nóng” phá rừng tồn tại dai dẳng. Nhờ đó, vùng giáp ranh giảm đáng kể số vụ và khối lượng lâm sản vi phạm so với các năm trước. (Báo Quảng Nam 9/1) đầu trang(
Theo thông báo của Chi cục Kiểm  lâm, trên phạm vi toàn tỉnh có nhiều ngày không mưa, thời tiết khô hanh kéo dài nên nguy cơ xảy ra cháy rừng đang ở cấp 5, cấp cực kỳ nguy hiểm.
Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm, toàn tỉnh hiện có hơn 26 nghìn ha rừng, trong đó có đến 50% diện tích nằm trong vùng có nguy cơ cháy cao. Đây là những diện tích rừng nằm gần khu dân cư, địa hình phức tạp nên nguy cơ xảy ra cháy rừng cao. Nhiều điểm du lịch nằm sát với rừng, tình trạng đốt rừng làm rẫy, đốt ong… là những nguy cơ dẫn đến cháy rừng rất lớn.
Hàng năm, từ cuối tháng 11 năm trước đến tháng 6 năm sau hầu như mùa khô nào trên địa bàn tỉnh cũng xảy ra cháy rừng. Hầu hết các vụ cháy chỉ xảy ra ở những trảng cỏ, quần thể tràm nước... Để chữa cháy các địa phương có rừng và ngành kiểm lâm đã phải huy động hàng trăm lượt người để dập lửa và đề phòng lây lan ra diện rộng.
Bên cạnh đó, công tác phòng chống cháy rừng trên địa bàn tỉnh cũng đang gặp nhiều khó khăn bởi địa hình phức tạp. Cụ thể, tại khu vực rừng phòng hộ thuộc thôn Phước Thành, xã Tân Hòa (huyện Tân Thành) có nhiều hộ dân sinh sống với nhiều công trình như am, chùa được xây dựng. Hiện tượng cháy rừng thường xảy ra do những người dân lấy măng, bắt ong gây ra. Nguyên nhân xảy ra hiện tượng này là chưa kiểm tra, giám sát người ra, vào rừng.
Theo Hạt Kiểm lâm huyện Tân Thành, rừng trên địa bàn huyện do Ban quản lý rừng phòng hộ tỉnh quản lý.  Theo đó, toàn bộ diện tích rừng ở đây được giao khoán cho cá nhân, tổ chức. Do địa hình phức tạp, nhiều ngõ ngách nên việc quản lý gặp khó khăn và việc kiểm tra rừng phụ thuộc nhiều vào con nước trong khi phương tiện lạc hậu, lực lượng mỏng.
Trong những ngày đầu năm 2015, nhiều khu rừng, ngọn núi trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện nhiều màu vàng do khô hạn, gió thổi to và chưa có trận mưa nào. Vì vậy, ngành kiểm lâm xác định nguy cơ cháy rừng ở mức cao và công tác PCCR đang được đặt ở mức cao nhất.
Xác định con người là tác nhân chính gây ra cháy rừng, vì vậy ngay từ đầu mùa khô công tác tuyên truyền trong quần chúng nhân dân được ngành kiểm lâm triển khai. Các hạt kiểm lâm chủ động phối hợp với các địa phương, cá nhân có rừng đều phải ký cam kết với chính quyền địa phương không để việc cháy rừng xảy ra.
Theo ông Phạm Văn Thạch, Phó Hạt trưởng Kiểm lâm liên huyện Long Điền-Đất Đỏ, để phòng chống và chữa cháy rừng (PCCR), việc phối hợp giữa Hạt kiểm lâm với các ngành và chính quyền các địa phương có rừng rất chặt chẽ và có kế hoạch hành động cụ thể.
Trước tình hình diễn biến khí hậu bất thường và nguy cơ xảy ra cháy rừng cao trong mùa khô này, tại hội nghị triển khai PCCR năm 2014-2015, ông Lê Văn Trung, Phó chủ tịch UBND huyện Long Điền đã đề nghị Hạt Kiểm lâm liên huyện quyết liệt hơn trong công tác PCCR. Ngoài việc tổ chức lớp tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ cho lực lượng đảm nhận công tác PCCR cần chỉ đạo địa phương phối hợp với cơ quan truyền thông tuyên truyền các biện pháp PCCR để người dân biết và thực hiện.
Tại huyện Xuyên Mộc, công tác PCCR được Ban chỉ đạo bảo vệ và phát triển rừng huyện đã xây dựng phương án PCCR đến các cấp, các ngành liên quan cho hơn 17.000 ha rừng và đất lâm nghiệp. Các xã có rừng và đơn vị chủ rừng đã tổ tuần tra canh lửa tại các địa bàn dễ xảy ra cháy rừng. Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu-Phước Bửu đã xây dựng hơn 100 ha đường băng cản lửa và có sự phối hợp với địa phương nhằm huy động lực lượng, phương tiên khi sự cố xảy ra.
Theo Chi Cục kiểm lâm tỉnh, trong những ngày tới, tình trạng khô hanh và nắng nóng sẽ tiếp tục, nguy cơ cháy rừng vẫn ở mức cao. Với quyết tâm không để "giặc lửa" xảy ra trên diện rộng, ngành nông nghiệp đã và phối hợp chặt chẽ với các địa phương trong công tác PCCR. Ngoài ra, khi có sự cố, người dân cần thông báo đến đường dây nóng theo số điện thoại (064) 3732564 hoặc 3732320 để cơ quan chức năng nhanh chóng vào cuộc, hạn chế thấp nhất những hậu quả có thể xảy ra. (Báo Bà Rịa - Vũng Tàu 12/1) đầu trang(
;
Tích nước thủy điện Sông Bung 4 thuộc địa phận huyện Nam Giang mở ra tuyến đường thủy thuận lợi cho lâm tặc phá rừng. Việc tận thu gỗ ngập trong lòng hồ cũng khiến nơi đây thành địa điểm tập kết gỗ lậu.
Đầu tháng 8.2014, thủy điện Sông Bung 4 ngăn dòng tích nước nhấn chìm nhiều diện tích rừng đặc dụng. Vì vậy, Sở NN&PTNT đồng ý cho phép doanh nghiệp được tận thu gỗ trên diện tích 65ha chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng nằm trong Khu bảo tồn thiên nhiên sông Thanh (tại xã Tà Pơơ, Nam Giang).
Theo quyết định của Sở NN&PTNT (ký ngày 14.8.2014, số 550/QĐ-SNN&PTNT), có hơn 1.889m3 gỗ tận dụng, trong đó hơn 1.184m3 gỗ lớn. Giấy phép tận thu gỗ kết thúc ngày 20.11.2014 và khi Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sông Thanh lập biên bản kiểm tra khai thác gỗ vào ngày 21.11.2014, đơn vị khai thác là Công ty TNHH Sản xuất – thương mại và dịch vụ Xuân Chí mới tận thu hơn 500m3 gỗ. Như vậy, ít nhất còn hơn 600m3 gỗ lớn đã ngập dưới lòng hồ chưa tận thu, chưa kể hàng trăm mét khối gỗ cành, ngọn và lượng gỗ khai quang.
Vào Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh. Điểm tiếp cận đầu tiên là khe Vinh (xã Tà Pơơ, Nam Giang)  – nơi có trạm ba-ri-e đặt sát lòng hồ thủy điện với sự canh gác của 9 cán bộ kiểm lâm. Dưới lòng hồ, khu vực này có khoảng 10 ghe thuyền lớn nhỏ neo đậu, trời chập choạng tối nhổ neo chạy tứ phía.
Trước đó một chiếc thuyền máy lớn vừa tham gia chở củi vừa trục vớt từng lát, khúc gỗ nổi trên mặt nước. Gỗ với đường kính lớn hơn 0,5m đánh dấu đỏ nằm ngổn ngang trên bờ, cách điểm trạm kiểm lâm khe Vinh chưa đến 100m. Hơn 7m3 gỗ trái phép vừa được tạm giữ nằm sát với số gỗ tận thu của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, chỉ cần đi vòng trên lòng hồ thủy điện này, không khó nhìn thấy phương tiện ghe máy trực tiếp chở gỗ lậu. Ở chốn không có nhà cửa người dân sinh sống nhưng có đến hơn 30 phương tiện thuyền máy hoạt động ở lòng hồ. Mỗi lần ra quân truy quét, lực lượng kiểm lâm đều phát hiện nhiều vụ vận chuyển gỗ lậu.
Cuối tháng 12.2014, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sông Thanh phát hiện ông Tơ Ngool Chông (SN 1992, trú xã Ta Bhing, Nam Giang) điều khiển ô tô BKS 92K-9880 vận chuyển trái phép hơn 3,6m3 gỗ quý và ông Huỳnh Ngọc Hoàng (SN 1981, trú xã Đại Đồng, Đại Lộc) dùng phà số hiệu ĐL 0438 vận chuyển hơn 2,2m3 gỗ lim.
Mở rộng địa phận tuần tra xã Phước Mỹ (Phước Sơn), lực lượng kiểm lâm phát hiện một đối tượng dùng trâu để kéo gỗ lậu nên áp sát, bắt giữ trâu. Một số trường hợp mở đường, khoét núi làm vàng, khai thác gỗ trong rừng đặc dụng Sông Thanh đang được cơ quan chức năng xử lý.
Đó chỉ là một số vụ vận chuyển gỗ lậu điển hình được phát hiện trong những ngày cuối năm 2014.Ông Nguyễn Trí - Giám đốc Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sông Thanh cho biết, gần đây nhiều vạt rừng quý hiếm bị xâm hại, tình trạng khai thác trái phép xảy ra trong “tiền lệ” từ mấy chục năm nay, rầm rộ nhất là thời điểm thủy điện tích nước.
Đề cập đối tượng vận chuyển gỗ giữa thanh thiên bạch nhật ở lòng hồ và quốc lộ 14D, ông Trí cho rằng, đó thuộc lâm phận quản lý, bảo vệ của Ban quản lý rừng đặc dụng nam Sông Bung (!).
Khu vực khe Vinh như bãi tập kết gỗ cắt thành khúc đỏ au nổi trên mặt nước. Thuyền máy lợi dụng thu gom củi trên bờ kết hợp với trục vớt gỗ dưới nước. Một hình thức vận chuyển gỗ lậu tinh vi dễ dàng qua mắt các trạm kiểm soát lâm sản đặt sát lòng hồ.
PV hỏi: “Số gỗ trái phép có phải lấy từ ranh giới được phép tận thu?”. Ông Trí cho rằng, việc xác định nguồn gốc gỗ không khó bởi thời gian gần đây ngành chức năng bắt toàn gỗ lim, giổi, gõ, trong khi vị trí rừng được phép tận thu toàn chủng loại gỗ chua, chò, dầu, tràm. Nước lòng hồ lên đến đâu hạ cây rừng tận dụng đến đó. Số cây khai thác chưa hết nếu ngập trong lòng hồ chỉ sống tối đa vài tuần rồi chết đứng.
Tại sao các cơ quan chức năng không tận thu sớm hơn mà để “nước đến chân mới chạy?”. Chủ rừng của Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh phân trần, trước khi thủy điện đóng nước vào ngày 1.8.2014, địa phương vừa làm vừa chạy thủ tục tận thu gỗ. May mắn trước khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng trước đó đã hoàn tất thiết kế.
Về vụ phá rừng đầu nguồn sông Bung 4, cuối năm 2014 Phó Chủ tịch UBND tỉnh Huỳnh Khánh Toàn đã cương quyết chỉ đạo, ấn định thời hạn báo cáo kết quả điều tra, song vụ việc vẫn chậm giải quyết. Ông Nguyễn Trí lý giải, sở dĩ xử lý chậm vì giữa hồ sơ và thực tế ngập nước có sai lệch, khó xác định con đường nằm ngoài hay trong vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng. Ranh giới trước đây đo đạc có diện tích hơn 7.000m2 giờ đã bị ngập, chỉ còn nhô lên khoảng 1.800m2.
“Mình là chủ rừng, nhưng chỉ là danh nghĩa thôi chứ đâu có giấy tờ hợp pháp. Chủ rừng thì phải có quyết định giao đất, giao rừng, đằng này đơn vị không có quyết định nào chứng minh là chủ dù đang quản lý hơn 75.000ha rừng” – ông Trí nói.
Trở lại giấy phép “mở rừng”. Quy trình khai thác, kiểm tra, giám sát tận dụng gỗ về lý thuyết rất chặt chẽ. Mỗi đợt khai thác, doanh nghiệp báo cáo cho chính quyền huyện Nam Giang (thông qua các phòng tài chính, nông nghiệp, kiểm lâm) đến kiểm tra số gỗ tận thu được.
Sau đó, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sông Thanh đến hiện trường kiểm tra, để Chi cục Kiểm lâm tỉnh búa đóng gỗ. Doanh nghiệp nộp ngân sách, đóng các khoản phí theo số lượng gỗ đã nghiệm thu. Tuy nhiên, đến hiện trường lòng hồ thủy điện sông Bung 4, khó phân biệt đâu là gỗ tận thu và đâu là gỗ lậu. Thời điểm hiện tại, giấy phép tận thu đã hết, nhưng ít nhất có 50m3 gỗ tròn có dấu đỏ nằm rải rác, chưa di chuyển ra ngoài.
Dưới lòng hồ thì hàng chục phương tiện lợi dụng chở củi lén lút chở gỗ lậu. Đi sâu vào rừng, vô số lán trại dựng lên. Hàng chục cây gỗ lớn nằm trong lưu vực lẫn ngoài lòng hồ thủy điện đã bị đốn hạ. Cơ quan kiểm lâm thừa nhận, từ ngày thủy điện tích nước, tình trạng phá rừng diễn biến phức tạp do có đường thủy dễ tuồn gỗ đem tiêu thụ. Người dân địa phương tiết lộ, lợi dụng doanh nghiệp dừng tận thu, lâm tặc khắp nơi đổ về triệt hạ rừng, sau dùng thuyền máy vận chuyển, hoặc cho gỗ chìm dưới nước chờ cơ hội đưa về xuôi.
Trao đổi với phóng viên Báo Quảng Nam, Chủ tịch UBND huyện Nam Giang Alăng Mai cho biết, địa phương đã có văn bản kiến nghị Sở NN&PTNT, UBND tỉnh gia hạn giấy phép tận thu gỗ ngập trong lòng hồ thủy điện Sông Bung 4. Ông Alăng Mai thừa nhận có sự bất cập, đơn vị tư vấn thiết kế thì muốn kê khối lượng gỗ lên thật nhiều để được lợi cho mình, trong khi lượng gỗ thực tế ít hơn so với thiết kế. Doanh nghiệp sẽ lấy hết gỗ quý; số gỗ khai quang, cành, ngọn chưa tận dụng hết.
Ngày 14.8.2014, lãnh đạo Sở NN&PTNT ký Quyết  định số 550 cho phép tận thu gỗ trên diện tích chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng để xây dựng lòng hồ thủy điện Sông Bung 4 tại xã Tà Pơơ (Nam Giang) nằm trong Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh.
Theo đó, tổng lượng gỗ tận dụng hơn 1.889m3 (bao gồm gỗ lớn, cành, ngọn cây và gỗ khai quang). Công ty TNHH Sản xuất – thương mại và dịch vụ Xuân Chí là đơn vị khai thác, được tận thu từ ngày 14.8 đến 20.11.2014.
Trong khi đó, đề cập việc lãnh đạo Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh nói không phải là chủ rừng, ông Alăng Mai - Chủ tịch UBND huyện Nam Giang khẳng định, nói thế là thiếu trách nhiệm, vì ranh giới, diện tích quản lý đã được xác định rõ. Nếu chưa có những giấy tờ hợp pháp có liên quan thì chủ rừng phải báo cáo, đề xuất với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết. (Báo Quảng Nam 6/1; Đại Đoàn Kết 12/1, tr6) đầu trang(
Đó là nhận định của ông Huỳnh Tấn Đức – Giám đốc Sở NN&PTNT khi trao đổi với phóng viên Báo Quảng Nam xoay quanh tình trạng phá rừng khu vực lòng hồ thủy điện Sông Bung 4.
Theo ông Đức, sở đã nhận được văn bản đề nghị của UBND huyện Nam Giang về việc xin gia hạn giấy phép tận thu gỗ trong lòng hồ thủy điện Sông Bung 4. Lãnh đạo sở sẽ làm việc với huyện Nam Giang, cân nhắc quyết định tiếp tục tận thu hay không.
Tuy nhiên, quan điểm chung là không tận thu, ngoại trừ số gỗ đã cưa xẻ xong. Thực tế, cơ quan kiểm lâm, lâm nghiệp đã không làm hết trách nhiệm; vai trò kiểm tra, giám sát quá lỏng lẻo.
Về trách nhiệm xử lý chủ rừng là Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, ông Đức khẳng định sẽ có hình thức xử lý nghiêm. Đề cập phương tiện tàu thuyền hoạt động nhiều trên lòng hồ, lãnh đạo Sở NN&PTNT cho rằng sắp tới sẽ cấm toàn bộ, trừ cấp phép cho các lực lượng thực thi công vụ; rà soát lại khâu cấp phép của các địa phương miền núi.
Cách quản lý tương tự như lòng hồ thủy lợi Phú Ninh đã từng làm. “Các tàu thuyền hoạt động trên lòng hồ thủy điện không phải phục vụ du lịch, giao thông đường thủy mà chính là chở gỗ lậu. Cấm hẳn sẽ chặn được gỗ lậu ở đầu nguồn thủy điện” – ông Đức nói. (Báo Quảng Nam 8/1) đầu trang(
Cách đây không lâu, trong chuyến tham quan Côn Đảo, một địa danh gắn liền với lịch sử hào hùng của dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm (thực dân Pháp và đế quốc Mỹ), điều để lại ấn tượng sâu sắc đối với PV không phải là về khu di tích lịch sử nổi tiếng (nhà tù, chuồng cọp, Nghĩa trang Hàng Dương) hay cảnh đẹp thiên nhiên, biển -đảo hùng vĩ, mà lại là về sự cống hiến thầm lặng của những người làm nghề rừng (lâm nghiệp, kiểm lâm), mà tiêu biểu là cá nhân Giám đốc Vườn quốc gia (VQG) Côn Đảo Lê Xuân Ái.
Tình cờ, chuyến tham quan của PV rơi vào ngày cuối tuần. Một nhân viên phòng du lịch của VQG nói với tôi rằng: “Đoàn của anh thật may mắn vì người hướng dẫn và đồng hành với đoàn hôm nay là Giám đốc VQG”.
Chưa kịp ngạc nhiên thì đã thấy anh xuất hiện, dáng vẻ khá “phong trần”, nai nịt gọn ghẽ với ba lô trên vai, máy ảnh cầm tay. Anh tự giới thiệu, niềm nở chào và giục mọi người tranh thủ thời gian lên đường. Quả thật, nếu không được giới thiệu trước thì cũng khó đoán được đây là giám đốc của VQG, bởi vẻ giản dị và dễ mến của anh.
Trên đường đi tham quan tuyến “Sở Rẫy - bãi Ông Đụng”, vừa đi vừa nói chuyện với anh, tôi mỗi lúc một ngạc nhiên thêm, không chỉ vì những kiến thức phong phú và sâu sắc của anh về hệ sinh thái rừng, biển ở Côn Đảo, mà điều khiến tôi bị cuốn hút hơn cả là câu chuyện về nghề nghiệp của anh.
Thì ra, ngay sau khi tốt nghiệp Trường đại học Nông Lâm TP.HCM (năm 1985), anh đã khoác ba lô ra nhận nhiệm vụ tại Côn Đảo, khi đó mới chỉ là Khu rừng cấm Côn Đảo (thành lập năm 1984), tới năm 1993 được nâng hạng lên thành VQG. Nghĩa là, tính tới thời điểm tôi kể câu chuyện này, anh đã liên tục công tác tại đây được gần... 30 năm và vẫn đang còn khoảng 5 - 6 năm công tác phía trước.
Khỏi phải nói nhiều, ta cũng có thể hình dung ra những khó khăn vất vả và thử thách đối với chàng sinh viên “nghề rừng” mới ra trường chọn nơi khởi nghiệp tại hòn đảo được mệnh danh là “địa ngục trần gian” với hệ thống nhà tù, chuồng cọp khét tiếng giam giữ những người cộng sản qua 2 cuộc trường kỳ kháng chiến chống ngoại xâm.
Anh không kể nhiều về những gian truân, sóng gió của mình và đồng đội đã trải qua. Nhưng nhìn vào cơ ngơi của VQG hiện tại và qua những trưng bày ở Phòng Du lịch thì ai cũng thấy thành quả của những nỗ lực không mệt mỏi của các anh trong suốt chặng đường gần 30 năm qua đối với công cuộc gìn giữ, xây dựng để bảo tồn hệ tài nguyên sinh thái rừng - biển của khu vực huyện đảo.
Tháng 6.2013, Ban Thư ký Công ước Ramsar thế giới công nhận VQG Côn Đảo là Khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (gọi tắt là khu Ramsar) thứ 6 và là khu Ramsar biển đầu tiên của VN.
Quay lại câu chuyện về hành trình tham quan, vừa tới bãi Ông Đụng, trong khi được một kiểm lâm viên dẫn đi thăm rừng, một lúc sau quay lại đã thấy giám đốc đang cùng anh em kiểm lâm hì hụi xếp đá thành kè để chắn sóng.
Anh nói: “Vào những ngày nghỉ cuối tuần, nếu không có việc bận ở trụ sở VQG thì tôi thường xuống các trạm kiểm lâm cùng anh em tham gia các hoạt động ngoài trời, chăm sóc cây cối, sửa sang lại cơ sở vật chất của trạm. Đêm nghỉ lại trạm để trò chuyện cùng anh em kiểm lâm”. Không khí thật thân tình và đầm ấm như gia đình, không còn khoảng cách của giám đốc và nhân viên.
Trưa hôm đó, anh rủ mọi người trong đoàn cùng đi bơi, lặn xem san hô và kéo lưới. Dù không bắt được nhiều cá, nhưng chỉ vài con bây nhiêu thôi, cũng đủ để vui mừng như trẻ thơ.
Vui lây với niềm vui giản dị và sự lạc quan của anh. PV thầm liên tưởng: “Nếu mình ở vào địa vị của anh, phải xa gia đình, con cái (gia đình anh sống ở TP.Vũng Tàu), vài tháng mới có dịp về gặp gia đình một lần trong suốt gần 30 năm trời như vậy, liệu mình có thể lạc quan được như vậy hay không nhỉ?”.
Ngày hôm sau, đi tiếp ra Hòn Tre lớn để thăm rùa biển đẻ trứng. Thấy chúng PV ra, anh em kiểm lâm vui lắm. Niềm vui càng nhân lên khi Giám đốc VQG rất tâm lý, mang quà tặng anh em, dù chỉ là cây thuốc lá và một can rượu nhỏ.
Theo quy chế của Vườn quốc gia Côn Đảo, các trạm chỉ có biên chế khoảng 3 người, được luân phiên quay vòng 2 năm một lần và một tháng được thay nhau về nghỉ 5 ngày. Vào mùa gió chướng, biển động, tàu không cập hòn được là anh em phải ở lại.
Các nhân viên kiểm lâm ban ngày đi tuần tra hàng chục ki lô mét đường rừng, tối về chỉ còn lại 3 anh em làm bạn với biển khơi với cả một không gian tĩnh lặng, nhớ đất liền và người thân da diết. Họ nói hầu như cả tháng trời không gặp ai, thuyền đánh cá của dân cũng ít khi ghé lại. Gặp đoàn PV ra thăm, họ hồ hởi chỉ dẫn và say mê nói về tập tục của rùa biển, về dự án bảo tồn rùa do Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) tài trợ.
Nghe họ nói, nhận thấy niềm đam mê xen lẫn tự hào như thể họ là những chuyên gia về bảo tồn đa dạng sinh học thực thụ. (Thanh Niên 11/1) đầu trang(
Theo báo cáo của Tạp chí Tội phạm học châu Á, việc tiêu thụ các loài động vật nguy cấp, quý hiếm ở Việt Nam, tăng mạnh vào dịp Tết Nguyên đán.
Mặc dù đã có những quy định cấm không được mua bán hay nhận quà biếu là sản phẩm từ động vật hoang dã, song sẽ khó có thể giảm tình trạng tiêu thụ nếu người dân không có nhận thức đầy đủ về vấn đề này.
Theo kết quả khảo sát hơn 1.000 người trong độ tuổi từ 20 – 69, tại Hà Nội của Viện Xã hội học - Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, hành vi tiêu thụ sản phẩm từ động vật hoang dã rất phổ biến, số người đã từng sử dụng thực phẩm, thuốc và đồ trang trí làm từ động vật hoang dã chiếm khoảng 70%.
Trong đó, nhóm tuổi càng cao thì tỷ lệ sử dụng thực phẩm càng thấp nhưng tỷ lệ sử dụng các loại thuốc chế biến từ những loài nguy cấp, quý hiếm lại rất cao. Giá cả không phải là yếu tố quan trọng nhất quyết định việc sử dụng sản phẩm từ động vật hoang dã bởi gần 2/3 số người đã từng sử dụng cho rằng giá sản phẩm từ những loài này rất đắt. Người dân chấp nhận sử dụng bởi họ tin vào công dụng của sản phẩm từ động vật hoang dã nhất là các sản phẩm thuốc.
PGs. Ts Đặng Nguyên Anh, Viện trưởng Viện Xã hội học cho biết, đối với những sản phẩm thuốc từ động vật hoang dã, rất ít người sử dụng vì lời khuyên của bác sĩ hay theo tài liệu sách báo mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm hoặc theo lời khuyên từ bạn bè, đồng nghiệp.
Mặc dù khó có cơ sở khẳng định, song đa số những người đã từng sử dụng cho biết, họ hoàn toàn tin tưởng vào chất lượng sản phẩm từ động vật hoang dã. Trong khi cho tới giờ chưa có nghiên cứu nào cho thấy tác dụng thực sự của những sản phẩm này.
Chính niềm tin sử dụng các sản phẩm từ động vật hoang dã mang lại sức khỏe, thậm chí chữa được nhiều bệnh nan y được lưu truyền qua nhiều thế hệ cũng như việc tiếp cận nguồn cung khá dễ dàng đã khiến người tiêu dùng tìm đến sản phẩm từ động vật hoang dã. Đây cũng là lý do giải thích vì sao dù người dân nhận thức được sự cần thiết phải bảo vệ động vật hoang dã song việc sử dụng các loại thực phẩm, thuốc từ những loài này vẫn diễn ra phổ biến.
Không chỉ có quan niệm sai lầm về công dụng của thực phẩm, thuốc chữa bệnh từ loài quý hiếm, theo nhiều chuyên gia, người dân hiện vẫn chưa nhận thức đầy đủ về các loại động vật hoang dã cần được bảo vệ. Phần đông đều cho rằng, nguyên nhân trực tiếp dẫn tới tình trạng suy giảm động vật hoang dã ở Việt Nam là do săn bắn hoặc buôn bán mà ít người chú ý tới một nguyên nhân sâu xa hơn xuất phát từ việc tiêu dùng các sản phẩm này.
Mặt khác, rất ít người biết tên và nội dung các văn bản pháp luật quan trọng liên quan đến bảo vệ động vật hoang dã, thậm chí không ít người nhận định, hành vi tiêu thụ sản phẩm như ngà voi, mật gấu, sừng tê giác không hề vi phạm pháp luật và không bị xử phạt.
Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo vệ động vật hoang dã đã trở thành ưu tiên hành động trong thời gian qua, song phương thức tuyên truyền ra sao để đạt hiệu quả vẫn còn là băn khoăn của không ít người.
Nhiều chuyên gia cho rằng, một trong những yếu tố chi phối mạnh nhất đến hành vi tiêu dùng các sản phẩm từ động vật hoang dã là niềm tin vào công dụng của chúng đối với sức khỏe và đời sống con người đã ăn sâu bám rễ, do đó các thông điệp truyền thông cần phải nhấn mạnh đến việc chưa có bằng chứng khoa học nào chứng minh được công dụng chữa bệnh của các sản phẩm này. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền về những tác động tiêu cực của sản phẩm này đến bản thân người sử dụng.
Theo Chủ tịch Hội Động vật học Việt Nam Đặng Huy Huỳnh, ý thức của con người không phải ngày một, ngày hai có thể thay đổi được ngay. Phương pháp tuyên truyền phải như mưa dầm thấm lâu, thường xuyên, liên tục mới mong đem lại hiệu quả. Đơn cử như việc không đốt pháo vào những dịp Tết Nguyên đán, tưởng chừng như không thể bỏ được nhưng sau 15 năm bằng những chủ trương, chính sách cùng phương pháp tuyên truyền hiệu quả, tới nay đã không còn nữa.
Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Bùi Thế Đức nhận định, chỉ tuyên truyền thông qua các phương tiện như báo chí hay đài phát thanh là chưa đủ mà đòi hỏi phải có sự giúp sức của các tổ chức xã hội với đội ngũ cộng tác viên tại địa phương, giúp người dân hiểu rõ về tầm quan trọng của động vật hoang dã đối với đa dạng sinh học cũng như chính sách pháp luật liên quan tới vấn đề này.
Thực tế cho thấy, hiện nay có không ít tổ chức phi lợi nhuận hoạt động vì mục tiêu bảo vệ loài động vật hoang dã. Đơn cử như Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên ENV với hơn 4.000 thành viên, 11 câu lạc bộ nòng cốt thường xuyên tổ chức khảo sát các vi phạm về động vật hoang dã. Các tình nguyện viên được cập nhật thông tin về bảo vệ động vật hoang dã, được tham dự các buổi tập huấn kỹ năng định dạng loài.
Đây là kênh tuyên truyền quan trọng, giúp người dân địa phương nhận thức đầy đủ về động vật hoang dã. Mặt khác, không ít ý kiến cho rằng, các tôn giáo cũng là kênh truyền thông hiệu quả có tác động tích cực đối với nhận thức của người dân. Thông qua buổi giảng pháp, các tăng ni phật tử sẽ thấy được việc tiêu thụ động vật hoang dã không chỉ là hành vi vi phạm pháp luật mà còn không phù hợp với triết lý nhân sinh của đạo Phật.
Hy vọng rằng, bằng những biện pháp truyền thông hiệu quả, nhận thức của cộng đồng về động vật hoang dã sẽ được nâng cao hơn. Để mỗi dịp Tết đến xuân về, không còn những món quà biếu từ thịt rừng, sừng tê giác, mật gấu; người dân sẽ đón một cái Tết xanh và đầy ý nghĩa. (Đại Biểu Nhân Dân 10/1) đầu trang(
Trước tình trạng buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã ngày càng tăng, Nhà nước đã ban hành các chế tài xử phạt vi phạm hành chính cũng như có quy định về xử lý hình sự đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã.
Song, thực tế cho thấy, các cơ quan chức năng vẫn khó áp dụng do còn nhiều quy định chồng chéo, chưa khả thi.
Thời gian qua, công tác xử phạt hành chính của các cơ quan chức năng còn gặp khó khăn do có nhiều quy định thiếu tính khả thi, đặc biệt là chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe.
Theo Nghị định 157/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, chỉ những động vật nguy cấp quý hiếm thuộc nhóm 1B vượt quá mức xử phạt vi phạm hành chính mới bị xử lý hình sự. Như vậy, theo Nghị định này, dù cơ quan chức năng có bắt được với số lượng động vật hoang dã lớn, quý hiếm cũng chỉ bị xử phạt hành chính cao nhất đến 500 triệu đồng.
Nhiều chuyên gia cho rằng, chế tài xử phạt nhẹ, chưa tương xứng với hành vi vi phạm là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các đối tượng buôn bán và vận chuyển động vật hoang dã, bởi lợi ích thu được từ buôn bán trái phép động vật hoang dã là rất lớn. Trên thực tế, buôn bán động vật hoang dã đem lại lợi nhuận khổng lồ ước tính chỉ sau buôn bán trái phép chất ma túy. Theo thống kê, tổng doanh thu hàng năm từ buôn bán động vật hoang dã trái phép ở Việt Nam khoảng 66,5 triệu USD.
Mặt khác, các căn cứ xử lý vi phạm hành chính được quy định tại Nghị định 157/2013 cũng còn nhiều điểm bất hợp lý, như mức phạt xử lý vi phạm đối với động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm cần ưu tiên bảo vệ đều căn cứ vào giá trị quy ra tiền của động vật, bộ phận hoặc dẫn xuất của chúng.
Theo đại diện Cục Bảo tồn Đa dạng Sinh học (Bộ TN – MT) Nguyễn Thị Vân Anh, các loài động vật nguy cấp quý hiếm là hàng hóa cấm lưu hành trên thị trường do đó không thể căn cứ vào giá thị trường để tham chiếu xử phạt. Vấn đề đặt ra là nếu cơ quan có thẩm quyền không xác định được giá trị quy ra tiền của tang vật vi phạm là động vật, bộ phận hay dẫn xuất của chúng thì đồng nghĩa với việc không xử lý được hành vi vi phạm.
Thực tế đã chứng minh, hầu hết các vụ việc không xử lý được vì không xác định được giá trị làm căn cứ vi phạm. Do vậy, đã đến lúc thay đổi căn cứ để xem xét xử lý; các yếu tố về trọng lượng, yếu tố về loài hay số lượng cá thể động vật hoàn toàn có thể áp dụng để xử phạt hiệu quả. Trên cơ sở tham khảo ý kiến của nhà khoa học, các chuyên gia trong lĩnh vực động vật học, có thể hình thành danh mục loài hoang dã, nguy cấp, quý hiếm với số lượng và mức phạt cụ thể để cơ quan chức năng dễ dàng đối chiếu, áp dụng xử phạt phù hợp.
Theo thống kê của Cục Kiểm lâm - Bộ NN và PTNT, hành vi vi phạm quy định về quản lý và bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm trên cả nước trong 5 năm qua đã xảy ra 5.376 vụ, bình quân mỗi năm khoảng 1.095 vụ.
Tuy nhiên, số liệu này chưa đầy đủ bởi thực tế còn nhiều vụ buôn bán, vận chuyển trái phép động vật hoang dã chưa bị phát hiện, bắt giữ. Bên cạnh đó, số vụ bị xử lý hình sự đối với các đối tượng vi phạm còn khiêm tốn so với số lượng vụ việc được phát hiện. Trong đó, nguyên nhân là do các văn bản pháp luật về bảo tồn động vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm còn nhiều điểm vướng mắc.
Đơn cử Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2009) tại Điều 190 có quy định về xử lý vi phạm đối với tội phạm liên quan đến động vật hoang dã là cá thể. Thế nhưng rải rác trong các Nghị định của Chính phủ và các văn bản dưới luật khác thì đang tồn tại những quy định mà trong thực tiễn, có thể áp dụng để không xử lý hình sự đối với những vi phạm, hoạt động phạm tội này.
Khó khăn lớn nhất của cơ quan chức năng khi áp dụng hình phạt truy cứu trách nhiệm hình sự là xác định giá trị tang vật để định tội danh, khung hình phạt. Rõ ràng, sự mâu thuẫn trong các văn bản pháp luật rất dễ tạo ra nguy cơ bỏ lọt tội phạm và chưa có tác dụng răn đe người phạm tội khi mức phạt cao nhất là 3 năm tù giam.
Điều đó đòi hỏi cần sửa đổi bổ sung các quy định liên quan đến tội phạm buôn bán, tiêu thụ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; đồng thời lượng hóa hậu quả của hành vi vi phạm, để bảo đảm việc xử phạt phù hợp với thực tiễn.
Không ít chuyên gia cho rằng, quy định về hình thức xử lý tang vật là động vật hoang dã bằng việc cho phép kinh doanh là điểm bất hợp lý nhất của pháp luật hiện hành. Bởi cho đến nay, vẫn thiếu hướng dẫn cụ thể về phương thức bán hay tiêu thụ cũng như không rõ đối tượng nào được phép mua.
Bên cạnh đó, chính việc cho phép bán tang vật ra ngoài thị trường đã đánh đúng vào nhu cầu sử dụng động vật hoang dã của người dân, gây khó khăn cho công tác quản lý hoạt động tiêu thụ, buôn bán; tạo điều kiện thuận lợi cho số vụ săn bắt động vật hoang dã ngày càng gia tăng và khó kiểm soát. Quy định này cũng mâu thuẫn với nguyên tắc cơ bản về bảo tồn động vật hoang dã của Công ước CITES mà Việt Nam là thành viên. (Đại Biểu Nhân Dân 10/1) đầu trang(
Cứ vào dịp cuối năm, tình trạng săn bắt động vật hoang dã trái phép trở nên phổ biến khắp các miền núi tỉnh Quảng Nam. Đặc biệt, tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, nạn săn bắt động vật quý hiếm đang ở mức báo động.
Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Sông Thanh có diện tích 75.000ha nằm trên hai huyện Nam Giang và Phước Sơn. Trong đó H. Nam Giang chiếm hơn 80% diện tích. Chính vì diện tích rộng lớn, lại trải dài ở địa bàn nhiều xã nên thời gian qua, nhiều đối tượng trong và ngoài địa phương đến đặt bẫy, săn bắn trái phép động vật hoang dã một cách đáng báo động.
Trong chuyến công tác mới đây tại các xã vùng cao H. Nam Giang, có dịp chứng kiến nhiều con chó bị cụt mất 1 chân. Ngay tại ĐBP cửa khẩu Đắc Óoc (xã La Dêê) cũng có một con chó bị cụt mất chân sau.
Thượng úy Trịnh Thanh Bình, Đội trưởng đội Trinh sát thuộc Đồn này giải thích: "Trường hợp chó bị cụt chân do mắc bẫy thú ở khu vực này rất nhiều. Nhiều con mắc bẫy bị thợ săn thịt luôn, có con may mắn thoát được thì phải cưa mất chân. Con chó ở đơn vị do chạy vào rừng nên bị mắc bẫy của đám thợ săn. Khi chúng tôi đi tìm thì phát hiện nó bị sợi dây thép siết chặt trong chân. Lúc này chân đã hoại tử nên chúng tôi phải cắt bỏ rồi đưa chú chó trên về băng bó, chữa trị".
Cũng theo thượng úy Trịnh Thanh Bình, trong đợt truy quét cuối năm vừa qua, tại KBTTN Sông Thanh giáp ranh hai xã Đắc Tôi - La Dêê, lực lượng chức năng của Đồn đã phá hủy 1.500 bẫy thú rừng các loại. Hiện tại, khu vực sát cửa khẩu cũng có một nhóm khoảng vài chục người quê ở Quảng Bình chuyên sống bằng nghề bẫy thú rừng, hoạt động rất tinh vi và chuyên nghiệp.
"Hầu như đợt tuần tra, truy quét nào chúng tôi cũng tịch thu và phá hủy bẫy của thợ săn, lúc ít vài trăm, lúc nhiều hàng nghìn chiếc. Thế nhưng sau khi phá hủy, họ lại làm bẫy mới. Gần đây, các đối tượng còn manh động, hăm dọa đòi hành hung những cán bộ, chiến sĩ phá hủy bẫy của họ", thượng úy Bình cho biết.
Theo chân một tay chuyên săn bẫy tên H. ở làng Đắc Óoc (xã La Dêê), được H. dẫn vào một khu rừng gần đó. Tại hiện trường, những chiếc bẫy được làm bằng dây thép của ruột phanh xe đạp, xe máy được bố trí chạy dọc dài ven những triền núi. Bẫy được giăng dài như "thiên la địa võng" khắp rừng. Để tạo nên một dàn bẫy, đám thợ săn sẽ phát rừng theo lối đường đi, bề rộng khoảng nửa mét để đặt bẫy dọc hai bên.
Đầu dây của bẫy sẽ được cột vào một ngọn cây uốn cong xuống để có sức bật, đầu dây còn lại là thòng lọng và có bộ phận nhỏ gọi là cần gạt. Khi con thú đi ngang qua bẫy, chân đụng phải cần gạt là ngọn cây sẽ bật mạnh lên, ruột dây phanh thiết chặt lấy chân hoặc thân con mồi... Với mức độ bẫy dày đặc như trên, những thú rừng nào đi qua khu vực này khó lòng mà thoát được.
H. tiết lộ, tùy loại thú mà có những loại bẫy khác nhau, nếu bẫy những thú nhỏ như nhím, hoẵng, tê tê, chồn... thì đơn giản, chỉ cần dùng ruột phanh xe đạp. Còn đối với những động vật lớn hơn như heo rừng, nai, hươu, gấu... thì phải dùng ruột phanh xe máy và những chiếc bẫy kẹp lớn. "Hiện nay giá tê tê rất cao, có thời điểm gần 10 triệu đồng/ký.
Do vậy tập trung săn bẫy loại này. Để bẫy chúng cũng đơn giản, chỉ cần đi tìm xem nơi nào có ụ mối, ụ kiến mà có dấu vết bị đục khoét thì gài bẫy nơi đó. Tê tê là loại ăn con trùng nên chúng sẽ tìm đến những ổ mối, ụ kiến và thế là mắc bẫy", H. "chia sẻ" kinh nghiệm.
Cũng theo H., do bẫy đơn giản, dễ làm nên mỗi người có thể đặt hàng trăm chiếc. "Bẫy đặt nhiều nên có khi quên địa điểm. Lúc nhớ ra đến kiểm tra thì nhiều con thú mắc bẫy đã bị chết lâu ngày rồi", H. nói.
Vì nạn săn bắt nhiều nên dọc QL14D hiện nay xuất hiện nhiều điểm thu mua động vật hoang dã cũng như cung ứng thịt rừng ra thị trường. Theo quan sát, các địa điểm thu mua động vật hoang dã khu vực này không treo biển hiệu vì sợ bị cơ quan chức năng "soi".
Thế nhưng qua giới thiệu, PV vào một quán nhỏ ven đường thuộc xã La Dêê, vừa mới hỏi mua thịt rừng thì chủ quán đã nhanh nhảu: "Mấy chú mua thịt gì, heo, nai, chồn, nhím, trút... đều có cả". "Thịt có tươi không chị?", chúng tôi hỏi. Lấy ra từ tủ lạnh một con tê tê nặng hơn 3 ký, chủ quán bảo: "Tươi ngon lắm, ở đây toàn tiêu thụ hàng mới bắt cả đấy. Con tê tê này mới được lấy vào sáng nay. Mấy chú thích ăn chị để giá rẻ cho". Lấy cớ sẽ quay lại lấy sau vì chưa xong công việc, chúng tôi rút khỏi quán.
Theo tổ chức Bảo vệ động vật hoang dã quốc tế tại Việt Nam, khoảng 10 năm trước đây, loài voọc chà vá chân xám được phát hiện với hàng chục cá thể ở KBTTN Sông Thanh, thì 4 năm trở lại đây gần như Kiểm lâm và người dân chưa phát hiện được cá thể nào còn xuất hiện. Các chuyên gia về bảo tồn động vật hoang dã trong nước lẫn quốc tế dự báo, nếu không ngăn chặn kịp thời thì sớm muộn gì rừng Trung Trường Sơn qua Quảng Nam sẽ bị tuyệt chủng nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm.
Những năm qua, các tổ chức quốc tế và chính quyền địa phương có nhiều cố gắng trong phục hồi sự đa dạng sinh học nơi đây bằng các hành động bảo tồn đa dạng sinh học. Đáng chú ý, UBND tỉnh Quảng Nam đã quy hoạch các KBTTN với tổng diện tích 133.722ha, bao gồm các KBTTN Sông Thanh, Sao La, Ngọc Linh, Voi Nông Sơn,...
Bên cạnh đó, hàng nghìn hộ dân sinh sống gần khu vực rừng đặc dụng và các nhà hàng, quán ăn được cam kết không khai thác, mua bán, kinh doanh, chế biến động vật rừng và các sản phẩm của chúng khi không có nguồn gốc rõ ràng. Tuy vậy, các chế tài xử lý của lực lượng chức năng vẫn chưa đủ mạnh để ngăn chặn triệt để nạn săn bắt trái phép động vật hoang dã quý hiếm khu vực này.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam, năm 2014 lực lượng chức năng đã phát hiện, tiêu hủy hơn 10.000 bẫy thú rừng tại các huyện miền núi, tịch thu hơn 400kg thịt rừng vận chuyển, tiêu thụ trái phép. Song đó chỉ là những con số rất khiêm tốn. Trên thực tế, sản phẩm thịt rừng từ nạn săn bắn trái phép chưa bị phát hiện, xử lý rất nhiều. (Công An TP.Đà Nẵng 10/1) đầu trang(
Vụ việc đau lòng xảy ra vào khoảng 15g30 ngày 11-1 trong khuôn viên căn nhà địa chỉ 171 Dương Công Khi (ấp Thới Tây 2, xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, TP.HCM).
Khi đó, bé Đ.T.D (3 tuổi, sống trong căn nhà trên) đang chơi cùng bà ngoại gần lồng nuôi gấu của gia đình thì bị con gấu cắn trúng cánh tay, kéo vào trong lồng nhai.
Theo lời ông Sáu - người sống cạnh căn nhà trên - vào thời điểm trên, ông đang nhổ cỏ bỗng nghe tiếng kêu cứu thất thanh. Ông Sáu liền chạy đến cổng rào và bàng hoàng chứng kiến cảnh bà ngoại cháu D. đang ôm ngang bụng của cháu D., cố kéo cháu ra.
“Khi đến nơi, tôi thấy con gấu vẫn đang ngoặm tay cháu D. giật vào trong. Đầu bé D. bị kẹt ở những thanh sắt. Bé D. còn kêu la với tôi “ông Sáu cứu con, ông Sáu cứu con!”, ông Sáu bàng hoàng thuật lại.
Theo lời ông Sáu, khi ông ôm bụng bé D. giật được bé ra thì cánh tay của bé đã bị gấu cắn đứt. Bé D. được mọi người nhanh chóng đưa đi cấp cứu. Quá kinh hoàng, bà ngoại bé D. đã ngất xỉu.
Lực lượng chức năng xã Tân Hiệp đã đến hiện trường lập biên bản vụ việc. Sự việc thu hút hàng trăm người dân hiếu kì tập trung theo dõi. Được biết, con gấu nặng hơn 100kg được nuôi trong căn nhà trên khoảng vài năm nay.
Sau vụ việc xảy ra, con gấu đã bị chích điện chết để lấy phần tay của bé D. còn trong miệng nó ra mong cứu chữa được cho cháu D. Thời điểm xảy ra vụ việc cha mẹ cháu D. không có nhà.
Con gấu cắn bé D. nặng hơn 100kg, nuôi trong nhà hơn ba năm nay. Con gấu bị chích điện chết để lấy phần tay của bé trai trong miệng. Thời điểm xảy ra vụ việc không có cha mẹ bé ở nhà. (Tuổi Trẻ 12/1; Thanh Niên 12/1, tr3) đầu trang(
Những năm gần đây, phát triển kinh tế rừng được xem là mũi nhọn trong phát triển kinh tế của người dân trên địa bàn huyện Phú Lương. Chính vì vậy, công tác quản lý và bảo vệ rừng được chính quyền địa phương quan tâm, trong đó, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng luôn được chú trọng.
Yên Đổ là xã có diện tích rừng lớn nhất so với các địa phương khác của huyện Phú Lương với trên 2.100ha diện tích rừng trồng. Đây cũng là địa phương phát triển khá mạnh nghề chế biến lâm sản với trên 40 cơ sở, chiếm gần ¼ số cơ sở chế biến lâm sản trên địa bàn huyện (toàn huyện có trên 200 cơ sở chế biến lâm sản). Do đó, công tác trồng rừng, quản lý, bảo vệ cũng như PCCCR luôn luôn được chính quyền địa phương quan tâm.
Ông Trương Anh Dũng, Phó Ban Lâm nghiệp xã cho biết: Hiện nay, xã có 17 tổ quản lý và bảo vệ rừng . Mỗi tổ có từ 3-4 thành viên, tổ trưởng là trưởng xóm, tổ phó là công an viên và tổ viên là thôn đội trưởng.
Để chủ động PCCCR, hằng năm, Ban lâm nghiệp xã đã phối hợp với kiểm lâm viên địa bàn tham mưu với UBND xã kiện toàn tổ quần chúng bảo vệ và tổ PCCCR ở 17 xóm để thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở người dân làm tốt công tác vệ sinh rừng sau khai thác và tuyệt đối không mang lửa vào rừng trong mùa khô hanh. Trong trường hợp người dân dọn thực bì thì phải báo cáo với tổ trưởng tổ quản lý và bảo vệ rừng của xóm để theo dõi, chủ động xử lý nếu có cháy rừng xảy ra.
Ngoài xã Yên Đổ thì các xã có rừng khác trên địa bàn cũng đang triển khai các biện pháp để PCCCR mùa khô. Được biết, huyện Phú Lương hiện có trên 17.200ha diện tích đất lâm nghiệp có rừng, trong đó, có gần 14.000ha là diện tích rừng trồng, tập trung chủ yếu ở các xã như: Yên Đổ, Phú Đô, Yên Ninh, Ôn Lương, Yên Trạch...
Để làm tốt công tác PCCCR, hằng năm, ngay từ đầu mùa khô, huyện Phú Lương đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện thường xuyên nắm bắt diễn biến tình hình về công tác PCCCR tại các địa phương để kịp thời tham mưu, đề xuất với Ban chỉ đạo PCCCR của huyện các biện pháp PCCCR.
Ông Ngô Thanh Sơn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Phú Lương cho biết: Những năm qua, đơn vị đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức cho người dân về tầm quan trọng của công tác PCCCR theo nhiều hình thức như: qua các buổi họp xóm, thôn, bản; phối hợp Đài Truyền thanh-Truyền hình huyện tuyên truyền mỗi tháng 1 chuyên mục về quản lý và bảo vệ rừng…
Bên cạnh đẩy mạnh công tác tuyên truyền, Hạt Kiểm lâm huyện còn chỉ đạo cán bộ kiểm lâm địa bàn thường xuyên theo dõi sát xao công tác PCCCR ở cơ sở; thành lập tổ quản lý, bảo vệ rừng tại các xóm, bản. Hiện nay, huyện Phú Lương  có 170 tổ quản lý và bảo vệ rừng. Đây là lực lượng nòng cốt trong công tác PCCCR ở các địa phương.
Ông Ngô Thanh Sơn thông tin thêm: Nguyên nhân dẫn đến những vụ cháy (quy mô nhỏ) trên địa bàn chủ yếu do người dân tự ý mang lửa vào rừng để đốt ong hoặc một số hộ đốt dọn thực bì chưa đúng theo quy định. Do đó, bên cạnh công tác tuyên truyền để người dân nâng cao cảnh giác trong PCCCR thì chúng tôi cũng đã tham mưu UBND huyện xây dựng phương án PCCCR cấp huyện, cấp xã ngay từ đầu năm theo phương châm 4 tại chỗ (lực lượng tại chỗ, chỉ huy tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ và 4 sẵn sàng là chỉ huy sẵn sàng, lực lượng sẵn sàng, phương tiện hậu cần sẵn sàng, thông tin liên lạc sẵn sàng.
Bên cạnh đó, hàng năm, Hạt Kiểm lâm huyện cũng đã tổ chức diễn tập PCCCR cho cán bộ trong Ban PCCR từ huyện đến xã tham gia. Hiện nay, đơn vị đang phối hợp với Trung tâm Phát triển nông thôn bền vững (Viết tắt là SRD) tiến hành các bước để tổ chức diễn tập phòng chống cháy rừng cho các xã, trước mắt là những địa phương có rừng phòng hộ trên địa bàn như: Yên Ninh, Phú Đô, Phủ Lý, Yên Lạc… nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra. (Báo Thái Nguyên 8/1) đầu trang(
Sáng 8/1, UBND tỉnh tổ chức hội nghị trực tuyến tổng kết công tác quản lý bảo vệ rừng năm 2014 và triển khai nhiệm vụ năm 2015. Ông Đào Xuân Liên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị.
Năm 2014 dưới sự chỉ đạo quyết liệt của UBND tỉnh, công tác quản lý bảo vệ rừng đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Toàn tỉnh xảy ra 1.057 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, giảm gần 14% so với năm 2013. Trong đó chủ yếu là mua bán, vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép xảy ra 921 vụ. Ngành chức năng đã tịch thu gần 2.000 m3 gỗ các loại. Thu nộp ngân sách nhà nước hơn 23 tỷ đồng.
Bên cạnh những tín hiệu tích cực, công tác quản lý bảo vệ rừng vẫn còn tồn tại một số hạn chế khi tình hình phá rừng, lấn chiếm đát dừng làm nương rẫy vẫn còn xảy ra với diện tích lớn. Trên các tuyến quốc lộ vẫn tồn tại tình trạng mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép.
Phát biểu chỉ đạo hội nghị, phó Chủ tịch UBND tỉnh Đào Xuân Liên ghi nhận kết quả công tác quản lý bảo vệ rừng thời gian qua. Đồng thời yêu cầu các cơ quan, đơn vị, chủ rừng cần nâng cao tinh thần trách nhiệm thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng.
Phải soát xét lại công tác quy hoạch các cơ sở chế biến gỗ, nhất là tại khu vực biên giới để quản lý tốt hơn. Kiên quyết xử lý xe quá niên hạn sử dụng dùng vận chuyển gỗ trái phép. Các ngành chức năng tăng cường tuần tra, kiểm soát phối hợp cùng chính quyền địa phương phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các vụ việc vi phạm.
Về những nhiệm vụ năm 2015, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đào Xuân Liên nhấn mạnh, ngành kiểm lâm của tỉnh tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng. Trước mắt cần tập trung thực hiện tốt công tác phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô. (Đài PTTH Gia Lai 9/1) đầu trang(
Hiện nay, Sơn La hiện có gần 636.000 ha rừng, để bảo vệ nguồn tài nguyên này, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La đã hoàn thành việc giao đất, giao rừng cho trên 64 nghìn chủ rừng quản lý.
Để chủ động trong công tác bảo vệ rừng, Chi cục Kiểm lâm đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thường xuyên phối hợp với các cơ quan, đơn vị đẩy mạnh tuyên truyền  về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; xâ dựng các phương án phòng cháy, chữa cháy rừng tại cơ sở, tổ chức các cuộc diễn tập chữa cháy rừng nhằm nâng cao khả năng ứng phó với tình huống cháy rừng, đồng thời làm tốt công tác thanh, kiểm tra việc thực hiện trách nhiệm phát triển rừng của chính quyền cơ sở, chủ rừng.
Trong năm 2014, toàn tỉnh đã phát hiện và xử lý trên 1.200 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng. Trong đó phá rừng làm nương trái phép 598 vụ, khai thác buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép 477 vụ, thu nộp ngân sách trên 7 tỷ đồng.  Bên cạnh đó, lực lượng kiểm lâm các cấp đã tăng cường lực lượng, tổ chức các lớp tập huấn, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ứng dụng công nghệ GPS, công nghệ tin học viễn thám vào công tác bảo vệ rừng.
Năm 2015 Chi cục kiểm lâm tỉnh đề ra nhiệm vụ: Tiếp tục tăng cường phối hợp đồng bộ với các cơ quan, đơn vị, các chủ rừng nhằm bảo vệ, phát triển và sử dụng hiệu quả, bền vững gần 636.000 ha rừng hiện còn; tăng cường, kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các vụ vi phạm luật Bảo vệ và phát triển rừng, chủ động các phương án phòng chống cháy rừng trong mùa khô và triển khai thực hiện tốt các dự án lâm nghiệp. (Báo Sơn La 9/1) đầu trang(
Sáng 8/01, Chi cục Kiểm lâm tỉnh tổ chức hội nghị tổng kết công tác quản lý bảo vệ rừng năm 2014 và triển khai nhiệm vụ năm 2015. Dự và phát biểu chủ đạo có ông Lê Trường Lưu, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Đinh Khắc Đính, Phó Chủ tịch UBND tỉnh.
Năm 2014, công tác quản lý bảo vệ rừng đã có nhiều chuyển biến ở các địa phương và các đơn vị chủ rừng; tình trạng phá rừng quy mô lớn đã được ngăn chặn, tình trạng cháy rừng được kiểm soát, hoạt động xâm lấn rừng và nương rẫy được giám sát chặt chẽ. công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quản lý bảo vệ rừng ngày càng sâu rộng, cơ bản đã làm thay đổi hành vi ứng xử của cộng đồng và người dân đối với tài nguyên rừng.
Năm qua, đã giao 5.706 ha rừng cho cộng đồng dân cư, nhóm hộ và hộ gia đình quản lý theo đề án 430 của UBND tỉnh; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gắn với rừng gần 16 ngàn ha, đạt 50,5%; lực lượng Kiểm lâm phối hợp với các lực lượng chức năng tổ chức 182 đợt truy quét rừng, tịch thu 166m3 khối gỗ các loại, hủy bỏ nhiều công cụ, phương tiện vi phạm.
Theo số liệu thống kê, năm 2014, toàn tỉnh đã phát hiện 709 vụ vi phạm Lâm luật; chủ yếu là mua bán, vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép, xử phạt hành chính gần 5,5 tỷ đồng.
Tuy nhiên, công tác quản lý bảo vệ rừng vẫn còn tồn tại một số hạn chế, đó là một số địa phương chưa kịp thời đề ra các biện pháp tích cực để ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật lâm nghiệp, nhất là tình hình phá rừng, lấn chiếm đất dừng làm nương rẫy vẫn còn xảy ra với diện tích lớn…
Phát biểu chỉ đạo hội nghị, bên cạnh ghi nhận kết quả công tác quản lý bảo vệ rừng của tỉnh trong năm qua, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đinh Khắc Đính đề nghị năm 2015, ngành Kiểm lâm cần phối hợp chặt chẽ với các địa phương để nâng cao hơn nữa công tác quản lý bảo vệ rừng, nhất là trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững các hệ sinh thái rừng tự nhiên.
Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ nêu trên, ngành cần lập đề án phát triển sinh kế cho người dân sống gần rừng; rà soát quy hoạch 3 loại rừng để tham mưu UBND tỉnh cơ chế, chính sách phù hợp cho công tác quản lý và bảo vệ rừng trong phạm vi toàn tỉnh. Đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát để phát hiện và xử lý kịp thời các vụ phá rừng, khai thác rừng trái phép, không để xảy ra điểm nóng về vi phạm pháp luật lâm luật và các vụ cháy rừng diện rộng.   (Thuathienhue.gov.vn 9/1) đầu trang(
Sáng ngày 8/1/2015, Ban chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng thành phố Vũng Tàu tổ chức hội nghị tổng kết công tác phòng cháy, chữa cháy và ngăn chặn chặt phá rừng mùa khô năm 2013-2014, triển khai phương án mùa khô năm 2014-2015.
Đến dự có ông Phan Hòa Bình – chủ tịch UBND, trưởng BCĐ về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng thành phố, ông Huỳnh Quang Vinh – Phó chủ tịch HĐND thành phố các ông bà trong ban chỉ đạo, lãnh đạo các phòng, ban, ngành, đơn vị, UBND các phường, xã…
Thành phố Vũng Tàu có tổng diện tích đất rừng gần 3.360 hecta, tập trung ở 3 khu vực: núi Lớn, núi Nhỏ, núi Nứa trong đó có 414 hecta rừng có nguy cơ cháy cao. Xác định công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, ngay từ đầu mùa khô, Hạt kiểm lâm đã tham mưu với UBND thành phố củng cố kiện toàn Ban chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của thành phố, các Ban chỉ đạo của các xã, phường, chủ rừng và đơn vị đóng trên địa bàn; qua đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức của nhân dân về tác hại của lửa rừng gây ra đối với cuộc sống.
Kết quả, mùa khô 2013-2014, toàn thành phố không có vụ cháy rừng nào, chỉ xảy ra 4 vụ cháy trên khu vực đất ven rừng núi Lớn, núi Nứa và bãi cát ven biển thuộc phạm vi quản lý, tất cả các vụ cháy ven rừng đều được phát hiện và huy động lực lượng khống chế kịp thời; bên cạnh đó các đơn vị còn phát hiện và xử lý 6 vụ vi phạm Luật bảo vệ và Phát triển rừng với số tiền 23.150.000đ; ngăn chặn và xử lý kịp thời 9 vụ xây dựng nhà, tường rào trái phép trên đất lâm nghiệp…
Với những kết quả đạt được, nhân dịp này, Sở NN&PTNT tỉnh tặng giấy khen cho 6 tập thể, 15 cá nhân và UBND thành phố tặng giấy khen cho 21 tập thể, 23 cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác PCCCR mùa khô năm 2013-2014. (Vungtau.baria-vungtau.gov.vn 10/1) đầu trang(
Năm 2010, huyện Ba Chẽ nhận bàn giao từ Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Ba Chẽ 2.139ha rừng trồng, trong đó có 1.526,3ha rừng thông tập trung ở 4 xã Lương Mông với 1.163,5ha, Đạp Thanh với 387,6ha, Minh Cầm với 69,2ha và Nam Sơn với 6ha.
Toàn bộ diện tích rừng thông này mặc dù đang ở cấp tuổi thông non (từ 5-15 năm tuổi), chưa khai thác được thế nhưng hiện lại đang bị khai thác trái phép, không đúng quy trình, ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng phát triển của cây. Để giải quyết tình trạng này, huyện Ba Chẽ cần sớm có phương án giao, cho thuê diện tích thông trên cho chủ rừng cụ thể.
Sau khi tiếp nhận diện tích rừng thông trên, huyện Ba Chẽ đã giao cho chính quyền 4 xã Lương Mông, Minh Cầm, Đạp Thanh và Nam Sơn quản lý. Huyện cũng đã cấp kinh phí để các xã thuê, khoán các hộ gia đình, cá nhân quản lý, bảo vệ 675,7ha với định mức 100.000 đồng/ha/năm.
Tuy nhiên, do công tác quản lý của các địa phương còn lỏng lẻo; trách nhiệm bảo vệ rừng của các cá nhân, gia đình được thuê khoán chưa đầy đủ nên đã xảy ra tình trạng người dân lén lút khai thác nhựa thông trái phép. Đặc biệt trong 2 năm gần đây, do giá nhựa thông tăng cao nên tình trạng khai thác nhựa thông trái phép ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp, kể cả đối với diện tích thông mới trồng được 5 năm.
Mặc dù các lực lượng chức năng huyện Ba Chẽ rất tích cực kiểm tra, phát hiện, xử lý, tổ chức các đợt truy quét, thu bỏ dụng cụ hứng nhựa thông... song tình trạng khai thác nhựa thông trái phép vẫn không được giải quyết triệt để. Qua các đợt kiểm tra của cơ quan chức năng gần đây cho thấy, tình hình khai thác nhựa thông trái phép đang diễn ra phức tạp, nhất là tại xã Lương Mông và Đạp Thanh.
Trong đó trên địa bàn xã Lương Mông, từ đầu năm tới nay các lực lượng chức năng đã xử lý rất nhiều vụ việc người dân vào rừng khai thác nhựa thông trái phép; bắt giữ 6 vụ vận chuyển nhựa thông với trọng lượng 355kg. Xã này còn có thôn gần như tất cả các hộ dân đều tham gia khai thác nhựa thông trái phép. Trên địa bàn xã Đạp Thanh, trong năm 2014 cũng đã phát hiện và thu giữ 373kg nhựa thông.
Sản phẩm khai thác ra được vận chuyển đi tiêu thụ ở các tỉnh khác, trong đó chủ yếu là huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn nên rất khó để kiểm soát. Đối với xã Minh Cầm việc khai thác nhựa thông trái phép ít xảy ra hơn nhưng đã có hiện tượng người dân được giao khoán đã khai thác thử ở lứa thông 5 năm tuổi, rất non, ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến phát triển của cây.
Thực tế có mặt tại một cánh rừng thông tại thôn Khe Nà, xã Lương Mông mới thấy cách khai thác ở đây giống như “tận diệt” cây thông, thân các cây thông lớn bé đều bị gọt, đẽo nham nhở; dưới mỗi đoạn gọt, đẽo như thế có một túi nilon gắn tạm bợ để hứng lấy nhựa. Các cây thông đều còi cọc, khô lá, mất hẳn vẻ tươi xanh ở lứa tuổi thông này như các cánh rừng thông thường thấy.
Anh Nguyễn Văn Học, một chủ rừng thông trên địa bàn xã cho biết: 100% diện tích thông ở đây đều là thông non. Kể cả cây thông có năm tuổi cao nhất là khoảng 15 năm tuổi cũng còn 5 năm nữa mới đủ tuổi trưởng thành. Có nghĩa tất cả diện tích thông này đều chưa đến tuổi khai thác.
Bởi vậy nếu ngay từ bây giờ thân cây đã bị gọt đẽo để lấy nhựa thì sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sinh trưởng và phát triển cũng như tuổi thọ cho thu nhựa của cây sau này… Điều này thực sự gây tác hại rất lớn, bởi cây thông là cây mang giá trị khai thác lâu năm, thông thường cây cho nhựa trong vòng 60 năm, có nghĩa có thể thu lợi kéo dài đến 60 năm.
Đấy là chưa nói việc khai thác nhựa thông trái phép trên không theo quy trình, không có kỹ thuật, tập trung gọt, đẽo vào một số điểm nhất định sẽ khiến cho nguy cơ cây bị gãy, đổ khi gặp gió bão.
Đến thời điểm này có thể khẳng định việc giao diện tích thông nói trên cho UBND 4 xã Lương Mông, Minh cầm, Đạp Thanh và Nam Sơn quản lý cũng như thuê khoán các hộ gia đình, cá nhân bảo vệ, chăm sóc như huyện Ba Chẽ triển khai từ năm 2010 đến nay hiện không hiệu quả, rừng ngày càng bị xâm lấn, khai thác trái phép một cách “tận diệt”. Bởi vậy, nhất thiết cần phải có phương án quản lý, bảo vệ khác phù hợp và hiệu quả hơn.
Được biết UBND huyện Ba Chẽ cũng đang lên phương án giao rừng, cho thuê rừng đối với 2 đơn vị doanh nghiệp là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ và Công ty CP thông Quảng Ninh trên cơ sở chọn lô, khoảnh, rừng trồng tập trung, có ranh giới tự nhiên để các đơn vị này thuận lợi trong việc quản lý, bảo vệ rừng.
Theo ông Nguyễn Hữu Giang, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đây là phương án hợp lý bởi qua rà soát hầu hết người dân trên địa bàn các xã có diện tích thông trong diện này đều đã được giao đất giao rừng trước đó. Hơn nữa rừng thông là đối tượng cây lâm nghiệp có yêu cầu cao trong công tác quản lý, bảo vệ, nhất là phòng chống cháy rừng nên với năng lực của mình người dân sẽ khó khăn hơn trong việc triển khai nhiệm vụ này, nhất là trong bối cảnh không ít người dân có tư tưởng vì cái lợi trước mắt mà sẵn sàng khai thác sai quy trình, quy định dẫn đến xâm hại rừng.
Hiện nay, đối với Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ đang có cái thuận là toàn bộ diện tích rừng thông trên đều do cán bộ công nhân viên trong đơn vị trồng, chăm sóc trước kia. Bởi vậy đội ngũ này nắm rõ các đặc điểm về ranh giới, mật độ, độ tuổi, quá trình sinh trưởng và phát triển của cây… từ đó thuận lợi trong việc chăm sóc, bảo vệ, phòng chống cháy rừng…
Trên địa bàn xã Lương Mông, Công ty cũng có một đội trồng rừng với nhân lực 14 người, vốn cũng là những người từng tham gia trồng diện tích rừng này, hiện đời sống còn nhiều khó khăn, rất mong muốn được tham gia quản lý bảo vệ rừng, đảm bảo về công ăn việc làm và thu nhập ổn định.
Chị Bùi Thị Hương, nguyên công nhân đội trồng rừng Lương Mông, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ cho biết: Diện tích thông này do chúng tôi trồng, chăm sóc nên không ai hiểu rõ rừng thông này như chúng tôi. Bao năm gắn bó với rừng, chúng tôi cũng đều lập gia đình, an cư lạc nghiệp ở Lương Mông, bởi vậy chúng tôi rất mong mỏi được huyện Ba Chẽ giao lại diện tích thông để quản lý và phát huy giá trị của cây thông, cải thiện đời sống cho anh em…
Đối với Công ty CP thông Quảng Ninh vốn là đơn vị có năng lực trong việc khai thác, thu mua, chế biến nhựa thông. Hiện nay Công ty có vùng nguyên liệu tương đối rộng lớn, cách quản lý chặt chẽ, khoa học nên khá hiệu quả. Đặc biệt nhiều năm qua không để xảy ra tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất rừng như nhiều doanh nghiệp lâm nghiệp khác đang phải đối mặt. Bởi vậy đây sẽ là đơn vị có thế mạnh trong việc phát huy giá trị kinh tế cho cây thông, nâng cao đời sống người dân trong vùng và thúc đẩy kinh tế lâm nghiệp của huyện.
Cây thông dù có giá trị đến đâu nếu ngay từ ban đầu đã không được bảo vệ, chăm sóc tốt thì cũng sẽ không phát triển được, không phát huy được giá trị vốn có. Bởi vậy, hơn hết huyện Ba Chẽ trên cơ sở các phương án quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị rừng của các đơn vị đưa ra để cân nhắc, lựa chọn phương án tối ưu nhất, từ đó khẩn trương tiến hành giao rừng, cho thuê rừng. (Báo Quảng Ninh 12/1) đầu trang(
Trong số hơn 10.000 ha rừng huyện Vũ Quang đang tiến hành làm thủ tục để giao đất lâm nghiệp, giao rừng cho các hộ dân, chủ rừng nhà nước và cho doanh nghiệp thuê thì 2.223 ha có kế hoạch bàn giao cho Vườn quốc gia Vũ Quang...
Đây là số diện tích trước đây do xã Hương Quang và Hương Điền quản lý, nhưng nay đang trong tình trạng “vắng chủ” do các địa phương này đã chuyển đến nơi ở mới theo chủ trương di dời dân thuộc dự án thủy lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang. Về mặt pháp lý, số diện tích này vẫn do các địa phương trên chịu trách nhiệm quản lý.
Không có chủ rừng, các lực lượng chức năng như kiểm lâm, bộ đội biên phòng lại quá “mỏng”, khó có thể triển khai lực lượng tuần tra, kiểm soát thường xuyên, hiệu quả nên đây đang là “lỗ hổng” trong khâu quản lý.
Mặt khác, do đặc thù của số diện tích này là rừng tự nhiên, có tính chất phòng hộ cao nhưng lại nằm trong khu vực nhạy cảm là gần với diện tích được bán đấu giá gỗ tận thu vùng lòng hồ Ngàn Trươi - Cẩm Trang nên công tác bảo vệ cần phải được quan tâm hơn bao giờ hết.
Vì vậy, để quản lý, bảo vệ số diện tích này hiệu quả, các cơ quan chức năng huyện Vũ Quang cần tham mưu UBND huyện xây dựng kế hoạch thu hồi, cắt chuyển cho đơn vị lân cận là Vườn quốc gia Vũ Quang quản lý.
Các sở NN&PTNT, TN&MT gấp rút hoàn tất các thủ tục cần thiết để sớm tham mưu UBND tỉnh ban hành quyết định cắt chuyển. Tuy nhiên, trước mắt, các cơ quan chức năng cần có phương án tối ưu để bảo vệ số diện tích này. (Báo Hà Tĩnh 12/1) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Thực hiện chủ trương giao đất, giao rừng, hầu hết người dân các nơi phấn khởi, mong ngóng sớm được nhận loại tư liệu sản xuất này.
Thế nhưng, ở xóm Quyết Thắng, xã Sơn Kim 2 (Hương Sơn), người dân không mấy mặn mà, từ chối nhận đất, nhận rừng được giao khoán. Câu hỏi đặt ra, liệu có phải người dân sở tại không cần đất sản xuất hay vì căn nguyên khác, và tình hình nên được xử lý như thế nào đang được nhiều người quan tâm...
Theo phản ánh của một số cử tri xã Sơn Kim 2, ngày 29/5/2014, UBND tỉnh ban hành Quyết định 1486 về việc thu hồi rừng và đất lâm nghiệp của Tổng Công ty Hợp tác kinh tế Quân khu 4 tại tiểu khu 63. Theo đó, tổng số diện tích thu hồi là 945 ha, trong đó, chuyển cho BQL Rừng phòng hộ sông Ngàn Phố 414 ha và phần còn lại được chuyển về cho UBND xã Sơn Kim 2 để giao khoán cho dân sản xuất. Đây là một quyết định đúng đắn, hợp lòng dân và tác động không nhỏ đến đời sống, sinh kế cũng như công tác bảo vệ, phát triển rừng.
Thế nhưng, trong thực tế triển khai thực hiện chủ trương cắt chuyển này đã xẩy ra những bất cập, thể hiện ở chỗ, diện tích được bàn giao cho xã phần lớn thuộc vùng cao, đồi núi dốc, xa khu dân cư, khó sản xuất; còn diện tích được cắt chuyển cho BQL Rừng phòng hộ sông Ngàn Phố lại sát khu dân cư, chủ yếu là rừng nghèo, rừng tái sinh, thuận tiện cho sản xuất nhưng không thuận lợi trong công tác bảo vệ rừng phòng hộ…
Tìm hiểu sự việc, được biết, hiện nay, số diện tích được cắt chuyển cho chính quyền địa phương quản lý đã được UBND xã triển khai đo đạc, đánh giá đặc điểm khu rừng và tiến hành xây dựng phương án giao đất, giao rừng cho các hộ.
Tuy nhiên, theo Phó Chủ tịch UBND xã Sơn Kim 2 - Đào Quốc Quỳnh: “Sau khi các hộ bốc thăm và tiến hành bàn giao thực địa thì hơn 30 hộ trong tổng số 66 hộ từ chối nhận đất được giao khoán với lý do diện tích rừng xa khu dân cư, địa hình hiểm trở. Hiện nay, chúng tôi đang tiếp tục tuyên truyền, vận động nhân dân nhận đất rừng, nhưng xem ra sẽ khó, vì tại những vị trí này không thuận lợi cho sản xuất, giá trị kinh tế đem lại không cao như những nơi khác”.
Trao đổi với PV, Trưởng thôn Quyết Thắng Hoàng Thị Hiên cũng khẳng định: “Dân trong thôn rất muốn nhận đất rừng để phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập. Họ không nhận không phải vì không có nhu cầu mà do bốc thăm trúng những lô xa khu dân cư, địa hình cao và dốc”.
Trước thực trạng đó, người dân và lãnh đạo chính quyền địa phương cho rằng: UBND tỉnh và Sở NN&PTNT cần kiến nghị với Chính phủ, các bộ, ngành liên quan xem xét điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng số diện tích được xem là rừng phòng hộ tại khoảnh 3, 6 và 7 của tiểu khu 63 sang mục đích sản xuất để giao cho dân phát triển kinh tế.
Còn diện tích địa hình cao, xa khu dân cư đang do chính quyền địa phương quản lý nhưng dân không nhận giao khoán thì chuyển sang mục đích phòng hộ. Như vậy, người dân ven rừng mới có thể phát triển sản xuất, ổn định sinh kế, nâng cao thu nhập; đồng thời, các bên liên quan sẽ thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng tốt hơn so với phương án sử dụng hiện nay.
Trái với ý kiến của chính quyền địa phương và các hộ dân hưởng lợi, lãnh đạo Hạt Kiểm lâm Hương Sơn lại cho rằng: Việc các hộ dân ở Sơn Kim 2 không nhận đất là do không có nhu cầu sản xuất. Không thể thực hiện chuyển đổi theo kiến nghị của người dân vì diện tích rừng này đã được quy hoạch riêng thành 2 loại và được UBND tỉnh phê duyệt!
Cùng quan điểm đó, Trưởng BQL Rừng phòng hộ sông Ngàn Phố Nguyễn Hữu An cho rằng: “Quá trình thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng rừng đòi hỏi nhiều thủ tục, rất rườm rà và mất nhiều thời gian; trong khi đó, chúng tôi đang bận rất nhiều nhiệm vụ quan trọng nên không thể đứng ra làm hồ sơ chuyển đổi…”.
Giao đất, giao rừng cho các hộ dân là một chủ trương sát đúng để bảo vệ rừng tận gốc, nâng cao sinh kế và thu nhập cho người dân miền núi. Vấn đề đặt ra ở đây là liệu việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng trước đây đã phù hợp, đảm bảo các điều kiện theo quy định?
Vì vậy, trong trường hợp cụ thể này, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng cần xem xét một cách thấu đáo, nếu nhận thấy còn xẩy ra bất cập và nguyện vọng của các hộ dân hưởng lợi là chính đáng thì phải có sự điều chỉnh cần thiết.
Trong trường hợp việc phân loại rừng đã chính xác, việc cần làm trước mắt là tiếp tục vận động, định hướng để người dân nhận tư liệu sản xuất, không lợi dụng chủ trương vì mục đích riêng và thể hiện trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ, phát triển rừng. (Báo Hà Tĩnh 8/1) đầu trang(
Để thực hiện các dự án, đặc biệt là dự án thủy điện, phải hy sinh nhiều vạt rừng. Tất nhiên, trước khi chặt hạ phải được các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương đồng ý, cho phép.
Tùy theo mức độ, quy mô dự án, chủ đầu tư có cam kết hoàn trả phần nào diện tích rừng đã mất để phục vụ dự án. Tuy nhiên, thống kê thực tế cho thấy những năm qua, hàng chục nghìn héc ta rừng đã "hy sinh" cho các dự án, song chỉ hơn 3% diện tích ấy được trồng lại.
Cụ thể, theo các ngành chức năng, từ năm 2006 đến nay có 2.320 dự án có chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác phải trồng rừng lại với diện tích hơn 76.000ha, nhưng đến cuối năm 2013, tổng diện tích được trồng lại chỉ khoảng 2.540ha.
Không ít giải pháp mạnh được áp dụng để buộc các cơ quan hữu trách thực hiện cam kết như cảnh báo rút giấy phép hoặc không mua điện của các dự án thủy điện chây ỳ, cố tình không trồng lại rừng theo nghĩa vụ….
Quy định là vậy, cam kết là vậy, nhưng rõ ràng tại không ít dự án, các cơ quan, đơn vị liên quan chỉ quan tâm tới quyền lợi mà bỏ qua trách nhiệm đối với xã hội.
Rừng là quần thể sinh học, chủ yếu là các loại cây cỏ, với hệ động thực vật hoàn chỉnh và có tác dụng chủ yếu là bảo vệ môi trường, giữ nước để cung cấp cho đời sống tại chỗ cũng như bảo đảm dự trữ nước cho khu vực hạ nguồn. Mất rừng gây sạt lở đất bất ngờ, cạn kiệt nguồn nước ngầm; từ đó sinh ra hạn hán, khiến ảnh hưởng đến đời sống người dân.
Rừng cũng là nơi cân bằng khí hậu, bảo đảm phát triển bền vững cho nền kinh tế. Vì vậy, đối xử tàn bạo với rừng là làm hại cộng đồng. Cả thế giới thừa nhận điều này và việc trồng bù diện tích rừng đã mất là hết sức cần thiết nhằm bảo đảm cân bằng sinh thái.
Thế nhưng, như đã nói, không ít cam kết đã bị phớt lờ. Ở đây, ngoài trách nhiệm của chủ đầu tư dự án, không thể không nhắc tới trách nhiệm của các bộ, ngành, chính quyền địa phương liên quan trong việc kiểm tra, giám sát việc thực thi quy định và cam kết đã ký. Cam kết rồi không thể để đấy. (Hà Nội Mới 12/1) đầu trang(
Ông Nguyễn Tôn Quyền (tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và lâm sản VN) cho biết: Đối với ngành gỗ, Hoa Kỳ đang là đối tác xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch năm 2014 khoảng 2,2 tỉ USD, trong khi VN cũng nhập khẩu gỗ từ Mỹ hơn 300 triệu USD.
Tới đây, khi TPP được ký và có hiệu lực, ngành gỗ VN chắc chắn sẽ có nhiều cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn.
Trong các nước tham gia hiệp định này, Mỹ, Canada và Nhật là những quốc gia có nguồn gỗ nguyên liệu dồi dào và với cam kết thuế bằng 0%, ngành gỗ VN sẽ được hưởng lợi nhiều.
Đặc biệt, các doanh nghiệp VN cũng có nhiều cơ hội tiếp cận với công nghệ của Mỹ, bởi máy móc thiết bị nhập khẩu từ Mỹ về VN sau khi TPP được ký kết chỉ còn 0% thay vì 30-35% như hiện nay. Nhờ đó, chất lượng sản phẩm cũng sẽ tốt hơn, sức cạnh tranh và khả năng xuất khẩu tăng...
Tuy nhiên, để hiện thực hóa tiềm năng hợp tác kinh tế VN - Mỹ, hai bên sẽ đều phải nỗ lực. Trong đó, phía VN cần hoàn thiện cơ chế chính sách, hỗ trợ doanh nghiệp tốt hơn trong các thủ tục hải quan, thanh toán, môi trường kinh tế vĩ mô ổn định...
Bản thân các doanh nghiệp cũng phải tăng hiểu biết về thị trường Mỹ, nhất là các quy định về chất lượng, chính sách chống trợ cấp, phá giá... (Tuổi Trẻ 10/1, tr7) đầu trang(
Việc đầu tư xây dựng Nhà máy chế biến gỗ và ván sợi công nghệ MDF ở huyện Nghĩa Đàn được kỳ vọng tạo nên động lực mới cho vùng miền Tây Nghệ An.
Tuy vậy, những khó khăn trong qua trình triển khai xây dựng, Sở Công Thương và UBND huyện Nghĩa Đàn… cần vào cuộc tháo gỡ để dự án về đích đúng thời hạn và thành công như mong đợi.
Một ngày cuối năm 2014, chúng tôi có dịp trở lại công trường xây dựng Nhà máy chế biến gỗ và ván sợi công nghệ MDF tại Nghĩa Đàn. Trên thực địa, hàng trăm kỹ sư và cán bộ công nhân đang gấp rút thực hiện các hạng mục công trình. Rất nhiều thiết bị máy móc, ồ ạt triển khai dưới sự quản lý điều hành quyết liệt, chuyên nghiệp cao của PMU cũng như nỗ lực vượt khó của toàn thể các nhà thầu của dự án.
Hiện nay, nhà máy đang trong giai đoạn nước rút hoàn thành giai đoạn I gồm 2 dây chuyền sản xuất gỗ thanh công suất 12.000m3/năm và gỗ MDF công suất 130.000m3/năm.
Ông Đinh Văn Thơi, đại diện đội lắp máy, kỹ sư dày dặn kinh nghiệm nhiều dự án công nghiệp quy mô lớn, cho biết: "Chúng tôi rất phấn khởi khi từng ngày, các công việc dần hình thành theo đúng kế hoạch dưới sự giám sát và điều phối rất quyết liệt, cụ thể và chỉ dẫn chi tiết của ban điều hành PMU. Chúng tôi phấn đấu hoàn thành các công việc còn lại theo đúng lịch trình đã được lên kế hoạch, và chạy thử dây chuyền trước Tết Nguyên đán, đó là niềm vui lớn của tập thể cán bộ, công nhân trên toàn công trường cũng như của chủ đầu tư".
Dự án Nhà máy chế biến gỗ và ván sợi công nghệ MDF thuộc Công ty cổ phần lâm nghiệp tháng Năm được khởi công xây dựng từ tháng 2/2013, trong khuôn khổ Dự án “Xây dựng nhà máy chế biến gỗ và phát triển rừng bền vững tại Nghệ An” với tổng vốn đầu tư 500 triệu USD, gồm: Nhà máy chế biến gỗ thanh với tổng mức đầu tư 150 triệu USD, công suất 8.800 m3/năm; Nhà máy chế biến ván sợi MDF với tổng mức đầu tư 350 triệu USD, công suất 400.000m3/năm.
Kể từ ngày khởi công đến nay, mặc dù gặp những khó khăn nhất định nhưng được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo tỉnh, các cơ quan, ban, ngành và huyện Nghĩa Đàn, sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo tập đoàn TH cũng như sự nỗ lực của tập thể cán bộ, công nhân viên Công ty CP lâm nghiệp Tháng Năm, một khối lượng lớn công việc của dự án đã thực hiện đúng kế hoạch.
Hiện nay, đội ngũ kỹ sư, công nhân đang hoàn thiện lắp đặt thiết bị dây chuyền chính của nhà máy ván thanh (sawmill) dự kiến hoàn thành, vận hành chạy thử đầu tháng 2/2015. Các hạng mục phụ trợ dây chuyền sản xuất ván thanh dự kiến vận hành sản xuất thử trước Tết Nguyên đán (trung tuần tháng 2/2015 dương lịch).
Chủ đầu tư cũng đang triển khai các công tác chuẩn bị cho lắp đặt dây chuyền chính nhà máy MDF và bắt đầu lắp trung tuần tháng 1/2015 và hoàn thành lắp đặt thiết bị dự kiến vào tháng 6/2015. Các hạng mục phụ trợ cho toàn dây chuyền MDF đồng bộ hoàn thành và vận hành chạy thử đầu tháng 9/2015. Toàn dự án hoàn thành và đưa vào sản xuất tháng 9/2015.
Ông Nguyễn Bình Long - Giám đốc điều hành xây dựng dự án, cho biết: Tuy tiến độ bước đầu trong xây dựng nhà máy đã đúng như kế hoạch, nhưng quá trình hoàn thành dự án vẫn còn gặp nhiều vướng mắc. Hiện tại các xe chuyên chở nguyên, vật liệu xây dựng nhà máy phải đi chung vào đường dân sinh của xóm.
Tuyến đường D1 hiện vẫn chưa hoàn thành và đấu nối với hệ thống đường nội bộ của dự án. Đường điện 35kw cũng gặp nhiều khó khăn khi liên tục bị đẩy lùi kế hoạch đấu nối với hệ thống điện của dự án, mặc dù chỉ còn các công tác cuối cùng nhưng nếu tiếp tục trượt kế hoạch sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến kế hoạch đấu nối và vận hành chạy thử thiết bị.
Nhà máy chế biến gỗ và ván sợi công nghệ MDF được đầu tư trên đất Nghĩa Đàn với công nghệ hiện đại khi đi vào hoạt động sẽ tạo việc làm cho lượng lớn lao động và thúc đẩy nhân dân phát triển rừng nguyên liệu, đóng góp nguồn ngân sách cho tỉnh nhà. Sản phẩm của nhà máy sản xuất ra sẽ đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, có đủ sức cạnh tranh tại các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật, EU nhờ nhà đầu tư đã lựa chọn được các nhà cung cấp công nghệ và thiết bị tốt nhất trên thế giới.
Đó là thiết bị tạo hình, nén liên hồi và trạng thái ván của Công ty Dieffenbacher (CHLB Đức); thiết bị công nghệ sản xuất ván sợi gỗ của Công ty Metso (Thụy Điển); công nghệ băm dăm, làm sạch và kho chứa băm dăm của Công ty Hombak/CMC (CHLB Đức); công nghệ chà nhám sản phẩm của Công ty Steinemann (CHLB Đức); công nghệ cắt sản phẩm theo kích thước cuối cùng của Công ty Anthon (CHLB Đức)...
Tuy nhiên, để khớp với tiến độ vận hành sản xuất thử của dây chuyền ván thanh và kế hoạch mục tiêu sản xuất kinh doanh ngay sau Tết Nguyên đán, cần đẩy nhanh thông tuyến đường điện 35KV và đường giao thông từ nhà máy ra đường Đông Hồi và đường Hồ Chí Minh trước ngày 10/1/2015.
Việc không thông tuyến đường này sẽ là khó khăn rất lớn cho dự án trong giai đoạn cung cấp và lắp đặt thiết bị khối lượng và quy mô lớn đồng loạt của Nhà máy MDF cũng như việc vận chuyển nguyên liệu cho sản xuất, kinh doanh sản phẩm của nhà máy ván thanh. (Báo Nghệ An 9/1) đầu trang(
Cách đây hơn 5 năm, tại khu công nghiệp Thanh Bình (Chợ Mới) Nhà máy chế biến gỗ của Công ty cổ phần Sahabak đã chính thức khởi công.
Đây là nhà máy chế biến gỗ có công suất lớn nhất khu vực miền Bắc và là một trong những nhà máy đầu tiên xây dựng trên khu công nghiệp của tỉnh. Nó càng có ý nghĩa hơn khi được ra đời từ chủ trương hợp tác giữa Bắc Kạn và thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.
5 năm nhìn lại, đây mới chỉ mới kết thúc giai đoạn đầu của tổng thể dự án, bước đệm để tiến tới giai đoạn quan trọng nhất và là mục tiêu chính đó là đầu tư xây dựng nhà máy MDF.
Trong 5 năm qua, công ty đã thực hiện nhanh việc đầu tư xây dựng và đưa vào sản xuất nhà máy chế biến gỗ thanh và một số sản phẩm phụ trợ để tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu gỗ rừng trồng.
Giai đoạn này công ty đã phải đối mặt với muôn vàn khó khăn nhất là việc triển khai dự án đúng vào thời điểm nền kinh tế nói chung suy giảm, huy động vốn không thực hiện được, thị trường tiêu thụ sản phẩm bị thu hẹp, sản phẩm ván thanh của nhà máy chưa xác định được đầu ra tốt nhất, mang tính ổn định cao.
Nhân lực hầu hết đều được tuyển dụng mới, chưa có kinh nghiệm và trình độ tay nghề cao. Nguồn nguyên liệu đầu vào hết sức khó khăn do thị trường thu mua xuất hiện nhiều đối tượng chế biến gỗ nhỏ lẻ, cạnh tranh không lành mạnh.
5 năm qua con thuyền Sahabak đã được bộ máy lãnh đạo và tập thể hơn 300 cán bộ, công nhân quyết tâm chèo lái vững vàng bước qua giai đoạn khó khăn, vất vả nhất, mặc dù có những lúc tưởng chừng rơi vào bế tắc. Đến nay dự án MDF đã hoàn thành công tác chuẩn bị đầu tư. Gỡ nút thắt bế tắc nhất của nhà máy đó là vốn đầu tư.
Ngày 04/12/2013 Ngân hàng Phát triển Việt Nam đã chính thức ký hợp đồng tín dụng món vay 680 tỷ đồng. Mới đây Ngân hàng BIDV thông báo chấp thuận cho vay 100 tỷ đồng. Các công việc như lập, thẩm tra, phê duyệt hồ sơ mời thầu, lựa chọn nhà thầu cung cấp thiết bị chính nhập từ Châu Âu đang được tiến hành đúng kế hoạch.
5 năm qua Công ty đã rút ra nhiều bài học về thị trường, khâu quản lý, điều hành. Ví dụ trong quá trình sản xuất ván thanh, lượng phế thải phát sinh tương đối lớn, trong khi nhà máy MDF chưa được xây dựng để sử dụng nguồn nguyên liệu này. Năm 2012 Công ty đã quyết định đầu tư bổ sung xưởng ván dăm nhằm tận thu sử dụng toàn bộ phần phế liệu nhà máy ván thanh làm nguyên liệu sản xuất ra sản phẩm ván dăm mức công suất 3.000m3 sản phẩm/năm.
Việc đầu tư này đã đem lại lợi nhuận, việc làm cho người lao động, đặc biệt mức độ tiêu hao nguyên liệu giảm từ 4,90m3 nguyên liệu/m3 sản phẩm xuống chỉ còn 3,90m3 nguyên liệu/m3 sản phẩm. Giá trị sản phẩm sản xuất tăng từ 6,8 triệu đồng/người/tháng (năm 2011) lên 10,8 triệu đồng/người/tháng (năm 2014).
Vào thời điểm tháng 7 đến tháng 9 mùa mưa khó khăn trong khâu khai thác vận chuyển nên nguyên liệu không cấp đủ sản xuất dẫn tới tình trạng một bộ phận công nhân việc làm không ổn định, ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất, tâm lý làm việc và đời sống người lao động.
Để khắc phục tình trạng này, năm 2014 công ty đã có phương án chuyển hướng thu mua nguyên liệu bằng cách mở rộng, bổ sung nguồn cung ứng nguyên liệu từ các khu vực khác như: Thái Nguyên; Tuyên Quang, Phú Thọ đồng thời đa dạng hóa chủng loại nguyên liệu chế biến như sử sụng cả gỗ thông, xoan, cao su…
Tại Đại hội cổ đông Công ty cổ phần Sahabak, nhiệm kỳ 2015- 2019 vừa qua đã định ra hướng phát triển chiến lược, đó là: Ổn định sản xuất và gia tăng hiệu quả Nhà máy ván thanh với dòng sản phẩm có giá trị cao, phù hợp với đặc điểm nguyên liệu, đồng thời hoàn thành đầu tư, đưa vào vận hành và ổn định sản xuất Nhà máy MDF đạt công suất thiết kế muộn nhất là vào năm 2019, phấn đấu để trở thành nhà cung cấp ván MDF chủ lực của thị trường Việt Nam, doanh số bán hàng đạt 500 tỷ đồng/năm, lợi nhuận tối thiểu đạt 50 tỷ đồng/năm (từ năm 2019).
7 giải pháp mà Công ty đưa ra để thực hiện được mục tiêu trên đó là: Chuẩn bị đầy đủ, thực hiện đúng tiến độ về nguồn vốn tự có tham gia đầu tư (vốn góp của các cổ đông), đảm bảo lượng vốn cùng giải ngân với nguồn vốn vay, không để bị ách tắc, làm chậm tiến độ dự án MDF; Xúc tiến và thực hiện khẩn trương, dứt điểm các hoạt động đầu tư; Tổ chức quản lý chặt chẽ, chuyên nghiệp Dự án MDF, đảm bảo tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật trong đầu tư.
Lựa chọn được sản phẩm đầu tư đảm bảo chất lượng và yêu cầu kỹ thuật để vận hành tốt, cho ra sản phẩm MDF đạt yêu cầu, có thể tiếp cận, thâm nhập, nhanh chóng khẳng định chỗ đứng trên thị trường; Xây dựng cơ chế khai thác, thu mua nguyên liệu phù hợp, tạo thị trường đầu vào chủ động cho nhà máy MDF khi chính thức hoạt động vào năm 2017, đồng thời thiết lập được hệ thống mạng lưới đại lý thu mua, vận chuyển gỗ tập trung cho nhà máy.
Tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo việc đầu tư xây dựng các tuyến đường lâm nghiệp phù hợp cần thiết, phát huy sớm nhất hiệu quả lưu thông vận chuyển gỗ. Công ty sẽ đẩy mạnh thực hiện trồng rừng nguyên liệu trong phạm vi đất lâm nghiệp được giao quản lý, sử dụng, mở rộng diện tích rừng nguyên liệu tự có, đồng thời phối hợp với Công ty Lâm nghiệp Bắc Kạn bố trí sản xuất, bố trí nguồn vốn đầu tư trồng rừng nguyên liệu với tốc độ nhanh, sớm hình thành một vùng nguyên liệu chủ động khoảng 9.000ha. Xây dựng vùng nguyên liệu rừng được quản lý, sử dụng theo hướng bền vững, được cấp chứng nhận FSC, tạo tiền đề cho việc xuất khẩu sản phẩm đạt tiêu chuẩn bảo vệ môi trường.
Một trong những giải pháp cần phải tiến hành ngay đó là triển khai hoạt động tiếp thị, kết nối với các nhà phân phối ở cả trong và ngoài nước, sớm thiết lập được thị trường tiêu thụ sản phẩm, đảm bảo khi sản phẩm chính thức ra đời sẽ có ngay thị trường tiêu thụ. Cùng với đó Công ty sẽ tiến hành tuyển dụng và đào tạo nguồn lao động vận hành, quản lý sản xuất với trình độ tay nghề cao, làm chủ thiết bị, công nghệ ngay từ đầu.
Trên nền tảng đã đạt được trong 5 năm qua, Công ty đã chính thức bước vào giai đoạn tiếp theo với mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng mang tính “sống còn”, tồn tại và phát triển của nhà máy. Sự quyết tâm cao, nhạy bén, nắm bắt cơ hội sẽ là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công của dự án.
Điều đó phụ thuộc vào yếu tố con người với vai trò đứng mũi chịu sào, gánh vác trọng trách của bộ máy lãnh đạo Công ty. Năm 2015 là năm đầu tiên của giai đoạn mới, hy vọng nhiều cơ hội thuận lợi sẽ mở ra đối với Sahabak-doanh nghiệp đầu tiên trong lĩnh vực công nghiệp chế biến mà tỉnh đã đặt nhiều kỳ vọng. (Báo Bắc Kạn 9/1) đầu trang(
Năm 2014, Công ty Cổ phần sản xuất và chế tạo ô tô Tracimexco Bắc Kạn đã đạt doanh thu trên 10 tỷ đồng từ chế biến gỗ xuất khẩu.
Trong năm 2014, hai dây chuyền sản xuất đũa  đã hoạt động ổn định, sản xuất ra gần 13.800 kiện đũa bồ đề và 13.400 kiện đũa mỡ (mỗi kiện 5.000 đôi đũa). Đặc biệt, để đảm bảo nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất , công ty đã mở rộng thị trường tiêu thụ gỗ khá lớn cho người dân các xã của huyện Chợ Mới và thị xã Bắc Kạn… với giá thu mua nguyên liệu trung bình hơn 2 triệu đồng/m3.
Ngoài ra, Công ty Cổ phần sản xuất và chế tạo ô tô Tracimexco Bắc Kạn cũng đã lắp đặt và vận hành 2 xưởng xẻ gỗ thanh chi tiết xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản và phục vụ cho Nhà máy chế biến gỗ, ván ghép thanh của Công ty Cổ phần Sahabak.
Việc linh hoạt chuyển hướng sản xuất, kinh doanh của công ty không chỉ giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, khủng hoảng mà còn góp phần tiêu thụ gỗ rừng trồng cho người dân và tạo công an việc làm cho trên 200 lao động  của tỉnh. (Báo Bắc Kạn 11/1) đầu trang(
Rừng keo đã đến tuổi khai thác nhưng vì chủ rừng bên cạnh cản đường, không cho xe tải vào vận chuyển gỗ keo khiến gia đình bà Trần Thị Thành bức xúc, gửi đơn đến các cơ quan chức năng nhờ can thiệp, giải quyết.
Bà Trần Thị Thành ở thôn Phú Thạnh, xã Tam Thạnh (Núi Thành) phản ánh: 10 năm trước, gia đình bà hiến đất, góp công cùng người dân trong xóm mở tuyến đường từ nhà bà đến khu vực rẫy Tranh để thuận tiện cho việc vận chuyển nông sản từ rẫy về nhà. Sau đó, gia đình ông Ngô Quang Đinh mở rộng thêm con đường dân sinh đoạn từ rẫy Tranh đến rẫy của ông thuộc khu vực đồi ông Do.
Gia đình bà Thành cùng nhiều hộ dân có đất trong khu vực xin tham gia mở đường nhưng ông Đinh không đồng ý. Từ khi mở đường, ông Đinh ngăn cấm mọi người qua lại, gây khó khăn cho việc vận chuyển sản phẩm nông lâm nghiệp. Hiện nay, rừng keo của gia đình bà Thành đã đến tuổi thu hoạch nhưng vì sự ngăn cản của ông Đinh nên chưa khai thác được.
Bà Thành bức xúc: “Cuối năm 2014, gia đình tôi khai thác tận thu số keo ngã đổ do bão các năm trước gây ra, vì bị ông Đinh cấm đường nên buộc phải vác gỗ đi xa gần 1km đường đèo dốc cho xe vận chuyển. Vất vả như vậy nên chúng tôi đã nhiều lần chủ động thương lượng là sẽ đóng thuế đường cho ông Đinh để được đưa xe vào chở gỗ nhưng ông nhất quyết không đồng ý”.
Được biết, diện tích đất rừng sản xuất của gia đình bà Trần Thị Thành được cấp bìa đỏ năm 2010 tại các thửa số 911 và 872, thuộc tờ bản đồ số 2 với tổng diện tích là 13.131m2. Ngăn cản gia đình bà Thành đi lại nhưng nhiều hộ có rừng khác vẫn được ông Đinh cho xe vào tận nơi để chở gỗ keo. Nhiều người dân địa phương còn khẳng định, con đường đang xảy ra tranh chấp quyền sử dụng có nguồn gốc là con đường dân sinh phục vụ người dân đi lại làm rẫy.
Ngày 19.12.2014, Ban nhân dân thôn Phú Thạnh đưa vụ việc ra hòa giải nhưng không thành. Trong biên bản hòa giải, ông Ngô Quang Phát (con trai ông Đinh) lập luận rằng, đường do chủ rừng tự mở nên có quyền cho đi hay không cho đi đối với bất kỳ người nào là quyền của người có đất (!?).
Tuy nhiên, theo cán bộ địa chính xã Tam Thạnh, vào các năm 2007 - 2008, trong quá trình thực hiện đo đạc xác định hiện trạng đất trên địa bàn xã để cấp bìa đỏ cho người dân, đơn vị đo đạc chừa các tuyến đường dân sinh ra. Theo đó, không ghi diện tích đất đường dân sinh vào bìa đỏ của người dân.
Ông Trần Tin - Phó ban Nông nghiệp xã Tam Thạnh khẳng định: “Tuyến đường trên có nguồn gốc là con đường dân sinh phục vụ người dân đi lại làm rẫy. Người ta chở cả ngàn tấn keo qua tuyến đường này không sao, riêng bà Thành lại bị ngăn cản. Ngoài quan hệ láng giềng, giữa họ còn là bà con họ hàng với nhau”.
Phải chăng, theo lời bà Trần Thị Thành, ông Ngô Quang Đinh cố tình làm như vậy để buộc Thành phải bán lại đất rừng sản xuất cho ông? Thiết nghĩ, đây là vụ việc không lớn, vì vậy UBND xã Tam Thạnh cần sớm giải quyết, yêu cầu ông Ngô Quang Đinh không được cản trở bà Thành vận chuyển gỗ keo đi lại trên đường dân sinh, vì con đường này theo hồ sơ địa chính không cấp cho cá nhân nào cả. Ông Đinh không có quyền ngang nhiên “cấm vận” gia đình bà Thành như thế được. (Báo Quảng Nam 9/1) đầu trang(
Luồng là cây trồng phổ biến trong các chương trình trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Thực tế, rừng luồng đang phải đối mặt với nguy cơ thoái hóa do đất đai cằn cỗi, không được cải thiện, sâu bệnh gia tăng phá hại; đặc biệt hoạt động khai thác quá mức của con người nhưng không có kế hoạch trồng bổ sung, thay thế.
Vậy làm thế nào để ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật (TBKT) trong trồng, chăm sóc và thu hoạch luồng nhằm góp phần cải thiện hệ sinh thái rừng, nâng cao thu nhập và giá trị kinh tế từ cây trồng này?
Năm 2013, dự án khuyến nông “Phục hồi rừng luồng thoái hóa” do TS. Đặng Thịnh Triều, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam làm Chủ nhiệm đã được triển khai với mục tiêu chuyển giao các TBKT mới trong trồng, khai thác, nâng cao năng suất và chất lượng rừng luồng, tăng thu nhập cho người dân.
Tỉnh Thanh Hóa, Hòa Bình và Phú Thọ là những địa phương được lựa chọn để xây dựng mô hình trình diễn dự án từ năm 2013 - 2015. Đây cũng là 3 tỉnh có diện tích trồng luồng lớn nhất cả nước với tổng diện tích gần 100.000 ha.
Theo khảo sát của các chuyên gia lâm nghiệp, hiện nay rừng trồng luồng trên cả nước đang trên đà suy thoái, giảm cả về chất lượng và năng suất, mặc dù diện tích luồng có tăng lên.
Nguyên nhân chủ yếu là do không thực hiện nghiêm túc các yêu cầu kỹ thuật từ khâu trồng, chăm sóc đến khai thác, sử dụng rừng luồng. Rừng trồng luồng ở nhiều địa phương bị khai thác quá mức, khai thác không có quy hoạch, sâu bệnh gia tăng phá hoại đã dấn đến đất rừng luồng đã bị thoái hóa, năng suất rừng luồng bị sụt giảm nghiêm trọng.
Theo TS. Đặng Thịnh Triều, người dân chưa nắm vững được kỹ thuật trồng và khai thác, áp lực về kinh tế đã trồng nhiều diện tích luồng ở các lập địa không thích hợp như trên đỉnh đồi, nơi có nhiều đá lẫn đất... cộng thêm khai thác măng, thân luồng tùy tiện cũng khiến năng suất và chất lượng rừng luồng suy thoái nhanh.
Dự án "Phục hồi rừng luồng thoái hóa" đặt mục tiêu phục hồi diện tích rừng luồng thoái hóa 182 ha và 165 ha diện tích trồng mới, trong đó bao gồm phục hồi 102 ha đất xấu, 70 ha khai thác quá mức, 70 ha phục hồi do sâu bệnh.
Việc phục tráng rừng luồng thoái hóa dựa trên nền tảng cơ bản là chuyển giao các TBKT mới vào thâm canh, tập trung ở các nhóm nhiệm vụ cụ thể như: cải tạo thổ nhưỡng, tăng độ phì và dinh dưỡng cho đất; tuyển chọn giống mới năng suất cao, kháng sâu bệnh vào thâm canh, đồng thời ứng dụng TBKT phòng trừ sâu bệnh hại luồng hiệu quả; xây dựng quy trình trồng, chăm sóc, khai thác khoa học nhằm duy trì diện tích rừng luồng đảm bảo cho khai thác sử dụng ổn định, thường xuyên.
Bên cạnh đó, những hộ dân tham gia mô hình trình diễn tại các đại phương sẽ được cán bộ lâm nghiệp hướng dẫn và chuyển giao TBKT mới từ khâu tuyển chọn giống, trồng, chăm sóc đến quy trình khai thác luồng một cách hiệu quả. Cây giống được lựa chọn từ các đơn vị cung cấp uy tín, có nguồn gốc giống rõ ràng,…
Đối với các lập địa có chất đất xấu, đất sẽ được tiến hành bón phân bổ sung và làm cho tơi xốp thông qua các biện pháp cuốc, xới quanh gốc, cắt các cây phân xanh ủ vào gốc luồng nhằm tăng lượng mùn, giữ ẩm cho đất.
Ngoài ra, bà con còn được hướng dẫn cách thức như trồng luồng với mật độ phù hợp; thường xuyên chặt bỏ các cây sâu bệnh, gãy ngọn, phát dây leo; bón phân đúng quy trình kỹ thuật; diệt sâu bệnh đúng quy cách…
Luồng ngoài mục đích sử dụng cho dân sinh như làm nhà, sử dụng rào, cột, kết bè mảng… còn là nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp giấy, thủ công mỹ nghệ. Đặc biệt trong những năm gần đây, cây luồng còn có giá trị xuất khẩu mang lại nguồn thu đáng kể góp phần cải thiện đời sống và thu nhập của người dân.
Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện dự án, TS. Đặng Thịnh Triều, cho hay, sau hơn 2 năm triển khai xây dựng mô hình trình diễn ở các địa phương, cây luồng sinh trưởng, phát triển tốt với tỷ lệ sống đạt 90% và luồng đạt loại I, II tăng.
Chất lượng cây luồng được cải thiện đồng nghĩa với hiệu quả kinh tế mang lại từ chính cây luồng từng bước được nâng lên. Theo giá trên thị trường hiện nay, thu nhập trung bình đối với cây luồng dao động khoảng trên 8 triệu đ/ha/năm, mang lại nguồn thu thường xuyên hàng năm cho bà con nông dân làm nghề rừng.
Tại Thanh Hóa, địa phương có diện tích khoảng hơn 71.000 ha luồng, chiếm 55% diện tích trồng luồng cả nước. Luồng được coi là cây xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho hàng vạn hộ dân nơi đây.
Gia đình ông Hà Văn Thanh (Đồng Lương, Lang Chánh, Thanh Hóa) hiện có 2 ha luồng trồng thâm canh, trong những năm qua cho thu nhập khoảng 10 - 12 triệu đ/năm. Sau hơn 2 năm tham gia dự án, ông Thành cho biết, ngoài cơ hội hiểu biết kỹ thuật chăm sóc luồng, ứng dụng kỹ thuật canh tác mới, diện tích rừng luồng gia đình được bổ sung… năng suất luồng của gia đình tăng gấp đôi so với phương thức canh tác cũ, đặc biệt là thu nhập tăng từ 17 - 20 triệu đ/ha/năm.
Theo ông Nguyễn Hồng Tuấn, GĐ Trung tâm Khuyến nông tỉnh Hòa Bình, dự án không những tạo nhận thức cho người dân về nâng cao năng suất, chất lượng rừng luồng từ kỹ thuật phục hồi rừng luồng thoái hóa mà còn góp phần cải tạo một diện tích rừng luồng thoái hóa đáng kể tại Hòa Bình và đem lại cho địa phương mô hình điển hình để tiếp tục nhân rộng.
“Với đặc điểm bám đất và giữ đất tốt nhất trong các loại cây trồng, nếu phát triển rừng luồng đúng quy hoạch, kỹ thuật, bà con nông dân còn có nguồn nước dồi dào hơn để canh tác lúa ở các thung lũng, khu đất lúa, đất màu và nguồn nước sinh hoạt cũng được cải thiện đáng kể”, ông Tuấn chia sẻ. (Nông Nghiệp VN 12/1, tr8) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau vừa phê duyệt đề án phát triển rừng phòng hộ ven biển giai đoạn 2015-2020.
Theo đó, diện tích rừng phòng hộ trồng mới là 5.000ha. Trước mắt, năm 2015, địa phương trồng mới 1.000ha, trong đó, huyện Ngọc Hiển trồng mới 800ha, 200ha còn lại tại các guyện Đầm Dơi, Năm Căn và Tân Phú. (Tin Tức 10/1, tr4) đầu trang(
“Tại đường Lê Văn Thịnh, phường Bình Trưng Tây (quận 2, TP.HCM) có một xưởng sản xuất các mặt hàng gỗ hoạt động ảnh hưởng đến người dân xung quanh.
Các máy cưa phát ra tiếng ồn rất to và bụi gỗ bay mù mịt. Xưởng gỗ nằm trong khu dân cư nhưng các vật liệu để tràn lan rất dễ xảy ra cháy nổ. Người dân đã phản ánh nhưng chưa thấy địa phương xử lý” - bà Nguyễn Thị Tiếng, số 9 Lê Văn Thịnh, phường Bình Trưng Đông, quận 2, TP.HCM, cho biết.
Bà Hồ Thị Mỹ Hương, Chủ tịch UBND phường Bình Trưng Tây, quận 2, thông tin: Khi nhận được thông tin, phường đã cử cán bộ xuống kiểm tra tại địa chỉ trên thì xưởng này được cấp giấy phép kinh doanh. Ngoài ra, xưởng đã được cấp giấy chứng nhận về phòng, chống cháy nổ.
Còn đối với việc xưởng hoạt động gây ồn, ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến người dân phường sẽ báo lên quận để kiểm tra xử lý. Theo thông tin của gia đình chủ xưởng trên thì hiện xưởng đang thanh lý các mặt hàng trước khi ngưng hoạt động. (Pháp Luật TP.HCM 9/1, tr7) đầu trang(
Được triển khai từ năm 2006 đến nay, diện tích rừng trồng theo Dự án Phát triển ngành Lâm nghiệp (DA WB3) trên địa bàn huyện Tây Sơn đã đạt trên 3.000 ha, với sự tham gia của 1.781 hộ ở 6 xã, gồm: Tây Thuận, Vĩnh An, Tây Xuân, Bình Thành, Bình Tân, Bình Thuận.
Tham gia trồng rừng theo DA WB3, nông dân đã được hỗ trợ kịp thời về nhiều mặt, như việc thiết kế rừng trồng; đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tập huấn về quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc, quản lý rừng trồng. Ngân hàng Chính sách xã hội đã tạo điều kiện giải ngân nhanh nguồn vốn vay để nông dân đầu tư trồng và chăm sóc rừng.
Từ năm 2006 đến nay, UBND huyện Tây Sơn cũng đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho 1.674 hộ dân với diện tích gần 3.000 ha, giúp người dân yên tâm, có trách nhiệm với diện tích rừng trồng. Đến nay, rừng trồng các năm đầu triển khai DA đã cho khai thác đạt năng suất, sản lượng khá cao, bình quân từ 85-120 tấn/ha, cá biệt có hộ thu hoạch với sản lượng 130-140 tấn/ha, cho thu nhập từ 80 đến 100 triệu đồng/ha.
Tây Xuân là một xã có diện tích rừng trồng DA WB3 khá lớn, đã mang lại hiệu quả tích cực về kinh tế và môi trường. Ông Nguyễn Đình Chương, Phó Chủ tịch UBND xã Tây Xuân, cho biết: Tây Xuân tham gia DA từ năm 2007 đến nay, với 188 hộ, trồng được trên 354 ha. Bà con đánh giá hiệu quả kinh tế của DA WB3 rất cao, thực tế đã cho thu nhập bình quân từ 60 đến 100 triệu/ha, cá biệt có hộ thu nhập đạt 100 đến 120 triệu đồng/ha. Ngoài việc tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm cho người dân, DA WB3 đã góp phần tạo môi trường xanh sạch trên địa bàn.
Những năm gần đây, rừng trồng WB3 ở thôn Hòa Thuận (thôn đặc biệt khó khăn của xã Tây Thuận) đã giúp bà con địa phương có điều kiện vươn lên thoát nghèo. Ngoài việc tạo được nguồn thu nhập từ rừng, bà con còn tận dụng diện tích rừng trồng để nuôi bò dưới tán rừng khá hiệu quả.
Tổng diện tích rừng trồng của thôn hiện nay khoảng 410 ha. Năm 2014, bà con trồng rừng thôn Hòa Thuận khai thác được hơn 3.200 tấn gỗ nguyên liệu từ rừng trồng, giá trị thu được trên 3,2 tỉ đồng. Rừng trồng còn góp phần cải thiện môi trường tự nhiên, giữ tài nguyên đất và nước của địa phương.
Ông Trương Hồng Sanh, Trưởng thôn Hòa Thuận, cho biết thêm: DA WB3 tạo điều kiện cho bà con xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm tại chỗ... Đến nay rừng cộng đồng đảm bảo giữ tài nguyên nước cũng như tạo điều kiện phục hồi môi trường sinh thái ở địa phương.
Từ hiệu quả kinh tế và những tác động tích cực của rừng đối với môi trường sinh thái. Có thể nói, trồng rừng đang là hướng đi đầy triển vọng đối với huyện Tây Sơn. (Báo Bình Định 9/1) đầu trang(
Có dịp được cùng những “chiến sĩ” trẻ tình nguyện lên đường giúp bà con các bản nghèo của các huyện vùng cao Lang Chánh, Bá Thước, Mường Lát... làm đường giao thông, trồng rừng tôi cứ ấn tượng mãi với màu áo xanh xung kích.
Còn nhớ, cách đây ít năm, tình trạng đốt nương làm rẫy ở huyện Mường Lát khá phổ biến. Nhìn những cánh rừng nghi ngút khói ở một số xã, như: Trung Lý, Nhi Sơn, Pù Nhi, Tam Chung lãnh đạo huyện  không khỏi trăn trở.
Khắc phục tình trạng trên, huyện đã xây dựng kế hoạch và triển khai quyết liệt đến các bản, các xã. Tuy vậy, cái khó của huyện là địa hình phức tạp, lực lượng quản lý địa bàn mỏng, khó kiểm soát trong khi nhận thức của một bộ phận bà con còn hạn chế, tình trạng du canh, du cư vẫn còn.
Để bà con hiểu và ủng hộ, những thanh niên tình nguyện (TNTN) đã đến tận  hộ dân để tuyên truyền  chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng,  Nhà nước,  công tác quản lý, bảo vệ rừng, giúp bà con nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ rừng. Không chỉ có vậy, những TNTN còn tiên phong trong công tác trồng rừng.
Từ trên những triền đồi trơn trợt của xã Trung Lý, đã được tận mắt chứng kiến sự hăng say trong lao động của những TNTN. Không khí trong những ngày trồng rừng lúc mưa, lúc nắng thất thường, lại càng cảm phục tinh thần xung kích và nhiệt huyết của hơn 200 TNTN xứ Thanh.
Chỉ với cuốc, xẻng, dao, rựa, chưa đầy 1 tuần, hơn 38 TNTN và đông đảo bà con nhân dân xã Trung Lý đã trồng được 11 ha rừng sản xuất tại 2 bản Nà Ón và Ma Hác; làm 5km đường giao thông liên bản Xa Lao - bản Tung; phát quang, làm mới 3 km đường từ cầu Chiềng Nưa đến bản Xa Lao; hướng dẫn bà con làm nhà vệ sinh, môi trường, đào hố rác, nạo vét cống rãnh, chuyển chuồng trại ra xa nơi ở... Đồng thời, tuyên truyền cho bà con về trách nhiệm bảo vệ rừng, xóa bỏ tập tục du canh, du cư, đốt rừng làm nương rẫy.
Tại các xã Nhi Sơn, Pù Nhi và Tam Chung, gần 10 ngày “cùng ăn, cùng ở” và cầm tay chỉ việc cho bà con các dân tộc,  gần 1.000 TNTN đã giúp bà con trồng mới được 54 ha rừng; cải tạo vườn tạp, xây dựng hơn 2 km hàng rào ngăn cách giữa các hộ dân, dọc đường giao thông...
Đồng thời, tuyên truyền cho bà con về trách nhiệm trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và bảo vệ rừng; xóa bỏ tập tục du canh, du cư, đốt rừng làm nương rẫy; tổ chức thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách; gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao... với đoàn viên thanh niên và bà con nhân dân địa phương.
Ông Lê Văn Châu, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh Đoàn, cho biết: Ngoài công tác trồng rừng giúp bà con, đội TNTN cũng đồng thời tập huấn kỹ thuật sản xuất, canh tác nương rẫy; chăm sóc cây trồng, thâm canh lúa nước, kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm...
Mới đây, triển khai các hoạt động tình nguyện mùa đông, nhằm chia khó với đồng bào vùng cao và sưởi ấm những mảnh đời khó khăn trong mùa đông lạnh giá, hơn 1.000 đoàn viên thanh niên huyện Bá Thước đã tham gia tu sửa được 7,6 km và làm mới 3,4 km đường giao thông liên thôn, bản tại 4 xã Văn Nho, Thành Sơn, Lũng Cao, Điền Hạ; tổ chức tổng dọn vệ sinh môi trường thôn, bản, phát quang bụi rậm, thu gom rác thải, đào được 175 hố rác tập trung và san lấp 1 sân chơi cho trẻ em; quyên góp, tặng 15 chăn ấm và 575 bộ quần áo cũ cho các hộ gia đình, học sinh có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn toàn huyện.
Bằng những việc làm ý nghĩa, thiết thực, các đội sinh viên tình nguyện đã để lại ấn tượng và tình cảm đẹp trong lòng đồng bào các dân tộc vùng cao. “Bà con dân bản không thể quên dấu chân của bọn trẻ. Đồng bào các dân tộc vùng cao nguyện sẽ một lòng theo Đảng, Nhà nước và Bác Hồ, bám đất, bám bản, ổn định đời sống, phát triển kinh tế và xóa đói, giảm nghèo” - đấy cũng là lời cảm ơn sâu sắc của đông đảo bà con địa phương khi đoàn tình nguyện rời bước. (Báo Thanh Hóa 8/1) đầu trang(
Theo báo cáo của ngành Lâm nghiệp tỉnh, trong năm 2014, ngành đã chủ động triển khai nhiều biện pháp cụ thể trong công tác trồng rừng, đẩy nhanh tiến độ trồng rừng và giao khoán rừng cho người dân quản lý, bảo vệ. Ðến nay, các đơn vị đã thực hiện vượt kế hoạch được giao.
Năm 2014, ước diện tích trồng rừng 744 ha, đạt 105,4% so với kế hoạch. Trong đó, các Ban quản lý khu rừng phòng hộ, đặc dụng 404 ha; rừng sản xuất 340 ha. Ngoài ra, ngành Lâm nghiệp còn gieo ươm, cung cấp 240.125 cây giống các loại phục vụ trồng cây phân tán, bằng 98% so với năm 2013.
Đối với công tác giao khoán bảo vệ rừng, trong năm ước thực hiện được 49,570 ha, bằng 103,7% so với cùng kỳ; khoanh nuôi tái sinh rừng thực hiện 6.966 ha, bằng 102,1%; chăm sóc rừng trồng 2.699 ha, bằng 93,4%. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 16,1% so cùng kỳ.
Bên cạnh đó, ngành Lâm nghiệp đã tham mưu UBND tỉnh ban hành đề án di dời dân ra khỏi đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh; hỗ trợ các hộ dân di dời nhà ra khỏi đất lâm nghiệp để thực hiện dự án trồng cây phân tán tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2015 – 2017; đề cương kỹ thuật, dự toán kinh phí quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững hệ thống rừng đặc dụng tỉnh đến năm 2020.
Ngoài ra, ngành cũng đang phối hợp với các đơn vị tư vấn lập quy hoạch, chỉ đạo tổ chức lễ phát động trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” năm 2014; thu hồi đất, giao đất dự án Cụm dân cư biên giới cầu Sài Gòn 2.
Riêng năm 2015, ngành lâm nghiệp sẽ tiếp tục thực hiện giao khoáng diện tích rừng được bảo vệ và khoanh nuôi trên địa bàn tỉnh đến các hộ hợp đồng; duy trì hợp lý diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng đặc dụng; tập trung phát triển và tăng tỷ lệ rừng kinh tế; phát triển nghề trồng rừng sản xuất thành nghề kinh tế có vị thế quan trọng mang lại việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân làm nghề rừng; nghiên cứu các mô hình thực tế phổ biến cho người dân… (Báo Tây Ninh 8/1) đầu trang(
Đường lâm sinh là một trong những điều kiện quan trọng giúp phát huy tốt hiệu quả kinh tế rừng. Những năm qua, Chợ Mới là địa phương điển hình của tỉnh trong phong trào huy động nguồn lực từ doanh nghiệp và người dân để mở đường khai thác gỗ rừng trồng.
Tiềm năng phát triển kinh tế rừng của Bắc Kạn là rất lớn. Tuy vậy, do thiếu đường vận chuyển nên việc khai thác, vận chuyển, xuất bán gỗ rừng trồng tại nhiều nơi gặp khó khăn. Sau khi trừ công vận chuyển bằng sức người hoặc thuê gia súc kéo gỗ, lợi nhuận còn lại cho người trồng rừng không đáng là bao.
Trong bối cảnh kinh tế chung còn nhiều khó khăn, việc đầu tư đường lâm sinh từ nguồn vốn ngân sách nhà nước là điều nan giải. Thể hiện sự năng động và tư duy nhạy bén, không cam chịu đói nghèo, nhiều doanh nghiệp và người dân các địa phương đã tự nguyện mở đường để khai thác kinh tế rừng lâu dài, bền vững. Tiêu biểu trong phong trào này là huyện Chợ Mới.
Chợ Mới là huyện miền núi phía nam của tỉnh Bắc Kạn, có tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp chiếm 80% diện tích đất tự nhiên với trên 51.600ha, trong đó riêng rừng trồng của huyện có 10.791ha; gần 80% dân số chủ yếu sống bằng nghề sản xuất nông - lâm nghiệp. Dưới sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước, những năm qua người dân trong huyện đã tích cực phát triển kinh tế rừng. Năm 2014, độ che phủ rừng của huyện đã được nâng lên 76,1%. Từ nghề trồng rừng, không ít hộ dân đã thoát nghèo, ổn định cuộc sống và vươn lên làm giàu.
Đi trên các tuyến đường liên xã, có thể dễ dàng bắt gặp nhiều con đường đất đã được máy móc cơ giới mở vào khu rừng sản xuất. Chị Lê Thị Đào ở xã Yên Đĩnh là một trong những hộ chuyên thu mua, khai thác gỗ rừng trồng tại khắp các xã trong huyện để xuất bán về xuôi hoặc bán cho Công ty cổ phần SAHABAK.
Theo ước tính của chị Lê Thị Đào, sau 8 năm hoạt động thu mua gỗ, riêng gia đình chị đã mở được khoảng 50km đường lâm nghiệp… Ngoài ra trên địa bàn còn có nhiều hộ kinh doanh khác cũng tích cực mở đường khai thác gỗ như: hộ ông Chiến ở thôn Nà Hin, xã Yên Đĩnh; hộ ông Khoát ở thôn Nà Trào, xã Như Cố…
Chị Lê Thị Đào vào thôn Khuổi Chủ, xã Như Cố để điều hành việc khai thác gỗ rừng trồng mua của thôn. Với 8ha rừng keo, nhà chị có sẵn máy xúc nên việc làm trên 2km đường để khai thác, việc vận chuyển gỗ ra khá thuận lợi. Theo chị, để khai thác 01ha rừng thì trước đây có khi phải mất hàng tháng trời, nhưng nay chỉ cần một tuần là xong. Con đường này mở hết khoảng 50 triệu đồng, tuy nhiên theo gia đình tính toán sau khi trừ chi phí, khai thác diện tích rừng này vẫn thu lãi đáng kể. Khai thác xong, đường này để lại cho dân, đôi bên cùng có lợi; công tác quản lý, bảo vệ và phòng, chống cháy rừng cũng thuận lợi hơn nhờ các con đường này.
Khác với chị Lê Thị Đào là gia đình có sẵn máy xúc, chị Dương Thị Thủy ở thôn Nà Trào, xã Như Cố thuê máy xúc để mở đường vào rừng trồng của gia đình. Với tổng diện tích rừng gần 6ha, gia đình chị có 2ha keo vừa cho khai thác năm 2013, thu được khoảng 50 triệu đồng.
Thấy việc cuốc đường thủ công để dùng xe “đầu dọc” kéo gỗ ra không thuận lợi nên chị Thủy tính lợi ích lâu dài, quyết định bỏ ra 8 triệu đồng để thuê máy xúc mở rộng 1,5km đường rừng. Chị Thủy cho biết: Trước đây gỗ keo không được giá, khâu vận chuyển gặp khó khăn do không có đường nên nhiều nhà không buồn khai thác dù rừng đã đến tuổi. Nay xu thế đã khác, ai có nhiều đất rừng, biết tính toán làm ăn thì sẽ có thu nhập cao hơn, hiệu quả kinh tế lâu dài hơn. Biết lợi ích của nghề trồng rừng, nhiều hộ trong thôn Nà Trào cũng tự bỏ kinh phí để mở đường vào rừng trồng của gia đình quản lý...
Kinh tế rừng ngày một phát triển, trên địa bàn huyện Chợ Mới hiện có 40 cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản có giấy phép hoạt động- trong đó có 12 cơ sở là tổ chức, 28 cơ sở sản xuất là hộ gia đình. Nghề trồng, khai thác, chế biến gỗ rừng trồng đã và đang đem lại cho người dân công ăn việc làm và thu nhập ổn định để từng bước thoát nghèo bền vững.
Trong khi vẫn còn một số doanh nghiệp chậm trễ thu mua gỗ rừng trồng theo thỏa thuận với dân vì lý do không có đường vận chuyển, thì việc huy động sức dân và nguồn lực của doanh nghiệp để mở rộng mạng lưới đường lâm nghiệp của huyện Chợ Mới rất cần được các địa phương, doanh nghiệp tham khảo, khuyến khích nhân rộng. (Báo Bắc Kạn 9/1) đầu trang(
Từng là người lính vào sinh ra tử nơi chiến trường, đến khi bị địch bắt tù đày ra Phú Quốc, ông vẫn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng.
Khi trở về quê hương sinh sống, phát huy tinh thần anh bộ đội Cụ Hồ, người lính ấy lại tiếp tục cùng với các cựu chiến binh tích cực trồng rừng, giữ màu xanh nơi cửa biển. Ông là Nguyễn Huy Du trú tại xã Nghi Quang, huyện Nghi Lộc.
Từ hàng chục năm nay, người dân ở xã Nghi Quang đều biết đến ông Du với những cái tên rất trìu mến, cảm phục như: “ông trồng rừng”, “ông bưu tá”, “ông Công an xã”… Bởi những việc làm của ông không chỉ để lại ấn tượng tốt đẹp cho người dân mà hơn hết, đó là tinh thần của một người thương binh trở về với cuộc sống đời thường luôn hết mình vì việc làng, việc xã.
Năm 1967, tròn 20 tuổi, Nguyễn Huy Du lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Được biên chế vào C2, D4, E320, ông hành quân theo đường Trường Sơn rồi tham gia chiến đấu khắp các chiến trường từ Quảng Trị, Tây Nguyên cho đến tận đồng bằng miền Đông và Tây Nam Bộ.
Ở mặt trận nào, ông Du cũng được đồng đội ghi nhận với tinh thần gan dạ, dũng cảm trong chiến đấu. Trong trận càn của địch vào chiều 20/6/1971 tại ấp 3, xã Phước Dân, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, ông Du bị địch bắt.
Mặc dù bị thương rất nặng nhưng với tinh thần kiên trung của người chiến sĩ cách mạng, cơ quan tình báo CIA của Hoa Kỳ đặt tại Sài Gòn lúc bấy giờ vẫn không thể khai thác được thông tin gì từ ông. Bởi vậy, một thời gian sau, chúng đưa ông ra Phú Quốc để giam giữ. Trong chiến lao tù khổ ải, bị tra tấn đến “thập tử nhất sinh”, ông Du vẫn một lòng trung thành với Đảng, với cách mạng.
Sau khi Hiệp định Pari được ký kết về việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, đến tháng 3/1973, ông Du được trả tự do cùng với các chiến sĩ cách mạng bị bắt, tù đày trước đó tại phía Bắc sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị.
Lúc này, ông được chuyển về Đoàn 125, Quân khu Tả Ngạn đóng tại Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Sau khi vết thương bình phục, cuối năm 1973, ông lại tiếp tục được đơn vị giao nhiệm vụ huấn luyện tân binh tại Quân khu Tả Ngạn để bổ sung cho chiến trường miền Nam. Đến năm 1976, sau khi đất nước thống nhất, Bắc - Nam sum họp một nhà, ông được đơn vị cho phục viên, trở về quê sinh sống với gia đình.
Trở về quê hương sau ngày đất nước giải phóng, với ngổn ngang hoang tàn sau chiến tranh, người lính năm xưa lại gắng gượng, đứng lên gây dựng cuộc sống. Vừa xây dựng kinh tế riêng cho gia đình, thương binh Nguyễn Huy Du vừa tích cực tham gia phong trào đoàn thể địa phương. Đến những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, khi Nhà nước có chủ trương khuyến khích trồng rừng sinh thái, ông đã cùng các cựu chiến binh trong xã mạnh dạn nhận gần 50 ha khu vực đầm lầy ngập mặn nơi cửa biển để cải tạo hoang hóa, phủ xanh đất trống.
Thấy việc ra sức vận đồng bà con trồng sú, đước ở vùng đất ngập mặn mà kinh tế lại không thu về được gì, ai cũng ái ngại. Thế nhưng, với cái nhìn về tương lai, nếu mình không làm thì môi trường sống ở đây sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, bằng uy tín và ý chí của người lính từng vào sinh ra tử, ông Du đã biến ý tưởng của mình thành hiện thực. Đến giờ, sau hơn 20 năm, cánh rừng ngập mặn mà người thương binh Nguyễn Huy Du đã bỏ công, bỏ sức cùng với các cựu chiến binh ngày đêm ra sức chăm sóc, bảo vệ năm nào, nay đã xanh tốt.
Việc trồng rừng và giữ rừng của ông Du không chỉ giữ cân bằng sinh thái mà còn có tác dụng chống sự xâm thực của biển vào đất liền. Đến xã Nghi Quang ngày này, ai cũng cảm nhận được sự bình yên nơi cửa biển ngút ngàn màu xanh với những đàn chim, cò về trú đậu. Dẫn tham quan cánh rừng mà mình gây dựng được, ông Du bảo nếu ngày trước, mình có suy nghĩ vì cái lợi trước mắt thì làm sao có khung cảnh như bây giờ.
Không chỉ được người dân biết đến với tên gọi trìu mến là “ông trồng rừng”, ở xã Nghi Quang, người thương binh Nguyễn Huy Du còn được mọi người cảm phục với vai trò là Công an xã. Hàng chục năm nay, với chức trách là thành viên của Ban Công an xã Nghi Quang, ông Du được xem là người có uy tín trong việc giải quyết các mâu thuẫn, xích mích trong địa phương.
Bất cứ lúc nào, hễ ở đâu xảy ra tình trạng mất đoàn kết, ảnh hưởng đến ANTT, ông luôn là người xông xáo và giải quyết công việc một cách hiệu quả. Từ việc nhỏ đến việc lớn liên quan đến ANTT, bằng cách khuyên giải, vận động, sự xuất hiện của ông đã góp phần gìn giữ bình yên cho cuộc sống của người dân.
Đến bây giờ, khi các con đã trưởng thành, yên bề gia thất, dù tuổi đã ngoài 60 nhưng người dân vẫn chưa cho ông “nghỉ hưu”. Hiện nay, ngoài vai trò là Công an xã, ông Du còn được giao đảm nhiệm trọng trách Phó Chủ tịch Hội nạn nhân chất độc da cam xã kiêm Phó huyện Hội chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, tù đày. (Công An Nghệ An 11/1) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
102 lâm tặc người Trung Quốc đã bị quân đội Myanmar bắt giữ vì tội khai thác gỗ trái phép và buôn lậu nguồn tài nguyên của địa phương, tờ Thời báo Hoàn câu của Bắc Kinh đưa tin ngày 8-1.
Tổng cộng có 102 người Trung Quốc và 20 người Myanmar đã bị bắt vào đàu tháng 1, cùng với hơn 470 xe các loại để chở gỗ và cần trục. Thời điểm cụ thể chua được xác định.
Sáu gói thuốc phiện, một số lượng lớn ma túy tổng hợp và 12.000 nhân dân tệ được tìm thấy tại các trang trại trong khu vực khai thác gỗ. Ngoài ra, còn có một giấy phép khai thác gỗ có chữ ký của một quan chức Quân đội Độc lập Kachin.
Quân đội độc lập Kachin là một lực lượng quân dân nổi dậy đấu tranh đòi tự trị ở phía bắc vùng Kachin thuộc Myanmar. Chính phủ đã cấm việc xuất khẩu gỗ vào tháng 4-2014 để ngăn chặn việc phá rừng và giảm bớt sự dựa dẫm thái quá của đất nước vào xuất khẩu gỗ. Theo Sở lâm nghiệp, Myanmar sẽ cắt giảm lượng gỗ khai thác trong năm tài chính 2014-2015 xuống 40% so với năm 2010-2011.
Hoạt động khai thác gỗ sẽ được cắt giảm ở Homalin ở phía tây bắc và khu vực Tanintharyi ở phía nam đất nước. Bên cạnh đó, việc khai thác gỗ cũng bị cấm ở vùng cực bắc của Kachin.
Theo phương tiện truyền thông địa phương, quân đội Myanmar bắt đầu có những hành động chống lại việc buôn lậu ngọc bích ở vùng Kachin hồi năm ngoái.
Đây là nơi những kẻ buôn lậu địa phương và Trung Quốc buôn bán ngọc bích và các mặt hàng khác gần biên giới Trung Quốc. Theo đó, quân đội Myanmar phát hiện ra các hoạt động khai thác gỗ trái phép và bắt tay vào điều tra những người có trách nhiệm ở khu vực miền núi trong 3 ngày từ 2-4/2015.
“Khai thác gỗ trái phép vẫn tiếp diễn ở phía bắc bất chấp sự ngăn cấm xuất khẩu gỗ của chính quyền hồi tháng Tư năm ngoái”, một kiểm lâm Myanmar cho biết. “Các hoạt động quân sự được tiến hành bởi vì khu vực này đã bị phần lớn các lực lượng nổi dậy khống chế và không thể nào liên lạc được với cán bộ lâm nghiệp”. (Pháp luật TP.HCM 10/1) đầu trang(
Chính phủ Lào cùng giới chức hai tỉnh Xayabouly và Luong Prabang đang phối hợp với Trung tâm bảo tồn voi lên kế hoạch tổ chức đoàn Caravan Voi để kỷ niệm 20 năm Luong Prabang được công nhận là Di sản Thế giới.
Dựa trên những thành công của các lễ hội voi trước đây như Caravan Voi năm 2010 và các lễ hội voi được tổ chức từ năm 2007-2012, hành trình của đoàn Caravan Voi lần này sẽ kéo dài 630 km, bắt đầu từ huyện Paklai của tỉnh Xayabouly tới Luong Prabang.
Theo Trung tâm bảo tồn voi, đoàn Caravan Voi sẽ diễu hành từ ngày 30/11-17/12, đi dọc theo tỉnh Xayabouly, nơi được coi là “nôi văn hóa Voi của Lào” và có tới 75% số lượng voi của Lào đang sinh sống.
Với sự góp mặt của nhiều nghệ sỹ sân khấu, Caravan Voi hứa hẹn sẽ trở thành một cuộc trình diễn lưu động của các loại hình văn hóa đa dạng. Ngoài ra, đoàn cũng sẽ tổ chức biểu diễn voi tại Luong Prabang từ ngày 7-10/12.
Hiện tại, Trung tâm bảo tồn voi đang tìm kiếm các đối tác hợp tác tổ chức sự kiện nhằm đưa Caravan Voi và các buổi trình diễn trở thành một trong những sự kiện văn hóa lớn nhất tại Lào trong năm 2015. Mục tiêu của dự án là nhằm nâng cao nhận thức của người dân Lào cũng như cộng đồng quốc tế về những mối đe dọa đối với loài voi châu Á.
Dù được mệnh danh là "Đất nước Triệu Voi" nhưng ở Lào hiện chỉ còn khoảng 900 cá thể. Nếu không được bảo vệ và ngăn chặn nguy cơ bị giết hại, loài động vật có vú trên cạn lớn nhất thế giới này sẽ hoàn toàn biến mất ở Lào trong 50 năm tới. (VietnamPlus 9/1) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng