Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 11 tháng 09 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Báo Năng lượng Mới số ra ngày 16-11-2014 đăng bài “Chuyện lạ về lô gỗ trắc 553m3: Tòa chưa xử đã đem... bán?” phản ánh vụ án liên quan tới thương vụ xuất khẩu hơn 500m3 gỗ trắc từng gây chấn động dư luận khi khiến một người chết để lại di thư kêu oan, nhiều người vướng vòng lao lý trong đó có cả 3 cán bộ hải quan. Đây cũng là vụ việc hi hữu khi ngay trong ngành, “hải quan khiếu nại hải quan” về những quan điểm không thống nhất còn hai Cơ quan Cảnh sát điều tra C44 và C46 lại đưa ra hai phán quyết trái ngược nhau, người bảo có tội, kẻ bảo không.
Tại “Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung” số 11/2014/HSST-QĐ cho Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao (KSND TC). Quyết định do chủ tọa phiên tòa là bà Nguyễn Thị Cảnh, Phó chánh tòa Hình sự Tòa án Nhân dân TP Đà Nẵng ký nêu rõ 15 vấn đều yêu cầu Viện KSND TC điều tra bổ sung, làm rõ. Trong đó, nổi lên nhiều vấn đề như: Việc giám định không đúng thẩm quyền, kết quả giám định có sự mâu thuẫn, yêu cầu giám định hình ảnh nhiều dấu búa của kiểm lâm Lào trên lô gỗ để xác định nguồn gốc lô hàng, làm rõ mức độ trách nhiệm của các bị cáo...
Theo đại diện doanh nghiệp và Luật sư Nguyễn Xuân Bính (Hà Nội) thì còn nhiều vấn đề thuộc về bản chất của vụ án chưa được làm sáng tỏ, kết luận rõ ràng. Trong đó, nổi lên vấn đề xác định nguồn gốc lô hàng. Theo ông Trương Huy Liệu, Giám đốc Công ty Ngọc Hưng thì ngay nhiều hồ sơ, tài liệu của vụ án đã thể hiện rõ lô hàng có nguồn gốc tại Lào. Cụ thể: Ngay trong 2 bản kết luận điều tra và bản cáo trạng của Viện KSND TC đều có nhiều nội dung khẳng định điều này.
Theo quy định hiện hành, gỗ tạm nhập tái xuất từ các nước vào Việt Nam (trừ Campuchia), cũng như gỗ xuất khẩu có nguồn gốc từ nhập khẩu không thuộc danh mục cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu; khi nhập khẩu, tạm nhập tái xuất doanh nghiệp làm thủ tục tại cơ quan hải quan, không phải xin giấy phép của Bộ Công Thương. Theo chính kết luận của cơ quan điều tra, doanh nghiệp đã nộp thuế theo quy định, đã chuyển số tiền 3.246.503.317 đồng đến tài khoản của Chi cục Hải quan cửa khẩu Lao Bảo. Do đó, lô gỗ của Công ty Ngọc Hưng không thuộc danh mục hàng hóa Nhà nước cấm nhập khẩu, cấm xuất khẩu.
Vê nguồn gốc lô hàng, yêu cầu của tòa án đề nghị điều tra bổ sung làm rõ các vấn đề liên quan tới đối tác bên Lào, giám định hình ảnh dấu búa trên lô hàng chính là căn cứ quan trọng minh chứng nguồn gốc lô hàng.
Thế nhưng, cơ quan chức năng đã bỏ sót các chi tiết quan trọng này, cho rằng đó là những vấn đề “không quan trọng, không làm thay đổi bản chất vụ án”. Trong khi đó, việc giám định dấu búa cần được hỗ trợ tư pháp từ phía Lào để xác minh đó là dấu búa kiểm lâm Lào thì lại không được thực hiện, chỉ trưng cầu các cơ quan trong nước, dẫn đến kết luận chung chung: “Không rõ dấu búa kiểm lâm của nước nào?”.
Về cáo buộc trốn thuế, ông Trương Huy Liệu trình bày: “Công ty Ngọc Hưng đã căn cứ hợp đồng kinh tế số 35/2011/HĐKT để lập tờ khai hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu dẫn đến khai sai tên hàng là gỗ trắc cam bốt nhưng thực tế khi giám định là gỗ trắc cẩm lai nam và không khai 21,506m3 gỗ giáng hương trong tổng số 535,800m3 gỗ thực nhập, thực xuất (Công ty Ngọc Hưng hợp đồng mua của Nhà máy Chế biến gỗ nội thất Lào là 535,800m3 gỗ trắc).
Tuy nhiên, việc khai sai tên hàng và không khai đó không những không dẫn đến thiếu, mà còn thừa số tiền thuế mà công ty phải nộp cho Nhà nước (Công ty Ngọc Hưng đã nộp thuế GTGT cho toàn bộ lô hàng theo trị giá tính thuế là gỗ Trắc, mà gỗ trắc thì có trị giá tính thuế cao hơn gỗ giáng hương!).
Vậy mà, trong bản kết luận điều tra bổ sung mới đây, cơ quan chức năng vẫn viện dẫn, cho rằng Công ty Ngọc Hưng không khai báo, gây ra số thuế xuất khẩu không khai báo là hơn 3,456 tỉ đồng. Điều này là không đúng thực tế, gây oan sai cho doanh nghiệp và dân đến hiểu sai bản chất vụ án.
Mặt khác, tại chính bản kết luận điều tra bổ sung ngày 13-3-2015, tại trang 33 chỉ viện dẫn hành vi khai báo không đúng chủng loại, số lượng gỗ của Công ty Ngọc Hưng là vi phạm khoản 2, Điều 23, Luật Hải quan và Điều 2, Thông tư số 93/2010/TTBTC ngày 28-6-2010 hướng dẫn việc xác định các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài chính là hành vi buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả. Theo đó, những vi phạm trên càng chỉ dừng ở mức xử phạt hành chính, khõng thấy có căn cứ vi phạm hành vi buôn lậu đến mức xử lý hình sự.
Đối chiếu các văn bản pháp quy thì đều thấy lô hàng không thuộc đối tượng bán đấu giá khi vụ án đang trong giai đoạn điều tra chưa được đình chỉ là vi phạm nghiêm trọng Bộ luật Tố tụng Hình sự. Cách giải thích hiện nay cũng không đúng với bản Kết luận điều tra số 13/KLĐT-C44 (P4) ngày 15-10-2013, ghi: Thực hiện kết luận tại cuộc họp lãnh đạo liên ngành tư pháp Trung ương ngày 24-9-2013 tại Bộ Công an, C44, Bộ Công an chuyển toàn bộ lô gỗ là vật chứng theo hồ sơ vụ án để các cơ quan tiến hành tố tụng tiếp theo xử lý theo thẩm quyền.
Sau khi xét xử và bản án có hiệu lực pháp luật, C44, Bộ Công an đề nghị chuyển lô gỗ (vật chứng) trên cho Chính phủ Lào theo hình thức viện trợ không hoàn lại vì quan hệ đặc biệt giữa hai nước Việt Nam và Lào. Chính trong bản kết luận này, C44 cũng thể hiện rõ quan điểm chưa bán đấu giá lô hàng.
Mặc dù trong kết luận gửi tòa án, cơ quan chức năng xác định lô gỗ được bán với giá hơn 63,61 tỉ đồng, cao hơn giá Công ty Ngọc Hưng bán cho đối tác gấp đôi nhưng chính lãnh đạo Công ty Ngọc Hưng lại cho rằng, thời điểm nó bị mang bán đấu giá, theo doanh nghiệp, giá trị lô gỗ phải lên tới hơn 300 tỉ đồng. Riêng việc này đã gây thất thoát cho Nhà nước và doanh nghiệp hàng trăm tỉ đồng.
Ông Nguyễn Duy Giảng, Vụ trưởng Vụ 1 Viện KSND TC cho biết, cũng đã nhận được đơn thư kêu oan của công dân đối với vụ án. Đại diện cơ quan Dân nguyện của Quốc hội cũng đã làm việc với Viện KSND TC để làm rõ nội dung đơn thư của công dân, báo cáo Chủ tịch Quốc hội.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Duy Giảng đã không trả lời lý do việc điều tra bổ sung bị chậm trễ 8 tháng so với quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Còn theo ông Trương Huy Liệu, mặc dù công văn của Ban Dân nguyện ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Viện KSND TC giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật, trả lời ông Liệu và thông báo kết quả giải quyết để báo cáo Chủ tịch Quốc hội song đến nay, ông Liệu vẫn chưa được trả lời đơn thư. (Năng Lượng Mới 8/9) đầu trang(
Theo nghiên cúu của nhóm Chuyên gia tư vấn, hỗ trợ Giám sát tối cao của QH về quản lý đất nông, lâm trường, mặc dù tình trạng lấn chiếm, phá rừng tại tỉnh Lâm Đồng diễn ra từ lâu, nhưng cơ quan quản lý địa phương dường như chưa có giải pháp ngăn chặn, xử lý. Thậm chí, có công ty lâm nghiệp còn kêu khó, chỉ vì lý do "lâm tặc chặt phá rừng hoạt động liều lĩnh, có vũ khí và sẵn sàng chống trả quyết liệt"...
Từ nhiều năm nay, tình hạng phá rừng, khai thác lâm sản trái phép ở Lâm Đồng "nóng" nhất là khu vực xã Tam Bố (huyện Di Linh) do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tam Hiệp quản lý. Ông Trần Anh Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tam Hiệp (huyện Di Linh), cho biết hiện nay đơn vị quản lý 26.624 ha đất rừng, trong đó rừng phòng hộ 855 ha; rừng tự nhiên sản xuất 22.632 ha; còn lại là các loại đất lâm nghiệp khác.
Tính đến nay, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tam Hiệp đã giao khoán bảo vệ 10.000 ha cho các hộ dân, thế nhưng tình trạng phá rừng, khai thác gỗ trái phép vẫn diễn ra thường xuyên.
Theo ông Trần Anh Tuấn, tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép trên địa bàn chủ yếu tập trung từ tiểu khu 678; 677 thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tam Hiệp (Di Linh) về xã Ninh Loan để tiêu thụ đã xảy ra nhiều năm. Ở khu vực giáp ranh này có tới bốn xưởng cưa, là nơi tiếp tay tiêu thụ gỗ trái phép. Thế nhưng, vì họ ở ngoài địa bàn của công ty, nên công ty không thể ngăn chặn được.
Ghi nhận của chúng tôi tại địa bàn xã Tam Bố một khu vực "nóng" về tranh chấp đất đai, phá rừng, vào những ngày cuối tháng 8-2015 cũng cho thấy, các khu rừng rộng lớn đã bị đốn hạ hết cây, nay chỉ còn lại từng quả đồi trông đỏ quạnh. Để khai thác gỗ trái phép, các đôi tượng phá rừng thường tổ chức thành từng nhóm, theo đường mòn từ huyện Đức Trọng thâm nhập vào các tiểu khu có gỗ quý. Ngoài hoạt động có tổ chức, các nhóm này còn trang bị nhiều phương tiện chuyên dụng và loại xe được cải tiến gọi là xe "độ" rất đặc biệt để chở gỗ ra khỏi rừng.
Chia sẻ về vai trò của đơn vị mình trong việc quản lý, bảo vệ rừng, ông Trần Anh Tuấn cho biết: "Do quản lý một phần diện tích lớn, lực lượng kiểm lâm mỏng, đường đi lại khó khăn, trong khi nhu cầu về gỗ ngày càng lớn đã khiến tình trạng khai thác gỗ ngày càng phức tạp, khó kiểm soát. Cũng phải thừa nhận, việc bắt giữ lâm sản trái phép là rất khó, bởi lâm tặc manh động lắm, bên người chúng khi nào cũng có mã tấu và sẵn sàng chống trả khi gặp phải sự can thiệp của lực lượng chức năng...".
Trong khi đó, ông KBrel, Chi hội trưởng Nông dân thôn 4, xã Tam Bô) cho biết: "Cả xã có 150 hộ nhận khoán bảo vệ rừng cho công ty, với diện tích khoảng 3.000 ha. Tiền công bảo vệ rừng 200.000 đồng/ha/năm. Bình quân mỗi hộ 20 ha, tính ra tiền công một năm chỉ khoảng bốn triệu đổng. Tiền công bảo vệ rừng thấp, rừng lại ở xa nên rất khó bảo vệ. Như nhà mình, nhận khoán bảo vệ 30 ha rừng, được trả năm - sáu triệu đồng mỗi năm. Dù mỗi tháng chỉ đi rừng có vài lần, nhưng mỗi lần đi cũng mất 50.000 đồng tiền xăng xe máy rồi. Với lại, mình cũng không thể đi hết được rừng, mà chỉ đến đầu bìa rừng nơi mình nhận khoán bảo vệ rồi về thôi "
Ông KBrel còn cho biết, những năm qua, tình trạng chặt phá rừng ở khu rừng ông quản lý diễn ra rất nhiều, không thể biết hết được...
Từ góc độ địa phương, ông Đào Văn Vị, Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch UBND xã Tam Bố (huyện Di Linh), cho biết cả xã này hiện có 27.690 ha rừng, trong đó 25.000 ha thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tam Hiệp quản lý. Toàn xã Tam Bố có 1.700 hộ với gần 7.000 khẩu, trong đó dân tộc Cơ Ho chiếm 42%. Đồng bào ở đây nhà nào cũng đông con nên tình trạng thiếu đất sản xuất rất phổ biến. Cũng vì thế, nhiều hộ đã lấn chiếm đất rừng để làm rẫy, chủ yếu là trồng cà-phê. Thậm chí, có trường hợp còn lấn chiếm đất rồi chuyển nhượng theo kiểu "trao tay" cho người ở nơi khác đến trồng cà-phê. (Thời Nay 10/9)đầu trang(
Trước tình hình “sốt” giá đất, từ đầu năm 2015 đến nay, trên địa bàn huyện Phú Quốc, ngành chức năng đã phát hiện 51 vụ chặt phá, lấn chiếm đất rừng; trong đó rừng đặc dụng xảy ra 6 vụ vi phạm (khai thác rừng), rừng phòng hộ xảy ra 45 vụ vi phạm (phá rừng, đốt rừng, lấn chiếm đất rừng và mua bán rừng trái phép)...
Tỉnh Kiên Giang đã thành lập đoàn kiểm tra, truy quét và xử lý vi phạm. Từ ngày 28.7 - 20.8, đoàn kiểm tra do Chi cục Kiểm lâm Kiên Giang chủ trì phối hợp với các lực lượng vũ trang đóng trên địa bàn huyện đã di dời 80 trụ rào, 247m dây kẽm gai, 4.934 cây các loại và tổ chức cưỡng chế 1 căn nhà, 29 chòi tạm tại khu vực Bãi Dài (xã Gành Dầu) thuộc rừng đặc dụng.
Còn đối với rừng phòng hộ đã di dời, hủy bỏ 174.170 cây trồng trái phép, 189 cây trụ rào bê tông; cưỡng chế, tháo dỡ 2 chòi tạm ra khỏi rừng. Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Phú Quốc tổ chức cày 1.500m đường ranh giới tiếp giáp giữa đất rừng và đất sản xuất của người dân tại thị trấn An Thới.
Chủ tịch UBND huyện Phú Quốc Đinh Khoa Toàn cho biết, trên địa bàn thị trấn An Thới tình trạng chặt phá, lấn chiếm đất rừng giảm hơn trước nhưng vẫn xảy ra, tập trung chủ yếu ở khu phố 4, 6. Cụ thể: Khu vực Bãi Khem có 20 vụ phá rừng (13 vụ chưa xác định đối tượng), khu vực Bãi Sao có 8 vụ chuyển nhượng đất rừng trái phép, núi Ra Đa có 3 vụ phá rừng nhưng chưa xác định đối tượng.
Những khu rừng bị sang bán trái phép, các ngành chức năng đang tiến hành di dời cây trồng, hàng rào, lán trại ra khỏi khu vực lấn chiếm. Vẫn theo ông Toàn, nguyên nhân chính do hiện giá đất ở Phú Quốc tăng gấp 3 - 4 lần. Nhiều nhà đầu tư ngoài tỉnh mua đất nhưng không tìm hiểu kỹ nguồn gốc đất nên mua cả đất rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, đất nhà nước quản lý. Một số đối tượng lén lút phát dọn, sau đó sang bán trái phép đất lâm nghiệp cho nhà đầu tư với giá thấp; một số người dân từ đất liền ra đảo lén lút vào rừng phát dọn trồng cây và cất nhà ở…
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang Mai Anh Nhịn cho rằng, tình hình chặt phá, lấn chiếm đất rừng tại Phú Quốc hiện đã tạm lắng, song còn diễn biến phức tạp. UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở NNPTNT, chính quyền huyện Phú Quốc tập trung tuyên truyền Luật đất đai, Luật Bảo vệ rừng... đến người dân, người mua bán đất rừng; đẩy mạnh hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý chặt phá rừng từ nay đến cuối năm 2015. UBND tỉnh Kiên Giang cũng chỉ đạo Công an tỉnh tăng cường lực lượng hỗ trợ huyện Phú Quốc xử lý tình trạng chặt phá rừng, lập chuyên án theo dõi “cò” mua bán đất… (Lao Động 11/9) đầu trang(
Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế vừa mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự đối với các bị cáo: Trần Thỏa (48 tuổi), Nguyễn Cường (34 tuổi), Nguyễn Mạnh Cường (37 tuổi), Huỳnh Quang Anh (33 tuổi), Nguyễn Văn Toán (29 tuổi) và Phạm Công (35 tuổi), đều trú tại xã Lộc Hòa, huyện Phú Lộc về tội "Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng".
Theo cáo trạng, ngày 11-3-2015, các đối tượng trên đã vào khoảnh 9, tiểu khu 222 rừng đặc dụng Vườn Quốc gia Bạch Mã, thuộc địa phận xã Xuân Lộc, huyện Phú Lộc để khai thác trái phép cây gỗ chò chỉ có khối lượng 11,7m3, giá trị tài sản được xác định hơn 70 triệu đồng.
Trong lúc các đối tượng đang khai thác thì bị lực lượng Kiểm lâm Vườn Quốc gia Bạch Mã đi tuần tra phát hiện và bắt giữ. Riêng Phạm Công và Nguyễn Cường bỏ chạy, sau đó 2 đối tượng đã đến hạt Kiểm lâm của Vườn Quốc gia Bạch Mã đầu thú.
Qua xem xét tính chất phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và nhân thân các bị cáo, Hội đồng xét xử tuyên phạt: Trần Thỏa 6 tháng tù, Nguyễn Cường và Nguyễn Mạnh Cường 5 tháng tù giam, Huỳnh Quang Anh 4 tháng tù cho hưởng án treo, Nguyễn Văn Toán và Phạm Công 3 tháng tù cho hưởng án treo. (ANTV 11/9) đầu trang(
Vào năm 1944 tại bon Bu Mrăng, xã Quảng Trực (Tuy Đức) đã xảy ra một vụ kiện của đồng bào M’nông liên quan đến con voi thật là thú vị. Vì đây là vụ kiện được chủ làng phân xử đúng mức theo qui định luật tục.
Ông Điểu Ntông có một cái rẫy cách xa làng đến 5 cây số. Vào tháng lúa bắt đầu trổ bông, vợ chồng ông và các con cái phải ra rẫy ngủ để bảo vệ lúa khỏi bị thú rừng phá hoại.
Một đêm, vào lúc giữa khuya, khi đang ngủ, bỗng ông Ntông nghe thấy tiếng lục lạc của voi. Ông thức dậy ra khỏi chòi, đêm sáng trăng nên nhìn thấy rõ con voi đực hai ngà đang vào trong rẫy của ông để ăn lúa. Lúc đầu, ông định cùng cây để đánh xua đuổi con voi đi ra khỏi rẫy lúa. Ông đuổi con voi không chịu đi mà ngược lại nó còn làm hung rượt đuổi lại ông.
Ông nghĩ, nếu để voi tha hồ ăn thì rẫy lúa sẽ tan hoang. Bí quá, ông vào chòi lấy ná bắn một mũi tên trúng vào đùi con voi. Dính tên, con vọi bị đau mới chịu rời khỏi đám rẫy. Tuy nhiên, rẫy lúa cũng bị voi giày xéo, hư hại rất nhiều.
Xót của, sáng hôm sau, ông Ntông đuổi theo vết chân con voi để đi tìm chủ voi bắt đền. Về đến làng hỏi han thì biết đêm qua có một vài người khách đi đường ghé xin ngủ nhờ qua đêm ở một hộ trong làng. Các vị khách đó có cưỡi theo một con voi đực. Ông Ntông liền đến nhà có các vị khách ngủ để nói chuyện với họ về việc lúa rẫy của mình bị voi của khách ăn và đề nghị với chủ nhà xin can thiệp, giải quyết, bồi thường thiệt hại.
Nghe xong, chủ nhà hỏi khách đêm qua trước khi ngủ cột voi thế nào, voi có bị xảy không. Lúc đó, khách ra chỗ cột voi thì mới biết là đêm qua con voi đã bị đứt dây xích đi mất. Sáng hôm đó, chủ voi cuống quýt đi tìm voi. Họ gặp con voi của mình ở giữa rừng. Chưa kịp mừng thì chủ voi thấy con voi của mình bị dính mũi tên vào đùi. Với đồng bào, một con voi bị ốm, bị thương hay bị chết thì rất kiêng kỵ.
Lúc đó, người chủ voi cũng chưa biết là chính con voi của mình đã vào rẫy ăn lúa của người khác. Người giữ voi đưa voi về và báo với chủ nhà là con voi của mình đã bị thương ở đùi bởi một mũi tên. Chắc bị đau nên con voi tung đứt dây xích bỏ chạy vào rừng. Chủ voi bắt đền chủ nhà, yêu cầu bồi thường và cúng cho con voi.
Chủ nhà lúng túng không biết giải quyết bằng cách nào bèn báo cáo vụ việc với chủ làng. Chủ làng cho mời các già làng và tất cả các chủ hộ trong bon họp lại để truy tìm ai là kẻ bắn voi của khách đi đường xin ngủ nhờ qua đêm trong bon mình. Con voi là tài sản quý, là việc hệ trọng nên ai nấy đều quan tâm, đến dự họp đông đủ.
Người trong làng nói rằng không ai bắn voi đang cột, trừ khi nó bị đứt dây, chạy lung tung, tấn công người khác. Chỉ có ông Ntông đang giữ rẫy, bị voi ăn lúa nên bắn một phát tên để xua đuổi voi. Chủ voi cho rằng voi của mình không vào rẫy, nó vị bắn tại nơi cột mà thôi. Voi bị đau nên mới bức tung dây xích chạy vào rừng.
Hơn nữa, chủ voi thấy voi của mình đang ăn trong rừng chứ có vào ăn lúa của ai đâu. Ông cũng nghĩ rằng con voi ăn lúa rẫy ông Ntông là con voi khác, quả quyết rằng voi mình không liên quan đến. Chủ voi còn nghi ngờ rằng, tại dân trong làng ác ý với ông nên rắp tâm muốn bắn chết con voi. Do đó, chủ voi cứ khăng khăng đòi chủ làng và các già làng giải quyết cho thật thỏa đáng vụ này.
Chủ làng mời chủ voi cùng các già làng đi đến tận rẫy bị voi ăn lúa để xác minh. Họ đến rẫy tiến hành đo dấu chân của voi và về so lại thì đúng bằng với kích cỡ chân voi của khách. Họ phải mất hết một ngày để tranh luận, hòa giải với nhau. Số người tham dự gồm chủ làng, chủ voi, các già làng và các chủ hộ trong bon.
Theo luật tục, nếu voi ăn lúa chủ rẫy không được bắn voi. Nếu bị thiệt hại thì chủ voi đền lại đủ với số lúa bị voi ăn và cúng cho rẫy lúa một con gà và một ché rượu. Trong trường hợp này, vì chủ rẫy đã bắn voi bị thương, do đó, voi ăn lúa, chủ voi không bị phạt đền. Ngược lại, người bắn voi phải cúng cho con voi một ché rượu, đền tượng trưng cho con voi một cái ché trị giá bằng một con lợn nái. Nếu người bắn voi không chịu cúng cho voi, sau này voi bị ốm, bị chết thì anh ta phải đền.
Vậy là, ông Ntông chẳng những đã mất lúa mà còn phải mang lợn to, rượu ché ra để làm lễ cúng cho voi, buộc phải đền cho chủ voi một cái ché palay reh trị giá bằng một con lợn nái. Bởi luật tục từ thời xa xưa của người M’nông qui định, nếu một con vật nuôi phá hại của cải, tài sản hoặc ăn hoa màu của bất cứ ai, thì chỉ bắt chủ vật nuôi bồi thường thiệt hại chứ không được phép bắn giết con vật. (Infonet 11/9) đầu trang(
Những loài động vật tưởng chừng có thể dễ dàng thuần hóa, nhưng đôi khi có những tai nạn khủng khiếp xảy ra mà không ai ngờ được.
Sáng 23-8-2015 vừa qua, khi đang đứng ngoài rào sắt cùng đoàn khách tham quan tại khu sinh thái Trại Bò (xã Diễn Lâm, Diễn Châu, Nghệ An), chị Trần Thị Yến (20 tuổi) bất ngờ bị một con hổ trắng với chân ra ngoài cửa chuồng lôi tay chị vào sát phía trong và dùng mồm ngoạm cắn.
Phát hiện sự việc trên, những người đi cùng vội chạy đến vừa dùng gậy ném vào con hổ vừa lôi chị Yến ra ngoài nhưng không được. Khoảng 1 phút sau, bị ném gậy vào mặt, con hổ mới chịu thả chị Yến ra nhưng lúc này cánh tay chị Yến đã bị cắt đứt rời quá khuỷu tay.
Vụ việc khiến người ta nhớ lại vụ việc một chú voi tại khu du lịch Đại Nam (Bình Dương) quật chết người nuôi thú đã huấn luyện mình nhiều năm. Sự việc xảy ra vào cuối năm 2013, trong lúc mang sơn vào sơn lại chuồng bất ngờ anh Đoàn Hữu Tài (28 tuổi, quê Vĩnh Long), nhân viên huấn luyện thú đã bị một con voi nặng khoảng hai tấn dùng vòi quật văng vào bể nước, chấn thương nặng dẫn đến tử vong.
Năm 2009, cũng tại khu du lịch này, một nhóm nhân viên vườn thú mang cây xanh vào sân chơi của cọp để trồng. Thấy cây cối xao động, một con cọp hoảng loạn phóng qua vách ngăn cao khoảng 3m, tấn công nhóm nhân viên trên. Hậu quả, anh Nguyễn Công Danh (47 tuổi) thiệt mạng.
Theo ông Nguyễn Vũ Khôi, Giám đốc Tổ chức Bảo vệ động vật hoang dã WAR, ở Việt Nam hiện chưa có trường lớp đào tạo những người chăm sóc, thuần hóa hay huấn luyện thú dữ. Hầu hết những người đang “sống” với thú dữ ở các vườn thú hiện nay học ngành thú y. Không ít người chăm sóc, huấn luyện thú chỉ bằng kinh nghiệm “học lõm” được.
Không chỉ du khách mới bị thú dữ bị nhốt trong chuồng bất ngờ tấn công, mà ngay cả những gia chủ nuôi chúng cũng ôm họa "nuôi ong tay áo". Để chứng tỏ “đẳng cấp”, sự sành điệu,... không ít người đã rước về cả những con thú chưa được thuần chủng, phớt lờ những nguy cơ đe dọa tính mạng của bản thân và người thân trong gia đình… và đã có không ít vụ thú dữ nuôi trong nhà tấn công chủ thê thảm.
Vụ tai nạn thương tâm bé trai 3 tuổi bị gấu nuôi cắn đứt lìa bàn tay ở căn biệt thự thuộc khu vực ấp Thới Tây 2, xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn TP.HCM vẫn còn gây chấn động dư luận. Ngày 11-1-2015, cháu bé con chủ căn biệt thự chơi một mình ở sân vườn trong khuôn viên nhà. Khi không ai để ý, cháu bé đã thò cánh tay phải vào lỗ thủng nhỏ tại chuồng đang nuôi gấu thì bị gấu cắn, kéo cánh tay vào phía trong lồng, rồi cắn đứt lìa bàn tay phải.
Đây không phải là lần đầu tiên người nhà (đa phần là trẻ em) bị gấu nuôi trong gia đình cắn. Hồi cuối tháng 4-2014, một bé trai 28 tháng tuổi ở Quảng Ninh từng bị gấu nuôi cắn lìa tay trái. Năm 2013, một bé trai 5 tuổi ở Phú Thọ cũng bị gấu nuôi nhà bác cắn đứt hai tay.
Hay mới đây nhất, vào chiều 8-7-2015, anh Nguyễn Tấn Đ. (43 tuổi, ngụ Long An) phát hiện con khỉ đang nuôi bị đứt dây nhởn nhơ leo trèo trong vườn nên đã dí tóm con khỉ. Tuy nhiên khi anh Đ. vừa tiếp xúc thì con khỉ này nổi điên ôm lấy ông chủ rồi nhai ngấu nghiến 2 bàn tay của ông. Ngoài ra, trước khi bung chạy, con khỉ còn cắn thêm một nhát vào bụng ông chủ.
Trước đó anh Hồ Phạm T. (24 tuổi, ngụ huyện Đức Trọng, Lâm Đồng) đã nhập viện trong tình trạng cổ tay trái bị khỉ cắn nát bấy, đứt động mạch và toàn bộ gân gấp cẳng tay. Theo anh T., anh nuôi con khỉ đuôi lợn này được 8 năm. Bình thường con khỉ rất hiền nhưng khi thấy anh thường xuyên ẵm một đứa cháu sơ sinh nên nó nổi cơn ghen và tấn công anh.
Tháng 4-2015 vừa qua, một bé gái tên Q., 4 tuổi, ngụ tỉnh Bình Phước cũng bị con khỉ của người cậu tặng cho cắn gây thương tích, nhiễm trùng nặng, phải nhập bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM) điều trị.
Không chỉ riêng các loại thú hoang dã mà cả các động vật đã thuần chủng qua nhiều thế hệ như chó, mèo cũng có thể tấn công người, nhất là trẻ em.
Công tác tại viện Nhi Đồng 1 TP.HCM hơn 20 năm qua, bác sĩ Nguyễn Văn Đẩu, Trưởng khoa Răng hàm mặt và phẫu thuật tạo hình từng chứng kiến nhiều ca bệnh nhi bị chó, mèo nuôi trong nhà cắn dẫn đến tổn thương nghiêm trọng, nhất là ở vùng đầu, mặt cổ, thậm chí đe dọa tính mạng. Mỗi năm tại khoa Răng – hàm – mặt cũng ghi nhận cả 30 trường hợp như vậy.
Về ảnh hưởng của thú dữ nuôi tại nhà đối với sức khỏe con người, các bác sĩ cho rằng, ngoài bị thương tổn thể xác khi bị chúng tấn công còn bị tổn thương nghiêm trọng cả về tinh thần, nhất là khi nạn nhân là trẻ em. Ngoài ra, còn nhiều nguy cơ về lây bệnh truyền nhiễm từ các con vật nuôi này.
Để hạn chế những tai nạn đáng tiếc, một chuyên mua bán các loại thú nuôi tại TP.HCM khuyên mọi người không nên nuôi các loại thú dữ hoặc có nọc độc tại nhà, nhất là những gia đình có trẻ con. Trong trường hợp muốn nuôi vì một lý do nào đó, gia chủ cần tìm hiểu thật rõ về đặc tính của con vật, đồng thời có những biện pháp đảm bảo an toàn tuyệt đối, tránh sự tiếp xúc quá gần với con người.
Bên cạnh đó, để thú giảm bớt tính hung dữ, người nuôi cần đặt chúng ở nơi rộng rãi, thoáng mát, yên tĩnh, tránh trêu chọc chúng. Với những hộ có trẻ em không nên nuôi các loại thú dữ hoặc có nọc độc tại nhà.
Theo thạc sỹ Nguyễn Khương - Bộ NN&PTNT, các loài động vật hoang dã như hổ, gấu, khỉ, vượn… và một số loài bò sát vốn sống trong môi trường hoang dã tự nhiên nên khi bị bắt, nuôi nhốt trong không gian chật chội, sự hung dữ và nguy hiểm của chúng sẽ tăng lên. Ngay cả với loài chó nhà, nếu bị nhốt, xích, bỏ đói thường xuyên, khi bị kích động chúng rất dễ tấn công con người.
Để hạn chế những tai nạn đáng tiếc có thể xảy ra, tránh tình trạng nuôi thú dữ trong các gia đình phát triển đến mức khó kiểm soát, các cơ quan chức năng cần sớm có giải pháp cụ thể về vấn đề này, siết chặt các quy định về nuôi, nhốt động vật, đặc biệt là động vật hoang dã, đồng thời giám sát chặt chẽ những địa điểm đã được cấp phép, xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân nuôi thú dữ khi chưa đủ điều kiện… (Công An TPHCM 11/8) đầu trang(
Khu sinh thái Mường Thanh, nơi xảy ra vụ việc hổ vồ đứt cánh tay nữ du khách, hiện sở hữu khá nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm.
Khu sinh thái Mường Thanh đang nuôi 20 hổ vàng - một loài thú họ mèo cực quý hiếm có tên khoa học là Panthera tigris. Theo ước tính, trên thế giới chỉ còn khoảng 5.000 - 7.000 cá thể hổ hoang dã, trong đó có khoảng 200 ở Việt Nam. Loài hổ ở Việt Nam đang bị đe dọa tuyệt chủng do nạn săn bắn để lấy da, xương, hay các bộ phận khác. Bên cạnh hổ vàng, khu sinh thái Mường Thanh cũng nuôi 10 hổ trắng - một dạng biến dị màu lông hiếm gặp của loài hổ.
Đây cũng là thủ phạm vụ hổ vồ đứt cánh tay nữ du khách khiến dư luận xôn xao xảy ra tại khu sinh thái này. Một loài thuộc họ mèo khác có mặt tại khu sinh thái Mường Thanh là sư tử (Panthera leo). Sư tử hoang dã hiện sinh sống ở vùng châu Phi hạ Sahara và Ấn Độ, là loài sắp nguy cấp do phần lớn các quần thể đang suy giảm số lượng.
Tê giác trắng (Ceratotherium simum) cũng là một loài thú đáng chú ý của khu du lịch sinh thái Mường Thanh. Có nguồn gốc ở Đông Bắc và miền Nam châu Phi, đây là một trong năm loài tê giác còn tồn tại. Chúng đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên do nạn săn bắn để lấy sừng. Khu sinh thái Mường Thanh hiện là nơi cư trú của hai chú voi châu Á (Elephas maximus). Nặng từ 3-5 tấn, đây là loài động vật trên cạn lớn thứ hai thế giới (chỉ sau voi châu Phi).
Loài voi này còn rất ít ở châu Á và đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam. Một gã khổng lồ khác có mặt ở khu sinh thái là hà mã (Hippopotamus amphibius) với số lượng hai cá thể. Là một loài động vật có vú ăn cỏ lớn sống ở châu Phi cận Sahara, chúng nặng từ 1,5 - 3 tấn. Loài hà mã đang bị đe dọa bởi việc mất đi môi trường sống và sự săn trộm để lấy thịt và những răng nanh bằng ngà.
Bò tót (Bos gaurus) là loài động vật móng guốc sinh sống chủ yếu ở vùng đồi của Ấn Độ và Đông Nam Á, được thừa nhận là loài bò rừng lớn nhất trong tự nhiên. Đây cũng là loài động vật rất quý hiếm với số lượng chỉ còn khoảng 300 con tại Việt Nam. Khu sinh thái Mường Thanh đang nuôi hai cá thể loài này. Bên cạnh các loài động vật kể trên, khu sinh thái Mường Thanh còn nuôi nhiều loài móng guốc quý hiếm có xuất xứ châu Phi, như ngựa vằn. Linh dương sừng xoắn. Linh dương đầu bò. Linh dương sừng kiếm.
Khu sinh thái Mường Thanh đang nuôi 20 hổ vàng - một loài thú họ mèo cực quý hiếm có tên khoa học là Panthera tigris. Theo ước tính, trên thế giới chỉ còn khoảng 5.000 - 7.000 cá thể hổ hoang dã, trong đó có khoảng 200 ở Việt Nam. Loài hổ ở Việt Nam đang bị đe dọa tuyệt chủng do nạn săn bắn để lấy da, xương, hay các bộ phận khác.
Bên cạnh hổ vàng, khu sinh thái Mường Thanh cũng nuôi 10 hổ trắng - một dạng biến dị màu lông hiếm gặp của loài hổ. Đây cũng là thủ phạm vụ hổ vồ đứt cánh tay nữ du khách khiến dư luận xôn xao xảy ra tại khu sinh thái này.
Một loài thuộc họ mèo khác có mặt tại khu sinh thái Mường Thanh là sư tử (Panthera leo). Sư tử hoang dã hiện sinh sống ở vùng châu Phi hạ Sahara và Ấn Độ, là loài sắp nguy cấp do phần lớn các quần thể đang suy giảm số lượng.
Tê giác trắng (Ceratotherium simum) cũng là một loài thú đáng chú ý củakhu du lịch sinh thái Mường Thanh. Có nguồn gốc ở Đông Bắc và miền Nam châu Phi, đây là một trong năm loài tê giác còn tồn tại. Chúng đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên do nạn săn bắn để lấy sừng.
Khu sinh thái Mường Thanh hiện là nơi cư trú của hai chú voi châu Á (Elephas maximus). Nặng từ 3-5 tấn, đây là loài động vật trên cạn lớn thứ hai thế giới (chỉ sau voi châu Phi). Loài voi này còn rất ít ở châu Á và đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam.
Một gã khổng lồ khác có mặt ở khu sinh thái là hà mã (Hippopotamus amphibius) với số lượng hai cá thể. Là một loài động vật có vú ăn cỏ lớn sống ở châu Phi cận Sahara, chúng nặng từ 1,5 - 3 tấn. Loài hà mã đang bị đe dọa bởi việc mất đi môi trường sống và sự săn trộm để lấy thịt và những răng nanh bằng ngà.
Bò tót (Bos gaurus) là loài động vật móng guốc sinh sống chủ yếu ở vùng đồi của Ấn Độ và Đông Nam Á, được thừa nhận là loài bò rừng lớn nhất trong tự nhiên. Đây cũng là loài động vật rất quý hiếm với số lượng chỉ còn khoảng 300 con tại Việt Nam. Khu sinh thái Mường Thanh đang nuôi hai cá thể loài này.
Bên cạnh các loài động vật kể trên, khu sinh thái Mường Thanh còn nuôi nhiều loài móng guốc quý hiếm có xuất xứ châu Phi, như ngựa vằn. (Kiến Thức 11/9) đầu trang(
Ông Nguyễn Thanh Sinh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện An Lão (Bình Định) cho biết tình trạng phá rừng để trồng keo lá tràm đang diễn ra rất phức tạp tại địa phương, nhiều khu rừng đã bị chặt phá nhưng lực lượng kiểm lâm chưa thống kê được.
Theo ghi nhận của PV Báo Thanh Niên, chỉ cần đi trên các tuyến đường liên huyện, liên xã trên địa bàn huyện An Lão cũng có thể nhìn thấy nhiều cánh rừng trên các đỉnh núi bị chặt phá. Từ thị trấn An Lão cho đến các xã An Toàn, An Nghĩa, An Vinh, An Dũng, An Hưng, An Trung, An Hòa... đều xảy ra phá rừng.
Mỗi sáng vẫn có hàng chục người đi thành từng nhóm, di chuyển bằng những chiếc xe máy độ chế, chở theo dụng cụ lên đến các đỉnh núi ở tiểu khu 34 và tiểu khu 44 thuộc địa bàn xã An Hòa để chặt phá rừng. Đặc biệt, rừng đầu nguồn tại các khu vực hồ Hưng Long, hồ Hóc Tranh (xã An Hòa), hồ Sông Vố (thị trấn An Lão), hồ Nước Trong (xã An Trung)... cũng dần bị đốn hạ.
Một người dân ở xã An Hòa cho biết những người tham gia chặt phá rừng tại địa phương không chỉ dùng rựa phát như trước đây mà còn dùng máy cắt cỏ để chặt phá những cậy bụi nhỏ và dùng máy cưa lốc để chưa những cây gỗ lớn. Với những loại máy móc này, chỉ cần một buổi sáng là một người có thể phát được 1 ha rừng. Nhiều cánh rừng nhìn bên ngoài còn nguyên vẹn nhưng bên trong đã bị chặt phá, trồng keo lá tràm dần dần. Người dân còn cho rằng một số người nhà của cán bộ địa phương đã tổ chức thuê nhiều người phá rừng để trồng keo lá tràm nhưng không bị các cơ quan chức năng xử lý.
Giữa tháng 8 vừa qua, nhiều người dân huyện An Lão đã gửi đơn đến UBND tỉnh Bình Định tố cáo các cơ quan chức năng thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý khiến rừng tại địa phương bị tàn phá nghiêm trọng. Ngay sau đó, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định đã có văn bản yêu cầu Sở NN-PTNT tỉnh phối hợp với UBND huyện An Lão kiểm tra, xử lý vụ việc này.
Theo ông Nguyễn Thanh Sinh, từ đầu năm 2015, khi nghe thông tin UBND tỉnh Bình Định có văn bản phân cấp lại 3 loại rừng thì nhiều người bắt đầu vào rừng chặt phá cây tự nhiên nhằm xí phần để trồng keo lá tràm. Hạt Kiểm lâm huyện An Lão đã phối hợp với các cơ quan chức năng phát hiện 142 điểm phá rừng trái phép với tổng diện tích rừng bị thiệt hại hơn 39,7 ha. Nhiều trường hợp đã bị bắt quả tang, xác định được người phá rừng nên Hạt Kiểm lâm huyện An Lão đã tiến hành xử lý theo pháp luật.
Trên địa bàn huyện An Lão có 3 đơn vị chịu trách nhiệm bảo vệ rừng với tư cách là chủ rừng, gồm: Ban quản lý rừng đặc dụng An Toàn (thuộc Sở NN-PTNT), Ban quản lý rừng phòng hộ An Lão (thuộc UBND huyện An Lão) và UBND các xã, thị trấn quản lý các rừng sản xuất được giao.
Hạt Kiểm lâm huyện An Lão có trách nhiệm quản lý chung, tham mưu, xây dựng chương trình công tác quản lý, bảo vệ rừng... Tuy nhiên, việc bảo vệ rừng tại huyện An Lão còn nhiều khó khăn do lực lượng kiểm lâm địa bàn mỏng trong khi người phá rừng thì nhiều. Tình trạng mở đường lâm nghiệp trái phép chưa được xử lý dứt điểm, đường mở đến đâu thì nạn phá rừng xảy ra ở đó.
“Tình trạng phá rừng diễn ra hiện nay có trách nhiệm của cán bộ, công chức, đặc biệt là lực lượng kiểm lâm địa bàn không hoàn thành được nhiệm vụ tham mưu cho chính quyền địa phương xử lý quyết liệt các trường hợp phá rừng. Chính quyền một số xã, thị trấn lại chưa làm tốt công tác quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp được giao. Còn các đơn vị chủ rừng cũng chưa có giải pháp ngăn chặn hiệu quả tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất, khai thác, vận chuyển lâm sản trên địa bàn được giao quản lý”, ông Sinh nói.
Ông Nguyễn Thanh Sinh: Chúng tôi sẽ xử lý theo pháp luật nếu phát hiện được người phá rừng. Người dân tố cáo người này người kia phá rừng nhưng lại không cung cấp chứng cứ, chúng tôi mai phục cũng không bắt được quả tang thì làm sao mà xử lý? Thậm chí, có trường hợp bắt quả tang nhưng chúng tôi mời nhiều lần họ cũng không thèm đến, việc xử lý những người này rất khó vì chúng tôi không có quyền như công an. (Tiền Phong 11/9) đầu trang(
Theo Cục Hải quan Lạng Sơn, tình hình vi phạm pháp luật trong mua bán, vận chuyển trái phép động, thực vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm (động vật hoang dã) qua biên giới thuộc địa bàn tỉnh Lạng Sơn diễn ra phức tạp, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, manh động. Trong khi đó, công tác phòng ngừa, đấu tranh còn gặp nhiều khó khăn.
Theo Cục Hải quan Lạng Sơn, công tác phòng ngừa, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật về mua bán, vận chuyển trái phép động vật hoang dã qua biên giới trên địa bàn hoạt động hải quan thời gian qua đã đạt được kết quả bước đầu. Tuy nhiên, công tác này còn gặp nhiều khó khăn bởi địa bàn rộng; công tác phối hợp trao đổi thông tin còn hạn chế; chế tài chưa đủ sức răn đe và đặc biệt việc nhận dạng, kiểm định để xác định nguồn gốc sản phẩm gặp nhiều khó khăn.
Trong khi đó, thủ đoạn phạm tội và vi phạm ngày càng tinh vi, liều lĩnh, manh động. Thông thường, các đối tượng lợi dụng việc gây nuôi, việc cấp giấy của CITES đối với nhóm IIB để kết hợp vận chuyển, kinh doanh động vật hoang dã nhóm IB hoặc nhóm IIB có giá trị kinh tế cao. Đây là một thách thức rất lớn trong công tác đấu tranh với loại tội phạm này.
Để công tác đấu tranh đạt hiệu quả, ông Nông Văn Vịnh, Phó Cục trưởng Cục Hải quan Lạng Sơn cho biết, đơn vị thường xuyên chỉ đạo các đơn vị thuộc và trực thuộc nghiên cứu, tổ chức, phối hợp với địa phương, ban ngành, lực lượng chức năng trong công tác đấu tranh, phòng, chống buôn bán, vận chuyển trái phép động vật hoang dã qua biên giới.
Từ những nỗ lực này, Hải quan Lạng Sơn đã đạt được những kết quả bước đầu. Từ đầu năm đến nay, Chi cục Hải quan Cốc Nam đã bắt giữ 2 vụ buôn bán ngà voi thô và sản phẩm chế tác từ ngà voi với tổng trọng lượng là 15,5kg.
Tuy nhiên, ông Nông Văn Vịnh cho rằng, để thực hiện công tác này thời gian qua, đơn vị còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Điển hình, địa bàn hoạt động Hải quan Lạng Sơn rộng, địa hình rừng núi hiểm trở, nhiều đường mòn, lối mở, các đối tượng thường lợi dụng đặc điểm địa lý này để lén lút vận chuyển trái phép động vật hoang dã sang Trung Quốc tiêu thụ. Bên cạnh đó, việc nhận dạng, kiểm định để xác định nguồn gốc đối với sản phẩm động vật hoang dã còn gặp nhiều khó khăn…
Đời sống của nhân dân trên địa bàn khu vực biên giới còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, trình độ hiểu biết các quy định về quản lý các sản phẩm này còn hạn chế, vì lợi ích trước mắt, một số ít người dân đã trực tiếp tham gia hoặc tiếp tay cho hành vi mua bán, vận chuyển một số loài động vật hoang dã qua biên giới để kiếm lời.
Ông Nông Văn Vịnh nhấn mạnh, công tác phối hợp trao đổi cung cấp thông tin, đấu tranh, phòng chống buôn bán, vận chuyển trái phép hàng hóa này của các lực lượng chức năng như Hải quan, Kiểm lâm, Quản lý thị trường, Công an, Biên phòng còn hạn chế. Chế tài xử phạt các hành vi vi phạm này còn thấp, chưa đủ sức răn đe.
Do vậy, để công tác này đạt hiệu quả cao hơn nữa, theo ông Nông Văn Vịnh, thời gian tới các cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền về việc cấp giấy phép đối với hoạt động gây nuôi các loài động vật hoang dã, cần thường xuyên quản lý, kiểm tra chặt chẽ để tránh tạo sơ hở cho các đối tượng lợi dụng hợp pháp hóa nguồn gốc các loài đã được mua gom trái phép để kinh doanh mua bán, vận chuyển trái phép qua biên giới.
Đồng thời, thường xuyên tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, nhân dân chấp hành các quy định của pháp luật trong công tác bảo vệ động vật hoang dã; Tuyên truyền kết quả về công tác phát hiện, bắt giữ, xử lý của các lực lượng chức năng để răn đe, phòng ngừa, khuyến khích người dân tham gia phát hiện tố giác kịp thời các vi phạm; Có chính sách phù hợp nhằm nâng cao mức sống của người dân để động vật hoang dã không phải là nguồn thực phẩm, lợi nhuận quan trọng trong đời sống.
Theo Cục Hải quan Lạng Sơn, cần thường xuyên tổ chức các khóa tập huấn cho cán bộ, công chức trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi buôn bán, vận chuyển trái phép mặt hàng này; Tăng cường công tác quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và chính quyền các cấp trong việc bảo vệ, bảo tồn động vật hoang dã... (Hải Quan 11/9) đầu trang(
Cho rằng nhiều loại tửu dược ngâm các loài động vật, côn trùng có tính năng “cải thiện” khả năng chốn phòng the, nhiều quý ông đã tìm mọi cách để săn lùng bằng được.
Theo ghi nhận của PV thì chỉ một đoạn chưa đến 5km trên đường Giải Phóng (Hà Nội) đã có tới gần chục người rao bán tắc kè, bìm bịp, ong đất... Phần lớn những người bán rong hàng này chất lên đằng sau chiếc xe máy hoặc xe đạp cà tang đống “đồ nghề” lỉnh kỉnh gồm thùng gỗ, túi lưới, lồng sắt chứa đủ loại như bìm bịp, tắc kè, ong, rắn... túc tắc đi mà chẳng cần cất tiếng rao.
Để tìm hiểu về giá cả và những kỹ nghệ quảng cáo sản phẩm của những người này, PV tiến tới chỗ một thanh niên có treo biển bán các mặt hàng này phía trước xe. Thấy tôi ngắm nghía, anh ta dừng lại đon đả chào mời: “Mua gì em trai? Bò cạp 1 con 5.000 đồng, tắc kè 120.000 đồng, bìm bịp 300.000 đồng...”. Khi PV hỏi cách làm và tác dụng của loại rượu ngâm mấy loại động vật này, anh này nói một tràng: “Mấy con này đều có công dụng bổ thận, tráng dương, ngâm rượu trị bệnh nhức mỏi, thư giãn gân cốt phái mạnh, phải nói là hết ý. Hàng của anh không phải tự nuôi mà toàn “đồ rừng” từ Lào Cai, Yên Bái,... về đấy”.
Gã nói thêm: “Vì bìm bịp, tắc kè, rắn hay tê tê là những loài vốn bị quản lý nên bọn anh chỉ treo biển hoặc chỉ nhốt vài con nhỏ vào lồng làm mẫu thôi. Nếu khách có nhu cầu mua với số lượng lớn, chỉ một cú điện thoại là mọi yêu cầu được đáp ứng, từ côn trùng, bò sát còn tươi roi rói cho đến những loại “đặc sản” như rượu rắn, bìm bịp, tắc kè, ong đất...”.
Rời đường Giải Phóng, PV tiếp tục tìm hiểu thị trường rượu ngâm động vật hoang dã ở đoạn đường Nguyễn Trãi, Phạm Văn Đồng hay trên tuyến đường 32... đều cho thấy khách hàng rất dễ mua những loại rượu được gán cho công dụng có khả năng “phục dương”, “cường dương” thậm chí chữa vô sinh!?
Gặp một người bán rong loại mặt hàng này tên là Bình (người Nam Định) trên tuyến đường 32. Anh Bình cho biết có thâm niên làm nghề này gần 10 năm. Anh không chỉ rao bán rong mà có khả năng ngâm trực tiếp các loại rượu này tùy theo yêu cầu của khách hàng. Khi PV hỏi về rượu ngâm bìm bịp, anh Bình nói: “Bìm bịp và rắn rừng luôn là hai loại bán “chạy” nhất.
Giới mê tửu dược thường quan niệm bìm bịp là “số 1” vì tính năng bổ thận, tráng dương... do loài chim này thường sống chung với rắn độc, nên xương thịt nó có thêm dược tính của rắn. Còn rắn thường được ngâm theo bộ gồm tam xà (3 con), ngũ xà (5 con) đến cửu xà (9 con).
Anh Bình chia sẻ thêm: “Mua bán những loại rượu ngâm này dễ đụng phải hàng giả lắm. Thậm chí dù là làm trực tiếp cho khách hàng bằng những động vật còn sống cũng chưa chắc là thật. Ví như ngâm bìm bịp, nếu ngâm hũ 5 con mà toàn là con... cái hoặc bìm bịp nhốt chuồng thì ngâm cũng bằng không bởi cặp rượu bìm bịp phải có một con đực và không phải ai cũng nhận dạng được bìm bịp đực với bìm bịp cái, bởi giá 1 con bìm bịp đực bằng giá 4 con bìm bịp cái cộng lại.
Thông qua khảo sát thực tế, PV cũng phát hiện ra một điều, thị trường mua bán rượu ngâm động vật hoang dã hoặc những cá thể sống không chỉ nhộn nhịp trên thị trường bán rong, mà mạng internet cũng trở thành một kênh tiếp thị hữu hiệu những “hàng độc”. Hiện có vô số trang web rao bán. Tất cả đều ghi rõ mức giá, địa chỉ, số điện thoại liên hệ với những lời quảng cáo ấn tượng về công dụng của những loại “thần dược” trên như: Rượu “ông uống bà khen”, “chuyên bán buôn, bán lẻ rắn rừng”, “uy tín - chất lượng - phục vụ tận nơi”...
Bên cạnh đó, kèm theo là hình ảnh bắt mắt của những hũ rượu “hảo hạng” ngâm các loài kể trên. Thậm chí, có cả một số loài ghi trong sách đỏ như rắn hổ cũng được rao bán theo khối lượng ở mức từ 600 đến 1 triệu đồng/kg.
Tuy nhiên, khi tìm hiểu thực tế về tác dụng của những loại rượu này tới sức khỏe người dùng, thực sự đã gây sốc. Nhà sinh vật học Nguyễn Hải Nhiên, trung tâm Nghiên cứu và bảo tồn động vật hoang dã Quốc gia phân tích: “Hầu hết rắn, tắc kè là các loài kiếm ăn đêm, trừ rắn hổ mang (thường, chúa) chúng kiếm ăn cả ngày lẫn đêm. Nơi sống của chúng là những nơi hang hốc, ẩm thấp, đặc biệt thích các vùng nghĩa địa, mồ mả rậm rạp cây cỏ và tối tăm, ít người qua lại.
Rắn, tắc kè là các loài ăn thịt sống và thức ăn sống thường là những con bị bệnh, yếu sức khỏe khiến chúng không thể tự vệ và bị tấn công. Trong cơ thể của các loài này chứa rất nhiều các loài virus, mang mầm bệnh. Các loài hút máu ký sinh như tận, tệp, ve chó... bám ký sinh đầy ắp dưới các lớp vảy thành nhiều lớp (nhất là các loài rắn hổ). Nếu có cơ hội xem mổ rắn ra làm thịt hay ngâm rượu hãy để ý trên thành ruột, thành bao tử chúng là hàng trăm búi sán bám ký sinh, nhiều con còn chui ra ngoài ruột.
Bìm bịp là loài chim ăn thịt cũng vậy. Khi ngâm chỉ rửa sơ bằng rượu, không vặt lông, cứ cho tất vào bình. Nếu đem các lỗ chân lông bìm bịp soi trên kính hiển vi thì chắc không một ai dám uống rượu ngâm bìm bịp, rắn, tắc kè...”.
Cũng liên quan đến vấn đề này, lương y Trần Bá Thuận, hội Đông y Việt Nam cho biết: “Trên thực tế có những bài thuốc rượu gia truyền rất tốt cho sức khoẻ, có tác dụng bổ thận, thần kinh, tăng cường sinh lực, giúp khí huyết lưu thông, mạnh gân cốt, chống phong tê thấp... Tuy nhiên, với các loại rượu ngâm bò cạp, mối chúa, rắn, tắc kè cùng những thứ khác, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào khẳng định là thuốc chữa bệnh.
Nó trở thành “thần dược” chủ yếu qua lời đồn đại là chính. Về lâu dài, rượu còn làm giảm sự sản xuất testosterone, hormome sinh dục nam, gây tổn thương thần kinh, xơ hóa hoạt động cương dương, dẫn đến bất lực, giảm hưng phấn. Đó là lý do khiến nhiều quý ông mặc dù uống rượu bổ dương nhưng vẫn bị... liệt dương.
Bên cạnh đó, rượu là một loại thuốc vừa có lợi, vừa có hại. Vì vậy, mỗi ngày bạn chỉ nên uống tối đa là 20ml, uống vào buổi tối là tốt nhất, không nên uống rượu thuốc vào buổi sáng vì lúc này đàn ông có dương khí cao, nếu uống vào sẽ khiến dương khí bị tản, lặp lại nhiều lần sẽ làm cho người chóng già, sinh bệnh.
Theo ghi nhận từ phòng Tổng hợp trung tâm Chống độc bệnh viện Bạch Mai, mỗi năm bệnh viện tiếp nhận 10-15 trường hợp ngộ độc nặng có nguyên do từ việc uống các loại rượu ngâm tẩm từ rễ, lá cây, các loài động vật, côn trùng, bò sát.
Một số bệnh nhân nhập viện trong tình trạng mất kiểm soát, rối loạn hành vi; ngộ độc nặng rơi vào trạng thái hôn mê sâu, suy hô hấp, trụy mạch, với những biến chứng nguy hiểm như hạ đường huyết, nhiễm toan, rối loạn nước điện giải, thậm chí tử vong... Có những trường hợp dù được cứu sống nhưng để lại những di chứng nặng nề như suy gan, tổn thương thần kinh vĩnh viễn... (Báo Thái Nguyên 10/9) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa giao Bộ Công an chủ trì, phối hợp với UBND tỉnh Đắk Nông và các cơ quan chức năng kiểm tra xác minh, làm rõ vấn đề phản ánh trên Báo Lao động qua bài viết "9.000 ha rừng đầu nguồn tan hoang vì doanh nghiệp tắc trách".
Trước đó, ngày 9.9.2015 Báo Lao động có bài viết "9.000 ha rừng đầu nguồn tan hoang vì DN tắc trách", phản ánh hàng trăm ha rừng đầu nguồn gần thị xã Gia Nghĩa (tỉnh Đắk Nông) đã bị chặt phá, bao chiếm trái phép trong vài tháng gần đây, nâng tổng diện tích rừng do Cty TNHH MTV lâm nghiệp Gia Nghĩa quản lý bị “cạo trọc” lên tới 9.000ha.
Tình hình nghiêm trọng đến mức, lãnh đạo tỉnh Đắk Nông phải huy động cả Thanh tra Nhà nước, công an, kiểm lâm vào cuộc để điều tra, ngăn chặn và xử lý trách nhiệm của đơn vị chủ rừng.
Về vấn đề trên, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Công an chủ trì, phối hợp với UBND tỉnh Đắk Nông và các cơ quan chức năng kiểm tra xác minh, làm rõ, có biện pháp xử lý theo quy định, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 9 này. (Lao Động 10/9; Vietnam + 10/9) đầu trang(
Hiếm nơi nào có được rừng dẻ tự nhiên ngót trăm năm như các xã vùng sâu, vùng xa huyện Lục Nam (Bắc Giang).
Ngoài mang lại nguồn thu cho hàng trăm hộ dân, rừng còn tạo nguồn sinh thủy dồi dào, là “lá phổi xanh” bảo vệ cuộc sống bà con nơi đây.
Cùng cán bộ xã Trường Sơn, chúng tôi đến Điếm Rén-thôn có hơn 50 ha rừng dẻ xanh ngút ngàn nối tiếp nhau khiến không khí nơi đây thật trong lành, mát mẻ xua tan cái nắng nóng oi bức của những ngày cuối tháng 8. Thời điểm này, dẻ đang có quả non, khoảng nửa tháng nữa sẽ cho thu hoạch. Vì vậy, bà con trong vùng tranh thủ lúc rảnh rỗi phát quang thực bì, dọn lá khô để đón mùa quả mới. Dưới tán rừng, những cây dẻ non màu xanh lá mạ mọc tua tủa do hạt dẻ rụng còn sót lại từ vụ trước.
Ông Nguyễn Bá Dũng, người dân trong thôn nhận chăm sóc, bảo vệ rừng dẻ đến nay đã được hơn 30 năm. Thân cây lớn có đường kính khoảng 30 cm, cây nhỏ từ 15-20 cm. Theo kinh nghiệm của ông Dũng, năm nay dẻ được mùa. Dự kiến gia đình ông thu được khoảng 30 triệu đồng từ hạt dẻ.
Đông nhân lực nên gia đình ông Nguyễn Tiến Đạt (cùng thôn) mấy năm gần đây thu được 40 triệu đồng từ hơn 2 ha dẻ. Dẻ chín không tập trung nên phải thu hoạch thủ công. Ông Đạt nói: “Năm ngoái, có ngày cả nhà vào rừng nhặt được 50 kg hạt. Công việc không nặng nhọc, người già, trẻ nhỏ đều làm được, chỉ phải tốn công, tỉ mỉ sàng sảy loại bỏ tạp chất cho sạch sẽ”.
Mùa dẻ chín kéo dài từ tháng 8 đến hết tháng 10 âm lịch. Vào mùa, từ sáng sớm, nhà nhà trong thôn mang cơm nắm lên rừng quét, nhặt hạt, xế chiều lại đồng loạt xuống núi. Sản phẩm được thương nhân ở Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh thu mua tại chỗ, có đến đâu bán hết đến đó. Đầu vụ, giá 50 nghìn đồng/kg, giữa vụ 25-30 nghìn đồng/kg. Ông Nguyễn Văn Hưng, Phó Chủ tịch UBND xã Trường Sơn cho biết: “Với diện tích hơn 160 ha, mỗi năm thu từ hạt dẻ toàn xã đạt hơn 2 tỷ đồng. Nhờ vậy nhiều gia đình có của ăn, của để”.
Cùng với Trường Sơn, xã Nghĩa Phương, Lục Sơn, Huyền Sơn, Bình Sơn và Vô Tranh, người dân cũng có nguồn thu đáng kể từ rừng dẻ. Theo Phòng Nông nghiệp và PTNT Lục Nam, toàn huyện hiện có gần 1,5 nghìn ha dẻ. Năm nay, sản lượng hạt ước đạt hơn 1.000 tấn, người dân thu khoảng 20 tỷ đồng.
Coi rừng dẻ là vốn quý, tài sản hiếm nơi nào có được, UBND huyện Lục Nam chỉ đạo giữ diện tích rừng dẻ hiện có, đồng thời tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ rừng tự nhiên, cử cán bộ chuyên môn thường xuyên bám sát cơ sở, nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng người dân để có hướng giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh liên quan. UBND huyện trích ngân sách hỗ trợ cán bộ lâm nghiệp tại các xã trồng dẻ 500 nghìn đồng/ người/ tháng. Sau nhiều năm thực hiện đồng bộ các biện pháp, đến nay không còn tình trạng vén rừng dẻ chuyển sang cây trồng khác như trước đây.
Ông Đặng Văn Thành, cán bộ lâm nghiệp xã Nghĩa Phương nói: “Cây dẻ là món quà vô giá mà thế hệ trước để lại cho con cháu. Nhiều hộ thu được hàng chục triệu đồng mỗi năm mà không mất công sức và vốn đầu tư. Ngoài thu nhập, người dân còn có củi đun, được tận hưởng không khí trong lành nên chúng tôi luôn nỗ lực bảo vệ rừng”.
Để nâng cao giá trị hạt dẻ, từng bước đưa sản phẩm vào siêu thị, mang lại nguồn thu ổn định, năm 2014 UBND huyện Lục Nam triển khai dự án xây dựng thương hiệu dẻ Lục Nam. Dự kiến giấy chứng nhận bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa sẽ được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) trao trong tháng 11 năm nay.
Cùng với các biện pháp trên, UBND huyện đang lập quy hoạch vùng dẻ đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 gồm 6 xã: Lục Sơn, Bình Sơn, Trường Sơn, Vô Tranh, Nghĩa Phương, Huyền Sơn. Đây là những xã có diện tích dẻ lấy hạt lớn và ổn định; quỹ đất để phát triển cây dẻ còn nhiều.
Theo kế hoạch, huyện sẽ chỉ đạo tập trung cải thiện chất lượng gần 1,5 nghìn ha rừng hiện có bằng cách điều chỉnh mật độ, đầu tư chăm sóc, bảo vệ; trồng mới gần 200 ha; thí điểm một số sản phẩm chế biến từ hạt dẻ phục vụ người tiêu dùng. Bên cạnh đó, Trung tâm Giống cây ăn quả, cây lâm nghiệp (Sở Nông nghiệp và PTNT) cũng thực hiện đề tài nghiên cứu, bảo tồn giống dẻ tỉnh Bắc Giang nhằm tìm ra bộ giống trội cho quả liên tục. Từ đó nhân giống, nâng cao năng suất, chất lượng dẻ. (Infonet 10/9) đầu trang(
Hằng ngày trên những cánh đồng lúa sau khi đã thu hoạch xong, người dân ở nhiều vùng quê như huyện Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu… (Nghệ An) lại mang “đồ nghề” ra đồng để bẫy chim, cò đem bán.
Trước mối nguy cơ tân diệt triệt để như hiện nay, không biết đến mai sau còn đâu hình ảnh “con cò bay lả bay la”.
Có mặt ở một chợ thuộc huyện Diễn Châu vào sáng sớm, hình ảnh chúng tôi được tận mắt chứng kiến sao mà thấy đau xót đến vậy. Những chú cò, chim cuốc, sáo, sẻ, chích… vừa mới dính bẫy, đang kêu lên thảm thiết bị mang ra chợ nhập cho người chủ thu mua.
Chị Nguyễn Thị Xoan, một người bán hàng cá ở chợ cho biết: “Cứ mùa gặt lúa xong là chim cò bị bẫy nhiều lắm, hôm nào ra chợ cũng thấy bày bán mặt hàng này ở đây cả. Có ngày phải đến hàng trăm con chứ không ít đâu chú ạ”.
Có lẽ đúng như lời chị Xoan vừa nói, chỉ tính sơ số chim cò mà người thương lái đứng thu mua được một lúc từ các tay săn cò trong vùng thì cũng đến 30 – 40 chục con chứ không ít. Thế mới biết số lượng các loài chim, cò bị tật diệt đến mức độ thế nào.
Anh Lê Văn Huy, một thợ bẫy cò trong vùng cho biết: “Vào mùa này các loại cò, cuốc, sao,... về các cánh đồng hay bãi bồi ven sông để kiếm ăn. Chính vì vậy mà người dân ở nhiều vùng đều tiến hành đặt bẫy chúng, công việc vừa đơn giản, bỏ ra ít kinh phí mà lại thu lại hiệu qủa kinh tế cao”.
Cũng theo anh Huy thì việc bẫy cò cũng rất đơn giản, chỉ cần cằm những thanh tre có phết một đầu phía trên là một loại keo dính và đầu kia cắm xuống đất, cứ thế có thợ cắm hàng trăm chiếc que như vậy, và ở đó có những chú cò giả bằng xốp và một vài con cò thật bị cột chân bằng một sợi dây dài để người săn giật giật làm mồi nhử chim thật bay xuống.
Khi thấy cò phía dưới đang đỗ thì đàn cò trên trời liền hạ cánh xuống là ngay tức thì chúng sẻ dính phải lớp nhựa trên que tre khiến thể thoát ra được. Và cũng có cách khác nữa đó là dùng lưới giăng sẵn, khi thấy đàn cò bay phía trên, người đặt bẫy liền giật dây để cho những chú cò thật kêu lên thất thanh, khi thấy đồng loại như vậy, đàn cò hễ bay xuống đậu là mắc lưới ngay tức thì.
Số lượng cò bẫy được nhiều hay ít còn tùy thuộc vào thời tiết, hôm nào có mưa bão hay trời động là những hôm bắt được nhiều có hơn. Cứ vậy có ngày một người thợ như anh bẫy được cả trăm con chứ không ít.
Với loại cò to thì 50.000 đồng/1 đôi, còn nhỏ hơn thì 30.000 đồng/ đôi, còn chim cuốc thì 20.000 đồng/đôi. Tính ra mỗi ngày những người thợ như anh Huy cũng kiếm được ít thì 500.000 – 1.000.000 đồng, còn có hôm thì nhiều hơn thế.
Những chú cò, cuốc bị bẫy liền đem ra chợ bán lại cho thương lái, sau đó thì bị vặt trụi lông trong khi chúng vẫn đang còn sống, chúng kêu thét lên vì đau đớn, với đôi mắt trợn tròng như muốn báo thù. Nhìn những chú chim cứ vậy bị vặt trụi, lông bay lên tứ tung, chúng dường như quá đau đớn khi bị con người sát hại đến như vậy.
Điều đặc biệt là khách đến mua cò cũng rất đông, người thì mua một đôi, có người mua một lúc cả chục con. Vì được khen là thịt thơm ngon và béo khiến cho nhu cầu của người mua cũng nhiều, khiến cho chúng càng bị tận diệt một trách triệt để, không kể là lớn hay bé.
Chị Lê Thị H., một thương lái thu mua cò ngay tại chợ cho hay: “Từ đầu mùa thu tới giờ, hôm nào cũng có chim, cò để bán cả, vậy mà hôm nào cũng bán hết hàng mặc dù cò hiện nay giá cả các loại chim cũng đắt hơn chứ không như các năm trước nữa”.
Không chỉ có ở chợ Diễn Châu mà ở chợ của huyện Yên Thành và Quỳnh Lưu cũng bày bán la liệt mặt hàng này. Có nơi những chú cò bị nướng vàng óng, đen thui mỡ cháy ra bóng lộn, lòng ruột bị lột sạch ra để bán riêng giống như bán gà, vịt. Thế mới biết một ngày có bao nhiêu số lượng loài chim đã bị tận diệt để làm thức ăn, làm mồi nhậu trong các nhà hàng, quán ăn.
Cứ vậy kẻ bán người mua mặc sức nâng lên hạ xuống trong tiếng kêu tuyệt vọng của những chú chim không bao giờ được dang đôi cánh để bay nữa.
Không biết với việc tận diệt chim trời một cách đáng báo động như hiện nay thì trong tương lai gần liệu có còn nghe thấy hình ảnh những chú cò trắng muốt dang rộng đôi cánh bay lượn trên không trung nữa không.
Ít nhiều sự săn bắt quá mức như hiện nay sẻ ảnh hưởng đến sự đa dạng của loại trong tự nhiên, và cùng với sự săn bắt cạn kiệt như hiện nay sẽ khiến cho sâu bọ hoành hành. Những chú cò liệu có còn “bay lả bay la, bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng”. (Công An TP.HCM 10/9) đầu trang(
UBND TP Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 4475/QĐ-UBND, xử phạt vi phạm hành chính hành vi vận chuyển trái pháp luật 464 thanh, tấm gỗ Bách xanh thuộc nhóm nguy cấp, quý hiếm bị lực lượng chức năng tạm giữ trên đường vận chuyển từ tỉnh Hòa Bình về thành phố Hà Nội.
Theo quyết định, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản đối với ông Trịnh Ngọc Quang (chủ hàng), sinh năm 1970, trú tại tiểu khu 13, thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình về hành vi vi phạm hành chính vận chuyển trái pháp luật 464 thanh, tấm gỗ Bách xanh (4,813 m3 gỗ Bách xanh xẻ, tương đương 7,7008 m3 gỗ Bách xanh quy tròn), thuộc nhóm nguy cấp, quý hiếm (nhóm IIA) bằng xe ô tô tải nhãn hiệu HuyunDai, biển kiểm soát số 29S - 1875, không có hồ sơ chứng minh nguồn gốc hợp pháp, bị lực lượng chức năng tạm giữ ngày 28/7/2015 trên đường từ tỉnh Hòa Bình về thành phố Hà Nội.
Cụ thể, phạt tiền 150.000.000 đồng về hành vi vi phạm hành chính vận chuyển trái pháp luật 464 thanh, tấm gỗ Bách xanh trên theo quy định tại điểm d, khoản 7, điều 22, Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ.
Ngoài ra, phạt bổ sung tịch thu toàn bộ 464 thanh, tấm gỗ Bách xanh, sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a, khoản 11, điều 22, Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ. Ông Trịnh Ngọc Quang chịu trách nhiệm nộp đủ số tiền phạt 150.000.000 đồng nêu trên, theo quy định.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm Hà Nội phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan tổ chức thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. (UBND TP.Hà Nội 9/9; Công An Nhân Dân 10/9) đầu trang(
Chính phủ vừa ban hành Nghị định về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 – 2020.
Đối tượng áp dụng Nghị định gồm:
1- Hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số, hộ gia đình người Kinh nghèo đang sinh sống ổn định tại các xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn (khu vực II và III) thuộc vùng dân tộc và miền núi theo tiêu chí Thủ tướng Chính phủ quy định, có thực hiện một trong các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng: bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên; trồng rừng, cây lâm sản ngoài gỗ trên đất quy hoạch phát triển rừng được Nhà nước giao đất; nhận khoán bảo vệ rừng.
2- Cộng đồng dân cư thôn được giao rừng theo quy định tại Điều 29 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và Điều 54 Luật Đất đai, tại các xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn (khu vực II và III) thuộc vùng dân tộc và miền núi theo tiêu chí Thủ tướng Chính phủ quy định, thực hiện bảo vệ rừng được giao hoặc rừng nhận khoán.
Hỗ trợ khoán bảo vệ rừng 400.000 đồng/ha/năm:
Theo Nghị định, đối tượng rừng khoán bảo vệ được hỗ trợ gồm: Diện tích rừng Nhà nước giao cho Ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ; rừng đặc dụng, rừng phòng hộ là rừng tự nhiên Nhà nước giao cho các công ty lâm nghiệp quản lý; riện tích rừng chưa giao, chưa cho thuê do UBND cấp xã quản lý.
Hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn nêu trên được hỗ trợ tiền khoán bảo vệ rừng là 400.000 đồng/ha/năm, hưởng lợi từ rừng và thực hiện trách nhiệm bảo vệ rừng theo quy định pháp luật hiện hành của Nhà nước với hạn mức diện tích rừng nhận khoán được hỗ trợ  tối đa là 30 ha một hộ gia đình.
Hộ gia đình thuộc đối tượng 1 nêu trên thực hiện bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng được giao có trồng bổ sung với rừng phòng hộ và rừng sản xuất là rừng tự nhiên được hỗ trợ bảo vệ rừng là 400.000 đồng/ha/năm; hỗ trợ trồng rừng bổ sung, mức hỗ trợ theo thiết kế - dự toán, tối đa không quá 1.600.000 đồng/ha/năm trong 3 năm đầu và 600.000 đồng/ha/năm cho 3 năm tiếp theo. Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
Hỗ trợ đến 10 triệu đồng trồng rừng sản xuất và phát triển lâm sản ngoài gỗ:
Nghị định cũng quy định rõ hỗ trợ trồng rừng sản xuất và phát triển lâm sản ngoài gỗ. Cụ thể, diện tích đất lâm nghiệp được quy hoạch phát triển rừng sản xuất đã giao ổn định, lâu dài cho hộ gia đình được hỗ trợ một lần cho chu kỳ đầu tiên để trồng rừng sản xuất bằng loài cây lấy gỗ, cây lâm sản ngoài gỗ.
Mức hỗ trợ từ 5-10 triệu đồng/ha để mua cây giống, phân bón và chi phí một phần nhân công bằng tiền đối với trồng cây lấy gỗ, cây lâm sản ngoài gỗ tùy theo chu kỳ kinh doanh của loài cây trồng theo thiết kế - dự toán. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ cụ thể phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và thiết kế - dự toán.
Hộ gia đình nghèo tham gia trồng rừng sản xuất và phát triển lâm sản ngoài gỗ, trồng rừng phòng hộ thì được trợ cấp 15 kg gạo/khẩu/tháng hoặc bằng tiền tương ứng với giá trị 15 kg gạo/khẩu/tháng tại thời điểm trợ cấp trong thời gian chưa tự túc được lương thực. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức và thời gian trợ cấp, nhưng tối đa không quá 7 năm.
Được vay đến 50 triệu đồng không có tài sản bảo đảm để chăn gia súc:
Căn cứ thiết kế - dự toán trồng rừng, ngoài số tiền được hỗ trợ quy định để trồng rừng sản xuất phát triển lâm sản ngoài gỗ, hộ gia đình được Ngân hàng Chính sách xã hội hoặc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho vay không có tài sản bảo đảm phần giá trị đầu tư còn lại tối đa là 15 triệu đồng/ha, lãi suất là 1,2%/năm. Thời hạn cho vay từ khi trồng đến khi khai thác chính theo chu kỳ kinh doanh của loài cây trồng nhưng không quá 20 năm.
Ngoài ra, hộ gia đình thuộc đối tượng 1 nêu trên được Ngân hàng Chính sách xã hội hoặc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cho vay không có tài sản bảo đảm để chăn nuôi trâu, bò, gia súc khác với hạn mức vay tối đa 50 triệu đồng, thời hạn cho vay tối đa 10 năm, lãi suất là 1,2%/năm. (Chính Phủ 10/9) đầu trang(
Để bảo vệ vườn sâm, cán bộ, công nhân Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đăk Tô nghĩ ra đủ cách săn chuột, biến chúng thành mồi nhậu khoái khẩu, chiêu đãi khách quý.
Từ đầu hạ đến cuối thu là mùa sâm Ngọc Linh trổ hoa, đậu quả dưới tán rừng nguyên sinh. Hoa sâm vàng nhạt, quả sâm chín đỏ, hạt sâm đen nhánh hấp thụ biết bao tinh khí, dưỡng chất của đất trời ở độ cao trên 1.900 m lại là... thức ăn của loại chuột tinh khôn sống trên đỉnh núi quanh năm mây vờn.
Chuyến công tác vào vườn sâm mới đây, chúng tôi thật “trúng mánh”  khi lên núi đúng vào mùa đồng bào Sê Đăng và công nhân lâm nghiệp săn bắt ... chuột. Lũ chuột đồng tầm thường vốn chỉ ăn ngô, khoai, đậu, lúa đã đủ thơm thịt, thì đám chuột “đại quý tộc” chỉ khoái ăn hoa, ăn quả, ăn hạt loại sâm đệ nhất hiếm quý, mà hiện nay trên 20 triệu đồng một ký củ tươi, lùng mua không ra, đủ biết ngon bổ tới cỡ nào!
Màn đêm buông xuống vườn sâm. Nguồn ánh sáng ở các bóng đèn từ máy phát thủy điện nhỏ mờ ảo trong màn sương mù dày đặc. Những chú chuột ban ngày chui nhủi trong các hốc cây hay hang ổ từ ngoài rừng đột nhập vào vườn sâm.
Bộ lông vàng óng màu cỏ cháy, cặp mắt lấm la lấm lét nhìn quanh vườn sâm, hễ thấy không có động tĩnh là những chú chuột nhẹ nhàng trèo lên cây sâm, đưa miệng nhấm nháp những quả sâm ngon lành.
Vì vậy, suốt gần bốn tháng sâm ra hoa, đậu quả, ban đêm cán bộ, nhân viên vườn sâm thay nhau thức trắng để rình bắt, tiêu diệt kẻ ăn trộm hạt sâm.
“Thế các anh ngủ khi nào?”, chúng tôi hỏi. “Ngủ bù một buổi vào ban ngày. Còn một buổi phải làm bẫy, hái lá thông, cắt các bao ni lông quấn quanh chùm quả sâm… để “ông Tí” khó lòng ăn quả”, anh Đinh - tổ trưởng tổ chuyên trách bảo vệ vườn sâm cho biết.
“Sáng kiến cột bao ni lông, lá thông quanh thân cây sâm có ngăn được "ông Tí" ăn trộm quả không?”. “Hạn chế thôi vì vẫn không ngăn được cái giống tinh ranh, hám ăn, cứng đầu cứng cổ. Còn nếu cột trùm bao ni lông kín chùm quả, quả dễ hư úng. Do vậy, chúng tôi phải sử dụng nhiều biện pháp kết hợp với dùng đèn pin công suất lớn soi rọi tìm “Lâm thử”, chuột rừng ăn trộm hạt sâm vào ban đêm. Khi phát hiện “ông Tí”, chúng tôi tổ chức vây bắt hoặc dùng súng bắn bi đặc chủng tiêu diệt” anh Thủy - bảo vệ vườn sâm kể.
Làm việc nhiều, nhưng các công nhân bảo vệ vườn sâm không một đòi hỏi. Lương A Đinh sau khi trừ bảo hiểm, bình quân một tháng chỉ 3 triệu đồng. “Cốt có tiền hỗ trợ thêm vợ con là vui lắm rồi” - anh Đinh cười.
Bắt được nhiều chuột, ngoài việc được thưởng tiền, các nhân viên bảo vệ vườn sâm người Sê Đăng lại có thêm món nhậu khoái khẩu. Anh Hoàng Văn Chất - Giám đốc Trung tâm Giống sâm Ngọc Linh (Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đăk Tô) cho đoàn công tác chúng tôi xem một sàng chuột cũ có, mới có mà các nhân viên vườn sâm chưa kịp làm thịt cùng với bó đuôi chuột khô được cột lại cẩn thận để báo công, nhận tiền bồi dưỡng.
Thực phẩm trong bữa ăn thường ngày của các nhân viên vườn sâm ngoài cá khô, rau rừng, còn có đặc sản chuột chiên vàng ươm mà các công nhân Sê Đăng vườn sâm rất ưa thích. Thấy đĩa chuột chiên thơm lừng mùi sả, tiêu rừng, mỗi con chỉ nhỉnh hơn đầu ngón chân cái chút xíu. Chúng tôi gắp thử. Quả là ngon thật! Loáng cái, đĩa chuột chiên hết vèo.
Ông Nguyễn Thành Chung - Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đăk Tô cởi mở: "Tính khiêm tốn 1 ha sâm trồng 10 năm cho thu hoạch trung bình cỡ 7 tạ củ, giá 20 triệu/ký củ tươi. Về lý thuyết, nơi nào trồng được sâm Ngọc Linh mà bảo vệ tốt, nơi đó thu hoạch siêu lợi nhuận".
Công ty hiện đang trả lương hơn 80 lao động biên chế và hợp đồng, trong đó 28 nam công nhân dân tộc Sê Đăng vừa khỏe mạnh, vừa trung thực, lại trung thành, rất phù hợp với nhiệm vụ bảo vệ. Đa số công nhân, kể cả giám đốc công ty, nhà đều cách vườn sâm đến 70 km.
Mùa khô có thể phóng ô tô, xe máy tới tận vườn. Còn mùa mưa phải bỏ ôtô ở lưng chừng núi, đi bộ hoặc chạy xe máy quấn xích kín cả cặp lốp ngược dốc, có đoạn dốc đứng tới 35 độ, trầy trật chạy kiểu “một tiến hai lùi”  ngót 5 cây số nữa mới tới nơi.
Ông Chung đã gắn bó với vườn sâm này hơn 15 năm, từ lâm trường Ngọc Linh chuyển sang. Công ty Sâm Ngọc Linh chính thức ra đời từ năm 2003, trên cơ sở sáp nhập 3 lâm trường vào Trung tâm sâm Ngọc Linh, tổng diện tích ban đầu lên tới trên 41.000 ha rừng và đất rừng.
Gần đây tỉnh mới  thu hồi giao bớt cho địa phương, công ty còn quản lý trên 37.000 ha, trong đó trên 31.000ha là rừng, rừng giàu chiếm hơn 70%. Vườn sâm 11 ha đã trồng được hiện nằm trong vùng rừng nguyên sinh ở độ cao 1.900 m, nhiệt độ trung bình quanh năm dao động quanh mức 14-15 độ C.
Từ năm 2010 công ty đã trồng thử nghiệm cây sâm được nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô nhưng không thành công. Thực tế cho tới nay, theo ông Chung, việc nhân giống sâm Ngọc Linh bằng phương pháp cấy mô vẫn chỉ mới thành công trong phòng thí nghiệm.
Hơn nữa, theo các nhà Dược học đến từ các nước Nhật, Hàn chính thức làm việc với tỉnh Kon Tum về đề tài này, thì tại Nhật và Hàn Quốc đến nay loại sâm nuôi cấy mô vẫn không công nhận là sâm chính gốc.
Trồng từ năm thứ ba trở đi, cây sâm Ngọc Linh sẽ cho hạt có thể gieo nhân giống được. Hạt giống tốt nhất được lấy ở những cây sâm từ 4 tới 9 năm tuổi. Sâm Ngọc Linh còn gọi là sâm đốt trúc, vì mỗi một năm, củ sâm xuất hiện thêm một đốt nhìn như đốt thân cây trúc.
Năm 1996, ông Chung may mắn mua được 1 củ sâm dài, đếm được hơn 70 đốt, nặng cỡ 3,5 lạng, giá lúc đó tương đương 3 chỉ vàng - Ông Chung thở dài vì tiếc - Lâu quá rồi, ngâm rượu đãi khách mãi, cụ sâm quý thất lạc mất. Nếu bây giờ, nhà sưu tập sâm nào mà tìm ra được một củ sâm già cỡ đó, chắc khó tính ra tiền nổi, bởi nó là vô giá.
Theo anh Hoàng Văn Chất - Giám đốc Trung tâm Giống sâm Ngọc Linh, nếu cán bộ, công nhân không thức trắng đêm bảo vệ thì sẽ không có hạt sâm để gieo ươm. “Ông Tí” sẽ ăn hết hạt sâm. Chính vì nâng niu, bảo vệ từng hạt sâm để làm hạt giống, năm nay, Trung tâm trồng mới được 2 ha sâm, nâng diện tích vườn sâm lên 11 ha.
Từ Dự án bảo tồn và phát triển sâm Ngọc Linh có sự tham gia của cộng đồng, năm 2013, Trung tâm Giống sâm Ngọc Linh được UBND tỉnh cho phép chuyển sang hình thức kinh doanh. Tuy nhiên, lâu nay Trung tâm vẫn chưa thu hoạch, chế biến hay đưa củ ra thị trường. Củ sâm thật nếu có trên thị trường là sâm của một số hộ dân trong vùng trước đây tự tìm kiếm giống ngoài tự nhiên, hoặc được Dự án hỗ trợ trồng, nay thu hoạch mỗi lần một vài lạng để lấy tiền chi tiêu.
Trao đổi về việc kinh doanh và phát triển cây sâm Ngọc Linh, ông Nguyễn Thành Chung - Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đăk Tô cho biết, hiện trong 11 ha sâm vườn trồng, có 5 ha trên 10 năm, tốc độ tăng trưởng củ chậm lại. Theo kế hoạch mà công ty đã trình lên, chờ lãnh đạo tỉnh và Sở phê duyệt, thì nếu tỉnh đồng ý, công ty sẽ xúc tiến việc khai thác mỗi năm khoảng 0,5 ha sâm, chế biến tinh sâm, viên ngậm…đưa ra thị trường.
Nói về việc sâm giả gây tác động xấu đến thương hiệu sâm Ngọc Linh, ông Chung cho rằng bây giờ sâm còn hiếm, một số người dùng chưa quen, chưa phân biệt được củ sâm Ngọc Linh thật, với các loại củ sâm giả bị bọn lừa đảo chào bán như tam thất điệp, tam thất hoang… Khi đưa sâm Ngọc Linh ra thị trường, công ty sẽ có khuyến cáo, hướng dẫn cho người tiêu dùng, thì việc phân biệt sâm thật, sâm giả không còn khó nữa.
Chuột sâm là món khoái khẩu từ lâu đời của đồng bào Sê Đăng - ông Chung kể. Khách nào quý lắm, chủ nhà mới tiếp bằng một con chuột hong khô trên gác bếp. Chuột được thui sạch lông, nướng sém vàng rồi chiên, ăn kèm rau cần rừng tươi giòn, thơm dịu nhẹ.
Chuột có thể bắt quanh năm, nhưng mùa săn rộ lên từ đầu hè, tháng 5, tháng 6 khi sâm trổ hoa, đến tháng 10 quả sâm chín đỏ. Chuột khoái hạt sâm, đu lên cây. Những cây sâm hơn chục tuổi cao cỡ 80 cm thân mềm, nó leo lên vít xuống để nhằn quả ăn hạt. (Zing News 10/9) đầu trang(
Dù để xảy ra sự việc nghiêm trọng, nhưng không có ai phải chịu trách nhiệm trong vụ hổ cắn dứt tay du khách?
Cơ quan chức năng tỉnh Nghệ An kết luận chính thức về vụ việc du khách bị hổ dữ cắn đứt tay khi đi thăm quan ở Khu du lịch sinh thái Trại Bò, huyện Diễn Châu. Trong đó, xác định lỗi hoàn toàn thuộc về du khách, các đơn vị khác không bị liên đới hay phải chịu trách nhiệm dù nơi đây đang được cho là hoạt động chui.
Trước đó, ngày 9/9, Phòng NN&PTNT, Hạt kiểm lâm và CA huyện Diễn Châu đã phối hợp kiểm tra tại Khu du lịch sinh thái Trại Bò, thuộc Cty TNHH Sinh thái Mường Thanh. Kết thúc buổi kiểm tra, đoàn liên ngành kết luận hiện trường xảy ra vụ việc là nơi cho hổ ăn và nghỉ ngơi, là khu vực cấm khách tham quan du lịch. Tại đây có bờ tường cao 1,75m, phía trên là khung sắt cao 4m và có hàng rào sắt B40 bao quanh.
Biên bản làm việc giữa cơ quan chức năng cũng khẳng định rằng: để xảy ra sự việc lỗi hoàn toàn do chị Trần Thị Yến (SN 1995, Tân Kỳ, Nghệ An). Lý do là chị Yến đã đi đến khu vực này, trèo lên khung sắt để chụp ảnh và bất ngờ bị hổ vồ đứt cánh tay.
Tuy nhiên, điều khiến dư luận không khỏi băn khoăn là tại sao đoàn kiểm tra lại bỏ qua thông tin Khu du lịch sinh thái Trại Bò chưa được Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Nghệ An cấp phép hoạt động du lịch đã đón khách thăm quan, bán vé, thu tiền.
Trong biên bản làm việc, đoàn kiểm tra chỉ nêu: Công ty TNHH Sinh thái Mường Thanh có giấy chứng nhận đăng ký trại nuôi sinh sản, sinh trưởng quý hiếm; Hồ sơ nhập khẩu, thủ tục nuôi sinh trưởng các loài động vật quý hiếm đối với các động vật trong khu sinh thái; Giấy xác nhận điều kiện cơ sở vật chất, tiêu chuẩn kỹ thuật nuôi động vật rừng nguy cấp quý hiếm, làm cảnh quan phục vụ du lịch.
Trước đó, trao đổi với báo chí, ông Hồ Mậu Thanh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Nghệ An khẳng định, khu Trại Bò chưa phải là khu du lịch thuộc quản lý của Sở. Việc đơn vị tự ý bán vé cho khách vào tham quan là sai. (Giao Thông 11/9) đầu trang(
Biên bản làm việc của đoàn liên ngành huyện Diễn Châu (Nghệ An) vào ngày 9/9 kết luận lỗi xảy ra sự việc do nữ du khách. Theo đó, do chị Yến vào khu vực cấm để “chụp ảnh” nên không may bị hổ vồ đứt hẳn một cánh tay.
Liên quan đến sự việc chị Trần Thị Yến (SN 1995, trú tại huyện Tân Kỳ, Nghệ An) khi tham quan tại công ty TNHH sinh thái Mường Thanh (khu du lịch sinh thái Trại Bò) ở địa bàn xã Diễn Lâm, huyện Diễn Châu, Nghệ An, không may bị hổ trắng vồ đứt mất một cánh tay, ngày 9/9, đoàn liên ngành huyện Diễn Châu gồm Phòng NN&PTNT, Hạt Kiểm lâm huyện Diễn Châu, Công an huyện Diễn Châu đã có buổi làm việc tại đây để làm rõ những nội dung liên quan đến vụ việc.
Theo biên bản của buổi làm việc, khu du lịch sinh thái Mường Thanh đảm bảo theo quy định, hổ có hồ sơ nhập khẩu hợp pháp. Về chuồng trại, được xây dựng đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, có biển cấm biển báo đầy đủ. Hiện trường xảy ra sự việc là nơi cho hổ ăn và nghỉ ngơi, là khu vực cấm khách tham quan. Việc chị Trần Thị Yến là khách tham quan vào khu vực trên và trèo lên bờ tường của chuồng để chụp ảnh là sai, lỗi này dẫn đến tai nạn đáng tiếc.
Hiện tại chị Trần Thị Yến tiếp tục được điều trị tại Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình Nghệ An, sức khỏe đã hồi phục. Thế nhưng, do vết thương quá nặng nên chị vẫn đang được theo dõi chặt chẽ. Để hỗ trợ cho chị Yến trong quá trình điều trị Công ty TNHH sinh thái Mường Thanh đã bước đầu hỗ trợ 140 triệu đồng cho gia đình nạn nhân.
Chị Trần Thị Yến, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, dù đã được doanh nghiệp Mường Thanh hỗ trợ viện phí nhưng để đảm bảo cuộc sống sau này, doanh nghiệp cam kết sẽ bố trí công việc phù hợp với sức khỏe để chị Yến vẫn có thể giúp đỡ cho gia đình.
Tại buổi làm việc với đoàn liên ngành, Cty TNHH Sinh thái Mường Thanh đã trình được giấy phép đăng ký kinh doanh (giấy phép do phòng Đăng ký kinh doanh, Sở KH&ĐT Nghệ An cấp) cho thấy từ năm 2008 doanh nghiệp này đã được cấp phép với hoạt động  chính là: Hoạt động của các vườn bách thú, bách thảo, khu bảo tồn thiên nhiên và nuôi động vật hoang dã. Đại diện của Mường Thanh cho biết: Năm 2013, với việc đổi tên, doanh nghiệp được cấp phép lại, không hoạt động chui như có thông tin gần đây. (Tiền Phong 11/9) đầu trang(
Sáng 10.9, Cục Môi trường miền Nam (thuộc Tổng cục Môi trường) đã có buổi làm việc với lãnh đạo H.Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai nhằm tìm giải pháp quản lý môi trường theo quy định của pháp luật do có tranh chấp giữa người dân và doanh nghiệp khai thác cát tại khu vực này.
Theo thông tin từ Cục Môi trường miền Nam, trong 5 tháng qua, cơ quan này liên tục nhận nhiều đơn thư phản ánh của người dân tại ấp Bà Trường, xã Phước An, H.Nhơn Trạch về việc khai thác cát không tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường tại tắc Nha Phương (sông Đồng Kho).
Đây là khu vực thuộc rừng phòng hộ Long Thành nhưng doanh nghiệp khai thác cát không lập mốc đánh dấu hành lang tuyến khai thác theo giấy phép, khai thác sâu vào rừng phòng hộ gây sạt lở, khai thác cận khu vực nuôi tôm khiến tôm chết hàng loạt... (Thanh Niên 11/9) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Rừng ngập mặn là hệ sinh thái đặc trưng của vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, là nơi trú ẩn cho các loài động vật hoang dã, vùng đất sản sinh, môi trường sống của một số loài có giá trị kinh tế cao, môi trường sản xuất và nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối.
Rừng ngập mặn rất quan trọng về mặt môi trường là nơi ở của người dân vùng ven biển, bảo vệ bờ biển để hạn chế xói mòn, cố định đất và lấn biển, cản gió, bão và hạn chế các phá hoại của thiên nhiên, hấp thu CO2 làm giảm hiệu ứng nhà kính. Ngoài ra rừng ngập mặn còn là nơi du lịch, nghiên cứu khoa học, nghĩ dưỡng cho sinh viên, học sinh và người dân trong nước lẫn nước ngoài.
Rừng ngập mặn ở Việt Nam phân bố chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long và nơi cửa sông của đồng bằng sông Hồng, tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long với tổng diện tích tự nhiên của vùng gần 4 triệu ha, gồm 13 tỉnh, với dân số trên 18 triệu người. Rừng ngập mặn đã góp phần hỗ trợ cho việc nuôi trồng thủy sản cũng như nông nghiệp, nhờ có rừng ngập mặn cũng đã hạn chế những thiệt hại do thiên tai, nước biển dâng, hạn chế xói mòn.
Nhưng trong thởi gian qua việc quản lý, phát triển rừng ngập mặn của vùng này cũng có phần hạn chế do tập trung vào phát triển kinh tế cũng như chưa hỗ trợ người dân nghèo vùng rừng ngập mặn. Vấn đề đặt ra là làm sao phát triển kinh tế vùng ven biển gắn liền với bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn trên cơ sở phát triển bền vững để hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường.
Rừng ngập mặn ở phía Nam gồm rừng ngập mặn Cần Giờ và các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long. Diện tích rừng ngập mặn tập trung ở 10 tỉnh và 1 thành phố gồm tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang. Hai tỉnh An Giang, Hậu Giang và TP. Cần Thơ là không có rừng ngập mặn. Có 3 khu rừng nằm trong hệ thống khu dự trữ sinh quyển của thế giới là (1) Khu Dự trữ sinh quyển RNM Cần Giờ là khu dự trữ sinh quyển đầu tiên ở Việt Nam (2000), (2) Khu Dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang, (3)
Khu Dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau là những khu sinh quyển ở phía Nam có rừng ngập mặn và là nơi có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển về nuôi trồng thủy sản (đứng đầu cả nước về diện tích nuôi trồng thủy sản); có lợi thế phát triển du lịch sinh thái.
Cà Mau (47,1%) và Cần Giờ (24,2%) thuộc TP. Hồ Chí Minh là hai nơi có diện tích rừng ngập mặn chiếm tỉ lệ cao nhất, các tỉnh còn lại chiếm khoảng 30% diện tích rừng của khu vực phía Nam.
ĐBSCL gồm 12 tỉnh và 1 thành phố, với diện tích đất liền 40.553,1 km2 (chiếm 12,1% diện tích cả nước), có hải phận rộng trên 360 nghìn km2, dân số năm 2012 là 17.390,54 triệu người (bằng 21% dân số cả nước), mật độ dân số 429 người/km2. Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên đất và nước là hai vấn đề quan trọng cho việc phát triển kinh tế lẫn môi trường và xã hội của vùng ĐBSCL.
Thuỷ – Hải sản là nguồn lợi kinh tế lớn và quan trọng của vùng ven biển gắn liền với rừng ngập mặn, riêng Cà Mau đã xuất khẩu 1,05 tỷ USD trong năm 2013 (chiếm 90% giá trị xuất khẩu của tỉnh và 42% giá trị xuất khẩu của cả nước về thủy sàn. Những năm gần đây việc phát triển diện tích nuôi tôm tự phát, chưa theo quy hoạch chung của từng tỉnh và vùng, thiếu các giải pháp kỹ thuật đồng bộ và biến đổi khí hậu đã gây nhiều thiệt hại cho lâm nghiệp, nông nghiệp và ảnh hưởng xấu tới môi trường, không những gây suy thoái môi trường ngay tại các khu vực chuyển đổi mà còn làm tăng mức độ lan truyền mặn sâu vào nội đồng. Nhiều khu vực ô nhiễm diễn ra không kiểm soát được.
Việc sút giảm diện tích và suy thoái chất lượng rừng ngập mặn đã gây hậu quả nghiêm trọng, là xói lở bờ biển, cửa sông, ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của thuỷ hải sản ven biển. Việc xử lý ô nhiễm từ các khu công nghiệp, từ các vùng chuyên canh thuỷ sản, gìn giữ và bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn đối với phát triển bền vững ở ĐBSCL.
Đánh bắt xa bờ và nội địa; nuôi trồng thủy sản (bán công nghiệp), nuôi tôm sinh thái, nuôi thả con giống và cho ăn; nuôi Sò huyết và Nghêu ở Cần Giờ; nuôi con giống như giống nghêu ở Bến Tre, Bạc Liêu…; nuôi cá bè (cá Bớp, cá Chẽm, cá Mú…); nuôi Hàu ở Cần Giờ; sản xuất muối vào mùa khô (Cần Giờ, Bạc Liêu). Nước mắm (Phú Quốc); nuôi tôm trong ruộng lúa; du lịch (Bà Rịa – Vũng Tàu, Cần Giờ, Tiền Giang, Trà Vinh, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang…).
Trong những năm gần đây, thời tiết cũng như khí hậu đã có nhiều thay đổi đã ảnh hưởng đến sản xuất của người dân trong vùng như diễn biến mặn thâm nhập sâu vào nội địa nhất là những lúc vào mùa khô và đúng vào đợt triều cường đã làm thay đổi môi trường sống của các loài động thực vật. Với nuôi trồng thủy sản thì việc thay đổi đột ngột về mưa, nắng đã làm gia tăng nhiệt độ cũng như độ mặn, nước triều dâng cao tràn vào các vuông tôm đã làm cho tôm chết…
Vấn đề lớn là sạt lở, xói mòn ven biển đã làm mất khá nhiều diện tích rừng ngập mặn dọc theo ven bờ biển của biển Đông từ đó dẫn đến việc mất diện tích rừng cũng như diện tích canh tác, nuôi thủy sản…
Bên cạnh tác nhân do thiên nhiên thì không thể tránh khỏi nên cần phải có những biện pháp để thích ứng và phòng ngừa với những biến đổi của khí hậu. Còn tác nhân do con người còn hạn chế về ý thức bảo vệ môi trường, người dân trong vùng trình độ dân trí còn thấp, nghèo, đông con … đã góp phần vào tác động vào môi trường, khai thác tài nguyên rừng, chuyển đổi đất rừng sang nuôi tôm…quản lý còn thiếu chặt chẽ, trùng lắp, bất cập… đã dẫn đến rừng ngập mặn bị mất đi và thiếu cân bằng trong tự nhiên.
Diện tích rừng ngập mặn trước chiến tranh hầu hết là rừng tự nhiên, nhưng đến nay những khu rừng ngập mặn tự nhiên nguyên sinh không còn nữa và đã thay bằng những khu rừng thứ sinh tự nhiên hay rừng trồng thuần loài với 1 – 2 loài chủ đạo như Đước và Mấm.
Hiện nay dịch vụ du lịch sinh thái cho đúng nghĩa ở vùng này chưa phát triển và không nhiều, các dịch vụ du lịch hiện nay vẫn là du lịch tham quan, việc gắn kết giữa các công ty du lịch với cộng đồng tại chỗ trong du lịch cũng chưa có nhiều, người dân tại chỗ không có nguồn thu từ các hoạt động du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch còn hạn chế, sản phẩm du lịch đơn điệu, nhân viên du lịch còn thiếu và đào tạo chưa kịp và thiếu bài bản nhất là các hướng dẫn viên … Năm 2013, ĐBSCL đã đón 20.731.493 lượt khách đến tham quan du lịch tăng 6,8 % so với cùng kỳ. Trong đó, có 1.668.852 lượt khách quốc tế, tăng 3,9 % so với cùng kỳ.
Doanh thu ước đạt 5.141,2 tỷ đồng, tăng 18,4 % so với cùng kỳ năm 2012. Trong số các địa phương trong vùng, các tỉnh Bạc Liêu, Bến Tre và Trà Vinh là những địa phương tiêu biểu có tỷ lệ tăng về lượt khách và doanh thu tương đối cao. Địa phương thu hút khách đến tham quan du lịch nhiều nhất là Kiên Giang với gần 5,6 triệu lượt khách, trong đó chủ yếu là khách tham quan lễ hội và khách tham quan trong ngày.
Địa phương thu hút khách quốc tế nhiều nhất là Tiền Giang với 586.107 lượt và địa phương có doanh thu du lịch cao nhất là Kiên Giang với 1.120 tỷ đồng (Trần Văn Linh, 2013). Như vậy du lịch sinh thái, du lịch tín ngưỡng là những nội dung có nhiều triển vọng và cần được phát triển mạnh trong tương lai.
Cần tiến hành thực hiện quy hoạch bảo vệ môi trường gắn liền với phân vùng sinh thái và quy hoạch tổng thể phát triển vùng ĐBSCL. Trong đó chú trọng các vấn đề: Sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên thiên nhiên; phân vùng quy hoạch và sử dụng hiệu quả vùng ngập mặn cho phát triển thủy sản, hệ sinh thái rừng ngập mặn…với vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái vùng ven biển; đẩy nhanh công tác quy hoạch nuôi trồng thủy sản bảo đảm yêu cầu cung cấp và xử lý môi trường nước trong các hệ canh tác nông-lâm-ngư thông qua chương trình nuôi tôm sinh thái mà hiện nay đang tiến hành ở Cà Mau để kết hợp giữa kinh tế, môi trường và xã hội.
Kiểm kê và đánh giá các loài động, thực vật hiện nay trong vùng; xác định sơ đồ chuỗi thức ăn trong HST rừng ngập mặn; có kế hoạch duy trì các nguồn gen động, thực vật quý hiếm và đặc trưng vùng ngập triều.
Bảo vệ ĐDSH của các HST rừng ngập mặn; lập kế hoạch phục hồi và trồng mới rừng ngập mặn, kết hợp trồng rừng trong các vuông tôm để tăng diện tích rừng phục vụ nuôi tôm sinh thái, xác định địa điểm phù hợp và phương thức phục hồi rừng để có hiệu quả; lồng ghép các dịch vụ HST dựa vào các công cụ đánh giá khoa học trong việc ra quyết định duy trì và khai thác nguồn lợi tự nhiên một cách bền vững; Đánh giá nguy cơ và có biện pháp hữu hiệu chặn tình trạng xói lở bờ biển trong khu vực.
Xây dựng mô hình bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên rừng (đồng quản lý tài nguyên thiên niên), kết hợp với du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng; hỗ trợ dân trong dịch vụ cung cấp giống và bao tiêu sản phẩm, chuyển giao công nghệ cho người dân, tham gia thị trường quốc tế bằng việc cấp chứng chỉ nuôi tôm sinh thái hay nhãn sinh thái qua việc giám sát và đánh giá của các tổ chức chuyên nghiệp trong nước và quốc tế để tạo niềm tin và gia tăng giá trị các sản phẩm.
Nâng cao đời sống cho cư dân trong vùng nhằm tránh các hành vi phá rừng bất họp pháp; hạn chế di dân thiếu kiểm soát, xâm lấn vào vùng bảo vệ nghiêm ngặt của VQG Mũi Cà Mau; thường xuyên giáo dục ý thức bảo vệ HST rừng ngập mặn; tổ chức đối thoại giữa người quản lý tài nguyên thiên nhiên và người dân để có tiếng nói chung trong việc bảo vệ và khai thác bền vững nguồn tài nguyên rừng và biển…
Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 09 năm 2010 bao gồm a) Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; b) Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội; c) Hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững; d) Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch; đ) Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản có thể được xem là một chiến lược tạo cơ chế tài chính cho bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và góp phần xóa đói, giảm nghèo cho người dân vùng ven biển.
Chính quyền các tỉnh ven biển cần thúc đẩy việc hình thành các cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng cho tỉnh mình trên cơ sở ký kết họp đồng PFES để tạo ra nguồn thu cho các hoạt động quản lý, phục hồi, bảo tồn tài nguyên rừng ngập mặn ven biển và sử dụng đất có quy hoạch có khoa học, nhằm quản lý HST ven biển kết hợp với phát triển kinh tế trên cơ sở bền vững.
Phát triển bền vững cần hài hòa 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi trường. Trong đó, ĐBSCL là hệ sinh thái đất ngập nước trong đó có rừng ngập mặn dễ bị tổn thương và nhạy cảm.
Muốn giữ gìn chất lượng môi trường, việc phát triển thủy sản, công nghiệp ĐBSCL phải quyết định dựa trên cơ sở khoa học và nhận thức về vai trò tối quan trọng của hệ sinh thái rừng ngập mặn. Phát triển công nghiệp ven biển ở ĐBSCL vội vã sẽ mất nguồn lợi thủy sản và nông nghiệp, có khi đánh đổi cả chất lượng cuộc sống. (Môi Trường Và Đời Sống 10/9) đầu trang(
Ở tuổi 66, đối với lão nông Nguyễn Văn Khoe, ngụ ấp Xẻo Quao, xã Nam Thái A, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đáng lẽ đã được nghỉ ngơi cùng con cháu ở nơi có điều kiện tốt nhất. Thế nhưng gần trọn cả cuộc đời ông vẫn mãi gắn bó với rừng và từng ngày tiếp tục trồng rừng, bảo vệ rừng phòng hộ ven biển. Đây như là duyên phận lão nông Nguyễn Văn Khoe
Những cây rừng và tán rừng phát triển từng ngày và diện tích rừng lấn biển ngày một rộng hơn, xa hơn, đây đã trở thành niềm vui, niềm hạnh phúc cả đời người gắn bó của ông Nguyễn Văn Khoe. Cây mắm, cây đước từng ngày lớn lên, đâm chồi nẩy lộc trên những bãi bồi ven biển vùng Miệt Thứ An Biên càng khiến ông không thể nào xa chúng, dù có lúc ông có ý định thay đổi cho cuộc sống tốt hơn.
Là một trong những lão nông đầu tiên về xứ sở này lập nghiệp, được Nhà nước giao khoán gần 12 ha rừng đước, giờ đây rừng đước của ông đã phát triển ổn định, dưới tán rừng là những vuông tôm, cua, sò mang lại giá trị kinh tế cao cho thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm.
Ngoài giữ tốt diện tích rừng theo tỷ lệ giao khoán 7/3, ông Khoe còn tham gia trồng và phát triển mới thêm hơn 300 ha rừng, góp phần cùng địa phương đẩy mạnh phát triển diện tích rừng ở vùng bãi bồi ven biển này.
Những năm gần đây, tình trạng biến đổi khí hậu và hiện tượng nước biển dâng đã khiến cho nhiều diện tích rừng ven biển An Biên - An Minh bị đe dọa và thu hẹp. Chính khó khăn này đã làm cho những hộ giao khoán rừng với diện tích nhỏ rất bấp bênh khi bảo vệ rừng. Vì vậy để nông hộ được giao khoán rừng có cuộc sống ổn định và yêu rừng như ông Khoe, thì Nhà nước cần có biện pháp và chính sách hợp lý hơn đảm bảo cuộc sống người giữ rừng ở đây.
Để bà con nông hộ vùng ven biển Kiên Giang có cuộc sống ổn định, Nhà nước cũng cần có chính sách hợp lý hơn trong giao khoán diện tích rừng cho nông hộ, làm sao cho bà con vừa giữ được rừng, vừa có điều kiện kinh tế sống ổn định và làm giàu từ rừng. (Truyền Hình Quốc Hội 10/9) đầu trang(
Theo ông Huỳnh Xuân Quang, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp, hiện các vườn ươm cây trồng rừng trong tỉnh chuẩn bị xuất khoảng 6 triệu cây con các loại, chủ yếu là dòng keo lai cấy hom chiếm khoảng 60% và 40% các loài cây gieo ươm từ hạt như bạch đàn, keo lá tràm, keo tai tượng, sao đen, dầu rái…
Trong đó, Chi cục Lâm nghiệp đã cấp 5 giấy chứng nhận nguồn gốc giống lô cho khoảng 2,5 triệu cây con đủ tiêu chuẩn xuất vườn phục vụ trồng rừng năm 2015. Công tác phát dọn thực bì, đào hố, bón phân cũng được các đơn vị trồng rừng hoàn tất, chuẩn bị hiện trường khoảng 80% để triển khai trồng rừng vào đầu mùa mưa tới với tổng diện tích 4.000ha; trong đó rừng phòng hộ đầu nguồn chiếm 453ha, rừng phòng hộ ven biển ứng phó biến đổi khí hậu 228ha, rừng sản xuất 2.587ha, rừng thay thế chuyển mục đích sử dụng 182,5ha và rừng đặc dụng 50ha. Phấn đấu đến cuối năm 2015 nâng độ che phủ rừng lên 40% so với diện tích tự nhiên.
Theo chủ trương của UBND tỉnh, để nâng cao chất lượng, hiệu quả rừng trồng, nên chọn lọc các loài cây phù hợp với mục đích trồng rừng (gỗ lớn, gỗ nhỏ, lâm sản ngoài gỗ…), sớm cho thu hoạch, hiệu quả kinh tế cao, tiềm năng thị trường lớn. Đối với rừng phòng hộ (đầu nguồn, chống cát, chắn sóng lấn biển) phải có khả năng phòng hộ theo từng mục đích cụ thể. (Báo Phú Yên 10/9) đầu trang(
Ngày 03/09/2015, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Đăk Nông đã phối hợp với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Bình Phước đến tham quan mô hình trồng rừng bán ngập tại Hạt kiểm lâm Bù Đốp.
Hiện Bình Phước có khoảng 2.000 ha đất bán ngập, phân bố chủ yếu dọc theo lòng hồ thủy điện Cần Đơn và Thác Mơ. Diện tích này trước là rừng tự nhiên, khi xây dựng các công trình thủy điện, cây rừng bị chết do ngập nước, để lại hàng nghìn ha đất trống. Năm 2012, Hạt kiểm lâm Bù Đốp trồng thí điểm 28 ha rừng bán ngập, trong đó loài cây được chọn chủ yếu là gáo nước và tràm nước.
Đây là hai loại cây chủ lực, có khả năng chống hạn và chịu ngập nước cao. Khi cây tràm và cây gáo nước giáp tán, sẽ hạn chế được cây cỏ dại bùng phát sau khi nước rút (chủ yếu là cây mai dương, còn gọi là cây mắc cỡ Ma Vương) và chống được bồi lắng lòng hồ. Mặt khác, khi có rừng bán ngập phát triển sẽ ngăn chặn hiện tượng rửa trôi phù sa trên mặt đất những tháng hồ thủy điện tích nước.
Rừng được khôi phục, hệ động vật có chim, thú có điều kiện phân bố, phát triển, ngoài ra người dân có thể nuôi thủy sản dưới tán rừngđể tăng thu nhập và giữ nguồn nước cho các hồ thủy điện, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Bù Đốp Nguyễn Văn Ách cho biết.
Qua ba năm trồng thí điểm cho thấy, cây tràm và gáo nước có khả năng thích nghi với vùng đất bán ngập ở hồ thủy điện Cần Đơn. Hiện tại, rừng gáo, tràm mới trồng đã cao khoảng 2,5 m và phát triển mạnh.Tuy nhiên, cái khó của diện tích đất bán ngập trên các hồ là không chịu tác động lên xuống như nước thủy triều, mà phụ thuộc trực tiếp vào sự điều tiết nước của các nhà máy thủy điện.
Có thời điểm nước ngập hai đến ba tháng, có lúc lại khô cạn nhiều tháng liền, gây nhiều khó khăn cho công việc xuống giống. Dù cây tràm và gáo nước có khả năng chịu hạn, chịu ngập tốt, nhưng khi mới trồng cây còn nhỏ, thấp, khả năng chống chọi với nước yếu, chỉ cần nước ngập qua ngọn khoảng 15 ngày liên tục cây sẽ chết. (Sở NN&PTNT Tỉnh Bình Phước 10/9) đầu trang(
Mặc dù nhà máy chế biến gỗ của Công ty TNHH Hoàng Lâm Điện Biên (trụ sở tại xã Núa Ngam, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) chưa đi vào hoạt động nhưng công ty này đã “rút” được hơn 20 tỷ đồng tiền hỗ trợ trái quy định từ ngân sách nhà nước.
Sai phạm chỉ được phát giác khi ngành chức năng của Trung ương vào cuộc. Thế nhưng, đơn vị cá nhân làm sai chỉ phải “rút kinh nghiệm”!
Thực hiện Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg ngày 10/9/2007 của Chính phủ về một số chính sách phát triển vùng Tây Bắc, ngày 8-7-2011, UBND tỉnh Điện Biên đã cấp Giấy chứng nhận đầu tư số 6212100049 cho Công ty TNHH Hoàng Lâm Điện Biên xây dựng Nhà máy chế biến gỗ với công suất 100.000 m3/năm, tổng vốn đầu tư là 290 tỷ đồng, vốn góp để thực hiện là 100 tỷ đồng.
Trong lúc Công ty TNHH Hoàng Lâm Điện Biên chưa trồng rừng, chưa xây dựng nhà máy, vốn điều lệ của công ty mới chỉ có khoảng 2 tỷ đồng thì ngày 14/11/2011, UBND tỉnh Điện Biên đã có Quyết định số 1120/QĐ/UBND phê duyệt kế hoạch sử dụng vốn hỗ trợ vận chuyển sản phẩm từ gỗ cho nhà máy này, với tổng vốn hỗ trợ lên đến 218 tỷ 750 triệu đồng. Nguồn đầu tư bằng ngân sách Trung ương hỗ trợ theo Quyết định 147/2007/QĐ-TTg...
Theo quyết định trên, nhà máy được hỗ trợ chi phí vận chuyển trong 5 năm, kể từ năm 2012 đến 2016, với số lượng sản phẩm chế biến từ gỗ là 500.000 m3/5 năm. Mỗi năm nhà máy được hỗ trợ 43 tỷ 750 triệu đồng để vận chuyển sản phẩm về Hà Nội tiêu thụ.
Cuối năm 2012, Nhà máy chế biến gỗ Điện Biên mới được dựng lên sơ sài mang tính hình thức, chưa có giấy phép về PCCC và Báo cáo đánh giá tác động môi trường, thì ngày 21-12-2012, Sở NN&PTNN tỉnh Điện Biên ra tờ trình số 2525/TTr-SNN về việc thành lập Hội đồng nghiệm thu dự án.
Trước sự bất thường trên, ngày 27/12/2012, ông Lê Thành Đô, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên đã có văn bản số 3591/UBND-NN ghi rõ: “Dự án đầu tư Nhà máy chế biến gỗ Điện Biên chưa hoàn thành xây dựng, do đó chưa đủ điều kiện để thành lập Hội đồng nghiệm thu nhà máy, yêu cầu Sở NN&PTNN tỉnh xây dựng vùng nguyên liệu, hoàn tất các thủ tục xác nhận khối lượng thực hiện để hoàn tất thủ tục hỗ trợ kinh phí theo quy định hiện hành”.
Dường như phớt lờ ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh, ngày 28/12/2012, Sở NN&PTNN tỉnh Điện Biên vội chủ trì việc lập Biên bản kiểm tra, xác nhận khối lượng, tiến độ xây dựng nhà máy chế biến gỗ của Công ty TNHH Hoàng Lâm Điện Biên và ban hành Văn bản số 2587/SNN-LN đề nghị Kho bạc Nhà nước tỉnh Điện Biên thanh toán tiền hỗ trợ đợt 1 năm 2012 là 6 tỷ đồng cho công ty này.
Ngày 27/3/2013, các cơ quan chức năng của tỉnh Điện Biên tiến hành lập Biên bản kiểm tra, xác nhận khống khối lượng, tiến độ tại Nhà máy chế biến gỗ Điện Biên để có cơ sở giải ngân số tiền 26,5 tỷ đồng. Lần này, khối lượng sản phẩm được kiểm tra, xác nhận là 685 tấn tre, 715,6 m3 gỗ, sản xuất được 1.073 m3 sản phẩm.
Ngày 5/4/2013, UBND tỉnh Điện Biên tiếp tục ra văn bản đề nghị Kho bạc Nhà nước tỉnh Điện Biên thanh toán tiền cho Công ty TNHH Hoàng Lâm Điện Biên theo đề nghị của Sở NN&PTNN tỉnh Điện Biên. Kết quả là, ngày 9/4/2013, Kho bạc Nhà nước tỉnh Điện Biên đã thanh toán cho Công ty TNHH Hoàng Lâm Điện Biên số tiền 26,5 tỷ đồng, nhưng trong giấy thanh toán lại ghi thanh toán vào ngày 29/3/2013.
Bộ Tài chính đã vào cuộc và kết luận, việc UBND tỉnh Điện Biên cấp giấy chứng nhận đầu tư cho công ty TNHH Hoàng Lâm Điện Biên với tổng số vốn đầu tư 290 tỷ đồng là vượt quá khả năng, năng lực về vốn theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp. Việc UBND tỉnh Điện Biên phê duyệt số tiền 218 tỷ đồng hỗ trợ cho doanh nghiệp vận chuyển sản phẩm trong 5 năm khi nhà máy mới khởi công xây dựng là chưa phù hợp với Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Theo kết luận của Bộ Tài chính, để xảy ra sự việc này, trách nhiệm thuộc về Công ty TNHH Hoàng Lâm Điện Biên, Sở NN&PTNN tỉnh Điện Biên, Kho bạc nhà nước tỉnh Điện Biên, UBND tỉnh Điện Biên, Thường Trực HĐND tỉnh Điện Biên và các đơn vị liên quan.
Kết luận thanh tra số 18335/BTC-TTr ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính chỉ rõ, việc thanh toán khoản tiền hỗ trợ vận chuyển 26,5 tỷ đồng cho Công ty TNHH Hoàng Lâm Điện Biên là sai quy định tại Quyết định số 66/2011/QĐ-TTg ngày 9/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ.
Xung quanh những sai phạm liên quan đến Công ty TNHH Hoàng Lâm Điện Biên, mới đây tại Hội nghị giao ban với báo chí tổ chức vào cuối tháng 8/2015, ông Lê Thành Đô, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên cũng đã thừa nhận, trong quá trình thực hiện chính sách hỗ trợ cho Công ty TNHH Hoàng Lâm Điện Biên thì Sở NN&PTNN tỉnh Điện Biên, Kho Bạc nhà nước tỉnh đã thiếu sót về mặt quy trình, thủ tục và xác định các điều kiện để giải ngân, thanh toán kinh phí hỗ trợ vận chuyển các sản phẩm gỗ cho công ty TNHH Hoàng Lâm Điện Biên như: chưa thành lập Hội đồng nghiệm thu, khối lượng xây dựng nhà máy chưa thực hiện đủ 30% so với thiết kế mô hình, chưa đảm bảo điều kiện về máy móc thiết bị...
Theo ông Lê Thành Đô, 4 cá nhân gồm: ông Phạm Đức Hiển - Giám đốc và ông Nguyễn Đình Kỳ - Phó giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Điện Biên; Ông Nguyễn Ngọc Phong - Giám đốc và bà Đặng Thị Liễu - Phó giám đốc kho bạc nhà nước tỉnh Điện Biên bị xử lý với hình thức “tự kiểm điểm rút kinh nghiệm.”.
Sai phạm hàng chục tỷ của ngân sách có sự “tiếp tay” của nhiều ngành chức năng địa phương, nhưng cán bộ sai phạm chỉ phải “tự kiểm điểm rút kinh nghiệm”! Dư luận địa phương cho rằng, việc xử lý còn qúa nhẹ và bỏ lọt nhiều tổ chức, cá nhân khác liên quan đến sai phạm.  (Đại Đoàn Kết 11/9) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Giám sát rừng toàn cầu (Global Forest Watch – GFW), một nền tảng bản đồ dữ liệu lâm nghiệp, vừa được cập nhật phiên bản điện thoại, tối ưu hóa cho người sử dụng di động nhằm cung cấp thêm công cụ theo dõi, phát hiện hoạt động phá rừng trên toàn thế giới.
GFW được khởi tạo từ năm 1997 từ sáng kiến xây dựng mạng lưới theo dõi hiện trạng rừng trực tuyến của Viện Tài nguyên Thế giới(WRI). Công cụ này được thiết kế để trao quyền cập nhật cho tất cả mọi người ở khắp mọi nơi; và khai thác thông tin người dùng cung cấp để quản lý, bảo tồn cảnh quan rừng tốt hơn. Khi phát hiện những thiệt hại về rừng, một cảnh báo sẽ gửi một mạng lưới các đối tác và những người có trách nhiệm ở khắp nơi trên thế giới.
Đầu tháng 8 này, GFW đã được cập nhật phiên bản điện thoại, trong đó tích hợp thêm một số tính năng mới có thể cung cấp cho người dùng những dữ liệu rừng quanh vị trí hiện tại của họ; chức năng thu thập thông tin từ đám đông; hệ thống cảnh báo phá rừng di động và tính năng chia sẻ thông tin rộng rãi.
Trước đây, GFW cho phép bất kỳ ai truy cập vào kho thông tin khổng lồ sẵn có bằng một chiếc máy tính được kết nối internet. Tuy nhiên, trong thời đại thiết bị di động lên ngôi, WRI xây dựng phiên bản điện thoại cho GFW để đem đến sự tiện lợi hơn, khuyến khích nhiều người tham gia giám sát rừng hơn bằng việc thông báo các trường hợp phá rừng và các dữ liệu rừng thực tế, đáng tin cậy.
Những câu chuyện của người dùng GFW sẽ được khai thác để phác họa một bức tranh toàn cảnh về biến động tài nguyên rừng trên toàn thế giới bằng việc kết nối từng câu chuyện của mọi người với nhau thành dữ liệu trên bản đồ.
Khi phát hiện hoạt động xâm hại bất hợp pháp, đe dọa tới hoạt động quản lý, bảo tồn rừng, không kể là chuyên gia hay dân thường, người địa phương hay người nơi khác, chỉ cần chọn thao tác Đăng câu chuyện trên trang chủ là đã có thể chia sẻ thông tin này với tất cả mọi người. (Môi Trường Và Đời Sống 10/9) đầu trang(
“Năm 2014, có 18 triệu ha rừng biến mất” là lời cảnh báo vừa được đưa ra. Với tổng diện tích gấp hai lần nước Bồ Đào Nha...
“Năm 2014, có 18 triệu ha rừng biến mất” là lời cảnh báo vừa được đưa ra. Với tổng diện tích gấp hai lần nước Bồ Đào Nha, các khu vực rừng mới bị tàn phá nằm tập trung tại vùng châu thổ sông Mê Kông, tại Tây Phi hay tại vùng Gran Chaco ở Nam Mỹ.
Diện tích rừng bị tàn phá năm 2014 được đánh giá là tồi tệ nhất từ đầu thế kỷ XXI, chỉ sau năm 2012. Như vậy, cứ mỗi phút, có khoảng 2.400 cây bị đốn hạ và hơn một nửa số diện tích rừng bị tàn phá nằm tại các đất nước nhiệt đới. Tình trạng phá rừng là do nhu cầu nông nghiệp ngày càng tăng tại châu Á cũng như tại Nam Mỹ hay châu Phi, như để phát triển các đồn điền cao su, trồng và sản xuất giá đỗ, dầu cọ và chăn nuôi bò.
Quản lý rừng là một yếu tố cần thiết để đạt được các mục tiêu về giảm hiệu ứng nhà kính; 20% lượng khí thải CO2 là do việc phá rừng gây ra. Còn tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc, FAO, đánh giá rằng 60% dân địa phương phụ thuộc gần như hoàn toàn vào rừng. Ngoài ra, khoảng 300 triệu người sống trong các khu vực xung quanh rừng và hơn 1,6 tỷ người sống phụ thuộc vào rừng. (Sức Khỏe Và Đời Sống 10/9) đầu trang(
Hôm 10/9, quân đội Indonesia đã điều hơn 1.000 binh sĩ tới tỉnh Nam Sumatra để dập các đám cháy rừng đang bùng phát.
Theo trang tin Channel News Asia, các binh sĩ đã rời một căn cứ không quân Jakarta để làm nhiệm vụ vào sáng nay. Hoạt động này được tiến hành sau khi cơ quan giảm nhẹ thiên tai quốc gia yêu cầu có thêm lực lượng tiếp viện để đối phó với tình hình cháy rừng ở Sumatra.
Cảnh sát Indonesia đã xác định được 14 điểm nóng ở Nam Sumatra, trong đó có một số điểm thuộc về các công ty trồng rừng. Một số khu vực bị hỏa hoạn nằm trong công viên quốc gia của Nam Sumatra.
Tổng thống Joko Widodo muốn công ty trồng rừng được thực hiện chịu trách nhiệm cho bất kỳ đám cháy xảy ra trong các nhượng bộ của họ. Nhưng cũng có những khó khăn trong việc truy tố các thủ phạm mặc dù biết họ là ai, do quá trình tư pháp phức tạp của đất nước.
Một lực lượng đặc nhiệm của nhiều cơ quan bao gồm cảnh sát và quân đội đang cố gắng để khống chế các đám cháy, hiện đang làm Sumatra và Kalimantan bị bao phủ trong một đám mây dày đặc. Đám mây này đã khiến các tỉnh Nam Sumatra, Jambi và Riau gặp nhiều khó khăn, buộc các trường học và sân bay phải đóng cửa.
Khói bốc lên từ các đám cháy rừng cũng đã ảnh hưởng đến các nước láng giềng Singapore và Malaysia, khiến không khí những nước này xuống mức ô nhiễm trong một vài ngày. (Hà Nội Mới 10/9) đầu trang(
Trung bình diện tích trồng mắc ca ở Nam Phi tăng khoảng 1.000 ha/năm và sản lượng hạt của Nam Phi cũng đã tăng lên 20% trong vòng hai năm qua.
Hiện ngành công nghiệp mắc ca Nam Phi đã cung cấp 48.000 tấn nhân trong số 160.000 tấn nhân mắc ca thế giới.
Tin vào một thị trường mắc ca có nhiều triển vọng nên sau khi trồng hơn 3.000 ha mắc ca tại Australia, ông Phil Zadro – một tỉ phú bất động sản, lại đang tiếp tục đầu tư thêm 2.000 ha mắc ca ở Nam Phi và trở thành người sở hữu vườn mắc ca lớn nhất thế giới.
Nhắc đến ông Phil Zadro, những người nông dân thuộc Hiệp hội Mắc ca thế giới thân mật gọi ông với biệt danh: “Vua mắc ca”. Sở hữu nhiều vườn mắc ca rải rác khắp Mpumalanga nhưng ông Phil Zadro lựa chọn đặt “thủ phủ” của mình ở thung lũng Barbeton.
Tại đây, ông có hai vườn lớn, trong đó một vườn rộng 560 ha đang cho thu hoạch 1.000 tấn/năm, vườn còn lại cũng rộng 500 ha đã trồng mới 350 ha và đang triển khai cải tạo đất để trồng thêm 50 ha nữa.
Đầu tư với quy mô lớn nên trang trại của ông Phil Zadro được áp dụng những công nghệ hiện đại nhất Nam Phi, toàn bộ hoạt động từ khâu tạo giống, trồng trọt, thu hoạch rồi đến sơ chế đều khép kín.
Ông thiết kế máy để tạo bầu cây vì vậy chỉ cần sử dụng 6 công nhân vận hành, mỗi ngày máy có thể ươm trồng được 2.000 cây. Khi thu hoạch, cũng sử dụng máy gom hạt. Có nhà máy để sơ chế: tách vỏ, rửa sạch, phân loại và sấy khô.
Sản phẩm hạt mắc ca sau khi sấy khô đạt độ ẩm dưới 2,5% mới được đóng gói và bán cho các nhà máy chế biến sâu hoặc xuất khẩu.
Mặc dù đã sở hữu tới 5.000 ha đồn điền mắc ca nhưng ông Phil Zadro luôn cố gắng mở rộng diện tích và chưa bao giờ nghĩ đến chuyện dừng lại bởi ông nhìn thấy một thị trường tiềm năng vô cùng lớn.
Ngày nay người tiêu dùng ở các nước phát triển như Australia, quê hương của ông hay Mỹ, Nhật, châu Âu đều có xu hướng sử dụng nhiều loại hạt hơn cho các bữa ăn trong ngày. Xu hướng đó giúp cho thị trường các loại hạt liên tục tăng trưởng.
Số liệu nghiên cứu thực tế cho thấy các loại hạt chất lượng cao như mắc ca, điều, óc chó, dẻ, hạnh nhân... đã và đang tăng sản lượng đều trong các năm gần đây.
Thêm nữa là ngày càng có nhiều người biết thêm về hạt mắc ca, bắt đầu hình thành những thị trường tiêu thụ hạt mắc ca rất mới như Đài Loan, Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước châu Á nên thu hút ngày càng nhiều nhà đầu tư vào ngành.
Trong khi đó, hạt mắc ca mới chỉ chiếm 1% thị trường các loại hạt nên dư địa khai thác còn rất lớn. Giả định 5 năm tới, mắc ca có thể tăng lên mức 2% của thị trường các loại hạt thì sản lượng phải đạt được 280.000 tấn và tương ứng với nó, mỗi năm thế giới phải trồng thêm 17 ngàn ha mắc ca.
Do đó ông Phil Zadro không hề ngần ngại khi đầu tư mở rộng diện tích trang trại của mình.
Hiện nay khoảng 90% sản lượng mắc ca sản xuất tại Nam Phi phục vụ cho hoạt động xuất khẩu vào các thị trường châu Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Úc và Trung Quốc. Sản lượng mắc ca của Nam Phi hiện nay đã vượt Australia.
Để đạt được thành công này, trong 15 năm qua, Nam Phi đã không ngừng nghiên cứu, hợp tác, cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm với Hiệp hội Mắc ca Australia và nhận được nhiều sự hỗ trợ trong việc xây dựng những nông trường mắc ca có quy mô lớn như nông trường của ông Phil Zadro tại khu đồn điền thung lũng Barberton.
Hiệp hội Mắc ca Australia hiện cũng đang hỗ trợ toàn diện cho ngành công nghiệp mắc ca Nam Phi, qua đó nâng cao chất lượng sản phẩm của mắc ca Nam Phi.
Trước đây, giá và thị phần của mắc ca Nam Phi trên thế giới không cao do những hạn chế về chất lượng sản phẩm nhưng ngày nay Nam Phi đã tập trung hơn vào việc kiểm soát chất lượng trong tất cả các khâu, đặc biệt là việc sơ chế, chế biến sau thu hoạch.
Có thể khẳng định việc sớm hình thành Hiệp hội Mắc ca thế giới quy tụ đầy đủ từ các ông chủ trang trại, nhà nghiên cứu thị trường, nhà khoa học, chủ nhà máy chế biến, các doanh nghiệp chế tạo máy móc nông nghiệp... đã tạo mối liên kết mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau trong hầu hết các khía cạnh phục vụ sản xuất hay thậm chí có thể điều tiết được giá cả thị trường mắc ca.
Cứ 3 năm một lần, Hiệp hội Mắc ca thế giới lại tổ chức các hội nghị đầu bờ để người nông dân trồng mắc ca ở 11 nước trên thế giới đến thăm trang trại của nhau, cùng chia sẻ kinh nghiệm, học tập phương pháp canh tác mới, ứng dụng KHCN hiện đại.
Hiệp hội Mắc ca thế giới cũng có hẳn bộ phận thường trực để thực hiện nhiệm vụ xây dựng, khuyến khích, thúc đẩy việc hình thành các thị trường mới.
Bà Lynne Ziehlke, Giám đốc phát triển thị trường Hiệp hội Mắc ca Australia cho biết, hàng năm Hiệp hội có những khoản ngân sách khá lớn để dành cho truyền thông giới thiệu các sản phẩm từ hạt mắc ca đến những thị trường mới.
Sau mỗi chu kì 3 năm, Hiệp hội lại có một nghiên cứu nhằm đánh giá lại nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng.
Cho đến nay, mắc ca vẫn được đưa vào phân khúc thị trường hạt cao cấp (premium nut) với chất lượng tốt, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng nhất, có tác dụng tốt cho sức khỏe.
Thế nhưng bà Lynne Ziehlke cho rằng điểm cốt lõi khiến thị trường mắc ca tăng trưởng đột biến trong những năm gần đây chính là vị ngon, bùi của hạt mắc ca.
Số liệu nghiên cứu thị trường Trung Quốc mới nhất cho thấy tỉ lệ tiêu dùng hạt mắc ca ở nữ giới nhiều hơn so với nam giới (56% - 44%).
Đặc biệt, nhóm lứa tuổi thanh niên từ 18-24 rất thích các sản phẩm chế biến từ hạt mắc ca.
Để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hạt mắc ca trong nước, mỗi năm Trung Quốc phát triển tới 6.000-7.000 ha, nâng tổng diện tích mắc ca ở Trung Quốc lên 60.000 ha.
Tuy nhiên, do cây mắc ca khá kén khí hậu và Trung Quốc lại phát triển quá “nóng” nên năng suất, chất lượng hạt chưa cao. (Nông Nghiệp Việt Nam 11/9) đầu trang(
Bất chấp những rủi ro về chính trị, an ninh trật tự, các nông dân triệu phú vẫn đổ xô vào Nam Phi để đầu tư trồng mắc ca khiến diện tích, sản lượng mắc ca tăng vọt trong 2 năm qua.
Nam Phi đã vượt qua Australia trở thành nước sản xuất mắc ca lớn nhất thế giới... Ngày 6/8/2015, sau hành trình dài hơn 10 ngàn km, chúng tôi đặt chân tới Nelspruit vùng đất được mệnh danh là “thủ phủ” mắc ca tại Nam Phi.
Nam Phi đang là mùa đông nhưng nắng hanh vẫn ràn rạt và cây cỏ thì khô khốc trơ trụi lá. Từ Johanesburt đến Bacucuza vượt qua công viên Kruger rộng hàng triệu km2, dường như sắc mầu vàng vọt của cỏ úa đã bao trùm lên hầu hết mọi miền đất nước Nam Phi chỉ chừa lại hai tỉnh Nelspruit và Baberton nằm dọc theo lưu vực Sông Trắng với những trang trại chuối, cam, xoài trải dài xanh mướt, đặc biệt tại đây đã hình thành nhiều trang trại mắc ca rộng vài trăm cho tới hàng ngàn hecta.
Màu xanh của mắc ca không chỉ làm dịu đi cái khí hậu khắc nghiệt của Nam Phi mà đối với người dân nơi đây mắc ca còn biểu trưng cho niềm hy vọng bởi nó đem lại công ăn việc làm, đem lại thu nhập cho người lao động.
Người dân ở Nelspruit khẳng định cây mắc ca đã du nhập về vùng đất này gần trăm năm và “sự nghiệp” của nó cũng biến động thăng trầm theo từng giai đoạn lịch sử của đất nước Nam Phi.
Vào những năm 1960 của thế kỉ trước, khi người Anh vẫn còn cai trị, cây mắc ca đã từng được những ông chủ người Anh tôn sùng và định hướng phát triển. Họ đã trồng lên những đồn điền mắc ca đầu tiên tại các vùng sinh thái khác nhau trên đất nước Nam Phi: Natal, Mpumalanga (Nelspuit, Baberton) và Limpopo.
Năm 1969, người Anh đã giao cho Trại nghiên cứu Ukulinga thuộc trường Đại học Natan nghiên cứu trồng khảo nghiệm và đánh giá các giống cây mắc ca với tham vọng tạo nên những vùng mắc ca lớn trên đất nước Nam Phi, xuất khẩu và phục vụ nhu cầu thị trường nước Anh.
Vài năm sau việc trồng cây mắc ca bắt đầu trở thành phong trào và được nhân rộng tại tỉnh Mpumalanga và hiện nay tại Nelspruit vẫn còn những vườn mắc ca được trồng từ thời kì đó, một trong những đồn điền mắc ca cổ thụ lâu đời nhất là ở Nông trường Leogote, rộng 90 ha thuộc quyền sở hữu của ông Leon de Kock. Vườn cây được ông Leon mua lại từ một người chủ khác, trong đó nhiều cây đã có trên 40 năm tuổi và đến nay vẫn cho thu hoạch đều đặn từ 15 – 20 kg hạt/ha.
Kế đến là nông trường Lachaber của ông Duncan Macgregor, đầu tiên là ông Macgregor bố, chỉ trồng khoảng 20 ha cây mắc ca và để lại cho con là ông Duncan thừa kế. Đến nay trang trại đã có tổng cộng 110 ha mắc ca.
Tuy nhiên, quá trình phát triển của cây mắc ca tại Nelspruit cũng không hề suôn sẻ bởi khi người ta mới phát hiện ra thị trường mắc ca, bắt đầu trồng loại cây này với quy mô lớn thì cũng là lúc tình hình chính trị ở Nam Phi liên tục biến động.
Trước áp lực đấu tranh của người da màu, ông Nelson Mandela được trả tự do và trở thành Tổng thống Cộng hòa Nam Phi, hình thành một nước Nam Phi mới và sự kiện này đã thay đổi hoàn toàn cuộc sống của những ông chủ đồn điền người Nam Phi gốc Anh.
Lúc này người da trắng ở Nam Phi không còn tâm trí để phát triển kinh tế, họ lo ngại về mâu thuẫn sắc tộc, lo ngại về an ninh nên nhiều ông chủ ra đi bỏ lại đồn điền. Theo đó, cây mắc ca vừa được nhìn nhận nhưng đã lập tức bị rơi vào quên lãng...
Phải mất tới hàng chục năm, dưới sự nỗ lực làm giảm mâu thuẫn trong xã hội của Tổng thống Nelson Madela và Chính phủ, những người Nam Phi da trắng (nắm trong tay tiềm lực tài chính và khoa học công nghệ) mới yên tâm đầu tư trở lại. Điều khác biệt là khoảng cách xã hội đã được rút ngắn, người da đen cũng quay trở lại làm thuê trong các nhà máy, xí nghiệp, các đồn điền để có tiền trang trải cho gia đình.
Tuy nhiên, cho đến tận ngày nay ngọn lửa mâu thuẫn sắc tộc, giai cấp tồn tại hàng trăm năm vẫn âm ỉ cháy không dứt và thỉnh thoảng bùng lên thành những vụ bạo lực đẫm máu khiến các gia đình ông chủ người da trắng phải cảnh giác.
Ông Hearne, chủ sở hữu nông trường Danroc ở thung lũng Barbeton cho biết việc quản lý nông trại tương đối vất vả, nguy hiểm, đã có những trường hợp ông chủ đồn điền phát hiện ra người làm thuê lấy trộm hạt mắc ca nhưng xử lý không khéo nên để xảy ra xung đột khiến cả gia đình phải thiệt mạng.
Gần đây nhất, ngày 8/5/2015, trang trại mắc ca của ông Gerhard Kunneke và bà Lynette ở khu vực Kingtonvale Mbombela đã bị tấn công bởi 5 người đàn ông có vũ trang. Nhóm người nói trên đã trói vợ chồng ông Gerhard lại và sau khi đã cướp đi nhiều tài sản có giá trị họ sử dụng một chiếc thuổng sắt để đánh đập hai người một cách tàn nhẫn…
Do hay bị tấn công, đánh cướp nên những ông chủ da trắng thường ở co cụm lại thành từng xóm để có thể tương trợ lẫn nhau và một đặc điểm chung để phân biệt nhà của người Nam Phi da trắng là tất cả đều có hàng rào điện cao 4m bao quanh, nuôi chó dữ và đều lắp camera an ninh. Tại những vùng trồng nhiều mắc ca như Nelspruit và Barbeton, người ta cảnh báo hoạt động trộm cắp hạt mắc ca đã hình thành các nhóm quy mô chuyên nghiệp.
Ngày 23/5, người dân Nelspruit đã phát hiện, truy đuổi một xe chở 800 kg hạt mắc ca và những kẻ ăn trộm hạt đã nổ súng chống cự khi trốn chạy thoát thân. Để ngăn chặn hoạt động trộm cắp mắc ca, người nông dân được khuyến khích phát hiện các xe chở mắc ca chạy vào buổi tối và tất cả các xe chở mắc ca đều phải có giấy xác nhận của chủ vườn.
Là chủ một đồn điền mắc ca rộng lớn, ông Hearne cho biết, mỗi năm gia đình ông thu hoạch khoảng 800 tấn hạt, giá bán mắc ca tại vườn trung bình từ 4-5 USD/kg tùy chất lượng hạt thu về khoảng 2,4 triệu USD/năm sau khi trừ chi phí. Trong khi đồn điền của gia đình ông rộng tới 350 ha nên việc kiểm soát vườn rất khó khăn. Cũng do tình hình an ninh không đảm bảo nên vào mùa thu hoạch, mỗi khi kiểm tra vườn anh em nhà Hearne cũng luôn phải đi cùng nhau và mang theo vũ khí phòng tình huống bất trắc có thể xảy ra.
“Đồn điền rộng nên vẫn thường xuyên bị mất trộm. Không chỉ người bên ngoài mà ngay cả công nhân làm trong đồn điền cũng có thể lén lút lấy trộm hạt mắc ca bởi chỉ cần lấy được một túi họ đã kiếm được ngang với một ngày công lao động”, ông Hearne nói.
Cuộc sống của các chủ đồn điền thường cô lập trong những vườn cây rộng lớn nên không ít những ông chủ sau khi có ít vốn lận lưng là rao bán trang trại chốt lời rồi chuyển sang kinh doanh lĩnh vực khác ở thành phố để đảm bảo an toàn. Trên các trang mạng của Nam Phi tràn ngập thông tin mua bán trang trại: cam, chuối, xoài..., dù vậy, khó có thể tìm thấy một trang trại mắc ca được rao bán. Giá hạt mắc ca luôn cao, nhu cầu thị trường lớn và ổn định, đây lại là loại cây có thể khai thác lâu năm nên hầu hết các chủ đồn điền mắc ca không muốn bán và đều có ý định mở rộng diện tích. Gia đình nhà Hearne đã có 350 ha nhưng vẫn lên kế hoạch phát triển thêm 250 ha nữa.
Ông Martin de Kork đã trồng trên 100 ha và đang chuẩn bị phát triển thêm 50 ha... Ngoài ra, còn có rất nhiều nông dân triệu phú từ Australia vẫn đổ xô vào Nam Phi để đầu tư trồng mắc ca, bất chấp việc họ có thể phải trả giá bằng toàn bộ tài sản, thậm chí là cả tính mạng. Bởi theo các ông chủ đồn điền mắc ca thì bên cạnh những khó khăn, việc đầu tư vào Nam Phi cũng có nhiều yếu tố thuận lợi có thể gia tăng sức cạnh tranh: Thứ nhất, giá đất rẻ, chỉ cần bỏ khoảng 500.000 – 600.000 rand tương đương với 8-10 tỉ đồng là có thể mua được 240 ha đất.
Thứ hai, giá nhân công rẻ, chi phí trung bình cho một lao động tại trang trại chỉ 200 USD/tháng. Thứ ba, không phải lo ngại nhiều về thuế tài nguyên nước. Thứ tư, tại Nam Phi đã có sẵn trại nghiên cứu về giống, có các nhà máy chế biến mắc ca, có sẵn thị trường mắc ca.
Chính những điều kiện thuận lợi đó đã khiến phong trào trồng mắc ca lan rộng khắp Mpumalanga làm diện tích sản lượng mắc ca tăng vọt trong 2 năm qua. Nam Phi đã vượt qua Australia trở thành nước sản xuất mắc ca lớn nhất thế giới. (Nông Nghiệp Việt Nam 10/9) đầu trang(
Nhiếp ảnh gia Ben Coley đã chụp được những khoảnh khắc ấn tượng khi sư tử và báo gấm đấu trí căng thẳng ở khu bảo tồn động vật hoang dã Karongwe Game Reserve, châu Phi.
Để bảo vệ báo gấm con, báo gấm mẹ và sư tử đã có một trận đấu trí, "cân não" căng thẳng trên ngọn cây. Sư tử và báo gấm vốn là kẻ thù không đội trời chung. Sư tử có lợi thế cả về thể lực và số lượng, nhưng những kỹ năng mà báo gấm có là sự bí ẩn và nhanh nhẹn, linh hoạt lại khiến sư tử phải ghen tị. thiếu trong bộ phận này nó làm với ẩn và sự nhanh nhẹn.
Trong tự nhiên, cả hai loài vật đều sẵn sàng giết những đứa trẻ của nhau nếu có cơ hội. Đối với một con báo mẹ đang nuôi dưỡng báo con, mối nguy hiểm rình rập thường xuyên khiến nó không thể không cảnh giác cả ngày và đêm.
Bằng sự nhanh nhẹn, dẻo dai của mình, báo gấm mẹ mang theo con nhỏ trèo lên cành cây rất cao. Từ vị thế kẻ trên, nó nhìn xuống con sư tử như cười nhạo nỗ lực trèo cây của sư tử. Con sư tử dũng mãnh làm như không biết đến ánh mắt chế giễu pha lẫn cảnh giác của báo gấm. Nó đang lưỡng lự, phân vân xem có nên đuổi cùng giết tận mẹ con nhà báo hay không.
Sư tử không phải không có khả năng trèo cây mà do báo gấm trèo quá cao, sư tử không thể có sự dẻo dai đó. Chưa kể nếu đuổi theo, nó sẽ phải đối mặt với sự phản công quyết liệt của báo mẹ. Những con báo con cũng được mẹ báo dạy kỹ năng trèo cây từ rất sớm và điều đó của nhiên có thể cứu mạng nó khỏi những nguy hiểm như bị sư tử săn đuổi.
Sau một hồi đấu trí, cân nhắc hơn thiệt, cuối cùng con sư tử đành bỏ cuộc khi đã cố gắng hết sức. Báo gấm mẹ giành thắng lợi nhưng vẫn không buông bỏ cảnh giác. (Tiền Phong 11/9) đầu trang(
Một cặp vợ chồng ở Hawaii (Mỹ) đang gây tranh cãi vì quyết định sẽ sinh con dưới nước với đàn cá heo vây quanh, và tin rằng với cách sinh này đứa trẻ chào đời sẽ biết nói tiếng của... cá heo.
Theo OddityCentral ngày 9.9, thai phụ 38 tuần Dorina Rosin và chồng Maika Suneagle (ở Hawaii, Mỹ) gọi cá heo là “cá heo người" và tin rằng con của họ sẽ có thể "nói chuyện với cá heo" sau khi sinh.
Thật ra, xu hướng sinh con dưới nước không phải là mới mà đã phổ biến từ vài năm nay. Ý tưởng sinh con dưới đại dương với bầy cá heo vây quanh là “biến tướng” từ cách sinh con dưới nước. Cặp vợ chồng này không chỉ muốn sinh con dưới nước mà còn muốn được cá heo thân thiện vây quanh.
Theo Viện Sirius ở Hawaii, trung tâm sinh con với sự tham dự của cá heo, cho rằng ý tưởng này là hợp lý. Trang web của họ công bố rằng: "Sinh nở trong nước là có lợi, và cá heo có thể chữa lành hoặc cải thiện một loạt tình trạng y tế”.
Nhiều người bất đồng với ý tưởng này, một tác giả tên Christie Wilcox viết trên Tạp chí Discover rằng: “Chúng ta có xu hướng nghĩ cá heo là đáng tin cậy, là những sinh vật yêu thương. Tuy nhiên, cá heo là động vật hoang dã, và có thể khá nguy hiểm”.
Bà Christie nói thêm: "Cá heo đực hung dữ, chúng có thể giết chết động vật khác. Đây có phải là động vật mà bạn muốn ở bên cạnh khi bạn hoàn toàn có thể bị tổn thương?".
Ngoài nguy cơ cá heo có thể nguy hiểm, còn nhiều thứ khác có thể xảy ra trong khi sinh con ở đại dương. "Cá mập trắng lớn có thể bất ngờ tấn công vùng lân cận, do chất dịch và máu trong quá trình sinh của sản phụ sẽ thu hút chúng, và không phải ai cũng có thể đối phó với mọi thứ trong khi sinh”, bà Katherine Martinko viết trên trang web về cuộc sống hoang dã Tree Hugger. "Sinh dưới nước trong vui thú có thể nhanh chóng biến thành bi kịch khi đứa trẻ ở dưới nước quá lâu", bà nói thêm.
Nhưng Dorina và Maika chẳng đếm xỉa đến những lời cảnh báo này, mà còn đăng tải một đoạn video trên YouTube với hình ảnh sống động cô Dorina vác bụng bầu bơi dưới nước với cá heo.
Trên trang web của mình, Dorina viết: "Tôi mời các bạn trải nghiệm như là một phần của trái đất và kỷ niệm tình yêu của bạn. Hãy để chúng tôi mang những điều quý giá này đến với bạn khi có được việc bảo vệ, tin tưởng, bình tĩnh, niềm vui, sức mạnh, và nhiều hơn nữa". (Tin Nóng 10/9) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang