|
Ngày 09 tháng 01 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Việc rừng sinh thái Buôn Đôn bị lâm tặc phá nát, UBND tỉnh Đắk Lắk đã ra văn bản giao cho các sở ngành liên quan làm thủ tục thu hồi. Tuy nhiên, khu rừng tiếp tục bị tàn phá.
Báo Tiền Phong đăng bài “Rừng sinh thái bị phá tan hoang” ngày 12/11/2014, theo đó, trong 2 năm chờ UBND tỉnh Đắk Lắk ra quyết định thu hồi diện tích rừng Cty TNHH MTV Cao su Đắk Lắk (Dakruco) thuê để bàn giao lại cho Cty CP Thương mại và Du lịch sinh thái Bản Đôn (gọi tắt là Cty Bản Đôn), hơn 1.300 ha rừng sinh thái ở xã Krông Ana, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk bị lâm tặc ngang nhiên phá hoại.
Cuối tháng 10/2014, PV có chuyến đi thực tế và tận mắt chứng kiến hàng chục cây gỗ quý như giáng hương, căm xe, lim, gáo vàng… bị lâm tặc chặt hạ, cưa xẻ thành lóng tròn. Nhiều cây gỗ lâm tặc đốn ngã nằm ngay tại khu trung tâm, cạnh trục đường chính và gần trạm quản lý, bảo vệ rừng.
Rừng bị mất trong thời gian dài chờ làm thủ tục chuyển giao, lãnh đạo hai bên Cty lại đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Tuy nhiên, ông Nguyễn Hoài Dương, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk, khẳng định, trên danh nghĩa, Dakruco vẫn là chủ của hơn 1.300 ha đất và rừng sinh thái ở xã Krông Na, huyện Buôn Đôn. Trong khi chờ đợi UBND tỉnh Đắk Lắk có quyết định thu hồi, Dakruco phải chủ động tổ chức lực lượng quản lý, bảo vệ rừng. Việc để mất rừng trong diện tích được UBND giao, Dakruco phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Tại phiên chất vấn của Kỳ họp thứ 9, HĐND tỉnh Đắk Lắk khóa VIII, ông Trang Quang Thành, Giám đốc Sở NN&PTNT Đắk Lắk, khẳng định trước các đại biểu, Dakruco được UBND tỉnh cho thuê 1.336,7 ha đất rừng và rừng sinh thái để xây dựng khu du lịch sinh thái Buôn Đôn. Sau gần 9 năm quản lý, khu rừng này đã bị chiếm dụng và khai thác bừa bãi. Nguyên nhân chính là do Cty buông lỏng quản lý để mất rừng, nên Dakruco và các đơn vị liên quan phải chịu trách nhiệm.
Sở đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm Buôn Đôn tham mưu cho UBND huyện Buôn Đôn thành lập tổ công tác liên ngành thường xuyên tuần tra, bảo vệ và xử lý các vi phạm pháp luật tại rừng sinh thái.
Tuy nhiên, trong thời gian chờ quyết định thu hồi, rừng sinh thái tiếp tục bị phá hoại, lâm tặc ra vào ngang nhiên như chốn không người. Ngày 30/12/2014, từ tin báo của người dân, PV trở lại rừng sinh thái Buôn Đôn. Những cây căm xe (nhóm II), cà chít (nhóm IV) đường kính lớn bị đốn hạ hàng loạt. Có những cây cổ thụ đường kính gần 1m cách nhà khách của khu du lịch chỉ khoảng vài chục mét cũng bị hạ.
Chị V. dẫn đường, luồn lách đưa PV tiến sâu vào rừng theo hướng lên đồi Tâm Linh trong rừng sinh thái. Nơi đây cảnh càng tan hoang, hàng chục cây gỗ quý bị cưa hạ, dấu vết còn mới nguyên. Có những khoảnh rừng dường như mất trắng, cây cổ thụ bị hạ hết, nhiều khúc gỗ nằm ngổn ngang. Lâm tặc dùng máy cưa để hạ cây, cắt gỗ thành từng lóng tròn ngay tại gốc. Tùy vào kích thước gỗ, khoảng cách, địa hình…, lâm tặc sử dụng xe đạp, xe máy, máy cày “độ” hoặc thuê voi kéo để đưa gỗ ra bìa rừng tập kết. Để tránh lực lượng chức năng, chiều tối hoặc ban đêm, lâm tặc mới vận chuyển gỗ ra để tiêu thụ.
Ông Y Thông Niê Kdăm, Chủ tịch UBND xã Krông Na, cho biết, hiện khu du lịch chỉ để lại một số nhân viên để bảo vệ tài sản. Trong thời gian chờ các cơ quan chức năng thu hồi diện tích rừng của Cty Cao su Đắk Lắk để giao cho đơn vị khác, các ngành chức năng của huyện Buôn Đôn phối hợp lực lượng công an và dân quân tự vệ xã Krông Na tạm thời phụ trách quản lý, bảo vệ khu rừng này.
Ông Dương Văn Xanh, Phó Chủ tịch UBND huyện Buôn Đôn, xác nhận, năm 2014, UBND xã Krông Na và đoàn liên ngành của huyện Buôn Đôn đã phát hiện hàng chục vụ vi phạm lâm luật, thu giữ nhiều tang vật và xử phạt các đối tượng liên quan. Chủ rừng phải chịu trách nhiệm chính trong quản lý, bảo vệ, nhưng họ bỏ mặc để lâm tặc hoành hành. Huyện đã nhiều lần kiến nghị cấp trên xem xét trách nhiệm của Dakruco và Cty Bản Đôn trong việc để mất rừng, sớm thu hồi diện tích này để giao lại cho đơn vị khác có năng lực quản lý, bảo vệ. (Tiền Phong 9/1) ) đầu trang(
Ngày 8/1, ông Vương Khả Kim, Chủ tịch UBND huyện Bảo Lâm (Lâm Đồng) cho biết, cơ quan công an địa phương đang tiến hành điều tra làm rõ thông tin cho rằng một số cán bộ của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp Bảo Lâm có hành vi bảo kê cho các nhóm khai thác quặng vonfram trái phép trên địa bàn.
Trước đó, trong các ngày 5 - 6/1, lực lượng liên ngành của huyện Bảo Lâm phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lâm Đồng đã tiến hành kiểm tra, truy quét tại bãi khai thác quặng vonfram trái phép trên địa bàn xã Lộc Lâm (thuộc lâm phần do Công ty Lâm nghiệp Bảo Lâm quản lý). Khi thấy có đoàn kiểm tra, hàng chục đối tượng khai thác quặng đã bỏ chạy để lại máy móc, phương tiện tại hiện trường.
Sau khi lập biên bản, cơ quan chức năng đã tiêu hủy lán trại cùng nhiều phương tiện, thiết bị, máy móc dùng để đào đãi quặng mà các đối tượng khai thác quặng bỏ lại. Đồng thời, UBND huyện Bảo Lâm cũng yêu cầu công an vào cuộc điều tra, sớm làm rõ thông tin một số cán bộ lâm trường của Công ty Lâm nghiệp Bảo Lâm bảo kê cho các nhóm khai thác quặng trái phép trên địa bàn xã Lộc Lâm trong thời gian qua.
Được biết, khu vực bị khai thác quặng vonfram trái phép thuộc lâm phần do Công ty Lâm nghiệp Bảo Lâm quản lý, nằm gần hồ thủy điện Đồng Nai 3 (giáp ranh giữa địa bàn xã Lộc Lâm, huyện Bảo Lâm và xã Quảng Khê, huyện Đắk G’Long, tỉnh Đắk Nông). Vào lúc cao điểm, tại khu vực này có nhiều nhóm khác nhau cùng tham gia khai thác quặng trái phép, hoạt động nhộn nhịp ngày đêm như một công trường.
Tuy đã nhiều lần ngành chức năng địa phương tổ chức kiểm tra, truy quét và có cả cán bộ lâm trường được giao trực tiếp quản lý khu vực trên, song tình trạng hủy hoại đất rừng, khai thác vonfram trái phép vẫn diễn ra trong thời gian dài trên địa bàn xã Lộc Lâm. (Tin Tức 9/1) đầu trang(
Những ngày qua, tại đường Nguyễn Trãi, TP Tây Ninh, nhiều người dân tò mò ghé xem sáu cặp sừng linh dương đầu bò châu Phi được một nhóm người chở đi rao bán dạo.
Ông H., người đàn ông bán sừng, cho biết ông từ tỉnh Nghệ An đến Tây Ninh đã vài ngày nay, mỗi ngày ông bán được từ hai cặp sừng trở lên. Giá mỗi cặp sừng từ 4,2 triệu đồng đến 5 triệu đồng. Theo ông H., sừng được nhập khẩu từ châu Phi. Đây là sừng thật nhưng được cưa ra để đóng thùng nhập khẩu. Về tới Việt Nam, nhà phân phối gắn thủ công các cặp sừng vào đầu bò Việt Nam để đem bán.
Khi khách hàng ngỏ ý muốn xem giấy tờ hải quan để chắc chắn về tính hợp pháp của cặp sừng cũng như để xác thực đây là hàng thật, ông H. không ngần ngại đưa ra bản phôtô tờ khai hải quan tại cảng Cát Lái của Chi cục HQCK Cảng Sài Gòn KV I. Theo tờ khai này, đơn vị nhập khẩu là Công ty TNHH Thủ công mỹ nghệ ThC (quận Tân Bình), công ty nhập 6.000 kg sừng bò xuất xứ từ Nigeria với giá gần 44 triệu đồng.
Khách hàng thắc mắc tại sao trong giấy hải quan khai là sừng bò mà ông Hùng lại rao bán đây là sừng linh dương. Ông Hùng chỉ những cặp sừng nhọn hoắt dài gần cả mét nói: “Là sừng linh dương đó. Nhưng mình khai là sừng bò người ta mới cho nhập khẩu. Khai là sừng linh dương sao đủ tiền cước, sao nhập được”.
Sau khi xem hình ảnh những cặp sừng do PV chụp, ông Châu Thanh Long, Chi cục phó Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Tây Ninh, cho biết: “Chúng tôi sẽ cho anh em đi kiểm tra, phối hợp luôn với kiểm lâm để làm việc, nếu là sừng động vật sẽ mang đi giám định để xử lý. Còn nếu họ không chứng minh được nguồn gốc các cặp sừng, hàng sẽ bị tạm giữ”.
Ông Trần Văn Trạch, Trưởng phòng Pháp chế (Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tây Ninh), khẳng định ngành kiểm lâm sẽ “vịn” lại để kiểm tra nếu phát hiện vụ việc. Ông Trạch nói: “Linh dương đầu bò là động vật quý hiếm được bảo vệ theo Nghị định 32/2006 của Chính phủ. Việc mua bán các sản phẩm từ loại động vật này chỉ được thực hiện với các điều kiện rất khắt khe. Tôi không chắc đây có phải là sừng linh dương thật hay không. Phải kiểm tra, giám định mới biết được”. (Pháp luật TP.HCM 9/1) đầu trang(
Trang cá nhân H. Lê mới đây bị cư dân mạng ném đá không thương tiếc do những hình ảnh nhạy cảm, mang tính chất khoe mẽ được chủ nhân chia sẻ.
Hình ảnh nam thanh niên tay cầm súng, ngồi bên cạnh một xác mèo rừnggiống như vừa bắn chết con vật bị dân mạng lên án là hành động giết hại động vật hoang dã.
Nam thanh niên thể hiện mình như một dân chơi Hà Nội, đăng một tấm ảnh hai tay ôm một con mèo rừng đã chết và "tự sướng". Ngoài ra, người này còn khoe cả những hình ảnh chụp những xác mèo chết đầy máu me, cảnh cầm súng chĩa vào xác mèo với dòng mô tả "Chết mà phê" trên Facebook.
Dân chơi thích thể hiện này được cho là ở khu vực Thanh Trì, Ngọc Hồi, Hà Nội. Do ở ngoại thành Hà Nội có ít diện tích rừng và không có động vật hoang dã nên những chú mèo rừng mà nam thanh niên H.Lê chia sẻ trên mạng được cho là săn trộm của đại gia, gia đình trọc phú nào đó nuôi làm cảnh.
Cư dân mạng sau khi xem những hình ảnh này đều tỏ ra bức xúc, phẫn nộ, quy kết thanh niên H. Lê có hành động săn bắn động vật quý hiếm trái phép, đã vậy còn lên mạng khoe chiến tích.
Nickname L'arc En Ciel bình luận trên Beat: "Thiếu thốn đến độ phải đi làm mấy trò này, đã thế còn khoe cho thiên hạ xem. Kiểu này công an chẳng cần tốn công sức cũng tóm gọn được thằng cu thích thể hiện. Thôi bóc lịch một thời gian là cái chắc rồi".
Nickname Dung Art khẳng định: "Đây có thể xem là tội săn bắn động vật quý hiếm. Mèo rừng thuộc nhóm IB, là nhóm các loạt động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm, cần được bảo vệ và cấm săn bắn, buôn bán, vận chuyển. Thấy thanh niên này còn có cả súng nữa, có thể còn vướng thêm tội tàng trữ vũ khí trái phép. Hai tội này kết hợp nhau thì thanh niên này xác định ngồi tù không ít". (Kiến Thức 8/1) đầu trang(
Theo ông Huỳnh Vĩnh Lạc, Phó Chánh Văn phòng Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vinpearl Phú Quốc đã có công văn đề nghị Ủy ban Nhân dân tỉnh được thực hiện nhiệm vụ cứu hộ và bảo tồn ngoại vi bò biển (Dugong) tại Phú Quốc.
Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang đã chỉ đạo các ngành chức năng xem xét đề nghị của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vinpearl Phú Quốc.
Công ty này đề nghị được tiếp nhận cứu hộ bò biển, thực hiện cứu hộ và chăm sóc bò biển bị săn bắt, đánh bắt ngẫu nhiên hay mắc lưới của ngư dân hoặc được người dân phát hiện và do các cơ quan chức năng thu giữ bàn giao.
Đối với công tác bảo tồn ngoại vi, Vinpearl Phú Quốc đề nghị được phép nuôi giữ bò biển tại cơ sở bằng kinh phí của công ty, nhằm góp phần vào việc bảo vệ, bảo tồn và tuyên truyền đến mọi người không đánh bắt bò biển.
Là đơn vị đang đầu tư trên đảo ngọc Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, Vinpearl Phú Quốc mong muốn góp phần vào việc bảo tồn, bảo vệ bò biển - một loài động vật biển quý hiếm trước nguy cơ tuyệt chủng ở mức cực kỳ nguy cấp. Số lượng hiện còn khoảng 100 cá thể và tại Việt Nam chỉ có ở Phú Quốc, Côn Đảo.
Bà Đặng Thanh Thủy, Giám đốc Công ty cho biết: "Với nguyện vọng góp phần giữ gìn cảnh quan thiên nhiên, hệ sinh thái và cơ sở vật chất hiện đại của thủy cung Vinpearl Phú Quốc cùng với kinh nghiệm gần 10 năm chăm sóc sinh vật biển, chúng tôi đủ khả năng thực hiện nhiệm vụ cứu hộ và bảo tồn ngoại vi bò biển tại Phú Quốc.
Thủy cung Vinpearl Phú Quốc còn là cơ sở vật chất kỹ thuật cho phép triển khai một cách tốt nhất, hiệu quả việc tuyên truyền, vận động cộng đồng xã hội chung tay bảo vệ bò biển. Vinpearl Phú Quốc tham vấn ý kiến các nhà khoa học, chuyên gia về sinh vật biển và phối hợp chặt chẽ với Viện Hải dương học Nha Trang để thực hiện cứu hộ khi tiếp nhận cá thể bò biển bị nạn cũng như chăm sóc và nuôi dưỡng trong bảo tồn ngoại vi loài động vật biển quý hiếm này".
Vinpearl Phú Quốc đang triển khai một số hoạt động bảo tồn, tái tạo rạn san hô tại Nha Trang (Khánh Hòa) dưới sự tư vấn khoa học kỹ thuật của Viện Hải dương học Nha Trang.
Dự kiến trong thời gian tới sẽ thành lập Trung tâm nghiên cứu biển và quan trắc môi trường Phú Quốc, góp phần vào việc bảo vệ môi trường, hệ sinh thái phong phú, đa dạng của hòn đảo ngọc. (VietnamPlus 8/1) đầu trang(
Cũng với danh nghĩa "tận thu", tình trạng khai thác vàng ở lòng hồ thủy điện Sông Bung 4 (TĐSB4) (dù cấp huyện, tỉnh không có quyền cấp phép) diễn ra khá phức tạp.
Tại đây, các đối tượng khai thác vàng đã mở một con đường rộng gần 5m, dài hơn 5km kéo dài đến tận những cánh rừng đầu nguồn của Dự án TĐSB4, thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh. Hai bên đường, những cây cổ thụ nằm la liệt. Dưới lòng hồ, những hầm hố bị khoét sâu vào vách núi để khai thác vàng mà nhiều đơn vị có chức năng không biết...
Là lãnh đạo đơn vị chủ quản cũng như thực thi pháp luật, ông Nguyễn Trí, Giám đốc BQL Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh đồng thời là Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm RĐD Sông Thanh, nhưng ông Trí không lý giải được tại sao lại xuất hiện con đường rộng lớn được mở trên lâm phận do đơn vị mình quản lý. Ông Trí cho rằng: "Việc đó không ảnh hưởng đến rừng, vì nơi mở đường không có cây! Chỉ cho họ đem mấy cái máy làm vàng vào đó thôi". Một diện tích đường lớn được mở chạy ngang trong một khu rừng đặc dụng mà ông Trí nói không có cây thật khó hiểu (?).
Để "né" trách nhiệm, ông Trí cho biết thêm: "Mình là chủ rừng, nhưng chỉ là danh nghĩa thôi chứ đâu có giấy tờ hợp pháp. Chủ rừng thì phải có quyết định giao đất, giao rừng, đằng này đơn vị không có quyết định nào chứng minh là chủ dù đang quản lý hơn 75.000ha rừng. Bên cạnh đó, diện tích 65ha trên UBND tỉnh đã bàn giao cho BQL TĐSB4 rồi", ông Trí nói.
Thế nhưng, ông Trí cũng "bật mí", cơ quan chức năng đã xác định được đối tượng gây ra "vụ phá rừng trên", và đối tượng đã ký vào hồ sơ vi phạm.
"Ngày 3-10-2014, CAH Nam Giang đã kiểm tra và tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Trần Công Viên (trú H. Đông Giang, Quảng Nam) về hành vi phá rừng trên. Từ đó đến nay cơ quan chức năng chậm xử lý, vì còn phải xác định con đường đó nằm ngoài hay trong vùng ngập nước. Do sơ đồ ngập nước trong lòng hồ so với thực tế có sai lệnh. Con đường trước đây đo đạc có diện tích hơn 7.000m2, giờ đã bị ngập chỉ còn nhô lên khoảng 1.800m2. Tuy nhiên gần đây, tỉnh đã có chỉ đạo xử lý nghiêm. Do vậy hiện cơ quan chức năng đang phối hợp củng cố hồ sơ để có hướng xử lý thích hợp"- ông Trí lý giải.
Nói như ông Trí thì việc "vàng tặc" mở con đường trên sẽ không có chuyện gì nếu người dân không phản ánh, báo chí không lên tiếng và con đường sẽ "biến mất" khi nước lòng hồ dâng ngập. Và lúc đó thì "chuyện đã qua", không ai chịu trách nhiệm cho hành vi phạm pháp trên (?).
Trước sự việc trên, ông Alăng Mai, Chủ tịch UBND H. Nam Giang khẳng định, nói thế là thiếu trách nhiệm, vì ranh giới, diện tích quản lý đã được xác định rõ. Nếu chưa có những giấy tờ hợp pháp có liên quan thì chủ rừng phải báo cáo, đề xuất với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Bên cạnh đó, nói về việc khu rừng đầu nguồn TĐSB4 bị tàn phá, ông A Lăng Mai thừa nhận chính quyền địa phương cũng có một phần trách nhiệm. Song cũng như ý kiến của Kiểm lâm, ông Mai cho rằng diện tích 65ha này đã bàn giao cho thủy điện nên BQL TĐSB4 cũng có một phần trách nhiệm.
Thực tế trong thời gian qua, trên danh nghĩa "khai thác tận thu khoáng sản vàng trong lòng hồ các thủy điện", các doanh nghiệp, đơn vị đã ầm ầm đưa thiết bị, máy móc vào các khu vực lòng hồ. Việc trên diễn ra công khai đến nỗi đại diện BQLDA TĐSB2 phải lên tiếng.
"Việc khai thác vàng, khoáng sản trái phép một cách rầm rộ diễn ra trong thời gian dài vừa qua tại khu vực lòng hồ của các dự án thủy điện trên Sông Bung không chỉ làm ảnh hưởng đến môi trường, an ninh xã hội, mà còn làm biến đổi dòng chảy, gây sạt lở, xói mòn, ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng đến quá trình thi công và vận hành thủy điện, xả lũ sau này. Bên cạnh đó, không ít đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây không những hiểu sai về mục đích tốt đẹp khi xây dựng thủy điện, mà còn nhầm lẫn rằng, những người làm thủy điện đã tiếp tay cho việc khai thác vàng, lâm khoáng sản trái phép", ông Nguyễn Sơn, Trưởng ban QLDA TĐSB2 cho biết.
Trước sự việc trên, đại diện BQL thủy điện đã nhiều lần làm việc với UBND tỉnh Quảng Nam, CA tỉnh, CAH Nam Giang kiến nghị để các cơ quan chức năng cùng vào cuộc giải quyết tận gốc vấn đề này. Thế nhưng đến nay vẫn chưa có đơn vị, cá nhân nào bị xử lý.
Về trách nhiệm của Hạt Kiểm lâm RĐD Sông Thanh và BQL khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh để "vàng tặc" mở con đường trong lâm phận mình quản lý, bảo vệ, ông Huỳnh Tấn Đức, Giám đốc Sở NN&PTNT Quảng Nam thẳng thắn: Việc con đường trên mở trong lâm phận Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh là trái phép. Trách nhiệm thuộc về Hạt Kiểm lâm RĐD Sông Thanh và BQL khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh.
"Không thể nói họ mở đường chạy vô nhà anh mà anh nói không biết là không được. Chúng tôi đang xem xét xử lý kỷ luật đối với những tổ chức, cá nhân trên, sai phạm đến đâu xử lý đến đó", ông Đức khẳng định. (Công An Đà Nẵng 8/1) đầu trang(
Những năm trước đây, khu vực rừng đặc dụng cảnh quan Đray Sáp thuộc xã Đắk Sôr (Krông Nô) được xem là một trong những điểm nóng về tình trạng phá rừng.
Thế nhưng, vài năm trở lại đây, với sự tăng cường quản lý, bảo vệ chặt chẽ của Ban Quản lý rừng đặc dụng cảnh quan (ĐDCQ) Đray Sáp nên nạn phá rừng đã cơ bản được hạn chế, rừng đang dần xanh trở lại.
Theo ông Võ Văn Tâm, Giám đốc Ban Quản lý rừng ĐDCQ Đray Sáp thì có được kết quả trên một phần lớn là nhờ chính quyền, nhân dân địa phương đã đồng lòng, phối hợp với đơn vị thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.
Ngay sau khi tiếp quản, đơn vị đã phối hợp với chính quyền địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật của Nhà nước về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, thông qua nhiều hình thức như xây dựng panô, áp phích, loa đài…nên ý thức bảo vệ rừng của người dân ngày càng tốt hơn.
Cùng với việc cắm 100 bảng cấm lửa, cấm chặt phá rừng, đơn vị cũng chủ động xây dựng kế hoạch cụ thể, phối hợp với lực lượng chức năng địa phương kiểm tra các khu rừng trọng điểm, vùng giáp ranh để truy quét các đối tượng có hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng.
Đơn vị đã thường xuyên tổ chức 2 chốt chặn tại các khu vực xung yếu như ở thôn Nam Tân và cầu thủy điện Buôn Kuốp và 1 tổ kiểm lâm cơ động kiểm tra, chốt chặn tại các khu vực. Nhờ vậy, năm 2014, tình trạng phá rừng giảm xuống đáng kể. Qua tuần tra, kiểm tra cho thấy, trong năm chỉ xảy ra 6 vụ vi phạm lâm luật; trong đó, có 3 vụ khai thác gỗ, 3 vụ vận chuyển gỗ trái phép, thu giữ 5 chiếc xe máy, tịch thu 0,352 m3 gỗ. Các vụ việc này cũng đã được đơn vị lập biên bản, xử lý theo đúng quy định.
Anh Vương Văn Hiển, nhân viên quản lý bảo vệ rừng cho biết: “Rừng đặc dụng cảnh quan Đray Sáp có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển du lịch cũng như bảo tồn hệ sinh thái. Vì vậy, tất cả các anh em trong đơn vị đều căng sức bảo vệ và luân phiên nhau tuần tra suốt ngày đêm. So với trước đây thì tình trạng phá rừng nơi đây đã giảm, nhưng không vì thế mà chúng tôi lơ là, mà luôn động viên nhau cố gắng, nỗ lực hơn nữa để bảo vệ từng mảnh rừng”.
Cùng với việc phòng chống phá rừng thì hiện đơn vị cũng tổ chức trồng được hơn 56 ha keo lai, đều sinh trưởng, phát triển tốt, góp phần phủ xanh những khoảng trống rừng bị phá trước đây. Đồng thời, đơn vị đã tiến hành giao khoán 1.205 ha rừng tự nhiên cho 25 hộ gia đình ở các khu dân cư bảo vệ.
Điều đáng ghi nhận là được sự tuyên truyền, vận động, hầu hết các hộ nhận khoán đều tâm huyết với nghề rừng và thường xuyên chủ động tổ chức tuần tra, bảo vệ rừng nên tình trạng phá rừng ngày càng giảm.
Anh Vương Văn Huân ở thôn Nam Tân cho biết: “Từ ngày tham gia nhận khoán bảo vệ rừng, tôi cũng như các thành viên trong tổ đều phối hợp, thay nhau tuần tra rừng. Ở dưới những tán rừng trồng thì chúng tôi tận dụng đất trống trồng đậu đỗ, bắp... để có thêm thu nhập, ổn định đời sống trước mắt cũng như tạo phủ xanh cho rừng”.
Cũng theo ông Tâm, bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Hiện nay, các đối tượng phá rừng ngày càng tinh vi hơn, thường xâm nhập từ tỉnh Đắk Lắk qua tuyến cầu thủy điện Buôn Kuốp.
Vì vậy, đơn vị luôn tập trung đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, vận động cũng như tăng cường tuần tra, kiểm soát chặt chẽ để thực hiện tốt hơn nữa công tác quản lý, bảo vệ rừng, giúp rừng Đray Sáp xanh lại như xưa. (Báo Đắc Nông 8/1) đầu trang(
UBND thành phố Hội An vừa ban hành công văn yêu cầu các ban, ngành, xã, phường của thành phố đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong cán bộ, chiến sĩ, công chức, viên chức, người lao động, học sinh, sinh viên và nhân dân nhận thức rõ về ý nghĩa và tầm quan trọng công tác quản lý, bảo vệ động vật hoang dã.
Đồng thời, nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, các cơ sở kinh doanh, nuôi nhốt, vận chuyển động vật hoang dã, các sản phẩm động vật hoang dã không có nguồn gốc hợp pháp.
UBND thành phố giao Hạt Kiểm lâm thành phố chủ trì phối hợp với Công an Thành phố, Đội Quản lý thị trường số 2 và UBND các xã, phường tăng cường kiểm tra việc mua bán, vận chuyển, nuôi nhốt và kinh doanh động vật hoang dã, đồng thời xử lý nghiêm túc các hành vi vi phạm về quản lý động vật hoang dã theo quy định của pháp luật. (Báo Quảng Nam 8/1) đầu trang(
Qua công tác trinh sát, tổ công tác của phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường – Công an tỉnh Kon Tum và hạt kiểm lâm huyện Ngọc Hồi vừa phát hiện tại khu vực tiểu khu 181, 182 ban trồng rừng của công ty nguyên liệu giấy miền nam thuộc địa bàn xã Đăk Kan huyện Ngọc Hồi có 02 điểm tập kết lâm sản với khối lượng 7,150 m3 và 7,747 m3 (chưa xác định rõ chủng loại lâm sản).
Lượng lâm sản trên bao gồm nhiều lóng gỗ xẻ hộp được đánh số thứ tự; tại thời điểm kiểm tra, tổ công tác chưa xác định được chủ nhân của số lâm sản kể trên.
Phòng Cảnh sát PCTP về môi trường và hạt kiểm lâm huyện Ngọc Hồi đã tiến hành lập biên bản ghi nhận sự việc, đồng thời bàn giao cho các đơn vị có trách nhiệm để quản lý và vận chuyển số lâm sản trên ra khỏi khu vực tiểu khu 181, 182, xử lý theo đúng quy định của pháp luật. (Congankontum.gov.vn 6/1) đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Tình trạng mua bán, vận chuyển, khai thác gỗ rừng trái phép trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh vẫn diễn biến phức tạp. (Nhân Dân 9/1, tr7) đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Trên địa bàn thành phố Bà Rịa nhiều người dùng các loại máy phát ra tiếng chim kêu để bẫy chim, tiềm ẩn nguy cơ tận diệt loài chim này. (Nhân Dân 9/1, tr7) đầu trang(
Các nhà khoa học thuộc viện hàn lâm khoa học công nghệ Việt Nam vừa tổ chức chuyến đi thực tế thu thập số liệu thu được so với thực tế thu được từ ảnh Vệ tinh kết hợp GIS. Kết quả thu được rất khả quan trong việc giám sát tài nguyên môi trường và đặc biệt là hệ sinh thái rừng.
Trong đợt công tác, đoàn đã tiến hành đo 15 ô tiêu chuẩn đại diện cho các kiểu sinh cảnh đặc trưng của Vườn quốc gia; chụp ảnh và đo GPS trên 6 tuyến khảo sát, đo phổ phản xạ của các loại sinh cảnh trong VQG. Đề tài sử dụng các phần mềm mã nguồn mở, GPS và ảnh máy ảnh số (loại không tích hợp GPS) để thu thập thông tin và gắn tọa độ cho các ảnh chụp phục vụ công tác giám sát sinh cảnh, giải đoán ảnh vệ tinh. Đây là quy trình đơn giản, dễ thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế tại VQG.
Nhóm chuyên gia cũng đã thực hiện 11 lần bay UAV 6 động cơ điện để đo phổ phản xạ và chụp ảnh tại 4 điểm khảo sát ở VQG Hoàng Liên (khu vực Thác Bạc, khu Vực Hầu Thào, khu vực độ cao 2800m và khu vực đỉnh Phan Xi Părig 3143m).
Kết quả đo bằng máy phổ kế do đề tài chế tạo gắn trên UAV cho kết quả phổ phản xạ của các kiểu lớp phủ ở bước sóng 0,4 - 1 micrometers. Bước sóng này bao phủ dải sóng từ băng 1 đến băng 5 của ảnh Landsat 8. Đây là tư liệu hỗ trợ việc giải đoán ảnh vệ tinh Landsat 8.
Tại buổi làm việc với VQG Hoàng Liên, Ban giám đốc VQG trình bày những mặt còn hạn chế của việc ứng dụng công nghệ viễn thám, GIS trong công tác quản lý giám sát tại VQG, và mong muốn nhanh chóng ứng dụng công nghệ này để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý.
Cũng trong buổi làm việc, GS.TSKH. Nguyễn Khoa Sơn, chủ nhiệm Chương trình KHCN vũ trụ đã trao đổi về tính cần thiết, những tác hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ viễn thám, GIS trong công tác quản lý giám sát VQG Hoàng Liên.
Nhân dịp này, đoàn công tác đã tặng VQG Hoàng Liên và sở Khoa học công nghệ tỉnh Lào Cai ảnh Vệ tinh Landsat 7, Landsat 8 và sách giới thiệu về Vệ tinh VNREDSat-1 của Việt Nam. (Tài Nguyên Môi Trường 8/1, tr11) đầu trang(
Vườn Quốc gia Bái Tử Long (QGBTL) rộng 15.783ha, trong đó diện tích biển là 9.658ha, các đảo nổi là 6.125ha.
Bên cạnh những hệ sinh thái phong phú, đa dạng dưới nước như rạn san hô, thảm cỏ biển, thì hệ sinh thái rừng trên các đảo đất, trên các đảo đá vôi là kho dự trữ những nguồn gen vô giá, không chỉ mang những giá trị về kinh tế, cảnh quan môi trường, mà còn là nguồn dược liệu quý.
Theo điều tra tại Vườn QGBTL đã phát hiện 431 loài dược liệu, trong đó có 19 loài quý hiếm có giá trị cao và có 8 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam. Nhận thấy tầm quan trọng của việc nhân giống các cây thuốc quý, từ năm 2009, Vườn QGBTL đã nghiên cứu ươm giống và trồng cây lá khôi tía và cây bách bệnh với diện tích hơn 1ha.
Theo kỹ sư lâm nghiệp Nguyễn Đình Ưng, Chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu nhân giống và trồng thử nghiệm cây lá khôi tía” tại Vườn QGBTL: Cây lá khôi tía gần đây được coi là một vị thuốc quý của Việt Nam. Nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng dược lý của cây lá khôi tía đã được các nhà khoa học của Malaysia, Thái Lan, Mỹ công bố, có tác dụng tăng cường khả năng tiêu hoá chữa trị căn bệnh đường ruột cực kỳ hiệu quả.
Ngoài ra còn dùng chữa chứng ăn khó tiêu hay bị đầy bụng. Kết quả khảo sát trên một số tuyến đã phát hiện cây lá khôi tại khu vực suối Cao Lồ thuộc đảo Ba Mùn; khu vực đảo Sậu Đông. Trong nhiều năm qua, các lái buôn trong vùng tổ chức thu mua để xuất bán sang Trung Quốc, nên cây lá khôi tía bị khai thác cạn kiệt. BQL Vườn QGBTL đã triển khai một số biện pháp nhằm từng bước bảo tồn phục hồi quần thể loài cây lá khôi tía, như bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh tự nhiên...
Tuy nhiên, việc phục hồi nhanh bằng biện pháp khoanh nuôi tự nhiên rất khó khăn do số lượng cây mẹ còn quá ít, chu kỳ sai quả dài (2-3 năm), cây con tái sinh bằng hạt sinh trưởng chậm.
Trước thực trạng đó, năm 2009, ông Nguyễn Đình Ưng đã được giao thực hiện đề tài “Nghiên cứu nhân giống và trồng thử nghiệm cây lá khôi tía” tại Vườn QGBTL. Qua đó nhằm phục hồi, duy trì một nguồn gen quý, có giá trị dược liệu, làm tăng giá trị đa dạng sinh học của Vườn; đồng thời nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật trong việc thực hiện công tác nghiên cứu khoa học. Sau 3 năm thực hiện đề tài, đến nay đã thành công, kết quả sẽ được ứng dụng để phát triển vùng nguyên liệu cây lá khôi tía ở Quảng Ninh, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Đầu tháng 8-2014, Sở KH&CN đã tổ chức hội đồng khoa học đánh giá hồ sơ nhiệm vụ ứng dụng KHCN xây dựng mô hình sản xuất giống, trồng và sơ, chế biến hai loài cây dược liệu lá khôi tía và cây đinh lăng lá nhỏ tại huyện Ba Chẽ (thuộc nhóm các nhiệm vụ ứng dụng thành tựu KH&CN áp dụng theo chương trình xây dựng NTM) do Công ty CP Phát triển rừng bền vững thực hiện. BQL Vườn QGBTL thực hiện chuyển giao công nghệ sản xuất giống và trồng cây lá khôi tía.
Tại Vườn QGBTL cũng thực hiện thành công đề tài “Nghiên cứu nhân giống và trồng thử nghiệm cây bách bệnh”. Theo kỹ sư lâm nghiệp Nguyễn Văn Hùng, Chủ nhiệm đề tài: Cây bách bệnh là một dược liệu quý có giá trị cao trong y học, có thể chữa được rất nhiều bệnh. Đề tài được thực hiện nhằm duy trì nguồn gen quý này và làm tăng giá trị đa dạng sinh học của Vườn quốc gia.
Cùng với đó, từ nhiều năm qua, BQL Vườn QGBTL chú trọng gieo ươm và tạo được một số loài cây dược liệu quý như: Xạ đen, ba kích, dây thìa canh, đinh lăng… Tuy nhiên, việc khai thác quá mức mà chưa chú ý đến bảo tồn, tái sinh đã dẫn đến nguy cơ bị cạn kiệt những loài cây dược liệu. Với hơn 400 loài được sử dụng làm thuốc, nhưng việc bảo vệ nguồn tài nguyên còn gặp rất nhiều khó khăn, vì thế cần hơn nữa sự quan tâm, hỗ trợ, vào cuộc của các cơ quan, đơn vị chức năng. (Báo Quảng Ninh 8/1) đầu trang(
Từ năm 1999 đến năm 2010, thực hiện Quyết định số 304/2005/QĐ-TTg ngày 23-11-2005 và theo Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ngày 12-11-2001 của Thủ tướng Chính phủ, toàn tỉnh đã đã giao trên 36.000 ha rừng và đất lâm nghiệp cho 5.026 hộ gia đình quản lý, bảo vệ.
Trong đó, giao theo Quyết định số 304/200n5/QĐ-TTg là 10.966,8ha cho 1.431 hộ trên địa bàn 5 huyện: Ea H’leo, Ea Súp, Buôn Đôn, M’Drak, Krông Ana; giao theo Quyết định 178/2001/QĐ-TTg là 25.088,6 ha cho 3.595 hộ trên địa bàn 8 huyện: Ea Kar, Krông Buk, Ea H’leo, Krông Bông, Lak, Ea Súp, Cư M’gar, Krông Ana.
Theo kết quả rà soát, thống kê của các Hạt kiểm lâm, hiện tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp giao cho các hộ gia đình, cộng đồng dân cư chỉ còn 25.469,3ha.
Diện tích rừng bị phá, lấn chiếm khoảng 11.000 ha, trong đó, diện tích giao theo Quyết định số 304/2005/QĐ-TTg bị phá, lấn chiếm khoảng 2.000 ha; diện tích giao theo Quyết định 178/2001/QĐ-TTg bị phá, lấn chiếm trên 8.500 ha. Một số huyện để diện tích bị mất nhiều gồm: Krông Bông (6.866,1ha), Ea Súp (2.0395,3ha), Buôn Đôn (1.000 ha)... (Báo Đắc Lắc 9/1) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Ông Lê Quang Công (ở xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) gửi đơn đến các cơ quan chức năng tố cáo một nhóm cán bộ kiểm lâm của huyện Lệ Thủy (Quảng Bình) đã lừa bán rừng keo khống, chiếm đoạt của ông hơn 500 triệu đồng.
Theo đơn của ông Công, ngày 11.12.2012, các cán bộ kiểm lâm thuộc Hạt Kiểm lâm Lệ Thủy gồm ông Phan Văn Ngọc, ông Nguyễn Văn Tài và bà Nguyễn Thị Mai (bên bán) ký hợp đồng bán 50ha rừng keo, tại tiểu khu 461, thuộc lâm phần xã Kim Thủy, huyện Lệ Thủy để ông Công khai thác gỗ với giá 1,1 tỷ đồng.
Theo thỏa thuận, trước khi nhận diện tích rừng để khai thác, ông Công đã giao 900 triệu đồng cho bên bán. Sau đó ông Công yêu cầu được giao hổ sơ đất rừng và hiện trạng thực tế của rừng keo nhưng nhóm cán bộ kiểm lâm này chỉ đưa ra một bộ hồ sơ giao nhận khoán đất lâm nghiệp trồng rừng nguyên liệu mang tên Phan Văn Ngọc, do Lâm trường Kiến Giang cấp năm 2005, với diện tích 20,7ha. Ông Công thắc mắc, thì họ giải thích ghi như vậy để tránh thuế.
Khi ông Công tiến hành khai thác thì diện tích rừng thu hoạch thực tế chỉ có 20,7ha (thiếu gần 30ha so với hợp đồng). “Tìm gặp những cán bộ kiểm lâm nói trên thì họ hứa sẽ trả lại tiền phần diện tích rừng còn thiếu, thời gian sau họ tránh mặt, gọi điện thoại thì không nghe hoặc tắt máy” - ông Công bức xúc cho biết.
Theo ông Nguyễn Xuân Quế -Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Lệ Thủy, ông Công kiện là không có cơ sở, hiện ông Công còn thiếu của nhóm cán bộ kiểm lâm này 200 triệu đồng, vì đã khai thác đủ diện tích theo hợp đồng nhưng chưa trả sổ tiền còn lại. Ông Quế còn cho rằng ông Công bất hợp tác, không chịu đi đo lại diện tích đã khai thác để có cơ sở xử lý.
Để chứng minh, ông Quế đưa ra 3 hồ sơ nhận khoán đất lâm nghiệp trồng rừng mang tên ông Phan Văn Ngọc, Nguyễn Văn Tài và Trẩn Mạnh Luật; bản đăng ký khai thác rừng trồng của 3 ông nói trên, có chữ ký đồng ý của ông Trần Văn Mừng -Chủ tịch xã Kim Thủy; biên bản kiểm tra khai thác lâm sản để với sự có mặt của 3 chủ rừng, ông Trần Văn Hòa (Kiểm lâm viên thuộc Trạm Kiểm lầm đường 16) và ông Võ Đức Thắng (cán bộ lâm nghiệp xã Kim Thủy).
Khi được hỏi, bà Mai là bên bán trong hợp đồng tại sao lại không có tên trong hồ sơ trên, trong khi đó ông Luật không liên quan lại đưa vào giải quyết vụ việc? Ông Quế giải thích, ông Luật đã ủy quyền cho bà Mai bán rừng của mình cho ông Công.
Tuy nhiên tại hợp đồng bán rừng cho ông Công, bà Mai không hề ghi mình là người được ủy quyền, giấy ủy quyền giữa ông Luật và bà Mai không hề có công chứng theo quy định mà chỉ là tờ giấy viết tay do hai người ký với nhau. Còn ông Tài mặc dù được ghi trong hợp đồng với tư cách bên bán nhưng lại không có chữ ký của ông này.
Ồng Trần Văn Mừng - Chủ tịch UBND xã Kim Thủy khẳng định: Chỉ ký một giấy đồng ý cho ông Ngọc khai thác rừng, còn giấy của ông Tài, ông Luật thì ở đâu ra ông không biết. Ông Võ Đức Thắng - cán bộ lâm nghiệp xã Kim Thủy cũng thắc mắc, ông không hề có mặt trong đoàn kiểm tra khai thác rừng của những ông nói trên, nhưng trong biên bản lại có tên ông... (Nông Thôn Ngày Nay 9/1, tr6) đầu trang(
Trước thực trạng khai thác, buôn bán gỗ trắc (tên khoa học Dalbergia cochinchinesis) trái phép diễn biến phức tạp trong thời gian qua và để đảm bảo đúng các quy định của Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES), Cơ quan quản lý CITES Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) vừa có văn bản số 283/CTVN-DTTT gửi các thương nhân kinh doanh gỗ trắc về việc quản lý cấp giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu gỗ trắc.
Theo nội dung văn bản, Cơ quan quản lý CITES Việt Nam yêu cầu, tạm ngừng cấp giấy phép CITES nhập khẩu gỗ trắc kể từ ngày 1/1/2015 đối với các hồ sơ đề nghị nhập khẩu gỗ có nguồn gốc từ Campuchia và Thái Lan.
Tạm ngừng cấp giấy phép CITES tái xuất khẩu gỗ trắc kể từ ngày 1/1/2015 đối với các lô hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất gỗ trắc từ Lào và Campuchia theo quy định tại Thông tư số 37/2014/TT-BTC ngày 24/10/2014 của Bộ Công Thương.
Ông Đỗ Quang Tùng, Giám đốc Cơ quan quản lý CITES Việt Nam cũng cho biết, chỉ xem xét cấp giấy phép CITES nhập khẩu gỗ trắc từ Lào khi có xác nhận về hồ sơ hợp pháp của Cơ quan quản lý CITES Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Ngoài ra, mọi trường hợp xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu gỗ trắc vào Việt Nam phải có giấy phép CITES theo quy địn.(VietnamPlus 9/10) đầu trang(
Với kim ngạch xuất khẩu (KNXK) lên đến 6,5 tỷ USD, ngành gỗ và lâm sản đang kỳ vọng sẽ có nhiều cơ hội mở rộng thị trường khi các hiệp định thương mại được ký kết.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, cho rằng các DN cần chủ động chuyển dổi cơ cấu sản phẩm, nâng cao công nghệ để tìm thị trường mới.
Ông Nguyễn Tôn Quyền cho biết: Năm 2014, ngành gỗ đạt tổng KNXK 6,2 tỷ USD, nếu kể cả lâm sản ngoài gỗ là 6,5 tỷ USD. Thị trường hiện nay lớn nhất là Mỹ, Nhật Bản đã phục hồi và tăng, EU giữ vững nhưng Trung Quốc giảm sút, song lại có một số thị trường mới tăng KN. Như vậy, KN tăng 15% do các thị trường chính tăng lên, các thị trường mới mà chúng ta đã thâm nhập được vào.
Năm 2015 có nhiều cái mới phải vượt qua. Thứ nhất, Hiệp định tự do FTA Việt Nam EU và Hiệp định TPP đang đàm phán, đặc biệt hiệp định đối tác tự nguyện cũng được ký kết, hầu hết các loại gỗ phải chứng minh là hợp pháp, xuất xứ rất quan trọng. Trong khi đó, gỗ của chúng ta lại được mua từ nhiều quốc gia trên thể giới và không phải nước nào cũng có chứng chỉ đảm bảo gỗ hợp pháp.
Do đó, Việt Nam tìm hiểu, đánh giá, xem xét kỹ nguồn gốc gỗ để đảm bảo 100% là gỗ hợp pháp nhằm tận dụng được những ưu đãi từ các Hiệp định đã ký kết. Khi xem xét kỹ nguồn gốc gỗ thì giá gỗ chắc chắn sẽ tăng lên vì ta phải đi tìm, chọn lọc nên yêu cầu cao lên. Chi phí để làm chứng chỉ cũng cao lên, tức là giá gỗ sẽ tăng lên. Giá mua sản phẩm được dự báo cũng tăng.
Sắp tới, chúng ta sẽ thực hiện cam kết của các hiệp định vào Việt Nam trong tương lai, trong đó quan trọng nhất sản phẩm gỗ của các nước tiên tiến như Đài Loan, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc... sẽ vào Việt Nam và canh tranh quyết liệt với sản phẩm của Việt Nam. Lâu nay, ta có sự quan tâm rất nhiều là hướng đến XK, ít quan tâm đến nội địa nên các sản phẩm nội địa cạnh tranh rất khó với các sản phẩm NK.
Một khó khăn nữa là dù lãi suất đã giảm nhưng chi phí vẫn cao. Năm 2014, chi phí vận tải tàu thủy rất cao. Đây là rào cản rất lớn đối với nguồn đầu tư cho các DN trong tương lai do giá tăng lên, chi phí tăng lên trong khi giá bán thì giảm đi. Tuy nhiên, dù khó khăn như vậy, năm 2015, vẫn đặt mục tiêu đạt 7 tỷ USD cho cả năm.
Việc phát triển mở rộng thị trường gỗ có 3 điểm chú ý. Thứ nhất, là nhu cầu thị trường Trung Quốc giảm. Năm 2013, cỡ khoảng gần 800 triệu, năm 2014 còn gần 600 triệu, tương lai nhu cầu còn giảm nữa. Cũng bởi trước đây Trung Quốc mua chúng ta là sản phẩm thô, nhưng giờ Nhà nước phải hạn chế sản xuất thô, nên phải tìm thị trường mới, sản phẩm mới để XK.
Ví dụ, ta có thể đẩy mạnh XK ván nhân tạo. Năm vừa rồi, chúng tôi đã phát động nhiều DN làm gỗ ép, gỗ ghép thanh. Kinh nghiệm cho thấy có những DN làm gỗ ghép thanh từ gỗ cao su, giá từ 700USD/m3 đã lên 1.200 USD. Chúng tôi đang định hướng thaỵ đổi cơ cấu sản phẩm, từ đó sử dụng gỗ trong nước để có sản phẩm có giá trị cao hơn.
Như vậy, vấn đề là phải tìm thị trường nào cần cho các sản phẩm. Và, để đáp ứng được nhu cầu thị trường, cần phải thay đổi công nghệ, trước đây làm bàn ghế đơn giản, nay phải tập trung các sản phẩm khó hơn.
Thực tế là việc tìm thị trường mới còn nhiều lúng túng, chúng tôi đã có kiến nghị rồi. Như thị trường Nga là thị trường mới và năm 2013, Chính phủ và Bộ Công Thương khuyến khích 3 ngành là gỗ, thủy sản và may mặc vào thị trường Nga. Thế nhưng, những quy định của Nhà nước Nga về khuyến khích đưa gỗ vào Nga còn vướng mắc nhiều.
Còn vào EU và Mỹ, thị trường ổn định nhưng với rào cản đặt ra là cần phải 100% gỗ hợp pháp, trong 3 năm nay, các DN đã chuẩn bị. Điều quan trọng nhất vẫn là nguyên liệu, nếu trong nước nâng cao được năng lực sản xuất thì chúng ta thoát được quy định về nguyên liệu, nếu không sẽ gặp khó khăn.
Tỷ lệ này cũng đã được cải thiện, trước đây ta NK 80%, năm 2014 là 40% và đã đáp ứng được 60%. Đến 2020, ta chỉ NK khoảng 25% nữa thôi. (Thời Báo Kinh Doanh 8/1) đầu trang(
Hương Khê là một huyện miền núi có đất lâm nghiệp chiếm trên 60% diện tích, từng trở thành điểm nóng trên địa bàn Hà Tĩnh về tranh chấp đất rừng.
Nhưng với chủ trương giao đất rừng, cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân đang có những chuyển biến tích cực trong thời gian gần đây, đỡ góp phần ổn định tình hình, tác động không nhỏ đến việc thúc đẩy phát triển kinh tế ở địa phương một cách hiệu quả.
Thời gian qua, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã có quyết định rà soát, bóc tách đất rừng tại các nông, lâm trường, Ban quản lý rừng phòng hộ để chuyển đổi và trả lại một phần diện tích đất rừng giao cho các địa phương quản lý, giao lại cho nhân dân nhằm thực hiện đề án giao đất rừng theo Quyết định số 3952/2013/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hà Tĩnh, huyện Hương Khê cũng nằm trong số địa phương nhận được quyết định hướng dẫn triển khai thực hiện. Theo đó, trong ba năm từ 2013 đến 2015, huyện Hương Khê đã có phương án phê duyệt hơn 9.300 héc ta đất rừng để đưa vào phương án giao đất, cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ông Nguyễn Cự Duẩn - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Hương Khê (đơn vị thường trực triển khai kế hoạch giao đất rừng của huyện Hương Khê) cho biết: Đến cuối năm 2014, ở huyện Hương Khê đã có 15 xã chính thức ký với các đơn vị tư vấn đo vẽ bản đổ đất lâm nghiệp. Hiện tại, có 8 xã đã đo vẽ xong với diện tích là 6.100 héc ta, gồm: Hương Bình, Hương Đô, Hà Linh, Hương Giang, Hương Thủy, Hương Xuân, Hương Lâm, Phương Mỹ. Trong số đó có 3 xã đã hoàn chỉnh bản đồ, đánh giá đặc trưng đấy rừng và đang chờ thẩm định, phê duyệt để cấp bìa là Hà Linh, Hương Xuân, Hương Bình.
Tuy nhiên, đến thời điểm này, tiến độ giao đất cho nhân dân ở một số xã trên địa bàn còn chậm, ông Duẩn cho hay, nguyên nhân chủ yếu do một số xã có diện tích rừng tự nhiên lớn nên phải mất nhiều thời gian cho công tác đo vẽ. Mặt khác, trong quá trình triển khai thực hiện, một số nơi chưa thống nhất chủ trương, hướng dẫn để người dân nắm bắt nên có xảy ra tranh chấp, kiện cáo; đất không giao “thuận canh, thuận cư” mà giao cách địa điểm 3 - 4 km nên người dân gặp không ít khó khăn.
Tại xã Lộc Yên, sau khi xảy ra việc người dân tự ý vào các khu đất của các lâm trường cao su chặt phá, lấn chiếm đất, UBND tỉnh đã chỉ đạo xử lý dứt điểm vụ việc. Huyện Hương Khê đã chủ động lập đoàn chỉ đạo từ cấp huyện, xã rà soát lại diện tích, đánh giá hiện trạng rồi tuyên truyền đến từng hộ dân để chủ động nắm bắt nên nhiều vụ tranh chấp đã được giải quyết hợp tình, hợp lý.
Theo kế hoạch, xã Hương Vĩnh sẽ nhận được khoảng 300 héc ta đất rừng từ rừng phòng hộ sóng Tiêm, tuy nhiên mới chỉ tổ chức giao cho dân được hơn 100 ha, hiện đang làm thủ tục để giao cho những hộ còn lại. Nguyên nhân giao đất lâm nghiệp cho người dân chậm là việc giao thực địa rất khó khăn, chưa có dụng cụ máy móc hỗ trợ, chủ yếu phải trèo đèo lội suối đo đạc thủ công theo hình thức “tạm tính”, ảnh hưởng đến tiến độ.
Theo rà soát, huyện Hương Khê cần bàn giao 9.347 héc ta đất rừng cho dân trong năm 2015. Với lộ trình đó, huyện đã thành lập Ban chỉ đạo và huy động hết các ban, phòng tham gia để đảm bảo tiến độ. Theo lời ông Nguyễn Cự Duẫn thì việc đảm bảo tiến độ bàn giao đất rừng, cấp Giấy Chứng nhận quyền sửdụng đất lâm nghiệp cho người dân ở Hương Khê nếu giải quyết được những vướng mắc hiện tại sẽ đảm bảo tiến độ hoàn thành kế hoạch vào giữa năm 2015.
Theo nội dung công văn liên sở số 1140/HĐ-LS: NN&PTNT-TN&MT hướng dẫn kinh phí tổ chức thực hiện đề án giao đất, giao rừng giai đoạn 2013 - 2015 căn cứ theo Nghị quyết số 54/2013/NQ-HĐND ngày 13/7/2013 của HĐND tỉnh cụ thể như sau: Nguồn kinh phí tổ chức thực hiện đề án giao đất, cho thuê đất gắn với giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp giai đoạn 2013 - 2015, do ngân sách tỉnh, ngân sách huyện, ngân sách xã đầu tư và các cá nhân tổ chức đất rừng cùng đóng góp.
Để rừng có chủ thực sự, gắn quyền lợi với trách nhiệm, tạo điều kiện để người dân bảo vệ được rừng, yên tâm quản lý, đầu tư phát triển rừng trên diện tích rừng được giao, lãnh đạo cũng như các phòng ban, cơ quan trực thuộc ở Hương Khê đang tìm ra những giải pháp dần tháo gỡ vướng mắc, sớm về đích theo nhiệm vụ đã đề ra. (Tài Nguyên Môi Trường 8/1, tr7) đầu trang(
Việc đầu tư xây dựng Nhà máy chế biến gỗ và ván sợi công nghệ MDF ở huyện Nghĩa Đàn được kỳ vọng tạo nên động lực mới cho vùng miền Tây Nghệ An.
Tuy vậy, những khó khăn trong qua trình triển khai xây dựng, Sở Công Thương và UBND huyện Nghĩa Đàn… cần vào cuộc tháo gỡ để dự án về đích đúng thời hạn và thành công như mong đợi.
Một ngày cuối năm 2014, chúng tôi có dịp trở lại công trường xây dựng Nhà máy chế biến gỗ và ván sợi công nghệ MDF tại Nghĩa Đàn. Trên thực địa, hàng trăm kỹ sư và cán bộ công nhân đang gấp rút thực hiện các hạng mục công trình. Rất nhiều thiết bị máy móc, ồ ạt triển khai dưới sự quản lý điều hành quyết liệt, chuyên nghiệp cao của PMU cũng như nỗ lực vượt khó của toàn thể các nhà thầu của dự án.
Hiện nay, nhà máy đang trong giai đoạn nước rút hoàn thành giai đoạn I gồm 2 dây chuyền sản xuất gỗ thanh công suất 12.000m3/năm và gỗ MDF công suất 130.000m3/năm.
Ông Đinh Văn Thơi, đại diện đội lắp máy, kỹ sư dày dặn kinh nghiệm nhiều dự án công nghiệp quy mô lớn, cho biết: "Chúng tôi rất phấn khởi khi từng ngày, các công việc dần hình thành theo đúng kế hoạch dưới sự giám sát và điều phối rất quyết liệt, cụ thể và chỉ dẫn chi tiết của ban điều hành PMU. Chúng tôi phấn đấu hoàn thành các công việc còn lại theo đúng lịch trình đã được lên kế hoạch, và chạy thử dây chuyền trước Tết Nguyên đán, đó là niềm vui lớn của tập thể cán bộ, công nhân trên toàn công trường cũng như của chủ đầu tư".
Dự án Nhà máy chế biến gỗ và ván sợi công nghệ MDF thuộc Công ty cổ phần lâm nghiệp tháng Năm được khởi công xây dựng từ tháng 2/2013, trong khuôn khổ Dự án “Xây dựng nhà máy chế biến gỗ và phát triển rừng bền vững tại Nghệ An” với tổng vốn đầu tư 500 triệu USD, gồm: Nhà máy chế biến gỗ thanh với tổng mức đầu tư 150 triệu USD, công suất 8.800 m3/năm; Nhà máy chế biến ván sợi MDF với tổng mức đầu tư 350 triệu USD, công suất 400.000m3/năm.
Kể từ ngày khởi công đến nay, mặc dù gặp những khó khăn nhất định nhưng được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo tỉnh, các cơ quan, ban, ngành và huyện Nghĩa Đàn, sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo tập đoàn TH cũng như sự nỗ lực của tập thể cán bộ, công nhân viên Công ty CP lâm nghiệp Tháng Năm, một khối lượng lớn công việc của dự án đã thực hiện đúng kế hoạch.
Hiện nay, đội ngũ kỹ sư, công nhân đang hoàn thiện lắp đặt thiết bị dây chuyền chính của nhà máy ván thanh (sawmill) dự kiến hoàn thành, vận hành chạy thử đầu tháng 2/2015. Các hạng mục phụ trợ dây chuyền sản xuất ván thanh dự kiến vận hành sản xuất thử trước Tết Nguyên đán (trung tuần tháng 2/2015 dương lịch).
Chủ đầu tư cũng đang triển khai các công tác chuẩn bị cho lắp đặt dây chuyền chính nhà máy MDF và bắt đầu lắp trung tuần tháng 1/2015 và hoàn thành lắp đặt thiết bị dự kiến vào tháng 6/2015. Các hạng mục phụ trợ cho toàn dây chuyền MDF đồng bộ hoàn thành và vận hành chạy thử đầu tháng 9/2015. Toàn dự án hoàn thành và đưa vào sản xuất tháng 9/2015.
Ông Nguyễn Bình Long - Giám đốc điều hành xây dựng dự án, cho biết: Tuy tiến độ bước đầu trong xây dựng nhà máy đã đúng như kế hoạch, nhưng quá trình hoàn thành dự án vẫn còn gặp nhiều vướng mắc. Hiện tại các xe chuyên chở nguyên, vật liệu xây dựng nhà máy phải đi chung vào đường dân sinh của xóm. Tuyến đường D1 hiện vẫn chưa hoàn thành và đấu nối với hệ thống đường nội bộ của dự án. Đường điện 35kw cũng gặp nhiều khó khăn khi liên tục bị đẩy lùi kế hoạch đấu nối với hệ thống điện của dự án, mặc dù chỉ còn các công tác cuối cùng nhưng nếu tiếp tục trượt kế hoạch sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến kế hoạch đấu nối và vận hành chạy thử thiết bị.
Nhà máy chế biến gỗ và ván sợi công nghệ MDF được đầu tư trên đất Nghĩa Đàn với công nghệ hiện đại khi đi vào hoạt động sẽ tạo việc làm cho lượng lớn lao động và thúc đẩy nhân dân phát triển rừng nguyên liệu, đóng góp nguồn ngân sách cho tỉnh nhà. Sản phẩm của nhà máy sản xuất ra sẽ đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, có đủ sức cạnh tranh tại các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật, EU nhờ nhà đầu tư đã lựa chọn được các nhà cung cấp công nghệ và thiết bị tốt nhất trên thế giới.
Đó là thiết bị tạo hình, nén liên hồi và trạng thái ván của Công ty Dieffenbacher (CHLB Đức); thiết bị công nghệ sản xuất ván sợi gỗ của Công ty Metso (Thụy Điển); công nghệ băm dăm, làm sạch và kho chứa băm dăm của Công ty Hombak/CMC (CHLB Đức); công nghệ chà nhám sản phẩm của Công ty Steinemann (CHLB Đức); công nghệ cắt sản phẩm theo kích thước cuối cùng của Công ty Anthon (CHLB Đức)...
Tuy nhiên, để khớp với tiến độ vận hành sản xuất thử của dây chuyền ván thanh và kế hoạch mục tiêu sản xuất kinh doanh ngay sau Tết Nguyên đán, cần đẩy nhanh thông tuyến đường điện 35KV và đường giao thông từ nhà máy ra đường Đông Hồi và đường Hồ Chí Minh trước ngày 10/1/2015.
Việc không thông tuyến đường này sẽ là khó khăn rất lớn cho dự án trong giai đoạn cung cấp và lắp đặt thiết bị khối lượng và quy mô lớn đồng loạt của Nhà máy MDF cũng như việc vận chuyển nguyên liệu cho sản xuất, kinh doanh sản phẩm của nhà máy ván thanh. (Báo Nghệ An 9/1) đầu trang(
Trồng rừng theo cơ chế sạch tại xã Xuân Phong (Cao Phong, Hòa Bình) đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân và bảo vệ môi trường.
Trồng rừng sạch theo dự án JICA Nhật Bản ở xã Xuân Phong là mô hình đầu tiên triển khai tại các xã miền núi phía Bắc. Đi theo dự án, người dân có rất nhiều lợi ích, như được thu tiền từ bán khí, có thu nhập ổn định từ việc chia sẻ lâm sản và các sản phẩm từ rừng như củi, mật ong, được hưởng 100% gỗ khi hết chu kỳ. Đặc biệt, người dân sẽ được sống trong một môi trường trong lành, mát mẻ.
Tháng 4/2009, nhận thức được vai trò của trồng rừng, chính quyền và nhân dân xã Xuân Phong đã triển khai dự án trồng rừng theo cơ chế sạch. Chu kỳ dự án 15 năm nhưng bước đầu đã cho thấy hiệu quả tốt. Toàn xã có 310 hộ đăng ký tham gia dự án, tập trung ở 3 xóm là xóm Rú 4, xóm Nhõi 1 và xóm Nhõi 2. Địa điểm được lựa chọn để trồng rừng là những vùng đất đồi trọc không thể sản xuất, nơi rừng đã bị chặt phá để canh tác. Hai loại cây cho hiệu quả cao trong việc cải thiện môi trường do hấp thụ được nhiều khí C02 và sản xuất ra nhiều khí Oxi là keo tai tượng và keo lá tràm đã được bà con trồng trong dự án.
Với sự hỗ trợ của cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), nhận thức được vai trrò to lớn của rừng sạch, 5 năm qua, hàng trăm người dân xã Xuân Phong đã tin tưởng, chủ động góp đất để thực hiện dự án đặc biệt, đổi lại, họ được tài trợ giống, phân bón, được tập huấn cách chăm sóc, được trả công trồng, chăm sóc, được hưởng 100% giá trị tài sản trên diện tích rừng mình trồng và được bán “tín chỉ cacbon”.
Mô hình trồng rừng sạch được tiến hành theo từng phân tầng, được đo đếm tại thực địa 5 năm 1 lần trước khi kiểm chứng. Các chuyên gia lâm nghiệp trong tổ chức JICA ít nhất mỗi năm về xã 1 lần để đánh giá chất lượng rừng trồng, phát dọn thực địa, đầu tư giống cây và tiến hành giám sát lượng C02 tại các bề sinh khối trên và dưới mặt đất, hướng dẫn lấy khí C02.
Sau 10-15 năm, dự án rừng sạch sẽ được khai thác theo kiểu “chồng vốn”, có nghĩa là ban đầu sẽ khai thác khoảng 1/3 diện tích rừng, sau đó, 1/3 diện tích rừng bị khai thác này lại được trồng lại và khai thác tiếp. Sau 5 năm triển khai, dự án này đã, đang và sẽ tiếp tục tăng cường nhận thức về bảo vệ môi trường trong cộng đồng, góp phần đầu tư cho phát triển ngành lâm nghiệp tỉnh; phục hồi rừng và quản lý, phát triển rừng bền vững, ổn định và nâng cao đời sống kinh tế cho đồng bào vùng nông thôn, miền núi.
Theo các chuyên gia, trong thời hạn 15 năm, rừng có thể hấp thu khoảng 43.000 tấn khí carbon. Như vậy, dự án sẽ thu về 25,49 tỉ đồng, trong đó 22,54 tỉ đồng bán lâm sản và 2,95 tỉ bán chứng chỉ carbon. Đây sẽ là động lực để chính quyền và bà con xã Xuân Phong quyết tâm bám đất, bám rừng, để có thêm nhiều mô hình trồng rừng bền vững, mang lại no ấm cho người dân và môi trường sống ngày càng được cải thiện. (Tài Nguyên Môi Trường 8/1, tr6) đầu trang(
Theo báo cáo của ngành Lâm nghiệp tỉnh, trong năm 2014, ngành đã chủ động triển khai nhiều biện pháp cụ thể trong công tác trồng rừng, đẩy nhanh tiến độ trồng rừng và giao khoán rừng cho người dân quản lý, bảo vệ. Ðến nay, các đơn vị đã thực hiện vượt kế hoạch được giao.
Năm 2014, ước diện tích trồng rừng 744 ha, đạt 105,4% so với kế hoạch. Trong đó, các Ban quản lý khu rừng phòng hộ, đặc dụng 404 ha; rừng sản xuất 340 ha. Ngoài ra, ngành Lâm nghiệp còn gieo ươm, cung cấp 240.125 cây giống các loại phục vụ trồng cây phân tán, bằng 98% so với năm 2013.
Đối với công tác giao khoán bảo vệ rừng, trong năm ước thực hiện được 49,570 ha, bằng 103,7% so với cùng kỳ; khoanh nuôi tái sinh rừng thực hiện 6.966 ha, bằng 102,1%; chăm sóc rừng trồng 2.699 ha, bằng 93,4%. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 16,1% so cùng kỳ.
Bên cạnh đó, ngành Lâm nghiệp đã tham mưu UBND tỉnh ban hành đề án di dời dân ra khỏi đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh; hỗ trợ các hộ dân di dời nhà ra khỏi đất lâm nghiệp để thực hiện dự án trồng cây phân tán tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2015 – 2017; đề cương kỹ thuật, dự toán kinh phí quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững hệ thống rừng đặc dụng tỉnh đến năm 2020.
Ngoài ra, ngành cũng đang phối hợp với các đơn vị tư vấn lập quy hoạch, chỉ đạo tổ chức lễ phát động trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” năm 2014; thu hồi đất, giao đất dự án Cụm dân cư biên giới cầu Sài Gòn 2.
Riêng năm 2015, ngành lâm nghiệp sẽ tiếp tục thực hiện giao khoáng diện tích rừng được bảo vệ và khoanh nuôi trên địa bàn tỉnh đến các hộ hợp đồng; duy trì hợp lý diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng đặc dụng; tập trung phát triển và tăng tỷ lệ rừng kinh tế; phát triển nghề trồng rừng sản xuất thành nghề kinh tế có vị thế quan trọng mang lại việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân làm nghề rừng; nghiên cứu các mô hình thực tế phổ biến cho người dân… (Báo Tây Ninh 8/1) đầu trang(
UBND tỉnh vừa có văn bản gửi Bộ Công Thương, NN&PTNT đề nghị phối hợp tháo gỡ khó khăn, giúp tỉnh đôn đốc, chỉ đạo các doanh nghiệp thủy điện thực hiện nghiêm Nghị định 99/2010/NĐ-CP, ngày 24.9.2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR).
Hiện tại, số tiền nợ đọng của các doanh nghiệp sản xuất điện trên địa bàn tỉnh đã lên tới hơn 60 tỷ đồng. Trong đó, 10 doanh nghiệp sản xuất điện như: Công ty Cổ phần thủy điện Thái An, Công ty Cổ phần thủy điện Nậm Mu, Công ty Cổ phần công nghiệp Việt Long, Công ty Cổ phần phát triển điện lực Việt Nam... nợ tiền chi trả DVMTR 2 năm 2011-2012 trên 16,3 tỷ đồng; từ năm 2013 đến hết quý III/2014, có 11 doanh nghiệp như Công ty Cổ phần thủy điện Thanh Thủy, Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và phát triển năng lượng Sông Đà 5, Công ty Cổ phần Bitexco Nho Quế..., nợ trên 44,9 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp không ký hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR của năm 2011-2012, chỉ chấp thuận ký từ đầu năm 2013 với lý do 2 năm trước tiền chi trả DVMTR chưa được Cục Điều tiết điện lực tính vào giá mua điện.
Các doanh nghiệp nợ tiền chi trả DVMTR với số lượng lớn, kéo dài đã gây nhiều khó khăn cho chính quyền địa phương trong việc triển khai chính sách, cũng như công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, ảnh hưởng đến quyền lợi chủ rừng cung cấp dịch vụ. (Báo Hà Giang 8/1) đầu trang(
Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 22 nhà máy thủy điện có sử dụng dịch vụ môi trường rừng; trong đó, nhà máy thủy điện thuộc lưu vực chung có 13 nhà máy, nhà máy thủy điện thuộc lưu vực nội tỉnh có 9 nhà máy.
Đối với các nhà máy thủy điện thuộc lưu vực chung (nhà máy thủy điện có diện tích rừng trong lưu vực của hai tỉnh trở lên) do Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam thu và điều phối tiền về cho các tỉnh có diện tích rừng nằm trong lưu vực chung, còn các nhà máy thủy điện thuộc lưu vực nội tỉnh do Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Dak Lak trực tiếp thu tiền.
Theo số liệu báo cáo của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh, tổng số tiền thu từ dịch vụ môi trường rừng năm 2014 đạt 57,34 tỷ đồng, vượt 37,3% so với kế hoạch đề ra, số tiền này sẽ chi trả cho 233.757 ha rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng, chiếm 37% diện tích rừng của toàn tỉnh. (Báo Đắc Lắc 7/1) đầu trang(
“Việc tái cơ cấu ngành lâm nghiệp có ý nghĩa quan trọng và cần phải thực hiện sớm, nhằm phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững. Muốn vậy, hai vấn đề cần tập trung giải quyết, đó là nâng cao chất lượng, giá trị rừng và giá trị gia tăng sản phẩm, chế biến gỗ, lâm sản ngoài gỗ”, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tô Mạnh Tiến khẳng định.
“Mặc dù, tỷ lệ tán che phủ rừng trên địa bàn tăng qua từng năm, nhưng chất lượng rừng vẫn còn thấp”, đồng chí Tô Mạnh Tiến cho biết. So với một số tỉnh như Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Quảng Ninh... thì chất lượng rừng của Lào Cai chỉ ở mức trung bình thấp.
Trong khi năng suất rừng của các tỉnh nói trên đạt từ 15 - 17 m3/ha thì Lào Cai đạt từ 12 - 15 m3/ha. Sở dĩ, năng suất rừng của Lào Cai thấp là do các địa phương trong tỉnh chủ yếu tập trung trồng các loài cây bản địa, như mỡ, bồ đề, sa mộc, thông mã vĩ. Công tác quản lý giống cây lâm nghiệp chưa chặt chẽ; kỹ thuật trồng, thâm canh chưa đúng quy trình... cũng là nguyên nhân dẫn đến năng suất rừng trồng không cao.
Cũng theo đồng chí Tô Mạnh Tiến, muốn tái cơ cấu ngành lâm nghiệp thì việc nâng cao chất lượng, giá trị rừng là một trong hai giải pháp mang tính đột phá. Thực tế, thời gian qua, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo các địa phương triển khai các giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng rừng.
Chuyển biến rõ nét nhất chính là cây giống được đóng bầu có đáy, trước đây đóng bầu không đáy, rễ cây ăn sâu vào đất, khi xuất vườn thường bị đứt rễ, ảnh hưởng đến chất lượng cây giống; xây dựng vườn giống tại những địa điểm thuận lợi, hạn chế vận chuyển cây giống đi xa. Công tác quản lý chất lượng giống cây lâm nghiệp được thực hiện theo chuỗi hành trình quản lý giống, cây giống phải đảm bảo các điều kiện tiêu chuẩn, chất lượng, được Chi cục Lâm nghiệp cấp chứng chỉ công nhận nguồn gốc lô cây giống.
Thời vụ trồng rừng đã có sự thay đổi, tập trung hai vụ chính là xuân hè và hè thu, hạn chế trồng vụ thu đông. Đối với các huyện vùng thấp, thời vụ trồng rừng kết thúc trước 30/9 sẽ đảm bảo sự sinh trưởng của cây, không bị chết rét. Ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào trồng rừng keo gỗ xẻ tại Bát Xát, Bảo Thắng, thành phố Lào Cai; xây dựng mô hình trồng rừng thâm canh tại Bảo Thắng, Bảo Yên, thành phố Lào Cai; trồng rừng nguyên liệu cao sản tại Bảo Thắng, Văn Bàn.
Ông Nguyễn Duy Nghiệp, Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Văn Bàn cho biết: Hiện, công ty được nhà nước giao quản lý 15.000 ha rừng, trong đó 70% diện tích rừng giàu và 30% diện tích rừng trung bình. Đối với diện tích rừng sản xuất, trước năm 2013, công ty đã đầu tư trồng, nhưng diện tích không nhiều. Từ năm 2013 trở lại đây, công ty đã quan tâm nhiều đến việc trồng và nâng cao chất lượng rừng trồng.
Đó là việc làm tất yếu để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp khi đã qua thời dựa vào rừng tự nhiên để tận thu lâm sản. Ngoài các cây trồng bản địa, thời gian gần đây, công ty đã tuyển chọn, đưa giống keo Úc (f2), cây luồng Thanh Hóa vào trồng, đồng thời phối hợp với người dân tăng cường phân bón cho cây giống, góp phần nâng cao chất lượng và giá trị kinh tế rừng.
Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2014, năng suất rừng trồng đạt 15m3/ha/năm, tăng trên 3 m3/ha/năm so với năm 2010. Từ năm 2011 - 2014, các địa phương trong tỉnh đã trồng mới 20.006 ha rừng sản xuất, làm giàu 2.000 ha rừng, trồng lại rừng sau khai thác được 3.805 ha, cải tạo 1.000 ha rừng; trồng mới 2.793 ha rừng phòng hộ, khoanh nuôi tái sinh 4.350 ha rừng, làm giàu 3.000 ha rừng phòng hộ; khoanh nuôi tái sinh 1.350 ha rừng đặc dụng.
Từ năm 2015 - 2020, việc nâng cao chất lượng và giá trị rừng tiếp tục được tỉnh quan tâm và chỉ đạo sát sao. Trong đó, đối với rừng tự nhiên, tập trung bảo vệ tốt diện tích hiện có, phát huy giá trị đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen, thực hiện khoanh nuôi phục hồi 5.900 ha rừng; làm giàu rừng, cải tạo 3.000 ha rừng tự nhiên sản xuất nghèo kiệt; nâng cao trữ lượng gỗ rừng tự nhiên sản xuất lên 20% - 25% so với hiện nay, tăng trưởng bình quân từ 4 - 5 m3/ha; tỷ lệ gỗ thương phẩm bằng 75% trữ lượng cây đứng.
Đối với rừng sản xuất, thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, bố trí loài cây phát triển nhanh, phù hợp từng vùng, cho sinh khối lớn. Đối với các huyện vùng cao sẽ trồng các loài cây đặc sản, cây cho sản phẩm phụ, như sơn tra, trẩu, quế, hồi, thông...; các huyện vùng thấp, ngoài trồng mỡ, quế, keo, chú trọng trồng những loài cây bản địa cho sinh khối lớn, như xoan, lát hoa, bồ đề. Phấn đấu đến năm 2020, diện tích rừng trồng sản xuất đạt 90.000 ha, diện tích trồng cây lâm sản ngoài gỗ đạt 20.000 ha và 7.790 ha cây có giống.
Trong những năm qua, Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bảo Yên chỉ “quanh quẩn” với những sản phẩm sơ chế, như đũa gỗ, ván bóc, sản lượng đạt 5.000 - 7.000 m3/năm, doanh thu từ 5 - 7 tỷ đồng, con số khiêm tốn so với nguồn nguyên liệu dồi dào mà công ty đang quản lý. Gia tăng sản phẩm, nâng cao giá trị từ chế biến lâm sản là vấn đề đặt ra, đòi hỏi công ty tìm lời giải để có thể phát triển bền vững. Việc liên kết với các doanh nghiệp đầu tư xây dựng Nhà máy sản xuất ván MDF là lời giải thuyết phục của công ty cho bài toán nâng cao giá trị chế biến lâm sản.
Nhà máy sản xuất MDF Bảo Yên có công suất 180.000 m3/năm, gồm các sản phẩm: Gỗ MDF 60.000 m3/năm, gỗ ván thanh 20.000 m3/năm, ván tre ép khối 100.000 m3/năm. Trong năm 2015, giai đoạn đầu nhà máy tập trung sản xuất sản phẩm ván tre ép khối xuất khẩu với công suất 30.000 m3 sản phẩm/năm.
Ông Đỗ Văn Dũng, Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bảo Yên cho biết: Việc đưa dây chuyền sản xuất ván tre ép khối công suất 30.000 m3 sản phẩm/năm vào hoạt động sẽ đem lại doanh thu 300 tỷ đồng, góp nâng nâng cao hiệu quả kinh tế, sản xuất và giá trị lâm sản.
Cũng trong năm 2015, Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bảo Yên đầu tư 5 tỷ đồng để lắp đặt dây chuyền sản xuất gỗ ván ép (giai đoạn 1) công suất 4.000 m3 sản phẩm/năm để xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc và Trung Đông. (Báo Lào Cai 9/1) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Hội chợ Du lịch trầm hương Quốc tế (Hải Nam) Trung Quốc lần thứ 4 đã khai mạc tại huyện Định An, tỉnh Hải Nam, ngày 1/1, thu hút sự tham gia của đại diện trong ngành đến từ các nước và vùng lãnh thổ như Việt Nam, Singapore, Indonesia, Malaysia cùng vùng lãnh thổ Đài Loan và Hong Kong...
Giới kinh doanh trầm hương Đông Nam Á đánh giá thị trường trầm hương đang phát triển mạnh và dự định mở rộng hợp tác công nghệ với Trung Quốc.
Trầm hương từ xưa đến nay được coi là đứng đầu trong các loại hương với nơi sản xuất chính phân bố tại các nước Đông Nam Á, trong đó Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan, Malaysia,, Singapore, Indonesia cùng các tỉnh, khu tự trị Trung Quốc như Hải Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam.
Theo chuyên gia trầm hương học Trung Quốc Thạch Đức Nghĩa đến từ Hong Kong (Trung Quốc), sản phẩm chính làm từ trầm hương gồm hương, thuốc thảo dược, đồ trang sức và đồ sưu tầm, có thị trường rất lớn tại Đông Nam Á, Trung Đông, Nhật Bản và Trung Quốc. Trầm hương tự nhiên ngày càng ít đi, vận dụng công nghệ hiện đại trồng đại trà trầm hương đã trở thành xu thế.
Singapore là trung tâm giao dịch trầm hương thế giới. Tổng Thư ký Hiệp hội Trầm hương Singapore Trác Quang Minh cho biết, văn hóa trầm hương là văn hóa truyền thống của Trung Quốc, qua Hội chợ lần này ông mong học được nhiều văn hóa trầm hương truyền thống Trung Quốc truyền thụ lại cho người dấn nước mình.
Hiện nay Singapore, Malaysia, Trung Quốc đại lục cùng vung lãnh thổ Đài Loan có công nghệ kết hương nhân tạo khá tiên tiến, các nước Đông Nam Á mong đẩy mạnh giao lưu hợp tác với Trung Quốc, nâng cao giá trị sản xuất kết hương nhân tạo, đáp ứng nhu cầu thị trường. Ngoài ra, các nước Đông Nam Á còn có thể du nhập công nghệ điêu khắc trầm hương của Trung Quốc, nâng cao giá trị gia tăng của trầm hương.
Có hơn 10 doanh nghiệp Việt Nam tham gia Hội chợ lần này. Ông Phó Vĩ Phong đến từ tỉnh Quảng Nam cho biết, doanh nghiệp của ông hàng năm đều tham gia hơn 20 hội chợ ở Trung Quốc, nhu cầu thị trường Trung Quốc rất lớn.
Ồng Liên Thành Chi, một doanh nhân đến từ Sumatra (Indonesia), đã ký Thỏa thuận hợp tác chiến lược với sở Nghiên cứu Cây thuốc Viện Khoa học Y khoa Trung Quốc, du nhập công nghệ kết hương của sở Nghiên cứu này. Ông Liên Thành Chi cho biết, những năm qua, Indonesia trồng trầm hương nhân tạo quy mô, sản phẩm chủ yếu bán sang Trung Đông, Công ty của ông hai năm trước tiến vào ngành công nghiệp trầm hương, hiện nay đã trồng 50 ha với hơn 100.000 gốc. Ông tràn đầy niềm tin về thị trường sau này.
Ông Ngụy Kiến Hòa, Phó Giám đồc sở Nghiên cứu Cây thuốc Viện Khoa học Y khoa Trung Quốc kiêm Giám đốc chi nhánh tại Hải Nam, cho biết công nghệ kết hương toàn bộ thân cây của đơn vị ông hiện đã được giới thiệu tại bốn tỉnh, khu tự trị Trung Quốc là Hải Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam cùng các nước Campuchia, Thái Lan, Lào và đã thu được thành công. Điều đó không những đã bảo vệ đươc giống cây, sử dụng bền vững trầm hương, mà còn thúc đẩy sự hình thành chuỗi công nghiẹp trầm hương. (Tin Kinh Tế 7/1, tr3) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||