|
Ngày 08 tháng 01 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Gần đây, rừng phòng hộ Sông Lũy, tỉnh Bình Thuận, nơi giáp ranh với tỉnh Lâm Đồng bị tàn phá nghiêm trọng. Mặc dù đã tăng cường lực lượng tuần tra, kiểm soát, nhưng đơn vị chủ rừng vẫn khó đẩy lùi nạn khai thác lâm sản trái phép đa và đang diễn ra.
Tiểu khu 73A (xã Phan Sơn, huyện Bắc Bình) hiện là một trong những điểm nóng phá rừng của tỉnh Bình Thuận. Địa hình khu vực này giáp với tỉnh Lâm Đồng rất hiểm trở. Phải mất gần một ngày đường, đi vòng qua huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, sau đó vượt qua những triền núi cao và khe suối sâu, mới có thể tiếp cận được hiện trường.
Tại đây, hàng loạt cây bằng lăng, dầu rái, sến mủ có đường kính hơn nửa mét bị đốn hạ, nằm trơ gốc. Nằm bên cạnh là những phách gỗ, hộp gỗ đã bị lâm tặc cưa xẻ, nhưng chưa kịp tẩu tán hết. Sau khi phát hiện, các nhân viên bảo vệ rừng Sa Mai đã báo cáo về cấp trên.
Ông Nguyễn Tấn Hào, Trạm trưởng Trạm quản lý bảo vệ rừng Sa Mai nói: “Anh em tuần tra và báo cáo về lãnh đạo xử lý. Bây giờ đã xảy ra rồi, tổ chức tuần tra liên tục, triển khai lực lượng 24/24 trên khu vực rừng giáp ranh”.
Tháng 12 vừa qua, Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy đã lập các tổ công tác tiến hành kiểm tra, xác minh hiện trường. Đợt kiểm tra vào ngày 3 tháng 12, xác định tại tiểu khu 73A thuộc lâm phần quản lý của trạm Sa Mai, 42 gốc bằng lăng với trữ lượng hơn 49 m3 bị các đối tượng khai thác trái phép. Tại tiểu khu 79 thuộc quản lý của trạm Đại Ninh, 16 gốc với trữ lượng 23,9 m3 cũng bị đốn hạ.
Trong hai đợt kiểm tra vào ngày 16 và ngày 20/12, tổ công tác xác định tại tiểu khu 73A có thêm 29 cây bằng lăng, 4 cây dầu rái, 2 cây sến mủ và 1 cây trâm bị khai thác trái phép với tổng trữ lượng gỗ hơn 63 m3 (mét khối). Một số đã được vận chuyển trót lọt, một số khác đang còn nằm tại hiện trường.
Ông Phan Văn Minh, Trưởng ban quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy, tỉnh Bình Thuận nói: “Khi phát hiện ra những điểm nóng, đơn vị chúng tôi cũng chia nhỏ ra các tổ chốt tại khu vực giáp ranh. Đã thực hiện được 3 tổ chốt hiện nay đang canh giữ các con đường trọng điểm mà bọn lâm tặc vào rừng. Thực tế, việc ngăn chặn bắt phương tiện hay giữ người, thì điều này quá sức tưởng tượng của chúng tôi”.
Hiện còn hơn 35 m3 gỗ bị khai thác trái phép lâm tặc chưa kịp vận chuyển, còn nằm lại trong rừng. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Thuận đã tăng cường lực lượng kiểm lâm cơ động của tỉnh ra hỗ trợ Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy quản lý điểm nóng, bảo vệ hiện trường, chờ cơ quan chức năng củng cố hồ sơ, khởi tố vụ án phá rừng trái phép.
Rừng phòng hộ Sông Lũy rộng hơn 23.000 héc-ta, trong đó, khu vực giáp ranh với tỉnh Lâm Đồng là rừng thường xanh còn trữ lượng gỗ rất lớn. Do vậy, các đối tượng lâm tặc ở tỉnh Lâm Đồng thường xuyên qua đây khai thác trái phép. Địa hình đồi núi hiểm trở, địa bàn rộng, các đối tượng lâm tặc vừa đông vừa manh động, trong khi đó lực lượng cắm chốt ở đây rất mỏng, nhưng lại thiếu công cụ hỗ trợ, nên khó ngăn chặn nạn phá rừng. Tình trạng chống đối lực lượng bảo vệ rừng trong thời qua cũng rất đáng báo động. Gần đây nhất là vào đêm 11 tháng 12 vừa qua, các nhóm lâm tặc ngoan cố chống người thi hành công vụ, giải thoát cho hai xe chở gỗ ở trạm Đại Ninh và trạm Sa Mai.
Nói về thực trạng chung, ông Nguyễn Văn Hòa, Tổ trưởng tổ cơ động, Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy cho biết: “Chúng tôi đi chỉ có mấy gậy điện thôi, mà trong lúc đó đương sự nó rất manh động, nó sẵn sàng chống trả lại và nó có mã tấu, kể cả súng tự chế. Nên chi khi sáp vào, nó hầu như khống chế lực lượng bảo vệ rừng. Thứ hai nữa, nó gần với khu dân cư dân Ninh Loan của Đức Trọng, nên quá trình ngăn chặn rất khó và hầu như chúng tôi bất lực với lực lượng này.)
Rừng phòng hộ Sông Lũy giáp ranh với tỉnh Lâm Đồng kéo dài hơn 50 cây số trên địa hình đồi núi hiểm trở. Những đối tượng phá rừng thường sẵn sàng chống trả lực lượng chức năng bằng các loại vũ khí tự chế, đe dọa tính mạng của các nhân viên bảo vệ rừng. Lực lượng bảo vệ rừng ở đây vừa mỏng vừa thiếu công cụ hỗ trợ, do vậy, nếu có phát hiện, cũng không thể khống chế các nhóm lâm tặc có tổ chức đến từ Lâm Đồng. Với tình hình như thế, vào mùa khô, nhất là thời điểm gần tết Nguyên đán Ất Mùi, Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Lũy sẽ tiếp tục gặp rất nhiều khó khăn và phức tạp trong công tác bảo vệ rừng”. (VOV 7/1) đầu trang(
Thời gian gần đây, khu vực phía Nam Sa Thầy, huyện Sa Thầy (tỉnh Kon Tum) trở thành điểm nóng của tình trạng vận chuyển, khai thác lâm sản trái phép.
Đây cũng là điểm nóng về tình hình an ninh trật tự bởi các đối tượng từ các nơi khác kéo về khai thác lâm sản, thu mua gỗ thuê người đồng bào dân tộc thiểu số vào rừng khai thác…
Từ chính sách chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su, việc khai thác gỗ tận dụng trên diện tích chuyển đổi đang gây ra một hệ lụy về tình trạng khai thác lâm sản trái phép ở Nam Sa Thầy. Lợi dụng chính sách khai thác gỗ tận thu trên diện tích chuyển đổi trồng cao su, các đầu nậu thu mua gỗ, “lâm tặc” từ các nơi tìm đường đến "làm ăn".
Phức tạp hơn, nhiều đầu nậu thu mua gỗ còn thuê đồng bào dân tộc thiểu số, người nghiện ma túy vào rừng vận chuyển, khai thác gỗ. Nhiều diện tích rừng ngoài mục đích chuyển đổi đang bị xâm hại nghiêm trọng, dù các ngành chức năng đã tăng cường lực lượng, phương tiện ngăn chặn.
Số liệu từ Hạt kiểm lâm huyện Sa Thầy, năm 2014 hạt này đã xử lý 142 vụ vi phạm với 75,801 m3 gỗ tròn và 388,452 m3 gỗ xẻ các loại. Tiến hành khởi tố hình sự 37 vụ (tăng 100% so với năm 2013).
Ông Trần Tân Văn, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Sa Thầy cho biết, nguyên nhân dẫn đến huyện Sa Thầy, cụ thể là khu vực Nam Sa Thầy là điểm nóng của tình trạng khai thác gỗ trái pháp luật là do nhu cầu sử dụng nguồn nguyên liệu từ gỗ rất lớn trong khi mặt hàng gỗ lại khan hiếm. Việc lợi dụng chính sách chuyển đồi rừng nghèo sang trồng cao su cũng làm tăng số phương tiện và con người tham gia khai thác gỗ tận thu.
Kể cả sau khi có quyết định của UBND tỉnh Kon Tum dừng khai thác số người và phương tiện khai thác rừng vẫn còn bám trụ để làm ăn. Hơn nữa, việc khai thác gỗ đem lại lợi nhuận rất cao trong khi chế tài xử phạt những trường hợp vi phạm còn nhẹ, chưa đủ tính chất răn đe. Mặt khác, ở khu vực Nam Sa Thầy, tình trạng khai thác gỗ hoạt động rất phức tạp, “lâm tặc” rất hung tợn và có sự bảo kê của xã hội đen nên việc truy quét gặp rất nhiều khó khăn. Việc tiếp giáp với địa bàn với các tỉnh khác cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc quản lý và bảo vệ rừng…
Trước tình hình đó, Công an tỉnh Kon Tum đã thành lập các đội công tác với sự tham gia của cảnh sát đặc nhiệm xuống tận địa bàn để tuần tra, kiểm soát, đảm bảo tình hình an ninh trật tự tại địa bàn Nam Sa Thầy. Và chỉ trong một thời gian ngắn, Đội công tác tăng cường cơ sở Nam Sa Thầy đã phát hiện, bắt giữ 11 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển triển rừng và các vi phạm pháp luật khác, bắt giữ 13 đối tượng, phá dỡ 3 lán trại của các đối tượng, thu giữ 180,708 m3 gỗ các loại… đồng thời chuyển giao cho các cơ quan chức năng giải quyết theo thẩm quyền.
Ông Nguyễn Văn Nam, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum cho biết: để kiểm soát tình hình vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng cũng như tình hình an ninh trật tự khu vực Nam Sa Thầy, trong thời gian tới Chi cục sẽ tiếp tục phối hợp với các đơn vị chức năng như công an, biên phòng, chính quyền địa phương đẩy mạnh truy quét các đối tượng khai thác gỗ.
Bên cạnh đó, phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành rà soát các đối tượng, phương tiện nằm ngoài sự quản lý để trục xuất ra khỏi khu vực này. Đặc biệt, Chi cục sẽ tiếp tục duy trì tổ công tác đặc biệt gồm kiểm lâm, công an, chính quyền địa phương đóng chốt ở khu vực này để nắm tình hình và kịp thời xử lý những tình huống khẩn cấp. (Tin Tức 7/1) đầu trang(
Thực tế khai thác gỗ tận thu tại các lòng hồ thủy điện trên địa bàn Quảng Nam đã và đang bộc lộ nhiều bất cập: Lợi dụng khai thác gỗ trái phép; gỗ được tận thu bị thất thoát lớn...
Phóng viên Báo Công an TP Đà Nẵng vừa có chuyến thực tế tại khu vực lòng hồ thủy điện Sông Bung 4 (xã Tà Pơơ, H. Nam Giang, Quảng Nam) và ghi nhận lại những bất cập của thực trạng trên.
Ngày 1-8-2014, thủy điện Sông Bung 4 (TĐSB4) chính thức tích nước, làm ngập hơn 65ha rừng đặc dụng, rừng phòng hộ trong phạm vi lòng hồ. Để tận dụng tài nguyên rừng, chính quyền tỉnh Quảng Nam cho phép UBND H. Nam Giang tận thu gỗ trong lòng hồ.
Được sự ủy quyền của UBND tỉnh, ngày 14-8-2014, Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Nam có quyết định cho phép Cty TNHH SX-TM&DV Xuân Chí được khai thác tận dụng gỗ trên diện tích đã chuyển mục đích sử dụng đất rừng để xây dựng lòng hồ TĐSB4 (thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh).
Theo đó, diện tích được khai thác là 65,5ha với tổng sản lượng gỗ tận dụng 1.889,969m3, trong đó sản lượng gỗ lớn có đường kính trên 25cm là 1.184,055m3, thời gian khai thác đến hết ngày 20-11-2014. Đến ngày 21-11-2014, các ngành chức năng tiến hành lập biên bản kiểm tra quá trình khai thác gỗ vừa qua và xác định số gỗ đã khai thác được hơn 503m3, còn lại hơn 680m3.
Sau khi kiểm tra, cơ quan chức năng yêu cầu đơn vị khai thác dừng mọi hoạt động chặt hạ theo đúng thời hạn được quy định, đồng thời thực hiện việc vận chuyển toàn bộ số gỗ đã khai thác ra khỏi hiện trường. Theo các ngành chức năng thì quy trình khai thác, kiểm tra, giám sát tận thu gỗ rất chặt chẽ.
Mỗi đợt khai thác, doanh nghiệp báo cáo cho chính quyền H. Nam Giang (thông qua các Phòng Tài chính, Nông nghiệp, Kiểm lâm) đến kiểm tra số gỗ tận thu đã được đưa ra khỏi lòng hồ. Sau đó, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sông Thanh đến hiện trường kiểm tra, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đóng dấu búa. Doanh nghiệp nộp ngân sách, đóng các khoản phí theo số lượng gỗ đã nghiệm thu.
Tuy nhiên, khi đến hiện trường lòng hồ TĐSB4, khó phân biệt đâu là gỗ tận thu và đâu là gỗ khai thác trái phép. Thời điểm hiện tại, giấy phép tận thu đã hết, nhưng ít nhất có 50m3 gỗ tròn có dấu đỏ nằm rải rác, chưa di chuyển ra ngoài. Dưới lòng hồ thì hàng chục phương tiện lợi dụng chở củi lén lút chở gỗ khai thác trái phép.
Tiếp tục đi sâu hơn vào Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, tận mục nhiều lán trại được dựng lên khắp nơi, hàng chục cây gỗ lớn nằm cách xa và trên cao trình mực nước trong lòng hồ thủy điện cũng bị đốn hạ... Dù khu vực này được bảo vệ nghiêm ngặt bởi các lực lượng như: BQL khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, Hạt Kiểm lâm RĐD Sông Thanh, BQL rừng đặc dụng nam Sông Bung... (?).
Làm việc với PV, các đơn vị chức năng thừa nhận, từ ngày thủy điện tích nước, tình trạng phá rừng diễn biến phức tạp do có đường thủy nên các đối tượng dễ tuồn gỗ đem tiêu thụ. Người dân địa phương thì cho biết, thời gian qua lợi dụng doanh nghiệp dừng tận thu, lâm tặc khắp nơi đổ về triệt hạ rừng, sau dùng thuyền máy vận chuyển, hoặc cho gỗ chìm dưới nước chờ cơ hội đưa về xuôi.
Tại khu vực lòng hồ TĐSB4, dân cư đã được di dời đi những nơi khác, thế nhưng theo thống kê của Hạt Kiểm lâm RĐD Sông Thanh, hiện nay có trên 35 thuyền máy hoạt động trong lòng hồ. Cũng như các hồ thủy điện khác tại Quảng Nam, phần lớn các phương tiện này dùng để vận chuyển gỗ trái phép. Rõ ràng, tình trạng khai thác gỗ trái phép đã tái diễn nhưng việc xử lý của các ngành chức năng thì còn lỏng lẻo, thậm chí lơ là.
Về tính hiệu quả việc khai thác gỗ tận thu tại các dự án thủy điện, chính lãnh đạo Sở NN&PTNT cũng tỏ ra hoài nghi: "Quan điểm của Sở là phải vì lợi ích chung. Việc tận thu gỗ phải xem xét lại nhiều góc độ. Thực tế tận thu có đem lại được hiệu quả không, hay tạo kẽ hở cho lâm tặc, vàng tặc trà trộn khai thác trái phép. Thực tế kiểm tra tại lòng hồ TĐSB4 vừa qua, tôi thấy vai trò kiểm tra, giám sát của kiểm lâm và cán bộ lâm nghiệp chưa làm tròn trách nhiệm"- ông Huỳnh Tấn Đức, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Nam nhận định.
Về số gỗ tận thu còn lại chưa được khai thác, ông Alăng Mai, Chủ tịch UBND H. Nam Giang cho biết: Địa phương đã có văn bản gửi lên Sở NN&PTNT và UBND tỉnh Quảng Nam xin gia hạn giấy phép tận thu gỗ ngập trong lòng hồ TĐSB4.
Tuy nhiên, ngày 6-1, trao đổi với PV Báo Công an TP Đà Nẵng, ông Huỳnh Tấn Đức cho biết: Về việc gia hạn giấy phép tận thu gỗ trong lòng hồ TĐSB4 cần phải xem xét thận trọng. Vấn đề đặt ra là cần giám sát không để xảy ra những hệ lụy như khai thác gỗ trái phép lồng ghép với khai thác gỗ tận thu, hoặc đào đãi vàng trái phép sau khi khai thác gỗ... Quan điểm của Sở chỉ cho phép gia hạn để đưa những cây đã bị đốn hạ ra khỏi lòng hồ và những cây đang nằm dưới lòng hồ đã bị ngập nước.
"Sắp tới sở sẽ làm việc lại với UBND H. Nam Giang nhằm xem xét, tổng hợp, đánh giá lại trữ lượng gỗ tận thu còn lại, nếu số lượng còn lại trên thực tế nhiều thì cho gia hạn, còn ít thì không nên cho"- ông Đức khẳng định. (Công an TP.Đà Nẵng 8/1) đầu trang(
Ngày 3-1, tại khu vực đường mòn phía Nam cánh gà cửa khẩu tuần tra của Đồn BPCK quốc tế Lệ Thanh, BĐBP Gia Lai phát hiện và bắt giữ 2 đối tượng người Cam-pu-chia dùng xe máy vận chuyển thịt động vật trái phép.
Các đối tượng gồm: Khiêu Min, SN 1980 và Hem Xa Rí, SN 1983, cùng trú tại làng Un, Lâm Cho, Ô-da-đao, Cam-pu-chia. Tang vật các chiến sĩ Biên phòng thu được gồm 100kg thịt thú rừng. Hiện, đơn vị đã tiến hành lập biên bản vi phạm và bàn giao người cùng tang vật cho Công an cửa khẩu Cam-pu-chia xử lý. (Biên Phòng 7/1, tr6) đầu trang(
Ngày 7-1, Phòng CSĐT tội phạm về TTQLKT và chức vụ Công an tỉnh Gia Lai cho biết, qua công tác trinh sát, tổ công tác đã phát hịện thu giữ tại bến sông làng Ếch, xã Ia Khai, huyện Ia Grai (Gia Lai) có 7 hộp gỗ xẻ hơn 9m3 không có dấu búa kiểm lâm.
Cùng ngày, lực lượng Cảnh sát Kinh tế Công an Gia Lai cũng đã phát hiện thu giữ tại lô cao su Đội 4, thuộc làng Ếch, xã Ia Khai, Ia Grai hơn 15m3 gỗ (quy tròn) đang tập kết chưa kịp vận chuyển tiêu thụ.
Ngày 3-1, qua công tác mai phục tại dốc Ia Châm, trên tỉnh lộ 664 đoạn thuộc thị trấn Ia Kha (Ia Grai, Gia Lai), lực lượng Cảnh sát Kinh tế Công an Gia Lai cũng đã phát hiện bắt giữ xe ôtô nhãn hiệu Toyota loại 16 chỗ ngồi, không gắn biển số, vận chuyển 43 hộp gỗ hương với khối luọng 2,185m3, không có dấu búa Kiểm lâm. Quá trình kiểm tra, bắt giữ lái xe đã điều khiển phương tiện bỏ chạy nhằm chạy trốn sự kiểm tra bắt giữ của cơ quan chức năng.
Khi tổ công tác bám đuổi dừng được phương tiện thì lái xe đã bỏ trốn khỏi hiện trường. Tiếp đó, ngày 5-1, lực lượng Cảnh sát Kinh tế Công an Gia Lai cũng phát hiện thu giữ tại bãi đất trống thuộc thôn Kiên Giang, xã Ia Piơr, huyện ChưPrông, 3,497m3 gỗ không có dấu búa kiểm lâm.
Ngày 7-1, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi truờng, Công an tỉnh Kon Tum cho biết, vừa phát hiện bắt giữ tại khu vục tiểu khu 181, 182, thuộc khu rừng trồng của Công ty Nguyên liệu giấy miền Nam (xã Đăk Kan, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum) có 2 điểm tập kết gỗ trái phép với tổng khối lượng hơn 14,8m3. (Công An Nhân Dân 8/1, tr7) đầu trang(
Từ lâu, thôn Cam Lâm, “ấp hai vua” (xưa gọi là ấp Cam Lâm, xã Đường Lâm) được coi là vùng đất địa linh, sản sinh ra hai người anh hùng của dân tộc (Ngô Quyền ).
Vượt qua mọi giới hạn thời gian, mảnh đất hai vua vẫn còn đó những chứng tích lịch sử năm nào, đặc biệt là rặng ruối cổ bên kia đồi Hổ Gầm, nơi vua Ngô Quyền đã dừng chân và tập trận...
Theo lời kể của các cụ cao tuổi trong làng, rặng duối cổ đã có từ rất lâu. Người dân trong làng không ai có thể khẳng định độ chính xác độ tuổi của cây, chỉ biết rằng, những cây duối cổ thụ nơi đây đã được gọi một cách kính cẩn: “cụ” duối. Với những giá trị độc đáo, ngày 22.4.2011, rặng duối cổ gồm 18 cây đã được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam tổ chức công nhận là Cây di sản Việt Nam.
Theo GS.TS Vũ Hoan, Chủ tịch Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Hà Nội, những cây duối ở thôn Cam Lâm (xã Đường Lâm) đã đáp ứng được tất cả các tiêu chí để trở thành Di sản quốc gia cần được bảo tồn. Về lịch sử của rặng duối, ông Hoan cho biết, chúng tồn tại cùng thời với vua Ngô Quyền, tức là cách đây 1.000 năm.
Tương truyền, đây là nơi vua Ngô Quyền từng làm chỗ buộc voi, buộc ngựa sau các cuộc tập trận cùng với nghĩa quân để chuẩn bị tiến về vùng cửa sông Bạch Đằng đánh quân Nam Hán, chấm dứt 1.000 năm Bắc thuộc, lập ra vương triều Đại Việt. Đến giờ, người dân tại Đường Lâm vẫn truyền tai nhau về những câu chuyện kì thú liên quan đến “mảnh đất hai vua” và các “cụ” duối.
Chuyện rằng, Đường Lâm xưa kia là vùng đất gò đồi và rừng cây rậm rạp. Năm đó, tướng Ngô Quyền chiêu binh mãi mã và đóng quân tại làng. Sáng ra thấy dấu chân voi, đêm nghe tiếng hổ gầm. Thấy sự lạ, từ rặng duối đến đồi Gầm (đó là nơi hổ từng về gầm gừ suốt ngày đêm), tướng Ngô Quyền đã cho phát quang làm bãi huấn luyện quân lính. Từ đó, hổ không dám về càn quấy và dân làng được yên ổn sinh sống, sản xuất.
Rặng duối ấy còn là phân gianh rõ rệt giữa phần đất của gia đình tướng Ngô Quyền, khi Ngài chưa lên ngôi vua với các dòng họ, gia đình khác trong vùng. Từ rặng duối quay vào khu vực trong đền hiện giờ là đất của tướng Ngô Quyền. Quy ước ấy thực hiện từ năm 944 (năm vua Ngô Quyền mất) đến tận bây giờ, khi dòng họ Ngô trên đất Cam Lâm với hậu duệ cuối cùng đã tạ thế cách đây nhiều năm, nhưng như một luật định bất thành văn, người dân trong làng đã tự giác tuân thủ và truyền lại như vậy. 18 cây duối cổ như nhân chứng sống còn lại đến ngày hôm nay, mặc thời gian đẽo gọt, chúng vẫn đứng san sát nhau dáng sừng sững oai nghiêm.
Không chỉ là minh chứng cho những sự kiện lịch sử gắn liền với tên tuổi của vị vua lừng lẫy dân tộc: Ngô Quyền, những cây duối cổ còn chứa đựng bên mình nó những câu chuyện khác, mà ở đó chất chứa đầy màu sắc huyền thoại, hấp dẫn. Chỉ biết rằng, rặng cây đã ăn đời ở kiếp với người dân xứ Đoài và người ta trân trọng, níu giữ nó như đối với những vị thần tối cao...
Theo các cụ cao niên trong làng, người dân làng Cam Lâm còn luôn coi các “cụ” duối là bậc thánh linh, là những vị thần bảo hộ, gác cổng cho lăng Ngô vương và cho dân làng Cam Lâm, bởi vậy, dù đi xa về gần, mỗi người dân Cam Lâm đều tìm đến bên rặng duối để tạ ơn. Đặc biệt, trong các dịp lễ, tết, người dân còn tổ chức làm cỗ tại đây để tạ ơn các “cụ” duối và cầu xin các cụ về một năm mới an lành, nhiều may mắn.
Không chỉ là dấu mốc của lịch sử, những “cụ” duối nơi đây từng được biết đến với bài thuộc có khả năng chữa trị bệnh một cách kì diệu. Theo một số cao niên trong làng, hồi đó, do đời sống còn kham khổ, phụ nữ sinh con nếu mất nguồn sữa nuôi con thường đến dưới gốc duối già, lòng thành khấn niệm xin Ngài (cây duối) một nắm lá duối non đem về đun, rồi dùng nước đó uống hàng ngày.
Chỉ ít ngày sau, sản phụ sẽ đầy sữa trở lại. Hoặc mỗi khi trong làng có người bị trúng gió, cảm mạo… người ta lại ra xin Ngài lá về cùng một số cây thuốc thảo dược sẵn có trong vườn cho vào nồi đổ nước đun sôi để xông giải cảm, toát hết mồ hôi gió độc là người mau lành bệnh. Còn một điều thú vị là lấy lá duối sát vào răng vừa chắc khoẻ lại vừa trắng răng, mà men răng lại rất chắc...
Cách rặng ruối ngàn tuổi khoảng 200m, bên kia là đồi Hổ Gầm có đền Mẫu, thờ bà Lê Thị Lan, người làng Đông Sàng cạnh đó, người tướng tài được Hai Bà Trưng rất trọng dụng. Từ đền Mẫu, đi một đoạn ngắn nữa là gặp giếng Sữa, nơi mà cho đến ngày nay, người ta cũng chưa thể lí giải nổi về những câu chuyện huyền bí xoay quanh đó. (Lao Động 8/1) đầu trang(
Tại Quảng Nam hiện có hai loại sâm được đánh giá là các loại dược liệu quý hiếm trên thế giới, đó là sâm Ngọc Linh và sâm ba kích.
Để phát triển các loại sâm trên trở thành thương hiệu cũng như góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân, chính quyền sở tại đang có những đề án nhằm quy hoạch, phát triển, nhân rộng loại thảo dược trên.
Xã Lăng (H. Tây Giang, Quảng Nam) nằm ở độ cao hơn 1.000 mét so với mực nước biển. Nơi đây được thiên nhiên ban tặng loài cây dược liệu ba kích tím quý hiếm. Nhắc đến "vua ba kích" nơi miền biên ải này phải nói đến ông Bríu Pố (thôn A Rớh, xã Lăng). Nhà ông Pố nằm ngay trung tâm xã, nhưng tìm gặp ông thì phải vào trang trại ở trong núi, nơi ông quy hoạch trồng dày đặc ba kích dưới những tán cổ thụ.
Hỏi về việc trồng ba kích, ông bảo: "Trồng ba kích cũng đơn giản thôi, vào năm 2006, bố cùng tiến sĩ Ngô Văn Trại, một nhà nghiên cứu cây dược liệu ở Hà Nội vào Tây Giang đi khảo sát cây dược liệu ở khắp núi rừng xã Lăng. Tại đây, tiến sĩ Trại phát hiện dưới tán rừng tự nhiên có cây ba kích tím. Tiến sĩ Trại bảo đây là một loài dược liệu quý, chữa được nhiều bệnh".
Qua hướng dẫn của tiến sĩ Trại, năm 2007, Bríu Pố mày mò và ươm trồng thành công giống ba kích. Ban đầu ông Pố trồng vài cây, rồi lên đến vài trăm. Những thành quả ban đầu được bao nhiêu củ ba kích, ông Pố đem ngâm rượu, phần thì biếu cho người thân... Dần dần người ta tìm đến nhà và mua với giá từ 40.000 đồng, sau đó đẩy lên 500.000 đồng/kg. Thấy được hiệu quả kinh tế, ông Pố nhân rộng, đến nay phát triển gần 2ha dưới chân núi A Dương, xã Lăng.
Sau khi trồng ba kích thành công, ông Pố bắt tay sang nhân giống. Ngoài việc ươm từ hạt, cây ba kích còn được Bríu Pố dâm bằng nhánh kiểu như trồng dây khoai lang, ông cắt từng khúc ngắn rồi cho vào bầu, làm như vậy khi đưa ra trồng ngoài rừng tỷ lệ sống rất cao. "Cũng lạ lắm, cả vùng đất Tây Giang nhưng chỉ có ở xã Lăng mới trồng được. Ba kích là loại dây leo, thích bóng râm nên dân làng đã cho trồng xen dưới những tán rừng để có bóng mát và cây leo bám. Giờ thấy hiệu quả, ai nấy cũng trồng ba kích đem bán", ông Pố khoe.
Nói về hiệu quả cây ba kích, anh Bríu Hùng, Phó Chủ tịch UBND xã Lăng quả quyết: Bình quân 1ha trồng được 10.000 cây ba kích tím, thời gian sinh trưởng trong vòng 3 năm cho thu hoạch, 5 cây cho 1kg củ. Tính ra sẽ được 2 tấn, với giá giá bán 500.000 đồng/kg thì 1ha cho 1 tỷ đồng là có chắc. "Đấy là tôi tính bình quân vậy, chứ ba kích trồng ở những cánh rừng nguyên sinh, có lớp mùn dày thì 3 cây sau 3 năm cho 1 kg củ.
Hiện thương lái nhiều nơi lặn lội đến xã Lăng săn lùng tìm mua liên tục nhưng chẳng có mà bán. Người dân địa phương thu hoạch từ việc trồng hoặc khai thác ngoài tự nhiên được củ nào là người ta mua sạch", anh Hùng cho biết.
Thấy hiệu quả từ ba kích, ngoài công việc chính ở xã, anh Hùng đầu tư và thuê nhân công sản xuất giống cây ba kích. Qua 3 năm thử nghiệm từ vườn ươm đến trồng ngoài rừng, giống ba kích anh Hùng làm ra đều cho kết quả tốt. Cơ sở sản xuất của vị Phó Chủ tịch xã Lăng sắp xuất ra 3 vạn cây giống. Giá bán 7.000 đồng/cây, anh Hùng thu về hơn 200 triệu đồng.
"Từ hiệu quả kinh tế của cây ba kích, lãnh đạo H. Tây Giang đã xác định ba kích không chỉ là cây thuốc quý mà còn là cây xóa đói giảm nghèo cho địa phương. Huyện không chỉ khuyến khích mà còn cung cấp giống miễn phí cho người dân để nhân rộng. Việc trồng ba kích còn góp phần bảo vệ những cánh rừng tự nhiên trên địa bàn", anh Hùng nhận định.
Tại kỳ họp HĐND tỉnh Quảng Nam tháng 12 vừa qua, ông Hồ Quang Bửu, Chủ tịch UBND H. Nam Trà My cho rằng, Nam Trà My là một trong 62 huyện nghèo nhất nước, để vực dậy nền kinh tế của huyện có nhiều việc phải làm, trong đó đầu tư phát triển cây sâm Ngọc Linh là một giải pháp hàng đầu.
Theo ông Bửu, những năm gần đây, nhiều hộ dân địa phương trồng sâm Ngọc Linh đã thoát nghèo, thậm chí nhiều người đã trở thành tỷ phú. "Sâm Ngọc Linh là loài dược phẩm quý hiếm, được xếp là 1 trong 4 loại sâm tốt nhất thế giới. Hiện nay sâm Ngọc Linh chủ yếu phân bố trên đỉnh Ngọc Linh. Tuy được thiên nhiên ưu ái, nhưng thời gian qua việc đầu tư giống sâm Ngọc Linh chỉ mang tính hỗ trợ, chưa có định hướng phát triển, chưa được Nhà nước kiểm tra, giám sát chặt chẽ.
Hiện Nam Trà My có hơn 70ha trồng sâm Ngọc Linh. Loại sâm này sinh trưởng, phát triển ở độ cao từ 1.200 mét trở lên và nằm dưới tán rừng. Hiện nay người dân địa phương chủ yếu trồng sâm ở độ cao hơn 1.400 mét. Vì vậy việc đầu tư, mở rộng phạm vi trồng sâm xuống độ cao thấp hơn là điều rất khả thi. Tuy nhiên, để có số lượng giống đủ lớn cần đầu tư, hình thành vườn ươm. Mục tiêu của H. Nam Trà My sẽ có gần 20.000ha trồng sâm Ngọc Linh trong tương lai", Chủ tịch UBND huyện Hồ Quang Bửu nói.
Để đạt được mục tiêu trên, ông Bửu đề nghị UBND tỉnh Quảng Nam quan tâm hơn nữa, hỗ trợ về cơ chế cũng như kêu gọi, thu hút đầu tư và kiến nghị Chính phủ cho phép doanh nghiệp được thuê mặt bằng dưới tán rừng để trồng sâm. Vì hiện tại chưa có luật cho phép kinh doanh dưới tán rừng. Bên cạnh đó, tại cuộc họp của HĐND tỉnh, ông Bửu cũng đề xuất xây dựng một sân bay dã chiến ngay trên đỉnh Ngọc Linh để tiện việc đi lại cũng như thu hút các nhà đầu tư. Vì hiện nay, đường lên Ngọc Linh rất xa và hiểm trở, phải đi bộ hơn 6 giờ.
"Việc phát triển cây sâm Ngọc Linh thành cây hàng hóa chủ đạo nhằm phát triển kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống cho đồng bào các dân tộc tại địa phương là mục tiêu hàng đầu của lãnh đạo huyện", ông Bửu nhấn mạnh. (Công An TP Đà Nẵng 7/1) đầu trang(
Năm 2014, cơ quan chức năng đã phát hiện gần 2.000 vụ phá rừng trái pháp luật, giảm 5% so với năm 2013 với tổng diện tích hơn 700ha (giảm 11%).
Các đối tượng chặt phá rừng thường hoạt động vào ban đêm, sử dụng công cụ cơ giới; lấn chiếm đất rừng bằng hình thức ken cây cho chết hoặc chặt từng đám nhỏ sau đó trồng xen cây lương thực, cây ăn quả trên đất lấn chiếm…
Đối tượng trực tiếp phá rừng chủ yếu là người dân tại chỗ, dân di cư tự do, thiếu đất sản xuất, đời sống khó khăn. Ngoài ra, có một số đối tượng bao chiếm, buôn bán đất nên thuê đồng bào phá rừng.
Tuy nhiên, theo Cục Kiểm lâm (Bộ NN&PTNT), hầu hết các tỉnh chưa phát hiện và xử lý được “đầu nậu” thuê người phá rừng trái pháp luật. (Công An Nhân Dân 7/1) đầu trang(
Thời gian gần đây, hàng chục hécta rừng tự nhiên ở tiểu khu 1130, thuộc địa bàn thôn 11, xã Nam Bình (Đắk Song) đang bị tàn phá hết sức nặng nề.
Từ thị trấn Đức An đi bằng xe gắn máy vào “điểm nóng” phá rừng trên chỉ chưa đầy 30 phút. Trên đường đi, thấy một số đoạn đường đất đỏ vừa mới được gạt ủi, san bằng rất thuận tiện trong việc đi lại. Thế nhưng, khi hỏi người dân địa phương thì được biết việc gạt ủi, mở đường là do các đối tượng khai thác gỗ làm để dễ bề vận chuyển gỗ trái phép ra ngoài.
Tại hiện trường, chỉ mới đứng từ ngoài đường nhìn vào đã thấy cây rừng bị chặt vô tội vạ. Trong đó, có những cây rừng có độ cao hàng chục mét, đường kính vài chục xăngtimét vừa bị đốn ngã nằm chỏng chơ, cây nọ chồng lên cây kia. Lại gần các cây bị đốn ngã thì thấy cành lá còn tươi rói, nhựa vừa ứa ra, nằm xen kẽ với những cây rừng bị đốn hạ trước đó đã bị đốt cháy lẹm, đen ngòm.
Tại đây cũng có rất nhiều phách gỗ đã được xẻ vuông vắn, có dộ dài khoảng 3m, chưa được chuyển đi. Xung quanh những khúc gỗ này cũng có khá nhiều tẩu thuốc, bao thuốc vương vãi, cho thấy khả năng có rất nhiều người cùng khai thác gỗ. Gần những điểm phá rừng này có vài chiếc xe máy dựng, nhưng lại không thấy bóng người mà chỉ nghe những tiếng cưa máy đang hoạt động ở đâu đó rất xa.
Theo một số người dân làm rẫy ở khu vực này thì hơn 1 tháng nay, tình trạng phá rừng diễn ra khá nhiều, thường vào ban đêm cho tới tờ mờ sáng. Hàng đêm, ở khu vực này có tới cả chục chiếc xe công nông vào đây chở gỗ. Cùng với tiếng máy cưa, xe máy cày gầm rú, cây gỗ lớn đổ ngã ầm ầm cả đêm. Cách đây hơn 1 tháng cũng có thấy lực lượng quản lý, bảo vệ rừng thường xuyên đến khu vực này kiểm tra, nhưng thời gian gần đây không thấy ai đến, nên tình trạng phá rừng diễn ra ngày càng công khai hơn.
Theo chỉ dẫn của người dân địa phương, tiếp tục men theo con đường đất nhỏ tiến sâu hơn vào rừng thì tình trạng rừng bị phá còn diễn ra nặng nề hơn. Diện tích rừng mới bị đốn ngã cũng trải rộng cả chục hécta, xung quanh đó còn có những vạt rừng bị đốt cháy và những lán trại được dựng sẵn.
Theo ông Bùi Văn Tiến, Chủ tịch UBND xã Nam Bình thì khu vực rừng bị tàn phá nói trên do Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đắk Hòa quản lý, nằm giáp ranh giữa các xã Nam Bình, Nâm N’jang và Đắk Hòa (Đắk Song). Ở đây địa bàn rộng, địa hình đồi núi phức tạp và phần lớn người dân là dân di cư tự do từ các nơi đến sinh sống nên rất khó quản lý. Vì vậy, từ nhiều năm nay, tình trạng phá rừng ở đây cũng diễn biến hết sức phức tạp.
Trao đổi xung quanh vấn đề trên, ông Nguyễn Văn Thịnh, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Đắk Song cho biết: “Theo như lời kể thì khu vực phá rừng nói trên là do Công ty lâm nghiệp Đắk Hòa quản lý. Tuy nhiên, để biết chính xác, Hạt Kiểm lâm huyện phải cử người vào trực tiếp, sử dụng máy định vị mới biết đây là tiểu khu nào. Lâu nay công tác tuần tra, kiểm sát, bảo vệ rừng được triển khai thường xuyên và liên tục, nhưng không nhận được thông tin rừng bị tàn phá nhiều đến vậy”.
Cũng theo ông Thịnh thì thông tin mà người dân phản ánh hàng đêm luôn có cả chục công nông vào chở hàng chục khối gỗ ra là không có cơ sở. Bởi khu vực phá rừng này chỉ cách trung tâm huyện khoảng 10 km, nên có liều đến mấy “lâm tặc” cũng không dám làm như vậy (?).
Còn ông Phạm Đình Dũng, Giám đốc Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đắk Hòa cho biết: “Qua xác minh sự việc cho thấy, rừng tại tiểu khu 1130 bị tàn phá là có thật. Về phía Công ty cũng đã mật phục bắt giữ được người, xe càng đang vận chuyển khoảng 3 khối gỗ khai thác ngay tại địa bàn để giao cho Hạt kiểm lâm huyện xử lý vụ việc. Tính chung trong năm 2014 vừa qua, Công ty đã bắt được trên 50 vụ phá rừng với diện tích rừng bị phá trên 11 ha ”. (Báo Đắc Nông 7/1) đầu trang(
Ngày 7/1, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng cho biết, đã làm việc với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội để tìm hiểu các thủ tục làm hồ sơ đề xuất truy tặng danh hiệu liệt sĩ cho ông Vũ Xuân Hải, Đội trưởng Đội kiểm lâm số 2 thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng hi sinh trong lúc làm nhiệm vụ.
Hiện Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng đang chờ kết quả điều tra của công an, khi có kết quả điều tra sẽ làm hồ sơ gửi các cơ quan có thẩm quyền đề xuất truy tặng danh hiệu liệt sĩ cho ông Vũ Xuân Hải.
Trước đó, khoảng 1h30 ngày 28/12, trong lúc đang tuần tra trên tỉnh lộ 725, ông Vũ Xuân Hải và anh Cao Viết Lư phát hiện xe ô tô do Hoàng Minh Trung điều khiển chở gỗ lậu. Hai cán bộ kiểm lâm vượt lên, ra hiệu lệnh dừng xe và chặn xe thì bị Hoàng Minh Trung cho xe đâm thẳng, ông Hải tử vong.... (Nông Nghiệp Việt Nam 8/1) đầu trang(
Theo ông Ngô Văn Sơn, Phó chủ tịch UBND xã Thanh Sơn (huyện Định Quán), trong những ngày vừa qua, một đàn voi rừng gồm 3 cá thể thường xuyên xuất hiện tại khu vực suối Đục và suối Ty thuộc ấp 5, xã Thanh Sơn để tìm kiếm thức ăn đã làm hư hỏng một phần căn nhà của ông Nguyễn Văn Hiệu ở suối Ty, lấy mang đi 30kg gạo, đồng thời phá một lượng lớn hoa màu, gồm: chuối, mía và mì của người dân nơi đây.
Theo các hộ dân sinh sống nơi đây, 3 cá thể voi rừng gồm 2 cá thể voi đã trưởng thành và 1 voi con, thường ra tìm kiếm thức ăn từ 20 giờ hôm trước đến 4 giờ sáng hôm sau mới chịu trở lại rừng.
Khi thấy voi rừng xuất hiện, người dân chỉ biết đốt lửa, sử dụng loa phóng thanh, đèn pin, thùng phi... để đánh động và xua đuổi voi rừng. Tuy nhiên, về lâu về dài xem ra biện pháp này không phát huy tác dụng. (Báo Đồng Nai 8/1) đầu trang(
Sáng 7/1, Đại đức Thích Thiện Quý, trụ trì chùa Tâm Thành, xã Phú Cường, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp cùng đông đảo phật tử tỉnh An Giang và TP.HCM đã tổ chức thả 213kg rắn, rùa và lươn vào khu A1, Vường quốc gia Tràm Chim.
Việc thả trên 210kg rắn, rùa, lươn các loại về với thiên nhiên đã góp phần xây dựng ý thức bảo tồn quần thể các loài rắn, rùa hoang dã đang dần bị cạn kiệt. (Đại Đoàn Kết 8/1, tr2) đầu trang(
Gần 15 năm giảng dạy, thầy Nguyễn Thanh Tuấn - Tiến sĩ Sinh học, Phó phòng Đào tạo (Trường Cao đẳng Sư phạm Kon Tum) đã có 8 năm lặn lội khắp các khu rừng nguyên sinh ở hai tỉnh Quảng Ngãi và Kon Tum để nghiên cứu, khảo sát khu hệ thứ động vật hoang dã nhằm kêu gọi sự quan tâm của xã hội đối với việc bảo vệ nhiều loài động vật quý hiếm đang có nguy cơ bị tận diệt, như họ linh trưởng, voọc chà vá chân xám...
Năm 1998, sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm Quy Nhơn với chuyên ngành Sinh học Kỹ thuật nông nghiệp, thầy Tuấn về công tác tại Trường Cao đẳng Sư phạm Kon Tum. Đến đầu năm 2013, được sự quan tâm tạo điều kiện của Ban giám hiệu Trường Cao đẳng Sư phạm Kon Tum, Thầy đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Sinh học với đề tài “Bước đầu nghiên cứu đa dạng khu hệ thú làm cơ sở khoa học cho quản lý và bảo tồn thú hoang dã” ở Quảng Ngãi.
Chính 42 chuyến đi thực địa với gần 500 ngày ở 15 xã của các huyện Ba Tơ, Trà Bồng, Sơn Hà (trung bình mỗi đợt kéo dài 5-18 ngày) đã giúp thầy khám phá nhiều sự tương đồng về môi trường sống và phát triển của một số loài động vật quý hiếm ở Kon Tum, trong đó có khu hệ trú linh trưởng nói chung và họ voọc chà vá chân xám nói riêng đang có nguy cơ tuyệt chủng, được phân bố ở một số huyện thuộc các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam, Bình Định và Kon Tum.
Theo thầy Tuân, năm 2013, sau khi hoàn thành chương trình Tiến sĩ, những tài liệu quý trên đã khiến thầy càng thêm say mê nghiên cứu, khám phá khoa học về đời sống, phát triển của những động vật hoang dã vốn được ấp ủ từ những ngày đầu về công tác tại mảnh đất Tây Nguyên. Năm 2008, thầy đã cùng với một số thầy giáo ở Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) về khu lưu trú một số loài linh trưởng, voọc chà vá chân xám khu vực vườn quốc gia Chư Mom Ray (huyện Sa Thầy) và các xã ở huyện Kon Plông.
Từ tháng 9 đến tháng 12/2013, thầy Tuấn tiếp tục nghiên cứu, xây dựng kế hoạch đi thực tế, sau đó hoàn thành bản thảo đề tài nghiên cứu khoa học với tên gọi “Nghiên cứu giáo dục tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân góp phần bảo tồn động vật hoang dã quý hiếm ở huyện Kon Plông” nhằm kêu gọi tài trợ của các tổ chức trong và ngoài nước quan tâm đến công tác bảo vệ động vật hoang dã. Sau khi gửi văn bản xin kinh phí và chờ các tổ chức này có thông tin phản hồi, thầy đã tranh thủ các ngày nghỉ không có tiết dạy ở trường để sắp xếp thời gian 2-4 ngày trở lại những cánh rừng nguyên sinh ở các xã thuộc huyện Kon Plông.
Ở đó, thầy đã nhận được sự giúp đỡ của chính quyền, các ngành chức năng liên quan và mỗi chuyến đi đều tự túc lương thực; cùng với đó có sự hỗ trợ từ 1 đến 2 người dân có kinh nghiệm đi rừng do thôn trưởng, già làng giới thiệu. Không dưới 5 đợt đi rừng, thầy Tuấn đã bắt gặp các tôp thợ săn bẫy thú trong rừng, sản phẩm thu về của họ chủ yếu là chà vá chân xám và một vài con thú hoang khác như chồn, nhím, khỉ đuôi lợn, khỉ mặt đỏ...
Thầy đã chọn cách thương lượng với thợ săn để mua lại những con vật còn sống nhưng bị thương do sập bẫy. Sau đó mang chúng về lán trại tự chăm sóc bằng kinh nghiệm của người đi rừng, chờ đến khi con vật khỏe lại sẽ thả về môi trường tự nhiên thân thuộc.
Đến tháng 10/2013, Trạm cứu hộ động vật hoang dã tại TPHCM (thuộc Tổ chức bảo vệ động vật hoang dã Wildlife At Riste - viết tắt là WAR, tổ chức phi Chính phủ Australia) đã nhận tài trợ 2.000 USD cho giai đoạn 6 tháng, giúp thầy có kinh phí cứu động vật hoang dã quý hiếm tại địa bàn huyện Kon Plông. Mặt khác, qua nhiều kênh thông tin khác nhau, nhiều người đã ủng hộ tấm lòng nhiệt tình của thầy, trong đó có thầy Trần Quốc Việt - giáo viên Trường THCS Măng Bút (Kon Plông) đã cứu sống 9 cá thể voọc chà vá chân xám và cùng thầy chăm sóc, chuyển các cá thể này về rừng. (Giáo Dục & Thời Đại 5/1, tr20)đầu trang(
Trong năm 2014, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị đã thành lập 44 tổ bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng ở các đơn vị, địa phương có rừng với 381 người tham gia.
Việc bảo vệ rừng ở cộng đồng dân cư thực hiện hiệu quả đã góp phần làm giảm tình trạng khai thác rừng bừa bãi, hạn chế các vụ cháy rừng xảy ra, giúp rừng trên địa bàn sinh trưởng và phát triển tốt.
Nhờ thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ, khai thác và phát triển rừng nên tính đến cuối năm 2014, tổng diện tích đất có rừng của huyện Triệu Phong là trên 15.233 ha, trong đó rừng tự nhiên trên 809 ha, đất có rừng trồng là 14.873 ha, diện tích rừng trồng mới là 800 ha... Sản lượng gỗ khai thác đạt 54.660 m3, tăng 3.949 m3 so với năm trước.
Bên cạnh đó, các hoạt động kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành pháp luật trên lĩnh vực lâm nghiệp cũng được tổ chức thực hiện có hiệu quả, góp phần ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm lâm luật. Công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm lâm luật trên địa bàn được chú trọng, trong năm 2014 đã phát hiện và xử lý 7 vụ vi phạm. (Báo Quảng Trị 8/1) đầu trang(
Tình trạng săn bắn, bẫy động vật hoang dã quý hiếm ở miền núi trở nên khá phổ biến, trong khi lực lượng chức năng vẫn chưa có biện pháp ngăn chặn hiệu quả.
Cánh rừng Trường Sơn dọc biên giới giữa Quảng Nam và tỉnh Sê Kông (Lào) luôn là “điểm nóng” của nạn bẫy thú rừng. Tại xã La Dêê, Chà Vàl, Đắc Tôi (Nam Giang)… xuất hiện nhiều “làng chó cụt chân” do dính phải bẫy của giới thợ săn trong rừng.
Theo Thượng úy Trịnh Thanh Bình – Đội trưởng đội trinh sát (Đồn Biên phòng cửa khẩu Nam Giang), trong đợt truy quét cuối năm tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, lực lượng chức năng đã phá hủy 1.500 cái bẫy thú rừng.
Sát cửa khẩu có một nhóm khoảng vài chục người quê ở Quảng Bình chuyên sống bằng nghề bẫy thú rừng, hoạt động rất tinh vi và chuyên nghiệp. “Gần như chuyến tuần tra, truy quét nào chúng tôi cũng tịch thu và tự phá hủy bẫy của thợ săn, ít nhất vài trăm chiếc. Nhiều con chó nuôi tại đơn vị bị cụt chân do mắc bẫy” – Thượng úy Bình cho biết.
Giới thợ săn tự chế dụng cụ bẫy, chủ yếu để bắt nai, heo rừng. Bẫy đặt càng nhiều thì khả năng bắt được thú rừng càng lớn. Dọc vùng biên giới từ xã Chà Vàl lên La Dêê, xuất hiện nhiều điểm cung ứng thịt rừng. Một tay thợ săn ở làng Đắc Tà Oóc (xã La Dêê) tiết lộ, công đoạn bẫy heo rừng, nai, hoẵng rất đơn giản, khó nhất là bẫy những động vật như voọc, chồn hương, báo lửa.
Với hổ, báo, chồn hương nếu phát hiện, chỉ có cách dùng súng sát hại. Thợ săn cũng lén lút sử dụng súng săn bắn. Năm 2014, riêng xã Cà Dy (Nam Giang), lực lượng kiểm lâm đã tháo dỡ và tiêu hủy hơn 5.000 bẫy thú rừng.
Theo tổ chức Bảo vệ động vật hoang dã quốc tế tại Việt Nam, trước kia loài hổ phân bố ở dãy rừng Trung Trường Sơn chủ yếu tập trung ở hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam, ước có số lượng hổ trên 7 cá thể, nhưng hiện tại ước còn vài cá thể. Khoảng 10 năm trước đây, loài voọc chà vá chân xám, linh trưởng được phát hiện với hàng chục cá thể ở Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh thì 4 năm trở lại đây gần như kiểm lâm và người dân chưa phát hiện được cá thể nào sinh sống ở dãy rừng này.
Các chuyên gia về bảo tồn động vật hoang dã trong nước lẫn quốc tế dự báo, nếu không ngăn chặn kịp thời thì sớm muộn gì rừng Trung Trường Sơn qua Quảng Nam sẽ bị tuyệt chủng nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm. Những năm qua, các tổ chức quốc tế và chính quyền địa phương có nhiều cố gắng trong phục hồi “ngôi nhà chung” cho muông thú sinh sống bằng cách hành động bảo tồn đa dạng sinh học.
Đáng chú ý, UBND tỉnh quy hoạch các khu bảo tồn thiên nhiên với tổng diện tích 133.722ha, bao gồm các Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, Sao La, Ngọc Linh, Voi Nông Sơn, Cù Lao Chàm… Đặc biệt, chính quyền 2 huyện Phước Sơn, Nam Giang đã có động thái tích cực trong kiểm soát chặt chẽ các hoạt động săn bắn, buôn bán động vật hoang dã; phân loại các vùng rừng ưu tiên để có kế hoạch bảo tồn sinh thái.
Thêm vào đó, bắt buộc hàng nghìn hộ dân sinh sống gần khu vực rừng đặc dụng và các nhà hàng, quán ăn cam kết không khai thác, mua bán, kinh doanh, chế biến động vật rừng và các sản phẩm của chúng khi không có nguồn gốc rõ ràng. Tuy vậy, các chế tài xử lý của lực lượng chức năng vẫn chưa đủ mạnh để ngăn chặn triệt để nạn sát hại muông thú ở miền núi. (Báo Quảng Nam 7/1) đầu trang(
UBND tỉnh có Quyết định số 2491/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020.
Nội dung Quy hoạch bao gồm: Quy hoạch diện tích quy hoạch các khu đặc dụng đến năm 2020 là 29.913,23 ha, trong đó: Vườn Quốc gia Ba Bể 10.048 ha, thuộc huyện Ba Bể, Chợ Đồn; khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ 15.715,02 ha, thuộc huyện Bạch Thông và huyện Na Rì; khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc 4.150,21 ha thuộc huyện Chợ Đồn.
Quy hoạch bảo vệ, bảo tồn và phát triển rừng, trong đó xác định rõ ranh giới và cắm mốc ranh giới các khu rừng đặc dụng, ranh giới giữa các phân khu chức năng, ranh giới vùng đệm trong; tuần tra, truy quét, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp Luật Bảo vệ và phát triển rừng; nâng cao năng lực, nghiệp vụ cũng như hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ của lực lượng bảo vệ rừng; xây dựng, nâng cấp, cải tạo cơ sở hạ tầng nhằm phục vụ tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng; nâng cao năng lực phòng cháy chữa cháy rừng; bảo tồn đa dạng sinh học;bảo vệ, tôn tạo cảnh quan thiên nhiên, giá trị văn hoá, lịch sử, môi trường; phục hồi hệ sinh thái; lưu trữ và xây dựng cơ sở dữ liệu;nghiên cứu khoa học.
Quy hoạch phát triển hạ tầng kỹ thuật: Tại Vườn Quốc gia Ba Bể: Xây dựng khu hành chính mới Vườn Quốc gia Ba Bể; xây dựng mới 02 tuyến đường với chiều dài 6,43km và cải tạo nâng cấp 02 tuyến với tổng chiều dài 17,23 km, xây dựng đường lâm nghiệp dài 5km;cải tạo nâng cấp bến thuyền; đầu tư trang thiết bị máy móc, hệ thống thông tin liên lạc phục vụ công tác quản lý bảo vệ rừng; cải tạo 01 vườn thực vật, xây dựng 01 khu cứu hộ động vật.
Tại khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ: Xây dựng phân khu dịch vụ hành chính tại khu vực thôn Lủng Chuông xã Cao Sơn với tổng diện tích 439,13ha; xây dựng mới 04 trạm và 03 chốt kiểm lâm, 02 trạm dừng chân trên các tuyến tuần tra kết hợp du lịch sinh thái; nâng cấp và xây dựng mới 13 tuyến đường phục vụ cho công tác tuần tra, bảo vệ rừng kết hợp du lịch với tổngchiều dài 44,295 km, trong đó: Cải tạo và nâng cấp 01 tuyến với tổng chiều dài là 4,295km, xây dựng mới 12 tuyến đường tuần tra với tổng chiều dài 40 km. Đầu tư trang thiết bị máy móc, hệ thống thông tin liên lạc phục vụ công tác quản lý bảo vệ rừng. Xây dựng 01 vườn thực vật, 01 trạm cứu hộ động vật.
Tại khu bảo tồn Loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc: Xây dựng hoàn thiện Trụ sở làm việc Khu bảo tồnvà 03 trạm kiểm lâm; xây dựng thêm 03 chốt kiểm lâm, 03 trạm dừng chân trên tuyến tuần tra kết hợp du lịch sinh thái; cải tạo, sửa chữa và nâng cấp các tuyến đường mòn kè xếp bằng đá được xây dựng từ thời thực dân Pháp thành đường tuần tra, quản lý bảo vệ rừng kết hợp với du lịch sinh thái với tổng chiều dài các tuyến đường là 41 km; đầu tư trang thiết bị máy móc, hệ thống thông tin liên lạc phục vụ công tác quản lý bảo vệ rừng; xây dựng 01 vườn thực vật, 01 trạm cứu hộ động vật.
Đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất, xây dựng các khu nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, nhà hàng, điểm giao lưu văn hóa của các dân tộc.
Tổng vốn đầu tư cho các khu rừng đặc dụng đến năm 2020 là 427.062 triệu đồng, trong đó: Vốn Ngân sách Nhà nước là401.983 triệu đồng;vốn đầu tư từ các nguồn khác là 25.079 triệu đồng. (Backan.gov.vn 7/1) đầu trang(
6/8 xã, phường, thị trấn có diện tích rừng đồi núi thuộc Hạt Kiểm lâm Tịnh Biên quản lý đã tiến hành xây dựng phương án và triển khai xong công tác “Bảo vệ và phát triển rừng” mùa khô cấp xã năm 2015. Đồng thời, dự kiến giữa tháng 1, Châu Đốc và Tịnh Biên sẽ tổ chức triển khai cấp huyện.
Ông Lê Thành Công, Hạt trưởng Kiểm lâm Tịnh Biên cho biết, mùa mưa đã chấm dứt và kết thúc sớm hơn một tháng so cùng kỳ năm ngoái. Thời tiết bắt đầu khô hanh và chuyển sang mùa khô năm 2015. Do vậy, việc chuẩn bị phòng cháy, chữa cháy rừng khu vực đồi núi cũng ráo riết, nhất là phương án cấp xã đã được triển khai.
Tiến hành vệ sinh đường băng cản lửa và đốt chủ động 31 héc-ta, như: Núi Phú Cường, núi Cấm có vách Sóc Tức, đường Công Binh, vách Đông thuộc xã An Hảo… với mặt ngang 20 mét. “Hạt cũng đang tiến hành bảo dưỡng máy móc, kiểm tra thiết bị, dụng cụ… để giao cho các xã, phường, thị trấn có diện tích rừng đồi núi” – ông Công nói.
Theo ông Công, các khu vực trọng điểm, nơi đông người hành hương và du khách tham quan, địa bàn thường dọn cỏ trồng rẫy… cũng được tổ chức tuần tra, kiểm tra, theo dõi thường xuyên hơn. Các xã, phường, thị trấn có diện tích rừng đồi núi tăng cường phối hợp tuyên truyền, vận động bằng nhiều hình thức góp phần nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi để bảo vệ và phát triển rừng.
Đây là kinh nghiệm để hạn chế tối đa các vụ việc xảy ra và các tình huống ứng phó cũng được cộng đồng tham gia tích cực. Ngoài ra, còn có các lực lượng bộ đội Sư đoàn 330, Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Đội K93… hiệp đồng chặt chẽ với Huyện đội, Công an huyện và Dân quân, Công an xã, Kiểm lâm địa bàn.
Đến thời điểm hiện nay, diện tích rừng đồi núi trên địa bàn Tịnh Biên giao khoán còn nhỏ lẻ, bình quân mỗi hộ chỉ 1 héc-ta nên thu nhập từ rừng không đảm bảo cuộc sống. Khi cây rừng khép tán, không sản xuất được kết hợp dưới tán rừng, các chủ rừng không được vay vốn… nên đời sống hộ nhận khoán rừng gặp rất nhiều khó khăn. Từ đó, xuất hiện tình trạng chặt phá cây rừng, phát dọn trồng rẫy, lập vườn trồng cây ăn trái… gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý và bảo vệ rừng.
Mặt khác, khu vực ven chân núi, tiếp giáp đất nông nghiệp còn một số nơi chất lượng rừng bị giảm, nguyên nhân khách quan cây rừng thiệt hại do nắng hạn gay gắt vào mùa khô hàng năm. Đáng lưu ý, chính sách hỗ trợ vốn cho các chủ rừng để tăng gia sản xuất còn hạn chế, phát sinh một bộ phận nhận khoán chưa thật sự quan tâm đến công tác bảo vệ rừng.
Năm 2014, địa bàn Tịnh Biên xảy ra 34 vụ vi phạm hành chính về lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng, tăng 8 vụ so với năm 2013; tịch thu 9,8m3 gỗ keo lá tràm, sầu đâu rừng, giáng hương, căm xe, muồng đen. Trong đó, có 1 vụ khai thác rừng trái phép nghiêm trọng và đề nghị các ngành của huyện tiến hành truy tố hình sự.
Song, công tác tuần tra, kiểm tra, giám sát của các Trạm Kiểm lâm và Kiểm lâm địa bàn chưa thường xuyên và chặt chẽ, phát sinh tình trạng lén lút phát dọn cỏ đất rừng trồng rẫy, khai thác rừng trái phép tại một số khu vực đồi núi vẫn còn xảy ra, điển hình tại khu vực Latina, Tà Lọt, Tân Lợi… thuộc khu vực núi Cấm.
“Trước diễn biến thời tiết, ngay từ đầu năm 2015, Hạt Kiểm lâm Tịnh Biên đã chỉ đạo các chốt, trạm ứng trực 24/24 để tăng cường tuần tra, kiểm tra, kịp thời xử lý các tình huống có thể xảy ra, nhất là những địa bàn trọng điểm và khu vực có đông người lui tới; vừa tuyên truyền, vận động cộng đồng tham gia bảo vệ rừng đồi núi” – ông Lê Thành Công, Hạt trưởng Kiểm lâm Tịnh Biên, cho hay. (Báo An Giang 8/1) đầu trang(
Chiều 7/1, Hội đồng KH-CN tỉnh nghiệm thu cấp cơ sở đề tài cấp Nhà nước: “Ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ cháy rừng trên địa bàn tỉnh Phú Yên”.
Đề tài do nghiên cứu sinh Lê Thị Kim Thoa, Viện Địa lý làm chủ nhiệm. Đây là đề tài thuộc nhóm nhiệm vụ cấp thiết phát sinh ở địa phương do Vụ KH-CN địa phương, Sở KH-CN Phú Yên và Viện Địa lý hợp tác thực hiện.
Tỉnh Phú Yên có 163.954ha đất lâm nghiệp, trong đó rừng tự nhiên là 126.095ha. Mặc dù địa phương đã có sự chủ động nhưng tình trạng cháy rừng vẫn xảy ra trên diện rộng.
Tuy nhiên, theo thống kê của Cục Kiểm lâm, trên cả nước hiện chỉ có 19 tỉnh được đầu tư phần mềm cảnh báo cháy rừng và bản đồ phân vùng trọng điểm cháy, trong số đó không có tỉnh Phú Yên. Nhằm tạo ra công cụ hỗ trợ công tác phòng, chống cháy rừng trên địa bàn tỉnh Phú Yên Viện Địa lý đã thực hiện đề tài này.
Sau 2 năm thực hiện, nhóm thực hiện đề tài đã hoàn thiện 3 sản phẩm: xây dựng được bản đồ phân vùng nguy cơ cháy rừng tỉnh Phú Yên; xây dựng phần mềm ứng dụng cảnh báo rừng tỉnh Phú Yên; đề xuất định hướng các giải pháp phòng tránh cháy rừng của tỉnh Phú Yên giai đoạn 2012-2020. (Báo Phú Yên 8/1) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Năm 2014, tỉnh Phú Yên trồng mới rừng tập trung được hơn 4.800 ha (rừng phòng hộ 337 ha, rừng đặc dụng 39 ha, rừng SX hơn 4.424 ha), nâng độ che phủ lên 38%, đạt ...
Tuy nhiên, nhiều năm qua, các vườn ươm cây giống trong tỉnh chưa đáp ứng được số lượng, chất lượng phục vụ cho việc trồng rừng của các tổ chức, cá nhân. Trong quy hoạch hệ thống rừng giống, vườn giống, vườn ươm giống cây trồng lâm nghiệp của tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Phú Yên đề ra mục tiêu đến năm 2020 sẽ cung cấp 80% giống từ nguồn giống được công nhận.
Trong đó, 80% giống từ nhân giống sinh dưỡng (vô tính) cho trồng rừng phòng hộ, SX. Thực hiện quy hoạch trên, Phú Yên cần tổng vốn đầu tư hơn 37 tỷ đồng. Trước mắt, đến năm 2016, tỉnh sẽ chủ động cung cấp 60% cây giống từ nguồn giống được công nhận, năm 2020 cung cấp 80% và đến năm 2030 cung cấp trên 90%; trong đó trên 90% giống từ nhân giống sinh dưỡng cho trồng rừng phòng hộ, SX.
Ngoài ra, còn hình thành mạng lưới SX và cung ứng giống theo hướng xã hội hóa nghề giống cây lâm nghiệp với nhiều thành phần kinh tế; 100% các nguồn giống và cơ sở SXKD giống được kiểm soát chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp theo thủ tục giám sát chuỗi hành trình giống đối với toàn bộ các loài cây trồng chính; đến năm 2020 cơ bản bảo đảm đủ số cán bộ, nhân viên hoạt động trong lĩnh vực giống cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Theo Sở NN-PTNT Phú Yên, trong định hướng phát triển hệ thống rừng giống, vườn giống, vườn ươm giống cây trồng lâm nghiệp, tỉnh sẽ chọn lọc các loài cây trồng phù hợp với mục đích trồng rừng, sớm cho thu hoạch, có giá trị và hiệu quả kinh tế cao, tiềm năng thị trường lớn...
Theo UBND tỉnh Phú Yên, trong quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020, tỉnh đề ra mục tiêu phát triển lâm nghiệp toàn diện từ quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng bền vững 287.900 ha đất đã quy hoạch lâm nghiệp, năm 2015 nâng tỉ lệ độ che phủ rừng lên 39% và đến năm 2020 đạt 45%.
Đối với vườn ươm quy mô lớn (trên 1 triệu cây giống/năm), tỉnh sẽ đầu tư nâng cấp vườn ươm Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Cầu và vườn ươm Trạm Thực nghiệm giống lâm nghiệp (Trung tâm Giống và Kỹ thuật cây trồng Phú Yên) với diện tích mỗi vườn khoảng 3 ha. Đồng thời đầu tư xây dựng mới vườn ươm tại Ban Quản lý rừng phòng hộ sông Bàn Thạch, diện tích khoảng 3 ha/vườn và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng vườn ươm tại huyện Tây Hòa. Vườn ươm quy mô trung bình sẽ đầu tư xây dựng mới 3 vườn SX cây sinh dưỡng tại các huyện Phú Hòa, Sơn Hòa và Đồng Xuân.
Đồng thời duy trì các vườn ươm có năng lực, kinh nghiệm SX giống để cung cấp cây trồng lâm nghiệp cho hộ gia đình trồng rừng với diện tích bình quân 0,5 - 1 ha đối với vườn ươm quy mô nhỏ. Bên cạnh đó, tập trung vào các loài cây trồng rừng kinh tế chủ lực cả cây nguyên liệu mọc nhanh lẫn cây gỗ lớn và cây lâm sản ngoài gỗ, cây nhập nội lẫn cây bản địa kết hợp nghiên cứu chọn giống với nghiên cứu biện pháp lâm sinh để tăng năng suất rừng trồng.
Cũng theo quy hoạch, có 3 dự án được ưu tiên đầu tư, gồm dự án Hỗ trợ đầu tư nâng cấp nhà nuôi cấy mô (Trạm Giống cây trồng lâm nghiệp thuộc Trung tâm Giống và Kỹ thuật cây trồng và Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao công nghệ) kết hợp hỗ trợ xây dựng vườn ươm cho các BQL rừng phòng hộ tại các huyện, thị xã.
Dự án Xây dựng rừng giống chuyển hóa, trồng rừng giống, chọn lọc cây mẹ từ rừng tự nhiên, chọn lọc cây mẹ từ rừng trồng, cây phân tán; Dự án Đào tạo ứng dụng công nghệ mô, chọn loài, khảo nghiệm giống mới cho cán bộ thuộc Trung tâm Giống và Kỹ thuật cây trồng, Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao công nghệ, kết hợp đào tạo công tác quản lý giống cho các chủ vườn ươm và cán bộ quản lý cấp huyện, xã.... (Nông Nghiệp Việt Nam 8/1) đầu trang(
Đó là chỉ đạo của UBND TP. Hà Nội ban hành cv số 60 ngày 6.1 về việc tổ chức thực hiện “Tết trồng cây xuân Ất Mùi - năm 2015” trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Theo đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn UBND các quận, huyện, thị xã và các sở, ban, ngành, các cơ quan, đơn vị, các đoàn thể xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện “Tết trồng cây xuân Ât Mùi - năm 2015” tại các địa phương trên địa bàn thành phố theo chỉ đạo của Bộ NN&PTNT, của Thành ủy, UBND thành phố, báo cáo UBND thành phố trước ngày 20.1.2015.
Giới thiệu cơ sở chuyên ngành cung ứng đủ cây giống, vật tư kỹ thuật bảo đảm chất lượng và hướng dẫn kỹ thuật hỗ trợ UBND quận, huyện, thị xã và sở, ban, ngành... thực hiện hiệu quả “Tết trồng cây Xuân Ất Mùi năm 2015”; kiểm tra, đôn đốc, các quận, huyện, thị xã tổ chức Tết Trồng cây theo kế hoạch. (Lao Động 8/1) đầu trang(
Sau 10 năm thực hiện dự án “Khôi phục và quản lý rừng bền vững” (KfW6) do Chính phủ Đức và Việt Nam đồng tài trợ, trên địa bàn tỉnh Bình Định đã xanh thêm nhiều cánh rừng, niềm vui của người dân tham gia dự án cũng được nhân lên nhờ có thêm thu nhập.
Đến nay, dự án KfW6 Bình Định đã kết thúc và cho thấy hiệu quả rõ rệt. Sau 10 năm (2005-2014) thực hiện, Ban Quản lý dự án KfW6 (Sở NN-PTNT Bình Định) đã hoàn thành các mục tiêu mà dự án yêu cầu.
Các địa phương tham gia dự án quy hoạch bài bản việc sử dụng đất lâm nghiệp, đồng loạt tổ chức điều tra lập địa để xác định cây trồng cho từng loại đất; đồng thời đo đạc thiết kế, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp lâu dài cho các hộ tham gia. Các địa phương cũng được hỗ trợ để xây dựng HTX lâm nghiệp; xây dựng kế hoạch trồng, khoanh nuôi tái sinh, chăm sóc và bảo vệ rừng cho từng năm.
Nông dân tham gia dự án còn được chuyển giao các giống cây lâm nghiệp như sao đen, lim xanh, keo lai, keo lá tràm, mây nếp, dầu rái, dó trầm, xoan ta, bời lời… và được BQL Dự án hướng dẫn cách trồng và phương thức quản lý, bảo vệ, chăm sóc rừng trồng, rừng khoanh nuôi tái sinh. Nhờ vậy, các khu vực rừng thuộc dự án KfW6 tại các huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn và Tây Sơn phát triển ngày càng xanh tốt, độ che phủ rừng ngày càng tăng.
Đặc biệt, nhờ người dân tham gia dự án thường xuyên vào rừng thực hiện công tác quản lý, bảo vệ nên lâm tặc cũng “chờn” bớt, tình trạng chặt phá rừng tại các địa phương nói trên được giảm hẳn.
Nông dân Sử Văn Hà ở thôn An Hòa, xã Ân Phong (Hoài Ân) cho biết: “Tham gia dự án KfW6, gia đình tui được giao khoanh nuôi tái sinh 1,5 ha rừng tự nhiên và 15,5 ha rừng trồng bổ sung các loại cây như sao đen, lim. Diện tích rừng nói trên đã được Nhà nước giao quyền sử dụng lâu dài. Gia đình tui thay phiên nhau chăm sóc, bảo vệ chu đáo rừng được giao và đã có thu nhập đáng kể từ các sản phẩm phụ dưới tán rừng. Sau khi dự án kết thúc, diện tích rừng trồng có bổ sung sẽ được thu hoạch, gia đình tui lại có thêm thu nhập”.
Ngoài việc giao rừng cho các hộ gia đình, BQLDA KfW6 Bình Định cũng đã xây dựng được 4 mô hình quản lý rừng cộng đồng với tổng diện tích trên 2.572 ha. Trong đó, huyện Hoài Nhơn xây dựng 1 mô hình tại thôn Định Bình Nam (xã Hoài Đức) với diện tích 1.708 ha; huyện Tây Sơn 3 mô hình tại thôn Phú Mỹ (xã Tây Thuận) và 2 thôn Hòa Thuận, Tiên Thuận (xã Tây Phú) với tổng diện tích trên 862 ha.
Những địa phương thực hiện quản lý rừng cộng đồng được dự án hỗ trợ xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng, trang bị máy vi tính, máy in, bàn ghế, tủ đựng tài liệu; xây dựng các biển báo và đóng cột mốc bằng bê tông, trồng cây bản địa trên đường ranh giới diện tích rừng cộng đồng quản lý. Ngoài ra, dự án còn hỗ trợ kinh phí cho HTX lâm nghiệp thôn Phú Mỹ (xã Tây Thuận) xây dựng hạ tầng, trang bị máy móc phục vụ hoạt động SXKD.
Đến nay, dự án KfW6 Bình Định có trên 9.125 ha rừng. Huyện Hoài Ân có trên 3.478 ha, Hoài Nhơn trên 1.999 ha và Tây Sơn trên 3.647 ha. Trong đó có 2.812 ha rừng trồng cây bản địa gồm sao đen, dầu rái, lim xanh, dó trầm, keo lá tràm, keo lai và khoanh nuôi tái sinh trên 6.313 ha rừng tự nhiên.
Theo đó, Bình Định đã cấp 5.657 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các nông hộ tham gia dự án; mở 5.661 sổ tài khoản cho các nông hộ và cộng đồng tham gia dự án với số tiền gần 32 tỷ đồng, để phục vụ công tác chăm sóc, bảo vệ rừng.
Ông Nguyễn Thế Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Bình Định kiêm GĐ BQLDA KfW6 phấn khởi cho biết: “Dự án KfW6 Bình Định đã hoàn thành các mục tiêu đề ra, được Bộ NN-PTNT đánh giá cao”.
Thực tế cho thấy, sau khi được Nhà nước giao rừng, người dân tham gia dự án đã phát huy quyền làm chủ của mình trong công tác trồng, chăm sóc, quản lý, giám sát, bảo vệ rừng một cách có hiệu quả hơn. Nhờ đó, nhiều cánh rừng đa dạng sinh học được hình thành, vừa góp phần phòng hộ đầu nguồn, vừa giúp cho người dân có thu nhập ổn định từ việc khai thác tận dụng các loại gỗ tạp và các sản phẩm dưới tán rừng.
Mặc dù dự án đã kết thúc, nhưng nhiệm vụ của BQLDA KfW6 Bình Định vẫn tiếp diễn, trong đó đặt nặng công tác đôn đốc các hộ tham gia tiếp tục chăm sóc những diện tích rừng đã được hình thành từ năm 2010-2012 (trên 3.835 ha) và bảo vệ toàn bộ diện tích rừng đã được hình thành từ khi khởi động dự án đến nay để tiến tới bàn giao rừng. Thống kê, đánh giá chất lượng rừng theo 3 cấp để làm cơ sở bàn giao.
BQL Dự án cũng sẽ phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội đối chiếu tài khoản tiền gửi cá nhân của các hộ tham gia dự án để có cơ sở quản lý theo đúng quy định; bàn giao tài sản và thành quả của dự án cho đơn vị tiếp nhận… (Nông Nghiệp Việt Nam 8/1) đầu trang(
Theo Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Bình Thuận, sau 3 năm hoạt động, đến nay, quỹ đã thu được trên 45,2 tỷ đồng và thực hiện việc giải ngân chi trả dịch vụ môi trường rừng hơn 13 tỷ đồng.
Đây là kết quả của việc tuyên truyền chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng do cán bộ kiểm lâm địa bàn các xã và các đơn vị chủ rừng, giúp nắm rừng cơ chế chi trả giữa những người sử dụng và người cung cấp dịch vụ môi trường rừng. (Nông Thôn Ngày Nay 8/1, tr13) đầu trang(
Sau 3 năm tỉnh Sơn La triển khai thực hiện chính sách của Chính phủ về chi trả dịch vụ môi trường rừng đã khẳng định sự phù hợp với tỉnh miền núi có nhiều tài nguyên rừng.
Đồng thời, chính sách này đã tạo lập một nguồn lực tài chính mới, ổn định, bền vững phục vụ cho công tác quản lý bảo vệ rừng, góp phần nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số gắn bó với rừng.
Ông Cầm Ngọc Minh, Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La, khẳng định: “Kết quả thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã bước đầu tạo chuyển biến tích cực về ý thức quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng. Góp phần không nhỏ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất dốc, tạo việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống cho những người dân làm nghề rừng, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao biên giới”.
Việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Sơn La trong thời gian qua còn góp phần ngăn chặn tình trạng lấn chiếm đất rừng, suy thoái tài nguyên rừng, góp phần nâng độ che phủ của rừng toàn tỉnh từ 43% (năm 2011) lên 45% (năm 2014), đảm bảo quyền lợi cho người dân làm nghề rừng.
Ở bản Tà Ẻn, xã biên giới Phiêng Khoài, huyện Yên Châu (Sơn La) nhờ thực hiện hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng mà đời sống của đồng bào Xinh Mun đang có những bước đổi thay. Trước đây, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản trái phép là chuyện thường thấy, nhưng nay, người Xinh Mun đã cam kết giữ rừng tốt hơn.
Không riêng ở Tà Ẻn, xã Pá Lông, huyện Thuận Châu cũng phát huy hiệu quả từ chính sách này. Nhiều hộ gia đình ở đây đã có thể sống được bằng nghề chăm sóc bảo vệ rừng, nên không còn hộ trồng cây anh túc nữa.
Ông Ly Sếnh Chứ, Bí thư Ðảng ủy xã Pá Lông tâm sự: Đây là một chủ trương đúng, khuyến khích người dân vùng cao từng bước ổn định đời sống, góp phần ổn định kinh tế, xã hội. Đồng thời nâng cao vị thế của người dân làm nghề rừng và sống trong rừng trong việc ban hành và thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng công bằng và hiệu quả như hiện nay.
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng còn là đòn bẩy kinh tế giúp chính quyền cơ sở chỉ đạo, tổ chức, điều hành quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng, phòng chống chữa, cháy rừng ở cơ sở tốt hơn, làm cho ý thức của người dân trong công tác bảo vệ rừng ngày càng được nâng cao.
Bên cạnh đó các chủ rừng đã quan tâm thường xuyên tuần tra canh gác “kho vàng” ở rừng của mình. Nhiều địa phương (xã, bản) đã tổ chức lại cách thức bảo vệ rừng theo hình thức tổ bảo vệ, quản lý rừng theo cộng đồng bản, phối hợp, hỗ trợ nhau trong tuần tra bảo vệ rừng, tạo sự đồng thuận và quyết tâm hơn trong việc đấu tranh chống các hành vi xâm hại tài nguyên rừng.
Tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép trên địa bàn tỉnh giảm đáng kể về số vụ và mức độ thiệt hại (năm 2013 giảm 382 vụ so với năm 2009). (Tin Tức 8/1) đầu trang(
Trong những năm qua, Yên Bái cũng như các địa phương khác trong cả nước đã làm khá tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng. Những cánh rừng xơ xác thủa nào nay đã hồi sinh trở lại.
Người dân đã biết trồng và tu bổ rừng, nâng độ tàn che rừng lên 61,5%. Tuy nhiên, do diện tích rừng rộng lớn, phân bố không đồng đều dẫn đến diễn biến và chất lượng rừng không được cập nhật đầy đủ, chính xác.
Để có cơ sở quy hoạch và phát triển rừng hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 594/QĐ-TTg về phê duyệt Dự án Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016.
Mục tiêu của Dự án là xác định và nắm bắt toàn diện được diện tích rừng, trữ lượng rừng và diện tích đất chưa có rừng được quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp gắn với chủ quản lý cụ thể. Thông qua công tác điều tra, kiểm kê, thiết lập được hồ sơ quản lý rừng, xây dựng cơ sở dữ liệu rừng và đất chưa có rừng. Thành quả của Dự án là cơ sở để thực hiện, theo dõi diễn biến rừng, đất rừng hàng năm và việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tốt hơn.
Đồng thời, đó cũng là căn cứ để thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ. Phạm vi điều tra, kiểm kê rừng, đất chưa có rừng được tiến hành trên phạm vi toàn quốc, gồm toàn bộ diện tích rừng, chủ rừng. Thực hiện Dự án Tổng điều tra, kiểm kê rừng, Yên Bái đã tiến hành các bước theo quy trình. Tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh gồm các ngành liên quan và đồng chí Phó chủ tịch UBND tỉnh Hoàng Xuân Nguyên làm Trưởng ban Chỉ đạo.
Bên cạnh đó, tỉnh cũng đã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Dự án Điều tra, kiểm kê rừng tỉnh giai đoạn 2014 - 2015. Yên Bái sẽ điều tra, kiểm kê toàn bộ 481.770ha rừng và đất lâm nghiệp nằm trong quy hoạch 3 loại rừng hiện có, tổng kinh phí thực hiện trên 21 tỷ đồng.
Ông Hoàng Xuân Nguyên - Phó chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban Chỉ đạo điều tra, kiểm kê rừng tỉnh Yên Bái cho biết: “Thông qua việc điều tra, kiểm kê rừng để nắm rõ hơn nguồn tài nguyên rừng và cũng là cơ sở khoa học để tỉnh có quy hoạch, định hướng phát triển lâm nghiệp trên địa bàn hiệu quả, bền vững. Từ ý nghĩa đó, để công tác điều tra, kiểm kê rừng chính xác, hiệu quả cao, đúng tiến độ, từ tỉnh đến cơ sở phải thành lập ban chỉ đạo, tổ công tác kiểm kê rừng đồng thời tuyên truyền, vận động tới tất cả các chủ rừng, người dân và các tổ chức chính trị cùng vào cuộc, tạo điều kiện đóng góp công sức để thực hiện Dự án mới đạt tiến độ”.
Rõ ràng, công tác điều tra, kiểm kê rừng đợt này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển lâm nghiệp. Do đó, các sở, ban, ngành, huyện, thị, thành phố cần có sự phối hợp chặt chẽ với Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam để có những đề cương tuyên truyền, vận động phù hợp với thực tiễn.
Tỉnh cũng cần thành lập các tổ công tác kiểm kê rừng gồm những người có kinh nghiệm, am hiểu về lâm nghiệp để cùng các địa phương tuyên truyền, tập huấn cho các chủ rừng, hộ gia đình về công tác và phương án kiểm kê rừng. Các huyện tiến hành rà soát, thành lập ban chỉ đạo; các xã cung cấp số liệu, bản đồ liên quan, thực hiện rà soát, thống kê, phân loại và xác định diện tích rừng đã giao, cho thuê và các đối tượng nhận rừng qua các thời kỳ. Ngành kiểm lâm cũng cần có những báo cáo, đánh giá trung thực, khách quan và nắm bắt tốt diễn biến, biến động về rừng trên địa bàn.
Thời gian thực hiện điều tra tại các địa phương trong toàn tỉnh được bắt đầu từ tháng 12/2014 đến tháng 4/2015 và phấn đấu đến tháng 10/2015 tổ chức nghiệm thu, bàn giao kết quả và tập huấn sử dụng cơ sở dữ liệu kiểm kê rừng cho kiểm lâm địa bàn phụ trách các xã.
Dự án hoàn thành sẽ là một bước tiến mới của ngành lâm nghiệp trong quản lý, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu về rừng và đất rừng trên toàn quốc, góp phần vào việc thực hiện “Chiến lược Phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020”, do đó đòi hỏi phải có sự nỗ lực và vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị, các chủ rừng và người dân. (Báo Yên Bái 7/1) đầu trang(
Với mục đích góp phần tăng độ che phủ của rừng, tạo ra nguồn thu nhập để bảo đảm đời sống của người dân sống trong khu vực vùng đệm Vườn quốc gia (VQG) Phong Nha-Kẻ Bàng, thời gian qua, Ban quản lý Dự án Khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng đã nỗ lực triển khai nhiều giải pháp, nhằm thực hiện có hiệu quả việc trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh, giao rừng cho cộng đồng thôn, bản. Nhờ vậy, nhiều hộ dân đã có thêm cơ hội để vươn lên trong cuộc sống...
VQG Phong Nha-Kẻ Bàng có 13 xã vùng đệm với 77 thôn bản tham gia vào hoạt động trồng và bảo vệ rừng theo chương trình của Dự án Khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng. Đây là những xã có khá đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, chủ yếu là người Bru-Vân Kiều. Theo kết quả quy hoạch, các xã này có 7.600 ha đất trồng rừng và 10.600 ha rừng giao cho cộng đồng bảo đảm các tiêu chí dự án.
Lâu nay, người dân các xã vùng đệm, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số sống chủ yếu dựa vào rừng, "chặt, đốt, cốt, trỉa". Dẫu nhiều hộ dân đã biết trồng lúa nước, hoa màu, tuy nhiên đời sống vẫn còn rất khó khăn. Một số gia đình đã biết khai hoang đất rừng để sản xuất nhưng do thiếu vốn và không an tâm nên không dám mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất. Ông Nguyễn Văn Đền, bản Cổ Tràng, xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh cho biết, trước đây do không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên người dân trong bản không dám mạnh dạn vay vốn đầu tư trồng rừng.
Trước thực tế đó, xác định việc trồng rừng và giao rừng cho người dân là vấn đề cần thiết, cấp bách, bám sát sự chỉ đạo của UBND tỉnh, Dự án Khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng đã gấp rút triển khai nhiều biện pháp, nhằm sớm hoàn thành mục tiêu của dự án.
Sau 5 năm thực hiện (từ 2009 đến nay), hiện đã có 2.857 ha rừng được trồng và khoanh nuôi tái sinh trên các dạng lập địa khác nhau, thu hút 1.804 hộ gia đình ở 49 thôn bản tham gia. Việc mở tài khoản tiền gửi cho hộ dân được dự án gấp rút thực hiện sau khi công việc phát băng, đào hố được nghiệm thu phúc kiểm. Tùy theo diện tích từng hộ gia đình, dự án hỗ trợ tiền công trồng rừng thông qua việc mở một tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện. Các hộ gia đình được rút tiền từ tài khoản tiền gửi sau khi hoàn thành công việc được dự án nghiệm thu.
Đến nay dự án đã lập 1.804 tài khoản tiền gửi với số tiền hơn 12 tỷ đồng. Hàng năm, các hộ gia đình rút tiền từ tài khoản đúng quy định của dự án, cùng với việc được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã tạo lòng tin, sự phấn khởi trong cộng đồng dân cư.
Bên cạnh việc thực hiện trồng rừng và giao rừng cho các hộ gia đình, Dự án Khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng cũng đã hết sức nỗ lực trong hoạt động giao đất, giao rừng cho cộng đồng. Đây là hoạt động lần đầu tiên thực hiện trên địa bàn tỉnh do đó dự án đã chú trọng công tác tuyên truyền, vận động người dân ở các thôn bản để họ hiểu, hưởng ứng và tham gia.
Nhiều hoạt động tập huấn tại thôn bản được gấp rút hoàn thành như: Xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng, mở tài khoản tiền gửi và quy chế quản lý, các hoạt động lâm sinh áp dụng cho quản lý rừng cộng đồng... Đến nay, các địa phương giao được 6.310 ha rừng cho 21 cộng đồng. Trong năm 2015 sẽ giao khoảng 690 ha còn lại cho 7 cộng đồng. Dự án cũng đã mở tài khoản tiền gửi cho 19 cộng đồng với tổng số tiền hơn 6,4 tỷ đồng.
Rừng cộng đồng được cấp "thẻ đỏ" và mở tài khoản tiền gửi đã góp phần bảo vệ tốt hơn những khu rừng mà trước đây chưa có chủ quản lý. Điển hình, tại bản Cổ Tràng, UBND huyện Quảng Ninh cấp gần 210ha rừng tự nhiên có trữ lượng gần 33.000m3 gỗ để quản lý, bảo vệ theo mô hình rừng cộng đồng.
Bản Cổ Tràng thành lập ban quản lý rừng cộng đồng gồm 7 thành viên do trưởng bản làm trưởng ban, có nhiệm vụ cùng với các đoàn thể tuyên truyền, vận động dân bản không chặt phá rừng trái phép. Số tiền bảo vệ rừng 200 nghìn đồng/ha (hỗ trợ trong 6 năm liền) được dự án gửi vào một tài khoản ngân hàng để ban quản lý rừng cộng đồng bản chi trả cho hoạt động bảo vệ rừng. Mỗi chuyến tuần tra rừng, mỗi thành viên được trả 100-200 nghìn đồng.
Ông Đền cho biết: “Từ khi được giao rừng, bà con mừng lắm, từ nay chúng tôi đã có sinh kế lâu dài. Mọi người đã nhận thức được vai trò của rừng, không đốt rừng làm nương rẫy nữa. Việc bảo vệ rừng tại bản ngày một tốt hơn, là mô hình điểm được nhiều địa phương khác đến tham quan, học hỏi”.
Ở thôn Cù Lạc 2, xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, anh Nguyễn Hải Doan trưởng thôn phấn khởi chia sẻ: “Từ ngày được Dự án Khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng tuyên truyền, vận động và hỗ trợ trồng rừng; phối hợp với UBND huyện Bố Trạch cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà con trong thôn đã ý thức sâu sắc được vai trò của họ trong việc trồng rừng và bảo vệ rừng. 94 hộ gia đình được trao "sổ đỏ" với tổng diện tích 125,6ha đã sử dụng tốt vào mục đích trồng rừng sản xuất, ổn định đời sống”.
Kết quả đạt được trên là rất quan trọng, nhưng công tác chăm sóc bảo vệ lại càng quan trọng hơn. Phải làm sao để rừng thực sự trở thành rừng có chất lượng tốt trong thời gian tới? Trả lời cho câu hỏi này, ông Nguyễn Trung Thực, Giám đốc Ban quản lý Dự án Khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng chia sẻ: “Để làm được điều đó, các hộ gia đình phải tuân thủ quy trình kỹ thuật về chăm sóc rừng đã được dự án tập huấn, làm tốt công tác bảo vệ, chống gia súc phá hoại, phòng chống và ngăn ngừa cháy rừng. Các xã, thôn, bản cần có biện pháp để hỗ trợ tích cực trong công tác bảo vệ rừng, tổ chức tuần tra kiểm soát, xử lý các vụ việc xâm hại rừng, thực hiện đúng quy chế quy ước thôn bản và quy ước về rừng cộng đồng quản lý"... (Báo Quảng Bình 7/1) đầu trang(
Thực hiện chủ trương của tỉnh, huyện về phát triển kinh tế đồi rừng, xã Xuân Bình (Như Xuân) đã tổ chức giao đất, giao rừng cho người dân khoanh nuôi bảo vệ.
Cùng với đó, xã tuyên truyền cho người dân hiểu về lợi ích của đồi rừng và hiệu quả kinh tế do đồi rừng mang lại; phối hợp với hạt kiểm lâm huyện tổ chức tuyên truyền việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, góp phần nâng cao nhận thức cho các chủ rừng và mỗi người dân trong việc phát triển kinh tế rừng gắn với bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
Ngoài ra, xã cũng đã tổ chức tập huấn khoa học - kỹ thuật về cách trồng và chăm sóc, phòng cháy, chữa cháy rừng, bảo vệ rừng cho các chủ rừng. Tạo điều kiện cho các hộ dân vay vốn đầu tư phát triển sản xuất... Nhờ chỉ đạo tập trung, những năm gần đây phong trào phát triển kinh tế đồi rừng đã được các chủ rừng trong xã ủng hộ và làm theo. Đến nay, trên địa bàn xã có trên 1.000 ha cây cao su, 500 ha cây keo, 480 ha mía...
Hằng năm, tỷ lệ hộ nghèo của xã giảm từ 3 đến 4% (hiện toàn xã còn 30,14% hộ nghèo), thu nhập bình quân đầu người 16 triệu đồng/năm. Điển hình như gia đình ông Mai Văn Chung, ở thôn Hùng Tiến, những năm trước có khá nhiều diện tích đất đồi bỏ hoang, số ít trồng sắn nhưng năng suất thấp, đầu ra lại không ổn định. Nhận thấy cây cao su, cây keo là loại cây chịu hạn tốt, phù hợp với chất đất vùng cao, gia đình ông Chung chuyển toàn bộ diện tích đất bỏ hoang và trồng sắn kém hiệu quả sang trồng cao su, keo. Gia đình ông hiện có 5 ha cây cao su, 4 ha cây keo, 1,5 ha cây thanh long kết hợp với chăn nuôi bò sinh sản, gà, chim bồ câu, hàng năm trừ các loại chi phí cho lãi 200 triệu đồng.
Trao đổi với PV, bà Lê Thị Hảo, Chủ tịch Hội Nông dân huyện Như Xuân, cho biết: Để nâng cao hiệu quả kinh tế đồi rừng, nhiều năm qua, cùng với việc ban hành các văn bản, chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể trên địa bàn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân đầu tư sản xuất, huyện Như Xuân còn đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ người dân trong việc đưa các loại cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao vào sản xuấ, như: Hỗ trợ cây, con giống, vật tư phục vụ sản xuất từ nguồn ngân sách huyện và chương trình mục tiêu quốc gia; tạo cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển đối với các hộ nông dân; tạo điều kiện cho bà con được tiếp cận với các nguồn vốn ưu đãi phát triển sản xuất...
Khuyến khích nhân dân chuyển nhanh từ trồng rừng truyền thống sang trồng rừng kinh tế theo hướng thâm canh, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, đưa các loại giống mới, có giá trị kinh tế cao vào sản xuất. Huyện cũng chỉ đạo các ngành chức năng, UBND các xã, thị trấn xây dựng chương trình, kế hoạch, đề án cụ thể phù hợp với cơ sở để tổ chức thực hiện.
Vì vậy, ngày càng có nhiều mô hình trang trại đồi rừng mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp nhiều hộ gia đình vươn lên thoát nghèo, từng bước làm giàu. Đến nay, toàn huyện có gần 100 trang trại nông - lâm kết hợp, tạo việc làm cho hơn 1.000 lao động địa phương. Ngoài 6.156,7 ha cao su, 3.619 ha sắn, 3.860,4 ha mía..., năm 2014, toàn huyện đã trồng mới được gần 1.000 ha rừng.
Phát huy lợi thế trong phát triển đồi rừng, huyện Như Xuân tiếp tục chỉ đạo các ngành, đoàn thể tăng cường công tác tuyên truyền để các hộ tự giác chăm sóc, bảo vệ diện tích rừng hiện có, đồng thời thực hiện tốt quy trình kỹ thuật khai thác rừng hợp lý nhằm duy trì tu bổ và phát triển tài nguyên rừng.
Chỉ đạo các xã, thị trấn phát huy tối đa lợi thế của địa phương miền núi, nhân rộng mô hình kinh tế đồi rừng, đưa những cây, con phù hợp vào sản xuất, thâm canh nhằm tăng giá trị trên đơn vị diện tích canh tác... (Báo Thanh Hóa 7/1) đầu trang(
Vào thăm khu vườn ươm cây giống của ông Trần Bá Báu, ở thôn 4, xã Quảng Sơn (Hải Hà) gặp lúc ông đang tỷ mẩn chăm sóc vườn ươm chè ngọc thúy, vừa làm vừa trao đổi, ông cho hay: Toàn bộ vườn ươm giống chè ngọc thúy hơn 1 triệu cây này, là của doanh nghiệp Thuấn Quỳnh đặt làm, khi đủ tuổi sẽ được chuyển giao hỗ trợ cho người trồng chè ở Hải Hà.
Để cây giống phát triển tốt chăm sóc rất vất vả, phải mất từ 10 - 12 tháng, đặc biệt 3 tháng đầu chăm như chăm "con thơ" bởi lẽ nước tưới cho chè phải đảm bảo đủ độ ẩm, "nhiều nước thì dễ bị thối, mà để khô nước thì sùi cục" rồi lại phải thường xuyên "phá váng dặm hom"...
Ông Phùn Phu Quay, Trưởng thôn 4 đi cùng góp chuyện, ông Báu là người tiên phong trong trồng rừng ở Quảng Sơn và cũng luôn mạnh dạn áp dụng đưa giống cây trồng mới vào trồng, như vừa rồi ông mạnh dạn phá bỏ vài ha keo 2 - 3 năm tuổi để trồng cây bạch đàn đỏ. Không những thế, nhiều người dân ở Quảng Sơn không có tiền mua giống cây trồng ông Báu cho họ thiếu đến khi thu hoạch mới lấy tiền cây giống.Để có được thành quả như ngày hôm nay, là cả một quá trình hơn 20 năm vất vả lăn lộn với vùng đất Quảng Sơn của ông Báu. Năm 1990, từ Thái Bình gia đình ông xung phong ra xây dựng vùng kinh tế mới tại xã Quảng Sơn một xã miền núi nghèo nằm trong chương trình 135 của Chính phủ. Những năm đầu, ra xây dựng kinh tế mới, gia đình gặp rất nhiều khó khăn, từ vùng quê chuyên sản xuất nông nghiệp đặt chân đến Quảng Sơn, cả gia đình sống chủ yếu dựa vào khai thác rừng và nghề hái chè thuê, nhiều lúc muốn quay về quê cũ.
Lặn lội, vất vả tìm kế sinh nhai mãi cuối cùng mới tìm được hướng phát triển kinh tế. Vào năm 1995 ông Báu đã mạnh dạn nhận 30ha đất trống, đồi núi trọc để phát triển kinh tế theo mô hình gia trại, kết hợp trồng rừng, cây công nghiệp, cây ăn quả, ao đầm và ươm cây giống cho thu nhập hàng chục triệu đồng mỗi năm. Mặc dù ban đầu, diện tích trồng chè chỉ khoảng 2ha nhưng lấy cây chè làm cây "lấy ngắn nuôi dài" để phục vụ trồng rừng, vậy nên mới đủ giúp gia đình trang trải nhiều thứ.
Với nỗ lực từ kinh nghiệm của bản thân, đến học tập kinh nghiệm của các địa phương hay tham gia tập huấn kiến thức về trồng trọt của nhà nước mở gia đình ông đã mạnh dạn chuyển đổi mô hình sản xuất, từ việc mua cây giống, gia đình đã chuyển sang ươm các loại cây giống để phục vụ trồng rừng của gia đình. Từ việc thành công ươm cây giống, cùng với việc phát triển phong trào trồng chè, trồng cây lâm nghiệp ở Hải Hà, gia đình mở rộng quy mô sản xuất cây giống như chè, quế, keo, bạch đàn phục vụ cho bà con nhân dân ở Hải Hà, Đầm Hà, Ba Chẽ...
Không chỉ dừng lại ở đó, năm 2007, khi đã có vốn ông Báu đã mạnh dạn thành lập công ty, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực trồng, cung cấp giống và thu mua chè. Mỗi năm, trừ chi phí, gia đình ông thu được từ 250-300 triệu đồng tiền lãi; tạo công ăn việc làm ổn định cho trên 20 lao động địa phương với mức thu nhập bình quân từ 4 đến 6 triệu đồng/người/tháng.
Cùng với đó, ông luôn tham gia giúp người dân trong xã xóa đói giảm nghèo như: Hỗ trợ về cây giống cho các hộ nghèo; vận động bà con trong xã nhận đất, nhận rừng, tư vấn về kỹ thuật sản xuất... Từ mô hình trồng rừng của gia đình đã làm gương cho cho các hộ trong xã học tập phát triển kinh tế hộ từ trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc. (Báo Quảng Ninh 7/1)đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Bộ Quốc phòng Myanmar ngày 6-1 cho biết, trong đợt truy quét lâm tặc kéo dài 3 ngày, chính quyền Myanmar đã thu giữ 436 xe chở gỗ, 14 xe tải loại nhỏ, chất kích thích, thuốc phiện dạng thô và một lượng tiền Trung Quốc.
Theo tờ Liên hợp tảo báo, đại đa số người nước ngoài bị bắt lần này là công dân Trung Quốc.Tháng 4 năm 2014, Chính phủ Myanmar cấm xuất khẩu gỗ nguyên liệu để ngăn chặn tình trạng suy thoái nguồn tài nguyên rừng, đồng thời hy vọng thông qua việc chỉ xuất khẩu đồ gỗ mỹ nghệ, có thể thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ trong nước.
Theo số liệu mới nhất, tỷ lệ bao phủ rừng vào năm 1990 của Myanmar là 57,9% nhưng đến năm 2005 chỉ còn 47,6%. (An Ninh Thủ Đô 8/1) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||