|
Ngày 08 tháng 07 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Nhằm khuyến khích phát triển trí sáng tạo và thỏa thích chơi và học, khám phá thế giới động vật hoang dã kỳ thú cho trẻ em Đà Nẵng, Trung tâm Bảo tồn Đa dạng sinh học Nước Việt Xanh (GreenViet) phối hợp với Công ty Công Viên Cây Xanh Đà Nẵng bắt đầu triển khai các hoạt động hè khám phá thú vị dành cho trẻ em tại khu vườn thú – Công Viên 29/3 Đà Nẵng.
Dưới sự hỗ trợ của các tình nguyện viên bảo vệ động vật hoang dã tại Đà Nẵng, các em sẽ được tìm hiểu về các loài động vật và các câu chuyện về thiên nhiên hoang dã, đặc biệt là các loài động vật quý hiếm của Việt Nam. Các hoạt động mang tính tìm hiểu khám phá sẽ được tổ chức vào các buổi chiều thứ Bảy và Chủ nhật hàng tuần.
Hiện nay, Công viên 29/3 là công viên duy nhất tại Đà Nẵng được phép nuôi nhốt một số loài động vật hoang dã quý hiếm phục vụ cho hoạt động tham quan, học tập và nghiên cứu của người dân. Hiện tại có 10 loài động vật với tổng số 27 cá thể đang sinh sống tại đây.
Đầu năm 2013, Trung tâm GreenViet phối hợp với Công ty công viên cây xanh Đà Nẵng xây dựng 10 bảng thông tin loài cho 10 loài thú quý hiếm đang nuôi tại Công viên nhằm cung cấp thêm thông tin khoa học và tình trạng bảo tồn các loài để đáp ứng nhu cầu tham quan, học tập, tìm hiểu thông tin của công chúng (4 loài Khỉ, 2 loài Cá Sấu, Cu li nhỏ,Trăn đất, Cầy mực, Nai).
Chương trình hoạt động vui chơi, khám phá động vật hoang dã đã được tổ chức tại Công viên 29/3 vào các tháng mùa hè của năm 2013, 2014 và thu hút hơn 2.000 lượt khách tham gia và học tập mỗi đợt, trong đó có đến 70% lượng khách là trẻ em dưới 15 tuổi. (Giáo Dục & Thời Đại 7/7) đầu trang(
Qua trinh sát địa bàn, lực lượng liên ngành quận Hai Bà Trưng đã tóm gọn một chiếc xe khách giường nằm chở hơn 2 tấn gỗ thuộc nhóm 1 đều không có giấy tờ hợp lệ.Trước đó vào đêm 6/7, Đội Cảnh sát Kinh tế, Công an quận Hai Bà Trưng phối hợp với Đội Quản lý thị trường số 5 (Chi Cục Quản lý thị trường Hà Nội) đã tiến hành kiểm tra hành chính chiếc xe giường nằm đang trả khách tại khu vực Giáp Bát.
Tại thời điểm kiểm tra, lực lượng liên ngành đã phát hiện và thu giữ hơn 2 tấn gỗ trắc được giấu kín trong cốp và thùng xe cùng nhiều đồ mỹ phẩm, phụ tùng xe ôtô.
Đáng chú ý, các khoang chứa gỗ lậu được thiết kế rất kiên cố, ẩn sâu dưới những chiếc giường nằm của hành khách và phải mất rất nhiều công sức, đoàn liên ngành mới lấy được hết số gỗ trên ra khỏi xe.
Lái xe Nguyễn Văn Bằng, quê Hải Dương khai nhận chỉ chở thuê cho khách hàng và tất cả số gỗ trắc trên Bằng cũng chưa xuất trình được giấy tờ và hồ sơ hợp lệ.
Sau khi xem xét, một cán bộ Kiểm lâm thuộc Chi cục Kiểm lâm Hà Nội cho biết, toàn bộ số gỗ trên là gỗ trắc thuộc nhóm 1 (nhóm hạn chế khai thác), sau khi định giá thì tùy theo mức độ vi phạm, cơ quan chức năng sẽ ra các quyết định xử lý.
Hiện đoàn liên ngành đang tiếp tục điều tra mở rộng vụ án. (Quân Đội Nhân Dân + Vietnam+ 7/7) đầu trang(
Từ thông tin của anh T chúng tôi tìm cách lien lạc và gặp người buôn gỗ tên D, ở thị trấn Bảo Lạc và được “ông trùm” vừa gạ bán gỗ, vừa bật mí cách “chung chi, làm luật” với cơ quan chức năng từ huyện đến tỉnh khi vận chuyển gỗ lậu.
Khi mới gặp D. giới thiệu tên đầy đủ lả T. C. D. (SN 1983) trước đây làm cán bộ trong ngành viễn thông ở huyện Bảo Lạc, hiện đã chuyển công tác sang cơ quan khác cũng trên địa bàn huyện. Trong vai những người đi tim mua gỗ quỹ hiếm, được D. khoe : “Nhiều người ở thị trấn Bảo Lạc đều lấy gỗ của tôi, người thì chuyển ra khỏi huyện, kẻ thi đóng đồ dùng. Nếu chuyển ra khỏi địa phương vơi số lượng ít thì đi chui, không phải “làm luật” chuyển bằng xe máy, cần thiết thì trực tiếp tôi lái xe tải để vận chuyên”.
Cũng theo lời D, ở thị trấn Bảo Lạc ông chủ khách sạn Đức Tài lấy một tấn gỗ bừu kháo đóng một bộ bàn ghế và ốp tường toàn bộ văn phòng làm việc của doanh nghiệp. Được biết ông chủ khách sạn này hiện đang là Bí thư thị trấn Bảo Lạc???
Như muốn tạo lòng tin với chúng tôi, D. dẫn về ngôi nhà 3 gian cũ kỹ, giới thiệu nhà của anh ta, bên trong là bộ bàn ghế bằng bừu kháo, có người trả 160 triệu nhưng anh ta không bán, nếu được 170 triệu đồng sẽ bán. Sau khi cho chúng tôi xem xong bộ bàn ghế, D dẫn sang quán phở gia đình có tên Thu Trang, do vợ anh quàn lý. Tại đây anh trưng bày một bừu gỗ kháo, thông đỏ, một khúc gỗ ngọc am. Theo D, thì đây chỉ là hàng trưng bày, để khi khách vào ăn, nghỉ, xem nếu thích, sẽ bán. Nhờ chiêu trưng bày này anh ta đã có nhiều phi vụ làm ăn lớn, bán được cả trăm khối gỗ quý.
Xem xong mẩu gỗ, D. bảo chúng tôi theo anh ta vào xã, nơi thu gom gỗ gửi tại thôn Tua Tổng (xã Xuân Trường, huyện Bảo Lạc). Di chuyển khoảng 20km từ thị trấn vào Xuân Trường giữa trưa nắng, D dẫn chúng tôi vào hai hộ dân, thấy dưới sàn nhà là hàng tấn gỗ được gọi bừu nghiến, thông đò, kháo. Đó là gỗ dạng bửu (nu), còn mua gỗ dạng thanh thì giá khác. Gỗ kháo rộng 30 cm X dày 6cm X dài 2,2m có giá 6 triệu đồng một thanh, loại 20cm X 6cm X 2,2m giá 4 triệu đông. Còn các loại bừu thì bán đổ đồng 40.000 đồng/kg, khúc nhỏ nhất phải có đủ cân nặng là 20kg.
Thấy chúng tôi bảo những loại gỗ này đắt, muốn tìm mua gỗ nghiến cho rẻ. D. bảo: “Gỗ nghiến lấy bao nhiêu cũng được, nhưng phải báo trước để tôi đi xem, vì loại gỗ này phải vảo Bảo Lâm, hoặc sang Hà Giang mới có. Ở đây gỗ ngọc am còn khoảng 10 tấn, gần đây người ta rất hay mua bừu kháo, dạ hương, gù hương... để đóng bàn ghế nên tôi chủ yếu buôn loại này. Năm 2014, tôi chuyển hai chuyến về TP. Cao Bằng cho con của một lãnh đạo tỉnh, còn vận chuyển qua huyện Thông Nông để sang Trung Quốc thì nhiều lắm”.
Thấy chúng tôi tò mò, vận chuyển thế nào đểe đưa gỗ ra khỏi địa bàn mà không bị cơ quan chức năng thu giữ, xử lý, D. nhanh nhảu đáp: “Khi qua các cửa khẩu nhỏ như Cốc Pàng, khi chở gỗ đến chì cần gọi đồn trường đồn biên phòng ra xem, mặc cả chi mỗi chuyến vài chục triệu đồng. Hai chuyến năm ngoái tôi vận chuyến về TP.Cao Bằng, “làm luật” mỗi chuyến hết 30 triệu, đưa số tiền đó cho một nhân vật “uy tín” cùa Công an huyện Bảo Lạc, họ sẽ lo hết các cửa. Công an, kiểm lâm làm “luật” xong là OK. Ở trên tỉnh thì làm luật với cảnh sát môi trường, kiểm lâm cơ động, quản lý thị trường...cũng OK hết”.
Cũng theo lời D, nếu không muốn chuyển gỗ về tỉnh thì đi đường tử Bảo Lạc ra huyện Nguyên Bình, đến đoạn nhà nghỉ Phía Boóc rẽ phải qua đèo rồi sang thị trấn Nà Phặc (huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn) rồi về xuôi. Hoặc qua Bảo Lâm rồi qua huyện Bắc Mẽ (Hà Giang), là ổn.
Theo Nghị định 32/CP, đối với gỗ nghiến thuộc nhóm IIA hạn chế khai thác và sử dụng vi mục đích thương mại. Tuy nhiên, một số vùng chỉ có gỗ nghiến nếu không khai thác, thì lấy đâu ra gỗ mà dùng. Chi cục Kiêm lâm Cao Bằng cũng đã chỉ đạo các Hạt kiểm lâm, đồng thời các Hạt cũng phối hợp với chính quyền xã, và tham mưu cho UBND tỉnh công tác bảo vệ rừng.
Hồi tháng 12/2014, tôi(người viết) đến chúc Tết một số Hạt kiêm lâm và thấy tình trạng lợi dụng việc tận thu, đấu giá gỗ nghiến ở Sơn Lộ, nhiều người dân chặt phá diện tích lớn gỗ nghiến, nhưng hỏi thì Chi cục Kiêm lâm trà lời đang trực tiếp chỉ đạo các Hạt tiến hành kiểm tra, rà soát xử lý những người vi phạm???
Trước đó, năm 2007, có khoảng 9 cây nghiến lâu năm đã bị người dân chặt hạ, nhưng vụ việc đến năm 2010 mới phát hiện và thu hồi bàn giao cho xã, sau huyện Bảo Lạc đã ra quyết định bán đấu giá. Thực tế, ai cũng biết nếu cán bộ kiểm lâm địa bàn, chính quyền xã và người dân phối hợp chặt chẽ thì không ai có thể phá rừng được. Trong việc bảo vệ rừng, kiểm lâm chỉ có trách nhiệm một phần, bên cạnh đó lả trách nhiệm của địa phương.
Theo Thông tư liên tịch số 98 giữa kiểm lâm, công an, biên phòng nêu quy chế phối hợp, nhưng chủ yếu là ở cấp tỉnh, xuống địa phưong (xã, huyện) thì chưa có. Các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang cũng đã ký quy chế phối hợp nhưng chưa có dấu đỏ, dù UBND tỉnh đã ban hành quy chế phối hợp xuống cấp huyện, xã, thôn, bản trong việc bảo vệ rừng gỗ quý hiếm.
Chính quyền địa phương cho rẳng, gỗ do người dân khai thác mang về làm nhả, nhưng dùng không hết họ đem bán. Việc tịch thu số gỗ đó thì không được, bởi họ để trong nhà, muốn kiểm tra phải có lệnh khám nhà, thông thường cứ 10 nhà có gỗ thì 2-3 nhà đem bán. Kiếm lâm trên địa bàn dù có danh sách nhưng không biết họ giao dịch lúc nào.???
Việc buôn bán gỗ lậu diễn ra phức tạp trên địa bản tỉnh Cao Bằng. Tình trạng khai thác diễn ra nhiều nhưng nóng nhất là sau tháng 8, vì khi đó con em đi học cần đóng tiền học, nên phụ huynh vào rừng, chặt cây, đốn gỗ lả chuyện phổ biến.
Nhiều năm qua, việc phá rừng, buôn bán, vận chuyển gỗ quý hiếm đã trở thành vấn nạn trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Sự việc đã được báo chí phản ánh nhiều lần, tuy nhiên, không hiểu vì lý do gì, thực trạng này diễn ra ngày càng râm rộ và tinh vi. Trước tình trạng trên, thiết nghĩ đã đến lúc chính quyền tỉnh Cao Bằng cần nhìn nhận nghiêm túc và có những biện pháp hiệu quả, để kiểm soát tình trạng nêu trên. (Lao Động Xã Hội 5/7) đầu trang(
Thông tin trên được ông Đặng Văn Cận, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Bảo Lâm xác nhận.
Sáng 7/7, ông Cận cho biết, sau khi báo chí đăng tải loạt bài “Thâm nhập lãnh địa gỗ lậu vùng biên”, Hạt Kiểm lâm huyện Bảo Lâm và các lực lượng chức năng huyện đã ngay lập tức đi kiểm tra, xác minh thông tin và sẽ có báo cáo chi tiết gửi UBND tỉnh Cao Bằng trong thời gian tới.
Về thông tin hai xe gỗ ngang nhiên đi qua trụ sở Hạt Kiểm lâm huyện Bảo Lâm vào tối 31/5 mà phóng viên Báo Giao thông ghi nhận được, ông Cận xác nhận đó là hai xe gỗ chở từ xã Nam Cao về thị trấn Pác Miầu. “Hai xe gỗ đó, một xe chở gỗ xoan còn một xe chở gỗ nghiến. Chúng tôi đã làm việc với chủ xe gỗ nghiến và lập biên bản đối với toàn bộ số gỗ đó”, ông Cận nói.
Theo ông Cận, chiếc xe chở gỗ nghiến là của một cán bộ công an huyện Bảo Lâm tên là Đức. Ngay trong sáng 1/6, ông Cận đã gọi điện cho lãnh đạo Công an huyện Bảo Lâm thông báo sự việc. Đến ngày 2/6, ông Đức đã có đơn giải trình toàn bộ sự việc liên quan đến xe gỗ nghiến trên.
Chúng tôi đã đến nhà ông Đức kiểm tra và lập biên bản đối với toàn bộ số gỗ nghiến này. Kết quả kiểm đếm được có tất cả 26 hộp gỗ nghiến. Sự việc này chúng tôi sẽ có báo cáo lên các cơ quan cấp trên để xin ý kiến chỉ đạo về phương án xử lý”, ông Cận cho biết.
Trong một diễn biến khác, sáng 7/7, bà Quan Hồng Tiềm, Trưởng đài Truyền thanh truyền hình huyện Bảo Lạc xác nhận với Báo Giao thông, người đàn ông có tên Tô Chí Dũng mà Báo Giao thông phản ánh là đầu nậu gỗ trong loạt bài “Thâm nhập lãnh địa gỗ lậu vùng biên” đúng là cán bộ của đài. Tuy nhiên, bà Tiềm khẳng định, ông Dũng chỉ là cán bộ hợp đồng của đài và hợp đồng lao động giữa đài và ông Tô Chí Dũng đã hết hạn từ tháng 12/2014.
“Trong thời gian công tác tại đài, anh Dũng làm việc nghiêm túc. Khi đọc được thông tin mà báo đăng tải về việc anh Dũng đứng ra mua bán gỗ lậu, tôi cũng rất ngỡ ngàng. Từ lúc anh Dũng hết hợp đồng đến nay, tôi cũng mất liên lạc với anh ấy”, bà Tiềm cho hay.
Ông Hoàng Xuân Ánh, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng khẳng định: “Chúng tôi đang tiến hành kiểm tra, xác minh những thông tin báo chí phản ánh. Quan điểm của tỉnh là không bao che cho những hành vi chặt phá rừng hay buôn bán gỗ trái phép. Kiểm tra phát hiện sai phạm đến đâu sẽ xử lý đến đó. Trước đây, chúng tôi cũng đã xử lý một vài trường hợp rồi”. (Giao Thông 8/7) đầu trang(
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) và UBND tỉnh Ninh Thuận vừa phối hợp tổ chức hội thảo xây dựng kế hoạch hành động bảo tồn rùa biển Việt Nam giai đoạn 2015-2025.
Mục tiêu của hội thảo nhằm đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hành động bảo tồn rùa biển của Việt Nam đến năm 2010; giới thiệu kế hoạch hành động bảo tồn rùa biển giai đoạn 2015-2025, đồng thời thảo luận, tìm giải pháp, hành động ưu tiên gắn với tinh thần trách nhiệm và vai trò của các bên có liên quan trong việc thực hiện.
Ông Phạm Trọng Yên, Tổng cục Thủy sản - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho biết trong giai đoạn tới, Tổng cục Thủy sản tập trung vào các nhóm nhiệm vụ trọng tâm để bảo vệ rùa biển tốt nhất. Kế thừa kết quả giai đoạn 1, Tổng cục Thủy sản tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho cộng đồng về tầm quan trọng của việc phải bảo vệ rùa biển.
Qua hội thảo, Tổng cục Thủy sản, IUCN, các nhà khoa học trong và ngoài nước đã nhận được nhiều ý kiến từ các địa phương, đặc biệt là những cán bộ, cộng đồng trực tiếp liên quan đến bảo vệ rùa biển, đóng góp vào kế hoạch hành động sắp tới. Đây là cơ hội để công tác xã hội hóa bảo tồn rùa biển được thực hiện một cách triệt để và hiệu quả nhất, góp phần bảo vệ rùa biển của Việt Nam trong tương lai.
Từ năm 2003, số lượng rùa biển và bãi đẻ của loài này tại Việt Nam suy giảm. Hiện tại, chỉ còn 3 loài lên làm tổ và đẻ trứng tại các vùng ven biển, chủ yếu là vích, một số lượng nhỏ đồi mồi; còn rùa da rất hiếm. (Người Lao Động 7/7, T.Bình) đầu trang(
Ban quản lý rừng phòng hộ Hàm Thuận - Đa Mi (BQLRPHHT - ĐM) huyện Hàm Thuận Bắc là đơn vị được giao nhiệm vụ bảo vệ gần 20.000 ha rừng, với địa hình rộng, đồi núi hiểm trở, vì vậy gặp không ít khó khăn trong công tác quản lý và bảo vệ rừng.
Vào những ngày cuối tháng 6/2015, tôi về xã Đa Mi, trên địa bàn đã có mưa, những cơn mưa làm đường trơn trợt. Anh Ngô Công Thanh, lãnh đạo BQLRPHHT - ĐM nói: “Khi phát hiện xe lâm tặc chở gỗ lậu, anh em đuổi theo trong điều kiện đường trơn vì mưa và đêm tối nên phải cẩn thận, không sẽ bị ngã và không đuổi kịp lâm tặc. Bọn lâm tặc có nhiều thủ đoạn tinh vi, vì vậy những người giữ rừng phải có nhiều biện pháp để đối phó”.
Anh Thanh cho tôi biết thêm, để giữ được rừng, Ban quản lý đã phải đề ra nhiều giải pháp, trước hết là tuyên truyền Luật Bảo vệ và phát triển rừng cho nhân dân sống xung quanh rừng, đặc biệt là đồng bào dân tộc trong khu vực. Phối hợp với Hạt kiểm lâm của huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng theo dõi các hoạt động của bọn lâm tặc, từ đó tìm các biện pháp ngăn chặn. Đơn vị thường xuyên tổ chức truy quét bọn phá rừng. Tập trung truy quét các vùng giáp ranh huyện Bảo Lâm và Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, tại các tiểu khu 166, 167, 165a, 165b và 172.
Ngoài ra, đơn vị còn đẩy mạnh việc giao khoán rừng cho dân. Đến cuối tháng 5/2015 đã giao khoán 17.185 ha rừng cho 490 hộ dân. Từ khi giao khoán bảo vệ rừng, đơn vị thường xuyên đôn đốc công tác tuần tra bảo vệ rừng, lập một số chốt tại những trọng điểm để canh giữ. Hàng tháng, đơn vị thực hiện tốt việc chi trả tiền nhận khoán cho dân nên họ an tâm gắn bó với rừng, tổ chức họp đánh giá tình hình quản lý bảo vệ rừng của từng hộ để rút kinh nghiệm. Trong thời gian qua, đơn vị đã phát hiện và xử lý 36 vụ vi phạm lâm luật, vận chuyển, khai thác lâm sản trái phép, phá rừng làm rẫy.
Để giảm các vụ phá rừng, sắp tới đơn vị sẽ tổ chức truy quét dài ngày ở các vùng giáp ranh tỉnh Lâm Đồng. Đồng thời kiên quyết nhổ bỏ toàn bộ cây trồng trái phép trên đất rừng. Trực tiếp tới các thôn thuộc xã Đa Mi và khu vực lân cận để tuyên truyền Luật Bảo vệ rừng cho mọi người dân, với phương châm “Gần dân để nhờ dân phát hiện, tố giác bọn lâm tặc có âm mưu phá rừng”...(Báo Bình Thuận 7/7) đầu trang(
Ông Lê Thanh Hóa, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) cho biết: Sáng 7/7, lực lượng kiểm lâm đã tiến hành tổ chức tuần tra trên diện rộng ở khu vực sông Cái, phát hiện 2 bè chứa gần 3m3 gỗ lậu được thả trôi sông từ thượng nguồn xuống.
Theo ông Hóa, việc kết bè đưa gỗ về xuôi bằng đường sông nhằm qua mặt lực lượng chức năng trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh mấy năm gần đây đã không còn xảy ra. Tuy nhiên, nay tình trạng này lại tiếp tục diễn ra ở khu vực sông Cái, xã Cầu Bà. Hiện, lực lượng chức năng đã thu giữ số gỗ trên và sắp tới chúng tôi sẽ mở rộng kiểm tra những khu vực có rừng đầu nguồn. (Nông Nghiệp VN 8/7) đầu trang(
Những cánh rừng nguyên sinh còn lại trên địa bàn huyện vùng cao Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, liên tục bị tàn phá, nhưng chính quyền vẫn chưa có biện pháp quyết liệt để ngăn chặn tình trạng này.
Khu rừng bị tàn phá thuộc thôn Pá Ỏ, xã Mường Đun, huyện Tủa Chùa. Hàng chục cây gỗ nghiến thuộc nhóm 2a quí hiếm, có tuổi thọ hàng chục, thậm chí hàng trăm năm tuổi bị đốn hạ nằm ngổn ngang. Trong đó, có những cây đường kính trên dưới 1m, vừa mới bị đốn hạ, được cắt khúc dài từ 1,5 đến 2m để sẵn sàng cưa xẻ ra thành phẩm. Nhiều gốc cây gỗ lớn còn nguyên vết cắt ngang cây bằng cưa máy, thân cây đã được vận chuyển ra khỏi rừng. Cũng có những thân cây còn nguyên vết tích cắt ra thành hàng trăm chiếc thớt chỉ còn lại phần bạnh gỗ bên ngoài.
Không chỉ ở xã Mường Đun, tại thôn Làng Vùa I, xã Tủa Thàng, huyện Tủa Chùa, lực lượng kiểm lâm cũng phát 15 cây gỗ nghiến bị chặt hạ từ đầu năm 2014 vẫn đang nằm rải rác trong các khoảnh 5,6,7 của Tiểu khu 557 xã Tủa Thàng, không thể vận chuyển ra ngoài vì nằm sâu trong rừng.
Sau khi phát hiện, các lực lượng chức năng của địa phương đã vào cuộc, nhưng chưa xác minh được đối tượng nên việc ngăn chặn tình trạng phá rừng nơi đây vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
Tủa Chùa, huyện vùng cao của tỉnh Điện Biên, là nơi 70% dân số là người Mông. (VOV4 6/7) đầu trang(
Chiều 6/7, UBND tỉnh tổ chức cuộc họp trực tuyến với các sở, ban, ngành và địa phương nhằm sơ kết công tác quản lý, bảo vệ rừng 6 tháng đầu năm và đề ra một số nhiệm vụ cần tập trung trong 6 tháng cuối năm. Ông Lê Tiến Phương - Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì cuộc họp.
Nửa đầu năm 2015, lực lượng quản lý, bảo vệ rừng trên toàn tỉnh đã phát hiện, lập hồ sơ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng 478 vụ, tăng 57 vụ so với cùng kỳ năm 2014. Các vụ việc vi phạm chủ yếu là mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng, vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản. Trong đó, đã khởi tố hình sự 7 vụ xảy ra tại các huyện Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc. Cùng thời gian này xảy ra 33 vụ cháy thực bì, trảng cỏ, cây bụi dưới tán rừng với diện tích trên 55 ha. Do thời tiết khô hạn, nắng nóng kéo dài nên diện tích rừng trồng bị thiệt hại hơn 2.293 ha với giá trị trên 43 tỉ đồng.
Ông Lê Tiến Phương - Chủ tịch UBND tỉnh đánh giá các sở, ban ngành và địa phương đã chủ động triển khai các biện pháp tăng cường quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế là tình hình phá rừng, khai thác, mua bán, vận chuyển trái phép gia tăng; công tác xác minh điều tra truy tố và tỉ lệ phá án đạt thấp; thu hồi đất lâm nghiệp bị lấn chiếm nhìn chung còn chậm, nhất là Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông; trồng rừng đạt thấp. Do đó, Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị tăng cường công tác tuyên truyền gắn với việc đẩy mạnh các biện pháp quản lý bảo vệ rừng, chống phá rừng.
Bên cạnh đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban ngành và địa phương thực hiện tốt kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2016 - 2020; chỉ đạo triển khai tốt các dự án phục hồi quản lý bảo vệ rừng; hoàn thiện phương án tổng thể, sắp xếp mô hình công ty lâm nghiệp; các cơ quan bảo vệ pháp luật liên quan đến rừng đẩy mạnh công tác xác minh, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án đã khởi tố, nâng tỉ lệ phá án lên; làm tốt công tác phòng cháy chữa cháy. (Báo Bình Thuận 8/7; Đài PTTH Bình Thuận 7/7) đầu trang(
Vườn quốc gia (VQG) Chư Yang Sin với đỉnh Chư Yang Sin cao 2.442m là nơi có đa dạng sinh học với 876 loài thực vật, 203 loài chim, 46 loài thú được ghi nhận. Song, cuộc chiến bảo vệ rừng ngày càng cam go hơn khi rừng xanh là miếng mồi béo bở...
VQG Chư Yang Sin với địa hình phức tạp, đường biên gần 200 km phần lớn tiếp xúc với đất canh tác nương rẫy của đồng bào thiểu số là cơ hội để xâm lấn vùng đệm. Dọc theo các xã có diện tích đất tiếp giáp với VQG nhiều người dân len lỏi vào rừng để vỡ đất canh tác, đốt than hay chặt hạ cây gỗ.
Trong báo cáo Công tác bảo tồn đa dạng sinh học của VQG Chư Yang Sin giai đoạn 2011 – 2014, nêu rõ khó khăn về vấn đề người dân sống quanh khu vực là đồng bào dân tộc thiểu số có trình độ thấp, hiểu biết về pháp luật còn nhiều hạn chế. Điều kiện kinh tế khó khăn nên để kiếm kế sinh nhai một số người dân vùng đệm đã lén lút vào rừng khai thác lâm sản.
Dọc theo địa bàn các xã như: Yang Mao, Cư Drăm, Cư Pui, Hòa Phong, Hòa Lễ, Hòa Sơn, Khuê Ngọc Điền (thuộc H. Krông Bông) và Yang Tao, Bông Krang, Krông Nô, Đắc Phơi (thuộc H. Lăk) lửa vẫn cháy trên các triền đồi, một số nơi người dân đã trồng vào đó các loại cây ngắn ngày như ngô, khoai, sắn... Xã Yang Tao (H. Lăk) là nơi có đồng bào người MNông sinh sống, với diện tích đất canh tác nông nghiệp nhỏ hẹp (1 đến 2 sào lúa nước) nhiều hộ dân đã bất chấp lời cảnh báo của cơ quan chức năng để vào rừng phát, cuốc, đốt, trỉa.
Bên cạnh việc lấn chiếm, tình trạng người dân địa phương sử dụng bẫy tự tạo và súng tự chế để vào rừng săn thú càng làm những người quản lý VQG phải đau đầu. Theo số liệu cung cấp của ông Lương Hữu Thạnh, Phó Giám đốc VQG Chư Yang Sin, trong 6 tháng đầu năm 2015 phát hiện xử lý 18 vụ việc, thu giữ 570 dây bẫy các loại và 11 súng săn tự chế (tăng 7 vụ so với cùng kỳ năm trước).
Ông Thạnh giải thích: “Đời sống người dân xung quanh còn nghèo khó, nhận thức về việc bảo vệ rừng chưa cao nên họ dùng đục, súng tự chế vào rừng sát hại cây rừng và động vật. Chỉ cần vào rừng mà trót lọt thì họ có tiền nên bất chấp tất cả”.
Nhiều cán bộ của VQG Chư Yang Sin đã trực tiếp xuống thôn buôn để giúp đỡ và trình diễn kỹ năng canh tác nông nghiệp, nhất là cây công nghiệp có giá trị thương phẩm cao. Mục đích là để người dân biết phương thức và kỹ năng để sản xuất nông nghiệp, không vào rừng nữa. Nhiều đợt tập huấn được mở, cán bộ quản lý VQG kết hợp với chính quyền địa phương các xã vùng đệm đi gõ cửa từng nhà, gặp từng người để nêu rõ vì sao phải bảo vệ rừng, cái lợi thu được khi toàn dân tham gia bảo vệ. Nhiều biện pháp được áp dụng, nhưng việc tàn sát rừng xanh vô tội vẫn tái diễn và cuộc chiến bảo vệ VQG chưa bao giờ là hồi kết.
Đến nay, VQG Chư Yang Sin có 130 cán bộ viên chức, hoạt động mang tính chất độc lập cao, say mê nghề nghiệp. Nhiều vụ việc được Ban quản lý VQG trần tình nêu rõ sự hung hãn của các đối tượng lâm tặc. Đơn cử là vụ việc năm 2007, trên đường tuần tra, lực lượng bảo vệ VQG phối hợp với Ban chỉ huy Quân sự H. Krông Bông phát hiện hơn 10 đối tượng đang cưa xẻ ở trong rừng.
Ông Thạnh nhớ lại: “Chúng rất hung hăng, dao rựa trong tay, hai bên chỉ cách nhau một cái cây bị ngã. Thấy lực lượng chức năng, chúng to tiếng thách đố, đòi đánh nhau. Anh em phải bắn chỉ thiên vài lượt đạn mới trấn áp được, vì chúng nắm tâm lý anh em VQG cũng bị giới hạn về quyền hạn trong khi làm nhiệm vụ... đặc biệt là trong việc sử dụng vũ khí”.
Vụ khác, đối tượng Y Vá Ksơ ở xã Yang Mao bị phát hiện khai thác gỗ trái phép trong VQG, bị bắt quả tang, khi yêu cầu về lán trại để làm việc thì tỏ ra hung hãn, xông vào lán trại anh em tuần tra dựng ở giữa rừng, bê nguyên ấm nước sôi tạt vào kiểm lâm viên Nguyễn Xuân Hiền bị bỏng nặng. Không những vậy, khi anh em đưa anh Hiền đi cấp cứu, đi ngang nhà của Y Vá Ksơ, đối tượng còn dùng vật cản để chặn đường, không cho đưa người bị thương đi...
Đây chỉ là hai vụ việc nổi cộm, còn chuyện anh em VQG bị hành hung trên đường tuần tra bảo vệ rừng, đe dọa cá nhân hay thân nhân là chuyện như cơm bữa. Là nơi có địa hình hết sức hiểm trở, núi cao, vực sâu, để lên được đỉnh Chư Yang Sin cần mất một ngày, nếu làm nhiệm vụ thì mất đến ba, bốn ngày. Theo quy định, mỗi cán bộ, nhân viên một tháng phải có 15 ngày làm nhiệm vụ trên rừng. Hơn ai hết, những cán bộ ở đây hiểu rõ ràng rằng nếu chỉ cần do dự hay không vững niềm tin thì từng tấc đất, tấc rừng sẽ mất. (Công An Đà Nẵng 7/7) đầu trang(
Khoảng 9 giờ sáng 7/7, khi lực lượng Kiểm lâm cơ động – Hạt Kiểm lâm Khu Bảo tồn thiên nhân – Văn hóa Đồng Nai đang tuần tra tại khu vực bến cá Phú Cường (thuộc ấp Bến Nôm 2, xã Phú Cường, huyện Định Quán, Đồng Nai) đã phát hiện 3 tàu cá đang đậu có hành vi tàng trữ công cụ kích điện để khai thác thủy sản trái phép trên lòng hồ Trị An.
Lực lượng kiểm lâm đã bất ngờ áp sát và yêu cầu kiểm tra tàu thì phát hiện toàn bộ tang vật kích điện vẫn còn gắn nguyên trên tàu gồm 3 máy phát điện và hệ thống dây dẫn điện…
Lực lượng Kiểm lâm khu bảo tồn đã tiến hành tháo gỡ và tạm giữ tang vật, đồng thời tiến hành lập biên bản xử lý theo quy định đối với 3 chủ tàu nói trên. (Nông Nghiệp VN 7/7) đầu trang(
Xưa nay người ta vẫn nói chăn gia súc, gia cầm chứ chẳng thấy ai chăn… động vật hoang dã. Ấy vậy mà ở làng Thiết Sơn, trên xã rẻo cao Thạch Hóa (Tuyên Hóa, Quảng Bình), anh Nguyễn Thanh Tú lại đi chăn voọc, loại thú có tên trong sách đỏ.
Lạc vào thung lũng Thiết Sơn như lạc vào xứ sở trong phim… thần thoại. Núi non hùng vĩ, thượng nguồn sông Gianh chảy quanh ôm ấp xóm làng bé nhỏ nép mình phía dưới núi. Những ngọn lèn Dàn Vượn, Nước Lặn, Khe Đá, Hung Cùng, Sẩm Mè, Cửa Hung, Cây Gạo, Tang Bồng... sừng sững cao vút cùng hệ thực vật cây xanh ngút mắt.
Cụ Nguyễn Văn Đồng, 77 tuổi kể: “Ngày xưa, cha ông đến lập làng mấy trăm năm trước, thấy chốn này an toàn, không lo bị giặc giã tấn công vì núi non hiểm trở. Có biến thì vô núi hoặc theo thuyền ngược thác vào sâu hơn trong rừng. Chốn này thanh bình, núi màu đen nên đặt là Thiết Sơn. Trong núi có vô số chim chóc, muông thú nên cha ông chúng tôi chọn đất cất nhà, sống hòa thuận với các loài động - thực vật ở đây”.
“Con người làm ruộng, làm rẫy, trồng ngô trỉa đậu, gieo lúa bón khoai mà không bị hoang thú tàn phá. Đặc biệt có loài khỉ đen thấy người lại xuống lân la làm bạn, vào tận nhà dân để chơi rất đề huề. Cha ông ở đây truyền miệng, nhiều bầy khỉ đen xuống ruộng ngô (bắp), rẫy lạc (đậu phộng) khi con người thu hoạch chúng ngửa tay xin, chứ không hề lấy cắp bất cứ hoa màu mô. Người cứ cho, chúng chìa tay xin, khi no căng rồi thì lên núi nghỉ ngơi. Rứa nên các họ hàng ở bản quán ni đều coi đó là phúc lành cho dân xứ này. Xem con vật đó là bạn thân chí cốt giữa chốn rừng rú hoang vu này”, cụ Đồng kể thêm.
Với cụ Đồng hay nhiều dân làng khác gọi chúng là vượn hoặc khỉ. Riêng anh Tú, mấy năm qua đã xem đó là loài voọc Hà Tĩnh. Bởi anh từng được huấn luyện nhận dạng động vật hoang dã quý hiếm của các tổ chức bảo tồn quốc tế.
Nhưng không may, loài khỉ đen mà dân làng gọi tên đầy thân thuộc ấy đã đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong thời gian dài vào những năm 70 - 80 của thế kỷ trước. Câu chuyện với người chăn voọc Nguyễn Thanh Tú hằn lên ký ức đau thương của loài linh trưởng này một thời. Anh lớn lên bên những nọn lèn hùng vĩ, gắn chặt với bao gia đình voọc từ khi chúng mới sinh ra đến lúc chúng chết đi. Người làng anh, dân Thiết Sơn nghĩa tình với chúng đến da diết.
Thế nhưng, những năm Nguyễn Thanh Tú đi bộ đội biên phòng miệt biên giới Việt - Lào, ở quê nhà xuất hiện không ít kẻ săn trộm vào vùng Thiết Sơn săn bắt. Chỉ lúc nghỉ phép về quê, anh mới lang thang hết hẻm núi này đến hẻm núi khác để giúp chúng phần nào. Lúc đó anh đau đớn nhận ra: “Từ chỗ chúng rất thích gần con người nhưng vì bị săn trộm nên voọc quý thấy tôi cũng lánh xa. Nhiều lần vào rừng, leo lên các ngọn núi đá vôi, thấy voọc mẹ chết khô, voọc con bấu vào đấy tàn sức, cũng chết luôn. Có những đàn voọc bị dính bẫy, chỉ còn một con cô đơn. Có những đàn tháng trước còn thấy, tháng sau đã biến mất hoàn toàn. Quần thể voọc thời những năm 80 của thế kỷ trước đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng mà không có cách gì cứu nguy.Thế là, Nguyễn Thanh Tú tranh thủ những ngày nghỉ phép trong năm, có khi xin nghỉ cuối tuần để về quê vào rừng đi gỡ bẫy phanh. Cứ thấy người lạ vào rừng, Tú lại đẩy đuổi cho bằng được. Có khi xô xát, có khi bị đánh trả, có khi bị đánh hội đồng dằn mặt giữa đường, Tú vẫn không hề chùn bước. Anh vẫn vào rừng gỡ bẫy dây phanh, nhổ đinh đóng trên các cành cây cao, chặt phá các quây lưới của bọn bẫy trộm đặt trong hang.Anh điểm mặt những đối tượng săn trộm trong rừng, lên danh sách tiếp cận. Là người lính biên phòng, anh dùng biện pháp động viên làm chính, lấy giải thích vận động làm mũi nhọn để thuyết phục những đối tượng săn trộm mà anh biết. Có đối tượng phản ứng, có đối tượng sợ không dám bén mảng. Nhưng không ít đối tượng vẫn khư khư tính cố hữu, muốn săn cho hết voọc trong khu vực Thiết Sơn, bởi đó là món hời lớn mà kẻ săn trộm quá thèm thuồng. Với đối tượng đó, anh ra tối hậu thư một là sẽ đi tù vì săn loài quý hiếm, hai là ở nhà lo toan ruộng vườn. Đến giờ, chúng chưa dám làm liều trước mặt anh hay dân làng. Nhưng anh vẫn cảnh giác.
Năm 2012, Nguyễn Thanh Tú về hưu và toàn tâm toàn ý đi chăn voọc quý. Lúc đó cứ nghe tin ở đâu có người săn bắn, anh liền điều tra thật kỹ. Chiếc điện thoại cũ được anh dùng ghi âm lại lời nói của các thợ săn khét tiếng khi chúng khoe thành tích săn bắn. Thu âm xong, hôm sau anh mời họ đi uống nước nói chuyện, rồi mở cho thợ săn trộm nghe và khuyến cáo nếu dừng săn bắn voọc quý, clip này sẽ không bao giờ chuyển cho ai, nếu săn bắn trộm nữa thì sẽ nộp hết cho cơ quan công an để họ xử lý theo pháp luật. Nhờ thế mà cũng có cả chục kẻ săn trộm bạt mạng nể phục.
Được anh Tú đồng ý, chúng tôi nai nịt gọn gàng để một tuần có mặt trong các ngọn núi bên ruộng lúa, nương rẫy ở Thiết Sơn theo anh Tú đi chăn voọc. Người dân vẫn nói, từ ngày có anh Tú bảo vệ nên đàn voọc sinh sôi đến hơn 115 con, tách thành cả mười mấy đàn. Có đàn lớn 20 con, đàn nhỏ gần 10 con, còn trung bình 10 - 15 con. Nhờ công lao của Tú mà đàn voọc Hà Tĩnh nay đã mến người hơn so với những năm trước, chúng vào sát nhà dân dưới mái núi kiếm ăn và có khi còn xuống cạnh bể nước để giải khát. Ấy nhưng qua 5 ngày lang thang trong rừng, cứ thấy các bóng người trên núi cao vừa hiện ra là chúng mất dạng. Anh Tú giải thích: “Loài này thấy người lạ chúng biết ngay, dân trong vùng chúng phân biệt được vì quen hơi, biết giọng ở đây, các chú mới ngoài vô cũng phải làm quen, chứ giọng lạ, chúng tưởng thợ săn”.
Đi mỗi ngày từ sáng sớm, kiên trì đến tối mịt, chúng tôi chỉ thấy xa tít trên ngọn núi một số đốm đen, có cái đuôi dài chỉ vài giây rồi mất hút. Mấy lần máy ảnh đã chuẩn bị sẵn sàng nhưng không thành. Tưởng như phải bỏ cuộc thì đúng hai ngày cuối cùng của khoảng thời gian một tuần đã định, người dân chăn bò, làm ruộng gần đó gọi điện thoại dồn dập báo tin đàn voọc đã ra ăn một cách tự nhiên.
Cụ Đồng bảo: “Rứa là chúng tin các chú rồi mới dạn dĩ ra lại đấy”. Ở dưới lèn Dàn Vượn, anh Tú dùng ống nhòm quan sát, từ trên cao hàng trăm mét, một cá thể hiện ra ở mỏm đá rất oai vệ. Anh nhìn ra con đầu đàn bởi cái đuôi dài, mình to, cái má trắng hai bên cực kỳ nổi bật và đám lông trên đầu hình chóp nhọn trông oai phong kỳ lạ. Như thường lệ gặp chúng, anh Tú lại mở loa ngoài bản nhạc anh thích về núi rừng cho chúng nghe cùng.
Anh kể: “Nhiều bữa nghe tôi mở nhạc, cả đàn kéo xuống cách mình chỉ 5 - 10m thôi. Có bữa mở nhạc rồi mệt quá, thiếp ngủ, chúng lại gần mở cái nón úp trước mặt tôi trêu nữa”. Vì như thế nên dân làng gọi anh là “người voọc” hay “người vượn” một cách trìu mến.
Ngày nay, anh Tú không một mình giữ voọc mà còn có những người làng như các anh Nguyễn Văn Nam, Nguyễn Văn Hồng, Nguyễn Văn Sử cùng tham gia với anh. Bởi họ biết, khi voọc được bảo vệ thì các loài chim, chồn, cáo cũng được bảo vệ theo. Thế nên, vào xứ này cứ như đi trong khu vườn cổ tích, tiếng chim đủ loại hót líu lo vang cả núi rừng. (Sài Gòn Giải Phóng 7/7) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Tổng cục Lâm nghiệp, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừhg Việt Nam đã hoàn thành xây dựng Hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin về chỉ trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam. Đây có thể nói là một bước tiến lớn trong thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Để bảo đảm tính công khai, dân chủ, khách quan, công bằng trong chi trả dịch vụ môi trường rừng theo nguyên tắc đã quy định tại khoản 5, Điểu 5, Nghị định 99, thì rất cần có các dữ liệu có thể dễ dàng tiếp cận khai thác. Những dữ liệu này cần thể hiện liên hệ giữa nhiều yếu tố- số tiền chi trả cho từng chủ rùng với diện tích và chất lượng rừng cung ứng của họ và số tiền thu được từ các cơ sở sử dụng dịch vụ môi trường rừng; liên hệ giữa số tiền chi trả cho dịch vụ môi trường rừng của một cơ sở sử dụng dịch vụ môi trường rừng với khối lượng sản phẩm tạo ra và đơn giá, hoặc tỷ lệ % doanh thu họ phải chi trả.
Bên cạnh đó là mối liên hệ giữa số tiền dành cho chi phí quản lý của các Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, chủ rừng là tổ chức nhà nước, tổ chức cộng đồng với chủ nhận khoán bảo vệ rừng. Tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng cũng liên hệ với mức miễn giảm cho các cơ sở sử dụng dịch vụ môi trường rừng, tỷ lệ nghiệm thu kết quả bảo vệ và phát triển rừng của chủ rừng, mức trích nộp tiền thu được cho quỹ dự phòng dịch vụ môi trường rừng.
Đáp ứng yêu cẩu trên, Hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin vê' chi trả dịch vụ môi trường rừng được xây dựng bao gôm 2 phần: cơ sở dữ liệu và phẩn mềm quản trị. Cơ sở dữ liệu vể chi trả dịch vụ môi trường rừng là tập hợp dữ liệu có cấu trúc vê' chi trả dịch vụ môi trường rừng, liên hệ với nhau, được lưu trữ trong máy tính, được chia sẻ và sử dụng đáp ứng đồng thời yêu cầu của các nhà quản lý, các bên sử dụng và cung cấp dịch vụ môi trường rừng trong quá trình tổ chức thực hiện, giám sát đánh giá và nghiên cứu, hoàn thiện chính sách.
Theo đánh giá, hệ thống khi được vận hành sẽ giúp giảm công sức và chi phí cho việc thu thập dữ liệu, tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Đồng thời, hệ thống cũng là công cụ đắc lực giúp quan sát, đánh giá việc thực hiện chính sách đổi với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng trung ương. Các cơ sở sử dụng dịch vụ môi trường rừng và người cung ứng dịch vụ cũng dễ dàng tra cứu thông tin để thực hiện giám sát.
Hiện tại phẩn mềm đã được cập nhật đẩy đủ các loại dữ liệu của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng trung ương và 29/33 Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh có thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Bộ dữ liệu bao gồm 5 nhóm chủ yếu: Dữ liệu vê' rừng và chủ rừng, dữ liệu về cơ sở sử dụng dịch vụ môi trường rừng, dữ liệu về tình hình chi trả dịch vụ môi trường rừng, dữ liệu về hiệu quả chi trả dịch vụ môi trường rừng và dữ liệu về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Đây là những dữ liệu được thu thập, và cập nhật theo phương pháp cùng tham gia bởi nhiều cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương, được phát triển trên cơ sở ứng dụng web và có khả năng tích hợp và Hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp (FORMIS). Người dân, doanh nghiệp, cá nhân quan tâm có thể dẻ dàng tra cứu thông tin tại địa chỉ dvmt.ifee.edu.vn.
Cùng với việc hệ thống cơ sở dữ liệu, các quy chế quản lý sử dụng và sổ tay hướng dẫn về thu thập, cập nhật, quản lý và sử dụng dữ liệu cũng đã được xây dựng. Đồng thời 150 cán bộ các quỹ cấp tỉnh và trung ương cũng đựợc tập huấn nâng cao năng lực về kỹ năng cập nhật, chia sẻ, quản lý và sử dụng cơ sở dữ liệu.
Tuy nhiên, hệ thống được xây dựng mới chỉ là bước đẩu, để bộ dữ liệu này “sống” thì cần được cập nhật thông tin thường xuyên. Một trong những khó khăn là việc bảo đảm các nguồn lực tài chính, phương tiện, trang thiết bị, nhân lực để tiếp tục duy trì việc thu thập, cập nhật cơ sở dữ liệu thường xuyên, lâu dài... (Nông Thôn Ngày Nay 4/7) đầu trang(
Phú Yên có 70.000 ha rừng của các lưu vực có cung ứng dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Song nhận thức về chi trả DVMTR của các tổ chức, cá nhân chưa thông suốt; tiến độ giải ngân chậm.
Theo ông Mai Tấn Lên, GĐ Quỹ Bảo vệ & phát triển rừng Phú Yên, hiện kinh phí hoạt động của quỹ còn nhiều khó khăn, chủ yếu sử dụng 10% trên tổng nguồn thu ủy thác tiền DVMTR được điều phối từ Quỹ Bảo vệ & phát triển rừng VN (VNFF) và thu nội tỉnh. Trong khi đó, địa bàn hoạt động của quỹ thực hiện chính sách chi trả tiền thu ủy thác DVMTR cho các đối tượng chủ rừng chủ yếu là địa bàn vùng sâu, vùng xa thuộc ba huyện miền núi Đồng Xuân, Sơn Hoà, Sông Hinh, bao gồm 6 BQL rừng phòng hộ, đặc dụng và doanh nghiệp; 16 xã, thị trấn được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng và hơn 1.000 chủ rừng là các hộ gia đình cá nhân.
Việc chi trả tiền DVMTR từ quỹ tỉnh đến các đối tượng chủ rừng hết sức khó khăn. Để trả đúng, trả đủ bảo đảm 100% số tiền DVMTR phải đến tay người dân và các chủ rừng, hàng năm quỹ phải rà soát, cập nhật biến động (tăng/giảm) hiện trạng rừng hơn 120.000 ha, trong đó 70.000 ha là diện tích có rừng của các lưu vực có cung ứng DVMTR. Ngoài ra, việc chi trả DVMTR bình quân theo lưu vực của từng thủy điện liên tỉnh cho các chủ rừng cung ứng DVMTR đối với các thủy điện bậc thang có sự chênh lệch lớn về đơn giá, nhất là diện tích rừng có cung ứng DVMTR ở vùng hạ du.
Cụ thể, trong hệ thống thủy điện bậc thang trên thượng nguồn sông Ba có nhiều nhà máy thủy điện. Trong đó có NM thủy điện An Khê - Ka Nak công suất 173 MW, thay vì sau SX thủy điện phải trả nước lại cho sông Ba, nhưng lại "chuyển nguồn" đổ ra Sông Kôn, chảy về hạ lưu thuộc tỉnh Bình Định. Mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của quỹ chưa rõ ràng; hệ thống tổ chức, chế độ phụ cấp, ngạch, bậc công chức, viên chức chưa có văn bản hướng dẫn để thực hiện thống nhất trên toàn quốc.
“Việc chậm trễ uỷ thác tiền DVMTR hàng năm do nhiều nguyên nhân, làm ảnh hưởng lớn đến công tác chủ động tổ chức triển khai kế hoạch thu, chi trả tiền DVMTR hàng năm. Công tác tuyên truyền về chủ trương, chính sách chưa có sức lan toả trong cộng đồng do kinh phí phục vụ cho công tác truyên truyền lệ thuộc vào quỹ trích lập từ nguồn thu uỷ thác quá thấp", ông Lên nói.
Theo Quỹ Bảo vệ & phát triển rừng Phú Yên, công tác giải ngân tiền DVMTR năm 2011, 2012 đến nay chưa được thực hiện, do đang lấy ý kiến thống nhất của các sở, ban ngành theo chỉ đạo của tỉnh. Chi trả DVMTR cho các chủ rừng còn quá thấp, khiến họ chưa gắn bó với sự nghiệp bảo vệ rừng. Chi trả DVMTR còn bất cập, đơn giá chi trả bình quân trên 1 ha rừng có sự chênh lệch quá lớn giữa các lưu vực trên địa bàn, khiến người dân so bì quyền lợi.
Cụ thể như tiền chi trả cho các chủ rừng của lưu vực NM thủy điện sông Ba Hạ khoảng 28.000 đồng/ha/năm; lưu vực NM thủy điện sông Hinh 126.000 đồng/ha/năm, quá thấp so với mặt bằng chung cả nước về Kế hoạch Bảo vệ & phát triển rừng (200.000 đồng/ha/năm). Trong khi đó, việc nộp tiền trồng rừng thay thế vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm quản lý của quỹ, tiến trình phân bổ kế hoạch, kinh phí quản lý, điều hành. (Nông Nghiệp VN 8/7) đầu trang(
Nhằm đánh giá tình hình quản lý, sử dụng kinh phí của các chủ rừng tham gia cung ứng dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), Sở Nông nghiệp - PTNT tỉnh đã có kế hoạch kiểm tra các đơn vị sử dụng tiền DVMTR trên địa bàn tỉnh.
Thời gian kiểm tra bắt đầu từ ngày 13/7 đến 17/8, đợt kiểm tra tập trung vào các nội dung gồm: Việc sử dụng tiền DVMTR Nghị định 99 của Chính phủ; Các hạng mục chi tại đơn vị chủ rừng; Hồ sơ, chứng từ việc giao khoán quản lý bảo vệ rừng đối với các chủ rừng…
Qua kiểm tra nếu phát hiện các đơn vị nào vi phạm, Sở Nông nghiệp - PTNT sẽ báo cáo với UBND để có biện pháp xử lý theo quy định pháp luật. (Báo Đắk Nông 7/7) đầu trang(
Theo diện tích Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) giao tỉnh Bình Phước trồng rừng thay thế giai đoạn 2014-2016 là 2.588 ha với 34 dự án, trong đó 7 dự án có mục đích kinh doanh và 27 dự án không có mục đích kinh doanh.
Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, tỉnh mới quy hoạch quỹ đất trồng rừng thay thế 1.591 ha, trong đó diện tích đất lâm phần 484 ha và đất chưa sử dụng thuộc vùng bán ngập các hồ thủy điện, thủy lợi 1.107 ha.
Dự kiến năm 2015 tỉnh Bình Phước sẽ trồng khoảng 290 ha rừng thay thế. Tuy nhiên, theo báo cáo của Sở NN&PTNT, quá trình triển khai trồng còn nhiều vướng mắc là do: Khó khăn về nguồn vốn. Đến nay, UBND tỉnh Bình Phước vẫn chưa có quyết định thu hồi và thuận chủ trương trồng rừng trên diện tích này. Diện tích đất chưa sử dụng thuộc vùng bán ngập lòng hồ thủy điện, thủy lợi hiện nay chưa có đơn vị quản lý. Diện tích đất bán ngập thuộc lòng hồ thủy điện Phước Hòa có 200 lô đất, diện tích nhỏ bình quân dưới 2 ha/lô, phân bố rải rác tại 5 xã thuộc 2 huyện Chơn Thành và thị xã Đồng Xoài, do đó việc tổ chức trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ diện tích rừng thay thế rừng rất khó khăn. (Tài Nguyên & Môi Trường 7/7) đầu trang(
Đó là một trong những mục tiêu chính của khóa đào tạo về biến đổi khí hậu (BĐKH) và REDD+ do Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng tổ chức tại Hòa Bình từ ngày 2-4/7/2015, dưới sự tài trợ của Dự án hỗ trợ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam.
Khóa đào tạo lần này dành cho 40 học viên đến từ các cơ quan báo chí và truyền thông. Các giảng viên tham gia giảng dạy là những GS, TS đầu ngành như: GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung, GS.TSKH Đỗ Đình Sâm, GS.TS Võ Đại Hải, PGS.TS Nguyễn Hoàng Nghĩa, TS. Hoàng Liên Sơn, TS. Phạm Xuân Phương.
Khóa học được tổ chức với mục tiêu góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân viên làm việc trong các cơ quan báo chí, truyền thông về BĐKH và các hoạt động REDD+, từ đó chuyển tải một cách rộng rãi những mục tiêu và hoạt động của REDD+ đến với công chúng.
Trong thời gian ba ngày, các học viên của khóa đào tạo được học sáu nội dung chính: Thứ nhất, BĐKH và REDD+ (khái niệm, nội dung, lịch sử hình thành, vai trò, tầm quan trọng của BĐKH và REDD+ đối với kinh tế, xã hội và môi trường);
Thứ hai, tình hình phát triển REDD+ trên thế giới nêu lên các chương trình, dự án đang thực thi ở các nước và khu vực, cơ chế vận hành, bài học kinh nghiệm và tương lai phát triển REDD+ trong thời gian tới đây;
Thứ ba, tình hình phát triển các chương trình và dự án REDD+ ở Việt Nam: Mục tiêu, nội dung, phương thức tiến hành của các chương trình và dự án đã và đang triển khai do các nhà tài trợ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam;
Thứ tư, chính sách, thể chế và tổ chức, quản lý REDD+ ở nước ta làm rõ Chương trình hành động quốc gia về BĐKH, về REDD+, kế hoạch hành động của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường;
Thứ năm, các yếu tố kỹ thuật và công nghệ của REDD+ nêu lên nội dung và phương pháp xác định lượng phát thải khí nhà kính từ rừng thông qua các hoạt động như Đo đạc Báo cáo và Thẩm định (MRV), giám sát các-bon rừng có sự tham gia (PCM), điều tra đánh giá tài nguyên rừng, lượng phát thải tham chiếu từ rừng (FRLs/FRELs);
Thứ sáu, các yếu tố kinh tế - xã hội và môi trường trình bày về thị trường các-bon, hệ thống phân chia lợi ích từ REDD+, tham vấn các bên liên quan, xác định cơ chế khiếu nại, phản hồi, an toàn trong REDD+, đánh giá và quản lý tác động xã hội – môi trường của REDD+.
Tham gia khóa học, ngoài những nội dung được lắng nghe trên lớp, các học viên còn được tham quan nghiên cứu hiện trường tại rừng Lim, Xóm Mát Trên, xã Dân Chủ, Thành phố Hoà Bình, Hòa Bình. Qua đó, các học viên có cơ hội thu thập thêm được nhiều kiến thức thực tế về các yếu tố kỹ thuật và công nghệ trong REDD+.
Chị Trịnh Thị Thu Hà, học viên của khóa học cho biết: Khóa đào tạo về BĐKH và REDD+ là một khóa học hay và vô cùng ý nghĩa. “Khóa học là cơ hội giúp tôi giao lưu, học hỏi, trao đổi kiến thức về BĐKH và REDD+ với mọi người; có thêm nhiều thông tin, kiến thức về BĐKH và REDD+ ở Việt Nam. Từ đó, nâng cao ý thức về bảo vệ rừng, tuyên truyền đến người thân, gia đình và bạn bè ý thức bảo vệ rừng, góp phần giảm thiểu BĐKH…” – chị Hà chia sẻ.
TS. Hoàng Liên Sơn – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Lâm nghiệp thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, giảng viên của khóa học bày tỏ mong muốn: Qua khóa học, các học viên có khả năng giải thích được một cách đầy đủ về vai trò của REDD+, so sánh được những điểm khác nhau về nội dung và xu hướng phát triển của các dự án REDD+ trên thế giới và ở Việt Nam, phân tích được thể chế, chính sách, nội dung kỹ thuật và những tác động tới kinh tế - xã hội – môi trường của REDD+ và BĐKH, có quan điểm tích cực để thay đổi cách tiếp cận, nhận thức rõ hơn về vai trò của quản lý rừng và sự tham gia của các bên liên quan, cộng đồng địa phương theo hướng giảm phát thải từ hạn chế phá rừng và suy thoái rừng. (Tài Nguyên & Môi Trường 5/7) đầu trang(
Đã kết luận sai phạm của chính quyền và cơ quan liên qụan, nhung gần 10 năm nay, quyền lợi hợp pháp của những hộ dân đã được giao đất trồng và bảo vệ rừng ở Phú Gia (Hương Khê; Hà Tĩnh) vẫn chưa lược giải quyết. Sự việc dẫn đến tranh chấp, mâu thuẫn đã xảy ra hành “điểm nóng”, tuy nhiên đến nay chính quyền vẫn chưa có động thái giải quyết triệt để để ổn dịnh tình hình tại địa phương.
Một trong những diện tích đất rừng đang xảy ra tranh chấp, thuộc quyền sử dụng của ông Lê Văn Thân, ở xóm 10, xã Gia Phố. Theo ông Phạm Hồng Sơn, trú tại tổ 12-Thị trấn Hương Khê, (người được ông Thân ủy quyền đế khiếu nại, giải quyết), thì từ năm 1997, ông Thân là Tổ trưởng tổ hợp 49 hộ dân đã được UBND huyện giao đất trồng rừng, với diện tích 77,16 ha. Gia đình ông Thân và tổ hợp của mình đã thồng và bảo vệ rừng, khai thác có hiệu quả diện tích đất rừng được giao ... Tuy nhiên, diện tích đất rừng được giao đã bị một số hộ dân ở xã Lộc Yên thanh chấp, vào trồng và khai thác rừng chồng lấn, ngay cả Ban quản lý rừng đầu nguồn sông Ngàn sâu cũng vào trồng rừng chồng lấn lên diện tích đất rừng của ông Thân.
Tại thời điếm đó (năm 2000), ông Thân và tổ hợp của mình đã có đơn kiến nghị, yêu cầu chấm dứt tình trạng trên, trả nguyên trạng đất rừng cho tổ hợp canh tác theo diện tích đã được cấp. Tuy nhiên, chính quyền và cơ quan chức năng đã chậm trễ, lần lữa trong việc giải quyết, dẫn tới xảy ra mâu thuẫn giữa các bên có tranh chấp. Đến nay, sự việc càng “nóng” hơn, khi diện tích đang tranh chấp đã bị một số hộ dân vào sẽ phát trồng rừng, không những thế, 01 doanh nghiệp tại địa phương cũng đang “manh nha” vào tranh chấp, khai thác quyền sử dụng trên diện tích đất rừng ông Thân đã được chính quyền giao từ năm 1997.
Theo phản ánh của người dân, thì chính quyền địa phương hiện đang có dấu hiệu bao che, dung túng cho những sai phạm của một số hộ dân, khi không mạnh tay xử lý dứt điểm, giải quyết đảm bào quyền lợi cho những hộ dân đã được chính quyền giao khoán trồng rừng, có quyết định giao đất của UBND huyện, có biên bản giao đất với ranh giới, lô, khoảnh rõ ràng.
Như đối với diện tích đất rừng của ông Lê Văn Thân, ngày 15/9/1997 đã được UBND huyện giao đất, giao rừng theo quyết định số 239-QĐ/UB, do ông Đặng Văn Sỹ, Phó chủ tịch huyện ký, với diện tích 77,16 ha rừng, đất rừng tại lô 6, 7,9, thuộc tiểu khu 222 để bảo vệ, sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp. Sau đó 2 ngày, ngày 17/9/1997, việc giao đất trên thực địa cho ông Thân đã diễn ra, với biên bản giao đất lâm nghiệp được lập, có sự chứng kiến và ký xác thực của Hạt Kiểm lâm huyện và UBND xã Gia Phố.
Trực tiếp UBND huyện Hưoưg Khê, qua nhiều lần họp bàn phương án giải quyết, cũng đã kết luận những hộ gia đình có giấy tờ hợp pháp, thông qua Hạt kiểm lâm và Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện kiểm tra thì được phép sử dụng ổn định. Hộ ông Lê Văn Thân là một trong những hộ dân thuộc trường hợp này. Vậy nhưng, đến nay đã hơn 10 năm tranh chấp xảy ra, quyền lợi của những hộ dân như ông Lê Văn Thân vẫn chưa được đảm bảo.
Theo ông Phạm Hồng Sơn, ngoài việc đại diện theo ủy quyền cho ông Thân, ông Sơn còn đại diện cho hàng chục hộ dân trong tố hợp của ông Thân. Ông Sơn nói: “Nhiều lần huyện mời tôi lên làm việc, tôi đã cung cấp đầy đủ hồ sơ, giấy tờ hợp pháp liên quan đến diện tích đất rừng đang sử dụng, canh tác của ông Lê Văn Thân và tổ hợp, trực tiếp cán bộ Phòng Tài nguyên Môi trường, lãnh đạo huyện, lãnh đạo xã cũng thừa nhận hồ sơ đó là hợp lệ, hợp pháp và cam kết sẽ sớm giải quyết dứt điểm vụ việc, đảm bảo quyền lợi cho chúng tôi”.
Trong lúc từ cách đây 10 năm, UBND huyện Hương Khê đã cam kết giải quyết nhanh, dứt điểm những danh chấp kéo dài. Tại kết luận số 216/KL-ƯBND ngày 30/11/2006, trực tiếp UBND huyện Hương Khê đã chỉ ra những sai phạm, thiếu sót của chính quyền và chức năng sở tại. Trong đó, chỉ rõ sai phạm, thiểu sót của Hạt Kiếm lâm, Phòng Tài nguyên - Môi trường, Ban quản lý rừng phòng hộ Ngàn Sâu, UBND xã Gia Phố và UBND xã Lộc Yên dong việc tham mưu, cấp đất, giao đất rừng, cũng như việc quản lý hồ sơ lâm bạ, giao đất rừng chồng chéo dẫn đến danh chấp... Kết luận này của UBND huyện cũng chỉ rõ có 2 lâm bạ giả mạo và đã kết luận “không thừa nhận quyền sử dụng đất” của 2 hộ dân có lâm bạ giả mạo này.
Theo tìm hiểu của PV, đã có một số hộ dân thực hiện giao dịch chuyển nhượng, mua bán đất rừng đã được nhà nước giao, số diện tích đất rừng này có dấu hiệu gom về một mối, là doanh nghiệp “sân sau” để khai thác, hưởng lợi trái phép. Tuy nhiên, giao dịch này là bất hơp pháp, bởi theo quy định của pháp luật, đối với diện tích đất lâm nghiệp, diện tích rừng đã được Nhà nước giao khoán cho người dân để bảo vệ, trồng và khai thác rừng thì không được phép chuyển nhượng, mua bán...
Như vậy, đến nay những tranh chấp này đã kéo dài 15 năm, đang có nguy cơ thành “điểm nóng”, trực tiếp lãnh đạo tỉnh cũng đã vào cuộc chỉ đạo, địa phương cũng đã có các động thái giải quyết, xử lý tranh chấp. Tuy nhiên, những yêu cầu của các hộ dân đòi hỏi quyền lợi hợp pháp của mình đến nay vẫn chưa được giải quyết. Mặc dù ngày 16/4/2015, đoàn làm việc do Trưởng phòng Tài nguyên - Môi trường huyện Hương Khê chủ trì đã cam kết sẽ giải quyết việc đất lâm nghiệp của các hộ dân xóm 10 xã Gia Phố một cách kịp thời. (Bảo Vệ Pháp Luật 7/7) đầu trang(
Đây là một trong những nội dung ngành Nông nghiệp báo cáo UBND tỉnh tại cuộc họp chiều 7/7 về kiểm điểm tiến độ thực hiện một số nhiệm vụ của ngành. Đồng chí Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh chủ trì cuộc họp.
Theo đó, tại cuộc họp, lãnh đạo Sở NN&PTNT đã báo cáo các nội dung: Nghị định 67/2014-CP của Chính phủ về đóng tàu xa bờ; công tác di chuyển gấu nuôi; công tác sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghiệp và công tác kiểm kê rừng.
Cụ thể, đối với tình hình thực hiện Nghị định 67 của Chính phủ về đóng tàu xa bờ, UBND tỉnh đã ban hành quyết định phê duyệt điều chỉnh, bổ sung danh sách đóng mới, nâng cấp tàu cá với tổng số 41 tàu, trong đó có 29 trường hợp đóng mới, 12 trường hợp nâng cấp, cải hoán. Trong số các hồ sơ vay vốn của chủ tàu, đến nay, đã có 2 chủ tàu ký hợp đồng vay tín dụng đóng mới tàu cá và 1 chủ tàu khác đang hoàn thiện các thủ tục để ký hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, các chủ tàu được phê duyệt hiện đang khó khăn trong việc hoàn thiện các hồ sơ pháp lý để vay vốn ngân hàng.
Cho ý kiến nội dung này, đồng chí Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh khẳng định tỉnh quyết tâm trong triển khai thực hiện chương trình, nâng cao đời sống của nhân dân, góp phần quan trọng bảo vệ chủ quyền biên giới đất nước. Do đó, đồng chí yêu cầu các địa phương, cơ quan truyền thông trên địa bàn tỉnh tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho ngư dân về nội dung Nghị định 67; giải thích, hướng dẫn thủ tục hành chính cho các hộ nghề cá. Ngân hàng thương mại có cơ chế linh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho ngư dân.
Về công tác di chuyển gấu nuôi, Sở NN&PTNT đã xây dựng kế hoạch triển khai, phối hợp với Tổ chức Động vật Châu Á, các sở, ngành, địa phương và các chủ nuôi tích cực thực hiện việc chuyển giao gấu về Trung tâm Cứu hộ gấu Tam Đảo. Đến thời điểm hiện tại, toàn tỉnh đã chuyển giao được 16 cá thể gấu của 10 chủ hộ nuôi về Trung tâm Cứu hộ gấu Tam Đảo. Trên địa bàn tỉnh hiện còn 17 cá thể gấu của 11 chủ nuôi, trong đó riêng thị xã Quảng Yên còn 10 cá thể gấu.
Kết luận nội dung này, đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh hoan nghênh sự cố gắng của các địa phương, sở, ngành và các chủ hộ trong việc chuyển giao giao gấu về Trung tâm Cứu hộ gấu Tam Đảo. Đồng chí khẳng định quan điểm của tỉnh là tiếp tục di dời hết số cá thể gấu còn lại, do đó, yêu cầu các địa phương, sở, ngành tiếp tục vận động các hộ nuôi gấu tự nguyện viết đơn giao nộp gấu. Các cơ quan thông tấn báo chí đẩy mạnh phối hợp tuyên truyền về việc thực hiện di dời gấu; tuyên dương các hộ gia đình thực hiện tốt việc chuyển giao gấu và phê phán các hộ gia đình chậm chấp hành.
Đối với công tác kiểm kê rừng, hiện Chi cục Kiểm lâm đã phối hợp với Trung tâm Viễn thám và Công nghệ thông tin đã tổ chức tiếp nhận và bàn giao các sản phẩm của công tác điều tra, kiểm kê rừng cho các địa phương. Hiện ngành chức năng đã thực hiện kiểm kê rừng tại xã Đồng Tâm (Bình Liêu) và xã Lê Lợi (Hoành Bồ).
Liên quan đến công tác sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghiệp thuộc UBND tỉnh, mô hình sắp xếp sẽ duy trì, củng cố phát triển và tái cơ cấu Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đông Triều là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ để thực hiện nhiệm vụ sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích. Chuyển các Công ty TNHH MTV lâm nghiệp: Bình Liêu, Vân Đồn thành công ty cổ phần Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối. Chuyển các Công ty TNHH MTV lâm nghiệp: Cẩm Phả, Uông Bí, Tiên Yên, Ba Chẽ, Hoành Bồ thành công ty cổ phần Nhà nước không nắm giữ cổ phần chi phối.
Về nội dung này, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các đơn vị có phương án cổ phần hóa, đề xuất phương án đối với Công ty Lâm nghiệp Hoành Bồ. Về công tác kiểm kê rừng, tiếp tục kiện toàn thành lập Ban chỉ đạo kiểm kê rừng tại các địa phương. Tập trung huy động các nguồn lực, phấn đấu hoàn thành kiểm kê rừng xong trong tháng 9-2015. (Báo Quảng Ninh 7/7) đầu trang(
Mặc dù được cấp đất từ năm 1997 nhưng đến năm 2003, hàng chục hecta rừng của 42 hộ dân tại xã Quỳnh Châu, Quỳnh Lưu, Nghệ An lại được chính quyền chuyển cho Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Quỳnh Lưu.
Năm 1997, theo nghị định 02/CP ngày 15-1-1994 của Chính phủ về giao đất lâm nghiệp, các hộ dân tại xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An đã xin nhận đất trồng rừng.
Vào thời điểm đó các hộ dân muốn được nhận đất rừng để canh tác lâm nghiệp phải đóng mức phí 50.000 đồng/ha. Sau khi nhận đất các hộ dân đã nhanh chóng cải tạo diện tích đất được nhận để trồng các loại cây lâm sản như bạch đàn, keo... với mục đích thương mại.
Cũng trong năm 1997, các hộ nhận đất rừng tại xã Quỳnh Châu đã được chính quyền cấp sổ lâm bạ theo đúng quy định.
Năm 2003, thực hiện chủ trương thay đổi từ sổ lâm bạ xanh sang sổ lâm bạ hồng, các hộ dân đã đem sổ nộp lại UBND xã Quỳnh Châu. Bất ngờ đến đầu năm 2005, có 42 hộ gia đình thuộc các xóm 1, 2, 4B, 12 (xã Quỳnh Châu) nhận được giấy báo mời họp của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Quỳnh Lưu.
Đơn vị này yêu cầu người dân ký nhận để lâm nghiệp lấy đất và ký lại hợp đồng bàn giao đất sản xuất, ăn chia lợi nhuận. Lý do đơn vị này làm như vậy là vì năm 2003, Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Quỳnh Lưu đã được UBND tỉnh Nghệ An cấp sổ lâm bạ gồm cả diện tích của 42 hộ dân trên theo quyết định số 749/QĐ-UB-ĐC.
Trong khi đó các hộ dân mang sổ lâm bạ nộp lại để đổi sổ mới thì đến nay vẫn chưa nhận được sổ mới vì lý do “đất đang tranh chấp”. Một số ít hộ được nhận sổ lâm bạ mới thì diện tích đất lâm nghiệp trước đó của họ đã bị cắt sang cho Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Quỳnh Lưu.
Quá ngạc nhiên vì đất lâm nghiệp của gia đình mình đã được cấp giấy tờ đầy đủ, nay lại bị lấy không rõ lý do và phải làm ăn chia với một đơn vị khác.
Không những vậy, trong giấy mời họp Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Quỳnh Lưu còn nhấn mạnh: “Lâm trường Quỳnh Lưu không quan tâm đến lâm bạ bất hợp pháp ông (bà) đang có trong tay mà quan tâm đến lợi ích Nhà nước và lợi ích người lao động”.
Ông Nguyễn Văn Bá (58 tuổi, trú tại xóm 12, xã Quỳnh Châu) bức xúc cho biết: “Đất rừng chúng tôi mua và được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận đầy đủ nhưng Công ty Lâm nghiệp Quỳnh Lưu lại nói giấy tờ đó bất hợp pháp là không chấp nhận được. Sao lại bắt chúng tôi thuê lại đất của chính mình đã được giao và phải chia lợi nhuận cho Lâm nghiệp Quỳnh Lưu?”.
Để đòi quyền lợi, người dân đã làm đơn gửi lên UBND tỉnh Nghệ An. Sau đó, UBND tỉnh Nghệ An cũng đã có công văn chỉ đạo UBND huyện Quỳnh Lưu kiểm tra và xử lý về vấn đề này nhưng đến nay đã gần 10 năm vẫn không được xem xét xử lý.
Mọi chuyện bẵng đi một thời gian dài do không có mâu thuẫn và người dân vẫn được sản xuất trên diện tích đất lâm nghiệp của mình trước đó mà không bị Công ty Lâm nghiệp Quỳnh Lưu
cản trở.
Tuy nhiên, nó lại nóng lên từ năm 2013 khi đến lứa thu hoạch lâm sản do người dân trồng, khi cán bộ lâm nghiệp cản trở và yêu cầu phải nộp lệ phí mới được khai thác.
“Thật vô lý, đất là của chúng tôi, cây cối do chúng tôi bỏ sức, bỏ công ra chăm sóc nhưng khi khai thác sao lại phải ăn chia với công ty lâm nghiệp? Tưởng sau khi chúng tôi kiến nghị lên UBND tỉnh Nghệ An, mọi chuyện đã được giải quyết nên chúng tôi cứ sản xuất.
Ai ngờ họ cứ cản trở, gây khó khăn không cho bà con chúng tôi khai thác và bán lâm sản” - ông Nguyễn Văn Thiềng (66 tuổi, trú tại xóm 4B, xã Quỳnh Châu) gay gắt phản ứng.
Người dân cho biết mỗi hecta đất rừng từ khi trồng đến khi khai thác phải từ bốn năm trở lên và phải đầu tư 50 triệu đồng.
Nếu cây đến tuổi không được khai thác thì người dân không có thu nhập để trả nợ đã đầu tư vào trồng rừng. Mặc dù không thống nhất cách làm của Công ty Lâm nghiệp Quỳnh Lưu nhưng nhiều hộ đành chấp nhận đóng phí để nhanh chóng được khai thác cây cho đúng tuổi.
Trao đổi vấn đề trên, ông Võ Văn Vinh - phó giám đốc Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Quỳnh Lưu - thừa nhận: “Sổ chứng nhận quyền sử dụng đất rừng của chúng tôi được cấp năm 2003 theo quyết định của UBND tỉnh Nghệ An. Chúng tôi đã cho người dân ký hợp đồng giao đất rừng theo nghị định 35 “giao đất giao rừng”.
Chúng tôi thu phí khai thác ăn chia lợi nhuận như hợp đồng người dân đã ký trong hợp đồng. Bởi chúng tôi còn phải chi phí chữa cháy, đóng thuế đất... Còn nếu người dân đã được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất trước chúng tôi thì xuống gặp đơn vị, đưa các giấy tờ kèm theo để chúng tôi giải quyết”.
Vì sao cùng một diện tích đất rừng đã được cấp cho hàng chục hộ dân để sản xuất nay lại được cấp chồng lên cho Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Quỳnh Lưu, ông Đậu Đức Năm - trưởng Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Quỳnh Lưu - cho biết: “Khi người dân được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng là đang do lực lượng kiểm lâm quản lý. Còn giờ nếu bị cấp chồng chéo và mất đất thì người dân làm đơn mà khiếu kiện ra tòa”.
Theo ông Nguyễn Văn Chất - trưởng phòng quản lý đất đai (thuộc Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Nghệ An), sở đã nhận được công văn của UBND tỉnh về vụ việc này.
“Chúng tôi sẽ phối hợp với huyện thanh tra toàn diện về đất lâm nghiệp của huyện Quỳnh Lưu, trong đó có diện tích đang tranh chấp giữa người dân và Lâm nghiệp Quỳnh Lưu. Nếu đất của người dân được cấp trước, có sổ lâm bạ đàng hoàng, theo đúng pháp luật thì sẽ trả lại cho người dân và ngược lại” - ông Chất nói. (Tuổi Trẻ 7/7) đầu trang(
Tây Nguyên đã chính thức bước vào mùa mưa 2015, nông dân trên địa bàn đang bước vào vụ gieo trồng mới. Tuy nhiên, thời gian gần đây, trước những thông tin không chính thức cho rằng mắc-ca là “cây tỷ đô” hay “hoàng hậu quả khô” mang lại giá trị kinh tế lớn nên đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên đổ xô vào trồng cây mắc-ca khiến nhu cầu và giá cây giống tăng cao.
Lợi dụng vào đó, trên thị trường đã xuất hiện nhiều loại giống mắc-ca, có cả giống người dân tự trồng, tự ươm và chưa được cơ quan có thẩm quyền công nhận vẫn bày bán tràn lan. Đã có không ít trường hợp mua phải giống kém chất lượng, không rõ nguồn gốc về trồng và thiệt hại trước hết thuộc về người nông dân. Vì vậy, các tỉnh trong khu vực cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ thị trường cây giống mắc-ca để hạn chế thiệt hại cho người nông dân.
Tại Đác Lắc, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh đã khuyến cáo người nông dân trên địa bàn không nên trồng, mở rộng diện tích cây mắc-ca. Bởi theo đánh giá của Sở NN&PTNT Đác Lắc, cây mắc-ca trồng trên địa bàn sinh trưởng tốt, ra hoa nhiều nhưng đậu quả không đạt. Thêm vào đó, hiện nay trên địa bàn chưa có nhà máy chế biến và thị trường đầu ra của sản phẩm mắc-ca còn bấp bênh.
Một lãnh đạo của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên cho rằng: Mắc-ca là một loại cây trồng mới, vì vậy cần phải có thêm thời gian và nhiều nghiên cứu về đất đai, khí hậu, kỹ thuật… ở Đác Lắc cũng như các tỉnh Tây Nguyên xem có phù hợp với cây mắc-ca không? Do đó, việc ồ ạt chặt bỏ các loại cây trồng khác để trồng mắc-ca sẽ gây ra nhiều hệ lụy. Thực tế thời gian qua, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên đã tiến hành trồng thử nghiệm nhiều loại giống mắc-ca nhưng kết quả không đồng đều, có loại cho khoảng trên dưới 10kg hạt/cây nhưng cũng có loại chỉ đạt chưa tới một kg hạt/cây.
Trong khi đó, thời gian gần đây trước những thông tin không chính thức cho rằng mắc-ca là “cây tỷ đô”, cây “nữ hoàng quả khô”… và chạy theo phong trào nên nhiều hộ nông dân ở Đác Lắc nói riêng, các tỉnh Tây Nguyên nói chung đã đầu tư mở rộng diện tích cây mắc-ca không theo quy hoạch, kế hoạch của địa phương.
Cụ thể, theo thống kê của Sở NN&PTNT tỉnh Đác Lắc, đến thời điểm hiện nay nông dân trên địa bàn tỉnh đã tự phát trồng trên 110 ha cây mắc-ca, chủ yếu tập trung tại các huyện M’Drắc trồng 41 ha, huyện Lắc gần 40 ha và huyện Krông Năng trồng 30 ha.
Còn tại Đác Nông, theo thống kê mới nhất của Sở NN&PTNT tỉnh, tính đến thời điểm hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh đã trồng được trên 700 ha cây mắc-ca, bằng nguồn vốn từ các chương trình khác nhau như: khuyến nông quốc gia, xây dựng nông thôn mới; các dự án hỗ trợ phát triển như: Dự án ổn định dân cư vùng biên giới, Dự án 3EM; vốn của doanh nghiệp; đặc biệt là người dân tự phát trồng… tập trung chủ yếu tại huyện Tuy Đức và trồng rải rác trên địa bàn các huyện Đác R’lấp, Đác Mil, Đác, huyện Đác Song và thị xã Gia Nghĩa.
Tuy nhiên, theo thạc sĩ Nguyễn Quang Tuấn, Giám đốc Trung tâm khuyến nông - khuyến ngư tỉnh Đác Nông, qua điều tra khảo sát của trung tâm, hiện nay diện tích cây mắc-ca trên địa bàn tỉnh đã lên tới 1.500 đến 2.000 ha, tập trung nhiều nhất là ở huyện Tuy Đức. Mặc dù từ năm 2010 đến nay, trung tâm đã trồng các mô hình khảo nghiệm cây mắc-ca với diện tích 57,3 ha trên địa bàn bảy huyện, thị xã với 119 hộ tham gia.
Kết quả điều tra bước đầu cũng như qua theo dõi bằng mắt thường cho thấy, cây mắc-ca thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng, khí hậu và phù hợp với tập quán canh tác của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh. Mặc dù vậy, đến thời điểm hiện nay, cả những mô hình do trung tâm trồng khảo nghiệm cũng như những diện tích do người dân trồng cũng chỉ mới ra hoa và quả bói nên chưa thể đánh giá được cây mắc-ca có mang lại hiệu quả kinh tế cao hay không? Vì vậy, việc người dân ồ ạt phát triển cây mắc-ca tiềm ẩn nhiều rủi ro, bởi đây là loại cây trồng mới, nguồn vốn đầu tư lớn, trồng sáu, bảy năm mới cho thu hoạch.
Trong khi đó, trước những thông tin đồn thổi về cây mắc-ca khiến cây giống mắc-ca bán trôi nổi trên thị trường tăng mạnh từ 25 nghìn đến 35 nghìn đồng/cây lên 70 nghìn đến trên 80 nghìn đồng/cây. Điều đáng nói là lợi dụng vào giá cây giống mắc-ca tăng cao, trên thị trường đã xuất hiện nhiều loại giống, có cả giống người dân tự trồng, tự ươm chưa được cơ quan có thẩm quyền công nhận vẫn bày bán tràn lan. Khi mua phải loại cây giống này về trồng, thiệt hại trước hết thuộc về người nông dân.
Do đó, cùng với việc khuyến cáo nông dân không mở rộng diện tích trồng mới cây mắc-ca, tỉnh Đác Lắc còn khuyến cáo nông dân trên địa bàn không được sử dụng hạt, cây mắc-ca ghép không rõ nguồn gốc, xuất xứ để trồng xen trong các vườn cà-phê, hồ tiêu nhằm hạn chế rủi ro, thiệt hại.
Ngoài ra, UBND tỉnh Đác Lắc cũng chỉ đạo các ngành chức năng, các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tăng cường tuyên truyền, phổ biến các nội dung liên quan đến cây mắc-ca để người nông dân, nhất là ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số biết để thực hiện. Người dân chỉ trồng cây mắc-ca thực nghiệm với diện tích hẹp hoặc trồng xen trong các vườn cà-phê bằng các giống đã được Bộ NN&PTNT công nhận như H2, OC, 246, 816…
Bên cạnh đó, tỉnh cũng chỉ đạo các ngành chức năng và chính quyền các địa phương tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân cung ứng, kinh doanh hạt giống, cây mắc-ca ghép không rõ nguồn gốc, xuất xứ, không bảo đảm chất lượng nhằm góp phần giảm thiệt hại cho nông dân.
Tương tự, tại Đác Nông lợi dụng vào nhu cầu cây giống trong nhân dân tăng cao, một số đối tượng đã đưa các loại cây giống không có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng về bán để trục lợi. Trong khi đó, công tác kiểm tra, quản lý hoạt động mua bán cây giống mắc-ca trên địa bàn tỉnh gặp rất nhiều khó khăn, vì người dân trực tiếp đi mua tại các cơ sở bán cây giống ngoài tỉnh mang về trồng, đồng thời một số đơn vị, cá nhân trong và ngoài tỉnh mua cây giống rồi chở thẳng về vườn, rẫy giao cho người dân trồng nên không thể kiểm soát hết.
Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Đác Nông Đỗ Ngọc Duyên cho biết: Nhằm hạn chế những thiệt hại về kinh tế cho người dân, sở đã đưa ra những khuyến cáo, hướng dẫn một số biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc cây mắc-ca trên địa bàn. Theo đó, về giống chỉ trồng cây giống đã được Bộ NN&PTNT công nhận. Đến thời điểm hiện nay, Bộ NN&PTNT đã công nhận chín giống mắc-ca gồm giống: 842, 741, 900, 800, 695, OC, 246, 816, 849, đặc biệt là các giống đã được khảo nghiệm tại Tây Nguyên như giống 246, 816, OC,849 và chỉ nên mua giống tại những đơn vị có uy tín về sản xuất giống mắc-ca, có địa chỉ rõ ràng. Trên một vườn trồng mắc-ca nên chọn từ hai đến ba giống khác nhau để các giống thụ phấn chéo khi ra hoa giúp tăng năng suất, sản lượng.
Ngoài ra, Sở NN&PTNT sẽ chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phối hợp các ngành liên quan và các địa phương tiến hành kiểm tra chặt chẽ hoạt động mua, bán các loại giống cây trồng trên địa bàn, nhất là giống cây mắc-ca, nếu phát hiện những đơn vị, cá nhân nào bán cây giống không bảo đảm chất lượng, không có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng sẽ xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật...
Không chỉ riêng Đác Lắc, Đác Nông mà UBND các tỉnh ở Tây Nguyên đã và đang chỉ đạo các ngành chức năng, các địa phương đẩy mạnh công tác kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ hoạt động mua, bán các loại giống cây trồng trên địa bàn, nhất là giống cây mắc-ca… nhằm hạn chế thiệt hại cho nông dân khi mua phải giống cây trồng kém chất lượng. (Nhân Dân 7/7) đầu trang(
Sau nửa thế kỷ phát triển, hiện ngành công nghiệp mắc ca của Úc đã và đang tạo ra một chuỗi sản xuất thực phẩm sạch và đa dạng đến bất ngờ nhưng vẫn có sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế. Chúng tôi đã có dịp đến tham quan bốn nhà máy chế biến mắc ca thuộc top đầu nước Úc nhưng đặc biệt ấn tượng với mô hình của Cty MPC ở vùng Lismore, tiểu bang New South Wales.
Đón đoàn khách đến từ Việt Nam, Tổng giám đốc Cty Steven Lee rất thân thiện, giới thiệu toàn bộ quá trình phát triển của nhà máy từ khi thành lập vào năm 1983 với xuất phát điểm là 100 ngàn đô la Úc của 4 cá nhân đóng góp tạo dựng, nhưng đến nay cơ sở đã có doanh thu trên 40 triệu đô la/năm với 200 cổ đông. Tìm hiểu thêm thì đây chính là mô hình hợp tác xã phân chia lợi nhuận theo chuỗi liên kết, từ người trồng cũng là cổ đông đến nhà máy thu mua chế biến trên cơ sở gắn chặt trách nhiệm với nhau.
Có nghĩa là nhà máy phải đảm bảo thu mua hết sản phẩm mà người trồng làm ra, trong khi các chủ vườn cũng phải cam kết sẽ chăm sóc, thu hoạch được nguồn nguyên liệu có giá trị tốt nhất để cung cấp cho nhà máy. Phía Cty cũng thường xuyên cắt cử các kỹ sư giỏi hỗ trợ cho những người trồng mắc ca trong vùng nguyên liệu như tư vấn kỹ thuật, hướng dẫn cách đối phó bệnh dịch và bảo quản sau thu hoạch…
Do đặc thù là vùng nguyên liệu trải dài hàng trăm cây số nên khoảng cách từ các vườn cây đến nhà máy khá xa nên Cty cũng có chính sách hỗ trợ phí vận chuyển nguyên liệu cho người sản xuất. Cụ thể, nếu khoảng cách từ trang trại đến nhà máy dài trên 25 km trở lên thì mỗi kg nguyên liệu, người trồng sẽ được nhận khoản hỗ trợ phí vận chuyển từ 2,5 đến 4,5 xu.
Hiện MPC là Cty chế biến mắc ca lớn nhất Úc, chiếm trên 25% tổng sản lượng mắc ca hàng năm tại nước này và họ có hẳn một Cty tiếp thị sản phẩm rất chuyên nghiệp. Vào thời kỳ cao điểm, dây chuyền của nhà máy có thể chạy với công suất 1.000 tấn hạt nguyên liệu/tuần, được thu mua theo hợp đồng với 230 nhà trồng mắc ca trong vùng.
Ông Lee cho biết, hộ nhỏ nhất trồng mắc ca ở đây mỗi vụ cũng cung cấp cho nhà máy trên dưới 10 tấn hạt, còn hộ lớn có năm đạt 2.500 tấn chuyển đến nhà máy để sấy khô phục vụ các công đoạn chế biến sâu và đóng gói chuyển đến khu vực thương mại đem đi tiêu thụ, xuất khẩu.
Ông Steven Lee cho biết, việc những người trồng và các nhà máy chế biến mắc ca có chân trong Hiệp hội Mắc ca (thành viên phải đóng lệ phí hàng năm) có vai trò tích cực, tạo ra “một tiếng nói chung”, không những bảo vệ được quyền lợi của các thành viên mà còn đảm bảo tạo dựng được giá trị cũng như uy tín của sản phẩm mắc ca Úc trên thị trường quốc tế. Hiệp hội cũng thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật phổ biến những kết quả nghiên cứu mới cũng như cách làm tiến bộ, đảm bảo cho sự phát triển bền vững trong ngành. Ngoài ra, việc đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) cũng được đặc biệt coi trọng. Quỹ này do người trồng đóng góp một nửa theo luật định còn một nửa do chính phủ tài trợ.
Tuy nhiên, khác với Việt Nam hay Trung Quốc, hoạt động R&D ở Úc là do Hiệp hội phụ trách, điều hành chứ không phải do các viện nghiên cứu quản lý. Trung bình hàng năm, nước này giành khoảng trên 2 triệu đô la cho công tác R&D và dự kiến thời gian tới sẽ nâng lên 4 triệu đô la để tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, nghiên cứu thị trường, quảng bá sản phẩm. (Nông Nghiệp VN 7/7) đầu trang(
Ông Lê Văn Đốc, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thanh Hóa cho biết, ngành nông nghiệp tỉnh đã dừng xây dựng đề án quy hoạch phát triển cây mắcca trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2015-2020.
Các ngành chức năng và các địa phương chỉ trồng khảo nghiệm để xác định khu vực có diện tích đất đai, khí hậu thích hợp với loại cây này, tuyệt đối không được trồng rộng rãi ở những diện tích chưa qua khảo nghiệm.
Trước đó, Ủy ban Nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã giao cho Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xây dựng đề án phát triển cây mắcca trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2015-2020.
Tuy nhiên, trong thực tế triển khai trồng cây mắcca ở một số địa phương trên địa bàn tỉnh, cây cho năng suất quả rất khác nhau bởi loại cây này yêu cầu nghiêm ngặt về điều kiện khí hậu thời tiết, đất đai, thổ nhưỡng.
Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa mới có Ban Quản lý rừng phòng hộ Thạch Thành có trồng khảo nghiệm 500 cây mắcca trên diện tích khoảng 2 ha và đã có sản phẩm được 2 năm nay.
Qua khảo nghiệm cho thấy, việc trồng cây mắcca cùng ngày, cùng cách trồng, cùng kỹ thuật nhưng cây trồng ở dưới chân đồi cho năng suất trên 3 tấn/ha, trồng ở lưng đồi và đỉnh đồi chỉ cho năng suất 6-7 tạ/ha.
Thực tế này cho thấy, việc xây dựng đề án quy hoạch phát triển cây mắcca cần có thêm thời gian mới có cơ sở khoa học để xây dựng quy hoạch diện tích trồng.
Hơn nữa, việc đầu tư trồng loại cây này cũng tương đối cao, dao động từ 80-100 triệu đồng/ha, đây là số tiền không hề nhỏ đối với người nông dân nên cũng cần phải có những nghiên cứu kỹ lưỡng mới cho áp dụng rộng rãi.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã có một số hộ dân trồng cây mắcca nhưng chưa qua trồng khảo nghiệm để xác định diện tích đất đai, khí hậu phù hợp với loại cây này. Riêng ở huyện Thạch Thành, bà con đã áp dụng trồng rộng rãi loại cây này với diện tích trên 30ha. (Vietnam+ 7/7) đầu trang(
6/7, báo cáo trước các đại biểu HĐND tại phiên kỳ họp thứ 13 HĐND TP Hà Nội, ông Vũ Hồng Khanh - Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội cho biết, trong quá trình cải tạo, thay thế cây xanh trên địa bàn vừa qua còn bộc lộ những tồn tại, thiếu sót; phương pháp, cách làm chưa phù hợp, có phần nóng vội, đơn giản không tạo được sự đồng thuận xã hội.
Trong báo cáo ông Vũ Hồng Khanh cho biết, bên cạnh những kết quả đạt được về kinh tế-xã hội, việc thay thế cây xanh vừa qua là một trong những vấn đề hạn chế, yếu kém trong 6 tháng đầu năm 2015.
Ông Khanh cho rằng, việc cải tạo, từng bước thay thế cây xanh trên địa bàn là việc làm thường xuyên, được thực hiện trên cơ sở các quy hoạch, kế hoạch theo quy định. Theo ông Khanh, việc thay thế cây xanh lâu nay đã đạt được những kết quả thiết thực, góp phần cải thiện môi trường, chỉnh trang đô thị.
“Tuy nhiên, trong thực hiện thay thế cây xanh vừa qua có thiếu sót, trong tổ chức thực hiện còn bộc lộ tồn tại, phương pháp, cách làm chưa phù hợp, có phần nóng vội, đơn giản” - ông Khanh thừa nhận.
Thực hiện thay thế cây xanh cũng chưa đánh giá kỹ những phản ánh, tác động đến xã hội. Đặc biệt là việc thông tin, tuyên truyền chưa kịp thời và đầy đủ, chưa tạo được sự đồng thuận trong xã hội.
“Việc quản lý cây xanh đô thị sẽ phải tăng cường trong 6 tháng tới, trong đó tập trung khắc phục tồn tại, bất cập trong việc cải tạo, thay thế cây xanh đã được Thanh tra thành phố chỉ rõ trong quá trình thanh tra” - ông Khanh nhấn mạnh.
Theo Thường trực HĐND thành phố Hà Nội, việc cải tạo, thay thế cây xanh thời gian qua là nội dung khiến nhiều cử tri bức xúc. Theo đó, cử tri nhiều quận, huyện của Hà Nội đã kiến nghị thành phố làm rõ trách nhiệm của các tập thể, cá nhân trong thực hiện cải tạo, thay thế cây xanh thời gian qua.
Ngày 6/7, báo cáo trước các đại biểu HĐND tại phiên kỳ họp thứ 13 HĐND TP Hà Nội, ông Vũ Hồng Khanh - Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội - cho biết, trong quá trình cải tạo, thay thế cây xanh trên địa bàn vừa qua còn bộc lộ những tồn tại, thiếu sót; phương pháp, cách làm chưa phù hợp, có phần nóng vội, đơn giản không tạo được sự đồng thuận xã hội.
Trao đổi với báo chí bên hành lang kỳ họp về việc có đưa nội dung thay thế cây xanh ra chất vấn hay không, bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Chủ tịch HĐND TP Hà Nội cho biết, hiện nay ban thư ký kỳ họp đang tập hợp tất cả ý kiến cử tri những vấn đề dân sinh bức xúc.
“Việc có đưa vấn đề này ra chất vấn hay không phụ thuộc vào ý kiến cử tri, ý kiến đại biểu”, Chủ tịch HĐND TP Hà Nội nói. (Tiền Phong + Nông Thôn Ngày Nay + Người Lao Động 7/7) đầu trang(
Trao đổi với phóng viên Dân trí, chiều ngày 6/7, ông Nguyễn Thế Thảo - Chủ tịch UBND TP Hà Nội cho biết, Sở Xây dựng phải có trách nhiệm trồng lại cây trên đường Nguyễn Chí Thanh đúng theo quy hoạch. Cây trồng thay thế phải đảm bảo xanh tốt, chọn loại cây phù hợp.
Sau nhiều ý kiến khác nhau về việc cây trồng mới trên đường Nguyễn Chí Thanh là cây mỡ hay cây vàng tâm, ngày 16/6 vừa qua, thanh tra Hà Nội cho biết, kết quả giám định của Viện Khoa học lâm nghiệp, xác minh từ nguồn gốc nơi cung cấp, xác định cây trồng trên tuyến đường Nguyễn Chí Thanh là cây mỡ.
Trên cơ sở kết luận của Thanh tra thành phố, tiếp thu ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học và nhân dân, Sở Xây dựng chỉ đạo trồng cây trên tuyến đường Nguyễn Chí Thanh theo quy hoạch, đảm bảo cây trồng xanh tốt, góp phần cải thiện môi trường và cảnh quan đô thị. Chi phí phát sinh do đơn vị tài trợ đảm nhiệm.
Trao đổi với phóng viên Dân trí về vấn đề trên, ông Nguyễn Thế Thảo - Chủ tịch UBND Thành phố cho biết, Sở Xây dựng phải có trách nhiệm trồng lại cây trên đường Nguyễn Chí Thanh đúng theo quy hoạch. Cây trồng mới thay thế phải đảm bảo xanh tốt.
Cũng liên quan đến vấn đề thay thế cây xanh mỡ trên đường Nguyễn Chí Thanh theo kết luận của thanh tra Hà Nội, trong buổi giao ban báo chí mới đây, ông Võ Nguyên Phong - Phó Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội cho biết, đơn vị này đang phối hợp với Hội Khoa học Kỹ thuật thành phố Hà Nội để xác định loại cây mới phù hợp. Các đơn vị chuyên môn cũng sẽ xác định thời gian thích hợp để trồng lại cây trên đường Nguyễn Chí Thanh.
Được biết, trong buổi làm việc với các chuyên gia để lấy ý kiến trồng lại cây trên đường Nguyễn Chí Thanh, các đề xuất trồng cây dầu rái, sao đen, lát… là phù hợp với cảnh quan, giao thông đô thị Hà Nội. Hiện nhiều cây gỗ mỡ trên tuyến đường này đã héo khô, không thể mọc lá...(Dân Trí 6/7) đầu trang(
Tại kỳ họp thứ 13 HĐND TP Hà Nội, diễn ra vào ngày 7-7, liên quan đến kết luận thanh tra về trồng và thay thế cây xanh trên địa bàn TP, UBND TP Hà Nội đã công bố trả lời ý kiến cử tri về đề nghị báo cáo kết quả xử lý sau kết luận thanh tra, cơ chế kiểm soát việc trồng, thay thế cây mới.
Theo đó, UBND TP Hà Nội thừa nhận chặt hạ, dịch chuyển cây xanh là việc nhạy cảm, tác động tới cuộc sống, tâm tư, tình cảm của nhân dân nhưng thông tin tuyên truyền chưa đầy đủ, rõ ràng; chưa tổ chức xin ý kiến đông đảo nhân dân, các nhà khoa học; một số tiêu chí thực hiện cấp phép chặt hạ, trồng mới cây xanh đô thị chưa rõ ràng, còn thiếu sót.
Qua vụ việc trên, UBND TP Hà Nội đã nghiêm túc rút kinh nghiệm và chỉ đạo xử lý, kỷ luật đối với các đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan. Ban Cán sự Đảng UBND TP đã nghiêm túc kiểm điểm trách nhiệm và tập trung chỉ đạo khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong việc cải tạo, thay thế cây xanh trên địa bàn TP; chỉ đạo Sở Xây dựng và các đơn vị liên quan nghiêm túc kiểm điểm trách nhiệm để xảy ra những thiếu sót, tồn tại và có hình thức kỷ luật đối với những tập thể, cá nhân lãnh đạo sở, đơn vị trực thuộc để xảy ra thiếu sót, tồn tại.
Tuy nhiên, văn bản trả lời chất vấn của UBND TP Hà Nội vẫn chưa nêu cụ thể hình thức kỷ luật đối với những cán bộ liên quan đến sai phạm trong thực hiện đề án cải tạo cây xanh.
Một trong những nội dung được đưa ra tại kết luận thanh tra về Đề án cải tạo, thay thế cây xanh trên địa bàn TP Hà Nội mới đây là đã khẳng định 400 cây “vàng tâm” được trồng mới trên phố Nguyễn Chí Thanh thực chất là cây mỡ. Giới chuyên gia cho rằng đây là loại cây không thích hợp để trồng ở một đô thị như Hà Nội. Thực tế cho thấy số cây mỡ trên không phát triển, có dấu hiệu chết khô. Do đó, Hà Nội đã có chủ trương thay những cây mỡ bằng loại cây khác vào thời điểm thích hợp.
GS-TS Ngô Quang Đê, Hội Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp Việt Nam, cho rằng tất cả những cây đã trồng thành công tại Hà Nội như sấu, muồng, dái ngựa, bằng lăng, đều có thể trồng tiếp. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung các loại cây mới để bảo đảm đa dạng sinh học và phát triển sinh thái bền vững.
Nhiều chuyên gia cũng cho rằng đề án trồng, thay thế cây xanh vừa qua được thực hiện quá vội vã dẫn đến việc trồng rồi phải trồng lại. Dù sử dụng nguồn vốn xã hội hóa nhưng điều này gây tốn kém rất lớn. Do đó, sau khi rút kinh nghiệm và triển khai kế hoạch mới, TP Hà Nội cần thận trọng xem xét, thử nghiệm để trồng thành công các loại cây thích hợp, tránh làm đi làm lại. (Người Lao Động 8/7) đầu trang(
Các cơ quan chức năng của TP. Nha Trang đang xử lý tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép tại núi Hòn Mặt Quỷ (thôn Phước Thượng, xã Phước Đồng).
Mới đây, theo kết quả điều tra về hành vi đốt phá rừng trái phép ở khu vực nêu trên, Công an TP. Nha Trang đã xác minh được 3 đối tượng đều ở TP. Nha Trang trực tiếp có hành vi chặt phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép. Trong đó, một đối tượng ở phường Vĩnh Nguyên mua lại đất lâm nghiệp của người dân ở thôn Phước Thượng, việc mua bán giữa 2 bên có làm giấy thỏa thuận viết tay.
Mảnh đất khi mua chỉ hơn 1ha, nhưng theo thời gian, đối tượng này đã tự ý phát quang mở rộng diện tích thêm 68ha liền kề với mảnh đất đã mua. Một đối tượng khác ở phường Phước Hòa cũng đến đây mua 18ha đất lâm nghiệp của nhiều người (quá trình mua bán có giấy tay). Thế nhưng qua kiểm tra, diện tích đất của đối tượng này hiện tại đã lên tới 68ha. Đối tượng thứ 3 ở thôn Đất Lành, xã Vĩnh Thái, cũng đã mua của nhiều người với tổng cộng 3,6ha; nhưng đến thời điểm này, diện tích thực tế của mảnh đất ấy đã “phình” thêm 70ha, gấp gần 20 lần so với diện tích đã mua.
Được biết, vào tháng 6-2014, UBND tỉnh đã có quyết định cấp đất cho Công ty TNHH Sản xuất và Xây dựng Khánh Hòa thực hiện Dự án Khu kinh tế trang trại Đất Lành. Dự án được cấp hơn 500ha đất, trong đó có cả diện tích mà một số người lấn chiếm tại núi Hòn Mặt Quỷ. Tuy nhiên, việc xác định mốc giới cụ thể của dự án cho đến thời điểm này chưa rõ ràng. Điều này đã gây khó khăn cho quá trình quản lý.
Bên cạnh đó, Công ty TNHH Sản xuất và Xây dựng Khánh Hòa cũng chưa hoàn tất các thủ tục pháp lý theo quyết định giao đất. Điều khá ngạc nhiên là theo kết luận của Công an TP. Nha Trang: UBND xã Phước Đồng và Hạt Kiểm lâm TP. Nha Trang đều không nắm được việc UBND tỉnh có quyết định giao đất thực hiện dự án này.
Để chấm dứt tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp ở khu vực núi Hòn Mặt Quỷ, mới đây, UBND TP. Nha Trang đã giao Phòng Tài nguyên và Môi trường tham mưu văn bản báo cáo UBND tỉnh chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường xác định mốc giới của Dự án Khu kinh tế trang trại Đất Lành. Đồng thời, đề nghị Công ty TNHH Sản xuất và Xây dựng Khánh Hòa thực hiện đúng trình tự triển khai dự án, có phương án làm ranh cản lửa, cắm mốc xác định vị trí khu vực thực hiện dự án và có biện pháp bảo vệ, quản lý đất dự án, phối hợp với UBND xã tổ chức kiểm tra, ngăn chặn kịp thời các trường hợp lấn chiếm, cản trở thực hiện dự án.
UBND TP. Nha Trang cũng giao UBND các xã: Phước Đồng, Vĩnh Thái, Vĩnh Trung tiếp tục thực hiện chỉ đạo của UBND thành phố, tăng cường kiểm tra xử lý những hành vi lấn chiếm, đốt phát rẫy trái phép, thông báo để người dân biết về quy hoạch dự án. Công an TP. Nha Trang tiếp tục củng cố hồ sơ, mời các ngành liên quan thẩm định diện tích mà các đối tượng chặt phá, lấn chiếm trái phép để đánh giá thiệt hại, từ đó làm căn cứ đưa ra hình thức xử lý các đối tượng nói trên. (Báo Khánh Hòa 7/7) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Ngày 6/7, hàng trăm đám cháy đã lan rộng khắp các tỉnh miền Tây ở Canada, buộc giới chức nước này ban bố tình trạng khẩn cấp và huy động mọi nguồn lực để kiểm soát hỏa hoạn lan rộng đến các khu dân cư.
Hơn 13.000 người tại các ngôi làng, thị trấn buộc phải di dời khẩn cấp sau khi các đám cháy vượt qua các vành đai an toàn tiến mạnh về phía cộng đồng dân cư.
Chính quyền địa phương cho biết, hơn 1.000 binh sĩ đang trên đường đến các khu vực cháy rừng hỗ trợ hàng nghìn nhân viên cứu hỏa khác đang chạy đua cùng thời gian để dập cháy. Khoảng 5 máy bay vận tải chở nước, 3 máy bay trực thăng hỗ trợ công tác phun nước nhằm khống chế đám cháy. Theo thống kê sơ bộ, trong 2 tuần qua, tỉnh Saskatchewan đã chứng kiến 574 vụ cháy, tăng gần gấp 3 lần so với năm ngoái. Đến nay, chưa có báo cáo thương vong về người do hỏa hoạn.
Đợt di tản dân lớn nhất với 5.000 người là ở thị trấn La Rôn-giơ, nơi những ngọn lửa hung dữ chiều qua chỉ cách thị trấn nhỏ bé này khoảng 3 km. Chính quyền các địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là Air Ronge, Indian Ban, La Ronge đã kêu gọi Chính phủ Canada tăng cường hỗ trợ đối phó với giặc lửa lan rộng. Tình trạng khô hanh, nắng nóng là nguyên nhân gây cháy rừng tại các tỉnh miền Bắc Canada. (Radiovietnam 7/7) đầu trang(
6/7, Mozambique đã tiêu hủy hơn 2,6 tấn ngà voi và sừng tê giác thu giữ trong các chiến dịch chống nạn săn bắn trộm động vật hoang dã quý hiếm thời gian qua.
Đây là lần đầu tiên Mozambique tiêu hủy một số lượng lớn ngà voi và sừng tê giác trái phép.Phát biểu sau sự kiện trên, Bộ trưởng Môi trường Celso Correia nhấn mạnh việc tiêu hủy là tín hiệu rõ ràng của chính phủ nhằm chuyển thông điệp tới cộng đồng xã hội và thế giới về sự kiên quyết của Mozambique trong cuộc chiến chống nạn săn trộm động vật hoang dã.
Dưới áp lực quốc tế, tháng 6/2014, Mozambique đã thông qua bộ luật đa dạng sinh học nhằm chống lại việc giết hại các động vật hoang dã cần được bảo vệ.
Tháng Năm vừa qua, cảnh sát Mozambique đã phát hiện đường dây buôn bán động vật hoang trái phép lớn nhất từ trước đến tại nước này và đã thu giữ 340 ngà voi và 65 sừng tê giác.
Việc săn bắn trộm voi, tê giác để lấy ngà và sừng chủ yếu xuất phát từ nhu cầu về các sản phẩm này ở Trung Đông và châu Á, nơi ngà voi và sừng tê giác được sử dụng để trang trí và trong đông y.
Các chuyên gia về động vật hoang dã quốc tế ước tính số lượng voi châu Phi đã giảm mạnh từ hàng triệu con giữa thế kỷ 20 xuống còn khoảng 600.000 con hiện nay.
Đến nay, các loài tê giác cơ bản đã bị tuyệt chủng ở Mozambique. (Vietnam+ 7/7)đầu trang( ./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||