Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 07 tháng 08 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Nhiều loại cây dược liệu mọc tự nhiên trong các cánh rừng ở Nghệ An đang ồ ạt “chạy” sang Trung Quốc với giá bèo. Điều đáng nói, sau khi chế biến, các doanh nghiệp Trung Quốc bán ngược lại nước ta với giá rất cao.
Vài ba năm trở lại đây, tại các huyện miền núi Nghệ An, người dân liên tục vào rừng tìm các loại cây dược liệu như cu li, cây ba gạc, cây huyết đằng, củ ba mươi mang về bán cho các thương lái ở địa phương để xuất sang Trung Quốc. Các thương lái thu mua cây dược liệu khô từ người dân khai thác trong rừng với giá 1.500 - 30.000 đồng/kg…
Tại xã Châu Quang, H.Quỳ Hợp, các loại cây dược liệu này được thương lái thu mua, đem phơi ven đường và các bãi đất trống.
Một người làm công cho một thương lái ở đây cho biết cứ vài ba ngày, người chủ thu mua dược liệu lại chất đầy xe tải đem sang Trung Quốc bán.
Theo anh Vi Văn Hòa (ngụ H.Tương Dương), một người chuyên đi chặt cây dược liệu từ rừng về bán, cho biết trước đây, các khu rừng này có nhiều cây cu li. Dân bản khi bị đứt tay chảy máu, lấy lá đắp vào sẽ cầm máu ngay.
“Giờ thấy nhiều người đến mua, dân bản kéo nhau vào rừng chặt nên cũng hiếm rồi. Bây giờ, đi cả ngày cũng chỉ chặt được khoảng 20 kg” - anh Hòa nói.
Tiến sĩ Nguyễn Minh Khởi, Viện trưởng Viện Dược liệu, cho biết Nghệ An là tỉnh có nguồn cây thuốc phong phú vào bậc nhất nước ta. Tại đây có 25 loài cây như ba kích, đinh lăng, địa liền… hoàn toàn có cơ sở để lựa chọn đầu tư phát triển cây dược liệu. Tuy nhiên, Nghệ An có 31 loài cây thuốc thuộc diện quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng, có tên trong Sách Đỏ Việt Nam.
Ông Trương Văn Hiền, Tổng giám đốc Tổng công ty CP Vật tư nông nghiệp Nghệ An, cho rằng nếu biết tổ chức và có giải pháp thích hợp để phát triển vùng nguyên liệu sản xuất, trồng để chế biến cây dược liệu thành sản phẩm thuốc dược liệu chữa bệnh, ngành dược sẽ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
Có một nghịch lý là 90% nguồn dược liệu ở Việt Nam phải nhập từ Trung Quốc qua con đường tiểu ngạch nhưng lâu nay các thương lái Trung Quốc lại đổ xô đến nhiều vùng rừng núi nước ta để thu gom thảo dược đem về nước.
“Người Trung Quốc mua dược liệu thô với giá rẻ nhưng sau khi chế biến, họ lại nhập lại Việt Nam với giá cắt cổ. Trong khi đó, chất lượng dược liệu mua từ Trung Quốc lại không được cam kết, đảm bảo một cách chắc chắn an toàn cho sức khoẻ người sử dụng vì chúng ta không trực tiếp kiểm tra, giám sát quá trình khai thác, sơ, chế biến” - ông Hiền nói.
Ông Trần Quốc Thành, Giám đốc Sở KH-CN Nghệ An, thừa nhận cây dược liệu chưa được quan tâm đúng mức, doanh nghiệp dược cũng chưa quan tâm phát triển lĩnh vực đông dược. Để xóa đói giảm nghèo bền vững cho các huyện miền núi Nghệ An thì việc phát triển dược liệu gắn với công nghiệp dược là một hướng đi đúng, nhằm khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên dược liệu, cung cấp thuốc cho nhu cầu chữa bệnh trong y học cổ truyền và hình thành các vùng sản xuất hàng hoá, tạo nguồn dược liệu ổn định để đưa vào sản xuất và xuất khẩu.
“Do khai thác liên tục nhiều năm, thiếu chú ý bảo vệ tái sinh, cộng với nạn phá rừng làm nương rẫy trồng cây nên nhiều loài cây thuốc quý có trữ lượng lớn bị suy giảm nghiêm trọng. Vì vậy, Nghệ An cần thiết phải xây dựng một kế hoạch lâu dài để khai thác và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc”. (Người Lao Động 6/8) đầu trang(
8/11 xã của huyện Mường Nhé (Điện Biên), rừng đã bị tàn phá theo cách thức hết sức tinh vi. Tốc độ phá rừng ở Mường Nhé thực sự khiến chính quyền tỉnh Điện Biên lo ngại. Gần 500ha rừng ở Mường Nhé đã biến mất như thế nào? Giải pháp nào để giữ rừng? Báo CAND sẽ phản ánh câu chuyện này qua chuyên đề “Gần 500ha rừng bị tàn phá - Ai chịu trách nhiệm?”.
Dọc tuyến đường quốc lộ 4H, các xã Chung Chải, Leng Su Sìn, Mường Toong, Mường Nhé, Nậm Kè, Nậm Vì… chỉ còn là những quả đồi trọc. Những cây gỗ chưa cháy hết, đổ ngổn ngang trên những nương lúa bắt đầu xanh. Chỉ trong vòng chưa đầy 3 năm, gần 500ha rừng của Mường Nhé (Điện Biên) đã biến mất.
Một ngày cuối tháng 7, theo chân Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Mường Nhé Lò Văn Thành, chúng tôi được tận mắt chứng kiến cảnh những cánh rừng xanh tốt bị chặt phá không thương tiếc. Thân cây nhỏ bị thiêu rụi, thân gỗ lớn bằng cả người ôm cũng chỉ còn trơ gốc.
Anh Lò Văn Thành chua chát nói: “Cứ sau một đêm, 3ha rừng lại biến mất. Ban ngày cán bộ kiểm lâm đi kiểm tra, rừng vẫn còn xanh nhưng chỉ sáng mai quay lại, rừng đã bị phá tan hoang”. Các điểm nóng về phá rừng tập trung ở 4 xã: Mường Toong, Mường Nhé, Chung Chải và Leng Su Sìn. Con số thống kê cho thấy, từ năm 2013 đến nay, đã có gần 500ha rừng ở Mường Nhé bị chặt phá.
Cụ thể, năm 2013 xảy ra 157 vụ phá rừng, tổng diện tích rừng bị phá là 210,603ha. Năm 2014, tổng diện tích rừng bị phá là 210,694ha, trong đó xã Leng Su Sìn là 78,524ha, xã Mường Nhé 31,100ha; xã Chung Chải 11,070ha. Trong 6 tháng đầu năm 2015, tình trạng phá rừng còn diễn biến phức tạp, tinh vi hơn. 8/11 xã của huyện đều xảy ra tình trạng phá rừng với tổng diện tích rừng bị phá lên tới 143,105ha. Tính đến ngày 31/5/2015, diện tích rừng của Mường Nhé còn 72.080,646ha, tỷ lệ che phủ đạt 45,80%.
Leng Su Sìn là một trong những điểm nóng về phá rừng. Trong vòng gần 3 năm, tại xã Leng Su Sìn, lực lượng chức năng trên địa bàn đã phát hiện 28 vụ phá rừng trái luật, diện tích thiệt hại lên đến 285,57ha.
Nói về cách thức phá rừng ở Mường Nhé trong thời gian qua, anh Lò Văn Thành cho biết, ban ngày các đối tượng phát nương dưới tán, ban đêm thì phá rừng bằng cưa máy, mỗi tốp từ 15-30 người, thậm chí có nhóm lên tới 50 người. Chúng cắt cử người cảnh giới, khi phát hiện thì sẵn sàng chống lại người thi hành công vụ.
Điển hình như, tháng 3/2015, nhận được tin báo có nhóm người đang chặt phá rừng tại bản Nà Pán (xã Mường Nhé), Hạt Kiểm lâm Mường Nhé đã cử nhóm cán bộ xuống kiểm tra. Tuy nhiên, khi các cán bộ kiểm lâm đến nơi, nhóm đối tượng đã dùng dao, gậy để uy hiếp. “Chúng doạ chém kiểm lâm viên Hoàng Quốc Hưng. Ông Phó Đức Chung - Bí thư Chi bộ thôn Nà Pán cũng bị chúng kề dao vào cổ” - anh Thành nói.
Ông Diệp Văn Chính - Phó Giám đốc Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé cũng cho biết, tình trạng chặt phá rừng còn xảy ra trong phạm vi khu bảo tồn. Từ một khu vực rộng lớn, đến nay khu bảo tồn thiên nhiên chỉ còn 45.500ha, trong đó gần 28.000ha đất có rừng trải dọc biên giới Việt-Lào trên địa phận của 5 xã Sín Thầu, Chung Chải, Leng Su Sìn, Mường Nhé, Nậm Kè.
Đây được xem là Khu bảo tồn thiên nhiên có nhiều loại động thực vật quý hiếm có tên trong Sách đỏ; đồng thời cũng là khu vực rừng đầu nguồn sông Đà phía Việt Nam. Tuy nhiên, thời gian qua, đang diễn ra tình trạng người dân trên địa bàn các xã vùng đệm của Khu bảo tồn mua bán, tranh chấp đất lâm nghiệp để tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng rừng trái phép và chặt phá rừng làm nương rẫy.
Nổi cộm nhất vẫn là những diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn đã giao cho cộng đồng quản lý ở các bản Nà Pán, Nậm Là (xã Mường Nhé), bản Đoàn Kết, Nậm Pắt (xã Chung Chải). Thống kê của Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn huyện Mường Nhé cho thấy, từ đầu vụ khô hanh đến nay, trên địa bàn vùng đệm giáp ranh với Khu bảo tồn đã có trên 12/12 điểm cháy rừng, diện tích thiệt hại do cháy rừng gây ra là 33,54ha...
Trong đó, 20ha rừng trạng thái 2a, 2b, rừng hỗn giao tre gỗ đã bị người dân chặt phá để làm nương rẫy, cũng như nhằm mục đích để khai thác lâm sản. Hiện nay, ngoài việc chặt phá rừng, nhiều người dân, nhóm hộ còn đánh dấu rừng để khi lực lượng chức năng không kiểm soát là sẽ tiếp tục chặt phá.
Trong quá trình giữ rừng, các lực lượng chức năng đã bắt được một số đối tượng vi phạm nhưng việc xử lý gặp rất nhiều khó khăn, do các đối tượng khai báo bằng tên và địa chỉ giả. Chính vì vậy, huyện Mường Nhé mới chỉ xử lý được gần 30% trong tổng số 157 vụ chặt phá rừng từ đầu năm đến nay. (Công An Nhân Dân 7/8) đầu trang(
Không chỉ có vụ lâm tặc cướp gỗ trước mặt cơ quan chức năng mới đây như đã phản ánh ở bài viết kỳ 1: “Lâm tặc lộng hành” trên số báo trước chúng tôi đã nêu, mà ở Quảng Nam thời gian qua tình hình tàn phá rừng luôn diễn biến phức tạp bất chấp nhiều đối tượng bị bắt, bị truy tố.
Ngoài vụ phát hiện gỗ tại bến Én thuộc thôn 4, xã Hiệp Hòa, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam thì cuối năm 2014, kiểm lâm huyện Nông Sơn cũng đã phát hiện 257 phách gỗ lớn tập kết ở các khe suối ở thượng nguồn sông Thu Bồn (địa phận xã Quế Lâm, huyện Nông Sơn). Số gỗ này được xác định của khu rừng giáp ranh giữa huyện Phước Sơn và Nông Sơn.
Cứ như vậy, ở Quảng Nam, lâm tặc khai thác và vận chuyển gỗ lậu bằng đường thủy, đường bộ với rất nhiều cách, diễn ra trên diện rộng, trong núi sâu, ban đêm tối trời, khi thời tiết mưa lớn, thủy điện xả lũ. Lực lượng kiểm lâm thì quá mỏng, nhiều khi bất lực với lâm tặc.
Ông Phan Tuấn - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh xác nhận, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã khởi tố hình sự ít nhất 17 vụ liên quan đến phá rừng, tịch thu gần 1.000m3 gỗ các loại. Trong khi đó tình trạng vận chuyển gỗ lậu bằng đường sông có chiều hướng phức tạp trong thời gian qua, nhất là khi các nhà máy thủy điện đưa vào hoạt động. Khi kiểm lâm chốt chặn, tuần tra nghiêm ngặt  ở khu vực thượng nguồn, một số lòng sông sẽ ứ đọng gỗ lậu, chờ thời cơ thuận lợi đưa về xuôi.
Còn ông Nguyễn Trí - Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên sông Thanh, Hạt trưởng rừng đặc dụng sông Thanh cũng từng xác nhận, gần đây nhiều vạt rừng quý hiếm bị xâm hại, rầm rộ nhất là thời điểm thủy điện tích nước.
Như ở thượng nguồn thủy điện Đắc Mi thuộc địa phận huyện Phước Sơn, lâm tặc sau khi khai thác, tập kết, cất giấu gỗ trong rừng, chờ thủy điện xả lũ đã dùng thuyền máy, hoặc các bích xi lôi các bè gỗ theo đường thủy về xuôi. Cứ thế, lâm tặc ngày càng manh động và tinh vi trong tẩu tán gỗ lậu, như biến gỗ lậu thành gỗ thành phẩm, dùng trâu vận chuyển gỗ từ rừng xuống sông, vận chuyển gỗ theo đường thủy bằng bè, bằng xuồng máy, vận chuyển đường bộ với nhiều cách.
Lâm tặc còn phá rừng đưa gỗ đến các xưởng gỗ trá hình “xẻ thịt” để biến gỗ lậu thành gỗ thành phẩm để vận chuyển về xuôi. Nếu chưa vận chuyển kịp, lâm tặc đào hố chôn để vận chuyển dần. Như Đoàn kiểm tra liên ngành phát hiện gỗ lậu khủng ở Nam Trà My khi bất ngờ phục kích đột nhập 4 xưởng cưa tại xã Trà Mai, phát hiện đến 5 điểm cất giấu gỗ lậu quy mô hơn 382 thanh, phách gỗ và 347 sản phẩm gỗ trái phép với khối lượng hơn 26m3.
Tại các khu vực giáp ranh càng nóng, như vụ Trạm Quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông thuộc BQL rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa (tại xã Tư, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam) phát hiện 290 phách gỗ xẻ, tổng khối lượng lên đến hơn 24m3 gỗ kiền kiền ở tiểu khu 37, thuộc rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa (Đà Nẵng) và giáp ranh với khu này nhưng trên lâm phận Quảng Nam đã phát hiện 256 tấm kiền kiền gần 20m3. Vụ này đã khởi tố vụ án và bắt tạm giam 7 đối tượng, trong đó có 2 cán bộ kiểm lâm.
Làm việc với Ban Pháp chế HĐND tỉnh, chính quyền huyện Đông Giang thừa nhận, khó khăn trong quá trình điều tra diện tích rừng bị phá là xác định rạch ròi rừng đặc dụng hay phòng hộ. Do đó các ngành liên quan của tỉnh cần sớm giúp địa phương quy hoạch chi tiết các loại rừng; giải quyết rốt ráo tình trạng xâm lấn đất khu vực giáp ranh giữa xã Tư (huyện Đông Giang) với xã Hòa Bắc (huyện Hòa Vang).
Theo Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam, ông Phan Tuấn: “Có hơn 160 xã trên địa bàn tỉnh được bố trí cán bộ kiểm lâm địa bàn, nhưng thực tế vì thiếu hụt nguồn nhân lực nên bất đắc dĩ một kiểm lâm địa bàn phải phụ trách luôn 2 xã. Kiểm lâm địa bàn  có nhiệm vụ tham mưu cấp ủy đảng, chính quyền địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng nhưng nhiều nơi rừng quá rộng lớn, địa hình xa xôi, cách trở nên không thể nào kiểm soát hết”.
Rõ ràng, việc lâm tặc tàn phá rừng ở Quảng Nam vẫn đang rất nóng, cho dù cơ quan chức năng liên tiếp phát hiện gỗ lậu, truy tố đối tượng nhưng việc lâm tặc ngang nhiên tẩu tán gỗ mới đây cho thấy lâm tặc ngày càng manh động. Thực tế trên khiến dư luận đặt câu hỏi: Máu rừng bao giờ mới hết chảy? (Đại Đoàn Kết 7/8) đầu trang(
Khi ra về, Hà Duy gặp nhiều nhóm học sinh tiểu học vào rừng. Hỏi ra mới biết, đó là những hoạt động ngoại khóa của học sinh, đã có từ 15 năm trước. Hà Duy nhớ suốt thời cắp sách đến trường, chưa bao giờ có những tiết học gần gũi với thiên nhiên thực tế như thế cả….
Sang Mỹ du học từ khi mới đang là học sinh lớp 10, Hà Duy nhận thấy môi trường học tập tại đây vô cùng năng động nên quyết định tiếp tục học tập tại đây. Việc thi đỗ vào khoa Kinh tế và Quản lý, trường Đại học St.Olaf (bang Minnesotta, Hoa Kỳ) đã giúp Duy nhận ra nhiều vấn đề.
Ban đầu, Duy hoàn toàn không quan tâm đến Môi trường học hay các vấn đề về tài nguyên thiên nhiên hay rừng. Tuy nhiên, việc học ở Mỹ cho Duy tiếp xúc với những đề tài này và mang đến cho anh những cơ hội, tài nguyên, tài lực và hỗ trợ để biến ý tưởng của mình thật hiện thực.
Trong bốn năm tại St. Olaf, Hà Duy có cơ hội được tham gia các chuyến giao lưu học tập ở nước ngoài, như tại Beijing Language and Culture University (Bắc Kinh, Trung Quốc) vào hè 2011, hay tại Yonsei University (Seoul, Hàn Quốc) vào mùa thu năm 2012, bên cạnh nhiều chuyến đi du lịch khác.
Trong đó, chuyến đi có ảnh hưởng lớn nhất tới anh phải kể đến cuộc du hành thám hiểm rừng nhiệt đới nguyên sinh tại đất nước Costa Rica, mùa xuân năm 2013. Duy kể: "13 lần đi trên những chiếc cáp treo trên cánh rừng, mình  mới cảm nhận hết vẻ đẹp của những thân cây trùng điệp. Ở đó, những cánh rừng được khai thác khoa học, không bị tàn phá".
Khi ra về, chàng trai đến từ Việt Nam gặp nhiều nhóm học sinh tiểu học vào rừng. Hỏi ra mới biết, đó là những hoạt động ngoại khóa của học sinh, đã có từ 15 năm trước. Hà Duy nhớ suốt thời cắp sách đến trường, chưa bao giờ có những tiết học gần gũi với thiên nhiên thực tế như thế cả.
Sau chuyến đi, những ý tưởng bắt đầu ùa về đầu của chàng trai trẻ. Duy bắt tay ngay vào việc đầu tiên là liên lạc với bạn bè ở Mỹ, Anh và Việt Nam, để lập ra nhóm trên Facebook, chia sẻ ý định thiết thực. Sau 2 tháng hì hụi với những bản kế hoạch Duy được nhà trường cấp cho 10.000 USD để trở về Việt Nam thực hiện ý tưởng kêu gọi mọi người bảo vệ rừng. Dự án Rừng ơi! ra đời từ đó.
Rừng ơi! hướng đến các em học sinh nhằm đào tạo một ý thức về rừng, giúp người tham gia nhận ra rừng là một đề tài quan trọng, từ đó tạo ra các giá trị bền vững hơn là đào tạo các kiến thức khô cứng về tác bảo tồn. Bởi lẽ, Hà Duy suy nghĩ, những kiến thức chuyên sâu thì ai cũng có thể học hỏi và tìm tòi, nhưng yếu tố tiên quyết vẫn là sự yêu thích để bắt đầu tìm hiểu về nó.
Đó chính là mục đích của các tuần giáo dục ở các trường THCS trên địa bàn Hà Nội, dẫn đến một chuyến đi cùng các em học sinh vào Rừng quốc gia Cúc Phương vào cuối hè.
Dự án đã tạo ra sự thay đổi tích cực cho rất nhiều học sinh, sinh viên Hà Nội. Vì vậy, các năm tiếp theo dự án "Rừng ơi" vẫn được Duy và nhiều sinh viên trong và ngoài nước tiếp tục thực hiện.
Tốt nghiệp Đại học St.Olaf , Duy trở về Việt Nam làm việc. Dù không còn trực tiếp tổ chức thực hiện dự án "Rừng ơi" nhưng với việc tham gia vào tổ chức Tôi 20, anh vẫn có những hỗ trợ tích cực cho dự án. "Mình muốn tận dụng những kiến thức đã học được ở nước ngoài để đóng góp cho Việt Nam. Dù làm công việc gì mình cũng muốn đầu tư cho những hoạt động có ích cho cộng đồng" - Duy cho biết. (Tuổi Trẻ Thủ Đô 6/8) đầu trang(
Ngày 31/7/2015 Ủy ban nhân dân tỉnh có Tờ trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét, có ý kiến thống nhất đưa Dự án nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2015-2020 vào kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 của tỉnh theo Tờ trình số 113/TTr-UBND phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2015-2020.
Theo đó, nhằm nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) cho lực lượng bảo vệ rừng nói chung và lực lượng Kiểm lâm toàn tỉnh nói riêng, để có đủ khả năng kiểm soát, phòng ngừa cháy rừng và hiệu lực của công tác PCCCR, giảm thiểu số vụ cháy và thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng, góp phần hạn chế tối đa tình trạng cháy rừng, các hình thức xâm phạm tài nguyên rừng, đất rừng và đảm bảo an ninh môi trường sinh thái trên địa bàn tỉnh.
Tổng mức đầu tư của dự án: 96.354.530.000 đồng, nguồn vốn Ngân sách Trung ương cấp theo Quyết định số 1938/QĐ-TTg ngày 28/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng giai đoạn 2014-2020.
Địa điểm xây dựng trên địa bàn các huyện, thị xã có rừng. Thời gian thực hiện dự án từ nay đến năm 2020. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kiên Giang được UBND tỉnh giao làm chủ đầu tư dự án.
Dự án gồm các hạng mục: Xây dựng cơ sở hạ tầng PCCCR; đầu tư mua sắm phương tiện, trang thiết bị chuyên dụng phục vụ công tác bảo vệ và PCCCR; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, tập huấn, diễn tập PCCCR cấp tỉnh và cấp huyện.
Ủy ban nhân dân tỉnh giao chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án. (Báo Kiên Giang 6/8) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện Núi Thành đang hoàn chỉnh hồ sơ khởi tố vụ án hình sự phá rừng phòng hộ tại xã Tam Sơn.
Trước đó, vào cuối tháng 6.2015, Hạt Kiểm lâm Núi Thành phối hợp với Ban Quản lý rừng phòng hộ Phú Ninh kiểm tra, lập biên bản 2 vụ phá rừng tại khoảnh 5, 6 tiểu khu 596 thuộc xã Tam Sơn với diện tích 9,9307 ha thuộc đối tượng rừng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và khoán quản lý, bảo vệ do Ban Quản lý rừng phòng hộ Phú Ninh ký hợp đồng giao khoán cho nhóm hộ ông Tô Đức Kiểm (thôn Thuận Yên Tây) và ông Nguyễn Lương Đào (thôn Mỹ Đông, xã Tam Sơn) với thời hạn 5 năm (từ ngày 1.12.2013), nhưng đến ngày 19.5.2015, Ban Quản lý rừng phòng hộ Phú Ninh mới bàn giao hồ sơ giao khoán cho Hạt Kiểm lâm Núi Thành. (Báo Quảng Nam 6/8) đầu trang(
Khánh Hòa là một trong những địa phương có đa dạng sinh học (ĐDSH) biển. Tuy nhiên, ĐDSH biển Khánh Hòa đang đứng trước nhiều nguy cơ, thách thức.
Các nghiên cứu gần đây của Viện Hải dương học Nha Trang cho thấy tính ĐDSH biển Khánh Hòa rất cao. Tuy diện tích rừng ngập mặn của tỉnh bị thu hẹp chỉ còn hơn 104ha nhưng có đến 34 loài cỏ biển. Thảm cỏ biển cũng ghi nhận có 12 loài cỏ biển với diện tích hơn 1.800ha. Ngược lại, hệ sinh thái thảm cỏ biển cũng rất đa dạng về thành phần nguồn lợi như: 134 loài cá, 40 loài giáp xác, 23 loài thân mềm, 10 loài da gai...
Rạn san hô - nơi các loài sinh vật thích nghi, trú ngụ, sinh sản... cũng ghi nhận tính đa dạng về thành phần loài. Theo Tiến sĩ (TS) Võ Sỹ Tuấn - Viện trưởng Viện Hải dương học Nha Trang, cá sống trong các rạn san hô có thành phần rất đa dạng. Trong đó, họ cá thia, cá bàng chài và cá bướm có số lượng loài nhiều nhất. Các họ cá có giá trị thực phẩm cao như: cá mú, cá hồng, cá kẽm, cá hè, cá bò cũng khá đa dạng. Mật độ cá rạn dao động từ 400 đến 900 cá thể, trung bình 653 cá thể/500m2, chủ yếu cá có kích thước bé.
Về sinh vật quý hiếm, chỉ riêng vịnh Nha Trang có 11 loài thú biển, phổ biến là loài Sousa chinensis và Steno bredanensis, ngoài ra còn có 2 loài rùa biển là vích và đồi mồi. Các nhóm sinh vật đáy ưu thế biển sâu cũng rất đa dạng. Giáp xác gồm: Isopods và Amphipods 30 - 50%; giun nhiều tơ 40 - 80%; hải sâm kích thước lớn 30 - 80%... Ngoài ra, còn có các loài sao biển, cầu gai, hải miên, hải quỳ...
ĐDSH biển hứa hẹn mang lại nguồn lợi kinh tế biển rất lớn. Theo TS Võ Sỹ Tuấn, du lịch biển tại vịnh Nha Trang mang lại nguồn lợi mỗi năm ít nhất 600.000 USD với nhiều loại hình như: tắm biển, bơi lặn, câu cá, thư giãn...
Mặt khác, hoạt động nuôi trồng gắn với các đối tượng như: tôm sú, tôm hùm, cá mú, cá hồng..., có thể mở rộng nhiều đối tượng khác như: cá khoang cổ, cá ngựa, cầu gai, hàu, vẹm xanh... Ngoài ra, các sinh vật biển còn là nguyên liệu để xử lý ô nhiễm, chiết xuất các hoạt chất kháng ung thư, phát triển công nghiệp dược phẩm...
Tuy nhiên, ĐDSH biển Khánh Hòa đang đứng trước nhiều nguy cơ, đặc biệt là tình trạng khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản, nạn khai thác hủy diệt (bằng chất nổ, xung điện, giã cào...) đã làm giảm tính ĐDSH. Các sinh vật có nguy cơ tuyệt chủng hoặc đang bị đe dọa như: bò biển, rùa biển bị khai thác làm thực phẩm, mỹ nghệ; nguy cơ biến mất của nhiều loài quý hiếm do khai thác quá mức hay thay đổi môi trường sống, ô nhiễm từ các hoạt động vận tải, đánh bắt cá, tràn dầu...
Rạn san hô và thảm cỏ biển suy thoái do trầm tích của quá trình phát triển vùng ven bờ; du lịch lặn thám hiểm đáy biển làm gãy nát rạn san hô. Ngoài ra, phát triển ao đìa nuôi tôm làm thu hẹp rừng ngập mặn...
Để bảo tồn ĐDSH, theo TS Nguyễn Văn Long (Viện Hải dương học Nha Trang), cần xây dựng cơ sở khoa học cho việc quản lý hiệu quả tài nguyên ĐDSH; thiết lập, phân vùng chức năng và xây dựng phương án quản lý phù hợp; thiết lập mạng lưới các khu bảo tồn quy mô nhỏ và đa dạng hóa phương thức quản lý.
Bên cạnh đó, phục hồi hệ sinh thái và tạo điểm đến mới cho khách du lịch; nâng cao nhận thức và trách nhiệm các bên liên quan về bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên; giám sát và đánh giá hiệu quả tài nguyên thiên nhiên... (Báo Khánh Hòa 6/8) đầu trang(
Những năm qua, Ban quản lý (BQL) Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa (Quảng Trị) đã tập trung thực hiện tốt 5 chương trình trọng tâm gồm: quản lý, bảo vệ rừng; nghiên cứu khoa học; truyền thông và dịch vụ môi trường; phục hồi sinh thái rừng và phát triển kinh tế vùng đệm.
Để tiến hành các đợt kiểm tra, giám sát rừng có hiệu quả, từ năm 2010 đến nay, BQL Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa đã thành lập 11 tổ bảo vệ rừng tại các xã Hướng Sơn, Hướng Linh, Hướng Lập.
Bên cạnh đó, đơn vị tăng cường công tác phối hợp với các lực lượng liên quan bắt giữ trên 30 mét khối gỗ khai thác trái phép, tháo dỡ 1.704 dây bẫy động vật hoang dã, phá hủy tại rừng 15 lán trại; tịch thu 4 máy cưa xăng, 2 khẩu súng săn tự chế; trục xuất ra khỏi khu vực 16 đối tượng khai thác lâm sản trái phép...
Đặc biệt, đã ngăn chặn được tình trạng khai thác vàng sa khoáng trái phép trên tuyến sông Sê Păng Hiêng; giảm thiểu tình trạng xâm hại tài nguyên rừng. (Báo Quảng Trị 7/8) đầu trang(
Nhiều vạt rừng thông tại Đắk Nông đang bị xâm hại để lấn chiếm đất mặt tiền và mở rộng diện tích đất nông nghiệp. Tình trạng này đã kéo dài nhiều năm nay nhưng ngành chức năng vẫn chưa có biện pháp hiệu quả để ngăn chặn. (Đài Truyền Hình TP.HCM 6/8) đầu trang(
Sau khi phản ánh tình trạng phá rừng phòng hộ làm trang trại ở xã Hương Thọ (huyện Vũ Quang, Hà Tĩnh), cơ quan chức năng đã vào cuộc xác minh, lập biên bản và ra quyết định xử phạt 7 trường hợp với 28 triệu đồng, yêu cầu chủ các công trình tự tháo dỡ. Các quyết định trên đã được tống đạt đến các hộ dân nhưng công trình vi phạm vẫn hiện hữu…
Tháng 12/2014, Báo Đời sống & Tiêu dùng có loạt bài phản ánh việc hàng chục hecta rừng phòng hộ vùng đệm Vườn Quốc gia Vũ Quang thuộc địa phận xã Sơn Thọ (huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh) chưa được chuyển đổi mục đích sử dụng, chưa bàn giao đất nhưng trong một thời gian dài đã bị chặt phá, xây dựng trang trại, chính quyền địa phương chậm xử lý.
Đến ngày 15/12/2014, UBND huyện Vũ Quang (Hà Tĩnh) đã có văn bản yêu cầu lực lượng kiểm lâm và UBND xã Sơn Thọ vào cuộc kiểm tra việc sẻ phát, bao chiếm rừng trái pháp luật tại tiểu khu 69 và 71 thuộc quản lý của UBND xã Sơn Thọ.
Tuy nhiên, phải đến ngày 7/5/2015, UBND xã Sơn Thọ mới ra quyết định xử phạt đối với 7 trường hợp của xã này vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai với số tiền 28 triệu đồng.
Ngoài hình thức xử phạt bằng tiền mặt, UBND xã Hương Thọ cũng yêu cầu các hộ vi phạm phải tháo dỡ, di dời các công trình, cây cối trên đất vi phạm, trả lại đất nguyên trạng ban đầu cho UBND xã Sơn Thọ. Người vi phạm phải chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận quyết định.
Quyết định của cơ quan chức năng đã rõ, trên thực tế phóng viên ghi nhận, đa số các hộ vi phạm không thực hiện việc tháo dỡ, di dời các công trình, cây cối trên đất vi phạm, trả lại đất nguyên trạng ban đầu cho UBND xã Sơn Thọ theo yêu cầu.
Ngoài ra, theo quyết định xử phạt thì ông Phạm Hữu Hào (thôn 6 xã Sơn Thọ) vi phạm diện tích 0,45ha; ông Nguyễn Quảng Quyền (thôn 6, xã Sơn Thọ) vi phạm diện tích 1,4ha; cả 2 đều cùng tại khoảnh 10 tiểu khu 69 bản đồ hiện trạng đất năm 2010.
Ngược lại với quyết định này, ngày 19/12/2014, ông Phạm Quốc Thanh – Phó Chủ tịch UBND huyện Vũ Quang thông tin: “Một số hộ dân tự phát đã vào xâm chiếm, chặt phá rừng. Khi tiến hành kiểm tra, đoàn đã phát hiện hơn 16 ha rừng bị chặt phá, đốt ở 8 vị trí khác nhau trong tiểu khu 79 và 61. Trong đó có hộ ông Nguyễn Quảng Quyền chiếm 4ha và ông Phạm Hữu Hào chiếm 7ha là những hộ có diện tích sẻ phát lớn nhất”.
Ông còn khẳng định “dù diện tích sẻ phát lớn nhưng những hộ dân này chưa hề có giấy tờ gì, cũng như chưa được ai giao rừng. Hiện tại huyện đã lập đoàn kiểm tra, các hộ vi phạm sẽ giao cho xã Sơn Thọ giải tỏa”.
Thực tế trên làm dấy lên nghi vấn “có hay không UBND xã nương nhẹ, xử lý chưa thích đáng với những vi phạm đã diễn ra?”, câu trả lời xin nhường lại cho các cơ quan chức năng tỉnh Hà Tĩnh.
Chúng tôi tiếp tục thông tin về sự việc này. (Hà Tĩnh 24h 6/8) đầu trang(
Thời gian gần đây rừng phòng hộ Phú Ninh (Quảng Nam) liên tục bị nhiều người đốn hạ gỗ, đào đãi vàng trái phép ngay trong khu vực lòng hồ Phú Ninh.
Theo một nhân viên của Công ty du lịch hồ Phú Ninh, tình trạng đào đãi vàng sa khoáng trái phép tại rừng Lăng Ông Nghè xảy ra hơn nửa tháng nay. Các đối tượng thường làm vào ban đêm nên bảo vệ khu du lịch này không phát hiện được.
Ông Nguyễn Xuân Phước, giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Phú Ninh, cho biết ban cùng với lực lượng kiểm lâm, Công an huyện Phú Ninh tổ chức truy quét khu vực này và phát hiện có việc khai thác vàng sa khoáng trái phép.
Tuy nhiên, khi đoàn đến nơi thì những người khai thác vàng đã tẩu tán. Còn tình trạng chặt hạ gỗ rừng phòng hộ diễn ra nhiều năm nay với diện tích bị chặt phá lấy gỗ tương đối nhiều. Ba tháng đầu năm 2015, ban đã phát hiện 11 vụ xâm hại rừng với diện tích khoảng 6ha.
Ông Phan Tuấn - chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam - cho hay chi cục đã chỉ đạo thành lập lực lượng kiểm tra, truy quét khu vực rừng phòng hộ Phú Ninh sau khi nhận tin báo, đến nay lực lượng kiểm lâm vẫn còn túc trực tại khu vực này.
Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Đinh Văn Thu đã có công văn yêu cầu các địa phương, sở ngành liên quan triển khai lực lượng kiểm tra, truy quét, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm, không để tiếp diễn tình trạng các đối tượng khai thác trái phép tại rừng phòng hộ Phú Ninh. (Tuổi Trẻ 7/8) đầu trang(
Mới 8 giờ sáng mà nắng như đổ lửa nhưng người dẫn đường vẫn không ngần ngại đưa chúng tôi đến hiện trường nơi rừng vừa bị đốt. Chúng tôi lội bộ hơn 7 cây số và vượt qua những dốc cao dựng đứng, nguy hiểm để vào hiện trường. “Khu này, trước đây là rừng đấy. Giờ họ đốn trắng và đốt sạch để trồng keo lá tràm”, anh T. - người dẫn đường đưa chúng tôi vào rừng keo lá tràm 5 năm tuổi nói.
Còn cánh rừng Đồng Bỏ trước đây nay được thế chỗ bằng cánh rừng keo lá tràm 1 năm tuổi của Ban quản lý dự án FLITCH H.Đồng Xuân (thuộc dự án phát triển lâm nghiệp để cải thiện đời sống vùng Tây nguyên, gọi tắt là FLITCH). Những gốc cây to cỡ một người ôm bị cháy xém nằm xen lẫn trong rừng keo.
Đây là cánh rừng nơi mà 2 cá thể nghi là bò tót (xuất hiện tại rẫy bắp của người dân ở thôn Đồng Hội, xã Xuân Quang 1, H.Đồng Xuân) ẩn nấp. “Người ta thuê người chặt hạ cây rừng, đốt rồi trồng keo lá tràm. Hàng ngàn ha keo mọc lên đồng nghĩa với hàng ngàn ha rừng đã bị khai tử khiến nhiều người xót lắm”, anh T., nói.
Nhìn thấy chúng tôi tỏ tiếc nuối vì rừng bị tàn phá, anh T., nói: “Nhằm nhò gì! Vào sâu thêm nữa mới thấy kinh khủng hơn vì rừng mới bị đốn hạ, đốt xong”. Mất hơn 1 giờ lội qua rừng keo, trước mắt chúng tôi là gần chục ha rừng bị cháy xém, lớp tro bụi vẫn còn nóng ấm. Gốc cây lớn, nhỏ bị cháy nằm lô nhô trên mặt đất trông tội nghiệp.
Vào sâu thêm, có một gốc cây to một người ôm không xuể đã bị hạ bằng cưa máy nhưng chưa kịp vận chuyển ra khỏi hiện trường. “Đây chỉ còn lại số ít. Cây lớn lấy gỗ được thì họ đã chuyển hết ra ngoài rồi. Họ chỉ đốt cành nhánh thôi. Những người dân ở đây thấy tiếc nên đưa xe tải vào nhặt, chở về bán kiếm ít tiền”, anh T. cho biết.
Qua tìm hiểu, ông Vũ Công Tâm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm H.Đồng Xuân cho biết, diện tích rừng vừa đốt là do một số người ở xã Xuân Lãnh (H.Đồng Xuân) đến phát dọn và hiện đã lập biên bản để xử lý.
Những cành nhánh mà người dân gom về tập kết để bán cho những chủ lò gạch, lò bánh mì, có đường kính hơn 15 cm. Với những cành nhánh này đủ thấy rừng này còn nhiều cây gỗ lớn. Trên đường vào rừng, chúng tôi đi ngang qua những bãi tập kết cành nhánh trên đường liên xã thuộc xóm Mới, thôn Phú Sơn, xã Xuân Quang 2. Bãi này có hơn 200 m 3 gỗ cầy, lim, sổ… mà người dân “tận thu” đưa về, tập kết trước khi bán.
Những người dân ở đây cho biết đó chỉ là phần rất nhỏ gỗ rừng đã lấy đi từ cánh rừng vừa bị triệt hạ. Mặc dù chỉ là cành nhánh nhưng đường kính từ 15 - 40 cm. “Người dân lượm từng bó củi cũng bị lực lượng chức năng bắt giữ, còn doanh nghiệp trồng rừng “vô tư” chặt phá cây lớn ở rừng thì không thấy ai can thiệp”, anh T. bức xúc.
Cũng theo anh T., 1 m 3 gỗ cành nhánh từ trong rừng vận chuyển ra bãi tập kết bán với giá 600.000 đồng. “Giá củi là vậy, còn giá gỗ thì cao gấp nhiều lần nữa. Những đơn vị được giao trồng rừng thay thế rừng nghèo này, họ sẽ tận thu gỗ với số tiền rất lớn”, T. nói.
Những cánh rừng bạt ngàn, đa dạng thực vật, động vật đã biến mất nhường lại cho những rừng cây keo chừng 1 năm tuổi mảnh khảnh, lộ mặt đầy cằn cỗi, khô khát. Những con suối trong rừng này, trước đây vào mùa khô vẫn có nước, là nguồn tiếp nước cho những người dân mưu sinh từ rừng. Nhưng bây giờ chúng đã khô rốc.
Ông Hồng, ở thôn Đồng Hội, xã Xuân Quang 1, lo lắng: “Còn rừng thì còn nước, mất rừng thì nguồn nước cạn, ruộng rẫy sẽ bỏ hoang”. Theo ông Hồng, người dân lo lắng nhất đó là khi rừng bị chặt, đốt hết cây rừng sẽ làm ảnh hưởng đến môi trường, môi sinh. “Người dân sống nhờ rừng, quý rừng như mạng sống.
Rừng còn thì làng còn, rừng tàn thì làng mạt”, ông Hồng nói. Người dân ở H.Đồng Xuân đã từng gánh chịu trận lũ lịch sử 2009, khi đó xóm Trường ở xã Xuân Quang 2 đã bị xóa sổ và hơn 11 người ở xóm chết trong trận lũ lụt này. “Tui sống ở đây từ nhỏ nhưng chưa từng thấy trận lũ nào lớn như năm 2009. Một phần là do mưa lớn, nhưng phải nói là do rừng bị “cạo sạch” nên nước mới đổ về nhanh đến như vậy”, ông Hồng chia sẻ và lo lắng: “Nếu những cánh rừng tự nhiên tiếp tục mất, nếu xảy ra lượng mưa lớn như năm 2009 thì chắc rằng người dân ở huyện Đồng Xuân sẽ tiếp tục hứng những trận lũ kinh hoàng hơn”.
Trước thực trạng rừng bị Phá rừng tự nhiên để trồng keo lá tràm khai tử chóng vánh, chúng tôi gặp một cán bộ Hạt Kiểm lâm H.Đồng Xuân (người này xin giấu tên) để tìm hiểu vì sao không ngăn chặn. Vị cán bộ kiểm lâm này cho biết việc quy hoạch lại rừng là do Sở NNPTNT tỉnh Phú Yên.
“Họ đo đạc, đánh giá lại trữ lượng và mật độ cây gỗ. Những rừng nào không có giá trị kinh tế, không còn cây quý hiếm, cây nhỏ, cây bụi chủ yếu thì họ đưa vào “rừng nghèo” và chuyển sang đất lâm nghiệp”, vị cán bộ kiểm lâm nói. Nhưng vị kiểm lâm cũng thừa nhận, tuy là rừng nghèo nhưng khoanh nuôi, bảo vệ nghiêm ngặt thì chừng 10 - 20 năm sau rừng sẽ tái sinh, phục hồi.
Cán bộ kiểm lâm này khẳng định: “Về môi sinh, môi trường, rừng tự nhiên đảm bảo hơn vì chúng không dễ bị cháy, hệ động thực vật đa dạng hơn. Hơn nữa, rừng tự nhiên sẽ giúp điều tiết nước khi có mưa lớn. Trong khi rừng keo lá tràm rất dễ cháy và khi chúng chừng 5 - 6 tuổi thì người ta đã khai thác, lại tiếp tục đốt thực bì làm ảnh hưởng đến môi trường; nếu mưa lớn thì rất dễ bị xói mòn, sạt lở. Đó là những nhược điểm của rừng trồng”.
Cán bộ kiểm lâm này cũng đề nghị nên giữ lại những cánh rừng nghèo còn sót lại và bảo vệ để chúng phục hồi, qua đó bảo vệ môi sinh, môi trường ở vùng miền núi này. (Thanh Niên 7/8) đầu trang(
Thiên nhiên chu đáo đến mức tạo ra bạt ngàn rừng nhưng không quên xen vào những trảng cỏ như là nơi "thư giãn" của muôn loài, ở Tây Nguyên, ở Đông Nam Bộ hay suốt dãy Trường Sơn đều thế.
Sử chở tôi trên chiếc Honda PCX 125 mới mua vài hôm, như cách nói của Sử là tiện thể chạy roda. Tôi thì quá áy náy, vì chiếc xe có giá đến 50 triệu đồng mà chạy roda băng qua những đường lô cao su trơn trượt, nhão nhoét thì khác nào "phá xe". Nhưng Sử an ủi tôi, không sao, một đời ta nhiều đời hắn. Cùng lắm là xe giảm độ bền, cũng là cơ hội để mua xe khác.
Tôi biết Sử không nói chơi, vì hai ngày qua, tình cờ được sống với bà con vùng Nam Tây Nguyên này, thấy kinh tế nhà nào cũng khá giả, thu nhập một năm năm bảy trăm triệu đồng là bình thường. Vợ chồng Sử có trên chục hecta cà phê, điều, cũng chỉ là mức trung bình của dân ở đây.
Vừa tìm cách băng qua một đường lô bùn ngập vành xe, Sử vừa nói: "Chút nữa có xe tải chở mủ cao su lui tới thì chiếc PCX 125 này không chạy được. Đất đỏ gặp mưa vừa trơn vừa bám dính. Dân tụi em đi rẫy đều dùng xe Honda 50, 67 cũ mèm, đôn dên, xoáy nòng, chỉnh gió, chỉnh lửa, lột trần chỉ còn khung và máy rồi quấn xích, kích chặt cả hai vành mới trị được loại đất này. Mười tám năm nay em không đến Bù Lạch và rừng già từ lúc ấy dần thành rừng cao su nên có thể lạc đường...".
Hơn 10km băng qua rừng cao su, lâu lâu xen kẽ những vạt rừng tự nhiên còn sót lại (hay chưa bị "làm trắng" vì chính quyền đang kiểm soát chặt), quẹo phải, rẽ trái không biết mấy lần, trước mắt là trảng cỏ nối tiếp trảng cỏ - đích đến của chúng tôi. Quả là Sử "định hướng" rất giỏi nên không bị lạc như anh "cảnh báo"!
Thiên nhiên chu đáo đến mức tạo ra bạt ngàn rừng nhưng không quên xen vào những trảng cỏ như là nơi "thư giãn" của muôn loài, ở Tây Nguyên, ở Đông Nam Bộ hay suốt dãy Trường Sơn đều thế. Nhưng trảng cỏ Bù Lạch khác với rất nhiều trảng cỏ tôi đã từng biết trong chiến tranh là cỏ quá thấp, chỉ có cỏ kim đan xen cỏ chỉ mọc là là mặt đất và thi thoảng mới có vài bụi mua cằn cỗi cho những cánh hoa tím rịm.
Nghe nói đã có lúc lâm nghiệp trồng cây từ rừng bản địa ở trảng cỏ này, chăm sóc rất cẩn thận nhưng chúng không sống được. Có một khác biệt nữa, rất độc đáo, là Bù Lạch có đến 20 trảng cỏ tổng diện tích 500ha, có trảng rộng đến 10ha, tất cả phẳng phiu như sân bóng đá, nối nhau bằng những cánh rừng.
Rừng xanh và trảng cỏ hàng ngàn năm nay "đất ai nấy ở", không xâm lấn nhau mà nếu muốn cũng không thể xâm lấn! Các già làng nơi đây giải thích rằng, dưới các trảng cỏ có một vị thần canh giữ không cho rừng lấn sang để chúng mãi mãi là tấm thảm xanh của trời trải ra cho các tiên nữ xuống đùa vui vào những đêm trăng rồi khỏa mình dưới làn nước trong veo của hồ Bom Be, hưởng chút trần tục trần gian...
Bù Lạch (bù là buôn, Lạch là tên riêng, tức buôn Lạch - tiếng S'Tiêng) đã trở thành khu du lịch từ nhiều năm trước ở huyện Bù Đăng, cũng có đơn vị chủ quản, công ty tư nhân thực hiện nhưng chỉ thu hút được nam thanh nữ tú, những gia đình trẻ quanh Đồng Xoài, Bù Đăng, Bù Đốp trong những ngày lễ, Tết, lâu lâu có dân phượt từ Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Sài Gòn lên cắm trại.
Và như đã có từ bao đời, mỗi năm một lần, người S'Tiêng sống quanh những trảng cỏ này tổ chức lễ hội đâm trâu, lễ hội đâm cá ở hồ Bom Be vào tháng Ba. Thời gian còn lại là vắng lặng.
Không thể bỏ phí mãi một tài nguyên du lịch như Bù Lạch, tháng 6 vừa qua, tỉnh Bình Phước đã công bố dự án Khu phim trường kết hợp khu du lịch sinh thái Trảng cỏ Bù Lạch diện tích 405ha, gồm Khu A (268ha) dành cho phim trường và du lịch sinh thái rừng tự nhiên, du lịch dã ngoại, ăn uống, nghỉ dưỡng ven hồ Bom Be.
Khu B (59ha) là khu văn hóa làng nghề các dân tộc thiểu số trên địa bàn. Khu Thác Voi (12ha) kết hợp du lịch sinh thái, du lịch về nguồn, khám phá cuộc sống của đồng bào S'Tiêng, M'Nông và Châu Mạ.
Trở về, Sử chở tôi ngược con đường duy nhất từ ngã ba Minh Hưng rẽ vào Bù Lạch, bên phải quốc lộ 14 nối Bình Dương với Tây Nguyên, chừng 20km, chật hẹp, toàn ổ voi, uốn lượn dốc đèo giữa lớp lớp vườn cà phê và điều. Dù Dự án đã bắt đầu thực hiện tại Khu A nhưng tôi không mấy tin sẽ thu hút được khách du lịch nếu con đường này không được nâng cấp, mở rộng.
Đọc cái tựa đề phóng sự này có người sẽ nghĩ Tây Nguyên có những mùa "không xanh lá”. Thưa rằng, đúng vậy. Đó là tình trạng Tây Nguyên mấy chục năm trở lại đây. Khi rừng Tây Nguyên chưa bị "làm cỏ", "tháng Ba (đã là) mùa suối rừng sôi sục", "Tháng Ba sớm sớm mẹ ra rừng theo dấu chân rùa đi tìm nấm mối" (lời bài hát Tháng Ba Tây Nguyên, của Văn Thắng và Thân Như Thơ, sáng tác giữa những năm 1960).
"Suối rừng sôi" và "mẹ ra rừng tìm nấm mối" thì chỉ có trong mùa mưa và rừng thì không bao giờ thôi xanh. Bây giờ đến cuối tháng Sáu, có năm tháng Bảy, tháng Tám, Tây Nguyên vẫn nắng bụi, dân trồng cà phê, tiêu, điều,... đào giếng sâu hàng trăm mét chưa chắc tìm được nước tưới.
Trên 40.000km2 rừng không còn, theo dự báo của nhiều nhà khoa học, không lâu nữa Tây Nguyên sẽ biến thành sa mạc một phần do trái đất nóng lên, phần quan trọng là do không giữ được nước trong mùa mưa, mà cao nguyên này có độ cao trung bình 800m so với mực nước biển, lại nghiêng về phía Đông.
Nhà văn Nguyên Ngọc là người gắn bó máu thịt với Tây Nguyên suốt hai cuộc chiến tranh giữ nước, đã từng thốt lên: "Những giới hạn quan trọng đến mức sinh tử ở đây đã bị vượt qua: phá sạch rừng, đảo lộn dữ dội cơ cấu dân cư, hủy hoại tất cả các dòng sông lớn, hút cạn nước ngầm, phá vỡ các làng,... để cuối cùng phá nát văn hóa.
Ở nơi vốn là một vùng văn hóa vào loại độc đáo và đặc sắc nhất nước, nay chỉ còn văn hóa Tây Nguyên dỏm. Hầu như không còn có thể quay trở lại, và đang thật sự không có đường ra. Nhiều lần tôi tự hỏi: Vì sao? Có ai đến Tây Nguyên để học? Học sự hiền minh bất tận của rừng, và của những dân tộc từng biết cách sống với rừng, nghĩa là với tự nhiên, hàng nhiều ngàn năm nay. Một bài học có thể cho cả nhân loại và nền văn minh đang lúng túng ngày nay". (Nguyên Ngọc và Thomas J. Vallely: "Giáo dục - Giá trị vĩnh cửu của hoà bình". Minh Nguyễn phỏng vấn).
Đọc Nguyên Ngọc, tôi lại nghĩ đến các tổ chức kinh tế quốc doanh, cụ thể là những liên hiệp nông lâm trường bao chiếm gần hết đất đai Tây Nguyên. Như ở Đắk Lắk, đến năm 1985, ba xí nghiệp liên hiệp nông lâm quản lý 90% đất đai toàn tỉnh. Ở Gia Lai và Kon Tum con số đó là 60%.
Tính chung, đến năm 1985, quốc doanh đã quản lý 70% diện tích toàn Tây Nguyên. Sau năm 1993, dù có sự chuyển đổi cơ chế quản lý, nhưng con số này cũng chỉ giảm được 26%. Chính các tổ chức quốc doanh này chủ yếu "làm sạch" rừng Tây Nguyên, phá vỡ toàn bộ quy hoạch đất đai của một địa bàn chiến lược quan trọng nhất nước.
Và tôi không thể không nghĩ đến Sử và đại gia đình của anh. Vốn là dân di cư theo kế hoạch, từ Hải Dương, mấy mẹ con anh định cư ở Nam Tây Nguyên cách nay 22 năm, lúc anh mới qua tuổi thiếu niên. Từ "bến đỗ” của mấy mẹ con anh, bà con xa gần cùng tìm đến, tạo nên một quần thể dân cư mới giữa rừng để phá rừng làm rẫy và nhờ đất đỏ bazan mà làm giàu khá nhanh.
Một thôn, rồi một xã được lập nên, nghe cái tên đã là rất mới: Tân Sơn, nhưng chỉ có vườn cà phê, điều, tiêu, cao su là mới, còn rừng thì biến mất.
Lúc gia đình Sử mới đến (1993), dân Tây Nguyên (số tròn) đã tăng lên 2.380.000 người (từ 1.220.000 người năm 1976, chủ yếu là người dân tộc thiểu số bản địa) với 35 dân tộc (năm 1976 là 18 dân tộc), bây giờ Tây Nguyên đã có trên 5,5 triệu người với gần đủ mặt các dân tộc của Việt Nam, mà đa số là người Kinh, người bản địa như Êđê, Bahnar, Jarai, M'Nông, S'Tiêng... đang trở thành thiểu số trên chính quê hương của họ.
Sử tâm sự: "Tụi em phá rừng là dựa theo các lâm trường, nông trường quốc doanh. Cả trăm mẫu rẫy của thân tộc em ở Tân Sơn một phần là mua lại của nông trường khi người ta làm ăn thất bại, gần như giải thể, chỉ còn bộ khung mấy ông cán bộ giàu sụ nhờ bán gỗ khai thác lậu, và mua lại của người HMông, người Tày, Nùng di dân tự do. Em cũng không biết tại sao huyện Bù Đăng còn lại gần ngàn hecta rừng, nhiều nhất là ở Bù Lạch. Nhưng mà mỗi nơi mỗi khoảnh, không biết rồi đây có giữ được không, vì chỉ cần sơ sẩy chút xíu là trong một vài ngày, rừng sẽ thành rẫy!".
Năm nay, tháng Bảy Tây Nguyên mới mưa nặng hạt, mới tạo nên mùa xanh lá. Suối thì càng sôi sục bào mòn đất đỏ bazan đổ ra biển, nhưng không bao giờ còn cảnh "sớm sớm mẹ ra rừng theo dấu chân rùa đi tìm nấm mối". Bởi đúng như sự thảng thốt của nhà văn rất đáng kính Nguyên Ngọc: Tây Nguyên bị phá sạch rừng, hủy hoại tất cả các dòng sông lớn, hút cạn nước ngầm... (Doanh Nhân Sài Gòn 7/8) đầu trang(
Ngày 6/8, Công an quận Hà Đông (Hà Nội) khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với Đinh Công Thành (ở huyện Phú Lương, Thái Nguyên) về hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm.
Qua công tác nắm tình hình, Đội Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an quận Hà Đông phát hiện một đối tượng chuyên nuôi nhốt, mua bán rùa quý hiếm tại phòng trọ trên địa bàn phường La Khê (Hà Đông). Tối 24/7, Công an quận Hà Đông bất ngờ kiểm tra hành chính nhà trọ này và phát hiện 44 cá thể rùa không rõ nguồn gốc.
Chủ nhân các cá thể rùa này được xác định là Đinh Công Thành. Bước đầu, thanh niên 28 tuổi khai đã thu mua và bán rùa qua mạng Internet từ nhiều tháng nay
Qua công tác giám định tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện Hàn lâm và Công nghệ Việt Nam) cho thấy, trong số 44 cá thể rùa thu giữ có 8 cá thể là rùa hộp trán vàng miền Bắc thuộc loại động vật hoang dã quý hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Điều 190 Bộ Luật hình sự quy định về tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm:
1. Người nào săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoang dã quý hiếm bị cấm theo quy định của Chính phủ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép sản phẩm của loại động vật đó thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm:
a) Có tổ chức
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn
c) Sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắt bị cấm d) Săn bắt trong khu vực bị cấm hoặc vào thời gian bị cấm
đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 20 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm. (Năng Lượng Mới 7/8; An Ninh Thủ Đô 6/8) đầu trang(
Lãnh đạo tỉnh Điện Biên cho biết theo số liệu điều tra chưa chính thức, tỉnh Điện Biên đã mất khoảng 22.000 ha rừng trong thời gian qua. Còn lực lượng kiểm lâm và người dân huyện Mường Nhé (Điện Biên) thừa nhận, họ đã kiệt sức và đơn độc trong cuộc chiến chống lại nạn phá rừng của những người dân di cư tự do.
Có mặt tại khe Chí Xé thuộc bản Phứ Ma, xã Lenh Su Sìn, huyện Mường Nhé, phóng viên bàng hoàng trước việc những triền núi dài ngút mắt trước kia là rừng, giờ chỉ còn là đám lúa nương thưa thớt mọc dưới đám cây rừng đã cháy trụi chỉ còn trơ thân. Có nơi cây bị chặt xuống rồi mới đốt, mặt đất vẫn còn những thân cây ngổn ngang cháy đen lẫn trong đám lúa. Có những triền núi, cả ngàn thân cây bị đốt cháy trụi cành vẫn còn đứng sừng sững.
Ông Sừng Go Lồng, Trưởng bản Phứ Ma cho biết: Bản có 49 hộ người dân tộc Hà Nhì sống lâu đời bên những cánh rừng này. Từ năm 2011, xuất hiện 36 hộ dân di cư tự do đến lập bản Cà Là Pá gần đó. Đến nay, số hộ di cư tự do ở bản này đã lên tới 350 hộ, họ phá hết rừng trong khu vực để làm nương. Từ 1.000 ha rừng mà bản Phứ Ma được giao quản lý, giờ chỉ còn 350 ha.
Trước đây họ còn chặt trộm, bây giờ họ công khai chặt phá giữa ban ngày. Khi dân bản cùng lực lượng kiểm lâm đến ngăn chặn, họ kéo 50 - 60 người đến áp đảo. Có cán bộ kiểm lâm còn bị dọa hành hung, riêng ông đã 3 lần họ đến tận nhà dọa đánh.
Ông Lò Văn Thành, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Mường Nhé chỉ tay ra phía những cánh rừng mới bị triệt hạ đầu năm nay nói: Chúng tôi đã kiệt sức rồi, cả huyện chỉ có 22 cán bộ kiểm lâm, tính ra mỗi kiểm lâm quản lý tới 5.000 ha, trong khi theo qui định chỉ 500 - 1.000 ha.
Những người di dân tự do đến đây phá rừng, trước họ dùng cưa máy phá rừng vào ban đêm, giờ thì ban ngày họ vào rừng phát thực bì dưới gốc, chờ khô rồi đốt cả cánh rừng vẫn còn xanh tốt. Lực lượng quá mỏng, lại không có sự hỗ trợ của chính quyền địa phương. Hạt Kiểm lâm có lập biên bản xử lý vài người thì họ kéo cả gần trăm người ra áp đảo...
Theo trích lục Biểu tổng hợp che phủ rừng năm 2010, Lenh Su Sìn có hơn 11.000 ha rừng tự nhiên, đến nay chỉ còn chưa đầy 8.000 ha, vậy trong 5 năm đã có trên 3.000 ha rừng bị mất. Nhưng theo báo cáo của chính quyền địa phương thì Lenh Su Sìn chỉ mất 285 ha rừng.
Không chỉ rừng ở tận bản Phứ Ma bị tàn phá, mà ngay tại cánh rừng ở khe Huổi Háng, Huổi Phi Nhặc trước mặt thị trấn huyện Mường Nhé đã có tới 147 ha bị triệt phá, chủ yếu từ năm 2014 đến nay.
Ông Ma Công Sít, người bản Phiêng Kham, xã Mường Nhé cho biết: Đây là diện tích rừng phòng hộ đã giao cho bản quản lý. Ban đầu chỉ một vài hộ dân di cư tự do vào rừng dựng lán, chúng tôi báo chính quyền xã nhưng không thấy giải quyết. Mấy hôm sau đó họ bắt đầu phá rừng làm nương, dân bản chúng tôi đến ngăn cản thì họ bỏ đi. Khi chúng tôi vừa đi khỏi, thì hàng chục người lại lao vào chặt phá. Nếu chính quyền kiên quyết đuổi họ ra khỏi rừng ngay từ đầu thì rừng đã không bị tàn phá như vậy...
Tìm hiểu về vấn đề này, sau một hồi né tránh, ông Thào A Dế, Phó Chủ tịch UBND huyện Mường Nhé khẳng định, diện tích rừng bị phá chủ yếu từ năm 2013 đến nay chỉ có 478 ha.
Tuy nhiên, Biểu đồ tổng hợp độ che phủ rừng năm 2010 cho thấy khi đó, huyện Mường Nhé có tới gần 88.000 ha có rừng, còn số liệu thống kê đến hết tháng 12/2014 thì tổng diện tích rừng tự nhiên và rừng sản xuất (cao su) của huyện này chỉ còn trên 72.000 ha. Như vậy trong 5 năm, địa phương này đã mất tới gần 16.000 ha rừng. Và đó mới chỉ là con số trên báo cáo.
Qua tìm hiểu của phóng viên từ người dân và chính chuyền địa phương, nguyên nhân chủ yếu của tình trạng phá rừng là do những người dân di cư tự do từ các tỉnh khác đến. Báo cáo số 172 ngày 15/7/2015 của UBND huyện Mường Nhé cho thấy: Năm 2012, khi mới chia tách và thành lập, huyện Mường Nhé có gần 33.000 nhân khẩu, nay đã tăng lên trên 38.000 người, đều là số người dân di dịch tự do từ các tỉnh khác đến.
Trong đó điển hình là bản Cà Là Pá, khi mới thành lập chỉ có khoảng 30 hộ dân, nay đã tăng lên tới 350 hộ với hơn 2.300 nhân khẩu. Vì không có đất sản xuất, cái đói đã buộc họ phải liều mình phá rừng để sinh tồn.
Ngày 31/1/2008, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án 141 “Sắp xếp, ổn định dân di cư tự do huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên giai đoạn 2008 - 2012”. Tiếp đó ngày 12/1/2012, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án sắp xếp, ổn định dân cư, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên đến năm 2015”, gọi tắt là Đề án 79.
Mục tiêu của đề án là bố trí sắp xếp, ổn định đời sống cho gần 11.000 hộ với 62.000 nhân khẩu. Thời gian thực hiện từ 2011- 2015 với tổng nguồn vốn thực hiện là 1.552 tỷ đồng. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, Đề án 79 mới chỉ thực hiện được khoảng 30% khối lượng công việc.
Rừng đã mất, Đề án 79 dù đã sắp hết thời hạn nhưng vẫn còn dang dở, vậy ai sẽ là người chịu trách nhiệm trước thực trạng trên? Được biết, năm 2014, đã có 7 lượt với 5 cán bộ kiểm lâm huyện Mường Nhé bị kỷ luật, trong đó có cả Hạt trưởng và Hạt phó vì những vi phạm trong công tác quản lý và bảo vệ rừng. Thế nhưng, không có cán bộ chính quyền, kể cả cán bộ cấp xã phải chịu trách nhiệm?
Về vấn đề này, ông Lò Văn Tiến, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên khẳng định: Việc xem xét phải có quy trình, quan điểm của tỉnh là trách nhiệm đến đâu, sai phạm đến đâu, xử lý đến đó. Việc này có thể kiểm điểm, nhắc nhở từ sinh hoạt đảng cho đến chính quyền, chứ chưa đến mức phải xem xét kỷ luật.
Về thực trạng mất rừng ở Điện Biên trong thời gian qua, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn cho biết: Giữ rừng được hay không, trước hết phải do chính quyền các cấp.
Điều này đã được Thủ tướng Chính phủ quy định rõ trong Quyết định 245/1998/QĐ-TTg về thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp và Quyết định 07/2012/QĐ-TTg Ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng. Nếu nơi nào để xảy ra phá rừng nghiêm trọng thì người đứng đầu phải chịu trách nhiệm. Chỉ khi nào các địa phương, trong đó có Điện Biên, thực hiện đúng tinh thần của Quyết định 07 thì nạn phá rừng mới được kiểm soát.
Đầu mùa mưa bão năm nay, Điện Biên là một trong những tỉnh chịu hậu quả lớn của thiên tai. Chỉ trong vòng 4 ngày từ 31/7- 1/8, thiệt hại do mưa lũ tại địa phương này đã lên tới gần 174 tỷ đồng. Mưa, lũ đổ về bởi thiếu những cánh rừng phòng hộ ngăn nước, là hệ quả tất yếu của nạn phá rừng. (Tin Tức 6/8) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm H.Sa Thầy (kon Tum) kết hợp với lực lượng kiểm lâm cơ động truy quét đã phát hiện 4 điểm giấu gỗ rừng với khối lượng gần 9m3 (nhóm 3-8) tại rừng sản xuất xã Ya Tăng và rừng phòng hộ lâm trường Sa Thầy. (Thanh Niên 6/8) đầu trang(
Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chỉ thị số 1685/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị số 03/CT-UBND của UBND tỉnh về tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ, Hạt Kiểm lâm huyện Ea Súp đã triển khai nhiều biện pháp tuần tra, kiểm soát, kiên quyết xử lý đối với những trường hợp lấn chiếm đất rừng trái phép.
Tại xã Cư Kbang, Hạt đã phối hợp với các ngành chức năng và chính quyền địa phương vận động người dân tự tháo dỡ 8 lán trại bằng gỗ dựng trái phép trên đất lâm nghiệp để trông coi dưa hấu với tổng diện tích 80 m2.
Tại xã Ea Rốk, đã kiểm tra, xử lý 44 lán trại dựng trái pháp luật trên đất lâm nghiệp tại các tiểu khu 172, 182, 192, 196 do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Rừng Xanh quản lý, với tổng diện tích 572 m2 (trong đó đã phá bỏ 35 lán trại, cam kết tự phá bỏ 9 lán trại); tịch thu 5 cưa xăng và 1 súng bắn bi hơi cồn tự chế bàn giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý. (Tin Tây Nguyên 5/8) đầu trang(
Từ giữa tháng 7.2015 đến nay, nhiều hộ dân ở làng Hà Văn Trên và làng Kà Te thuộc xã Canh Thuận, huyện Vân Canh đã triệt hạ nhiều cánh rừng thuộc lưu vực Suối Lớn. Ngày 4.8, PV Báo Bình Định đã đến tận nơi và chứng kiến nhiều diện tích rừng bị chặt phá.
Từ chân đập Suối Lớn, sau 30 phút lội rừng, chúng tôi đến tiểu khu 277A - điểm nóng về tình trạng rừng bị chặt phá trái phép. Tại đây, theo quan sát của PV, một khu vực rừng rộng đến hàng chục ngàn mét vuông bị triệt hạ thê thảm. Tất cả các loại cây rừng lớn, nhỏ đều ngã rạp, nằm chỏng chơ. Nhiều cây đại thụ có đường kính thân hơn 60 cm cũng bị đốn hạ bằng cưa máy, phần thân còn bám đất vẫn đang tứa nhựa.
Một người dân địa phương cho biết: Những cánh rừng nằm trong lưu vực Suối Lớn lâu nay có vai trò quan trọng trong việc giữ nguồn nước ngầm để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của người dân xã Canh Thuận và các vùng phụ cận. Nhưng, thời gian gần đây, khu rừng này bị nhiều người chặt hạ, khiến cho con nước đầu nguồn bị cạn kiệt, môi trường sinh thái bị hủy hoại. Vùng hạ nguồn nhất định sẽ lâm vào cảnh thiếu nước từ việc hủy hoại rừng này.
Trao đổi với chúng tôi, ông Lơ O Hòa, Bí thư kiêm Chủ tịch UBND xã Canh Thuận, cho biết: “Khu vực rừng ở lưu vực Suối Lớn bị một số đối tượng ở làng Hà Văn Trên và làng Kà Te chặt phá từ giữa tháng 7.2015. Xã đã phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Vân Canh cùng các cơ quan liên quan tiến hành xác minh, điều tra làm rõ các đối tượng có hành vi phá rừng để làm nương rẫy, kịp thời ngăn chặn không để phát sinh thêm. Đến nay, xã đã xác định được một số hộ phá rừng và đang xác lập hồ sơ để xử lý theo pháp luật”.
Liên quan về vấn đề này, ông Phạm Thanh Giảng, Hạt Trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Vân Canh, xác nhận: Qua kiểm tra, đo đạc, chúng tôi xác định có khoảng 12,8 ha rừng bị chặt phá trái phép với 9 hộ dân vi phạm (đều là đồng bào Bana ở làng Hà Văn Trên). Tất cả diện tích rừng bị phá thuộc diện quy hoạch chức năng rừng sản xuất trạng thái 1B, 1C. Sau khi xác định các đối tượng vi phạm, Hạt Kiểm lâm huyện đã củng cố, hoàn tất hồ sơ và chuyển cho UBND xã Canh Thuận xử lý theo quy định.
Ông Giảng cho biết thêm, sau khi hồ sơ đã chuyển về UBND xã Canh Thuận, nhiệm vụ của Hạt Kiểm lâm trong công tác xử lý các hộ dân vi phạm đã hoàn tất. Các khâu còn lại do UBND xã Canh Thuận chịu trách nhiệm vì đây là diện tích rừng do địa phương quản lý.
“Rừng sản xuất thuộc lưu vực Suối Lớn trong tương lai sẽ thuộc lòng hồ Suối Lớn (địa phương đã có phương án thiết kế trên 30 ha và chuẩn bị đầu tư với tổng mức dự toán 155 tỉ đồng) nên xã cương quyết xử lý dứt điểm tình trạng phá rừng trái phép trong tháng 8.2015. Tôi sẽ trực tiếp cùng anh em xuống tận địa bàn để làm việc. Đến thời điểm này, hộ dân vi phạm đã làm cam kết, bản tường thuật, chỉ còn bước đến thực địa để kiểm tra và xác định chính xác diện tích rừng bị thiệt hại để có phương án xử lý”, ông Lơ O Hòa cho biết.
Trước câu hỏi hướng xử lý sắp tới được thực hiện ra sao, ông Lơ O Hòa cho hay: “Địa phương nghiêm cấm người dân không chặt phá trái phép để trồng trọt; trường hợp đã trồng trọt thì phải bỏ luôn hoặc đốt bỏ. Sau đó, xã sẽ tiến hành xử phạt hành chính, kiểm điểm, nhắc nhở với các hộ phá rừng diện tích nhỏ; tiến hành xử lý hình sự đối với các trường hợp vi phạm nghiêm trọng”.
Tình trạng phá rừng ở lưu vực Suối Lớn là khá nghiêm trọng. Dư luận hy vọng chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng xử lý nghiêm minh, nhằm ngăn chặn nạn “chảy máu” rừng tại địa phương. (Báo Bình Định 6/8) đầu trang(
Báo Lao Động số 179, ra ngày 6/8 thông tin, hàng trăm cây thông 30 năm tuổi ở tiểu khu 499 (huyện Đắk Đoa) và 501 (xã Đắk Djrăng, huyện Mang Yang) bị khoét gốc (ken cây). Những dòng nhựa ứa chảy thành dòng theo từng vết ken ở gốc. "Máu" rừng thông liên tục đổ xuống bởi nhát dao phạt vào thân cây.
Từng khoảnh rừng đang từng ngày, từng giờ bị thu hẹp nếu không có biện pháp quản lí, bảo vệ hữu hiệu. (Lao Động 6/8) đầu trang(
Theo điều tra của PV Báo Lao Động, nhiều hecta đất rừng nằm dọc bên đường công vụ dẫn vào hầm đường bộ Hải Vân (thuộc P. Hòa Hiệp Bắc, Q. Liên Chiểu) đã bị nhiều cán bộ “giữ chỗ” từ nhiều năm nay. Đáng nói, sau khi được cấp đất, có người sử dụng không đúng mục đích hoặc “sang tay” nhưng vẫn không được phát hiện, xử lý.
Ông Đ (trú huyện Nông Sơn, Quảng Nam) - cho biết, qua mối quan hệ quen biết, ông được ông N.V.Kh (nguyên lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm Đà Nẵng, đã nghỉ hưu) đồng ý cho “ở nhờ” giữ đất, xây dựng trang trại nuôi heo rừng ngay đối diện một khu du lịch chừng vài chục mét. Ông Đ tiết lộ, cách đây nhiều năm, đất từ cầu Suối Lương dẫn lên hầm đường bộ Hải Vân (kề khu du lịch Thủy Vân Sơn) được chia lô cho cán bộ, trong đó đa phần là cán bộ liên quan đến việc giữ rừng.
Riêng lô đất ông Đ đang “nhờ” tạm của ông Kh rộng 35m ngang, dài hơn 100m, nằm song song với đường công vụ. “Tui nuôi heo ở đây được 6 năm rồi. Thấy họ giữ chỗ rồi để đó chứ không làm chi cả. Phía trên, phía dưới chỗ tui làm họ cũng chăn nuôi nhưng được vài năm, thấy không hiệu quả, họ bỏ hết trơn. Chỗ họ tự làm, chỗ họ cho người khác mượn đất làm. Ngoài chăn nuôi, có chỗ họ còn đào ao, nuôi cá nhưng rồi cũng dần bỏ vì không hiệu quả” - ông Đ nói.
Theo chỉ dẫn của ông Đ, PV lội lên trên và dưới trang trại nuôi heo của ông để kiểm tra và thấy có nhiều ngôi nhà cấp 4, chuồng trại được xây lên, sử dụng được một thời gian thì bỏ hoang. Ông Đ còn cho biết, phía dưới khu du lịch S.L, ông Ch (một cựu lãnh đạo TP. Đà Nẵng - PV) mua lại vườn mít rồi để đó, thuê người trông giữ chứ cũng không thấy làm gì.
Ông L - người dân phường Hòa Hiệp Bắc - cho hay, nhiều diện tích đất chạy dọc tuyến đường dẫn lên khu du lịch S.L được cán bộ “giữ chỗ”. Sau đó, họ để đó hoặc sang tay, nhượng lại cho người khác. “Đủ dạng sếp mới có đất kiểu như thế chứ dân thì khó mà có được. Dân chúng tôi bức xúc lắm nhưng nói có được à” - ông L nói.
Làm việc với PV, một lãnh đạo Hạt kiểm lâm Liên Chiểu nói rằng: “Đất đó người dân xây dựng tạm, tận dụng bán buôn, chăn nuôi thế thôi. Đất đó là đất khác, phường quản lý nên anh không rõ, có gì em hỏi phường”. Tuy nhiên, ông Trương Việt - Chủ tịch UBND phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu - khẳng định: Toàn bộ khu đất nói trên là đất Chi cục Kiểm lâm giao khoán, vẫn chưa bàn giao cho phường quản lý theo quy định. Khi PV hỏi: “Khu đất đó được giao cho ai?”, ông Việt nói: “Làm sao tôi biết! Kiểm lâm giao đất chứ tôi có giao đất đâu”. Ông Việt hỏi ngược: “Hồ sơ bàn giao đất ở đâu mà kiểm lâm dám nói đất đó là phường quản lý?”.
Để minh chứng, ông Việt đưa ra kế hoạch thực hiện công tác bàn giao rừng và đất lâm nghiệp vừa lập vào 29.7.2015. Theo kế hoạch này, từ ngày 30.7 - 4.8, các cơ quan gồm phòng Kinh tế, Tài nguyên Môi trường, Hạt kiểm lâm Liên Chiểu và phường Hòa Hiệp Bắc mới tổ chức kiểm tra và số hóa lên bản đồ trên cơ sở lưu trữ của Nghị định 01 và 135/NĐ-CP, hồ sơ có vốn ngân sách nhà nước. Đồng thời, lập cam kết hiện trạng sử dụng đối với các hộ dân. Cũng theo kế hoạch này, đến ngày 15.8, việc tổ chức bàn giao mới được tiến hành.
Thực tế là vậy nhưng ông Trần Văn Lương - Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP. Đà Nẵng vẫn “né” khi PV đề nghị gặp để trao đổi về thực trạng sử dụng đất dọc đường công vụ dẫn lên hầm đường bộ Hải Vân.
Ông Lương một mực khẳng định: “Đất đã bàn giao” (!?). Trong khi, nhiều người dân tại địa phương tha thiết được giao đất để phát triển kinh tế không được tạo điều kiện, thì nhiều cán bộ vẫn nghiễm nhiên “giữ chỗ”. Thực trạng này tại nhiều cuộc họp người dân bức xúc kêu than nhưng rồi đâu lại vào đấy! (Lao Động 6/8) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Sau gần 5 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường (DVMT) rừng theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ, tỉnh Lâm Đồng trở thành điển hình trong cả nước. Nếu so sánh trong mối tương quan thì Hà Tĩnh thuộc hàng... “em út”. Ngoại trừ những yếu tố khách quan thì vẫn còn nhiều tác động chủ quan khiến công tác thu DVMT rừng ở Hà Tĩnh chưa đạt kết quả như mong muốn.
Không thể phủ nhận tỉnh Lâm Đồng có những lợi thế đặc biệt. Địa phương này hiện có khoảng 532.000 ha rừng, trong đó, khu vực rừng nằm trong các lưu vực được chi trả là 514.800 ha. Năm 2011, Lâm Đồng có 272.000 ha nhận tiền DVMT rừng. Năm 2014 là 328.000 ha và năm 2015 là 363.850 ha, chiếm 70% diện tích rừng toàn tỉnh.
Hàng năm, ở Lâm Đồng có trên 16.000 hộ dân được nhận khoán bảo vệ rừng. Từ năm 2014 đến nay, toàn tỉnh Lâm Đồng có 50 đơn vị sử dụng DVMT rừng, ký kết hợp đồng ủy thác chi trả với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam và Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng. Trong đó, có 30 đơn vị sản xuất thủy điện, 9 đơn vị sản xuất nước sạch và 12 đơn vị kinh doanh du lịch.
Số tiền thu từ DVMT rừng hàng năm cũng tăng dần. Cụ thể là năm 2011: 58,4 tỷ đồng; năm 2012 là 105,5 tỷ đồng; năm 2013 là 127,1 tỷ đồng và năm 2014 xấp xỉ 170 tỷ đồng. Nguồn thu từ DVMT rừng tăng nên định mức khoán trực tiếp cho các hộ bảo vệ rừng theo đó cũng được nâng lên nhiều so với những năm trước đây và “chốt” ở mức 450.000 đồng/ha năm 2014.
Qua 4 năm thực hiện Nghị định 99, tổng kinh phí đã chi trả cho công tác bảo vệ rừng ở Lâm Đồng khoảng 440 tỷ đồng (400 tỷ đồng khoán bảo vệ rừng và 40 tỷ đồng chi phí quản lý của chủ rừng).
Đề cập đến vấn đề này tại Hà Tĩnh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Nguyễn Công Tố ngậm ngùi nói rằng, nguồn thu từ DVMT rất… “bèo bọt”. Đã vậy, có tiền rồi cũng không thể… chi được.
Từ năm 2011-2013, Hà Tĩnh bắt đầu truy thu số tiền hơn 6,6 tỷ đồng DVMT rừng ở 5 đơn vị gồm: Công ty Thủy điện Hương Sơn, Công ty Đầu tư & Phát triển Miền Bắc 1 - đơn vị chủ quản của Nhà máy Thủy điện Hố Hô, Công ty TNHH MTV Cấp nước & Xây dựng Hà Tĩnh, Công ty TNHH MTV Thủy lợi Bắc Hà Tĩnh - đơn vị chủ quản của Khu du lịch Cửa Thờ - Trại Tiểu (Mỹ Lộc - Can Lộc) và Công ty CP Thủy điện Kẻ Gỗ. Tuy nhiên, cho đến nay, số tiền này không thể giải ngân được.
Theo lý giải của Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ & Phát triển rừng Trần Chí Thanh thì: “Đến năm 2013, quỹ mới thành lập nên quá niên độ tài chính. Hay nói cách khác là ở thời điểm đó, các chủ rừng đã được cấp kinh phí hoạt động nên không thể chuyển tiền”. Toàn bộ số tiền này hiện đang chờ quyết định từ Thủ tướng Chính phủ.
Trong năm 2014, thu từ DVMT rừng ở 5 đơn vị trên lẽ ra phải đạt gần 2,5 tỷ đồng, tuy nhiên, chỉ có 4 đơn vị nộp đủ; còn lại 132.805.000 đồng (có cả tiền truy thu từ những năm trước), Công ty CP Thủy điện Kẻ Gỗ không chịu trả.
Mặc dù Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng và UBND tỉnh Hà Tĩnh đã nhiều lần phát văn bản yêu cầu thanh toán ngay nhưng công ty vẫn phớt lờ.
Khách quan mà xét thì số tiền thu DVMT rừng phụ thuộc nhiều vào công suất nhà máy thủy điện; các cơ sở cấp nước và du lịch chỉ đáp ứng phần nào nguồn thu từ DVMT rừng. Trong khi đó, công suất các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh quá nhỏ. Theo quy định của Nghị định 99 thì mỗi kW điện thương phẩm, nhà máy thủy điện phải đóng 20 đồng phí DVMT rừng và các nhà máy sản xuất nước phải trả 40 đồng/m3 nước thương phẩm.
Tuy nhiên, 2 nhà máy thủy điện: Hố Hô và Hương Sơn có công suất chỉ bằng 2/10 so với Nhà máy Thủy điện Đa Nhim - Lâm Đồng (công suất 160 MW và hàng năm phải trả 50 tỷ đồng cho DVMT rừng) nên nguồn thu ít là đương nhiên.
Đã vậy, mức giá DVMT rừng theo Nghị định 99 vẫn… “giẫm chân tại chỗ” trong khi giá nước, điện 4 năm qua đã được điều chỉnh nhiều lần nên không còn phù hợp. Đặc biệt, số tiền người dân được nhận từ DVMT rừng cho công tác nhận khoán bảo vệ rừng lại quá ít. Toàn tỉnh hiện chỉ có 272 hộ dân thuộc 3 xã huyện Hương Khê là Hương Lâm, Hương Liên, Hương Vĩnh được nhận tiền DVMT rừng với tổng số tiền xấp xỉ 20 triệu đồng, trung bình mỗi hộ nhận khoảng 70.000 đồng/ha/năm.
Từ đầu năm đến nay, tổng số tiền thu từ DVMT rừng đạt hơn 9,4 tỷ đồng, còn thiếu gần 240 triệu đồng. Đây được coi là tín hiệu vui vì tiền thu được tăng nhanh sẽ tạo điều kiện cho các chủ rừng và người nhận khoán làm tốt hơn công tác bảo vệ rừng.
Tuy nhiên, con số này chưa là gì, bởi theo ông Đặng Bá Thức - chuyên gia lâm nghiệp tỉnh nhà thì “Hà Tĩnh trong những năm tới đây phải thu ít nhất từ 50-70 tỷ đồng từ DVMT rừng. Bởi rồi đây, nguồn thu từ công trình thủy lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang và hồ chứa nước Rào Trổ ở Kỳ Anh là khá dồi dào. Tất nhiên, phải được Chính phủ cho phép thu từ sản xuất nước công nghiệp ở hồ Rào Trổ”.
“Hà Tĩnh cần phải khẩn trương hoàn thiện công tác giao đất, giao rừng, từ đó mới có thể tính toán chính xác các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ DVMT rừng để thu đúng, đủ. Thêm nữa, tỉnh phải kiên trì kiến nghị Chính phủ thu thêm tiền DVMT rừng ở hồ Kẻ Gỗ, Sông Rác vì Nhà nước miễn thủy lợi phí thì phải có số tiền lớn để hỗ trợ chủ rừng và người dân trong lưu vực bị ảnh hưởng” - ông Thức nói thêm.
Cùng đó, các ngành chức năng cần rà soát, xem xét kỹ lưỡng vì còn rất nhiều đơn vị hưởng lợi trực tiếp từ rừng nhưng lại đứng “ngoài hàng rào” trả tiền DVMT rừng, đồng thời, phải xử lý dứt điểm tình trạng chây ì nợ tiền DVMT rừng. Có như vậy, “cuộc chiến” bảo vệ rừng mới thực sự có hiệu quả bền vững. (Báo Hà Tĩnh 6/8) đầu trang(
UBND tỉnh vừa ban hành Văn bản số 3567/UBND-TH về việc chỉ đạo thực hiện những biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD rừng trồng sản xuất của các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Giám đốc các Công ty lâm nghiệp triển khai thực hiện những biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hoạt động SXKD rừng trồng sản xuất trong năm 2016. Cụ thể:
Về đinh mức kinh tế - kỹ thuật, các Công ty căn cứ theo Quyết định số 38/2005/QĐ-BNN ngày 06/7/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành định mức kinh tế kỹ thuật trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng và bảo vệ rừng và tình hình thực tế tại địa bàn để xây dựng dự toán thiết kế trồng và chăm sóc rừng trồng cho phù hợp.
Về triển khai thực hiện trồng rừng và chăm sóc rừng trồng,  các Công ty căn cứ kế hoạch về diện tích, địa điểm trồng và chăm sóc rừng trồng trong năm, đầu tháng 12 của năm trước có trách nhiệm lập hồ sơ thiết kế và gửi về Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét thẩm định làm căn cứ triển khai thực hiện. Do đặc thù ngành nghề trong sản xuất lâm nghiệp mang tính thời vụ nên việc tổ chức đấu thầu trồng và chăm sóc rừng trồng gặp khó khăn nên các Công ty triển khai nội dung này theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 của Quyết định số 73/2010/QĐ-TTg ngày 16/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý đầu tư xây dựng công trình lâm sinh.
Về định mức kinh tế - kỹ thuật trong khai thác rừng trồng, do hiện nay Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chưa ban hành định mức sửa đổi, bổ sung nên trong thời gian tới tiếp tục thực hiện theo quy định tại Quyết định số 20/2006/QĐ-BNN ngày 28/3/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành tạm thời định mức lao động thiết kế khai thác và thẩm định thiết kế khai thác rừng.
Về định mức kinh tế kỹ thuật, các Công ty căn cứ theo Quyết định số 20/2006/QĐ-BNN ngày 28/3/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và điều kiện cụ thể tại từng địa điểm khai thác của đơn vị để tiến hành xây dựng hồ sơ thiết kế khai thác rừng trồng.
Về việc triển khai thực hiện khai thác rừng trồng, các Công ty căn cứ diện tích, địa điểm rừng trồng khai thác của năm kế hoạch có trách nhiệm lập hồ sơ thiết kế khai thác rừng trồng gửi Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để xem xét thẩm định làm cơ sở Quyết định phê duyệt khai thác rừng trồng. Việc triển khai khai thác rừng trồng các Công ty nên thông qua hình thức đấu thầu để góp phần làm giảm chi phí mang lại hiệu quả SXKD.
Về tổ chức tiêu thụ gỗ rừng trồng, yêu cầu các Công ty tổ chức bán đấu giá công khai để nâng cao hiệu quả. Ngoại trừ trường hợp các Công ty có nhà máy chế biến gỗ thì ưu tiên để cung cấp nguyên liệu gỗ cho nhà máy theo giá thị trường tại thời điểm. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bình Định 5/8) đầu trang(
Lãnh đạo UBND thành phố Đà Nẵng vừa yêu cầu huyện Hòa Vang báo cáo, làm rõ việc nhiều héc-ta rừng ở khu vực Ngầm Đôi (xã Hòa Phú, Hòa Vang) bị “hô biến” thành khu du lịch.
Vụ biệt thự trái phép trên núi Hải Vân mới xảy ra, giờ lại đến chỗ này, tạo ra hiện trạng du lịch đã rồi. Đây tiếp tục là một bài học về kinh nghiệm quản lý đất đai”, ông Huỳnh Đức Thơ, Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, nói.
Vướng mắc tại Khu du lịch (KDL) Ngầm Đôi chiếm thời gian lớn để lãnh đạo thành phố cho ý kiến giải quyết trong cuộc họp rà soát một số đồ án quy hoạch kiến trúc trên địa bàn thành phố Đà Nẵng vào sáng 4/8. Theo đó, việc huyện Hòa Vang cho phép KDL Ngầm Đôi hoạt động từ năm 2010 đến nay là trái quy định, trái luật.
Năm 2014, sau khi có ý kiến của UBND thành phố giao Sở Xây dựng kiểm tra, rà soát, sự việc mới vỡ lở. Theo đó, qua phối hợp với chủ đầu tư là bà Lê Đình Thủy Châu, Sở Xây dựng được cung cấp một số công văn của lãnh đạo thành phố cũng như UBND huyện Hòa Vang về việc đồng ý về chủ trương chọn địa điểm xây KDL Ngầm Đôi.
Cụ thể, quyết định (số 1085/QĐ-UBND ngày 27/1/2003) của UBND huyện Hòa Vang về việc thu hồi đất, giao đất để trồng cây lâm nghiệp cho ông Mạc Như Giác (là chồng bà Lê Đình Thủy Châu), bà Nguyễn Thị Mai và bà Trương Thị Lâm, diện tích 155.208m2. Công văn (số 4372/UBND-QLĐT ngày 06/8/2005) của UBND thành phố về việc chọn địa điểm xây dựng KDL sinh thái Ngầm Đôi cho Cty CP khoáng sản Hòa Phú với diện tích 20ha.
Đặc biệt là quyết định (số 4285/QĐ-UBND ngày 24/5/2010) của UBND huyện Hòa Vang về việc thu hồi đất, cho thuê đất để xây dựng KDL sinh thái cho bà Lê Đình Thủy Châu với diện tích 18.403,6m2.
Theo hồ sơ đề nghị phê duyệt quy hoạch của bà Châu gửi UBND huyện Hòa Vang, thì địa hình hiện trạng có thể hiện khu vực đang tổ chức hoạt động kinh doanh du lịch khoảng 5 ha và phần mở rộng mới ra suối nước khoảng 2,6 ha.
Tháng 1/2015, báo cáo của UBND huyện Hòa Vang cho thấy, quy hoạch 7,6446 ha KDL sinh thái Ngầm Đôi nêu trên có hiện trạng bao gồm: 18.403,6m2 đất du lịch của bà Lê Đình Thủy Châu và phần còn lại là đất lâm nghiệp do ông Mạc Như Giác, bà Nguyễn Thị Mai và bà Trương Thị Lâm quản lý, sử dụng.
Như vậy, phần lớn KDL đang là đất rừng. Ông Nguyễn Điểu, GĐ Sở TN&MT, khẳng định: “UBND huyện Hòa Vang ban hành quyết định thu hồi, cho thuê đất để xây dựng KDL sinh thái cho bà Lê Đình Thủy Châu khi chưa được phê duyệt quy hoạch là chưa phù hợp.
Đồng thời, trong quá trình hoạt động, chủ đầu tư tự ý mở rộng diện tích KDL sang phần diện tích đất rừng của các hộ lân cận là vi phạm quy định về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất. “Tất nhiên việc cấp đất của huyện là không đúng. Quy hoạch của thành phố đâu có chỗ cho du lịch ở Ngầm Đôi, đó là đất rừng”, ông Điểu nói.
Ông Đặng Thương, Phó Chủ tịch UBND huyện Hòa Vang, cho rằng, câu chuyện KDL Ngầm Đôi đã hơn 10 năm nay rồi, lãnh đạo huyện thời đó cấp phép cũng đã mất. Trên thực tế thì bây giờ Ngầm Đôi cũng đã hình thành KDL bài bản, vì vậy đề nghị thành phố nghiên cứu giải quyết.
“Quyết định giao đất là trái quy định, các thủ tục về mặt pháp lý của chủ đầu tư cũng chưa đảm bảo, đề nghị lãnh đạo thành phố hướng dẫn về mặt thủ tục để doanh nghiệp (DN) tiếp tục hoạt động”, ông Thương nói.
Chủ tịch UBND thành phố Huỳnh Đức Thơ yêu cầu rà soát, kiểm tra và xử lý nghiêm các cán bộ tham mưu của huyện Hòa Vang đã tham mưu để giúp lãnh đạo ra quyết định cấp đất rừng cho DN kinh doanh du lịch khi chưa có sự đồng ý của UBND thành phố.
Ông Thơ cho rằng, việc xây dựng biệt thự trái phép trên núi Hải Vân bị xử như thế nào thì vụ việc này cũng phải xử nghiêm minh. Được biết, chủ tịch UBND huyện Hòa Vang trước đây là ông Huỳnh Minh Nhơn (đã mất) là người ra quyết định. “Anh Nhơn mất rồi, nhưng ai tham mưu cho anh ấy, phải xử nghiêm”, ông Thơ khẳng định.
Mặc dù vậy, theo đại diện Sở Xây dựng, xét thấy việc phát triển KDL Ngầm Đôi với diện tích khoảng 7,6ha tại thôn Phú Túc, xã Hòa Phú là phù hợp với định hướng quy hoạch của thành phố, phù hợp với quy hoạch chung được Thủ tướng phê duyệt.
Vì thế, Sở đề nghị giao Sở TN&MT đề xuất hướng xử lý việc chủ đầu tư sai mục đích từ trước đến nay, đồng thời hướng dẫn bà Lê Đình Thủy Châu và các hộ đang sử dụng đất rừng thống nhất đại diện làm chủ đầu tư phù hợp Luật Đất đai, tránh khiếu kiện về sau trước khi lập thủ tục trình duyệt quy hoạch.
Tuy nhiên, ônh Huỳnh Đức Thơ không đồng ý. “Phải xử lý việc cấp đất rừng trái quy định trước đã, sau đó mới tính đến việc sai mức độ nào để có hướng. Thành phố chưa bao giờ đồng ý cho lập KDL, sao lại có quyết định trồng rừng thay thế?”, ông Thơ nói.
Bí thư Thành ủy Trần Thọ đồng ý với phương án xử lý nghiêm của ông Thơ và cho rằng, cần lưu ý thêm nhiều trường hợp xây nhà ở khu vực này vì sắp tới, nhiều khả năng sẽ làm đường QL 14G từ Đà Nẵng lên tới Đông Giang (Quảng Nam) nên sẽ rất phức tạp với việc đền bù, giải tỏa sau này. (Tiền Phong 7/8; Đại Đoàn Kết 7/8) đầu trang(
Trong vài năm trở lại đây, nhờ chú trọng phát triển kinh tế rừng, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện miền núi Vĩnh Thạnh từng bước được cải thiện, nâng cao. Nhiều hộ gia đình đã thoát nghèo, vươn lên làm giàu.
Vĩnh Thạnh có hơn 47.850ha diện tích đất có rừng, tài nguyên rừng rất phong phú, nên bên cạnh việc phát triển sản xuất lúa nước để đảm bảo lương thực tại chỗ, huyện chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế rừng, đặc biệt là trồng cây keo lai trên diện tích đất gò đồi, bước đầu đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Trong 6 tháng đầu năm 2015, giá trị sản xuất lâm nghiệp của huyện đạt gần 38 tỉ đồng, tăng 12,3% so với cùng kỳ và đạt 58,9% kế hoạch cả năm.
Bên cạnh đó, đến nay huyện Vĩnh Thạnh đã giao khoán bảo vệ và quản lý hơn 26.000 ha rừng cho bà con các xã Vĩnh Sơn, Vĩnh Kim, Vĩnh Thuận... với mức hỗ trợ 300 ngàn đồng/ha/năm. Ngoài ra, người dân còn có thể thu hoạch nhiều lâm sản phụ, góp phần tăng thu nhập.
“Hiện tại, chúng tôi đang chuẩn bị những điều kiện cần thiết để triển khai trồng rừng chuyển đổi cây điều kém hiệu quả khoảng 300ha, trồng rừng sau khai thác 110 ha, trồng rừng theo dự án JICA2 100 ha tại các địa phương trong huyện”, ông Nguyễn Hữu Xuân, Trưởng phòng NN&PTNT huyện Vĩnh Thạnh, cho biết.
Cùng với xã Vĩnh Hảo và Vĩnh Hiệp, trong vài năm trở lại đây, xã Vĩnh Hòa là một trong những địa phương có phong trào trồng rừng mạnh nhất của huyện Vĩnh Thạnh.
Sau khi tái định cư năm 2004, mỗi hộ được Nhà nước cấp 1 ha đất để trồng rừng và đều được người dân sử dụng hết công suất. Huyện và xã đã tuyên truyền, vận động các hộ dân, hỗ trợ cây giống, tổ chức cho cán bộ kỹ thuật đi tham quan học hỏi để về hướng dẫn dân, xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, mở các lớp tập huấn về kỹ thuật trồng rừng ngay thôn, làng, hướng dẫn bà con trồng xen canh các loại cây ngắn ngày, chăn nuôi thêm bò, heo để lấy ngắn nuôi dài, nên từ đó, phong trào trồng rừng tại xã Vĩnh Hòa đã phát triển mạnh. Ông Phạm Việt Thanh, Phó Chủ tịch UBND xã Vĩnh Hòa, phấn khởi cho biết: “Đến nay, Vĩnh Hòa đã có gần 1.600 ha rừng, trong đó có gần 530 ha rừng trồng, chủ yếu là cây keo lai, mang lại hiệu quả kinh tế cao”.
Thấy được hiệu quả rõ rệt từ trồng rừng nên ở đây gia đình nào cũng trồng ít nhất là 1 ha, hộ trồng nhiều thì từ 3 - 4 ha. Anh  Lê Văn Cù, 44 tuổi, ở thôn M9, xã Vĩnh Hòa, cho biết: “Trước đây, bà con sống dựa vào nghề nông, chủ yếu trồng bắp, lúa và chăn nuôi nhỏ lẻ nên đời sống gặp nhiều khó khăn. Những năm gần đây, lãnh đạo xã xác định và hướng dẫn bà con phát triển kinh tế đồi rừng, tập trung vào cây mũi nhọn là keo lai để cải thiện đời sống. Hiện nay, gia đình tôi có 2 ha đất trồng keo lai và bạch đàn, 1 ha trồng mì để lấy ngắn nuôi dài, bình quân mỗi năm thu trên 100 triệu đồng từ cây bạch đàn, keo lai, mì và chăn nuôi bò, năm sau có thể thu nhập tăng gấp đôi do gỗ nguyên liệu đang được giá. Bây giờ bà con ở đây đã có nguồn thu khá vững chắc, nhà nhiều thì trên trăm triệu, nhà ít cũng được vài ba chục triệu đồng mỗi năm từ trồng rừng”.
Việc phát triển kinh tế rừng cũng giúp giải quyết việc làm cho nhiều lao động nông nhàn ở địa phương, góp phần tăng thu nhập cho nông dân. Anh Lê Văn Diệp, 42 tuổi, ở thôn Định Quang, xã Vĩnh Quang, cho biết: “Nhóm của tôi gồm 12 người chuyên nhận khoán khai thác gỗ nguyên liệu cho bà con trong huyện, với tiền công từ 200 - 350 ngàn đồng/tấn gỗ. Mỗi ngày nhóm tôi khai thác được khoảng 8 - 9 tấn gỗ, chia đầu người ra thì được chừng 130 - 160 ngàn đồng/người/ngày, cũng có thêm chi phí để trang trải cho cuộc sống”.
Ông Lê Văn Đẩu, Phó Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Thạnh, đánh giá: “Phong trào trồng rừng phát triển ở Vĩnh Thạnh trong thời gian qua không chỉ làm tăng độ che phủ rừng mà thật sự góp phần tích cực trong phát triển kinh tế, giảm nghèo và tăng nhanh hộ khá, giàu ở địa phương”. (Báo Bình Định 6/8) đầu trang(
Với sự phát triển nhanh chóng của các khu công nghiệp, các khu nuôi thủy sản ven biển tại khu vực Đông nam bộ nói chung đã và đang gây ra sự suy giảm diện tích rừng ngập mặn đáng báo động, việc suy giảm diện tích sẽ gây ra các hậu quả rất lớn cho hôm nay và mai sau như sự xâm thực và xói mòn bờ biển, mất đi sự che chắn khi có thiên tai bão lũ, làm mất đi nơi trú ngụ và sinh sản của các loài thủy hải sản, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn lợi thủy sản...
Vì vậy rất cần có một chiến lược và quy hoạch kịp thời nhằm giữ lại các khu rừng ngập mặn còn lại, tái tạo và phát triển những vùng đã mất.
Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai và Cần giờ thành phố Hồ Chí Minh là các địa phương ven biển Đông Nam bộ, nơi sở hữu rất nhiều cửa sông với đa dạng các loại cây sú, vẹt, đước, mắm, bần... Thuộc hệ rừng ngập mặn (Rnm)...
Xét về góc độ bảo tồn và bảo vệ nguồn lợi thủy sản thì nơi đây chính là nơi trú ẩn, nơi sinh sản của các loài động vật thủy sản với sự phong phú và đa dạng các chủng loài động thực vật, mà ở đó mỗi loài sống phát triển vòng đời của mình đều ảnh hưởng đến sự phát triển của các giống loài khác trong thủy vực, từ đó tạo nên hệ sinh thái Rnm ven biển đa dạng và phong phú, góp phần tạo ra nguồn lợi giống thủy sản dồi dào cung cấp cho biển khơi....
Trong vòng đời của một số lớn các loài cá, tôm, cua... có một hoặc một số giai đoạn sống trong các vùng nước ở các vùng cửa sông, nơi có Rnm và có nguồn dinh dưỡng, nguồn thức ăn dồi dào, ví dụ điển hình như loài tôm thẻ, tôm sú có tập tính là đẻ ở các vùng biển xa bờ, sau khi trứng thụ tinh, ấu trùng chuyển vào vùng nước ven bờ nơi có Rnm để sinh trưởng và phát triển.n
Như vậy, vai trò của Rnm ở đây vừa là nơi bảo vệ, vừa là nơi nuôi dưỡng con non, đồng thời là nơi cung cấp thức ăn từ mùn bã hữu cơ, từ các chất lơ lửng trong nước, từ các loài động thực vật phù du là thức ăn cho các loài cá tôm khi còn nhỏ...
Chính vì vậy, hệ sinh thái Rnm được coi là hệ sinh thái có năng suất sinh học rất cao, đặc biệt là nguồn lợi thủy sản, đóng góp một cách đáng kể sản lượng thủy sản hàng năm. Ngoài ra, Rnmcó vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bờ biển, chống chọi lại sự tàn phá của thiên tai...
Tuy nhiên, trong các năm gần đây, vì nhiều lý do khác nhau, hệ thống Rnm liên tục bị giảm sút cả về diện tích lẫn chất lượng, và việc chúng ta phải hứng chịu sự trừng phạt của thiên nhiên là điều tất yếu, sự tác động của chúng sẽ là vô cùng khủng khiếp cho con người trong tương lai, nếu ngay từ bây giờ chúng ta không có các biện pháp hữu hiệu bảo vệ hệ thống Rnm ven biển, bảo vệ Rnm chính là bảo vệ chúng ta nhằm chống lại sự biến đổi khí hậu (BĐKH) đang diễn ra gay gắt không chỉ ở nước ta mà trên toàn thế giới.
Theo số liệu thống kê, thì chỉ trong thời gian khoảng 10 năm trở lại đây, các tỉnh Đông nam bộ đã phải hứng chịu nhiều cơn bão có cường độ mạnh, gây thiệt hại rất lớn về người và của,cũng theo đánh giá và cảnh báo của các chuyên gia, thì Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai và khu Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh là các khu vực được đánh giá là hết sức nhạy cảm với tác động của BĐKH, kịch bản mức nước biển dâng cao sẽ là một thảm họa với các địa phương.
Khi đó, một phần lớn dải đất thấp ven bờ, nơi tập trung nhiều cơ sở hạ tầng như du lịch,nuôi trồng thủy sản và chế biến thủy sảncó nguy cơ sẽ bị sóng phá hủy, ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành trên và cả nghề đánh bắt ven bờ... Ngoài ra, các công trình xây dựng, cầu cảng, đường giao thông và cư dân sinh sống ven bờ cũng sẽ chịu ảnh hưởng lớn từ tác động của biến đổi khí hậu.
Với vai trò cực kỳ quan trọng của Rnm không những có tác dụng lớn là bảo vệ bờ biển, hạn chế tác hại của thiên tai mà nguồn lợi trong hệ sinh thái cũng rất quan trọng, tác dụng của mùn bã thực vật ngập mặn trong chuỗi thức ăn, phân hủy mùn bã thành chất dinh dưỡng, đóng góp đáng kể trong việc cung cấp thức ăn, làm sạch môi trường, bảo vệ các đối tượng nuôi như tôm, cua, sò...
Tài nguyên thủy sản không chỉ được khai thác trực tiếp mà còn cả một vùng ven biển rộng lớn xung quanh. Tuy nhiên, nhận thức về tầm quan trọng của hệ sinh thái Rnm vẫn chưa đầy đủ, tình trạng suy giảm diện tích Rnm còn diễn ra ở nhiều nơi do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Vì vậy, việc quản lý bền vững Rnm tại các địa phương đang là một bài toán và là trách nhiệm nặng nề của các cấp chính quyền địa phương, của cơ quan chuyên ngành và đặc biệt là ý thức của cộng đồng dân cư ven biển trong việc bảo vệ gìn giữ, phát triển và bổ sung tái tạo hệ thống Rnm cho hôm nay và mai sau.
Để đạt được mục tiêu gìn giữ và phát triển Rnm, chính quyền địa phương các cấp cần nghiêm cấm tuyệt đối việc khai thác Rnm vì bất cứ mục đích gì, không vì bất cứ lý do gì để đánh đổi, chuyển đổi việc sử dụng Rnm cho các mục đích khác, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm...
Ngoài ra cũng cần có các cơ chế chính sách, hỗ trợ vốn cho cộng đồng để cộng đồng trồng mới, giao quyền quản lý và sử dụng cho cộng đồng khai thác lâu dài, nhằm bảo đảm cuộc sống cho các hộ dân sinh sống phụ thuộc chủ yếu vào hệ sinh thái Rnm như nuôi tôm, cua, nhuyễn thể, khai thác tôm, cá trong khu vực Rnm mình quản lý.
Chỉ có như thế mới mong bảo tồn, gìn giữ số Rnm còn lại, bổ sung phát triển số Rnm đã mất và để 20 năm sau, khu vực Đông Nam bộ nói riêng, các dải ven biển của Việt Nam nói chung sẽ lại có ngút ngàn các cánh Rnm ven biển bạt ngàn xanh ngát với hằng hà sa số các loài các loài thủy hải sản, các loài động thực vật và là nơi thiên đường của du khách thế giới khi đến đây. (Quỹ Tái Tạo Nguồn Lợi Thủy Sản 6/8) đầu trang(
Kết thúc tháng đầu tiên của quý III, thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, kim ngạch XK gỗ đã đạt 3,7 tỷ USD, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm 2014.
Diễn biến XK các mặt hàng nông lâm thủy sản 7 tháng đầu năm 2015 cho thấy sự đảo chiều về 2 nhóm mặt hàng. Việc sụt giảm mạnh nhóm mặt hàng chủ lực như gạo, cà phê, cao su… đối lập với sự trỗi dậy của nhóm mặt hàng “thứ yếu” như rau quả, hồ tiêu. Đặc biệt ấn tượng là đà tăng của XK gỗ với kim ngạch dự kiến cả năm đạt 7,2 tỷ USD.
Kết thúc tháng đầu tiên của quý III, thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, kim ngạch XK gỗ đã đạt 3,7 tỷ USD, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm 2014. Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc - 3 thị trường lớn nhất của Việt Nam, chiếm 66,3% tổng giá trị XK, tiếp tục thuận lợi. Trong đó, tăng mạnh nhất là Mỹ với 18,8%.
Phó Chủ tịch Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam, ông Nguyễn Tôn Quyền, đánh giá, ngành chế biến và XK gỗ đã có những bước tiến dài. Từ con số khiêm tốn 294 triệu USD kim ngạch XK gỗ và sản phẩm gỗ ở năm 2000, đến cuối năm 2014 là 6,2 tỷ USD; với tốc độ tăng bình quân 15%/năm, nhiều khả năng năm nay chạm ngưỡng 7,2 tỷ USD. Việt Nam trở thành nước XK đồ gỗ thứ 4 thế giới, chỉ sau Trung Quốc, Ý và Đức.
Có được kết quả trên, theo ông Quyền, là do Việt Nam được thế giới chú ý vì sản phẩm gỗ đảm bảo chất lượng và nhất là SX từ nguồn gỗ hợp pháp. Khoảng một năm trở lại đây, nhiều nhà NK đồ gỗ lớn trên thế giới đã đến Việt Nam đặt hàng thay vì Trung Quốc do giá nhân công nước này tăng cao so với Việt Nam. Nhờ đó góp phần thúc đẩy các DN mở rộng thị trường, nâng cao năng lực SX, đồng thời tạo thêm giá trị gia tăng từ nguồn gỗ trồng nguyên liệu trong nước, thay thế dần các loại gỗ NK.
Ngoài ra, việc nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương, trong đó có Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – châu Âu (EVFTA), đã và đang chuẩn bị được ký kết, tạo cơ hội mở rộng thị trường, cùng với nhu cầu về các sản phẩm gỗ trên thế giới tăng cao đã giúp tình hình XK của các DN Việt Nam được cải thiện đáng kể.
Thực tế cho thấy, trong 7 tháng qua, ngoài thị trường Mỹ, Nhật Bản…, nhu cầu ở các thị trường NK truyền thống như Hàn Quốc, Liên minh châu Âu (EU)… cũng tăng cao. Tính đến thời điểm này, nhiều DN đã ký được hợp đồng và có đơn hàng SX cho đến hết năm 2015.
“Xu hướng thị trường từ nay đến cuối năm và các năm tiếp theo sẽ là 5 đối trọng chính mà đứng thứ nhất là Mỹ, thứ hai là Nhật Bản, thứ ba là Trung Quốc, thứ tư là Hàn Quốc và thứ 5 là EU…”, ông Quyền cho hay.
Đón tín hiệu lạc quan từ thị trường, một mặt ngay từ đầu năm nay, các DN chế biến gỗ đã chuẩn bị khá tốt nguyên liệu SX. Vì vậy, mặc dù thời điểm này, giá gỗ nguyên liệu NK đang tăng, nhưng đa số các DN vẫn không bị ảnh hưởng nhiều. Ngoài ra, để chuẩn bị đảm bảo nguồn gỗ NK có xuất xứ hợp pháp, các DN hiện đang xây dựng chương trình liên kết với người trồng rừng.
Tuy đã đạt được những thành công trong bối cảnh các mặt hàng nông lâm thủy sản XK gặp khó, song theo ý kiến của nhiều DN, ngành XK gỗ và lâm sản vẫn đang gặp nhiều trở ngại.
Một trong những trở ngại đầu tiên, đó là biến động tỷ giá gần đây đã tác động trực tiếp đến kim ngạch XNK của một số DN. Ông Phí Mạnh Cường, Phó TGĐ Tổng Cty Lâm nghiệp (Vinafor), cho rằng, thị trường EU được xác định là thị trường lớn, song với việc đồng Euro giảm, nhiều nhà NK không chỉ giảm mua hàng hóa, mà sẽ còn tìm cách ép giá đối với các DN XK của Việt Nam.
Ngoài ra, việc đồng USD tăng giá cũng khiến sản phẩm của DN bị đội giá lên rất nhiều, bởi nguyên phụ liệu NK để SX ra đồ gỗ XK đều được tính bằng USD. “Nếu XK 10 container đồ gỗ sang EU, cộng chi phí vận chuyển, chênh lệch tỷ giá giữa Euro và USD, thì DN không còn lãi bao nhiêu. Thậm chí, nếu không tiết giảm chi phí, hoặc số lượng hàng hóa ít, khoảng vài ba container, thì cầm chắc lỗ vốn”, ông Cường phân tích.
Ngoài ra, theo ông Cường, hiện nhiều DN XK và chế biến gỗ Việt Nam vẫn đang gặp phải trở ngại trong việc chứng minh nguồn gốc gỗ hợp pháp để XK, nhất là đối với các thị trường khó tính như Mỹ, EU.
“Phần lớn DN Việt vẫn chưa thể đáp ứng được Quy chế Gỗ của Liên minh châu Âu (EUTR) có hiệu lực từ tháng 3/2013 và Hiệp định đối tác tự nguyện về Tăng cường thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu dự kiến sẽ được ký kết vào cuối năm nay.
FLEGT đòi hỏi nhà XK phải trình chứng minh nguồn gốc, xuất xứ gỗ hợp pháp, trong khi đó, gỗ của Việt Nam lại được mua từ nhiều quốc gia trên thế giới và không phải nước nào cũng có chứng nhận đảm bảo gỗ hợp pháp”, ông Cường nói.
Một vấn đề nữa là 70% nguyên liệu SX gỗ của Việt Nam phải NK, chi phí phục vụ SX như than, điện, nước đều quá cao. Vì vậy, sức cạnh tranh của các DN gỗ Việt Nam còn kém so với các nước khác như Myanmar, Malaysia và Indonesia… Các nước này có đủ nguồn gỗ không cần phải NK nguyên liệu nên tạo ra được những sản phẩm chất lượng cao với giá thành hạ hơn. (Nông Nghiệp Việt Nam 7/8) đầu trang(
Trong vòng sáu tháng đầu năm 2015, trên địa bàn tỉnh Điện Biên có 9/18 dự án trồng rừng, đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư, bị Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Điện Biên đề nghị UBND tỉnh ra quyết định chấm dứt hoạt động và thu hồi giấy chứng nhận đầu tư. Nguyên nhân do hầu hết các công trình này triển khai thực hiện đều chậm tiến độ so kế hoạch đề ra.
Đến nay, UBND tỉnh Điện Biên đã ban hành quyết định thu hồi bảy dự án. Đó là: dự án trồng rừng kinh tế Khánh Lâm; dự án trồng rừng sản xuất Nặm Khăn; dự án trồng rừng sản xuất An Thiên Nhiên; dự án đầu tư trồng rừng kinh tế An Thành; dự án trồng rừng sản xuất tại xã Sa Dung và Chiềng Sơ, huyện Điện Biên Đông; dự án trồng rừng sản xuất Trung Tiến và dự án đầu tư trồng rừng sản xuất Dương Trí Tôn.
Lý do thu hồi là bởi các dự án nói trên đã vi phạm Khoản 2, Điều 64 Luật Đầu tư; khoản a, Điều 68 của Nghị định 108/NĐ – CP, ngày 22-9-2006, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.
Đối với dự án trồng rừng sản xuất tại xã Si Pa Phìn và Phìn Hồ và dự án đầu tư trồng rừng Mường Lói, sau khi kiểm tra, rà soát, đoàn liên ngành thống nhất tiếp tục đề nghị UBND tỉnh thu hồi giấy chứng nhận đầu tư. (Nhân Dân 6/8) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Đợt cháy rừng với sức tàn phá khủng khiếp tại bang California kéo dài suốt 1 tuần qua đã khiến tổng thiệt hại tài sản của toàn bang tăng gần gấp đôi so với năm ngoái, đồng thời đe dọa nghiêm trọng môi trường sống của người dân trong vùng.
Theo báo cáo của Cục Lâm nghiệp và Phòng chống cháy rừng California và Cơ quan Lâm nghiệp Mỹ công bố ngày 5/8, từ đầu năm đến nay, các lực lượng cứu hỏa của Cal Fire đã được triển khai để đối phó với hơn 4.200 đám cháy lớn và nhỏ, tăng thêm 1.500 vụ cháy so với mức trung bình.
Trong số khoảng 20 đám cháy lớn mà lực lượng này đang nỗ lực dập tắt, đám cháy Rocky Fire ở hạt Lake được đánh giá có sức tàn phá khủng khiếp nhất khi thiêu rụi hơn 68.000 ha rừng kể từ khi bùng phát hôm 29/7 vừa qua.
Đám cháy này đã thiêu trụi 91 công trình xây dựng, trong đó có 39 nhà dân và 52 nhà phụ. Cal Fire cảnh báo tổng thiệt hại tài sản ước tính sẽ tiếp tục tăng cao khi các lực lượng đánh giá thiệt hại tiếp cận những khu vực mới bùng phát cháy.
Trong ngày 5/8, gần 7.000 công trình xây dựng, hầu hết là nhà dân, vẫn đang đối mặt với nguy cơ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, trong khi khoảng 13.000 người dân đã nhận được cảnh báo sơ tán.
Cháy lớn cũng buộc giới chức bang đóng cửa hai tuyến đường cao tốc chính. Hiện có khoảng 10.000 lính cứu hỏa đang nỗ lực tối đa nhằm khống chế các đám cháy lan rộng. Trước tình hình diễn biến nghiêm trọng, Cơ quan Lâm nghiệp Mỹ, đơn vị quản lý hơn 190 triệu ha rừng và đồng cỏ chủ yếu ở miền Tây nước này, dự kiến sẽ dành 1,2 tỷ USD, chiếm 52% trong ngân sách trong năm tài khóa 2015, cho công tác dập lửa.
Bang California đang trải qua năm thứ tư của đợt hạn hán tồi tệ nhất trong hàng thập kỷ qua. Gió to kết hợp với thời tiết hanh khô khiến những đám cháy ngày càng lớn và khó kiểm soát. Ngoài ra, việc người dân mở rộng sinh sống tại các khu vực gần rừng cũng là một trong những nguyên nhân chính gây cháy rừng.
Trong khi đó, hơn 500 người dân tại đảo Saipan thuộc quần đảo Mariana, phía Tây Thái Bình Dương, đang phải sống trong các chỗ ở tạm bợ trong tình cảnh thiếu điện, nước trầm trọng sau khi siêu bão Soudelor quét qua khu vực này cách đây 4 ngày.  Khi đổ bộ vào đảo Saipan tối 2/8, Soudelor với sức gió lên đến 160 km/giờ- 200 km/giờ đã làm bật tung cây cối, quật đổ nhiều cột điện, phá hủy hàng trăm ngôi nhà tại đây.  Hiện hòn đảo này đag chờ được tiếp viện thực phẩm, nước uống, giường ngủ và máy phát điện từ Guam và Hawaii. Quyền Thống đốc Khối thịnh vượng chung quần đảo Mariana Ralph Torres đã ban bố tình trạng "thảm họa khẩn cấp" cho đảo Saipan, đồng thời gửi thư đến Nhà Trắng yếu cầu viện trợ khẩn cấp.
Theo thông tin từ Cơ quan Dịch vụ thời tiết quốc gia Mỹ (NWS), hiện Soudelor đã phát triển thành siêu bão cấp 5, đồng thời đang tiến về Thái Bình Dương theo hướng Tây - Tây Bắc đến Đài Loan (Trung Quốc) với sức gió lên đến 354 km/giờ.
Tính tới thời điểm hiện tại, siêu bão Soudelor được coi là cơn bão mạnh nhất trong năm 2015, vượt qua cả cơn bão Pam từng khiến 15 người thiệt mạng tại quốc đảo Vanuatu ở Thái Bình Dương thiệt mạng cách đây 5 tháng. (Vietnam + 6/8) đầu trang(
Một loài sinh vật lạ với hình thù kì dị được phát hiện ở cánh rừng miền tây nam Campuchia.
Đây được xem là một phát hiện mới trong thực tiễn và nghiên cứu khoa học. Theo tổ chức Động - thực vật quốc tế (FFI), sinh vật dị thường, màu xám nâu được phát hiện ở dãy núi Cardamom, tây nam Campuchia có tên khoa học là Ichthyophis cardamomensis.
Các chuyên gia phân loại Ichthyophis cardamomensis là caecilian - một loài lưỡng cư không có chi, giống giun đất với mắt nhỏ hoặc không mắt, chuyên đào hang ẩn náu dưới mặt đất.
Các cá thể caecilian có một vai trò quan trọng trong hệ sinh thái của các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, kể cả vai trò cung cấp thức ăn cho rắn đuôi đỏ Cylindrophis ruffus. Các sinh vật này ăn động vật không xương sống, chẳng hạn như giun đất, kiến và mối.
Mặc dù các loài caecilian khác có thể phát triển kích thước cơ thể tới 1,5 mét, nhưng Ichthyophis cardamomensis chỉ dài 30cm. Việc khám phá ra chúng được coi là bằng chứng cho thấy, khoa học vẫn chưa thể nghiên cứu đầy đủ tính đa dạng sinh học ở đất nước Campuchia. (Tiền Phong 6/8) đầu trang(
Theo một nghiên cứu của Đại học California, Davis, đa dạng sinh học của loài cá hồi Bắc Thái Bình Dương có thể bị tác động bởi những thay đổi về tình trạng đại dương tại vùng xích đạo.
Nghiên cứu đăng trên tạp chí Kỷ yếu Học viện Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ ngày 3/8, các nhà nghiên cứu đã theo dõi cuộc sống của cá hồi trắng (chinook salmon) và cá hồi bạc (coho salmon) từ nơi ươm trứng ở Bắc Mỹ trong giai đoạn 1980 – 2006. Trước thập niên 1990, tỷ lệ sống sót của cá hồi trắng và cá hồi bạc dao động không đồng nhất ở mỗi loài. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu ngạc nhiên khi nhận thấy tỷ lệ sống sót của hai loài cá này càng ngày càng giống nhau kể từ đó.
Tác giả đứng đầu nghiên cứu, Patrick Kilduff từ Khoa Bảo tồn sinh thái, các loài cá và các loài hoang dã cho biết, khi quần thể cá hồi được đồng bộ thì sẽ có khả năng tốt cho tất cả hoặc xấu cho tất cả. Trên khía cạnh kinh tế, điều này có nghĩa là khi trữ lượng một loài giảm đi, trữ lượng của loài kia cũng sẽ giảm theo.
Sự phản ứng đồng bộ này đối với điều kiện đại dương thể hiện sự tổn thất về đa dạng sinh học không thể giải quyết trực tiếp bởi hành động quản lý vùng nước ngọt. Và điều này chưa được hiểu rằng đang gây ra sự giống nhau ngày càng tăng, song các nhà nghiên cứu cho rằng điều này có thể phản ánh một thay đổi về mối liên hệ mạng lưới thức ăn đại dương vùng duyên hải hay có thể là một thay đổi về chính loài cá hồi. El Nino và sự tồn tại của cá hồi
Trong lịch sử, nhiều loài cá hồi Thái Bình Dương được cho là bị ảnh hưởng bởi Dao động thập kỷ Thái Bình Dương (PDO), một kiểu nóng lên ở vùng biển phía Đông Thái Bình Dương có liên quan đến El Nino. Do bản chất của El Nino đã thay đổi, một chỉ thị đại dương khác - the North Pacific Gyre Oscillation (NPGO) (tạm dịch là kiểu khí hậu dao động xoay tròn Bắc Thái Bình Dương) đã phát triển mạnh, song tác động của nó đối với cá hồi không được tìm hiểu kỹ.
Nghiên cứu mới này nhận thấy rằng, tỷ lệ sống sót của cá hồi trắng và cá hồi bạc dọc bờ biển phía Tây có liên quan chặt chẽ đến NPGO, hơn là PDO. (Bộ NN&PTNT 6/8) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang