|
Ngày 06 tháng 04 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Chiều tối 5/4, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định - ông Nguyễn Sơn Tùng, xác nhận cơ quan này vừa chuyển hồ sơ cho cơ quan Công an cùng cấp tiến hành điều tra và xử lý ông Đinh Vân, 40 tuổi, trú ở thôn Hà Ri, xã Vĩnh Hiệp, huyện Vĩnh Thạnh hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng.
Vụ việc được phát hiện từ cuối năm ngoái, trong lúc Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Thạnh phối hợp UBND xã Vĩnh Hiệp tuần tra bảo vệ khu rừng Ô Bà Chiểu, thuộc khoảnh 7, tiểu khu 185, đã phát hiện ông Vân đốt dọn 2.600m² rừng trái phép để lấy đất làm nương rẫy.
Do trước đó vào tháng 3/2014, ông Vân đã bị Hạt Kiểm lâm huyện Vĩnh Thạnh xử phạt hành chính 7,5 triệu đồng về hành vi đốt dọn 937m² rừng trái phép, buộc phải trồng lại diện tích rừng đã phá, thế nhưng đến nay ông Vân chưa chấp hành quyết định nêu trên mà tiếp tục tái phạm, nên phải xử lý bằng biện pháp hình sự theo quy định pháp luật. (Công An Nhân Dân 6/4)đầu trang(
Theo ông Võ Minh Sơn, Chánh Văn phòng UBND tỉnh Đắc Lắc, số vụ vi phạm tài nguyên rừng, chống người thi hành công vụ vẫn tiếp tục tăng, làm suy giảm nghiêm trọng tài nguyên rừng ở tỉnh.
Chỉ tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 411 vụ vi phạm tài nguyên rừng, tăng 72 vụ so với cùng kỳ này năm ngoái; lực lượng chức năng tịch thu gần 645m3gỗ và 109 xe các loại. Số vụ vi phạm tài nguyên rừng này chủ yếu là khai thác, vận chuyển lâm sản, chặt phá, lấn chiếm đất rừng trái pháp luật. (Người Lao Động + Công An Đà Nẵng 6/4; Nhân Dân 5/4)đầu trang(
Người khai thác gỗ đúng theo phạm vi cho phép thì lại bị kết án, còn người được giao làm giám sát, lại tự ý thuê người khai thác, vận chuyển, bán trái phép thì không bị truy cứu trước pháp luật. Chuyện tưởng như đùa, lại đang xảy ra tại huyện Văn Bàn, trong vụ án “Ngô Văn Nhiễm phạm tội “Vi phạm các quy định về khai thác bảo vệ rừng”
Theo Bản án số 49/2014/HSST, ngày 27/11/2014 của Toàn án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, nội dung vụ án thể hiện: Ngày 29/3/2010, UBND tỉnh Lào Cai cấp giấy chứng nhận cho CTCP Sông Đà 9.06 (CTy Sông Đà - trụ sở Từ Liêm, HN) xây dựng thủy hiện Nậm Xây Nọi II. Sau đó, ngày 9/7/2010, sở NN&PTNT tỉnh Lào Cai, ra quyết định cấp phép cho khai thác tận dụng lâm sản rừng tự nhiên, với diện tích là 10.489 ha (gỗ thương phẩm 1.376,603 m3, gỗ tận dụng 359,523m3, củi 100,525 m3, Vầu 576,477m3) cho Cty Sông Đà.
Tuy nhiên, Cty Sông Đà không trực tiếp khai thác mà bán lại cho CTCP Sông Đà Đông Đô toàn bộ số gỗ được khai thác trên với giá là 3 tỷ đồng. Thấy việc khai thác không có hiệu quả nên CTCP Sông Đà Đông Đô lại bán lại cho CTY TNHH phát triển thương mại xây dựng Hùng Anh (trụ sở tại xã Vạn Thái Ứng Hòa, HN), sau này đổi tên thành CTCP phát triển thương mại và xây dựng Hùng Anh (Cty Hùng Anh), với giá 1,6 tỷ.
Quá trình khai thác gặp khó khăn, nên Cty Hùng Anh đã đề nghị Cty Sông Đà xin gia hạn giấy phép khai thác đến 4 lần.
Đến ngày, 5/2/2012, Cty Hùng Anh, cử ông Ngô Văn Nhiễm giữ chức vụ CTHĐQT, là người trực tiếp chỉ đạo, giám sát, đầu tư, thuê người khai thác gỗ…
Theo đó, ông Nhiễm đã thuê Lê Minh Cảnh (SN 1960 – là bảo vệ BQLDA xây dựng thủy điện Nậm Xây Nọi II), đứng tên đại diện Cty Hùng Anh lập lý lịch gỗ, làm các thủ tục với Kiểm lâm để vận chuyện gỗ đi tiêu thụ.
Tiếp đó, ngày 5/3/2013, ông Nhiễm ký hợp đồng thuê anh Hứa Văn Thụng (SN 1983, trú xã Minh Lương, huyện Văn Bàn) là người trự tiếp thực hiện việc khai thác gỗ.
Ngày 15/5/2013, tổ công tác liên ngành huyện Văn Bàn đã điều tra, xác minh việc Cty Hùng Anh khai thác gỗ ra ngoài phạm vi được cấp phép tại xã Nậm Xây, xã Nậm Xé, thu giữ được các vật chứng như sau: Thu giữ tại bãi của BQLDA thủy điện Nậm Xây Nọi II là 80,969m3 của ông Nhiễm, thu tại kho của BQLDA là 8,947m3 gỗ xẻ hộp (trong số này có 5,077m3 và 3,988m3 Kiểm lâm thu giữ tại kho); Thu giữ trên rừng Nậm Xây, Nậm xé là 32,539m3 gỗ xẻ hộp.
Quá trình điều tra, khẳng định 70 cây gỗ do Nhiễm thuê các đối tượng khai thác đều nằm ngoài vị trí lô, khoảnh được cấp phép, thuộc tiểu khu 510 và tiểu khu 526 với tổng khối lượng là 206,597m3 gỗ quy tròn, với trị giá ước tính là gần 230 triệu đồng. Do đó, đã tuyên phạt 03 năm tù, bồi thường hơn 14 triệu đồng cho BQL khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên - Văn Bàn đối với bị cáo Nguyễn Văn Nhiễm.
Tuy nhiên, Bản án của TAND huyện Văn Bàn chưa kịp ráo mực, lập tức đã bị ông Nhiễm kháng cáo toàn bộ bản án, bởi vì:
Thứ nhất, ông Nhiễm cho rằng, Cty của ông chỉ thực hiện việc thuê người khai thác gỗ đúng trong phạm vi cho phép, chứ ông không thuê hay chỉ đạo các đối tượng khai thác trái phép. Thực tế, ông chỉ ký hợp đồng với anh Thụng, và Thụng khai thác 35 cây, đúng trong phạm vi cho phép. Thế nhưng, không hiểu vì sao mà CQĐT huyện Văn Bàn lại cứ gán cho ông là khai thác ngoại vi cho phép.
Thứ hai, việc Lê Minh Cảnh – là người giám sát (người của CTy Sông Đà 9.06), cũng là người quản lý, đã tự ý chỉ đạo, thuê người xẻ gỗ ngoài phạm vi cho và bán lấy tiền bỏ túi, vậy mà CQCSĐT lại nhắm mắt bỏ qua. Phải chăng, có sự bao che ở đây?
Thứ 3, việc TAND huyện Văn Bàn viện cho ông việc thiếu trách nhiệm bảo vệ rừng, giám sát việc khai thác rừng là hết sức vô lý. Vì đây là trách nhiệm của Hạt Kiểm lâm Văn Bàn và BQL Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn, CTy Hùng Anh không có trách nhiệm và cũng không có quyền làm việc này.
Thứ 4, việc để các đối tượng lợi dụng vào Cty của ông để khai thác gỗ trái phép, chắc chẵn phải có sự tiếp tay của Hạt Kiểm lâm, vì Kiểm lâm là phải có mặt ở thực địa để đóng dấu, quản lý địa bàn, vậy mà việc khai thác ngoài phạm vi vẫn xảy ra, trách nhiệm của kiểm lâm trong vụ việc này lại không bị truy tố. (Tầm Nhìn 6/4)đầu trang(
Cho đến thời điểm hiện tại, hiếm có cánh rừng nào còn được giữ vẹn nguyên như ở xã Y Tý (huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai). Thế nhưng, để bảo vệ được cánh rừng với bạt ngàn cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi, đã có rất nhiều cuộc chiến thầm lặng diễn ra tại đây...
Theo số liệu từ Hạt Kiểm lâm huyện Bát Xát, thì rừng già Y Tý có diện tích khoảng gần 300 ha, chủ yếu là những cây gỗ cổ thụ hàng trăm năm tuổi được liệt vào danh sách quý hiếm bậc nhất cả nước, tính đến thời điểm hiện nay.
Ngay từ sau khi đất nước giải phóng, Đảng và Nhà nước ta đã yêu cầu chính quyền và người dân phải ra sức bảo vệ rừng nguyên sinh, tránh việc cây cổ thụ nơi này phải “đổ máu”… Vì thế, rừng ở đây ngay cả người dân bản địa cũng không thông thạo.
Để giữ được rừng thì chỉ cơ quan chức năng chưa đủ, điều quan trọng là cần có cả sự đồng lòng của người dân. Anh Hờ Chờ Mang, một người dân bản địa và cũng là nhân chứng trực tiếp rượt đuổi “lâm tặc” để cứu rừng kể:“Vào khoảng thời gian hơn 3 năm trước, tôi một mình nằm trên nương thảo quả và cũng là khu rừng mà gia đình tôi được giao bảo vệ. Trong lúc nửa đêm, nghe tiếng máy cưa cào xé, tôi một mình cầm đèn pin đến nơi có tiếng máy cưa thì phát hiện hơn chục người cùng 3 chiếc máy cưa thi nhau xẻ gỗ.
Không còn cách nào khác, điện thoại khi đó cũng không một vạch sóng, tôi chạy về lán cầm khẩu súng kíp đã bỏ lại bao năm không dùng, lắp kíp và bắn chỉ thiên. Lúc đó lũ “lâm tặc” cũng không biết tiếng súng phát ra từ đâu, chúng tán loạn bỏ chạy, vẻ mặt chúng rất bặm trợn, cũng may tôi núp dưới lùm cây nên chúng không phát hiện được”.
Theo những người dân vùng này cho biết, đó chỉ là một trong số những trường hợp giáp mặt với lâm tặc ít nguy hiểm, kịch tính nhất. Cuộc chiến chống “lâm tặc” ở rừng già Tây Bắc từng gây xôn xao một thời phải kể đến câu chuyện cả làng rượt đuổi nhóm “lâm tặc”.
Vụ việc đã xảy ra 13 năm về trước, khi đó ông Vừ Hờ Chớ đang nằm ngủ thì nghe thấy tiếng rục rịch, ông Chớ cầm đèn pin đi rình thì phát hiện nhóm người đang vận chuyển gỗ ra ngoài đường lớn và đã có xe thùng đợi sẵn. Vừ Hờ Chớ chạy vội về nhà để báo cho mọi người biết thì khi đó lũ “lâm tặc” đã bắt đầu nổ máy xe bỏ chạy. Bấy giờ là nửa đêm, gọi dậy ai cũng luống cuống, họ vội vàng cầm cuốc ra đường đứng chờ trên các hẻm đường.
Cuộc chiến với “lâm tặc” đêm đó đồng bào nơi này vẫn còn nhớ mãi. Xe gỗ đêm đó không được vận chuyển theo đường mòn ra ngoài ngay mà mãi đến tờ mờ sáng chúng mới bắt đầu lộ diện. Màn sương bao phủ khắp cánh rừng, những tên “lâm tặc” di chuyển theo hướng B.Hum để về trung tâm huyện Bát Xát, nhưng gặp phải dân bản đứng chờ, chúng cầm gậy gộc chống trả quyết liệt khiến 2 người dân tử vong. Nhưng cuối cùng, số gỗ đó đã bị giữ lại.
Để có cái nhìn rõ nét hơn về cuộc chiến gian khổ để giữ rừng, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện cùng ông Tráng A Lù, Phó Chủ tịch UBND xã Y Tý, ông Lù cho biết: “Hiện tại rừng già Y Tý chủ yếu là gỗ nghiến, sến, pơ mu, chai… hàng trăm năm tuổi. Bởi thế, có rất nhiều kẻ nhòm ngó hòng đốn gỗ quý bán. Điển hình vào cuối năm 2013 vừa rồi xã đã phối hợp cùng Bộ đội Biên phòng bắt gọn một xe gỗ chừng gần 10 khối giữa nửa đêm”.
Theo ông Lù, “lâm tặc” về đây “cứa” rừng không chỉ là người dân ở phía ta, mà còn có cả của “bên kia” sang đốn gỗ. Vì 2 bên chỉ cách nhau ranh giới là một con suối. “Nóng” nhất là khoảng cuối năm 2012, chính quyền xã đã phối hợp cùng với người dân, trạm kiểm soát và Bộ đội Biên phòng bắt gọn 6 khối gỗ nghiến được xẻ làm quan tài hòng đưa sang bên đó tiêu thụ.
Ông Lù bộc bạch: “Có lẽ chỉ có chính quyền giáp ranh Trung Quốc như chúng tôi mới thấu hiểu được hết cái khó về việc quản lý ở đây. Chúng tôi vừa cứng rắn, vừa phải mềm dẻo mới giữ được rừng”.
Chẳng là, khoảng năm 1993, khi đó người dân 2 bên tranh chấp và lấn sang địa phận rừng Pơ Mu của ta. Chính quyền bên ta yêu cầu bên kia xem xét lại bản đồ nhưng họ không có động thái gì. Thế nên, ông Lù đề xuất ý kiến là tỉ thí võ với nhau, nếu phía họ thua thì họ không được phép tái diễn việc xâm lấn sang rừng phía ta. “Lúc đó tôi còn trẻ, lại sung sức và vốn học được chút võ vẽ từ cha nên chúng tôi đã thắng 4 lính biên phòng của họ, đó là thực tế” – ông Lù hồi tưởng lại. (Pháp Luật VN 5/4)đầu trang(
Bắc Giang: Lửa thiêu rụi 3ha rừng
2/4, trên địa bàn huyện Yên Dũng (Bắc Giang) đã xảy ra một vụ cháy rừng. Hậu quả 3 ha rừng phòng hộ bị thiêu rụi.
Thông tin ban đầu, vụ cháy xảy ra trên dãy núi Nham Biền thuộc khu vực khe Đùng Đùng, thôn Kem, xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng khoảng 12h30 ngày 2/4.
Vụ cháy xảy ra vào thời điểm nắng nóng, kèm theo gió thổi mạnh nên ngọn lửa nhanh chóng bùng phát, lan nhanh qua thôn Hàm Long, xã Yên Lư.
Sau khi tiếp nhận thôn tin từ quần chúng nhân dân, chính quyền xã Yên Lư đã huy động lực lượng dân quân tự vệ, các cán bộ chi cục Kiểm lâm tỉnh với khoảng 100 người ra chữa cháy.
Đến 15h cùng ngày, đám cháy mới được dập tắt, tuy nhiên khoảng 3 ha rừng đã bị thiêu rụi.
Được biết, đây là rừng phòng hộ trồng thông, keo khoảng 7 đến 8 năm tuổi. Diện tích này được giao cho các hộ gia đình chăm sóc, bảo vệ. (Petrotimes 4/4)đầu trang(
Do thời tiết nắng nóng kéo dài, nhiều diện tích rừng ở Kiên Giang hiện đang ở cấp báo cháy cấp 4, cấp 5 và đã liên tục xảy ra cháy rừng.
Ông Trương Thanh Hào, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Kiên Giang cho biết, sáng nay 6/4, lực lượng chức năng vẫn đang tích cực dập các đám ngún từ vụ cháy rừng phòng hộ thuộc xã An Minh Bắc, huyện U Minh Thượng, nhằm đảm bảo không để lửa bùng phát trở lại, đồng thời thống kê diện tích cũng như mức độ thiệt hại. Đây là đám cháy rừng hết sức nguy hiểm, do nằm giáp ranh với VQG U Minh Thượng, nếu không kịp thời khống chế sẽ gây cháy lan vào diện tích vườn.
Trước đó, vào khoảng 13 giờ ngày 5/4, lửa đã bùng phát dữ dội tại khu rừng rộng trên 1.200 ha, thiêu rụi khoảng 30 ha rừng tràm. Ban Chỉ huy phòng chống cháy rừng tỉnh Kiên Giang đã huy động khoảng 500 người gồm các lực lượng chức năng từ các huyện U Minh Thượng, An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận và đơn vị chủ rừng tích cực phối hợp chữa cháy rừng. Đến hơn 21 giờ cùng ngày đám cháy cơ bản được khống chế. Nguyên nhân vụ cháy đang được điều tra làm rõ.
Do thời tiết nắng nóng kéo dài, nhiều diện tích rừng ở Kiên Giang hiện đang ở cấp báo cháy cấp 4, cấp 5 và đã liên tục xảy ra cháy rừng. Từ đầu mùa khô cho đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 3 vụ cháy rừng. Ngày 3/4, tại huyện Giang Thành xảy ra vụ cháy rừng sản xuất, diện tích thiệt hại gần 3 ha tràm trồng.
Trước đó, cũng tại địa phương này đã xảy ra vụ cháy rừng tràm trồng phòng hộ do Sư đoàn 4, Quân khu 9 quản lý, làm gần 1,6 ha rừng bị thiệt hại với mức độ khoảng 50%. (Nông Nghiệp VN + Thanh Niên + Tiền Phong + Tuổi Trẻ + Tin Tức 6/4; VOV 5/4)đầu trang(
UBND huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam vừa thông qua quy hoạch vùng trồng sâm Ngọc Linh giai đoạn 2015- 2020, quy mô 19.000 ha với tổng mức đầu tư gần 1.300 tỷ đồng.
Theo đó, tỉnh Quảng Nam đầu tư 1.000 tỷ, còn lại là vốn của các doanh nghiệp nhằm mở rộng, nâng cấp hệ thống giao thông; Xây dựng nhà bảo tàng trưng bày sâm Ngọc Linh và Trung tâm nghiên cứu di thực cây sâm Việt Nam; Xây dựng quần thể du lịch hai huyện Nam Trà My và Tu Ma Rông, tỉnh Kon Tum.
Được biết, hiện tại vùng sâm Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam đang bảo tồn và phát triển với hơn 650.000 cây sâm ở nhiều độ tuổi khác nhau.
Theo ông Hồ Quang Bửu, Chủ tịch UBND huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam, huyện đã hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp đến khảo sát vùng trồng sâm đồng thời quy hoạch phát triển hạ tầng vùng sâm. (Đại Đoàn Kết 6/4)đầu trang(
Chiều tối ngày 2-4, tại khu giáp ranh giữa 2 thôn Làng Ninh và Pa Khoang, xã Túc Đán, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái đã xảy ra một vụ cháy rừng, chủ yếu là diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh.
Trước đó, khoảng 10h trưa 2-4 tại thôn Háng Gàng, xã Pá Hu cũng xảy ra 1 vụ cháy rừng khoanh nuôi tái sinh. Hiện tại các ngành chức năng đang thống kê diện tích thiệt hại từ 2 đám cháy trên. Nguyên nhân ban đầu được xác định đều là do bất cẩn của người dân trong việc đốt rẫy làm nương, trời có gió lào đã khiến diện tích cháy lan rộng, do địa hình đồi núi cao, đường đi lại khó khăn nên công tác chữa cháy gặp nhiều khó khăn.
Trong điều kiện nhiệt độ cao, thời tiết hanh khô như hiện nay, nguy cơ cháy rừng ở các địa phương phía Tây tỉnh Yên Bái là rất cao. (Đại Đoàn Kết 5/4)đầu trang(
Xuất hiện các điểm du lịch sinh thái tự phát trên địa bàn huyện An Lão (Bình Ðịnh) dẫn đến nguy cơ cháy rừng, ô nhiễm môi trường và nguồn nước sinh hoạt. (Nhân Dân 5/4)đầu trang(
Khu du lịch sinh thái suối Nước Mát-đèo Le thuộc xã Quế Long, huyện Quế Sơn (tỉnh Quảng Nam) có phong cảnh thiên nhiên hoang dã, hùng vĩ nên từ lâu đã thu hút nhiều du khách. Tuy nhiên, khi đến thăm khu du lịch này, chúng tôi không khỏi bất ngờ vì có không ít du khách vô tư đốt lửa vui chơi hoặc nướng thức ăn.
Hiện nay, rừng ở khu du lịch này có rất nhiều thực bì. Với thời tiết khô, nóng, việc đốt lửa tại đây rất dễ bắt cháy, lan ra cả khu đèo Le. Điều đáng nói là, từ ngoài cổng bán vé đến đỉnh thác, cơ quan chủ quản không có một biển báo cấm đốt lửa để nhắc nhở du khách. Mong rằng UBND huyện Quế Sơn kịp thời chấn chỉnh hiện tượng trên. (Quân Đội Nhân Dân 5/4)đầu trang(
Tại Gia Lai, hiện có hơn 600 nghìn ha đất có rừng, trong đó có khoảng 300 nghìn ha rừng thuộc vùng trọng điểm dễ cháy, chủ yếu tập trung địa bàn các huyện ở vùng Tây Trường Sơn như Đức Cơ, Chư Pảh, Pleiku, Đăk Pơ, Mang Yang.
Các đơn vị chủ rừng đều quán triệt và triển khai thực hiện với phương châm "4 tại chỗ" (con người, phương tiện, chỉ huy và hậu cần), bảo đảm đủ các điều kiện cần thiết kịp thời phát hiện và ứng cứu khi có các vụ cháy rừng xảy ra.
Tại Long An, Đoàn kiểm tra liên ngành vừa đến kiểm tra các đơn vị trồng rừng tại địa phương để chủ động phòng, chống cháy rừng.
Đến nay lực lượng hậu cần, các ban chỉ huy thành lập các tổ, đội, máy móc được chuẩn bị khá chu đáo, vận hành thường xuyên. Các đơn vị bảo đảm tốt công tác phòng cháy, chữa cháy nếu có sự cố cháy xảy ra.
Toàn tỉnh hiện có 25.736 ha rừng và từ đầu năm 2015 đến nay, tại thị xã Kiến Tường và huyện Mộc Hóa đã xảy ra hai vụ cháy rừng. (Nhân Dân 6/4)đầu trang(
Theo giá thị trường, một khối gỗ xà cừ có chu vi thân cây hơn 240cm có giá khoảng gần 12 triệu đồng, một cây cho hơn 2m3 gỗ bán được gần 25 triệu đồng. Như vậy 800 cây xà cừ như trên trị giá nhiều tỷ đồng.
Để thu thập tư liệu cũng như hình ảnh trung thực về rừng xà cừ cho loạt bài phóng sự này, chúng tôi vào vai những người câu cá. Nhiều vấn đề không rõ ràng trong việc bán loạt cây gỗ “khủng” có giá trị kinh tế cao với giá bèo của Ban giám đốc Nhà máy thủy điện Trị An, đã gây bức xúc dư luận địa phương những ngày qua.
Ông Đ., một người chuyên làm nghề mua bán, khai thác gỗ tại Đồng Nai, cho biết gỗ xà cừ hiện được phân làm nhiều loại: loại 1 là những cây có chu vi thân từ 200cm trở lên, giá 12 triệu/m3, loại 2 là những cây từ 160cm đến dưới 200cm giá 8 triệu/m3, loại 3 là những cây có chu vi thân từ 120cm đến dưới 160cm khoảng 3,5 - 4 triệu đồng/m3; còn đối với cây có chu vi từ 60cm đến dưới 120cm giá từ 2,8 - 3 triệu/m3, riêng các nhánh nhỏ của rừng xà cừ trên cũng trị giá hơn một tỷ đồng.
Vậy 800 cây xà cừ mà Nhà máy thủy điện Trị An đã bán có giá trị thực là bao nhiêu? Tại sao có sự chênh lệch quá lớn giữa giá thị trường (khoảng hơn 6 tỷ đồng theo ước tính của người mua gỗ) và mức mà nhà máy đã bán (chỉ 800 triệu)? Và ai là người hưởng lợi? Câu trả lời sẽ được giải đáp khi các cơ quan chức năng vào cuộc làm rõ.
Nhóm PV chúng tôi bám theo một chiếc xe chở gỗ xà cừ rời khỏi rừng, chạy theo Tỉnh lộ 768 hướng về thành phố Biên Hòa, tới xã Tân An huyện Vĩnh Cửu thì dừng lại trước ngôi nhà bên đường gần cầu Thủ Biên và tập kết gỗ tại đây. Theo nguồn tin, số gỗ trên được một đại gia gỗ ở Bình Dương đặt mua về làm đồ gia dụng.
Một người dân ngụ tại thị trấn Vĩnh Cửu bức xúc: “Thấy nạn phá rừng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của mình, nhưng chúng tôi không biết làm sao!”. Chưa nói đến giá trị kinh tế, tác hại đối với môi trường khi đốn hạ khu rừng 800 cây xà cừ trên cũng là điều đáng để chúng ta quan tâm. Lãnh đạo Đảng, Nhà nước luôn kêu gọi chung tay bảo vệ rừng, bảo vệ cây xanh, gìn giữ môi trường sống và đã được người dân nhiệt tình ủng hộ.
Nạn phá rừng ở nhiều nơi đã được khống chế, nhưng không ngờ ngay giữa khu dân cư người ta lại phá đi một rừng cây chỉ để... tìm và kiểm soát mạch nước ngầm! Ai cho phép một doanh nghiệp Nhà nước như Nhà máy thủy điện Trị An tự ý chặt bỏ hơn 800 cây xà cừ hàng chục năm tuổi? Hơn thế, giám đốc nhà máy còn tuyên bố rằng tài sản ấy không phải của Nhà nước, họ có quyền xử lý mà không cần xin phép bất kỳ cơ quan nào. Câu phát biểu này thể hiện sự coi thường kỷ cương phép nước.
Dư luận hiện đang nóng với sự kiện chặt bỏ 6.700 cây xà cừ tại thủ đô Hà Nội. Sự phá hoại được bao biện bằng những văn bản, đề án và tất nhiên có cả các phản biện khoa học tưởng như hợp lý ấy, cuối cùng cũng được công luận đưa ra ánh sáng và hàng loạt cán bộ đã bị đình chỉ công tác, xử lý trách nhiệm. Do vậy, việc khai thác rừng xà cừ trên bờ hồ thủy điện Trị An với mục đích “tìm và xử lý các mạch nước ngầm” nếu không được làm rõ trên cơ sở khoa học, minh bạch thì rất dễ dẫn đến “vụ xà cừ Hà Nội” thứ 2.
Hiện người dân Vĩnh Cửu đang đặt ra nghi vấn về việc các cơ quan, doanh nghiệp tự ý móc nối với tư nhân thông qua các hợp đồng mua bán không đúng trình tự pháp luật. Qua bài viết này, chúng tôi đề nghị các cơ quan chức năng tỉnh Đồng Nai, Tổng công ty Điện lực Việt Nam vào cuộc làm rõ việc “bức tử” rừng xà cừ bên bờ hồ thủy điện Trị An, để trả lời trước công luận. (Công An TPHCM 4/4)đầu trang(
Loài Sao La trên dãy Truờng Sơn được xem là đại diện tiêu biểu nhất cho đa dạng sinh học ở Việt Nam. Nhưng qua 23 năm từ ngày phát hiện ra chúng, gần 4/5 số lượng cá thể của loài này đã biến mất khỏi tự nhiên.
Tháng 5/1992, sự kiện gây sửng sốt giới khoa học thế giới là Sao La được phát hiện lần đầu tiên trên thế giới tại Vườn Quốc gia (VQG) Vũ Quang (Hà Tĩnh). Kết quả đáng tự hào ấy do một nhóm nghiên cứu gồm: Vũ Văn Dũng, Nguyễn Mộng Dao, Đỗ Tước và Jonh Makiner (quốc tịch Anh) - người của Quỹ Bảo vệ thiên nhiên quốc tế (WWF) thực hiện. Và đây được xem là phát hiện ấn tượng nhất từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX.
Ngay sau đó, Sao La được giới khoa học thế giới vinh danh “kỳ lân châu Á” bởi có cặp sừng rỗng tuyệt đẹp, dài, thon và nhọn. Chiều dài cơ thể lên tới 50cm. Đây là loài động vật có vú, nguy cơ tuyệt chủng cao nhất, sống ở núi rừng Trường Sơn. Cũng từ đó, các cuộc nghiên cứu liên tục được duy trì trên diện rộng ở Trường Sơn và kết luận rằng, Sao La chỉ phân bố ở hệ sinh thái Trường Sơn, khu vực biên giới giáp ranh giữa 2 nước Việt - Lào.
Riêng ở Việt Nam, vùng phân bố lịch sử của Sao La kéo dài từ huyện Quế Phong (Nghệ An, khoảng 19 độ 30 phút Bắc) xuống đến huyện Tây Giang (Quảng Nam, khoảng 15 độ 50 phút Bắc) trên bản đồ. Các nhà bảo tồn ở châu Á đã xem Sao La ở Trường Sơn như một “báu vật”, là “biểu tượng” của đa dạng sinh học của châu lục.
Theo PGS.TS Nguyễn Xuân Đặng, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật: “Điểm đặc biệt của Sao La là không phân bố tập trung mà chỉ hình thành các nhóm nhỏ dưới 10 cá thể, sống rải rác và cách xa nhau. Đến nay, đã ghi nhận được loài đặc hữu này cư trú tại 50 xã của 20 huyện thuộc 6 tỉnh. Thừa Thiên Huế là tỉnh có số xã ghi nhận Sao La cao nhất (18 xã), tiếp theo là Quảng Bình (9 xã), Quảng Nam (6 xã)…
Các nhà nghiên cứu đã thực hiện khảo sát từ năm 2007 – 2008 và chỉ ra một số khu vực phân bố chính của Sao La là: Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Pù Huống, VQG Pù Mát (đều thuộc Nghệ An), VQG Vũ Quang, khu vực Tây Nam Quảng Bình - Bắc Quảng Trị, Thừa Thiên Huế - Quảng Nam. Các khảo sát trên dựa vào các dấu chân, vết ăn trên lá cây, phỏng vấn người dân...
Việc nhìn thấy được loài Sao La này của giới khoa học rất khó khăn. Đến năm 1993, có 2 con Sao La cũng đã được phát hiện nhưng bị chết khi nuôi nhốt. Mãi đến năm 1998, người ta mới nhìn thấy trong tự nhiên của VQG Pù Mát thêm 1 cá thể nữa. Rồi bẵng đi suốt 15 năm nữa, người ta mới có thể ghi lại được hình ảnh về 1 cá thể Sao La di chuyển dọc con suối ở một thung lũng, thuộc khu vực rừng xa xôi hẻo lánh ở tỉnh Quảng Nam. Hình ảnh này ghi lại được ngày 7/9/2013, từ camera của WWF và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam lắp đặt.
Đến nay, dù đã gần 23 năm nghiên cứu và bảo tồn, nhưng những hiểu biết của con người về Sao La vẫn còn rất hạn chế. Và tình trạng các quần thể Sao La đang ngày càng có xu hướng xấu đi… Cả Sách Đỏ thế giới và Sách Đỏ Việt Nam (2007) đều xếp Sao La vào bậc nguy cấp. Nhưng từ năm 2010, mức đe dọa của loài này được nâng lên bậc rất nguy cấp. Hiện rất khó xác định được số lượng Sao Lao ở Việt Nam nhưng theo các nhà nghiên cứu, từ khi phát hiện vào năm 1992, rồi khảo sát khắp Trường Sơn cho thấy có khoảng 500 cá thể. Nhưng 23 năm sau, số lượng Sao La chỉ còn chưa đầy 150 cá thể.
Số lượng ít đã đành, quần thể Sao La hiện còn bị chia cắt sâu sắc thành những nhóm nhỏ, tách biệt nhau. Ban Quản lý VQG Vũ Quang – nơi phát hiện ra Sao La đầu tiên cho biết 10 năm trước, một nhóm đối tượng ở huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh) sang bắn hạ một cá thể. Bị phát hiện, chúng vứt Sao La lại và bỏ chạy. Người của Vườn đã đưa ra Hà Nội để nghiên cứu, nhưng nó đã bị chết và từ đó đến nay chưa gặp lại một cá thể nào khác.
Sau khi phát hiện ra Sao La, đã có hơn 10 dự án hợp tác quốc tế lớn đầu tư trực tiếp và gián tiếp cho công tác khảo sát và bảo tồn loài này. Nhưng theo PGS.TS Nguyễn Xuân Đặng, cá thể Sao La đã giảm rất nhanh bởi các nguyên nhân sau:
Nạn săn bắt, đặt bẫy và buôn bán động vật hoang dã, Sao La ngày càng được mua với giá cao trên thị trường; đa dạng sinh học Trường Sơn đang suy thoái dần, bị phân mảnh, mất liên kết; Năng lực quản lý bảo tồn còn hạn chế, tổ chức bảo tồn Sao La cấp quốc gia chưa có và ý thức người dân còn quá thấp; những hiểu biết về loài này hạn chế nên chưa có giải pháp bảo tồn đặc thù và công tác bảo tồn vẫn chủ yếu dựa vào sự hỗ trợ của nước ngoài…
PGS Đặng từng đề xuất: “Cần chú ý nhất bây giờ là hai khu vực có tầm quan trọng đặc biệt đối với loài Sao La ở Việt Nam là: Thừa Thiên Huế - Quảng Nam (còn khoảng 40 – 50 cá thể) và Tây Nam Quảng Bình - Bắc Quảng Trị (30 – 40 cá thể)”.
Để bảo tồn loài thú lớn, cần xây dựng các vùng cảnh quan bảo tồn Sao La với diện tích lớn và bao trùm hầu hết các tiểu quần thể Sao La trong vùng. Các cùng này cần có các khu bảo tồn nhiên nhiên làm hạt nhân, khu tăng cường bảo tồn Sao La và vùng đệm. Việc bảo tồn khoảng 150 con Sao La còn lại đang là vấn để của cả quốc gia, cả xã hội và cần sự vào cuộc của tất cả cộng đồng. (Pháp Luật VN 6/4)đầu trang(
Những thập kỷ gần đây, nguồn tài nguyên đa dạng sinh học (ÐDSH) của Việt Nam liên tục bị suy giảm và suy thoái. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên là do trong quá trình triển khai các dự án, vai trò và giá trị của ÐDSH đã ít được xem xét, đánh giá đầy đủ ngay từ khâu lập, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ÐTM).
Việt Nam được đánh giá là một trong mười trung tâm ÐDSH phong phú nhất trên thế giới. Tính đa dạng về hệ sinh thái (rừng, biển, đất ngập nước), sự giàu có về các loài và nguồn gien sinh vật; sự sẵn có của các hệ thống dịch vụ sinh thái và kiến thức địa phương về quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên làm cho ÐDSH có vai trò, giá trị vô cùng to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản, dược liệu và dịch vụ. ÐDSH được xem là "vốn tự nhiên" cho giảm nghèo, tăng trưởng xanh, phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu và mất an ninh lương thực, đang ngày càng đe dọa nhiều quốc gia trên thế giới.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, việc bảo tồn ÐDSH đã trở thành một chính sách quan trọng. Việt Nam đã ban hành Luật ÐDSH và nhiều khung chính sách, quy định khác liên quan đến vấn đề này. Mặc dù đã có 160 khu bảo tồn được thành lập, nhưng tài nguyên ÐDSH của Việt Nam liên tục suy giảm và suy thoái do áp lực gia tăng dân số; khai thác quá mức tài nguyên sinh vật, nhất là sự đánh đổi với ưu tiên phát triển kinh tế trong các thập kỷ gần đây. Nhiều diện tích rừng tự nhiên, đất ngập nước đã bị chuyển đổi sang trồng cây công nghiệp quy mô lớn, hay xây dựng cơ sở hạ tầng; dòng chảy tự nhiên các con sông bị chặn lại để xây dựng công trình thủy điện, đập chứa nước...
Ðiển hình như, do việc nuôi cá tra, cá ba sa với mật độ nuôi cao ở đồng bằng sông Cửu Long, đang được cho là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường tiềm tàng, ảnh hưởng đến ÐDSH và quần xã thủy sinh ở khu vực này.
Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính đến nay, cả nước có hơn một nghìn dự án thủy điện đã được quy hoạch, trong đó có 138 dự án trong Quy hoạch bậc thang thủy điện trên dòng chính các sông lớn. Việc phát triển thủy điện là cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, dưới góc độ sinh thái và bảo tồn ÐDSH, các nghiên cứu đều cho thấy tác động của việc xây đập, hồ chứa ảnh hưởng tới vùng sông hạ lưu sau đập là khá lớn, làm thay đổi các kiểu nơi cư trú như vực sông, suối, ghềnh, bãi cát trên sông dẫn đến thay đổi cấu trúc thành phần các loài thủy sinh. Nhiều loài thủy sinh, nhất là các loài có tập tính di cư dài, có tập tính di chuyển kết nối theo chiều dọc sông bị ảnh hưởng nghiêm trọng, cũng như việc thay đổi dòng chảy tạo điều kiện thuận lợi cho các loài ngoại lai xâm nhập vào hệ sinh thái sông...
Ðáng lo ngại, tại nhiều dự án được triển khai, vai trò và giá trị của ÐDSH đã không được xem xét và đánh giá đầy đủ trong quá trình lập, thẩm định báo cáo ÐTM, cũng như ra quyết định của các dự án phát triển. ÐDSH thường bị xem nhẹ trong đánh giá môi trường chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển của từng dự án...
Lý giải về tình trạng nêu trên, TS Lê Hoàng Lan, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE) nhận định: Việc đánh giá ÐDSH trong quy trình ÐTM ở nước ta hiện nay không cân nhắc đúng mức các vấn đề nhạy cảm đối với môi trường, khi lựa chọn vị trí triển khai dự án, nhất là không đánh giá khả năng chịu tải môi trường và tính đặc thù của hệ sinh thái.
Hiện nay, chúng ta mới chỉ tập trung vào các hệ sinh thái cần được bảo vệ, mà không chú ý đến các hệ sinh thái không được ưu tiên bảo vệ. Trong khi đó, lại không đưa ra được các đánh giá về sự thay đổi ÐDSH do tác động của dự án, so với những thay đổi có thể xảy ra khi không có dự án.
Ngoài ra, loại hình dự án nào cần được thực hiện ÐTM đến sinh học, chưa được quy định cụ thể danh mục các dự án phải thực hiện ÐTM đến ÐDSH. Không có hệ thống số liệu về ÐDSH liên quan đến khu vực dự án, khu vực phụ cận; chưa có hướng dẫn cụ thể về đánh giá đến ÐDSH, cho một số loại hình dự án. Ðộ tin cậy, sự không chắc chắn trong các dự báo tác động đến ÐDSH, không được thảo luận và đánh giá một cách rõ ràng, đánh giá ÐDSH mới chỉ ở mức độ chung, không cụ thể ở từng cấp độ (loài, quần thể và hệ sinh thái) cho nên độ tin cậy dự báo chưa thật sự thuyết phục...
Nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, TS Lê Hoàng Lan cho rằng: Trước hết, cần lồng ghép đánh giá tác động đến ÐDSH, là một cách tiếp cận tổng thể, toàn diện để xem xét tác động của các dự án phát triển đến hệ thống thực vật và dịch vụ hệ sinh thái. Lồng ghép bảo tồn ÐDSH, trong các dự án phát triển thông qua công cụ đánh giá môi trường chiến lược (ÐMC) và ÐTM là cách làm phổ biến và hiệu quả nhất hiện nay. Xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ thị ÐDSH quốc gia; các hướng dẫn kỹ thuật lồng ghép đánh giá tác động đến ÐDSH và dịch vụ hệ sinh thái trong quy trình và thủ tục ÐMC, ÐTM...
Ðồng thời, tăng cường năng lực về ÐTM của dự án đến ÐDSH, bao gồm đào tạo chuyên gia trong các lĩnh vực lập, thẩm định báo cáo ÐTM, hướng dẫn kỹ thuật, vì hiện nay ở nước ta rất thiếu đội ngũ này. Trong quá trình thực hiện ÐTM, chủ dự án phải tiến hành tham vấn chính quyền các cấp, nơi thực hiện dự án, các tổ chức và cộng đồng dân cư chịu tác động trực tiếp bởi dự án; nghiên cứu, tiếp thu những ý kiến khách quan, kiến nghị hợp lý của các đối tượng liên quan được tham vấn, để hạn chế thấp nhất tác động bất lợi của dự án đến môi trường tự nhiên, ÐDSH và sức khỏe cộng đồng...(Nhân Dân 5/4)đầu trang(
Chiều 3/4, tin từ Ban quản lý Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, Quảng Bình cho biết, Hạt kiểm lâm của Vườn đã quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Cao Xuân Mạnh (44 tuổi), trú xã Dân Hóa, huyện Minh Hóa và Đinh Tiến Phương (35 tuổi), trú tại xã Hóa Sơn, huyện Minh Hóa về hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm.
Theo hồ sơ vụ án, ngày 9/2, tại khu vực cầu Cha Lo 3 - Hang Ka Xai thuộc Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, lực lượng kiểm lâm phát hiện Mạnh và Phương gùi 2 bao tải có chứa 13 cá thể Voọc Hà Tĩnh (trọng lượng 30kg).
Tại cơ quan chức năng, các đối tượng khai nhận, đã đặt bẫy bắt số Voọc trên, sau đó xẻ thịt, sấy khô để đưa đi tiêu thụ. (An Ninh Thủ Đô + Thanh Niên + Lao Động + Công An Nhân Dân 4/4; Pháp Luật TP.HCM + Vietnam+ 3.4)đầu trang(
Một chiến dịch cộng đồng với tên gọi Vẽ móng tay cứu tê giác đang được hàng chục nghệ sĩ như diễn viên Hồng Ánh, nhạc sĩ trẻ Phạm Toàn Thắng, ca sĩ Hoàng Thùy Linh... nhiệt tình hưởng ứng trên trang cá nhân của mình.
Chiến dịch mang thông điệp: Sừng tê giác cũng chỉ là chất sừng keratin giống như móng tay, móng chân và tóc người, hoàn toàn không có khả năng chữa bệnh nan y như đồn thổi.
Vì vậy hãy chấm dứt những hành động sát hại loài động vật hoang dã đã và đang tuyệt chủng này (tê giác tại Việt Nam đã tuyệt chủng từ năm 2010) vì sự thiếu hiểu biết của bản thân.
Chiến dịch lần này được thực hiện bởi Tổ chức cứu trợ hoang dã Wild Aid Việt Nam, kêu gọi các nghệ sĩ cùng tham gia lên tiếng để lan tỏa sức mạnh cộng đồng, đồng thời tổ chức cuộc thi thiết kế thú vị mang tên Vẽ móng tay cứu tê giác, với hình ảnh là những chú tê giác được thiết kế bắt mắt...
Mọi thông tin về cuộc thi, chiến dịch Vẽ móng tay cứu tê giác có thể xem tại https://www.facebook.com/WildAidVietnam. (Tuổi Trẻ 3/4)đầu trang(
Nắng nóng kéo dài trong suốt thời gian dài cộng với việc nhiều diện tích rừng lại nằm gần đất sản xuất nông nghiệp của bà con khiến nguy cơ cháy rừng tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa là rất cao.
Và thực tế tình trạng cháy rừng cũng đã xảy ra ở Ninh Hòa. Chính vì vậy, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng là hết sức cấp bách, đang được các ngành, chủ rừng khẩn trương triển khai.
Vài tuần gần đây, Ban Quản lý rừng phòng hộ Ninh Hòa đang tích cực huy động tất cả lực lượng tham gia vào công tác phòng chống chày rừng. Tổng diện tích rừng trồng mà đơn vị này cần phải xử lý là trên 8.200ha.
Với phương châm phòng cháy hơn chữa cháy, Ban quản lý đã chủ động phát dọn thực bì; thực hiện duy tu, bảo dưỡng 20km đường ranh cản lửa. Đồng thời, đơn vị chủ động đốt dọn thực bì nhằm xử lý tất cả các vật liệu dễ gây ra cháy trước khi bước vào đỉnh điểm của mùa hanh khô.
Ông Cát Văn Thảo – Ban Quản lý rừng phòng hộ Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa cho biết: "Công tác xử lý ranh, làm ranh, đốt ranh, xử lý bằng cách đốt ranh, nghiên cứu địa hình đồi núi, chúng tôi xé nhỏ diện tích làm đường ranh, đốt trước. Khi xé nhỏ thì diện tích sẽ được xử lý kịp thời khi có sự cố xảy ra, khi đốt dựa vào thời tiết, không nên đốt vào giờ trưa.
Tổng diện tích đất có rừng trên địa bàn thị xã Ninh Hòa là trên 49.500 ha. Trong đó, rừng tự nhiên chiếm diện tích rất lớn, lại được phân bố ở địa hình đồi dốc, hiểm trở, khi xảy ra cháy việc huy động nhân lực, phương tiện tham gia chữa cháy là hết sức khó khăn. Chính vì vậy, công tác phòng cháy mang tính chủ động luôn được đặt lên hàng đầu.
Hiện Hạt Kiểm lâm thị xã Bubg Già cũng đã có nhiều phương án để ứng phó với từng tình huống và mức độ khi cháy xảy ra. Ông Phạm Lánh – Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa cho biết phương án triển khai cụ thể: “Đối với diện tích rừng trồng và gần rẫy mía cho các hộ làm cam kết trước khi phát đốt không cho cháy lan, các xã đẩy mạnh tuyên truyền cho nhân dân. diện tích rừng tự nhiên chúng tôi phân loại, vùng nào trọng điểm, vùng nào có nguy co cháy lan để có kế hoạch bảo vệ nghiêm ngặt”
Với đặc thù là địa phương có nhiều diện tích đất sản xuất nông nghiệp gần rừng, mặc dù đã được tuyên truyền, viết cam kết không để xảy ra cháy lan vào rừng, nhưng việc bà con tuân thủ thực hiện các cam kết đó lại là câu chuyện khác. Thực tế, ngay từ đầu mùa khô ở Ninh Hòa cũng xuất hiện tình trạng cháy rừng mà chủ yếu xuất phát những đám cháy mía. Trong khi đó, công tác chữa cháy tại các địa phương là hết sức khó khăn.
Việc Ban quản lý rừng phòng hộ Ninh Hòa có sự chủ động trong công tác phòng chống cháy rừng là điều hết sức cần thiết trong thời điểm hiện nay. Điều này sẽ hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy có thể xảy ra. Tuy nhiên, giai đoạn đỉnh điểm của mùa khô hanh vẫn chưa đến, trong khi ý thức bà con sản xuất nông nghiệp gần rừng chưa được nâng cao, thì nguy cơ cháy rừng vẫn còn đó.
Chỉ cần một vài giây bất cẩn, hàng trăm ha rừng sẽ biến mất, thiệt hại về kinh tế, môi trường là khôn lường. Do vậy, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng ở Ninh Hòa nói riêng, và cả nước nói chung rất cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành chức năng, địa phương và cả của người dân. (Đài Truyền Hình An Ninh 6/4) đầu trang(
Tháng Ba nắng như thiêu đốt cỏ cây, các cánh rừng ở Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai (gọi tắt là KBT) được báo động cấp 5, cấp cực kỳ nguy hiểm.
Ông Nguyễn Hoàng Hảo, Phó Giám đốc KBT kiêm Hạt trưởng Hạt kiểm lâm KBT đăm chiêu nét mặt khi bản đồ tác chiến phòng chống cháy rừng (PCCR) được biểu thị trên 100.000ha của KBT với tình yêu cháy bỏng: “Đây là cấp đánh giá tình yêu, trách nhiệm của lực lượng bảo vệ rừng khi mùa khô đến”.
Cuối tháng 2/2015, dân cư sinh sống tại các cánh rừng KBT tạm gác việc rẫy vườn, chộn rộn đón Xuân mới. Trong khi đó, lực lượng kiểm lâm KBT lại được lệnh phải đảm bảo quân số túc trực 24/24 tại các cánh rừng để bảo vệ lâm sản, thú, chim và phòng chống cháy rừng. Mùa xuân trôi qua thật căng thẳng với tất cả cán bộ nhân viên làm nhiệm vụ bảo vệ rừng, khi biểu thị bản đồ phòng chống cháy rưng (PCCR) của KBT được báo động cấp 4, cấp 5 và biểu thị đó sẽ kéo dài qua tháng 3, tháng 4, khi mùa Xuân kết thúc.
Theo kế hoạch, tất cả các lực lượng kiểm lâm tại 17 trạm, kiểm lâm lưu động phải bảo đảm quân số 50% trực ngày tết. Tuy nhiên, dưới sức ép của rừng mùa khô, tình yêu và trách nhiệm, các anh em được lệnh của lãnh đạo KBT phải sẵn sàng gác lại kỳ nghỉ tết, phép đến mùa mưa (trừ trường hợp đột xuất và cấp thiết) để bảo vệ cho những cánh rừng mãi xanh, dưới cái nắng giòn tan lớp thực bì. Vì vậy, quân số bảo vệ rừng luôn ở mức trên 70% tại các đơn vị và rừng an toàn qua những ngày Xuân nắng gắt.
Tháng 2 qua nhanh trong sự hồi hộp, vui mừng. Tháng 3 lại chậm chạp đếm từng ngày với nỗi lo của người bảo vệ rừng: “Thời gian thi công các đường băng cản lửa PCCR trùng với thời gian thu hoạch các sản phẩm nông nghiệp nên việc thuê nhân công lao động gặp khó khăn. Mùa khô người dân thường xuyên ra vào rừng để thu hoạch sản phẩm nông nghiệp nên việc kiểm soát người ra vào rừng phức tạp hơn. Cho nên, lực lượng bảo vệ rừng phải đảm bảo quân số làm nhiệm vụ và kết hợp với 4 phương châm tại chỗ: chỉ huy, lực lượng, phương tiện và hậu cần” - ông Nguyễn Hoàng Hảo cho hay.
Nói rồi ông Hảo điều xe cùng chúng tôi đi thăm những cánh rừng, những chòi canh, điểm gác lúc nào cũng có lực lượng “quân, dân” túc trực với can nước, bình xịt, điện thoại… kè kè bên mình sẵn sàng nghe ngóng, trong đầu luôn đề phòng ứng phó với các tình huống xảy ra theo các phương án giả định đã được KBT tập huấn.
Ông Hảo vừa ngồi trên xe vừa cho biết, mùa khô nào cũng vậy, KBT đều thành lập và tổ chức hoạt động 1 ban chỉ huy PCCR; 3 tiểu ban PCCR; 17 tổ PCCR ở 17 trạm kiểm lâm; 1 ban chỉ đạo thi công PCCR. Đây là lực lượng nòng cốt và chịu trách nhiệm triển khai thực hiện công tác PCCR của KBT. Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận được quy định cụ thể trong các Quyết định thành lập và quy chế hoạt động của Ban chỉ huy PCCR mùa khô năm 2014-2015.
Chiếc xe tuần rừng đỗ xịch trước sân Trạm kiểm lâm Cây Gùi (ấp 4, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai). Trạm trưởng Nguyễn Văn Chiến và kiểm lâm viên Tiến vội ra đón tiếp. Sau câu chào khách, hai anh trần tình lý do trạm vắng lực lượng không phải anh em được nghỉ phép, nghỉ tuần mà đang trực chiến tại các chốt, điểm xung yếu của trạm. Ngoài 9 anh em kiểm lâm theo biên chế của trạm, đơn vị còn được bổ sung thêm những kiểm lâm bán chuyên nghiệp, là người dân tại địa bàn theo hợp đồng trả lương hẳn hoi.
Chục năm nay, hai ông: Nguyễn Văn Thành và Trương Văn (người dân ấp 4, xã Mã Đà) liên tục được Trạm kiểm lâm Suối Trau ký hợp đồng bảo vệ rừng mùa khô và giao khoán nhiệm vụ làm các đường băng cản lửa, dọn thực bì. Vốn là người gắn với các cánh rừng Mã Đà thời kỳ “phá rừng làm rẫy, khai thác lâm sản” khi thủy điện Trị An đang thi công, ông Thành, ông Văn luôn có nhiều kinh nghiệm để đối phó với “giặt lửa”.
Ông Văn nói: “Chỉ cần nhìn từ xa thấy khói trắng nhẹ thì biết đó là khói do người ta nấu ăn, đốt dọn vườn. Còn nhìn thấy khói cuộn màu đen, tàn bay lả tả là chắc chắn cháy rừng, cháy lớn ở đó phải báo động lực lượng dập lửa”.
Trong khi đó, ông Thành thì thấm nhuần tình yêu rừng qua vai trò người tổ trưởng nhân dân cho hay, rừng giờ là của chung của mọi người nên trách nhiệm phải chia nhau bảo vệ. Hằng ngày, đi rẫy, đi rừng nhìn những cánh rừng xanh tốt, muôn thú xuất hiện trước mặt, người dân thì bỏ thói quen “ăn thịt rừng, làm nhà bằng cây rừng”, ông Thành rất vui, tự hào là người dân sinh sống trong rừng thời đại mới.
Chính vì vậy, dù đồng tiền hỗ trợ của trạm đối với người dân hợp đồng PCCR mùa khô khiêm tốn, ông Thành vẫn bám điểm gác đúng giờ, tuần tra liên tục và nhắc nhở bà con luôn cẩn thận lửa, củi khi vào rừng, kịp thời thông tin về những tác động xấu lên rừng cho cán bộ kiểm lâm và ông.
Xe lại chạy về hướng chòi canh khoảnh 2, tiểu khu 102, Trạm kiểm lâm Rang Rang (ấp 5, xã Mã Đà). Cái chòi canh cao 45 mét bằng sắt và có “cặp mắt thần” của cha con ông Mai Lành, Mai Văn Tài (người dân được đơn vị hợp đồng gác rừng mùa khô) thay phiên nhau gác.
Anh Tài cho biết, hôm nay anh có nhiệm vụ thay cha đứng chòi canh gác rừng từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều. Nhiệm vụ của anh là đứng liên tục nửa giờ đồng hồ trên chòi canh, quan sát tứ bề xung quanh xem rừng có động tĩnh gì hay không. Sau đó, sẽ leo xuống lấy xe máy chạy về hướng những điểm xung yếu, nghi vấn để kịp thời báo cáo.
Còn kiểm lâm viên Trương Minh Ngọc (người được phân công cùng cha con ông Lành bám gác) thì đặt cái bình xịt, can nước từ bìa rừng đi ra nói trong hơi thở dốc vì nắng, vì mệt: “Từ sau Tết đến nay, mình luôn bám nhiệm vụ 24/24 theo sự phân công của thủ trưởng. Tuy tất cả anh em kiểm lâm phải tạm dừng đợt nghỉ phép, nghỉ tết vì nhiệm vụ PCCR mùa khô nhưng bù lại vẫn có ngày nghỉ tuần và thù lao làm thêm giờ, nên ai cũng vui và chờ những cơn mưa rừng trút xuống để được bên gia đình. Làm gì thì làm chứ điện thoại reo từ 12 giờ trưa đến 18 giờ chiều anh em ai cũng lo, cũng hồi hộp, vì không biết đó là tin tốt hay tin xấu”.
Bữa cơm rừng đạm bạc mùa nắng tại các trạm kiểm lâm, các bàn ăn luôn trống, cơm canh đạm bạc, ăn vội và không có rượu bia mời khách. Tuy vậy, câu chuyện bảo vệ rừng, PCCR mùa khô không kém phần rôm rả khi chủ và khách tranh luận “vật chất và ý thức cái nào có trước”, khi nói về kết quả của người làm công tác kiểm lâm với truyên truyền về rừng. Mặc cho điều gì có trước, có sau, miễn rừng KBT vẫn không bắt lửa, xanh tươi và những người kiểm lâm KBT an tâm khi nghỉ tuần, trực chiến và khoác hành trang về thăm nhà ngày phép. (Tài Nguyên & Môi Trường 2/4)đầu trang(
Giá trầm kỳ từ vài trăm triệu đến cả chục tỉ đồng/kg đã thôi thúc nhiều người lao vào rừng tìm kiếm. Có người gặp may nhưng cũng có người phải đánh đổi bằng máu và nước mắt.
Khánh Hòa nổi tiếng với trầm hương và kỳ nam, đây là 2 sản vật được coi như linh khí của trời đất nên rất quý. Không những lùng trong rừng, tự trồng cây dó bầu, nuôi trầm để bán, người dân xứ trầm bỏ công lặn lội đi khắp miền Trung - Tây Nguyên, thậm chí qua tận Lào để kiếm trầm.
Ở Khánh Hòa, việc mua bán trầm kỳ diễn ra sôi động nhất ở vùng Vạn Giã, Vạn Thắng, Vạn Bình (huyện Vạn Ninh). Theo các chủ cơ sở buôn bán, giá trầm hương dao động từ vài trăm ngàn đến 1 tỉ đồng/kg. Còn giá kỳ nam rất mắc, từ vài trăm triệu đến cả chục tỉ đồng/kg.
Ông Tấn Ba (63 tuổi; ngụ thôn Phú Hội 3, xã Vạn Thắng, huyện Vạn Ninh), một cựu phu trầm, cho biết: “Nghề trầm có ở Vạn Ninh hàng trăm năm nay, thời nào cũng có những vụ trúng trầm kỳ “khủng”. Như thời tôi đi địu (đi kiếm trầm - PV), có ông Thử ở xã Vạn Phú trúng gần 100 cây vàng.
Mới đây nhất có ông Tú ở thôn Tứ Chánh, xã Vạn Bình trúng trầm ở Đắk Lắk được mười mấy tỉ đồng, xây cái nhà to hơn trụ sở UBND xã. Năm 2012, dân huyện Khánh Sơn (Khánh Hòa) đào được 1,5 kg trầm, bán cả chục tỉ đồng…”. Cứ lâu lâu lại rộ lên những vụ trúng trầm kỳ “khủng” như vậy làm dân chúng hết sức nôn nao, ai nấy đua nhau lao theo nghề tìm trầm để mong đổi đời.
Lý giải việc bám nghề của mình, phu trầm với thâm niên hơn 20 năm, ông Nguyễn Duy Tân (ngụ thôn Phú Hội 2, xã Vạn Thắng), nói: “Mới đầu do nghèo, thấy người ta đi địu về có trầm bán được nhiều tiền nên sinh ham rồi theo. Riết rồi cái nghề thấm vào máu, không đi là thấy bứt rứt khó chịu”.
Theo ông Tân, 1 năm ông đi địu 4-5 chuyến, mỗi chuyến kéo dài khoảng 1 tháng. Những năm trước, trầm núi ở Khánh Hòa còn nhiều, có chuyến ông trúng cả trăm triệu đồng. Giờ loại trầm núi khan hiếm, nhiều đợt đi về trắng tay. May mắn lắm ông mới kiếm được 10-20 triệu đồng nhưng phải đến tận Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đắk Lắk…, thậm chí qua Lào.
Hành trang của các phu trầm nặng trên 40 kg gồm: Gạo, thịt, cá, mắm muối, võng, bạt, chăn, đồ nghề xoi trầm… Họ đi ngày này qua tháng nọ, khi nào cạn lương thực mới về. Giữa núi rừng mênh mông, phu trầm phải đối diện với rất nhiều rủi ro như sốt rét, rắn độc, vắt, thổ phỉ, lạc đường…
Do đó, không ai dám 1 mình đi địu mà phải theo nhóm từ 2-10 người, trong đó kiêng 3 người (tam tai) và 5 người (ngũ quỹ). Những người đi trầm phải hết sức kiên nhẫn, chịu khó, chịu khổ mới được vào nhóm. Nhóm sẽ cử ra một bầu trưởng là người có kinh nghiệm, thông thuộc địa hình để dẫn đầu.
Ông Hùng (ngụ xóm Đồn, thôn Phú Hội 1, xã Vạn Thắng), một bầu trưởng, cho biết theo lệ, khi đến điểm đào, nhóm trầm sẽ chọn một dòng suối làm nơi đóng trại. Sau đó, mỗi người tỏa ra các hướng khác nhau để tìm cây dó.
Khi phát hiện cây dó có trầm thì chặt 1 nhát mở miệng và tiếp tục cúng xin lễ lấy trầm kỳ rồi đẽo gọt thành trầm thô đưa về cho gọn. Tiền bán trầm trước tiên sẽ trích 10% cho người tìm được, 10% cho bầu trưởng, còn lại thì chia đều cho các thành viên trong nhóm.
Tuy nhiên, để có được thành quả đó, những người đi địu phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt. Chỉ vào vết sẹo ở chân, ông Tân cho biết mình suýt chết vì bị rắn cắn. “Đang đi địu ở Ba Tơ, Quảng Ngãi, tôi bị rắn hổ cắn vào chân gây phù nề, đau nhức. Các anh em trong nhóm liền xẻ vết rắn cắn hút máu ra. Sau đó, tôi được cáng từ rừng về đến bệnh viện huyện mất hơn 2 ngày. Bác sĩ nói do sơ cứu không đúng cách nên nếu chậm vài giờ nữa là có thể phải cưa chân” - ông Tân kể.
Không chỉ đổ máu, nhiều phu trầm cùng làng với ông Tân phải bỏ mạng như trường hợp hai anh em ông Minh, Mẫn (ngụ thôn Phú Hội 2) bị mất xác vì đi lạc, ông Tám Phương bị bắn chết ở Nghệ An vì đi nhầm vào nơi thổ phỉ trồng thuốc phiện. Ngoài ra, còn nhiều trường hợp khác ở xã Vạn Bình, Vạn Phú bị cây đè, sét đánh, ngã bệnh chết giữa chốn rừng núi hoang vu. Nhiều người vượt biên qua Lào bị biên phòng nước bạn bắt giữ, tịch thu hết tài sản, phạt hàng chục triệu đồng…
Bà Nguyễn Thị Quỳnh Lê, vợ ông Tân, than thở: “Mỗi lần ổng đi là tôi lo lắng, chỉ biết cầu ông bà, trời Phật phù hộ. Tôi cũng khuyên kiếm nghề khác nhưng ổng nói sống nghề nào theo nghề đó. Vài bữa ổng già, không đi được nữa sẽ bỏ nghề trầm núi theo nghề trầm nuôi. Vẫn phải chờ vậy...”.
Đúc kết về nghề địu trầm, bầu trưởng Hùng chặt lưỡi: “Ăn của rừng, rưng rưng nước mắt”, câu đó quả không sai. Kiếm lộc rừng đã khó, giữ được còn khó hơn. Như nhóm công an ăn chặn cục kỳ nam ở huyện Khánh Sơn vào năm 2012, nay đã bị tuyên án tù cả chục năm. Ông Nguyễn Ngọc Tú ở xã Vạn Bình trúng 16 kg kỳ nam bán cả chục tỉ đồng nhựng rốt cuộc sinh hư, làm ăn lụi bại. Đến nay, ông Tú quay trở lại nghề xưa, nhà cửa im ắng, Tết nhất mà vẫn còn trên rừng chưa về...”. (Người Đưa Tin 2/4) đầu trang(
Nhiều dự án phát triển kinh tế - xã hội trên dãy Trường Sơn đang gây nguy hại đáng báo động đến đa dạng sinh học nơi đây. Làm thế nào để mang lại lợi ích hài hòa cho cả con người và thiên nhiên vẫn đang là bài toán khó chưa có lời giải…
Không thể phủ nhận tác dụng giảm tải cho QL 1A và phát triển KTXH khi đường Hồ Chí Minh (HCM) mở ra, nhưng cũng bởi con đường này cắt qua quá nhiều khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) và Vườn quốc gia (VQG) cũng như vùng rừng núi trên dãy Trường Sơn đã ảnh hưởng lớn đến đa dạng sinh học (ĐDSH) nơi đây.
Trong một chuyến thực tế tại Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Bắc Hướng Hóa, huyện Hướng Hóa (Quảng Trị), chúng tôi nhớ mãi lời một cán bộ của khu BTTN này nói mà lắc đầu lia lịa: “Việc khai thác, săn bắt trái phép lâm sản đang là mối đe dọa nghiêm trọng đến khu bảo tồn. Càng báo động hơn khi đường HCM thông tuyến. Người săn bắt, khai thác trái phép lâm sản từ chỗ phục vụ nhu cầu tại chỗ chuyển sang việc đưa ra tiêu thụ bên ngoài một cách ồ ạt nhờ giao thông quá thuận tiện”. Theo một nghiên cứu công bố trong cuốn sách Shood và Hùng, 2008, một nửa số hộ dân sống trong khu BTTN Bắc Hướng Hóa có ít nhất một người săn bắt thú bất hợp pháp.
Đường HCM, đặc biệt là nhánh Tây qua địa phận ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế đã xuyên qua hai VQG lớn (Phong Nha - Kẻ Bàng và Bạch Mã), hai khu BTTN quan trọng (Đakrông và Bắc Hướng Hóa, cùng ở Quảng Trị) KTXH phát triển mạnh. Song mặt trái của nó kéo theo nạn lâm tặc hoành hành; nạn tận diệt thú rừng với các nhà hàng đặc sản nhan nhản, dọc nhánh đường không ít người bày bán, giới thiệu thịt thú rừng một cách ngang nhiên.
Sự bùng nổ xây dựng các công trình hồ chứa thủy điện, thủy lợi đang hủy hoại và làm suy giảm nghiêm trọng đa dạng sinh học dãy Trường Sơn. TS. Hoàng Văn Thắng - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Moi trường, Trường ĐHQG Hà Nội đã từng kết luận rằng, khi đặt bút phê duyệt xây dựng Dự án thủy điện Rào Quán trên sông Rào Quán, thuộc Khu BTTN Bắc Hướng Hóa, cơ quan chức năng đã lượng giá rừng tự nhiên nơi đây thấp hơn cả… rừng trồng. Bởi vậy họ cho rằng việc duy trì rừng tự nhiên để bảo tồn ĐDSH không hiệu quả bằng xẻ đôi khu BTTN để xây đập thủy điện. Nhưng thực tế cho thấy việc phá rừng ồ ạt đã làm cho các thảm họa môi trường ngày càng trầm trọng hơn như lũ lụt, hạn hán hàng năm…
Mặt khác, báo cáo đánh giá tác động môi trường cho Dự án Rào Quán khi mới triển khai không đề cập đến những tác động lớn lên rừng tự nhiên mà chỉ tập trung vào vấn đề kỹ thuật. Ước tính, hồ thuỷ điện này chặn dòng gây ngập 274ha rừng tự nhiên và 165ha rừng trồng, nhưng dự án này đánh giá tác động lại chỉ tính đến giá trị của các “cây đứng” mà thôi.
Nhưng trên dãy Trường Sơn, Rào Quán chỉ là một trong hàng trăm ví dụ. Theo một đề tài của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam về “Điều tra, khảo sát, nghiên cứu đánh giá tác động và đề xuất các cơ chế, chính sách, giải pháp tăng cường quản lý, khai thác hiệu quả các công trình hồ chứa thủy điện, thủy lợi Bắc Trung Bộ” do Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam (VACNE) thực hiện đã khẳng định: Các hồ chứa thủy điện, thủy lợi đã làm suy giảm tính đa dạng một số loài, thay đổi điều kiện môi trường và địa bàn cư trú… của các loài động, thực vật ở dãy Trường Sơn.
Trong vòng 8 - 9 năm qua, với việc “bùng nổ” xây dựng các hồ chứa thủy điện, thủy lợi nên tài nguyên rừng, đất rừng và quy mô rừng đang bị thu hẹp và chịu sự tàn phá nặng nề đến mức báo động. Trên các lưu vực sông chính của dãy Trường Sơn, có khoảng trên dưới 100 công trình hồ thủy điện, thủy lợi với dung tích chứa nước gần 30 tỷ mét khối. Giới bảo vệ thiên nhiên, môi trường đã phải thốt lên rằng, số lượng công trình thủy điện ở các tỉnh thuộc dãy Trường Sơn đã vượt tầm kiểm soát. Mật độ quá dày đặc này đang cắt nhỏ các dòng và lưu vực sông.
Còn nhớ năm 2007, khi Thủy điện Rào Quán xả nước với lưu lượng 200m3/giây, hạ lưu sông Thạch Hãn dâng với tốc độ chóng mặt khiến hàng nghìn hộ dân huyện Triệu Phong chìm trong biển nước.
Từ năm 2008, theo quy hoạch phát triển thủy điện nhỏ, UBND tỉnh Quảng Trị đã phê duyệt 18 dự án xây dựng thủy điện với tổng công suất 103,9MW. Nhưng về sau, UBND tỉnh này đã loại đi còn 8 dự án. Hiện 4 dự án đã hoàn thành việc xây dựng và đi vào hoạt động, còn lại vẫn đang triển khai xây dựng. Người dân Quảng Trị vẫn đang lo ngại rằng, sắp tới nếu toàn bộ các công trình thủy điện đi vào hoạt động và sẽ đồng loạt xả lũ khi mùa mưa bão đến, không biết chuyện gì sẽ xảy ra với các huyện ở hạ lưu các sông như Thạch Hãn, Đakrông… vốn có địa hình rất dốc.
Minh chứng đầu tiên cho việc xây dựng, vận hành bất hợp lý các công trình thủy điện ở miền Trung - Tây Nguyên là cơn “đại hồng thủy” lịch sử năm 2009 tàn phá trên diện rộng từ Quảng Trị đến Ninh Thuận và Tây Nguyên, làm 179 người chết, thiệt hại khoảng 16.078 tỷ đồng. Tháng 10, 11 năm sau (2010), việc xả lũ thiếu hợp lý của các hồ chứa nước đã ngập lụt ở hầu hết hạ lưu các sông dãy Trường Sơn.
Rồi giữa tháng 11/2013, cơn bão Nari ập vào miền Trung. Riêng ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên, các con số thống kê cho thấy có ít nhất 41 người chết, 5 người mất tích, 74 người bị thương và lũ quét qua đã cuốn sạch nhà cửa, tài sản, hoa màu nông nghiệp của người dân. Tại những nơi lũ đi qua, người dân và chính quyền địa phương đều bất bình “kể tội” 15 thủy điện ở miền Trung và Tây Nguyên đồng loạt xả lũ đã gây nên tai họa này.
Dân hạ nguồn tay trắng vì thủy điện xả lũ nhưng các nhà máy thủy điện không phải chịu trách nhiệm. Bảo nhà máy thủy điện đền bù hay khắc phục cho người dân còn khó hơn lên trời. Còn nhớ, Thủy điện Sông Tranh 2 (Quảng Nam) tích nước gây ngập hơn 30 hộ dân ở xã Trà Dơn, huyện Nam Trà My. Bà con có chứng cứ rành rành, kéo nhau ra tòa khởi kiện, nhưng qua 2 phiên xét xử, phần thua vẫn thuộc về... chính họ!
Việt Nam được cộng đồng khoa học thế giới đánh giá là một trong 16 nước có tính ĐDSH cao nhất thế giới. Nhưng với kiểu phát triển thủy điện hiện nay, mối “hiểm hoạ” về cuộc chia tay giữa các loài động vật, thực vật quý hiếm và ĐDSH dãy Trường Sơn đang hiện hình quá rõ nét... (Pháp Luật VN 4/4)đầu trang(
Đà Nẵng: Quản lý 63 chủ nuôi động vật hoang dã vì mục đích thương mại
Ông Lê Văn Nhì, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm TP, ngày 2-4 cho hay, hiện trên địa bàn thành phố có 63 chủ nuôi động vật hoang dã được Chi cục Kiểm lâm TP cấp giấy chứng nhận nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng.
Trong số này có 4 trại nuôi có tư cách pháp nhân và 59 cơ sở nuôi hộ gia đình. Các loài đăng ký nuôi sinh sản vì mục đích thương mại chủ yếu là heo rừng, nhím bờm, don, cầy vòi hương, dúi mốc lớn, kỳ đà vân, rắn ráo trâu, ba ba trơn, trĩ đỏ khoang cổ...
Thành phố hiện có 4 chủ nuôi gấu với 7 cá thể gấu ngựa đã được quản lý gắn chíp điện tử năm 2005 đến nay và không có phát sinh trại nuôi mới hoặc gấu nuôi mới không gắn chip. Chi cục Kiểm lâm thường xuyên kiểm tra giám sát các chủ nuôi gấu theo quy chế quản lý gấu nuôi ban hành tại Quyết định số 95/2008/QĐ-BNN của Bộ NN&PTNT. (Công An Đà Nẵng 3.4)đầu trang(
Diện tích trồng mắc-ca tại Tây Nguyên hiện chưa tới 2.000 ha, trên tổng diện tích khoảng 750.000 ha đất trồng cây công nghiệp của khu vực này...
Cây cà phê “chung sống hòa bình” trên cùng một khu đất với mắc-ca, nhờ trồng xen canh. Đây cũng là phương pháp trồng chủ yếu hiện nay đối với mắc-ca tại Tây Nguyên, nhờ cây có khả năng chịu hạn tốt, dễ sống, không cần chăm bón nhiều, đồng thời có thể "che chở" cho cà phê vì cây cà phê cần bóng mát.
Tại một điểm ươm giống mắc-ca chuẩn, gần thành phố Buôn Ma Thuột (Đắc Lắc). Hiện Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã công nhận khoảng 10 loại giống, nhưng vẫn tiếp tục hợp tác nghiên cứu để mở rộng số giống đạt chất lượng. Chọn đúng giống tốt được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu để trồng mắc-ca thành công.
Mắc-ca mọc cao, phủ tán, rễ ăn khá sâu, nên còn tác dụng giữ ẩm và chống xói mòn cho đất. Theo nghĩa này, ngoài việc mang lại giá trị kinh tế từ hạt, đây cũng có thể xem là cây lâm nghiệp nhằm phủ xanh đất trống đồi trọc.
GS.TS Nguyễn Lân Hùng, Tổng thư ký Các hội sinh học Việt Nam, trò chuyện với một công nhân tại khu vườn mắc-ca giống của công ty Vinamacca tại huyện M’Drak (Đắc Lắc). Trên khu vườn 8 ha của công ty này, chỉ cần 2 công nhân chăm sóc thường xuyên, do loại cây này khá “dễ tính”.
“Từ đầu vụ, thương lái đã đặt tiền mua. Hái được bao nhiêu, bán hết bấy nhiêu”, anh Đinh Kim Thu (thôn Lộc Xuân, xã Phú Lộc huyện Krông Năng, Đắc Lắc) nói. Năm vừa rồi, vườn mắc-ca 10 tuổi với khoảng 100 cây trên diện tích 1 ha của gia đình anh mang về doanh thu 300 triệu đồng (chi phí chăm sóc chiếm khoảng 1/10 doanh thu), với 1,8 tấn quả.
Dễ sống, nhưng lại kén khí hậu và thổ nhưỡng, không phải vùng đất nào cũng có thể trồng tốt mắc-ca. Đây là nguyên nhân chính khiến tổng diện tích trồng mắc-ca trên thế giới sau nhiều năm phát triển cũng mới chỉ đạt khoảng 80 nghìn ha, khiến nguồn cung luôn thấp hơn cầu. Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ thí điểm, đất Tây Nguyên đã tỏ ra phù hợp với loại cây này, với sản lượng thu hoạch khá cao.
Tỷ lệ nhân trên hạt của mắc-ca vào khoảng 1/3, tức cứ 3 kg hạt thì cho 1 kg nhân. Việc chế biến có thể làm tăng giá trị hạt mắc-ca thô lên từ 3-5 lần. Khi nói giá bán mắc-ca, cần phân biệt rõ giá quả - hạt - nhân. (VnEconomy 6/4)đầu trang(
Trong vòng 5 năm tới, trung bình mỗi năm Nhà nước sẽ đầu tư khoảng 1.000 tỷ đồng để trồng và phục hồi các diện tích rừng ven biển tại 19 tỉnh, thành trọng điểm.
Đây là nội dung quan trọng của Đề án Bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015 - 2020 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Trong hai ngày (3 - 4/4), tại thành phố Huế, Bộ NN&PTNT đã tổ chức Hội nghị triển khai đề án này.
Tại Hội nghị, Bộ NN&PTNT đã khẳng định, mặc dù diện tích rừng ven biển nước ta chỉ chiếm khoảng 3% diện tích đất lâm nghiệp, nhưng lại góp phần quan trọng duy trì đa dạng sinh học, phòng hộ chắn sóng, chắn gió bão.
Thời gian qua, mặc dù đã có nhiều nỗ lực song do nguồn vốn và mức đầu tư thấp, nên hiện độ che phủ của rừng ở các xã ven biển chỉ đạt gần 17%. Với mục tiêu bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, phục hồi và trồng mới gần 60.000ha rừng, trong 5 năm tới, Việt Nam phấn đấu nâng độ che phủ của rừng ven biển lên hơn 20%.
Trong năm nay, Bộ NN&PTNT sẽ phối hợp với các Bộ, ngành, khẩn trương huy động nguồn lực, khoa học kỹ thuật, nâng cao năng lực cho chính quyền và cộng đồng các địa phương để triển khai thành công đề án trồng rừng ven biển. (Nông Nghiệp VN 6/4; Đài Truyền Hình VN 4/4)đầu trang(
Ông Phạm Văn Đùng ở xã Ba Dinh, huyện Ba Tơ (Quảng Ngãi) đã đổi đời nhờ việc trồng rừng.
Trước năm 2005, cả gia đình sáu người của ông Phạm Văn Đùng ở xã Ba Dinh, huyện Ba Tơ (Quảng Ngãi) chủ yếu sống nhờ nguồn thu duy nhất là phát rẫy làm nương nên điều kiện sống hết sức khó khăn. Ông Đùng còn nhớ lắm, ngày đó đói quanh năm, cả nhà chỉ trông vào mấy mảnh nương. Mùa nào được còn đỡ. Mùa nào mất là đói triền miên…
Năm 2005, ông Đùng tham gia Dự án phát triển ngành Lâm nghiệp (WB3) và được hỗ trợ vốn vay trồng gần bốn ha rừng Keo Lai. Nhờ sự giúp đỡ của các cán bộ dự án (DA), từ chỗ chưa có kinh nghiệm triển khai trồng rừng thương mại, ông từng bước làm chủ kỹ thuật và đến năm 2010 đã được thu hoạch với giá bán trung bình khoảng 90 triệu đồng một ha rừng thành phẩm. Ông đã trả được nợ ngân hàng, xây được ngôi nhà gỗ khang trang thay cho căn nhà vách đất và sắm sửa các vận dụng cần thiết trong gia đình.
Ông Đùng chia sẻ, mình sống giữa rừng, nhưng ngoài phát rẫy làm nương đâu có tính đến việc trồng rừng? Mà có nghĩ tới cũng đâu có vốn? DA này đã giúp những người dân như mình tiếp cận được với vốn tín dụng ưu đãi, kỹ thuật trồng rừng hiện đại. Thu nhập từ rừng đã giúp mình và nhiều người như mình thoát khỏi cái nghèo, cái đói…
Cũng giống như ông Đùng, nông dân Hồ Đa Thê, xã Lộc Bổn, huyện phú lộc, Thừa Thiên - Huế, cho biết, trước khi có DA, công việc chính của ông và dân trong tám thôn bị di dời vì xây dựng hồ chứa nước ở xã Lộc Bổn là đi làm thuê. Đất rất cằn cỗi, không trồng được thứ gì theo thói quen. Bà con không biết trồng rừng và chưa yên tâm vì chưa được giao quyền sử dụng đât… Sau 10 năm, DA đã mang lại thay đổi ghê gớm. Rừng là nguồn thu nhập chính. Bà con yên tâm trồng rừng vì được là chủ rừng thật sự, được vay vốn…
Theo Chủ tịch UBND xã Ba Dinh (Ba Tơ, Quảng Ngãi) Trịnh Xin, nhờ tham gia DA này, cuộc sống của những người dân qua từng năm đã có nhiều thay đổi. Nếu mỗi hộ nghèo có từ 1 -2 ha rừng, thì sau khi thu hoạch, trừ tất cả chi phí cũng cho thu nhập 60 triệu đồng/ha trong khoảng 5 năm. Điều kiện kinh tế gia đình được cải thiện đáng kể, góp phần đem lại sự ổn định của địa phương…
Ông Nguyễn Tấn Đạt, Chủ tịch UBND xã Cát Lâm, huyện Phú Cát, tỉnh Bình Định, một trong những xã đã tham gia thực hiện DA từ đầu khi DA mới triển khai năm 2005, cho biết: toàn xã có hơn 750 ha rừng được trồng theo WB3, trước khi tham gia DA nơi đây là vùng đất cát bạc màu, năng suất cây trồng hằng năm thấp. Bây giờ vùng đất khô khát ngày nào đã xanh thắm những vườn cây keo lai, bạch đàn… Từ chỗ trồng rừng tự phát, đến nay nông dân đã hiểu biết kỹ thuật trồng rừng, đã biết thâm canh rừng và đã có niềm tin là có thể làm giàu từ trồng rừng.
WB3 là DA mới của ngành lâm nghiệp Việt Nam được thực hiện theo hình thức: Chính phủ vay của Ngân hàng Thế giới (WB), rồi cho người dân vay lại với lãi suất ngang bằng lãi suất cho vay hộ nghèo với thời gian dài hạn. Theo bà Nguyễn Thi Thu Lan, chuyên gia cao cấp về Môi trường của WB, Chủ nhiệm WB3, DA đã hỗ trợ hoạt động đo đạc và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho khoảng 35.000 hộ.
Các hộ nông dân có thể dùng nó để vay vốn lãi suất thấp từ nguồn vốn quay vòng của DA do Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (NHCSXH) quản lý. Đến nay, đây là DA đầu tiên, và cũng là DA duy nhất ở Việt Nam sử dụng phương pháp cho vay lại trong hoạt động trồng rừng tiểu điền, là hình thức được chứng minh bền vững hơn so phương pháp truyền thống trợ cấp hoạt động trồng rừng.
Giám đốc Ban Điều phối T.Ư dự án WB3 Phạm Quốc Chiến chia sẻ, triển khai từ năm 2005 đến năm 2015 tại các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Thừa Thiên - Huế, Nghệ An và Thanh Hóa, WB3 đã mang lại hiệu quả về kinh tế, và tác động tích cực về xã hội và môi trường cho các cộng đồng địa phương. Thông qua hỗ trợ trồng rừng, DA đã giúp nhiều gia đình thoát nghèo. Các tỉnh thuộc vùng DA đều thuộc những tỉnh nghèo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, nên tỷ lệ đói nghèo còn cao hơn so bình quân chung cả nước, thế nhưng sau đó, khoảng cách này ngày một thu hẹp lại.
Tính đến tháng 3-2015, tại sáu tỉnh DA đã thành lập được 806 nhóm nông dân trồng rừng với 26.968 hộ dân tham gia. Khoảng 850 héc ta rừng đáp ứng những tiêu chuẩn kỹ thuật, xã hội và môi trường quốc tế nghiêm ngặt đã được cấp Chứng nhận quản lý rừng quốc tế trong một chương trình cấp chứng chỉ thí điểm. Hơn 400 km đường lâm sinh, 86 chòi canh lửa và 102 bảng thông tin trên khắp vùng DA đã được xây dựng để nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ rừng, giảm thiểu nguy cơ cháy rừng...
Theo Phó Tổng giám đốc NHCSXH Nguyễn Văn Lý, người dân đã thực hiện vay vốn ưu đãi của DA để đầu tư vào trồng rừng theo hướng thâm canh, điều mà các chương trình hay DA trước đây của ngành lâm nghiệp chưa làm được. Chính sách đầu tư kiểu “cho vay” nhưng với lãi suất ưu đãi đã phát huy tối đa quyền tự quyết định cũng như trách nhiệm của người dân trước phương án sản xuất kinh doanh của mình.
Họ đã thật sự quan tâm gắn bó với rừng của họ để bảo đảm kinh doanh rừng có lãi, không những trả được nợ mà phải giàu lên từ rừng chứ không như kiểu đầu tư “cho không” như trước đây. Đây chính là thành công đầu tiên DA mang lại, nó thể hiện ở chỗ đã dần thay đổi cách nghĩ, cách làm của người dân vùng nông thôn miền núi. Đưa sản xuất lâm nghiệp truyền thống sang kinh doanh lâm nghiệp bền vững, biến những người nông dân trồng rừng thuần túy sang những nhà kinh doanh lâm nghiệp.
Trong vòng 10 năm, DA đã trồng mới được 76.571 ha rừng. Theo đánh giá của các chuyên gia quốc tế và trong nước thì hơn 72% diện tích rừng trồng của WB3 đã đạt và tuân thủ các tiêu chuẩn để cấp chứng chỉ rừng. Trong đó, DA đã thí điểm cấp chứng chỉ rừng cho 323 hộ với diện tích 783,49 ha, đã tạo thêm việc làm cho 43.743 hộ gia đình tăng thu nhập, so mục tiêu DA ban đầu là 19.000 hộ thì đây là một con số chứng tỏ sự thành công của DA. Thông qua tham gia các hoạt động DA, trình độ của người nghèo được nâng lên đã góp phần giảm tệ nạn xã hội, góp phần tác động tích cực nâng cao đời sống an sinh xã hội, ổn định xã hội ở địa phương.
Ông Vũ Xuân Thôn, Trưởng ban quản lý các DA Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đánh giá, thay đổi tập quán của người dân, từ trông chờ sự hỗ trợ sang vay vốn để trồng rừng. Hàng trăm nghìn hộ nông dân sẽ làm theo 43.000 hộ đã tham gia DA. Thành công này là rất lớn. Người trồng rừng, qua trồng rừng, đã sống lâu dài được với rừng. Rừng đã được trồng theo đúng quy hoạch của DA, còn người dân có vay vốn và cũng đã hoàn vốn. Đó là sự bền vững nhất.
Tham dự buổi Tổng kết DA mới diễn ra tại TP Huế, Giám đốc Quốc gia của WB tại Việt Nam Victoria Kwakwa bày tỏ: Các phương pháp sản xuất lâm nghiệp hiện đại của DA này là một phần trong nỗ lực đổi mới ngành lâm nghiệp tại Việt Nam. Tôi rất vui khi DA mang lại lợi ích xã hội kinh tế cho người dân, thu được hiệu quả.
Điều quan trọng là sau DA, chúng ta sẽ làm thế nào vì còn có nhiều diện tích lâm nghiệp mà chưa được hỗ trợ như trong DA này. Làm sao để duy trì thành công, và mở rộng nó? Hy vọng rằng những bài học kinh nghiệm hay của WB3 có thể được nhân rộng, nhờ thế nhiều hộ gia đình Việt Nam sẽ được tiếp cận đến tín dụng, cũng như những phương pháp trồng rừng hiện đại.
Về phía NHCSXH, ông Nguyễn Văn Lý khẳng định, mặc dù DA kết thúc vào ngày 31-3-2015, quỹ quay vòng do NHCSXH quản lý sẽ tiếp tục vận hành thêm 20 năm nữa, rất nhiều hộ gia đình sẽ còn được tiếp cận nguồn tín dụng này. Chúng tôi có 40.000 tỷ đồng vốn cho vay mới năm 2015. Dự kiến năm 2036 thì trả hết nợ. NHCSXH sẽ cam kết thu đủ vốn 100%, thủ tục ưu đãi nhất cho người dân. Đề xuất WB tiếp tục DA này cho một số vùng khác như: vùng tây bắc, cát ven biển miền trung, vùng ngập mặn…(Ngày Nay 4/4)đầu trang(
Kinh phí cắt tỉa cây xanh theo đơn công văn, phòng bão, hạ độ cao, cắt cân tán trên địa bàn thành phố Hà Nội lên đến 35 tỷ đồng, trong đó chi phí việc cắt tỉa cây xà cừ 30 tỷ.
Theo Kế hoạch đầu tư phát triển hệ thống cây xanh, công viên, vườn hoa, hồ nước thành phố Hà Nội giai đoạn từ năm 2013 - 2015, cùng với việc chặt hạ, dịch chuyển, thay thế 6.700 cây xanh, thành phố còn chi 1,3 tỷ đồng để đánh mã số 44.225 cây. Ngoài ra, ngân sách thành phố cũng dành 35 tỷ đồng cho việc cắt tỉa cây xanh trên các tuyến phố.
Cụ thể, các cơ quan chức năng sẽ thực hiện cắt sửa nhẹ tán, cân tán, khống chế chiều cao đối với xà cừ, muồng và các cây cao, nguy hiểm trong mùa mưa bão trên các tuyến đường phố giai đoạn 2013 – 2015. Số lượng cây cắt tỉa 10.854 cây (xà cừ 5.306 cây, muồng 5.548 cây), chi phí cho cắt tỉa cây xà cừ 30 tỷ đồng, cắt tỉa cây cao, nguy hiểm 5 tỷ đồng.
“Việc cắt tỉa cây sẽ kích thích quá trình sinh trưởng nhanh, mùa xuân cây nảy lộc đâm chồi mạnh, mùa hè cây sẽ có tán đẹp đáp ứng yêu cầu, tạo nên vẻ đẹp mới cho các tuyến đường. Bên cạnh đó, loại bỏ nguy cơ cành khô, khống chế chiều cao chung, đảm bảo an toàn trong mùa mưa bão”, kế hoạch nêu.
Có một chi tiết trùng lắp trong kế hoạch trên, đó là kết quả thống kê năm 2008 cho thấy số lượng cây xà cừ trong các công viên và đường phố Hà Nội là 5.306 cây. Kế hoạch cắt tỉa cây xà cừ được thành phố Hà Nội phê duyệt năm 2013 cũng là 5.306 cây. Như vậy, 5 năm sau khi được thống kê, số lượng cây xà cừ trên đường phố và trong công viên của Hà Nội không thay đổi.
Liên quan đến chi phí cắt tỉa cây xanh, theo đơn giá thanh toán sản phẩm dịch vụ công ích đô thị năm 2015 cho lĩnh vực duy trì công viên cây xanh, được áp dụng từ ngày 1.1, cắt sửa cây xà cừ trong các quận nội thành có chi phí thấp nhất trên 1,7 triệu đồng (cây có đường kính 15 – 40cm) và cao nhất lên đến hơn 12,5 triệu đồng (đường kính trên 120cm). Chi phí tối đa có việc cắt sửa cành cây khô và giải tỏa cành cây gẫy lần lượt là hơn 800 nghìn và trên 1,2 triệu đồng. (Lao Động 6/4)đầu trang(
Được giao diện tích đất lâm nghiệp rộng lớn, nhưng hầu hết các lâm trường trên địa bàn tỉnh Bắc Cạn không quản lý được, công tác phối hợp với chính quyền địa phương cũng lỏng lẻo dẫn đến hàng nghìn ha đất lâm nghiệp bị lấn chiếm. Hậu quả là lâm trường không "đòi" lại được, nhiều nơi đất lâm nghiệp bị bỏ hoang, gây lãng phí.
UBND tỉnh Bắc Cạn đã cấp cho Lâm trường Ba Bể thuộc Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Cạn (Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn) 136 ha đất lâm nghiệp ở xã Chu Hương. Nhưng không hiếu vì sao sau đó UBND huyện Ba Bể lại lấy diện tích này cấp cho 64 hộ dân ở thôn Pù Mắt, xã Chu Hương, mỗi hộ dược cấp từ một đến hai ha và được cấp cả "sổ đỏ".
Giám đốc Lâm trường Ba Bể Ma Vĩnh Yên bức xúc: "136 ha này thuộc quyền sở hữu của lâm trường, nhưng không hiếu sao UBND huyện lại cấp cho dân địa phương. Khi được chinh quyền huyện cấp thì mặc nhiên nhân dân cho rằng đó là đất của mình và xảy ra tranh chấp giữa lâm trường với dân”.
Khi xảy ra tranh chấp, Lâm trường Ba Bê trồng rừng thì người dân địa phương nhổ bỏ; ngược lại, người dân trổng rừng trên diện tích ấy thì lâm trường vào lập biên bản, nên thoi gian qua đâ't bỏ hoang. Bí thư Huvện ủy Ba Bể Dương Văn Tuyến để xuất: Thời gian tới UBND tỉnh thu hồi diện tích này từ Lâm trường Ba Bể để giao cho huyện, sau đó huyện giao cho dân.
Tương tự như vậy, năm 2007 UBND tỉnh đã có quyết định cấp 105 ha đất lâm nghiệp trên địa bàn xã Dương Quang (thị xã Bắc Cạn) cho Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn quản lý, sử dụng và Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn đã đầu tư hàng tỷ đồng để trồng rừng sản xuất. Nhưng không hiểu vì sao năm 2009, UBND TX Bắc Cạn lại “lấy” diện tích này cấp cho 48 hộ dân địa phương.
Phó Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Nguyễn Hải Đăng than phiền: "Lẽ ra, trước khi câp đất lâm nghiệp cho dân thì UBND thị xã Bắc Cạn phải phối hợp vói chúng tôi để đi đo đạc, xem xét thực địa xem đâ't ây đã cáp cho ai chưa, xác nhận ranh giới đất. Đằng này lại bỏ qua các thủ tục, cứ thế lây đâ't lâm trường đê cấp cho dân. Tới đây, nhất định UBND thị xã Bắc Cạn phải thu hồi để trả lại đất cho chúng tôi".
Ngoài ra, 200 ha đâ't lâm trường ở xã Nông Thượng cũng bị UBND thị xã Bắc Cạn cấp cho dân mà rất khó đòi lại. Tình trạng chính quyền huyện, thị xã tự ý lấy đất của lâm trường câ'p cho dân xảy ra khá phổ biẽn trên địa bàn tỉnh. Hậu quả là đất lâm trường quốc doanh bị thu hẹp, không thể đòi lại được.
Các lâm trường trên địa bàn tỉnh đều trực thuộc Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn với tổng sô' 143 cán bộ, công nhân, trong đó có 68 cán bộ làm công tác quản lý gần 17 nghìn ha đất lâm nghiệp ở hầu khắp các huyện, thị xã trong tỉnh. Số lượng cán bộ quản lý đất như vậy là quá mỏng, diện tích đất lâm nghiệp được giao lại lớn, không liển vùng, liền khoảnh, địa hình phức tạp, chia cắt, không có mốc giới rõ ràng, đặc biệt là có 1.356 hộ sinh sống trong khu vực đâ't lâm trường dẫn đấn đất lâm nghiệp bị lấn chiếm ngày càng nhiều.
Trên địa bàn các xã Quang Thuận, Đôn Phong, Dương Phong thuộc huyện Bạch Thông có hàng trăm hộ sống trong hoặc sát đất lâm trường, sau mỗi năm mỗi hộ phát, đốt một, hai vạt rừng đẽ trổng cam, quýt, sắn...
Phó Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn Phạm Van Thường cho biết: "Cán bộ lâm trường thiếu, không thể tuần nào cũng vào xã để trông coi đâ't lầm nghiệp của mình, tích cực nhâ't thì một, hai tháng mới vào xã được một lần, mỗi lần vào lại thây diện tích đâ't lâm trường bị thu hẹp mà không có cách nào ngăn chặn. Đến nay, đã có 247 ha đất lâm trường ở các xã Quang Thuận, Đôn Phong, Dương Phong bị lấn chiếm. Khi đã bị lân chiếm thì rất khó "đòi" lại, nên năm 2014 chúng tôi phải làm thủ tục cắt diện tích đâ't nêu trên về cho địa phương để địa phương chính thức giao cho dân quản lý, sử dụng lâu dài".
Cũng do lâm trường không quản lý được nên hiện nay có 2.000 ha đâ't lâm trường ở huyện Ngân Sơn bị lấn chiếm, chính quyền địa phương cấp trùng chéo nên Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn đang làm thủ tục trả lại cho địa phương.
Vấn đề phức tạp hiện nay là toàn bộ đâ't lâm trường trên địa bàn tỉnh Bắc Cạn đều chưa được cắm mốc ranh giới rõ ràng, cụ thể. Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn đã xây dựng Dự án cắm mốc ranh giới đất lâm trường với kinh phí 11 tỷ đổng. Tuy nhiên, hiện nay công ty và tỉnh không có kinh phí để thực hiện. Chừng nào đất lâm trường trên địa bàn tỉnh chưa được cắm mốc thì tình trạng bi lấn chiếm tiếp tục diễn ra, tranh chấp giữa các lâm trường và người dân địa phương không thể giải quyết được. (Thời Nay 2/4)đầu trang(
Tổng cục Lâm nghiệp vừa có văn bản đề nghị Sở NN-PTNT các tỉnh, TP tăng cường công tác kiểm soát, nâng cao chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp.
Theo đó, Tổng cục đề nghị các Sở NN-PTNT phải tổ chức quản lý, kiểm soát nghiêm ngặt nguồn gốc giống cây trồng lâm nghiệp từ khâu thu hoạch vật liệu giống, cấp chứng nhận nguồn gốc lô giống. Quản lý SX cây con ở vườn ươm, cấp giấy chứng nhận nguồn gốc cây con tới khâu lưu thông đến chân lô trồng rừng. Nghiêm cấm sử dụng các lô giống không rõ nguồn gốc. Phải xử lý, tiêu hủy tất cả các lô giống không rõ nguồn gốc khi phát hiện. Về các cơ sở SXKD giống, cần quản lý chặt chẽ, thường xuyên kiểm tra điều kiện kinh doanh. Tăng cường kiểm tra, tái kiểm tra với các cơ sở SX giống quy mô hộ gia đình, nhỏ lẻ. Những cơ sở thuộc loại C, không đủ điều kiện kinh doanh sẽ bị đình chỉ SX hoặc thu hồi giấy phép. (Nông Nghiệp VN 3.4)đầu trang(
Cây mắc ca có xuất xứ từ Australia. Với những giá trị dinh dưỡng vượt trội, hạt mắc ca được xếp vị trí hàng đầu trong các loại hạt và được mệnh danh là “hoàng hậu của các loại hạt”.
Vỏ của quả mắc ca được dùng làm chất đốt, phân bón, chất bồi. Nhân hạt mắc ca dùng trong chế biến bơ, làm bánh kẹo, kem… Dầu chiết xuất từ nhân hạt mắc ca được dùng trong nhiều ngành công nghiệp, làm thức ăn chăn nuôi và dầu ăn.
Trong Nghị định số 210/2013, Chính phủ quy định hẳn một điều về hỗ trợ trồng cây mắc ca (macadamia) trong đó quy định hỗ trợ nhà đầu tư cây mắc ca có quy mô từ 50ha trở lên 15 triệu đồng/ha hoặc hỗ trợ xây dựng cơ sở sản xuất giống cây mắc ca với mức hỗ trợ lên đến 2 tỷ đồng.
Và mới đây, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Trưởng ban Chỉ đạo Tây Bắc cũng đã đồng ý về nguyên tắc xây dựng đề tài khoa học "Phát triển cây mắc ca ở vùng Tây Bắc" để phát triển cây mắc ca ở vùng Tây Bắc đạt hiệu quả.
Tuy nhiên cũng còn không ít băn khoăn. Theo quy hoạch đến năm 2020 sẽ có 200.000ha trồng mắc ca tại Tây Nguyên và 30.000ha tại Tây Bắc.
Mục tiêu này là quá cao nếu lưu ý rằng, sau mấy chục năm phát triển, đến nay cả thế giới mới có 80.000ha.
Mặt khác, mắc ca là cây bản địa của Australia, cũng đã có câu hỏi tại sao Australia không mở rộng ồ ạt? Mắc ca cũng là cây á nhiệt đới, mà vùng khí hậu á nhiệt đới trên thế giới là rất nhiều chứ không chỉ riêng Việt Nam.
Thêm nữa, cây mắc ca có năng suất thấp, đầu tư ban đầu cao, công nghệ cao mà lợi nhuận lại “khó dự báo”.
Có người dân phản ánh qua báo chí, ở huyện Lâm Hà, Đức Trọng (Lâm Đồng), một số bà con đã trồng mắc ca và cho thu hoạch nhưng không bán được. Còn hiện tại, giá thu mua hạt đủ tiêu chuẩn là 70 nghìn đồng/kg.
Trước những băn khoăn của dư luận, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã họp với các nhà khoa học để tìm “lối ra” cho loại cây còn nhiều tranh cãi này.
TS Hà Huy Thịnh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp đánh giá: Mặc dù đến nay, một số mô hình trồng mắc ca đã thành công ở nước ta, tuy nhiên về cơ bản, đây vẫn là đối tượng cây trồng mới, cần thận trọng.
Cho rằng cây mắc ca có giá trị kinh tế nên phát triển ở nước ta, tuy nhiên, GS.TS Lê Đình Khả vẫn đề nghị cần thận trọng, chỉ nên mở rộng ở những nơi đã khảo nghiệm thành công và mỗi nơi phải chọn một giống phù hợp.
“Phải xem mắc ca là cây cần thâm canh, không nên xem là cây lâm nghiệp bình thường”, GS Khả nói.
Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát cũng cho rằng, việc quy hoạch cho mắc ca hiện mới chỉ nhìn vào các yếu tố tự nhiên, đưa ra con số rất chung chung mà chưa xét kỹ về các yếu tố kinh tế - xã hội, đánh giá về triển vọng thị trường, khả năng cạnh tranh…
Kết luận về việc trồng cây mắc ca, Bộ trưởng Cao Đức Phát khẳng định, Việt Nam nên phát triển cây mắc ca như một cây trồng mới nhưng cần thận trọng và chỉ trồng ở những nơi đã khảo nghiệm thành công, như tại Tây Bắc và Tây Nguyên.
Ông Cao Đức Phát cũng khuyến cáo, người dân chỉ nên trồng những giống mắc ca đã được Bộ NN&PTNT công nhận là giống quốc gia hoặc giống tiến bộ.
Người đứng đầu ngành Nông nghiệp cũng giao nhiệm vụ cho các Sở NN&PTNT quản lý từng trại giống “chỉ cho bán các loại giống xác nhận từ các vườn được phép”.
Bộ NN&PTNT cấm tuyệt đối các hoạt động ươm giống, buôn bán giống chưa được cấp phép cũng như nghiêm cấp nhập khẩu giống mà chưa qua khảo nghiệm...(Công An Nhân Dân 5/4)đầu trang(
Hiệp định Đối tác tự nguyện (VPA) thuộc Chương trình Thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (FLEGT) (gọi tắt là VPA/FLEGT) giữa Việt Nam và EU dự kiến sẽ kết thúc vào cuối năm 2015.
Việc VPA được ký kết không chỉ mở ra cơ hội lớn cho doanh nghiệp xuất khẩu gỗ Việt Nam vào thị trường EU mà kèm theo đó là những thách thức cũng như rất nhiều công việc mà cả phía Chính phủ, các cơ quan quản lý và doanh nghiệp phải làm.
VPA/FLEGT là hiệp định thương mại song phương được ký kết giữa EU với quốc gia đối tác xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ. Theo đó, quốc gia đối tác cam kết xây dựng hệ thống kiểm soát gỗ hợp pháp và cấp phép FLEGT, đồng thời bảo đảm rằng chỉ có gỗ và sản phẩm gỗ có nguồn gốc hợp pháp mới được xuất khẩu vào thị trường EU.
Theo bà Nguyễn Tường Vân - Chánh văn phòng Ban chỉ đạo VPA/FLEGT, Tổng cục Lâm nghiệp: Mục đích của việc đàm phán Hiệp định VPA/FLEGT giữa Việt Nam và EU là nhằm đạt được một thỏa thuận tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam mở rộng xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ vào thị trường EU và tăng khả năng thích ứng của họ với quy định về trách nhiệm giải trình tại Quy chế gỗ hợp pháp của EU (EUTR) có hiệu lực từ tháng 3/2013.
Nội dung chính của hiệp định là Việt Nam phải xây dựng hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp (gọi tắt là TLAS). Một hệ như vậy sẽ bao gồm 5 thành phần chính, gồm: Định nghĩa gỗ hợp pháp; kiểm soát chuỗi cung ứng; xác minh tính tuân thủ về định nghĩa gỗ hợp pháp của các tổ chức và hộ gia đình; hệ thống cấp phép FLEGT và đánh giá độc lập.
Bà Vân nhấn mạnh: Thách thức lớn nhất trong quá trình đàm phán là hệ thống TLAS của ta vừa phải đáp ứng được yêu cầu theo quy định quốc tế về truy suất nguồn gốc gỗ lại vừa không phát sinh thêm thủ tục hành chính, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Muốn làm được điều đó, cần có sự vào cuộc của các doanh nghiệp, hiệp hội ngay trong tiến trình đàm phán để góp ý, nâng cao hiểu biết về nội dung cam kết và dễ dàng tuân thủ hiệp định sau khi ký kết.
Hiện Việt Nam có hơn 3.500 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực gỗ với trên 300.000 lao động (theo báo cáo “Tiến trình đàm phán Hiệp định VPA/FLEGT giữa Việt Nam và EU” của Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tháng 7/2014), trong đó, lượng gỗ, sản lượng gỗ xuất khẩu sang EU chiếm 20% trên tổng sản lượng gỗ xuất khẩu của Việt Nam. Một điều chắc chắn rằng, sau khi Việt Nam ký VPA/FLEGT, xuất khẩu gỗ vào thị trường 28 nước EU sẽ thuận lợi hơn, kỳ vọng sản lượng gỗ xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ tăng lên đáng kể.
Vấn đề đặt ra là hiện nay gỗ trong nước mới đáp ứng được khoảng 40-50% nhu cầu nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu, phần còn lại các doanh nghiệp phải nhập khẩu từ nhiều quốc gia trên thế giới. Việc xác định xem thị trường gỗ nhập khẩu nào đáng tin cậy, có nguồn gốc gỗ hợp pháp để các doanh nghiệp ký hợp đồng nhập khẩu đang là vấn đề khó khăn đối với các doanh nghiệp của Việt Nam.
Ông Huỳnh Văn Hạnh - Phó Chủ tịch thường trực Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.Hồ Chí Minh (HAWA) - cho rằng: Đối với gỗ nhập khẩu, doanh nghiệp phải tìm hiểu rõ đâu là thị trường có nhiều rủi ro, đâu là thị trường gỗ đã được cấp chứng chỉ FSC(chứng chỉ quản lý rừng bền vững). Đồng thời, doanh nghiệp gỗ cũng cần thiết lập một hệ thống quản lý để điều tra hành trình sản phẩm và cung cấp cam kết bảo đảm trên văn bản rằng không sử dụng, mua bán gỗ có nguồn gốc bất hợp pháp. Thêm vào đó, khi lập hợp đồng, doanh nghiệp nhập khẩu gỗ có thể yêu cầu bên cung cấp cho thêm một điều khoản xử phạt vào hợp đồng liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại đối với bất kỳ sự thiệt hại về tài chính phát sinh từ các hoạt động kiểm tra của nước mà doanh nghiệp xuất khẩu sang.
Đối với gỗ có nguồn gốc nội địa, hiện nay đã có một số văn bản của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn về vấn đề trồng rừng, khai thác, lập hồ sơ lâm sản, như: Luật Đất đai 2013; Thông tư 35/2011/TT-BNNPTNT, ngày 20/5/2011, hướng dẫn thực hiện khai thác, tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ; Thông tư 01/2012/TT-BNNPTNT, ngày 4/1/2012, quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản; Thông tư 42/2012/TT-BNNPTNT, ngày 21/8/2012, sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2012/TT-BNNPTNT,…
Theo ông Hạnh, với vai trò là hiệp hội, thời gian tới, hội sẽ nắm bắt thông tin về các thị trường như châu Âu, Mỹ, Úc, Nhật… để truyền tải đến các doanh nghiệp cũng như diễn biến tình hình đàm phán VPA. Đồng thời đưa ra các thông tin để cảnh báo thị trường gỗ nhập khẩu có nhiều rủi ro và thông tin lại cho các cơ quan quản lý nhà nước những vấn đề nào doanh nghiệp đã sẵn sàng thực thi theo VPA, vấn đề nào cần phải có lộ trình để doanh nghiệp chuẩn bị. Rõ ràng đây là cơ hội để chúng ta loại bỏ hoàn toàn gỗ lậu tại Việt Nam. (Diễn Đàn DN 5/4; Công Thương 4/4)đầu trang(
Hơn 43 nghìn hộ gia đình được hỗ trợ kỹ thuật và tiếp cận các khoản vay lãi suất thấp để trồng mới hơn 76,5 nghìn hécta rừng sau 10 năm thực hiện Dự án Phát triển ngành lâm nghiệp ở các tỉnh miền Trung.
Từ 2005 - 2015, Dự án Phát triển ngành lâm nghiệp do Ngân hàng Thế giới WB tại Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và PTNT cùng Ngân hàng Chính sách Xã hội thực hiện tại các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Nghệ An và Thanh Hóa đã mang lại hiệu quả mạnh mẽ về KT - XH và tác động tích cực đến môi trường. Từ hơn 100 triệu USD của dự án, đã có hơn 43 nghìn hộ nông dân được hỗ trợ kỹ thuật và tiếp cận các khoản vay lãi suất để trồng hơn 76,5 nghìn hécta rừng. Không chỉ phủ xanh các cánh rừng cằn cỗi kém phát triển và đất trống, đồi núi trọc ở khu vực miền Trung, dự án đã thay đổi cơ bản đời sống dân nghèo nơi đây.
Tại Bình Định - tỉnh có diện tích cũng như chất lượng rừng trồng tăng cao nhất khu vực miền Trung, mỗi năm sản lượng khai thác gỗ rừng trồng tăng khá lớn. Tính riêng năm 2014, sản lượng khai thác gỗ rừng trồng của Bình Định đạt tới 600 nghìn tấn/năm, với giá bán dao động từ 1,2 – 1,5 triệu đồng/tấn đã mang lại lợi nhuận đáng kể cho nông dân.
Ngoài hỗ trợ trồng rừng, dự án còn hỗ trợ hoạt động đo đạc và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho khoảng 35 nghìn hộ gia đình (họ có thể dùng giấy này để vay vốn lãi suất thấp từ nguồn vốn quay vòng của dự án do Ngân hàng Chính sách Xã hội quản lý); cấp Chứng nhận quản lý rừng quốc tế (thí điểm) cho khoảng 850ha rừng (giá của rừng trồng có chứng chỉ cao hơn khoảng 30% so với rừng thường cùng loại). Bên cạnh đó, hơn 400km đường lâm sinh đã được xây dựng và cải tạo giúp giảm thiểu chi phí vận chuyển, tăng năng suất lao động, góp phần nâng cao thu nhập và tạo thêm việc làm cho dân địa phương. Dự án cũng hỗ trợ xây dựng 86 chòi canh lửa và 102 bảng thông tin trên khắp vùng dự án để nâng cao nhận thức của nhân dân về bảo vệ rừng, giảm thiểu nguy cơ cháy rừng…
Phó tổng giám đốc Ngân hàng Chính sách Xã hội, Trưởng Ban quản lý dự án Nguyễn Văn Lý cho biết, dự án đã giúp thay đổi toàn diện tập quán của người dân. Trước đây người dân không vay vốn để trồng rừng, cũng không tuân thủ các kỹ thuật trồng rừng, nhưng nay đã khác, hàng trăm nghìn hộ gia đình là hàng xóm của 43 nghìn hộ trong dự án đã làm theo. Điều đó chứng tỏ sự tác động của dự án là rất lớn.
Đến nay, mặc dù dự án đã kết thúc nhưng Quỹ quay vòng do Ngân hàng Chính sách Xã hội quản lý sẽ tiếp tục vận hành thêm 20 năm nữa. Vì vậy, rất nhiều hộ gia đình sẽ còn được tiếp cận đến nguồn tín dụng này. Có thể nhận thấy, vào thời điểm này đây là dự án đầu tiên và cũng là dự án duy nhất ở Việt Nam sử dụng phương pháp cho vay lại trong hoạt động trồng rừng tiểu điền - một hình thức được chứng minh bền vững hơn so với phương pháp truyền thống trợ cấp hoạt động trồng rừng. (Nông Nghiệp VN 6/4Đại Biểu Nhân Dân 4/4)đầu trang(
Tổng số đã có 12.108 cây xanh được trồng mới trên lý trình 160.68km dọc theo các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ tại 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.
Kết quả này có được là từ chương trình "Việt Nam xanh" do Tổng Công ty Xây dựng công trình giao thông 4 (Cienco4) phối hợp cùng Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh triển khai thực hiện sau 6 tháng, góp phần chung tay bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, tạo cảnh quan xanh, sạch đẹp trên các tuyến đường giao thông của đất nước.
Cây xanh được trồng mới trong chương trình “Việt Nam xanh” bao gồm các loại cây như sao đen, sấu, bằng lăng, xà cừ, có đường kính thân cây từ 5 - 8cm, chiều cao từ 4,5 - 5m, được trồng đảm bảo quy cách kĩ thuật, khoảng cách phù hợp với các tiêu chuẩn an toàn giao thông đường bộ, gốc cây được đánh số và bảo vệ chắc chắn.
Tổng giá trị đã thực hiện là hơn 12,7 tỷ đồng, được huy động hoàn toàn từ nguồn đóng góp của CBCNV và Quỹ phúc lợi xã hội của Tổng công ty.(Công An Nhân Dân 3/4)đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Sudan hiện là cá thể tê giác trắng phương Bắc đực cuối cùng trên thế giới. Để bảo vệ chú trước những kẻ săn sừng tê tàn bạo, một đội kiểm lâm đặc biệt đã được lập ra và có thể nổ súng bất cứ lúc nào nếu xuất hiện mối đe dọa rình rập. (Tiền Phong 3.4)đầu trang(
Một phụ nữ tại bang Gujarat, Ấn Độ đã cứu được cô con gái 19 tuổi khỏi miệng cá sấu sau một trận chiến 10 phút, Thời báo Ấn Độ đưa tin.
Divali Vankar đang giặt đồ ở bờ sông Vishwamitri gần làng Thikariya Mubarak ở quận Vadodara, hôm 3/4 thì thấy một con cá sấu ngoạm vào chân con gái.
Con cá sấu bắt đầu kéo thiếu nữ này xuống sông thì Divali Vankar cầm chiếc chày dùng để giặt đồ và ra sức tấn công con cá sấu cho tới khi nó buộc phải nhả chân cô gái ra, một nhân viên kiểm lâm cho hay.
Hiện, thiếu nữ 19 tuổi đang được chữa trị những vết thương ở chân và đang trong tình trạng ổn định.
Nhân viên kiểm lâm Ashok Pandya nói: "Người mẹ cho hay, bà đã cố cứu con bằng cách đánh cá sấu". "Chúng tôi đã khuyên người dân địa phương tránh xa con sông song vẫn có người giặt đồ ở đó".
Theo thống kê của ban kiểm lâm Gujarat, tới tháng 1 vừa qua, tại sông Vishwamitri có hơn 200 con cá sấu. (Vietnamnet 6/4)đầu trang(./.
Biên tập: Diệu Huyền
|
|||