Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 05 tháng 03 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Chiều 4-3, ông Phan Minh Trí, Chủ tịch UBND xã Long Thạnh, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang cho biết, chính quyền địa phương đang phối hợp cùng các sở, ngành liên quan của tỉnh Hậu Giang triển khai các phương án bảo vệ, chăm sóc và xúc tiến hồ sơ để trình Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam, xem xét công nhận cây lộc vừng khoảng 200 tuổi là cây di sản.
Cây lộc vừng cổ thụ này hiện sống trên phần đất của gia đình ông Lê Văn Út, ngụ ấp Long Hòa B (xã Long Thạnh). Cây có chiều cao hơn 20m, chu vi gốc hơn 6m, và được xem là một trong những cây lộc vừng cổ thụ nhất ở vùng ĐBSCL.
Theo lời ông Út, trước đây đã từng nghe những lão nông kể lại rằng, từ nhỏ đã thấy cây lộc vừng cao lớn sừng sững. Thời chiến tranh cây lộc vừng này từng là nơi che chở cho bộ đội và bị trúng bom đạn làm hư phần thân cây chính. Sau đó, 2 nhánh bên cạnh vươn lên và sống tới ngày nay.
Hằng năm cứ sau Tết Nguyên đán là cây lộc vừng này rụng hết lá già, sau đó ra những lá non cùng rất nhiều hoa đỏ rất đẹp. Nhiều năm nay, người dân địa phương xây 2 ngôi miếu cạnh cây lộc vừng để thắm hương; và ngày 16/3 âm lịch hằng năm là tổ chức cúng vái tạ ơn tiền nhân giúp bà con làm ăn thuận lợi, được mùa…
Qua chuyến khảo sát mới đây, ông Nguyễn Liên Khoa, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang cho rằng, đây là cây lộc vừng rất quý hiếm, gắn với lịch sử khai phá vùng đất này. Nếu được ngành chức năng công nhận là cây di sản thì tỉnh sẽ xúc tiến việc quảng bá và đầu tư cơ sở hạ tầng để du khách thập phương thuận tiện đến tham quan.
Ông Lê Văn Minh, 89 tuổi, ngụ ấp Long Hòa B nhận định, lâu nay cây lộc vừng được cha ông ta ví như “lộc” ứng với tài lộc – còn “vừng” ứng với nhỏ nhưng nhiều; cộng với màu hoa đỏ tượng trưng cho hỷ sự (chuyện vui trong nhà). Vì vậy, cây lộc vừng cổ thụ ở đây rất được bà con tín ngưỡng; đồng thời xem như nét văn hóa tâm linh ở vùng này… (Sài Gòn Giải Phóng 5/3, Tr6)đầu trang(
Giá trầm kỳ từ vài trăm triệu đến cả chục tỉ đồng/kg đã thôi thúc nhiều người lao vào rừng tìm kiếm. Có người gặp may nhưng cũng có người phải đánh đổi bằng máu và nước mắt
Khánh Hòa nổi tiếng với trầm hương và kỳ nam, đây là 2 sản vật được coi như linh khí của trời đất nên rất quý. Không những lùng trong rừng, tự trồng cây dó bầu, nuôi trầm để bán, người dân xứ trầm bỏ công lặn lội đi khắp  miền Trung - Tây Nguyên, thậm chí qua tận Lào để kiếm trầm.
Ở Khánh Hòa, việc mua bán trầm kỳ diễn ra sôi động nhất ở vùng Vạn Giã, Vạn Thắng, Vạn Bình (huyện Vạn Ninh). Theo các chủ cơ sở buôn bán, giá trầm hương dao động từ vài trăm ngàn đến 1 tỉ đồng/kg. Còn giá kỳ nam rất mắc, từ vài trăm triệu đến cả chục tỉ đồng/kg.
Ông Tấn Ba (63 tuổi; ngụ thôn Phú Hội 3, xã Vạn Thắng, huyện Vạn Ninh), một cựu phu trầm, cho biết: “Nghề trầm có ở Vạn Ninh hàng trăm năm nay, thời nào cũng có những vụ trúng trầm kỳ “khủng”.
Như thời tôi đi địu (đi kiếm trầm - PV), có ông Thử ở xã Vạn Phú trúng gần 100 cây vàng. Mới đây nhất có ông Tú ở thôn Tứ Chánh, xã Vạn Bình trúng trầm ở Đắk Lắk được mười mấy tỉ đồng, xây cái nhà to hơn trụ sở UBND xã. Năm 2012, dân huyện Khánh Sơn (Khánh Hòa) đào được 1,5 kg trầm, bán cả chục tỉ đồng…”. Cứ lâu lâu lại rộ lên những vụ trúng trầm kỳ “khủng” như vậy làm dân chúng hết sức nôn nao, ai nấy đua nhau lao theo nghề tìm trầm để mong đổi đời.
Lý giải việc bám nghề của mình, phu trầm với thâm niên hơn 20 năm, ông Nguyễn Duy Tân (ngụ thôn Phú Hội 2, xã Vạn Thắng), nói: “Mới đầu do nghèo, thấy người ta đi địu về có trầm bán được nhiều tiền nên sinh ham rồi theo. Riết rồi cái nghề thấm vào máu, không đi là thấy bứt rứt khó chịu”.
Theo ông Tân, 1 năm ông đi địu 4-5 chuyến, mỗi chuyến kéo dài khoảng 1 tháng. Những năm trước, trầm núi ở Khánh Hòa còn nhiều, có chuyến ông trúng cả trăm triệu đồng. Giờ loại trầm núi khan hiếm, nhiều đợt đi về trắng tay. May mắn lắm ông mới kiếm được 10-20 triệu đồng nhưng phải đến tận Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đắk Lắk…, thậm chí qua Lào.
Hành trang của các phu trầm nặng trên 40 kg gồm: Gạo, thịt, cá, mắm muối, võng, bạt, chăn, đồ nghề xoi trầm… Họ đi ngày này qua tháng nọ, khi nào cạn lương thực mới về. Giữa núi rừng mênh mông, phu trầm phải đối diện với rất nhiều rủi ro như sốt rét, rắn độc, vắt, thổ phỉ, lạc đường… Do đó, không ai dám 1 mình đi địu mà phải theo nhóm từ 2-10 người, trong đó kiêng 3 người (tam tai) và 5 người (ngũ quỹ). Những người đi trầm phải hết sức kiên nhẫn, chịu khó, chịu khổ mới được vào nhóm. Nhóm sẽ cử ra một bầu trưởng là người có kinh nghiệm, thông thuộc địa hình để dẫn đầu.
Ông Hùng (ngụ xóm Đồn, thôn Phú Hội 1, xã Vạn Thắng), một bầu trưởng, cho biết theo lệ, khi đến điểm đào, nhóm trầm sẽ chọn một dòng suối làm nơi đóng trại. Sau đó, mỗi người tỏa ra các hướng khác nhau để tìm cây dó. Khi phát hiện cây dó có trầm thì chặt 1 nhát mở miệng và tiếp tục cúng xin lễ lấy trầm kỳ rồi đẽo gọt thành trầm thô đưa về cho gọn. Tiền bán trầm trước tiên sẽ trích 10% cho người tìm được, 10% cho bầu trưởng, còn lại thì chia đều cho các thành viên trong nhóm.
Tuy nhiên, để có được thành quả đó, những người đi địu phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt. Chỉ vào vết sẹo ở chân, ông Tân cho biết mình suýt chết vì bị rắn cắn. “Đang đi địu ở Ba Tơ, Quảng Ngãi, tôi bị rắn hổ cắn vào chân gây phù nề, đau nhức. Các anh em trong nhóm liền xẻ vết rắn cắn hút máu ra. Sau đó, tôi được cáng từ rừng về đến bệnh viện huyện mất hơn 2 ngày. Bác sĩ nói do sơ cứu không đúng cách nên nếu chậm vài giờ nữa là có thể phải cưa chân” - ông Tân kể.
Không chỉ đổ máu, nhiều phu trầm cùng làng với ông Tân phải bỏ mạng như trường hợp hai anh em ông Minh, Mẫn (ngụ thôn Phú Hội 2) bị mất xác vì đi lạc, ông Tám Phương bị bắn chết ở Nghệ An vì đi nhầm vào nơi thổ phỉ trồng thuốc phiện. Ngoài ra, còn nhiều trường hợp khác ở xã Vạn Bình, Vạn Phú bị cây đè, sét đánh, ngã bệnh chết giữa chốn rừng núi hoang vu. Nhiều người vượt biên qua Lào bị biên phòng nước bạn bắt giữ, tịch thu hết tài sản, phạt hàng chục triệu đồng…
Bà Nguyễn Thị Quỳnh Lê, vợ ông Tân, than thở: “Mỗi lần ổng đi là tôi lo lắng, chỉ biết cầu ông bà, trời Phật phù hộ. Tôi cũng khuyên kiếm nghề khác nhưng ổng nói sống nghề nào theo nghề đó. Vài bữa ổng già, không đi được nữa sẽ bỏ nghề trầm núi theo nghề trầm nuôi. Vẫn phải chờ vậy...”.(Người Lao Động 5/3, Tr8) đầu trang(
Tạp chí kiến trúc và thiết kế nổi tiểng, có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới Dezeen vừa chọn ra 15 công trình kiến trúc được mong đợi nhất năm 2015, trong đó có công trình Nhà triển lãm VN tại Expo Milan (Ý), do Công ty TNHH Võ Trọng Nghĩa thiết kế, bên cạnh những công trình nổi bật khác như Nhà West 57th tại New York của BIG hay công trình Cảnh quan Grace Farms trong khu bảo tồn ở Connecticut của SANAA.
Nhà triển lãm VN được xây dựng trên khu đất khoảng 887 m2, diện tích xây dựng hơn 500 m2.
Trong bối cảnh các rừng cây đang dần bị chặt phá và diện tích cây xanh đang dần bị mất đi, thiết kế Nhà triển lãm VN chính là một rừng cây trên cao để đem lại không gian xanh và bầu không khí trong lành bao phủ toàn bộ công trình, đồng thời giảm bớt việc tiêu hao năng lượng cho công trình.
Vật liệu chính của công trình là tre, tầm vông, loại vật liệu thân thiện với môi trường. Công trình Nhà triển lãm VN đang được thi công tại Milan, Ý và dự kiến sẽ hoàn thành vào cuối tháng 4 này. (Thanh Niên 5/3, Tr15)đầu trang(
Đến nay, trên lâm phần U Minh Hạ đã bước vào cao điểm mùa khô, với diện tích hàng chục ha dự báo cấp cháy rừng ở mức cấp 2, cấp 3 ở Vườn Quốc gia U Minh Hạ và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ.
Tính đến thời điểm hiện tại, trên diện tích lâm phần của 19 đơn vị quản lý và bảo vệ rừng tràm U Minh Hạ đều bước vào mùa cao điểm khô hạn, nguy cơ cháy rừng cao, với báo động cháy cấp 2, cấp 3, nếu nắng nóng như hiện nay thì mực nước các con kênh rạch rút nhanh, độ ẩm hạ nhanh, khô hanh cao, nguy cơ cháy rừng ở mức báo động cháy cấp 4, cấp 5 – cấp nguy hiểm và cực kỳ nguy hiểm có thể xảy ra trong vài ngày tới.
Trong đó, Vườn Quốc gia U Minh Hạ, hiện có trên 8.500 ha rừng ở giới hạn nguy cơ cháy cấp 2, cấp 3. Tuy chưa báo động nguy cơ cháy cao, nhưng đơn vị đã phối hợp với các địa phương ở vùng đệm ở huyện Trần Văn Thời, U Minh họp dân tuyên truyền về ý thức bảo vệ rừng, làm cam kết không vào rừng khai thác thủy sản, lấy mật ong, săn bắt thú rừng. Tính đến nay đã có 285 hộ sống ở vùng đệm làm cam kết phòng cháy chữa cháy rừng.
Theo dự báo của các ngành chuyên môn, mùa khô hạn năm nay đã bước vào cao điểm, nắng nóng gay gắt có thể kéo dài đến tháng 6 năm 2015. Do đó nguy cơ cháy rừng sẽ vượt lên mức báo động cấp 4, cấp 5, các đơn vị chức năng, các địa phương và chủ rừng cần cảnh giác cao độ, chuẩn bị các phương án huy động lực lượng, hậu cần tại chỗ để ứng phó kịp thời nếu có tình huống xấu xảy ra. (Đài PT-TH Cà Mau 4/3)đầu trang(
Như thông tin Báo Thái Nguyên đã đưa, vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 28-2, tại khu vực núi Bờ Cò thuộc xóm Duyên, xã Ký Phú (Đại Từ) đã xảy ra vụ cháy khiến nhiều diện tích rừng sản xuất của người dân bị thiệt hại.
Theo người dân và các đơn vị chức năng, nguyên nhân không chỉ do chủ quan của người dân. Có mặt tại khu rừng bị cháy vào trưa ngày 2-3, chúng tôi thấy thực bì trên bề mặt núi Bờ Cò đã bị cháy rụi, để lại một lớp tro đen. Rừng keo trồng tại khu vực này đã cao khoảng 5, 6m bị táp héo lá, nhiều thân cây cháy đen.
Đứng trên đống tro tàn sau vụ cháy, ông Phạm Minh Lý, Trưởng xóm Duyên cho biết: “Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 28-2, khi tôi đang ở nhà thì nhận được điện thoại của chị Bùi Thị Dinh, người cùng xóm báo có đám cháy trên núi Bờ Cò.
Ngay lập tức, tôi dùng loa thông báo tới toàn thể bà con nhân dân, điện thoại đến những người có trách nhiệm của xã, rồi mang dao phát, hô hoán, gọi hơn 20 người dân trong xóm lên hiện trường. Đến khoảng hơn 19 giờ, gần 50 người dân xóm Duyên cùng cán bộ xã Ký Phú, kiểm lâm đã có mặt tham gia dập lửa”.
Cũng trực tiếp tham gia chữa cháy tối 28-2, ông Vũ Đức Chương, kiểm lâm viên phụ trách địa bàn xã Ký Phú (thuộc Trạm Kiểm lâm Quân Chu) cho biết: “Hôm đó, ngọn lửa cháy lớn và lan nhanh, cùng với nhân dân xã Ký Phú, hơn 50 người dân xã Lục Ba cũng tham gia dập lửa.
Tuy nhiên, ngọn lửa bốc cao 4, 5m, gió thổi mạnh nên việc chữa cháy gặp rất nhiều khó khăn, đến khoảng 23 giờ 30 phút, chúng tôi mới cơ bản khống chế được đám cháy”. Theo biên bản kiểm tra xác minh của các đơn vị chức năng ngày 1-3, đám cháy đã thiêu rụi 5,5ha cây bụi, rừng keo của 26 gia đình.
Trong đó, hơn 2,5ha là thực bì xen kẽ với cây keo nằm rải rác, còn 3ha rừng keo bị cháy (mật độ khoảng 1 nghìn cây/ha). Rừng keo đã đến tuổi khai thác và đám cháy được dập tắt kịp thời nên người dân vẫn có thể khai thác, giá trị thiệt hại chưa lớn.
Được biết, khu vực núi Bờ Cò nằm cánh khu dân cư không xa (khoảng 100m) tuy nhiên con đường vào đây chỉ là những bờ ruộng nhỏ nên khi xảy ra cháy rất khó khăn cho lực lượng tham gia chữa cháy.
Anh Nguyễn Văn Long ở xóm Duyên, xã Ký Phú (người trực tiếp tham ra chữa cháy rừng hôm 28-2) cho biết: Khi có thông tin cháy, chúng tôi phải đi qua đường bờ ruộng nên rất chậm. Khu vực núi Bờ Cờ không có đường băng phòng cháy nên để tiếp cận đám cháy rất khó khăn, cùng với đó là việc “mạnh ai nấy làm” nên việc chữa cháy chưa thực sự hiệu quả.
Vì không có đường vận chuyển gỗ khi khai thác nên nhiều năm qua người dân không mặn mà với việc phát triển rừng. Nhà tôi có ít diện tích keo đến tuổi được khai thác nhưng không có đường vận chuyển nên chưa khai thác…
Lý giải về việc ở đây không có tuyến đường băng để tạo thuận lợi cho việc khai thác gỗ của người dân cũng như dễ dàng chữa cháy khi có sự cố xẩy ra. Ông Vũ Văn Mạch, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Quân Chu (đơn vị quản lý rừng ở xã Ký Phú) thông tin: Chúng tôi đã kiến nghị lên cấp trên về việc làm tuyến đường vào đây và các đường băng ở khu vực này.
Tuy nhiên, do chưa có nguồn kinh phí nên chưa thực hiện được. Còn ông Trần Văn Là, Phó Chủ tịch UBND xã Ký Phú cho biết: “Xã đã tổ chức các tổ, đội phòng cháy, chữa cháy rừng, tích cực tuyên truyền, phổ biến rộng rãi phương án phòng chống cháy rừng đến từng người dân. Đồng thời yêu cầu người dân dọn sạch thực bì, phát quang cây bụi; nghiêm cấm không được mang lửa, công cụ gây cháy vào rừng, đốt dọn thực bì.
Tuy nhiên, người dân vẫn chủ quan, không thực hiện, để mặc cỏ bụi, lau lách mọc rậm dẫn đến dễ xảy ra cháy rừng. Tới đây, sau khi thống kê thiệt hại của các hộ dân, địa phương sẽ cho người dân khai thác và tiến hành trồng rừng kế tiếp.
Nhưng, theo chúng tôi, việc để xảy ra cháy rừng với diện tích lớn như vậy, trách nhiệm trước hết thuộc về cấp ủy, chính quyền địa phương và ngành chức năng. Đó là chưa có sự kiểm tra, dự báo cháy và các phương án hiệu quả để phòng chống cháy rừng; hiệu quả tuyên truyền trong dân chưa cao.
Có mặt tại khu cháy, chúng tôi thấy lớp thực bì dày, đường băng giải để thuận tiện cho việc chữa cháy khi có sự cố xảy ra không có. Mặc dù nơi này rất dễ xảy ra cháy nhưng không có biển cảnh báo… việc phát triển rừng sản xuất để nâng cao ý thức của người dân trong bảo vệ rừng chưa được trú trọng.
Vụ cháy năm 2013 và vụ cháy hôm 28-2 vừa qua vẫn chưa tìm ra nguyên nhân cũng như đối tượng gây cháy để xử lý… Những nguyên nhân đã dẫn đến ý thức của người dân trong phòng cháy chữa cháy rừng chưa được cao và khó khăn cho công tác chữa cháy khi sự cố xảy ra.
Toàn tỉnh hiện có khoảng khoảng 360.000ha diện tích rừng và đất lâm nghiệp, trong đó huyện Đại Từ có 29.542ha nên việc phòng cháy, chữa cháy rừng cần phải được quan tâm nhiều hơn nữa.
Mặc dù năm 2014, trên địa bàn huyện Đại Từ chưa xảy ra cháy rừng nhưng không vì thế mà vấn đề này được xem nhẹ. Vì vậy, các ngành chức năng, chính quyền địa phương, người dân nên nêu cao cảnh giác, thường xuyên quan tâm, ngăn chặn nguy cơ cháy rừng có thể xảy ra. (Báo Thái Nguyên 4/3)đầu trang(
4 giờ sáng, trong màn sương mù, chúng tôi theo chân anh chị em BQL rừng đặc dụng Nam Đàn tiếp cận khu vực rừng thông tại xã Nam Hưng nơi sâu róm đang hoành hành trên các tán rừng.
Tận mắt chứng kiến những ngọn thông non vừa mới nhú lộc đầu xuân đang bị sâu non bám vắt vẻo xung quanh. Dưới những gốc thông, không biết cơ man lá thông xanh đã bị sâu róm gặm rơi ngổn ngang trên mặt đất, khiến chủ rừng mất ăn mất ngủ...
Ông Nguyễn Viết Nhạc, cán bộ BQL rừng đặc dụng Nam Đàn cho biết, năm 2014, mãi đến tháng 8 dịch sâu róm hại cây thông mới xuất hiện. Thế mà, năm 2015, mới ngay từ đầu năm âm lịch, sâu róm đã xuất hiện và bùng phát dịch với diễn biến bất thường.
Theo thống kê của BQL rừng đặc dụng Nam Đàn, tính đến ngày 27/2, toàn huyện đã có gần 330 ha rừng thông đang bị sâu róm tấn công, tập trung ở các xã: Nam Hưng (120 ha), Nam Thanh (36,06 ha), Nam Nghĩa (131 ha) và Nam Giang (40,5 ha).
Tại các tiểu khu Nam Nghĩa, Nam Hưng, Nam Thanh và Nam Giang, sâu đang trong độ tuổi IV, V, VI với mật độ 45-60 con/cây. Riêng tại các khu vực Rú Nậy (Nam Nghĩa), khe Su (Nam Giang) mật độ 20 kén/cây, kén khỏe.
Điều đang lo ngại nhất là diện tích rừng thông tại địa bàn xã Nam Anh đã bùng phát dịch sâu róm với mật độ 156-210 con/cây. Theo ghi nhận của PV, tại tiểu khu 1014 thuộc địa phận xã Nam Hưng đã xuất hiện sâu róm gây hại thông với mật độ khá dày.
Vừa mới tảng sáng, lực lượng dập dịch sâu róm của BQL rừng đặc dụng Nam Đàn đã sử dụng thuốc VBT 1600IU/MG dạng bột trộn với bột cám để tích cực phun trừ. Một người dân được giao khoán rừng tại đây cho biết: “Biết là thuốc bột phun lên từng ngọn cây rơi xuống bám vào người có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, nhưng cũng đành chịu.
Nhìn rừng thông bị sâu gặm hết lá ai cũng nóng ruột!”. Ông Nhạc cho biết thêm, hơn một tuần nay, BQL rừng đặc dụng Nam Đàn huy động hết toàn bộ lực lượng cán bộ, nhân viên hành quân từ 4 giờ sáng đến các địa điểm có dịch để tập trung xử lý. Tất cả đội sương lên đường, mang theo bình phun, thuốc, trang bị bảo hộ lao động, làm việc rất vất vả.
Do sử dụng thuốc bột để phun nên phải phun từ lúc rạng sáng, khi sương còn đọng trên cành lá thì thuốc mới bám được. Đến khoảng 7 giờ sáng thì mọi người mới trở về ban để báo cáo tình hình. Được biết, trước Tết Nguyên đán Ất Mùi, diện tích rừng thông xung quanh Khu mộ bà Hoàng Thị Loan, Nam Hưng, Nam Nghĩa đã được phun phòng dịch sâu róm.
Thế mà, không hiểu sao đến thời điểm cuối tháng 2, sâu róm vẫn xuất hiện với mật độ ngày càng cao (!?). Theo dự báo của BQL rừng đặc dụng Nam Đàn, chính thời tiết âm u, xen kẽ nắng, độ ẩm cao hiện nay đã tạo thuận lợi cho sâu róm phát sinh, gây hại và có khả năng phát dịch tại nhiều nơi.
Dự báo đến giữa tháng 3 sẽ xuất hiện sâu non tuổi I thế hệ II/2015. BQL rừng đặc dụng Nam Đàn đang tích cực triển khai các phương án phòng trừ kết hợp phát sẻ, đốt thực bì để phòng chống cháy rừng tại một số tiểu khu.
Với số diện tích thông đã được giao khoán, BQL rừng đặc dụng Nam Đàn chủ trương cấp thuốc, phương tiện cho các chủ rừng và hướng dẫn người dân tích cực phòng trừ. Được biết, đến cuối tháng 2, BQL rừng đặc dụng Nam Đàn đã sử dụng trên 250 kg thuốc VBT 1600IU/MG phun phòng với tổng diện tích trên 620 ha.
Ông Lê Đình Minh, Trưởng BQL rừng đặc dụng Nam Đàn cho biết: “Thuốc VBT 1600IU/MG dạng bột diệt trừ sâu róm theo cơ chế lây lan, hiệu quả cao hơn phun thuốc nước nhưng phải phun vào những thời điểm có sương mù mới có tác dụng tốt nhất.
Công việc rất vất vả nhưng anh em đều phải nỗ lực. Năm 2010, dịch sâu róm hoành hành các cánh rừng thông tại Nghệ An. Nếu đúng chu kỳ 5 năm/lần thì năm nay, dự báo, dịch sâu róm có thể sẽ lan rộng thành đại dịch.
Chúng tôi đang tập trung quân số túc trực 24/24, tổ chức phun trừ và rải ra các cánh rừng thông để nắm tình hình; tăng cường theo dõi, kịp thời báo cáo lên cấp trên để xử lý".
Không chỉ ở huyện Nam Đàn, sâu róm hại thông cũng đã xuất hiện tại huyện Nghi Lộc từ trước Tết Nguyên đán. Ông Nguyễn Văn Hà, Trưởng BQL rừng phòng hộ huyện Nghi Lộc cho biết: “Năm 2014, diện tích rừng thông bị dịch sâu róm là 2,7 nghìn ha.
Diện tích này đã được phun trừ nhưng đến tháng 1/2015, sâu róm hại rừng thông vẫn xuất hiện trên 300 ha. Hiện tại, huyện Nghi Lộc gấp rút triển khai các phương án phòng trừ trên diện tích 1,3 nghìn ha. Sâu đang vào giai đoạn đóng kén, diễn biến rất khó lường”.(Nông Nghiệp VN 5/3, Tr15)đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt danh mục Dự án “Chương trình bảo vệ tổng hợp vùng ven biển và rừng ngập mặn Đồng bằng sông Cửu Long nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu (ICMP) giai đoạn 2” sử dụng ODA không hoàn lại của Chính phủ Đức và Chính phủ Australia.
Dự án trên được thực hiện tối đa trong 3 năm (2015-2018) với tổng kinh phí là 8,8 triệu euro. Trong đó, vốn ODA không hoàn lại của Chính phủ Đức là 4,4 triệu euro; vốn ODA không hoàn lại của Chính phủ Australia là 3,6 triệu euro; vốn đối ứng của phía Việt Nam 0,8 triệu euro.
Mục tiêu của Dự án trên là nâng cao năng lực thể chế và lập kế hoạch để thúc đẩy phát triển vùng Đồng bằng Sông Cửu Long có khả năng chống chịu biến đổi khí hậu.
Cụ thể, Dự án sẽ thiết lập khung pháp lý và thể chế cho đầu tư phát triển các giải pháp chống chịu biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh; hỗ trợ nâng cao năng lực kỹ thuật của các cơ quan liên quan trong việc xây dựng và tài trợ cho các giải pháp sinh kế lồng ghép và bảo vệ vùng ven biển có khả năng chống chịu biến đổi khí hậu; cải thiện và thiết lập cơ chế phối hợp, quan hệ đối tác chiến lược qua đó xây dựng hướng tiếp cận hài hòa các hệ sinh thái ven biển và tăng trưởng xanh có khả năng chống chịu biến đổi khí hậu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. (Nông Nghiệp VN 5/3, Tr2; Vietnamplus.vn 5/3)đầu trang(
Giảm tiêu thụ động vật hoang dã (ĐVHD) là một cách tiếp cận tích cực để kiểm soát và ngăn chặn tình trạng buôn bán, vận chuyển và sử dụng trái phép ĐVHD. Giai đoạn 2003-2010 đã có 14 dự án ODA (hơn 07 triệu USD)[1] liên quan đến bảo tồn, quản lý, kiểm soát buôn bán và tiêu thụ ĐVHD được thực hiện ở Việt Nam, trong đó có một số dự án gần đây triển khai theo hướng giảm tiêu dùng sản phẩm ĐVHD.
Kết quả và cũng là điểm nổi bật của các dự án này chính là các chiến dịch truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng, các diễn đàn đối thoại, thảo luận trong nước và quốc tế, các chỉ thị và cam kết… huy động được sự quan tâm và tham gia của nhiều bên liên quan.
Tuy nhiên, khó có thể đánh giá được tác động thực tế của các dự án này trong thay đổi thái độ, cam kết và hành vi của các nhóm đối tượng cũng như bằng chứng về xu hướng giảm tiêu thụ ĐVHD trong xã hội.
Đó chính là lý do cần nhìn nhận lại cách tiếp cận và mục tiêu của các dự án về giảm tiêu thụ ĐVHD trái phép trong bối cảnh Việt Nam hiện nay để xây dựng được các chiến lược can thiệp hiệu quả hơn.
Thống kê của Cục Kiểm lâm từ năm 2007-2013 cho thấy số lượng các vụ vi phạm pháp luật về quản lý và bảo vệ ĐVHD hàng năm có xu hướng giảm dần. Báo cáo của Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về Môi trường (C49, Bộ Công an)[2] cũng cho rằng công tác đấu tranh của các lực lượng công an, hải quan, bộ đội biên phòng và kiểm lâm đã làm giảm số vụ vi phạm bị phát hiện và ngăn chặn tội phạm liên quan tới ĐVHD.
Tuy nhiên, tình hình vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD quý hiếm vẫn chưa được kiểm soát. Theo đó, tình hình vận chuyển, kinh doanh ĐVHD trong nội địa có giảm so với trước, nhưng vẫn tồn tại việc lợi dụng hoạt động gây nuôi để chuyển bán sang thị trường Trung Quốc một số động vật nhóm IB, IIB có lợi nhuận kinh tế cao như rắn hổ mang chúa, tê tê, rùa biển.
Hoạt động buôn bán, sử dụng cho kinh doanh ẩm thực được quản lý tốt hơn, không công khai nhưng vẫn còn tồn tại.
Tình trạng săn bắt, buôn bán, vận chuyển và tiêu thụ ĐVHD trái phép những năm gần đây diễn biến khá phức tạp, nhất là đối với sừng tê giác, ngà voi, hổ, tê tê, rùa biển.
Hoạt động vận chuyển, buôn bán ĐVHD diễn ra trên cả thị trường nội địa và quốc tế. Trong đó, vấn nạn đang phải đối mặt hiện nay là tình trạng vận chuyển, buôn bán trái phép sừng tê giác, ngà voi từ Châu Phi về Việt Nam tiêu thụ hoặc trung chuyển.
Việt Nam hiện bị xem là quốc gia trung chuyển mẫu vật hoang dã lớn nhất thế giới[3]. Số liệu của Cơ quan quản lý CITES Việt Nam cho thấy trong vòng 10 năm (kể từ 2004), các cơ quan pháp luật đã bắt giữ 150 kg sừng tê giác và trên 25 tấn ngà voi vận chuyển trái phép về Việt Nam, là số lượng bị bắt giữ thuộc diện nhiều nhất thế giới.
Thời kỳ cao điểm đã có khoảng 30 người Việt Nam bị bắt giữ và phạt tù vì săn bắn, vận chuyển, buôn bán sừng tê giác, ngà voi ở Nam Phi. Trong khi đó, số lượng tê giác bị giết hại ở Nam Phi năm 2013 và 2014 được chính thức công bố tương ứng là 1004 và 1215 cá thể. Tuy nhiên, chưa có số liệu chính thức, cập nhật nào công bố về lượng sừng tê giác được trung chuyển hoặc tiêu thụ tại Việt Nam.
Thị trường mua bán trái phép các sản phẩm ĐVHD được hình thành và liên kết bởi mạng lưới bên cung, bên cầu và các bên trung gian. Theo nghiên cứu của WCS (2009), nguồn cung sản phẩm ĐVHD trên thị trường là các thợ săn Việt Nam (ở trong nước, nước ngoài), thợ săn nước ngoài (ở nước họ) và các trang trại ĐVHD trước khi „qua tay“ chủ bán buôn (đầu nậu).
Trong khi đó, bên tiêu thụ chủ yếu là những người được xem là có tiền (doanh nhân, quan chức, đại gia, chủ trang trại ĐVHD) hay những người có lý do cá biệt (bệnh nhân có nhu cầu thuốc Đông y).
Các điểm giao dịch nơi diễn ra mua bán ĐVHD và sản phẩm của chúng rất đa dạng: từ nhà hàng, nhà thuốc Đông y, cửa hàng trang sức, lưu niệm, trang trại ĐVHD đến giao dịch qua các diễn đàn trực tuyến. Do đó, nỗ lực giảm tiêu thụ các sản phẩm này từ phía có nhu cầu sẽ rất khó thành công nếu nguồn cung không bị ngăn chặn và thị trường mua bán, giao dịch trái phép không bị xóa bỏ.
Với các sản phẩm ĐVHD trái phép có giá trị mua bán cao như sừng tê giác, ngà voi, xương hổ, đối tượng có nhu cầu mua để sử dụng, biếu tặng hay chế biến nhất định phải là những người có dư năng lực tài chính và quan hệ xã hội.
Trong số này, doanh nhân cần được xem như là nhóm tiềm năng nhất, phù hợp nhất mà các dự án hướng đến giảm nhu cầu cần can thiệp.
Với diễn giải đó, các hoạt động dự án trước đây vốn nhằm vào đối tượng thanh niên, sinh viên, học sinh (khu vực đô thị) nhằm tạo kênh thông tin gián tiếp tác động đến người tiêu dùng ĐVHD là cách tiếp cận mơ hồ và ít có hiệu quả về mặt chi phí và thời gian vì đó không phải là nhóm đối tượng chủ động cung cấp hoặc có nhu cầu sử dụng ĐVHD.
Nếu các dự án tiếp tục đặt kỳ vọng vào đối tượng này thì phải xem đó là mục tiêu dài hạn, và cần phải giải quyết bằng các hành động có tính hệ thống, chiến lược hơn. Ngoài ra, nỗ lực giảm tiêu thụ sừng tê giác, ngà voi cũng phải được tiến hành đồng thời với ngăn chặn các nguồn cung cấp từ bên ngoài vào Việt Nam.
Thực tiễn đấu tranh và ngăn chặn các vi phạm liên quan đến ĐVHD cho thấy các sân bay quốc tế (như Nội Bài, Tân Sân Nhất, Đà Nẵng), cảng biển/sông (như Hải Phòng) và các khu kinh tế/chế xuất có cảng (như Vũng Áng), và các cửa khẩu biên giới giáp Campuchia, Lào và Trung Quốc là những điểm đến của các nguồn hàng trái phép tuồn vào Việt Nam hoặc trung chuyển qua nước khác.
Do vậy, nhóm đối tượng mục tiêu mà các dự án cần hỗ trợ tác động (về nâng cao nhận thức hoặc tuân thủ luật pháp) chính là thương nhân, khách xuất cảnh đi du lịch nước ngoài (hoặc nhập cảnh về Việt Nam), bốc dỡ và vận tải bến cảng, lực lượng hải quan, biên phòng, an ninh.
Với cách tiếp cận phòng ngừa này, các dự án cũng cần hợp tác với các đại sứ quán (nơi cấp visa cho thương nhân, cán bộ, du khách Việt Nam), các công ty dịch vụ du lịch, taxi sân bay, các khách sạn và khu nghỉ dưỡng cao cấp, các trung tâm hội nghị/hội thảo lớn để làm cầu nối thông tin đến các nhóm đối tượng có nguy cơ cao về vận chuyển và buôn bán trái phép ĐVHD.
Những tiếp cận trên không loại trừ yêu cầu tăng cường hợp tác quốc tế sâu rộng hơn để giám sát, đấu tranh, ngăn chặn và xử lý các nguồn sản phẩm trái phép vào Việt Nam. (Thiennhien.net 5/3)đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Vĩnh Phúc đã đề nghị công an truy tìm tung tích con thú có hình dạng kỳ dị được rao bán trên facebook gây xôn xao. Qua đối chiếu, so sánh các tài liệu phân bố các loài động vật ở Việt Nam thì chưa thể xác định tên gọi chính xác của loại động vật lạ này.
Chiều 4/3, ông Nguyễn Văn Tâm, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Vĩnh Phúc, cho biết ngay sau khi tiếp nhận thông tin và hình ảnh “con thú lạ” được lan truyền và bàn luận xôn xao trên Facebook, đơn vị này đã cử cán bộ vào cuộc tìm kiếm, xác minh nguồn gốc loài động vật này.
Cũng theo ông Nguyễn Văn Tâm, nếu nhìn bề ngoài, con vật này có hình thù giống với loài kỳ nhông (hay kỳ giông) ở tại Nhật Bản, không có phân bố tại Việt Nam và “thực sự chưa thể lý giải vì sao nó lại xuất hiện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”. Qua đối chiếu, so sánh các tài liệu phân bố các loài động vật ở Việt Nam thì chưa thể xác định tên gọi chính xác của loại động vật lạ này.
Trong ngày hôm nay, lần theo các manh mối, thông tin từ tài khoản Facebook, PV đã có thông tin ban đầu về người trực tiếp tung ảnh “quái vật ở Vĩnh Phúc” lên mạng, gây xôn xao dư luận.
Đó là người có nickname Tung Nguyen, nhà ở thôn Chợ Nội, xã Tam Hợp, huyện Tam Dương, Vĩnh Phúc. Tung Nguyen sở hữu tấm hình chụp loài động vật này cho hay, con vật được một người thân trong nhà “vớt” được từ hồ. Cách đây hai ngày, con vật này đã được rao bán thành công. Tuy nhiên, người này từ chối cung cấp thông tin về giá bán cũng như người đến mua vì “đã có thỏa thuận không được tiết lộ”.
Trước những thông tin này, ông Nguyễn Văn Tâm cho biết, ngay trong chiều cùng ngày, cán bộ của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Vĩnh Phúc đã được cử xuống địa bàn để lấy thông tin xác minh. Do đây là loại động vật lạ, chưa rõ ràng về nguồn gốc, phía Chi cục Kiểm lâm tỉnh Vĩnh Phúc có đề nghị công an xã, chính quyền địa phương mời các cá nhân có liên quan cung cấp thông tin.
“Trong trường hợp đã bán, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Vĩnh Phúc cũng phải biết rõ, con thú lạ này được bán cho ai, ở đâu. Khi truy tìm được, chúng tôi sẽ mang về Viện tài nguyên sinh vật Việt Nam mời các nhà khoa học tiếp tục xác minh, nghiên cứu”, ông Tâm nói. (Tiền Phong 4/3)đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm An Giang cho biết, mùa khô năm 2015 dự báo diễn biến phức tạp hơn mọi năm. Do tổng lượng mưa năm qua đạt thấp, mức độ khô hanh cao, nhiệt độ không khí sẽ tăng, dễ dẫn đến hiện tượng bốc hơi, bén lửa, nguy cơ xảy ra cháy rừng rất lớn.
Đơn vị đang khoanh vùng khoảng 7.100 héc-ta rừng trọng điểm có khả năng cháy (cấp độ 5), chiếm 48,25% diện tích rừng. Đồng thời, triển khai phòng, chống cháy rừng theo phương châm “4 tại chỗ”, quyết tâm bảo vệ thành quả 3 năm qua không để thiệt hại rừng, cháy rừng.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh yêu cầu các đơn vị đẩy mạnh tuyên truyền để khách hành hương không đốt nhang, giấy tiền, vàng mã, sử dụng lửa sai quy định khi vào khu vực rừng; vận động người dân không chặt phá rừng bừa bãi. (Báo An Giang 4/3)đầu trang(
Đồng Tháp có khí hậu thích hợp với loài ong mật. Gần đây, các khu vực gần rừng tràm được xem là vùng nguyên liệu lấy mật ong phong phú. Hàng năm, từ khoảng đầu tháng 1 dương lịch, nhiều người di chuyển đàn ong tới đây để nuôi ong lấy mật.
Mùa xuân, ở Đồng Tháp, bông tràm nở khắp các khu rừng, tỏa hương thơm quyến rũ cho các loài ong đua nhau bay đi hút mật làm nên vị ngọt cho đời.Một ngày đầu xuân, PV chạy xe dọc theo tuyến đường ở xã Tân Công Sính (huyện Tam Nông) gặp nhiều hộ dân đặt hàng trăm thùng nuôi ong liên tiếp nhau.
Bắt chuyện với anh Nguyễn Văn Hút - một chủ nuôi ong mật, anh Hút cho rằng, Đồng Tháp có khí hậu thích hợp với loài ong mật. Gần đây, các khu vực gần rừng tràm được xem là vùng nguyên liệu lấy mật ong phong phú. Hàng năm, từ khoảng đầu tháng 1 dương lịch là nhiều người di chuyển đàn ong tới đây để nuôi dưỡng ong lấy mật.
Đồng Tháp Mười có hệ thống rừng tràm phong phú, cung cấp nguồn thức ăn dồi dào cho ong, nên việc nuôi ong của người dân giảm được chi phí thức ăn. Thời gian qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) xã Tân Công Sính đã thành lập mô hình nuôi ong lấy mật và hỗ trợ vốn cho nhiều hội viên tham gia nuôi ong, giúp cho nhiều người ổn định cuộc sống và làm giàu.
Bà Nguyễn Thị Tú Nguyên - Chủ tịch Hội LHPN xã Tân Công Sính cho biết: “Đây là mô hình mới được thành lập ở địa phương, khi thực hiện thử nghiệm ở vài hộ thấy có hiệu quả cao, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho nhiều người”.
Cũng theo bà Nguyên, trước đây, người dân thường vào rừng trái phép để săn bắt động vật, lấy mật ong, dễ gây cháy rừng. Từ khi được hỗ trợ vốn nuôi ong lấy mật phát triển kinh tế gia đình, nhiều hộ dân đã hạn chế xâm nhập vào rừng trái phép.
Trước đây, anh Phạm Vũ Linh (huyện Tam Nông), có thời gian nuôi ong mật cùng với người cô ở tỉnh Đồng Nai. Học được kinh nghiệm nuôi ong mật trong thùng, anh Linh trở về quê nhà bắt đầu nuôi ong gần rừng tràm ở huyện Tam Nông và di chuyển đàn ong đi khắp các tỉnh khác.
Qua hơn 4 năm nuôi ong, anh Linh đã phát triển nuôi hơn 600 thùng ong mật, mỗi năm lợi nhuận hàng trăm triệu đồng. “Hàng năm, khoảng 6 tháng nuôi ong ở huyện Tam Nông, sau đó, tôi di chuyển đàn ong đi tỉnh khác “dựng trại” nuôi tiếp khi những nơi này vườn cây vào mùa hoa nở. Tôi nghĩ nếu chính quyền địa phương hỗ trợ vốn cho người dân địa phương nuôi ong sẽ góp phần hạn chế vào rừng lấy mật ong bừa bãi gây cháy rừng” - anh Linh cho biết.
Ở Đồng Tháp có nhiều hộ dân nuôi ong với hàng ngàn thùng ong mật, mỗi năm cung cấp hàng trăm tấn mật cho các công ty, doanh nghiệp để chế biến xuất khẩu cho thị trường trong và ngoài nước.
Mật ong bán với giá khoảng 120.000 đồng/lít, mỗi tháng trung bình người nuôi ong thu nhập hàng triệu đồng. Ban đầu, anh Nguyễn Văn Hút “khởi nghiệp” nuôi ong từ nguồn vốn vay mượn, cầm cố đất ruộng để nuôi khoảng 50 thùng ong. Đến nay, anh Hút đã phát triển lên hàng trăm thùng ong, mỗi năm đàn ong “nhả vàng” giúp gia đình thu nhập hàng chục triệu đồng.
Anh Hút chia sẻ: “Từ khi chuyển sang nuôi ong lấy mật, kinh tế gia đình khá lên, hiện giờ, tôi nuôi được 310 thùng ong. Tôi thấy ngoài hiệu quả về mặt kinh tế, việc nuôi ong còn giúp thụ phấn cho cây trồng, góp phần tăng năng suất và bảo vệ môi trường sinh thái”.
Theo nhiều người nuôi ong trong tỉnh Đồng Tháp, nghề nuôi ong không quá khó, tuy nhiên để trở thành tay nuôi thuần thục, có kinh nghiệm nhân giống và lấy mật chất lượng thì không phải ai cũng thực hiện được, chỉ có sự kiên trì thì mới đúc kết được kinh nghiệm cho riêng mình.
Theo anh Phạm Vũ Linh, phẩm chất của ong chúa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời sống đàn ong. Ong chúa tốt thì đàn ong sẽ phát triển, ong chúa kém chất lượng sẽ làm cho đàn ong dễ tàn. Người nuôi ong mật trong thùng có kinh nghiệm thì phải có khả năng đoán được những bệnh của ong để có phương pháp chữa trị hiệu quả, ngoài ra còn có khả năng làm đàn ong nhân giống tốt.
Khoảng từ tháng 2 đến tháng 11 dương lịch là thời điểm người nuôi chọn những khu vực rừng cây yên tĩnh để dưỡng ong, nhân giống và lấy mật; từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau là thời điểm chuyển đàn ong đến những địa điểm có vườn cây ăn trái để ong lấy mật.
Anh Huỳnh Văn Sang (huyện Tam Nông) vừa đầu tư vốn hơn 75 triệu đồng, nuôi 50 thùng ong. Giở thùng ong lên để kiểm tra đàn ong, anh Sang cho biết: “Đây là nghề bỏ công làm lời nên phải chịu khó, thường xuyên chăm sóc ong, thăm dò nơi nào có cây ra hoa là di chuyển đàn ong đến”.
Vào những ngày đầu xuân, chúng tôi cảm nhận được hương bông tràm thoảng bay trong gió, cũng là thời điểm báo hiệu thắng lợi một mùa nuôi ong của người dân địa phương. (Người Lao Động 4/3)đầu trang(
Các tỉnh Nam Bộ và Tây Nguyên đang trong đợt cao điểm mùa khô và cũng là mùa rụng lá của nhiều loại cây. Chính vì vậy, báo động cháy rừng ở nhiều khu vực đang ở mức cao.
Khoảng 800.000ha cao su ở Nam Bộ và Tây Nguyên đang được người dân, chính quyền cùng các ban, ngành quan tâm đặc biệt và triển khai quyết liệt nhiều biện pháp, nhằm phòng chống cháy rừng.
Hiện tỉnh Bình Dương có khoảng 130.000ha cao su. Để phòng cháy, ngoài việc vận động chủ các lô cao su thường xuyên thổi lá khô ra khỏi gốc cây, các lực lượng chức năng cũng thường xuyên tuần tra, giám sát. Các bể nước tại các lô cao su cũng luôn đầy nước.
Lực lượng chức năng đã tuyên truyền đến người dân để mọi người nâng cao ý thức, nhất là không được hút thuốc lá, sử dụng lửa tại các vườn cao su, bởi quan trọng nhất và cũng hiệu quả nhất trong việc phòng cháy chính là ý thức của tất cả người dân.
Lực lượng chức năng khuyến cáo bà con tuyệt đối không đốt lá ngay tại vườn cao su, vì ngoài nguy cơ cháy cao, việc đốt lá còn làm mất lượng mùn hữu cơ và làm hỏng bộ rễ của cao su. Nguy cơ làm giảm sản lượng mủ  trong mùa cạo tới hoàn toàn có thể xảy ra. (Đài Truyền Hình VN 4/3)đầu trang(
Nền kinh tế và sự phát triển của Việt Nam phụ thuộc lớn vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có đa dạng sinh học. Tuy nhiên, đa dạng sinh học đã và có xu hướng tiếp tục bị suy thoái vì “nhân tai”
Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa trình báo cáo quốc gia về việc thực hiện Công ước Đa dạng sinh học (ĐDSH) giai đoạn 2009-2013 lên Ban Thư ký Công ước ĐDSH quốc tế.
Việt Nam được xếp hạng thứ 16 trên thế giới về đa dạng sinh vật và là 1 trong 10 trung tâm ĐDSH phong phú nhất thế giới với nhiều kiểu hệ sinh thái, nguồn gien đặc hữu. Thế nhưng, sự đa dạng này đang bị đe dọa nghiêm trọng vì nạn khai thác bừa bãi và sức ép từ gia tăng dân số, tốc độ đô thị hóa...
Năm 2007, Việt Nam có 880 loài động, thực vật được ghi vào Sách đỏ nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức độ “nguy cấp”. Đến nay, đã có 10 loài động vật bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên. Tê giác Java Việt Nam là 1 trong 2 quần thể tê giác còn sót lại trên trái đất bị xác nhận là tuyệt chủng vào năm 2010. Điều này làm cho không chỉ Việt Nam mà cả thế giới tiếc nuối và lo lắng.
Các loài động vật nguy cấp, quý hiếm vẫn tiếp tục rơi vào tình trạng báo động tuyệt chủng cao do nạn săn bắt trộm và mất môi trường sống. Các nhà máy xi măng phá hết các núi đá vôi để lấy nguyên liệu đã đẩy loài voọc mông trắng, voọc mũi hếch... ra khỏi “nhà” và đến bờ tuyệt chủng, loài này chỉ còn tính bằng cá thể thay vì bầy đàn như trước kia.
Tương tự, hổ Việt Nam vốn có số lượng đến hàng ngàn con nhưng nay cũng chỉ còn khoảng 30 con, phân bố trong các khu bảo tồn. Không chỉ các loài động vật quý hiếm mà những loài được xem là phổ biến cũng đang bị ảnh hưởng nguồn gien di truyền do sự khai thác quá mức. Số lượng thủy sinh vật, nhất là các loài tôm cá có giá trị kinh tế cao, cũng bị giảm sút nghiêm trọng.
Hệ sinh thái dưới nước cũng không tránh khỏi bị tận diệt do con người. Rạn san hô ở Cô Tô, Quảng Ninh vốn được đánh giá phát triển tốt, độ phủ đạt 80%-100% nhưng từ năm 2007 đến nay, chết rất nhiều, có nơi tỉ lệ chết đến 90%. Diện tích san hô toàn quốc đã giảm đến 10%, hiện còn 14.000 ha, trong đó chỉ 3% phát triển.
Quá trình đô thị hóa, phát triển cơ sở hạ tầng đã làm phá vỡ các sinh cảnh tự nhiên, mất các hệ sinh thái dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học. Theo thống kê, từ năm 2008 đến nay, đã có trên 100.000 ha đất rừng khộp - một hệ sinh thái đặc thù của thế giới - tại Tây Nguyên bị chuyển đổi sang trồng cao su. Tương tự, diện tích rừng ngập mặn từ 400.000 ha năm 1943, đến nay chỉ còn 130.000 ha.
Nguyên nhân chủ yếu là chuyển đổi mục đích để nuôi tôm và một số loài thủy sản khác. Tỉ lệ che phủ rừng và diện tích rừng cả nước có xu hướng tăng nhưng chủ yếu là rừng trồng mới, ĐDSH thấp trong khi diện tích rừng giàu ĐDSH đang suy giảm nhanh chóng, diện tích rừng nguyên sinh hầu như không còn.
Thủy điện được cảnh báo là một dạng hạ tầng đe dọa lớn đến ĐDSH. Cả nước hiện có hơn 800 thủy điện nằm trong quy hoạch. Tất cả các nghiên cứu đều chỉ ra rằng vùng sông sau đập chịu tác động rất lớn như gây ảnh hưởng đến nơi cư trú, đời sống của các sinh vật, tạo điều kiện cho các loài ngoại lai xâm nhập...
Việc xây dựng nhiều thủy điện còn làm mất các khu rừng tự nhiên, chia cắt dòng chảy. Nhiều công trình không vận hành đúng quy trình không những gây thiệt hại cho người, nền kinh tế mà còn làm suy thoái các hệ sinh thái. (Bưu Điện VN 4/3, Tr14)đầu trang(
Từ xa xưa, cuộc sống của người Châu Mạ dưới chân núi Tà Đùng gắn liền với rừng nguyên thủy. Đồng bào tin rừng là sinh mệnh. Mỗi cây rừng mất, làng sẽ gặp đại họa nếu không mang trâu vào tận gốc cây làm lễ tạ tội.
Ngày nay, người Mạ nhận khoán, phối hợp với lực lượng kiểm lâm chia nhau ăn rừng, ngủ rừng để bảo vệ từng cây gỗ, từng con thú.
Những ngày đầu xuân mát dịu, từ Buôn Ma Thuột chúng tôi phượt hơn 200 cây số, vượt hàng chục con đèo gấp khúc, từ sáng sớm đến cuối chiều mới đến xã Đắk Som, huyện Đắk G’long, tỉnh Đắk Nông.
Nhìn từ xa, đỉnh núi Tà Ðùng tĩnh lặng lấp ló trong làn mây trắng giăng ngang trời. Làng của đồng bào Châu Mạ dưới chân núi như lính gác cửa, ngày đêm canh giữ rừng.
Anh K’Phương, một người trong tổ nhận khoán bảo vệ rừng đưa chúng tôi đến gặp già làng K’Cha, 94 tuổi để nghe huyền thoại núi Tà Đùng và chuyện giữ rừng của đồng bào Mạ.
Đã bao đời nay, đồng bào Mạ sống dưới chân núi vẫn hát kể cho nhau nghe những sử thi về núi Tà Đùng hùng vĩ, sự tích cái tên của từng con suối, ngọn đồi và truyền dạy con cháu rằng việc giữ rừng đại ngàn là bảo vệ sinh mệnh sống của dân làng.
“Rừng là đấng thiêng, thần rừng canh giữ. Buôn làng bảo vệ rừng sẽ được che chở, ấm no. Nếu để mất rừng sẽ gặp đại họa, phải làm lễ xin thần rừng thứ tội”, già làng K’Cha nói.
Trong ngôi nhà nhỏ ấm cúng, già làng K’Cha miên man theo dòng sử thi về núi Tà Đùng. Già kể: Thời xa xưa, một cộng đồng người Châu Mạ lập làng, sinh sống phồn thịnh trên đỉnh núi.
Trong làng có nàng H’Bung xinh đẹp, tài giỏi, sống trong gia đình giàu sang nhưng rất siêng năng nên nhiều trai làng yêu mến, theo đuổi. Nàng H’Bung ưng chàng K’Jang khỏe mạnh, chăm chỉ. Để cưới vợ, chàng trai phải chuẩn bị tiền của làm hồi môn theo yêu cầu của nhà gái, K’Jang cần mẫn làm việc gom góp tiền của cưới nàng H’Bung.
Trong một chuyến rong chơi, chàng Jong’Kjang là một người có vị thế bên dãy núi Nâm Nung đến Tà Đùng. Đêm nằm nghe âm thanh réo rắt, chàng choàng tỉnh dậy, lần theo tiếng nhạc và nhìn thấy một cô gái xinh đẹp đang dệt thổ cẩm, chiếc vòng B’rlêm đeo bên thắt lưng đung đưa theo nhịp tạo thành bản nhạc.
Say mê nhan sắc, chàng Jong’Kjang ngỏ lời làm quen, nhưng bị người đẹp từ chối. Quyết tâm bắt được nàng về làm vợ, Jong’Kjang phá hết những vòi nước 3 nhánh mà nàng H’Bung hay tắm. Nàng H’Bung hỏi chim và nhiều con vật khác trong khu rừng, chúng đều trả lời không biết. Jong’Kjang bắt nàng về chung sống ở núi Nâm Nung, sinh được 3 người con trai.
Sống ở Nâm Nung, nàng H’Bung vẫn buồn bã nói với các con: “Đất mình đang ở là đất của người ta, nước mình đang uống là nước của người ta”, rồi chỉ về hướng núi Tà Đùng bảo: “Đất, nước kia mới là của mình”. Jong’ Kjang biết chuyện trách mắng, nàng H’Bung giận dỗi đưa con trở về núi Tà Ðùng.
Sau đó, Jong’Kjang mang quân đến phá làng, chặt cây, giết hại muông thú, đạp bằng ngọn núi Tà Ðùng. Chàng K’Jang khỏe mạnh đã dùng tay chống đỡ, ôm chặt ngọn núi.
Ngày nay, trên đỉnh Tà Đùng vẫn còn hai ngọn núi nhỏ được cho là dấu tích bàn tay K’Jang đỡ cho ngọn núi lớn không bị đổ. Dân làng đặt tên cho hai ngọn núi nhỏ đó là Khéckhal.
Đối với người Mạ dưới chân núi Tà Đùng, rừng là sinh mệnh của cả làng. Theo già làng kể lại, năm nào rừng bị nhiều kẻ gian cưa gỗ, bắt thú là năm đó dân trong làng đau ốm liên miên, mùa màng thất bát. Người dân phải mang trâu vào gốc cây bị chặt làm lễ tạ tội với thần rừng.
Không ít lần già làng K’Cha cùng dân làng mang lễ đi tạ tội. Có lần, kẻ xấu chặt mất cây cổ thụ giữa rừng, không hiểu sao, người già, trẻ em trong làng đau ốm quanh năm, cây cối trồng không cho thu hoạch, vật nuôi chết dần.
Già phải huy động dân làng vào rừng sâu tìm cho ra gốc cây bị chặt, dắt trâu cột vào gốc cây làm lễ xin thần rừng tha thứ, dân làng mới được sống yên ổn. “Già luôn căn dặn con cháu của làng phải bảo vệ rừng, sống hòa thuận với rừng để có sức khỏe, no ấm”, già K’Cha chia sẻ.
Ông K’Tang, Chủ tịch UBND xã Ðắk Som cho biết: Đã bao đời nay, núi Tà Ðùng bao bọc chở che, đem lại nguồn sống cho bao thế hệ người dân Châu Mạ sống dưới chân núi. Vì vậy, người Mạ ở Ðắk Som quyết liệt giữ rừng không đơn thuần chỉ vì phong tục, mà còn vì họ tôn trọng và yêu quý rừng thật sự.
Ngày nay, đồng bào tham gia nhận khoán bảo vệ rừng. Cả những ngày lễ tết, khi mọi người được nghỉ ngơi, sum vầy bên gia đình thì cộng đồng người Mạ dưới chân núi Tà Đùng vẫn chia ca vào rừng túc trực, canh gác cả ngày lẫn đêm.
Anh K’Phương, 36 tuổi, một trong những chủ hộ nhận khoán bảo vệ rừng Tà Đùng cho biết: Các hộ nhận khoán chia tổ, phân công lịch tuần tra rất rõ ràng, mỗi hộ tham gia tuần tra 3 - 4 lần/tháng, mỗi chuyến đi ở lại rừng vài ngày nên phải chuẩn bị các loại dụng cụ, thuốc men phòng côn trùng cắn, hút máu.
“Ban ngày, cả đoàn đi tuần tra, tối ở đâu giăng bạt, dựng lều ở đó. Trong rừng sương mù xuống dày đặc, giá buốt thấu da, muỗi bay vo ve khắp lán, chúng tôi phải đốt lửa sưởi ấm mới ngủ được”.
Lâm tặc ngày càng manh động, hung hãn, chúng sẵn sàng tấn công trả thù những người ngáng trở con đường làm ăn phi pháp của chúng. Công việc vất vả, thù lao không được bao nhiêu, nếu đơn thuần chỉ kiếm việc làm thêm tăng thu nhập thì họ có thể làm nhiều việc khác nhẹ nhàng, đỡ nguy hiểm hơn gấp nhiều lần. Nhưng họ vẫn chọn việc giữ rừng, đơn giản vì rừng là sự sống của làng và việc giữ rừng đã được già làng căn dặn.
Ông Lê Quang Dần, Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng cho biết: Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng bao gồm núi và hồ Tà Đùng, quản lý gần 20.000ha rừng đặc dụng. Bên trong khu rừng là dòng suối Đắk N’teng chảy qua tạo thành hai ngọn thác hấp dẫn, kỳ bí. Đứng trên cao nhìn xuống những sườn dốc là các buôn làng thuộc xã Đắk P’lao, Đắk R’măng, Đắk Som còn lưu giữ nhiều giá trị truyền thống văn hóa đặc sắc.
Hiện khu bảo tồn còn nhiều gỗ, động vật quý hiếm nên rừng Tà Đùng là miếng mồi ngon hấp dẫn lâm tặc khắp nơi nhòm ngó, chực chờ xẻ thịt. Lực lượng kiểm lâm chỉ có 22 người, không thể quản lý xuể.
Mấy năm trước, khu bảo tồn bắt đầu giao khoán cho những hộ dân sống quanh khu vực rừng. Riêng năm 2014, khu bảo tồn đã giao khoán khoảng 5.000 ha rừng cho 223 hộ dân ở xã Đắk Som, trung bình mỗi hộ nhận khoán 35ha với tiền công 200.000 đồng/ha/năm.
Các hộ nhận khoán chia thành từng tổ bảo vệ rừng, phân ca trực 24/24. Trong đó, đồng bào dân tộc ít người chiếm 95%, chủ yếu đồng bào Mạ vì tập tục sinh hoạt của người Mạ và hiểu giá trị của rừng. Làng người Mạ nằm án ngữ dưới chân núi Tà Đùng như lính gác cửa rừng mà lâm tặc muốn vào phá rừng phải bước qua “xác” dân làng.
Không chỉ người Mạ, các hộ dân khác trên địa bàn xã cũng tích cực tham gia nhận khoán, bảo vệ rừng. Trong năm 2014, các hộ nhận khoán phối hợp cùng lực lượng kiểm lâm bắt nhiều đối tượng săn thú, phá rừng thu giữ nhiều tang vật, ngăn chặn hàng chục vụ lâm tặc mang cưa xăng vào rừng.
Gần đây nhất, các hộ nhận khoán cùng tổ liên ngành bắt giữ đối tượng phá rừng làm rẫy ở Tiểu khu 1780. (Tiền Phong 4/3)đầu trang(
Trong năm 2014, các lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 65 vụ, với 73 đối tượng vi phạm. Dân cư địa phương, đa số là người Mông ở xã Ea Dah, Ea Puk, người Mường  xâm nhập vào khu vực bảo tồn để bẫy, bắt động vật hoang dã và khai thác gỗ quý hiếm khiến tình hình tại đây hết sức phức tạp.
Gần đây, nhiều diện tích rừng Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô (Đăk Lăk) có diện tích 26.848ha, trong đó diện tích rừng trên 21.495ha. Do địa thế giáp ranh với nhiều địa phương như huyện Krông Pa (Gia Lai), Sông Hinh (Phú Yên) và huyện Krông Năng, M’Drak (Đăk Lăk) nên công tác quản lý bảo vệ rừng của lực lượng kiểm lâm tại đây gặp rất nhiều khó khăn.
Theo đại diện Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, mặc dù lực lượng chức năng thường xuyên triển khai các đợt truy quét, tuần tra. Song do địa bàn rộng, lực lượng mỏng nên gặp rất nhiều khó khăn trong công tác bảo vệ rừng.
Trong năm 2014, các lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 65 vụ, với 73 đối tượng vi phạm. Tại các vị trí giáp ranh giữa các địa phương như các tiểu khu giáp với huyện Krông Năng, gần đây dân cư địa phương, đa số là người Mông ở xã Ea Dah, Ea Puk, người Mường ở xã Ea Tam (huyện Krông Năng) xâm nhập vào khu vực bảo tồn để bẫy, bắt động vật hoang dã và khai thác gỗ quý hiếm khiến tình hình tại đây hết sức phức tạp.
Thậm chí, có trường hợp khi bị phát hiện, các đối tượng có hành vi chống người thi hành công vụ, tấn công lực lượng kiểm lâm.
Việc tổ chức truy quét của các lực lượng thường gặp nhiều khó khăn do phải đi bộ cắt rừng mất rất nhiều thời gian. Các đối tượng thường tổ chức khai thác vào buổi tối, sau đó vận chuyển bằng xe máy nên rất khó bắt giữ. Thêm vào đó, lâm tặc thường tập trung đông người, có thời điểm lâm tặc tập trung cùng lúc lên đến 30 - 40 xe máy độ chế, trang bị cả súng kíp và sẵn sàng chống đối lại lực lượng kiểm lâm.
Đôi khi, lực lượng chức năng bắt được các đối tượng khai thác gỗ trái phép ở khu vực giáp ranh với tỉnh Gia Lai, nhưng cả xe và gỗ đều không đưa về được đơn vị do địa hình phức tạp.
Khu vực rừng giáp ranh giữa xã Cư Klông, huyện Krông Năng (Đăk Lăk) và xã Chư Drăng, huyện Krông Pa (Gia Lai) cũng trong tình trạng tương tự, lâm tặc đã đốn hạ hàng trăm cây gỗ quý. Hiện trường cho thấy việc phá rừng diễn ra ngang nhiên trong thời gian dài, nhưng các ngành chức năng dường như không hề hay biết.
Hay tại hiện trường Tiểu khu 306 (thuộc xã Cư Klông), những cây gỗ quý bị lâm tặc đốn hạ nằm ngổn ngang dọc các đường tự mở vào rừng. Có cây đường kính hơn 1 mét, mới bị cưa hạ cách đây vài ngày, vẫn còn vài phách gỗ chưa kịp chuyển đi.
Một người dân địa phương vừa là người dẫn đường cho hay, đây là cây gỗ Bình Linh, một trong những loại gỗ quý đã bị lâm tặc đốn hạ không thương tiếc. Gần đó, nhiều cây gỗ quý khác như Gáo Vàng, Dổi cũng bị lâm tặc đốn hạ hàng loạt.
Cắt rừng đi thêm khoảng 100 mét, chúng tôi bắt gặp một con đường mòn mà lâm tặc mở để khai thác và vận chuyển gỗ. Theo lời của người dẫn đường, ở khu vực rừng này không biết có bao nhiêu con đường mòn như vậy. Dọc đường vào sâu trong rừng, chúng tôi thấy hàng trăm cây gỗ cổ thụ quý bị đốn hạ.
Có cây bị chặt từ lâu, lâm tặc đã lấy đi phần thịt gỗ và bỏ lại những tấm bìa lớn, có cây mới bị đốn hạ, thân còn tươi được cưa xẻ thành những lóng tròn, phách vuông nằm la liệt... Thậm chí, có những cây vừa mới hạ xuống chưa kịp “xẻ thịt”.
Ngoài những cây bị khai thác, có nhiều cây gỗ to phải vài người ôm mà lâm tặc mới chỉ cưa chớm hoặc cắt vào một phần ba thân. Người đưa chúng tôi vào đến hiện trường “bật mí”, đó là cách đánh dấu để các nhóm lâm tặc phân chia lãnh địa hay những cây gỗ đã được các nhóm khác nhau “xí phần” nhưng chưa kịp khai thác.
Đánh dấu như vậy để các nhóm không xâm phạm và khai thác chồng lấn. Theo tìm hiểu, tại khu vực rừng giáp ranh này có nhiều nhóm lâm tặc, có nhóm lâm tặc người địa phương, có nhóm ở nơi khác đến, cũng có nhóm từ các tỉnh Gia Lai, Phú Yên về đây khai thác. Lâm tặc thường đi từ 5 đến 7 người, rất manh động.
Bọn chúng không chỉ phá rừng ở địa bàn xã Cư Klông mà còn phá rừng ở các xã khác như xã Ea Tam, huyện Krông Năng, tỉnh Đăk Lăk; xã Chư Đrăng, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai. Gỗ sau khi khai thác được vận chuyển qua các tuyến đường liên xã rồi đưa đi tiêu thụ...
Trước tình trạng các đối tượng lâm tặc hoạt động ngày càng tinh vi, liều lĩnh tại các khu vực rừng giáp ranh, vị đại diện Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô đề nghị chính quyền các địa phương tăng cường thu giữ và xử lý súng tự chế; xử lý các phương tiện xe máy độ chế lưu thông trên địa bàn.
Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp hành chính. Quan trọng là sự vào cuộc đúng nghĩa của chính quyền các địa phương. Bởi việc đưa một khối lượng gỗ lớn ra ngoài rừng là rất khó song vẫn qua mắt được các cơ quan chức năng địa phương. Đây quả là điều rất lạ.
Tại sao lâm tặc ngang nhiên phá rừng, buôn bán gỗ trái phép ngay tại địa phương mà chính quyền không hay biết để vào cuộc xử lý? Phải chăng có sự “bật đèn xanh” cho lâm tặc phá rừng, buôn bán gỗ lậu? Đây là một câu hỏi lớn mà người dân rất mong nhận được câu trả lời từ chính quyền tỉnh Đăk Lăk. (Thời Báo Ngân Hàng 4/3, Tr15)đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngày 4-3, Sở NN & PTNN Quảng Ngãi cho biết, năm 2015, tỉnh phấn đấu trồng mới 5.118 ha rừng tập trung, trong đó trồng rừng phòng hộ là 1467 ha và rừng sản xuất 3.651 ha.
Ngoài ra, tỉnh cũng sẽ thực hiện quản lý bảo vệ 132.878 ha, khoanh nuôi tái sinh 2.300 ha và trồng khoảng 3 triệu cây phân tán, nâng độ che phủ rừng lên 50%.
Toàn tỉnh hiện có 280.000 ha rừng, năm 2014, trồng mới được 1.400 rừng phòng hộ và 6.600 ha rừng sản xuất. (Đại Đoàn Kết 5/3, Tr7) đầu trang(
Ban Pháp chế HĐND huyện đã giám sát công tác quản lý, bảo vệ rừng tại Hạt Kiểm lâm huyện.
Qua giám sát cho thấy, công tác quản ly,á bảo vệ rừng, quản lý lâm sản, động vật hoang dã đã được đơn vị đặc biệt quan tâm. Năm 2014, tình hình vi phạm hành chính trong công tác quản lý, bảo vệ rừng có chiều hướng giảm so với cùng kỳ, tổng số vi phạm mới là 46 vụ, giảm 11 vụ so với năm 2013; hầu hết các vụ việc đã được xử lý đúng quy định của pháp luật...
Tuy nhiên, việc tổ chức triển khai thực hiện chưa đồng bộ, thiếu sự phối hợp giữa Ban Quản lý bảo vệ rừng cấp xã với các chủ rừng; công tác tuyên truyền chưa đa dạng; tính chất, mức độ vi phạm của các vụ việc phức tạp...
Ban đề nghị đơn vị cần làm tốt công tác phối hợp với các địa phương, các chủ rừng tổ chức thực hiện tốt kế hoạch quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản và động vật hoang dã; tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm; nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ công chức khi thi hành công vụ…(Đại Biểu Nhân Dân 3/3)đầu trang(
Thời gian đầu triển khai thực hiện Nghị quyết T.Ư 4, khóa XI về xây dựng Đảng, do chưa nhìn thẳng vào sự thật, còn nể nang, né tránh dẫn đến một số việc gây bức xúc, nổi cộm ngay trong đội ngũ cán bộ, đảng viên xã Bóc Tới, huyện Hoài Ân (Bình Định) vẫn chưa được xử lý triệt để. Đảng bộ xã cần nghiêm túc nhìn lại và tập trung, làm trong sạch đội ngũ trước khi bước vào đại hội đảng bộ nhiệm kỳ tới.
Mấy năm trở lại đây, xã Bóc Tới, huyện Hoài Ân là điểm nóng về nạn chặt phá rừng. Trong những năm 2011 - 2013, trên địa bàn huyện Hoài Ân xảy ra 203 vụ thì riêng xã Bóc Tới chiếm một nửa trong số đó.
Điều đáng nói hơn là có 41 cán bộ, đảng viên trong xã cũng tham gia chặt phá rừng làm nương, rẫy. Bước vào thực hiện Nghị quyết T.Ư 4 khóa XI về xây dựng Đảng, Đảng ủy xã Bóc Tới xác định nạn phá rừng bừa bãi trên địa bàn là vấn đề bức xúc, nổi cộm, cần tập trung giải quyết.
Song, nói được nhưng chưa làm được. Sau kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, vấn đề bức xúc, nổi cộm đó vẫn chưa được giải quyết dứt điểm và năm 2014 vẫn xảy ra 15 vụ phá rừng làm rẫy, trong đó có một số đảng viên tham gia.
Bí thư Đảng ủy xã Bóc Tới Đinh Xuân Á thừa nhận: "Trong năm 2014, tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, sang nhượng đất rừng, rẫy trái pháp luật, phá rừng làm nương rẫy trên địa bàn vẫn diễn biến phức tạp.
Nguyên nhân là công tác củng cố, kiện toàn các chi bộ yếu kém chưa được quan tâm, vai trò tiền phong, gương mẫu của một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ chủ chốt còn hạn chế. Công tác kiểm tra, giám sát phát hiện xử lý tổ chức đảng, đảng viên vi phạm chưa kịp thời.
Năng lực quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện giải quyết công việc của chính quyền còn yếu... Tóm lại là do không ít cán bộ, đảng viên "tay đã trót nhúng chàm" nên né tránh sự việc, không thể tự phê bình và phê bình đến nơi, đến chốn để xử lý rốt ráo vấn đề ngay trong đội ngũ.
Điều khó hiểu hơn nữa là trước những sai phạm liên tục, mang tính hệ thống như vậy nhưng Huyện ủy Hoài Ân thiếu biện pháp chỉ đạo hiệu quả để giúp xã Bóc Tới giải quyết những yếu kém, khuyết điểm kéo dài.
Chính vì thế, trong tháng 11-2014, đồng chí Lê Kim Toàn, Phó Bí thư Tỉnh ủy Bình Định dẫn đầu đoàn công tác đã về tận xã để tìm hiểu, làm rõ vấn đề nhằm giúp Bóc Tới giải quyết hạn chế, khắc phục yếu kém.
Tại buổi làm việc đó, Bí thư Huyện ủy Hoài Ân Hoàng Anh Dũng thừa nhận, tình trạng nhiều cán bộ, đảng viên của xã Bóc Tới vi phạm Luật Quản lý và Bảo vệ rừng dẫn đến Đảng bộ xã bị xếp loại yếu kém là có phần trách nhiệm của Ban Thường vụ Huyện ủy do thiếu kiểm tra, giám sát và xử lý sai phạm chưa kiên quyết.
Nhưng cần tiếp tục kiểm điểm sâu sắc, làm rõ đâu là trách nhiệm của tập thể Ban Thường vụ Huyện ủy, đâu là trách nhiệm của người đứng đầu và của cán bộ Huyện ủy được giao trực tiếp phụ trách xã.
Sự việc xảy ra ở xã Bóc Tới cũng phần nào cho thấy việc thực hiện Nghị quyết T.Ư 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng ở Hoài Ân nói chung và ở Bóc Tới nói riêng là chưa thật sự nghiêm túc, có biểu hiện làm lướt.
Mặc dù, trong tháng 9-2014, Đảng bộ xã đã tổ chức kiểm điểm số cán bộ, đảng viên vi phạm Luật Quản lý và Bảo vệ rừng trong năm 2013, có 12 đảng viên là Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ xã tự nhận hình thức kỷ luật, trong đó có 10 đảng viên tự nhận khiển trách, hai đảng viên tự nhận cảnh cáo.
Thế nhưng, sau đó nạn phá rừng làm rẫy ở Bóc Tới vẫn tiếp diễn và một số đảng viên vẫn tiếp tục tham gia, làm cho uy tín và sức chiến đấu của tổ chức đảng bị giảm sút.
Vì thế, trước mắt Đảng bộ xã Bóc Tới cần nhìn thẳng vào sự thật để xử lý tận gốc vấn đề theo đúng tinh thần Nghị quyết T.Ư 4 về xây dựng Đảng. Đồng thời xây dựng kế hoạch cụ thể để củng cố từng tổ chức đảng, bảo đảm tính thống nhất, kỷ luật; tập trung xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm, làm trong sạch đội ngũ trước khi tổ chức Đại hội Đảng bộ xã nhiệm kỳ tới. (Nhân Dân 5/3)đầu trang(
Cũng như nhiều tỉnh Tây Nguyên khác, Lâm Đồng trong nhiều năm qua luôn đối mặt với nạn lấn chiếm đất rừng để làm rẫy, trồng hoa màu, trồng cây công nghiệp... khiến cho hàng ngàn ha rừng phải “chết oan”.
Tại hội nghị tổng kết việc thực hiện Chỉ thị 41 của Tỉnh ủy Lâm Đồng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng vừa được tổ chức, nhiều đại biểu đã thống nhất cao về chủ trương của tỉnh trong việc đưa ra giải pháp đối với nạn lấn chiếm đất rừng để canh tác nông nghiệp trên địa bàn tỉnh hiện nay.
Cũng như nhiều tỉnh Tây Nguyên khác, Lâm Đồng trong nhiều năm qua luôn đối mặt với nạn lấn chiếm đất rừng để làm rẫy, trồng hoa màu, trồng cây công nghiệp... khiến cho hàng ngàn ha rừng phải “chết oan”.
Cũng trong nhiều năm qua, do buông lỏng quản lý hoặc do xử lý không kiên quyết, không triệt để nên nạn lấn chiếm đất rừng không những không chấm dứt mà còn có nguy cơ tiếp tục gia tăng; đặc biệt, nạn tái lấn chiếm có nguy cơ trở thành một căn bệnh trầm kha.
Cũng về vấn đề giải tỏa đất lâm nghiệp bị lấn chiếm, lại có lúc cơ quan chức năng “ra tay” quá mạnh (nếu không muốn nói là thô bạo) trong thực thi công quyền nên tính thuyết phục chưa thật cao, chưa nhận được sự đồng tình của người dân.
Bởi vậy, dường như một nghịch lý hiện hữu mà ai ai cũng nhìn thấy khá rõ là giải tỏa cứ giải tỏa, lấn chiếm cứ lấn chiếm! Trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, hằng năm, hầu như không huyện nào không xảy ra tình trạng lấn chiếm đất rừng và, hằng năm cũng không huyện nào không tiến hành giải tỏa đất rừng bị lấn chiếm. Địa phương ít thì cũng trên dưới 100 ha bị lấn chiếm, nhiều thì vài trăm ha.
Đối với diện tích rừng dọc theo tuyến lộ 723 (Đà Lạt - Nha Trang) thuộc huyện Lạc Dương, nạn lấn chiếm đất rừng làm đau đầu nhà chức trách từ rất nhiều năm qua. Nhiều biện pháp mạnh đã được đưa ra để áp dụng nhưng năm nào Lạc Dương cũng đều có con số báo cáo đã giải tỏa được từ 50-70 ha trong tổng số hơn 100 ha bị lấn chiếm của năm trước, rồi năm sau đó cũng vậy.
Tương tự, tại Đạ Huoai, hàng năm huyện đều báo cáo đã giải tỏa hơn 200 ha trong tổng số khoảng 300 ha bị lấn chiếm. Mỗi lần đọc được con số giải tỏa, những tưởng sau đó, nạn lấn chiếm sẽ giảm hẳn; nhưng không, thậm chí con số này còn tăng cao hơn.
Trong hội nghị nói trên, UBND tỉnh yêu cầu các địa phương khẩn trương rà soát toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trái phép đã trồng cây công nghiệp dài ngày (cà phê, chè...) trên 2 năm để xây dựng phương án xử lý theo hướng: Yêu cầu các hộ dân phải trồng xen trong vườn cà phê hoặc chè, các loại cây lâm nghiệp theo chủng loại phù hợp với mật độ đúng theo quy định để 3-4 năm sau, khi cây lâm nghiệp bắt đầu khép tán thì phá bỏ toàn bộ diện tích cây công nghiệp; sau đó làm thủ tục giao khoán diện tích rừng trồng cho chính các hộ dân đó.
Còn đối với diện tích đất rừng bị lấn chiếm để trồng cây công nghiệp từ 2 năm trở lại đây, lực lượng chức năng cần kiên quyết giải tỏa, thu hồi để trồng lại rừng. Với cách làm nêu trên, hy vọng trong năm 2015 này và những năm tiếp theo, nạn lấn chiếm đất rừng ở Lâm Đồng không còn “nóng” như những năm qua. (Nông Nghiệp VN 4/3)đầu trang(
Vừa qua, huyện Hạ Hòa tổ chức phát động Tết trồng cây năm 2015.
Phát biểu tại buổi lễ phát động, lãnh đạo UBND huyện yêu cầu các cơ quan, đơn vị, các xã, thị trấn tiếp tục tổ chức thực hiện tốt trồng cây phân tán, trồng rừng, trồng cây xanh đô thị để phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tạo nên các khu rừng cảnh quan, rừng sinh thái, góp phần phát triển kinh tế đồi rừng, đồng thời bảo vệ, cải thiện môi trường ngày càng xanh, sạch, đẹp.
Năm 2015 huyện Hạ Hòa phấn đấu trồng mới 16.000 cây phân tán và 10ha rừng. (Báo Phú Thọ 4/3)đầu trang(
Năm 2014, độ che phủ rừng trên địa bàn huyện Lệ Thủy đạt 69%. Việc trồng rừng không chỉ phủ xanh đất trống đồi núi trọc, mà còn góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình.
Từ đầu năm đến nay, tranh thủ tiết ấm áp, độ ẩm cao, bà con nông dân huyện Lệ Thủy tích cực trồng các loại cây rừng như tràm, keo lai, thông, cao su. Bên cạnh công tác phủ xanh đất trống đồi núi trọc của các đơn vị chủ rừng, ban quản lý rừng, các hộ gia đình cũng tập trung trồng rừng, trong đó ưu tiên lựa chọn cây giống rõ nguồn gốc và tuân thủ quy trình kỹ thuật để bảo đảm nâng cao tỷ lệ cây sống.
Trong 2 tháng đầu năm 2015, toàn huyện đã trồng được 120 ha rừng tập trung, 11ha cây phân tán, chủ yếu phân bố ở các xã vùng gò đồi như Trường Thủy, Văn Thủy, Thái Thủy, Sen Thủy... và 3 xã miền núi Kim Thủy, Lâm Thủy, Ngân Thủy. Trong đợt Tết Nguyên đán Ất Mùi 2015, toàn huyện đã tích cực trồng cây xanh trong gia đình, khu vực công cộng với trên 42.000 cây các loại. (Báo Quảng Bình 4/3)đầu trang(
Giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam trong hai tháng đầu năm 2015 đạt 1,049 tỉ đô la Mỹ, và dự báo cả năm nay có thể đạt 7,2 tỉ đô la Mỹ, tăng khoảng 15% so với năm 2014.
Đây là nhận định của ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch thường trực Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM (HAWA), tại buổi họp báo sáng nay 4-3 giới thiệu Hội chợ Quốc tế đồ gỗ và Mỹ nghệ xuất khẩu Việt Nam lần thứ 8 - VIFA-EXPO 2015.
Ông Hạnh cho biết, trong năm 2014, giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam đạt 6,23 tỉ đô la Mỹ, tăng 11,5%  so với năm 2013. Xụất khẩu sang hầu hết các thị trường lớn của Việt Nam đều tăng trưởng và đạt doanh số cao, đáng chú ý là xuất khẩu qua Mỹ năm 2014 đạt 2,23 tỉ đô la Mỹ, qua Nhật Bản đạt 952 triệu đô la Mỹ, và EU đạt 740 triệu đô la Mỹ.
Trong 7 năm trở lại đây, giá trị xuất khẩu ngành gỗ tăng trưởng trung bình khoảng 15% mỗi năm nên nhiều khả năng năm 2015, con số này sẽ đạt khoảng 7,2 tỉ đô la Mỹ.
Ông Hạnh cho biết thêm, Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ hai trong số các nước xuất khẩu sản phẩm gỗ qua thị trường Mỹ. “Đây là tin vui nhưng cũng ẩn chứa nhiều rủi ro, nếu các doanh nghiệp tập trung quá nhiều vào một vài phân khúc sản phẩm nào đó,” ông Hạnh cho biết.
Cũng theo số liệu mà ông Hạnh thu thập được, cả nước hiện có khoảng 3.600 doanh nghiệp chế biến gỗ còn hoạt động, trong đó có hơn 1.500  doanh nghiệp có hàng xuất khẩu. Con số này tại TPHCM là hơn 200 doanh nghiệp.
VIFA-EXPO 2015 do Sở Công Thương TPHCM phối hợp với HAWA và Công ty Cổ phần Thủ công mỹ nghệ Gỗ Liên Minh tổ chức, diễn ra từ ngày 11-3 đến 14-3, tại Trung tâm Hội chợ & Triển lãm Sài Gòn (SECC), 799 Nguyễn Văn Linh, Quận 7, TPHCM.
Hội chợ năm nay được có 177 doanh nghiệp tham gia, tăng 25% so với năm trước, với hơn 900 gian hàng trưng bày. Các doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 82%, còn lại là các doanh nghiệp nước ngoài đến từ 17 quốc gia và vùng lãnh thổ như Úc, Bỉ, Canada, Trung Quốc, Đan Mạch, Pháp, Đức, Hồng Kông, Ấn Độ,….
Cơ cấu trưng bày của VIFA-EXPO 2015 gồm sản phẩm gỗ chiếm 73,7%; sản phẩm mỹ nghệ chiếm 2,6 %; đồ dùng nội thất chiếm 15,4% và sản phẩm công nghiệp hỗ trợ chiếm 8,3%. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 4/3)đầu trang(
Mặc dù cơ quan chức năng có quyết định khẳng định diện tích 3 héc ta đất thuộc quyền sử dụng của gia đình, nhưng gần 1 năm nay, gia đình ông Mai Văn Sáu (SN 1964), ở thôn Cẩm Sơn 2, xã Hà Tiến, huyện Hà Trung (Thanh Hóa) vẫn không thể canh tác vì có người chiếm giữ, ngăn cản.
Theo tường trình của ông Mai Văn Sáu, năm 2000, gia đình ông được UBND huyện Hà Trung giao đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp với diện tích 9,14 héc ta, gồm 4 thửa đất. Gia đình ông Sáu có hợp đồng khoán hộ trồng rừng, khoanh nuôi, chăm sóc và bảo vệ rừng với bên giao khoán là Ban quản lý dự án cơ sở - Lâm trường Hà Trung.
Tuy nhiên, đến giữa năm 2013, ông Mai Văn Múc, thôn Đồng Bồng, xã Hà Tiến đã làm hồ sơ và được các cấp chính quyền, ngành chức năng thẩm định cho khai thác trên diện tích 3 héc ta cây keo tại vị trí lô đất của gia đình ông Mai Văn Sáu đứng tên.
Ông Múc đã tiến hành khai thác trắng các loại cây, chỉ còn lại khu vực trồng cây lát phía dưới chân đồi chưa khai thác. Tại vị trí đã khai thác hết cây, hiện cả hai hộ là ông Mai Văn Múc và ông Niệm (em vợ ông Múc) chia nhau trồng lại cây keo.
Ông Sáu làm đơn kiến nghị gửi ngành chức năng giải quyết sự việc vô lý trên. Thanh tra huyện Hà Trung vào cuộc xác minh, kết luận: UBND xã Hà Tiến, Phòng NN&PTNT huyện đã kiểm tra, thẩm định hồ sơ thiếu chặt chẽ; các giấy tờ trong hồ sơ không có căn cứ pháp lý, không đúng thực tế về quyền sử dụng đất, quyền khai thác, thu hoạch sản phẩm trồng rừng; tham mưu cho UBND huyện ban hành quyết định cho phép ông Múc khai thác, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của gia đình ông Sáu.
Mặc dù UBND huyện Hà Trung có quyết định khẳng định quyền sử dụng, quyền khai thác sản phẩm rừng trên diện tích 3 héc ta là thuộc gia đình ông Sáu từ ngày 6/3/2014, nhưng đến nay, ông Sáu vẫn chưa thể sử dụng mảnh đất này với lý do bị ông Niệm (em vợ của ông Múc) ngăn cản.
Ông Tống Văn Đoàn - Phó Chủ tịch UBND xã Hà Tiến cho biết: “Xã đã thực hiện kiểm điểm với hình thức khiển trách đối với đồng chí chủ tịch UBND xã. Do ông Múc không có ở nhà, nên chúng tôi giới thiệu cho gia đình ông Sáu đến Tòa án nhân dân để giải quyết việc tài sản của ông bị ông Múc khai thác. Còn cơ quan chức năng đã khẳng định diện tích đó là của ông Sáu có quyền sử dụng”.
“Chúng tôi mong muốn chính quyền địa phương, ngành chức năng giải quyết dứt điểm việc ông Niệm ngăn cản gia đình tôi thực hiện canh tác trên mảnh đất được cơ quan chứng minh thuộc quyền sử dụng của mình”- ông Mai Văn Sáu chia sẻ. (Tiền Phong 4/3)đầu trang(
Các Cty lâm nghiệp ở tỉnh Quảng Trị sau chuyển đổi, sắp xếp, đã chủ động, sáng tạo tìm ra được hướng đi phù hợp, đóng góp không nhỏ vào việc phát triển KT-XH và môi trường cho địa phương.
Ngày 3/3, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị Hà Sỹ Đồng và Sở NN-PTNT tỉnh này đã kiểm tra tình hình hoạt động của các Cty Lâm nghiệp và BQL rừng phòng hộ sau mấy năm thực hiện sắp xếp đổi mới lâm trường, thực hiện quy hoạch 3 loại rừng và tái cơ cấu ngành lâm nghiệp.
Sau sắp xếp, tỉnh Quảng Trị có 3 lâm trường quốc doanh chuyển sang mô hình Cty TNHH MTV lâm nghiệp với vốn điều lệ gần 60 tỷ đồng, giải quyết việc làm ổn định cho gần 700 lao động. Đó là Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải - Quảng Trị, Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Đường 9, Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Triệu Hải. Ngoài ra, Quảng Trị còn có 3 BQL rừng phòng hộ và 2 BQL rừng đặc dụng.
Các Cty trên đã giao lại cho chính quyền địa phương các huyện hơn 41 ngàn ha đất rừng để chia đất cho nông dân. Diện tích đất rừng còn lại các Cty quản lý sử dụng gần 26.700 ha. UBND tỉnh Quảng Trị đã cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), tạo điều kiện cho các đơn vị phát triển tốt. Phần đất chuyển trả cho địa phương đã được các Cty tiến hành bàn giao.
Ông Nguyễn Văn Bài - Giám đốc Sở NN-PTNT Quảng Trị đánh giá cao các Cty lâm nghiệp ở Quảng Trị, các BQL rừng phòng hộ hoạt động hiệu quả hơn sau khi chuyển đổi, thành lập.
Theo ông Bài, sau khi được quy hoạch, chuyển đổi, các Cty TNHH MTV đã chủ động phương án sản xuất kinh doanh, trồng rừng, khai thác rừng trồng hằng năm, tận dụng được quỹ đất hợp lý, góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập từ nghề rừng cho công nhân và nhiều người dân địa phương trên địa bàn.
Ngoài ra, DN đã chủ động vay vốn, liên doanh liên kết với các đơn vị bên ngoài để trồng rừng và phát triển sản xuất. Việc đầu tư rừng kinh tế công nghệ cao đưa năng suất rừng trồng tăng từ 2 đến 3 lần so với rừng trồng trước đây, đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Điển hình là Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải - Quảng Trị đã chủ động xây dựng thương hiệu của mình, thực hiện hoạt động quản lý rừng bền vững của FSC. Cty đã được tổ chức GFA cấp chứng chỉ rừng bền vững trên toàn lâm phần gần 10 ngàn ha.
Việc chủ động hội nhập của các Cty đã mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế. Từ năm 2011, Cty đã khảo sát hiện trường để đưa vào thực hiện các hoạt động hợp tác đầu tư liên doanh trồng rừng, khoanh nuôi và làm giàu rừng với Tập đoàn Tài chính Lâm nghiệp Đức Forest Finance với diện tích hơn 1.000 ha rừng trồng bền vững, 1.000 ha rừng khoanh nuôi, xúc tiến làm giàu rừng để hướng tới tham gia thị trường carbon.
Lãnh đạo các Cty lâm nghiệp cho biết, sau hơn 7 năm sắp xếp chuyển đổi sang mô hình mới, họ đã thích nghi với cơ chế mới, đã tự chủ trong kinh doanh, xây dựng được kế hoạch phù hợp với khả năng lao động... Doanh thu năm 2014 tăng gấp hơn 10 lần so với năm 2008, các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, môi trường đều vượt, điều đó cho thấy hiệu quả kinh tế mang lại rất lớn sau chuyển đổi.
Trong vấn đề tái cơ cấu lâm nghiệp ở Quảng Trị, ông Bài cho biết, đã chú trọng phát triển lâm nghiệp với các khâu giống, cây trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến, xuất khẩu sản phẩm, góp phần nâng cao giá trị và chất lượng nghề rừng, nâng cao giá trị SXNN, tạo thêm việc làm cho nông dân, giải quyết được vấn đề xã hội từ đó góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.
Ba yếu tố này tác động tương hỗ lẫn nhau, khi giá trị kinh tế được tăng lên, chất lượng sống nông dân được cải thiện nhờ nghề rừng thì giữa sản xuất và phát triển ngày càng gắn kết hơn. Hiện Quảng Trị có tổng diện tích tự nhiên hơn 473 ngàn ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp, kể cả diện tích có rừng chiếm gần 300 ngàn ha.
Đại diện các Cty, các Ban quản lý rừng trăn trở là khi đi vào thực tế thì một số chính sách chuyển đổi chậm, chưa đồng bộ, như chính sách đất đai, tính đồng thuận của các địa phương trong việc cấp đất chưa cao. Vốn rừng chỉ cập nhật vốn đầu tư, tài sản Cty chưa được định giá, vốn điều lệ xác định thấp.
Đại diện các Cty, các Ban quản lý rừng trăn trở là khi đi vào thực tế thì một số chính sách chuyển đổi chậm, chưa đồng bộ, như chính sách đất đai, tính đồng thuận của các địa phương trong việc cấp đất chưa cao. Vốn rừng chỉ cập nhật vốn đầu tư, tài sản Cty chưa được định giá, vốn điều lệ xác định thấp... Đề nghị Chính phủ sớm ban hành cơ chế về quản lý, sử dụng đất rừng tự nhiên, giao đất, cho thuê đất, giao rừng, cho thuê rừng, có cơ chế tài chính đối với các
Cty lâm nghiệp để khi đủ điều kiện tiến hành cổ phần hóa. Một số diện tích rừng đan xen đang áp lực lấn chiếm, tranh giành cần rà soát lại giao cho địa phương quản lý. Nên sớm nghiên cứu điều chỉnh khung định giá thuê sử dụng đất lâm nghiệp phù hợp với từng vùng, từng địa phương và sớm xây dựng lộ trình CPH sau khi được Nhà nước cho phép. Điều bất cập không chỉ tồn tại ở các Cty mà còn ở các BQL rừng phòng hộ.
Ông Trần Văn Tý - Giám đốc BQL rừng phòng hộ Hướng Hóa - Đakrông cho biết, theo QĐ 186/2006 của Thủ tướng Chính phủ thì định suất tối thiểu 1.000 ha có một chuyên trách bảo vệ rừng và những BQL rừng phòng hộ có trên 20 ngàn ha rừng thì UBND cấp tỉnh tổ chức lực lượng kiểm lâm.
Nhưng từ khi thành lập tới nay ban này chỉ có 16 chuyên trách bảo vệ rừng, thiếu ít nhất 11 người và tỉnh chưa thành lập được lực lượng kiểm lâm bảo vệ rừng. Sau khi đi kiểm tra thực tế từ các cánh rừng trở về, ông Hà Sỹ Đồng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị chia sẻ với các Cty, BQL rừng về những kết quả cũng như khó khăn đang gặp phải.
Đó là khó khăn về vốn điều lệ quá thấp mà vay vốn Nhà nước không phải là dễ, nhanh ngày một ngày hai như mong muốn của DN. Trong khó khăn chung của đất nước, các Cty lâm nghiệp đã chủ động, sáng tạo tìm ra được hướng đi phù hợp, đóng góp không nhỏ vào việc phát triển KT-XH và môi trường cho địa phương.
Ông Đồng đề nghị phải sớm tăng vốn điều lệ cho các Cty hoạt động hiệu quả hơn. Các Cty, các BQL rừng phòng hộ người ít, quản lý rừng nhiều, Nhà nước đầu tư vào rất ít, nhưng làm ăn hiệu quả, đời sống công nhân lâm nghiệp được nâng cao, công việc luôn hoàn thành là sự cố gắng rất đáng ghi nhận.
Ông Hà Sỹ Đồng chỉ đạo tiếp tục rà soát đất đai, tài nguyên rừng. Diện tích nào cần thiết giao lại cho địa phương thì làm sớm. Diện tích nào các Cty giữ lại phải có phương án sản xuất tốt, nâng cao hiệu quả quản lý rừng, tài nguyên bền vững sau khi sắp xếp.
Có phương án sản xuất liên doanh hiệu quả về KT-XH và môi trường, phát triển sản xuất lâm nghiệp góp phần chống biến đổi khí hậu. Chú trọng xây dựng chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC để sớm đưa sản phẩm lâm nghiệp Quảng Trị hội nhập mạnh hơn nữa với thị trường thế giới. (Nông Nghiệp VN 4/3)đầu trang(
Theo Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Tây Ninh, trong năm 2015 Sở sẽ tiếp tục phối hợp với các ban ngành liên quan, đẩy nhanh tiến độ di dời 486 hộ dân ra khỏi đất lâm nghiệp.
Trong đó, có 59 hộ thuộc diện tự di dời, 427 hộ được bố trí di dời với mức hỗ trợ 30 triệu đồng và 400 m2 đất ở/hộ tại 3 huyện Tân Châu, Tân Biên và Dương Minh Châu.
Theo kế hoạch của UBND tỉnh Tây Ninh, trong năm 2015 tỉnh sẽ tập trung giải quyết dứt điểm các hộ dân cất nhà trái phép trên đất lâm nghiệp thuộc rừng phòng hộ, rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh nhằm ổn định chỗ ở, tạo điều kiện phát triển kinh tế, chuyển đổi ngành nghề cho các hộ dân sống rải rác trong rừng phòng hộ, rừng đặc dụng có điều kiện kinh tế gặp nhiều khó khăn.
Mặc khác, nhằm góp phần ngăn chặn tình trạng phá rừng, xâm hại đất rừng làm nông nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi trong việc quản lý, bảo vệ rừng của các cơ quan chức năng trong tỉnh.
Trong năm 2014, tỉnh đã di dời được 618 hộ dân ra khỏi đất lâm nghiệp, trong đó bố trí ổn định tại chổ 544 hộ.Hiện toàn tỉnh Tây Ninh có 4 đơn vị rừng là: Vườn Quốc Gia Lò Gò - Xa Mát, Khu rừng Văn hóa - Lịch sử Chàng Riệc (thuộc địa bàn huyện Tân Biên); khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng (thuộc địa bàn huyện Tân Châu), khu rừng Văn hóa lịch sử núi Bà Đen (thuộc địa bàn Thành phố Tây Ninh) và rừng khoanh nuôi tại 2 huyện Châu Thành và Bến Cầu với tổng diện tích gần 60.000 ha. (Đài PT-TH Lâm Đồng 4/3)đầu trang(
20.000 ha là số diện tích rừng nghèo được Thủ tướng Chính phủ, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh Đắk Lắk thống nhất chủ trương giao Tập đoàn cao su VN để phát triển cây cao su; chăm sóc, bảo vệ rừng. (Tuổi Trẻ 4/3, Tr2)đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Tổng thống Kenya đã tự tay châm lửa thiêu hủy chồng ngà voi cao hơn 3m vào hôm 3/3 vừa qua. Theo ông, nhu cầu tiêu thụ động vật hoang dã từ những thị trường mới nổi đang đe dọa nghiêm trọng đến loài voi và tê giác châu Phi.
Tổng thống Kenya Uhuru Kenyatta đã quyết định thiêu hủy 15 tấn ngà voi trong Ngày Thế giới Bảo vệ Động vật Hoang dã (3/3). Đây được xem như một động thái nhằm tuyên chiến với nạn săn bắn và buôn bán ngà voi của quốc gia Châu Phi này.
“Lệnh cấm buôn bán ngà voi đã có hiệu lực trong 25 năm qua. Tuy nhiên, nhu cầu tiêu thụ ngà voi và tê giác châu Phi vẫn không ngừng tăng cao”, Tổng thống Uhuru Kenyatta phát biểu tại sự kiện này. “Các nước châu Phi đang rất quan ngại về những mối đe dọa đối với các loài động vật hoang dã đang đứng trước bờ vực tuyệt chủng”.
"Rất nhiều chiếc ngà trong số này là của những con voi bị những kẻ tội phạm tàn sát. Chúng tôi muốn các thế hệ tương lai của Kenya, của châu Phi và của toàn thế giới được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của loài động vật này. Để trải nghiệm vẻ uy nghi và vẻ đẹp của những con quái vật tuyệt đẹp, chúng ta sẽ không bao giờ chấp nhận thỏa hiệp với những kẻ săn trộm," ông Kenyatta kiên quyết khẳng định trước khi tự tay châm lửa thiêu hủy đống ngà voi cao hơn 3m.
Theo thống kê của tổ chức Save The Elephants thì đã có khoảng 100.000 con voi bị sát hại để lấy ngà kể từ năm 2010 đến 2012. Trong đó, quần thể voi ở Tanzania, Gabon, Cameron, Cộng hòa Trung Phi, Mozambique, Cộng hòa Congo và Congo đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi nạn săn trộm.
Người sáng lập tổ chức Save The Elephants, ông Ian Douglas Hamilton cho biết giá ngà voi ở Trung Quốc đã tăng lên gấp ba lần kể từ năm 2010. Quốc gia này đã liên tục bị chỉ trích vì nhu cầu thiêu thụ những sản phẩm từ động vật hoang dã. Hôm 26/2 vừa qua, Trung Quốc đã áp đặt lệnh cấm nhập khẩu ngà voi có thời hạn trong vòng một năm.
Trong năm 2014, có 164 con voi và 35 con tê giác bị giết hại để lấy ngà và sừng, giảm khoảng 45% so với năm 2013. Các tổ chức bảo vệ động vật hoang dã cho biết lý do của tín hiệu đáng mừng này là bởi những hình thức xử phạt nghiêm khắc hơn đã được thông qua đối với những kẻ tham gia kinh doanh trái phép động vật hoang dã.
"Chúng tôi muốn kêu gọi thế giới cùng chung tay ngăn chặn vấn nạn buôn bán ngà voi. Nó đang phá hoại nền kinh tế, di sản và của môi trường của chúng tôi", ông Paul Udoto - phát ngôn viên của Cơ quan bảo vệ động vật hoang dã Kenya tuyên bố. (Thế Giới VN 4/3)đầu trang(
Trong thông điệp nhân "Ngày động vật hoang dã thế giới" (3/3), Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon khẳng định việc buôn bán trái phép động vật hoang dã đã làm thoái hóa hệ sinh thái và cản trở nghiêm trọng các nỗ lực của cộng đồng trong việc quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Với chủ đề của ngày kỷ niệm năm nay là “Đã đến lúc phải nghiêm khắc với tội phạm buôn bán động vật hoang dã”, thông điệp của Tổng Thư ký Ban Ki-moon nhấn mạnh việc chống lại loại tội phạm này không chỉ cần thiết cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững, mà còn đóng góp đảm bảo hòa bình và an ninh ở những khu vực nảy sinh xung đột từ các loại tội phạm này.
Theo người đứng đầu Liên hợp quốc, việc nghiêm khắc với tội phạm buôn bán động vật hoang dã đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của tất cả các ngành và thành phần trong xã hội để ngăn chặn mọi hoạt động từ chế biến, tiêu thụ các sản phẩm từ động vật hoang dã đến sản xuất thuốc từ động vật hoang dã.
Nhân ngày này, Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc Sam Kutesa đã chủ trì phiên họp đặc biệt để thảo luận các thách thức và cơ hội tăng cường nỗ lực quốc tế chống tội phạm buôn bán động vật hoang dã ở cấp độ toàn cầu.
Năm 2013, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã chính thức chọn ngày 3/3 làm "Ngày động vật hoang dã thế giới" nhân dịp tổ chức đa phương lớn nhất hành tinh phê chuẩn Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng (CITES).
Số liệu của Liên hợp quốc cho biết từ năm 2010-2012 đã có khoảng 100.000 cá thể voi châu Phi bị sát hại để lấy ngà. Số lượng voi rừng cũng giảm khoảng 62% trong khoảng thời gian từ năm 2002-2011.
Theo CITES, trong năm 2014, chỉ tính riêng ở Nam Phi đã có 1.215 cá thể tê giác bị săn bắt, đồng nghĩa với việc cứ 8 giờ thì có một con tê giác bị giết hại. (Vietnamplus.vn 4/3)đầu trang(./.
Biên tập: Diệu Huyền